Có một cái “30 tháng 4” thu nhỏ

 

1.

Ủy ban phường vừa mời một số hộ trong khu phố lên họp để nghe ngành đường sắt công bố lịch cắm mốc giới tuyến đường sắt Trảng Bom – Hòa Hưng. Đúng hơn đây là buổi thông báo gián tiếp về tình hình giải tỏa nhà đất ở phường, sẽ thực hiện nhằm phục vụ dự án làm đường hành lang an toàn song song đoạn đường sắt chạy ngang đất phường mà việc cắm mốc nay mai là để xác định trước vùng cần giải tỏa.

Theo dự án, từ tâm đường sắt tùy chỗ sẽ lấy vô 15 hay 20 mét, nghĩa là hàng trăm căn nhà xưa nay nằm cạnh đường ray gần ga Xóm Thơm sẽ mất mặt tiền hay phần nhà phía trước hoặc bên hông. Riêng nhà ông Hòa cùng mấy chục nhà hàng xóm phải chịu giải tỏa trọn lọn – tức mất trắng, do lọt vào một khu vực dự định cất nhà ga, trạm khách cho tuyến metro trong tương lai, nên từ tâm đường sắt sẽ lấy vô sâu tới 50 mét. Oái ăm nhà ông Hòa nằm cách đường sắt chỉ khoảng 30 mét.

Anh đại diện ngành đường sắt cho biết lịnh giải tỏa và mức đền bù nhà đất sẽ được công bố vào khoảng năm 2020 nhưng chắc sẽ trễ hơn, do chưa có dấu hiệu gì cho thấy ngành đường sắt đã tìm được chỗ vay vốn làm dự án. Lập tức anh đại diện UB phường lên tiếng an ủi: “Còn lâu mà, vậy bà con cứ về an tâm cư trú, làm ăn. Nhà nước sẽ đền bồi thích đáng, sát với giá đất trên thị trường”.

Như thường lệ, ngay trên đường về, nhiều người cùng dự buổi họp đã thản nhiên bàn tán, như “Ối còn lâu mà!”, “Mấy ổng nói vậy chớ Tết công gô mới làm!”, hay ít thản nhiên hơn thì “Chà, hổng biết chừng nào chớ từ bây giờ, đất đã quy hoạch giải tỏa rồi thì mình không được phép sửa nhà, nới rộng, cất lầu gì được. Muốn bán nhà cũng khó có ai mua!”.

Thói thường bấy lâu nay trong bất cứ vụ giải tỏa nhà đất nào cũng đều có người vui kẻ buồn. Có người vui, phấn khởi ra mặt vì tự nhiên nhờ ông nhà nước mở đường mà cái nhà thúc thủ trong hẻm lâu nay của mình được ra mặt tiền đường cái. Hay, nhà mình chỉ bị thụt vô vài mét nhưng lại có cái con đường lớn, công trình lớn như chung cư, trung tâm thương mại, nhà ga metro… mọc lên sát bên, lập tức nhà mình có giá trị hẳn lên, giá đất cũng nóng lên ngay. Ngược lại, nhà nào bị giải tỏa toàn bộ thì chủ nó không khỏi buồn phiền, khổ đau… Như trường hợp nhà ông Hòa, ông đau khổ, tiếc đến quặn đau cõi lòng khi nhận ra rằng bản đồ quy hoạch chỉ cần khác đi một chút, mấy ổng chỉ cần vẽ đường ranh ngắn lại là chừng 20 mét, hoặc lệch sang trái hay sang phải độ 30 mét thì nhà ông đã không dính giải tỏa hay chỉ bị mất vài mét ở đuôi nhà. Và hơn thế, ông sẽ còn như trúng số cá cặp: khúc hẻm không còn nữa, căn nhà dấu mặt của ông sẽ rỡ ràng nhìn ra một khu công trình hoành tráng, nguy nga – đó là nhà ga metro tương lai.

Nhưng đó là “nếu như…”, còn hiện nay – nói theo kiểu bác sĩ chữa ung thư, tiên lượng căn nhà thương yêu sẽ mất trong vòng 2 – 3 năm nữa!

 

2.

Những ngày sau đó, vợ chồng ông Hòa buồn xo, biếng ăn biếng ngủ. Có muốn bán nhà ngay lúc này như một cách đào thoát khỏi cái tương lai 99% mất nhà kia thì cũng không kịp nữa rồi. Có ai khờ đến nổi đi mua nhà, dù rẻ mắc gì mà không tìm cách tìm hiểu, dò hỏi cho được tình trạng căn nhà mình tính mua có bị dính quy hoạch, rằng sẽ bị giải tỏa, mất một phần, mất trắng hay không? Hơn thế, dù trong tương lai, giá đền bù đất có “thích đáng, gần bằng giá đất thị trường’ như ông phường an ủi, kể cả suất tái định cư – được mua căn hộ chung cư giá rẻ ở vùng nào đó, thì dân đi mua nhà cũng vẫn thấy bấp bênh, không có gì là chắc chắn, thà bỏ tiền ra mua loại nhà có tương lai sở hữu ổn định vẫn hơn.

Không còn nhà nữa rồi! Ông Hòa thường lẩm bẩm. Đâu phải chỉ có câu “bị mất nhà” mới đau, trong cách nói “không còn nhà” có chữ “không” nghe như đất sụp dưới chân, như Hư Vô tràn đến phủ ngập cuộc đời con người.

Thấm thoát đã 30 năm trôi qua kể từ dạo vợ chồng ông nhờ làm lụng vất vả, chắt mót dành dụm mới có thể mua được căn nhà cấp 4 này, để ra riêng từ căn nhà cũ mèm của bố mẹ ông. Hiện nhà của ông đã xuống cấp, đã vài lần sửa chữa nhỏ nhưng vẫn còn nhiều chỗ tường nứt hay tróc vôi, mái tôn đã có chỗ nát, dột. Nhưng dù sao mặc lòng, căn nhà nhỏ đơn sơ này đã chất chứa, ghi khắc không biết bao nhiêu là thăng trầm, vui buồn trong cuộc sống, vốn là nơi ông bà chia sẻ nhau từ hạt muối đến hạt đường, là nơi chớm bệnh đau lưng thẩn kinh tọa với huyết áp cao, là nơi dựng vợ gã chồng cho con cái, cũng là nơi đón tin người già mất đi hay trẻ con ra đời… Đối với ông Hòa, căn nhà nhỏ sớm tối đi về này chính là cả khung trời bao dung của đất Sài Gòn quê hương thứ hai của ông, chính là nơi nuôi dưỡng nghiệp viết lách không-thể-nào-khác-đi của ông, nhất là đang ở cái tuổi 70 xế bóng cuộc đời…

Ông Hòa buồn lắm, mới hiểu tại sao y học đã ghi một trong những thủ phạm gây stress, gây chứng trầm cảm chính là biến cố mất nhà, phải dọn nhà hay thay đổi chỗ ở.

Khoảng 15 năm trước, lúc đường Phạm Văn Đồng gần nhà bắt đầu được thi công, vợ chồng ông Hòa rất vui vì chẳng bao lâu nữa con hẻm nhà mình, thay vì dẫn ra con đường Lê Lợi 6 mét chật hẹp và đã xuống cấp, sẽ dẫn ra một đại lộ mới, rộng đến 60 mét thật hiện đại, được cho là đẹp nhất thành phố. Nhưng, hình như đã có một điềm gở gì đó…

Ông Hòa nhớ rất rõ là thời ấy, ngày ngày đi ngang một dãy nhà đã bị đập phá và bỏ hoang, tình cờ ông thấy một chú chim chích chòe bay lượn một mình hay nhập vào đám chim sẻ kiếm ăn. Hỏi bà con gần đó mới biết đây là chú chim được một gia đình nọ nuôi theo kiểu thả tự do cho chim bay nhảy ngoài lồng. Rồi không rõ lý do gì, khi đập nhà rồi dọn đi, gia đình này không mang chú chim theo qua chỗ ở mới của họ. Do quen bay nhảy ở khu vực có cỏ cây vắng vẻ, chú chích chòe cứ lẩn quẩn ở đây mãi. Lúc ấy, ông Hòa bâng khuâng mãi về tình cảnh lạc loài của chú chim, tự hỏi nếu giờ không có ai đưa nó về nhà nuôi thì không biết số phận nó sẽ ra sao khi các ngôi nhà mới được xây xong, không còn khung cảnh nhiều cây xanh, bụi cỏ, vốn thích hợp cho loài chim sinh sống.

Ông Hòa còn nghĩ, khi các công trình đô thị hóa được thực hiện, tức giải tỏa đất đai, xây nhà phố mới, thường người bị mất nhà, mất đất chỉ nhận lấy một cục tiền đền bù rồi sau đó phải vất vả tự lo liệu nơi ăn chốn ở mới, nhiều khi họ không biết đi ở đâu và làm gì tiếp tục để sinh nhai… Có nghĩa là người ta còn chưa giải quyết được chu đáo cho cuộc sống của nhiều người, nhất là người nghèo khi họ phải xa lìa chỗ ở cố cựu của họ, nói gì đến số phận của những vật nuôi bị bỏ lại ở khu xóm giải tỏa trắng, ví dụ như một con chim chích chòe nhỏ bé, lạc loài kia?

Thấy thương con chim, ông Hòa viết một bài tạp bút về chuyện bắt gặp chú chim chích chòe bị chủ nuôi bỏ lại trong cảnh gạch ngói hoang tàn khi gia đình họ phải chuyển đi nơi khác bởi nhà họ bị giải tỏa trắng, nghĩa là chú chim đã bị mất chỗ ở quen thuộc bên chủ nó… Nào ngờ gần 15 năm sau, đến lượt ông Hòa cũng rơi vào tình trạng sắp mất chỗ ở, không biết đi đâu…

 

3.

Đã 43 năm về trước, đối với nhiều số phận người dân Sài Gòn cùng gia đình họ – như ông Hòa, gốc sĩ quan chế độ cũ, khách quan hay chủ quan gì cũng thế, ngày 30 tháng 4 đã là một biến cố khó có thể gọi là vui, phấn khởi được. Mất nhà, mất chỗ làm, mất tài sản, mất địa vị xã hội, mất người thân và bạn bè, bị tập trung học tập cải tạo, bị chỉ định cư trú khu kinh tế mới… Đã dù ít dù nhiều đều bị mất mát, chia lìa, thua thiệt như thế, cuộc sống xuống cấp thấy rõ, đổi đời kiểu này thì làm sao bảo họ là “vui” được? Dù sao, hơn 40 năm trôi qua, cũng giống như bao người Sài Gòn khác, sau những mất mát này khác thì ông Hòa đã cố gắng tìm cách hòa nhập với thời thế, lao động một cách lương thiện để kiếm sống cho gia đình mình cho đến tuổi về hưu.

Vừa rổi, cũng chính vào thời điểm tháng 4, thời tiết đang rất oi bức này, ông Hòa lại được thông báo nhà mình ở sẽ bị giải tỏa, nói đơn giản là sẽ mất nhà, thì đối với ông, biến cố ấy có khác gì một cái “30 tháng 4” thu nhỏ lại và trớ trêu xảy đến lần nữa trên số phận hẩm hiu của gia đình ông cùng cả trăm bà con hàng xóm.

Đêm nay, thêm một đêm ông Hòa chập chờn nửa ngủ nửa thức. Đến gần sáng, ông nghe văng vẳng từ đầu hẻm tiếng kèn đám ma, tình cờ là bản Một cõi đi về của TCS. Về ở căn nhà cấp 4 này từ thuở trung niên còn khương cường để cày kiếm sống, đã bao sớm hôm đi về con ngõ hẹp, nay đã thuộc lứa thất thập cổ lai hy mỏi mòn, ông Hòa chợt ngậm ngùi, không thể nào nhớ nổi đã bao đêm về sáng mình đã thao thức nghe tiếng kèn đám ma, đưa người quá cố vĩnh viễn rời khỏi căn nhà họ từng cư ngụ, rời xóm phố họ từng sống lúc sinh tiền…

 

PHẠM NGA

(Trong oi nồng tháng 4-2018)

Advertisements

Vô rẫy uống rượu đế với thịt trăn  

 

 

 

1.

– Nó giết mấy con gà, nó sát sinh. Rồi mấy cậu giết nó, còn ăn nó nữa chớ… Tới phiên mấy cậu cũng mang tội sát sinh!

Tôi cảm thấy khó chịu, xốn xang. Ánh nắng xế trưa chiếu xuyên qua tán lá cây mít, vẽ những đốm sáng lay lắt lên đỉnh đầu, gò má bọn tôi nhưng đám bợm chẳng tên nào thèm để ý mà sửa thế ngồi cho tránh chói. Tựa lưng vào gốc cây, tôi uể oải đưa tầm mắt ra xa vượt khỏi khu vườn còi cọc của Thường, nhìn về núi Dinh Cố. Bên dưới vài đám mây trắng lóa bởi nắng đang rất gắt giấc này, sườn núi xanh rờn màu cây lá, lác đác vài chỗ chợt sẫm tối bởi bóng mây.

Dân nhậu hay nói trời nắng nóng mà uống rượu đế thì rất mệt người, phải vật vã, nhăn nhó như Phan Thanh Giản uống thuốc độc nhưng nảy giờ, cái bình toong quân nhu cũ mèm, đựng gần năm xị đế cũng đã nhẹ tưng từ hồi nào dù chỉ có hai bợm ngồi ‘cưa’ đôi, đưa qua đẩy lại.

Thật lòng tôi có ray rức vì lời buộc tội vừa rồi của cháu gái Thường nên cố gắng phân bua:

-Để cậu nói cho con nghe. Con trăn này bữa nay nuốt mấy con gà, nếu nó còn sống thì mai mốt thế nào nó ăn thêm gà thêm vịt nữa. Rồi nếu… ốm nhách, nặng chưa tới ba chục ký lô như con mà ra đồng một mình, lỡ gặp nó, đúng lúc nó đang đói, kiếm không ra mồi, thì sự thể sẽ ra sao đây? Dù con nói gì thì rõ ràng nó đã là sát sinh… Thôi để cậu gọi nó là “sát thủ” nhe, y như trong bộ băng Bao Thanh Thiên bên nhà bác Tư mướn về coi hoài đó? Ừ, “sát thủ” lạ mặt này đã giết mấy con gà nhà mình. Nó phải bị trảm! Hai cậu không còn cách xử nào khác hơn. Không chịu thì con đi hỏi bà ngoại đi. À mà con hãy từ bi hỉ xã bỏ qua cho mấy cậu cái tội ăn luôn “sát thủ” nghe con…

Con trăn dài gần hai mét, đường kính vòng thân mình cỡ lon sửa bò. Về lý lịch con trăn thì tôi đồng ý với Thường, rằng vùng đất rẫy An Ngãi này đã bị giải tỏa gần hết, mấy con đường nhựa đã làm xong, cỏ hoang và cây dại đâu còn bao nhiêu mà rắn rít, sóc, chuột đồng… còn chỗ sống; rằng hơn nữa con này không phải rắn mà là trăn dài thượt như vậy thì chắc gốc gác nó phải là từ phía núi kia, run rủi sao mà bò vô tới miếng rẫy này…

Cứ như vừa rồi miếng rẫy của Thường chợt hóa thành công đường xử án lưu động của Bao đại nhân, Thường khề khà kể tiếp về diễn tiến vụ việc với giọng lạnh lùng kiểu “ký sự pháp đình” nhưng không khỏi thêm thắt chút đỉnh. Tội danh của “sát thủ”: giết bằng cách nuốt sống ba con gà của gia đình Thường, nhưng số “kẻ bị hại” có thể nhiều hơn nếu bỏ công đi hỏi bà con hàng xóm xung quanh đây. Hiện trường:  đám cỏ tranh. Thời gian gây án: không rõ, chắc đã mấy ngày rồi. Chủ tọa hội đồng xét xử: ông Thường, chủ rẫy. Hội thẩm nhân dân: mấy phụ nữ đứng vòng ngoài, đã không hề có ý khoan hồng. Luật sư tình nguyện bào chữa: con gái Thường.

Sau khi tội danh thành lập, án đã được thi hành ngay lập tức. Đặc biệt là Thường – ông chủ tọa hội đồng xét xử, cũng xăng xái tham gia vào “đội thi hành án” nhưng thực ra, ông ta chỉ đứng xa xa, tay quơ quơ cái cuốc, miệng la hét om sòm gọi là chỉ huy. Cả đội cứ xà quần, dày xéo đám cỏ tranh khá lâu mà kẻ thủ ác vẫn luồn lách, tìm đường trốn chạy. Rốt cuộc, vì nghe ồn ào, một thằng cháu lâu nay bệnh khật khùng của Thường ở rẫy bên cạnh đã chạy qua và lẵng lặng tự bổ sung ngay vô đội. Nhát cuốc duy nhất của anh khùng bổ xuống, chính xác vào ngay đầu sát thủ.

 

2.

Nếu không có tôi tình cờ từ Sài Gòn xuống đúng lúc vụ án xảy ra thì “sát thủ” đã được đem chôn cất tử tế. Vì, một là có người bàn việc lột bộ da con trăn phơi khô rồi kiếm chỗ bán, nhưng da đã hư nát vì nhiều nhát cuốc, nhát rựa “ăn theo”. Hai là trong nhà không có ai biết ăn thịt rắn – nay là trăn thì cũng vậy thôi – trừ mỗi mình Thường, tiếc là bạn tôi tuy đã từng ăn và thích ăn thịt rắn nhưng lại không biết làm bếp, nhất là không hề có chút ý niệm nào về “lộ trình” chế biến thịt loài bò sát còn ghê gớm hơn rắn này. Còn lý do thứ ba chính là sự lên án của đứa cháu gái Thường đối với cả hai lý do có trước, nên phải lẽ hơn hết là đem chôn cất con vật cho đàng hoàng, cũng là để làm phước đối với một sinh linh vừa rời bỏ cuộc sống thế gian.

Do đó, khi tôi lên tiếng mọi người muốn chôn con trăn thì cứ chôn, chỉ cần để tôi chặt ngay giữa mình con trăn để lấy – cho tôi và tất nhiên cả cho ông chủ nhà – một khúc khoảng hai kílô, rồi tôi sẽ làm thịt trăn thành món nhậu. Lập tức trước mắt mọi người, tôi – cái gã dân thành phố văn minh – chợt có cái vẻ gì đó như dân man dã ăn tạp, tức ác đức hơn rất nhiều so với dân ở rẫy, nhiều lắm là chỉ thô lỗ, cục mịch thôi!

Sau 30 tháng 4, xong một năm đi học cải tạo về “tội” làm cán bộ xây dựng và bình định nông thôn, rồi hết phương kiếm sống ở thị xã, Thường đành cùng cả gia đình ba mẹ, chị em lui về miếng đất rẫy hẻo lánh này. Muốn đến vạt đất khô cằn này thì phải vượt qua 2 cây số đường mòn gập ghềnh, quanh co đi về phía chân núi Dinh Cố, một đoạn đường thường xuyên rất vắng người, cỏ hoang cây dại um tùm. Tỷ dụ như ai xui xẻo bị rắn cắn dọc đường thì rất ngặt nghèo vì phải lết đi mấy trăm thước mới thấy căn nhà lá nào đó.

