Đã lụn tàn những mảnh vườn xanh

 

1.

Ở Sài Gòn, vào đầu những năm 60, ba mẹ tôi dọn nhà về khu Đồng Ông Cộ, gần chợ Bà Chiểu. Cứ khoảng nửa đêm về sáng, đô thành còn say ngủ, chợt nghe êm ả làm sao tiếng xe ngựa lốc cốc chở rau, chở hoa vào chợ. Hay vào các mùa Tết nguyên đán, cứ sau ngày 23 đưa ông Táo về trời là có chợ Tết ban đêm họp tại khu vực xung quanh Lăng Ông, sát bên tòa tỉnh trưởng Gia Định.

Những đêm chợ Tết xa xưa ấy, tôi nhớ mặt hàng Tết năm nào cũng mứt, trà, rượu, bánh, kẹo…, cũng như không bao giờ vắng mặt kem đánh răng “anh Bảy Chà”, xà bông Cô Ba và dầu cù-là Mac Phsu. Có điều là bên cạnh những đồ Tết theo truyền thống ấy, luôn luôn có một loại hàng thực phẩm rẻ tiền, thậm chí là tầm thường vì quá quen thuộc hằng ngày, cũng khiêm tốn xuất hiện trong chợ Tết – đó là các loại rau cải. Khi vào chợ, chỉ bước đến gần gần các sạp bán rau cải thôi là đã ngửi được mùi thơm dễ chịu, ngọt ngào của mấy thứ rau thơm, xà lách, tần ô, dền ớt, dền đỏ, cải thảo, cải ngọt, cải bẹ xanh, bồ ngót.v.v…, mà xưa nay giới tiểu thương gọi chung là đồ hàng bông.

Không rõ do nguồn ký ức thầm kín nào mà giờ này, đã hơn nửa thế kỷ trôi qua, mùi thơm của rau xanh vẫn luôn luôn sống khỏe trong cái tật hiếu cảm của tôi. Thơm nhất, thơm ngát đến thèm ăn ngay là rau húng quế vì loại rau thơm này khiến tôi liên tưởng ngay đến một món khoái khẩu – tô phở tái nghi ngút khói, ngon tuyệt vời! Cao sang hơn và làm đẹp hơn cho chợ Tết là các loại hoa đầy màu sắc tươi tắn, như: vạn thọ, thược dược, cúc vàng, mãn đình hồng… Và từ những năm tháng ấy, tôi mới được biết là ở vùng Gò Vấp, đất Gia Định tôi ở, từ xa xưa đã có nghề làm vườn, trồng rau vốn nuôi sống nhiều gia đình nông dân ở khu vực ngoại ô Sài Gòn.

 

2.

Sau biến cố 30-4, đâu khoảng những năm cuối thập niên 70, nhiều lần tôi đạp xe về khu vực nghĩa trang Vạn Thọ, thuộc phường 11 quận Gò Vấp ngày nay để thăm mảnh vườn của vợ chồng Tư Nhíu. Chúng tôi đã kết bạn khi cả hai, một là sĩ quan ngụy học tập cải tạo mới về, một là thanh niên thất nghiệp,  đều được địa phương “gợi ý” cho lên đường đi đào kênh, đắp đê, làm lúa đất phèn, trồng bo bo đất gò… ở một nông trường nằm ở vùng Củ Chi. Rồi nông trường làm ăn hoàn toàn thất bại, giải thể năm 1979, chúng tôi được xuất ngũ về nhà.

Tôi còn nhớ thời 1979, có một con đường mòn cỏ mọc xác xơ, ngoằn nghoèo chạy giữa nghĩa trang, hai bên là hàng ngàn ngôi mộ cũ kỹ nằm im lìm dưới ánh nắng. Ra khỏi nghĩa trang, nhìn xuyên qua những khóm tre là thấy những vạt đất thẳng thớm, trong số đó có miếng đất xéo xéo của Tư Nhíu, được ươn, trồng đủ loại rau cải xanh. Có vài chủ đất còn nuôi thêm con bò, con heo và gà, vịt thả vườn.

Lần nào cũng vậy, vừa thấy bóng tôi ngoài hàng rào là lập tức Tư cười hể hả, ngưng ngay công việc đang làm trong vườn hay réo vợ ra làm thế để bày độ nhậu lai rai dưới gốc cây chuối ở mé vườn. Thật ra thì bọn tôi không phong lưu, sung sướng cái thân gì cho lắm. Lần nào cũng cái chiếu rách trải đại dưới đất đầy lá mục, cũng mổi nhậu cóc, ổi, đậu phộng nấu… Nhưng độc đáo ở đây là chỉ cách cái chiếu nhậu vài mét là sù sụ mấy ụ phân rác đang được chủ vườn phủ kín cho hoai dưới nắng trời, luôn luôn ban tặng cho dân nhà vườn cái mùi hôi nồng nặc và cả mấy “sư đoàn” ruồi, giòi. Được cái là sau thời gian “đi học” về, cái em sinh viên trắng trẻo rồi anh giáo sư đạo mạo ngày nào đã được “giác ngộ” bởi thời thế, không còn sợ hãi, thối lui trước cảnh ngồi dưới đất ăn uống sát bên đống rác, tay không bốc đồ ăn nữa.

Vừa phẩy tay đuổi con ruồi xanh lì lợm đậu trên miệng chén mắm ruốc, tôi vừa hỏi Tư về một loại phân bón rau còn thấy ớn hơn phân rác hay phân chuồng (phân trâu, bò) nữa, mà trong trại cải tạo Trảng Lớn (Tây Ninh) tôi đã từng phải sử dụng (gọi là xử lý phân) theo lịnh cán bộ quản giáo để bón cho rau muống trồng trên đất với liều lượng lúc nào cũng dư xài vì được lấy thoải mái từ nhà xí hai ngăn trong trại:

– Nè, cậu có dùng phân bác không đó?

– Anh nói phân bác gì?

– Thì… phân người đó! Mấy tờ báo về nông nghiệp ở ngoài Bắc dùng chữ này.

