TỔ QUỐC GỌI TÊN AI?

Tổ Quốc gọi tên ai chứ đâu phải tên mình.
Bởi vậy…đành ra đi
tìm đường…
thất thế…
Mamh áo, chén cơm… đến nỗi nào đâu,
chẳng lẽ…
Biển bạc, rừng vàng đã cạn kiệt thế sao?
Mặc ai cứ huyênh hoang… Tổ Quốc tự hào!
Văn hiến bốn ngàn năm… đẩy con ra biển!
Văn hiến bốn ngàn năm… quay lưng…
đau điếng
Nỡ chối từ nguồn gốc Việt Nam.
Giây phút cuối cùng, tận tuyệt hoang mang.
Hộ chiếu Trung Hoa- nhưng tôi là người Việt
Xin cho tôi trở về nơi oan nghiệt.
Nơi tôi đã sinh ra và tuyệt vọng thành người…

Tổ Quốc ơi sao nỡ khước từ tôi?
Hồn du mục lang thang miền lữ thứ.
Xác tro bụi vẫn mơ về cố xứ.
Ngậm ngùi…
Tổ Quốc vong thân…
Tổ Quốc gọi tên ai?
Kệ,
Tôi đâu muốn dự phần!…

Tôn Nữ Thu Dung

Người bán linh hồn

 

Người đàn bà ngồi trên chiếc ghế chạm trổ,đẹp lộng lẫy với cái mũi dọc dừa cao quý và đôi lông mày vút lên như hai cánh hạc

 Đó là nữ chủ nhân gallery Kình Dương.Vào 8 giờ tối nay, gallery sẽ mở cửa lần đầu. Chừng hai trăm nhân vật trong thành phố đang chuẩn bị đến dự lễ. Những người giàu tưởng tượng bị hình ảnh con nhân sư trên tấm thiệp thu hút, còn những người thực tế và tò mò thì bị hấp dẫn bởi tin đồn rằng gallery Kình Dương, tọa lạc nơi một tòa nhà bốn tầng đồ sộ, ngay một mặt phố lớn, sẽ là ngã tư của các đường dây buôn bán tranh quốc tế, và sở dĩ nó có được sức mạnh đó chính vì có một thế lực ngầm rất lớn đằng sau nữ chủ nhân xinh đẹp.
Suốt hơn tháng nay, những gì liên quan đến Kình Dương đều trở thành chất men kích thích tính hiếu kỳ của mọi người: sắc đẹp của Tuyết N., lai lịch miếng đất và nguồn tiền xây dựng ngôi nhà, những họa sĩ và nhà thơ thường lui tới đó, những bức tranh sẽ được trưng bày… Tất cả đều khơi nguồn cho những câu chuyện nóng bỏng với nhiều chi tiết thêu dệt chẳng khác nào truyện cổ tích.
Tuyết N. cũng hiểu rõ rất nhiều ánh mắt đang nhìn về phía mình, vì vậy, nàng đốc thúc đàn em phải tổ chức lễ khai trương thực chu đáo, không được để xảy ra một sơ xuất nhỏ nào. Nàng muốn ngày mai, mọi chi tiết của buổi lễ sẽ được trầm trồ trên cửa miệng của mọi người dân thành phố, tạo thành một thanh thế vô giá cho nàng.
Tuyết N. ngồi nhìn, chân đặt lên cái đôn thấp bọc nệm. Bàn chân nàng trắng, nhỏ và nuột nà, làn da ở gót mỏng và ửng hồng, nằm ngay ngắn như một bảo vật trên tấm nệm nhung.
“Hầu hết thời gian của buổi tiệc đứng, chị sẽ ngồi ở đây” viên đạo diễn dặn dò. “Tất cả việc đón tiếp đã có người lo. Chị chỉ có một nhiệm vụ duy nhất, là phải đẹp”. Tuyết N. gật đầu, nàng mỉm cười với đạo diễn, nụ cười cao sang và quyến rũ như một thứ hào quang vụt sáng khiến anh ta cúi đầu thuần phục.
Giữa lúc ấy ngoài cửa có tiếng lao xao, Tuyết N. quay đầu lại, cử chỉ ngoái đầu làm căng lớp áo mỏng khiến một phần bộ ngực tươi tắn như hiện ra đập vào mắt người đàn ông đang cúi xuống. Y không rời mắt khỏi nàng, miệng kêu lớn:
– Hôm nay không tiếp khách nữa đâu nhé, bà chủ và tôi ai cũng bận lắm.
– Cho tôi vào gặp bà chủ đi. Một chút thôi, không mất nhiều thời giờ đâu.
Gã bảo vệ khinh khỉnh nhìn cô gái. Ánh mắt gã đàn ông lướt qua với vẻ bỉ thử như ánh mắt người ta thường ném lên những món hàng thứ phẩm trên sạp chợ hạ giá; cuối cùng thì ánh nhìn anh ta cũng tươi lên đôi chút khi dừng lại nơi đôi mắt to đen với hàng lông mi dày và cong, trông man dã và nồng nàn.
“Này cô em, biết điều thì xéo đi thôi. Ở đây…”
Chỉ mất một giây để tính toán, cô gái quay ngoắt lại, bỏ đi. Con phố lớn trước gallery Kình Dương có nhiều ngõ nhỏ, các ngõ cũng được trải nhựa đường, có thể nói là những con đường nho nhỏ dù chẳng có tên.
Cô gái đi thẳng vào, rồi bước qua cái cửa nhỏ dẫn vào phòng trong.
Trái ngược với gian bên ngoài xinh xắn, căn phòng này tiều tụy và luộm thuộm, đồ đạc chỉ có độc một chiếc giường đôi với mấy cái ghế nhỏ xíu, nhỏ đến nỗi có thể lầm là mấy chiếc đòn. Một cái giá vẽ nằm trong góc, chung quanh là rất nhiều tranh vẽ lở dở, dựng bừa bãi ở chân tường. Một cửa sổ nhỏ phía sau đủ cho một luồng ánh sáng tỏa xuống, soi rõ gian buồng ảm đạm.
Trên cái giường bừa bộn, một người trẻ tuổi ngồi dựa vào vách. Chàng đang nguệch ngoạc những nét phác thảo trên một phiến giấy trắng. Ánh sáng từ cửa sổ đọng lại trên bờm tóc quăn rũ trước trán và sống mũi thanh tú. Cô gái dừng lại trên ngưỡng cửa, ánh mắt cô đầy vẻ yêu thương.
Chàng trai ngước lên, thấy cô, chàng không giấu được vẻ vui sướng. Quẳng cả bút và giấy xuống giường, chàng reo lên và vươn tay ra; cô gái như con mèo nhảy thót vào lòng chàng.
Họ ôm nhau rất lâu, bất động, những cánh tay càng lúc càng riết chặt. Mũi họ hít càng lúc càng sâu vào lồng ngực mùi da thịt của nhau, một nỗi hứng khởi sâu sắc và mãnh liệt làm cả hai như bay lên, bay mãi.
Khi không thể riết chặt hơn nữa, cô gái buông tay ra, ngã vật xuống giường. Cô vùng dậy, lao vào góc phòng, lục lọi trong chiếc tủ cũ và lôi ra một bộ váy màu tím vốn bị nhét trong một góc. Cô vuốt vuốt mớ váy áo, chất thun tốt còn mới nhanh chóng duỗi ra, cho thấy bộ y phục còn khá đẹp và sang trọng.
Đấy là bộ cánh Na sắm từ thuở mới ra trường, đã từ lâu không động đến.
“Em làm gì vậy?” Chàng trai hỏi. Cô gái vắt bộ y phục lên thành ghế, bắt đầu ngồi xuống trước gương, chải tóc, kẹp gọn lên, đôi mắt vốn đã to và sáng càng long lanh hơn.
– Tuấn ơi, sáng nay bà chủ nhà có đến không?
– Có – Vẻ mặt Tuấn đang vui chợt cau lại. Mụ ta thật láo, nhất định chỉ muốn gặp em thôi. Na à, có phải ý mụ ta xem anh là một gã vô tích sự không?
– Không phải thế đâu, chẳng qua là vì em đã dặn mụ ấy không được làm phiền anh về những chuyện tầm thường.
Có người đang muốn dành thuê căn hộ hai người đang ở.
Hai nghìn rưỡi đô cho ba năm, số tiền đó có thể không đáng kể với nhiều người, nhưng với đôi tình nhân họa sĩ này là một thách thức quá lớn. Vì vậy Na đã giấu chàng con số mà nàng cho là quá kếch sù ấy để chàng khỏi khiếp hãi.
Nàng đứng vụt dậy, chạy đến sau lưng Tuấn kéo mạnh bức màn, để lộ một bức tranh sơn dầu cỡ lớn. Trong tranh là một phụ nữ bán khỏa thân: đó là Na, dưới nét cọ tài hoa của người đàn ông yêu nàng. Vẫn mái tóc ấy, đôi mắt ấy, vẫn thân thể mỏng manh ấy nhưng dường như là một Na khác: bất cứ ai đứng trước bức tranh cũng bồi hồi xúc động mà không hiểu vì sao. Họ không biết đã có một ngọn lửa cháy rực từ nỗi say đắm của người họa sĩ, ngọn lửa thần ấy chiếu lên thân thể người đàn bà để soi sáng cho người ta thấy phần linh hồn ẩn sâu đằng sau da thịt. Cả bờ vai mỏng và đôi vú nhỏ – mà những gã đàn ông dung tục vẫn đánh giá như thứ hàng chất lượng kém – ở đây cũng hiện nguyên hình với vẻ đẹp khắc kỷ xót xa mà người ta thường gặp ở những tranh thánh thời Trung Cổ.
Na tiếc đau tiếc đớn khi nghĩ đến chuyện phải rao bán bức tranh, nhưng chẳng còn cách nào khác. Nàng tự an ủi rằng rồi đây nó sẽ được lưu giữ trong sưu tập của một người am hiểu hội họa.Rồi biết đâu đấy, một ngày kia nó sẽ vào nằm ở một bảo tàng,và tình yêu của nàng được ký thác trong đó sẽ còn mãi mãi cùng với giấc mơ bất tử mà nghệ sĩ nào cũng từng ấp ủ.
Na và Tuấn yêu nhau từ năm đầu tiên học chung ở trường nghệ thuật. Tuấn là sinh viên trội bật nhất, còn Na ở trong đám đông những cây cọ trẻ tầm thường làm nền cho lớp học. Nàng luôn khổ tâm vì những ngón tay không quyền năng, chúng bất lực không giúp nàng diễn tả những rung cảm thuần khiết nhất trong lòng nàng. Nàng cũng từng vẽ người mình yêu, nhưng bức chân dung ấy lúc nào nàng cũng giấu kỹ trong một góc tủ. Mỗi lần nhìn thấy nó, nàng lại xấu hổ, bởi cũng là mái tóc rũ trước trán, cũng là gương mặt với vẻ đẹp đàn ông, nhưng chẳng có một tí gì là quyến rũ và sức sống. Gương mặt thiên thần của người mẫu khi bị nhốt vào tranh đã hóa thành một bộ mặt thô thiển, nông cạn và chẳng có tí linh hồn.
Sự kém tài là nguyên nhân khiến nàng dần dần xem người yêu như một thần tượng.Về sau khi đã sống chung, nàng là người yêu, người bạn, người phục vụ và bảo vệ chàng, ngủ cùng giường với chàng ban đêm, nấu ăn cho chàng ban ngày, làm người mẫu thường xuyên cho chàng vẽ, bởi chàng chẳng có tiền thuê mẫu, mà cũng không muốn vẽ ai ngoài nàng.

