LỜI VĨNH BIỆT

 

 

(Thương tiếc thi sĩ Tô Thùy Yên)

.

Riêng người đây một nén hương!
Tiếc chàng thi sĩ vô thường tan mau
Biếc chiều nghiêng nắ́ng ngang đầu
Chiêu hồn chuông gọi lời đau đến người!
Mắt đầy sương khói chiều rơi
Tiếng chiều đồng vọng người ơi nghìn trùng!
.
“Tam Giang” rày đã cạn cùng!
“Trường Sa chếnh choáng” “Anh Hùng Tận” ôi! [*]
.
Xin người an ngủ đi thôi!
” Ta Về” “nghe nặng đất trời từ tâm” [**’
,,,,,,,,,,
[*] Tên một số bài thơ của thi sĩ Tô Thùy Yên: Chiều trên Phá Tam Giang/ Trường Sa Hành/ Anh Hùng Tận…
[**] Nghe nặng từ tâm lượng đất trời.- Ta Về
TIỄN NGƯỜI
.
(Tiễn biệt Tô Thùy Yên)
.
Đất trời gầy cuộc ly tan
Tôi mang áo trắng khăn tang tiễn người
Nắng chiều nhuộm tím bờ vai
Lay hồn tám sải chuông hoài vọng âm
.
Người đi vào cõi hư không
Để vần thơ lại muôn năm cho đời
“Ta về”. về với đất trời
“Từ tâm vô lượng” những lời “nở hoa”
.
“Cảm ơn hoa nở vì ta”
“Mười năm ta vẫn cứ là ta” thôi!
“Một lần kể lại rồi thôi”
“Ðành không trải hết lòng” tôi với người!
.
“Vầng trăng tiếc cuộc rong chơi”
“Tiếc đời hữu hạn”. lẻ loi. “Ta về”!
…….
(” “) Một số lời thơ trong bài “Ta Về” của Tô Thùy Yên
.
Nguyên Lạc
Advertisements

TÔ THÙY YÊN, CHIA XẺ CHÚT TÌNH CAY MẶN CŨ 

 

Trong thời kỳ hai mươi năm của thơ miền Nam, và giai đoạn kéo dài của nó, Tô Thùy Yên giữ một vị trí rất đặc biệt (*).

Đó là người khởi đi từ giai đoạn khai phóng đầu tiên, những năm 60, với sự nổi loạn chống ảnh hưởng của văn học tiền chiến. Nhà thơ của chiến tranh Việt Nam, của những suy nghiệm triết học, nhà thơ của những ngày tù tội cải tạo, và cuối cùng của giai đoạn lưu vong. Đời sống của ông đầy biến động. Tô Thùy Yên lúc nào cũng chăm chú sống cuộc đời mình, để tâm hồn rung lên theo nhịp điệu của thời thế. Nhưng đó không phải là thơ thời sự hay thơ trữ tình thế sự. Đó là một loại thơ trữ tình thực sự, tuy vậy mang dấu ấn lịch sử.
Trong khi tuân thủ nghiêm ngặt một số quy ước về vần điệu, sở trường nghiêng về thơ có vần hơn là về thơ tự do, Tô Thùy Yên vẫn sở hữu một ngôn ngữ vừa truyền thống vừa mới lạ. Sự chọn chữ, cách thiết lập câu thơ, âm điệu và từ vựng trong từng bài thơ, tạo nên phong cách riêng, một phong cách của tài hoa dụng ngữ.

Thơ Tô Thùy Yên có ba giai đoạn: trước năm 1975, sau năm 1975 ở trong nước và trong tù, và sau này khi ra hải ngoại. Giai đoạn thứ ba, thể hiện những cố gắng làm mới ngôn ngữ ở nhà thơ này, tuy vậy xét về thành tựu nghệ thuật, không thể nào sánh được với giai đoạn thứ nhất và thứ hai.
Là một tác giả được nhiều người biết tới và tìm đọc, có những bài thơ được phổ nhạc, nhưng Tô Thùy Yên vẫn là thi sĩ của giới trí thức, với bút pháp tinh lọc và sang trọng. Ông không thiết lập nên một thi pháp mới, và hầu hết thơ đều dựa trên những âm luật cũ, nhưng Tô Thùy Yên đẩy nghệ thuật dùng chữ đến mức tuyệt hảo. Sống trong thời binh lửa, ông mặc áo lính, đến các trận tiền, viết về cuộc chiến đấu bi thảm của một quân đội, đời sống thực của người lính, nỗi đau thương của quê hương bị tàn phá, sự nghĩ ngợi đầy tính triết học, nỗi u hoài Đông phương, tình yêu, sự lạc lối của tuổi trẻ, một thiên nhiên mù lòa cay đắng, những cây cỏ hiền hòa, tình yêu thuần hậu và bạo liệt.

