CHIỀU ĐƯỜNG THI

“em gầy như liễu trong thơ cổ
anh bỏ trường thi lúc thịnh Đường”
…nguyên sa

anh cau có nhận ra điều tan vỡ
như cau xanh rồi xa lánh trầu không
như miếng vôi thôi dan díu môi nồng
anh khánh kiệt thật rồi…bao yêu dấu

chiều thinh khiết mùi thời gian hư ảo
anh dầm mình theo bóng nhớ em xa
câu Đường thì ngấm nỗi sắt se…và
anh đau đớn nhận ra Chiều-Có-Thật

không giấy trắng cũng chẳng cần bút mực
anh thả thơ lên khoảng lặng nghìn trùng
liệu có chữ nào rớt chỗ em không
anh hỏi vậy rồi băn khoăn:thôi kệ !

cuộc sống vốn xoay quanh nhiều trắc trở
nhiều bất ngờ không định dáng định tên
chiều Đường thi thích Lý Bạch ngông nghênh
thương đứt ruột cánh hạc vàng Thôi Hiệu

anh đang sống giữa kỷ nguyên ảo diệu
với bao điều “không thể”vẫn rõ bâng
chỉ thua một người.là em đấy.biết không
tình vốn vậy và lòng người vốn vậy

anh hơ tay lên chiếu vàng run rẩy
chiều Đường thi lay lắt thấu tâm can
buồn xốn xang trong cái nhớ hổn mang
câu thơ cũ sao nỗi tình rất mới

chiều-Đường-thi anh rùng mình khắc khoải !

LÊ HÁT SƠN

Advertisements

ƠI TÌNH… .

ơi mưa có hạt qua đâu
mà trong khóe cả mùa ngâu chực chờ
mưa nào phải đã bây giờ
mà cầu ô thước hiện mờ trong sương

**
cầu ô thước gãy uyên ương
ơi ngưu lang chức nữ tương tư hoài
để mây lặng lẽ đông đoài
hai phương trời mộng trong ngoài chiêm bao

**
hai phương trời mộng hư hao
bướm vàng bờ giậu đành ao ước tàn
ơi lan sao khép hương ngàn
chi cho điệp giấc ngủ làn mong manh

**
điệp bờ cỏ giấc thiên thanh
nghe chuông chiều gõ long lanh giọt buồn
nghe tiền kiếp gió ngọn luồn
ơi đông chưa giá buốt nguồn dường đang

**
ơi trăng khuya dải lang thang
tìm ngơ ngẩn dấu sáo sang ngang ngày
tìm ngơ ngẩn buổi lạc bầy
sóng dâng trắng khói đổ đầy biển dâu

**
sóng dâng trắng khói mắt sâu
môi từ ly
chợt thốt câu
ơi tình… .

PHẠM HIỀN MÂY

Người Đi Chưa Tới Ngày Xưa

Thưa em tình đã nhạt màu
Ta xin gói lại cất vào trong thơ
Đường chiều có gã cù bơ
Lang thang cù bất vu vơ cù lần

Tim gieo nhịp lẻ sai vần
Lạc tình xa lạc cả thân phận này
Ánh vàng lướt dọc chân mây
Cánh đồng xanh lỡ ngậm đầy hoàng hôn

Quay lưng chạm trán nỗi buồn
Xô buồn bất chợt buồn hơn bao giờ
Người đi chưa tới ngày xưa
Ngoảnh trông bóng xế còn đưa bóng tình

Dưới đèn chữ tợ hàng binh
Lòng như giấy rách còn vinh quang nào
Vun giồng ướm hạt ca dao
Đồng quê nay cũng lao xao một tuồng

Hụt chân bồi lở vịn nguồn
Gieo vui chờ gặt vãi buồn chờ khuây
Đêm đêm tình đứng trên tay
Mượn thơ vá chiếc áo ngày vàng xưa!

Lưu Xông Pha

Một lần với anh Hoài Khanh

Tưởng niệm thi sĩ Hoài Khanh, mất ngày 23/3/2016


thi sĩ Hoài Khanh

Tôi nhớ đó là vào những ngày hè cùa 10 năm trước. Bạn tôi, nhà thơ Tâm Nhiên từ Biên Hòa Đồng Nai mời anh Hoài Khanh về Rạch Giá chơi và thế là vài anh em văn nghệ có dịp hội ngộ tại nhà tôi. Rượu bày ra và say túy lúy. Nhà thơ Linh Phương (tác giả Kỷ vật cho em), nhà thơ Tâm Nhiên (du sỹ), nhà thơ Đỗ Ký (Đồng Tháp)… cùng đến chúc mừng chuyến hành phương tây của anh Hoài Khanh.
Lần đầu được diện kiến với bậc đàn anh văn nghệ nầy (Hoài Khanh là bạn thân của thi sĩ Bùi Giáng và nhà thơ Phạm Công Thiện… lúc anh còn phụ trách nhà xuất bản Lá Bối – Sài Gòn) và cũng là bạn thân của nhà thơ Tuệ Sĩ, Lê Mạnh Thát… Chuyến về Rạch Giá, anh dự tính ra đảo Lại Sơn, nơi Tâm Nhiên đang dạy học, rong chơi vài ngày. Sức khỏe anh lúc nầy vẫn còn tốt, đôi mắt tinh anh, gương mặt tràn đầy niềm vui chứ không như thi sĩ Phạm Công Thiện diễn tả nét mặt của Thi sĩ Hoài Khanh đầy u ám và gần như là tuyệt vọng mà tôi đọc trong tập hồi ký PCT khi hai chàng gặp nhau ở Đà Lạt vào mùa xuân 1966.

