Cái Bánh

(Ngày 21-10-2013, chiếc máy bay ATR 72 của Vietnam Airlines (VNA) thực hiện chuyến bay số hiệu VN 1673 từ Hải Phòng đi Đà Nẵng đã rơi mất 1 bánh ở phía trước ngay trên vùng lũ!)

Nước réo ầm ầm bên dưới. Thằng Bi run lẩy bẩy. Từ hôm qua gói mì tôm sống cuối cùng đã được bẻ ra chia làm bốn và sáng nay cả bốn người đói lả và lạnh cóng nằm phủ phục trên mái nhà. Bầu trời thấp, nặng mây đen như báo hiệu những cơn mưa điên cuồng sẽ tiếp tục trút nước xuống. Gần cả xóm đã được dời đi từ ba hôm trước. Lúc đó mấy người mặc áo mưa dày, đội nón cối có hứa là sẽ quay lại ngay lập tức để đón những người còn lại nhưng qua một đêm mưa như trút nước, nước dâng càng cao hơn mà vẫn chẳng thấy ai quay lại, cho đến hôm nay, hình như họ đã bị bỏ quên!

Thằng Bi rướn người, quờ tay xuống cố khum bàn tay lấy một chút nước vả vả vào đôi môi khô nứt. Bác Quyết, bác Nhân và chú Hùng gần như chỉ còn sức bám tay vào những viên ngói cũ để khỏi rơi xuống dòng nước lạnh. Bác Quyết thì thào “Cháu lấy cái nón… cái nón cối múc cho bác ít nước, bác đói quá”. Bi nhìn quanh, chẳng còn thấy vật gì xung quanh trên mái nhà. Những cơn gió đêm qua đã thổi bay tất cả. Nó cố trườn người về phía lỗ thủng, những viên ngói dịch chuyển dưới thân hình quắt queo của nó. Bi đã trườn được tới cái lỗ trên mái, thò đầu nhìn xuống nơi mấy đêm qua cả bốn người nằm co quắp vì lạnh và đói trên những thanh gỗ lót trên các kèo nhà. Phía dưới là dòng nước trắng nhờ nhờ đầy rác rưởi trôi nổi và cuốn tròn, xoáy ra phía các cửa giờ trống hoác. Không còn thấy bất cứ vật dụng nào trên các miếng gỗ họ nằm. Chắc đêm qua, họ đã làm rơi hết xuống phía dưới mà căn nhà nơi họ trú ngụ, dù được xem là vững chắc nhất vùng cũng chỉ còn lại mấy vách tường. Cơn lũ dữ, ngay từ ngày đầu đã làm bật tung mọi cánh cửa và cuốn tất cả vật dụng đi theo, căn nhà gần như chìm ngập trong nước, và cả bên trong lẫn bên ngoài chỉ có rác và các cành cây gãy trôi vùn vụt theo dòng nước. Không tìm thấy vật gì có thể đựng nước, thằng Bi ráng hết sức lực còn lại, rướn người ngồi dậy, tìm cách leo xuống sát mặt nước. Nhờ nhỏ người, nó cũng đặt chân sát mặt nước và ráng hết sức kêu lên: “Các bác lại gần đây, cháu dùng tay hớt nước lên”. Ba người đàn ông có lẽ không khát nhưng cơn đói và lạnh làm họ thấy cần có nước, cùng cố dịch người về phía lổ thủng nơi thằng Bi ló nửa thân lên. Nó gỡ thêm vài viên ngói ném xuống bên dưới, cố dùng tay hớt nước lên cho từng người. Mấy ông già cựa quậy, cố há miệng, le lưỡi hớp từng giọt nước, thân hình họ quắt queo, áo quần đã bắt đầu rách, da thâm lại như da trâu, đã có những vết loét, cả ba cái miệng đều thều thào “đói, đói quá, chết mất thôi”.

Bi dừng tay vì mệt. Nó leo lên mái nhà, nằm sát bên ba người đàn ông lớn tuổi. Bụng nó quặn đau vì trống rỗng. Nó nghe thân thể mỏi nhừ và cảm thấy như muốn ngủ nhưng không thể ngủ vì rã rời. Nó nghĩ đến những người thân, những đứa bạn chăn bò giờ không biết ở đâu nhưng chắc không đói và lạnh như mình và các bác bị bỏ lại. Bi không có cha mẹ để nhớ, từ bé nó lớn lên với chú Hùng, cũng sống một mình cuối xóm, giờ đây cả hai chú cháu đều kẹt lại cùng bác Quyết và bác Nhân. Bỗng nó nghe bác Nhân chóp chép miệng: “Ngon thật! Ngon thật!”. Bi ngạc nhiên, mở to mắt nhìn người đàn ông thường ngày bơm xe đầu làng. Rồi bác Quyết cũng rên rỉ: “Ừ, ngon quá, miếng dồi này béo ngậy!”. Thằng Bi nuốt nước bọt ừng ực. Trong trí nó bỗng hiện ra những bữa thịt chó hiếm hoi chú Hùng dẫn nó đi ăn tại quán Mụ Béo khi có chút tiền. Những miếng mỡ chó vàng ươm, khúc dồi thơm phức, mùi riềng ngào ngạt… Nó cũng nằm xuống, nhưng không nhắm mắt mà ngước nhìn bầu trời xám đục như đang thấp dần, chú Hùng của nó cũng lây vào cơn ảo giác vì đói. Cả ba người đàn ông, không, cả thằng Bi cũng bắt đầu nói về những món ngon mà mình từng được ăn, những món mình thèm ăn mà chưa được hưởng, nước dãi họ túa ra ào ạt và thỉnh thoảng tay chân họ co giật…

Không biết mê man bao lâu, bỗng nhiên thằng Bi nghe có tiếng rì rầm như một loại xe gì đó đang tiến tới và lớn dần. Bản năng được sống cũng đánh thức thính giác của những người đàn ông còn lại. Chú Hùng tỉnh trước, thều thào “Máy bay, máy bay!”. Bác Quyết rồi bác Nhân cũng ráng ngước đầu, nhìn về phía trước và há mồm lắp bắp: “Ồ, máy bay, máy bay. Họ đến cứu mình, họ đem thức ăn cho mình”.

Cả bốn người ráng hết sức tàn, nửa nằm nửa ngồi nhìn về phía chân trời. Nơi đó hiện dần ra một chiếc máy bay cánh quạt. Nó bay khá thấp, có vẻ như đang bay tìm họ. Tiếng động cơ lớn dần, lớn dần. Bốn con người ngồi trên mái nhà đói lả sung sướng vì họ nhìn thấy rõ ràng trong khoang máy bay chất đầy thức ăn. Họ cố đưa những cánh tay gầy vẫy vẫy và hét vang: Ở đây! Ở đây!

Và rồi họ thấy, từ trong cánh cửa máy bay, một ông tiên hiện ra, ông vung tay. Một vật thể sáng ngời, thơm phưng phức bay vút về phía họ. Chiếc máy bay lướt ngang đầu. Cái vật đó rơi đúng vào lổ thủng mái nhà. Cả bốn người gào to mừng rỡ: “Ôi bánh! Cái bánh to quá”. Bác Quyết, bác Nhân thì thào: “Ôi, cám ơn đảng, cám ơn nhà nước”.

Hai ngày sau nước rút. Dân làng lục tục trở về. Giữa cảnh tang thương họ tìm thấy thằng Bi và ba người đàn ông chết còng queo trên mái ngói. Họ nằm châu đầu vào nhau. Răng cả bốn người nhe ra như cố gặm vào một cái bánh bằng cao su màu đen.

Không một tờ báo chính thống nào đăng tin về những cái chết bi thảm này. Chỉ có những dòng tin về việc hãng hàng không quốc gia thông báo tìm một cái bánh trước của máy bay bị rơi trên đường bay đầy trục trặc từ Hải Phòng đi Đà Nẵng.