*

Khi nàng bước vào đại sảnh, đoàn thiếu nữ tiếp tân đã xong phần luyện tập của mình, đang ngồi nơi hai dãy tràng kỷ dài dọc theo vách. Nữ chủ nhân Tuyết N. đang bước từng bước uyển chuyển trên tấm thảm nhung màu huyết dụ, tiến về phía chiếc ghế lớn với dáng dấp như một nữ hoàng đang tiến đến chiếc ngai của mình. Theo sau Tuyết N., gã đạo diễn không rời mắt khỏi từng cử động.
Giữa lúc đó người nữ khách xộc vào. Tuyết N. cau mày lại:
“Tôi đã bảo với cô rồi. Tranh trưng bày đã chọn xong từ hơn mười ngày. Giờ này tôi không tiếp các họa sĩ nữa”.
Từ lúc vào, Na đã cố đè nén cho trái tim mình đừng đập rộn lên dưới cái vỏ lạnh lùng kiêu ngạo; giờ đây lồng ngực nàng lại loạn xạ lên với nhịp tim thon thót. Nàng cố giữ bình tĩnh:
– Thưa bà, nghe nói mới lúc nãy họa sĩ B.D, họa sĩ T.Đ.N vẫn còn cho người đưa tranh đến.
Tuyết N. cười, tiếng cười nàng nghe như tiếng thủy tinh và sứ chạm nhau, sang trọng nhưng rất lạnh lẽo. “Họa sĩ B.D, họa sĩ T.Đ.N? Cô là ai mà dám so với những tên tuổi ấy? Gallery của tôi chỉ nhận giới thiệu những tranh thật xịn, tác phẩm lớn của các danh họa”.
– Thưa bà, tôi đến đây không phải vì tôi, mà vì một người khác. Một thiên tài, thưa bà. Nếu bà nhìn thấy… Bà sẽ không thể ngoảnh mặt đi. Người ta đồn rằng bà là tri âm của các họa sĩ, bà phát hiện và khơi dậy những tài năng.
Nói rồi nàng quả quyết rút trong ngực áo ra một tấm ảnh. Đấy là ảnh chụp bức tranh lớn mà Tuấn đã vẽ, bức tranh mà chàng trai tâm đắc và yêu quý nhất trong suốt quãng đời từ khi cầm cọ đến giờ. Na cầm nó bằng hai tay, run run đưa cho người đàn bà.
Tuyết N. đã ngồi trên cái ngai lộng lẫy, bà ta liếc qua phiến ảnh trên tay cô gái. “Thiên tài của cô đâu, sao hắn ta không đích thân đến đây?”
Na ngắc ngứ không nói ra lời. Nàng sợ làm phật lòng người đàn bà nếu nói ra sự thật, rằng Tuấn không bao giờ chịu cúi mình cầu lụy các gallery; rằng anh cảm thấy phải đặt tài năng mình dưới sự mặc cả của những đầu nậu là nhục nhã; rằng nàng muốn gánh lấy cái phần tục lụy của nghệ thuật để cho tâm hồn anh khỏi bị tổn thương. Làm sao giải thích chuyện này với Tuyết N.? Na lúng túng và lặng im. Dù sao bà chủ Tuyết N. đã chịu bắt lời nói chuyện với mình, đấy đã là điều đáng mừng rồi.
Tuyết N. nhìn tấm phóng ảnh một lúc, rồi trả lại cho Na.
– “Thưa bà …?”
– “Cô bảo tác giả là một thiên tài. Nhưng tôi chưa nghe tới tên y bao giờ cả”.
– “Thưa bà, thiên tài nào khi đầu cũng đã từng là người vô danh… Nhưng nếu bức tranh này được treo ở gallery trong đêm khai mạc, thì nó có rất nhiều cơ may lọt vào mắt xanh của những nhà buôn tranh có cỡ; có thể họ sẽ mua nó với một giá lớn, lúc đó Kình Dương sẽ có cả lợi nhuận lẫn tiếng tăm, vì người ta sẽ hiểu rằng đây là nơi giới thiệu với họ những giá trị mới”.
Những mơ ước nóng bỏng trong lòng khiến cả lời lẽ lẫn vẻ mặt Na nhuộm một vẻ say sưa đầy thuyết phục. Ngồi trên bệ, dưới chân bà chủ, gã đạo diễn lặng lẽ quan sát cô, vẻ chán chường dần tan biến trên khuôn mặt y.
Tuyết N. đáp lời cô gái bằng một cái nhún vai:
– Cô nói đúng, nếu một gã vô danh tiểu tốt được treo tranh ở đây, ngày mai người ta sẽ nhìn y kính nể như nhìn một bậc thầy.
– Thưa bà, bà có thể giúp được một tài năng trong cơn khốn khó, xin bà đừng tiếc công. Nếu bán được tranh, chúng tôi sẽ nhớ ơn bà mãi mãi.
Người đàn bà quay đi. “Tôi không biết ai có tài mà lại phải chịu khốn khó. Tôi làm nghệ thuật, không phải lập trại tế bần”. Dứt lời, bà ta ném một cái nhìn sắc sảo về phía gã đạo diễn; thế là gã này chồm dậy, chụp lấy cườm tay Na, kéo ngược nàng ra khỏi đại sảnh.
– Với bọn người này, cô phải mua sự đồng ý của chúng. Không đủ sức mua thì thôi, đừng van xin. Phải nói thách giá của mình để chúng khiếp hãi, đừng gợi lòng thương của chúng, vô ích.
“Tôi chịu thôi. Tôi không thể…” Na nghẹn ngào. Người đàn ông lắc đầu:
– Cô có đem theo sổ tay không? Không có thì một mẩu giấy cũng được. À, phía sau bức ảnh ấy, được rồi. Tôi đọc cho cô ghi cái này. Có thể đó là một cơ hội cuối cùng…
Gã đọc cho Na ghi một địa chỉ Email trước khi hai người ra đến cánh cửa lớn, nơi gã buông tay cho Na một mình bước ra, như một con bọ rơi ra khỏi chiếc hộp vàng.