Tính uống vài chai rồi sau đò về nhà Linh Phương chơi tiếp nhưng rồi hứng quá, mấy anh em ngồi xuống đất, cởi trần a lô zô suốt cả buổi chiều. Tôi nhớ những câu thơ thần sầu của anh Hoài Khanh đọc : tôi lẩn trốn vì biết mình không thể… mây của trời rồi gió sẽ mang đi… hay một mai con nước xa nguồn… thì con sông ấy sẽ buồn với tôi… hay tôi đứng lại bên cầu thương dĩ vãng… nghe giữa hồn cây cỏ mọc hoang vu. Anh cứ ngâm nga suốt chiều hôm ấy.
Anh Hoài Khanh tính điềm đạm, ít nói nhưng hay cười. Anh cảm động vì có nhiều anh em còn nhớ thơ anh. Nhà thơ Linh Phương ít uống rượu nhưng không hiểu sao hôm ấy cũng túy lúy với anh. Vui quá, anh Đỗ Ký lại mang đàn ra chơi. Xóm tôi dân lao động, thấy mấy ông nhà thơ say quắc cần câu, í a í ới vui quá nên tụ lại thành đám đông, vỗ tay rần rần. Và có dịp cho thi sĩ Tâm Nhiên đứng lên múa may quay cuồng du sĩ ca… giống hệt Bùi Giáng.
Sáng hôm sau, anh rủ tôi, Linh Phương và Đỗ Ký xuống tàu ra đảo Lại Sơn (cách Rạch Giá khoảng 50 hải lý) cùng với Tâm Nhiên. Lúc bây giờ là mùa hè, ngoài đảo khan hiếm nước ngọt. Mỗi người phải mang theo một can nước ngọt 20 lít xuống tàu để uống và rửa mặt, rất khó khăn. Con gái tôi sáng hôm ấy lại trở bệnh nên tôi không đi được cùng anh. Thật tiếc. Đưa anh xuống tàu, trên đường vào bệnh viện thăm con, tôi cứ tự trách mình… Nhưng biết làm sao được.
Từ hải đảo, Tâm Nhiên điện về cho tôi, báo tin anh Hoài Khanh ra chơi vui lắm. Du sĩ đưa anh rong chơi khắp đảo, non xanh nước biếc, sơn thủy hữu tình nên anh Hoài Khanh cứ tấm tắc và ước gì được nhiều lần đến đây. Nhưng cái khoảng nước ngọt thì gay… Mấy ngày không có nước ngọt tắm gội, khó chịu quá nên chỉ 2 hôm ra đảo là Hoài Khanh không chịu nổi, phải đành khăn gói về đất liền.
Tôi đón anh ở bến tàu Phú Quốc rồi sau đó cùng rủ vài anh em văn nghệ địa phương ngồi nhậu trước nhà Linh Phương. Anh im lặng, chỉ cười nên anh em hứng lên đòi anh đọc thơ cho nghe. Anh ngồi suy tư, đôi mắt đầy tâm trạng. Cuộc chơi đến khoảng 8 giờ tối. Anh rủ tôi cùng xuống khu lấn biển gần đó, hai anh em ngồi tâm sự.
Không bao giờ tôi quên được đêm ấy. Cũng nhắc là bấy giờ, tôi đang bị Hội văn nghệ địa phương đánh tơi tả về một sự cố văn nghệ, quy chụp về chính trị mà tôi và nhà thơ Linh Phương là nạn nhân (tôi sẽ không kể ra đây nhưng chỉ biết sau đó tôi và Linh Phương bị khai trừ ra khỏi Hội văn nghệ cho đến giờ).
Anh ít nói là thế, mà khi ngồi cùng tôi, anh bỗng nói nhiều, tôi không kịp ngắt lời. Như nắm được toàn bộ câu chuyện từ khi nào, anh tâm sự với tôi về anh, về những ngày gian khổ sau cải tạo ở Biên Hòa, nơi anh tự đặt tên mình là Hành Khoai (tức Hoài Khanh) – có nghĩa giờ chỉ còn biết cuốc đất, làm vườn, xa lánh thị phi, từ bỏ các hội đoàn, nếu còn viết thì chỉ cho mình đọc, không gửi bài cho bất cứ ai mà cũng không trông chờ vào lòng thương của người khác. Không hiểu anh muốn an ủi tôi không về sự cố không may trong đời nhưng tôi biết, anh muốn chia sẻ với tôi về sự việc đáng buồn của cuộc đời tôi.
Anh kể tôi nghe nhiều về đời anh, về thơ anh. Tôi hiểu và điều nầy không biết đúng không. Anh cô đơn quá, cô đơn hơn bất cứ nhà thơ nào (giờ tôi đọc lại Phạm Công Thiện viết về anh, mới hiểu điều ấy). Cô đơn đến tận những giấc mơ, như lời anh kể cho tôi và rồi anh kết luận: làm nhà thơ là phải đối diện với cô đơn… sáng tạo của người nghệ sĩ chỉ đến từ cô đơn thôi, Phúc ạ…
Hai anh em ngồi nói chuyện cho đến 1 giờ khuya. Qua chuyện đời anh, tôi biết nỗi buồn mình chỉ như hạt cát và nguôi ngoai dần.
Biết tôi nghiện thuốc, hôm về Biên Hòa, anh mua tặng tôi cây thuốc hút. Tôi đưa anh vào nhà sách Đông Hồ gần đấy mua cuốn tuyển tập Những truyện ngắn hay của báo Tuổi trẻ có bài của tôi tặng anh. Mấy ngày sau, từ Biên Hòa, anh gửi tặng tôi cùng nhà thơ Linh Phương vài tập thơ của anh. Và từ đó, tôi không được gặp anh nữa. Tôi nhớ hoài gương mặt khắc khổ và mái tóc dài của anh lấp lánh đôi mắt thông minh từ chiếc mắt kiếng hầu như che trùm khuôn mặt.