NGUYỄN ĐÌNH BỔN

Advertisements

SAO KHÔNG LÀ HƯƠNG MÙA XƯA

Sao không là hương mùa xưa
Thơm qua đồng mùa chinh chiến
Sao không là buồn sợi tơ
Giăng mờ tình người ly biệt

Sao không là bàn chân nhỏ
Tìm về lối cũ đường quê
Sao không là lời hò hẹn
Những chiều nhạt nắng chân đê

Buồn ơi là ngày tháng mất
Đêm rằm lời nguyện gió bay
Tay bưng củ gừng đĩa muối
Mà lòng đánh mất nồng cay

Thương mẹ suốt đời tần tảo
Cánh cò mang nặng lời ru
Chén cơm khoai nhiều hơn gạo
Vẫn vàng bông cúc chiều thu

Ngày đi ai nề xương máu
Buổi về ai ngại khổ nghèo
Một chiếc lá rừng – nỗi nhớ
Chông chênh cánh võng lưng đèo

Tay làm lại trồng, lại cuốc
Có còn nuôi nổi ước mơ
Sao ta không là ngọn gió
Bay đi khắp bến cùng bờ

Phanrang, III. 1990
Bùi Diệp

GIỌT MÁU NÀO TRÔI ĐI.

Anh em nào như thể tay chân?
Cánh tay ta đưa nhiều ngón cụt
Khi bước đi trên đường đầy gai góc
Máu ứa bàn chân cơ nhỡ ruột…rà!

Anh em nào như thể tay chân
Cánh tay gảy hay là chân cụt
Hãy đi và vẽ những tiếng chuông
Thiên đường của tay chân tù ngục

Những ngón tay bàn chân trong trại mộc
Làm sao cho máu chảy ruột mềm
Giọt máu nào trôi đi nước lã
Có mặt trời ngã giá bóng đêm

Những giọt máu bán mua không mặn
Nên mặt da nhiều lúc cũng ươn hèn
Hớp rượu tàn cũng nghe cay đắng
Có bóng ngày rời rã bóng đêm..

Có tiếng cười lời nói thâm uyên…
Từ trong thân tình xen lẫn dối gian
Thành thói đời ba hoa ngạo mạng
Ta chán chường qua ngõ dã tâm

Tiếng ong ve…nông nổi tình câm..
Ta về đây quanh quẩn… thú cầm
Đâu rồi thuở oanh rờn chiến địa
Có bạn thù xương máu đầm đìa

Đường đi qua có sinh có tử
Dây tử thần đến lược phải xưng danh
Nơi đó một con đường lành dữ
Vạch luân hồi thả xuống chợt mong manh…

Hoa Nguyên

Ẩn dụ

Sương biết gì đâu mà thất
tình rơi chỉ là sương thôi
mưa biết gì đâu mà hận
thù ai mưa cũng tơi bời

Thi sĩ mộng mơ sử giặc
giã từ tình ái sục sôi
bỏng những trái tim thiếu nữ
nhân tình hết thảy mồ côi

Ta như rong thèm rêu dưới
đáy sông thèm ánh mặt trời

Nguyễn Hàn Chung

CHIỀU BUỒN VỆ GIANG

Em xa mùa xanh xưa
Tóc mây sầu gửi lại
Hoa Tình Đầu không trái
Anh một đời hái mơ !
(HOA TÌNH ĐẦU,TTN)

.

Người yêu hỡi! Dòng Vệ Giang thương nhớ
Dòng sông trôi xuôi bên lở bên bồi
Lời thề ước trên cầu xưa trăng tỏ
Nước mang đi! Bờ lở phía lòng tôi!

Bao kỷ niệm đèn hoa lừng trên sóng
Tóc huyền bay thơm sợi quyện má hồng
Đôi mắt biếc chớp long lanh trời mộng
Trong hồn tôi huyền thoại một dòng sông!

Cấm Ông Nghè xưa thiên hạ đồn vang
Hai đứa trẻ yêu nhau đẹp thiên thần
Tên hai đứa khắc rêu mờ đá tảng
Vầng trăng xưa hòa lệ dòng Vệ Giang!

Vầng trăng khóc từ uyên ương gãy cánh
Dòng Vệ Giang chứng tích mối tình đầu
Nghe em đã về khóc sông cô quạnh
Sông lặng buồn! Sông lặng buồn thiên thu !

Tôi trở lại đứng bên bờ dĩ vãng
Chiều mây buồn xõa tóc trắng lòng sông
Đưa tay vãy thinh không trời vô tận
Một linh hồn lạc lõng giữa mênh mông!

Chiều buồn Vệ Giang,chớm thu 2017
TRẦN THOẠI NGUYÊN

Những Dòng Sông Tuổi Nhỏ


*Tưởng nhớ BÙI DIỆP (1963 – 2018)

1.
Mấy ngày mưa liên tục này, bị chứng đau-lưng-bởi-thời-khí-ẩm-ướt hành hạ, cũng làm như thể mình là một đạo sĩ trong truyện Tàu thất chí mà ẩn mình vào mật thất để tịnh tu, tôi nằm nhà đọc lại cuốn tản văn Về Ngang Quán Không của Bùi Diệp quá cố. Nhà thơ/người viết tản văn tài hoa, nhân hậu này, dù với riêng tôi thì chỉ có được vài năm kết giao thật ngắn ngủi trên FB nhưng đã thầm lặng thành bạn vong niên tri kỷ mà tôi vô cùng quý trọng trong giới thi ca, viết lách.
Trong tập tản văn, nhiều lần Bùi Diệp đã nhiều lần nhắc đến dòng sông Dinh đầy ấn tượng ở đất quê Phan Rang của anh. Nhà thơ trìu mến và trân trọng nhận đây là dòng sông tuổi nhỏ của anh, nơi mà “Vẻ thôn dã và hoang dại của bờ sông, đồng ruộng, trảng cát, của nắng gió trời cho luôn gợi về môt không gian quê mùa và thanh bình”(1), hay “Dòng sông quê và buổi chiều đông sẽ ở lại mãi nơi miền ký ức dù đôi chân ta dẫu có đi suốt một đời người cũng không tới tận cùng sông.”(2).

