CÓ GÌ QUAN TRỌNG KHÔNG?

Lúc con tàu Maid of the Mist tiến vào vùng trắng xóa mịt mùng bọt nước trong tiếng thác đổ ầm ầm vang rền như sấm, Phan đã ngữa mặt, để cho nước tha hồ xối xả, tung tóe. Cả người anh, dù đã mặc áo mưa, vẫn ướt sũng. Tàu vừa ra khỏi lòng thác, Phan vuốt mặt. Hít một hơi thở sâu. Mở mắt ra, bỗng thấy đôi mắt chị Nhàn buồn hun hút thoắt hiện ra giữa cầu vồng rực rỡ sắc màu. Cũng như vậy, lúc đi bộ qua Cave of Winds, leo ra bậc thang chênh vênh, đứng lặng yên trên bờ vực nhìn xuống dòng thác, Phan vẫn cứ nhìn thấy đôi mắt chị hun hút buồn trong màn bụi nước lấp lánh.

          Ngày cuối cùng, Phan lang thang trên Goat Island. Phan đi, cứ đi và đi, men theo dòng chảy của sông, anh đến thác Bridal Veil Falls. Đầu óc trống rỗng, Phan ngắm nhìn dòng thác cuồn cuộn, ào ào tuôn đổ, tung tẩy bọt lấp lóa như dát bạc trong nắng.

          Phan đi, cứ đi, và đi. Cúi đầu mải mê nhìn bóng mình đổ xuống lúc dài lúc ngắn, có lúc biến mất, rồi lại đổ dài ra.

           Phan đi, cứ đi, đi đến mệt nhoài. Một cậu bé chạy ngược về phía anh đang háo hức thổi ra những chùm bong bóng xà phòng lung linh sắc màu. Phan đăm đăm nhìn những chiếc bong bóng từ từ vỡ ra, tan biến.

          Chợt cảm thấy kiệt sức, Phan nằm dài ra trên thảm cỏ, nhắm mắt lắng nghe tiếng thác ì ầm.

           Cảm giác đìu hiu trống vắng xâm chiếm tận từng ngõ ngách sâu thẳm trong tâm hồn anh.

          Cảm giác nhớ nhớ quên quên điều gì mà chưa nghĩ ra cứ đeo bám, ám ảnh anh.

          Và đêm đó, đêm cuối cùng của chuyến đi, Phan mệt lữ.Trong giấc ngủ chập chờn, Phan thấy mình cầm tay chị Nhàn, bàn tay chị nhỏ, khô và lạnh. Rồi, chị ngước lên nhìn Phan. Phan bắt gặp ánh mắt chị, hun hút buồn. Phan muốn nói với chị Nhàn nhiều chuyện nhưng không thể. Chị cứ im lặng nhìn Phan trong khi Phan cố gắng một cách tuyệt vọng bằng tiếng ú ớ.

          Bỗng chị thoắt biến mất. Hình ảnh cuối cùng đọng lại khi giấc mơ qua đi vẫn là ánh mắt chị, hun hút buồn, buồn đến đau đớn lòng khiến Phan muốn khóc.

          Thoát khỏi giấc mơ, Phan thở mạnh. Nhưng kìa! Trước mắt anh, một bóng đen đang đứng yên ngay khung cửa sổ mở ra phía thác nước mà Phan đã quên kéo rèm che. Trăng bàng bạc, hư ảo bên ngoài hắt chênh chếch vào phòng thứ ánh sáng đầy ma mị. Bóng đen vẫn đứng yên lặng, quay lưng về phía Phan. Đó là bóng dáng người đàn ông to lớn, tấm lưng rộng với mái tóc gợn sóng phủ kín gáy. Anh mở to mắt nhìn. Bóng đen vẫn im sững như bức tượng đã được tạc cứng vào khung cửa sổ tự kiếp nào, ngay trước mắt Phan, cách chỗ anh nằm chừng vài mét. Bóng đen im lìm trong đêm tĩnh lặng trông như đang chìm đắm trong nỗi cô đơn sâu thẳm của phận người.

          Rồi khi kịp định thần, Phan chợt hiểu: Bóng ma. Anh vội kéo chăn trùm kín đầu.  Không biết bao lâu sau đó Phan thiếp đi trong âm thanh rì rào đều đều thác Niagara vọng đến.

          Đó là đêm thứ sáu, cũng là đêm cuối cùng của Phan trong căn phòng có trần nhà được sơn phủ bức tranh vẽ bầu trời màu xanh nữa đêm, lác đác mấy ngôi sao khuya lung linh hiu hắt.

***

          Hôm Phan lên mạng chọn thuê ngôi biệt thự thênh thang đó, Sara ngạc nhiên hỏi tại sao. Phan chỉ ậm ừ cho qua chuyện. Sara không nói gì thêm. Cô hiểu lúc nầy, hơn bao giờ hết, hãy để yên cho Phan muốn làm gì tùy thích, dù Sara thấy chồng mình quá điên rồ. Cuối cùng cô cũng ráng đùa cho anh vui: “Wow! Trông như một tòa lâu đài trong câu chuyện cổ tích! Ô ồ! Có tới sáu phòng ngủ đấy. Mỗi đêm anh sẽ ngủ một phòng nhé. Sẽ rất thú vị đấy.”

          Đó là một trong số rất ít những biệt thự cổ kính, xinh đẹp, sang trọng và khá đắt tiền ở Niagara Falls. Trên trang mạng, chủ nhân cho biết ngôi biệt thự nầy được xây dựng vào năm 1912, đã từng qua nhiều chủ, đã từng bị hoang phế trong một thời gian dài.  Dù sao, khi người chủ cuối cùng bước vào, tất cả các phòng vẫn còn những chùm đèn bằng đồng, và sàn gỗ còn khá tốt. Chủ nhân đã sửa sang lại và vẫn giữ nguyên kiến trúc ban đầu. Điều đặc biệt nhất đã lôi cuốn sự chú ý của Phan ngay khi nhìn thấy là vẻ đẹp hoang dã đầy bí ẩn trên trên các vách tường cao chằng chịt dây leo xanh ngợp, điểm xuyết những bông hoa dại nhỏ xíu màu hồng xen lẫn màu vàng. Chỗ mái hiên tắm nắng phía đông, một giàn nho xanh tươi mượt mà đong đưa những chùm nho tím thẫm, lúc lỉu, mọng nước. Vài người khách thuê nhà trước đó có để lại comment, rằng ngôi biệt thự chỉ cách thác Niagara có vài block đường, nên đêm đêm có thể nghe tiếng thác đổ ầm ào, rì rào vọng lại. 

           Lúc Phan vừa bước xuống phi trường Buffalo Niagara thì Sara gọi. Phan hỏi:
– Có gì quan trọng không?
Sara cười khúc khích:
– Quan trọng lắm đấy! Em muốn biết anh đã đến nơi chưa?

-Anh vừa đến. Cám ơn em.

– Anh đang làm gì?

-Chuẩn bị kêu taxi về biệt thự. Nhớ cẩn trọng trong mọi việc em nhé. Chăm sóc Nicky chu đáo nhé. Thôi, bye em.

          Ừm! Có cái gì đó quen quen trong cuộc nói chuyện với Sara vừa rồi. Cái gì nhỉ? Phan chau mày. Cố vắt óc tìm kiếm.

