HOA HUYẾT ĐÀO

 

“Một ngày thiên cổ xót xa
Máu tôi nhỏ xuống thành hoa huyết đào” thơ Hạ Quốc Huy

1.

Từ ngàn thiên cổ vượt về
Dây dây áo bụi
nặng thề sắc son

Ai đi bóng lạc khỏi hồn
Tôi quỳ lạy núi. Rạch non, cắt rừng

Theo tim lửa hắt bập bùng
Tìm sao định hướng. Ngó vầng trăng đi

Theo lông chim tuyết thiên di
Gặp tôi tìều tụy xuân thì sắc phai

2.

Người trăm năm. Mất dấu hài
Ngoặt sang đời khác. Xa ngoài dặm xa

3.

Một ngàn thiên cổ vượt qua
Một ngày thương tích xót xa
Máu tôi
nhỏ xuống
thành hoa
huyết đào

4.

Máu tôi nhỏ xuống thành hoa huyết đào

Có con tiểu điểu miền cao
Bay chơi. Chợt thấy. Nghẹn ngào tội hoa

Mắt buồn đẫm giọt mưa sa
Rơi trăng úa. Lạnh quan hà. Ướt vai

Lụa mây người buộc trăng cài
Tôi lần theo vết quan hoài phôi pha

5.

Một ngàn thiên cổ đã qua
Phải không? Tôi nhớ như là mới đây

HẠ QUỐC HUY

VỌNG ÂM MÙA VỌNG

 

Vườn đông vọng tiếng cành khô gãy
Tiếc ngu ngơ một thuở khăn quàng
Thuở quỳ nguyện nhìn lên chợt thấy
Chúa cũng rưng buồn với thế gian

Chân ngượng ngập đi tìm mùa vọng
Sầu tê lòng se giá dòng tin
Chuông thánh lễ rụng âm trầm thống
Nhấp nháy sao kiếp nạn chúng sinh

Lần khổ hạnh ngược xuôi xuôl ngược
Luân hồi nhau cõi thế phù vân
Màu đông xám từng dòng cựu ước
Những cành khô gãy giữa phúc âm

Vọng đâu đó tiếng chim ngày cũ
Buổi tiệc ly nến thẳng hai hàng
Trong veo sáng ân tình thánh nữ
Ngạo mạn mình tập viết chữ ngoan

Những bài thơ xám màu đông xám
Giấu riêng nhau hang đá tình thiêng
Từng vần cháy bung mình tận hiến
Bay tàn tro một cách ưu phiền

Đêm vọng âm an nhiên mùa vọng
Thèm tay nhau thay những khăn quàng
Ta trót treo tình lên thập giá
Nên đành rét lạnh những đa mang.

Nguyễn Liên Châu

thơ cuối năm

 

 

thôi chiều lại tựa vai lưng
nằm đây bỗng nhớ núi rừng hôm qua
thuở xưa ruỗi ngựa giang hà
buổi nay bóng xế còn ta chút tình

bông hoa trắng mộng hiển linh
nửa đêm rộ nở giữa kinh nguyện sầu
em à ngộ nhé giấc sâu
hoa kia rơi chạm mái đầu bạc sương

thôi chiều đưa đón cuối đường
đôi dăm ba kẻ hành hương quay về
khuất tà áo lộng chân quê
vương thân vạt nắng còn đê mê ngày

giọt chuông trầm vọng lạ thay
rơi trong kí ức tiếc hoài phút giây
người ngồi hiên nắng đã đầy
thấy run rẩy ngọn lau gầy trong non

Phạm Quang Trung

 

NHỊP MÙA LỄ HỘI

nguyenthikhanhminh

Khi những trận gió Đông Bắc rời khỏi đỉnh cao của nó thì mùa thu cũng thẳm xa. Nếu để tâm chạy theo phút chia tay hẳn vẫn còn thấy được bóng áo thu giằng co nơi khúc quanh trên con đường mùa đông vừa mở. Như cái nhìn nuối theo của bác sĩ Zhivago, chạy vội vàng lên tầng lầu để bắt kịp hình ảnh chiếc xe ngựa chở Lara mờ xa trong bụi tuyết… (phim của David Lean dựa trên truyện của B. Pasternak)
Cây maple bên kia đường đã trơ trụi chỉ còn vương đôi ba lá vàng trên cuống mỏng mảnh, mang theo hết cái lao xao vàng của nó, để cho cành cây phô những nét chấm phá khẳng khiu đông, lại càng cô quạnh hơn khi tình cờ có con chim đậu một mình trên cành trong nắng mai lạnh. Khoảnh khắc đẹp của mong manh, dường như nhìn cũng phải hết sức nâng niu, nghe nói trên đường phố ở thủ đô nước Nga vào mùa cây trút lá có những biển đề “tránh đừng động vào cây, mùa lá rụng.” Thật lãng mạn.
Cây mùa này đang ốm đấy, gầy trơ xương ra. Người thì như đẫy đà thêm dưới lớp áo ấm…
Cuối năm, là mốc thời gian đặt tôi ở giữa biên giới những buồn vui. Buồn thì không đến nỗi nặng trĩu, vui cũng chẳng đến độ rộn ràng, cứ thế người lùng bùng vui vui buồn buồn. Nếu bạn hỏi tôi sao im lặng thế, sẽ mỉm cười và trả lời nhỏ, có lẽ như con cá ươn sắp sửa se mình như Nguyên Sa nói thôi. Vừa nao lòng trước khép lại chóng vánh của một năm, vừa náo nức với khí lễ hội đang mở.

