LỤC BÁT TÌNH

 

giữ ngày thương nhớ chia phôi
em theo hoa nắng về trời mất tăm
hốt mưa anh nhốt lệ dầm
vén vun chăm bón cho xanh tháng ngày

con chim yên ả đường bay
tìm cây lót ổ dựng gầy đời riêng
dẫu gì cũng phận thuyền quyên
chiếc nôi hạnh phúc ru bền bỉ em

“chia đôi ngọn gió tháng giêng
nửa chung em giữ nửa riêng anh cầm”**
em là hoa nắng đương xuân
là câu ru mượt theo nghìn dặm xa

em là hương bưởi hương cà
là hơi đất Mẹ với Cha gieo mầm
để cho anh ngóng anh trông
đi qua đời chậm đợi vòng tái sinh

dọn lòng đon đả tân nghinh
nụ hồng em thướt tha xinh bước về
tình mà…như một lằn mê
xiên qua đau đớn đọng thề thốt trôi

leo lên quán dốc gió ngời
nhả từng ngụm khói nhớ người dưới xa
suốt đời làm kẻ bôn ba
đôi lần trở lại buồn tha thẫn buồn

em về phố vẫn mù sương
còn hàng cây đổ bóng nương nắng chiều
còn đôi mắt nhớ ngó theo
bay qua miền khói lạc đèo xa non

em về nuôi mỏng mắt đêm
trơ hàng bóng ngã dãy đèn lặng thinh
nồng tay xếp gọn tóc lành
đêm bên phố cũ thương nhành lá buông

vén sầu chảy mượt nguồn ơn
lắng nghe ngoài núi sấm vờn bãi hoang
hai tay che gió ngực trần
mùi trần gian phảng phất đang lấn về

suốt đời tình luống bụi mê
suốt đời em vẫn đi về trong anh
mưa nguồn chớp bể vây quanh
rớt dòng lục bát để dành mốt mai

Lê Hát Sơn

Advertisements

Mặt Trời Phía Sau

 

 

“Luôn bắt đầu bằng một hình ảnh. Điểm xuất phát phải là một hình ảnh trong đầu mà tôi muốn người đọc nhìn thấy. Hình ảnh ấy mang một xúc động, một cảm giác mà tôi cố gắng tường thuật trên giấy. Tôi chưa rõ nội dung khi bắt đầu viết, tôi không biết liệu sẽ tạo ra một câu chuyện hai trang hay một trăm năm mươi trang, hay cuối cùng sẽ không thành gì hết – chỉ một đoản thiên rồi không đi đến đâu, không khai mở điều gì…”

Eduardo Halfon, cách đây nhiều năm kể về cách hình thành văn bản của chính mình. Halfon chuyên truy lùng căn cước di dân qua trôi giạt rồi tìm về cội nguồn bị áp bức. Có gì giống giữa Trương Vũ với Halfon, một nhà văn Do Thái sinh tại Guatemala?

Giống ở sự trôi giạt. Sự ly tán gia đình. Nhìn cách này, Trương Vũ gần với Halfon: Nhiều thứ đã đi vào quá khứ nhưng vẫn để lại những dấu vết sâu đậm trong tim mình. Tôi muốn nói về một câu chuyện thật, được kể lại để làm nền cho tác phẩm The Bridge on the Drina (Chiếc Cầu trên sông Drina) của nhà văn Nam Tư (Yugoslavia) Ivo Andric’, người đoạt giải thưởng văn chương Nobel 1961. Tác phẩm lấy bối cảnh của thành phố Visegrad của Bosnia từ thế kỷ 16 trở về sau. Đây là nơi thường xuyên chứng kiến những tranh chấp tàn bạo giữa hai đế chế Thổ và Áo-Hung, và cũng là tranh chấp giữa Hồi Giáo với Thiên Chúa Giáo (gồm Công Giáo và Chính Thống Giáo) liên tục suốt 400 năm. Để ngăn chận sự phát triển của Thiên Chúa Giáo, người Thổ tổ chức bắt cóc những đứa con nít thuộc gia đình Thiên Chúa Giáo, thường là những gia đình nghèo, đưa sang vùng cai trị của Thổ, bên kia sông Drina. Những đứa bé này được cải sang đạo Hồi và lớn lên như người Thổ. Rất nhiều bà mẹ đưa con đi chợ với mình, quay nhìn lại không thấy con đâu, rượt theo kẻ cướp cho đến bờ sông Drina, dừng lại, ngơ ngác nhìn theo chiếc phà chở con qua sông. Lúc đó, phà là phương tiện duy nhất để qua sông. Bên kia là vùng cai trị của đế quốc Thổ.

Thời gian đầu ở Mỹ, cả gia đình tôi còn lại Việt Nam. Hình ảnh những bà mẹ đứng ngơ ngác bên này sông Drina luôn ám ảnh. Có nhiều đêm, tôi nằm mơ thấy dẫn các con đi chơi, đang ngồi ăn uống vui vẻ, chợt nhìn lại không thấy con mình đâu.” [Trương Vũ/ Mưa Ướt Vị Thành]

 

Halfon không khác, trong sự phát tán: “Bốn ông bà tôi sinh ra: một ở Liban, một ở Ba Lan, một ở Ai Cập và một ở Syrie. Tình cờ tất cả đều đến Guatemala vào giữa thế kỷ 20, bằng lang thang du mục không có gì khác ngoài Do Thái giáo. Nhưng tôn giáo không đủ lấp mất mát và ngơ ngác. Họ đánh mất người thân trên các lục địa khác. Đánh mất vì nhiều lý do mà tôi chưa biết hết. Khổ đau và cô độc thì tôi đã nhìn thấy trong mắt họ.”

 

Eduardo Halfon và Trương Vũ còn chung cách hình thành văn bản từ một hình ảnh.

 

Ở Halfon, là trận nắng: “Khi viết Tu Viện, hình ảnh mà tôi có trong đầu là cảm giác khó chịu của một ngày về đến Israël, không muốn về, nhưng bị thúc đẩy bởi một thứ bổn phận đầy phiền toái bắt buộc tham dự đám cưới của chị mình. Bên trong tấm ảnh ký ức còn tất cả sức nóng ngột ngạt của sân bay Tel Aviv. Là hình ảnh đầu tiên khi tôi đặt bút viết.” [Eduardo Halfon/ La Fiction m’aide à passer de l’Individuel à l’Universel].

 

Ở Trương Vũ, là trận mưa: “Tôi nhớ những cơn mưa ở Việt Nam, Nha Trang hay Sàigòn. Mưa Sàigòn thường đến ào một cái rồi ngưng. Mưa Nha Trang kéo dài lâu hơn, nhiều khi dầm dề, và cái cảm giác ướt át lành lạnh nó để lại thường dai dẳng. Tôi nhớ những buổi tối, ở xa về, tôi lang thang trên bãi biển dưới mưa, nhiều đêm mưa tầm tã vẫn không muốn về. Tôi nhớ những ngày còn ở trung học, ngồi trên thềm nhà đọc sách, nước mưa rơi xuống từ mái hiên, thỉnh thoảng những giọt mưa tạt nhẹ vào người. Tôi nhớ những đêm mưa tôi dạy học trong một lớp luyện thi. Học trò từ nhiều trường khác nhau, Lê Quý Ðôn, Võ Tánh, Nữ Trung Học… Lớp học mượn của đình Phương Câu, trống một bên. Khi gió lớn, cả thầy lẫn trò đều ướt. Bốn mươi lăm năm đã qua rồi, tôi vẫn còn nhớ rất rõ nét mặt một số học trò trong lóp đó. Tôi còn cảm nhận được cái lành lạnh của nước và mường tượng âm vang tiếng cười giòn của các em khi cố lách mình tránh mưa.” [Trương Vũ/ Những Cơn Mưa Ngày Cũ].

 

Đến đây chấm dứt sự giống nhau, vì Halfon truy tìm nguồn gốc của thảm kịch, còn Trương Vũ tìm sự lạc quan sau bi kịch. Trận nắng của Halfon là trận nắng của thực tại bực bõ khi về quê. Cơn mưa của Trương Vũ không phải mưa bi lụy mà mưa qua lớp học, với học trò. Halfon xây cất tiểu thuyết trên sân phi đạo Tel Aviv của một Do Thái kiều hồi hương, Trương Vũ xây cất tiểu luận trên nền gạch ướt mưa của sân trường cũ. Hai tâm thức. Hai hướng đến.

 

oOo

 

Tháng 5-1979 tôi đạp xe vào ngôi hẻm trên đường Hiền Vương. Ngôi hẻm có hiệu phở đầu ngõ trông sang cây xăng dẫn vào đường Duy Tân. Tôi đến chào thầy Lâm Ngọc Oánh. Tôi nói với thầy: “Em đến chào thầy.” Hai chữ vượt biên không thốt ra. Thầy Lâm Ngọc Oánh nhìn tôi đăm đăm, thầy không một lần hỏi vì sao, không một lần phát âm hai chữ vượt biên. Tháng 5-1979 là cao trào của vượt biên bán chánh thức, các học trò của thầy thay nhau biến mất. Thầy hiểu nên không cần hỏi và ban lời duy nhất: “Em đừng làm gì để bản thân, gia đình và dân tộc bị khinh.” Tôi không gặp lại thầy nữa.

Tháng 5-2019 tôi nhận sách tặng của một người thầy khác: thầy Trương Hồng Sơn, bút danh Trương Vũ. Tôi không học với thầy Sơn nhưng thầy Oánh và thầy Sơn đối với tôi không khác lắm, cả hai là sản phẩm của miền Nam, những giáo chức tận tụy và nhận lại ở học sinh lòng kính trọng cùng thương mến. Khác biệt là thầy Oánh ở lại và thầy Sơn ra đi. Chính nhờ ra đi mà thầy Trương Hồng Sơn trở thành khoa học gia rồi nhà văn, họa sĩ Trương Vũ. Nhưng thầy Sơn trở về và cho xuất bản Đuổi Bóng Hoàng Hôn.

 

Vì sao tựa này?

 

Đuổi theo chiếc bóng tuổi trẻ của chính mình khi bóng xế chiều tà hay xô đuổi ánh chạng vạng để thấy mặt trời phía sau bóng tối? Đọc hết tập sách, tôi có câu trả lời: cả hai. Chính ý nghĩa của cả hai: Mặt trời đã sau lưng vì tuổi già ập đến nhưng vẫn còn phía trước, phía sau hoàng hôn cho một tuổi trẻ khác. Ý nghĩa này là tựa sách. Một mặt trời của quá khứ và tương lai, từ một điểm nhìn là sân trường Việt.

Vị trí ấy giải thích vì sao Đuổi Bóng Hoàng Hôn là một tập tiểu luận pha tùy bút. Vì sao Trương Vũ chọn lối văn tâm tình ngay cả trong những chương thuần tiểu luận. Không hành văn hàn lâm, không phương pháp luận giải đại học mặc dù tác giả rất am tường. Vì là lời khuyên và tâm tư của một thầy giáo. Nếu, vẫn còn chút ít chất sư phạm mà Trương Vũ thừa nhận: “nghề dạy học, với thêm chút tự phụ, dần biến tôi thành một người mô phạm trong cái nghĩa nghiêm túc và nghiêm khắc.” thì ưu điểm nằm trong cách trao đổi thẳng thắn với các học sinh mà Trương Vũ xem đã trưởng thành, ngang hàng. Đuổi Bóng Hoàng Hôn phải nhìn ở góc độ này: 2/3 được viết cho học trò cũ và tuổi trẻ ngày mai, 1/3 còn lại cho các bạn cũ. Trong tổng thể, vẫn là cho tuổi trẻ.

