Bao Giờ Cho Tới Tháng Mười

Em ngồi xếp xếp những tờ lịch rời. Em vẫn thiếu thời mà nụ cười thiếu! Thật tôi không hiểu em đang nghĩ gì? Tấm bảng đen xì, tôi nhớ phấn trắng, tình tôi vẫn nặng với chuyện ngày xưa…dạy học / làm thơ…tôi còn đâu nữa!

Cuối đời, tôi đó…nhìn gió qua hiên qua nhành cây nghiêng / chênh chênh tháng Chín…Em à, anh định hôn em bàn tay. Em à, em bay hay chồng lịch gió? Gió là ngọn cỏ đang lả đang lơi…đang hỏi tháng Mười bao giờ mới tới?

Tháng Tư không đợi. Tháng Tư lại về. Cổng trường nín khe. Lá cờ đâu mất? Nhang bay khói Phật…em cầu nguyện chăng? Tôi hỏi vầng trăng nằm ngang nằm ngửa…Em đang tính nợ / anh còn mắc em? Từng tờ lịch thêm / tháng Mười biền biệt!

Em ngồi xếp xếp tình ơi mấy ngăn? Con chó sủa trăng, con cú đang rúc…Tôi biết em khóc không là một đêm. Không là một đêm!

*
Có khi nằm nghiêng, tôi nhớ em lạ…tóc thề em thả gió bay chiều Thu!

Có khi cúi đầu, tôi nghe nước mắt…nghe lòng se thắt quặn từng khúc sông. Ôi em mênh mông bồng bềnh thương nhớ…Ôi em sao vỡ em đếm đi em…tình yêu vô biên vô bờ vô bến!

Tháng Mười mất biến…bao nhiêu tháng Mười? Em vẫn thiếu thời, thiếu hoài một sáng / nụ hôn trên trán / nở thành nụ hoa…

Ngựa ô phi qua. Ngựa kim phi lại. Thưa em, không phải! Chỉ nắng hoàng hôn…bay qua chờn vờn thời gian mê tỉnh! Em nhớ người Lính…lành lạnh gió khuya / đường đi không về / đầm đìa sương muối. Câu thơ câu hỏi: “Đêm trăng chàng nghỉ mát nơi nao?”…

Đêm trăng này nghỉ mát nơi nao?

Trần Vấn Lệ

Advertisements

TẶNG H.H

TẶNG HH.

Còn quê đâu nữa mà về
Chỉ còn lại những não nề. Phù vân
Chỉ còn lại tiếng chuông ngân
Rung trong tiềm thức mỗi lần nhớ quê
Cầu tre – lắc lẽo – câu thề
Không nên danh phận – không về cố hương…

TIỄN NGƯỜI ĐI…

Người đi về cõi vô cùng
Người đi về nẻo chập chùng mây bay
Ta còn đây trắng hai tay
Công danh phù thế – tháng ngày mộng du
Ừ thì tình đã thiên thu
Còn chăng cuối dốc sương mù. Bặt tăm
Đường xưa lá chết lặng thầm
Ta về đốt nén hương trầm. Nhớ nhau…


ĐÊM KHUYA PHỐ NÚI..

Chênh chếch đầu non bóng nguyệt tà
Người về bỏ lại một mùi hoa
Người về áo lụa rung trong gió
Dáng nhỏ trên đường xa rất xa

Ta đứng bên đường mắt dõi theo
Bóng người mất hút – đêm trong veo
Trở về phòng nhỏ cài then lại
Một đóa hoa quỳnh ai đã gieo

Giấc ngủ không về trong đêm nay
Hình như ta cũng đã vừa say
Không say vì rượu – say vì mắt
Đắm đuối ai nhìn khi chia tay…


TRI KỶ…

Người gởi tặng ta bình rượu quí
Uống cho vơi bớt những cơn sầu
Tặng ta người bảo là tri kỷ
Rượu uống say mèm sẽ hết đau

Tỉnh ra mới thấy buồn hơn trước
Đời tặng nhau bằng những vết dao
Tỉnh ra mới thấy đời ô trược
Sâu thẳm trong hồn những nỗi đau

