khi tôi chết hãy đem tôi ra biển

 

…Tôi muốn nói, những câu thơ như: “khi tôi chết, hãy đem tôi ra biển …” ra đời trong tâm cảm hoàn toàn tuyệt vọng đó.(DTL)

khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
đời lưu vong không cả một ngôi mồ
vùi đất lạ thịt xương e khó rã
hồn không đi, sao trở lại quê nhà

khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
nước ngược dòng sẽ đẩy xác trôi đi
bên kia biển là quê hương tôi đó
rặng tre xưa muôn tuổi vẫn xanh rì

khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
và nhớ đừng vội vuốt mắt cho tôi
cho tôi hướng vọng quê tôi lần cuối
biết đâu chừng xác tôi chẳng đến nơi

khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
đừng ngập ngừng vì ái ngại cho tôi
những năm trước bao người ngon miệng cá
thì sá gì thêm một xác cong queo

khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
cho tôi về gặp lại các con tôi
cho tôi về nhìn thấy lệ chúng rơi
từ những mắt đã buồn hơn bóng tối

khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
và trên đường hãy nhớ hát quốc ca
ôi lâu quá không còn ai hát nữa
(bài hát giờ cũng như một hồn ma)

khi tôi chết nỗi buồn kia cũng hết
đời lưu vong tận huyệt với linh hồn

Du Tử Lê

Advertisements

PHÂN ƯU

.Nhận được tin buồn nhà thơ Du Tử Lê vừa giã biệt trần gian.
Ban Biên Tập TƯƠNG TRI, các thân hữu và độc giả xin chia sẻ nỗi đau buồn mất mát này cùng tang quyến.
Cầu chúc hương linh Ông an nghỉ ở cõi vĩnh hằng.

THẬP TỰ HOA

Khi bước vào căn gác nhỏ, điều đầu tiên đập vào mắt anh là chiếc cửa sổ nhỏ xíu có vòm cong sát trên mái ngói. Căn gác đơn sơ không có vật gì đáng giá, trừ chiếc dương cầm khá cổ xưa, nơi cô bé học trò của anh loay hoay với các nốt nhạc.

“Chú Thắng biết không, mỗi vật trong nhà mẹ cháu đều đặt cho một cái tên. Cây đàn này là Suối, cái nệm kia là Êm Êm”. “Còn cái cửa sổ tí hon này là gì?”. “Mẹ cháu gọi nó là Mắt Bão”. Thắng nhìn qua khung cửa sổ nhưng anh chỉ thấy bầu trời bình an. Dáng vẻ cô bé khi bấm các phím đàn giống như nghịch vọc những hạt cườm hay vỏ ốc: lơ đãng, nghịch ngợm.

Đó là chuyện của hai năm trước, khi Thắng mới bắt đầu dạy nhạc nơi đây. Bây giờ bé Mi mười hai tuổi. Khuôn mặt đã thoáng ửng một vẻ đẹp digan với đôi mắt có lông nheo đen mướt và đôi môi dày thơ ngây. Ngược lại, người đàn bà mẹ đứa trẻ này dường như ngày một lặng lẽ, đằm thắm hơn, mặc những chiếc áo sẫm màu hơn. Rồi dường như Thắng chỉ còn nhìn thấy chị mặc một màu áo đen. Những chiếc áo đen cổ trái tim với cây thánh giá bạc dưới ngấn cổ xanh. Một người đàn bà cô quạnh, sống đạm bạc, lại dám mua đàn dương cầm và mời thầy về dạy cho con như một đại gia quý tộc. “Hồi nhỏ tôi không được học nên tôi trở thành người mù nhạc, vậy mà trớ trêu thay tôi lại thèm nghe nhạc vô cùng. Điều tâm nguyện của tôi là cậu làm sao giúp bé Mi sau này sung sướng hơn tôi”. Thắng hiểu vẻ bùi ngùi sau lời nói của người đàn bà: chị muốn con gái mình sẽ giàu có hơn chị bây giờ, nên đã chuẩn bị cho con đôi cánh để bay từ căn gác hẹp ra ngoài thế giới.

 

“Chú Thắng ơi, chú dạy cháu đàn bài này nghe. Cháu thích”.

Thắng nhìn theo ngón tay nhỏ trên trang sách đầy nốt nhạc. “Chú chưa dạy sao Mi biết mà thích?”

“Không phải Mi, mà mẹ. Thỉnh thoảng mẹ vẫn hát cho cháu nghe”.