 

Thể tiểu luận khá hiếm trong ngành xuất bản tiếng Việt. Vì ít bán chạy. Vì khô khan. Đuổi Bóng Hoàng Hôn không vậy. Nhờ vào tính chất trữ tình của giọng văn. Nhờ vào điều Trương Vũ tự nhận xét: Sau này lên dạy đại học, tôi càng trở nên nghiêm khắc hơn với học trò mình, với nhiều người xung quanh nhưng lại ít nghiêm khắc với chính mình hơn.” Chính sự thiếu nghiêm khắc đó cho chúng ta những chương Mưa Ướt Vị Thành, Nói Với Chàng Siêu, Lá Mùa Thu, Nắng vàng Trong Rừng Khô, Đất Còn Thơm Mãi Mùi Hương, Về Lại Sorrento.

 

Đuổi Bóng Hoàng Hôn còn bật lên hình ảnh những ngôi trường. Giáo Dục Việt Nam: Những Vấn Đề Căn Bản là chương quan trọng. Trương Vũ là nhà văn tỵ nạn đầu tiên đặt vấn đề cải cách giáo dục quê nhà, ở vào thời điểm chưa ai bàn đến và chưa nhiều sự kiện tha hóa. Khi biết những kiến nghị, đề nghị, hay đề xuất ngay cả của những nhân sĩ thậm chí của các công thần khai quốc “phục viên” vẫn không được Đảng đương quyền liếc mắt, càng thấy sự tha thiết của một giáo chức miền Nam, là thầy Trương Hồng Sơn. Vĩ tuyến 17 còn hay mất? Thắng trận hay bại trận? Không trầm trọng. Trầm trọng là tương lai. Chức năng của một giáo sư là đào tạo và chuẩn bị cho học sinh bước vào tương lai. Trương Vũ, tức thầy Trương Hồng Sơn không quên điều này. Chương 7 của tập sách là tâm huyết của thầy.

Bỏ ra nhiều công sức thâu thập tổ chức học đường của các quốc gia Á châu, cập nhật với giáo dục Hoa Kỳ và phóng chiếu ngược vào học đường miền Nam, Trương Vũ so sánh từng quốc gia, chỉ ra bất cập căn bản của hệ thống XHCN và đề xuất cải cách. Ba suy nghĩ chính của Trương Vũ là Đại học tự trị, Đãi ngộ giáo chức và Sự Tự do bình đẳng giữa sinh viên với giáo sư trên lĩnh vực tư duy và phát kiến. Không mới với phương Tây, nhưng là hy vọng của một thầy giáo vẫn nghĩ còn trách nhiệm với tuổi trẻ quê cũ.

 

“Ðiều cần ghi nhận trong giáo dục toàn diện, không riêng gì cho Singapore, là phần đức dục phải bao hàm tính trung thực, trong sáng, hồn nhiên; phần trí dục phải bao hàm khả năng suy tư độc lập và tôn trọng sự khác biệt; phần mỹ dục phải bao hàm khả năng sáng tạo và khả năng làm đẹp cuộc đời; và phần giáo dục tính xã hội phải bao hàm khả năng biết tôn trọng tính đa dạng của cộng đồng và xã hội. […] Một nền giáo dục thực sự phát triển con người toàn diện không thể là một nền giáo dục nhằm phục vụ một chế độ, một quan điểm chính trị, một tập thể lãnh đạo, một giai cấp, một tôn giáo,v.v. Lỗi lầm quan trọng nhất trong giáo dục Việt Nam lại nằm ở điểm này. Ở miền Bắc trước khi chiến tranh chấm dứt, và ở cả nước trong khoảng gần 20 năm tiếp theo đó, nó là một nền giáo dục của xã hội chủ nghĩa, nó không chấp nhận những mô hình xã hội khác, những tư duy khác. Bên cạnh đó nó là một nền giáo dục mang tính giai cấp, dành đặc quyền giáo dục cho một thành phần của xã hội. Ngày nay, tính giai cấp quả thật đã giảm đi nhiều. Riêng về các môn học như Triết học Mác-Lê-nin, Chủ nghĩa khoa học xã hội, Lịch sử Ðảng, Tư tưởng Hồ Chí Minh, v.v. dù thực tế cho thấy sự thất bại không thể chối cãi của mô hình xã hội chủ nghĩa, chúng vẫn còn là những môn học bắt buộc và chiếm một thời lượng không nhỏ trong chương trình học và cả trong thi cử. Dù rằng, không phải đến bây giờ mà đã hơn mười năm trước đây, các môn học này đã được xem là những môn mà “thầy không muốn dạy, trò không muốn học”. Sự bắt buộc này kéo theo một vấn nạn khác của giáo dục: buộc học trò chấp nhận và sống với sự giả dối và bất công. Nhất là bất công với những triết thuyết khác, những đóng góp trí tuệ khác trong suốt quá trình phát triển của nhân loại. Theo Quốc Việt, “Việc đưa lịch sử đảng cộng sản, chứ không phải lịch sử quốc gia và dân tộc thành một môn học bắt buộc là một việc không những đi ngược lại với yêu cầu của xã hội mà còn phản lịch sử, phản dân tộc, và phản tiến bộ.” […]

Giáo dục Việt Nam cần giảm bớt mô thức giảng dạy áp đặt và tăng cường mô thức gợi ý.

Cần giảm thiểu sự mệt mỏi của học sinh, nhất là học sinh cấp tiểu học. Ðặc biệt, nên giảm bớt lượng kiến thức hay thông tin trong chương trình học. Nhắm đến một hành trình lâu dài hơn của con người. Không nên để họ gục ngã sớm về đầu óc.

Ðặt nặng vào việc đào tạo giáo chức và dành những đãi ngộ đặc biệt cho họ. Trong trường hợp các nước đang phát triển như Việt Nam, giáo chức phải được tuyển chọn từ thành phần ưu tú nhất của đất nước. Trong thực tế, một thanh niên ở tuổi 18 mới bước chân vào đại học chưa có ý niệm gì về những vấn đề như yêu trẻ, như hết lòng đào tạo tốt những thế hệ tương lai của đất nước. Chỉ có lòng tự hào, sự đãi ngộ và vị trí xã hội mới lôi kéo được các sinh viên ưu tú nhất vào các trường sư phạm, gần giống như cái cách mà nước Pháp đã dành cho sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm của họ, hay chính sách của Ðại Hàn như đã trình bày trên đây. Ðiều này đòi hỏi một chính sách ưu đãi từ phía chính quyền và một thái độ yểm trợ tinh thần từ xã hội.

Ðối với các trường đại học, ngoài việc áp dụng chương trình giảng dạy theo mô hình của các quốc gia tiên tiến tây phương, quyền tự trị đại học cần được ban hành cho đại học Việt Nam. Thiếu sự tự trị, đại học Việt Nam khó thể hoàn tất vai trò đào tạo trí thức của nó. Ðây có thể là một liều thuốc đắng nếu chính trị xem đại học như một lực lượng đối kháng nguy hiểm. Nhưng, đây lại là một điểm chuyển hướng quan trọng để những thành phần tốt nghiệp đại học trong tương lai không mang mặc cảm nào với những đồng nghiệp ở các nước tiên tiến, đặc biệt ở các nước Á châu vốn trước đây có cùng điều kiện văn hóa, giáo dục, kinh tế với Việt Nam, như Ðại Hàn và Ðài Loan. Từ điểm chuyển hướng đó, họ mới có thể đóng góp cho đất nước bằng tất cả sức mạnh tinh thần, lòng hăng say, và niềm kiêu hãnh của họ. Ðừng nên quên một thực tế này, một sinh viên Việt Nam nếu bằng cách nào đó ra khỏi nước, vào học các trường đại học của tây phương, khi trở về (ngay cả khi  quyết định ở lại ngoài nước) thường được coi trọng hơn là nếu anh ta chọn ở lại với trường đại học trên quê hương. Sự kính trọng đó phát sinh từ những điều kiện về giáo dục mà sinh viên đó được hưởng ở nước ngoài, bao gồm những điều kiện mà anh ta hoàn toàn bị từ chối nếu chọn ở lại trên quê hương. Ðây là một bất công rất khó giải thích.

Ðề nghị sau cùng, và có lẽ là đề nghị quan trọng nhất, là nhà nước Việt Nam nên xem phát triển giáo dục toàn diện là ưu tiên hàng đầu của quốc gia, xem nguồn nhân lực được đào tạo qua giáo dục là tài nguyên quí giá nhất của đất nước. Và, khi làm chính sách giáo dục đặt trọng tâm vào những mục tiêu lớn như đào tạo con người trung thực, có sáng tạo, có tư duy độc lập, biết tôn trọng sự khác biệt, v.v. bên trên sự chuyển giao tri thức.  Và, quên đi những gì thực sự không còn giá trị nữa. [Trương Vũ/ Giáo Dục Việt Nam: Những Vấn Đề Căn Bản]

 

Những điều trên, thầy Trương Hồng Sơn viết đã hai thập niên, còn nguyên giá trị.

 

oOo

 

Đuổi Bóng Hoàng Hôn bao gộp 8 tiểu luận với 2 điểm sách và 10 tùy bút. Đặt sang bên những ghi của tác giả dành cho những người bạn, rồi tùy bút kỷ niệm, còn lại là những luận đề và kiến giải mang những chủ đề vô cùng khác biệt, tách bạch và riêng rẽ. Thông điệp nào chung giữa chúng?

Chương 12: Trương Vũ khảo sát bối cảnh lịch sử hình thành của tạp chí Sáng Tạo (như Lukács luôn yêu sách) với khả năng đổi mới sáng tác của từng thành viên, từ Duy Thanh, Ngọc Dũng đến Tô Thùy Yên, Thanh Tâm Tuyền xuyên qua đánh giá công lao của Mai Thảo. Điểm gây chú ý là tác giả trình bày chi tiết những va chạm với Nhất Linh khi Nhất Linh rời Đà Lạt cho ra mắt Văn Hóa Ngày Nay.