Thơ Tô Thùy Yên là thơ nhân chứng. Bằng chính cuộc đời mình, ông sống qua những giai đoạn khác nhau của lịch sử. Bài thơ của ông, với tất cả hình ảnh và chất liệu của chúng bao giờ cũng tạo nên một lực đẩy hướng tới sự kết thúc, tạo ra một phức hợp tình cảm ở người đọc. Trong khi người đọc chia sẻ cùng nhà thơ gánh nặng của lịch sử, của số phận, thì cũng hạnh phúc được sống trong nguồn suối ngọt ngào của tiếng mẹ đẻ, vui thú với nhạc điệu, thưởng thức khả năng nắm bắt ý nghĩa của tồn tại. Ẩn dụ trong thơ Tô Thùy Yên giàu có, chúng chứa đầy khả năng mới mẻ: giá trị tiên đoán.
Thơ Tô Thùy Yên là loại thơ không những để đọc bằng mắt mà còn để đọc lớn lên, ngâm lên, giữa những người khác. Gần đây, sau tập thơ cuối cùng, không thấy Tô Thùy Yên viết nữa. Có lẽ công việc của ông đã xong. Sự thưởng thức và đánh giá là dành cho dư luận. Bất chấp khuynh hướng trừu tượng và khuynh hướng trí thức, sự dùng chữ tinh tế, khác thường, đó vẫn là một loại thơ mở lớn cánh cửa, tìm đến với người đọc, kêu gọi người đọc.

Một thứ thơ của ý thức tự do, của bi kịch lịch sử, của nhân phẩm, của lòng tin vào các giá trị căn bản của dân tộc. Thơ ông tạo nên một ảo ảnh nghệ thuật bằng chất liệu có thực của đời sống, một đời sống đã kinh qua hạnh phúc và bất hạnh, những vàng son và khổ nhục. Một loại thơ đôi khi siêu hình, đôi khi mênh mang kỳ bí, nhưng vẫn dung chứa xúc động chân thật. Đó có lẽ là một trong những bí ẩn sâu xa của thơ Tô Thùy Yên.
Nguyễn Đức Tùng

(*) Tô Thùy Yên tên thật là Đinh Thành Tiên, sinh năm 1938 tại Gò Vấp, Gia Định, là cựu học sinh Petrus Ký và Đại học Văn khoa Sài Gòn. Ông dạy học, làm báo tại Sài Gòn và mang cấp bậc Thiếu tá trong quân đội VNCH trước 1975. Sau 1975 ông bị giam gần 13 năm, từ 1993 cùng gia đình sang Hoa Kỳ theo diện cựu tù nhân chính trị.
Tô Thùy Yên, Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, cùng với các hoạ sĩ Duy Thanh, Ngọc Dũng, là những người nòng cốt của nhóm Sáng Tạo, một nhóm sáng tác đã từng được biết đến với phong trào khai sinh “Thơ tự do” trên văn đàn miền Nam vào thập niên 60.

Tác phẩm: Thơ tuyển (1995), Thắp tạ (2004).
(trích từ tác phẩm Bốn Mươi Năm Thơ Việt Hải Ngoại, Văn Việt và Nguời Việt phối hợp xuất bản, 2017)

Tàu Đêm

Tàu đi. Lúc đó, đêm vừa mỏi.
Lúc đó, sao trời đã ngủ mê.
Tàu rú. Sao ơi, hãy thức dậy,
Long lanh muôn mắt tiễn tàu đi.