Aventura, nghĩa là lãng du. Tự nhiên Thắng mỉm cười. Bài ca nói về những cuộc phiêu lưu, trong khi người đàn bà luôn tự giam mình trong một góc, bên cái khuôn dập tranh nho nhỏ. Chung quanh chị đầy những bức tranh lụa xinh xắn mà cứ hai tuần một lần, người buôn tranh lại đến nhận và trả cho người vẽ những đồng tiền bèo bọt. Có lần Thắng đi lên lăng Tự Đức và thấy những bức tranh bày bán la liệt bên cổng lăng. Nét chấm phá thật có duyên trong mắt những du khách chỉ đến một lần. Nhưng tại đây, trong căn gác này, bên lọ mực và khung dập ngổn ngang, trông chúng mang cái vẻ bùi ngùi và nhàm chán của sự mưu sinh. “Đấy, cậu xem, lui tới vẫn thế, mục đồng và trâu, cô dâu và chú rể, Thiên Mụ và Tịnh Tâm. Tất cả là theo đơn đặt hàng, mỗi mẫu hàng ngàn bức y hệt nhau. Bây giờ tôi phát sợ vẽ, nhưng không thể ngừng lại.” Người đàn bà lôi dưới hộc tủ ra một bức tranh cũ trên lụa. “Chỉ riêng cái này là tôi đã vẽ ra mà không bao giờ bán đi”. Trên nền trắng ngà giản đơn, một con mèo đang uốn mình, trong bụng là hai mảng âm dương màu xám lam và đỏ thẫm. “Tôi vẽ bức tranh này khi đang mang thai cháu. Tôi tuổi Mão, con mèo là tôi đó. Còn cháu chính là vũ trụ mà tôi mang trong lòng”. Khi người đàn bà nói, trên khuôn mặt thấp thoáng vài nét hằn của thời gian là nét cười buồn trẻ thơ khiến mũi Thắng chợt cay cay. Anh cảm thấy sợ và vội vã xua đi cái cảm giác yếu đuối đó đi bằng cách quay về chỗ của mình bên đứa trẻ. Bé Mi quay sang ôm lấy vai anh, thì thầm: “Chú Thắng ơi, có chuyện này chú phải giúp cháu”. “Chuyện gì?” “Bí mật, cháu sẽ nói, nhưng chú phải hứa sẽ nhận lời”. “Cái gì? Có phải là chuyện liên quan đến bài Aventura không?”. Bé Mi phá ra cười: “Sao chú biết?”. Thắng làm ra vẻ ghê gớm:

– Tại vì, chú có tài đọc được ý nghĩ của người khác.

 

Buổi chiều, người đàn bà đi bộ đến trường tiểu học. Hai mẹ con dắt tay nhau đi thong thả ngược con dốc cao. Gió chiều mơn man mái tóc của đứa trẻ.

– Mẹ ơi, hôm nay mẹ vẽ những gì?

– Sông Hương và núi Ngự, Thiên Mụ và Tịnh Tâm, với mẹ ngày nào chẳng thế.

Người đàn bà trả lời, như tự chế giễu mình. Những công thức của sinh kế, đó là vòng tròn khép kín khóa chặt cuộc đời và tâm hồn chị.

– Sao mẹ không vẽ biển? Con chưa bao giờ thấy biển. Các bạn con bảo là biển đẹp và rộng vô cùng.

– Khi nào mẹ cũng nghĩ về biển, nhưng chẳng có ai đặt hàng tranh vẽ biển. Mẹ biết làm sao được.

– Có phải hiện giờ ba con đang đi ngoài biển không? Trên một chiếc thuyền thật lớn có lá buồm xanh?

Người đàn bà gật đầu. “Sao mẹ không cho con đi với ba? Con thích đi xa, thật nhiều nơi. Bao giờ thì ba lại về hở mẹ?”

“Bao giờ…” Người mẹ lúng túng. Chị tìm cách lảng tránh câu hỏi của con. “Bé Mi à, con có biết ngày mai là ngày gì không?” Bé Mi sung sướng reo lên:

– Mẹ ơi, con nhớ. Mai là sinh nhật của mẹ. Con chờ từ lâu rồi, mẹ biết không?

Hai mẹ con đã lên hết chiếc cầu thang gỗ và giờ này đang cùng ngã lăn trên tấm nệm có tên là Êm Êm. Người mẹ nằm ôm con, mắt nhìn lên cao, cười mãn nguyện. Đã lâu rồi, không ai nhớ ngày sinh của chị. Nhưng bây giờ, con chị đã lớn, đã biết yêu chị, và chị dường như không lẻ loi. Đôi mắt chị mơ màng dạo quanh căn gác, đậu lại trên bó hoa khô trên ngăn tủ. Bó hoa đã nằm đấy từ lâu rất lâu, trong chiếc bình gốm cũ, những chiếc lá cứng xốp và hoe vàng, còn hoa thì giòn và khô như những phiến đá mỏng. Tuy vậy, vẫn là những dáng hình của hoa, đẹp và khô lạnh.

Đó là bó hoa người đàn ông đã đem đến cho chị vào ngày sinh nhật thứ hai mươi sáu. Người đàn ông đã ra đi, không phải trên một con tàu biển như nàng đã kể với đứa bé, mà trên những hoang tưởng về tương lai. Từ ngày đó nàng biết rằng trong tình yêu đàn ông rất khác đàn bà. Đàn ông khởi đầu một cách điên cuồng rồi dịu đi trong hèn nhát, còn đàn bà càng lúc càng giam mình trong kỷ niệm, ngu dại và xót xa.

Bây giờ bó hoa khô đã nằm trên bàn tiệc nhỏ. Trên chiếc bàn vuông phủ khăn trắng, người đàn bà đặt đĩa bánh, đĩa trái cây, món xôi xéo và bánh gấc mà con nàng ưa thích. Giữa những màu xanh đỏ tươi sáng của món ăn, bó hoa khẳng khiu như bàn tay gầy guộc của quá khứ. “Mẹ ơi, con không thích”. Đứa bé nhăn mặt nũng nịu, không muốn năm nào cũng nhìn mãi một vẻ đẹp khô gầy. Người mẹ an ủi con:

– Những vật cũ đều có linh hồn, mẹ rất sợ phải vứt chúng đi.