Trương Vũ trích tấn công của Duy Lam: “Không biết rõ trong thực yế phản ứng của nhóm Sáng Tạo như thế nào đối với VHNN, nhưng sự cọ xát phải lên đến một mức độ trầm trọng. Ðến nỗi Nhất Linh đã cho đăng những bài công kích hay chế giễu Sáng Tạo. Một cách không công khai như bài viết của Thu Vân trên VHNN số 3, hay tương đối công khai như bài viết của Duy Lam trên số VHNN Giai Phẩm Xuân 1959: “…đến gần mới biết đó là một họa sĩ của nhóm Sáng Tạo (…) Họa sĩ vẽ tài thật, tác phẩm của họa sĩ thật thể hiện được hết tinh thần và tinh túy nội ngoại của đống rác (…) Bước chân vào tòa báo Sáng Tạo tôi lấy làm lạ vì thấy mỗi người đứng một góc phòng trước một bàn thờ nhỏ treo một bức ảnh bán thân. Họ làm đèn khấn vái rất thành kính và lễ luôn tay. (…) Tôi đến sau lưng văn sĩ M.T. người chủ trương nhóm S.T. anh cũng không hay biết. Lắng tai tôi nghe thấy anh khấn: ‘Trời ơi! Người là một người siêu phàm! Người là tất cả. Người ngự trị trên thế giới này! Ta kính phục người, trọng người vô vàn!…’

Tò mò tôi nhìn lên bàn thờ thì chợt giật mình kinh hoảng vì lạ thay anh M.T. đang lễ ảnh anh M.T.! Qua thăm những bàn thờ khác thì đại loại đều thế cả (…)”

 

Rồi đúc kết: “Thực tế, mặc dầu được sự đón nhận vô cùng nồng nhiệt từ lúc đầu, trong sự cọ xát đó, người đọc hờ hững với Văn hóa Ngày nay (VHNN). Tạp chí VHNN kéo dài không được hai năm thì đình bản. VHNN quy tụ được rất nhiều cây viết có thực tài. Thế nhưng, nếu nhìn VHNN như một vận động văn học thì ảnhh ưởng của nó trong sinh hoạt văn học nghệ thuật của miền Nam lại rất khiêm nhường.

Ghi lại những cọ xát đó cùng với cách kết thúc đó chỉ để nói lên một điều: miền Nam đã thay đổi nhiều lắm. Mặc dầu rất kính trọng Nhất Linh, người đọc sách ở miền Nam không còn muốn thu mình trong cái thế giới văn chương của ông nữa. Họ gần với Sáng Tạo hơn. Không có gì sai trong chủ trương “văn phải dựa vào thời gian và dựa không gian để vượt không gian”. Rất đúng là đằng khác. Tuy nhiên cái thế giới văn chương của Nhất Linh ở VHNN vẫn còn quẩn quanh trong văn chương của trường ốc. Ngoài văn chương cổ điển Việt Nam và Trung Quốc, nó thu hẹp trong ảnh hưởng văn chương Pháp của thế kỷ 19 cộng với Leo Tolstoi và Dostoievski của Nga. Trong suốt các số VHNN, người đọc không thấy sự hiện hữu của thế kỷ 20, cũng như không thấy có dòng văn học nào khác ở thời đại này.

Vào thời điểm đó, sự khao khát sống vượt ra ngoài cái thế giới nhỏ bé của miền Nam đã rất lớn. Những ý thức về độc lập và bình đẳng cũng đã bắt đầu ăn sâu. Có lẽ vì vậy mà tính cách của xã hội miền Nam và của văn học miền Nam gần với Sáng Tạo hơn là với VHNN.” [Trương Vũ/ Vị Trí Của Sáng Tạo Trong Sự Phát Triển Văn Học Miền Nam Sau 1954]

Trong đúc kết này, người đọc bắt gặp lại câu kết của Chương 7 Giáo Dục Việt Nam: Những Vấn Đề Căn Bản: “Và, quên đi những gì thực sự không còn giá trị nữa.” tức là trong văn chương, phải hướng đến các giá trị phổ quát mới của thời đại, phải nhìn ra thế giới. Phải tìm đến một mặt trời khác, đang trước mặt.

 

Chương 5: “Vấn đề đáng nói ở đây là sự thức tỉnh của dân tộc Tiệp Khắc. Để nói về sự thức tỉnh này, không có gì hơn là ghi lại một câu viết trên bức tường một hầm xe điện ngầm ở Prague: Chúng ta đã tập bay như chim và tập lặn như cá. Có phải đây là lúc chúng ta bắt đầu sống như những con người?” [Trương Vũ/ Mùa Đông Prague]

 

Vẫn cùng một thông điệp: “quên đi những gì thực sự không còn giá trị nữa.”

 

oOo

 

Trong 10 tùy bút, nếu Mưa Ướt Vị Thành thành công nhất ở lối văn tâm tình thì Cung Giũ Nguyên, Tác Giả và Tác Phẩm gây tò mò. Xuống đến thế hệ thiếu niên của miền Nam vào năm 75, rất ít ai còn biết đến thầy Cung Giũ Nguyên, ngay cả mối tình với Nguyễn Thị Hoàng.

Trương Vũ viết về thầy mình với tất cả kính trọng. Một vị thầy thông thạo Anh-Pháp-Việt, một tiểu thuyết gia phá cách, có nhân sinh quan và sáng tạo. Một con người đã thăng trầm từ Xứ ủy Trung kỳ sang đến Nền Cộng hòa để cuối cùng thu mình vào “xó góc của Trần Đức Thảo”, như Louis Althusser đặt tên cho đất Việt Cộng sản. Là học trò của thầy Cung Giũ Nguyên, Trương Hồng Sơn cũng không thoát khỏi tao loạn: sinh ra giữa chiến tranh Việt-Pháp, lớn lên trong nội chiến để rồi phải thành công dân Hoa Kỳ và làm nhà văn tỵ nạn. Hai thế hệ nối nhau. Sự tan vỡ cũng liền nhau, tan vỡ này viết về tan vỡ kia. Nhưng vẫn cố gắng giữ Chân-Thiện-Mỹ. Cố gắng gieo vào lòng hậu sinh hy vọng. Điểm này thầy Cung Giũ Nguyên đã thành công khi trao cho môn sinh Trương Hồng Sơn.

 

Đọc Cung Giũ Nguyên, Tác Giả và Tác Phẩm, người đọc cảm giác đang nhìn một miểng chai thủy tinh đã bể nhưng còn sáng và đang phản chiếu mảnh vỡ của một miểng chai khác, bể đã lâu, còn nằm đó. Cả hai, dưới nắng Nha Trang, lấp lánh trên mặt cát. Cát chứa trong mình thủy tinh vì cát làm ra thủy tinh.

 

Chương 14 đặc biệt mang bi kịch của hai thế hệ: đã trang bị rất nhiều tri thức, chung khát khao vun bồi để cuối cùng bị cuốn phăng theo bão táp. Sự tan biến ấy, hay khoảng trống không sau cuồng phong, được Trương Vũ nhắc lại nhiều lần, bằng chính văn của Cung Giũ Nguyên: “… một vật lơ lửng trên vực thẳm, được những sợi tơ mành của hy vọng giữ lại. Hy vọng nơi ai? Hy vọng nơi gì? Và có lý do nào để hy vọng? Nhờ biệt lệ nào được nâng đỡ như thế này, trong thời gian có giới hạn nhất định. Hay ta lại muốn cho thời gian còn kéo dài mãi, hay ít ra còn lâu nữa mới chấm dứt. Bởi tánh cách đột ngột của sự việc quá rõ ràng, nhưng một mối đầu luôn luôn phải có đối ứng tất yếu là đầu mối kia. Tuy sự quên lãng những quy luật thường đi đôi với ảo tưởng. Dưới kia là một vực thẳm âm u cuồn cuộn…”

 

Thầy Cung Giũ Nguyên hẳn am tường những câu Pháp văn: « Toutes nos espérances sont mortes, nous en venons à espérer en un plus grand désespoir./ Tất cả những hy vọng của chúng ta đã chết, chỉ còn trông chờ sự tuyệt vọng lớn hơn.» Vậy thầy hy vọng gì? Boujoum!

Qua giới thiệu của Trương Vũ, Boujoum là tác phẩm quan trọng nhất của Cung Giũ Nguyên. Nhưng trông chờ Boujoum là trông chờ gì? Không ai biết! Và Boujoum là gì? Không ai hiểu! Chính vì tương lai là điều không thể đoán ở vào thời điểm 1976-1980 khi Cung Giũ Nguyên viết Boujoum giữa một Nha Trang Walking Dead.

 

Nhiều thập niên sau có thể phân tích: Boujoum đây là Boojum. Tiếng Pháp nhại âm tiếng Anh, có thể là nhại âm bản địa Baja California; có thể là đâu đó trong trí tưởng của di dân Tô Cách Lan. Boojum là snark. Là con vật vô nghĩa trong trường thi Hunting of the Snark/ Chuyến Săn Snark của Lewis Carroll. Thơ của Carroll chơi với giữa sự có nghĩa và vô nghĩa của thanh âm và hình tượng trong ngôn ngữ. Qua trích dẫn của Trương Vũ, người đọc hồ như thấy được cái mỏng manh rung động giữa thời này và thời khác, giữa có nghĩa và vô nghĩa, giữa vật chất và tưởng tượng, giữa hy vọng và tuyệt vọng. Nhưng Trương Vũ không viết nhiều về nội dung của Boujoum, vì: “nếu bạn cố gắng đi tìm cốt truyện thì không khéo bạn lạc vào một khu rừng rậm không lối ra, cho dù sau khi bạn tin rằng bạn đã tìm được nó.” Rồi Trương Vũ viết: “Amdo và Domicella được tái tạo từ Vườn Địa Đàng, cùng với cái đối đãi giữa âm và dương, cái quan niệm trong dương có âm, trong âm có dương, hoặc ý niệm đâu là chỗ bắt đầu, đâu là chỗ kết thúc, ý niệm về chiều thời gian, lúc nào tới lúc nào lui, v.v.. Tính cách này cũng được biểu lộ rõ rệt khi tác giả chọn hai chữ Thái Huyền cho bản dịch tiếng Việt.”

Vậy tiểu thuyết Boujoum nội dung là gì? Đầy bí ẩn! Như khi người ta hỏi ý nghĩa trường thi Chuyến Săn Snark của Carroll, thì Lewis Carroll trả lời là chính ông không biết… Thế hệ sau khó mường tượng ra Boujoum, nhưng ngờ ngợ bản thể của boojum và snark.

Nhưng nỗi khổ của Boujoum là đây: một cuốn tiểu thuyết muốn ra đời trong dạng vật chất của giấy mực in để đến tay đọc giả qua ngôn ngữ mẹ đẻ của những đọc giả ấy, nhưng dù được khen bởi một giáo sư Tây nào đó trên một tạp chí Pháp văn nào đó, và lẽ ra được nhà Fayard xuất bản năm nào đó, đã phải lặng lẽ biến mất vì lý do tài chánh của Fayard. Rồi Boujoum biến thành Thái Huyền được nhà Đại Nam xuất bản tập 1 mà vĩnh viễn không có tập 2. Cũng vì lý do tài chánh… Cuối cùng các môn sinh của thầy Cung Giũ Nguyên, nặng tình thầy trò, đã quyên góp xuất bản năm 2003. Nhưng Văn học Pháp không biết đến Cung Giũ Nguyên. Đọc giả Pháp càng không. Riêng lý do tài chánh, thì chỉ cần nhìn vào thư mục sách đồ sộ của nhà Fayard phồn thịnh từ 1857 là hiểu lý do ấy thuần lịch sự. Boujoum, là một thất bại nhập vào dòng chính của văn chương Pháp.

Qua gian truân của Boujoum, người đọc mường tượng ra những rối rắm đan chéo trong cảnh huống của người Việt: Nhà văn Cung Giũ Nguyên dùng Pháp văn trên nền Pháp văn ngoài lãnh thổ Pháp, rồi dịch sang tiếng Việt trên nền Việt văn ngoài lãnh thổ Việt Nam, với cách nhìn của một môn sinh lưu vong, trong nỗ lực xuất bản của những học trò còn tôn sư trọng đạo, hoài niệm quê quán…  Chỉ riêng Chương 14 này thôi, đầy ắp những nghịch lý của một sự tan nát.