*

Tên vệ sĩ ngồi trên bậc thềm, bộ quần áo của hắn dày, lùng thùng và có vô số túi; những đường xếp và túi lớn trên y phục giúp hắn giấu kín những vũ khí nho nhỏ làm bằng thép quý. Hắn chỉ giấu nhẹm chúng vì yêu cầu mỹ quan thôi, chứ ai cũng biết Hùng Rô không bao giờ đi đến đâu với hai bàn tay không.
Gian phòng hắn đang ngồi rộng và sâu hút, ở cuối phòng là một giàn cửa kính lớn nhưng những tấm màn dày đã ngăn hết ánh sáng bên ngoài, thành thử mọi thứ chỉ còn được chiếu sáng bởi bốn ngọn đèn mắt cáo nhỏ xíu gắn lút vào bên trong trần nhà. Giữa phòng, trên chiếc ghế bành lớn, một người đàn ông mảnh dẻ ngả mình; Mái tóc và cái mũi đổ bóng xuống che hầu hết những đường nét khác của khuôn mặt. Lúc này đây, người đàn ông đang cầm hờ hững trong tay một điếu xì gà lớn gắn vào cái tẩu bằng ngà, vốn là một cổ vật. Y rít thuốc bằng vẻ đủng đỉnh của một con mèo già đang thu mình. Mỗi lần điếu thuốc cháy đỏ, chút ánh sáng bừng lên hắt ánh lửa vào đôi mắt lim dim trên khuôn mặt gầy. Màu xanh lờ mờ nơi những gốc ria trên mép sát cạnh màu hồng sậm của đôi môi mỏng.
Một người đàn ông vào trạc tuổi đã gần sáu mươi mà còn có màu môi như vậy, kể cũng kỳ lạ. Gã vệ sĩ ngồi dưới chân y, mắt cũng lim dim, gã đang khoan khoái và thèm thuồng vì hít phải mùi thơm tỏa ra từ điếu thuốc kia: mùi thơm của một vườn nhãn chín.
Một màn hình vi tính đặt cạnh chiếc ghế bành giúp người đàn ông có thể nhìn thấy cảnh tượng ngoài đại sảnh từ trong căn phòng kín. Trên màn hình, Tuyết N. đang cười mãn nguyện. Người đàn ông nhìn nụ cười ấy với khuôn mặt bất động, nhìn vẻ mặt ấy chẳng ai có thể hiểu y đang nghĩ gì.
Rút chiếc điện thoại di động trong túi ra, y mở đọc các email đang được gửi tới, cũng với vẻ mặt đóng kín.
Bỗng y dừng lại, đôi mắt lim dim hơi mở to ra nhìn vào màn hình nhỏ xíu của điện thoại. “Hùng Rô!” Nghe tiếng gọi, gã vệ sĩ to lớn đứng phắt dậy. Thấy chủ chỉ về phía màn hình máy vi tính, y hiểu ý ngay, tắt mạch phím đang truyền dẫn từ đại sảnh, mở sang mục check mail. Chốc lát, bức tranh người thiếu nữ đã hiện ra. Qua ánh sáng của màn hình tinh thể lỏng, những đường nét của người trong tranh như tỏa hào quang làm chói mắt người nhìn.
“Hùng Rô!” Người đàn ông lại gọi. Tiếng gọi khàn khàn phát ra từ thân hình lép kẹp đó lại có sức mạnh khiến cái thân thể to lớn dềnh dàng của Hùng Rô phải tuân theo răm rắp.
Hùng Rô đi ra cửa.
Mấy phút sau, có tiếng giày cao gót hấp tấp gõ lách cách ngoài hành lang. Rồi cánh cửa mở, Tuyết N. lách qua tấm màn nhung tiến vào.
Nàng đến bên chiếc ghế bành, ngồi dựa vào lòng người đàn ông:
– Anh muốn xem bức tranh đó sao? Em đã từ chối rồi. Một bức tranh tầm thường. Em không chịu nổi những gì tầm thường, trong gallery của em, tất cả phải là tranh của những tên tuổi lớn.
Tuyết N. ép sát mình vào thân người đàn ông, chiếc soirée cổ rộng xếp nếp hững hờ, thân thể nàng tươi mát và gợi mở như mâm cỗ hoan lạc. Người đàn ông đưa một tay lên ngực Tuyết N., tay kia vẫn tiếp tục cầm điếu xì gà. Tuyết N. khép nhẹ mắt , nàng mơn trớn y bằng cả thân thể, vẻ mặt và giọng nói rủ rỉ như những giọt mật. “Em chọn đủ số tranh, con số này phù hợp với cung số của anh trong năm nay, thầy chiêm tinh đã dặn lui dặn tới không được làm sai, nguy hiểm lắm anh à”. Người đàn ông gật đầu, vẻ mặt không lộ vẻ tán thành hay phản đối. Tuyết N. lay nhẹ vai y,nũng nịu:
– Vậy em gọi Hùng Rô quay lại nhé?
Người đàn ông lắc đầu. Tuyết N. hất mạnh bàn tay y ra, đứng phắt dậy, ngồi dịch ra khỏi lòng y. Nàng kêu lên như xé tai:
– Vậy mà anh nói tôi là chủ gallery này!
Người đàn ông vẫn điềm đạm hút thuốc. “Anh không hiểu em muốn gì. Coi chừng, khi giận dữ trông em xấu hẳn đi”.
– Em muốn một là anh tôn trọng quyền làm chủ của em ở đây, hai là đừng nhìn mặt em nữa.
– Thực sao? Anh cứ nghĩ em thích ở vị trí hiện nay hơn là quay về cái quán karaoké nơi anh gặp em lần đầu.
Người đàn bà im lặng quay lưng. Khi nàng ra tới đại sảnh, da mặt nàng xám ngoét kỳ dị đến nỗi gã đạo diễn sững sờ khi nhìn thấy nhân vật chính của mình.