Nhà văn Trần Yên Hòa bên giường bệnh thi sĩ Hoài Khanh

Những ngày anh sắp mất, đọc trên các số báo, biết tin nhà văn Trần Yên Hòa ở hải ngoại có về thăm anh. Nhìn hình chụp anh bệnh nằm trên giường mà tôi không cầm được nước mắt và càng trân quý tình cảm, tấm lòng của anh em bạn bè văn nghệ khắp nơi vẫn còn nghĩ về anh.
Giờ thì anh đã đi xa. Viết cho anh những dòng nầy như một tưởng niệm đẹp về người nghệ sĩ tài hoa nhưng đầy lận đận. Như một nén nhang thắp trên bàn thờ anh nhân 3 năm anh rời cõi tạm.
Thương anh, nhớ anh, anh Hoài Khanh ơi…

Nguyễn Minh Phúc

VÀI KỶ NIỆM VỀ NHẠC VŨ THÀNH AN.

1. Tôi biết đến nhạc Vũ Thành An từ năm 1969 khi đang học dự bị MPC Đại học Khoa học Đà Lạt. Hè năm ấy, SV Đại học Đà Lạt được gửi xuống Quân trường Lam Sơn gần Dục Mỹ, cách Nha Trang 45km để học quân sự trong chương trình Quân sự Học đường, chuẩn bị kiến thức cho SV khi phải cầm súng.

Từ Đà Lạt, vào phi trường Cam Ly đi máy bay C123 xuống phi trường Nha Trang rồi xe quân sự chở ngay ra Lam Sơn. Chương trình kéo dài 5 tuần lễ, học các kiến thức quân sự căn bản để trở thành một người lính như sử dụng vũ khí, bắn súng, chiến thuật, cách đọc và dùng bản đồ địa hình . . . Nam SV các khoa sắp xếp thành một tiểu đoàn, mỗi khoa là một đại đội, học hành, ăn ở như một tân binh quân trường.

Hôm ấy chúng tôi học chiến thuật vào ban đêm. Sau bữa cơm chiều, trước giờ học, tiểu đoàn đốt lửa trại sinh hoạt, anh tiểu đoàn trưởng là SV năm tư Chính trị Kinh doanh lên hát góp vui bài “Tình khúc thứ nhất” của Vũ Thành An. Giữa núi rừng đêm, bên ánh lửa bập bùng, tiếng đàn guitare thùng và giọng hát trầm ấm của anh lôi cuốn tôi – một người yêu âm nhạc, biết và thuộc khá nhiều nhạc tiền chiến, dân ca và cả giòng nhạc Bolero 1960-65 – một cách khá đặc biệt, nhất là khi luôn trong tâm trạng nhớ nhà, nhớ thành phố, không người tâm sự ngoài bạn học cùng lớp nay trở thành đồng đội. “Tình vui, theo gió mây trôi, ý sầu rơi xuống đời. Lệ rơi, lấp mấy tuổi tôi mấy tuổi xa người. .”, “Tình vui, trong phút giây thôi, ý sầu nuôi suốt đời, “Có biết đâu niềm vui đã nằm trong thiên tai. . .” những câu hát cứ làm tôi bâng khuâng, xao xuyến mà không hiểu vì sao?.

Năm sau về Huế học, tôi có nhiều dịp nghe nhạc của người nhạc sĩ tài hoa này và thuộc được khá nhiều “bài không tên” bên cạnh bài “Tình khúc thứ nhất”. Khi biết rằng có hai bản nhạc Vũ Thành An phổ thơ Nguyễn Đình Toàn (“Tình khúc thứ nhất” và “Anh đến thăm em đêm ba mươi”sáng tác khi đang ở Dưỡng Trí Viện Biên Hòa) tôi càng thích thú hơn vì tinh thần triết Đông với tư tưởng “Âm trung hữu dương căn/ Dương trung hữu âm căn” thấm đẫm trong từng ý nhạc.

2. Năm 1973, tại đêm sinh hoạt Đại Hội Liên Đoàn SV Công Giáo Huế, tôi mới được gặp Vũ Thành An. Anh cao lớn, đẹp trai, râu quai nón, với giọng Bắc trầm ấm, anh hát hai bài tặng những người có mặt “và riêng tặng các chị cư xá Mai Khôi”(Cư xá Jeane D’Arc ngày ấy). Đó là “Anh đến thăm em đêm ba mươi” và một sáng tác mới “Một lần nào cho tôi gặp lại em”. Được gặp một nhạc sĩ mình mến mộ, được nghe anh hát, với tôi là một hân hạnh. Có lẽ đây cũng là tâm trạng chung của những người sinh viên yêu âm nhạc ngày ấy. Hãy tưởng tượng, bạn đến thăm nàng “đêm ba mươi”, tận cùng năm, tận cùng tháng, tận cùng ngày, không gặp nàng nên phải “nói với người phu quét đường, xin chiếc lá vàng làm bằng chứng yêu em”. Lãng mạn và đa tình quá phải không?