– À…, hổng phải đâu, tui nghe nói kêu đúng là phân bắc chớ hổng phải phân bác – chắc chữ này bị nói trại đi. Ở ngoài Bắc chắc là kẹt, thiếu phân tro dữ lắm nên bà con mới phải xài tới thứ phân này để bón rau, chớ xưa nay trong Nam mình, như ở đây nè, đâu có ai xài thứ đó. Tui nghe nói là chỉ có một thời, cũng xưa lắm rồi, đâu ở miệt Phú Lâm, mấy ông Tàu, hay đội cái nón lá bự bành ki, trồng cải ná, tức cải rổ đó, có lấy thứ đó phơi nhiều nắng cho khô, rồi giã ra trộn với nước đái, gánh đi tưới. Chà, xài phân… đặc biệt như vậy thì cây cải chắc là bự, ngọt hết chỗ nói hả?

Dân làm vườn như Tư vốn phải chịu quen với đủ thứ không hề sạch sẽ, thơm tho gì. Mùi mồ hôi luôn luôn hôi nồng trên người Tư do lao động thường xuyên ngoài vườn, ngoài nắng với công việc làm hoài không hết. Dọn đất, lên luống, ươn cây con, rải phân, dọn cỏ, tưới nước, nhổ rau… Chỉ riêng việc tưới thôi mỗi ngày phải ba bận sáng-trưa-tối. Có lần bị trộm lẻn vô nhà lấy mất cái máy bơm “một ngựa”, vợ chồng Tư rất khốn đốn. Mùa mưa thì thỉnh thoảng hơi khỏe là có thể bỏ tưới giấc trưa. Nhưng ngược lại, chính 6 tháng mùa mưa lại làm năng suất rau giảm, có khi giảm tới phân nửa, vì rau rất dễ hư úng, nhất là đối với loại rau mỏng lá như xà lách. Dân trồng rau xem mùa mưa là mùa nghịch, thường phải giảm bớt số lượng rau ươn trồng vì dễ “thua”. Về 6 tháng mùa nắng thì cũng không phải hoàn toàn thuận lợi, dù thời gian này có dịp Tết nguyên đán để trồng hoa  – dân Nam rặc như vợ chồng Tư nhất định kêu là trồng bông, bán được tiền hơn rau. Về công chăm sóc thì hoa đòi hỏi người trồng phải chịu khó, chăm chút hơn trồng rau, đậu. Nhưng đó chỉ là chuyện nhỏ.

Khè một tiếng sau hớp rượu, Tư – dân làm vườn cố cựu mấy đời – mới phân tích thật rành rẽ:

– Nói nào ngay, để đất trồng rau thì rất mau ăn. Cải ngọt, cải bẹ chỉ cỡ 20 ngày là nhổ bán được rồi. Xà lách thì chăm khó hơn nhưng cũng chỉ 25 ngày, nó lại chịu lạnh nên mùa gần Tết, trời mát, xà lách rất đẹp, đem bán thiệt ngon. Còn nếu mình dành đất trồng bông thì cỡ 6 tháng mới bán được. Chừng tháng 6 ta là phải lo xuống giống mới kịp. Rồi ươn ra chậu, rồi 15 ngày sau lo cơi ngọn… Và tuy bông nó không ăn phân, tro nhiều hơn rau, nhưng mình là người trồng, cũng phải ăn cơm để sống, chớ hổng lẽ nhịn đói trong 6 tháng trồng bông? Tiền vốn mua các giống bông cũng nặng và phải lựa giống thiệt kỹ, nếu không, lỡ gặp hột ra cây điếc thì thua là cái chắc.

Đang lai rai, trò chuyện thì chợt một anh hàng xóm của Tư, không chờ tụi tôi chào hỏi, mời mọc gì, tự tiện vạch hàng rào bông bụp bước qua nhập cuộc.Trò chuyện mới sơ sịa, xây tua được mới vài vòng thì anh ta chê mồi nhậu tệ quá và mời tụi tôi qua nhà anh, nghĩa là cũng vạch hàng rào chui qua đất anh. Lần này chiếu nhậu được trải dưới một giàn đậu cô-ve còn anh chủ thì chạy vô bếp làm liền một món mà anh hô là hết sức đặc biệt. Té ra chỉ là đậu cô-ve non vừa hái ngay trên giàn, rửa sơ rồi xào tóp mỡ. Nhưng không ngờ cái món đơn giản, tầm thường này lại nhậu rất bắt vì ngon miệng lạ thường.

Đang thời cả nước phải ăn độn cơm với khoai, với bắp, bạn bè nghèo chúng tôi gặp nhau chỉ có bấy nhiêu đó tạm gọi là vui, là hạnh phúc. Cũng cái thời người dân Sài Gòn bắt đầu biết mùi ăn độn, bà Quốc Việt, vốn là chuyên gia về ẩm thực, nguyên hiệu trưởng một trường nữ công – gia chánh nổi tiếng, đã lên ti-vi dạy cho bà con cách chế biến rau muống thành nhiều món ăn khác nhau mà bà ta cam đoan là đều ngon hay lạ miệng. Lần đó, một chiến hữu của tôi tại chợ trời thuốc tây Tân Định, anh chuyên gọi “tôn vinh” rau muống là sâm dây, đã than thở: “Trời ạ, sau cái vụ rau-muống-bảy-món này, chắc là quí ma-đàm Quốc Việt sẽ dạy tiếp cho quốc dân, đồng bào về món khoai mì, tức là sâm đất đó mấy cha, thành khoai-mì-mười-món quá! Chịu hết nổi! Thôi chắc tui vượt biên quá! Mấy cha chịu nổi mà ở lại thì ráng ăn sâm dây với lại sâm đất cho nó bổ khỏe, còn bổ hơn sâm Cao Ly, sâm Hoa Kỳ nữa lận kìa!”.

 

3.