*

“Tại sao cô không đưa tranh đến đây?”. Người đàn ông hỏi. Khi ngồi ngay ngắn, trông gã đầy uy lực. Dù thân hình gầy guộc và khuôn mặt xanh xao, giọng nói gã lớn, mạnh và âm vang.
Cô nàng họa sĩ nghèo không thể không cảm thấy xao xuyến trước sự tráng lệ của gian phòng, trông như một u cung. Ở đây, tất cả toát ra cái vẻ lấn át lạnh lùng, như một con thú khổng lồ đang chực há mồm nuốt chửng lấy nàng.
Na cảm thấy vướng ở cổ họng, nàng không nén được mấy tiếng ho khúc khắc. “Tôi chờ một lời thỏa thuận. Người của ông bảo rằng chẳng những nhận trưng bày, ông còn muốn mua đứt bức tranh”.
Người đàn ông nhếch mép. “Cô muốn bao nhiêu?”
Trái tim Na lồng lên, đập rộn rã trong lồng ngực. Cố giữ vẻ mặt lạnh lùng, cô thốt lên với vẻ khinh khỉnh:
– Hai nghìn rưỡi đô, thưa ông.
Người đàn ông ngả lưng vào thành ghế, y bắt đầu bẻ các đốt ngón tay khiến chúng kêu lên lốp bốp. Mặt y không đổi sắc, ánh mắt đảo từ đầu đến chân người phụ nữ trước mặt.
– Cô tưởng đây là Hồng Kông hoặc Singapore sao? Hai nghìn rưỡi đô cho tác phẩm của một họa sĩ chưa hề tiếng tăm?
Na không chuẩn bị cho mình một thái độ nào tiếp theo, nên nàng khựng lại. Rồi đôi mắt nàng đột ngột sáng lên, lần này là ánh sáng của một niềm tin mạnh mẽ thực sự:
– Hôm nay nếu ông mua nó, ngày mai Kình Dương sẽ sánh vai với những nơi ông vừa nhắc.
Người đàn ông cười hoài nghi, mắt không rời ánh chớp trên mặt cô gái. Y buông sõng:
– Được rồi. Tôi mua. Tôi trả cho cô ba nghìn, không kém một xu.
Na bất ngờ quá, cô không kìm chế được nỗi vui sướng, hai tay ôm lấy mặt.
Chờ cho cô ngửng lên, gã đàn ông nói tiếp:
– Với một điều kiện. Cô là người mẫu của bức tranh phải không? Tôi muốn cả bức tranh và cả cô. Ba ngàn đô, cả hai. Cô hiểu chứ?
Bên tai Na như có một thanh sắt đang nung đỏ chợt bị dụi và nước lạnh.
Cô lùi lại một bước, vẻ như muốn tát mạnh vào mặt gã đàn ông, nhưng gã đang ở ngoài tầm tay cô.
– Ông nói gì thế? Ông có điên không?
Người đàn ông mỉm cười không đáp .
Na hụt hẫng, quay ngoắt lại, bỏ đi với vẻ mặt hầm hầm ghê tởm.
Người đàn ông điềm tĩnh nhìn theo.
Bước chân Na chếnh choáng như người ngủ mơ vừa tỉnh. Trước mắt cô hiện ra hình ảnh Tuấn, giờ này đang miệt mài vẽ trong căn phòng nhỏ.
Ngày mai, một người giàu có sẽ đến chồng tiền thuê nơi ấy.
Lúc sắp bước ra khỏi phòng, bỗng nhiên Na òa lên khóc thảm thiết, rồi nàng quay lại, những giọt lệ căm hờn ứa ra từ đôi mắt lửa cháy.
Người đàn ông khẽ gật đầu.Lặng lẽ,y ngắm nghía vẻ đau khổ của cô gái với vẻ khoái trá,như người ta nhấm nháp một cốc rượu vang khai vị. “Lại đây, em bé – Y quay sang nói với tên vệ sĩ – “Lúc nào ta cũng khâm phục phụ nữ ngày nay, họ quyết định trong vài giây những gì mà ngày xưa phải đắn đo nhiều tháng trời”.
Na lắc đầu. “Tôi đồng ý, nhưng không phải bây giờ. Hai giờ sau tôi sẽ quay lại.”
Dù trí óc mê mụ và đau buốt, Na vẫn còn nhớ bây giờ là năm giờ chiều. Như lệ thường giờ ấy dù đang đi đâu họ cũng quay về bên nhau. Nàng pha cà phê và hai người ngồi nhìn ra khoảng trời xanh trên cửa sổ. Họ nói với nhau về những niềm hy vọng, những bức tranh đang ấp ủ, những chuyến đi xa trong tương lai……
Giờ đây nàng phải về. Nàng muốn gặp Tuấn, bởi nàng biết lát nữa đây khi đã bán mình, sẽ không có gì như trước nữa, không bao giờ có lại một giờ ngọt ngào như thế.
Trên ghế bành, gã đàn ông không tỏ vẻ gì nôn nóng. Y bảo:
– Được thôi. Hai giờ sau cô sẽ trở lại, mà này, đừng mặc bộ váy ngớ ngẩn này, hãy mặc cái gì khác. Luộm thuộm cũng được, rách rưới cũng được, tôi rất thích cái vẻ thiên thần vô lại của cô, chớ có tìm cách tỉa tót nó.
Na đi rồi, Hùng Rô nhìn chủ:
– Biết đâu cô ả sẽ chuồn thẳng.
Gã chủ lắc đầu:
– Con bé cần tiền đến cháy da. Món tiền của ta là sợi dây đã buộc vào cổ nó.
Hùng Rô cười hềnh hệch:
– Giá quá cao. Một đứa con gái lép kẹp, có gì là hấp dẫn? Tệ hơn những con mái bèo nhất.
– Chú lầm. Người phàm ăn không thể hiểu cái thú ẩm thực của người sành. Chú có thấy cái eo của con bé không? Ta chưa thấy đứa con gái nào có cái eo nhỏ như thế.
– Eo nhỏ thì sao?
Trong lúc hai thầy trò nói chuyện thì bên ngoài, Tuyết N. đang đi đi lại lại. Giờ đây, dáng vẻ nàng là dáng vẻ của con hổ cái bị thương.
Một cô giúp việc trẻ tay bưng khay rượu đến nói thầm vào tai nàng. Tuyết N. chăm chú nghe rồi cười gằn:
-Đồ điếm!
Mắt Tuyết N. phát ra những tia sáng hung hãn. Rồi như chợt nghĩ ra, nàng bỗng dịu vẻ mặt, nhoẻn một nụ cười đắc ý. Thấy nụ cười ấy,cô bé giúp việc sợ hãi nhìn quanh, rồi bưng khay đi.
Tuyết N. gọi với theo:
-Gọi Hùng Rô, bảo ta có việc cần gặp y.

*

Quãng đường từ gallery tuy không xa, nhưng đôi chân lẫn lộn khiến Na loanh quanh mãi giữa những con đường nhỏ. Nàng vừa đi vừa khóc rồi cuối cùng câm nín, lặng lẽ, mắt ánh lên nỗi đau đớn gan lỳ .
Khi Na về đến trước nhà, chẳng còn giọt nắng nào trước hiên, và trên da mặt nàng cũng chẳng còn một giọt máu.
Có tiếng động ở phòng trong. Na giật mình,theo thói quen, nàng lo lắng, có thể Tuấn sẽ nổi cơn giận khi thấy nàng đã lén đi với bộ váy đỏm dáng này, chắc chắn là đến những nơi chàng không thích.
Trong phòng, chàng trai đang cắm cúi vẽ, lưng quay về phía cửa sổ.
“Na! Na ơi!” Chàng kêu to khi nghe tiếng chân nàng, mắt vẫn không rời bức vẽ. “Anh đã gặp vận đỏ rồi. Anh đã nói mà. Thần may mắn đã đến!”’
“Anh nói sao?” Na kêu lên, tưởng chừng tim vỡ ra. Có thể nào? Nàng phấp phỏng ….
“Một người đàn bà, em ạ, một người đàn bà tuyệt đẹp, bà ta bảo rằng gallery của bà ấy sẽ rất vinh dự giới thiệu bức tranh của anh. Bà ta đến bằng xe hơi! Anh chưa bao giờ nhìn thấy ai đẹp và lịch lãm như bà ấy! Gã vệ sĩ dẫn đường cho bà ta còn bảnh hơn một ông chủ!”
Tuấn không ngừng tay dập những tảng màu lên khung vải. Na chạy tới, nhìn vào bức tranh lớn chàng đang tô sửa. Chợt nàng hét lên, chết điếng.
Đó là bức tranh về nàng, giờ đây Tuấn đang vội vã trét những đường nét mới lên. Vẫn màu nền đó, vẫn dáng người đó, nhưng thay vì mái tóc xõa rối là mái tóc búi cao quý phái, và bộ ngực nữ tu giờ đây đã hóa thành bộ ngực đồ sộ mỡ màng của nữ chủ nhân gallery Kình Dương.