CHUÔNG GIÓ NOEL,

Đó là lúc con đường với những ngôi nhà hiện ra như trong tấm thiệp Noel, ngày còn nhỏ đã ước được sống trong cõi tranh thần thoại với con đường sáng huyền ảo của hoa tuyết, những ngôi nhà thập thò mái ngói đỏ dưới cái lạnh trắng mùa đông. Những muốn ngồi bên bàn tiệc đầy ắp thức ăn được bày biện đẹp đẽ và ánh sáng lễ hội xôn xao chải lên mái tóc.
Chuông gió cuối năm lôi ước mơ thơ trẻ ấy ra khỏi cõi tranh đặt vào con đường hoa đèn tôi đang đi ở thành phố Fountain Valley này, gió mùa đông len vào chiếc khăn quàng cổ, cho tôi cảm thấu cái rét xứ người. Được hít thở hơi thanh bình cổ tích, dễ khiến mình kiếm lại được hồn nhiên, mơ mộng. Đó là đường Heils, con đường chứa những ngôi nhà trang hoàng lộng lẫy, mỗi nhà một cảnh, một gợi mở rất khác để người nhìn vào tha hồ tưởng tượng, bước như đang bước vào tấm thiệp Giáng Sinh năm xưa, và khí lạnh càng làm nồng thêm bàn tay để sâu trong túi áo. Tiếng cười, tiếng nói gần lại hơn ở bên tai, ấm quá với cái quàng vai của cậu con út, mới đây thôi, bây giờ nó đã dềnh dàng đi bên cạnh, làm mình phải ngước đầu lên khi nói chuyện, đã quàng vai mình một cách gọn gàng, và tay kia, quàng vai cô bạn gái, một dòng sông từ đầu tay kia của con nôn nao chảy theo vòng ôm đến vai bên này của tôi, đập những gợn nhẹ nhàng của sự nối tiếp những thế hệ… Tôi trôi giữa dòng sông ấy, và được hòa nhịp với muôn dòng sông khác, để biết cuối cùng là một điểm xum vầy.
Không khí an bình no đủ làm tôi chạnh lòng đến quê nhà… Con đường Heils nhập nhòa đường Duy Tân dẫn đến nhà thờ Đức Bà Sài Gòn…

… Nhớ một Noel, như vào năm 78, 79, ở Sài Gòn, lúc này đã mang tên mới, nhưng vẫn thích, Sài Gòn, rằng quen mất nết đi rồi, người bạn chở tôi bằng xe đạp, phố ngày ấy không đông như bây giờ, sau một biến cố lớn, mọi người còn đói, còn bao lo âu của một cuộc sống quá đỗi ngặt nghèo, thì chẳng ai thiết nghĩ đến trang hoàng nhà cửa, đường phố để mừng ngày Giáng Sinh.
Nhà thờ Đức Bà vào đêm Noel năm đó, chỉ có hai dây đèn treo từ nóc tòa cao đến tượng Đức Mẹ, vậy thôi, hai dây đèn lốm đốm những bóng điện nhỏ lạc lõng cô quạnh, hòa với đêm tối u buồn. Lặng lẽ ánh đèn vàng hoe. Lặng lẽ ánh mắt của người đi lễ. Hai chúng tôi đứng ở đầu đường Nguyễn Du, bên cạnh chiếc xe đạp, ngó lên những ánh đèn mờ nhạt, nó không có cái sáng long lanh của ánh đèn lễ hội, nó có cái sáng rưng rưng. Cảnh vật phố phường toát ra khí đói ảm đạm, thổi bạt mọi ước muốn sống vui, sống đầy đủ cho tinh thần.
Đêm đó, chúng tôi chỉ đủ tiền để ghé vào một quán cà phê cóc bên lề đường nhâm nhi một loại cà phê tạp với mùi gì rang khen khét. Lấp xấp dưới ánh đèn dầu, những chiếc đẩu gỗ lộn xộn, chơ vơ, chia sẻ rất tội nghiệp với không khí xa vắng của đêm Noel, nhưng dù sao quán cóc đèn dầu cũng đem lại chút hơi phố xá, chúng tôi không nói gì, những mơ ước về tương lai đã bị đóng lại, đã bị xếp vào hàng xa xỉ sau cơm áo, nên nếu không nói được về những dự phóng vui vẻ của ngày mai thì tốt hơn, ngồi bên nhau cùng cảm im lặng, người bạn an ủi tôi về một điều không may tôi đang gặp phải, để yên cho tôi khóc, thôi vậy cũng ấm lòng.
Rời khỏi quán cóc bên đường, chúng tôi đạp xe qua nhà thờ Huyện Sĩ, ở đó tương đối vui hơn bên nhà thờ Đức Bà vì người đi xem lễ đông hơn, mãi khi tan lễ, chúng tôi mới chia tay.
Một mình trong đêm, trước giấc ngủ, tôi thấy mình hết sức buồn bã, tôi buồn cảnh nhà, mẹ và các em nhỏ, cả tôi, ngơ ngác, không cha, không anh ở nhà, tôi, đứa con gái vừa tốt nghiệp đại học, bỗng xính vính hốt hoảng khi thấy mình là chị lớn một đàn em, vốn liếng có được từ trường, lại là trường Luật của Việt Nam Cộng Hòa nữa, lúc ấy không giúp ích gì để tôi kiếm sống được giữa một xã hội đang đảo ngược hết tất cả mọi giá trị, như thế.
Đêm nào tôi cũng đi vào giấc ngủ bằng nỗi trăn trở u hoài. Và thảng thốt của một kẻ thức dậy, tiếc nuối một giấc mơ đẹp đang bứt ra khỏi mình, có lẽ, mãi mãi. Chút tình yêu thơ dại, tưởng chỉ dơ tay là chạm được trời xanh, tưởng đã hẹn hò là chung thân hạnh phúc. Nó thành một vết thương, mỗi khi cào lên, lại thấy xót.
Đã chẳng dễ quên vạt âm u của một ngày, ba tôi, hai em trai tôi, hút vào đêm tối, thăm thẳm một hơi rất dài của thời gian… Nhớ nước mắt của mẹ khi bới đồ đi thăm nuôi cha. Nhớ những tiêu chuẩn tem phiếu để mua gạo thịt, bỗng trở thành câu chuyện từng ngày. Nhớ những đêm cùng mẹ cặm cụi từng mũi len, mẹ phải choàng cả việc cho cô con gái mới học cầm chiếc que đan. Nhớ cơm độn bo bo. Nhớ cậu em học Thủy Sản, nuôi và bán cá giống trong cái hồ non bộ của cha khi trước, Khuyến thức đêm cho cá ấp trứng, Khuyến khóc khi cá chết. Nhớ cậu em phải dấu thịt cột sát bắp chân, đem từ sở làm ở Hiệp Hòa về Sài Gòn cho mẹ cho chị cho em*, Khương ơi! Nhớ Khuê đi làm tài xế cho cán-bộ, đêm lái xe về nhà, hút trộm xăng ra, em nói “xăng này cũng là của ăn cắp, ăn cắp đi ăn cắp lại, huề.” Đúng hay sai, lúc đó không còn dũng cảm để phê phán em nữa…
… Những Noel sau này, đâu khoảng những năm 80, cánh cửa ngôi nhà Sài Gòn đã hé mở để lọt vào chút sinh khí ấm no. Gia đình tôi đã dễ thở hơn vì có anh em ở Pháp tiếp tế, lúc ấy ở Sài Gòn, chỉ ở thành phố thôi, người ta được ăn no và ngon hơn, mặc được tươm tất hơn, nên người ta đón Chúa tưng bừng hơn, mặt mũi thành phố sáng loáng hơn nhiều những năm trước.
Người bạn thuở đói kém nay đã là bạn đời của tôi, không còn lọc cọc chiếc xe đạp nữa mà chở tôi bằng chiếc Bridgestone của Nhật, đi lên phố xem lễ Noel, quả là chật vật để len vào những con đường đưa tới nhà thờ lớn, người ta không đi bộ ngắm cảnh Giáng Sinh như ở đường Heils thênh thang có chỗ cho cả gió đi này, mà nườm nượp ngồi trên những chiếc xe Honda nhả khói, chen lấn, đôi khi còn cự nự vì lấn chỗ va quẹt vào nhau, người ta đi đâu? làm gì? ngắm Noel ra sao trong quang cảnh cối xay như thế? Chúng tôi ghé vào một quán cà phê, quán cóc tù mù đèn dầu năm xưa hóa thân thành cafeteria rất sang, tiếng dương cầm phát ra từ dàn máy tân tiến, với ly cà phê đúng mùi cà phê, chúng tôi lại nhắc đến quán cóc năm ngoái năm kia, ơ hay, hoài niệm là tật cố hữu của người ta hay sao ấy.
Năm ấy tôi rất hạnh phúc vì đi đâu cũng có một điều níu kéo để quay về, đó là mái ấm, có tiếng oa oa của đứa con vừa ra đời. Tôi không còn hứng thú len vào dòng người nêm chặt đường phố đêm Giáng Sinh nữa, mà hưởng không khí ngọt lừ của đứa con bé nhỏ mang lại, trang trí cây Noel và cùng ăn một bữa tiệc nhỏ gia đình, Bin ơi, mỗi Christmas ở đây với bàn đầy thức ăn, mẹ hay nói với con, hồi mình ở Việt Nam, đâu có thức ăn ê hề như ở đây, mẹ nhớ có lần nướng con gà mẹ đã phải chia hai cái đùi cho hai con trước, vì con còn bé hay đòi cả, nên anh hai con so bì. Điều đó, khi nghĩ đến, dù có chút rưng rưng, nhưng nó khiến tôi cảm thấy không khí gia đình tôi lúc ấy không thể nói gì khác hơn là, hạnh phúc. Và bây giờ, ở đây, gia đình nhỏ ba người, năm nay lại có thêm cô bạn gái của con, nếu có hỏi tôi tìm chữ biểu tượng cho mái ấm thì vẫn là hai chữ hạnh phúc.
Mà riêng mình, rất lạ, Giáng Sinh nào cũng vẫn sống được cảm giác cũ, đi vào những con đường hoa đèn trong gió cuối năm bằng tấm lòng trẻ trung với dư âm giấc mơ.
Kể ra trời đất cũng độ lượng cho con người chấm hết một năm bằng toàn những lễ hội, để có dịp biết rõ hơn, đầy đủ hơn, rằng, trong hưởng thụ nảy sinh lòng biết ơn.
Quá đủ để cảm thấy như thiêu thiếu. Ôi quả là lòng tham, đong hoài chả thấy đầy. Bập bênh hai đầu, tiếng chạm vào của ấm áp xum vầy, tiếng tịch lặng ôm trọn của cõi riêng thơ. Để chia sẻ được cái cô độc của Voltaire, văn hào Pháp, niềm hạnh phúc to lớn nhất của mọi cuộc đời là sự cô độc bận rộn. (tudiendanhngon.vn)…