Trương Vũ kể: “Cách đây hơn 30 năm, các cựu học sinh của trường trung học Võ Tánh Nha Trang tổ chức một buổi họp mặt tại trường cũ, để thăm lại trường xưa và đồng thời cũng để tỏ lòng nhớ ơn thầy cô giáo cũ của minh. Nhiều cựu học sinh lên phát biểu cảm tưởng. Có người cho rằng cái thời còn đi học ở mái trường thật là tuyệt vời và ước sao mình vẫn còn cặp sách đến trường như thuở nào. Có người tiếc rằng hồi đó mình còn trẻ thơ nên không hiểu được lòng thương yêu vô bờ của thầy cô đối với mình, nếu bắt đầu trở lại, chắc chắn sẽ khác đi, v.v… Nghĩ thật mà nói cũng có, nói cho đúng “sách vở” cũng có, và nói cho phải đạo cũng có. Khi đến lượt thầy Nguyên lên phát biểu, thầy kể câu chuyện về Orpheus trong thần thoại Hy Lạp. Orpheus là vị thần của âm nhạc. Những bài thơ và tiếng hát của ông có khả năng cứu sống cả một đoàn thủy thủ bị ma quỷ hóa hình mỹ nhân ngư để dụ dỗ và ám hại. Ông có một người vợ rất đẹp mà ông rất yêu quí là Eurydice. Trong một cuộc săn đuổi vì chính sắc đẹp của mình, Eurydice bị rắn độc cắn chết. Vô cùng thương xót, Orpheus tìm mọi cách để cứu vợ. Nhờ tiếng đàn tuyệt vời khiến những vị thần giữ cửa địa ngục sao nhãng, ông lẻn vào được âm cung. Cảm động trước tấm lòng và tiếng hát của Orpheus, các tử thần đồng ý cho Eurydice đi theo ông trở lại thế gian, chỉ với điều kiện là trên đường đi Orpheus không được ngoái nhìn lại Eurydice. Nhưng Orpheus đã ngoái lại, Eurydice liền tan biến và mất vĩnh viễn. Orpheus trở nên điên loạn, cuối cùng kết thúc cuộc đời mình một cách thảm khốc.

Câu chuyện thần thoại đó hầu như ai cũng biết, nhưng những lời phát biểu của ông vào lúc đó gây cho chúng tôi một ấn tượng mạnh về cái ngụ ý ông muốn gởi đến chúng tôi. Có điều, không phải bất cứ bài học nào của thầy cũng được học trò mang theo ra khỏi cổng trường. Nhưng với ông, về điều ông muốn nhắn nhủ chúng tôi, tôi tin ông sống rất thật với nó. Tôi tin chắc thầy Nguyên có rất nhiều mất mát trong đời ông, và dĩ nhiên là ông ý thức rất rõ về những mất mát đó, nhưng ông không bao giờ chịu để những mất mát đó đánh gục ông. Tinh thần này bàng bạc trong những sáng tác của Cung Giũ Nguyên. Đồng thời, trong Le Boujoum, cũng có rất nhiều bài thơ và tiếng hát biểu lộ phong cách đó.” [Trương Vũ/ Cung Giũ Nguyên, Tác Giả và Tác Phẩm]

 

Trương Vũ không kể rõ thầy Cung Giũ Nguyên muốn khuyến cáo môn sinh điều gì? Phải chăng câu chuyện Orpheus chính là thông điệp của Boujoum? Đừng đánh mất lòng tin vào ý nghĩa của ngôn từ vô nghĩa nhất, sau đợt tàn phá của bạo lực Cộng sản đánh vào văn chương? Ngay cả những khi không hiểu gì hết, vẫn phải tin vào chữ? Hay Cung Giũ Nguyên muốn nhắc những học trò đã ra đi đừng nhìn lại, vì nhìn lại là định hình (người) và định vị (quá khứ) trong chiều thời gian vẫn chảy tới? Đời sống là một đường thẳng tiệm tiến không có điểm dừng, phải đi tới?

Khi không xác định nội dung của Boujoum, có phải vì Trương Vũ hiểu rằng nếu quay nhìn lại tác phẩm sẽ định vị Cung Giũ Nguyên trong ngữ nghĩa và định vị văn bản kỳ lạ ấy? Phải chăng Trương Vũ cũng đã đi tìm Cung Giũ Nguyên như Carroll săn Snark:

In the midst of the word he was trying to say,

In the midst of his laughter and glee,

He had softly and suddenly vanished away —

For the Snark was a Boojum, you see.

(Lewis Carroll, The Hunting of the Snark)

 

Suốt tập sách, Chương Cung Giũ Nguyên, Tác Giả và Tác Phẩm là chương lạ lùng nhất. Nhưng cũng chính Chương 14, áp đáy tuyệt vọng này, bật lên tinh thần của Trương Vũ đã cố hiểu thầy mình và đi tìm giải đáp trong chiều hướng tích cực nhất. Trong Người Đọc Sách Với Cái Thật, Cái Giả Trong Văn, khi Trương Vũ viết: “Sức mạnh của chúng ta là ở cái đầu và con tim. Chính những ý thức về văn minh, về tiến bộ, về tự do, về dân chủ, cùng với khát vọng được sống một đời có phẩm cách của một con người ở thời đại này đã đánh gục chủ nghĩa Cộng sản ở Đông Âu, chứ không phải là súng đạn”, là thành quả của Boujoum.

oOo

 

Tháng 7-1994, mười lăm năm sau vượt biên tôi đạp xe vào ngôi hẻm trên đường Hiền Vương. Ngôi hẻm có hiệu phở đầu ngõ trông sang cây xăng dẫn vào đường Duy Tân. Tôi đến tìm thầy Lâm Ngọc Oánh. Tôi muốn nói với thầy: “Em đã không giữ được lời hứa với thầy. Em đã đi xin ăn ở đảo Liminangcong và bị dân Phi khinh. Nhưng em đỗ tú tài và cao đẳng nhờ học tích phân, giải tích, ma trận với thầy. Em đến để cám ơn thầy.” Tôi muốn nói với thầy Oánh thật nhiều, là không có thầy, tôi đã bỏ học vì nhà bị đánh tư sản ở trường về nhìn thấy phường đội đóng chốt kiểm kê từng đôi đũa và khuân đi hết những gì quý giá… Thầy Oánh đã khuyến khích, ân cần khuyên nhũ và mở lớp dạy phụ đạo thêm mỗi chiều cho tôi có chỗ đến và tập trung học toán không phải suy nghĩ… Tôi muốn tâm sự với thầy, vì thời điểm 78-79 quá khắc nghiệt khiến thầy trò không dám thố lộ nhiều và tôi có biết bao chuyện muốn kể cho thầy nghe… Nhưng thầy Lâm Ngọc Oánh không còn ở đó, cánh cửa sắt sơn xanh im lìm.

Tháng 5-2019 đọc Đuổi Bóng Hoàng Hôn, tôi không ngừng nghĩ đến thầy Lâm Ngọc Oánh vì toàn tập sách là những câu chuyện tâm tình giữa thầy trò, giữa thầy Trương Hồng Sơn với sinh viên, giữa thầy Cung Giũ Nguyên với học sinh Trương Hồng Sơn. Những câu chuyện hướng thượng, những ý cao tình đẹp, những ý niệm cao vời về tình người, về con người với con người. Tôi thuộc thế hệ xem văn bản là chỗ để đập nát hết các giá trị nên với tôi, Đuổi Bóng Hoàng Hôn là một vật lạ. Sự hiếm quý đã biến mất.

 

Đứng trước câu hỏi: Hình ảnh ban đầu luôn là tự truyện?”, Eduardo Halfon đã trả lời: “Vâng, luôn luôn. Tôi viết về cuộc sống của tôi, thời thơ ấu của tôi, mối quan hệ tôi có với cha tôi, ký ức về người tôi yêu… Mỗi nhà văn, bằng cách này hay cách khác, luôn bắt đầu bằng tự truyện của mình. “Bà Bovary, là tôi”, phải không? Tự truyện có thể được ngụy trang, đeo khăn che mặt hoặc đeo mặt nạ, nhưng người ta luôn viết bằng một phần của chính mình, về đời sống của một con người. Trong trường hợp của tôi, không có mạng che mặt hoặc mặt nạ. Tấm khăn che mở toang, là tôi… Tự truyện là cuộc đời của một người nhưng trong chiều sâu, tất cả mọi người đều giống nhau. Tất cả mọi người là một người. Tôi không biết cảm giác của người khác, nhưng sử dụng cảm xúc, lo lắng, mong manh, sợ hãi của tôi, nếu tôi làm đúng công việc của mình, những người đọc tôi sẽ nhận ra những lo lắng, cảm xúc, sự mong manh của họ.”

 

Trương Vũ cũng có thể trả lời như vậy, từ hình ảnh đầu tiên Những Cơn Mưa Ngày Cũ và về tự truyện của mình qua thể tùy bút và tiểu luận. Đuổi Bóng Hoàng Hôn là mặt trời đã sau lưng nhưng vẫn còn phía trước, cho một tuổi trẻ khác.

 

Trần Vũ, 25 tháng 6-2019

ĐƯỜNG LÊN NÚI NGỰ

 

Vết xe lăn buồn đưa ai về núi
Có con ngựa già mắt dõi xa xăm
Hai lão nông phu lê thêm cuốc xẻng
Một mụ o già lửng thửng theo chân.

Trên một khoảng đường mưa như rãi đậu
Nhảy múa tưng bừng trên ngói rong rêu
Của một vương triều xưa như giấy mục
Sơn phết hoàng kim áo mão tiêu điều.

Con ngựa cúi đầu trên đường thiên cổ
Trí óc mịt mù nhớ những năm qua
Cất vó tung bay giữa trời sương gió
Đồi cỏ rừng hoang xuân hạ mấy mùa.

Bánh xe lăn buồn đưa ai về núi
Bỏ lại phía sau giấy bạc giấy vàng
Bỏ lại phía sau tháng ngày oan nghiệt
Chiều xuống lạnh lùng giữa đám mây tan.

Bánh xe lăn buồn đưa ai về núi
Những hạt bụi vàng rơi rớt mông lung
Con ngựa gầy còm đang đi nước kiệu
Đưa tiễn linh hồn về cõi hư không.

Tôn Nữ Thu Nga

Má Tôi

 

Viết tặng má thân yêu của con nhân ngày giỗ má .