Người vẫn bảo ta là tri kỷ
Ta gọi người là hảo tri âm
Phương trời xa lắc – tình thi sĩ\
Bão nổi lên khơi đợt sóng ngầm…

Hồ Chí Bửu

hình dung điều không tưởng

gió cào xước mặt ngày xanh
bão cuồng mây rụng đành hanh cõi người
run thân rách toạc ngực đời
rạng đông mê sảng ngậm lời… cầu siêu

ngữ ngôn bỡn cợt chơi liều
định thần khóc ngất mỹ miều hồn chưa
đói hương nhang khói sao vừa
môi hôn rướm máu
nụ xưa phai tàn

hư linh vang tiếng cười khan
trần truồng mộng tưởng
nồng nàn mãn khai
nâng niu một đóa trang đài
mân mê khát vọng
trắng ngày tay không!

khaly chàm
đêm tp tây ninh 9/2018

ĐI BÊN EM MÙA THU PARIS

Tặng Xuân Thao và Thu Phong

Bây giờ Paris trời vào thu
Lá vàng rơi nghiêng Luxembourg
Sông Seine lửng lờ soi Pont Neuf
Lòng anh bên em vờn sương thu.

Mùa thu Paris trong mắt em
Trời mây xanh lam trôi êm đềm
Apollinaire ơi mùa thu chết
Mà lòng anh nào đâu quên em!

Ga Lyon buồn thu Paris
Đời buồn mênh mang làm chia ly!
Lòng anh trang thơ Cung Trầm Tưởng
Em còn hoài thương lệ hoen mi !

Tháp Eiffel lặng nhìn …Bohemiens
Tóc xõa rượu say hồn đau điên
Thu trầm âm chiều Montparnasse
Anh mơ Paris…theo chân em !

Anh vẽ thu về trong mắt em
Thu Paris mi cong nhung huyền
Em ơi! Con đường vàng thu đó
Có lòng anh sánh bước bên em…

Đi bên em mùa thu Paris
Lòng anh say phồn hoa kinh kỳ
Thu Paris! Anh làm Thi sĩ
Say thu vàng bay …Ô mê ly !

TRẦN THOẠI NGUYÊN

CAO BỒI MIỀN TÂY

Khi nghĩ về nước Mỹ, hầu hết mọi người đều liên tưởng đến hình ảnh chàng cao-bồi. Nhớ những bức tranh hoạt hình về chàng Lucky Luke của tuổi thơ. Lúc-Ky Lúc-Ke mặc áo vàng, đội mũ trắng rộng vành, cái môi chu ra luôn phì phèo điếu thuốc vấn, bắn súng nhanh hơn cả cái bóng của mình, luôn đơn độc lang thang trên cánh đồng hoang mạc cùng con ngựa Jolly Jumper để bảo vệ cho công lý và lẽ phải. Hình ảnh lãng tử cuối mỗi tập truyện là chàng cưỡi ngựa đi về phía cuối chân trời và hát bài “Tôi là gã cao bồi nghèo đơn độc, rong ruổi trên đường xa nhà, thật xa…”
I’m a poor lonesome cow-boy
And a long far away from home…

Lại nhớ đến những bao thuốc lá Malboro có hình chàng cowboy điển trai, khuôn mặt góc cạnh đàn ông, cũng trong chiếc mũ rộng vành, nghiêng đầu ghé môi châm điếu thuốc đầu lọc bằng chiếc bật lửa zippo. Chàng cao-bồi và con ngựa mustang luôn mang một nét đẹp hoang dại, ngang tàng, hào hùng, đơn độc và mạnh mẽ của tuổi trẻ.