TRỜI ĐẤT MỚI LÒNG TA CŨNG MỚI…,

Giáng Sinh xong là rộn rịp mùa Tết âm lịch. Thời khắc sửa soạn để đón Tết là lúc tâm tư, cảm xúc phê nhất. Này nhé, những cây anh đào trong ngõ vườn chạy dài theo hiên nhà, bắt đầu tươm nụ xuân thì bên cạnh cây maple đông giá. Và nhóm người Việt trong khu nhà ở này lại họp nhau để làm tiệc tất niên, vẻ tất bật háo hức phân chia nhau làm món ăn làm tôi thấy quí giá quá việc lưu giữ truyền thống Tết dân tộc, cũng vì vậy mà trong nhà tuy không mấy người nhưng tôi cũng bày ra, muối dưa hành, và chắc chắn là hầm một nồi măng chân giò kiểu Hà Nội của mẹ, anh em chúng tôi chẳng đứa nào quên được món này của mẹ vào những dịp Tết, mày mò xôi vị kiểu Nha Trang của ba, và dĩ nhiên không thiếu bánh chưng dưa món (mua, đừng hiểu lầm là làm, mắc cỡ lắm nghe), phải xôn xao thế thì con trai mới thấm được cái khí Tết, vị Tết Việt Nam, không thì con biết lấy gì đem vào mái ấm của nó mai sau? Còn chút đó mà không giữ thì làm sao mà nhìn mặt tổ tiên.
Có ai đi xuống phố Bolsa vào những ngày cận Tết mới cảm thấy hơi nóng mạnh mẽ của truyền thống – qua những cửa hàng bánh chưng bánh tét, mứt, dưa món, – qua những mái che được dựng lên thành một dãy hàng hoa, nơi mà người mình những ngày này thường rủ nhau, đi chợ hoa, nghe sao mà nó quê hương quá, Tết quá, – qua những nhịp chân hối hả mua mua sắm sắm, tấu thành một bản giao hưởng với những nốt nhạc reo lên ở cung bậc rộn ràng nhất. Một Việt Nam bé nhỏ trải dài mùa xuân rạo rực quê nhà trên một quãng đường Bolsa ấm lạnh khí đông.
Một lần, Tết năm ngoái, nỗi nao nhớ đã kìm tôi đứng trên hè trước chợ Hòa Bình, đường Westminster, trên tay ôm cái bánh chưng, lòng cảm động nỗi vui và biết ơn những người đã nấu những chiếc bánh truyền thống Tết, đã làm những hũ dưa món (tưởng tượng, thơm nắng Calif.), đã chăm lo để có được hoa cúc hoa lan, và cả một loại hoa từa tựa như mai vàng, cho ngày tết… Tất cả tạo nên một không khí ruột thịt đến mềm lòng. Người bán báo, và cách sắp xếp báo, lịch, trên một cái quầy bên hè đường, khiến tôi mường tượng đường Nguyễn Huệ Sài Gòn. Thấy sao mà thương khi chị cầm cái chổi nhỏ quét quét trên mặt những tờ báo, và mời tôi, mua báo tết đi chị, tôi đang ở đâu đây cảm xúc tôi ơi… hình phong pháo vỡ bung tia đỏ, hoa mai dòn dã vàng trên những bìa báo kéo tuột tôi về một miền xa lắc có cái quán tre bày bán những con gà đất màu rực rỡ nắng và phong bao lì xì đỏ treo tòn teng, mình bé lắm theo chân ba mẹ về quê…
Một nét đặc trưng có sức hút mạnh mẽ tôi, là báo Tết, ngày còn ở nhà, tôi thích nhất Tết được đóng cửa, buổi sáng trong căn phòng tinh tươm mùi Tết, bên ly cà phê nóng, nằm đọc báo xuân, cộng thêm niềm vui có bài đăng trong báo nữa, thật là vui, vầy.
Năm nay, trong gió lạnh Sài Gòn Nhỏ, trong không khí gia đình, tôi lại nhâm nhi thú đọc báo tết. Báo giấy, báo mạng, tha hồ, những con chữ mùa xuân ào ạt cái mới mẻ, nạp thêm cho người năng lượng để tiêu pha 365 ngày sắp tới.
Trong bản giao hưởng lễ hội, tôi đang đi (phải nhẩy chứ nhỉ) điệu rộn rã nhất để hòa âm với nhịp Tết, xôn xao cùng nụ đào bụ bẫm đất trời, theo bước đi tới của dòng chảy cuộc sống, và réo rắt nốt xanh nhất một giấc mơ. Tôi mong những tiết tấu vui tươi này được kéo dài mãi trước khi vào nhịp khoan thai chậm rãi của bóng thời gian…