3. Từ một “Phó tế” ở Mỹ, Vũ Thành An về Việt Nam theo đuổi một số công việc từ thiện. Dịp này, Vũ Mạnh Hà phỏng vấn ông và gửi cho BBC Vietnamese (*) mà tôi có duyên được đọc. Từ đây, điều ngày xưa nhóm bạn chúng tôi thường nhận định về ông được xác nhận: ông là người “khổ vì tình”. Điều này thể hiện qua nhiều tình khúc của ông, nhất là qua chuỗi những “Bài không tên”. Những trích dẫn dưới đây trong ca từ của một số bài nói lên điều này: (số đứng đầu mỗi đoạn trích là số của các “bài không tên”).

3. Đêm sâu mái tóc em dài
Buông xuôi, xuôi theo dòng đời
Mà đời dài như tiếng kinh cầu
Còn sầu mang đến cho nhau

4. Triệu người quen có mấy người thân
Khi lìa trần có mấy người đưa?

5, Hãy cố yêu người mà sống
Lâu rồi đời mình cũng qua

6. Chờ nhau, xót xa chờ nhau, hắt hiu chờ nhau,
Năm vàng ngày héọ

7. Bao nhiêu mộng mơ đó
đã tan theo một cơn gió
bơ vơ dòng tóc vỡ
trôi dạt về bến nghìn đời.

Khi được hỏi có phải ông khổ vì tình, Vũ Thành An nói: “Cuộc đời của tôi khổ vì tình chứ. Mình thất tình. Tất cả là tôi thất tình không à. Là khi yêu mình không lượng sức. Mình đặt niềm tin vô quá cái sức của mình, nên là mình thất bại thôi”

Bốn câu trích trong 4&5 là những câu bây giờ người ta hay dùng để nói với nhau khi trong câu chuyện có nội dung phù hợp cho thấy sức cuốn hút trong âm nhạc của ông cũng như việc nó đi vào lòng người yêu nhạc là điều không thể chối cải, chỉ là tính quảng đại của nó hẹp hơn nhạc Trịnh Công Sơn.

4. Qua bài phỏng vấn tôi được biết thêm là trong bài không tên cuối cùng ông viết năm 1965 và đến 1991 viết lời 2 “Bài không tên cuối cùng tiếp nối” có sửa chữa nội dung vì sợ hại cho người ngày xưa ông yêu. Mời các bạn đọc đoạn trả lời dưới đây thay cho lời kết của bài viết này:

“Cái ý chính là thế này, Bài không tên cuối cùng tôi viết: “Con đường em đi đó đúng hay sao em/ Mưa bên chồng có làm em khóc/ Có làm em nhớ những khi mình mặn nồng…” Thì cũng hay nhưng nó lại hại cho người đó. Tự nhiên người ta cứ đi chỗ này chỗ kia hát như vậy thì đương nhiên sẽ ảnh hưởng tới hạnh phúc gia đình của cô đó. Ông chồng đó cứ nghe cái đó là nổi nóng lên.

Cho nên tôi hối hận là đã viết câu đó. Nhất là trong thời gian tôi cải tạo từ 1975 cho đến 1985. Nhưng đến khi tôi được ra, được tự do nói lại, thì tôi nói thêm một cái lời như lời xin lỗi cùng người bạn đó: “Này em hỡi con đường em đi đó/ Con đường em theo đó đúng đấy em ơi/ Nếu chúng mình có thành đôi lứa/ Chắc gì ta đã thoát ra đời khổ đau…”.

PS: Khi tôi tìm thêm một số thông tin cho bài viết này thì được biết thêm rằng, ca sĩ Lệ Quyên mà tôi từng ca ngợi trong vài bài viết về cô và giòng nhạc Bolero cũng là người “mê” và thành công với các nhạc phẩm của Vũ Thành An. Tôi thật sự vui vì điều này.

NGUYỄN HOÀNG QUÝ

Sài Gòn tháng 3/2019

(*)https://www.bbc.com/vietnamese/world-47550216

Buổi sáng

Dậy muộn trời đã rạng
Thảnh thơi thật ấm lòng
Cưỡi ngựa què ra quán
Nắng vàng như mật ong

Này chú bé hành khất
Túi còn dăm ba đồng
Này cụ già vé số
Mua vài… tỷ hoài mong

Này cô em tiếp thị
Khoe má đỏ môi hồng
Phận nghèo lên phố lớn
Bán chân dài đít cong

Này bác thương binh cũ
Hát chi mà não lòng
Mắt mù hai tay cụt
Lê lết đời long đong

Xong ly cà phê đắng
Ta về hai tay không
Sài gòn nắng như lửa
Mơ một ngày bão giông!