         Cái gì quen quen? Bỗng dưng anh cảm thấy khó thở, ngực như bị đè nặng- cảm giác in hệt lúc nhân viên tang lễ đẩy chiếc quan tài vào hầm, rồi chỉ cái nút, ra hiệu cho anh bấm, như đã quy định. Phan chợt nhớ, vài phút sau đó, anh đã bước ra ngoài. Hít thở sâu. Lơ đãng nhìn quanh. Và vô tình nhìn thấy làn khói trắng mỏng mảnh nhẹ thênh bay ra từ ống khói của nhà hỏa thiêu, loãng dần rồi tan biến trong bầu trời mênh mang nắng xế có vài dải mây trắng lững lờ trôi.

           Rồi ngay ngày hôm sau, Phan quyết định sẽ một mình. Chỉ một mình thôi. Đi đâu đó. Xa thật xa. Chỉ một mình thôi, không làm gì hết. Phan thấy mình cần có khoảng lặng để suy nghĩ, nhận diện cái gì đó. Cái gì đó hãy còn mơ hồ đang ám ảnh anh, vây phủ anh, giăng kín  anh một cách nhẹ nhàng, mềm mại và kết dính như những sợi tơ nhện.

          Nên Phan nói với Sara, em à, anh cần đi đâu đó chừng tuần lễ chẳng hạn, xa thật xa. Sara đã ôm chặt anh, giọng cảm thông và yêu thương, em hiểu em hiểu. Anh cứ yên tâm, em và con sẽ OK.

          Và nơi xa thật xa đó là thác Niagara kỳ vỹ. Cách nơi anh ở chừng sáu tiếng đồng hồ bay.

***

          Chưa bao giờ Phan ở một mình trong một khung cảnh, tình huống như thế nầy. Anh quyết định sẽ tự nấu nướng cho mình trong những ngày ở đây. Căn bếp được trang bị rất đầy đủ mọi thứ. Thậm chí có cả chai tương ớt Sriracha của Huy Fong… Ngồi chỗ bàn ăn, nhấm nháp ly cà phê, Phan thả mắt ra ngoài khung cửa kính. Bầu trời xanh biếc. Nắng mùa hạ hanh vàng ấm áp chảy tràn trên khu vườn ngập sắc màu của nhiều loài hoa. Có bầy chim đang lích chích chuyền cành. Có đàn bướm đang rập rờn bay lượn.

          Ôi! Nếu chị Nhàn được đến đây, chắc chị sẽ vui thích lắm. Tại sao Phan không nghĩ đến điều nầy khi chị còn sống? Chị cùng vợ chồng anh và bé Nicky qua một kỳ nghỉ ở đây?

           Kìa! Chỗ mé tường râm mát bóng thông, một đôi chipmunk đang thi nhau thoăn thoắt leo lên leo xuống trên các cành cây. Chị Nhàn mà ở đây, hẳn chị sẽ lấy một nắm cereal hay trái cây đem ra cho chúng ăn. Đó là một trong những thú vui của chị mà Phan đã thuộc lòng suốt thời gian còn ở bên chị.

          Phan nhớ những lần ghé thăm chị, chị mừng rỡ khôn xiết, lăng xăng chạy tới chạy lui, mở tủ lạnh lôi thức ăn thức uống ra đầy bàn.
-Chị khỏe không?

Chị cười ha hả, giọng đùa vui:
-Chị “khẻo”. Còn em? Ráng bỏ thuốc lá em nhé!

-Dạ… em vẫn “ khẻo”

-Còn thuốc lá?

-Ừm…

-Thôi, em lớn rồi. Chị không nhắc nữa (nói vậy nhưng chị vẫn nhắc mỗi khi gặp Phan)

-Bé Nicky vẫn học giỏi chứ? Sara khỏe không? Em vẫn nói tiếng Việt với Nicky đó chứ?

-Dạ…

-Phan à, ráng nói tiếng Việt với cháu Nicky nghen em. Mình là người Việt. Và dòng máu Việt vẫn đang luân lưu trong Nicky.

-Dạ…

          Cứ chừng đó.

          Thường thăm chị khoảng mươi phút Phan ra về.

          Hồi đầu chị còn cố trì kéo Phan ở lại thêm. Nhưng dần dần chị chỉ lặng lẽ đứng dậy tiễn Phan ra cửa. Thỉnh thoảng Phan ngoái lại, thấy chị vẫn đứng đó vẫy tay tạm biệt với nụ cười ấm áp yêu thương. Phan biết chị Nhàn yêu thương anh hết mực. Cha mẹ mất sớm, nhà chỉ có hai chị em.

          Ừm, sao ngày đó chị Nhàn không chịu lấy anh Long? Phan hãy còn nhớ anh Long đến thăm chị mỗi cuối tuần, và không bao giờ quên đem quà cho Phan. Tại sao?

          Đã vài lần, Phan nói đến việc chị Nhàn không nên ở một mình, nhưng chị đều gạt phăng ngay lập tức.

          Khi người ở căn hộ bên cạnh tò mò vì đã nhiều ngày không thấy chị Nhàn mở cửa ra balcony tưới hoa- một dấu hiệu bất thường- đã gọi Phan.

          Rồi, sau đó, những gì cần phải làm, Phan đã làm.

          Chị Nhàn, giờ chỉ là một dúm tro màu xam xám, sẽ được đưa ra biển, như ước nguyện của chị.

***

          Ngày đầu tiên trong ngôi biệt thự, Phan tò mò đi khắp ngõ ngách. Anh bị lôi cuốn bởi vẻ cổ kính, quý tộc, sang trọng, bí ẩn và trầm mặc của mọi thứ. Mỗi một không gian, dù rất nhỏ, đều có tính cách riêng, vẻ đẹp riêng. Đâu đó phảng phất mùi gỗ cũ. Đâu đó thấp thoáng hình ảnh mơ hồ và vang vọng âm thanh của quá khứ. Tiếng cười đùa trẻ thơ, tiếng rì rầm trò chuyện của người lớn, tiếng reo vui của hạnh phúc, tiếng thở dài của nỗi buồn. Giờ họ đang ở nơi nao?

          Hai cầu thang dẫn lên lầu với những bậc thang đều lót thảm màu rượu vang đỏ có vẻ âm u hơn với chân dung các vị tổng thống Mỹ George Washington, Abraham Lincoln, Franklin D. Roosevelt được treo dọc theo tường. Nếu chị Nhàn ở đây, chị sẽ ngắm nhìn rất kỹ từng chi tiết của các bức tranh. Chị sẽ xem xét cách pha màu, tìm tòi độ sáng tối, góc nhìn,…

           Phòng thư viện chứa đầy sách. Nhiều cuốn sách giấy đã ố vàng, âm thầm tỏa ra mùi hương giấy cũ, mùi hương quen thuộc trong trí nhớ Phan. Ồ, đó là mùi hương đầy quyến rũ trong tủ sách cao ngất của chị Nhàn. Tủ sách mà chị đã nâng niu cất giữ như vật báu của đời chị. Là niềm vui, là hạnh phúc của đời chị. Tủ sách mà ngày xưa khi còn học tiểu học và trung học, Phan đã say mê ngốn ngấu mỗi khi xong homework. Nhất là những chiều chị Nhàn đi làm chưa về, Phan vùi đầu trong trang sách đến nỗi quên cả đói. Nhờ sách của chị, vốn tiếng Việt của Phan được đắp bồi tươi tốt. Mấy lần chuyển nhà, vài đồ đạc phải đem tặng Goodwill vì chỗ ở mới chật hẹp, riêng với sách, dù chỉ một cuốn sách cũ kỹ, chị vẫn đem theo.

          Phan chợt nhớ những câu đối thoại với chị Nhàn qua điện thoại:
-Phan đang làm gì đó? Có thể nói chuyện với chị năm phút được không?

-Ồ, em đang bận lắm. Ba phút chị nhé. Có gì quan trọng không chị?