Thấm thoát mấy chục năm đã trôi qua… Hiện giờ ở rẫy của Thường vẫn nhà tranh, vách đất, vẫn đèn dầu, nước giếng, cây trái còi cọc ngoài vườn – nghĩa là vẫn nghèo. Lâu lâu, vì ngặt nghèo quá, có khi Thường phải lén cắt tranh “lộn” bên đất người ta để bán kiếm tiền đong gạo. Mỗi lần từ Sài Gòn xuống, phải kẹt tiền lắm tôi mới để thiếu thứ quà thực tế – thức ăn. Với bọn tôi, lần nào cũng là manh chiếu rách trải dưới tàng cây mít với thứ rượu đế rẻ mạt đựng trong bình toong nhà binh, vài miếng ổi chát hay con khô mặn…

Bữa nay, có khúc thịt trăn, tôi đưa tiền cho đứa cháu nhỏ chạy u ra cái quán gần nhà, được tiếng là xa chợ mà cũng có bán đủ thứ. Như ngũ vị hương là thứ rất cần cho món trăn xào, nhưng xả, ớt đã sẵn có dư dả ngoài vườn. Và dĩ nhiên, không thể thiếu một bình toong rượu cùng với nước đá chữa lửa. Cái chái bếp tồi tàn, lạnh lẽo, vừa thấp vừa tối của nhà Thường bỗng trở nên ấm cúng, nhộn nhịp, chộn rộn tiếng nói tiếng cười, khác hẳn ngày thường.

Làm bếp xong, việc dọn bãi đáp đã có chủ nhà nên tôi thong thả ra tắm cạnh cái giếng trong vườn. Gió thổi rào rạt đến phát lạnh, nước giếng cũng lạnh ngắt nhưng ngay gáo nước đầu, xác thịt chợt được kích thích lạ lùng. Khó có thể diễn tả được cái cảm giác thống khoái kỳ cục, nặng trĩu nhục cảm. Tắm xong, bọn tôi xà vào chiếc chiếu rách quen thuộc đã được trải dưới gốc mít …

Phần còn lại của thi thể con trăn “sát thủ”- như đã nói – giờ là đĩa xào ngũ vị thơm phức. Mấy con chó xớ rớ gần đó bị đuổi chạy cho xa vì người ta cử kiêng, không bao giờ cho chúng ăn xương rắn, xương lươn. Xương trăn cũng vậy thôi. Cảm giác sảng khoái một lần nữa lại lan tỏa khắp người, dĩ nhiên bắt đầu từ vị giác. Thứ rượu dỏm, hôi như mùi cao su cháy hay mùi giẽ rách lau bàn, mấy ngụm đầu tiên lại chợt ngon lạ lùng. Có khi hạnh phúc chỉ đơn sơ quá đỗi và bé mọn đến tội nghiệp như thế.

 

3.

Vậy mà đứa cháu gái Thường đang kết tội tụi tôi sát sinh: một “nhóm sát thủ” này giết một “sát thủ” khác, bạo tàn hơn là còn ăn luôn cả một phần thi thể. Riêng Thường, có nhỏ nhẹ phân bua rằng hành vi ăn thịt luôn “sát thủ” thì trong trường hợp này nó lại là một con vật nên con người không mắc tội sát sinh, do ông bà mình từ xưa đã có chủ trương “vật dưỡng nhơn”. Vậy ở đây, lời buộc tội không xác đáng: không sát sinh đối với “vật” thì con người làm sao được “dưỡng” từ “vật”? Rõ ràng tụi tôi đã cố gắng giải thích, mong mỏi sự đồng cảm từ “luật sư” bào chữa cho con trăn “sát thủ”.

Bất giác tôi ngước mặt lên nhìn đứa cháu gái của Thường. Đó là một cô nhỏ ốm yếu, đen đũi, gương mặt không đến nổi xấu gái nhưng trông thật tối, đã 18 tuổi rồi mà thân thể cứ khô đét, không một chút gì nở nang, tròn trịa. Những khó khăn, túng thiếu kéo dài ở gia đình này đã khiến cô nhỏ chỉ biết mang những suy nghĩ, hoài vọng bế tắc của mình đến cửa những am, chùa, miếu, cốc… đầy dẫy ở vùng đất khô cằn này. Rồi niềm an ủi có thể chợt đến từ lời giảng dong dài của một ni cô trẻ vô chùa vì thất tình hay từ một ông sư già đi tu bởi thua đề mất nhà nào đó. Hẳn là cô nhỏ được dạy rằng, sống ở đời, có nghèo khổ thì chỉ là do số mạng, do nghiệp báo không thể tránh khỏi. Hơn nữa, sống ở đời là phải nhẫn, luôn chịu nhận lấy phần thua thiệt về mình. Như về chuyện con trăn giết, nuốt mấy con gà – phải nói là một biến cố, mất mát khá lớn bởi đây là cả một tài sản chắt chiu của cái gia đình nghèo quá nghèo này – thì cô nhỏ vẫn nhất định không kết án con trăn, cũng như không chịu cho ai trị tội “sát thủ”. Hãy tha thứ cho kẻ ác! Đừng chấp! Hãy ẩn nhẫn và chịu đựng trước cái ác, cái tội lỗi!

Tôi nhìn lại đĩa thịt trăn. Chỉ là một niềm vui nhỏ bé, chung rượu hạ bạc khi vô thăm bạn nghèo ở cái đất rẫy đìu hiu này mà cuộc đời vẫn không cho phép?

Thôi, bữa nay hoàn cảnh không vui, men rượu không đủ gây hứng cảm –  dù là một chút lãng đãng chiêm bao – để nhắc Thường trở vô nhà lấy ra cây ghi-ta như mọi lần. Trời mới về chiều mà tôi đã nghĩ đến sáng mai trở về thành phố, bình lặng trở lại công việc kiếm sống. Cũng như bạn tôi phải lầm lũi trở lại với mấy gốc mảng cầu, gốc mít cùng đám cỏ tranh. Chỉ có “sát thủ” là đã đi vào Hư Vô…

Phạm Nga

Đà Lạt, Phiêu Lãng Giáng Sinh Xưa

 

1.

Tôi biết bản “Bài thánh ca buồn” của nhạc sĩ Nguyễn Vũ đâu hồi mới 15 tuổi, thời học đệ tam C trường Pétrus Ký. Ông nhạc sĩ tài hoa đã kể thuở còn một cậu bé 14 tuổi sống trên Đà Lạt, ngày ngày đi lễ ở nhà thờ Con Gà thì tình cờ gặp một cô gái rất xinh. Mở lời làm quen thì biết cô ấy lớn hơn mình 2 tuổi nhưng trái tim vụng dại của cậu con trai mới lớn vẫn đập loạn nhịp trước bóng dáng thiếu nữ có mái tóc dài buông thả, đẹp như mộng ảo giữa cảnh sắc đồi thông Đà Lạt sương mù.

Tôi mê mẩn trước lời kể của nhạc sĩ Nguyễn Vũ, rằng có một lần tan lễ Giáng sinh thì trời đổ mưa, cô gái nép vội vào mái hiên ngôi nhà nọ gần nhà thờ, ông cũng đứng trú bên cạnh. Những kỷ niệm và xúc cảm thiết tha lần ấy chính là nguồn cảm hứng để ông viết nên bản “Bài thánh ca buồn” sau này.

Năm tôi ngồi lớp đệ nhị C là 1965, tôi lại càng thích bản “Bài thánh ca buồn” bởi bắt đầu quen Huyền ở Sài Gòn, bởi ngẫu nhiên Huyền cũng là người gốc Đà Lạt, cũng lớn hơn tôi 2 tuổi, cũng duyên dáng, cũng tóc dài, nghĩa là có khá nhiều điểm giống cô gái trong chuyện tình dịu ngọt thời thơ dại của nhạc sĩ Nguyễn Vũ …

Cuối tháng 12 năm ấy chợt có kỳ trại đặc biệt được Bộ Giáo dục thời đó tổ chức vào dịp Giáng sinh, ưu ái dành cho ban đại diện học sinh và các lớp trưởng khối đệ nhị cấp của riêng bốn trường lớn nhất Sài Gòn là Pétrus Ký, Chu Văn An, Gia Long và Trưng Vương được đi chơi Đà Lạt 5 ngày. Tôi là lớp trưởng nên được dự kỳ trại có tên gọi thật đẹp là trại Anh Đào này.

Vậy là tôi đã có cơ hội lần đầu tiên lên Đà Lạt, lại trúng ngay mùa Noel, mùa đẹp nhất để du khách viếng thành phố ngàn hoa. Tôi nghĩ ngay đến Huyền, bởi khi đó tôi chỉ có Huyền là người quen/bạn duy nhất có nhà ở Đà Lạt.

2.

Đỗ tú tài nhất xong, Huyền từ biệt bố mẹ xuống Sài Gòn học sư phạm mẫu giáo. Do người bà con giới thiệu, cô gái đến ở trọ trong trường Mạnh Mẫu, một trường mẫu giáo nổi tiếng ở khu Tân Định, nơi em gái út của tôi đang theo học. Một lần nọ, vào giờ tan học buổi chiều, anh tài xế ở nhà lái xe đi rước con bé, tôi rảnh nên cũng theo chơi. Đang thơ thẩn ngồi chờ trước sân chơi xích đu, cầu tuột, tôi thấy một cô gái thật trẻ ra phụ các cô giáo trông chừng bọn học sinh lí lắc hay leo trèo, nhảy nhót quá đáng. Gương mặt cô gái không trang điểm nhưng vẫn thùy mị dịu dàng, mái tóc huyền xỏa ngang vai, giọng khuyên bảo bọn trẻ nghe ngọt như mật …, Huyền thu hút tôi ngay từ cái nhìn đầu tiên. Rồi thư viết cho nhau đã nhiểu nhưng ngồi bên nhau trong khuôn viên nhà trường thì còn ít bởi để giữ gìn cho các thiếu nữ ở trọ, qui định về khách thăm viếng ở đây kia rất nghiêm nhặt.

Huyền nhận lời hẹn gặp và cho tôi địa chỉ ở Đà Lạt. Tôi sung sướng đến muốn bay bổng lên trời xanh. Thế là đến tuổi 16 tôi mới được thỏa mơ ước cháy bõng từ thời thiếu niên là được lên Đà Lạt, đặt chân đến Thành Phố Của Ngàn Hoa, Thành Phố Sương Mù… như văn chương, âm nhạc thường ngợi ca. Càng sung sướng hơn là trong chuyến du lịch miễn phí diệu kỳ này, tôi sẽ có dịp gần gũi hơn với cô bạn xinh đẹp vào đúng dịp Giáng sinh, nghĩa là gần như tôi sẽ được thể nhập trọn vẹn – chứ không phải ngồi tưởng tượng nữa – vào khung trời lãng mạn tuyệt vời của bản “Bài thánh ca buồn”.

3.

Trời mới rạng đông, trại viên trại Anh Đào được đưa ra phi trường TSN, ngồi máy bay quân sự C123 lên Đà Lạt. Mờ sáng đã đến phi trường Liên Khàng, thời tiết thật tuyệt diệu, không quá lạnh như tôi tưởng tượng.  Có chuyện hơi buồn cười là suốt 5 ngày trại, toàn thể bọn trại viên con trai được cho về ở chỗ… con gái –  trường nữ trung học Bùi Thị Xuân. Ổn định chỗ ở xong, bọn tôi được tự do ra phố vài tiếng, chỉ cần 11 giờ 30 phải về lại trường để đi ăn cơm trưa.

Theo một nhóm bạn xuống đến bờ hồ Xuân Hương thì tôi tách ra, nói với tụi nó là cần đi tìm, thăm nhà bà con. Tôi đứng bên lề đường, dáo dác kiếm taxi. Ở Sài Gòn thời ấy có một tập quán hay hay về việc sử dụng xe taxi ngoài đường phố, đó là bạn có thể quắt bất cứ chiếc taxi chạy ngang đang chở khách nhưng vẫn còn ghế trống, thường là xe sẽ dừng lại để tài xế hỏi bạn đi đâu. Nếu lộ trình bạn cần đi thuận chiều với lộ trình của khách đã ngồi trước trên xe thì tài xế sẽ đồng ý chở bạn đi chung, ai xuống trước cứ trả phần tiền xe của mình… Tôi vừa quắt trúng chiếc taxi đã có hai sinh viên sĩ quan trường Võ Bị Đà Lạt ngồi ghế sau. Cửa xe vừa đóng là tôi vội vàng nói ngay, cố ý cho cả ba người trên xe cùng nghe:

-Chào các anh, làm ơn chỉ dùm và cho tôi đến địa chỉ này, số 23 đường Biệt Thự, bờ hồ Xuân Hương. Tôi ở Sài Gòn, đây là lần đầu tiên lên Đà Lạt, muốn ghé thăm người bà con…

Một anh SVSQ ngồi phía sau vui vẻ trả lời ngay:

-Hên cho anh rồi, đường Biệt Thự ở ngay phía bờ mờ mờ bên kia, đây vòng qua đó chừng 10 – 12 phút thôi, phải không bác tài?

Mọi việc đều diễn ra suôn sẻ, tôi vừa hí hửng vừa nôn nao đầy lòng. Chiếc taxi dừng lại cạnh một bãi cỏ thật xanh bên đường, tôi hỏi bác tài tiền xe bao nhiêu thì bác ta lại quay nhìn hai người khách phía ghế sau. Cũng cái anh SVSQ vui tính lại nhanh miệng nói:

-Có bao nhiêu đâu anh bạn. Đúng ra ở Đà Lạt rất ít người đi chung xe taxi như kiểu ở Sài Gòn nên hiếm có ai quắt xe đã có khách như anh vừa rồi. Thôi, rất vui nghe anh học ở Sài Gòn, lên dự trại thăm Đà Lạt. Để tụi tôi tính cho, coi như cho anh quá giang. Lo đi tìm nhà người bà con đi.

Tôi không ngờ ngày đầu tiên ở Đà Lạt mình đã may mắn gặp được người tử tế như vậy nên xăng xái bắt tay cám ơn hai anh SVSQ, cám ơn cả bác tài. Họ cười, chúc tôi vui vẻ trọn những ngày ở Đà Lạt.

Từ lề đường nhìn lên chỉ thấy dốc đồi thoai thoải, lối đi ngoằn nghèo chạy giữa những bãi cỏ xanh rờn cùng những mái nhà thưa thớt, ẩn mình giữa những cây thông cao vút nên ở đâu cũng đầy bóng râm. Nhà số 23 nằm khuất ở một sườn đồi cách đường lộ bên dưới khá xa nên có vẻ đìu hiu, vắng lặng. Gõ cửa rất lâu Huyền mới ra mở cửa với nụ cười thật phấn khích, vẻ bất ngờ vươn đầy ánh mắt…

Huyền mời tôi vào nhà, rót tách trà actixô bảo tôi uống liền cho ấm. Nhà đang chỉ có mỗi mình Huyền. Ngồi chốc lát là tôi đã khẽ đề nghị cô bạn hãy cùng tôi ra ngoài, ngồi chơi ở bãi cỏ trên sườn đồi thoai thoải phía trước cổng nhà.

Có thể coi đây là một trường đoạn phim trữ tình, thơ mộng nhất mà cậu con trai tuổi 16 đã khổ công vẽ vời sẵn từ những đêm cậu mình bỏ ngủ, nằm tưởng tưởng đủ điều trước ngày đi trại Anh Đào.

Ở lần gặp trước gần đây nhất, tôi đã vừa hỏi Huyền xin địa chỉ ở Đà Lạt vừa hỏi nàng có về nhà nghỉ mùa Giáng sinh không. May mắn là Huyền sẽ về nhà trước cả ngày trại Anh Đào khai mạc và tận sau Tết dương lịch mới trở xuống Sài Gòn. Tuy nhiên, khi ấy tôi chỉ nói là sẽ cố gắng, sắp xếp thời gian trong kỳ trại để tìm đến nhà Huyền, gọi là gặp nhau ở nhà nàng, quê hương nàng cho thân thương hơn. Do đó khi thấy tôi ở cửa, Huyền nói ngay bất ngờ quá đi!  Giờ ngồi trên bãi cỏ, Huyền giải thích thêm rằng dù có đồng ý cái hẹn “để trống ngày giờ” nhưng trong thâm tâm nàng lại cảm thấy biết đâu sẽ có trở ngại này khác khiến tôi không thể sắp xếp, thực hiện được chuyện hai đứa gặp nhau được trên Đà Lạt, nhất là vào dịp đặc biệt là Giáng sinh này.

Giờ đây tôi đang ngồi với cô bạn gái trên bãi cỏ ngập lá vàng khô. Hoàn toàn chỉ có hai đứa, không có con mắt dòm ngó nào của thiên hạ xung quanh.

Huyền vẫn thùy mị, dễ yêu, mái tóc buông dài ma mị. Đặc biệt là khi trở về với khí hậu Đà Lạt, đôi má của Huyền trở nên hồng hào thật quyến rũ, không còn màu trắng, xanh nhàn nhạt bình thường như lúc ở Sài Gòn.

Thỉnh thoảng bờ vai hai đứa chạm khẽ vào nhau. Đã nói mới là “bạn” thôi thì dễ gì có cái cớ hợp tình hợp lý nào đó để được nắm tay? Thú thật tôi còn mong, thèm nhiều hơn nữa, như ôm Huyền vào lòng và tất nhiên, được hôn nàng thì chắc còn hơn trúng số độc đắc nữa…

Huyền, trong thực tế là cô bạn gái lớn hơn tôi 2 tuổi, học cũng trên lớp, nhưng trong “kịch bản” của tôi, nàng đã mơ hồ hóa thành người yêu bé bỏng. Tôi thêu dệt, lý tưởng hóa kịch bản này đến nổi theo thực tế hôm đó, do gặp nhau đột ngột, cô gái có sửa soạn gì đâu mà chỉ mặc bộ đồ bộ bình thường ở nhà, gương mặt không trang điểm phấn son gì nhưng tôi vẫn thấy Huyền thật đẹp và quyến rũ.

Được ngồi sát bên Huyền, tôi đã hết sức sung sướng bởi hai lẽ, một là được gần gũi Huyền với mối cảm xúc ngất ngây hình-như-là-tình-yêu đang lên ngôi dù tôi chưa hề tỏ tình, hai là được thưởng thức cảnh tượng lãng mạn do chính mình tô vẽ từ trước giờ đã thành hiện thực.

Tôi kể Huyền nghe hiện tôi đang “tạm trú” ở một nơi khá đặc biệt, đó là trường con gái. Mỗi tổ nam sinh được đưa vào một lớp học để tự động ghép bàn làm chỗ ngủ, ba-lô túi xách cứ để bừa trên ghế, nhà vệ sinh chung thì ở cuối dãy… Cô bạn cười ha ha, trêu tôi là hãy biết mang ơn ban tổ chức trại, hãy ráng tìm trong các hộc bàn coi có cái kẹp tóc, gói muối ớt cùng miếng ổi xanh nào không, hay lãng mạn hơn thì một sợi tóc dài thiệt dài nào đó rồi ráng mà tưởng tượng đó là của một cô bé dân Đà Lạt thiệt xinh… Tôi trêu lại nàng, hỏi khẽ “Xinh như Huyền phải không? Có Huyền đây rồi thì mình còn phải đi tìm cô nào khác nữa?”. Cô bạn gái, hốt nhiên hóa thành nửa-bạn-nửa-người-yêu, thẹn thùng đỏ hồng đôi má hơn nữa và cúi mặt cười tủm tỉm, cũng để tránh cái nhìn ma đạo của tên bạn trai. Rồi hai đứa im lặng thật lâu. Có cảm xúc gì đó chợt thật ngọt ngào êm ái thấm sâu vào tâm tưởng…

Nhờ tôi có cẩn thận bảo trước với Huyền rằng cần tập trung về cái trường con gái ấy trước 11 giờ 30 nên dù hai đứa mê mãi thủ thỉ chuyện trò, cô bạn vẫn kịp nhắc tôi. Huyền đưa tôi xuống đến lề đường, hai đứa đều có vẻ bâng khuâng, bàng hoàng như vừa tỉnh một cơn mộng huyền ảo giữa ban ngày. Tôi âu yếm bắt tay Huyền, nàng để yên cho tôi xiết nhẹ bàn tay mình. Hình như tôi cố tìm thêm hơi ấm từ người con gái, nhưng khi nói lời từ biệt thì tôi lại không thể nói hẹn gặp lại lần nữa tại Đà Lạt này, bởi tôi chạnh nghĩ mình chỉ còn bốn ngày trại với chương trình đặc kín sáng chiều về các nơi thăm viếng…

4.