Đứa bé không hiểu câu trả lời của mẹ, chỉ biết rằng những sắc màu thắm tươi, nhất định hấp dẫn và dễ thương hơn màu nâu khô của dĩ vãng. Ngọ nguậy một cách bất mãn trên chiếc ghế nhỏ, bé Mi nhìn quanh như tìm kiếm vô vọng một điều gì, rồi quay về khung cửa và đôi mắt digan bướng bỉnh chợt mở to ra, sững sờ hạnh phúc. Thắng đang ở trên ngưỡng cửa, trong tay anh có một bó hồng đỏ tươi.

“Ôi, tuyệt vời!” Bé Mi hét lên, vui sướng, ôm choàng lấy cổ Thắng. “Chúc mừng ngày sinh của chị”. Người đàn bà cầm lấy tặng vật bất ngờ, cố giấu mặt mình sau mùi thơm của những đóa hoa.

Chiều xuống trong niềm vui thơ ngây của đứa trẻ. Đối với bé Mi, một bữa tiệc nhỏ như thế này là một dịp lễ hội trong chuỗi ngày tháng lúc nào cũng mờ mờ như bóng mây. “Mẹ ơi, hôm nay con sẽ tặng mẹ một món quà. Chú Thắng ơi, giúp cháu đi. Con sẽ đang cho mẹ nghe bài Aventura, bài mà mẹ thích”.

Anventura, nghĩa là lãng du. Người đàn bà mỉm cười nhìn Thắng: con chị đã muốn chị ra đi, đi khỏi cuộc sống nhỏ hẹp này.

Nhưng bản đàn khó lắm mà đứa bé còn non dại. Thắng ngồi bên cạnh đứa bé, rồi cuối cùng anh xốc bé lên lòng mình, hai tay anh cầm lấy hai bàn tay bé nhỏ. Tiếng đàn và tiếng cười trong veo. Aventura. Những tiếng nhạc vươn dài, xuyên qua Mắt Bão. Cơn mưa và màn đêm cùng ập xuống. Người đàn bà quay đi rồi trở lại với ngọn đèn cầy trên chiếc giá nến cũ. Đứa bé đã thiu thiu ngủ trong lòng chàng trai. Anh đặt bé xuống giường và nhìn khuôn mặt thiên thần bình yên dưới ánh nến.

Người đàn bà ngồi xuống. Màu áo đen của nàng làm nổi bật những chấm hoa hồng đỏ. Trên cổ nàng, một chiếc thánh giá bạc.

Dường như cảm thấy ánh mắt chàng trai đậu trên ngực áo nàng, nàng nói, vừa như giải thích, vừa như thổ lộ:

– Tôi không phải là giáo dân, nhưng tôi thường nghĩ rằng mỗi đời người đều có một cây thập tự phải mang.

– Đó là tại chị. Chị đóng đinh đời chị vào dĩ vãng. Còn tôi, tôi thích nghĩ tới tương lai.

– Bởi vì cậu còn quá trẻ. Còn tôi, tôi đã sống như người ẩn tu từ lâu lắm rồi, hình như ngày hôm nay tôi đang từ trên núi cao đi xuống giữa phố.

Nàng vừa nói vừa đưa mắt nhìn bức tranh con mèo mang vũ trụ trong lòng. Trong ánh nến, dường như nó đang sống lại, với đôi mắt long lanh ướt. Đôi mắt nàng đã long lanh ướt như thế vào cái ngày người đàn ông đặt cả vũ trụ vào lòng nàng rồi ra đi. Đó là một mùa hè chói rực lộng lẫy trên những triền cát vàng tươi dưới trời xanh. “Em nhìn đi, không nơi đâu có những cồn cát nổi sóng như ở đây”. Người đàn ông bảo nàng. Nàng nhìn, và mãi mãi thu vào trí nhớ những gợn cát uốn lượn hình sóng nước: dấu vết của gió và của năm tháng trên một vùng hình như khô nhất thế gian. Nàng đã đem cả bó hoa ngày sinh nhật vào căn lều nhỏ. Bây giờ, trong những cánh hoa đã chết vẫn còn dư âm của hơi thở, những lời thì thầm, và cát.

Hồi ức của người đàn bà nhỏ giọt, nhỏ giọt như những hạt nước, thấm qua lời kể trên đôi môi khô, mỏng manh, đôi mắt nhắm nghiền như mắt những người đang cầu kinh trong thánh đường. Đêm im lặng trong tiếng mưa. Thắng khẽ lay người đàn bà như muốn thức tỉnh nàng từ giấc mộng, nhưng nàng mở mắt ra mà không tỉnh, nàng không nhìn thấy anh, nàng đang ở trên những sóng cát.

“Anh đừng đi”. Nàng nói như khẩn cầu, đôi môi lạnh run rẩy. Hai tay nàng nâng niu âu yếm phủi những hạt cát lấm lem tưởng tượng trên người đàn ông đang cúi xuống. Thắng định gỡ tay nàng, nhưng anh không thể. Anh khóc. Trong tay anh, một thân thể ấm mềm như con mèo âm dương uốn mình trong tranh. Con mèo có đôi mắt long lanh nhắm nghiền mê man hạnh phúc. Còn anh, anh đang cố sức giật nàng ra khỏi thập giá.