Ai “chịu nổi” hay “không chịu nổi” gì thì cuộc sống vẫn thản nhiên trôi đi theo ngày tháng. Sau mấy năm liền không có dịp gặp nhau vì tôi rời Sài Gòn, xuống kiếm sống ở quê vợ là Vũng Tàu, tôi trở lại khu nghĩa trang Vạn Thọ thăm nhà Tư Nhíu thì thấy lạ hoắc, lạ huơ. Nghe nói bà Vạn Thọ, chủ nghĩa trang đã hiến đất cho nhà nước tự hồi nào và nơi này đã được giải tỏa trắng để qui hoạch thành Làng Hoa Gò Vấp. Từ một con hẻm cũ chạy bên cạnh làng hoa, người ta phóng một con đường mới, đặt tên là “Lê Văn Thọ”, hỏi ra mới biết tên “Thọ” này chẳng dính líu gì tới gia tộc bà Vạn Thọ – người hiến đất để làm làng hoa và con đường mới này –  mà là tên một liệt sĩ nào đó. Còn cái đường mòn chạy giữa nghĩa địa ngày trước nay đã được cán nhựa và có tên đàng hoàng là đường Cây Trâm, hai bên đường là cả dãy phố khá sầm uất, nhộn nhịp.

Có điều là, chính trên con đường đóng vai  xương sống của làng hoa này lại khó tìm ra các loài hoa. Chỉ thấy toàn nhà hàng, quán nhậu, quán cà phê, quán karaoké, tiệm bán điện thoại di động.v.v… Họa hiếm là hai, ba chỗ bán cây kiểng, hoa chậu hay bày bán các loại tượng đá, tượng xi-măng.

Thời 1979, khi đi trên đường, nhìn qua những hàng tre là thấy ngay những vạt đất trồng rau nằm cạnh những căn nhà lá hay nhà vách ván như nhà Tư Nhíu. Nay tre trúc, nhà lá, nhà gỗ gì cũng biến mất mà chỉ có toàn là nhà gạch, nhà lầu hai, ba tầng trên vĩa hè lát gạch con sâu.  Phải bước ra phía sau căn nhà trệt mới xây của vợ chồng Tư Nhíu mới thấy mảnh vườn cũ. Đất của họ bị giải tỏa một phần cho con đường nhựa và chỉ còn lại khoảng 1000m2 trồng rau. Tư cùng những nhà vườn lân cận vẫn trồng những loại rau truyền thống Gò Vấp, như mồng tơi, dền, rau thơm, xà lách, cải ngọt, cải , cải bẹ.v.v… và một ít xu hào, cải bắp, hành ngò. Nhưng đã Tư nói ngay:

– Đất trồng ở vùng này giảm đến 70 – 80%. Số bà con còn theo nghề chỉ còn khoảng một nửa. Bỏ nghề cũng phải vì giá đất lên liền liền, đem đất phân lô bán kiếm tiền, chuyển qua nghề khác khỏe hơn.

– Cậu vẫn có trồng hoa Tết?

-Thì cũng ráng…. Cũng vẫn mấy thứ bông truyền thống thôi, như thược dược, hướng dương, cúc mâm xôi, sống đời.v.v…Mấy năm qua có thêm vạn thọ Pháp, bông lớn. Nhưng bông Gò Vấp đang không cạnh tranh nổi với bông Cái Bè chở ghe lên Sài Gòn, nhiều và rẻ hơn.

Thời đó, cỡ 1 – 2 giờ khuya vợ chồng Tư đã lo nhổ rau, cột bó, để đến 4 giờ sáng chở đi bán. Do số lượng rau nhỏ nhoi không đáng để Tư chở xuống tận chợ hàng bông Bà Chiểu, họp từ giữa đêm về sáng ngay trên hè phố mà chỉ chở ra tới “chợ” rau ngã tư Lê Văn Thọ – Phạm Văn Chiêu, cách nhà chừng 1 cây số. Nhưng phải coi chừng… Cứ khoảng 4 giờ sáng, dân trồng rau trong vùng tụ tập về ngã tư nhỏ hẹp này để buôn bán với đầu nậu cùng người bán lẽ. “Chợ” chỉ họp đến hững sáng là tàn nhưng trong bóng tối chập choạng, xe 2 bánh chở rau thường đậu lấn mặt đường, người mua cứ tỉnh bơ chuyển rau từ xe người bán qua xe mình, mặc kệ cho kẹt xe. Đến cỡ 5 giờ sáng thì xe cộ nhiều hơn, nào là xe bus, xe hàng, xe chở công nhân… Trúng đoàn xe đám ma thì càng dễ kẹt xe hơn. Đã từng có vụ ẩu đã giữa một anh lơ xe bus với một anh chở rau, rồi anh lơ chạy đi “méc” công an phường. Nhưng công an có xuất hiện thì cũng giống như ai đó khuấy động một bãi ruồi đậu. Công an đi rồi thì ai nấy, người bán rau cũng như người mua rau, lại tiếp tục trở lại chỗ cũ…

 

4.

Tôi từng đặt câu hỏi ngậm ngùi với bạn mình, rằng thấy tương lai của nghề trồng rau vùng này như thế nào. Tư Nhíu, người đàn ông mà mấy đời gia tộc bên mình cũng như bên vợ đều đã sống bằng cái nghề lam lũ này, đã rầu rĩ trả lời:

– Đất trồng rau ở đây càng ngày càng teo tóp, nhường chỗ cho nhà cửa mọc lên. Dân kéo về ở càng đông thì vườn rau mình càng bị bao vây, cô lập. Rồi có ngày sẽ bị thưa kiện về tội làm ô nhiễm môi trường. Hiện nay, nhà tui đâu còn ruồi như hồi trước nữa là do tui rất ít ủ phân rác hay phải đi mua phân đã hoai rồi cho không còn mùi. Nhưng mùi urê, mùi thuốc trừ sâu, mùi gì cũng bị hàng xóm ở sát bên vườn la lối. Hiện nay, tụi tui thức khuya thức hôm, bám vô 1000 mét vuông vườn kia để mỗi tháng, trừ hết chi phí phân giống, điện đóm thì cũng còn dư ra được cỡ ba, bốn triệu để đong gạo, đóng tiền học cho mấy đứa nhỏ. Nhưng chắc một hai năm nữa tui phải đổi nghề thôi. Chừng đó cũng có lẽ không còn ai giữ đất trồng rau, trồng bông ở vùng này nữa đâu. Còn cái làng hoa mà hổng có hoa kia thì khỏi nói…”.