Thức dậy, những ai còn sống đó,
Nhìn ra nhớ lấy phút giây này.
Tàu đi như một cơn giông lửa
Cuồn cuộn sao từ ống khói bay.

Cảnh vật mơ hồ trong bóng đêm
Dàn ra một ảo tượng im lìm.
Ủ ê những ngọn đèn thưa thớt,
Sáng ít làm đêm tối tối thêm.

Bến cảng, nhà kho, những dạng cây…
Chưa quen mà đã giã từ ngay.
Dẫu sao cũng một lần tan hợp,
Chớ tiếc nhau vài cái vẫy tay.

Toa nêm lúc nhúc hồn oan khốc,
Đèn bão mờ soi chẳng rõ ai.
Ta gọi rụng rời ta thất lạc.
Ta còn chẳng đủ nửa ta đây.

Người bạn đường kia chắc chẳng ngủ.
Thành tàu sao chẳng vỗ mà ca?
Mai này xô giạt về đâu nữa?
Đất lạ ơi, đừng hắt hủi ta!

Đất lạ, người ta sống thế nào?
Trong lòng có sáng những trăng sao,
Có buồn bã lúc mùa trăn trở,
Có xót thương người qua biển dâu?

Tàu đi như một cơn điên đảo,
Sắt thép kinh hoàng va đập nhau.
Ta tưởng chừng nghe thời đại động
Xô đi ầm ĩ một cơn đau.

Ngồi đây giữa những phân cùng bụi
Trong chuyển dời xung xát bạo tàn,
Ta trở thành than, thành súc vật.
Tiếng người e cũng đã quên ngang.

Ta nghe rêm nhói thân tàn rạc,
Các thỏi xương lìa đụng chỏi nhau.
Nghe cả hồn ta bị cán nghiến
Trên đường lịch sử sắt tuôn mau.

Dường như ta chợt khóc đau đớn.
Lệ nóng cường toan cháy ruột gan.
Lệ chảy không ra ngoài khóe mắt.
Nghẹn ngào đến cả tiếng than van.

Giá ta có được một hơi thuốc,
Dẫu chỉ là hơi thuốc mốc thôi.
Để phả cho hồn ấm tỉnh lại,
Để nghe còn sự sống trên môi.

Ta nhớ dăm ba hình ảnh cũ,
Lờ mờ như nhớ lại tiền thân.
Đời ta khi trước vui vầy thế
Bỗng thảm thương nghìn nỗi ngói tan.

Đem thân làm gã tù lưu xứ,
Xí xóa đời ta với đất trời,
Ngàn dặm lìa tan tình cố cựu,
Bàng hoàng thân thế cụm mây trôi.

Đã mấy năm nay quằn quại đói,
Thèm ăn như đứa trẻ con nghèo.
Mẹ ơi, con nhớ thời thơ dại,
Nhớ miếng ăn mà mẹ chắt chiu.

Liệu còn một bữa cơm đầm ấm
Bên ánh đèn đoàn tụ vợ con,
Chia xẻ chút tình cay mặn cũ,
Miếng không ngon cũng lấy làm ngon.

Tàu đi khoan xoáy sâu đêm thép,
Tiếng nghiến ghê người, thác lửa sa.
Lịch sử dường như rất vội vã.
Tàu không đỗ lại các ga qua.

Ô, những nhà ga rất cổ xưa,
Dường như ta đã thấy bao giờ.
Đến nay, người giữ ga còn đứng,
Đèn bão đong đưa chút sáng mờ.

Tàu qua những ruộng đồng châu thổ.
Hiu hắt làng xa mấy chấm đèn.
Đêm ở nơi đây buồn lặng lặng.
Cái buồn trải nặng mặt bằng đen.

Hỡi cô con gái trăng mười bốn,
Đêm có nằm mơ những hội xuân,
Đời có chăng lần cam dối mẹ,
Nhớ thương nào giấu thấm vành khăn?

Có lúc tàu qua những chiếc cầu
Sầm sầm những nhịp động đều nhau.
Dưới kia con nước còn thao thức
Bát ngát dềnh lên bãi sậy sầu.

Có lúc tàu qua những thị trấn
Mà đêm đã gói lại im lìm.
Tàu qua, âu cũng là thông lệ,
Nên chẳng ai buồn hé cửa xem.