NGUYỄN ĐÌNH BỔN

MẮT HUẾ

Xuôi quân ra Huế mùa khói lửa
Cố đô giặc phá nát nội thành
Mậu Thân ghé thăm chưa kịp hỏi
Tôn nữ khăn sô quấn tóc xanh

Thần kinh phủ kín màu tang trắng
Vỹ Dạ nhịp chèo khua đêm nay
Đêm nay thủy thần (*) qua sông vắng
Da diết thèm nghe khúc Nam Ai

Trường Tiền gẫy nhịp năm sáu-tám
Chợ Đông Ba máu nhuộm đỏ đường
Mạ (**) chết rồi trong cơn biến loạn
Khóc chiều ni tím bóng mây giăng

Trở lại Huế – sầu chi rứa Huế
Phú Vân Lâu – O đợi – O chờ
Hương Giang xơ xác ngày dâu bể
Hồn ta đau điếng với câu thơ

Lính tráng đánh trận hề mệt nghỉ
Súng – giày saut – nón sắt – ba lô
Vai gánh nặng hồn thiêng sông núi
Trả nợ núi sông hết một đời

Ta nhớ quê cha mưa rất Huế
Xối xả mù trời đất Thừa Thiên
Ta nhớ tháng mười mưa rất khẽ
Cứ se se lạnh ngực O mềm

Xuôi quân ra Huế mùa bom đạn
Thương hoài – thương mãi mắt O buồn
Nhói lòng ta giã từ mai sáng
Lệnh Chiến đoàn (***) tiếp tục lên đường

Linh Phương

(*) :Thủy Quân Lục Chiến còn gọi là Thủy thần mũ xanh..
(**) : Mẹ.
(***) : Trước Thủy Quân Lục Chiến thuộc Bộ Tư Lệnh Hải Quân, có 2 Chiến đoàn là : Chiến đoàn A tức Chiến đoàn An Dương Vương và Chiến đoàn B tức Chiến đoàn Bắc Bình Vương. Sau TQLC tách khỏi Hải Quân thành lập Sư đoàn trực thuộc Lực lượng tổng trừ bị của Bộ Tổng Tham mưu QL.VNCH. Lúc này TQLC có 3 Lữ đoàn ( tên cũ là Chiến đoàn ) là : Lữ đoàn 147 – 258 & 369.

SÁCH DỌC ĐƯỜNG ĐỜI (trích)

Những năm 1990, ở các bến xe đò thường thấy có những người bán sách dạo. Họ ôm bằng hai tay một chồng sách cao gần tới cổ, rảo quanh bến xe mời khách mua sách. Sách gồm những tựa dễ đọc, tác giả dễ đọc. Nếu không là truyện của Hồ Biểu Chánh, thì là những cuốn sách giật gân ăn khách hay ly kỳ hấp dẫn kiểu như “Vụ án đêm giao thừa”, “Lửa hận rừng xanh”, “Một thời ngang dọc”. Ai cần mua cứ gọi họ đến ngay, đặt chồng sách xuống, tay rút vài cuốn đang ăn khách để mời. Khách sẽ chọn một cuốn ưng ý để giết thời giờ trên chiếc xe đò liên tỉnh chạy chậm rì. Lâu lâu có người mua vài cuốn làm quà cho người ở quê. Kiểu bán sách dạo này không phổ biến so với bán báo dạo, nhưng không phải mới mẻ mà đã có từ lâu

Nhà văn Nguyễn Hiến Lê trong bài viết “Kỷ nguyên tiêu thụ và nghề viết văn” (giai phẩm Bách Khoa số kỷ niệm 16 năm và Xuân Quí Sửu 1973) kể là quê ông ngoài miền Bắc ngày xưa còn có những người bán sách dạo mà ông thấy chỉ được một hai lần. “Họ gánh một đôi bồ chứa đầy sách ghé vào nhà bác tôi ở quê. Có lẽ mỗi năm họ mới ghé một lần, bán sách thì ít mà đổi sách thì nhiều: đổi sách lấy giấy đã viết rồi để ra tỉnh bán ra cho những nhà làm lọng làm quạt. họ cũng như hạng người di mua giấy báo cũ bây giờ. Về sau số người cần sách mỗi ngày một hiếm, họ không đổi sách mà đổi kẹo mạch nha lấy giấy: rồi sau nữa người học chữ Nho mỗi ngày một hiếm, giấy cũ cũng không có, nghề đó dẹp luôn”.

Trong báo Sài Gòn, Số 14344, ra ngày 8 Tháng Tư 1940, bài viết “Nghề xuất bản sách” (không ghi tên tác giả) cho biết tình hình bán sách báo lúc đó đang ế ẩm, chán ngán nhưng thực tế có hai người biết cách bán sách rất chạy dù không làm xuất bản. Đó là hai ông Phạm Đình Khương và Phạm Văn Thình. Hai ông chỉ phát hành thơ, truyện, tuồng, bài ca thôi mà làm ăn khấm khá. Khắp các chợ nhỏ từ thành thị ở thôn quê đều có tiệm bán sách của hai ông. Các loại sách này thường để chung các đồ vật vụn vặt của người bán dạo bày trên chiếc chiếu trải dướt đất: dao, kéo, gương soi, thuốc phong tình, thơ Chàng Nhái, vọng cổ ân tình v.v… Tác giả đi xuống Cà Mau thấy có năm người bán sách của hai ông này. Còn ở chợ các tỉnh khác ở miền Nam có khá đông người hai bên dãy phố quanh chợ. Ông tả: “nhiều nơi, họ choán một góc trong nhà chợ, dăng dây bốn phía và treo loại sách này lên như thầy pháp lập đàn trận. Những tranh bìa các sách này sặc sỡ, màu in phủ tràn, nét vẽ ngoằn ngoèo, người không ra người, nhà không ra nhà, cây không ra cây, như bùa chú của pháp sư phá đàn, trông rất buồn cười. Anh chèo ghe, người phát cỏ, người bán hàng gánh đều có thể mua được, đọc được, ngâm nga được”.