Đã một thời rộn rịp, tấp nập chợ búa nhưng càng ngày càng thưa thớt hẳn đi, rau xanh và hoa của Gò Vấp, Hốc Môn, Bình Chánh từng góp phần cung cấp cho vùng Sài Gòn, bên cạnh hàng của Tiền Giang, Đồng Nai, Lâm Đồng. Sau 30-4, còn có thêm hàng rau, hoa từ Hà Nội vào và cũng sau 1975, hoa Đà Lạt muôn màu muôn vẻ dần hồi tràn ngập thị trường thành phố Sài Gòn với giá hạ hơn trước 1975 rất nhiều. Rốt cuộc, đồ hàng bông và hoa của Gò Vấp, Hóc Môn bị lấn át mạnh mẽ nên ngày càng ít ra chợ và đất vườn trồng rau – như câu chuyện của Tư Nhíu, ngày càng ít đi.

Phải nói, tình hình chuyển biến trên thị trường là kiểu ‘cung ứng nhiều, giá cả hạ’ thì ít nhiều gì cũng là thay đổi thuận lợi cho cuộc sống mọi người. Nhưng riêng tôi, trong thâm tâm vẫn có một nỗi buồn, nỗi tiếc nhớ man mác vì chẳng bao lâu nữa sẽ lụn tàn hết những vườn xanh nhỏ bé, yên tĩnh, khuất lánh ở một vùng ngoại ô thành phố này.

 

PHẠM NGA

 

 

Kẻ lai vãng cửa chùa

1.

Tánh anh nóng nảy, nổi cộc lên thì coi hung lắm, phải đi chùa cho nó trầm tính lại”. Đã một thời, nhiều lần vợ tôi đã nhận xét và đề nghị như vậy.

Ngày xưa, do bố tôi theo Tây học, từ Bắc vào Nam làm báo, ra cả báo Pháp và dịch sách, tánh khí nghệ sĩ, phóng dật khiến cho căn nhà nhỏ của gia đình ở khu Đa Kao thời đó thỉnh thoảng lại chộn rộn cái không khí văn chương chữ nghĩa. Có lần, lấy cớ cần khui một chai rượu chát rất xưa, bố tôi mời vài người bạn thân đến nhà chơi. Cần nói thêm là trong bạn bè của bố tôi thời đó, tôi khoái một bác cùng dân Bắc kỳ, để chút râu kiểu Hitler dưới mũi, thường phong nhã với bộ cánh veston, foulard…,  đó là nhà thơ/nhà văn TCHYA Đái Đức Tuấn. Núp phía sau một bức bình phong, tôi lén theo dõi người lớn nói đủ thứ chuyện trên đời. Chợt tôi nghe bác TCHYA cười, vỗ vai bố tôi, gật gù bảo: “…Vậy là toa cũng rất libéral về vấn đề tôn giáo!”.

Phải nói là, trước khi tôi đủ lớn khôn để tìm hiểu cho thật rõ tính từ “libéral” có nghĩa là gì thì bố tôi đã có quan niệm rất phóng khoáng về vấn đề tín ngưỡng, nghĩa là vợ con trong nhà ai muốn theo đạo nào cũng được. Bố tôi không hề bày tỏ một ý kiến, nhận xét nào về chuyện mẹ tôi sùng đạo Phật, qui y tại chùa, có pháp danh cũng như bày khuôn thờ Phật Bà Quan Âm phía trên bàn thờ ông bà, hay chuyện em gái tôi được mấy xơ trường Thiên Phước ở Tân Định dẫn dắt vô đạo Thiên Chúa khi em học tiểu học tại trường này. Có lần một vị giáo sư, bạn bà chị họ rũ tôi vào đạo Baha’i. Tôi nhận vài tờ tài liệu về đạo này, đem kể cho bố tôi nghe. Ông chỉ cười, nói: “Đạo Bà Hai, gốc ở Ba Tư chớ gì. Thì đạo nào cũng dạy con người sống, cư xử cho có đạo đức và làm việc thiện. Tùy ý con thôi.”

Rốt cuộc, tôi lớn lên không thể không chịu ảnh hưởng tinh thần libéral ấy từ bố tôi. Đã vậy, thời theo ban triết Đông&Tây trường Văn Khoa Sài Gòn, tôi được học hỏi ít nhiểu các hệ tư tưởng, giáo lý của Phật giáo, Kitô giáo, Hồi giáo, Khổng giáo, Lão giáo, Bà la môn giáo,…  Do vậy, hầu hết đám sinh viên triết bọn tôi không thể là người vô thần. Ngay cả vài sinh viên như tôi – tức không hay chưa là tín đồ của một tôn giáo nào để tin vào Phật Tổ, Đức Chúa Trời, đấng Allah, đấng Bhrama…, bọn tôi vẫn tin trên cõi đời này, vũ trụ này vốn có một đấng Thiêng Liêng, một Thượng Đế Tối Cao định đoạt mọi sự ở trần gian, trong đó định mạng con người.

Mặt khác, do bạn học của bọn tôi các lớp triết Tây hay Đông đều gồm cả các linh mục, sư huynh, nữ tu, nhà sư, ni cô nên dần hồi bọn tôi có quan niệm đại khái như “liên tôn giáo” hay “hòa đồng tôn giáo”, thấy đạo nào cũng tốt, hay ít ra là những đại diện của các tôn giáo ấy chẳng xa lạ gì với mình.

2.