Một, hai năm sau, tình bạn của tôi và Huyền vẫn cứ thế, không tiến triển thành tình yêu. Huyền vẫn khoan hòa, tế nhị như có ý chờ đợi tôi, còn tôi vẫn thấy không ổn, vẫn ngại tỏ tình với người con gái lớn hơn hai tuổi và còn vào đời, trưởng thành sớm hơn mình nữa.

Nói chung, ngày đó tôi vẫn tiếp tục là một tên con trai nhát gái, vẫn hay mộng tưởng với loại tình yêu “duy tâm”, chỉ được cái là về viết thư tình, tôi có thêm kinh nghiệm để viết hay hơn – theo nghĩa lâm ly hơn, tạo ấn tượng hơn để con gái chịu bóc xem các lá thư kế tiếp…

Có lần tôi đem chuyện lên Đà Lạt gặp Huyển kể cho một thằng bạn học lớn hơn tôi cũng 2 tuổi, từng trải nhiều mối tình và thuộc hạng hơi Casanova Sở Khanh một chút. Nghe xong chuyện, hắn không thèm hỏi lại câu nào mà chỉ cười nhếch mép, phân tích chỉ dạy cho tôi hai khía cạnh hay và dở đối lập nhau của vấn đề. Một là, vào các dịp Noel thì bọn con trai luôn ước mơ có được có đủ những thứ quí giá, như có xe máy mới, được mời dự dạ vũ cùng tiệc réveillon và quí hơn hết là có đào xinh xắn, là bạn gái hay người yêu đều được, để cùng đi chơi Noel – điều này thì vào dịp Noel năm đó, cái hay của tôi là dù còn khờ, tôi vẫn may mắn có đào tuy phải mò lên đến tận xứ sở sương mù. Hai là, cái dở của tôi là lúc đó đúng là tôi khờ quá, còn con nít quá, không biết lợi dụng ngay hoàn cảnh chỉ có một mình cô gái ở nhà, chỉ biết rủ nhau ra ngồi bãi cõ, tựa vai nhau nói chuyện chay thì hiền quá!

Tất nhiên, có bị đàn anh về chuyện bồ bịch, yêu đương kia chê là “con nít”, “khờ” gì thì cũng ráng mà chịu nhưng tôi đã rây lọc, chỉ tiếp thu ý kiến nào nghe đứng đắn, lương thiện từ thằng bạn nổi tiếng là Casanova bạc tình kia.

Dù sao, tôi đã nhận ra là vào mùa Giáng sinh phiêu lãng trên Đà Lạt năm nào,  tâm hồn tôi đã thầm lặng mãn nguyện. Không biết có bị ảnh hưởng bởi tiểu thuyết, phim ảnh trữ tình nào đó không, cậu con trai 16 tuổi ấy đã tưởng tượng trước cái cảnh tượng vô cùng ngọt ngào là mình và cô bạn gái ngồi kề vai bên nhau, thủ thỉ chuyện trò trên đồi thông đầy lá rụng giữa sương mù Đà Lạt. Đây là hình ảnh hẹn hò tình yêu lãng mạn nhất mà cậu con trai mới lớn đã phóng rọi và thăng hoa cho một tình bạn thắm thiết với một thiếu nữ nết na, mà dù sau này không bay bổng thành tình yêu đi nữa thì cũng vẫn luôn là một tình bạn thật thuần khiết, trong sáng đến muôn đời…

 

PHẠM NGA

(Cận Giáng sinh 2017)

NGÀY THÁNG ẤY HỒN NHIÊN

 

1.

Đầu những năm 60, không rõ được cất từ thời nào mà một dãy phố trệt ở gần cuối đường Trần Quang Khải, khu Tân Định, trông rất cũ kỹ. Chiều chiều, quanh quẩn bên những gốc cây dầu, cây sao trên vỉa hè, bọn trẻ khu phố kéo nhau ra chơi đủ thứ trò. Có nhiều trò con gái con trai chơi chung như: trốn tìm, nhảy dây, lò cò, đánh đáo…, vài trò khác thì tụi con gái thường chỉ đứng xem mà rất hiếm khi tham gia, như: đá banh, bắn bi, bắn ná, u bắt mọi…

Cứ thế, hai đứa bạn hàng xóm lâu năm, chơi với nhau rất thân là hai tên nhóc ngang tuổi nhau, Hòa và Quan. Cũng hay đi chung, chơi chung với cặp bài trùng này còn có Kim, chị kề của Quan và chỉ lớn hơn 1 tuổi. Hòa cũng xem chị Kim như bạn học, do cả ba đứa đều học chung trường, chỉ khác lớp.

Hết lớp 5, cả ba đứa cùng đậu tiểu học, chị Kim đậu luôn vô lớp đệ thất trường công là trường nữ trung học Lê Văn Duyệt, gần lăng Ông Bà Chiểu. Còn bọn con trai, do đậu tiểu học xong là ham chơi suốt mấy tháng, không chịu ôn bài đàng hoàng nên đều rớt khi thi vào lớp đệ thất trường công Trần Lục, gần chợ Tân Định. Bố mẹ Hòa dễ dãi, cho con học trường tư, là trường Les Lauriers cũng gần nhà. Chỉ còn Quan, do bố mẹ cương quyết, bắt học lớp tiếp liên, dùi mài ôn tập để thi vào trường công lần nữa. Kết quả là, đành chịu chậm mất một năm, cậu mình lọt vào vào trường Trần Lục.

Thế là khi lên trung học, ba đứa bạn thân học ở ba trường khác nhau nhưng Hòa vẫn tiếp tục chơi thân với Quan và chị Kim. Sắp dậy thì, con gái trổ mã, cô chị của Quan cao hơn hai thằng con trai gần cả tấc. Lúc này ba đứa bắt đầu “ngao du” những chỗ mới, xa nhà hơn, như piscine Chi Lăng, piscine Đại Đồng, lăng Ông Bà Chiểu… Thú vị nhất là những địa điểm bên Dakao, tức vẫn gần nhà, lội bộ một lát cũng tới, như: tiệm thạch chè Hiển Khánh cạnh rạp ciné Casino Dakao, mấy chỗ bên đường Hiền Vương là đền thờ Hưng Đạo vương, đất thánh Tây cùng đất thánh Chà, rồi chùa Ngọc Hoàng… Vui nhất là vô chùa Ngọc Hoàng, bứt lá cây thả xuống cái hồ nước xanh lè cho mấy chú rùa ăn. Gần cổng chùa lại có một lớp dạy Anh ngữ buổi tối, ban ngày thường ơ thờ quên khóa cửa phòng học, cả bọn lẻn vào, ban đầu chỉ ngồi chơi, sau lén lấy về cả hộp phấn viết bảng. Cái trò “trộm vặt” chẳng đáng gì nhưng lại vui vui, dù cái giá phải trả là trên đường về Quan cứ hồi họp úm, che cái hộp dấu trong áo. Cả bọn đều lo lắng, ngó dáo dác, sợ người của lớp học biết đâu lại đột nhiên xuất hiện và bắt tại trận…

Lúc này, tính khí của mỗi đứa đã định hình khá rõ rệt. Quan lúc nào cũng suy nghĩ thực tế, nhanh nhẹn, tháo vát, nhiều sáng kiến. Chị Kim thì thông minh, tế nhị, cứng cỏi, hướng ngoại, nhiều lúc không hề ngại tỏ vẻ “đàn chị” đối với hai cậu em. Hòa thì ôn hòa nhất trong bọn, hay hướng nội, mơ mộng và hiếu cảm. Được nhất là cả ba đều học giỏi đều các môn nên thường xuyên đứng hạng thứ cao trong lớp. Đáng khen hơn nữa, cả ba đứa học giỏi đều do trí thông minh hay năng khiếu riêng – Quan giỏi trội nhất là môn toán, Hòa, chị Kim trội nhất môn Anh ngữ và Hòa trội nhất về môn văn –  cộng thêm trí nhớ tốt chứ chẳng đứa nào chịu cần cù, học gạo. Sở trường của mỗi đứa là như thế nhưng trong bụng lúc nào Hòa cũng thầm nể cái tánh cứ-như-con-trai của chị Kim. Cậu mình phục lăn chị bạn, đã lúc nào cũng nói nhanh và bước đi nhanh, mà nắm bắt, phán đoán chuyện gì cũng vừa nhanh nhạy vừa xác đáng.

 

2.

Năm Hòa và chị Kim thi tú tải hai, Quan thi tú tài nhất thì ba mẹ Hòa dọn nhà qua Bà Chiểu. Từ đó, cứ cách hai, ba ngày là Hòa lại qua Tân Định ghé chơi cả buổi, có khi ở lại ăn cơm với gia đình Quan, chị Kim. Lúc này, về ngoại hình, con gái con trai gì cũng thay đổi, nở nang hơn, đường nét mạnh mẽ hơn hoặc thướt tha hơn. Con trai nhổ giò nên đã lấy lại danh dự nam nhi, không chịu thấp hơn con gái nữa, ngược lại còn cao hơn vài phân. Còn về nội tâm, cô thiếu nữ 18 tuổi, thon thả, duyên dáng, đã có cả một vũ trụ tâm tưởng riêng tư của con gái nên đã ít đi chơi, ít sinh hoạt chung với hai cậu em.

Vẫn tánh quyết đoán và sớm chín chắn so với lứa tuổi, trong trường chị Kim đã được bầu làm trưởng lớp liên tục hai niên khóa. Cũng từ cái tính hướng ngoại, thích tham gia hoạt động xã hội, chị Kim đã dẫn dắt hai cậu em cùng vào sinh hoạt trong một nhóm tín đồ đạo Mormon, cùng có thêm vài người bạn mới, đó là những người Mỹ làm việc cả bên dân sự lẫn bên quân đội. Hầu hết trong nhóm này thuộc giới trẻ, hiếu động và rất ham vui, ngày nghỉ cuối tuần thường tổ chức party. Hòa, Quan, chị Kim theo ngay một lớp học khiêu vũ do họ tổ chức, tất nhiên miễn phí và không buộc phải về xin phép phụ huynh. Tại lớp, rất dễ nhận ra năng khiếu đối với môn khiêu vũ cứ như sẵn có ngay từ lúc mới chào đời của chị Kim và Hòa. Học đến điệu nhảy cổ điền hay tân thời nào cả hai cũng thành thạo rất nhanh, bước đi uyển chuyển, quay người gọn, đẹp… Còn Quan – “nhà” toán học, giỏi luôn về khoa cơ khí, máy móc – lại có phần vụng về, tập bước căn bản tương đối chậm, cũng nắm bắt khá chậm các kiểu fantasy.

Trong đêm party đầu Kim, dù nhảy khá thạo, đủ tự tin nhưng ban đầu Hòa vẫn hơi bị trục trặc bởi tính nhút nhát và nhạy cảm không đúng lúc, đúng chỗ. Khi sắp ôm eo những cô gái cùng nhảy, cậu mình rất hồi hộp, tim đập dồn dập, thậm chí lòng bàn tay xuất mổ hôi ướt rượt. Kỳ cục là những xáo trộn tâm lý lẫn sinh lý ấy xảy ra luôn cả khi Hòa tiếp cận với “phe ta”, “đào nhà” là chị Kim.

Suốt cuộc đời, Hòa không bao giờ quên người con gái đầu tiên cùng khiêu vũ với mình chính là chị Kim. Còn hơn thế, cô gái này và Hòa còn là một cặp bài trùng cho những bước tập đầu tiên rồi suốt cả lớp khiêu vũ. Tuy nhiên, ở giai đoạn còn học nhảy với nhau, có vũ sư theo dõi sát bên, Hòa chỉ chú ý, tập trung cả đầu óc lẫn thân thể để bước sao cho đúng cách và đúng nhịp hoặc quay sao cho khéo, không còn tâm trí đâu mà cảm nhận xem đang ôm ai trong tay… Đến đêm party  đầu tiên, để mở hàng cho “sự nghiệp” khiêu vũ của mình, Hòa mời ngay chị Kim. Cậu mình tính toán rằng nhảy với “đào nhà” thì lỡ có va vấp cũng đỡ sượng. Hơn nữa, chị Kim cho thấy nhảy đã khá vững, nếu “kép” có trật bước, trật nhịp thì chị cũng có thể nương theo, cùng chỉnh đốn lại được.

Đầu Kim, đôi bạn ra piste thì đúng lúc bản Perfedia trổi lên cho khách nhảy tua Chachacha. Điệu nhảy khỏi-ôm-đào này dễ ăn và bình an vô sự, miễn đừng bước nhầm phương hướng, “nhập vô, dạt ra” như kéo đàn accordéon hay dẫm chân người ta. Kế đó, Hòa và chị Kim đứng yên ở piste nhảy và ôm nhau khi ca khúc The First of May trổi lên với điệu Ballade.

Mọi sự có vẻ vẫn ổn. Vòng tay Hòa ôm chị Kim đang vừa phải, không lỏng cũng không xiết, đúng phép xã giao theo bài bản.

Nhưng kìa, cậu con trai chợt cảm nhận một điều gì đó là lạ, hay hay. Không còn là chuyện hai đứa bạn – một là con trai, một là con gái – hồn nhiên ôm nhau như vật lộn trong trò chơi u bắt mọi của tụi con nít ngày nào nữa. Cái trò chơi mạnh bạo thời niên thiếu ấy đã buộc Hòa, đã chọn một phe thì ở phe phải tuôn dầm mồ hôi, vất vả ôm ghịt lấy mình mẫy đối thủ bên phe kia – bất kỳ thằng nào, con nào – cho nó bất động tại chỗ thì mình cùng phe mình mới thắng…

Giờ đây, cuộc đời như đã bí ẩn thay đổi trong vòng tay Hòa. Cũng là thân hình con gái, đứa bạn gái gầy nhom mà Hòa đã kết thân qua không biết bao nhiêu trò chơi ngây thơ hồi nhỏ – nhưng giờ đây, thân chị Kim thật mềm mại, thon thả, cứ như được ai đó tính toán thật khéo cho đúng mực mảnh mai, đang không quá béo cũng không quá gầy mà chỉ thật vừa vặn với vòng tay ôm của cậu con trai, dịu dàng cận kề một cách thật êm ái, ngọt ngào.

“Don’t ask me why, but time has passed us by/ Some one else moved in from far
away”
, lời ca khúc cũng đang rất hợp với tâm trạng ngỡ ngàng của Hòa lúc này.

Trong ánh sáng mờ ảo, huyền hoặc của phòng nhảy, nhiều lúc hai bạn nhảy lặng thinh nhìn vào mắt nhau. Chị Kim mỉm cười nhè nhẹ. Hòa xao xuyến đến lặng người, bởi chưa bao giờ thấy cô bạn cười đẹp và dễ thương đến vậy. Và xao xuyến đến đâm ra sợ hãi sức quyến rũ của nụ cười con gái, cứ chốc lát Hòa lại nhìn tránh sang chỗ khác, không dám nhìn quá lâu khuôn mặt con gái quen-mà-lạ cận kề, lại còn thoảng thoảng mùi nước hoa ma mị gì đó…

Bản nhạc dứt đã lâu, cậu con trai mới lớn cứ như vẫn còn đắm hồn trong một cơn mê kỳ lạ. Hòa mơ hồ cảm thấy, sau đêm khiêu vũ nầy, tuồng như những cảm xúc tinh khôi, mượt mà với con gái trên đời này, cụ thể là với chị Kim, bởi mới mẻ, sâu lắng quá nên chắc sẽ còn vang vọng, ray rức thật lâu nữa trong cuộc sống của mình những ngày tới…

 

3.

Năm đầu đại học, Hòa vào trường Văn Khoa và chọn ban triết, chị Kim vào trường Vạn Hạnh, học ban khoa học xã hội. Qua những lần đến nhà chơi với hai chị em Quan, tình cờ Hòa thấy hai anh chàng trắng trẻo, cùng đeo kính cận gọng vàng, một anh đi xe Vespa Italy, anh kia đi chiếc Honda 90 phân khối, hết anh này đến anh kia cứ đến tìm chị Kim hoài. Tình cờ gặp lúc chị Kim tiếp bạn, Hòa ngồi trên gác với Quan, nghe loáng thoáng cô gái Bắc đáo để trong nhà chuyện trò một mực ngọt ngào, rôm rã, với bất cứ anh chàng cây si nào khi đến lượt tiếp chuyện đối tượng. Hai cậu em, dù thuộc loại vừa hiền vừa khờ về chuyện con trai con gái yêu đương, bồ bịch nhưng nào chịu im, cứ om xòm bình luận với nhau về tình hình ở phòng khách. Đoán mò, đoán suông mãi cũng chán, bèn bắt cá, Quan cho rằng chị mình sẽ chọn tên Honda 90, Hòa ngược lại, cho là chi Kim thích tên Vespa hơn.

Rốt cuộc, trong một bữa đi ăn chè Hiển Khánh, bị “thắc mắc đời tư” mãi nên chị Kim hơi bực, tiết lộ luôn một hơi nhưng thật ngắn gọn vừa đủ nghe, rằng đó là hai tên bạn sinh viên lớp trên trong trường. Theo nhận xét đã đủ chín chắn của cô gái, cả hai bạn trai này đều thuộc loại thiếu gia con nhà giàu, đều lịch sự và cư xử đàng hoàng, chỉ tiếc rằng một anh thì có tính “thùng rỗng kêu to”, hoang tưởng về chính mình, còn anh kia chưa chi đã lộ ra tính độc tài, gia trưởng. Do đó,“Là bạn, bạn tốt thôi, không bồ bịch, iu iếc gì cả!”, chị Kim bình thản kết luận.

Một ngày nọ, Hòa ngỡ ngàng nhận được tin vui. Quan báo cho biết chị Kim vừa đột ngột nhận lời cầu hôn của một người Mỹ. Hòa cũng biết sơ về anh chàng này. Đó là một thanh niên có vẻ cũng bình thường thôi trong nhóm đạo Mormon, giờ Hòa mới được biết rõ hơn: anh là đại úy hải quân, họ hàng gần với một vị đô đốc hải quân Hoa Kỳ.

Ngày đám cưới, buổi sáng Hòa bận đi học nên không dự các nghi thức hôn lễ, chỉ dự tiệc cưới ở khách sạn/nhà hàng Majestic buổi tối. Đường Trần Quang Khải náo động như muốn kẹt xe khi cả một đoàn xe Ford quân đội, sơn màu xanh đen của quân cảnh Mỹ rộn rịp tới lui, đậu la liệt trước căn nhà trệt xoàng xỉnh của đàn gái. Chợt mưa thật lớn, mấy anh MP Mỹ cao lớn phải bung dù, che đưa từng vị khách  ra xe… Xe chạy, Hòa cảm thấy êm như ngồi trên máy bay. Nhìn qua lớp kính xe màu thật tối, cảnh tượng đường phố trong mưa cứ loang loáng lướt qua như ảo ảnh…

Đại sảnh của khách sạn choáng ngợp ánh sáng. Cô dâu, chú rể mặc áo dài cổ truyền VN thật rực rỡ, tươi cười đứng chào khách. Trang điểm tuyệt mỹ nhưng chị Kim vẫn không dấu được vẻ mệt mỏi trên gương mặt. Hòa tréo hai cánh tay mình để bắt tay một lượt cả chú rể lẫn cô dâu. Nằm gọn trong bàn tay Hòa, bàn tay đã tháo găng của chị Kim nhỏ nhắn, lạnh lẽo đến tội nghiệp. Hòa hướng về chú rể, nói chưa hết câu chúc tân hôn tiếng Anh thì chợt cảm thấy chị Kim khẽ xiết mạnh bàn tay mình, Hòa xoay qua nhìn thì nghe giọng thầm thì “Hòa mi Kim cái đi! Hòa nhé…”. Cô dâu vừa nói vừa dùng ngón tay gõ nhẹ vào gò má mình, ánh mắt long lanh…

Hòa sửng sốt, buông bàn tay chú rể, chỉ giữ bàn tay cô dâu nhưng vẫn đứng im như một chàng ngố, chỉ biết nhìn chăm chăm vào mắt anh chồng người Mỹ, như thể xem anh phản ứng ra sao trước đề nghị của vợ mình. Kìa, anh ta cười vô tư, thoải mái, nói “OK! OK!”, còn gật gật đầu.