*

Đúng tám giờ tối gallery Kình Dương được cắt băng khánh thành. Tháp sâm banh tuôn trào, những khách mời nâng ly, lót tay bằng những chiếc khăn lụa trắng nõn.
Trước cổng gallery, xe hơi đậu bóng loáng dọc vệ đường. Trong buổi tiếp tân, nữ chủ nhân Tuyết N. tươi tắn và sung mãn, xuất hiện như một bông hoa bằng pha lê rực rỡ dưới ánh đèn chùm muôn màu chiếu sáng. Bên cạnh nàng là một gương mặt mới, một họa sĩ còn trẻ nhưng được lưu ý nhiều nhất vì vẻ hào hoa lãng mạn và cả vì bức tranh đang được trưng bày ở chỗ sáng nhất, quan trọng nhất trong đại sảnh. Đó là bức vẽ về nữ chủ nhân gallery, kết quả của sự chắp nối dị dạng vô hồn, trông giống như một thứ côn trùng đang biến thái dở dang. Mặc dù vậy, nhiều người đã tấm tắc khen ngợi nó, một số nhà phê bình hội họa còn phát hiện ra nơi đây một bút pháp mới đầy sáng tạo, pha trộn giữa hư và thực.
Hai giờ khuya, Tuấn mới về đến nhà. Thứ men quyến rũ của vinh quang lần đầu thấm vào hồn anh, khiến chân anh cứ lâng lâng như đang đi trên mây khói.
Ngả lưng một lúc lâu Tuấn mới nhận ra Na không có trong căn hộ, những xống áo của nàng treo trên vách cũng biến mất. Tuấn nhổm dậy, nhìn kỹ lại quanh phòng. Chiếc lược, chiếc bút chì tô môi, chiếc mũ vải gai màu beige của nàng cũng không còn nữa.
Tuấn bồn chồn, muốn đi tìm Na nhưng đã quá khuya. Đi lui đi tới một lúc, anh chợt kéo tấm màn trước kia vẫn che bức tranh lớn…
Nơi khoảng trống mà bức tranh để lại, Na đã đặt một cái bàn nhỏ, trên bàn là bức chân dung của anh mà trước đây nàng đã vẽ: một bộ mặt thô thiển, nông cạn và chẳng có tí linh hồn.
Trước bức tranh là một bát nhang mới, trên đó cắm cây nhang đang còn cháy dở.
Kể từ hôm đó, người trong phố chẳng ai còn thấy Na ở đâu nữa.
Còn Tuấn thì càng ngày càng nổi tiếng. Sự nghiệp của chàng không phải chỉ ngừng ở gallery Kình Dương.

Trần Thùy Mai

bài Montmartre cho Mi

 

 

Mi à
con mắt chiều say
vương tơ sợi nắng
cuối ngày
chim di

tại sao mơ ước có gì
mà trong tâm tưởng hồ nghi lạ thường

ô kìa
phiến lá thu vương
tóc người sợi nhỏ
mười phương
trôi về

đêm mầu ngọc bích đam mê
hương rơi áo nhẹ lạnh tề giấc loan

bài lục bát
ở giữa đàng
chân qua nhặt nhé cho vàng
mùa thu

Mi à
phố này sương mù
những đêm xa vắng
lại mù sương thôi

cánh hoa chợt nở lưng đồi
chim câu ngậm hạt cỏ trời bao dung

những khi
ngồi quán
tận cùng
trái tim bỗng mở
bão bùng xanh xao

đêm trầm
Montmartre lời chào
chân xưa hài cũ
hư hao tháng ngày

ngoài hiên gió-ngọn cỏ may
đợi chiều yên tịnh-  lời ai u trầm

Pham Quang Trung

LỜI TRUY ĐIỆU MỚI

Lời truy điệu mới

 

Rồi những ngày im lặng sẽ đến nhiều hơn

lũ lượt từng trận bặt âm mang hình chấm hỏi

em khuất sau nỗi lãng quên đã cũ kỹ của tôi

trận mưa không thể mang nhiều ý nghĩa hơn cho sự bưng bít lừa dối

rồi cũng sẽ có ngày mọi đám mây mang màu bóng tối

nhập siêu vào những trăm năm

sẽ là những ngữ ngôn mang dáng dấp niên kỷ mới

lần buồn này sẽ đến ướp sặc sụa những dung nhan ngộ độc vì những tráo trở

mỗi tháng năm đã trôi qua trong sự nhồi nhét di căn

chứng kiến các non dại bị nghe lời loạn ngôn quá nhiều

dừng lại và đừng ngợi ca bằng bài diễn văn không phải sự thật

ngày trôi trong miên viễn lọc lừa

sẽ không còn nhiều thời gian để ghi dấu cho buổi ra đi này

sự bung nở của khứu giác, sự trương phình của con mắt, đánh hơi và dòm ngó

sẽ xóa tan và chặn đứng cơn háo hức mùa xuân cũ vừa đến, sẽ triệt sản những đam mê của màu hoa cũ

chúng ta còn gì trên những bàn tay?

khi buổi hôn mê cuối cùng đã trôi qua trong phản bội của thời gian

khi những lừa dối bưng bít đánh tráo đã phơi sáng trên tấm toan trắng phủ rây rây tràn vị máu

hy lễ đãi bôi cho một giao ước của quỷ dữ và quỷ dữ

sự phản bội mang màu bầm đen của miếng tiết khô

huyết tích giao chỉ khằn sâu trên họng đá của con sphinx canh cửa địa ngục

một câu hỏi cho kỷ nguyên phân rã cuối cùng

chúng ta có nên im lặng quá lâu

cho một sự sợ hãi?

 

Đêm. lồng đèn bay cao.

Đêm xách đèn lồng đom đóm bờ bụi
Tôi vấp chân ngược tuổi lồng đèn chắn lối
Cớ gì mò mẫm đêm thâu
Người bắt một trăm mười ba đom đóm
Tôi mười ba năm ngong ngóng chờ
Tuổi trẻ không thể dừng bánh xe đợi
những tuổi trẻ ngày mưa xối
Những lồng đèn bước về phía bóng tối
mang theo nến sáng chập chùng
đôi mắt tuổi thơ không nhìn về phía lặng câm
những ngày không ánh nắng
Người bỏ hành trang ở lại
đêm chập chờn bong bóng bí ngô
xe ngựa gỗ gập ghềnh cố thổ
hơi lạnh quấn mền cho giấc chiêm bao
tháng Chín , đừng ai gọi tên ai lần nữa.

 

KINH NGUYỆN THÁNG MƯỜI MỘT

Tháng mười một
Cơn mất ngủ sẽ xuyên qua những tròng mắt mệt mỏi
gục đầu không phải là cúi đầu
bên kia những đôi mắt đang thức cùng mặt đường loang loáng máu của trận mưa đêm
tán long não ẩm ướt mùi của dịch lỏng
chảy tràn vị giác
một đôi kính nằm lại bên vệ đường
” chúng ta cùng thức qua đêm này”

 

chúng ta đã đi qua bao nhiêu bội số bụi mù
những tán cây khóc bằng mắt lá
thanh xuân ghi lại trên thân những vòng gỗ
rằng máu sẽ nhỏ từ thân cây như đã từng nhỏ ra bên cạnh sườn
những người khổng lồ đánh nhau với quái vật
còn chúng ta sẽ nguyện cầu điều gì?
ở một cánh cửa không ai bước qua
rằng gõ thì sẽ mở
ở những ngọn nến sẽ sáng xuyên đêm
rì rầm lời kinh nguyền
“nay là chúng tôi, mai anh chị”
ở một nơi chốn của sự lặng im hãi sợ
chúng ta chờ Đấng Cứu Chuộc của mình
trong tuyệt vọng
bên kia thinh lặng
người nói với người: ” nay là chúng tôi….”

mưa ở nghĩa trang.

Chiều ở nghĩa trang
giọt tâm linh hoang vắng
nơi dâng đàn hương
lạnh lẽo màu bia mộ
bao lâu thì tàn?