Tác giả cho biết thêm là cả hai “nhà xuất bản” này tái bản mỗi cuốn hơn năm lần, mỗi lần 2 ngàn cuốn, tức một cuốn thơ bán ra mười ngàn cuốn, bán gái 5 xu, một cắc hay lên tới hai cắc tùy cuốn. Người mua về bán lại, theo giá trăm, tức giá sỉ. Họ mua mỗi lần cả trăm cuốn, “lạm xạm đủ thứ”, nhất là bài ca bán rất được.

Về cách trữ sách trong nhà, nhà văn Nguyễn Hiến Lê trong bài viết dẫn ở trên kể ngày xưa, hầu như là sách chữ Hán, ở miền Bắc khoảng thập niên 1920: “Hồi tôi còn để chỏm, nhà tôi không có tủ sách mà chỉ có hai cặp sách. Cặp sách của chúng tôi cao độ tám tấc gồm bốn cái cọc một tấm ván gọi là đế, bề mặt bằng khổ tờ giấy bản gấp đôi, nghĩa là chiều dài độ ba tấc, chiều ngang hơn hai tấc (tôi nhớ phỏng chừng như vậy), đóng hai quai để treo lên, hoặc xách hoặc khiêng, thêm một tấm ván nữa ở phía trên để dằn sách xuống. Khi đổi chỗ ở thì có người gánh, y như trong truyện Kiều: “Túi dàn cặp sách đề huề dọn sang”. Một cái cặp như vậy chứa Tứ thư ngũ kinh, ít bộ Bắc sử và bộ Khang Hi tự điển thì vừa đủ. Còn cái nữa chứa một ít sách thuộc, địa lý (tức sách phong thủy), tử vi, bói, vài bộ ngoại thư: Tình sử, Liêu trai, Đường thi, Tống thi, Văn tâm Điêu long và ít cuốn sách Nôm: Kiều, Hoa Tiên”.

Ông kể có một ông bác chỉ có hai cặp sách gồm sáu bảy chục bộ mà đã nhiều sách nhất Tổng. Khi ấy muốn mua sách thì xuống Hà Nội đến một tiệm ở phố Hàng Gai. Khoảng năm 1925 ở đó còn có dăm bảy tiệm bầy những sách in mộc bản ở trên một tấm phản kê hơi cao. Có chừng trăm thứ sách rẻ tiền, còn sách quí cất riêng ở trong. Ít năm sau các tiệm đó cũng dẹp luôn, thay vào là những tiệm bazar.

Trên đất nước có khi hậu nóng ẩm, sách trong tủ thường phải đem ra phơi. Báo Phụ Nữ Tân Văn, Số 198, 4 Tháng Năm 1933 có bài Tản văn “Phơi sách” của Phanh-Ni khá điệu đàng, có đoạn: “Lại ngồi trên chiếu, chung quang ngỗn ngang những sách chinh chòng, tôi ngó qua một vòng, hay trong lòng hơi cảm động như đi tình cờ gặp lại bạn cũ, mắt nhìn nhau chan chứa cảm tình. Bao nhiêu sách gợi bao nhiêu ngày xưa, bao nhiêu tình cũ. Có đủ cả sách đấy: sách bằng thưởng cuối năm ở trường học, từ lớp nhỏ đến lớp lớn, sách in đẹp thay, sơn son thếp vàng, trên bìa đầy những bông hoa chạy lẫn chỉ vàng, cầm lên lại bâng khuâng nhớ những ngày… những ngày xưa, buổi mình đưa tay lãnh sách, trái tim đập mạnh như vỡ ra nhồi máu trong đấy như xung hết lên mặt, nóng đến hai tay…”. Bà Tùng Long, nhà văn nữ viết truyện xã hội nổi tiếng trước 1975 kể trong Hồi ký về thú đọc sách của mình hồi còn nhỏ trong gia đình. Có cha là công chức Sở Thương chánh thích đọc sách báo và có viết bài gửi cho báo Nam Phong, Hữu Thanh, mua rất nhiều sách báo nên bà may mắn từ nhỏ đã sống với sách báo thơ văn. Sách của người cha để đầy các tủ, mẹ của bà lãnh phần chăm sóc đống sách báo không để mối mọt gặm nhấm. Mỗi tháng một lần, người mẹ chọn ngày nắng ráo đem sách ra phơi, bà Tùng Long còn làm một bé gái lãnh phần trông sách. Vừa trông vừa đọc báo, đọc sách có khi say mê đến nỗi ngồi ngoài nắng mà không biết.

Đối với những người có điều kiện kinh tế, sách báo được mua về vẫn được xem là thứ vật chất quý giá để giữ gìn. Tôi có đọc câu chuyện trong một cuốn bút ký sau 1975, về một anh trí thức Sài Gòn nhà giàu Tây học bỏ nhà theo kháng chiến. Nói về sự kiên quyết dứt bỏ giàu sang của anh ta, tác giả kể anh không hề tiếc ba thứ là ngôi biệt thự, cái tủ rượu và một tủ sách đồ sộ. Bộ ba này được coi là những thứ phong lưu bậc nhất mà người thời ấy có được.