Tim đập thình thịch, Hòa vụng về hôn thật nhẹ lên má chị Kim. Cô dâu còn bắt cậu bạn hôn cả bên má còn lại của mình xong mới chịu buông tay, thả tự do cho chàng ngố.

Hòa đã từng biết, từng thấy người phương Tây, chỉ là bạn bè nhưng nam nữ vẫn thường ôm nhau, hôn nhau trên má khi gặp gỡ, tạm biệt, chúc mừng, chia sẻ nỗi niềm… Nhưng vừa rồi, Hòa vẫn hồi hộp, lúng túng khi hôn chị Kim – coi như công dân Hoa Kỳ đến nơi, do đây là lần đầu tiên của đời trai trẻ, Hòa được một cô gái cho phép ôm hôn. Còn chàng rể, đã sinh ra và lớn lên trong xã hội Âu Mỹ, tất nhiên chẳng có vấn đề gì khi chứng kiến một người đàn ông – cũng là bạn thân của vợ mình – vừa ôm hôn nàng. Anh chàng còn vỗ tay cười như thích chí tán thưởng nữa kìa.

Tiệc cưới linh đình của chị Kim diễn ra trong cảnh trí hoành tráng, sang trọng ngoài sức tưởng tượng của Hòa, bởi do là con cái một gia đình chỉ thuộc hàng trung lưu bậc dưới, từ nhỏ đến giờ cậu mình rất hiếm khi được lui tới nơi cao sang của giới thượng lưu như khách sạn cỡ này. Bên cạnh đó, đại tiệc kiểu Âu Mỹ hết sức sang trọng, bàn ăn kiểu dài thườn thượt, thực khách của một bàn đến mấy chục người cứ ngồi đối diện nhau, tức không phải kiểu ngồi thành vòng tròn với kiểu bàn chỉ 12 ghế ở nhà hàng Tàu. Được bố tập cho từ ở nhà, Hòa sử dụng dao, nĩa cũng coi như thành thạo, nhưng cậu mình không thể hiểu hết những cái tên tiếng Anh xa lạ trên menu vì tiệc đãi rất nhiều món Tây và có vài món rất cầu kỳ.

Rốt cuộc, cậu con trai rời khỏi buổi tiệc cưới chị bạn với ngổn ngang nhiều nỗi ngỡ ngàng, bâng khuâng. Cùng một lượt, nhiều thứ hoàn toàn mới mẻ rủ nhau đâm sầm vào tâm tưởng của Hòa.

Cậu con trai mơ hồ nhận ra rằng, thật hạnh phúc, sung sướng khi lần đầu tiên trong đời được có mặt trong một khung cảnh thượng lưu, quyền quý tột cùng và được thưởng thức món ngon vật lạ thừa mứa, nhưng vượt lên trên mọi thứ vật chất cao sang ấy, cái quý giá, sâu lắng hơn hết trong đêm nay không gì khác hơn niềm cảm xúc ngọt lịm, lâng lâng đến muốn bay bổng khi lần đầu tiên trong đời mình được hôn con gái.

 

4.

Đám cưới đã xong xuôi, chiều hôm sau Hòa rảnh rỗi bèn lấy xe qua Tân Định tìm Quân chơi thì Quân vắng nhà và tình cờ có chị Kim về nhà ăn cơm tối với gia đình. Hòa chào bác trai để ra về thì chợt bác gái ở nhà dưới bước lên, bảo nhỏ:

“Cái Kim đang ốm, nằm trên gác nghe tiếng con, nó bảo con lên gác, nó nói gì đấy”.

Trong ánh sáng nhợt nhạt buổi chiều, căn gác – nơi chốn rất quen thuộc với Hòa vì từ lâu cậu đã có mặt tại đây trong rất nhiều sinh hoạt, từ học nhóm, chơi đùa, nghịch ngợm cho đến ăn vặt, uống cà phê với chủ nhà – bỗng dưng im ắng lạ thường. Hơn thế, Hòa như khựng lại khi thấy chị Kim nằm sóng soãi trên chiếc giường nhỏ, quần sọt, áo thun mong manh, trễ tràng. Khi Hòa lấy chiếc ghế nhỏ, ý tứ ngồi tuốt ở phía chân giường như thủ thế thì cô gái lại vất luôn sang bên cái gối nhỏ đang phủ trên ngực. Như bị điện giật, Hòa vội vàng nhìn tránh vào vách.

Cậu trai hiền, chưa hề biết mùi tình dục, vô cùng xốn xang khi thoáng thấy mờ mờ ảo ảo khuôn ngực lồ lộ không áo lót và cặp giò thuôn dài của cô gái – đúng hơn là của một người đàn bà trẻ, mới động phòng hôm qua.

Lúng túng quá nhưng Hòa cũng ráng lên tiếng:

“Chị ốm hả? Có uống thuốc gì chưa?”

Cô gái vẫn nằm nghiêng, chỉ chống tay đỡ một bên má và đáp khẽ:

“Kim chỉ hơi nặng đầu, dã dượi thôi”, rồi bảo Hòa ngồi sát lại hơn. “Mà… Hòa đừng gọi Kim là chị nữa, gọi Kim thôi là được rồi”

Hóa ngơ ngác:

“Là sao chị Kim? Chị là chị Quan mà. Lại lớn hơn Hòa…”

Chị Kim phật ý, ngắt lời:

“Đã bảo đừng gọi Kim là chị cơ mà! Tụi mình chơi thân với nhau bao năm rồi, nay Kim lấy chồng, sắp đi thật xa nữa, nên Kim muốn mang theo một tình cảm thật dễ thương duy nhất của thời con gái, là Hòa đấy!”

Từ lúc này, xen giữa những quãng lặng kéo dài khá lâu, chốc lát cô gái lại phải gợi chuyện, lên tiếng nói, hỏi gì đó vì cậu trai chỉ biết im lặng và thỉnh thoảng còn phải lo tránh ánh mắt rất lạ của cô gái cứ đăm đăm nhìn mình.

Chị Kim giải thích bâng quơ gì đó, bảo rằng ai mà muốn lấy chồng, chỉ là bố mẹ ở nhà – nhất làm mẹ – đã theo dài hơi thuyết phục con gái mình không cần phải suy nghĩ, đắn đo gì cả, bởi không thể dại dột bỏ qua một đám có tương lai huy hoàng đến như thế…

Trời tối nhờ nhợ, Hòa đứng dậy định mở đèn nhưng chị Kim không cho. Cô gái lại nói tiếp… Có lúc Hòa đành chịu, không hiểu ý của Kim muốn nói gì nhưng Hòa vẫn bàng hoàng lắng nghe. Cậu con trai càng bàng hoàng, rối tung trong lòng khi cảm thấy bàn tay ẩm lạnh của cô gái xiết nhè nhẹ bàn tay mình rồi nắm mãi không buông…

Sau buổi chiều ngồi với chị Kim trên căn gác, cứ mỗi lúc Hòa chợt nghĩ về cô gái là một nỗi xao xuyến lạ thường lại choáng ngợp tâm tưởng, khiến cậu con trai mới lớn cảm thấy vừa phiền muộn không đâu vừa mệt mỏi mơ hồ, đến nỗi gần như rũ liệt. Hòa nằm lì trong phòng, không thể nào ra phi trường tiễn chị Kim theo chồng về nước Mỹ xa vời vợi kia…

 

PHẠM NGA

Tháng 10/2017

Một đám giỗ nhà giàu

 

 

1.

Mấy ngày trước, nhà trên của từ đường họ Phạm, nhất là ở khu vực ngay chính giữa là gian thờ tổ tiên, tất cả đều được quét dọn, lau chùi hết sức sạch sẽ, tươm tất. Phía trước gian thờ, cũng chính là mặt tiền nhà từ đường, đã lâu lắm rồi mới thấy cả ba bộ cửa bằng gỗ quí đồng loạt được mở hoác ra cho không khí, nắng gió bên ngoài được phép lùa vào, xua đuổi cái mùi ẩm mốc lưu niên của những thứ đồ nội thất cổ lỗ sĩ, nặng nề là bộ ván gõ cùng các thứ tủ, bàn, kệ thờ, hương án, tranh tứ bình, cặp liễng…

Theo thói tục phong kiến, trong ba bộ cửa lùn thấp, đầy vết mối mọt ấy, bộ cửa chính giữa, cứ như một tuyến phòng ngự cố định cho gian thờ đang nổi đèn nổi đóm sáng trưng giữa ban ngày kia, chỉ được mở hé và đóng lại lập tức khi có người lách mình vào để thắp nhang đãnh lễ hay bày dọn đồ cúng. Nên nhớ là dù ngày giỗ hay ngày thường, có tục lệ khô cứng là phụ nữ dù có vai vế trong gia tộc cũng không được bén mảng, vô ra nhà thờ bằng bộ cửa chính giữa này.

Ở vùng đất này, đầu óc “trọng nam khinh nữ” còn dày dạn hơn thế nữa. Như phía sau bộ cửa phía bên trái nhà từ đường họ Phạm, xưa nay vẫn có một cái bàn lớn chỉ dành riêng cho phái nam ngồi, theo đúng qui cách phương Đông “nam tả nữ hữu”. Khi có việc phải từ nhà dưới bước lên nhà thờ, như để bày biện mâm quả ở gian thờ hay phục vụ trà nước cho quí ông ngồi ở cái bàn VIP kia, đàn bà con gái trong nhà chỉ được phép ra, vào bằng bộ cửa phía bên phải mặt tiền, hay muốn đi tắt cho nhanh thì có thể dùng ngõ cửa hông vừa hẹp vừa thấp phía bên phải gian thờ, cũng là lối đi thông duy nhất giữa nhà trên với nhà dưới.         

Đang diễn ra là một đám giỗ nhà giàu khá náo nhiệt, đặc biệt ồn ả là đối với đám trung niên, thanh niên ngồi ở mâm nhà dưới. Chỉ cần quét nền nhà cho sạch đất cát, vài tờ báo cũ được trải ra, lót dưới những tô dĩa thức ăn, là lập tức đám con cháu các đời cấp dưới của cụ cố đã có thể biến bữa giỗ thành một bữa nhậu tưng bừng kéo dài. Đàn bà, con trẻ cứ ngồi chung hay bu sau lưng mấy ông một cách thoải mái.

Dĩ nhiên, cánh phụ nữ, nhất là những bà dâu, cô cháu dâu, phải thỉnh thoảng liếc chừng lên nhà trên. Cái bàn ăn bệ vệ, cao ráo dành cho các bậc trưởng thượng kia lúc nào cũng có vẻ trầm mặc, nặng nề nghi lễ và ít ỏi tiếng cười nói hào hứng. Ngày nay, có lẽ do số đàn ông lớn tuổi, có vai vế trong gia tộc đã chết đi nhiều hơn là do sự phai tàn của tục “trọng nam khinh nữ” phong kiến, mà trong mâm giỗ người lớn này đã được phép có mặt một, hai phụ nữ, đúng hơn là những bà già, ít ra là ngang hàng với ông Phạm Thao quá cố, chủ đời trước của nhà từ đường.

 

2.

Bữa nay, tại bàn VIP còn có mặt hai người đàn ông khoảng trên dưới 50 tuổi, hơi lạ mặt. Đúng ra, cũng không là ai xa lạ vì họ chính là cháu nội không được thừa nhận của cụ cố họ Phạm. Rõ hơn, cha của hai người này, chỉ được bà con gọi tạm mà thành chính danh luôn cho đến ngày chết là ông út Tú – một vai ‘út’ nào đó – do không chắc là có tờ khai sinh chính thức nào trích ra từ sổ bộ đời địa phương này đề tên họ đứa bé chính thức là Phạm Tú, do đây chỉ là con rơi của cụ cố họ Phạm mà thời sinh tiền, ông bá hộ đã ngó lơ, chỉ chu cấp cho có lệ mà không hề nhìn nhận. Phải chờ cho đám người già lần lượt qua đời, con cháu các đời sau của họ Phạm, mà có quyền lực nhất là cậu chủ nhà Phạm Khanh đang thủ từ đường, đã phóng khoáng, tiến bộ hơn khi tự ý giải tỏa cái thói buông bỏ máu mủ gia đình của ông cố mình mà bắt liên lạc, mời hai ông chú họ của mình về nhà từ đường.

Thắp nhang xong trước di ảnh ông nội mình, hai người chú chỉ ngồi một lát tại bàn nhà trên. Như không được thoải mái khi phải ngồi đối diện, chuyện trò nhạt nhẽo với những người thuộc dòng chính thất, tức được ghi tên rành rọt trong gia phả họ Phạm, hai con người cũng mang họ Phạm này cứ nghe ngóng, liếc nhìn xuống mâm nhà dưới. Sau cùng, lấy cớ cần nói chuyện làm ăn với cháu Phạm Khanh, hai người đã xin phép rời bàn, cầm ly đi xuống nhà dưới – phía ăn uống, vui đùa thoải mái, không câu nệ lời thưa tiếng gởi.

Chính Phạm Khanh, quản gia đương nhiệm nhà từ đường hương hỏa, cũng làm động tác rút lui này từ trước rồi. Do vai trò thủ từ đường, đương nhiên anh thuộc về mâm giỗ của các bậc già lão ăn trên ngồi trước, dù cho anh chưa tới 30 tuổi.

“Một, hai, ba, dô!”, “Dô đi chớ mấy ông!”, tiếng hò hét của đám đàn ông hòa lẫn tiếng trẻ con đùa giỡn chí chóe, tiếng mấy bà mắng yêu chồng và xuỵt đuổi chó, mèo đi chỗ khác… Những âm thanh náo nhiệt ấy làm người ta nhớ lại những bữa giỗ cụ cố trước kia, hồi còn rất sinh động, vui vẻ, ấm áp, khi mà những người sống trong nhà từ đường này còn nghèo mạt – nghèo mà đám giỗ lại đông vui hơn.

Hồi đó là những năm mới sau 30 tháng 4, ai nấy trong xóm làng đều nghèo hay trở nên nghèo nhưng số người già trong họ hay trong chòm xóm lân cận cũng chưa qua đời nhiều quá, khiến cho những người lớn tuổi nhưng vai vế thấp cứ đến dự đám giỗ là ngồi dưới đất với đám thanh niên. Đồ ăn thức uống vào những ngày giỗ nghèo ấy chỉ là một bữa cơm gia đình mở rộng, nghĩa là đạm bạc, xoàng xĩnh không khác ngày thường bao nhiêu. Nhưng số người say xỉn, quá đả lại nhiều hơn.

Riêng mấy ông già thì có cùng một kiểu đi đám giỗ rất chân quê. Đó là cắp nách theo một chai rượu chứ không phải bánh trái, đèn đóm gì. Gia chủ có nhiệm vụ đặt chai rượu cúng ông lên bàn thờ cho người chủ chai rượu thắp nhang khấn vái chút đỉnh. Rồi chai rượu lập tức được hạ thổ, đem tiêu thụ ngay khi cây nhang còn chưa kịp tàn. Có điều là, như một mặc định không cần văn tự, phía gia đình làm giỗ cần phải ghi nhớ và phân biệt cho kỹ mọi loại chai cũ, chai mới, chai vuông, chai nhựa…, để trả vỏ chai đã cạn rượu cho đúng với người mang chai đến cúng.

Kết quả của một trận uống chung chạ đủ thứ rượu trắng hay rượu thuốc không rõ lai lịch – chỉ biết mỗi một điều là toàn rượu dõm, rượu rẻ tiền, chính xác là toàn rượu của đám bợm nghèo – là cả đám nhậu rất mau thấm rượu mà gục ngã, ói mữa, nằm lăn lóc khắp nơi trong nhà. Nhưng có hỗn loạn, trây trúa như thế thì cả chủ lẫn khách mới cùng hưởng thụ một đám giỗ vui hết biết, chủ khách gì cũng đều công nhận.

Ngày giờ này, bia lon và bia chai ê hề thì cũng coi như bữa giỗ vui, nhưng không đông đủ cho bằng những bữa giỗ nghèo với rượu đế dõm năm nào.

 

3.

Đã rõ đám giỗ cụ cố họ Phạm bữa nay cúng lớn, thịnh soạn bởi được thực hiện vào thời phất lên của nhánh con trai thứ của cụ cố là ông Phạm Thao, người vừa mất năm ngoái và quyền thủ từ đường trao lại cho con trai thứ là cậu Phạm Khanh. Đúng ra, người đáng lẽ kế thừa quyền thủ từ đường từ ông Phạm Thao phải là cậu con trưởng, nhưng cậu đã vượt biên lâu rồi, vào cái thời sa sút của cả dòng họ cũng như cả đất nước sau 30 tháng 4. Gần đây, do đã sinh sống ổn định ở Mỹ, cậu ta gởi về một số tiền khá lớn, bảo em mình tu sửa nhà từ đường và khỏi tiện tặn như trước kia, cứ làm giổ ông cố cho thật rình rang.

Khổ nổi, cũng vào lúc đám con ông Phạm Thao phất lên thì lại nổ ra cuộc tranh chấp đất hương hỏa họ Phạm với đám con của ba bà cô – chị ông Phạm Thao, những gia đình nheo nhóc với đủ thứ khó khăn, nợ nần. Thảm kịch đánh lộn đánh lạo, kiện thưa ra tòa giữa mấy nhánh anh em họ đã xảy ra bởi không bên nào biết kềm chế, khiến vào giỗ cụ cố năm nay, người của gia đình ba bà cô đều không qua dự, cũng không đem bánh trái qua cúng khi đánh tiếng rằng mỗi nhà cứ tự cúng ông, có bao nhiêu cúng bấy nhiêu là được hết thảy.

Trớ trêu là hai ngày sau giổ cụ cố lại có giỗ chồng cô Hai, tức dượng rể cậu Phạm Khanh, thì nhánh anh em Khanh cũng đáp lễ bằng cái cách trống không, lạnh nhạt y như vậy.

Tình cờ có một anh, cũng thuộc hàng cháu cụ cố họ Phạm, từ Sài Gòn về quê nhà dự giỗ, đã tự thấy phải có mặt ở cả hai bữa giỗ, một bên giàu và một bên nghèo. Ở cả hai chiếu nhậu đều là bà con dòng họ, anh ta lấy tư thế người ngoại cuộc, không hề có quyền lợi gì dính vào vụ tranh chấp đất đai, đã tìm cách nhắc lại chuyện xưa chuyện nay, nói gần nói xa về một sự giảng hòa, nhường nhịn qua lại. Nhưng cả hai phe đều giả điếc, lạnh lùng, thản nhiên ép anh ta uống tới tấp như một cách ngắt lời, bịt miệng. Chỉ được cái là mỗi phe đều biết kềm chế, đang đám giỗ thì ngừng chữi bới, ngưng nói xấu người vắng mặt.  Nhưng vẫn còn y nguyên đó cái tuyến thù hận, đối nghịch giữa hai dòng anh em họ.