Sau biến cố 30-4, cuộc sống ăn-độn đầy dẫy khó khăn, thiếu thốn. Với nhiều người dân miền Nam, một khi những lo nghĩ về cơm-áo-gạo-tiền quá đè nặng tâm trí, khó tránh chuyện đức tin tôn giáo lung lay. Ai vốn xem giá trị tinh thần, tâm linh cao quý hơn của cải vật chất cứ như bị thời thế cải tạo, dần hồi chuyển qua những cách nghĩ thực dụng như “Có thực mới vực được đạo”, “Lương tâm không bằng lương… thực”! Không ai bảo ai, người ta lặng lẽ tạm làm lơ nhu cầu phía đời sống tín ngưỡng, sinh hoạt thờ phượng. Đến một Phật tử sùng đạo như mẹ tôi cũng dần hồi thưa thớt, rồi bỏ hẳn việc đi chùa ngày rằm, mùng Một, để còn lo xếp hàng mua nhu yếu phẩm hay may hàng gia công kiếm thêm tiền chợ, phụ vào đổng lương chết đói của mấy đứa con công nhân viên…

Thời ăn-độn hay gặp người khùng hoặc nữa tỉnh nữa mê ngoài đường phố. Tôi nhớ một lần có việc ra bến xe Văn Thánh, tôi lên một chiếc xe than, ngồi chờ xe chạy. Chợt có một người đàn ông ốm yếu, mặc bộ nâu sòng rách nát, cầm một cây phướn, bước lên xe kêu gọi hành khách:“Bá gia ơi, lo tu đi, không thì chết đó nghen! Hội Long Hoa tới rồi! Ráng tu liền đi bá gia!”. Tôi chạnh nghĩ:“Mệt quá, đang thiếu đói tùm lum đây, lo chạy cơm từng bữa cho con người chưa xong, sức đâu lo chuyện tu hành cho vui lòng thần Phật nào đó?!”. Đang lúc chán nãn, lo nghĩ chuyện cơm áo như thế, tôi chán luôn nhà tiên tri thảm hại đang lãi nhãi rao giảng kia. Đúng lúc xe nổ máy, tôi buột miệng nói nhảm như mỉa mai ông ta:“Thôi xuống xe đi bá gia ơi! Không chịu xuống thì lơ nó lấy tiền xe, bá gia có tiền trả không đó?”.

Đến khi tôi lập gia đình, rất chật vật với cảnh chồng công nhân viên/vợ bán buôn lặt vặt, thu nhập không đủ sống, vợ tôi lại sinh con đầu lòng. Tôi quyết định nghỉ việc để dốc hết sức lực phụ bà xả chuyển hẳn qua nghề buôn chuyến hàng tạp hóa.

Tất nhiên, vào cái thời thiếu thốn đủ điều ấy, vợ tôi – đã quy y cửa Phật từ thời con gái – cũng đành bỏ lệ đi chùa ngày rằm, mùng một. Tôi nhớ chỉ có một lần, là vào ngày Phật đãn năm nào đó, vợ tôi đã ráng cùng mẹ tôi đến thắp nhang, lạy Phật ở ngôi chùa gần nhà.

Rồi thời “mở cửa” cũng đến, cuộc sống tương đối dễ thở hơn, quý phụ nữ gia đình chúng tôi gần như chính thức trở lại với tập quán đi chùa vào ngày rằm, mùng một. Còn những dịp đặc biệt như Tết nguyên đán, Phật đãn, rằm tháng Giêng, Tết Đoan ngọ, rằm tháng Bảy và rằm tháng Chạp, mẹ tôi và vợ tôi soạn mâm quả cúng chùa thịnh soạn hơn, cũng như sẽ ăn bữa chay tại chùa luôn.

Thêm một sự “trở lại” đầy tốt lành nữa tại nhà chúng tôi, đó là tôi lãnh nhiệm vụ dựng lại bàn thiêng ngoài sân trước nhà. Khi ấy tôi như chợt được sống lại những cảm xúc tinh khôi của thời thơ ấu… Nguyên từ nhỏ tôi đã rất yêu những hình ảnh ngọt ngào, thanh tịnh ở vùng quê Nha Trang, nơi tôi luôn quay về ở trọn mấy tháng nghỉ hè hằng năm. Còn lưu lại mãi trong ký ức tôi là hình ảnh bà ngoại tôi, cứ ngày rằm, mùng một hay dịp giỗ chạp là ngoại lụm cụm ra cắt những loại hoa trồng trong vườn nhà, như: bông trang, vạn thọ, huệ, mồng gà, bông giấy… Rồi ngoại đi quét sơ bàn bàn thiêng ở sân trước, xúc cái lục bình, chưng mớ bông vừa cắt cùng nãi chuối xanh, trái thanh long cũng bẻ trong vườn.

3.

Vài năm sau, có chút tiền dành dụm từ nghề buôn bán, chúng tôi ra riêng, Từ dạo ấy, hễ vợ tôi đi chùa là tôi chở bằng honda – có nghĩa cái gã, do chán cảnh đời tối mù vì nợ cơm áo, từ rất lâu đã không lai vãng cửa chùa, nay đã đi chùa trở lại. Có điều là, vẫn do nếp nghĩ duy lý, duy con người chứ không duy thần linh, tôi không cùng bà xả vào chánh điện thắp nhang, lạy Phật mà chỉ ngồi băng đá trong sân chùa, hút thuốc, lơ đãng nhìn cảnh mọi người xung quang dâng hương, khấn lạy…

Đâu khoảng năm 2003 hay 2004, tôi dự một chuyến hành hương ra tận vùng Bình Thuận. Nói là đi chùa nhưng thật ra đây là một chuyến đi phượt bằng honda đầy nhọc nhằn, lang bạt. Điểm đến là chùa Linh Sơn Trường Thọ, cách Sài Gòn hơn 250km đẩy nắng bụi. Chùa lại nằm trên sườn núi Tà Cú ở độ cao 400m và năm đó chưa có cáp treo nên bọn tôi phải leo núi. Đó là một cái “cầu thang” đất, đá quanh co, dài tới 2500m. Trên đường đi, tôi gặp vài cụ già phải nhờ người dìu lên từng bậc đá. Rồi khi đã lên đến chùa, các cụ lại nhờ người dắt đến trước Phật đài để quì xuống, khấn lạy thật lâu trước tượng Thích Ca lúc nào cũng nhắm mắt, khiến khuôn mặt tượng lúc nào cũng toát ra một vẻ bình an vời vợi.

Và vào lúc màn đêm sắp phủ trùm sân chùa, chợt thoáng qua như một sát-na, hình như tôi cũng đã được thấy thêm một vẻ bình an diệu vợi khác nơi gương mặt của một cụ già mù, đang quì lạy pho tượng Phật mà cụ không thể nào nhìn thấy…

Nói là do cảnh tượng siêu tưởng trên mà tôi đã “Ngộ” thì nghe cao đạo quá. Tôi chỉ xin nhận mình như một con thú hoang đàng, do chữ Duyên của nhà Phật mà  được thuần hóa thật nhẹ nhàng bởi hình ảnh đạo hạnh thuần khiết của cụ già mù.