*Vào thời gian những năm 75, 78, ở Sài Gòn lúc ấy có một chính sách mà người dân gọi là “ngăn sông cấm chợ,” mọi lương thực, thực phẩm đều bị cấm đưa về thành phố, và ngược lại.

NGUYỄN THỊ KHÁNH MINH

Đà Lạt, Phiêu Lãng Giáng Sinh Xưa

 

1.

Tôi biết bản “Bài thánh ca buồn” của nhạc sĩ Nguyễn Vũ đâu hồi mới 15 tuổi, thời học đệ tam C trường Pétrus Ký. Ông nhạc sĩ tài hoa đã kể thuở còn một cậu bé 14 tuổi sống trên Đà Lạt, ngày ngày đi lễ ở nhà thờ Con Gà thì tình cờ gặp một cô gái rất xinh. Mở lời làm quen thì biết cô ấy lớn hơn mình 2 tuổi nhưng trái tim vụng dại của cậu con trai mới lớn vẫn đập loạn nhịp trước bóng dáng thiếu nữ có mái tóc dài buông thả, đẹp như mộng ảo giữa cảnh sắc đồi thông Đà Lạt sương mù.

Tôi mê mẩn trước lời kể của nhạc sĩ Nguyễn Vũ, rằng có một lần tan lễ Giáng sinh thì trời đổ mưa, cô gái nép vội vào mái hiên ngôi nhà nọ gần nhà thờ, ông cũng đứng trú bên cạnh. Những kỷ niệm và xúc cảm thiết tha lần ấy chính là nguồn cảm hứng để ông viết nên bản “Bài thánh ca buồn” sau này.

Năm tôi ngồi lớp đệ nhị C là 1965, tôi lại càng thích bản “Bài thánh ca buồn” bởi bắt đầu quen Huyền ở Sài Gòn, bởi ngẫu nhiên Huyền cũng là người gốc Đà Lạt, cũng lớn hơn tôi 2 tuổi, cũng duyên dáng, cũng tóc dài, nghĩa là có khá nhiều điểm giống cô gái trong chuyện tình dịu ngọt thời thơ dại của nhạc sĩ Nguyễn Vũ …

Cuối tháng 12 năm ấy chợt có kỳ trại đặc biệt được Bộ Giáo dục thời đó tổ chức vào dịp Giáng sinh, ưu ái dành cho ban đại diện học sinh và các lớp trưởng khối đệ nhị cấp của riêng bốn trường lớn nhất Sài Gòn là Pétrus Ký, Chu Văn An, Gia Long và Trưng Vương được đi chơi Đà Lạt 5 ngày. Tôi là lớp trưởng nên được dự kỳ trại có tên gọi thật đẹp là trại Anh Đào này.

Vậy là tôi đã có cơ hội lần đầu tiên lên Đà Lạt, lại trúng ngay mùa Noel, mùa đẹp nhất để du khách viếng thành phố ngàn hoa. Tôi nghĩ ngay đến Huyền, bởi khi đó tôi chỉ có Huyền là người quen/bạn duy nhất có nhà ở Đà Lạt.

2.

Đỗ tú tài nhất xong, Huyền từ biệt bố mẹ xuống Sài Gòn học sư phạm mẫu giáo. Do người bà con giới thiệu, cô gái đến ở trọ trong trường Mạnh Mẫu, một trường mẫu giáo nổi tiếng ở khu Tân Định, nơi em gái út của tôi đang theo học. Một lần nọ, vào giờ tan học buổi chiều, anh tài xế ở nhà lái xe đi rước con bé, tôi rảnh nên cũng theo chơi. Đang thơ thẩn ngồi chờ trước sân chơi xích đu, cầu tuột, tôi thấy một cô gái thật trẻ ra phụ các cô giáo trông chừng bọn học sinh lí lắc hay leo trèo, nhảy nhót quá đáng. Gương mặt cô gái không trang điểm nhưng vẫn thùy mị dịu dàng, mái tóc huyền xỏa ngang vai, giọng khuyên bảo bọn trẻ nghe ngọt như mật …, Huyền thu hút tôi ngay từ cái nhìn đầu tiên. Rồi thư viết cho nhau đã nhiểu nhưng ngồi bên nhau trong khuôn viên nhà trường thì còn ít bởi để giữ gìn cho các thiếu nữ ở trọ, qui định về khách thăm viếng ở đây kia rất nghiêm nhặt.