Vậy mà, ở cái làng Kim Bông xanh mát vườn dừa này, vào thời niên thiếu của cả hai nhánh họ Phạm, họ đã từng cùng nhau sống những ngày tháng rất êm đềm, hòa thuận trong khuôn đất tổ tiên. Phải nói là hạnh phúc, chan chứa thương yêu, bát ngát tiếng cười, khi cả bọn trẻ, trai cũng như gái, cùng vui đùa, nghịch ngợm với nhau đủ trò. Như thi nhau leo bẻ dừa để cùng nhau uống đến no căng bụng cái thứ nước ngọt lành ấy. Như cùng tắm truồng, bơi đua dưới sông hay lén lấy ghe của ai đó chèo qua cái doi đất giữa sông để tìm hái đọt rau ráng. Đem thứ rau hoang dã này về, chúng chui vào bất cứ nhà đứa nào còn cơm nguội trong nồi. Cứ nhanh chóng luộc rau rồi chấm nước cá kho, cùng nhau vét sạch nồi cơm là tuyệt nhất trên đời.

Áo quần lôi thôi lếch thếch, mặt mũi đen đúa, ngờ nghệch, hồn nhiên thời đó của tất cả bọn chúng sao mà dễ thương lạ thường! Không đứa nào nói ra nhưng những kỷ niệm tuổi thơ rất sâu đậm ấy đã chiếm một chỗ ngọt ngào nhất trong ký ức lớn khôn của mỗi đứa.

Ngày giờ này, tóc trên đầu đã hoa râm, các gia đình đã sản sinh ra cả đống trẻ con, cũng đang cùng chơi đùa, nghịch phá y như cha, chú của chúng ngày trước. Nhưng cha mẹ chúng, những anh em họ hàng –  đời thứ tư của họ Phạm –  lại quay mặt với nhau, đánh nhau đổ máu đầu, kiện nhau ra tòa, đòi xâu xé đất hương hỏa dành để thờ phượng tổ tiên. Chỉ vì đất đang có giá.

Run rủi là ngay giữa mùa anh em máu mủ tương tàn lại có ngày giỗ cụ bá hộ họ Phạm mà các nhánh đều đồng loạt gọi là ngày cúng cơm ông cố, cụ cố.

Các bậc tổ tiên họ Phạm, hơn ai hết là cụ cố Phạm Đam – người đã để lại đất hương hỏa, người mới được con cháu, khách khứa kính cẩn nhắc tới trong ngày giỗ của chính cụ – có từ trên bàn thờ nhìn xuống, thấy vụ tranh chấp, xâu xé đất tổ giữa con cháu thì cũng bó tay, chỉ biết nhìn dương gian bằng cặp mắt lạnh lẽo, vô hồn mà thôi.

 

PHẠM NGA

Đã lụn tàn những mảnh vườn xanh

 

1.

Ở Sài Gòn, vào đầu những năm 60, ba mẹ tôi dọn nhà về khu Đồng Ông Cộ, gần chợ Bà Chiểu. Cứ khoảng nửa đêm về sáng, đô thành còn say ngủ, chợt nghe êm ả làm sao tiếng xe ngựa lốc cốc chở rau, chở hoa vào chợ. Hay vào các mùa Tết nguyên đán, cứ sau ngày 23 đưa ông Táo về trời là có chợ Tết ban đêm họp tại khu vực xung quanh Lăng Ông, sát bên tòa tỉnh trưởng Gia Định.

Những đêm chợ Tết xa xưa ấy, tôi nhớ mặt hàng Tết năm nào cũng mứt, trà, rượu, bánh, kẹo…, cũng như không bao giờ vắng mặt kem đánh răng “anh Bảy Chà”, xà bông Cô Ba và dầu cù-là Mac Phsu. Có điều là bên cạnh những đồ Tết theo truyền thống ấy, luôn luôn có một loại hàng thực phẩm rẻ tiền, thậm chí là tầm thường vì quá quen thuộc hằng ngày, cũng khiêm tốn xuất hiện trong chợ Tết – đó là các loại rau cải. Khi vào chợ, chỉ bước đến gần gần các sạp bán rau cải thôi là đã ngửi được mùi thơm dễ chịu, ngọt ngào của mấy thứ rau thơm, xà lách, tần ô, dền ớt, dền đỏ, cải thảo, cải ngọt, cải bẹ xanh, bồ ngót.v.v…, mà xưa nay giới tiểu thương gọi chung là đồ hàng bông.

Không rõ do nguồn ký ức thầm kín nào mà giờ này, đã hơn nửa thế kỷ trôi qua, mùi thơm của rau xanh vẫn luôn luôn sống khỏe trong cái tật hiếu cảm của tôi. Thơm nhất, thơm ngát đến thèm ăn ngay là rau húng quế vì loại rau thơm này khiến tôi liên tưởng ngay đến một món khoái khẩu – tô phở tái nghi ngút khói, ngon tuyệt vời! Cao sang hơn và làm đẹp hơn cho chợ Tết là các loại hoa đầy màu sắc tươi tắn, như: vạn thọ, thược dược, cúc vàng, mãn đình hồng… Và từ những năm tháng ấy, tôi mới được biết là ở vùng Gò Vấp, đất Gia Định tôi ở, từ xa xưa đã có nghề làm vườn, trồng rau vốn nuôi sống nhiều gia đình nông dân ở khu vực ngoại ô Sài Gòn.

 

2.

Sau biến cố 30-4, đâu khoảng những năm cuối thập niên 70, nhiều lần tôi đạp xe về khu vực nghĩa trang Vạn Thọ, thuộc phường 11 quận Gò Vấp ngày nay để thăm mảnh vườn của vợ chồng Tư Nhíu. Chúng tôi đã kết bạn khi cả hai, một là sĩ quan ngụy học tập cải tạo mới về, một là thanh niên thất nghiệp,  đều được địa phương “gợi ý” cho lên đường đi đào kênh, đắp đê, làm lúa đất phèn, trồng bo bo đất gò… ở một nông trường nằm ở vùng Củ Chi. Rồi nông trường làm ăn hoàn toàn thất bại, giải thể năm 1979, chúng tôi được xuất ngũ về nhà.

Tôi còn nhớ thời 1979, có một con đường mòn cỏ mọc xác xơ, ngoằn nghoèo chạy giữa nghĩa trang, hai bên là hàng ngàn ngôi mộ cũ kỹ nằm im lìm dưới ánh nắng. Ra khỏi nghĩa trang, nhìn xuyên qua những khóm tre là thấy những vạt đất thẳng thớm, trong số đó có miếng đất xéo xéo của Tư Nhíu, được ươn, trồng đủ loại rau cải xanh. Có vài chủ đất còn nuôi thêm con bò, con heo và gà, vịt thả vườn.

Lần nào cũng vậy, vừa thấy bóng tôi ngoài hàng rào là lập tức Tư cười hể hả, ngưng ngay công việc đang làm trong vườn hay réo vợ ra làm thế để bày độ nhậu lai rai dưới gốc cây chuối ở mé vườn. Thật ra thì bọn tôi không phong lưu, sung sướng cái thân gì cho lắm. Lần nào cũng cái chiếu rách trải đại dưới đất đầy lá mục, cũng mổi nhậu cóc, ổi, đậu phộng nấu… Nhưng độc đáo ở đây là chỉ cách cái chiếu nhậu vài mét là sù sụ mấy ụ phân rác đang được chủ vườn phủ kín cho hoai dưới nắng trời, luôn luôn ban tặng cho dân nhà vườn cái mùi hôi nồng nặc và cả mấy “sư đoàn” ruồi, giòi. Được cái là sau thời gian “đi học” về, cái em sinh viên trắng trẻo rồi anh giáo sư đạo mạo ngày nào đã được “giác ngộ” bởi thời thế, không còn sợ hãi, thối lui trước cảnh ngồi dưới đất ăn uống sát bên đống rác, tay không bốc đồ ăn nữa.

Vừa phẩy tay đuổi con ruồi xanh lì lợm đậu trên miệng chén mắm ruốc, tôi vừa hỏi Tư về một loại phân bón rau còn thấy ớn hơn phân rác hay phân chuồng (phân trâu, bò) nữa, mà trong trại cải tạo Trảng Lớn (Tây Ninh) tôi đã từng phải sử dụng (gọi là xử lý phân) theo lịnh cán bộ quản giáo để bón cho rau muống trồng trên đất với liều lượng lúc nào cũng dư xài vì được lấy thoải mái từ nhà xí hai ngăn trong trại:

– Nè, cậu có dùng phân bác không đó?

– Anh nói phân bác gì?

– Thì… phân người đó! Mấy tờ báo về nông nghiệp ở ngoài Bắc dùng chữ này.

– À…, hổng phải đâu, tui nghe nói kêu đúng là phân bắc chớ hổng phải phân bác – chắc chữ này bị nói trại đi. Ở ngoài Bắc chắc là kẹt, thiếu phân tro dữ lắm nên bà con mới phải xài tới thứ phân này để bón rau, chớ xưa nay trong Nam mình, như ở đây nè, đâu có ai xài thứ đó. Tui nghe nói là chỉ có một thời, cũng xưa lắm rồi, đâu ở miệt Phú Lâm, mấy ông Tàu, hay đội cái nón lá bự bành ki, trồng cải ná, tức cải rổ đó, có lấy thứ đó phơi nhiều nắng cho khô, rồi giã ra trộn với nước đái, gánh đi tưới. Chà, xài phân… đặc biệt như vậy thì cây cải chắc là bự, ngọt hết chỗ nói hả?

Dân làm vườn như Tư vốn phải chịu quen với đủ thứ không hề sạch sẽ, thơm tho gì. Mùi mồ hôi luôn luôn hôi nồng trên người Tư do lao động thường xuyên ngoài vườn, ngoài nắng với công việc làm hoài không hết. Dọn đất, lên luống, ươn cây con, rải phân, dọn cỏ, tưới nước, nhổ rau… Chỉ riêng việc tưới thôi mỗi ngày phải ba bận sáng-trưa-tối. Có lần bị trộm lẻn vô nhà lấy mất cái máy bơm “một ngựa”, vợ chồng Tư rất khốn đốn. Mùa mưa thì thỉnh thoảng hơi khỏe là có thể bỏ tưới giấc trưa. Nhưng ngược lại, chính 6 tháng mùa mưa lại làm năng suất rau giảm, có khi giảm tới phân nửa, vì rau rất dễ hư úng, nhất là đối với loại rau mỏng lá như xà lách. Dân trồng rau xem mùa mưa là mùa nghịch, thường phải giảm bớt số lượng rau ươn trồng vì dễ “thua”. Về 6 tháng mùa nắng thì cũng không phải hoàn toàn thuận lợi, dù thời gian này có dịp Tết nguyên đán để trồng hoa  – dân Nam rặc như vợ chồng Tư nhất định kêu là trồng bông, bán được tiền hơn rau. Về công chăm sóc thì hoa đòi hỏi người trồng phải chịu khó, chăm chút hơn trồng rau, đậu. Nhưng đó chỉ là chuyện nhỏ.

Khè một tiếng sau hớp rượu, Tư – dân làm vườn cố cựu mấy đời – mới phân tích thật rành rẽ:

– Nói nào ngay, để đất trồng rau thì rất mau ăn. Cải ngọt, cải bẹ chỉ cỡ 20 ngày là nhổ bán được rồi. Xà lách thì chăm khó hơn nhưng cũng chỉ 25 ngày, nó lại chịu lạnh nên mùa gần Tết, trời mát, xà lách rất đẹp, đem bán thiệt ngon. Còn nếu mình dành đất trồng bông thì cỡ 6 tháng mới bán được. Chừng tháng 6 ta là phải lo xuống giống mới kịp. Rồi ươn ra chậu, rồi 15 ngày sau lo cơi ngọn… Và tuy bông nó không ăn phân, tro nhiều hơn rau, nhưng mình là người trồng, cũng phải ăn cơm để sống, chớ hổng lẽ nhịn đói trong 6 tháng trồng bông? Tiền vốn mua các giống bông cũng nặng và phải lựa giống thiệt kỹ, nếu không, lỡ gặp hột ra cây điếc thì thua là cái chắc.

Đang lai rai, trò chuyện thì chợt một anh hàng xóm của Tư, không chờ tụi tôi chào hỏi, mời mọc gì, tự tiện vạch hàng rào bông bụp bước qua nhập cuộc.Trò chuyện mới sơ sịa, xây tua được mới vài vòng thì anh ta chê mồi nhậu tệ quá và mời tụi tôi qua nhà anh, nghĩa là cũng vạch hàng rào chui qua đất anh. Lần này chiếu nhậu được trải dưới một giàn đậu cô-ve còn anh chủ thì chạy vô bếp làm liền một món mà anh hô là hết sức đặc biệt. Té ra chỉ là đậu cô-ve non vừa hái ngay trên giàn, rửa sơ rồi xào tóp mỡ. Nhưng không ngờ cái món đơn giản, tầm thường này lại nhậu rất bắt vì ngon miệng lạ thường.

Đang thời cả nước phải ăn độn cơm với khoai, với bắp, bạn bè nghèo chúng tôi gặp nhau chỉ có bấy nhiêu đó tạm gọi là vui, là hạnh phúc. Cũng cái thời người dân Sài Gòn bắt đầu biết mùi ăn độn, bà Quốc Việt, vốn là chuyên gia về ẩm thực, nguyên hiệu trưởng một trường nữ công – gia chánh nổi tiếng, đã lên ti-vi dạy cho bà con cách chế biến rau muống thành nhiều món ăn khác nhau mà bà ta cam đoan là đều ngon hay lạ miệng. Lần đó, một chiến hữu của tôi tại chợ trời thuốc tây Tân Định, anh chuyên gọi “tôn vinh” rau muống là sâm dây, đã than thở: “Trời ạ, sau cái vụ rau-muống-bảy-món này, chắc là quí ma-đàm Quốc Việt sẽ dạy tiếp cho quốc dân, đồng bào về món khoai mì, tức là sâm đất đó mấy cha, thành khoai-mì-mười-món quá! Chịu hết nổi! Thôi chắc tui vượt biên quá! Mấy cha chịu nổi mà ở lại thì ráng ăn sâm dây với lại sâm đất cho nó bổ khỏe, còn bổ hơn sâm Cao Ly, sâm Hoa Kỳ nữa lận kìa!”.

 

3.

Ai “chịu nổi” hay “không chịu nổi” gì thì cuộc sống vẫn thản nhiên trôi đi theo ngày tháng. Sau mấy năm liền không có dịp gặp nhau vì tôi rời Sài Gòn, xuống kiếm sống ở quê vợ là Vũng Tàu, tôi trở lại khu nghĩa trang Vạn Thọ thăm nhà Tư Nhíu thì thấy lạ hoắc, lạ huơ. Nghe nói bà Vạn Thọ, chủ nghĩa trang đã hiến đất cho nhà nước tự hồi nào và nơi này đã được giải tỏa trắng để qui hoạch thành Làng Hoa Gò Vấp. Từ một con hẻm cũ chạy bên cạnh làng hoa, người ta phóng một con đường mới, đặt tên là “Lê Văn Thọ”, hỏi ra mới biết tên “Thọ” này chẳng dính líu gì tới gia tộc bà Vạn Thọ – người hiến đất để làm làng hoa và con đường mới này –  mà là tên một liệt sĩ nào đó. Còn cái đường mòn chạy giữa nghĩa địa ngày trước nay đã được cán nhựa và có tên đàng hoàng là đường Cây Trâm, hai bên đường là cả dãy phố khá sầm uất, nhộn nhịp.

Có điều là, chính trên con đường đóng vai  xương sống của làng hoa này lại khó tìm ra các loài hoa. Chỉ thấy toàn nhà hàng, quán nhậu, quán cà phê, quán karaoké, tiệm bán điện thoại di động.v.v… Họa hiếm là hai, ba chỗ bán cây kiểng, hoa chậu hay bày bán các loại tượng đá, tượng xi-măng.

Thời 1979, khi đi trên đường, nhìn qua những hàng tre là thấy ngay những vạt đất trồng rau nằm cạnh những căn nhà lá hay nhà vách ván như nhà Tư Nhíu. Nay tre trúc, nhà lá, nhà gỗ gì cũng biến mất mà chỉ có toàn là nhà gạch, nhà lầu hai, ba tầng trên vĩa hè lát gạch con sâu.  Phải bước ra phía sau căn nhà trệt mới xây của vợ chồng Tư Nhíu mới thấy mảnh vườn cũ. Đất của họ bị giải tỏa một phần cho con đường nhựa và chỉ còn lại khoảng 1000m2 trồng rau. Tư cùng những nhà vườn lân cận vẫn trồng những loại rau truyền thống Gò Vấp, như mồng tơi, dền, rau thơm, xà lách, cải ngọt, cải , cải bẹ.v.v… và một ít xu hào, cải bắp, hành ngò. Nhưng đã Tư nói ngay:

– Đất trồng ở vùng này giảm đến 70 – 80%. Số bà con còn theo nghề chỉ còn khoảng một nửa. Bỏ nghề cũng phải vì giá đất lên liền liền, đem đất phân lô bán kiếm tiền, chuyển qua nghề khác khỏe hơn.

– Cậu vẫn có trồng hoa Tết?

-Thì cũng ráng…. Cũng vẫn mấy thứ bông truyền thống thôi, như thược dược, hướng dương, cúc mâm xôi, sống đời.v.v…Mấy năm qua có thêm vạn thọ Pháp, bông lớn. Nhưng bông Gò Vấp đang không cạnh tranh nổi với bông Cái Bè chở ghe lên Sài Gòn, nhiều và rẻ hơn.

Thời đó, cỡ 1 – 2 giờ khuya vợ chồng Tư đã lo nhổ rau, cột bó, để đến 4 giờ sáng chở đi bán. Do số lượng rau nhỏ nhoi không đáng để Tư chở xuống tận chợ hàng bông Bà Chiểu, họp từ giữa đêm về sáng ngay trên hè phố mà chỉ chở ra tới “chợ” rau ngã tư Lê Văn Thọ – Phạm Văn Chiêu, cách nhà chừng 1 cây số. Nhưng phải coi chừng… Cứ khoảng 4 giờ sáng, dân trồng rau trong vùng tụ tập về ngã tư nhỏ hẹp này để buôn bán với đầu nậu cùng người bán lẽ. “Chợ” chỉ họp đến hững sáng là tàn nhưng trong bóng tối chập choạng, xe 2 bánh chở rau thường đậu lấn mặt đường, người mua cứ tỉnh bơ chuyển rau từ xe người bán qua xe mình, mặc kệ cho kẹt xe. Đến cỡ 5 giờ sáng thì xe cộ nhiều hơn, nào là xe bus, xe hàng, xe chở công nhân… Trúng đoàn xe đám ma thì càng dễ kẹt xe hơn. Đã từng có vụ ẩu đã giữa một anh lơ xe bus với một anh chở rau, rồi anh lơ chạy đi “méc” công an phường. Nhưng công an có xuất hiện thì cũng giống như ai đó khuấy động một bãi ruồi đậu. Công an đi rồi thì ai nấy, người bán rau cũng như người mua rau, lại tiếp tục trở lại chỗ cũ…

 

4.