2.
Đúng ra, khi ra đời ở đất biển Nha Trang là cũng gốc quê miềnTrung với Bùi Diệp, nhưng do hoàn cảnh và thời cuộc, bố mẹ tôi bị viên tỉnh trưởng quốc tịch Pháp thời đó ra lịnh tống xuất vĩnh viễn khỏi tỉnh Khánh Hòa, nên mới 2-3 tuổi tôi đã phải theo hai đấng sinh thành tội đồ của mình vào đất Sài Gòn nương thân – cho đến mãi tận ngày nay. Do vậy, tuổi nhỏ tôi không may mắn như tuổi nhỏ của Bùi Diệp là được có một dòng sông ngay nơi mảnh đất mình ra đời – dòng sông thân thương đóng vai chứng nhân rồi để sau này chiếm luôn một mảng vô cùng lớn trong kho ký ức tuổi nhỏ gồm đầy những nỗi vui buồn, những trò vụng dại, những cảm xúc và ước mơ đầu đời hay chuẩn bị vào đời…
Đến thời 10 – 11 tuổi tôi mới được trở lại đất Nha Trang. Đó là vào các dịp nghỉ hè hằng năm, tôi thường được về cả 2- 3 tháng ở nhà bà dỉ ruột nằm ở thôn Phường Cũi, phía đông Nha Trang xưa, sau này là phường nội thành Phương Sài.
Lãng đãng trong trí nhớ tôi là con sông Phường Cũi – một nhánh nhỏ của sông Cái chảy qua cái thôn đông dân lao động, toàn nhà cửa lụp xụp, ngày xưa chỉ được coi là gần như một vạt ngoại ô nghèo nàn của thành phố Nha Trang phồn thịnh. Do chưa có những luật lệ nghiêm nhặt như ngày nay về vệ sinh – môi trường trong khu dân cư nên thời đó trong phường có một vài nhà làm nước mắm, bà con quen gọi là nhà thùng, cứ ung dung tỏa cái mùi khăm khắm của xác cá phân hũy nửa vời trong muối hột vào khắp những lối đi đầy cát hay lát đá xanh trong xóm làng.
Thôn làng bị ô nhiễm môi trường là thế nhưng tôi, cậu bé ngày ấy vẫn có nhiều cảm tình đối với con sông Phường Cũi, dù ở một bên bờ sông từ xa xưa đã có một cái bến cá đầy rác rến và nhầy nhụa bùn sình, quanh năm lai láng nước thải tanh hôi… Sát bên cái bến cá lại có một cây cầu gỗ cũ kỹ, xấu xí bởi được chắp vá bởi đủ loại gỗ mới, cũ hay phế thải. Ngày ngày, bọn tôi cứ quần xà lỏn, đa số ở trần và đi chân không ra cầu chơi, nghịch đủ trò.
Tôi đã thường cùng những đứa trẻ khác mang theo cần câu, mà thú vị nhất là câu cá bóng cát. Đặc biệt khi muốn bắt loại cá này, bọn tôi phải chỏng khu hay nằm mẹp trên mặt sàn cầu, cắm cúi nhìn xuống gầm cầu, đúng hơn là những cây trụ cầu bằng gỗ chìm dưới nước, để cố tìm cho ra những con cá bóng cát bám ở thân trụ. Loài cá có thân mình trắng trong này cứ như dán mình vào cây trụ theo chiều đứng, đầu hướng lên mặt nước, nằm im lìm như ngủ mê, nhưng khi bọn trẻ rê cái lưỡi câu với mồi trùng hay tôm chết đến gần là bập một cái, chúng há họng táp gọn, cứ giật lên là dính, rất hiếm khi sẩy. Bữa nào câu cá được kha khá, bọn tôi làm thêm một trò nữa là lội ra một cái doi cát nhỏ, lau sậy mọc um tùm ở giữa một khúc sông phía dưới Phường Cũi một chút để tìm hái đọt ráng, một loại rau mềm mại, hơi nhớt chút xíu nhưng ngọt ngon cực kỳ. Cá bóng cát đem về cho mấy chị kho tiêu xong xuôi rồi đem đọt ráng luộc ra chấm thì nồi cơm lớn cỡ nào cũng hết sạch bon!
Cũng tại cây cầu gỗ, sau khi tắm sông đả đời, bọn tôi hay đứng hay ngồi thòng chân xuống nước, căng mắt nhìn xuống dòng nước chảy để cố gắng phát hiện một loài cua, còng nhỏ bằng hai đầu ngón tay – tên địa phương là con rạm – trôi dật dờ gần mặt nước, nhiều nhất là vào lúc nước lớn. Rồi những đứa bơi, lặn giỏi nhảy ùm xuống, lặn một hơi là tóm được mấy chú rạm ham rong chơi theo dòng chảy này. Rạm bắt được nhiều thì về nhà đưa các chị ram với chút mỡ để thêm món mặn ăn cơm, còn được ít quá thì quăng trả lại dòng sông. Bọn nhóc chúng tôi đã chơi trò bắt rạm với đủ thứ cảm xúc háo hức, thích thú, thất vọng, hờn giận … Chỉ vậy thôi nhưng sau này, khi hơi lớn là ngồi lớp đệ tam C, chơi thi văn đoàn, tôi đã nhớ lại những cảm xúc hồi đi bắt rạm ngày ấy, cộng thêm nỗi thất vọng bãng lãng trong mối tình đơn phương buông thả về phía một cô bạn học, tẩn mẩn viết thành một bài thật ngắn, kiểu nửa tùy bút nửa nhật ký mà tôi nghĩ mãi mới ra cái tựa “Như Rạm Trôi Sông”.

3.
Song song với con sông Phường Cũi ở miền quê Nha Trang chỉ chiếm cứ những mùa nghỉ hè các năm đầu trung học của tôi xưa kia, sông cầu Bông ở Sài Gòn, quê hương thứ nhì của tôi, mới là dòng sông ghi dấu cả một thời niên thiếu của tôi.
Những năm đầu thập niên 60, cậu nhỏ dân nhập cư đất Sài Gòn là tôi chỉ nghe nói cầu Bông bắt qua rạch Thị Nghè ở vùng hạ lưu đổ ra sông Sài Gòn, chứ chưa nghe nói con rạch quanh co này thuộc hệ thống “kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè” như sau năm 1975. Thời đó, do nhà ở đường Trần Quang Khải quận 1, coi như ở giữa khu Đakao -Tân Định, nên tôi cùng bọn trẻ hàng xóm mò xuống chơi ở cầu Bông (thuộc Đakao) là khá gần. Bọn tôi thường vô cái xóm nhỏ bên sông, có ngõ hẹp dẫn xuống gẩm cầu để lội bùn tìm bắt những con cua càng đỏ hay rượt những con cá thòi lòi. Nghịch phá vậy thôi chứ cả bọn không hề có ý săn bắt hai loài này để đem về ăn.
Rồi trước tình hình tốt đẹp của nước sông cầu Bông thời 1960-70 là còn sạch, còn rõ rệt có màu trong xanh, chứ chưa hề đen thẳm và hôi hám đến mức bị kết luận là ô nhiễm nặng như vài năm sau 1975 (chỉ đỡ đen, đỡ hôi hơn từ năm 2012 khi khởi động trạm bơm thu gom nước thải ở lưu vực kênh Nhiêu Lộc-Thị Nghè, sau đó đổ ra sông Sài Gòn), nên dân Đa Kao – Tân Định, con nít người lớn gì thời đó nếu thích cũng đều có thể tắm sông thoải mái, tắm giờ giấc nào cũng được mà không hề sợ ngứa da hay sinh ghẻ. Có điều là do sông cầu Bông, Sài Gòn sâu hơn sông Phường Cũi, Nha Trang, mấy đứa biết bơi vừa đủ như tôi ít dám ra giữa dòng, lại càng không dám a dua mấy đứa bơi lặn giỏi, tình cờ thấy ghe máy chở mía chạy ngang cầu là nhảy ùm xuống nước bơi ra thật lẹ, lặn một đỗi đến sát be ghe là trồi lên, êm ái rút vài cây mía rổi bơi sãi vô bờ.
Sau biến cố tháng 4-75, giống như bao người dân Sài Gòn khác, tôi – gã thiếu úy học tập cải tạo về – không thể tránh khỏi đủ loại khó khăn, thăng trầm trong cuộc sống. Một dạo rất bất đắc chí, tôi hay nhậu ở nhà một người bạn cũng SQ học cải tạo về, kiểu nhà nửa nhà sản nửa nhà gỗ dựng ở sát mé nước sông cầu Bông. Trong đám bạn nhậu thường có một anh đã hơn 70 tuổi, tên Robert Hạnh nhưng mọi người cứ gọi tắt “anh Be”, cựu SQ cảnh sát áo trắng, nguyên là một công tử con nhà giàu cố cựu lâu đời ở vùng Đa Kao. Anh Be kể rất rành rẽ, thú vị về lịch sử hình thành và phát triển của vùng Đất Hộ, một tên khác của Đa Kao. Riêng về rạch Thị Nghè chảy bên dưới cầu Bông, anh xác nhận là ngày xưa nước con rạch rất sạch, trong veo và có nhiều cá – tất cả là nhờ nước thủy triều ra vào từ sông Sài Gòn rất thông thoáng và dân còn thưa, có xả rác và nước thải xuống rạch thì cũng còn ít, không đáng kể.
Anh Be kể là hồi còn thanh niên, anh đã cùng vài thằng bạn rất chịu chơi, cùng “diện” quần tắm vải rằn ri, ra đứng trên cầu rồi bắt chước Johnny Weissmuller, tài tử Mỹ điển trai đã thủ vai chính trong các phim về Tarzan ban đầu (thời 1932), hú một tiếng dài rồi lao mình xuống sông, bơi xuôi về cầu Thị Nghè, hướng ra sông Saigon… Tôi đã mê mẩn nghe anh Be kể truyện. Một đàn anh, một người Sài Gòn cố cựu đã cho thấy cái sông cầu Bông hiền hòa, rồi kênh nước đen đầy tai tiếng Nhiêu Lộc – Thị Nghè xem vậy mà cũng đã từng toát lên những nét hoành tráng, kỳ vĩ, hình ảnh của chuyển động thủy triều cùng sông lớn, một nét vẽ thêm rất có duyên cho bản địa đồ Sài Gòn.