Hình ảnh cowboy đẹp là vậy, dù lan man trong các phim về miền viễn Tây là pha trộn những cái tốt, cái xấu và cái ác (The Good, the Bad and the Ugly) đặc thù. Thực chất hình ảnh chàng cao-bồi là gì? Hãy tìm về cội nguồn của chàng từ thế kỷ 16, những năm tháng thuộc địa ở Mễ tây Cơ. Ở đó người ta gọi chàng là Vaquero, nghĩa là bò ,từ chữ vaca theo tiếng Tây Ban Nha. Khi người Tây Ban Nha đến Mễ Tây Cơ, họ mang theo những con ngựa, những thảo nguyên mênh mông ở Nam Mỹ là miền đất lý tưởng cho những vó ngựa và đàn bò thả rong gặm cỏ. Ở đó họ mở rộng những trang trại nuôi bò, lan dần lên tới Texas, Arizona và New Mexico, cũng như xuống tận Argentina. Những đàn bò hàng ngàn con cần đến những chàng trai cưỡi ngựa chăn dắt, vây tròn gọi là round-up bằng dùng dây thừng có thắt vòng lasso để quăng lọt vào cổ hoặc trói chân những con bò. Họ dùng thanh sắt nung nóng mang dấu hiệu của trang trại để đóng lên bò con. Việc gom lại một đàn bò hoặc thú nuôi lớn hoang dã cần những tay chăn bò khỏe mạnh, nhanh nhẹn và thiện nghệ trên lưng ngựa. Họ là chủ nhân giữa đất trời bao la trên những cánh đồng không cây cỏ bạt ngàn, của những vực núi đá cheo leo, của những miền đất đầy gai xương rồng, chăn dắt hàng ngàn trâu bò qua hàng ngàn dặm đường hoang vu, những thác lũ cuộn sóng, luôn thường xuyên đối phó với hiểm nguy từ thú dữ rắn rít đến những mũi tên của người da đỏ, của những tên cướp sống ngoài vòng pháp luật. Họ phải đơn thương độc mã dưới đất trời bao la khi bão tố phủ vây, sấm sét ngang đầu, khi chung quanh không có một túp lều trú ẩn, ngủ hàng đêm trên sỏi đá dưới sao trời, lầm lũi vó ngựa trong tuyết ngập đến gối, ăn uống nhọc nhằn từ những lon đậu trong hộp thiếc và miếng bánh mì khô khốc, cô liêu bầu bạn chỉ với chiếc kèn Harmonica​ lạc lõng theo gió thảo nguyên mênh mông…

Họ mang những đôi giày ủng da cao cổ có đinh thúc ngựa, mũi giày nhọn bọc sắt để lọt gọn vào bàn đạp bên hông ngựa; tay mang đôi găng da sờn mòn vì cầm cương, chiếc quần vải bố bền bỉ có phủ thêm tấm da che chân để bảo vệ những khi băng qua các bụi gai rậm, đầy xương rồng; chiếc mũ cao rộng vành để che nắng, chiếc mũ bằng da mềm có thể dùng làm gàu múc nước suối, dùng làm gối khi ngủ qua đêm trên cánh đồng hoang; chiếc khăn bandana như khăn tay bằng vải cột ngang cổ để che miệng và mũi trên cánh đồng đầy bụi bặm, cũng như làm ấm cổ trong mùa đông rét mướt. Khoát chiếc áo vest có nhiều túi để đựng gói thuốc lá nặng mùi và những tờ giấy quấn. Chiếc áo sơ mi không cổ để dễ dàng ngoái đầu trông đàn chăn và đặc trưng là chiếc áo choàng dài phủ xuống tận gót để như tấm chăn che ấm những mùa đông hay cơn mưa tầm tả. Đó là hình ảnh của một chàng cao-bồi miền Tây còn giữ đến ngày hôm nay. Họ luôn gắn bó với yên ngựa và chỉ xuống ngựa khi khiêu vũ những bước nhảy 2 steps với các cô gái xinh đẹp sau khi thắng cuộc thi rodeo, một cuộc thi thố hào hứng trổ tài cưởi ngựa quăng dây thừng, ngồi lâu trên lưng bò hoang dã hung hăng tung chân đá, lao xuống ôm sừng các con bò con…Tuổi trung bình của các chàng cao-bồi là 24. Họ gầy nhưng bền bỉ khỏe mạnh, được trả lương thấp và làm việc cực nhọc, mình luôn hôi mùi ngựa. Tài sản của họ chỉ là cái yên ngựa. Lắm khi chỉ được trả công bằng những con bò con và họ sẽ nuôi chúng lớn lên để bán kiếm lời.