 

gió thổi qua đồi
nhập nhằng nắng quái
nhập nhằng mưa rây
hạt ướt người vừa đi vào dưới mộ

 

là mưa trên đồi
hay mưa trên mắt
có hạt sương vừa rơi
trên vùng tóc già loang nắng
có bàn chân vừa lơi
đồi Thập giá chừ lạnh lắm.

thôi người về đi
mưa rồi cũng tạnh

 

PHƯƠNG UY

 

CHÚ VÀ ANH

Năm ấy tôi hai mươi lăm tuổi, lần đầu tham dự một trại viết dành cho những cây bút trẻ. Đến trại, tôi mang theo trong ba lô mười lăm bài thơ, một cái truyện ngắn dở dang, và rất nhiều mong đợi về sự nghiệp văn chương sau này. Chỉ có một điều tôi không mong, mà đã tới…

Nhật vào làng viết lách trước tôi. Đọc thơ tôi, Nhật không khen, không chê, chỉ nói lừng khừng: “Thơ con gái, đọc nghe cũng dễ thương”. Cách khen ấy làm tôi tự ái. Nhật lại đọc truyện ngắn của tôi, rồi phán: “Cũng được. Nhân vật nam của em sao mà đa cảm vậy? Ngoài đời không có đâu. Chưa biết gì về đàn ông”. Tôi sừng sừng nét mặt: “Xin lỗi nghe, không dám nói là không biết đâu”. Nhật cười ngạo nghễ: “Nhìn mặt biết ngay chưa có mảnh tình nào vắt vai”. Tôi hỉnh mũi: “Lẽ nào phải nhảy vào chảo dầu mới mô tả được cảm giác của con cá rán?”.

Trại viết đóng trong một khu biệt thự lớn ven biển, nằm trong khuôn viên hơn ba nghìn mét vuông. Ban tổ chức trại ở tòa nhà hai tầng chính giữa, tầng dưới có hội trường và một phòng ăn dài. Mỗi bàn ăn có bốn ghế. Ban tổ chức trại có ba người, trong khi có đến năm nữ. Thành thử, đến bữa ăn thế nào cũng có một cô bị xếp sang bàn của “lãnh đạo”. Ngồi ở mâm này khó đùa giỡn, lại phải vừa ăn vừa trả lời các câu hỏi về ý định sáng tác, quan niệm về chủ nghĩa hiện thực v.v… và v.v… nên kết quả là thường bị đói, nếu no thì cũng rất khó tiêu. Cho nên cứ đến gần giờ ăn là cả mấy chị em không ai bảo ai đều quẳng bút, lo thay sẵn quần áo, hễ nghe kẻng đánh một tiếng là ù té chạy, ai chậm chân thì… ráng ngồi mâm chung với các VIP.

Một lần mải viết nên tôi chậm chân, lúc cắm đầu chạy thục mạng tôi đâm sầm vào chú. Thật nhục. Mình đang tuổi thanh niên mà ngã quay lơ xuống sàn, còn “ông già” thì xuống tấn đứng tỉnh queo. Chú lôi tôi dậy, ấn xuống ghế trước mặt. “Có việc gì mà các cô chạy đua ghê quá vậy?” Tôi lúng túng. Trả lời sao đây? Các bàn bên cạnh bắt đầu ran lên tiếng cười rúc rích, tôi nhìn thấy cặp mắt ngạo mạn của Nhật như muốn chọc quê tôi. Tức ơi là tức. Trước mặt tôi, ba vị chức sắc bắt đầu gắp một cách rất nghiêm trang. Cả ba vị đều là người của Trung ương Hội cử vào. Trung ương Hội là những đâu, đối với tôi lúc ấy nghe có vẻ cao xa vòi vọi, nên trong mắt của cây bút trẻ như tôi thời đó, tôi vẫn nhìn các vị với cái nhìn e dè kính nể như học sinh cấp ba đối với ông thầy. Chú là trại trưởng. “Sao, cô bé, truyện ngắn viết đến đâu rồi?” Chú hỏi, giọng nghiêm nghị. Thường thì dù đang ăn tôi cũng lễ phép trả lời, nhưng hôm ấy trong tâm trạng bực bội tôi cứ ỳ ra, mặt mày quạu cọ. Thật ngạc nhiên, chú không trách, cũng không hỏi nữa, mà lặng lẽ gắp thức ăn bỏ vào bát tôi.

Sau này trong những lần chú góp ý bản thảo, tôi nghe chú kể đời mình. Tập kết năm năm tư, chú để lại miền Nam một vợ hai con. Hai mươi năm trời ăn cơm tập thể nằm giường cá nhân. Ngày hòa bình, quay về thì vợ đã lấy chồng, người chồng vừa đi cải tạo. Hai con đều đã di tản sang Mỹ. Chú đến trại cải tạo xin bảo lãnh cho ông chồng của vợ cũ, rồi mang ba lô quay về Bắc. Lại ăn cơm tập thể, nằm giường cá nhân, bắt tay vào viết tiểu thuyết bộ ba, lấy đó làm lẽ sống.

Thời ấy, tiểu thuyết dài ba tập kiểu Liên Xô đang là thời thượng, nhà văn nào có một bộ ba như thế là được xem ngay là nhà văn lớn. Chú có đến hai bộ. Một bộ nói về chiến tranh, một bộ nói về cải tạo công thương nghiệp thời hậu chiến. Bộ tiểu thuyết về cải tạo công thương nghiệp, chú mới cho ra đời được có hai tập, tập thứ ba hơn ba năm nay vẫn chưa viết xong. Đó là khoảng thời gian chú vào ban chấp hành hội, họp hành liên tục và đảm đương nhiều việc, ví dụ phải đi tổ chức trại viết cho các cây bút trẻ như tôi chẳng hạn.

Trong căn phòng nhỏ có cửa sổ mở ra phía núi, tôi cặm cụi viết tác phẩm đầu tiên ở trại. Đó là một câu chuyện đã chứng kiến tại trường học mà tôi vừa đến dạy. Hôm ấy vào dịp cuối năm, công đoàn cơ quan có mua được khoảng một chục chiếc chén sứ Hải Dương. Có chục chiếc chén mà đến bốn mươi cán bộ, nên phải bình bầu xem ai xứng đáng hơn, bắt đầu từ hoàn cảnh rồi đến năng lực đến phẩm chất… Kết quả là có hai cô giáo giận nhau đến nỗi không nhìn nhau được và cuối cùng có một người phải xin chuyển đi…

Câu chuyện tôi viết chắc có bút pháp rất non nớt. Vì vậy sau khi kiếm vài ưu điểm râu ria để khen cho tôi đỡ mất tinh thần, chú chê ngay. Em còn trẻ, sao nhìn đời đen tối vậy? Phải tin ở cuộc đời. Tôi ngạc nhiên: “Thưa chú, cháu hầu như viết y chang sự thật mà”. “Thế mới sai lầm. Y chang sự thực, đấy là tự nhiên chủ nghĩa. Cháu phải nhìn sự thực trong xu thế phát triển của nó”. “Nghĩa là vừa có chuyện hai cô giáo giận nhau, vừa có chuyện hai cô giáo làm lành phải không chú?” Chú nhìn tôi, vẻ mặt như đang nuốt thứ gì đắng, chắc chú nghĩ sao lại có một “cây bút” ngớ ngẩn như thế này.

Tôi về thức cả đêm để “rờ tút” lại tác phẩm, nhưng rồi chỉ hôm sau những tờ giấy đáng thương bị thả tung trước gió để lả tả bay đi. Chiều lại, đến giờ cơm, tôi lại bị ngồi vào mâm chức sắc. Chú hỏi tôi truyện viết đến đâu rồi? Tôi định không nói, nhưng cuối cùng đành để lộ lý do: Nhật đã đọc câu chuyện tôi kể với cái đoạn kết về hai cô giáo làm lành, anh ta lăn ra cười và chế nhạo tôi: Đột ngột thế. Chủ nghĩa hiện thực của Lý là chủ nghĩa “đùng một cái”.

Tôi tự ái tràn hông, vò nát bản thảo cho nó bay tung tả. Sau này nghĩ lại, tôi tiếc đã không giữ lại những dòng chữ vụng về của mình. Nhật chế giễu tôi: “Lúc nào cũng xù lông như con nhím”. Chú thì có vẻ bực, có ý xem Nhật là tay phá bĩnh… Tôi thì rối ren giữa hai người, bắt đầu cảm thấy việc sáng tác sao mà khó khăn, không dễ dàng như lâu nay tôi tưởng. Chao ôi có mấy trang truyện ngắn mà đã nhiêu khê như thế, vậy chú đã phải vượt qua bao nhiêu trăn trở mới viết ra được những bộ ba dày tập đồ sộ như vậy? Nói với Nhật, Nhật chỉ cười…

Gần nửa tháng sau đó tôi giận Nhật, những bữa nhanh chân không phải ngồi bên mâm VIP, tôi cũng tránh ngồi chung mâm với anh. Giận dai vậy là vì chị Tố Hoa ở phòng bên cạnh có hôm bảo tôi, thằng Nhật láo, hôm nay tao đi qua chỗ mấy ông ngồi uống cà phê, thấy họ đang bàn tán về chị em mình. Thằng Nhật nói: “Loài người cũng có điểm giống với các sinh vật sống thành bầy, những con cái luôn hướng về con đầu đàn, còn con đầu đàn thì luôn chọn những con cái trẻ nhất”. Tao chắc là nó nói mày. Tôi điếng người. Ừ, tôi hay ngồi mâm VIP nhất, lại còn tỏ ra khâm phục chú nữa…

Chiều chiều, chúng tôi thường xuống biển tắm. Tòa nhà của trại viết nằm ở bãi sau, rất yên tĩnh, vắng lặng. Tôi tránh Nhật, ngồi ở một chỗ xa xa. Chợt có bóng người ngồi xuống bên tôi. Tôi ngạc nhiên: chú.