4.
Người xưa từng thở dài khi nhận ra thời gian luôn qua nhanh, chẳng khác “bóng ngựa non chạy lướt qua cửa sổ”. Thấm thoát đã gần 70 năm trôi qua kể từ lúc tôi được ba mẹ bồng bế, rời bỏ đất quê Nha Trang lánh vào đất Sài Gòn làm dân nhập cư. Vừa qua, vào một lúc an thân tĩnh tại ở đất Sài Gòn đầy bao dung này mà hoài niệm quá khứ, tôi đã bắt gặp câu “Dòng sông thời gian trôi chập chờn trong tâm thức kẻ xa quê là không có tuổi” (3) thật ý nhị của Bùi Diệp. Dòng tản văn thật ngắn này cho thấy nhà thơ đã cảm nhận sâu sắc về chiều kích thời gian/thời tính “không có tuổi” của những con sông ngọt dịu thương yêu, chất ngất kỷ niệm một khi chúng có mặt trong tuổi nhỏ, thời niên thiếu của mỗi đời người chúng ta.

PHẠM NGA
(mùa mưa 2018)

(1) Trang 23 tản văn “Về Ngang Quán Không”, Bùi Diệp, NXB Văn Hóa Văn Nghệ 2017.
(2) Trang 38 sách đã dẫn.
( 3) Trang 37 sách đã dẫn.

LẶNG LẼ MÙA ĐÔNG…

Rất lặng lẽ – một mùa đông sắp hết
Gió giao mùa làm cái lạnh se môi
Cũng lặng lẽ – một mùa xuân sắp đến
Đến hay đi vẫn nhịp chảy dòng đời

Ta xuống phố, nhìn tóc dài, tóc ngắn
Có gì đâu ? Khi nhìn chậm một người
Như giọt rơi đầu ngày – cà phê đắng
Bỗng thấy mình trở lại tuổi đôi mươi

Đốt điếu thuốc cho cay xè đôi mắt
Áo hoa vàng khi nắng rớt trên vai
Thời tuổi nhỏ ta lao vào đuổi bắt
Một cái gì không có ở tương lai

Cô hàng nhỏ – ly cà phê uống vội
Em thấy gì trong nắng mới mùa xuân
Ngơ ngác làm chi – cho ta thêm tội
Tóc thề chi ? Ta lạc giữa muôn trùng

Khe khẽ nhé, mùa xuân về rất chậm
Bên góc đời ta ngồi nhặt hoa rơi
Cứ nhầm tưởng tim mình như tĩnh vật
Nào hay đâu vẫn rung động tuyệt vời.!

THƠ TÌNH…

Bài thơ ta viết từ lâu lắm
Muốn đọc cho nàng nghe thất kinh
Nghĩ ra nàng vẫn còn bên Mỹ
Thôi để riêng ta giữ một mình

Bài thơ ta viết từ lâu lắm
Muốn gởi cho nàng tán tỉnh chơi
Nhưng thôi nàng đã quên lời Việt
Ta viết mình xem cũng đã đời

Kỳ quá – thơ tình sao khó viết
Ru hoài hát mãi – nhảm gì đâu
Thôi nhé – sau nầy ca vọng cổ
Cớ sao hát mãi Lý Qua Cầu…

HỒ CHÍ BỬU

Gió Thổi Mây Bay

Gió thổi mây bay về Bắc hết, miền Nam thôi vậy hết mong mưa! Cây xanh. nắng quá, đang màu xám, mai mốt rồi đây lại xác xơ…

Xơ xác, xác xơ, gì nữa nhỉ? Quạnh hiu, hiu quạnh, bức tranh chiều. Và chàng họa sĩ tay cầm cọ, ngó lá dừa, xanh, chút, bấy nhiêu…

Chút là dừa xanh nhớ xóm làng…bây giờ phố xá mọc nghênh ngang. Bây giờ mà có về quê cũ, chắc thấy mây về Bắc, bỏ Nam?

Đời đổi, đổi đời, sông suối nghẹn, chực chờ cơn lũ đất trôi đi. Đồng khô, hồ cạn, ngày hôm trước, máy ủi phăng phăng, núi phẳng lì…

Xây dựng gấp mười hơn quá khứ…để đời sau ngó, thấy mà quên: Trường Sơn xẻ dọc đường mưa nắng, những nụ hoa rừng không có tên…

Thiên hạ người ta nhà thấp tầng / sao văn minh cứ mỗi ngày dâng / sao tình thương mến chia đều khắp / con chó, con mèo cũng có ăn!

Thiên hạ người mình nhà ngút ngút! Nhà lầu Lê Trực đứng che lăng. Xác Hồ Chủ Tịch nằm trong xó, ba góc Ba Đình, thật bất nhân…

Nhìn mây về Băc, tôi liên tưởng: người hết lòng nên mây viễn vông? Mây tụ thành mưa trên phía Bắc. Mưa trào thành lệ, phía Nam đong!

*

Vẽ bức tranh chiều, tranh thủy mặc, mà mưa không có, mực đang khô. Anh chàng họa sĩ vân vê cọ, chàng nhớ mơ hồ vạt áo mơ…

Áo bà ba với thuyền tam bản…ba cõi sơn hà Mẹ bế con. ngơ ngác chạy đi tìm chợ họp. Chợ tan! Trời lúc đó, hoàng hôn…

Trần Vấn Lệ

Nếu Để Chia Tay Thì Đừng

Khi nàng bỏ đi rồi, trong suốt nhiều năm tôi mơ chỉ một giấc mơ. Là thấy nàng trở về. Những cơn mơ trống hoác nhưng chật chội hình ảnh nàng và những giọt nước mắt rơi không thành tiếng. Làm sao để kiểm soát được việc nhớ tới một người. Lại cũng không thể ép bản thân thôi đừng nhớ về người đó. Tôi không biết phải bắt đầu câu chuyện như thế nào, chỉ biết rằng để trải nghiệm một nỗi đau mà con tim đang chín đủ đau buồn, tôi đã phải thức trắng nhiều đêm. Trong căn nhà ba phòng, con gái tôi và đứa cháu ngoại chiếm hai phòng, còn tôi một phòng. Gần 3 giờ sáng, ai cũng ngủ chỉ mình tôi thức. Con chó ngủ bên cạnh sofa, lâu lâu nức lên, dường như nó cũng nằm thấy một giấc mơ? Ai đó nói rằng văn chương đi ra từ cuộc đời. Và như vậy thì tôi sẽ ghi lại một vết thương chưa kịp kéo da non và mới vừa đây mùa đông đã trở nên lạnh vô cùng. Tháng mười hai sắp bắt tay với tháng một. Nơi đầu hồi trước nhà, tiếng gió thổi lạnh căm như một hơi thở vừa rụng qua vai. Một phía của bình minh chưa đến. Nhưng một phía kia là bóng tối và tình yêu muốn nhờ gió đêm gởi đến cho nàng. Người đàn bà đang ở thì quá khứ…