Khi con đường sắt xuyên về miền Tây và nhu cầu thịt bò tăng cao sau cuộc nội chiến đã thu hút hàng ngàn cuộc mua bán bò ngựa từ miền Nam lên miền Bắc và nhất là miền Đông. Những con bò giá 4 đô ở Texas được mua đến 40 đô ở Illinois. Sau chiến tranh thì con số bò thả rông và lớn nhanh do không người, ruộng vườn bỏ hoang, cỏ dại ngập tràn. Những cựu chiến binh của cuộc nội chiến trở về không nghề nghiệp và tài sản, những người da đen được trả tự do lang thang không tìm được việc, những di dân mới đến từ xa xôi và cả người da đỏ. Họ đều trở thành cao-bồi chính hiệu. Lợi nhuận mua bán bò ngày càng cao theo những con đường dẫn bò lên phía bắc và về miền đông đã hình thành những con đường mòn như Chilsom Trail, Loving Trail nổi tiếng (mà ngày nay trở thành những đại lộ, địa danh lịch sử) Những con đường dẫn dắt cả ngàn con bò dài đến ngàn dặm từ Texas lên Trạm xe lửa ở Dodge City hay Abilene, Kansas. Mất hàng tháng trời để đến nơi, trung bình họ đi 15 dặm một ngày trong gió bụi…

Do đời sống gắn bó với thiên nhiên nên họ rất tốt bụng, dù ít học nhưng trọng nghĩa khí anh hùng, tôn trọng lẽ phải và công lý. Cái công lý đôi khi được giải quyết nhanh gọn bằng những tay súng bắn nhanh. Tuy vậy khi rời yên ngựa nghỉ chân các saloon, bar rượu thì đồng tiền họ làm được lại bị ma lực của men say và hương phấn phụ nữ dẫn dắt. Có không ít các vụ ẩu đả và đấu súng diễn ra, có không ít những lần luật pháp phải can thiệp và luôn gặp khó khăn khi chính những chàng cao-bồi để tự vệ lại luôn mang sẵn cây súng bên mình. Và những người hùng cảnh sát marshal thời ấy như Wyatt Earp và tay cướp Billy the Kid ra đời. Đáng kể nhất là Jesse James cướp nhà băng, xe chở hàng và ngay cả cướp đoàn tàu lửa khét tiếng lúc bấy giờ.


I’m a poor lonesome cow-boy
And a long far away from home…

Ngày nay hình ảnh cao-bồi bao gồm nhiều nghĩa tốt lẫn xấu. Nó mâu thuẫn như chính bản thân con người đơn độc, luôn phải đối phó với nghịch cảnh và tự lập để tồn sinh. Người ta yêu thích khoác lên mình trang phục cao-bồi với cái nịt có khóa to bảng, với đôi giàu ủng cao cổ bằng da mũi nhọn, với chiếc quần Jean sờn gối. Dù họ chưa bao giờ là cao-bồi, dù họ là dân thị thành chính hiệu. Những cô gái miệt quê cowgirl nhưng hấp dẫn quyến rũ với chiếc quần jean bó sát đùi, cái eo thon nhỏ trong chiếc áo chẻn ca-rô và chiếc mũ cao-bồi ngạo nghễ. Họ yêu đến chết bỏ cái gốc gác quê mùa của mình, dù đi tha phương nhưng không bao giờ đánh mất quê hương trong trái tim họ: “you can’t take the country out of the girl!”Dòng nhạc đồng quê luôn lấn lướt các giai điệu rock trẻ trung náo nhiệt và giọng nói mang âm hưởng quê mùa miền Nam vẫn tự hào nơi phương Bắc. Tuy vậy 2 chữ cao-bồi cũng hàm ý chê bai cho những kẻ liều mạng, bạo lực, chè chén và bài bạc. Tạp chí Time đã có lần gọi chính sách của cựu tổng thống Bush là “cowboy diplomacy”. Châu Âu đã gọi Bush là “cowboy”. Miền Đông cũng gọi những tay lái xe bạt mạng là thế! Dù thích hay không thì đã có đến 4 vị tổng thống của nước Mỹ từng là cao-bồi thực thụ: Theodore Roosevelt, Calvin Coolidge, Lyndon Johnson và Ronald Reagan.