-À… chị muốn hỏi em khỏe không?

-Dạ em vẫn “khẻo” mà. Thôi chị nhé. Em phải làm việc đây.

Hoặc:
-Phan nghỉ trưa chưa? Cho chị ba phút được không?

-Có gì quan trọng không chị?

-À… chỉ là… mà thôi, em ăn trưa đi. Không có gì quan trọng đâu em.

-OK, bye chị.

Hoặc:
-Phan tới sở rồi hả?

-Dạ em vừa vào parking. Có gì quan trọng không chị?

-Ồ… Mà… em có thể nói chuyện với chị vài phút trước khi vào văn phòng được không?

-Có gì quan trọng lắm hả chị?

-Không … Mà thôi… Bye em.

Hoặc:
-Phan rời sở đó hả em?

-Dạ.

-Em đang đi bộ ra parking phải không?

-Đúng rồi.

-Nói chuyện với chị chút được không?

-Có gì quan trọng không chị?

-Không… Chỉ là… Ủa, em lên xe rồi đó hả? Thôi về nhà đi, lái xe cẩn thận em nhé!

-Dạ. Bye chị.

           Dạ chị ơi! Bye chị.  Phan thầm thì. Không biết cố ý hay vô tình mà đôi lần nhân câu chuyện đám tang ai đó, chị bảo, khi chị mất, chị không muốn đăng cáo phó trên báo, không muốn đông người đưa tiễn. Rằng chị muốn quan tài được đóng kín để không ai phải nhìn thấy tấm thân cát bụi của chị. Hãy để mọi người chỉ nhìn chị qua bức ảnh chị đang mỉm cười. Rằng đừng nhận tiền phúng điếu, đừng nhận hoa. Chị không muốn mắc nợ trần gian. Rồi cũng đừng đặt chị lên bàn thờ. Hãy để không gian đó cho người sống. Ai thương chị, hãy giữ hình ảnh chị trong trái tim.

          Làn khói trắng mỏng mảnh nhẹ thênh thoát ra từ ống khói nhà hỏa thiêu, loãng dần trong bầu trời cao vời vợi; và dúm tro xam xám bỗng hiện ra rất rõ nét trong trí nhớ Phan.

***

          Trên chuyến bay trở về nhà sau những ngày một mình lang thang ở Niagara, Phan ngủ mê mệt. Mộng mị chập chờn, Phan thấy Sara và Nicky nằm co rúm giữa căn phòng ngủ thênh thang lạnh lẽo trong căn nhà nguy nga tráng lệ bề thế gần biển- căn nhà anh đã mua hơn triệu đô la, là mơ ước và niềm tự hào của anh.

           Mộng mị cứ chập chờn chập chờn, Phan mệt nhoài mệt nhoài. Máy bay hạ cánh, Phan tỉnh dậy. Lòng anh chợt nhẹ nhàng ấm áp khi hình dung lát nữa đây, anh sẽ lao vào nhà, nơi có hai người yêu thương thân thiết nhất của anh giữa đất trời bao la, giữa cõi nhân gian mênh mông nầy.

           Chiều đó, Anita, chủ ngôi biệt thự, gọi cho Phan, nói anh đã để quên chiếc khăn quàng cổ. Bà ấy muốn gửi qua bưu điện cho Phan. Cảm thấy ái ngại nhưng Phan sực nhớ đó là chiếc khăn quàng chị Nhàn đã đan cho anh trong mùa đông vừa qua nên anh đồng ý với đề nghị của bà. Nhân tiện, Phan kể về bóng ma. Anita nhất định không tin. Bà quả quyết, đã rất nhiều người thuê ngôi biệt thự, thậm chí có gia đình ở cả tháng mà chẳng ai thấy bóng ma nào. Phan không tranh cãi, chỉ im lặng nghe bà thao thao thao bất tuyệt. Tuy nhiên, trước khi chào tạm biệt, Phan nhỏ nhẹ nói với Anita rằng anh sẽ không để lại comment về bóng ma trên trang nhà của bà.

          Tuần lễ sau, trong gói bưu kiện Anita gửi về, cùng với chiếc khăn quàng, Phan cũng nhận được phong thư Anita viết tay: “Quả thật chưa ai kể về bóng ma mà bạn đã thấy, nhưng tôi nghĩ có thể bóng ma đó là người chủ đầu tiên của ngôi biệt thự. Nghe đâu ông ấy đã dồn tất cả công sức, thời gian, tiền bạc cho ngôi biệt thự. Nghe đâu ông ấy bị viêm phổi và đã chết cô đơn trong căn phòng mà bạn đã ngủ. Đó là mùa đông năm 1936.” Anita còn viết thêm bên dưới, rằng nếu thích, Phan cứ để lại comment về bóng ma, biết đâu ngôi biệt thự của bà càng đông khách hơn vì sẽ gợi sự tò mò, hứng thú.

TRƯƠNG THỊ KIM CHI

BIÊN

Trận áp thấp như chuyển hướng, mặc dù mây vẫn xám nặng và trời thì vẫn màu chì. Gió từ biển thổi vào vịnh mang hơi lạnh buốt. Những trì nặng trong lòng Thuyền vẫn không được giải tỏa, mỗi lúc một trì nặng hơn. “Có nhiều sự kết thúc đến trong hụt hẫng” , nhiều khi Thuyền vẫn biết như vậy nhưng vẫn khó khỏi cảm thấy lòng mình lạnh ngắt, như khi Thuyền đứng cúi đầu và thọc tay trong túi áo khoác ngó ra biển, gió thổi ào ào, Thuyền thấy tay lạnh, mũi lạnh và lòng cũng lạnh. Thốt nhiên Thuyền chợt hiểu được cảm giác mà bạn Thuyền hay nói – lòng như tro tàn- là gì.

Có lẽ Thuyền cũng không biết mình để tâm đến B. từ khi nào. Từ lâu lắm nên Thuyền cũng không nhớ. Sự quan tâm thật nhẹ của B. làm Thuyền ỷ lại một cách vô thức. Mặc dù lúc tỉnh táo, Thuyền vẫn biết sự quan tâm đó có thể dành cho nhiều người, có thể là ai cũng làm như vậy cả. Nhưng với một đứa luôn luôn cô độc và tự chống chọi như Thuyền thì cảm giác ban đầu sẽ là sự cảm kích, thậm chí cả cảm giác hàm ơn với B.

Có một mảnh kí ức của Thuyền làm Thuyền đau nhói. Cứ nhớ đến B. và đoạn thời gian hạnh phúc bên B. là Thuyền cảm thấy như mình muốn rã ra thành bột phấn. Mỗi ngày, Thuyền nhìn B. và mong thấy một tia ấm áp trong mắt B. Như Thuyền đã nhìn B. bao nhiêu năm nay. Có thể B. không biết, như Thuyền cũng không biết rằng hầu như mọi ánh mắt của Thuyền luôn luôn hướng về B. mọi lúc. Mưa sáng làm Thuyền buồn, âm thanh như một sự rữa tan của đất cát. Như sự rữa tan của cuộc tình của Thuyền với B. Cuộc tình ấy có còn không? Thuyền không thể biết. Có thể tiếp tục một cuộc rữa tan nữa không? Thuyền cũng không biết. Điều Thuyền mong muốn lúc này là chút ấm áp từ B. Là nụ hôn của B.