Chú nói rất nhiều, như thói quen. Nhà văn hay nói, lãnh đạo cũng hay nói, mà chú là cả hai. Bỗng nhiên, chú nắm lấy bàn tay tôi đang chống trên cát. “Lý có bàn tay đẹp quá”. Chú bảo, giọng khàn lại. Tôi ngạc nhiên quá. Đang nói chuyện văn chương, chuyện thời cuộc, sao chú chuyển đề tài đột ngột thế này. Ngỡ ngàng quá nên tôi bật lên cười: Ha ha ha…

Chú ngượng, rụt ngay tay lại. Lại tiếp tục chuyện văn chương, thời cuộc.

Tôi chẳng hiểu gì cả. Lúc ấy tôi chỉ mong chú đi qua nơi khác cho nhanh, kẻo lọt vào mắt Nhật, chắc chắn tôi lại trở thành đề tài mổ xẻ cho quý nhà văn trong trại.

*

Một buổi sáng, khi thức dậy như lệ thường tôi chạy xuống biển. Không phải bãi biển vắng hoang sơ như mọi ngày. Trên bãi lố nhố người. Tôi hét lên kinh sợ: nhiều xác người nằm im lìm trên cát. Lúc đó tôi hai mươi lăm tuổi, lần đầu tiên nhìn thấy người chết, mà nhiều người chết như thế. Bưng mặt, tôi hoảng loạn chạy ngược lại, không dám nhìn. Tôi chạy tấp vào mái hiên gần nhất. Một cánh tay quàng lấy tôi: “Đừng sợ”. Cánh tay giữ chặt cho tôi đứng vững. Tôi vẫn nhắm mắt, run rẩy. Lát sau, mở mắt, tôi thấy Nhật. Mắt anh đỏ, gương mặt không còn chút gì vẻ tếu táo thường ngày.

Đêm qua biển động, một thuyền chài chìm ngoài khơi, thuyền quá cũ không chịu được sóng biển.

Nhật kéo tôi xuống bãi. “Đi, chạy vào xóm chài, chắc chắn mình phải giúp họ được việc gì đó”. Tôi khuỵu chân, vừa khóc vừa bưng mắt: “Không, không, Lý sợ lắm!” Nhưng Nhật dựng thẳng tôi lên, quay mặt tôi ra phía có những xác người: “Nhìn đi! Đã làm nhà văn thì đừng sợ gió!”

Tôi mở mắt. Sau này, cả đời tôi, thỉnh thoảng tôi lại nghe lời nói của Nhật. “Đừng sợ gió!”

Sau những đám tang, tôi và Nhật thường xuống xóm chài. Có lần theo bọn trẻ con đi thuyền câu mực cả đêm. Những con mực thật đáng thương, chúng thường chết đói. Chúng là những sinh vật yêu thích đồ chơi, bọn trẻ câu chúng không cần phải mua mồi, chỉ nhặt những mẩu giấy bạc trong các vỏ thuốc vứt đi, cắt nhỏ rồi gắn vào lưỡi câu. Những con mực thấy lấp lánh xán đến chơi, rồi mắc câu. Nhật thường hăng hái câu giúp bọn trẻ, nhưng tôi thì thấy thương lũ mực. Thế là cãi nhau.

Trên đường về, Nhật bảo: “Em đúng là Nhím con. Ai có thể yêu em mà không bị thương?”

Tôi khuỳnh khuỳnh: “Dù là ai thì cũng không đến phần anh mà”.

Tôi nhớ hôm đó khi về trại, thật bất ngờ, chú đứng ngay trước cổng, thấy chúng tôi chú run lên giận dữ. “Các đồng chí đã vắng mặt hai ngày không có lý do. Vậy là vi phạm nội quy của trại…”. Giọng chú hôm nay nghe như gầm thét, tôi thực sự ngỡ ngàng. Chị Tố Hoa bảo: “Chú Thông đứng ngóng ngoài cổng từ sáng đến giờ, cứ lo là hai đứa bây bị kẻ xấu bắt cóc rồi. Mà đi đâu dữ vậy?” Tôi thật thà: “Đi câu mực”. “Cha, sướng chưa, mà câu mực thiệt không?”.

Thế là họp, kiểm điểm, phê bình. Sau cuộc phê, Nhật cuốn hết áo quần bản thảo, bỏ về thành phố.

Đường từ bãi sau lên bến xe cũng không gần. Tôi mượn xe đạp đuổi theo. Nhật quay lại, vứt cái túi xách xuống đất. Tôi vứt chiếc xe bên đường. Những vách núi làm nhân chứng cho cái ôm hôn đầu tiên trong đời tôi. Có hương vị của nắng, của gió biển, của tiếng phi lao rì rào ngoài kia. Da thịt của trai và gái khi áp vào nhau sao mà êm ái, có muôn ngàn nốt nhạc đang từ Nhật bay sang tôi, có muôn ngàn nốt nhạc bay từ tôi sang Nhật. Khi lấy lại được hơi thở, tôi ngượng ngùng, hí hửng: “Vậy là từ nay có thể mô tả cảnh hôn nhau được rồi”. Nhật bật cười, âu yếm gãi gãi vào mũi tôi: “Muốn trải nghiệm cảm giác của cá rán thì cứ nhảy vào chảo dầu đi, hóa thành cá lóc chiên xù đừng trách à nghen!”.

Anh xoay người cho tôi nhìn ra biển. Biển rộng quá. Anh không thể biết tôi đã nghĩ gì khi cùng anh ngồi thuyền trên mặt biển. Biển mênh mông và không hề gò bó, biển chứa đựng nguồn sống và ẩn tàng cả cái chết, biển gợi nên bao ý tưởng về cuộc đời này, những điều ấy tôi đã cảm nhận khi ở bên anh. Tôi không cần giải thích với chú hay bất cứ ai điều đó. Cả với anh cũng vậy, như anh nói, cuộc đời này là để sống chứ không phải để lay hoay giải thích. Quay lại, tôi choàng ôm lấy anh lần nữa. Anh dịu dàng: “Nhím con, ai có thể yêu em mà không bị thương? Tất nhiên là anh rồi!”.

Hai mươi năm sau tôi mới lấy chồng. Cứ nghĩ sẽ sống một mình với trang viết trọn đời, nhưng năm bốn mươi lăm tuổi tôi gặp nhân duyên trong một lần đi dự hội thảo ở nước ngoài. Không còn nhiều thời gian nên mọi chuyện xảy ra chóng vánh. Trước ngày cưới, tôi vào Sài Gòn làm thủ tục. Có người rủ đi Vũng Tàu chơi. Tôi từ chối. Tối hôm ấy bỗng nhiên trong tôi tái hiện biết bao nhiêu hình ảnh đã quên. Tôi chợt muốn gặp lại anh, gặp lại chú, những người đầu tiên mà tôi gặp trên đường cầm bút.

Chú bây giờ ở Sài Gòn, trong một ngôi nhà tại quận Bình Thạnh, cùng với gia đình đứa con gái từ Mỹ nay đã về định cư ở Việt Nam. Tôi ngồi chờ ở phòng khách. Cô con gái dẫn bố ra, chú nhìn tôi, mắt mở to nhìn rất lâu: “Cô là ai?”.

Tôi lặng người, thầm nghĩ: “Không lẽ mình đã đổi thay nhiều đến thế?”.