Ngồi nhìn ánh nắng nhảy múa lung linh ngoài cửa sổ, tôi chợt nhớ lại những kỷ niệm êm đềm thuở còn nhỏ, khi còn sống bên má trong một thành phố nhỏ ven biển Qui Nhơn. Má tôi giờ đã không còn nữa, các con của má giờ tóc đã muối tiêu, nhưng mỗi lần nghĩ lại là tôi còn có cảm giác như mình còn bé bỏng lắm, như ngày nào còn thơ dại, nắm áo lẩm đẩm bước theo má. “Cái đuôi của tôi!” như má ngày xưa thường bảo với mấy bà hàng xóm. Gần đến cuối đời, tôi mới cảm nhận hết được niềm hạnh phúc cho những ai được sống trong tình thương yêu của cả cha lẫn má từ thời thơ ấu cho đến khi trưởng thành.
Vào thập niên 1960, quê hương tôi còn quê mùa lắm, dầu là ở thành phố nhưng nhà cửa thưa thớt, xóm nhà nầy cách xóm nhà kia là một bãi cát trắng dài hoang vu. Lúc đó, tôi đang học lớp hai trường Mai Xuân Thưởng. Tôi nhớ mang máng là tôi đã học qua cô Mai, cô Cầm và thầy Bút, thầy Đính làm hiệu trưởng. Nhà trường lúc ấy phát động phong trào: Mỗi em một cây xanh, hoa hay cây trái nhỏ trồng trước cửa lớp. Cuối ngày xếp hàng ra về tôi cố ý xếp hàng cuối cùng và đi thục lùi, lén ở lại trường, chờ thầy cô leo lên xe đạp ra khỏi cổng là tôi bứng vội cây hoa mà mình ngắm nghía suốt cả ngày đem về nhà. Sáng mai, tôi đi học sớm thế vào đó là những cây hoa khác mà tôi đã trồng rất nhiều ở nhà. Vào những buổi sáng mùa đông, trên đường từ nhà đến trường, tôi thường bị các bà nội trợ kéo vào nhà, săm soi chiếc áo len đan hay móc, màu sắc pha trộn rất đẹp của tôi rồi hỏi :
– Ai móc cho con cái áo len này vậy ?
Tôi hãnh diện trả lời :
– Má con móc cho đó !
Tôi còn muốn khoe với bà ta là má còn biết làm bánh mứt, biết cắt hoa đu đủ pha màu chưng trong ba ngày Tết giống y như hoa thược dược thật.
Đời sống ở tỉnh lẻ rất nhẹ nhàng và bình yên. Dưới thời ông Diệm, đất nước được thanh bình và êm ả. Tầng lớp được mọi người kính trọng lúc bấy giờ là công chức, làm việc hay đi dạy cho chính phủ. Tầng lớp thứ hai còn sướng hơn mấy ông công chức, khỏi đi làm mà vẫn được hàng xóm, láng giềng nể trọng. Đó là mấy bà vợ mấy ông công chức. Má tôi thuộc thành phần này. Bà sống rất phong lưu mặc dù lương dạy học của ba tôi không được bao nhiêu. Ở phía trước nhà, má tôi bán phụ thêm sách báo, sách giáo khoa, bút mực và văn phòng phẩm. Bà giao tiệm cho người cháu gái trông nom. Sáu đứa con giao cho người làm săn sóc. Bà dành hết thì giờ để tới nhà bạn bè, bà con chuyện vãn. Đi chơi cũng có lịch trình: ngày thứ hai nhà bà Quảng, ngày thứ ba nhà bà Trang, ngày thứ tư nhà bà Định, ngày thứ năm nhà dì Tâm, thứ sáu nhà dì Dung, thứ bảy và chủ nhật là nhà cậu Cả, lúc nào cũng có tổ chức ăn uống hay đánh bài tứ sắc. Tôi lúc nào cũng là cái đuôi của bà, má tôi đi đâu là tôi theo đó. Bởi vậy, chuyện dâu con bà Tâm, bà Trang, chuyện con bà Định… chuyện thiên hạ làm sao là tôi biết hết tỏng.
Hòa bình kéo dài được dăm ba năm. Năm 1963 ông Diệm bị lật đổ, phe đảo chính lên nắm chính quyền, quân miền Bắc tràn vào ở nông thôn, Mỹ đổ bộ dồn dập xuống cảng Đà Nẵng, Qui Nhơn và Cam Ranh. Qui Nhơn biến thành một cái chợ trời hàng Mỹ Nhật cho cả nước, Bar bảy mọc lên khắp nơi, nhiều gương mặt lạ, nhiều giọng nói khó nghe, tiếng nhạc ồn ào kích động át tiếng sóng biển. Thế lực kim tiền bắt đầu xuất hiện. Người ta nói đến những người mới giàu nổi: mấy bà chủ khách sạn, mấy ông nhà thầu rác, mấy vị chủ quán Bar nổi lên như nấm sau cơn mưa. Bar nào Bar nấy sơn phết loè loẹt, đèn đuốc sáng trưng, lưới B40 rào kín phía trước chung quanh, nhạc sống nhạc chết kích động rập rình thâu đêm suốt sáng, chị em ta ở Sài Gòn ra dập diều trên đường phố, ong ỏng mời gọi khách vào Bar của mình. Nhà tôi nằm ngay trung tâm của vùng Tam Giác Vàng của chị em ta, cái địa điểm lý tưởng để hái ra tiền, nhiều người thèm thuồng đề nghị xin thuê hoặc hợp tác làm ăn nhưng ba tôi đều một mực lắc đầu giận dữ: Đói cho sạch, rách cho thơm, tuyệt đối không chạy theo đồng đô la, không cho thuê phía trước nhà, không Bar bảy.
Má tôi không chịu thua, cờ tới tay phải phất. Bà dắt đứa con gái, cái đuôi của bà, ra phố Gia Long mua sỉ những gì mà lính Mỹ thích: rượu, thuốc lá, bánh kẹo, bong bóng, áo Kimono, rương gỗ, móc áo … đem về tiệm mình bán, biến tiệm sách thành tiệm tạp hóa hầm bà lằng. Má tôi thôi không đi chuyện vãn nữa mà dành hết thì giờ của mình để kiếm tiền đô. Buôn bán rất phát đạt, tôi lúc đó mới mười tuổi, ngoài giờ học tôi xách xe đạp lên phố cất hàng và chở hàng về bằng xích lô. Một ngày tiền lời bằng tháng lương ba tôi đi dạy lúc ấy. Không ham sao được! Nhưng dù sao đồng tiền má tôi kiếm được là đồng tiền trong sạch, mua đi bán lại kiếm lời.
Má tôi còn bươn chải tìm cách kiếm thêm tiền như một người trụ cột trong gia đình. Nhà cửa lúc ấy cho thuê đắt như tôm tươi. Gia đình tôi có miếng đất ở gần biển nhưng không có tiền để xây cất, bà làm một lúc 10 cái hụi, mượn vàng người bạn trên quê gom lại để xây cất căn nhà thứ hai cho nhân viên RMK làm đường sá, cầu cống của Mỹ thuê. Sau năm năm, bà trả hết nợ nần.
Dân Qui Nhơn làm ăn khấm khá được vài năm cho đến ngày Mỹ rút về nước. Những ngôi nhà đúc bê tông cốt sắt hai, ba tầng ra đời, nhà nầy nối tiếp nhà kia, san sát với nhau làm thay đổi bộ mặt của thành phố. Đến mùa hè đỏ lửa năm 1972, má tôi lo âu, thấp thỏm sợ rằng đất nước sẽ bị chia cắt thêm một lần nữa. Bà cho tôi cùng với chị dâu và các cháu nội còn nhỏ đi trước cho nhẹ gánh, lỡ bề có chuyện gì xảy ra, ba má tôi với đứa con trai còn lại dễ tìm đường đi hơn nếu có chuyện gì bất trắc xảy ra. Ba tôi mất năm 1973 vì bệnh ung thư, bỏ lại mình bà phải lo lắng cho sáu đứa con trong thời buổi nhiễu nhương.
Mặc dù đất nước không bị cắt chia lần thứ hai, nhưng ba năm sau đó là ba năm đầy biến động. Chiến sự xảy ra khắp nơi, từ thôn quê lên đến cao nguyên rồi lan tràn xuống thành thị. Người ta bồng bế nhau chạy trốn trong khốn cùng tuyệt vọng và khi điểm cuối cùng là thủ đô Sài Gòn bị thất thủ, không còn đường để chạy, người ta lại bồng bế nhau chạy ngược trở về. Lần về nầy, mọi người lại tìm đủ mọi phương tiện để trở lại chốn cũ cho thật nhanh. Phải nhanh hơn kẻ gian có thì giờ ra tay hôi của, phải nhanh hơn bàn tay dán tờ giấy niêm phong của chế độ mới lên.
Sau tháng tư năm 1975, gia đình tôi được “công nhận” là gia đình ngụy quân ngụy quyền. Ngôi trường tư thục mà gia đình có nhiều cổ phần trong đó bị tịch biên, biến thành trường trung học của nhà nước. Ngôi trường mà ba tôi và những người bạn đã bỏ ra bao nhiêu tâm huyết lẫn ước mơ, bao nhiêu niềm vui và nỗi buồn. Má tôi trở thành trắng tay, bà cầm hai lượng vàng còn sót lại khi di tản vào Nam, tần ngần tự hỏi không biết ngày mai sẽ ra sao?
Thấu hiểu nỗi khổ tâm của bà, chúng tôi chia nhau đi kiếm tiền để mua gạo. Chị tôi ra chợ trời chạy mánh, tôi xuống chợ bán khoai mì. Vì không quen buôn bán ở chợ, mua thì bị cân non, bán thì bị cân già. Suốt buổi chợ, cuối ngày tôi huề vốn chỉ còn sót lại vài củ mì eo ỏng. Chị tôi lanh hơn tôi, ra chợ trời ngày thứ hai đã đem được tiền về để má tôi đi chợ và đong gạo.
Đứa em trai lên Bảo Lộc làm cho nông trường trà của nhà nước. Anh Hai làm mì sợi ở Sài Gòn, một ông anh không quân bị học cải tạo ở Phan Rang, có vợ anh ấy lo thăm nuôi. Một ông anh hải quân độc thân bị học tập cải tạo ở Kim Sơn, má tôi phải lo tiếp tế lương thực, thăm nuôi anh ấy. Phần tôi ba tháng sau được sở giáo dục gọi cho đi dạy trở lại, được nâng cấp từ giáo sinh đào tạo cho cấp một trở thành giáo viên ngoại ngữ cấp hai môn Anh Văn, không được ở thành phố mà phải về nông thôn để dạy vì thành phần gia đình không tốt, cần phải phấn đấu nhiều hơn nữa.
Trong 6 anh chị em, chị tôi là người buôn bán khá nhất nhờ lanh lợi, thức thời hợp với xã hội bấy giờ. Mỗi cuối tuần tôi về thăm nhà nhìn người má hiền gầy còm, tóc bạc phơ, áo rách vai ngồi dện bánh in bằng bột ngũ cốc cho anh Năm trong trại cải tạo mà nước mắt rưng rưng. Chị ở chợ trời về bảo :
– Suốt ngày má cứ rảnh giờ nào là làm đồ tiếp tế cho anh Năm. Tao mua miếng thịt bò về, trước khi nấu nướng cũng chừa một miếng bỏ vào lò nướng làm thịt bò khô, thịt heo thì làm sả ruốc. Tối thì ngồi dện bánh đến mỏi lưng mới đi ngủ.
Má của con! Má không quản thân gầy, ngày một ngày hai lo lắng cho đàn con đã lớn khôn. Tôi bị thuyên chuyển đi dạy ở Vĩnh Thạnh, vì cơ thể bị dị ứng với miền rừng núi, chân tôi bị lở lói, huyết thanh ra liên tục, ngứa ngáy, khó chịu vô cùng. Bà tưởng rằng hiệu trưởng có quyền điều người đi hay ở, má tôi cùng với tôi lên Vĩnh Thạnh để xin thuyên chuyển về đồng bằng. Muốn qua trường học, phía tả ngạn sông Côn, phải lội ngang qua sông chỗ cạn nhất là nước đến đầu gối, đá to lởm chởm dưới lòng sông. Má con tôi chờ mãi chẳng thấy có chiếc thuyền độc mộc hay chiếc sõng nào đi ngang qua để xin quá giang. Bà ái ngại nhìn chân băng bó của tôi :
– Để má cõng con qua sông.
– Không được đâu! Con nặng hơn má.
Má tôi cứ khăng khăng đòi cõng tôi, tôi đành phải leo lên lưng má, hai tay quàng cổ má, bọc hành lý đội trên đầu. Đến giữa sông, má trượt phải cục đá dưới lòng sông, hai má con té lăn nhào xuống nước. Qua tới bờ bên kia, hai má con tôi ướt loi ngoi, lóp ngóp, tôi không bao giờ quên được hình ảnh má thương yêu của tôi lúc ấy.
Rồi phong trào người Việt gốc Hoa rời nước chính thức bằng tàu lớn chạy máy. Thế là một số người giàu có dùng vàng đút lót để trở thành thân nhân của người Hoa và có tên trong danh sách lên tàu. Rồi phong trào người Việt gốc Việt rời nước lén lút bằng tàu nhỏ chạy máy cũng ra đời. Người ta lén lút chôn dầu, góp vàng, đóng ghe, mua bãi để đi vượt biên. Má tôi cũng nôn nóng muốn cho các con đi ra, bà quyết định bán căn nhà lớn và dọn về căn nhà trống, đang để bảng cho thuê để tìm đường cho chúng tôi. Chúng tôi dọn nhà mà nước mắt lưng tròng, quyến luyến nơi chốn chúng tôi sống từ bé thơ và lớn lên từ căn nhà này.
Bây giờ tôi còn hình dung được tiếng nói cười rạng rỡ của đám cháu của cả bên nội lẫn bên ngoại từ quê xuống trọ học, những đêm tối nhát ma, tiếng la hét rân vang trong căn nhà. Những bữa ăn rào rào như tầm ăn dâu. Tới mùa thi, mỗi người một góc, người trên sân thượng, người thu lu bên hồ nước, người cắm trại trên nóc nhà để ôn bài. Chúng tôi sắp sửa mất tất cả những kỷ niệm êm đẹp nhất thời ấu thơ của mình. Nhìn lại má, mắt bà cũng đỏ hoe. Không biết bao nhiêu là kỷ niệm từ thời mới tiếp thu, chân ướt chân ráo từ quê mới ra tỉnh cùng ba tôi, ấp ủ không biết bao nhiêu là câu chuyện vui buồn trong đời sống vợ chồng cũng bắt nguồn từ căn nhà nầy. Căn nhà trị giá ba trăm cây vàng bây giờ, lúc đó bán vỏn vẹn chỉ có mười hai cây, vừa đủ cho sáu anh em tôi đi tìm đường vượt thoát.
Bốn anh em tôi đi trót lọt, tới phiên tôi thì trầy trật. Nhóm tổ chức bị động ổ, sẵn cơ hội lường gạt chúng tôi để lấy vàng. Ở khe núi Phương Mai, ban tổ chức chia người làm hai nhóm: một nhóm gồm thân nhân của chủ ghe quay trở về Qui Nhơn, nhóm khách cho ghe nhỏ bỏ chúng tôi lên một ghe lớn đã thủng đáy. May vừa lúc đó, có một con sóng thật lớn đánh ụp xuống, kéo chiếc ghe lớn vào bờ. Chúng tôi thoát chết nhưng bị công an tóm gọn. Trên đường giải nhóm vượt biên về Qui Nhơn, tôi trà trộn vào đám người đi chợ chạy trốn về nhà. Má tôi tất ta tất tưởi xách nón lên nhà người bà con, nhờ họ giúp đỡ chở tôi ra ngã ba Phú Tài, đón xe chạy trốn vào Sài Gòn.
Mấy tháng sau, má tôi cho người đem vào hai cây vàng cuối cùng của bà cho tôi để tìm đường vượt thoát lần thứ hai với anh Hai. Lần này, chuyến đi thành công nhờ phước đức của má tôi, một người mà lúc nào cũng sẵn sàng giúp đỡ những người bà con nghèo khó ở quê xuống, một bà chủ hụi đã đứng ra trả giúp cho bốn năm người hụi chết quỵt nợ mà không một lời than van, mắng nhiếc.
Mười mấy năm sau quay trở về quê nhà. Má tôi giờ lưng đã còng, tóc đã bạc phơ. Bà ngồi một chỗ trên ghế xếp, hầu như là không thấy tôi bước vào. Tôi chạy lại ôm má, bà đưa tay sờ vào mặt tôi, tóc tôi, tay tôi rồi ôm tôi khóc. Hai má con nước mắt đầm đìa, ôm nhau khóc ròng cho bỏ những ngày thương tiếc, nhớ nhung. Tôi kể cho má nghe những khó khăn, khổ cực, gian nan trong những ngày đầu tiên đến Mỹ, những lo âu, chán chường khi nhìn hai đứa con được sinh ra ở Mỹ và khôn lớn không giống như mình mong ước. Kể cho má nghe những việc tôi đã làm và những dự định ở tương lai.
Mắt má tôi lúc ấy đã chập chờn, không trông thấy rõ lắm nhưng bà giả vờ như một người bình thường để cho tôi được yên tâm trong những ngày về thăm bà. Tôi đứng lặng nhìn bà bóp ống kem đánh răng lên tay thay vì lên bàn chải đánh răng. Lần thứ hai về VN, tôi thức dậy nửa đêm, đưa má đi tiểu, trên đường trở về giường, tự động phân rơi vãi mỗi bước chân đi, bà ngồi xuống, cố gắng thu nhặt không để cho tôi biết, bà càng thu vén càng làm cho chỗ ấy dơ thêm. Tôi khóc :
– Má để con dọn! Con biết má không thấy đường nữa rồi. Má đừng giả vờ nữa, con biết từ khi nhận được lá thư cuối cùng của má, chữ càng lúc càng lớn, chữ nọ chồng lên chữ kia, má không giấu được con đâu. Má than thở :
– Má đâu có muốn như vậy! Bây giờ cơ thể của má nó không chịu nghe lời má. Bây giờ không nhìn thấy được con, má sợ có ngày không nói chuyện được với con, không nghe được con nói.
Tôi an ủi bà: Sinh Lão Bệnh Tử, ai cũng phải qua cầu, mình phải chấp nhận số mệnh. Nếu thể xác quá đau đớn thì chết là con đường giải thoát sớm nhất của má. Chết là bắt đầu một sự sống khác, cứ nghĩ tới một ngày nào đó, má sẽ gặp được ba, gặp được hai đứa con gái bạc mệnh của má ở Thiên Quốc thì má sẽ an bình, không còn lo lắng nữa. Chúng con sau nầy cũng sẽ giống như má ngày hôm nay. Thân thể của má đang bắt đầu suy yếu, hư hao theo tuổi đời chồng chất. Má cứ tự tại, vui vẻ mà sống, cái gì đến sẽ đến. Ai trong chúng ta cũng sẽ bị luật Vô Thường chi phối, đó là quy luật tự nhiên của tạo hóa Sinh Trụ Hoại Diệt, mình không thể cải lại được. Sống được một ngày là hãy vui đi một ngày nghe má.
Lần thứ ba tôi về thăm má, bà đã nằm một chỗ, thiêm thiếp, da bọc xương. Cho dù trí não còn minh mẫn nhưng bà không còn nói được. Một lần bà nắm lấy tay tôi, siết chặt, mặt đỏ lên, miệng mấp máy, muốn nói gì đó nhưng nói không ra lời. Lúc đó, tôi không biết tìm cách nào để nói chuyện cùng với bà trong những ngày cuối đời, chỉ còn biết nắm tay má vỗ về, an ủi: Má! Con đây! Má còn sống ngày nào là con sẽ thường xuyên về thăm má.
Má tôi mất vài năm sau đó, hưởng thọ được 93 tuổi. Chắc bà ra đi cũng mãn nguyện vì đàn con của bà lúc nào cũng ân cần lo lắng và lúc nào cũng có người săn sóc cho bà chu đáo đến cuối đời. Niềm an ủi lớn nhất của má tôi ở tuổi tri thiên mệnh là anh Năm, đứa con mà bà thương nhất trong khi bị cải tạo, đã quanh quẩn ở bên bà cho đến giây phút cuối cùng. Tôi bây giờ giống như má tôi ngày xưa, không nghe, không nói, không cười, không đi đứng được ở lứa tuổi 57, nhưng tôi biết dùng hai ngón tay gõ trên bàn phím để cho mọi người hiểu mình, biết biến ước mơ thành sự thật, biết biến những ngày ảm đạm, nỗi cô đơn buồn rầu thành bồng lai tiên cảnh với những người đẹp như tranh vẽ. Đáng tiếc chỉ có ba người ở bên cạnh tôi lại không bao giờ hiểu tôi là chồng và các con tôi vì họ không bao giờ đọc truyện của tôi viết.