Ti vi vẫn cập nhật tin báo bão mỗi giờ. Có một trận bão sẽ đến vịnh trong những ngày tới. Thuyền nhìn mặt nước đầy sóng đục ngầu. Và cái lạnh mùa đông đang gần kề. Thuyền thường sợ mùa đông. Những cuộc chia tay thường đến với Thuyền trong thời gian này, những cuộc chia tay làm Thuyền thấy lạnh. Cảm giác như những con sâu đục thân ray rứt trong mỗi mạch gỗ của thân cây liễu. Sự len lỏi của cái buốt giá trong mỗi sợi thần kinh làm lòng Thuyền hiu buồn. Thuyền tựa vào dãy lan can sắt và nhìn ra biển, sóng đục ngầu mặt nước, thi thoảng vài giọt nước bắn vào làm mặt Thuyền lăn tăn ngứa. Hôm qua, Douglas nói với Thuyền , có nên tiếp tục hay dừng lại cuộc hôn nhân của hai người. Thật ra, Thuyền cũng cảm thấy mệt. Sự mệt mỏi dai dẳng bao nhiêu năm nay chợt đổ sập xuống, phủ lên người Thuyền cảm giác bức bối chưa từng có. Douglas làm Thuyền thấy thất bại. Thất bại ngay trong cuộc sống chung với hắn, thất bại ngay cả khi hắn đòi ra đi. Thuyền đã không đồng ý, như bao lâu ngay Thuyền đã không đồng ý với hắn. Thuyền đã chấp nhận một sự viên mãn giả tạo từ lâu lắm rồi. Nên không có lý do gì để nàng có thể thỏa hiệp với yêu cầu của hắn lúc này. Đi là đi, ở là ở, dẫu gì, nàng vẫn mong có một nơi chốn để thuộc về. Mà B., chỉ là một nơi chốn Thuyền muốn thuộc về trong tâm tưởng mà thôi. – “ Thật ra, sự trì níu của em có làm anh khó chịu không?” – Thuyền đã biết bao lần trong giấc mơ hỏi B. như vậy. Mà Thuyền biết, nàng cũng chỉ có thể tâm tình với B. trong lúc ngủ mơ. Thuyền không muốn mang đến cho B. bất cứ sự bất trắc nào từ mối quan hệ của hai người. Có thể, nàng không muốn B. nghĩ về mối tình của họ với sự hối hận. Biết đâu, vốn đằng sau đôi mắt mà Thuyền yêu thương kia, lại đang nghĩ: “ giá như, mình đừng dây dưa với cổ”. Đôi lúc, Thuyền không dám tin tưởng vào mối cảm tình của B. Xưa, anh trai Thuyền hay nói, đừng tin vào bất cứ gã đàn ông nào. Thuyền nghĩ, thật ra, chỉ mỗi Thuyền ảo tưởng quá sâu. Nghĩ ngợi quá nhiều vào một điều không có gì chắc chắn. Nàng giấu kín tình cảm của mình với B., bởi một lẽ, nàng không chắc chắn gì cả, chứ không hẳn chỉ là muốn gìn giữ sự bình yên cho cuộc sống của B. như bấy lâu nay nàng vẫn ngụy biện với bản thân mình.

Sóng đục ngầu vẫn dập ầm ào ngoài vịnh. Thuyền áp má vào mặt kính cửa sổ và nghe lòng lạnh buốt. Đau khổ và hạnh phúc là như thế nào? Như nụ hôn vội vàng vào cuối buổi chiều mưa tầm tả hôm ấy, hay là ánh mắt buồn đến đau nhói lúc Thuyền nhìn theo vệt bánh xe lăn đi của B. sáng nay? Thuyền cũng không biết nữa. – “ Sự vồn vã của em làm anh ngại ngần, hay giấc mộng chinh phạt ngàn năm của phái mạnh làm anh chỉ hứng thú với những gì chưa đạt được?”. Câu nói, cầm lên được thì bỏ xuống được mà mọi khi Thuyền hay nói bây giờ nàng không muốn nghe nữa. Cái ý nghĩ mình bị bỏ rơi làm đầu gối Thuyền như nhũn ra, nàng quỵ xuống bên cửa sổ dù tay vẫn bấu vào khung sắt lạnh. Té ra, Thuyền nghĩ, mình rồi, cũng chỉ như một tờ giấy ăn đã qua sử dụng mà thôi.

Phương Uy

Gửi Thơ Đăng Báo


Tôi làm thơ
gửi đi cho nhiều báo
Báo đăng tôi có cắt xén ít nhiều
có làm lòng tôi xiêu, có làm tôi buồn chán!

Nhưng kệ nó thôi
đâu ai yêu thơ lắm
để nâng niu thơ và đặt ngang mày?
Tôi chỉ biết chân mây xa thẳm thẳm!

Tôi cắn trái ớt, nó cay, không đắng
Cắn trái khổ qua thì nhớ quê nhà
Một khu vườn hoang lặng lẽ chiều tà
Không ai ở và khổ qua cứ mọc!

Người ta bỏ đi từ khi còn xanh tóc
đến bạc đầu chắc vẫn nghĩ còn Xuân?
Tôi nhớ người ta tôi chỉ muốn hôn
cây cỏ dại nhớ người ta cũng khóc!


Tôi nghĩ người ta như một phần Tổ Quốc
Một phần Giang Sơn tan tác mảnh linh hồn
Tại sao tôi không ôm
cả bầu trời ứa lệ?

Xuân Thọ làng quê
những đứa học trò bước nhẹ
Chúng sẽ nói gì với Mẹ với Cha?
Chắc chúng nói rằng Cô Giáo Con Đi Xa
con chịu dốt con không cần đi học nữa!

Những con trâu trọn đời đi gậm cỏ
nó nhai một đời của nó, tại sao?
Giống như ai xa không một tiếng chào
mà mây trắng còn bay về bến cũ…

Những tờ báo cắt bài tôi ném xó
để lại, còn, vài đoạn ruột tôi phơi…

Trần Vấn Lệ

MẸ ƠI!

Mẹ ơi!
Mẹ kể chuyện cổ tích cho con nghe với
Chuyện ông Bụt, thằng Bờm, chuyện Quận Gió, Quận He, chuyện chàng Lía, Kim Quy…
Mẹ đừng kể chuyện Tấm Cám, Lý Thông, chuyện cậu bé nhổ tre ở làng Phù Đổng
Con không muốn nghe chuyện phản trắc, ác ôn, chuyện bất ngãi bất nghì…

Mẹ ơi!
Mẹ kể chuyện chiến tranh cho con nghe đi
Chuyện bom đạn, thương vong, chuyện đổ nát điêu linh hay chuyện gì cũng được
Nhưng mẹ đừng kể có con trong chiến trường, mặt trận
Vì con sẽ chẳng biết làm gì với khẩu súng trên tay.

Mẹ ơi!
Mẹ kể chuyện tình yêu cho con nghe đi
Con chỉ muốn gia đình mình đoàn tụ
Đêm qua con thấy cha về trong giấc ngủ
Con được ngồi vào lòng của cả mẹ và cha.

Mẹ ơi!
Mẹ đừng kể có con trong câu chuyện chia lìa
Mẹ đừng kể có con trong hoang tàn đổ nát
Mẹ đừng kể, đừng ru và mẹ cũng không cần phải hát
Nếu lòng mẹ buồn vì đã đánh mất tin yêu

Mẹ ơi!
Mẹ cũng đừng ru con chuyện thân phận của nàng Kiều
Ngày con lớn, chắc chắn con sẽ biết
Đất nước mấy ngàn năm toàn nghe lời chia biệt
Trong làn gió hiền hoà vẫn nghe tiếng cái dây mắc võng nghiến răng.

Đêm qua
con nghe có ai đó bảo rằng:
Chuyện ngày nảy ngày nay kể ra sẽ kinh hoàng hơn chuyện ngày xửa ngày xưa gấp ngàn lần mẹ ạ!