Riêng người viết mãi yêu thích một hình ảnh cao-bồi trầm tư, ít nói, gai góc và cáu cạnh. Dù có tí dơ bẩn bụi bặm như Clint Eastwood. Thỉnh thoảng chàng nhổ toẹt nước miếng tỉnh bơ, nhổ như bà già quê mình nhai trầu nhổ bả. Điếu thuốc lá vấn nó là vậy. Cứ cay cay trên môi. Cứ say say khi nhớ lại hình ảnh ngày xưa chơi cao-bồi bắn da đỏ “Bang Bang.” Lại nhớ chàng Lucky Luke dí dỏm, đơn độc mà tự do, hào hiệp mà trọng lẽ phải. Ngồi phì phèo điếu thuốc lá bên cạnh các tù trưởng da đỏ cũng mịt mù ​khói thuốc như ​ống vố thuốc lào. ​Hình ảnh chàng cao-bồi miền Tây như cái đẹp hoang sơ mà mãnh liệt, sẽ sống mãi theo thời gian. ​Chỉ tiếc chàng cao-bồi Malboro là chết hẳn, ​chết theo các ​trang quảng cáo và ​những bao ​thuốc lá, ​ ​một thời ngây ngất say​.

Sean Bảo

NGỌN NẾN MUỘN CHO TÌNH NHÂN

…tôi nhớ những bài thơ mênh mông viết xuống…mượn người này mà viết về người kia…những lời nào bay lên những lời nào đậu xuống…một người này đang chiếm chỗ của một người khác…nhẹ nhàng mà sâu lắng… Tháng Giêng Đâu Đó Một Bờ Môi…và bây giờ là tháng chín…
TUONG TRI.COM rất vinh hạnh được nhà thơ ( nhà văn) Phạm Ngũ Yên ưu ái.
Xin cảm ơn anh và trân trọng giới thiệu cùng thân hữu.
Muốn có những tác phẩm của tác giả Phạm Ngũ Yên như: Tháng Giêng Đâu Đó Một Bờ Môi (thơ) . Đi Qua Mùi Hương Ngải, Hoa Bluebonnet Cho Hai Người,Chăn Gối Ngày Về ( tập truyện ) xin liên lạc với tác giả qua đc sau:
Ngoài những bản dành riêng cho thân hữu và những ai liên quan đến tác phẩm, quý độc giả có thể tìm mua trên Amazon.com.
Hoặc muốn có chữ ký của tác giả, xin gởi chi phiếu 15 Mỹ Kim về địa chỉ: 1807 Heatherglen Ln. Austin TX 78758, hoặc e mail:
pham_ngu_yen@yahoo.com

Cơn mưa rủ chiều ra phố
Con đường còn lại hàng cây
Vai ai cũng gầy như vậy
Bàn chân chưa biết ngậm ngùi

Cứ tưởng quên là khỏi nhớ
Nhưng sao vẫn thấy nụ cười
Chiếc gối phòng đêm lạnh mở
Không ngờ vương sợi tóc quen

Giữa hàng khuy áo hồn nhiên
Ai đã dụi đầu trốn rét
Giữa đôi bờ môi xanh mét
Bỗng hồng đóm lửa mười năm

Điều gì từ một ngày câm
Tiếng ai gọi về xa thẳm
Biển ơi mùa này mặn lắm
Không còn nhịp sóng xanh xưa

Em qua nhan sắc cuối mùa
Nhưng sao vẫn còn rù quến
Để mãi con thuyền nhớ bến
Để người khát một vòng tay

Vũng Tàu mùa này mưa bay
Em đem gió về nhốt kín
Căn phòng một thời im nín
Ngọn đèn thức suốt đêm thâu