Huyền nhận lời hẹn gặp và cho tôi địa chỉ ở Đà Lạt. Tôi sung sướng đến muốn bay bổng lên trời xanh. Thế là đến tuổi 16 tôi mới được thỏa mơ ước cháy bõng từ thời thiếu niên là được lên Đà Lạt, đặt chân đến Thành Phố Của Ngàn Hoa, Thành Phố Sương Mù… như văn chương, âm nhạc thường ngợi ca. Càng sung sướng hơn là trong chuyến du lịch miễn phí diệu kỳ này, tôi sẽ có dịp gần gũi hơn với cô bạn xinh đẹp vào đúng dịp Giáng sinh, nghĩa là gần như tôi sẽ được thể nhập trọn vẹn – chứ không phải ngồi tưởng tượng nữa – vào khung trời lãng mạn tuyệt vời của bản “Bài thánh ca buồn”.

3.

Trời mới rạng đông, trại viên trại Anh Đào được đưa ra phi trường TSN, ngồi máy bay quân sự C123 lên Đà Lạt. Mờ sáng đã đến phi trường Liên Khàng, thời tiết thật tuyệt diệu, không quá lạnh như tôi tưởng tượng.  Có chuyện hơi buồn cười là suốt 5 ngày trại, toàn thể bọn trại viên con trai được cho về ở chỗ… con gái –  trường nữ trung học Bùi Thị Xuân. Ổn định chỗ ở xong, bọn tôi được tự do ra phố vài tiếng, chỉ cần 11 giờ 30 phải về lại trường để đi ăn cơm trưa.

Theo một nhóm bạn xuống đến bờ hồ Xuân Hương thì tôi tách ra, nói với tụi nó là cần đi tìm, thăm nhà bà con. Tôi đứng bên lề đường, dáo dác kiếm taxi. Ở Sài Gòn thời ấy có một tập quán hay hay về việc sử dụng xe taxi ngoài đường phố, đó là bạn có thể quắt bất cứ chiếc taxi chạy ngang đang chở khách nhưng vẫn còn ghế trống, thường là xe sẽ dừng lại để tài xế hỏi bạn đi đâu. Nếu lộ trình bạn cần đi thuận chiều với lộ trình của khách đã ngồi trước trên xe thì tài xế sẽ đồng ý chở bạn đi chung, ai xuống trước cứ trả phần tiền xe của mình… Tôi vừa quắt trúng chiếc taxi đã có hai sinh viên sĩ quan trường Võ Bị Đà Lạt ngồi ghế sau. Cửa xe vừa đóng là tôi vội vàng nói ngay, cố ý cho cả ba người trên xe cùng nghe:

-Chào các anh, làm ơn chỉ dùm và cho tôi đến địa chỉ này, số 23 đường Biệt Thự, bờ hồ Xuân Hương. Tôi ở Sài Gòn, đây là lần đầu tiên lên Đà Lạt, muốn ghé thăm người bà con…

Một anh SVSQ ngồi phía sau vui vẻ trả lời ngay:

-Hên cho anh rồi, đường Biệt Thự ở ngay phía bờ mờ mờ bên kia, đây vòng qua đó chừng 10 – 12 phút thôi, phải không bác tài?

Mọi việc đều diễn ra suôn sẻ, tôi vừa hí hửng vừa nôn nao đầy lòng. Chiếc taxi dừng lại cạnh một bãi cỏ thật xanh bên đường, tôi hỏi bác tài tiền xe bao nhiêu thì bác ta lại quay nhìn hai người khách phía ghế sau. Cũng cái anh SVSQ vui tính lại nhanh miệng nói:

-Có bao nhiêu đâu anh bạn. Đúng ra ở Đà Lạt rất ít người đi chung xe taxi như kiểu ở Sài Gòn nên hiếm có ai quắt xe đã có khách như anh vừa rồi. Thôi, rất vui nghe anh học ở Sài Gòn, lên dự trại thăm Đà Lạt. Để tụi tôi tính cho, coi như cho anh quá giang. Lo đi tìm nhà người bà con đi.

Tôi không ngờ ngày đầu tiên ở Đà Lạt mình đã may mắn gặp được người tử tế như vậy nên xăng xái bắt tay cám ơn hai anh SVSQ, cám ơn cả bác tài. Họ cười, chúc tôi vui vẻ trọn những ngày ở Đà Lạt.

Từ lề đường nhìn lên chỉ thấy dốc đồi thoai thoải, lối đi ngoằn nghèo chạy giữa những bãi cỏ xanh rờn cùng những mái nhà thưa thớt, ẩn mình giữa những cây thông cao vút nên ở đâu cũng đầy bóng râm. Nhà số 23 nằm khuất ở một sườn đồi cách đường lộ bên dưới khá xa nên có vẻ đìu hiu, vắng lặng. Gõ cửa rất lâu Huyền mới ra mở cửa với nụ cười thật phấn khích, vẻ bất ngờ vươn đầy ánh mắt…

Huyền mời tôi vào nhà, rót tách trà actixô bảo tôi uống liền cho ấm. Nhà đang chỉ có mỗi mình Huyền. Ngồi chốc lát là tôi đã khẽ đề nghị cô bạn hãy cùng tôi ra ngoài, ngồi chơi ở bãi cỏ trên sườn đồi thoai thoải phía trước cổng nhà.

Có thể coi đây là một trường đoạn phim trữ tình, thơ mộng nhất mà cậu con trai tuổi 16 đã khổ công vẽ vời sẵn từ những đêm cậu mình bỏ ngủ, nằm tưởng tưởng đủ điều trước ngày đi trại Anh Đào.

Ở lần gặp trước gần đây nhất, tôi đã vừa hỏi Huyền xin địa chỉ ở Đà Lạt vừa hỏi nàng có về nhà nghỉ mùa Giáng sinh không. May mắn là Huyền sẽ về nhà trước cả ngày trại Anh Đào khai mạc và tận sau Tết dương lịch mới trở xuống Sài Gòn. Tuy nhiên, khi ấy tôi chỉ nói là sẽ cố gắng, sắp xếp thời gian trong kỳ trại để tìm đến nhà Huyền, gọi là gặp nhau ở nhà nàng, quê hương nàng cho thân thương hơn. Do đó khi thấy tôi ở cửa, Huyền nói ngay bất ngờ quá đi!  Giờ ngồi trên bãi cỏ, Huyền giải thích thêm rằng dù có đồng ý cái hẹn “để trống ngày giờ” nhưng trong thâm tâm nàng lại cảm thấy biết đâu sẽ có trở ngại này khác khiến tôi không thể sắp xếp, thực hiện được chuyện hai đứa gặp nhau được trên Đà Lạt, nhất là vào dịp đặc biệt là Giáng sinh này.