Mẹ ơi!
Mẹ đừng kể chuyện nước mình cho con nghe nha!

Dũng KQĐ

TÔI ĐÃ THẤY

Tôi không chỉ còn mơ, tôi đã thấy
Một niềm vui khi trở lại quê nhà
Chim hải âu lại bay về với biển
Cất lên lời tha thiết với bao la

Đêm dần sáng mầu trời thôi tím nhạt
Từ chân trời tôi lại thấy mây bay
Trong mây bay nghe biển chiều vỗ sóng
Bài ca tình muôn thuở chẳng hề phai.

Tôi đã thấy đường chim bay mỏi cánh
Đưa tôi về lối cũ, dấu mòn xưa
Những góc phố nằm im nghe lá rớt
Để hoàng hôn rơi lấm tấm sang mùa.

Tôi đã thấy một khoảng đời còn lại
Giữa mênh mang đồi núi chập chùng reo
Nằm ngủ với sương chiều rơi khuất lối
Bước nhàn du cùng gió dưới chân đèo.

Tôi đã thấy, nhiều hơn mưa tháng chín
Hoặc tháng mười cây cổ thụ đơm bông
Và có gì đâu, chân trời sắc nắng
Từ cuối trời em có thấy tôi không?

Phạm Khánh Vũ

ở nơi có bình yên

buổi sáng lạnh đón chân ngày
mở khung cửa hẹn ban mai mấy lời
giọt chuông ngàn trầm trầm rơi
làm tan sợi nắng lưng đồi gió reo

ơi suối đàn âm trong veo
ven rừng bươm bướm bay vèo mùa thu
vàng áo phai có thế ư
đầy vai lá úa gom từ hư không

hồn thế kỷ đầy mênh mông
giọt thu sương mới nhịp lòng nổi trôi
buổi sáng gầy thở ra hơi
một làn khói trắng tả tơi đâu ngờ

tờ hoa tiên khép phong thư
gửi đi hồi lại thực hư mơ hồ
sau lưng thành phố co ro
mùa sau rét mướt cơn mơ bão bùng

đeo lưng ngày tháng tận cùng
vườn hoang còn nụ hoàng dung lạ thường
cả rừng thu ôm tiếc thương
là vàng sắc đỏ nghìn phương nhớ người

hôm giận hờn chuyện một thời
chim nằm thôi hót im hơi buồn buồn
sợi tóc vương ở môi hôn
còn nguyên dấu tích trong hồn ô hay

Phạm Quang Trung

SÀI GÒN VÀI CƠN KHỦNG HOẢNG

Rất nhiều năm trước đây, Sài Gòn đã có lúc “Đi ngoài đường thấy vắng vẻ buồn hiu. Những căn phố đóng cửa im ỉm. Những căn phố chết. Sài Gòn lúc ấy như là thành phố chết hay đang hấp hối”.Mỗi biến cố đến với Sài Gòn không giống nhau. Đợt đại dịch này hoàn toàn khác những lần trước đó, nhưng sự lo lắng và tổn thất về con người lúc nào cũng có.