***

Trong gia đình tôi, hầu như ai cũng thích đọc sách từ ba mẹ đến các con, dù đã đi làm hay còn đi học. Tuy vậy, cách nay năm mươi năm, số sách trong nhà chỉ độ vài chục cuốn đọc đi đọc lại. Quý nhất chỉ là vài bộ truyện Tàu, bộ Việt Nam Thi nhân tiền chiến, vài tập thơ và vài sách bình luận văn chương của ông anh học Văn khoa. Góp chung chỉ đủ một kệ sách dài khoảng hai mét. Chỉ nhờ các tiệm cho mướn sách, từ giữa thập niên1960 anh em chúng tôi mới có thể đọc được nhiều sách.

Sinh thời, ba tôi còn giữ ký ức về chợ sách trên lề đường Trần Quý Cáp (nay là Võ Văn Tần khu chợ Đũi) khoảng 1954. Đọc cuốn Một mảnh tình riêng của nhà văn Sơn Nam, thấy ông cũng nhắc tới chợ sách lề đường này và cho đó là “nét đẹp nhất vào màn chót của việc chấm dứt một thế kỷ đô hộ của người Pháp”. Ở đó bán nhiều cuốn sách quý một thời của những người sưu tập cất trong thư viện gia đình, mạ chữ vàng. Ông kể : “Nhiều quyển nhất là sách khảo cứu bán rẻ, thí dụ như sách cơ bản để tham khảo về văn minh Chăm, điện Ăng-ko, đạo thiền, toàn tập văn chương của những bậc lừng danh Pháp, hoặc Đức, Anh dịch sang chữ Pháp. Sách của những luật sư kỹ nghệ gia Pháp từng lưu trú lâu đời ở Sài Gòn, già rồi họ về xứ để nhắm mắt. Lại còn sách lấy ra từ các thư viện các câu lạc bộ sĩ quan Pháp, câu lạc bộ thể thao, đồn điền cao su”. Đây là cơ hội hiếm hoi để sở đắc những cuốn sách đẹp và quý với kỹ thuật đóng sách cao cấp hơn hẳn thời sau này. Tuy vậy, dù là sách vỉa hè, dù giá bán rẻ hơn trước nhưng theo ba tôi, giới bình dân không mua nổi vì giá vẫn còn khá cao so với thu nhập của họ.

Đầu thập niên 1960, đại lộ Lê Lợi trở thành thiên đường của giới ham đọc và ham học. Ở đó, ngoài khu bán sách vỉa hè phía bên vỉa hè gần nhà thương Sài Gòn và các quán bán sách báo và bưu ảnh, còn có khoảng chục nhà sách, lớn nhất là Khai Trí, và các nhà sách Tự Lực, Việt Bằng, Vĩnh Bảo, Dân Trí, Khai Trí, Phúc Thành, Lê Thành Tuân, Việt Hương, Nguyễn Văn Trung, Văn Hữu, Lê Phan, Hoa San, Thu Tâm… Người đọc lúc ấy ra đến đó là mê mẩn, nhưng mua phải dè sẻn. Nhà sách Khai Trí có cho đọc tại chỗ nên có rất nhiều người tranh thủ coi cọp, tranh thủ nạp cho nhanh cho nhiều chữ nghĩa vào đầu không mất tiền.

Trong hành lang Eden khoảng thời gian này có ba nhà sách bán sách báo ngoại quốc, nổi bật là một tiệm sách tiếng Anh tuy nhỏ nhưng khá nổi tiếng lấy tên là Book Shop. Lúc đó, phong trào học Anh ngữ đang lên, người Sài Gòn đến học các trường tư dạy tiếng Anh để mong tìm được việc làm thư ký hay phiên dịch ở các hãng buôn ngoại quốc, các sở thông tin hay các tòa Đại sứ Anh Mỹ. Lúc đó chỉ có sách dạy tiếng Anh cho người Pháp, người Mã Lai, người Thổ Nhĩ Kỳ .v.v… Hiệu sách này ra đời đáp ứng như cầu đa dạng hơn về sách tiếng Anh. Được nơi thành lập là Hội Ái hữu Phụ nữ Hoa Kỳ đứng ra nhập sách báo xuất bản tại Mỹ về Việt Nam, hiệu sách có đủ các loại: Tiểu thuyết best-seller trong năm, sách khảo cứu đủ loại từ làm vườn, trang hoàng nhà cửa, nuôi con… cho đến sách hội họa, văn chương, chính trị. Ngoài ra, có cả các tuần san, nguyệt san như Life, Saturday’s Evening Post, Esquire, Photography v.v… Riêng sách học tiếng Anh có đủ sách dành cho các cấp độ, từ Tự điển bỏ túi cho đến Bách khoa từ điển. Tuy nhiên mỗi tựa sách ngoại ngữ nhập về đây không nhiều lắm nên chỉ một thời gian ngắn là hết veo.

Các cuốn sách quý thật sự trở thành của cải, có giá trị mua bán trao đổi trong giới đọc và chơi sách. Trong thư viện gia đình của dân chơi sách tầm cỡ, thường là khá giả trở lên, sở hữu nhiều sách giá trị mà nhà sách hay có khi thư viện không có, hoặc không phong phú bằng.