Sương Nguyễn

XA MÃI TRÊN ĐƯỜNG LẠC NHAU

 

Hảo hán ngồi uống giải sầu
Rượu chiều nắng cháy 
như màu quan san

Rượu đêm se sắt đông hàn
Bạn ta ghìm súng
cười khan dưới hào

Rượu khuya nước mắt muốn trào
Đau ngày rã cuộc
binh đao, ngục tù

Hình như chân bước vào thu
Rừng phong khép lại cho dù lá bay

Hình như có gió truông mây
Ai nghe tiếng gọi đâu đây chiến trường

Hình như trăm vạn nẻo đường
Ta , em xa mãi
trên đường lạc nhau

HẠ QUỐC HUY

QUÊ NGOẠI

 

Theo người qua một dòng sông
Đò ngang lụy cả phương chồng phôi pha
Chân đi hồn nuối quê nhàà
Nắng mưa truyền vọng nghe già tuổi xuân
Hàng cau gọi réo bao lần
Nương tre quằn động trăm phần luyến thương
Phương chồng rợp suốt nghìn phương
Qua sông rụng giữa đêm trường nao nao
Từ em khuất lạc ba đào
Hồ như tóc ngoại bay vào mông mênh.

Nguyễn Đức Bạt Ngàn

Thông Báo

 

Nhằm mục đích giúp đỡ nạn nhân Miền Trung Việt Nam, gồm bốn tỉnh Hà-tĩnh, Quảng-bình, Quảng-trị, và Thừa thiên-Huế, khiếu kiện công ty Formosa trước tòa án quốc tế; đòi hỏi được đền bù xứng đáng và làm sạch vùng biển bị ô nhiễm, một số hội đoàn với sự cố vấn của các quý vị lãnh đạo Công giáo, Phật giáo, Cao Đài và Phật Giáo Hòa Hảo sẽ đứng ra tổ chức một bữa tiệc gây quỹ “Công Lý Cho Nạn Nhân Formosa” (Justice for Formosa Victims, JFFV);

Vào lúc 5:30 chiều – Ngày 4 Tháng 8, Năm 2019

Tại nhà hàng Dynasty

1001 Story Rd. San Jose

Toàn bộ quỹ “Công Lý Cho Nạn Nhân Formosa” sẽ dùng vào việc nộp đơn kiện tập đoàn Formosa trước tòa án quốc tế. Như quý vị từng biết, chi phí để thụ lý một hồ sơ trước tòa án quốc tế rất cao. Do đó, Hội JFFV rất cần sự tiếp tay của quý vị xa gần để trang trải một án phí lớn lao như thế.