Tôi từng đặt câu hỏi ngậm ngùi với bạn mình, rằng thấy tương lai của nghề trồng rau vùng này như thế nào. Tư Nhíu, người đàn ông mà mấy đời gia tộc bên mình cũng như bên vợ đều đã sống bằng cái nghề lam lũ này, đã rầu rĩ trả lời:

– Đất trồng rau ở đây càng ngày càng teo tóp, nhường chỗ cho nhà cửa mọc lên. Dân kéo về ở càng đông thì vườn rau mình càng bị bao vây, cô lập. Rồi có ngày sẽ bị thưa kiện về tội làm ô nhiễm môi trường. Hiện nay, nhà tui đâu còn ruồi như hồi trước nữa là do tui rất ít ủ phân rác hay phải đi mua phân đã hoai rồi cho không còn mùi. Nhưng mùi urê, mùi thuốc trừ sâu, mùi gì cũng bị hàng xóm ở sát bên vườn la lối. Hiện nay, tụi tui thức khuya thức hôm, bám vô 1000 mét vuông vườn kia để mỗi tháng, trừ hết chi phí phân giống, điện đóm thì cũng còn dư ra được cỡ ba, bốn triệu để đong gạo, đóng tiền học cho mấy đứa nhỏ. Nhưng chắc một hai năm nữa tui phải đổi nghề thôi. Chừng đó cũng có lẽ không còn ai giữ đất trồng rau, trồng bông ở vùng này nữa đâu. Còn cái làng hoa mà hổng có hoa kia thì khỏi nói…”.

Đã một thời rộn rịp, tấp nập chợ búa nhưng càng ngày càng thưa thớt hẳn đi, rau xanh và hoa của Gò Vấp, Hốc Môn, Bình Chánh từng góp phần cung cấp cho vùng Sài Gòn, bên cạnh hàng của Tiền Giang, Đồng Nai, Lâm Đồng. Sau 30-4, còn có thêm hàng rau, hoa từ Hà Nội vào và cũng sau 1975, hoa Đà Lạt muôn màu muôn vẻ dần hồi tràn ngập thị trường thành phố Sài Gòn với giá hạ hơn trước 1975 rất nhiều. Rốt cuộc, đồ hàng bông và hoa của Gò Vấp, Hóc Môn bị lấn át mạnh mẽ nên ngày càng ít ra chợ và đất vườn trồng rau – như câu chuyện của Tư Nhíu, ngày càng ít đi.

Phải nói, tình hình chuyển biến trên thị trường là kiểu ‘cung ứng nhiều, giá cả hạ’ thì ít nhiều gì cũng là thay đổi thuận lợi cho cuộc sống mọi người. Nhưng riêng tôi, trong thâm tâm vẫn có một nỗi buồn, nỗi tiếc nhớ man mác vì chẳng bao lâu nữa sẽ lụn tàn hết những vườn xanh nhỏ bé, yên tĩnh, khuất lánh ở một vùng ngoại ô thành phố này.

 

PHẠM NGA

 

 

Kẻ lai vãng cửa chùa

1.

Tánh anh nóng nảy, nổi cộc lên thì coi hung lắm, phải đi chùa cho nó trầm tính lại”. Đã một thời, nhiều lần vợ tôi đã nhận xét và đề nghị như vậy.

Ngày xưa, do bố tôi theo Tây học, từ Bắc vào Nam làm báo, ra cả báo Pháp và dịch sách, tánh khí nghệ sĩ, phóng dật khiến cho căn nhà nhỏ của gia đình ở khu Đa Kao thời đó thỉnh thoảng lại chộn rộn cái không khí văn chương chữ nghĩa. Có lần, lấy cớ cần khui một chai rượu chát rất xưa, bố tôi mời vài người bạn thân đến nhà chơi. Cần nói thêm là trong bạn bè của bố tôi thời đó, tôi khoái một bác cùng dân Bắc kỳ, để chút râu kiểu Hitler dưới mũi, thường phong nhã với bộ cánh veston, foulard…,  đó là nhà thơ/nhà văn TCHYA Đái Đức Tuấn. Núp phía sau một bức bình phong, tôi lén theo dõi người lớn nói đủ thứ chuyện trên đời. Chợt tôi nghe bác TCHYA cười, vỗ vai bố tôi, gật gù bảo: “…Vậy là toa cũng rất libéral về vấn đề tôn giáo!”.

Phải nói là, trước khi tôi đủ lớn khôn để tìm hiểu cho thật rõ tính từ “libéral” có nghĩa là gì thì bố tôi đã có quan niệm rất phóng khoáng về vấn đề tín ngưỡng, nghĩa là vợ con trong nhà ai muốn theo đạo nào cũng được. Bố tôi không hề bày tỏ một ý kiến, nhận xét nào về chuyện mẹ tôi sùng đạo Phật, qui y tại chùa, có pháp danh cũng như bày khuôn thờ Phật Bà Quan Âm phía trên bàn thờ ông bà, hay chuyện em gái tôi được mấy xơ trường Thiên Phước ở Tân Định dẫn dắt vô đạo Thiên Chúa khi em học tiểu học tại trường này. Có lần một vị giáo sư, bạn bà chị họ rũ tôi vào đạo Baha’i. Tôi nhận vài tờ tài liệu về đạo này, đem kể cho bố tôi nghe. Ông chỉ cười, nói: “Đạo Bà Hai, gốc ở Ba Tư chớ gì. Thì đạo nào cũng dạy con người sống, cư xử cho có đạo đức và làm việc thiện. Tùy ý con thôi.”

Rốt cuộc, tôi lớn lên không thể không chịu ảnh hưởng tinh thần libéral ấy từ bố tôi. Đã vậy, thời theo ban triết Đông&Tây trường Văn Khoa Sài Gòn, tôi được học hỏi ít nhiểu các hệ tư tưởng, giáo lý của Phật giáo, Kitô giáo, Hồi giáo, Khổng giáo, Lão giáo, Bà la môn giáo,…  Do vậy, hầu hết đám sinh viên triết bọn tôi không thể là người vô thần. Ngay cả vài sinh viên như tôi – tức không hay chưa là tín đồ của một tôn giáo nào để tin vào Phật Tổ, Đức Chúa Trời, đấng Allah, đấng Bhrama…, bọn tôi vẫn tin trên cõi đời này, vũ trụ này vốn có một đấng Thiêng Liêng, một Thượng Đế Tối Cao định đoạt mọi sự ở trần gian, trong đó định mạng con người.

Mặt khác, do bạn học của bọn tôi các lớp triết Tây hay Đông đều gồm cả các linh mục, sư huynh, nữ tu, nhà sư, ni cô nên dần hồi bọn tôi có quan niệm đại khái như “liên tôn giáo” hay “hòa đồng tôn giáo”, thấy đạo nào cũng tốt, hay ít ra là những đại diện của các tôn giáo ấy chẳng xa lạ gì với mình.

2.

Sau biến cố 30-4, cuộc sống ăn-độn đầy dẫy khó khăn, thiếu thốn. Với nhiều người dân miền Nam, một khi những lo nghĩ về cơm-áo-gạo-tiền quá đè nặng tâm trí, khó tránh chuyện đức tin tôn giáo lung lay. Ai vốn xem giá trị tinh thần, tâm linh cao quý hơn của cải vật chất cứ như bị thời thế cải tạo, dần hồi chuyển qua những cách nghĩ thực dụng như “Có thực mới vực được đạo”, “Lương tâm không bằng lương… thực”! Không ai bảo ai, người ta lặng lẽ tạm làm lơ nhu cầu phía đời sống tín ngưỡng, sinh hoạt thờ phượng. Đến một Phật tử sùng đạo như mẹ tôi cũng dần hồi thưa thớt, rồi bỏ hẳn việc đi chùa ngày rằm, mùng Một, để còn lo xếp hàng mua nhu yếu phẩm hay may hàng gia công kiếm thêm tiền chợ, phụ vào đổng lương chết đói của mấy đứa con công nhân viên…

Thời ăn-độn hay gặp người khùng hoặc nữa tỉnh nữa mê ngoài đường phố. Tôi nhớ một lần có việc ra bến xe Văn Thánh, tôi lên một chiếc xe than, ngồi chờ xe chạy. Chợt có một người đàn ông ốm yếu, mặc bộ nâu sòng rách nát, cầm một cây phướn, bước lên xe kêu gọi hành khách:“Bá gia ơi, lo tu đi, không thì chết đó nghen! Hội Long Hoa tới rồi! Ráng tu liền đi bá gia!”. Tôi chạnh nghĩ:“Mệt quá, đang thiếu đói tùm lum đây, lo chạy cơm từng bữa cho con người chưa xong, sức đâu lo chuyện tu hành cho vui lòng thần Phật nào đó?!”. Đang lúc chán nãn, lo nghĩ chuyện cơm áo như thế, tôi chán luôn nhà tiên tri thảm hại đang lãi nhãi rao giảng kia. Đúng lúc xe nổ máy, tôi buột miệng nói nhảm như mỉa mai ông ta:“Thôi xuống xe đi bá gia ơi! Không chịu xuống thì lơ nó lấy tiền xe, bá gia có tiền trả không đó?”.

Đến khi tôi lập gia đình, rất chật vật với cảnh chồng công nhân viên/vợ bán buôn lặt vặt, thu nhập không đủ sống, vợ tôi lại sinh con đầu lòng. Tôi quyết định nghỉ việc để dốc hết sức lực phụ bà xả chuyển hẳn qua nghề buôn chuyến hàng tạp hóa.

Tất nhiên, vào cái thời thiếu thốn đủ điều ấy, vợ tôi – đã quy y cửa Phật từ thời con gái – cũng đành bỏ lệ đi chùa ngày rằm, mùng một. Tôi nhớ chỉ có một lần, là vào ngày Phật đãn năm nào đó, vợ tôi đã ráng cùng mẹ tôi đến thắp nhang, lạy Phật ở ngôi chùa gần nhà.

Rồi thời “mở cửa” cũng đến, cuộc sống tương đối dễ thở hơn, quý phụ nữ gia đình chúng tôi gần như chính thức trở lại với tập quán đi chùa vào ngày rằm, mùng một. Còn những dịp đặc biệt như Tết nguyên đán, Phật đãn, rằm tháng Giêng, Tết Đoan ngọ, rằm tháng Bảy và rằm tháng Chạp, mẹ tôi và vợ tôi soạn mâm quả cúng chùa thịnh soạn hơn, cũng như sẽ ăn bữa chay tại chùa luôn.

Thêm một sự “trở lại” đầy tốt lành nữa tại nhà chúng tôi, đó là tôi lãnh nhiệm vụ dựng lại bàn thiêng ngoài sân trước nhà. Khi ấy tôi như chợt được sống lại những cảm xúc tinh khôi của thời thơ ấu… Nguyên từ nhỏ tôi đã rất yêu những hình ảnh ngọt ngào, thanh tịnh ở vùng quê Nha Trang, nơi tôi luôn quay về ở trọn mấy tháng nghỉ hè hằng năm. Còn lưu lại mãi trong ký ức tôi là hình ảnh bà ngoại tôi, cứ ngày rằm, mùng một hay dịp giỗ chạp là ngoại lụm cụm ra cắt những loại hoa trồng trong vườn nhà, như: bông trang, vạn thọ, huệ, mồng gà, bông giấy… Rồi ngoại đi quét sơ bàn bàn thiêng ở sân trước, xúc cái lục bình, chưng mớ bông vừa cắt cùng nãi chuối xanh, trái thanh long cũng bẻ trong vườn.

3.

Vài năm sau, có chút tiền dành dụm từ nghề buôn bán, chúng tôi ra riêng, Từ dạo ấy, hễ vợ tôi đi chùa là tôi chở bằng honda – có nghĩa cái gã, do chán cảnh đời tối mù vì nợ cơm áo, từ rất lâu đã không lai vãng cửa chùa, nay đã đi chùa trở lại. Có điều là, vẫn do nếp nghĩ duy lý, duy con người chứ không duy thần linh, tôi không cùng bà xả vào chánh điện thắp nhang, lạy Phật mà chỉ ngồi băng đá trong sân chùa, hút thuốc, lơ đãng nhìn cảnh mọi người xung quang dâng hương, khấn lạy…

Đâu khoảng năm 2003 hay 2004, tôi dự một chuyến hành hương ra tận vùng Bình Thuận. Nói là đi chùa nhưng thật ra đây là một chuyến đi phượt bằng honda đầy nhọc nhằn, lang bạt. Điểm đến là chùa Linh Sơn Trường Thọ, cách Sài Gòn hơn 250km đẩy nắng bụi. Chùa lại nằm trên sườn núi Tà Cú ở độ cao 400m và năm đó chưa có cáp treo nên bọn tôi phải leo núi. Đó là một cái “cầu thang” đất, đá quanh co, dài tới 2500m. Trên đường đi, tôi gặp vài cụ già phải nhờ người dìu lên từng bậc đá. Rồi khi đã lên đến chùa, các cụ lại nhờ người dắt đến trước Phật đài để quì xuống, khấn lạy thật lâu trước tượng Thích Ca lúc nào cũng nhắm mắt, khiến khuôn mặt tượng lúc nào cũng toát ra một vẻ bình an vời vợi.

Và vào lúc màn đêm sắp phủ trùm sân chùa, chợt thoáng qua như một sát-na, hình như tôi cũng đã được thấy thêm một vẻ bình an diệu vợi khác nơi gương mặt của một cụ già mù, đang quì lạy pho tượng Phật mà cụ không thể nào nhìn thấy…

Nói là do cảnh tượng siêu tưởng trên mà tôi đã “Ngộ” thì nghe cao đạo quá. Tôi chỉ xin nhận mình như một con thú hoang đàng, do chữ Duyên của nhà Phật mà  được thuần hóa thật nhẹ nhàng bởi hình ảnh đạo hạnh thuần khiết của cụ già mù.

Từ sau chuyến đi định mệnh ấy, tôi dẩn dần đổi tính – vợ tôi có thừa nhận, ít ra là thay đổi thái độ ích kỹ, khép kín của mình đối với vấn đề tín ngưỡng. Tôi bắt đầu săn ảnh, làm bộ sưu tập chùa chiền, nhất là các ngôi cổ tự. Và khi tự hồi sinh tinh thần giúp ích của hướng đạo sinh đã rèn luyện từ thời niên thiếu, có dịp là tôi cố gắng gợi ý bạn bè và người có khả năng cùng làm việc thiện, như giúp trẻ cô nhi, người già neo đơn, người tàn tật. Riêng đối với anh em lính chế độ cũ như mình, có lần tôi thu thập được địa chỉ một số anh em thương binh hạng nặng nhất ở Sài Gòn để báo cho một nhà hảo tâm ở California…

Nhiều năm qua, khung cảnh quen thuộc để nuôi giữ, bồi bổ cho bước “trở lại tâm linh” của tôi là tịnh xá Trung Tâm, gần chợ Cây Quéo. Do ngôi chùa này rất gần nhà, coi như chỉ băng qua đường xe lửa ga Xóm Thơm là tới nên vợ chồng tôi thường ghé chùa lễ Phật vào lễ Phật đãn, các ngày rằm, mùng một, cùng những khi vợ tôi cần nguyện xin điều gì đó hay cúng tạ khi xin được điều gì đó. Đáng nhớ là khi vợ tôi đã chữa lành một căn bệnh ngặt nghèo, gia đình tôi đã đi in một số quyển kinh ấn tống, đem cất dưới bệ tòa sen dưới chân tượng Phật Bà Quan Âm dựng ở phía bên trái khuôn viên chùa để tặng lại cho ai cần đến…

4.

Sáng thứ bảy này, vợ chồng tôi muốn tìm đến một nơi mát mẻ, thoáng đãng sau một đêm khó ngủ vì trời vẫn tiếp tục nóng bức y như mấy ngày trước. Công viên Gia Định ở gần nhà thì đang làm cầu vượt, mặt đường bị ép hẹp bởi ‘lô cốt’, xe cộ dồn cục rối rắm. Vợ tôi nói: “Hay mình ghé chùa Trung Tâm đi. Ngày mùng 1 vừa rồi, mấy đứa nó đến chơi cả ngày, làm mình đâu có đi chùa được!”.

Vậy là chúng tôi đến tịnh xá Trung Tâm. Vợ tôi đến thắp nhang trước tượng Phật Bà Quan Âm. Tôi cũng lạy Phật Bà rồi tìm đến một băng đá dưới bóng cây sa la ngồi, thư thái ngó quanh.

Bá tánh trong chùa sáng nay chợt có cả mấy con mèo hoang, không biết ở đâu đến mà chạy lung tung. Là mèo con nên chúng rất nghịch ngợm, con bám gốc cây hoa sứ, con lục hộp nhang, con rúc dưới bệ tượng Phật Bà… Tôi biết cái kiểu mình dáo dác theo dõi mấy con mèo cũng đang bị theo dõi bởi một người khác. Đó là một bé gái đang đứng gần cây hoa sứ, nước da đen đúa, quần áo cũ vá, đi chân trần, trên tay không cầm xấp vé số hay hộp singum gì đó thì chắc là dân sống lang thang đường phố. Chẳng phải đợi lâu, cô bé bụi đời lên tiếng cho biết bầy mèo con cũng ‘bụi đời’ này tổng cộng là bảy ‘đứa’. Cô bé còn đoan chắc con số đó là chính xác nhất vì ‘tụi nó’ chạy lung tung, phải đếm tới đếm lui cả buổi mới được.

Một chị phụ nữ mù đứng gần đó, vừa mời tôi mua vé số vừa cho thêm thông tin, rằng theo chị biết thì lâu nay các sư không có nhận nuôi chó, mèo hoang, thành ra bầy mèo con này phải do ai đó lén bỏ đại vô sân chùa, chắc là vào ban đêm.

Hai chú mèo hoang nhỏ bé thật nghịch ngợm, đang loay hoay leo lên cây hoa sứ với bàn tay trợ giúp của cô bé bụi đời. Tôi lấy điện thoại ra bấm liền mấy ‘pô’. Thấy tôi dáo dác nhìn quanh, tỏ ý muốn chụp nữa, cô bé nói “Để con đi bắt tụi nó cho”.

Cô bé mệt mề chạy tới chạy lui ở khu vực xung quanh tượng Phật Bà, kiếm được cứ hai chú mèo là hai tay cầm chạy liền đến chỗ vợ tôi đang ngồi chờ, tạm giao trước hai ‘đứa’ rồi ù chạy đi kiếm tiếp… Mất cả mươi, mười lăm phút cô bé mới gom lại đủ lại cả bảy con mèo con đang một mực rong chơi tứ tán kia cho tôi chụp hình.

Cần nói thêm, hẳn cô bé đã gần gũi, sinh hoạt với bầy mèo con này lâu ngày rồi, tức đã trở nên bạn bè, cùn chơi đùa đủ trò nên chúng để yên cho cô bé đưa tay nắm từng con lên, ưng đem đi đâu thì đem, chẳng phản ứng gì.

Vợ tôi thật vui, nói: “Bảy đứa mèo này thiệt bụi đời, mà đứa nào đứa nấy đều dễ thương hết sức!”. Tôi nghĩ, phải nói là có tám ‘đứa’ bụi đời, ‘đứa’ nào cũng dễ thương hết sức mới đúng, vì không thể không tính tới cô bé chưa biết tên kia, đã quá ân cần giúp chúng tôi tiếp cận với bầy mèo con.

Giữa khung cảnh cửa Phật tịnh yên, kẻ lai vãng sân chùa nghĩ thầm vậy thôi mà tự nhiên lòng anh ta nhẹ tênh, an lạc hiếm-khi-được-vậy.

PHẠM NGA

(Rằm tháng năm Đinh Dậu)

 

Trò Chơi Xác Ma

1.

Thỉnh thoảng, anh em nhà nhỏ Nga và vài đứa bạn học tụ lại để chơi một trò chơi đặc biệt lý thú. Xác ma, nội tên gọi nghe đã dị thường, hèn chi trò này chỉ nên chơi vào những đêm tối tăm, vắng vẻ…

Tối bữa nay, nhằm lúc bố mẹ đi ăn đám cưới, cả bọn tụ lại ở một căn phòng đóng kín cửa. Kỳ này, cũng một tên bạn học của Minh phối hợp với cậu ta cùng Đăng – cậu em kế – và nhỏ Nga – cô em út – cho đủ bốn người, tạm gọi là bốn pháp sư, như yêu cầu của trò chơi. Và, cũng không hề có ý tự nguyện nhưng nhỏ Liên – bạn hàng xóm của nhỏ Nga – lại phải miễn cưỡng đóng vai xác ma như ý kiến áp đảo của cả bọn.