Góc đường 24 và Guadalupe, đối diện cổng ra vào trường Đại Học Austin, Texas (UT) là quán cà phê Medici. Hương vị không đậm đà bằng Starbuck’s, có mùi giống như cà phê Pháp, nhưng chỗ ngồi thoáng và nhìn được ra đường. Có Wifi và giá cả thì vừa phải, vì khách uống đa số là sinh viên nghèo. Một điểm khiến tôi hài lòng là đối diện ngay với trạm lên xuống của nhiều chuyến xe buýt chạy về hướng nhà tôi. Nếu cần phải làm việc tại đây mà không bận tâm về phương tiện di chuyển, tôi có thể sử dụng xe buýt mỗi ngày. Trong cái góc êm ả nhìn ra con đường dập dìu xe cộ và những thanh niên thiếu nữ qua lại từng phút giây, đời sống sẽ trở nên chật chội vì hạnh phúc là một điều có thật và lâu dài. Nó làm cho người ta có cảm tưởng không buồn và không một mình. Chỉ cần đứng lên khỏi chiếc bàn đang ngồi, và ly cà phê trước mặt, bước ra ngoài, là tôi đã chạm mặt với hạnh phúc. Một lần như vậy, tôi thấy nàng.
Khi nàng quay đầu nhìn lại, từ một trạm xe, tôi thấy tôi bâng khuâng một góc đời thơ dại, nơi những tình yêu đuổi theo nhau miệt mài. Ánh nắng cuối ngày, xao xuyến hơn bao giờ. Có những con đường mà người ta đi hoài không hết, nhưng bất chợt vừa dừng lại, đã chạm đến hoàng hôn. Nàng đứng đó, dáng điệu cũng lặng lẽ mơ hồ như trụ đèn đường và con phố chiều nay có mùa đông rất lạ.

Bờ đường lác đác những chiếc lá vàng từ mùa thu. Một băng ghế ngồi bằng sắt cong uốn dợn và một thùng rác công cộng lạnh như chưa từng. Vài hình vẽ bằng sơn xịt do những ai đó nổi loạn phá phách, đậm màu trên những viên gạch đầy rét lạnh căm.

Chiếc áo thun màu tro và chiếc jupe đen ôm sát. Một đôi giầy da đen cao cổ gần đến đầu gối. Bên ngoài cùng là chiếc áo jean bạc màu nhẹ tênh. Mái tóc nàng cột về phía sau và hai dây headphone cắm trong hai lỗ tai làm tôn vinh ngấn cổ trắng ngần. Dáng điệu vừa lơ đãng vừa khép kín và đôi vai như chưa từng gánh tròn những bão giông. Những con đường đuổi theo nhau cùng những hàng cây phong trần bụi bặm. Vài người đứng chờ xe giống nàng, nhưng hình ảnh nàng vượt lên, nổi trội. Nàng giống như mới vừa từ khuôn viên trường đại học bước ra. Nhưng hình như dáng vẻ của nàng phản lại điều đó. Nàng không giống với những sinh viên chung quanh vì vẻ bụi đời trên mặt cùng đôi mắt trong suốt. Và những chiếc lá rơi bên đường chiều như giải thích về sự cô độc. Chiếc túi đeo lưng màu cà phê nhẹ tênh, đến nỗi tiếng gió mùa vượt qua vai nàng mất hút. Tình yêu cũng chưa hề?

Những dấu giầy chưa bao giờ biết nói, nhưng sao rộn ràng tín hiệu? Vạt nắng tự thuở nào vẫn giấu biệt trong nó hơi ấm một thời. Tôi thấy mình yếu đuối và hụt hẫng vì lát nữa đây sẽ mất nàng.

Lần đầu tiên gặp nàng như vậy và không có được một nụ cười.

Nhưng hình ảnh đó cứ mãi theo tôi trên đường về. Thì ra, giữa những âm điệu xô bồ, hỗn loạn của cuộc sống vẫn còn có những khoảng lặng đẹp đẽ và bình yên. Lần thứ nhì gặp nàng khi nàng đứng giơ tay mời mọc khách qua đường ghé thăm gian hàng bán hoa của nàng. Nói là gian hàng hoa cho có vẻ trịnh trọng, thực ra đó là những giỏ hoa đặt tạm bợ trên một ngạch cửa từ một shop bán đồ trẻ em có tên là Fanny và Marius. Tôi ái ngại nhìn những đồ vật bày biện. Nhưng đôi mắt xanh của nàng ngầm nói với tôi là không cần ở ai lòng thương hại.

Có vài chậu hoa màu sắc lạ lùng không biết nàng lấy từ đâu nhưng rất đặc biệt, giống như con người nàng. Một tay nàng đang cầm những xấp giấy màu có in hình một trang trại, có vẻ như khu vườn thì đúng hơn. Những luống hoa mọc ngay hàng dưới ánh nắng nhấp nhô. Một ngôi nhà dường như hiện ra để cầu chứng sự hiện hữu của nó với cuộc đời vội vàng. Nàng nói, với một giọng tiếng Mỹ không lưu loát:

– Mời ghé lại xem, các bạn ơi…

Trong này quán cà phê, tôi tần ngần nhìn ra. Nàng mang dáng vẻ không lo âu, cũng không trì kéo. Nàng vừa hồn nhiên, vừa dạn dĩ bên phố đầy người ngược xuôi và ồn ào . Giống như một kẻ chào mời mùa xuân đồng thời cũng gõ vào trái tim người nghe những âm điệu buồn.

Không biết sao, những điều như vậy làm tôi chạnh lòng. Tôi thấy những tháng ngày cô độc không biết làm gì trước một vùng biển bao la tưởng như không phải là của mình, dù tôi đã lớn lên từ đó.

Những năm tháng lang bạt và phiền muộn biết bao. Bây giờ, dù bình an trên xứ người, nhưng tôi không thể nào quên được ngày xưa. Nơi thành phố biển lớn lên mỗi ngày cùng những cơn mưa nhỏ xuống đời day dứt. Tiếng mưa làm trôi dạt mùa hè ra cửa. Trôi dạt những con thuyền ra khơi. Mặt nước rộng mênh mông và chất đầy nỗi sợ. Đàng sau lưng là bảy sắc cầu vồng.

Từ trên những góc đường của phố cũ, mỗi ngày, các chiếc loa phóng thanh phát đi những lời phù hư, làm ám ảnh tôi suốt nhiều năm như một ký ức sai lạc nẩy mầm. Những giấc mơ xa lạ trên xứ người và những tháng ngày để rơi cơn tỉnh táo, tôi giấu Việt Nam trong lòng. Như giấu một tình yêu ngỡ ngàng, bão gió.

Mười tám năm sống buồn bã nơi quê nhà. Những tiếng ve kêu ran cả một mùa không ai hay. Tôi rời Việt Nam lúc chương trình định cư đang thành hình. Tôi mang những tiếng ve ướt đẫm như lệ đời sang Hoa Kỳ. Những bước đi không đành mà nhìn lui thì không muốn.

Bây giờ, trước mắt tôi là một hình dáng mong manh nhưng đậm màu một nỗi buồn thật sự. Tháng mười hai chạy đuổi theo mùa đông, cùng tiếng gió rít ngoài mặt cửa quán. Có đôi lúc vì công việc tôi phải về khu Downtown. Những đêm muộn màng lái xe trở về. Thềm đêm lấp lánh ánh đèn như những ảo giác.