Giờ đây tôi đang ngồi với cô bạn gái trên bãi cỏ ngập lá vàng khô. Hoàn toàn chỉ có hai đứa, không có con mắt dòm ngó nào của thiên hạ xung quanh.

Huyền vẫn thùy mị, dễ yêu, mái tóc buông dài ma mị. Đặc biệt là khi trở về với khí hậu Đà Lạt, đôi má của Huyền trở nên hồng hào thật quyến rũ, không còn màu trắng, xanh nhàn nhạt bình thường như lúc ở Sài Gòn.

Thỉnh thoảng bờ vai hai đứa chạm khẽ vào nhau. Đã nói mới là “bạn” thôi thì dễ gì có cái cớ hợp tình hợp lý nào đó để được nắm tay? Thú thật tôi còn mong, thèm nhiều hơn nữa, như ôm Huyền vào lòng và tất nhiên, được hôn nàng thì chắc còn hơn trúng số độc đắc nữa…

Huyền, trong thực tế là cô bạn gái lớn hơn tôi 2 tuổi, học cũng trên lớp, nhưng trong “kịch bản” của tôi, nàng đã mơ hồ hóa thành người yêu bé bỏng. Tôi thêu dệt, lý tưởng hóa kịch bản này đến nổi theo thực tế hôm đó, do gặp nhau đột ngột, cô gái có sửa soạn gì đâu mà chỉ mặc bộ đồ bộ bình thường ở nhà, gương mặt không trang điểm phấn son gì nhưng tôi vẫn thấy Huyền thật đẹp và quyến rũ.

Được ngồi sát bên Huyền, tôi đã hết sức sung sướng bởi hai lẽ, một là được gần gũi Huyền với mối cảm xúc ngất ngây hình-như-là-tình-yêu đang lên ngôi dù tôi chưa hề tỏ tình, hai là được thưởng thức cảnh tượng lãng mạn do chính mình tô vẽ từ trước giờ đã thành hiện thực.

Tôi kể Huyền nghe hiện tôi đang “tạm trú” ở một nơi khá đặc biệt, đó là trường con gái. Mỗi tổ nam sinh được đưa vào một lớp học để tự động ghép bàn làm chỗ ngủ, ba-lô túi xách cứ để bừa trên ghế, nhà vệ sinh chung thì ở cuối dãy… Cô bạn cười ha ha, trêu tôi là hãy biết mang ơn ban tổ chức trại, hãy ráng tìm trong các hộc bàn coi có cái kẹp tóc, gói muối ớt cùng miếng ổi xanh nào không, hay lãng mạn hơn thì một sợi tóc dài thiệt dài nào đó rồi ráng mà tưởng tượng đó là của một cô bé dân Đà Lạt thiệt xinh… Tôi trêu lại nàng, hỏi khẽ “Xinh như Huyền phải không? Có Huyền đây rồi thì mình còn phải đi tìm cô nào khác nữa?”. Cô bạn gái, hốt nhiên hóa thành nửa-bạn-nửa-người-yêu, thẹn thùng đỏ hồng đôi má hơn nữa và cúi mặt cười tủm tỉm, cũng để tránh cái nhìn ma đạo của tên bạn trai. Rồi hai đứa im lặng thật lâu. Có cảm xúc gì đó chợt thật ngọt ngào êm ái thấm sâu vào tâm tưởng…

Nhờ tôi có cẩn thận bảo trước với Huyền rằng cần tập trung về cái trường con gái ấy trước 11 giờ 30 nên dù hai đứa mê mãi thủ thỉ chuyện trò, cô bạn vẫn kịp nhắc tôi. Huyền đưa tôi xuống đến lề đường, hai đứa đều có vẻ bâng khuâng, bàng hoàng như vừa tỉnh một cơn mộng huyền ảo giữa ban ngày. Tôi âu yếm bắt tay Huyền, nàng để yên cho tôi xiết nhẹ bàn tay mình. Hình như tôi cố tìm thêm hơi ấm từ người con gái, nhưng khi nói lời từ biệt thì tôi lại không thể nói hẹn gặp lại lần nữa tại Đà Lạt này, bởi tôi chạnh nghĩ mình chỉ còn bốn ngày trại với chương trình đặc kín sáng chiều về các nơi thăm viếng…

4.

Một, hai năm sau, tình bạn của tôi và Huyền vẫn cứ thế, không tiến triển thành tình yêu. Huyền vẫn khoan hòa, tế nhị như có ý chờ đợi tôi, còn tôi vẫn thấy không ổn, vẫn ngại tỏ tình với người con gái lớn hơn hai tuổi và còn vào đời, trưởng thành sớm hơn mình nữa.

Nói chung, ngày đó tôi vẫn tiếp tục là một tên con trai nhát gái, vẫn hay mộng tưởng với loại tình yêu “duy tâm”, chỉ được cái là về viết thư tình, tôi có thêm kinh nghiệm để viết hay hơn – theo nghĩa lâm ly hơn, tạo ấn tượng hơn để con gái chịu bóc xem các lá thư kế tiếp…

Có lần tôi đem chuyện lên Đà Lạt gặp Huyển kể cho một thằng bạn học lớn hơn tôi cũng 2 tuổi, từng trải nhiều mối tình và thuộc hạng hơi Casanova Sở Khanh một chút. Nghe xong chuyện, hắn không thèm hỏi lại câu nào mà chỉ cười nhếch mép, phân tích chỉ dạy cho tôi hai khía cạnh hay và dở đối lập nhau của vấn đề. Một là, vào các dịp Noel thì bọn con trai luôn ước mơ có được có đủ những thứ quí giá, như có xe máy mới, được mời dự dạ vũ cùng tiệc réveillon và quí hơn hết là có đào xinh xắn, là bạn gái hay người yêu đều được, để cùng đi chơi Noel – điều này thì vào dịp Noel năm đó, cái hay của tôi là dù còn khờ, tôi vẫn may mắn có đào tuy phải mò lên đến tận xứ sở sương mù. Hai là, cái dở của tôi là lúc đó đúng là tôi khờ quá, còn con nít quá, không biết lợi dụng ngay hoàn cảnh chỉ có một mình cô gái ở nhà, chỉ biết rủ nhau ra ngồi bãi cõ, tựa vai nhau nói chuyện chay thì hiền quá!

Tất nhiên, có bị đàn anh về chuyện bồ bịch, yêu đương kia chê là “con nít”, “khờ” gì thì cũng ráng mà chịu nhưng tôi đã rây lọc, chỉ tiếp thu ý kiến nào nghe đứng đắn, lương thiện từ thằng bạn nổi tiếng là Casanova bạc tình kia.