Nhỏ Liên ngồi dưới đất, nhắm nghiến mắt, hai chân hơi co lại, hai cánh tay vòng qua đầu gối, các ngón tay đan vào nhau. Ba cậu trai và nhỏ Nga cùng quì một chân, nhanh nhẩu đặt ngón trỏ tay phải của mình vào hai nách và phía sau hai khuỷu chân nhỏ Liên. Cả bốn pháp sư thầm khấn vái với người cõi Âm, nhất là những bóng quế đang có mặt quanh quẩn đâu đây, rằng xin giúp nâng xác ma lên cao.

Minh chậm rãi đếm “một, hai, ba”. Tiếng “ba” vừa dứt là cả bốn anh em đồng loạt nín thở, dùng ngón tay của mình nâng nhỏ Liên lên với ý nghĩ hết sức nồng nhiệt là nhất định sẽ cùng làm được việc này.

Kết quả không như mong muốn: thân mình nhỏ Liên chỉ bị lay chuyển chút ít mà không hề cất lên cao một chút nào cả.

Đúng ra đây là một điều nếu như bình thường thì phải thế. Cân nặng ở một bé gái 8 tuổi nào khác nếu phát triển bình thường khoảng 25 – 26 kí lô. Còn trường hợp này, nhỏ Liên ròm con nhà nghèo nhất định sẽ nhẹ hơn mức ấy, nghĩa là khoảng 21-22 kí lô. Nhưng đối với chừng ấy khối nặng, chỉ có bốn ngón tay của bốn thiếu niên thì làm sao mà nâng bổng lên được?

Trước khi làm lại lần nữa, Minh lại nhắc cả bọn phải hết sức tập trung, mỗi đứa đều phải thành tâm hơn nữa so với lần trước khi khấn vái ngưởi cõi Âm trợ giúp cho sức mạnh của ngón tay mình.

Lần này thì thật kỳ diệu: xác ma được nâng bổng lên như một khối bông gòn. Rồi chừng khoảng 5 – 10 giây trôi qua, những ngón tay tự buông lỏng theo quán tính. Thân hình nhỏ Liên nhẹ nhàng rơi xuống vị trí cũ. Sự việc chỉ diễn ra vài giây ngắn ngủi vậy thôi nhưng cả bọn ồ lên, cười hể hả, vô cùng mãn nguyện như là mình mới cùng thực hiện được một phép thuật tuyệt vời. Chỉ có nhỏ Liên – cái  xác ma mới được các pháp sư người phàm cho bay lên hạ xuống, lúc này đã trở lại làm người bình thường – là im lặng, ngơ ngác, bàng hoàng nhìn hết người này đến người khác.

 

2.

Nhỏ Nga chợt đề nghị:

“Tụi mình chơi trò này nhiều lần rồi, bốn người thì trước sau gì cũng nâng được con nhỏ Liên. Giờ mấy anh thử để một mình em thôi, em cầu bóng quế hết sức rồi cũng dùng một ngón tay nâng thử cái gì đó. Như cái ghế nhỏ kia kìa.”

Lập tức Đăng tỏ vẻ không tin:

“Làm sao em làm được? Cái ghế nhựa đó coi thấp và nhẹ như vậy nhưng nó vẫn nặng đối với người nhỏ, yếu như em. Cỡ em thì bằng cả hai tay mới mong nâng nó lên cao được. Còn em tính đưa ra có một ngón tay thôi thì…, coi chừng không bị gãy thì cũng bị quẹo ngón đó nhe!”

Riêng Minh thì lo lắng cho em gái mình:

“Hồi nảy, tụi mình nâng nhỏ Liên lên được đúng là nhờ có sự giúp sức của bóng quế, nhưng phải tính thêm cái vụ bốn ngón tay đã kê vô bốn vị trí cân bằng trước/sau và trên/dưới, nghĩa là chịu đồng đều sức nặng của thân hình nhỏ Liên. Còn thí dụ như tụi mình dồn hết bốn ngón tay vô dọc một bên thân mình hay chỉ nâng chỗ cặp giò nhỏ Liên thôi chẳng hạn, thì mất cân bằng liền, trọng tâm vật được nâng sẽ bị lệch, nghĩa là con nhỏ này sẽ ngã qua một bên hay ngã ra đằng sau thôi chứ tụi mình không nâng bổng nguyên người nó lên được.”

Minh lấy cái ghế nhựa đặt vào một chỗ trống giữa phòng, chỉ vô một góc vuông, chỗ tiếp giáp giữa một chân ghế với phía dưới mặt ngồi, bảo em mình:

“Vậy với cái ghế này, em nên kê ngón tay vô chỗ đây nè, thì khi em nâng, hy vọng trọng tâm của ghế đỡ bị lệch, ghế đỡ nghiêng ngã.”

Nảy giờ, cung cách suy nghĩ và hành động của Minh rõ ràng cho thấy là dù vẫn có tin tưởng về thế giới thần bí và các quyền lực siêu hình, cũng như lâu nay cậu có tin vào “công lực” chưa khám phá của em gái mình, nhưng cậu trai trẻ vẫn tỏ lộ một cách đáng khen xu hướng lý trí thường thấy nơi nam giới, đồng thời cậu biết vận dụng kiến thức về khoa học, vật lý học, động lực học, đặc biệt là về luật hấp dẫn và trọng lực.v.v.. học hỏi được từ cả bên trong lẫn bên ngoài nhà trường để góp phần lý giải sự việc.

Thế là một mình nhỏ Nga nhắm mắt khấn gọi các bóng quế trợ giúp rồi đặt một ngón trỏ tay phải vào vị trí Minh đã chỉ ở cái ghế. Nhỏ đếm thầm “một, hai, ba!” rối quả quyết cất tay lên thật nhanh.

Kết quả thật mỹ mãn: cái ghế được nâng bổng lên theo phương thẳng đứng, cao gần cả thước mà không hề đổ ngã! Cứ như cái ghế được nâng lên bởi một, hai bàn tay vô hình, cỡ tay của người lớn khỏe mạnh có thừa chứ không phải bởi ngón tay nhỏ xíu, gầy guộc của nhỏ Nga…

 

PHẠM NGA

Tháng Ba, Coi Bóng Hát Tế Vía Bà

 

1.

Hằng năm, cứ trong vòng tháng Ba âm lịch như lúc này là ở khắp nội ngoại thành, các ngôi miếu thờ Ngũ Hành rộ lên cúng vía Bà – tên dân gian gọi chung cho Năm Bà tức Ngũ Hành Nương Nương. Hôm 19 ta, tôi lân la đến chùa Vạn Thọ bên bờ kênh Nhiêu Lộc, do lễ vía Bà tại ngôi miếu trong khuôn viên chùa sẽ diễn ra suốt ngày đêm.

Buổi sáng đã có một nhóm tế nam, với y trang đĩnh đạc áo thụng xanh, nón cánh chuồn, chuyên đi học trò lễ. Nhưng được bà con, cô bác mong đợi và kéo đến xem đông hơn là mấy em bóng, nhóm tế này chỉ vào đám buổi xế trưa.

Được mời tế Bà đã nhiều năm liên tục tại ngôi miếu này, chị Năm Tốt, trưởng nhóm, cho biết: “Hàng năm, cứ cỡ 18 và 19 ta tháng này, tôi đi kêu mấy chị em quá khó là khó vì ai nấy tứ tán hết, cũng tại cùng lúc quá trời miếu Ngũ Hành ở Sài Gòn này đều cúng vía Bà. Như xong ở đây, đến năm giờ chiều là chị em tôi phải lập tức chạy xuống miếu Bà ở Thủ Đức”.

Xưa nay, hễ nói tới dân bóng rỗi  – hay gọn hơn, dân bóng – người ta liên tưởng ngay đến các cậu thanh niên pê-đê, tức là nam giới nhưng vẫn được coi là nữ giới, vẫn là “mấy chị em” như chị Năm Tốt vừa đề cập.

Tuy nhiên, qua thâm niên gần 30 năm theo nghề, chị Năm cho biết là dù nghề tế gắn liền với hình ảnh những cậu trai, cả đàn ông trung niên nữa, ưỡn a ưỡn ẹo mặc đồ phụ nữ. Nhưng đúng ra, một nhóm tế thông thường bao giờ cũng gồm luôn cả các cô gái, các chị trung niên, các lớn tuổi và các chú, các ông nữa. Điển hình như nhóm của chị đang lãnh đám ở đây, quả là rất đề huề về các mặt giới tính, tuổi tác, thế hệ…

2.

Đứng cạnh bàn thờ Bà là chị Bảy Thi, tuổi khoảng trên dưới 50, đang vừa gõ trống lịnh vừa hát, tụng Chầu mời, tức phần mở đầu một buổi tế đúng bài bản. Ngồi gần đó là ông Ba Lựa, tuổi phải trên 60, vốn là nhạc sĩ cổ nhạc, đã từng theo gánh hát và chơi trên đài phát thanh. Sát bên là chú Hai Xiêm trung niên, đang thủ cây ghi-ta điện 6 dây phím lõm để hòa theo tiếng đàn cò của ông Ba.

Tập kế của Chầu mời đáng lý là phần việc của bà Phước, tuổi cũng ngang ông Ba Lựa, nhưng bữa nay do bận việc nhà, bà không đến được. Tên tuổi của Phước thì nức tiếng trong nghề tế bóng hiện nay ở Sài Gòn. Các nhóm tế khác như nhóm Bạch Hồng ở quận 8, Bảy Tước ở Tân Qui, Ngọc Quyên ở quận 6, Minh Đức ở Hốc Môn .v.v, hễ gặp thì thảy đều cung kính, cúi đầu trước vị sư mẫu dạy nghề  tế, múa, hát này.

Vậy là chị Năm Tốt bước ra, khoác vào chiếc áo tế mà chị Bảy vừa trao lại, tiếp tục hát Chầu mời thay cho Phước.  Áo tế –  hay áo lễ, được may bằng gấm đỏ, kiểu không có tay áo, giống áo đạo bào của thầy cúng, thầy pháp nhưng rực rỡ hơn vì nhiều chỗ đính hạt cườm, thêu kim nhũ rất kiểu cọ, rối rắm. Chị Bảy Thi nói đây là một chiếc áo cũ, đã bao lần xuất hiện trên sân khấu hát bội mà một bạn hát (diễn viên) nhường lại, có sửa sang chút đỉnh, nên chỉ tốn có 400,000 đồng, chứ may mới phải tốn cả triệu.

Chợt bà con bá tánh xì xào. Từ chỗ đứng, chỗ ngồi xa thì nhiều người rủ nhau đến gần bàn thờ Bà hơn. Diễn viên được khán giả mong đợi nhất nảy giờ đã khoác chiếc áo tế lên thân hình thon thả của mình. Vẫn là hát Chầu mời tiếp nhưng bà con không hề thấy chán, vì đó là em Ngọc Hậu xinh đẹp ra đứng trước micrô.

Lúc ngồi tại bàn uống trà, đối diện với Hậu, tôi đã không khỏi thầm khen đôi mắt, đôi mày được make-up rất kỹ càng cùng làn da khá mịn màng trên khuôn mặt của chàng trai 33 tuổi, đang mặc áo bà ba mỏng tanh, lộ rõ áo nịt ngực này. Không biết tên khai sinh của anh bóng này là gì nhưng về cái nghệ danh “Ngọc Hậu” nghe đầy nữ tính, rất gợi cảm kia thì anh chàng đã chọn cho mình suốt gần 20 năm theo nghề. Tôi có cảm giác như, dù có là hậu duệ thiệt thọ của bà Eva hay không đi nữa, em Hậu, với mặt-mũi-mình-mẫy như thế, trông vẫn trẻ, khá trẻ so với cái tuổi Mẹo tức 34 tuổi ta của em. Tôi thoáng nghe được từ bàn trà bên cạnh, một ông nào đó thốt ra luôn một câu nghe… kỳ cục, rằng: “Cái thằng…, coi bộ còn muốn đẹp hơn con gái!”.

Trước cái nhìn không việc gì phải kềm chế của phía đàn ông xung quanh, Hậu có vẻ thích thú, hả dạ –  kiểu phụ nữ tự biết là mình đẹp. Hậu còn có luôn cái kiểu rất con gái là cúi mặt lõn lẽn, chạy trốn ánh mắt chăm chăm của người đối diện, khi kiếm chuyện hỏi tôi:

– Chú… nhà báo hả? Chú có chụp hình bàn thờ tổ của tụi này không vậy?

Đang ngắm người đẹp bóng, thật tình là tôi có giật mình, bèn giả lã hỏi lại:

– À, à… Nghề tế cũng có tổ riêng sao Hậu? Bàn nào đâu?

Tại một chiếc bàn nhỏ kê gần các nhạc công, được xem là biểu trưng “Tổ” của nghề tế là một bức tranh lụa vẽ hai tiên nữ đứng cạnh một cái cây có 12 đóa hoa vàng nở rộ mà Hậu gọi là cây “bông Càn Thọ”. Khi không có được bức tranh hiếm quí, chỉ truyền thừa trong nghề tế này thì các nhóm tế có thể thay thế bằng bức tranh Bát Tiên, theo kiểu hình vẽ “Bát tiên quá hải” trang trí trên những cái chén, cái tô xưa của Trung quốc, gồm toàn những nhân vật huyền thoại như Hà Nguyệt Cô, Lã Đồng Tân, Tế Điên, Lý Thiết Quày.v.v…

 

3.

Kết thúc phần tụng Chầu mời và tạm nghỉ vài phút, Hậu ra diễn  nghi thức kế tiếp là múa tế “dưng bông”. Em vừa thay y, tức xỏ vô người một chiếc váy lụa trắng là tiếng đàn, tiếng trống, tiếng nhịp gõ đã háo hức vang lên.

Cứ mỗi lần Hậu lượn người tới bàn Tổ là một trong một bộ năm cái chén đầy ắp bông cúc vàng để trên bàn lần lượt biến thành một thứ đạo cụ ngộ nghĩnh. Hậu khéo léo đặt từng cái chén lên đầu, buông tay, ngồi thụp xuống, đứng lên, xoay tròn nhiều vòng, chấp tay lạy…, mỗi cử chỉ đều nhuần nhuyễn, tinh tế y như của một nữ vũ công dạn dày kinh nghiệm. Những chuổi động tác nhanh, gọn, dứt khoát như thế cứ như từ thân hình mảnh mai, thướt tha của vũ công mà hòa quyện một cách mông lung, hư ảo vào những cụm khói nhang, khói trầm đang tỏa lan nghi ngút từ các bàn thờ lớn, nhỏ trong miếu. Vị chánh tế tóc bạc trắng, mặc áo thụng xanh đang đứng cạnh bàn thờ Bà, gần như giật mình, thảng thốt khi vũ công thoáng một cái đã tiến đến sát bên ông, trao chén hoa cúc để ông đặt lên bàn thờ…

Tiếng đàn, trống đã dịu đi khi các chị em nhóm tế luân phiên phục vụ cho nghi thức Gởi của bà con cô bác. Gởi có nghĩa là khách dự lễ đưa một ít tiền cùng mảnh giấy ghi tên, họ của mình cho người tế, để người này ê a tụng những lời cầu xin Bà phò hộ cho người “gởi” được gia đạo bình an, buôn may bán đắt…

Buổi tế đã náo nhiệt trở lại với phần diễn cuối cùng: múa dân gian. Tùy theo người tế cầm vật gì trên tay mà phần múa này sẽ phân ra là múa mâm vàng/mâm bạc, múa bông huệ, múa lục bình… Đậm nét nghệ thuật múa dân gian nhất, giống trên sân khấu giải trí nhất, là múa mâm vàng, hôm nay cũng do Ngọc Hậu biểu diễn.

Trước tiên, từ bàn thờ Tổ, Hậu trình ra một tòa lâu đài đồ mã cao khoảng 5 – 6 tấc, được phất bằng giấy nhũ vàng óng ánh và được dán dính vào giữa một cái mâm nhôm cỡ trung trung. Vài người bước vào, dùng cọng bún dán sơ sài vào mâm thêm mấy tờ giấy bạc 20 ngàn, 50 ngàn. Muốn hưởng những tờ tiền thưởng đó thì trong tất cả các động tác của cánh tay cầm, đỡ mâm, người múa phải làm sao cho những tờ bạc không rơi khỏi mâm. Hậu có làm rơi hết một tờ 20 ngàn trong một thoáng úp ngược mâm. Bù lại, mọi người phải vỗ tay khen ngơi khi Hậu tung xoáy mâm lên khoảng không với khi Hậu ngửa mặt, dựng vành mâm vào nhân trung, rồi chu môi, giang rộng hai  tay, vừa múa vừa giữ thăng bằng cho mâm vàng trong khoảng 2 – 3 phút.

Rồi chiếc áo tế lại được Hậu cỡi ra, giao lại cho một “nghệ sĩ” bóng khác. Đó là em Đào, có vẻ lớn tuổi hơn Hậu, giọng tế khàn khàn và nước da ngăm đen thì khó có thể nói là xinh đẹp như Hậu. Nhưng Đào múa giỏi hơn. Sau màn múa không chút khiếm khuyết với một cành hoa huệ dựng đứng trên vai, Đào ngửa mặt, rồi từ đúng chỗ nhân trung dưới lỗ mũi, em dựng thẳng đứng một đoạn ống nước bằng nhựa. Kế đó, Đào từ từ thụp người xuống và quì thẳng lưng, tay giữ cho ống nước đứng yên, một bạn diễn bước vào đặt trên đầu kia của cái ống hai con dao cho nằm ngang, cái dưới cái trên theo hình chữ thập. Khi mọi thứ đã thăng bằng, Đào nói nhỏ “Xong!”, cả hai người cùng buông tay và bạn diễn bước ra, Đào từ từ đứng lên…  Nhà tạp kỹ đã khiến mọi người muốn nín thở khi vừa giữ thăng bằng cho mấy món hung khí, vừa uốn éo thân mình theo tiếng đàn, trống. Xong màn múa dao, ai nấy đều vỗ tay tán thưởng, thưởng thêm tiền để Đào diễn tiếp qua màn múa mâm bạc để trên trán với kiểu quì xoạc hai chân, ưỡn lưng xuống nái sát mặt đất…

 

4.

Theo chị Năm Tốt, tháng Ba là tháng làm ăn khấm khá nhất của nghề tế bóng.  Các nhóm tế liên tục đi diễn từ các miếu Ngũ Hành ở quận Nhất, Bình Thạnh, Gò Vấp, đình thần ở Phú Nhuận, miếu Bà ở Tân Phú, cho đến Dinh Cô ở Long Hải.v.v…, vái khi đến diễn cả ở những ngôi miếu nhỏ xíu trong đất vười tư gia nào đó. Về thù lao, không tính đến phần tiền bà con gởi, nhờ tụng cầu gia đạo bình an, bèo nhất cho một buổi vào đám cũng vào cỡ 2 – 3 triệu. Tháng Tư thì “lai rai” vì trong tháng này chỉ có vía Bà Chúa Xứ và vía Bà Thiên Hậu. Còn các tháng khác trong năm, các nhóm chỉ chờ được kêu đi cúng Bà Cửu Thiên Huyền Nữ, bà Mẹ Sanh ở vùng ngoại ô, tại nhà các gia đình theo tập tục xưa của người mình, với thù lao một buổi chỉ 800 ngàn hay 1 triệu, còn phải bao luôn cả mâm vàng, mâm bạc y như đi tế ở chùa, miếu.