Từ sau chuyến đi định mệnh ấy, tôi dẩn dần đổi tính – vợ tôi có thừa nhận, ít ra là thay đổi thái độ ích kỹ, khép kín của mình đối với vấn đề tín ngưỡng. Tôi bắt đầu săn ảnh, làm bộ sưu tập chùa chiền, nhất là các ngôi cổ tự. Và khi tự hồi sinh tinh thần giúp ích của hướng đạo sinh đã rèn luyện từ thời niên thiếu, có dịp là tôi cố gắng gợi ý bạn bè và người có khả năng cùng làm việc thiện, như giúp trẻ cô nhi, người già neo đơn, người tàn tật. Riêng đối với anh em lính chế độ cũ như mình, có lần tôi thu thập được địa chỉ một số anh em thương binh hạng nặng nhất ở Sài Gòn để báo cho một nhà hảo tâm ở California…

Nhiều năm qua, khung cảnh quen thuộc để nuôi giữ, bồi bổ cho bước “trở lại tâm linh” của tôi là tịnh xá Trung Tâm, gần chợ Cây Quéo. Do ngôi chùa này rất gần nhà, coi như chỉ băng qua đường xe lửa ga Xóm Thơm là tới nên vợ chồng tôi thường ghé chùa lễ Phật vào lễ Phật đãn, các ngày rằm, mùng một, cùng những khi vợ tôi cần nguyện xin điều gì đó hay cúng tạ khi xin được điều gì đó. Đáng nhớ là khi vợ tôi đã chữa lành một căn bệnh ngặt nghèo, gia đình tôi đã đi in một số quyển kinh ấn tống, đem cất dưới bệ tòa sen dưới chân tượng Phật Bà Quan Âm dựng ở phía bên trái khuôn viên chùa để tặng lại cho ai cần đến…

4.

Sáng thứ bảy này, vợ chồng tôi muốn tìm đến một nơi mát mẻ, thoáng đãng sau một đêm khó ngủ vì trời vẫn tiếp tục nóng bức y như mấy ngày trước. Công viên Gia Định ở gần nhà thì đang làm cầu vượt, mặt đường bị ép hẹp bởi ‘lô cốt’, xe cộ dồn cục rối rắm. Vợ tôi nói: “Hay mình ghé chùa Trung Tâm đi. Ngày mùng 1 vừa rồi, mấy đứa nó đến chơi cả ngày, làm mình đâu có đi chùa được!”.

Vậy là chúng tôi đến tịnh xá Trung Tâm. Vợ tôi đến thắp nhang trước tượng Phật Bà Quan Âm. Tôi cũng lạy Phật Bà rồi tìm đến một băng đá dưới bóng cây sa la ngồi, thư thái ngó quanh.

Bá tánh trong chùa sáng nay chợt có cả mấy con mèo hoang, không biết ở đâu đến mà chạy lung tung. Là mèo con nên chúng rất nghịch ngợm, con bám gốc cây hoa sứ, con lục hộp nhang, con rúc dưới bệ tượng Phật Bà… Tôi biết cái kiểu mình dáo dác theo dõi mấy con mèo cũng đang bị theo dõi bởi một người khác. Đó là một bé gái đang đứng gần cây hoa sứ, nước da đen đúa, quần áo cũ vá, đi chân trần, trên tay không cầm xấp vé số hay hộp singum gì đó thì chắc là dân sống lang thang đường phố. Chẳng phải đợi lâu, cô bé bụi đời lên tiếng cho biết bầy mèo con cũng ‘bụi đời’ này tổng cộng là bảy ‘đứa’. Cô bé còn đoan chắc con số đó là chính xác nhất vì ‘tụi nó’ chạy lung tung, phải đếm tới đếm lui cả buổi mới được.

Một chị phụ nữ mù đứng gần đó, vừa mời tôi mua vé số vừa cho thêm thông tin, rằng theo chị biết thì lâu nay các sư không có nhận nuôi chó, mèo hoang, thành ra bầy mèo con này phải do ai đó lén bỏ đại vô sân chùa, chắc là vào ban đêm.

Hai chú mèo hoang nhỏ bé thật nghịch ngợm, đang loay hoay leo lên cây hoa sứ với bàn tay trợ giúp của cô bé bụi đời. Tôi lấy điện thoại ra bấm liền mấy ‘pô’. Thấy tôi dáo dác nhìn quanh, tỏ ý muốn chụp nữa, cô bé nói “Để con đi bắt tụi nó cho”.

Cô bé mệt mề chạy tới chạy lui ở khu vực xung quanh tượng Phật Bà, kiếm được cứ hai chú mèo là hai tay cầm chạy liền đến chỗ vợ tôi đang ngồi chờ, tạm giao trước hai ‘đứa’ rồi ù chạy đi kiếm tiếp… Mất cả mươi, mười lăm phút cô bé mới gom lại đủ lại cả bảy con mèo con đang một mực rong chơi tứ tán kia cho tôi chụp hình.

Cần nói thêm, hẳn cô bé đã gần gũi, sinh hoạt với bầy mèo con này lâu ngày rồi, tức đã trở nên bạn bè, cùn chơi đùa đủ trò nên chúng để yên cho cô bé đưa tay nắm từng con lên, ưng đem đi đâu thì đem, chẳng phản ứng gì.

Vợ tôi thật vui, nói: “Bảy đứa mèo này thiệt bụi đời, mà đứa nào đứa nấy đều dễ thương hết sức!”. Tôi nghĩ, phải nói là có tám ‘đứa’ bụi đời, ‘đứa’ nào cũng dễ thương hết sức mới đúng, vì không thể không tính tới cô bé chưa biết tên kia, đã quá ân cần giúp chúng tôi tiếp cận với bầy mèo con.

Giữa khung cảnh cửa Phật tịnh yên, kẻ lai vãng sân chùa nghĩ thầm vậy thôi mà tự nhiên lòng anh ta nhẹ tênh, an lạc hiếm-khi-được-vậy.

PHẠM NGA

(Rằm tháng năm Đinh Dậu)

 

Trò Chơi Xác Ma

1.