Điều gì từ một nỗi đau
Rớt trên tháng ngày tất bật
Trái tim quá nhiều thương tật
Vẫn là ẩn số bao la

Em từ giấc ngủ hôm qua
Sáng nay tháng mười lộng lẫy
Mùa thu như còn giận lẫy
Chưa vàng nên lá run run…

Cuộc đời không đủ bao dung
Không cả bờ vai để khóc
Em qua một mùa sinh nhật
Thấy lòng cũ một dòng sông…

Đêm nay giữa đường phố đông
Tình cờ vừa nghe ai hát
Là cơn mưa phùn đậm nhạt
Hay lời cháy bỏng dùm nhau?

Giữa hai hàng đèn lao xao
Thắp lên nỗi buồn quyến rũ
Đâu rồi mùa thu rất cũ
Ướt mèm nỗi nhớ về nhau

Những giọt lệ đời lớn lao
Chảy ngược vào tim đau nhức
Bởi một tình yêu đích thực
Sẽ đi đến hết chặng đường…

Phạm Ngũ Yên

chạm

Sầu ở lại một đêm cùng bè bạn
hát cùng nhau những xưa cũ một thời
hát hay khóc lúc tương phùng cộng nghiệp
những mảnh đời tan tác chạm khi trôi…

Khi anh chạy xe về qua phố rộng
rất nhớ em người gái nhỏ chiêm bao
lúc ta chạm vào nhau ngày đã cạn
mà bình minh còn trốn biệt phương nào?

Thời ta sống những điên cuồng u uất
bàn tay không, con chữ cũng bằng không
chỉ còn lại những bờ vai bè bạn
và tình riêng chia sẻ với môi hồng…

Chạm vào nhau chạm vào nhau run rẩy
em đừng buông anh đã đủ u sầu
bạn đừng vội ra về khi khúc hát
với rượu buồn đang lau mắt cho nhau.

Nguyễn Đình Bổn

Bờ vực mộng

Gửi H. Một thiếu phụ vừa duyên dáng vừa nhu hòa dễ mến

Kìa em nòi gấu ngựa
Vùi ngủ suốt ngày đông
Ta vốn nòi ngông tặc
Đuổi em chạy lòng vòng

Sương cuộn mù dốc gió
Ta cõng em ngùi ngùi
Vô tình môi em ngọ
Chúa nhìn ta cười vui!

Nụ hôn ôi quá mỏng
Sao ướt mãi đời nhau
Đêm gối đầu xác chữ
Đắng từng hạt chiêm bao

Nước xanh nức một dòng
Một dòng xanh mặc thẳm
Ta con thuyền úp mặt
Đằm vết chém trăm năm…

Vẫn hoài chim cánh cụt
Ta bơi suốt long hồ
Bên kia là bờ vực
Trổ ngàn đóa rêu khô.

LÊ SA

BÓNG TA THÊM TUỔI

trăng có hờn không
ngàn năm cổ mộ
một nguyệt long đong
một ta ngủ mớ

đi quanh cõi mộng
thoáng chốc bạc đầu
đi quanh tuổi ngọc
vuốt mặt trăng rầu

đời như vô tận
mà đêm cứ dài
ta ngồi với bóng
chuốc một cốc đầy

trắng tinh ký ức
nhọc nhằn đã cam
cõi lòng đau nhức
bóng nguyệt thu rằm.


ÂU THỊ PHỤC AN.

VIẾT VỀ ANH NGUYỄN XUÂN HOÀNG

Hôm nay là ngày giỗ 4 năm nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng

Anh Phạm Tín An Ninh gợi ý tôi viết một điều gì đó cho Đặc san Võ Tánh Nữ trung Học Nha Trang của năm 2015 để tưởng niệm cố nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng cũng là một cựu học sinh Võ Tánh Nha Trang năm xưa . Điều tưởng rằng đơn giản kia nhưng khi ngồi xuống để lắng nghe dòng cảm xúc thì lại khó khăn , bởi vì anh Nguyễn Xuân Hoàng là một nhà văn lớn của nền văn học Việt Nam thời đương đại . Có quá nhiều bạn bè trong giới văn thơ hải ngoại cũng như trong nước viết về anh ấy . Dùng ngôn ngữ để bày tỏ sự thương mến của mình dành cho anh ấy e rằng không đủ ngôn từ và cũng dễ trùng lấp vào những bài viết khác