Dù sao, tôi đã nhận ra là vào mùa Giáng sinh phiêu lãng trên Đà Lạt năm nào,  tâm hồn tôi đã thầm lặng mãn nguyện. Không biết có bị ảnh hưởng bởi tiểu thuyết, phim ảnh trữ tình nào đó không, cậu con trai 16 tuổi ấy đã tưởng tượng trước cái cảnh tượng vô cùng ngọt ngào là mình và cô bạn gái ngồi kề vai bên nhau, thủ thỉ chuyện trò trên đồi thông đầy lá rụng giữa sương mù Đà Lạt. Đây là hình ảnh hẹn hò tình yêu lãng mạn nhất mà cậu con trai mới lớn đã phóng rọi và thăng hoa cho một tình bạn thắm thiết với một thiếu nữ nết na, mà dù sau này không bay bổng thành tình yêu đi nữa thì cũng vẫn luôn là một tình bạn thật thuần khiết, trong sáng đến muôn đời…

 

PHẠM NGA

(Cận Giáng sinh 2017)

THƠ RỜI VIẾT TRONG MÙA GIÁNG SINH

 

3.

Se se lòng phố
Chút lạnh đầu mùa
Lắng nghe tiếng thở
Ngực chiều. xanh xưa

Tay tìm tay chưa
Truyền nhau hơi ấm
Nói mấy cũng thừa
Chiều ơi. chầm chậm

Chân ơi chầm chậm
Kẻo hụt đời nhau
Bước thấp bước cao
Vai tìm vai trú

Dưới hiên đời rộng
Gió rủ tình về
Áo choàng khăn ấm
Chung vạt nghiêng che

Như ơn phước thánh
Rót xuống đời nhau
Câu ca lóng ngóng
Lạc nụ hôn đầu

Gửi lời kinh nhỏ
Bên máng cỏ Người
Giáng Sinh hạnh ngộ
…..chiều ơi
…..tình ơi

Nguyễn Ngọc Nghĩa

BẤT TUYỆT

bất tuyệt áo khuynh thành tở mở
cầu chưa qua sao ngóng mãi sông dài
nhúm nhen nắng chín chiều nổi khói
ngọn sao trời thắp nốt cánh hoa bay
ngọn hương trầm ngậm xó rừng say
thượng lưu nào nhánh buồn muông thú
ngựa ngã bóng ngày cỏ cây lữ thứ
ngõ hôn hoàng về khép mở kinh thư
bất tuyệt nụ tầm xuân lỡ hẹn
dốc hoang sơ đau mấy ngón tay cầm
nguyên thủy nhánh sầu đông da diết
vô ngôn nào đâu nghĩa vô tâm
mượn lẽ lời nghìn năm hoài đá núi
đợi hoang vu lên phím gõ tơ trời
từ hố thẳm nào lên tiếng gọi
nguyên sơ còn không đồng bằng ơi
TRƯƠNG ĐÌNH TUẤN

Gió mồ côi

 

Anh đánh rớt mùi tình trong chén rượu
Em đánh rơi vào bóng sắc phù du
Anh ngu quá chịu riêng mình túng thiếu
Trời cao xanh che khuất lớp mây mù !

Tất cả ạ sẽ tan vào hư huyễn
Sẽ xanh xao và sẽ rất hư hao
Trái tim ấy biết bao giờ miễn nhiễm
Với tan tành khi biết nhận và trao

Anh đánh rớt giấc mơ thời trẻ dại
Em đánh rơi khỏi ngực tóc mây buồn
Và anh biết dù một người từng trải
Vẫn nhói lòng khi đã nhạt mùi hương

Xa vắng ạ anh không về được nữa
Bước thiên di lệch mất khúc mưa rồi
Anh vẫn thế ra hiên ngồi tựa cửa
Hạt sương buồn ngồi đợi gió mồ côi

Nguyễn Hàn Chung
Đồi cỏ tàn đông Texas

MONG ĐƯỢC MỘT LẦN!

 

 

Chị ơi, em viết những dòng này khi chỉ còn một tuổi nữa là đã 80, và chắc chị cũng đã không còn trên cõi đời này nữa.

Năm ấy, chị trên 30, một góa phụ trẻ, sống với hai con, một trai một gái. Chị đi làm ngày hai buổi, một mình, dù nắng hay mưa chị đều cuốc bộ. Buổi sáng, khi chị rời khỏi nhà, tháp chuông trên nhà thờ đá giục giã đổ hồi. Buổi chiều, chuông cũng ngân nga khi chị bước ra khỏi sở. Chiếc đồng hồ bốn mặt trên tháp cao vẫn cứ âm thầm đếm bước thời gian. Không biết có khi nào chị đếm những bước chân lẻ loi của chính mình.

Cuộc đời chị nhỏ nhoi quá, lặng lẽ quá. Có thêm một nụ cười cũng chẳng ai biết, thêm một giọt lệ cũng chẳng ai hay.

Cho đến khi có bé Tr.

Bé Tr. đến với chị như một nụ hồng ân sủng. Tiếc thay hoa hồng nào mà chẳng có gai. Trong khi chị nâng niu bé Tr. thì trái tim chị rướm máu. Bên hiên nhà, khi ánh trăng lọt qua kẽ lá rải những đốm sáng như những nụ hoa vàng, chị khóc và kể cho em nghe mối tình oan nghiệt của chị.

Người đàn ông ấy, có một thưở là thư ký riêng của vua Bảo Đại, rất mực hào hoa và cũng rất mực đa tình. Chị bảo, ông ta có lạ gì những người trẻ và đẹp khắp bốn phương, cuộc đời tình cảm của một viên chức cao cấp đâu chỉ có mỗi một bà vợ cho dù rất đẹp, mà còn có những mối tình thoáng qua với phấn son ngào ngạt. Những người đẹp dễ dãi ấy qua tay ông nhạt nhòa như nhấp thêm một ly rượu, hút thêm một điếu thuốc.

Ông chẳng yêu ai cả.

Cho đến khi gặp chị.

Một nữ nhân viên chỉ hơn một nữ lao công, thầm lặng không phấn son, đơn giản với chiếc áo dài màu tím và guốc mộc.

Chỉ vậy thôi mà ông điên đảo.

Cũng có thể là ông điên thật, nên nhiều đêm ông một mình lái xe qua đèo Hải Vân chìm trong mây mù, vào thành nội âm u chỉ để lặng lẽ đứng yên bên khung cửa sổ đã đóng kín.