Aventura. Tiếng đàn câm im lặng thổn thức dập dềnh giữa hai lồng ngực.

Bên ngoài khung cửa sổ, gió thổi da diết trên những vòm cây. Gió thổi hoài, xuyên suốt cả đời người.

Sớm hôm sau, đứa bé tỉnh giấc. Cơn mưa đã dứt, ngày lễ hội đã qua. Bé dụi mắt và kêu thét lên khi thấy mẹ đang nghiêng người qua khung cửa nhỏ, đưa bó hoa ra trước gió. Gió thổi, cuốn bay từng cánh, từng cánh, cho đến khi chỉ còn lại một bó xương gai.

“Mẹ, mẹ làm gì thế?” Bé Mi chạy đến, ôm lấy mẹ. “Mi ơi, nếu mẹ giữ nó lại, thì một ngày kia, cũng sẽ chỉ là một bó hoa khô”.

 

Thắng không dám quay lại căn gác cũ trong một thời gian dài, bởi một điều day dứt khó tả. Một điều gì đó làm anh nao lòng, và anh sợ phơi bày lần nữa sự yếu đuối của mình.

Khi trở lại, anh không còn thấy hai mẹ con trong căn gác nhỏ. Mắt Bão đã đóng kín. Tất cả lặng lẽ đến bàng hoàng, những giai điệu bản đàn cũ như dâng lên giữa trời chiều.

Thắng không biết ở một nơi rất xa, cô bé đang đứng bên mẹ, nơi một bãi vắng nhìn ra khơi. Người đàn bà đã đưa con về vùng đồi cát năm xưa, và giờ đây nàng đang vẽ biển. Biển mênh mông và xanh. “Mẹ, mẹ ơi, mẹ sai lầm lắm vì đã đi quá vội vàng. Con biết chú Thắng sẽ đi tìm con, nhưng làm sao chú biết được mình đã đi đến tận đây”.

Người đàn bà lắc đầu: “Con ạ, chú ấy đã lên một con thuyền lớn, và sẽ đi xa, rất xa”.

“Con không tin!” Đứa bé phụng phịu kêu lên, và người đàn bà bối rối. Huyền thoại đã cũ, nhưng tiếc thay là một huyền thoại có thực. “Con biết không, mỗi người đàn ông đều có con thuyền và giấc mơ của mình, họ đến bến để rồi lại đi, mẹ không muốn ngăn cản những chuyến đi ấy bao giờ”.

“Còn con, con thì khác. Nếu con thương yêu ai, con nhất định sẽ giữ lại bên con”. “Có lúc nào đó, con sẽ như mẹ, cảm thấy sợ giữ lại bên mình những cuộc đời bị giam hãm. Vả lại…”

Người đàn bà nghẹn ngào không nói được. Vả lại, người ta bảo sai lầm của mẹ là luôn thấy những người đàn ông đều tốt. Có thể người ta nói đúng, nhưng mẹ không thể khác đi, mẹ luôn nghĩ mọi người đều tốt. Thắng à, Adventura, đối với cậu là một dự phóng, còn đối với tôi chỉ là một ước mơ hoang tưởng mà thôi.

“Mẹ ơi, dù sao đi nữa, lớn lên con sẽ đóng một con thuyền, con sẽ đi và tìm ra con thuyền của chú Thắng”. Người mẹ thoáng cười. “Biển mênh mông, chẳng ai tìm ra dấu tích của ai. Mà dù gặp, con đã là thiếu nữ, chắc gì chú ấy nhận ra con”.

– Không, chú sẽ nhận ra. Vì con sẽ hát cho chú nghe bài hát Lãng du.

– Sóng lớn lắm, nghĩa lý gì tiếng hát.

Đứa trẻ khăng khăng:

– Con sẽ hát to, át cả tiếng sóng.

Người đàn bà mỉm cười. Bỗng nhiên nàng thấy như tâm hồn yếu đuối của mình đang dựa vào niềm hy vọng của đứa trẻ. “Bé này, con nhìn đây, ngày trước con cứ thích mẹ vẽ biển. Bây giờ mẹ đang vẽ biển cho con”. “Ôi thích quá, mẹ ơi! Mẹ cho con vẽ chiếc thuyền của con, mẹ nhé!”

Bé Mi nhúng cọ vào những đĩa màu và vẽ lên bức tranh một con thuyền, dáng nguệch ngoạc nhưng rất chói chang, một con thuyền có lá buồm màu hoa hồng đỏ. Con thuyền chở ngọn lửa của trái tim non dại khơi từ những giấc mơ tro vùi của mẹ.

TRẦN THÙY MAI

CHIỀU BẠCH HẠC

 

 

em lên mùa nhớ trổ bông vàng
se sắt lạnh tay quàng vai ấm
tiếng chuông gió khua ngoài hiên trống
lòng anh chật chội ngút thương yêu

em lên chiều bạch hạc phất phiêu
lưng lửng nụ hôn mưa giấu mặt
trời rất xanh sau đuôi mắt đẹp
tiếng mai sau oà vỡ linh đài

cột chặt vào nhau mỗi thiên tai
mỗi áo gấm mỗi lằn hạnh phúc
vết roi oan khiên bầm nốt ngực
xiêm hồng khăn bạc dấu môi ngoan

em lên chiều quấn quít ghé ngang
sà xuống chỗ ngồi hương cỏ đọng
mùa thu dịu dàng chìa tay đếm
nắng bớt vàng và gió bớt thanh

em lên chiều mụ mị đóa xanh
hàng phố thắp mùa đông quay quắt
nghĩ về một ngày mai….em khóc
chiều thinh không trộn úa thinh không

chiều với chiều bạch hạc ấm đông !