Ca sĩ Nguyễn Hồng Nhung, Thái Hà, Hoàng Quân, Ngọc Long, và các ca sĩ địa phương, dưới sự điều khiển của MC Nam Lộc, sẽ cống hiến Quý vị một chương trình văn nghệ đặc sắc và nhiều tiết mục hấp dẫn khác.

Vé có 3 hạng: $100, $75 và $50. Nếu không thể tham dự bữa tiệc, rất mong Quý vị ủng hộ bằng cách mua vé số $5/vé, với giải Độc đắc 2 lượng vàng ròng, giải Nhì cặp bông tai giây chuyền kim cương trị giá $2,500 và giải Ba đồng hồ I-Watch trị giá $500. Ở xa, quý vị có thể liên lac với chúng tôi qua email: trinhtambb@gmail.com để ủng hộ mua vé số. Vé số sẽ được gửi đến tận nhà của quý vị. Ủng hộ bao nhiêu vé cũng được, cho dù một vé, vì “nhiều con én sẽ làm nên mùa Xuân.” Chúng tôi vững tin như thế. Ngoài ra, nếu quý vị muốn ủng hộ tài chánh, xin vào trang nhà “Công Lý Cho Nạn Nhân Formosa” tại: http://www.JFFV.org; nhấn vào tab “Donation,” và quý vị có thể dùng PayPal, hoặc viết ngân phiếu tặng cho JFFV, và gửi về địa chỉ: PO Box 29534, Austin, TX 78755. Tất cả mọi đóng góp sẽ được Hội gửi giấy trừ thuế đến tận nhà quý vị.

Như chị Nancy vừa loan tin qua bản tin dưới đây: ngày 27/5/2019 vừa qua, Hội JfFV vừa chính thức nộp đơn khiếu nại lên Ủy Ban Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc. Toàn bộ hồ sơ đơn khiếu nại bằng Anh ngữ dài 20 trang đã đăng tải lên trang mạng trên. Bước tiếp theo là chính thức đem tập đoàn Formosa ra ánh sáng Công lý trước tòa án tại Đài-loan, và Tòa án Quốc tế (The International Court of Justice) tại The Hague, Hòa Lan.

Vì lẽ đó, BTC chúng tôi kêu gọi sự ủng hộ nhiệt tình của Quý Hội đoàn, quý đồng hương, và đặc biệt là Quý vị Thương Gia và Mạnh Thường Quân tham gia và hỗ trợ cho buổi gây quỹ thành công để đem lại nguồn sống, niềm an ủi và hy vọng cho những người dân khốn khổ miền Trung, cũng như tiếp sức Hội chúng tôi trong công việc làm sạch và bảo vệ môi trường cho quê hương Việt Nam và cho các thế hệ con cháu chúng ta mai sau.

Để biết thêm chi tiết, xin liên lạc với: Anh Phan Ngọc Hòa (408-768-0635), hoặc anh Đỗ Quang Hưng: (650) 823-6645.

Xin chân thành cám ơn Quý vị.

Ban Tổ Chức Tiệc gây quỹ “Công Lý Cho Nạn Nhân Formosa

 

 

 

PHỐ KHUYA

 

Đêm vàng khuya
Im hơi
Phố buồn
Một mình tôi
Khói thuốc bay
Tìm mộng
Em mù mịt sao trời!

Đàn sầu ai văng vẳng
Sông xa chìm khói sương
Đèn vàng
Chong bến vắng
Mình tôi
Xõa tóc buồn.

Tôi
Nửa đêm về sáng
Gió cô hồn
Phố hoang
Đời không Em
Đá tảng
Đè nặng kiếp dã tràng!

Tôi đi về
Trăng vỡ
Máu lai láng
Đường khuya
Hoa cô độc chợt nở
Cùng tôi ngủ
Hiên Chùa.

Em có về
Phố khuya?
Mà lệ lá
Đầm đìa
Tôi
Loài hoa cô độc
Ngủ, thức
Cùng sao khuê

TRẦN THOẠI NGUYÊN

FORMOSA, MÔI TRƯỜNG VẪN NHIỄM BẨN

 