Ôi những nỗi sầu vô dạng ấy
Gọi ta về với những đêm vui…
Ở đâu đèn sáng như châu ngọc,
Đường phố người chen chúc nói cười.

Ở đâu mộng ảo vườn sao tụ,
Yến tiệc bày trong những khóm cây.
Ta rót mừng em ly rượu đỏ…
Mà thôi, chớ nhớ nữa, lòng ơi.

Mà thôi, hãy nuốt lệ còn nghẹn,
Tỉnh thức, lòng ơi, nhìn tận tường
Thời đại đang đi từng mảng lớn,
Rào rào những cụm khói miên man.

Người bạn đường kia chắc vẫn thức,
Mong tàu đi đến chỗ đêm tan,
Có nghe lịch sử mài thê thiết
Cho sáng lên đời đã rỉ han.

Tàu ơi, hãy kéo còi liên tục
Cho tiếng rền vang dậy địa cầu,
Lay động những tầng mê sảng tối…
Loài người, hãy thức, thức cùng nhau.

Tô Thùy Yên 1980

Nguyễn Đức Tùng

 

TIỄN TÔ THÙY YÊN… .

 

đi như đi lạc trong trời đất
thủy tận sơn cùng xí xoá ta
cõi chiều đứng lại khóc như liễu
có thật là ta đã đi xa.
(đi xa – tô thùy yên)

**
kẻ trước người sau ngày sập tối
dọc ngang cổ độ kiếp giang hà
mục xuôi dòng củi ghềnh lưu xứ
ngược thác trơ cành nước xiết qua

**
xế bóng hoàng hôn làn chợt tắt
buồn lên chửa vợi chớm dương tà
hờn biên ải núi màu ai oán
lặng lẽ non về mây thiết tha

**
trùng dương khởi sóng đời gang tấc
dâu bể vùi chôn thoắt í a
nghìn năm hồ dễ lòng khôn giấc
chí cả anh hùng ngựa vó ca

**
cơn mưa hạt đổ mờ phương ấy
hay khóe nhòa tuôn lệ biệt sa
xin đây tiễn xá hồn hương kính
chầm chậm tàu lăn khói tỏa ga

**
đi như thuở gió tàn nhân thế
thật ảo phù hư mộng sớm hoa… .

22/05/2019
phạm hiền mây

Bái biệt nhà thơ TÔ THUỲ YÊN (1938-2019)

 

 

Thưa Anh Tô Thuỳ Yên,

Tôi chưa một lần được diện kiến Anh, mặc dù tôi là bạn của người em rể Anh, nhà văn Lâm Vị Thuỷ. Tuy nhiên, tôi rất quý trọng Anh, một nhà thơ lớn của đất nước.

Tin Anh về Nhà Thật hôm 21 tháng Năm 2019 khiến tôi ngậm ngùi tưởng tiếc. Anh như một vì sao băng, để lại trên bầu trời văn học Việt Nam một khoảng trống khó lấp đầy.

Xin bái biệt Anh bằng một vài vần thơ vụng dại của kẻ hậu sinh.

Quyên Di

ANH VỀ

Tin từ thành phố Đông Nam ấy
Anh đã lên đường bước viễn du
Lần này là chuyến đi xa thật
Bỏ hẳn gian trần chốn tạm cư.

Đã bước vào đời và thanh thản
Dạo trong cõi tạm tám mươi năm
Đã khóc đã cười cùng cuộc thế
Thì nay viên mãn tựa trăng rằm.

Một thuở cùng bạn bè Sáng Tạo
Mực thơm giấy thắm ý tinh khôi
Chắc hẳn từ ngày son trẻ ấy
Anh đã trầm ngâm trước cuộc đời.

Rong ruổi khắp mọi miền đất nước
Không hành một buổi phá Tam Giang
Anh đã ngậm ngùi cầm bút viết
Bài thơ thương cảm chuyện nhân gian.