Chỉ tính từ đầu thế kỷ 20, cuộc sống đời thường đã có những thời khắc vô cùng khó khăn, ảnh hưởng lớn đến cuộc sống hầu hết người dân Sài Gòn – Gia Định.Đó là thời gian khủng hoàng kinh tế thế giới bắt đầu từ 1929 đến giữa thập niên 1930. Ký giả Tế Xuyên kể tỉ mỉ câu chuyện này trên báo Đuốc Nhà Nam xuân Tân Hợi 1971. Năm 1932, ông từng thấy cả dẫy phố đường de la Somme (Hàm Nghi) – Catinat (Đồng Khởi) – Sabourain (Lưu Văn Lang) hầu hết bỏ trống khoá cửa, chỉ vài căn có người mướn. Chợ Bến Thành buôn bán ế ẩm, cho dù một con vịt quay treo tòn ten ở quán bán có 6 xu một con nhỏ, 8 xu con lớn. Gạo thì 4 cắc 4 giạ mà lại là thứ gạo nấu cơm mềm dẻo, thơm phức…Những kẻ thất nghiệp dám mướn phố lầu mà ở, những căn phố ở trung tâm, gần chợ Sài Gòn. Họ có cách để ở khỏi tốn tiền: chỉ xoay đủ tiền trả tiền phố tháng đầu, tới từ tháng sau không trả tiếp nữa, ở lì luôn cả năm. Khi người thâu tiền phố đến đưa biên lai thâu tiền thì chỉ cười trừ. Tiền đâu mà trả, người thâu tiền cũng thông cảm vì hoàn cảnh của thầy ta chắc cũng chẳng hơn gì người thuê nhà. Có khi ngượng quá thì lánh mặt, cho vợ con “đại diện” mà trả lời rằng: “Tháng này túng quá, thôi để tháng sau trả luôn thể”. Tháng sau? Rồi tháng sau nữa… kéo dài cả 10 tháng, 12 tháng như vậy. Người thu tiền thét rồi thối chí sau hai ba lần sẽ không đến nữa, báo cáo cho chủ đối phó. Đối phó cách gì? Nhiều lắm là đưa ra toà xin trục xuất thôi vì người mướn phố không có một món đồ gì đáng giá để tịch thu. Kẻ nghèo chỉ có vỏn vẹn một cái ghế bố để ngủ và một cái rương hay cái vali cũ kỹ đựng ba bộ quần áo rẻ tiền.Cái lối mướn phố “luân chuyển” đã thành kế sách của dân nghèo: ở căn này một thời gian rồi lại ở đến căn kia, trả tiền phố có một tháng đầu ở đến một năm hay 8 tháng, ít lắm cũng là 6 tháng.Đi ngoài đường thấy vắng vẻ buồn hiu. Những căn phố đóng cửa im ỉm. Những căn phố chết. Sài Gòn lúc ấy như là thành phố chết hay đang hấp hối. Nạn thất nghiệp tràn lan, kiếm được một việc làm là cả một cái may mắn như trúng “số đuôi”. Công chức, tư chức có “sở mần” rồi thì cố mà giữ lấy, cố chiều chuộng ông “sếp” để khỏi bể nồi gạo.Lao động lại càng cực khổ hơn vì phải đổ mồ hôi đổi lấy chén cơm manh áo và ít người có lấy một cái gì gọi là “nhà” để ở. Phần nhiều họ đóng đô ở ngay hàng ba với những căn phố trống. Với tất cả nồi niêu xoong chảo, cả thê tử đùm đề, họ sống cố thủ tại đó, vì có ai mướn căn phố ấy đâu. Đêm đến họ bẻ khoá cửa, di cư bớt bầy con vào ngủ trong nhà, sáng đến lại móc khoá và cửa để khoá hờ, khoá tượng trưng cho người quản lý dãy phố khỏi la rầy.Trước cơn bịnh kinh tế trầm trọng đó, một nhà thầu khoán ở miền Trung là Trần Quang An, từng học trường Công Chánh Hà Nội tự xưng là “Bác sĩ kinh tế” lên sân khấu một nhà hát ở Phan Thiết, diễn thuyết về nạn kinh tế khủng hoảng và tuyên bố đem tài “kinh bang tế thế” giải quyết nạn đồ thán cho đồng bào. Ông còn chạy vào Sài Gòn để kê toa, toan chữa bệnh kinh tế khủng hoảng cho toàn dân. Toa thuốc của ông giản dị lắm: tìm biết đúng nhu cầu hàng tháng của mỗi gia đình (bao nhiêu gạo, bao nhiêu than, bao nhiêu mắm muối, tương cà) phân phối cho từng nhà. Tóm lại là mua tận gốc bán tận ngọn, mua gộp lại để có thể trả giá rẻ. Một hình thức “hợp tác xã” nhưng bác sĩ kinh tế gọi là “Entrepots-Warrant”.Ông dùng Sài Gòn làm thí điểm. Ông in ra cả mấy vạn tập “câu hỏi” về nhu cầu bếp núc của mỗi gia đình, phát cho từng nhà xin trả lời để ông ước lượng số hàng phải mua dự trữ trong những “Entrepots Warrant” của ông. Ông thuê một dãy 24 căn phố trệt ở đường Jean Eudel (nay là đường Nguyễn Tất Thành) Khánh Hội, để làm kho chứa hàng. Nhưng ông thất bại lớn. Vì người Vỉệt Nam thế hệ trước quen sống với nếp sống cổ truyền “tén vén tương cà” đâu có hiểu lợi ích của một biện pháp kinh tế xa lạ mà họ còn nghi ngờ là một thủ đoạn gì đây? Toa thuốc kinh tế của “Bác sĩ” Trần Quang An chưa kịp cứu dân độ thế đã bị xếp xó, 24 căn phố của ông thuê bị bỏ trống cả năm rồi trả lại cho chủ phố.Các nhà buôn lỗ lã, bị đóng cửa vì vỡ nợ, vì khánh tận. Nhà băng Đông Dương, nền tảng của đại tư bản Pháp, quơ lưỡi hái mà giết chết thương gia nầy đến điền chủ kia. Chờ đến lúc các tiểu thương trung thương Pháp cũng khó sống, muốn nghẹt thở, chết ngộp. Đám thương gia Pháp cầm đầu, các cuộc biểu tình rầm rộ diễn ra ở Sài Gòn, trong các phòng họp nhóm. Họ la thét, thảo kiến nghị, đòi phá giá đồng bạc. Nhưng chỉ là tiếng kêu giữa bãi sa mạc, chẳng đi đến đâu vì phái đại lý tài Pháp vững như bàn thạch.Lúc đó, nếu ai có người thân ở nông thôn miền Nam để có thể về tạm trú trốn khủng hoảng kinh tế ở Sài Gòn thì thật là may mắn. Lúa bán không được, công việc làm ăn buôn bán ngưng trệ, song nông gia ở dưới đó vẫn sống đầy đủ. Gạo có sẵn, không bán được thì để ăn, dân quê không phải lo nạn đói. Nhà nào ở quê cũng chất lúa đầy lẫm, đầy kho, gà vịt nuôi cả bầy, không phải để bán mà để ăn hàng ngày. Ngoài ra nhà nào cũng có một hai lu mắm, cá đồng tràn trề không thiếu.**Đến năm 1945, Nam bộ kháng chiến, Sài Gòn – Gia Định tràn đầy binh lửa. Chú Nguyễn Cương Phú, một facebooker lớn tuổi đang sống ở Úc kể năm đó nhà chú đang sống yên bình với cửa tiệm giày dép guốc ở chợ Bến Thành. Một trái bom thả xuống chợ Bến Thành, làm sụp một góc chợ. Gia đình chú tản cư về Gò Công, đến khi quay trở lại thì tiệm tan hoang. Để lo một gia đình có của ăn của để, nhà từng có 8 người giúp việc, mẹ của chú trở thành bà bán cơm bình dân cho phu thợ ăn trong chợ Phú Nhuận, và chú phải đi giúp việc một thầy thuốc Đông y để được nuôi cơm. Lúc đó, nhà ông ngoại tôi bên Khánh Hội, trên đường Quai De La Marne (Bến Vân Đồn, quận 4) cũng đang lao đao vì ông ngoại, đang làm việc công sở Tây thì bị bệnh mắt, ánh nhìn ngày càng mờ dần. Bà ngoại tôi phải bán cái tiệm tạp hóa và một tiệm rượu có môn bài đang kinh doanh để lấy tiền chữa cho ông nhưng đành chịu thua vì bệnh không hết, khi các bác sĩ Pháp tập trung cho cuộc chiến. Sau cả nhà phải tản cư về Củ Chi và ông ngoại cũng mất cuối năm 1945. Trước đó, người anh lớn nhất của ông ngoại tôi khoảng năm 1944 bị chết trong một trận bom gần cầu Ông Lãnh. Rồi đến lượt cậu ruột tôi, Nguyễn Công Linh, đã lấy xong Đip-lôm, bị bệnh ban phải vô nằm nhà thương Dejean de la Bâtie (trung tâm cấp cứu Sài Gòn). Chỉ vài ngày sau, một trái lựu đạn nổ phía ngoài vách tường sát bên giường gây sức ép khiến cậu mất khi chỉ 22 tuổi. Ngôi nhà ông cố tôi ở Khánh Hội ly tán từ đó, may mà còn giữ được một phần căn nhà cho đến ngày nay.Ông anh lớn nhất của tôi còn ghi lại một câu chuyện năm 1953, lần đầu anh nếm mùi giới nghiêm khi đã về Phú Nhuận. Lúc đó, người chị thứ tư mới sanh. Chị có tật khóc cả đêm nên cả nhà vất vả vô cùng trong khi ba tôi đi vắng. Năm đó chiến sự vẫn còn tiếp diễn, lính Lê Dương được tăng cường đầy dẫy khắp Sài Gòn – Gia Định. Tối cứ đến tám giờ là giới nghiêm, ai ra đường không có lý do báo trước hoặc thấy bóng là bắn. Ai có việc bệnh hoạn sinh nở cần di chuyển phải cầm đèn bão đi theo, xét đúng mới cho đi. Chị Tư lại hay nóng sốt ban đêm, má tôi thường dùng khăn thấm giấm đánh lưng cho hạ nhiệt. Một đêm đã khuya, trán chị nóng quá, má rầu rĩ nói phải chi có được lá trầu về đánh lưng cho em hạ sốt. Nhà cách vườn trầu chỉ khoảng năm chục mét nhưng đi qua khỏang sân trống không phải là chuyện dễ dàng. Cái lô cốt có lính Lê Dương gác sừng sững trước mặt hễ thấy bóng người là bắn ngay lập tức. Thương em và thương cả má, anh tôi quyết định đi hái lá trầu. Chui ra khỏi nhà, anh bỏ lơ tiếng gọi giật của má, sát người xuống bò chầm chậm trong đêm tối. Anh kể chỉ năm chục mét đất trong vườn mà như dài dằng dặc tưởng chừng sẽ có một phát súng và mình ngã lăn ra, bỏ má và đứa em thơ. Ác liệt là đêm đó lại có trăng sáng. Anh vừa bò vừa van vái vong hồn ông bà phù hộ cho đến cây trầu, hái vội nắm lá trầu rồi bò về. Đến tới cửa nhà, mồ hôi đã ướt đẫm. Tôi lớn lên, sống ở Phú Nhuận khá êm đềm trừ vài lần đáng nhớ. Không khí chiến tranh trong mắt tôi chỉ là những hàng chữ chi chít trên báo Đại Dân Tộc, Trắng Đen, Điện Tín mà ba tôi mua đọc hằng ngày. Thỉnh thoảng có tin báo tử của những người đi lính trong xóm. Máy bay hàng ngày bay qua lại trên đầu, nhiều nhất là trực thăng. Nhiều lần con nít trong xóm phát hiện có “máy bay thả giấy” (truyền đơn) phía xa và chạy đi lượm. Giao thừa tết Mậu Thân, tiếng pháo bỗng nhiên rộn rã hơn rất nhiều. Tôi được hứa cho đi chơi vào ngày mùng Một. Sáng hôm sau, ba bảo cả thành phố giới nghiêm rồi, trên đài đã có lệnh chính thức nên không đi được. Đêm đó, cả nhà chui xuống nằm dưới bộ ván bằng gỗ sây rất cứng, có lót bao cát phía trên mà không biết ba tôi đã chuẩn bị từ bao giờ để tránh đạn lạc. Từ đó, khu xóm tôi thỉnh thoảng có những ngưới lính đội nón sắt hành quân đi ngang qua, đám con nít thấy thành nón của họ treo lủng lẳng vài gói nhỏ không biết là gì. Rồi tình hình dần êm ắng. Ông anh tôi bảo tết Mậu Thân coi vậy không căng thẳng bằng hồi đảo chánh ông Diệm hồi anh còn nhỏ vì lúc ấy nhìn lên trời thấy máy bay bắn nhau với khói đạn từng cụm và đạn rớt trên mái tôn rổn rảng.Đến tháng 4 năm 1975. Trước mái hiên, cả nhà tôi chứng kiến trên bầu trời phía sân bay Tân Sơn Nhứt có hai chiếc máy bay quần thảo nhau. Đêm 28 hay 29 tháng 4, tiếng súng ầm ì và tiếng đạn rớt như ai gõ vào chảo, cứ lanh canh, ục oạc gần xa. Sau đó là ngày 30 tháng 4 và sau đó nữa là hơn chục năm sống thời bao cấp. Cùng với bao người, gia đình tôi trải qua những tháng ngày khó khăn. Nhiều gia đình khổ sở vì có người thân ra đi vì bệnh tật không có thuốc đặc trị, vượt biên mất tích, đi kinh tế mới,… Những năm 1980 thiếu thốn, lụt bão, lên đường ra chiến trường, đổi tiền… Những năm đó, gánh nặng đè nặng lên vai người lớn, riêng đám học trò nhỏ chúng tôi thì cho gì ăn nấy, mặc nấy và vẫn vô tư lớn lên. Người Sài Gòn – Gia Định từng đối diện nhiều đợt biến động, những lần khủng hoảng trong trăm năm qua. Các bi kịch xảy ra không sao kể xiết. Mỗi nhà mỗi cảnh, không ai có thể thông cảm hết cho ai. Dù gặp chuyện gì, ai cũng nuôi động lực là hy vọng và lạc quan. Hy vọng sẽ có lúc thoát ra được những khó khăn, không lẽ thế này mãi! Có mất mát cũng phải gượng dậy để sống tiếp và giúp nhau vượt qua. Đó là nếp nghĩ của người thành phố này, dù có gốc gác lâu đời ở đây hay mới nhập cư sau này.