Ông nghe tiếng chị thở, tiếng chị trở mình, thương tấm thân mỏng manh bé nhỏ của chị co ro trong chiếu chăn lạnh lẽo. Rồi ông trở về để kịp sáng ra có mặt trước vợ con đề huề, ăn sáng như thường lệ, xong đến sở ngồi đĩnh đạc trên chiếc ghế giám đốc dành riêng cho ông.

Không chỉ một đêm mà nhiều đêm.

Không chỉ những đêm đầy sao mà cả những đêm mưa.

Ông đứng như trời trồng, trong khi những cơn mưa mùa đông của xứ Huế cứ rỉ rả kéo dài lê thê.

Ông đứng đó cho đến khi chị bất ngờ mở cửa sổ, thấy ông toàn thân ướt sũng.

Thế là ông đã biết yêu và cõi lòng lạnh lẽo của một góa phụ cũng đã bắt lửa, để rồi kết trái là  bé Tr.

Có bé Tr. chị bỗng nhiên sống trong lo sợ. Không sợ chiến tranh mà sợ bà chị  có thể vào bắt cháu để cắt đứt một cuộc tình hoang dại.

Em đến nhà chị cũng vì vậy, đến để có thêm một người đàn ông cho rậm cửa rậm nhà chứ không chỉ để dạy kèm hai con nhỏ đang còn học tiểu học.

Rồi mọi sự cũng qua đi. Không một người đàn bà nào có thể cấm cản được một người đàn ông đang yêu. Bé Tr. cứ phơi phới lớn lên, mặc cho đàm tiếu, mặc cho bom đạn, mặc cho những kẻ không mời mà đến cướp mất nhà em, đẩy mẹ con em xuống thuyền vượt biên chỉ với hai ổ bánh mì và một lon sữa.

Thuyền ra khơi cứ như đi picnic. Đến ngày thứ ba thì hết cả đồ ăn và nước uống. Ai cũng đi vội nên chẳng mang theo được gì nhiều.

Khát!

Phải uống nước tiểu của nhau. Mà nước tiểu cũng cạn dần. Chỉ còn mỗi một cách là lạy trời mưa xuống! Nhưng trời cũng rất không độ lượng, chỉ có mây đen nghìn nghịt vần vũ mà ngóng mãi cũng chẳng có giọt mưa nào rơi xuống.

Nước không có, tàu các nước qua lại như mắc cửi nhưng chẳng tàu nào chịu dừng. Sau mười bảy ngày đêm lênh đênh trên biển, đành phải quay vào bờ.

Thuyền tấp dưới chân đèo Cả, có công an biên phòng chờ sẵn. Đàn ông đi tù một lũ, đàn bà con nít được đưa vào nhà thương rồi được tha.

Chưa bao giờ chị trải qua những ngày giờ kinh hãi đến thế. Sợ nhất là bé Tr. cứ muốn lao xuống biển vì khát.

Mặc dù vậy nhưng sau đó ít năm Tr. muốn thử đi lần nữa. Tr đi một mình. Và thoát.

Em đến được Pháp, được gặp bố dù đã rất già, được học nghề rồi đi làm với lương đủ sống thoải mái. Hình em chụp gửi về, mặc áo pull đỏ ngồi trên lan can trông khỏe mạnh và rất xinh.

Rồi em biết yêu và được yêu. Chàng là một thanh niên Pháp, rất đẹp trai. Cả hai đều rất trẻ trung, gần như là một cặp đôi hoàn hảo. Chàng đưa em đi thăm thú khắp nơi rồi đưa về nhà chào bố mẹ. Ông bố đã có một thời ở Việt Nam, khen Nha Trang thanh bình và đẹp. Ông cũng rất quý em, thầm khen con trai đã tìm được một ý trung nhân phương đông xinh đẹp.

Rồi một buổi chiều, trong khi tiếng chuông nhà thờ Đức Bà ngân nga, chàng quỳ gối xin cầu hôn và em đã chìa tay ra cho chàng trao nhẫn. Cả hai ôm nhau hôn thắm thiết rồi bay về phương nam đầy nắng ấm để ăn mừng.

Đẹp quá phải không chị và lòng người mẹ bấy lâu buồn lo bỗng sáng bừng lên niềm vui chờ đợi. Chị vội vã lo mọi thủ tục để sang dự lễ cưới của con.

Thế nhưng, một hôm cả hai rủ nhau về một miền quê. Trên ngọn đồi xinh có một nhà tu kín. Em bỗng muốn xin vào thăm và được Mẹ bề trên vui vẻ mời vào.

Em chơi ở đó suốt ngày, được Mẹ dẫn đi thăm mọi chỗ, được mời ăn trưa, và khi chiều đến em bỗng dưng không muốn về!

Thế là em được ân phước của Chúa, như Mẹ nói, và em đã nguyện dâng mình cho Chúa suốt đời.

Trước khi bước vào cánh cửa đóng kín, em được phép gặp mẹ một lần. Và chỉ một lần rồi thôi.

Chị tất tả đi qua Pháp để gặp con. Chị chỉ nghe em nói, bonjour maman rồi xách giỏ theo các bạn đồng tu đi xuống đồi hái nho. Đã tự bao đời, các nữ tu quần quật chặt cây khiêng đá biến ngọn đồi đầy đá sỏi thành những vườn nho. Rồi họ làm rượu không phải để uống mà để bán, tự mưu sinh chứ không có một nguồn trợ cấp nào khác.

Em rồi cũng sẽ như vậy, ăn ngủ thức đều theo giờ giấc nghiêm ngặt, làm việc bằng chân tay chứ không có máy móc nào trợ giúp. Và tối đến, sau giờ đọc kinh chỉ được ngã lưng trên bệ xi măng cứng lạnh.

Chị khóc và âm thầm quay về. Từ đó, chị coi như mình đã đánh mất cả cuộc đời.

Tr. nay cũng đã lớn, không hiểu khi bỏ cả người chồng sắp cưới, bỏ cả người mẹ khổ đau để dâng mình cho Chúa thì đã được những gì. Nước Chúa ư? Xa xôi quá nếu không muốn nói là rất ảo tưởng, và có phải là thiên phước chăng khi chung quanh chỉ có một bầy chiên ngoan đang quỳ dưới chân Chúa?!

Chị ơi, em viết những dòng trên đây như một nén hương thắp cho linh hồn tội nghiệp của chị. Nếu có một cõi khác, em cầu mong chị được một lần gặp lại con.

Khuất Đẩu

Noel 2017