Bài hành Trường Sa Anh sáng tác
Là lúc gần tan một cuộc cờ
“Ta hỏi han, hề, Hiu Quạnh Lớn,
Mà Hiu Quạnh Lớn vẫn làm ngơ.” (*)

“Ta Về,” Anh có hơi kinh ngạc
Không khỏi thoáng qua chút chau mày
Dấu hỏi to dần: sao có thể
“Giải oan cho cuộc biển dâu này?” (**)

Hôm nay Anh đã về Nhà Thật
Như đứa con đi hết nẻo đời
Như kẻ lãng du nay trở gót
Tìm về nhà mẹ ở luôn thôi.

Một chén rượu hồng xin đưa tiễn
Ngậm ngùi mà có chút mừng vui
Buồn vì một ngôi sao vừa tắt
Vui vì Anh đã trọn cuộc chơi.

Quyên Di

(*) Trường Sa Hành, Tô Thuỳ Yên
(**) Ta Về, Tô Thuỳ Yên

CHIA TAY ẢI TÂY

 

( tác giả Tô Thùy Yên 1938- 2019)

 

Mới độ nào chia tay ải Tây.
Đi đâu hay chỉ cốt rời đây?
Mây trôi, dăm mảng nhớ hư hoặc,
Gom chẳng thành câu chuyện thuận tai.

Lời kiệm, quanh ba cái ý quẩn
Tiễn đưa vừa một quãng mây bay.
Ra về, thấy nhật nguyệt điên đảo,
Ray rứt chưa tròn hẹn ải Tây.

Có thật từng chia tay ải Tây?
Mây qua để bóng cổ thư này.
Tuyệt cùng ký ức như nơi tới,
Tin tức ngàn thu biết hỏi ai?

Bao nhiêu đống lửa đêm quan ngoại
Gió thổi tan tro mỗi sáng ngày?
Trong trời, mây ấy cũ hay mới?
Ải Tây, lần nữa, lại chia tay.

Mãi mãi còn chia tay ải Tây.
Ngày ngày mây lãng đãng qua đây.
Cõi đời giấu một phía mê tưởng,
Đi nép nghìn xưa lạc hiện nay.

TÔ THÙY YÊN

1.2000

Vĩnh Biệt Tô Thùy Yên

 

“Người về một bóng trên đường lớn!”
Mới đó…Trời ơi! Một Bóng Ma!
Tin ở Houston qua, báo vậy
Tô Thùy Yên…mãi mãi Đi Xa!

Mãi mãi từ nay mất một người
Mà nghe ngàn triệu tiếng Than Ôi!
Chào anh! Vĩnh Biệt Người Anh Lớn
Hẹn gặp…mà thôi Hết-Gặp-Rồi!

Mười Tám Thôn Vườn Trầu đang khóc
Mưa Sài Gòn mưa tới Hóc Môn
Tô Thùy Yên ạ…hoa me rụng
Triệu giọt mưa thành Nước Mắt tuôn!

Tôi thật tình tôi đang ngã quỵ
Anh về một bóng thiệt sao anh?
Quê Hương đã đón anh về thật?
Một bóng đường xa…lộ vắng tanh!

Một bóng đường xa…một bóng người
Lời Chào Vĩnh Biệt nhận cho tôi!
Tô Thùy Yên hỡi Người Anh Lớn
Tôi chúc Anh Yên Giấc Ngậm Cười!

Trần Vấn Lệ

Điền Vào Chỗ Trống

Người đi, để lại đằng sau trống
Ta biết điền gì đủ nghĩa đây?
Hai chữ Nhớ Thuơng…không có nghĩa
Thôi thì…chỗ đó chữ Trời Mây!

Bạch vân thiên tải người ơi người
Tàu sắt còn chìm ở biển khơi!
Trái đất rồi tan thành khói bụi
Còn chăng trôi nổi trái tim tôi!

Người đi thanh thản hồn nhiên được
Ta vẫn yêu người cái thản nhiên
Không nợ mà sao tình cứ lụy?
Buồn môi ta cắn chữ Nhân Duyên!

Người đi không biết hồn ta nát
Còn lại bao nhiêu cũng dại khờ…
Áo trắng đừng bay về nữa nhé
Hoa vàng trước ngõ để ta mơ!