PHẠM CÔNG LUẬN

VÀNG XƯA ĐẦY DẤU CHÂN

Chiếc xe buýt dài chở chúng tôi từ bờ biển cực nam Thái Lan ngược lên phía bắc để vào trại tị nạn, thỉnh thoảng dừng lại dọc đường. Đoàn xe có ba chiếc. Mỗi khi xe dừng ở trạm đổ xăng hoặc quán giải khát, chúng tôi ngồi im trong xe, không đưa đầu ra ngoài, chờ, cho đến khi được lệnh xuống xe, nhưng không đi quá xa. Một lần xế chiều, xe dừng lại ở quán nước dọc bờ biển. Trong xe có những người kiếm đâu ra được ít tiền dollars Mỹ hoặc tiền bath Thái, mua nước uống hoặc cà phê, loại pha sẵn trong ly nhựa, có đá vụn, hồi đó rất lạ, nhưng hầu hết bọn thanh niên chúng tôi không có tiền, đứng thẫn thờ tụm năm tụm ba ngoài sân, ngơ ngác như gà mất mẹ.

Trong quán giải khát, nhạc mở ầm ĩ từ mấy cái loa phóng thanh rất lớn. Bỗng giữa chừng chúng im bặt một lúc lâu, rồi một bài hát tiếng Việt bất ngờ phát ra. Đó là bản nhạc khá xưa, nhưng nhiều người trẻ hơn tôi vẫn chưa kịp nghe thì xảy ra biến cố ba mươi tháng tư, sau đó tất nhiên bị cấm. Tôi nhận ra giai điệu quen thuộc. Người đi qua đời tôi trong những chiều đông sầu. Mưa mù lên mấy vai gió mù lên mấy trời. Người đi qua đời tôi hồn lưng miền rét mướt. Vàng xưa đầy dấu chân đen tối vùng lãng quên. Ríu rít, say sưa, chợt cười chợt khóc, dào dạt lòng người, trong buổi chiều nắng xế, chim bay về rừng, mây bay về núi. Mắt tôi nhòa đi, đất trời lay đổ. Giọng hát của ai? Một người trả lời, Thái Thanh. Đúng rồi. Chỉ có Thái Thanh mới hát như vậy. Phạm Đình Chương phổ nhạc bài thơ Người Đi Qua Đời Tôi của Trần Dạ Từ. Lời thơ cực tả kinh nghiệm và cảm xúc trong tình yêu, nhạc và ngôn ngữ hòa quyện mật thiết uyển chuyển, réo rắt, hợp với giọng người hát. Hình ảnh trong thơ đẹp, sang trọng, giàu chất tượng trưng, vần điệu trong thơ đã làm nền cho ca khúc. Giọng hát ngây ngất, phát âm tròn chữ, khi xuống thì xuống hết bực khi lên thì thênh thanh như mây trời. Giọng hát ấy đến từ những ngày xa xưa Hà Nội thời kháng chiến chống Pháp đến Sài Gòn tự do, nâng đỡ bởi âm nhạc của Phạm Duy, Văn Cao, chất melancholy của Phạm Đình Chương, và êm như tơ trời Ngô Thụy Miên.