Hồi mới lớn, sau 1975, tôi có dịp vào hai ngôi nhà mà cả nhà đã bỏ ra nước ngoài. Một ngôi nhà trong cư xá Nha Trước bạ ở Phú Nhuận của một bác sĩ, có phòng tập thiền bằng gỗ và một tủ sách nhỏ ở phòng khách. Tủ sách toàn những cuốn dày như “Papillion, người tù khổ sai”, “Tội ác và hình phạt”, “Bản du ca cuối cùng của loài người không còn đất sống”, bộ “Thành ngữ điển tích danh nhân tự điển”, cuốn “Tình em vỗ cánh” cùng nhiều cuốn tạp chí Thời Nay. Lần đầu tiên tôi được cầm những cuốn sách đó trên tay, mới toanh và cứng cáp, không bị đóng kẽm cứng ngắt đến mức đọc mất chữ gần phía gáy sách như các tiệm cho mướn sách hay làm. Tuy mê mẩn nhưng tôi chỉ dám mượn một cuốn để đọc. Sau đó, nó nhanh chóng vơi bởi những người giữ nhà không thích đọc sách mà dùng vào việc khác, chỉ một tháng sau đó. Tủ sách thứ hai ở một ngôi nhà phố trong hẻm của người Hoa trong Chợ Lớn. Buổi tối đứa bạn trong xóm có người chị làm ở cơ quan tiếp nhận nhà người bỏ ra nước ngoài rủ tôi đến đó tìm chị nó. Chị biết tôi thích sách nên bảo là sách chủ nhà để lại nhiều lắm, thích thì cầm về. Tôi háo hức vào xem, hoa mắt nhìn các dãy kệ có rất nhiều sách art books, các tập tranh Hoa điểu, đồ sứ cổ, đồ gốm và đồ gỗ kiểu xưa bên Tàu. Tôi chọn một cuốn vẽ các loại khủng long in màu rất đẹp, sách tiếng Hoa in ở Hồng Kông. Về nhà, giở cuốn sách dưới ánh đèn, tôi thấy rớt ra một tấm ảnh chụp năm người, hẳn là một gia đình có hai vợ chồng, cô con gái lớn và hai cậu con trai nhỏ hơn. Trong hình, cả nhà ăn mặc đẹp, dáng vẻ phong lưu và nền nếp. Tôi vẩn vơ nghĩ về gia đình đã ra đi ấy. Hẳn là ngày xưa họ đã có những ngày sống hạnh phúc bên nhau, đã có những buổi tối trong căn nhà đó, có hai cậu con trai được người cha chỉ xem và giải thích từng bức tranh các loài bò sát cổ đại trong sách. Tủ sách này hẳn đã được chắt chiu góp nhặt trong nhiều năm và là trung tâm của đời sống tinh thần của gia đình này, để rồi cuối cùng phải bỏ lại.

Tôi biết trên thế giới này, có rất nhiều người không cần đọc sách vẫn có cuộc sống hạnh phúc hay yên ổn cả đời. Nên viết về chuyện đọc sách, mua sách, khen chê cái hay cái dở trong một cuốn sách hóa ra chỉ trong thế giới những người đọc sách. Tản mạn về thú đọc sách là muốn chia sẻ điều mình nghĩ trong thế giới chỉ dành riêng cho ai tìm đến niềm vui, sự thức tỉnh và thổn thức trước những trang sách.

Phạm Công Luận

Huyền Tôn Nữ Thu Hương

Nhớ bạn Chuck Coupton và Huyền Tôn nữ Thu Hương

Gió se tóc loạn
ngậm ngùi
Hương ơi!
còn đứng tiễn người
vẫy tay

Gió mùa thu
lạnh phương này
Trời mùa thu
cũng chất đầy tháng năm

Nhớ người
đốt thuốc ăn năn
Hương ơi!
cố quận chiều trăng
nhớ người !

NGUYỄN HÀN CHUNG

Trung học Cường Để- Qui Nhơn
1969

BÀI HÁT TRỞ VỀ

Da đã mồi ư? Râu, tóc bạc
Một ngày rỗng tuếch bóng tre lu
Bầy chim sẻ đói trên cành nát
Lũ gió bay, tung những xác mù

Ta đã tàn, như rơm rạ sứt
Lửa nào thiêu vội ý thơ khô
Tro bay trong tiếng chuông vàng đứt
Trang sách nhô lên những nấm mồ

Con trùn giũ đất co thân giẫy
Lũ kiến nào bu bám nỗi đau
Máu chảy quanh đời, ôi, máu chảy
Bao giờ ngưng? mãi tận ngàn sau?

Đất trời đã mỏi màu mưa nắng
Nhân thế trồi lên xác tượng buồn
Nhân thế, sao mùi âm khí nặng?
Trăm năm trắng toát một màu xương

Nhiều lúc chả cần chi trí não
Ta quên hết thảy một sơn hà
Ta nằm, đúng nghĩa tên vô đạo
Mà lạ, không quên được tiếng gà

Tiếng gà buổi sớm như là của
Chính mẹ ta khêu, thắp sáng đèn
Bếp lửa, lớn lên từ bếp lửa
Cơm sôi tiếng rộn, có nào quên!

Ta đi, mặc kệ đời đưa đẩy
Có xác thân nào không gió mưa
Từng ngón tay khèo sông núi dậy
Đời người vón lại một cơn mơ

Ta đi, là đã quay về lại
Tiếng khóc ban đầu ta cất lên
Hỗn độn hồ đồ khôn với dại
Chảy tràn trong nhớ nhớ quên quên

Ta về, ta hát vang rừng cũ
Rêu rỉ thành dòng cho đá xanh
Ta liếm vết thương bầm giấc ngủ
Nghe nghìn năm thở, vụt qua nhanh.

nguyễn lãm thắng