Người ơi áo trắng thời trinh trắng
Trường Nữ còn cây khuynh diệp xanh
Có thể muôn năm màu lá đó
Một hôm buồn quá bỗng mong manh…

Có lẽ muôn năm trời cố quận
Tiếng cọp gầm vỡ nát lọ nhang
Xe đến giữa đèo xe chết máy
Đời ta khoảng trống chẳng biên cương…

Đường quê còn dấu chân người để
Còn dấu chân thôi thế đủ rồi
Chỗ trống ta điền sông-nước-mắt
Áo người kỷ niệm, giặt, ta phơi…

Người ơi ta nhớ người vô tận
Áo lụa Blao giặt chẳng nhàu…
Thì trái tim ta buồn kết khối
Mai thành đá dựng đỉnh non cao!

Trần Vấn Lệ

CÀ PHÊ ĐẮNG

Ta với nhớ ngồi thu lu một góc
Phin cà phê nằm khóc trên mặt bàn
Giọt nước mắt đen thùi rơi xuống tách
Nắng hạ về đứng đợi ở ngoài sân

Rằng tất cả đang cùng ta thinh lặng
Để tiễn đưa lần cuối những cuộc tình
Nếu khói thuốc không cựa mình chuyển động
Tưởng cơ hồ ngày đã nhuốm hoàng hôn

Trưa lặng lẽ thời gian như dừng lại
Không chiêm bao vẫn thấy em hiện về
Đang ngồi đó . Tách cà phê đắng nghét
Cái gạt tàn còn vương lại nhúm tro

Người yêu dấu giá như hồi đó đó
Đừng xả thân làm con cá cắn mồi
Thì cái gã câu tình kia đâu phải
Thóp tim mình treo ngược móc lưỡi câu

Kể từ buổi thất tình lần không nhớ
Thề lần này cương quyết không yêu thêm
Bao kinh nghiệm khổ đau chừng đã đủ
Làm hành trang mang tận cuối trời quên

Quan Dương

NỖI NIỀM MƯA TIỄN NẮNG

định nói với em một lần rất thật
nhưng xem ra không dễ thốt nên lời
ngần ấy năm vui buồn và được mất
có lẽ nào như chiếc lá vàng rơi…

mùa thu chừng như muốn nhắn nhe gì
mà nhấp nhổm gót heo may ngoài cửa
đôi mắt buồn rưng rưng màu nắng úa
bàn tay gầy quờ níu phía em đi

em lặng phủi hạt tình vương ngực sáo
bao mặn nồng lọt kẽ nhánh tay măng
tôi cúi mặt vờ tin mình tỉnh táo
khi trái tim gắng gượng giữ thăng bằng

nuốt vào trong nỗi niềm mưa tiễn nắng
hoàn trả nhau về cái thuở chưa nhau
giai điệu nào nấc khan chùm dấu lặng
tột cùng buồn hồn chẳng biết đang đau!

Nguyễn Đăng Trình

ĐÔI MẮT KIÊN GIANG

Có phải là duyên hay định mệnh
Phút đầu tiên đã lụy dưới tay người
Quả đất này có ngừng xoay phút đó
Cũng không làm chậm nhịp trái tim tôi

Con nước đêm rằm chảy qua Vàm Cống
Chuyến phà khuya dài thêm nỗi mong chờ
Về nơi em chỉ muốn đi con đò nhỏ
Để sau lưng mình nghe tiếng sóng xuôi theo

Tình là dây oan sao ai cũng buộc
Dẫu ngày mai không đi hết con đường
Từ xưa vẫn biết yêu là khổ
Thêm một lần tôi chọn lấy đau thương

Thêm một lần cho tôi quỳ xuống
Nâng bông hoa hôn lên cánh tươi hồng
Đời còn có đôi mắt hồ thu biếc
Để tôi về chết đuối giữa mênh mông

Ngày xin được dài thêm ra chút nữa
Và đêm ơi đừng vội sớm trăng tàn
Mai xa cách tôi lấy gì giữ lại
Nơi mảnh tình sông nước của Kiên Giang

Hành lý xếp vào chỉ là thương với nhớ
Chuyến xe về một bóng đơn côi
Cho tôi mượn chút hồn Rạch Giá
Để bàn tay bớt lạnh phút xa người…

MAI VIỆT