Lần gặp thứ ba, kể từ hai tuần trước, cũng vẫn chỗ cũ, nhưng lúc này nàng có thêm một chiếc mũ len trùm đầu. Trời lạnh đột ngột từ chiều qua. Dáng cô độc và bất cần vẫn còn. Nàng nói, sau khi quan sát tôi từ đầu đến chân:

– Rảnh nhỉ?

– Sao cơ?

– Làm ơn đừng bám theo tôi nữa để tôi bán có được không?

– Xin lỗi, tôi không thể…

– Tại sao?

– Vì cô là người giới thiệu hoa và tôi là người thưởng lãm. Vì tôi thích cái dáng vẻ của cô.

– Điên quá. Ông có hối tiếc cái thời gian phải bỏ ra như vậy không?

– Không bao giờ. Tôi chỉ hối tiếc nếu cô không chịu nói với tôi về cái gì đó. Một cái tên chẳng hạn…

– Ông biết gì về hoa và màu sắc của hoa? Nàng đốp chát.

– Không nhiều lắm. Nhưng tôi biết cô chọn lựa hoa như một người vừa có một trải nghiệm buồn bã. Cái màu sắc dữ dội nhưng cuốn hút cuộc đời.

Nàng cười. Nụ cười không rõ rệt nhưng rất tươi, làm ấm lòng. Trời đổ mưa lất phất tình cờ. Chung quanh không có chỗ nào để núp tránh. Ngoại trừ quán cà phê tôi vừa ngồi. Một quán bán Pizza nằm kế.

– Tôi phân vân không biết có thể mời cô đi uống nước vào một ngày nào đây?

– Tại sao không hôm nay luôn?

Nàng giống như một người hà tiện lời nói. Nàng ôm xấp Progam trước ngực, theo tôi chạy vào quán. May mắn còn chỗ trống. Quán cà phê nhưng cũng có bán bia, sau 3 giờ chiều. Tôi gọi cho tôi một chai bia còn nàng thì một ly Espresso nóng.

– Ông đang làm việc ở Downtown hả ?

– Chút ít thôi. Tôi vừa mất việc làm nhưng cũng vừa tìm thấy việc làm. Đang bàn luận giá cả và hợp đồng. Vì dù sao cũng đang trong 6 tháng Relax.

– Đúng là dân miền Nam.

– Tại sao?

– Vì thất nghiệp mà còn chơi bảnh. Nàng nhún vai.

– Đó là thói quen chớ không phải bốc đồng. Mà đã là thói quen thì không thể từ bỏ.

Mưa ít, nhưng pha trộn rất nhiều giá rét. Thời tiết lạ lùng vì mùa này rất ít khi mưa. Con đường trước mặt chùng xuống và buổi chiều ảm đạm giống như sắp tối. Những dòng nước run run trên mặt kiếng rồi lăn thành từng dòng, tiếc nuối.

– Có một màu hoa nơi những chậu hoa của cô tôi chưa từng biết tên. Nó ám ảnh tôi khi thấy nó.

– Nó màu gì và ra sao?

– Màu tím đậm. Và nhỏ bằng đầu ngón tay…

– Đó là mạc lan.

– Chúng giản đơn nhưng đẹp. Giống cô.

– Coi chừng lầm. Tôi không có giản đơn.

Nàng nói, môi đang cong lại vì chạm vào ống hút. Đôi mắt xanh đừng hư ảo nhé, đêm nay tôi sẽ về tương tư.

– Quê của ông ở đâu? Việt Nam?

– Vũng Tàu.

– Còn tôi Đà Lạt. Hoa mạc lan mà ông vừa nói, ở Đà Lạt tràn đầy.

– Tôi không biết ở Mỹ cũng có loài hoa này.

– Có chứ. Sao ông không hỏi tôi đã có gia đình hay chưa? Để khỏi hối hận khi lát nữa chia tay với tôi?

– Tôi định hỏi mà không dám. Tôi thích sự lãng mạn.

– Sự lãng mạn của ông vừa tàn phá buổi chiều như hôm nay. Tôi có chồng, và chồng tôi vừa qua đời.

– Xin lỗi.

– Trong hoàn cảnh này, lời nói tệ nhất là lời xin lỗi. Anh ấy chưa vào công dân Mỹ. Vừa mới mất vì uống rượu lái xe… Trong khi tôi cũng sắp hết hạn di trú tại đây…

Nàng nói về người bạn đời, như nói về một người qua đường nào đó. Nàng tóm gọn cuộc đời hiện tại của mình một cách suôn sẻ, không vấp váp, chồng chềnh. Bây giờ người hà tiện lời nói không phải là nàng, mà là tôi. Tôi nhìn mê đắm trên đôi môi màu phượng của nàng, cảm giác những đau đớn ùa về, không phải cho tôi mà là cho nàng.

Đâu đó có tiếng vang động của còi hụ ngoài kia. Tôi hay nàng tự huyễn hoặc về những ngôn từ? Và làm sao lý giải về một hoàn cảnh đi gần đến thảm kịch?

Mưa ngớt và đường chiều đông người trở lại. Uống vừa dứt ly cà phê của mình nàng vội vàng đứng lên. Cám ơn tôi ly cà phê và rón rén những bước chân như một người vừa đi trên những vũng lầy hấp hối. Tôi nghĩ nàng trên dưới ba mươi tuổi. Người đàn bà ba mươi tuổi không cần sự lãng mạn. Họ chỉ muốn sở hữu.

– Chúc ông sớm tìm thấy việc làm.

– Nhưng tôi chưa biết tên của cô.

– Đâu cần. Chúng ta qua đường, gặp gỡ. Cùng trú mưa và cùng uống cà phê. Bởi vì chung quanh đây không có ai và chỉ tôi và ông là Việt Nam. Cám ơn những lời khen tặng về mấy chậu hoa.

Khi người đàn bà đi, điều gì đó còn ở lại. Chẳng hạn như mùi hương từ thân thể. Chẳng hạn như ánh mắt lấp lánh nhưng phảng phất những mây trời. Mãi sau này, tôi mới biết không phải mây trời mà là… khói thuốc.

Nàng không đứng bán những chậu hoa sau ngày ngồi quán với tôi. Tôi không biết tung tích nàng. Giống như một cơn mưa rơi xuống tình cờ, người đàn bà đó không còn hiện hữu? Nàng đi về đâu khi mắt vẫn nhìn lơ đãng phía trước? Tôi không tin nàng biến mất dễ dàng và nàng sẽ tồn tại trong một số phận ấm áp. Sự gặp gỡ giữa tôi và nàng, dù là một giấc mơ, nhưng tôi muốn đó là một giấc mơ tỏa sáng.

Tôi vốn không để ý đến người khác. Nhưng càng ngày tôi càng tò mò về nàng.

Một đêm, tôi về trễ hơn mọi lần vì gặp gỡ những người chủ hợp đồng và ăn tối cùng họ. Gần mười hai giờ khuya tôi còn lang thang trên đường Congress. Chỗ đậu xe cách nơi đây vài Block đường. Những cảnh trí và màu sắc óng ả từ các cửa tiệm, hàng quán nối tay nhau bất tận, khiến đêm dường như dài ra, cuốn hút từng bước chân bộ hành. Đêm lạnh như cả một thành phố được ủ bằng nước đá. Tôi biết tôi sẽ khó lòng quay lưng lại với thời tiết tuyệt diệu của một mùa Lễ lạt. Những thềm đá nghe trên lưng nó tiếng gió và mưa bụi thầm thì. Một cây Giáng Sinh khổng lồ được đặt trước điện Capitol. Nó sẽ nằm yên và khoe vẻ diễm lệ của nó suốt nhiều tuần lễ, cho đến qua Tết Dương Lịch. Những chiếc taxi quanh co thả những khách đêm xuống từng ngưỡng cửa tiệm đêm và ai đã thổi tiếng trompet nơi góc đường như một điệu kinh cầu hồn.