Chị Năm chắt lưỡi nói nghề tế là nghề tay-trái nên khó có ai sống nổi, dù là sống tạm qua ngày tháng, nếu chỉ làm có mỗi nghề này.

Bấy lâu nay, khi theo nghề tế chuyên nghiệp, với ít nhiều kiêu hãnh, những bạn bóng như em Hậu, em Đào đã hiển nhiên tự phân biệt mình với các em pêđê chỉ có thể đi hát đám, có nghĩa là ca, diễn tân nhạc, cổ nhạc, trích đoạn tuồng cải lương một cách nghiệp dư ở những đám ma, đám cúng thất hay giỗ chạp. Cũng mang tiếng là bán nam bán nữ như dân pê-đê và vài khi túng kẹt quá thì cũng phải chấp nhận đi hát đám lai rai cùng các nhóm pê-đê để “kiếm chút cháo”, nhưng dân bóng theo nghề tế phải trải qua cả một quá trình bái sư, thờ tổ, học nghề, khổ công tập dợt với nhóm… Muốn được theo nhóm, bạn bóng nào cũng phải sử dụng thuần thục, khi thì nhạc khí là cái trống lịnh, khi thì đạo cụ độc đáo là cành hoa huệ, tách trà, bình bông, cái mâm vàng, con dao yếm… Rồi các chị em cũng phải thật điêu luyện, diễn cảm khi hát Chầu mời, tụng lời Gởi của bá tánh, và đặc biệt không được phép có sai sót về các tuyệt kỹ múa tế như múa “dưng bông” hay múa dân gian là múa mâm vàng, mâm bạc.

Nói gọn lại, có tài nghề như thế thì các bạn bóng rất xứng đáng được gọi là những nghệ sĩ ca múa nhạc và tạp kỹ chuyên nghiệp. Đặc biệt khi xuất hiện trước mắt công chúng, các bạn bóng không chỉ là những nghệ sĩ ca, múa dân tộc phục vụ cho nhu cầu giải trí của bà con mà còn là những thầy tế, thầy cúng chuyên thực hiện một số nghi thức tế, lễ rất đặc trưng, phục vụ cho mảng tín ngưỡng dân gian của người Việt miền Nam.

Có điều là, rất chua chát, hẩm hiu đối với các nghệ sĩ bóng, đó là xưa nay các chị em chỉ được trình diễn toàn ở những sàn diễn thường rất chật hẹp, gò bó, như một khoảng sân, mặt thềm nào đó ở các ngôi miếu, đình, chùa, nhà tư gia…, có khi rất tệ bạc chỉ là chiếc chiếu cũ trải ra trước quan tài…

PHẠM NGA

(Tháng 4-2017)

 

 

 

 

 

Đầu Xuân Nguyện Đi Mười Kiểng Chùa

phamnga

1.

Thuở còn niên thiếu ở đất Sài Gòn này, vào những đêm giao thừa xa xưa, tôi thường được tháp tùng mẹ tôi cùng mấy bác hàng xóm đi cúng ở Lăng Ông, gần chợ Bà Chiểu. Ngoài đường đông vui hết sức! Từ nhà tôi ở đường Trần Quang Khãi vùng Tân Định ra đến gần Lăng Ông là phải xuống xe xích lô để hòa mình vào đám người, ai đâu mà chợt đông nghẹt giữa đêm khuya, cứ lũ lượt đi bộ tràn ngập cả con đường Lê Văn Duyệt.

Chưa lọt vào cổng lăng đã thấy khói hương nghi ngút như sương mù. Cúng kiếng, xin xâm và hái lộc – không dễ gì làm cho đầy đủ, nhanh gọn cả ba nghi thức này nên bà con ai nấy đều vội vàng, còn do phải quay về trước 12 giờ để cúng giao thừa nhà mình. Trong đám đông náo nhiệt, nếu ai không chen lên được tới trước bàn thờ Ông (đức Tả quân Lê Văn Duyệt) thì đành chấp nhận cúi đầu lạy vào lưng, vào… mông người đứng trước mình cũng được nhưng nhớ cẩn thận, đừng quơ nhang làm cháy áo người ta.Trên đường về, mẹ tôi còn ghé thắp nhang ở tịnh xá sư nữ Ngọc Hương, cái chùa nhỏ hẹp, nghèo nàn ở ngõ hẻm gần nhà mà mùa Tết năm nào bà cũng tặng một, hai chục ký gạo tùy năm gia đình có làm ăn khấm khá hay không. Rồi sáng mùng một, trên đường đi chúc Tết, mừng tuổi ông bà nội tôi, mẹ tôi không quên ghé một lát ở chùa Vĩnh Nghiêm nguy nga, tráng lệ…

“Trên đường đi lễ xuân đầu năm…”, vào dịp Tết Nguyên đán hằng năm, hẳn không riêng gì người viết bài ký này mà rất nhiều người trong chúng ta đều xúc động, bâng khuâng khi nghe lời ca dịu ngọt, đầy tình người, mở đầu ca khúc Câu Chuyện Đầu Năm. Tôi còn nhớ, vào một năm đầu thập niên 60, đài Tiếng Nói VNCH ở Sài Gòn, trong một chương trình ca nhạc rất hay tên là “Sóng Nhạc” chỉ có vào các đêm chủ nhật, đã lần đầu tiên phát ca khúc Câu Chuyện Đầu Năm của cố nhạc sĩ Hoài An qua giọng hát ngọt ngào, tinh khôi, rất Nam bộ của Phương Dung, nữ ca sĩ được mệnh danh “Con nhạn trắng Gò Công”.

Chính với hình ảnh tuyệt đẹp ấy, đã hơn nửa thế kỷ trôi qua với bao thăng trầm lịch sử, đa số các gia đình người Việt mình vẫn giữ nguyên tập tục đi chùa, đi cúng, tức là rủ nhau đến các chùa chiền, miếu mạo đề dâng hương, cầu tài lộc, xin xâm, cúng sao, cúng hạn… vào ngày đầu năm mới  hay suốt trong tháng giêng âm lịch.

2.

Bao đời nay, ý nghĩa của Tết Nguyên đán vốn rất đậm chất tâm linh, tín ngưỡng đối với người mình, dù đang sống trong nước hay hải ngoại. Và ngày xuân đi lễ chùa là một hình ảnh rất tươi sáng, cao trọng – rất “quê hương” đối với người Việt chúng ta.

Do đó, cho đến ngày nay, tại những con đường chạy ngang những ngôi chùa lớn ở Sài Gòn, như Vĩnh Nghiêm, Xá Lợi, Việt Nam Quốc tự, Kỳ Viên tự…, cả ở trước một ngôi chùa, nhỏ thôi, như chùa Ngọc Hoàng ở khu Đakao, kẹt xe liên miên vào đêm 30 và ba ngày Tết là chuyện rất thường tình. Ngôi chùa mới nhắc, từng được tổng thống Mỹ Barack Obama ghé thăm khi đến VN, đã xấp xỉ 100 năm tuổi và từng được phong là “Di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia – Điện Ngọc Hoàng”. Xa xưa, nguyên nơi này là một đền (điện) thờ Ngọc Hoàng Thượng Đế của người Hoa, sau mới có thêm bệ thờ Phật xây ở phía trước bệ Ngọc Đế. Sau tháng 4-75, chùa có tên mới là “chùa Phước Hải” do giáo hội Phật giáo trong nước đặt, nhưng đối với hầu hết bá tánh Việt – Hoa, phải nói “chùa Ngọc Hoàng” thì người ta mới biết.

Có lần tôi hỏi mượn tập tài liệu giới thiệu các gói tours của Saigon Tourist trên tay một du khách người Anh đang viếng chùa Ngọc Hoàng, thấy chữ “Jad pagoda” được in rành rành. Bước sâu vào chánh điện, mấy ông tây bà đầm rất thích chụp ảnh tượng Tam vị Phật tổ, tượng Ngọc Hoàng cùng những tượng chư tiên (Nam Tào, Bắc Đẩu, Thiên Lôi, Văn Xương, Văn Khúc, Thái Thượng Lão Quân.v.v…, gần như đủ mặt các “chức sắc” trên Thiên đình trong truyện/phim Tây Du Ký). Riêng bọn trẻ nhỏ đến chùa thì đứa nào cũng khoái cái hồ nuôi rùa bên phía phải chánh điện. Lũ trẻ cứ tìm cách ném xuống hồ nào là bắp rang, bánh mì…, nào là hoa, lá hái trộm trong sân chùa cho lũ rùa lúc nào cũng đói ăn.

Những năm gần đây, đến mùng 4 Tết – hạ nêu, cúng tất, tiễn ông bà về Trời – tôi lại hay tháp tùng một nhóm bạn thân, là những người luôn luôn giữ đúng lời nguyện đi lễ cho đủ 10 kiểng (cảnh) chùa, đền, miếu… tứ phương trong tháng giêng hằng năm.

Chúng tôi thường mở đầu chuyến hành hương bằng xe gắn máy này là những ngôi chùa ở Gò Vấp và Bình Thạnh. Vùng tỉnh Gia Định cũ tiếp giáp với đô thành Sài Gòn này vốn có rất nhiều chùa chiền, như các chùa Dược Sư, Pháp Hoa, Già Lam, Kỳ Quang, Linh Quang, Chưỡng Đức, Từ Quang, tịnh thất Trung Tâm, Ngọc Phương tịnh xá, Từ Quang.v.v…

Kế đó, chúng tôi ra ngoại thành, trước hết là ghé đình Phong Phú ở Thủ Đức. Tôi từng thắc mắc, sao năm nào cũng là đình Phong Phú. Một anh bạn đã cười: “Bộ đầu năm ông không muốn giàu hay sao? Chữ ‘phú’ trong tên chùa Phong Phú đó!”. Thì ra là vậy. Hèn chi mấy ngày Tết, dân chúng nội ngoại thành cứ lũ lượt kéo đến cúng Ông (hẳn Ông là thần, thành hoàng của xã Tăng Nhơn Phú?) trong ngôi đình hứa sẽ cho giàu sang, phú quí này. Và thiên hạ cũng không thường ghé thêm một ngôi chùa cổ, kiến trúc rất đẹp, cách đình Phong Phú khoảng 3.5 – 4 cây số, tên là Phước Thạnh tự.

Rồi chúng tôi tiếp tục ra miền Trung, tương tự chương trình tours hành hương ngắn ngày của những cơ sở cho thuê xe du lịch. Sau những ngôi chùa trên núi Gia Lào (vùng Long Khánh cũ), ra dinh Thầy Thiếm ở vùng biển Bình Thuận, bọn tôi lên núi Tà Cú ở vùng Bình Thuận Nam để vào Linh Sơn cổ tự. Nguyện ước “Mười kiểng chùa” đã viên mãn! Sau một đêm ngủ mê mệt tại mái hiên chùa, các bạn tôi hớn hở ra chánh điện lạy Phật, cúng tiền vào thùng công đức. Và đây mới là điều được mong chờ nhiều nhất, kết thúc chuyến hành hương mấy đêm ngày rong rủi, nhọc nhằn: lá bùa cầu an đã xin năm ngoái được trao lại cho một nhà sư trẻ, viết chữ Hán rất đẹp, để sư đốt bỏ và viết cho anh em lá bùa mới cho năm mới.

3.

Đã thấy, khi đi cúng kiếng, xin xâm, hái lộc để cầu an, cầu tài, cầu duyên – kể cả cầu… giãn nợ, thoát nợ – vào những ngày đầu năm, người mình đã rất phóng khoáng trong việc chọn lựa đối tượng thiêng liêng mà gởi gắm ước nguyện đầu Xuân. Bá tánh ngụ ở Sài Gòn, cả người Việt lẫn người Hoa, không phân biệt đâu là lễ Phật ở các chùa Nam tông hay Bắc Tông, đâu là cúng Ngọc Đế – vị nam thần cai quản vũ trụ – trong chùa Ngọc Hoàng, đâu là cúng nữ thần là Bà Thiên Hậu trong chùa gốc Trung Hoa ở quận 5 (thường là người ta đi cúng luôn cả Ông Phước An trong chùa Ông, cùng ở trên đường Nguyễn Trãi, gần chùa Bà). Cũng là Bà – nữ thần được bá tánh rất tin tưởng, sùng mộ nhưng có nguồn gốc xa gần với đạo Bà La Môn thì có Bà Chúa Xứ ở tận Châu Đốc, vía chính lễ là ngày mùng 4 tháng giêng ÂL. Nhiều người còn đi cúng danh nhân, anh hùng lịch sử, như đức Tả quân Lê Văn Duyệt ở Lăng Ông Bà Chiểu, Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn tại đền đức Thánh Trần ở Tân Định, lễ luôn cả ông bá hộ hiển linh ở dinh Thầy Thiếm vùng Bình Thuận, hay xuống miền Tây, ra Kiên Giang cúng miếu Thành Hoàng Mạc Cữu…

Từ ngày rằm đến ngày 28 tháng giêng, còn phảng phất không khí xuân, dân Sài Gòn lại tấp nập đi Bình Dương để cúng chùa Tàu thờ Bà Thiên Hậu. Riêng giới tiểu thương ở các chợ thì do đã khai trương buôn bán đầu năm nên vào ban đêm thường rủ nhau đi cúng Bà bằng cả nhóm xe gắn máy thật vui. Còn đối với người dân ở các vùng khác, như ở Nha Trang chẳng hạn, nếu đám thanh niên thích rủ nhau lên viếng đức Bà Thiên Y trên tháp Bà thì người lớn tuổi lại cung kính đi viếng mộ bác sĩ Yersin ở Suối Dầu. Ở nhiều vùng quê miền Tây, nông dân thường xuyên đi thắp nhang ở những cái miếu nhỏ thờ ông Tà trong tín ngưỡng dân gian, vị thần được tin là chỉ cai quản vỏn vẹn một vạt ruộng, một cánh đồng…

Có một điều mới nghe tưởng ngớ ngẫn nhưng đúng ra lại phong phú thêm cho đời sống tín ngưỡng của người Việt, đó là nhiều bà con, do tin tưởng mà thường cúc cung lui tới, cúng lạy, làm công đức hoài ở một ngôi chùa, cỗ miếu nào đó, nhưng khi có ai chợt hỏi chùa đó, miếu đó thờ vị Phật, vị thần nào, hay Ông nào, nào vậy thì y như rằng bà con đều cười giả lả “Hổng biết nữa!”.

Do đâu mà người mình lại có kiểu tin tưởng đa thần, không phân biệt như thế?

Với truyền thống tín ngưỡng “Tam giáo đồng lưu” đã có từ thời quân chủ xa xưa, cả ba đạo Phật – Khổng – Lão đã đề huề cùng tồn tại trong tâm hồn dân Việt suốt bao thế kỷ. Người qui y thì nhận mình là Phật tử, tức theo đạo Phật với đạo lý Từ Bi Hỉ Xả. Người không qui y thì nhận mình theo đạo “thờ cúng ông bà” – một phiên bản tín ngưỡng dân gian đặc biệt Việt Nam hòa quyện với luân lý Khổng Nho chủ trương Ngũ Thường,Tam Cương, Tứ Đức, Tam Tòng… và đề cao Phước Lộc Thọ… Người tin tưởng bói Dịch, bùa Lỗ Ban, kính ngưỡng giới thầy pháp, thầy cúng, đã vô hình trung là đệ tử của đạo Lão với các thuyết Thái Cực, Lưỡng Nghi… Rốt cuộc, trong nhà của hầu hết người Việt thường có rất nhiều bàn thờ, trang thờ khác nhau, ngoài phần thờ phượng tổ tiên, ông bà. Trong nhà Phật tử và người theo đạo thờ cúng ông bà, ngoài bàn thờ Thích Ca và Quan Âm (thuộc đạo Phật), còn có khám thờ Thần Tài, Thổ Địa ở phòng khách và Táo Quân ở nhà bếp (ba vị này thuộc đạo Khổng) cùng trang thờ lộ thiên ngoài sân để cúng Trời (Thiên/Thái Cực, thuộc đạo Lão), hay một số nhà giàu còn lập miếu thờ Ngũ Hành (cũng thuộc đạo Lão) trong sân vườn. Trong nhà người theo đạo Hòa Hảo hay đạo Cao Đài thì trước tiên là thờ đức Phật Thầy Tây An (sáng lập đạo Hòa Hảo) hay thờ Con Mắt, biểu tượng đạo Cao Đài.

Thú vị nhất là về Quan Nhị Ca mà trong các phim hình sự, xã hội đen của Hồng Công, các anh chị police hoàng gia thường thắp nhang cho ngài trước khi đi phá án. Có thể đây là nguyên Tổ của nghề bộ đầu/công an/cảnh sát bên Trung quốc từ thời xưa truyền lại nhưng không biết từ lúc nào, Quan Công (hay Quan Thánh, biểu tượng cho đức trung liệt Khổng Nho) hùng dũng với mặt đỏ, râu dài của người Hoa đã được người Việt cùng thờ kính vì cảm phục đức độ anh hùng.

Lại có nhiều người theo Thiên Chúa giáo (ngoài tượng Chúa ba ngôi và các thiên sứ, không được phép thờ ngẫu tượng, vật tượng nào khác) vẫn thờ Thần Tài. Có lẽ các nhà thờ địa phương đã châm chước cho kiểu thờ “phụ trội” của con chiên.

Ngoài ra, một số nhà thờ ở vùng Á châu (những quốc gia dùng cả hai loại lịch tây và ta) như tại VN, còn tổ chức các lễ đặc biệt trong dịp Tết Nguyên đán. Vào ngày mùng một Tết, trong lúc các chùa hành lễ cầu quốc thái dân an thì bên nhà thờ làm lễ “cầu bình an”. Mùng hai Tết, con chiên đi lễ “cầu ông bà tổ tiên”. Mùng ba Tết, trong lễ “thánh hóa công ăn việc làm”, con chiên mang một dụng cụ biểu trưng cho nghề nghiệp của mình đến đặt trên một cái bàn sát bên bàn thờ Chúa. Ví dụ thợ hớt tóc thì mang đến cái tông-đơ, thợ may thì cái kéo, còn nhà văn/nhà báo (thợ viết?) có thể bày ra cây bút ghép vào một cuốn vở… Lễ chấm dứt, mọi người hoan hỉ mang về nhà món đồ nghề đã được ban phép lành với niềm hy vọng sẽ được hành nghề, kiếm sống thuận lợi trong năm mới.

4.

Thờ phượng, lễ lạy trước bàn thờ Phật, thờ Chúa, thờ các thần linh muôn phương tại gia đình hay tại chùa, nhà thờ, đền, miếu… vốn là sinh hoạt thường xuyên, quanh năm suốt tháng của bất cứ ai có tín ngưỡng, có lòng tin vào thần thánh thiêng liêng, nhất là vào các kỳ Phật đản, Giáng sinh, Thánh đản, mùa vía Kỳ yên v.v… Nhưng riêng vào mùa Tết nguyên đán truyền thống – ngay giờ giao thừa năm cũ/năm mới hay trong chuyến hành hương “mười kiểng chùa” tháng giêng – thì việc hành lễ, cúng kiếng của mọi người lại mang một ý nghĩa tâm linh đặc biệt hân hoan, sống động.

Có lẽ mọi người rất dễ tự nhận ra rằng, trong giây phút mình trang nghiêm chấp tay, cúi đầu, khấn nguyện Trời Phật, Thánh Thần, tự nhiên mà cảm giác an lạc, hạnh phúc chợt nhẹ nhàng bừng sáng trong tâm hồn ta, và những khổ đau, lo nghĩ, phiền muộn như tạm lắng đọng vào bóng tối nguôi quên…

PHẠM NGA