Anh Nguyễn Xuân Hoàng mất cũng đã tròn 4 năm . Mộ của anh chắc giờ cũng đã xanh cỏ . Tháng 5 năm 2014 khi nghe anh Song Thao báo tin anh Nguyễn Xuân Hoàng bị vướng vào một căn bệnh hiểm nghèo mà sự sống có thể đếm được từng tuần thậm chí từng ngày làm tôi bàng hoàng và bất ngờ quá sức . Mới năm 2012 đây thôi nhân một chuyến đi Cali đến tham dự chương trình âm nhạc những sáng tác mới tại Le Petit Trianon Theatre, San Jose tôi còn gặp anh Hoàng và chị Vy tươi rói và khoẻ mạnh . Lần không hẹn nhưng tình cờ gặp lại đó anh tỏ ra mừng rỡ thân tình . Nhớ lại lần đầu tiên tôi còn chân ướt chân ráo từ New Orleans bay lên San Jose được anh đón tiếp cũng y như vậỵ . Anh dư biết tôi là dân nhà quê lên tỉnh, để tránh cho tôi khỏi bỡ ngỡ , anh đã ân cần chu đáo như thể là anh từng quen biết tôi từ thời lâu lơ lâu lắc . Ngay lần đó tôi đâm ra cảm mến và cả nễ . Anh Nguyễn Xuân Hoàng là vậy , lúc nào cũng niềm nỡ nên không lấy gì làm ngạc nhiên khi thấy trong cuộc sống của anh có rất nhiều bạn bè thương mến . Với tôi anh Hoàng đặc biệt hơn người khác vì gốc gác của anh là dân Ninh Hòa , địa danh này cũng chính là nơi tôi được sinh ra và lớn lên . Anh cũng là cựu học sinh Trường Võ Tánh Nha Trang thời trung học , đó cũng là ngôi trường cuối cùng của tôi trước khi bỏ lại giữa đời chiếc áo trắng quần xanh để khoác vào người chiếc áo nhà binh . Suy ra giữa tôi và anh Nguyễn Xuân Hoàng là người cùng quê quán và học cùng một trường dù anh ra đời trước tôi gần một thế hệ . Nếu tính thế hệ thì tôi là học trò của anh . May mắn cho tôi là quen biết anh như giữa hai người cầm bút khi anh phụ trách chủ bút cho tạp chí Văn tại hải ngoại mà tôi là người cộng tác nên được anh xem là bạn văn .

Từ ngày được qua Mỹ định cư muộn màng , tôi kiếm sống bằng nghề công nhân . Tôi làm việc bằng tay chân cho một hãng xưởng đóng tàu , do đó công việc viết lách phải dùng đầu óc đối với tôi không phải là một công việc dễ dàng . Tôi hiểu điều đó bằng kiến thức vô cùng hạn hẹp của mình . Nhưng tôi thích thơ văn , đôi lúc rảnh rang không biết làm gì tôi cũng tập tành viết lách với mục đích giải tỏa bớt những suy nghĩ lan man thỉnh thoảng mắc míu trong cảm xúc của mình . Nhờ anh, tôi làm quen với tạp chí Văn , tôi có thêm nhiều bằng hữu, bạn bè dể thương mà trước đó tôi không hề nghĩ đến . Những lần nói chuyện qua phone với anh, anh luôn tạo cho tôi một cảm giác an tâm và thân thiện . Giọng nói của anh hiền lành từ tốn pha chất tếu của người Nha Trang . Anh luôn tỏ ra lạc quan và bình thản dù đôi khi trên con đường anh đi gặp phải không ít tiếng chì tiếng bấc của những người không cảm hiểu được anh . Với tôi anh là một người khiêm cung dạt dào tình cảm .