Tôi không muốn làm một đứa trẻ để vừa mới đụng tới cái cô đơn mà đã khóc.

Cho đến khi tôi không còn hứng thú để thả bộ thì tôi thấy ai giống nàng. Lạy Chúa. Nàng không phải đang hòa nhập vào đêm và giá rét để hóa thân thành một sứ giả của đường phố, để khua khoắng một tình yêu ngoài trần thế? Nàng đang bé nhỏ và rất mong manh, giống như một người đang phê thuốc. Nàng nửa nằm nửa ngồi trên băng ghế chờ xe buýt. Rất mệt lả và tái xanh.

Có lẽ mọi câu chuyện đều khởi đầu và kết thúc bằng những cơn đau? Và ai đó nói rằng mùa đông là mùa mà người ta cần yêu thương nhất. Nàng đang oằn oại và khốn đốn trong khi tôi không kinh nghiệm để giúp cho nàng. Có một lúc nàng nhìn tôi, không từng biết tôi trên đời. Tia nhìn giống như màu đêm ướt át đậu trên cành mạc lan. Nó sâu và cuốn hút. Phải khó khăn lắm tôi mới làm cho nàng bình tĩnh lại. Nàng nhận ra tôi và lặng im như một người câm. Đêm cựa mình vì những cành lá giẫy giụa trên đường.

– Nhìn đủ chưa? Nàng cắm cẳn. Tiếng nói không muốn thoát ra hai hàm răng nghiến lạnh. Nếu đủ rồi thì biến đi.

Nếu có ngôn ngữ nào diễn tả sự sống sượng và trần trụi của một người đàn bà chắc là lúc này. Giọng điệu nàng lạnh lùng hơn như buổi chiều nào cùng tôi trú mưa. Giá mà có lỗ nào mọc ra bên đường để tôi chui vào trong đó.

Tôi đứng chôn chân bên chiếc ghế nhìn đôi chân nàng co lên (có đôi giầy bốt đen làm chứng và là hình ảnh chưa biểu lộ sự thảm hại từ nàng). Hai tay ôm choàng đầu gối. Chiếc áo Jean bạc màu nửa mặc nửa đắp hờ lên chiếc ngực run. Không đủ đâu vào đâu. Mắt nàng xanh như biển của tôi ngày nào, chưa bão tố.

– Tôi sẽ không biến đi nếu cô không để tôi đưa về.

– Về đâu?

– Về nhà cô hay nơi nào cũng được. Vì tôi không muốn cô nằm đây. Cảnh sát họ sẽ tìm gặp cô và đưa cô vào một nơi, mà dù đêm có bao la cách mấy, cô cũng sẽ thấy chật chội. Cô chịu không?

Hơi thở nàng yếu ớt. Không phải là gió mùa nhưng đủ làm cho đôi môi run kia vỡ òa bao điều quen lạ? Tôi nghe tiếng gầm gừ trong miệng nàng. “Tôi không về nhà”.

Tôi không có thời gian để tìm đến bãi đậu xe của mình, vẫy vội một chiếc taxi trờ qua. Nói đại một tên của khách sạn nào đó. Dù sao tôi cũng không về nhà đêm nay. “Đồ điên”. Đó là tiếng cuối cùng mà tôi nghe được trước khi đặt nàng gọn gàng trong xe. Những sợi tóc thấm đẫm sương mù, bện vào nhau ép sát hai bên thái dương. Nàng ngước mặt nhìn tôi. Tia nhìn trong suốt.

Mọi hoàn cảnh trên đời liên kết với nhau và không cần những lý giải. Đêm qua lâu trong vùng Downtown nhưng tiếng bánh xe vẫn liền lạc đuổi theo dưới đường. Tôi nghĩ về một tình huống trớ trêu khi tôi phải đối mặt với nàng trong lúc này. Trên chiếc giường mênh mông nàng nằm yên như một nàng công chúa ngủ trong rừng. Tôi kéo chiếc chăn len dầy đắp cho nàng và định bụng sẽ xuống quầy rượu kiếm vài ly bia uống, vừa chờ sáng. Vừa không muốn nhìn một người đàn bà ngủ.

Quầy rượu vẫn còn lác đác vài dân nhậu đêm. Chúng tôi không quen nhau nhưng mạnh dạn cụng ly và chúc nhau sức khỏe dù ai cũng biết lời chúc vô nghĩa và phù phiếm hơn bao giờ.

Càng uống, tôi lại càng không thể không nghĩ về nàng. Tôi nhớ lại dáng điệu vừa lơ đãng vừa khép kín của nàng. Và nỗi đau nào vừa qua? Tình yêu hay sự đau khổ đã làm nàng gục ngã? Trong khi lòng tôi dấy lên một cảm xúc không muốn rời xa nàng. Phải mất bao nhiêu lâu, bao nhiêu tháng ngày để người ta nuôi trồng nó? Vì nếu đã là cảm xúc thì khó tìm được kết thúc và bắt đầu…

Khi hết vại bia thứ ba thì tôi cảm giác không yên tâm khi nghĩ nàng đang một mình. Tôi trở lên phòng. Có một chút bình minh mờ nhạt hiện ra sau một bức rèm nơi tiền sảnh. Một đêm không ngủ nhưng tôi không cảm giác mệt mỏi. Không thấy nàng nằm trên giường. Có ánh đèn dọi ra từ phòng tắm và tiếng nước chảy. Giống như tiếng đời câm trôi sóng sượt theo những cơn mưa mù lòa. Nàng hiện ra sau một thời gian dài dễ chừng làm tiêu hao mấy chục gallon nước của khách sạn. Rồi ngạc nhiên khi bước ra nhìn thấy tôi. Chiếc khăn tắm choàng sơ sài trên người làm nàng lúng túng. Trong một thoáng tôi cảm nhận mùi hoa Lavender trên tóc nàng.

– Thật là một đêm ngu ngốc phải không?

Nàng nói và ngồi yên ả trên giường. Hai tay nàng thủ trước bụng. “Mấy món quần áo của em đã lấm lem từ tối qua.” Nàng nói. “Anh phải đền cho em”. Lần đầu tiên từ lúc gặp nhau tôi nghe nàng xưng hô như vậy.

– Anh sẽ mua đền cho em bằng số lương thất nghiệp. Tôi cũng đổi cách xưng hô.

– Bởi vậy em mới nói anh bảnh.

Nàng không giống với người đàn bà hồi đêm. Với môi run và chân mỏi. Nhưng màu mắt nàng vẫn như hai hòn bi làm bằng đá xanh. Nàng ôm chiếc gối trong lòng.

– Em… hút từ bao giờ? Tôi hỏi mà sợ nàng giận dỗi.

– Từ khi anh ấy loan báo cho em biết là không có khả năng bảo lãnh em ở lại đây.

– Em tuyệt vọng nhiều đến vậy sao?

Nàng không trả lời. Đôi mắt nhìn về hướng khác. Tôi thấy thực sự nỗi đau của nàng. Như một sân ga không hề muốn gánh bão giông nên phải cố nén lòng khi tàu đã rời đi khỏi.

– Không ngờ, bên ngoài, lúc nào em cũng tỏ ra rất mạnh mẽ, nhưng bên trong lại dễ tổn thương.

– Em phải ồn ào như vậy để giấu đi nước mắt. Nàng cười cợt. Khi người ta ngã một lần thì người ta sẽ ngồi lại và không muốn đứng lên.

– Thật sự anh rất đau lòng khi nghĩ em cô đơn một mình.