Nhưng cô con gái đã giải thích: “Ba em bị chứng Alzheimer ba năm nay rồi, không nhớ gì cả!”.

Trên đường về, tôi vào một quán cà phê, ngồi một góc nghe tiếng dương cầm. Cuộc gặp chú làm tôi thầm cân nhắc, có nên gặp Nhật không?

Nhiều năm qua, Nhật đã thành một nhà văn rất nổi tiếng. Chúng tôi thỉnh thoảng đọc nhau qua sách báo, thỉnh thoảng cũng trao đổi thư từ. Tình yêu đã sôi nổi một thời rồi lắng xuống, nhưng suốt hai mươi năm, tôi không thể phủ nhận rằng rất nhiều khi tôi viết chỉ vì muốn Nhật nhìn thấy tên mình trên mặt báo.

Nhạc rất mềm thấm vào tim tôi. Serenade rồi Plaisir d’Amour rồi Kỷ niệm… Tôi nghĩ: Không phải tìm gặp Nhật nữa. Phần cuộc sống ngoài đời, chúng tôi không thuộc về nhau. Nhưng anh luôn ở đây với tôi, trong tâm thức về biển cả.

Ngay cả khi tôi tưởng đã quên rồi.

Trần Thùy Mai

Bài Thơ Đẹp

 

Có nhiều lúc muốn nói lời êm thắm
dẫu không ai nghe cũng bỗng giận hờn
tình cảm con người mong nhẹ như sương
mới thấy đó rồi tan ngay sau đó!

Có nhiều lúc quên mình xa tuổi nhỏ
cũng quên gần là tuổi đã già nua
không thiết tha trời nắng hay mưa
(cái chuyện đó để cho Đài Khí Tượng).

Đưa nhẹ tay gạt nhành gai vướng
nâng hoa quỳ rồi quỳ xuống cùng hoa
có nhiều lúc thấy mình thật thà
yêu chi nhỉ một người trong mộng ảo?

Tây Thi xưa, bờ Trữ La, giặt áo
áo lụa đào làm đẹp dải sông xanh
chuyện ngày xưa trôi qua long lanh
cái ở lại: mắt giai nhân chớp chớp!

Hôm qua ai nói “hôm nay em Sinh Nhật”
mình nhẹ nhàng “anh chúc em vui”
lời hôm qua không có ngậm ngùi
hôm nay nhớ…muốn quên lời êm thắm!

Thêm tuổi nữa chắc là em xinh lắm
biết bao người sẽ để ý tuơng tư!
Hình như chỉ những gã làm thơ
mới nói được những lời vu vạ?

Cũng tại em hồng chi đôi má
nhớ nụ hoa hồng màu trắng quá em ơi
đi tới đi lui đi mãi suốt đời
bài thơ đẹp viết rồi không ai đọc!

Trần Vấn Lệ

BẠN ĐƯỜNG TRÁNG SĨ

 

1.
Tôi ương ngạnh với muôn ngàn thách thức
Giữa dòng đời chưa chảy hết long đong
Đò quá khứ chở đầy khoang băng giá
Tìm phương nao sưởi ấm tảng rêu phong

2.
Hoàng hôn xuống trên phận đời thất thế
Đắng lòng ai chờ giờ nhớ phút thương
Xuồng đã vỡ. Vàng son xưa đã tắt
Mạn đò nan ngập ngụa sóng tai ương

3.
Nhớ thuở vó khua. Chiến y khói súng
Những bi hùng chà xát đủ hai vai
Cổ tích em. Hồng hạc khuê các trang đài
Cổ tích tôi. Tên giang hồ nghĩa khí
Cổ tích Ngựa. Bờm tung hãn mã. Cuốn gió đường dài
Bên Thầy. Là bạn. Là con. Chở can trường sinh tử

4.
Bạn đường tráng sĩ : yên ngựa nồng lữ thứ
Quỵ sa trường không chuông mõ từ bi
Thầy ở lại, con đi. Tiếng rừng con ngựa hí
Tiếng lửa gào. Tiếng nấc. Tiếng con thủ thỉ
Hay tiếng cười buồn chào tử biệt sinh ly

5.
Tôi không nhớ gì… ngoài khóc ngất từ khi …
Tôi không nhớ gì… ngoài khóc ngất từ khi .

HẠ QUỐC HUY

Giấc Mơ

 

Giấc Mơ

Người chẳng mùa thu mà rừng tôi vàng úa
Người chẳng mù sương mà rừng tôi lạnh đầy
Người chẳng hoàng hôn mà chập chùng nỗi nhớ
Sao người không cầm giọt nắng trên tay

Tôi
Giọt nắng phương Nam nhớ áo lụa vàng phai

Người chẳng giăng mưa
Không mịt mù gió
Mà suối rừng tôi nằm nghe lá đổ
Người chẳng là sông mà bờ tôi sóng vỗ
Người không là sóng mà thơ tôi bập bềnh

Người không về đâu!
Người chẳng về đâu!
Tôi sân ga nghìn năm nằm đợi một con tàu
Người không về đâu!
Tiếng còi hú xé lòng đêm hun hút
Người không về đâu!
Bóng con tàu là giấc mơ hiu hắt
Chạy suốt cõi vô cùng, chạy suốt cuộc tình không.

 

 Khôn Nguôi

Đành cũng quên đi đời lỡ vận
Còn hổ ngươi gì cung kiếm ơi
Thân thế đã năm cùng tháng tận
Thì cớ gì đâu mà ngậm ngùi

Đất trời thiên địa còn hay mất
Có xót đau vì cuộc biến thiên
Trí đoản, đời không bằng rơm cỏ
Giọt lệ nào trôi hết muộn phiền

Đã trói đời nhau vào cơm áo
Chưa đền chưa trả nợ áo cơm
Tôi gọi tên người sa  nước mắt
Tôi gọi tên tôi lòng căm căm

Tôi về đốt lửa từng cơn mộng
Gom chút tàn tro tạ cổ nhân
Cuộc thế , thế đành cam lỗi đạo
Dù lòng đau ruột xé gan bầm

Tôi về đứng giữa trời dâu biển
Tình buổi tàn đông lá rụng vàng
Đời đã phân ly sầu biệt biệt
Còn kiếm tìm ai giữa thế gian

Chí lớn tan theo từng bọt sóng
Mà sầu thiên cổ vẫn chưa tan.

Lê Văn Trung

Bóng Nắng

Tôi không dùng đồng hồ
Ngó ngày qua bóng nắng
Hôm nào mặt trời vắng
Tôi nghĩ đang còn khuya…

…Nghe như mưa tỉ tê
Và tôi đi ngủ tiếp
(Hồi đi sợ không kịp
Về, có kịp gì đâu!)

Hình như đi đã lâu
Ngàn sau chưa thấy tới
…Thì nghĩ mình còn lội
Trong cái vũng thời gian!

Nhiều mùa Thu lá vàng
Nhiều mùa Đông buốt giá
Mặt trời nhiều khi lạ
Hình như cũng héo hon?

Chiếc đồng hồ yêu thương
Tôi lỡ rơi trên biển
Coi như cơn tai biến
Tôi chẳng cầu nguyện gì…

Thời gian cũng qua đi
Thời gian cũng qua đi
Bao nhiêu mùa mưa nắng
Đời trôi qua trầm, lặng…

Nhang đốt lên thì thơm
Tắt đi, đống tro còn
Gió thổi qua, bay hết
Bạn bè thân biền biệt…

Trần Vấn Lệ

ĐÊM CỐ QUẬN TÔI VỀ

Tặng Nguyễn Sông Trẹm 
Vàng khuya Cố Quận sắt se
Vầng trăng lẻ bóng tôi về quạnh hiu
Sông xưa cảnh cũ tiêu điều
Râm ran tiếng ếch nhái kêu vang đồng
Trăng buồn treo ngọn sầu đông
Bên sông bến vắng đò không bóng người!
Tôi về đứng lặng im hơi
Nén nhang tâm tưởng nhớ đời mẹ cha!
Tôi về tàn tạ hồn hoa
Cỏ cây mộ địa quê nhà đâu nơi!
Đêm tàn Cố Quận sương rơi
Hồn tôi lạc lõng! Xa khơi lối về!
TRẦN THOẠI NGUYÊN