Thỉnh thoảng, anh em nhà nhỏ Nga và vài đứa bạn học tụ lại để chơi một trò chơi đặc biệt lý thú. Xác ma, nội tên gọi nghe đã dị thường, hèn chi trò này chỉ nên chơi vào những đêm tối tăm, vắng vẻ…

Tối bữa nay, nhằm lúc bố mẹ đi ăn đám cưới, cả bọn tụ lại ở một căn phòng đóng kín cửa. Kỳ này, cũng một tên bạn học của Minh phối hợp với cậu ta cùng Đăng – cậu em kế – và nhỏ Nga – cô em út – cho đủ bốn người, tạm gọi là bốn pháp sư, như yêu cầu của trò chơi. Và, cũng không hề có ý tự nguyện nhưng nhỏ Liên – bạn hàng xóm của nhỏ Nga – lại phải miễn cưỡng đóng vai xác ma như ý kiến áp đảo của cả bọn.

Nhỏ Liên ngồi dưới đất, nhắm nghiến mắt, hai chân hơi co lại, hai cánh tay vòng qua đầu gối, các ngón tay đan vào nhau. Ba cậu trai và nhỏ Nga cùng quì một chân, nhanh nhẩu đặt ngón trỏ tay phải của mình vào hai nách và phía sau hai khuỷu chân nhỏ Liên. Cả bốn pháp sư thầm khấn vái với người cõi Âm, nhất là những bóng quế đang có mặt quanh quẩn đâu đây, rằng xin giúp nâng xác ma lên cao.

Minh chậm rãi đếm “một, hai, ba”. Tiếng “ba” vừa dứt là cả bốn anh em đồng loạt nín thở, dùng ngón tay của mình nâng nhỏ Liên lên với ý nghĩ hết sức nồng nhiệt là nhất định sẽ cùng làm được việc này.

Kết quả không như mong muốn: thân mình nhỏ Liên chỉ bị lay chuyển chút ít mà không hề cất lên cao một chút nào cả.

Đúng ra đây là một điều nếu như bình thường thì phải thế. Cân nặng ở một bé gái 8 tuổi nào khác nếu phát triển bình thường khoảng 25 – 26 kí lô. Còn trường hợp này, nhỏ Liên ròm con nhà nghèo nhất định sẽ nhẹ hơn mức ấy, nghĩa là khoảng 21-22 kí lô. Nhưng đối với chừng ấy khối nặng, chỉ có bốn ngón tay của bốn thiếu niên thì làm sao mà nâng bổng lên được?

Trước khi làm lại lần nữa, Minh lại nhắc cả bọn phải hết sức tập trung, mỗi đứa đều phải thành tâm hơn nữa so với lần trước khi khấn vái ngưởi cõi Âm trợ giúp cho sức mạnh của ngón tay mình.

Lần này thì thật kỳ diệu: xác ma được nâng bổng lên như một khối bông gòn. Rồi chừng khoảng 5 – 10 giây trôi qua, những ngón tay tự buông lỏng theo quán tính. Thân hình nhỏ Liên nhẹ nhàng rơi xuống vị trí cũ. Sự việc chỉ diễn ra vài giây ngắn ngủi vậy thôi nhưng cả bọn ồ lên, cười hể hả, vô cùng mãn nguyện như là mình mới cùng thực hiện được một phép thuật tuyệt vời. Chỉ có nhỏ Liên – cái  xác ma mới được các pháp sư người phàm cho bay lên hạ xuống, lúc này đã trở lại làm người bình thường – là im lặng, ngơ ngác, bàng hoàng nhìn hết người này đến người khác.

 

2.

Nhỏ Nga chợt đề nghị:

“Tụi mình chơi trò này nhiều lần rồi, bốn người thì trước sau gì cũng nâng được con nhỏ Liên. Giờ mấy anh thử để một mình em thôi, em cầu bóng quế hết sức rồi cũng dùng một ngón tay nâng thử cái gì đó. Như cái ghế nhỏ kia kìa.”

Lập tức Đăng tỏ vẻ không tin:

“Làm sao em làm được? Cái ghế nhựa đó coi thấp và nhẹ như vậy nhưng nó vẫn nặng đối với người nhỏ, yếu như em. Cỡ em thì bằng cả hai tay mới mong nâng nó lên cao được. Còn em tính đưa ra có một ngón tay thôi thì…, coi chừng không bị gãy thì cũng bị quẹo ngón đó nhe!”

Riêng Minh thì lo lắng cho em gái mình:

“Hồi nảy, tụi mình nâng nhỏ Liên lên được đúng là nhờ có sự giúp sức của bóng quế, nhưng phải tính thêm cái vụ bốn ngón tay đã kê vô bốn vị trí cân bằng trước/sau và trên/dưới, nghĩa là chịu đồng đều sức nặng của thân hình nhỏ Liên. Còn thí dụ như tụi mình dồn hết bốn ngón tay vô dọc một bên thân mình hay chỉ nâng chỗ cặp giò nhỏ Liên thôi chẳng hạn, thì mất cân bằng liền, trọng tâm vật được nâng sẽ bị lệch, nghĩa là con nhỏ này sẽ ngã qua một bên hay ngã ra đằng sau thôi chứ tụi mình không nâng bổng nguyên người nó lên được.”

Minh lấy cái ghế nhựa đặt vào một chỗ trống giữa phòng, chỉ vô một góc vuông, chỗ tiếp giáp giữa một chân ghế với phía dưới mặt ngồi, bảo em mình:

“Vậy với cái ghế này, em nên kê ngón tay vô chỗ đây nè, thì khi em nâng, hy vọng trọng tâm của ghế đỡ bị lệch, ghế đỡ nghiêng ngã.”

Nảy giờ, cung cách suy nghĩ và hành động của Minh rõ ràng cho thấy là dù vẫn có tin tưởng về thế giới thần bí và các quyền lực siêu hình, cũng như lâu nay cậu có tin vào “công lực” chưa khám phá của em gái mình, nhưng cậu trai trẻ vẫn tỏ lộ một cách đáng khen xu hướng lý trí thường thấy nơi nam giới, đồng thời cậu biết vận dụng kiến thức về khoa học, vật lý học, động lực học, đặc biệt là về luật hấp dẫn và trọng lực.v.v.. học hỏi được từ cả bên trong lẫn bên ngoài nhà trường để góp phần lý giải sự việc.