Bài hát tiếp theo cũng tiếng Việt, hình như do một ca sĩ khác, nhưng không nghe rõ, có thể vì tôi không nghe gì được nữa sau Thái Thanh, vỏn vẹn hơn mười phút cả hai bài rồi trở lại nhạc Thái rock hò hét ầm ĩ như cũ. Trong khoảng vài phút ấy chúng tôi nghe tiếng động của một thời mới đây vài năm mà nay đã xa nghìn trùng. Người đi qua đời tôi không nhớ gì sao người. Mưa nào lên mấy vai gió nào lên mấy trời. Người đi qua đời tôi đường xưa đầy lá úa. Vàng xưa đầy dấu chân đen tối vùng lãng quên. Em đi qua đời anh không nhớ gì sao em. Thái Thanh thuộc lớp những ca sĩ đầu tiên của tân nhạc Việt Nam, hát từ khi còn nhỏ tuổi, nhưng đến khi vào miền Nam mới thực sự tỏa sáng với ban Thăng Long và những Hoài Bắc, Hoài Trung. Điều đặc biệt là bà không dừng lại ở đó mà tiếng hát dường như ngày một tinh luyện hơn. Cách phát âm, đẩy hết cung bậc của tiếng Việt, khai thác sâu các khía cạnh của giọng nói, ở Thái Thanh được nâng lên thành nghệ thuật có một không ai. Những người trẻ sau này có thể không quen và mê tiếng hát này như các thế hệ trước đó, thậm chí có người còn cho là khó nghe. Tuy vậy đó là một tượng đài của nghệ thuật phát âm của tiếng Việt, kẻ tiên phong, có lẽ nhờ Thái Thanh kết hợp giữa lối hát dân gian như ca trù và nghệ thuật opera. Tuy nhiên đó là những ý tưởng bàng bạc qua thời gian, chứ vào giây phút ấy, tôi chẳng suy nghĩ gì cả: tôi chỉ sống, cảm xúc.Sau này mỗi khi nhớ lại quán nước chiều vàng, sóng biển nhấp nhô gềnh đá, con đường hun hút, tôi nhận ra không phải chỉ có âm nhạc Phạm Đình Chương và nghệ thuật Thái Thanh đã làm chúng tôi xúc động. Có một thứ gì khác nữa, hình như ngấm ngầm hơn, sâu xa, lặng lẽ khác với âm nhạc, đã làm chúng tôi sống lại những ngày tháng đẹp đẽ, không khí tự do hít căng lồng ngực, ban mai thanh bình lướt qua như sương trắng muốt. Tôi nhận ra đó là ngôn ngữ, chính là tiếng Việt. Thơ. Vì thơ là tinh hoa của ngôn ngữ. Thơ Trần Dạ Từ như tuổi trẻ, như chiến tranh, như bếp lửa, ở đó bạn từng ngồi xuống giữa những người khác, trước mặt một người. Tình yêu như công việc: sống là việc khó khăn, sống trong tình yêu lại càng khó khăn. Những tình nhân phải kết hợp lại để vượt qua nghịch cảnh, nhưng họ cũng phải vượt qua sự yếu đuối của chính họ, tan rã của chính họ. Chúng tôi già hơn tuổi của mình, đầy vết xước ly tan, bèo bọt. Đó là một tuổi trẻ bị đánh cắp. Lịch sử không thuộc về chúng tôi. Chỉ có ngôn ngữ giữ chúng tôi lại, như sợi dây thừng buộc chặt chiếc thuyền vào bờ, nhấp nhô trên sóng. Gần ba tháng ròng trên biển, lưu lạc ở một đất nước khác, giữa một văn hóa khác, những thức ăn khác, trong hình dung rằng suốt cuộc đời có lẽ chẳng bao giờ còn cơ hội dùng lại tiếng mẹ đẻ. Không bao giờ. Ra đi là bỏ tiếng Việt lại đằng sau. Mother tongue. Tiếng mẹ đẻ. Ca khúc của Phạm Đình Chương chạm tới cốt tủy người nghe. H. ôm lấy tôi. Cả bọn bảy tám đứa không biết lúc nào đứng xích lại bên nhau, co ro, lắng nghe, hồi tưởng. Tôi liếc mắt nhìn người bạn mới quen trên thuyền, anh P, sĩ quan, khi đi cải tạo về thì vợ và hai đứa con nhỏ của anh, một trai một gái, đã mất tin tức, thấy trên má anh một giọt lệ, lăn đi. Ca sĩ không bao giờ biết rằng cô đã hát bài hát ấy trong một quán nước bên đường, đầu những năm tám mươi, khi người Việt tan tác khắp nơi, khi tiếng Việt là niềm hy vọng cuối cùng của họ. Tiếng hát nào hơ nóng.

Hôm đó trong khi đi tới nhà vệ sinh của trạm đổ xăng, băng qua một cửa sổ nhỏ, tôi tình cờ nhìn vào, thấy một cái máy hát, chạy bằng băng cát sét, thấy một người phụ nữ đang rướn mình điều khiển chiếc máy, kê cao trên kệ. Có lẽ là chủ quán hay vợ con của chủ quán, tôi không biết, một phụ nữ còn trẻ khoảng gần ba mươi tuổi, tóc xõa ngang vai, quấn khố dài kẻ sọc xanh đỏ, y phục hoàn toàn theo kiểu Thái. Tôi tò mò đứng nhìn hơi lâu.Khi chị quay lại, ánh mắt của chúng tôi tình cờ gặp nhau. Chị khẽ mỉm cười. Hay là tôi tưởng tượng thế? Tôi không biết. Tôi sửng sốt chỉ kịp gật đầu, không cất thành lời. Vào lúc ấy tôi nhận ra rằng, tôi chắc chắn rằng, không nghi ngờ gì nữa, khuôn mặt ấy là của một người phụ nữ Việt Nam. Tôi đứng im một lúc, rồi sự nhút nhát của cả hai đã chiến thắng lòng can đảm, chị quay mặt đi, tôi bỏ về phía đoàn xe buýt, nơi mọi người đã lên gần hết và người cảnh sát tốt bụng nhưng khó tính đang đứng gần cửa để điểm danh. Tôi đã không còn cơ hội nào để hỏi chuyện với người phụ nữ tha hương kia. Nhưng tôi tin bài hát tiếng Việt, giọng hát huyền thoại, một người làm thơ, một người phổ nhạc, một người hát, trong một lúc đã làm hai chúng tôi gần lại, hai kẻ lưu lạc kia, vốn không hề quen biết, nhờ một băng nhạc cũ bám bụi vàng thời gian mà vẫn có thể nhận ra nhau giữa giông bão cuộc đời.

Nguyễn Đức Tùng

Có Một Mùa Thu Thật Dễ Thương


Có một mùa Thu thật dễ thương!  Tôi đang đây một khách qua đường…thấy trời tim tím thì tôi nói:  “Có một mùa Thu thật dễ thương!”.
Là nghĩa là thương không phải ghét…những con chim sẻ của ai nuôi, với mình bất chợt như là bạn, nhìn chúng bay mà bỗng thấy vui!
Chim sẻ bay và lá…cũng bay!  Hình như tất cả hóa thành mây?  Chỉ hoa hường trắng buồn  đơn lẻ, chắc ngậm ngùi đang thương nhớ ai?
Nụ hoa hường trắng…hường hay trắng?  Trắng chớ hường đâu hỡi má nàng! Tôi muốn bắt chơi từng chút gió gửi về xa lám tận phương Nam…
Gửi về ai đó miền Nam Mỹ, ngày tháng này nơi đó đã Thu, ngày tháng này năm nao đã nhạt…chỉ còn màu tím đọng trên tay!
Tôi đưa bàn tay không ai cầm, tôi bỗng buồn ô hay Thâm Tâm…tiễn người không nói đưa ra biển, không nói dòng sông, chỉ nắng vuơng…
Vuơng vuơng chiều Thu bay áo dài…bay từ dĩ vãng đến hôm nay…con đường lá rụng chưa nhiều lắm…vẫn đủ cho hoàng hôn ngất ngây!
Có một mùa Thu thật dễ thương…có hoa tim tím nở bên đường…có ai tim tím đôi môi lạnh…một chút ngờ như buổi tịch dương…Ôi một mùa Thu ta muốn khóc…nhớ ơi những cọng khói lam chiều…Một người viễn xứ buồn như vậy, em đọc bài thơ em thấy sao?


Trần Vấn Lệ

Em Ơi

Tôi muốn đi lên núi nhìn trời cao
Tôi muốn về sông ngước nhìn mây trắng
Tôi ngửa mặt lên từ sông dài đầy nắng
Tôi thấy mặt trời lấp lánh những trăng sao

Tôi đã mơ từ tinh sương mới mọc
Tôi vẫn mơ khi mùa đã xanh mầu
Tôi thấy tôi sinh ra từ nơi đất
Tôi lại về miên viễn của chiêm bao

Tôi lại đi tìm một thuở hư hao
Tôi còn nắm níu giòng sông hoa mộng
Tôi ôm chiều cao núi đồi lồng lộng
Tôi đo chiều dài biển cả mưa mau

Tôi hẹn người về trong đêm khuất núi
Tôi ngủ quên chiều thu không đớn đau
Tôi thức dậy khi ngàn sao ngủ muộn
Em ơi tôi đây mà em nơi đâu?

Phạm Khánh Vũ