– Có muốn em trả ơn anh không? Nàng rụt rè hỏi.

Tôi không ngờ nghe câu nói đó từ nàng. Nhưng đó không phải là câu nói tệ hại.

– Vì sao?

– Vì những gì anh làm cho em.

– Không cần. Anh chỉ muốn thấy em cười.

– Đơn giản thế sao?

– Vì như vậy thì anh mới có thể cười. Như vậy có tham lam quá không?

– Đúng là tham lam quá rồi.

Nàng ngồi xích vào phía trong nhường chỗ cho tôi ngồi.

– Ai nói với anh em đang cô đơn?

– Những việc làm của em. Và những đóa hoa của em. Đứng giữa phố phường mà sao hờ hững…

– Mai mốt anh sẽ không còn thấy những cành mạc lan…

Tôi nhìn nàng. Ở đó, đôi vai non yếu của nàng đang run. Không phải vì lạnh mà vì đang thổn thức.

– Anh ấy mất là một phần do em. Thời gian có vẻ như gấp rút để trở lại Việt Nam của em làm anh ấy căng thẳng.

– Bao giờ thì em phải trở về?

– Lúc đầu tưởng không còn cơ hội. Nhưng vừa may em có một người đàn ông hứa sẽ bảo lãnh em, nếu em chịu kết hôn với ông ta.

– Cho dù như thế nào, anh cũng muốn em hạnh phúc.

– Để coi. Tháng sau em sẽ về Florida. Em có một người bạn gái ở đó. Nó ghi tên em vào một lớp cai nghiện. Nó hứa sẽ giúp em.

Tôi thấy mệt mỏi. Những tia nắng đầu ngày xuyên qua mành cửa, dù vẫn chưa được mở ra để tôi thấy hết bình minh bên dưới. Căn phòng vuông vức như một hộp diêm mùa Giáng sinh, chỉ thiếu có một que diêm thôi đủ làm bùng lên ngọn lửa. Nàng quay mình trở lại. Chiếc khăn tắm bây giờ không che kín hết thân thể và chỉ thêm một cử động nhẹ nữa thôi, người đàn bà sẽ phơi bày ra hết những quanh co khuất lánh. Như một dòng sông không giấu giếm những tháng năm đi qua những bến bờ son trẻ. Còn những buồn bã nào làm nên những trầm tích? Khi dòng sông đó muốn chảy lui về thượng nguồn?

– Anh có ham muốn em không?

Tôi vuốt ve trên ngực nàng. Không có lời nói nào đủ trong hoàn cảnh này.

Trong một ý nghĩa giản đơn nhứt, là giữa một trong hai người, cơ hội để ngả vào nhau chính là sự yếu lòng của người kia.

Tôi thấy bàn tay mình ôm lưng nàng. Cái ôm chặt và cần cho một thân thể rã rời sau một đêm dài thức trắng. Nghe cánh tay nàng vòng trên cổ tôi, nặng nề… Thời gian dễ chừng phải đi qua nhiều chục năm.

– Nếu em muốn hôn anh thì sao?

– Nếu để chia tay thì đừng…

– Rồi phải như vậy thôi. Chúng ta sẽ trở về với vị trí của mình.

Tiếng nói nàng nhỏ gần như một lời gió. Đôi mắt nhắm nghiền không đủ lấp kín một màu biển xanh.

Những ngày còn lại nàng bán lại “hành lang hoa” cho một người khác. Tờ Progam đổi mới và ghi lên đó một địa chỉ lạ. Những chậu hoa cũng thôi không còn nằm ké trên ngạch cửa tiệm bán đồ con nít. Hoa cũng giống như người. Đều không thích cô đơn. Chúng lớn lên mỗi ngày bằng cách nghe bước chân của người trồng nó. Trong thời gian này, tôi ít khi gặp nàng vì tôi đã vào công việc mới. Nhưng tôi không an lòng vì chưa biết rõ ngày nàng rời khỏi đây.

Sáng hôm nay, tôi đưa nàng ra phi Muôn đời, mưa vẫn là cái cớ để người ta nhìn về nội tâm mình. Vì bên những tiếng rời rụng của mưa, bao nhiêu người đã nối kết thành những trang tình yêu ướt đẫm.

Tôi kéo dùm nàng túi hành lý có bánh xe. Nàng không còn mỏng manh mà rất mạnh mẽ trong bộ đồ đen có áo len chùng bên ngoài. Dây thắt cột hờ hững không ôm hết vòng lưng thon. Giầy Vascapa cũng màu đen và mái tóc bay ngược khi hối hả chạy qua hành lang. Tình yêu đau nhói trong lòng tôi cũng chạy đuổi theo bước chân nàng. Tôi không biết tình yêu ấy- cái tình yêu trái mùa đó- tồn tại bao lâu. Nhưng với nàng chắc chẳng là mãi mãi.

Chỉ còn nửa tiếng nữa là nàng sẽ rời khỏi phòng “check in” để bước vào cổng chánh. Bao lâu nữa sương sẽ phủ chật đường về và gió qua đường vẫn cất vang tiếng hát? Sau lưng chúng tôi, qua một góc parking bằng xi măng có kẻ lằn sơn trắng, những chiếc xe nằm nín thở. Có những hành khách vội vàng xuôi ngược, giống như từng cuộc đời xuôi ngược không hề tìm thấy một trạm dừng? Trong giây phút đó, tôi cảm giác như nàng sẽ quay lưng lại với tôi, quay lưng lại với một quá khứ mà sự cô độc mỗi ngày đang đè nặng lên nàng.

Tôi nhìn thấy bóng tôi và nàng dội lại trong bức tường gương phi trường. Nàng đang sửa lại áo khoác ngoài và khăn choàng cổ lất phất. Còn tôi sáng mai sẽ là nỗi cô đơn như đã từng.

– Ngu ngốc.

– Em nói sao?

– Mấy tháng qua anh theo đuổi một người phụ nữ dù biết người đó có chồng?

– Phải. Ngu ngốc thật. Nhưng tình yêu mà em. Anh không thể bắt trái tim mình làm khác được.

– Hãy quên em. Hãy trao tình yêu của anh cho người xứng đáng nhận nó.

Trước khi đứng xếp hàng để chờ gọi đến tên mình, nàng hôn tôi:

– Anh bảnh lắm. Thật đó…

Nụ hôn tê điếng đủ làm tôi liêu xiêu. Tôi vẫn chưa biết tên nàng. Có cần thiết hay không? Nếu nhớ nàng, tôi sẽ gọi thầm Mạc Lan. Người đàn bà có đôi mắt mở to, trong sáng luôn làm tôi thấy bình yên…

Phạm Ngũ Yên

Tiếc

Khúc tình dòng cuối chấm câu,
Chắc là khó gặp lại nhau nữa rồi.
Một mình anh giữa cuộc chơi,
Thả thơ thao thức tiếc thời thương nhau.

Ngày còn nắng vội mưa mau,
Cơn mê rừng biển say nhàu cỏ hoa.
Nụ hôn xuân muộn vỡ òa,
Hồn nhiên một đóa tan ra tận cùng.

Tưởng chừng thiên địa mù không,
Suối sông ngủ giấc rất nồng chiêm bao.
Rượu cay mượn chén má đào,
Ngàn mây cánh hạc cõi nào rong chơi.

Cho nhau trăng mật rạng ngời,
Thở hòa nhịp thở mắt môi ngọt ngào.
Tóc mềm lộng gió trăng sao,
Phút giây nào quyến vào nhau bềnh bồng

Kiếp người bóng khuất sắc không,
Còn đây giấy trắng cạn lòng bể dâu..
Nhủ mình dỗ với lòng đau,
Một lần đã đủ nhớ nhau một đời.

Trần Ngọc Hưởng.