Sự kiện tập đoàn Formosa xả chất thải nhiễm độc dọc theo bờ biển miền Trung từ năm 2016 đến nay vẫn còn là một sự kiện nóng bỏng. Nó vẫn sôi sục chỉ vì sự đền bù không được rõ ràng. Nó vẫn sùng sục như lò thuốc súng chỉ vì Formosa vẫn trắng trợn xả những chất độc hại ra bờ biển dưới sự bao che của nhà cầm quyền cộng sản. Cá vẫn nằm chết trắng xóa dọc theo chiều dài bờ biển. Những người tranh đấu cho quyền lợi của ngư dân vẫn bị bắt bớ và cầm tù một cách oan ức. Ngay chính những ngư dân chính thức cầm đơn kiện lên các tòa án Huyện, Tỉnh, vẫn bị bắt bớ và trù dập.
Vậy làm thế nào để tìm công lý cho những nạn nhân Formosa đây?
Hội “Công lý cho Nạn nhân Formosa”, (Justice for Formosa Victims, JfFV) tập hợp một nhóm người ưu tư về sự đền bù cho các nạn nhân Formosa chưa được giải quyết thỏa đáng, kể cả vùng biển miền Trung vẫn bị ô nhiễm mà tập đoàn Formosa không hề một lần bàn thảo đúng đắn với nhà cầm quyền cộng sản VN, và những người lên tiếng bênh vực cho những nạn nhân Formosa bị bêu rếu và áp đặt một bản án tù giam vô lý, đã chính thức đứng ra đại diện cho các nạn nhân liên quan đến Formosa và đâm đơn kiện lên các tòa án tại Đài loan, Nữu ước (Hoa kỳ), và tuơng lai tại La Hague (Hòa lan).
Vụ khiếu kiện được tiến hành từng bước với sự tham khảo về pháp lý của nhiều tổ hợp Luật sư tại Canada và Đài loan; trong đó có hai tổ hợp Luật sư là Quỹ Bảo Vệ Quyền Môi Trường (Environmental Rights Foundation – ERF) và Hội Luật Sư Bảo Vệ Môi Trường (Environmental Jurist Association) đặt trụ sở tại Đài Loan.
Vào tháng 4/2016, Công ty Gang Thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh tại Việt nam (FHS) bị phát hiện xả thải chất độc hại vào vùng biển dài 250km thuộc 4 tỉnh Hà tĩnh, Quảng bình, Quảng trị, và Thừa thiên – Huế thuộc miền Trung. Ngay sau đó, Việt nam chính thức cấm đánh bắt cá dọc theo bờ biển, và vùng biển cách xa bờ 20 hải lý. Số lượng cá chết và phải loại bỏ vì nhiễm độc lên đến 322 tấn trong 3 tháng từ 6/2016 đến 9/2016. Ngư nghiệp chiếm gần 20% tổng sản lượng quốc gia nên một khi hải sản bị loại bỏ từng ấy trọng lượng cũng ảnh hưởng đến nền kinh tế chung của Việt nam. Nhưng quan trọng nhất vẫn là đời sống kinh tế của hàng trăm nghìn ngư dân thuộc 4 tỉnh kể trên bị sa sút nghiêm trọng. Một số ngư phủ phải bỏ nghề đánh bắt cá, kiếm nghề khác – không có một chút tay nghề – để sinh tồn. Một số khác phải mượn nợ để giúp gia đình cầm hơi. Nhiều cảnh thương tâm như gia đình chị Trần thị Hảo, nghề bán cá, hai đứa con phải bỏ học để giúp mẹ kiếm sống, vì cả nhà kiếm không đủ ăn. Gia đình anh Trần đình Thái, chủ hãng nước nắm, đành phải bỏ nghề vì không còn cá để sản xuất nước mắm; chưa kể người dân quanh vùng cũng không dám dùng nước mắm chỉ vì cá bị ngộ độc. Và còn nhiều gia đình lâm vào cảnh túng quẫn chỉ vì thảm họa do nhà máy Formosa gây ra.
Đúng ra, vào ngày 30/6/2016, công ty Formosa đã nhận lỗi xả thải và đền bù 500 triệu Mỹ kim qua nhà cầm quyền cộng sản Việt nam. Cho đến nay, số người được bồi thường quá ít, và số tiền bồi thường chẳng là bao so với tình trạng nợ nần từ vay mượn để nuôi sống gia đình trong những năm qua. Trường hợp điển hình, gia đình anh Paul Nguyễn Dương nhận được tiền bồi thường 50 triệu đồng ($2430 USD) chỉ vừa đủ trả nợ. Số tiền đền bù thật ra còn nhiều uẩn khúc. Uẩn khúc ở chỗ còn rất nhiều bí ẩn về số tiền 500 triệu Mỹ kim vì chưa ai thấy một chứng từ nào, từ tập đoàn Formosa hoặc phía nhà cầm quyền cộng sản, xác nhận số tiền này. Không ai biết tập đoàn Formosa có thật sự đền bù số tiền 500 triệu Mỹ kim, hoặc giả đây chỉ là một thỏa thuận ngầm giữa hai bên để trấn an dư luận, nhất là để xoa dịu sự phẫn nộ từ phía dân chúng.
Theo nghiên cứu độc lập của Giáo sư Tiến sĩ Paul Jobin, người Pháp, thuộc Viện Xã hội học, Sinica Academics (Đài Loan), và Đại học Diderot (Ba-lê) được loan báo vào tháng 3/2018 vừa qua cho biết, một số cá nhỏ (nhẹ ký) đã quay trở lại vùng biển bị ô nhiễm. Một ngư dân cho ông biết tuy có một chút cá nhưng sản lượng đánh bắt giảm hẳn, từ 300-400kg hải sản, nay chỉ còn khoảng 60kg. Bán ra không đủ nuôi sống gia đình. Nhiều nhà phải chấp nhận ăn cá hàng ngày trong phập phồng lo sợ về sức khỏe của con cái về sau, vì lẽ họ không biết mức độ nhiễm độc nặng hay nhẹ, khi tin tức bị nhà cầm quyền bưng bít, hoặc loan tin bất nhất. Họ phải chấp nhận ăn cá độc chỉ vì không còn cách nào khác để cầm cự với cuộc sống ngày càng khó khăn. Riêng về khoản đền bù, giáo sư Jobin tiếp xúc kín đáo với người dân trong vùng và ông xác nhận một số rất ít gia đình nhận được tiền bồi thường. Tình trạng ngày càng bi đát thêm vì nhà máy Formosa vẫn tiếp tục xả thải chất độc vào biển. Khi cuộc sống trở nên vô vọng, và không nhận được sự hổ trợ kinh tế nào từ nhà cầm quyền để sống qua ngày, ngư dân bắt đầu biểu tình đòi hỏi công lý và điều làm giáo sư Jobin ngạc nhiên là nhà cầm quyền thẳng tay đàn áp người dân một cách vô lý và dã man.
Đài BBC loan tin, hôm 10/5/2019 vừa qua, xác cá chết trôi dạt vào bờ biển Nguyễn Tất Thành, TP Đà Nẵng kéo dài tới hơn 1 km, bốc mùi hôi thối, theo báo Người Lao Động. Vào tháng 4/2018, cũng tại bờ biển này, số cá chết lên tới 2 tấn. Hôm 11/5, cá heo trắng đầu đàn cùng cả đàn ngàn con dạt vào bờ biển Vũng Áng, Hà Tĩnh, nơi gần nhà máy Formosa. Thông tin này được đăng tải trên báo Thanh Niên nhưng sau đó bị gỡ xuống. Vẫn tại Vũng Áng, tháng 4 năm ngoái, hàng trăm kilô cá, mực nằm chết la liệt trên bờ. Một sự thật không thể chối cãi là đến bây giờ, cá vẫn tiếp tục chết tại khu vực xã Kỳ Anh, Hà Tĩnh và huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An. Người ta ước lượng chỉ riêng trong năm 2018, tại Quỳnh Lưu, số cá chết lên tới 1,500 tấn. BBC còn lên tiếng cảnh báo về 900,000 tấn chất thải độc hại đang tồn đọng, và chắc chắn dưới sự bao che của nhà cầm quyền cộng sản, Formosa sẽ thải dần dần ra biển. Môi trường biển miền Trung sẽ bị tiêu diệt hoàn toàn trong một ngày không xa.
Những sự kiện hiển nhiên như thế làm đau lòng những ai còn nghĩ đến tiền đồ của dân tộc và thế hệ con cháu mai sau. Họ là những người có cuộc sống bình thường như mọi người, nhưng có trái tim thật phi thường. Vì thế, họ thay mặt ngư dân và mẹ thiên nhiên lên tiếng báo động giới hữu trách trong và ngoài nước. Họ can đảm đấu tranh đòi hỏi quyền lợi cho ngư dân và đúng như họ dự đoán, nhà cầm quyền cộng sản kết án họ với những bản án nặng nề. Anh Hoàng Đức Bình bị bắt và bị nhốt chung (một cách cố ý) với những tay tội phạm hình sự, và bị chúng đánh đập tàn bạo trước khi nhận một bản án 14 năm tù chỉ vì đứng lên đòi hỏi sự đền bù chính đáng. Anh Nguyễn Nam Phong bị một bản án 2 năm tù vì (dám) khiếu kiện lên tòa án huyện. Blogger Nguyễn văn Hóa bị kết án 7 năm tù vì đơn phương mở cuộc điều tra và tường trình lên trang blog cá nhân về sự xả thải chất độc vô trách nhiệm của nhà máy Formosa. Mẹ Nấm cũng bị kết án 10 năm tù chỉ vì lên tiếng báo động về môi trường biển bị ô nhiễm. Họ lên tiếng dùm các nạn nhân và bị trù dập một cách dã man. Tiếng kêu gào của các nạn nhân Formosa bị bóp nghẽn trong uất ức và bất công. Tiếng than van của mẹ thiên nhiên chìm lẫn trong luồng nước độc hại đang giết dần mòn vùng biển miền Trung.
Hội “Công lý cho Nạn nhân Formosa” đang tìm mọi cách để tiếng gào của biển và tiếng than khóc của các nạn nhân Formosa được thế giới lưu tâm. Một trong những người lưu tâm đến hoạt động của Hội là Đức cha Nguyễn thái Hợp, nguyên Giám mục Vinh. Vũng Áng, nơi nhà máy Gang Thép của tập đoàn Formosa đang gieo rắc tai ương kinh hoàng cho hàng trăm nghìn ngư dân, thuộc địa phận ngài cai quản.
Vào đầu tháng 8/2017, Đức cha Nguyễn thái Hợp đã lặn lội đến Đài loan để quan sát và tìm hiểu cách làm ăn của tập đoàn Formosa, cũng như gặp các viên chức quan tâm đến môi trường, kể cả các chức sắc của các quốc gia để kêu cứu thay cho các ngư dân. Ngài ráo riết vận động để thế giới hiểu được sự ô nhiễm trầm trọng đang xảy ra tại vùng biển miền Trung, và cuộc sống thoi thóp của cả triệu người dân trong khu vực nhiễm độc do tập đoàn Formosa gây ra.
Và Giám mục Nguyễn thái Hợp đã ủy quyền cho Hội “Công lý cho Nạn nhân Formosa” (https://jffv.org/) đảm nhận sứ mệnh cao cả này. Hội tiếp nhận trọng trách này với 3 mục đích chính:
– Đòi hỏi sự đền bù xứng đáng cho các nạn nhân,
– Đòi hỏi làm sạch các vùng biển bị ô nhiễm,
– Đòi hỏi nhà cầm quyền cộng sản thả ngay các bloggers, nhà báo, ký giả, thường dân, giáo dân… đang bị bỏ tù oan ức chỉ vì lên tiếng về thảm họa Formosa.
Từng bước nhỏ nhưng chắc chắn, Hội tiến lên và kêu lớn tiếng. Tiếng kêu đầu tiên đề đạt lên Ủy Ban Nhân quyền tại Liên Hiệp Quốc vào ngày 27 tháng 5, 2019 vừa qua, Tổ hợp luật sư Larochelle Avocats tại Canada; thay mặt Hội đã đưa đơn khiếu nại lên Ủy Ban Nhân quyền tại Liên Hiệp Quốc, yêu cầu thành lập những tiểu ban để điều tra những sai phạm về môi trường của tập đoàn Formosa. Đơn khiếu nại cũng đề nghị Ủy Ban yêu cầu Formosa phải đền bù xứng đáng cho gần mười nghìn ngư dân và giám sát việc làm sạch môi trường đã bị ô nhiễm trong những năm qua.
Tiếng gào thứ hai mạnh mẽ hơn, gây được nhiều chú ý từ các giới hữu trách hơn. Ngày 11/6/2019 vừa qua, Hội chính thức khởi kiện công ty Formosa Hà Tĩnh tại tòa án Đài Loan, Đài Bắc. Trong đơn kiện, Hội yêu cầu số tiền đền bù là $4,4 triệu đô cho 51 hồ sơ trong đợt cứu xét đầu tiên. Tùy theo mức độ hoàn chỉnh, Hội sẽ đệ trình khoảng 280 hồ sơ trong đợt 2; đợt 3 gồm trên 3,000 hồ sơ và những hồ sơ còn lại trong đợt cuối cùng. Tổng số tiền bồi thường cho 7,875 hồ sơ là trên $600 triệu đô la. Hội cũng tổ chức một cuộc họp báo quốc tế ngay trước Tòa án thành phố Đài Bắc để công khai đòi hỏi tập đoàn Formosa phải chịu trách nhiệm bồi thường cho các ngư dân, đồng thời phải chịu trách nhiệm làm sạch môi trường biển miền Trung đã và đang bị ô nhiễm ngày càng trầm trọng. Lúc 13:30 chiều cùng ngày, Hội tiến hành một cuộc biểu tình họp báo tại Trụ sở chính của tập đoàn Formosa, trong lúc công ty đang họp cổ đông hàng năm.
Đơn kiện được sự ủng hộ nhiệt tình của các tổ chức phi chính phủ (NGO) tranh đấu cho môi trường tại Đài Loan như: Hiệp Hội Theo Dõi và Thực Thi Công Ước Liên Hiệp Quốc (Covenant Watch); Hiệp Hội Thúc Đẩy Nhân Quyền Đài Loan (Taiwan Association for Human Rights – TAHR); Văn Phòng Trợ Giúp Công Nhân, Di Dân Việt Nam (Vietnamese Migrants and Immigrants Office – VMWIO); Quỹ Bảo Vệ Quyền Môi Trường (Environmental Rights Foundation – ERF); Hội Luật Sư Bảo Vệ Môi Trường (Environmental Jurist Association – EJA). Ngoài ra, giáo sư Paul Jobin (đề cập trên) thuộc Sinica Academics cũng có mặt trong buổi kiện lịch sử này.
Về phía tôn giáo, một phái đoàn từ Việt nam hiện diện trong cuộc biểu tình, cổ võ nỗ lực của Hội đòi công lý cho nạn nhân Formosa, gồm Đức Cha Hoàng Đức Oanh và hai linh mục thuộc Giáo phận Vinh và Hà tĩnh, nơi ngư dân bị ảnh hưởng kinh tế nặng nề nhất; và cũng chính nơi đây, môi trường biển bị ô nhiễm nghiêm trọng nhất. Linh mục Phêrô Nguyễn văn Hùng, người đòi hỏi và tranh đấu quyền lợi cho các cô dâu Việt và các công nhân Việt lao động tại Đài Loan, hổ trợ phái đoàn khởi kiện từ những ngày đầu.

Cần nói thêm về số người Việt hiện đang sinh sống và làm ăn tại Đài Loan. Số cô dâu lấy chồng Đài cả trăm nghìn, còn “xuất khẩu” lao động khoảng hai trăm nghìn. Riêng tại Đài Bắc, tổng cộng số cô dâu và công nhân chiếm khoảng một trăm nghìn. Phần lớn cô dâu bị ngược đãi, đối xử tàn tệ trong gia đình chồng. Còn công nhân Việt thường làm việc trong một điều kiện khắc nghiệt, nếu không nói là bị bóc lột. Họ làm việc khổ nhọc – thường 16 tiếng một ngày – để đủ tiền trả món nợ từ $7-10 nghìn qua môi giới (nộp cho nhà cầm quyền Việtnam), và dư dả chút đỉnh giúp gia đình. Khi biết Hội đến tận Đài Bắc để khiếu kiện tập đoàn Formosa, họ nghẹn ngào đến bật khóc. Theo chị Nancy Bùi, Phó Hội đặc trách Ngoại vụ, họ tâm sự: “bọn con cứ tưởng các bác, các cô chú có đời sống an vui ở hải ngoại rồi quên chúng con, không nhớ gì đến quê hương. Khi nghe tin Hội JfFV đâm đơn kiện Formosa, bọn con đến tiếp sức ngay, cho dù phải bỏ vài ngày làm việc.” Đối với những thành viên trong Hội, đây là một phần thưởng tinh thần cao quý nhất từ trước đến nay.
Bước tiếp theo là tổ hợp luật sư của tổ chức Quốc Tế Quyền Môi Trường (Earth Rights International – ERI) tại New Jersey, Hoa Kỳ sẽ đại diện cho Hội và các nạn nhân Formosa nộp đơn kiện tại tòa án Liên Bang về môi trường tại tiểu bang New Jersey, nơi đặt bản doanh của Công ty Formosa USA. Đây là công ty có cổ phần lớn cũng như đóng vai trò quan trọng trong việc điều hành Công Ty Hưng Nghiệp Gang Thép Formosa Hà Tĩnh.
Quỹ của Hội “Công lý cho Nạn nhân Formosa” hiện nay đủ trang trải án phí kiện tụng tại tòa án Đài Loan nhưng những bước kế tiếp Hội rất cần sự tiếp tay của tất cả đồng hương, các hội đoàn, các Mạnh Thường Quân, các thương gia, các nhà bảo trợ hầu thực hiện cho bằng được trọng trách này.
Gần mười nghìn nạn nhân Formosa đang cần chúng ta. Cả một môi trường biển dài 250km cần làm sạch đang cậy vào chúng ta. Thế hệ con cháu tương lai hy vọng từ việc làm của chúng ta hôm nay.
Xin góp một bàn tay vào công việc cao cả này.

Sơn Nghị