Trên một võ đài hai võ sĩ cùng múa may quay cuồng cố tung cho nhau những cú đấm rất là hung hăng , khán giả vỗ tay rầm rầm khen ngợi khiến ta có cảm tưởng hai võ sĩ đó đều là cao thủ mà tất cả ngón nghề trong thiên hạ đều nằm trong tầm tay của họ . Nhưng một võ sư không làm thế . Một võ sư chỉ ngồi im lặng quan sát . Anh Nguyễn Xuân Hoàng đối với tôi là một võ sư . Ngay cả những ngày tháng này có thể gọi là từng những giây phút còn lại trên đời này , anh vẫn lạc quan để đón nhận . Nhìn nét mặt anh bình thản qua những tấm hình chụp trên giường bệnh không ai nói rằng đó là một người sợ phải ra đi . Tôi chưa bao giờ được chết cho nên không có kinh nghiệm nói về điều đó, nhưng tôi đã từng được sống và trên thế gian này nếu sống chỉ là một sinh hoạt theo nhu cầu ngày hai buổi và cứ thế tiếp diễn đến ngày nằm xuống gọi là cái chết thì sống và chết có gì khác nhau ? Vì thế cái chết chưa chắc hẳn đã là điều phải sợ

Nghe tin anh bệnh nan y trong khi vì công việc kiếm cơm tôi phải theo chiếc hộ tống hạm LPD 25 ra khơi trong vùng vịnh Mexico một tuần lễ để thử trước khi giao nó lại cho Hải quân vì đã hoàn tất . Chiếc chiến hạm này mà một số sắt dùng để đóng nó được lấy từ chiếc máy bay United Airlines Flight 93 bị khủng bố khống chế rơi ở Pennsylvania nhân sự kiện 9/11/2001 . Khi ra đến hải phận quốc tế mọi tín hiệu sẽ nằm ngoài vùng phủ sóng . Như vậy có nghĩa là tôi không có phương tiện để liên lạc được với bạn bè trong bờ để biết tin tức về anh .

Những ngày lênh đênh trên biển theo con tàu , mình tôi giũa biển trời mây nước bao la, trong tận cùng của một tia hy vọng nhỏ nhoi tôi cầu nguyện Phật trời sẽ ban cho anh một nhiệm mầu . Đó là diều duy nhất tôi có thể làm được cho anh . Nhưng điều nhiệm mầu đó đã không xảy ra . Ngày 13/09/2014 anh đã ra đi để lại bao tiếc thương cho bạn bè và gia đình . Tội nghiệp cho chị Vy vốn là người yếu đuối , bệnh hoạn trường kỳ luôn tựa vào vai anh . Trên Facebook có thể gặp chị Vy hằng ngày nhưng ít khi thấy chị được khoẻ mạnh . Hầu như lúc nào cũng thấy chị online khi nằm trong bệnh viện . Trong cuộc sống bạn có thể quên đi những từng cùng nhau vui vẻ , nhưng bạn không thể bao giờ quên được những từng khóc cùng nhau . Chị Vy là người đã những từng khóc cùng nhau với anh Nguyễn Xuân Hoàng . Còn tôi và những ai thương mến anh thì dù sao cũng chỉ là người từng cùng nhau vui vẻ

Vào một ngày nào đó thời gian sẽ nguôi ngoai vào quên lãng mọi thứ , nhưng những gì anh để lại cho văn học Việt Nam mãi mãi sinh tồn . Cũng như tình cảm tôi dành cho anh không phải là một công tắc điện muốn bật là bật muốn tắt là tắt . Tình cảm khi đã bật lên rồi thì khó mà tắt được . Anh như một người anh lớn đã có cùng tôi nhiều kỷ niệm . Chắc chắn một điều mỗi khi tối trời bước vào căn nhà thơ văn đầy bóng tối , tôi chỉ bật mở công tắc ra thì anh lại trở về .

Quan Dương

Trong hình trái qua phải : anh Nguyễn Đình Toàn – cố nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng – Quan Dương – Lê Thu Ba – cố nhà thơ Cao Đông Khánh – nhà văn Phạm Ngũ Yên