Lê Hát Sơn

QUA NGÕ SƯƠNG TAN

 

Năm mươi năm trước . Ờ ! Lâu lắm
Từ thuở trăng khuya vắng nguyệt cầm
Từ thuở rượu buồn anh uống cạn
Em đi – về qua ngõ sương tan

Áo lụa Hà Đông hương mới lớn
Tay ngoan e ấp lá thư tình
Bài thơ mực tím – con bướm phượng
Em giữ hoài ” lưu bút ngày xanh ”

Năm mươi năm trước. Ờ ! Lâu lắm
Em ngồi chải tóc hết một thời
Giã biệt kinh kỳ anh ra trận
Tuổi hai mươi khắp nẻo sông hồ

Tuổi hai mươi nụ hôn rất vội
Lên môi trầm – ngực ngải em thơm
Anh nhớ mùa xưa trăng đã cũ
Rượu uống mềm môi bóng nguyệt rằm

Năm mươi năm trước. Ờ ! Lâu lắm
Anh tìm về qua ngõ sương tan
Sương tan khóc đời nhau lận đận
Là lúc thuyền quyên bước theo chồng

Là lúc sầu đời anh lưu lạc
Bến sông nào cũng khổ như nhau
Bến sông nào cũng chảy nước mắt
Qua ngõ sương tan bạc mái đầu.

Linh Phương

NHỮNG CHIẾC LÁ

 

Nhà viết kịch Lữ Kiều, từng có lần muốn viết một vở kịch không lời. Bối cảnh chỉ có một chiếc ghế dài.

Màn một: Có hai đứa bé, một trai và một gái ngồi trên ghế, phía sau là những khóm cây xanh non. Âm nhạc trẻ trung, tươi vui.

Màn hai: Một chàng trai, một cô gái, cùng ngồi trên ghế, những khóm cây bắt đầu lớn lên, ra hoa. Rất nhiều hoa. Âm thanh có thêm, tiếng trống, tiếng kèn.

Màn ba: Chàng và nàng đã là hai người đàn ông và đàn bà. Âm thanh nỉ non réo rắt bỡi tiếng violon. Những khóm cây trĩu quả.

Màn bốn: Một ông già, một bà già. Vài chiếc lá rơi. Rồi lá đổ muôn trùng. Lá phủ kín cả người họ, ngập tràn cả sân khấu trong tiếng nhạc trầm buồn của contre bass.

Vở kịch nếu được trình diễn, có thể coi như nghệ thuật sắp đặt và tên của nó là cuộc đời.

 

Cũng có một câu chuyện về những chai rượu như thế này:

Một nhóm bạn ở Mỹ trong thế chiến thứ hai, trước khi ra mặt trận, hẹn nhau ngày trở về sẽ gặp nhau một ngày nào đó, ở một nơi cũng nào đó, mỗi người nhớ mang theo một chai rượu để uống mừng.

Chiến tranh chấm dứt. Rất may là hãy còn đủ cả và không một ai bị thương. Họ gặp nhau rất vui, uống hết những chai rượu đã được mang tới.

Năm sau và nhiều năm sau nữa, họ vẫn gặp nhau, có cả vợ con, cùng uống mừng được sống thêm một tuổi.

Rồi có người chết, những chai rượu cứ ít dần đi. Sau còn hai, cuối cùng chỉ còn một. Người chủ của chai rượu buồn quá, không uống nổi. Ông ta dặn con, khi ông chết hãy mang chai rượu chôn theo ông.

Cũng vẫn là cuộc đời, vẫn là nghệ thuật sắp đặt, nhưng người nghệ sĩ dấu mặt kia chính là tạo hóa.

 

Những năm gần đây, bạn bè như những chiếc lá cứ rơi rụng dần. Cái chết của họ dù có tiếng khóc của vợ con, cũng chỉ gây nên một tiếng động rất khẽ như khi lá rơi chạm đất.

Cho dù nhạc sĩ Trịnh Công Sơn được đưa tiễn đông đến hàng vạn người, hay cả ngàn người lặng lẽ đứng chào theo kiểu nhà binh nhạc sĩ đại tá Nguyễn Văn Đông, thì đối với cuộc tồn sinh cũng chẳng hơn gì nhạc sĩ Trúc Phương, chết trong đói nghèo và quên lãng.

Buồn là buồn cho những chiếc lá cứ rơi rụng dần, cho những chai rượu cứ ít dần đi. Nếu sau một trận chiến khốc liệt, chỉ còn một mình mình sống sót, thì đó là cái may hiếm có. Nhưng trong cuộc tồn sinh, nếu là chiếc lá cuối cùng, hay chai rượu cuối cùng, thì không còn nỗi buồn nào buồn hơn.

Vậy nên, giả sử 20 năm nữa mà vẫn còn sống, trong khi bạn bè đã về nước Chúa ráo trọi, thì dù cho chế độ này có tiêu tùng, cũng đâu có gì vui. Đâu có còn ai nữa để mà nâng ly chúc mừng. Một ly mình mà nhiều ly không thì uống để lam gì!

Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, người viết rất hay về tuổi gió heo may, về già sao cho sướng, một hôm bàng hoàng nhận ra giờ mọi sự sao trở nên nhạt nhẽo, rồi lẩn thẩn tự hỏi xếp lại cái kệ sách này để làm gì, lục tìm những bức thư cũ, những bức ảnh cũ, cũng để làm gì? Suốt ngày ba tiếng để làm gì cứ gõ đều như tiếng kêu tích tắc của đồng hồ. Để làm gì?! Để làm gì?!

Thế, có nghĩa là đã tới lúc hết muốn sống nữa rồi, mới đó mà đã thấy mình đứng bên bờ huyệt chênh vênh. Cho nên nhiều người bảo sao mà muốn chết quá, là nói thiệt chứ không phải nói chơi.

Thế nhưng cắc cớ bảo những người muốn chết đó, thôi thì một hai ba chúng ta cùng chết, ai cũng bảo để coi lại đã, tưởng đã thu xếp xong xuôi từ lâu rồi mà hình như vẫn chưa, có vẻ như đâu đó còn có tiếng nức nở, ông ơi (hay bà ơi), ông chết đi thì tôi biết sống với ai!

Rắc rối là vậy đó. Con người có thể ví như chiếc lá, nhưng chết không như lá. Lá đổ muôn chiều nhưng con người thì xin đừng rơi rụng cùng một lúc.

 

27/8/2019

Khuất Đẩu

Về ngang thành phố cũ

 

Trời vẫn chưa vàng thu, đó em

Em
Cơn gió
Thổi buồn qua vách núi
Trời chưa thu
Xao xác lá tôi
vàng
Mây thiên cổ trôi hoài trời hư ảo
Thổi qua chiều tôi những giấc mộng chưa tan

Trời chưa thu mà rừng tôi xào xạc
Bước chân người xa vắng
Bóng hoàng hôn
Trời chưa thu mà sương mờ giăng mắc
Trải màu thu vời vợi bến sông buồn

Trời chưa thu mà bời bời tóc rối
Nắng chiều phai áo lụa ướp hương người
Ôi đá sỏi cũng ươm nồng men rượu
Rượu hoang đường chảy tận trái tim tôi

Em
Cơn gió
Thổi qua chiều cuối hạ
Mà thu tôi mềm quá nụ môi tình
Đừng vàng úa linh hồn tôi chiếc lá
Trên tay người tình ái vẫn còn xanh

Trời đã chưa vàng thu đó em!

 

 

Về ngang thành phố cũ

 

Rồi người trở về ngang thành phố cũ
Lòng hoang vu trong một giấc mơ buồn
Và nỗi nhớ chảy ùa theo nỗi nhớ
Như sóng chiều xao xác mấy triền sông

Con đường nhuộm nắng vàng xưa còn đó
Áo vàng xưa mờ mịt phía hoàng hôn
Ai nhặt nắng ướp thơm từng trang vở
Để bây giờ nắng rụng giữa trời không

Người qua phố kể chuyện buồn với phố
Kể một mình
Kể mãi
Một mình nghe
Kể với ghế bàn hiên chiều quán nhỏ
Chợt thấy tay mình năm ngón so le

Người qua phố kể chuyện tình với phố
Chỉ một mình, ngồi kể với trăm năm
Kể với hàng cây vàng xao xác lá
Chợt thấy lòng mình giá buốt căm căm.

Lê Văn Trung

Thứ Sáu Hôm Nào

Có phải sầu xanh ngọn cỏ không?
Em ơi! Hỏi nhé nụ môi hồng
Tại sao Xuân vẫn còn xanh biếc
Mà mắt em chừng thấp thoáng Đông?

Có phải sầu xanh mỗi ngón tay?
Em ơi! Hỏi nhé cuối chân mày
Tại sao Xuân vẫn còn xanh biếc
Mà tóc em vàng buổi sáng nay?

Có phải sầu xanh mỗi ngón chân?
Em ơi! Thương quá bước em gần
Quê Hương thì cứ xa ngàn dặm
Mình sẽ làm sao bớt nhớ nhung?

Em hỡi sầu xanh như khói sương
Hình như ta đứng ngã ba đường?
Một cơn gió Bấc lùa qua áo
Rớt đám mây kìa dưới gót son!

Em hỡi sầu xanh vút đỉnh sầu
Chia tay hai đứa sẽ về đâu?
Cỏ rồi sẽ úa mùa Thu tới
Tình cứ xanh nghen! Mỗi lá trầu…

Trần Vấn Lệ

Khuất Đẩu: NGHĨ VẨN VƠ, CUỐI ĐỜI (bài 2) – Quê ngoại của các con tôi

 

 

Tôi không đủ đức tính ngang tàng và bạo mồm bạo miệng như nhà thơ Nguyễn Bắc Sơn, để có thể tặng vợ bốn câu thơ trời ơi đất hỡi như thế này:

Ta vốn ghét đàn bà như ghét cứt

Nhưng vì sao ta lại yêu em?

Ôi mắt em nhìn như là bẫy chuột

Ta quàng xiên nên đã sa chân.

Tôi cũng sa chân nơi quê ngoại của các con tôi, nhưng không phải vì mắt em nhìn như là bẫy chuột, mà vì nơi đây có những hàng cau rất giống với quê nhà và vì lỡ kẹt không chịu trình diện quân dịch nên không thể rút chân đi đâu được.

Ở quê tôi không hiểu cái nước uống nó thế nào mà khi nói ai cũng ngửa cổ lên như khướu hót, cứ “dẩy na? dẩy na?”. Còn ở đây thì cổ như mắc nghẹn giống nhái kêu, các từ chứa âm a đều biến thành e, rằng đừng có nói léo, hãy đưa teo tờ béo!

Tuy nhiên ngẫu nhĩ trùng phùng cũng có được cái may, miền đất này rất thái hòa nên được gọi là Ninh Hòa, Khánh Hòa. Nhà thơ Quách Tấn còn gọi một cách rất thơm tho là xứ trầm hương.

Đúng là rừng núi ở xứ này từng có một thời lừng danh vì có rất nhiều trầm kỳ.

Có một loại cây tên cây  chỉ mọc ở rừng sâu, khi bị gió bão làm cho cành cội tơi bời, liền tiết ra một chất nhựa quý có vị cay cay đăng đắng, chữa bệnh hay một cách thần kỳ, nhất là đau bụng gió, nên được gọi là kỳ nam. Ngoài kỳ, còn có trầm, tuy không chữa được bệnh, nhưng đốt rất thơm. Cụ Nguyễn Du viết “đốt lò hương ấy so tơ phím này”, là đốt trầm.

Xưa, các cụ thường xông trầm khi đọc sách, thưởng trăng. Trung thu còn có thêm hương hoa cúc và hương mạch nha, lễ mễ công phu như trong Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân.

Những người đi tìm hương liệu cực kỳ quý hiếm ấy trong rừng sâu gọi là đi điệu. Điệu là phải mang tất cả đồ đoàng trên lưng như các bà mẹ Ra đê địu con, chứ không phải ăn chơi sành điệu. Họ là những người nghèo thường đi từng nhóm từ 3 đến 5 người, lặn lội trong rừng sâu núi cao cả tháng mới về.

Không phải người nào cũng trúng, tức là được ông bà thương cho gặp cây dó có kỳ. Thường là chỉ mót được chút ít của những người gặp may để sót lại. Có người đi cả đời vẫn chưa một lần gặp được. Rồi thương tật, rồi bệnh chống nước từ núi rừng mang về, kiếm được bao nhiêu trầm đều phải đổ ra mua thuốc, nghèo lại hoàn nghèo. “Ăn của rừng, rưng rưng nước mắt” là vì vậy

Xưa nhiều người đi lạc, đồn rằng để sống sót trong rừng phải ăn thịt sống, nên hóa thành …cọp! Tiếng đồn “cọp Khánh Hòa, ma Bình Thuận” biết đâu là từ những câu chuyện huyền hoặc như thế.

Có thể nói, đi tìm trầm không khác gì đi tìm cái chết, vì phải đối mặt với biết bao gian khổ, chết chóc. Ngoài việc tin vào “ông bà”, tin vào ở hiền gặp lành, còn phải tin vào bùa ngải, nên mới có thành ngữ ngậm ngải tìm trầm.

Nhưng đó là chuyện trước đây, giờ ít ai chịu khổ làm nghề đi điệu nữa. Một phần vì bao nhiêu cây dó, có kỳ hay không cũng bị chặt phá, đào cả gốc rễ, nên đi cả năm cũng chưa chắc “trúng”. Và phần lớn vì các tay đầu nậu vừa ăn trên đầu trên cổ họ, vừa ăn gian nói dối với người mua, đem chút ít kỳ thiệt đun ra nước rồi ngâm với gốc cây duối giả làm kỳ, hay nhét đinh nhét chì vào cho nặng cân. Các tay buôn kỳ từ Hồng Kông, Ả rập vì thế đều no no chạy dài.

Khánh Hòa chẳng những có rừng sâu mà còn có núi cao. Trên đỉnh nam Trường Sơn thường lẫn trong mây mờ, có hai tảng đá khổng lồ, nhìn xa trông giống như hai mẹ con đang đứng nhìn ra biển nên được gọi là đá Vọng Phu. Nhạc sĩ Lê Thương trong một lần đi ngang qua Khánh Hòa, trông thấy , đã đem xúc cảm từ Chinh phụ ngâm mà sáng tác nên trường ca hòn Vọng Phu bất hủ.

Trong số các con tôi có một đứa bảo với mẹ rằng, mỗi lần về quê nhìn thấy núi Vọng Phu con đều muốn khóc. Tiếc rằng cu cậu không có chút năng khiếu nào về âm nhạc và thơ thì bảo rằng làm cho lắm cũng chỉ nổi tiếng được vài câu mà thôi.

Nơi đây còn nổi tiếng với tháp Bà linh hiển ở Nha Trang. Tháp nằm bên bờ sông Cái, ngó xuống cầu Xóm Bóng và nhìn ra biển Đông sóng vỗ. Xưa, dân Chiêm rất giỏi nghề đi biển, sau khi vượt trùng khơi trở về, từ xa nhìn thấy ngọn tháp, là biết đã về đến quê hương.

Cũng giống như ở Bình Định, tháp là của người Hời. Khi chúa Nguyễn vượt qua ranh giới tại núi Đá Bia do Lê Thánh Tôn áp đặt, để dần dần chiếm trọn đất nước Chiêm, thì tháp Bà biến thành tháp của người Việt, thờ mẫu đọc theo giọng Việt là Thiên Y A Na.

Khi tôn tạo, để ra vẻ Hời, người ta xây thêm một cổng chào khum khum bằng gạch mộc, chẳng ra Hồi mà cũng chẳng phải Phật, trông rất nhếch nhác dị hợm.

Tượng của Po Anagar bằng trầm hương bị Pháp lấy mất đầu được thay bằng xi măng sơn phết lòe loẹt, mặc áo đội mũ như đồng bóng ngồi giữa khói hương mù mịt cho khách thập phương, phần lớn là vợ các quan to đương chức, xì xụp bái lạy xin giữ được ghế càng lâu càng tốt. Bên ngoài, một đám gái nõn nường phấn son diêm dúa giả Chiêm nữ uốn éo múa may, trong tiếng  trống mẹ trống con lum tum lắc cắc và phèn la não bạt tùng xèng…

Bảo rằng đấy là văn hóa truyền thống ngàn xưa, thì truyền thống ba rọi này đâu phải của người Chiêm!

Những dân Hời sống sót sau cuộc bại trận ở Đồ Bàn, chạy dạt vào miền đất sau núi Đá Bia ở Phú Yên, một lần nữa lại bị các đời chúa Nguyễn và nhất là vua Minh Mạng tận diệt, ai nộp được nhiều đầu lâu là được thăng cấp, nên có từ thủ cấp nghe rất rùng rợn

Giờ, chỉ còn co cụm một dúm tại các vùng đất đai khô cằn ở Phan Rang, sống còm cõi với những con dê và cừu ốm đói, không tìm ra cỏ phải ăn cả gai bàn chải. Thử hỏi có ai trong số họ đủ tiền và đủ quyền để được bước vào ngôi tháp của tổ tiên?

Càng nghĩ tôi càng thấy, những kẻ cầm quyền hiện giờ còn ác hơn cả vua chúa ngày xưa. Họ trâng tráo đến nỗi coi việc cướp đất như chuyện đã rồi, không cướp không được, và giả dối gọi dân tộc Hời là dân tộc anh em, như cách nhà họ Tập gọi Việt Nam là nước anh em. Thà gọi đích danh là dân tộc ít người còn dễ nghe hơn.

Vậy nên, nào có mong chi một lời xin lỗi!

Nhiều người bảo, đất Khánh Hòa như một nước Việt Nam thu nhỏ. Rất giàu và đẹp. Có rừng nhiều gỗ quý, có biển nhiều cá tôm, có ruộng lúa mênh mang, mà người dân lại hiền hòa. Dưới con mắt các nhà quân sự, còn có cảng Cam Ranh vừa sâu, vừa kín gió, mà Nga Mỹ và cả Trung Nhật đều thòm thèm. Về kinh tế, vịnh Văn Phong là nơi rất béo bở để xây dựng khu chế xuất, cho thuê đất lấy vàng.

Nếu không có cuộc xuống đường gần như cả nước ngày mồng 10 tháng sáu năm ngoái, thì mấy trăm vị dân biểu đã bấm nút ô kê rồi và nhiều tay cò đất đã trở thành đại tỷ phú!

Bãi biển Nha Trang và Dốc Lết, cát trắng và mịn, đi bên nhau dưới bóng dừa thật nên thơ. Giờ thì từng đoàn xe to kềnh và dài ngoằng từ Trung Quốc chạy sang, đổ xuống bãi biển hàng ngàn kẻ giàu mà chưa sang, có 6000 năm văn hiến nhưng thiếu văn hóa, quần cộc bụng mỡ nị nị ngộ ngộ ồn ào như cả một bầy chim cánh cụt.

Ai cũng kêu trời, chỉ có một nữ văn nhân xa xứ đến hơn 50 năm, về nước khen Việt Nam mình rất khôn ngoan biết cách moi tiền từ túi anh nhà giàu. Rằng, các em từ đây không phải xuống ruộng bị đỉa cắn, rằng ngày làm hai job trong nhà hàng máy lạnh mát mẻ, rằng Hoàng Sa, Trường Sa, giờ thêm bãi Tư Chính có bị lấy mất cũng được thôi, vì miếng ngon nằm phơi ra như thế ai mà chẳng thèm.

Còn có kẻ, chắc như đinh đóng cột là dư luận viên, thì tin những gì nị nói chứ không tin những gì nị làm, bảo rằng chỗ nào có Quảng là của ngộ lớ. Đã có Quảng Đông, Quảng Tây, thì Quảng Yên, Quảng Bình, Quảng Nam, Quảng Ngãi không của nị thì là của ai. Cũng như Vũng Tàu thì đứt đuôi con nòng nọc là của Tàu rồi!

Khom lưng quỳ gối hít đàn anh như thế, thì thôi rồi, con cháu tôi chắc sẽ thành dân Hời. Và khi đó, đúng là anh em vì cả hai cùng bị mất nước!

Khuất Đẩu

 

PHÂN ƯU

 

 

 

 

Nhận được tin buồn nhà thơ Nguyễn Đức Bạt Ngàn vừa giã biệt thế gian.
Ban Biên Tập TƯƠNG TRI, các thân hữu và độc giả xin chia sẻ nỗi đau buồn mất mát này cùng tang quyến.
Cầu chúc hương linh Anh an nghỉ ở cõi vĩnh hằng.