Thế là một mình nhỏ Nga nhắm mắt khấn gọi các bóng quế trợ giúp rồi đặt một ngón trỏ tay phải vào vị trí Minh đã chỉ ở cái ghế. Nhỏ đếm thầm “một, hai, ba!” rối quả quyết cất tay lên thật nhanh.

Kết quả thật mỹ mãn: cái ghế được nâng bổng lên theo phương thẳng đứng, cao gần cả thước mà không hề đổ ngã! Cứ như cái ghế được nâng lên bởi một, hai bàn tay vô hình, cỡ tay của người lớn khỏe mạnh có thừa chứ không phải bởi ngón tay nhỏ xíu, gầy guộc của nhỏ Nga…

 

PHẠM NGA

Tháng Ba, Coi Bóng Hát Tế Vía Bà

 

1.

Hằng năm, cứ trong vòng tháng Ba âm lịch như lúc này là ở khắp nội ngoại thành, các ngôi miếu thờ Ngũ Hành rộ lên cúng vía Bà – tên dân gian gọi chung cho Năm Bà tức Ngũ Hành Nương Nương. Hôm 19 ta, tôi lân la đến chùa Vạn Thọ bên bờ kênh Nhiêu Lộc, do lễ vía Bà tại ngôi miếu trong khuôn viên chùa sẽ diễn ra suốt ngày đêm.

Buổi sáng đã có một nhóm tế nam, với y trang đĩnh đạc áo thụng xanh, nón cánh chuồn, chuyên đi học trò lễ. Nhưng được bà con, cô bác mong đợi và kéo đến xem đông hơn là mấy em bóng, nhóm tế này chỉ vào đám buổi xế trưa.

Được mời tế Bà đã nhiều năm liên tục tại ngôi miếu này, chị Năm Tốt, trưởng nhóm, cho biết: “Hàng năm, cứ cỡ 18 và 19 ta tháng này, tôi đi kêu mấy chị em quá khó là khó vì ai nấy tứ tán hết, cũng tại cùng lúc quá trời miếu Ngũ Hành ở Sài Gòn này đều cúng vía Bà. Như xong ở đây, đến năm giờ chiều là chị em tôi phải lập tức chạy xuống miếu Bà ở Thủ Đức”.

Xưa nay, hễ nói tới dân bóng rỗi  – hay gọn hơn, dân bóng – người ta liên tưởng ngay đến các cậu thanh niên pê-đê, tức là nam giới nhưng vẫn được coi là nữ giới, vẫn là “mấy chị em” như chị Năm Tốt vừa đề cập.

Tuy nhiên, qua thâm niên gần 30 năm theo nghề, chị Năm cho biết là dù nghề tế gắn liền với hình ảnh những cậu trai, cả đàn ông trung niên nữa, ưỡn a ưỡn ẹo mặc đồ phụ nữ. Nhưng đúng ra, một nhóm tế thông thường bao giờ cũng gồm luôn cả các cô gái, các chị trung niên, các lớn tuổi và các chú, các ông nữa. Điển hình như nhóm của chị đang lãnh đám ở đây, quả là rất đề huề về các mặt giới tính, tuổi tác, thế hệ…

2.

Đứng cạnh bàn thờ Bà là chị Bảy Thi, tuổi khoảng trên dưới 50, đang vừa gõ trống lịnh vừa hát, tụng Chầu mời, tức phần mở đầu một buổi tế đúng bài bản. Ngồi gần đó là ông Ba Lựa, tuổi phải trên 60, vốn là nhạc sĩ cổ nhạc, đã từng theo gánh hát và chơi trên đài phát thanh. Sát bên là chú Hai Xiêm trung niên, đang thủ cây ghi-ta điện 6 dây phím lõm để hòa theo tiếng đàn cò của ông Ba.

Tập kế của Chầu mời đáng lý là phần việc của bà Phước, tuổi cũng ngang ông Ba Lựa, nhưng bữa nay do bận việc nhà, bà không đến được. Tên tuổi của Phước thì nức tiếng trong nghề tế bóng hiện nay ở Sài Gòn. Các nhóm tế khác như nhóm Bạch Hồng ở quận 8, Bảy Tước ở Tân Qui, Ngọc Quyên ở quận 6, Minh Đức ở Hốc Môn .v.v, hễ gặp thì thảy đều cung kính, cúi đầu trước vị sư mẫu dạy nghề  tế, múa, hát này.

Vậy là chị Năm Tốt bước ra, khoác vào chiếc áo tế mà chị Bảy vừa trao lại, tiếp tục hát Chầu mời thay cho Phước.  Áo tế –  hay áo lễ, được may bằng gấm đỏ, kiểu không có tay áo, giống áo đạo bào của thầy cúng, thầy pháp nhưng rực rỡ hơn vì nhiều chỗ đính hạt cườm, thêu kim nhũ rất kiểu cọ, rối rắm. Chị Bảy Thi nói đây là một chiếc áo cũ, đã bao lần xuất hiện trên sân khấu hát bội mà một bạn hát (diễn viên) nhường lại, có sửa sang chút đỉnh, nên chỉ tốn có 400,000 đồng, chứ may mới phải tốn cả triệu.

Chợt bà con bá tánh xì xào. Từ chỗ đứng, chỗ ngồi xa thì nhiều người rủ nhau đến gần bàn thờ Bà hơn. Diễn viên được khán giả mong đợi nhất nảy giờ đã khoác chiếc áo tế lên thân hình thon thả của mình. Vẫn là hát Chầu mời tiếp nhưng bà con không hề thấy chán, vì đó là em Ngọc Hậu xinh đẹp ra đứng trước micrô.

Lúc ngồi tại bàn uống trà, đối diện với Hậu, tôi đã không khỏi thầm khen đôi mắt, đôi mày được make-up rất kỹ càng cùng làn da khá mịn màng trên khuôn mặt của chàng trai 33 tuổi, đang mặc áo bà ba mỏng tanh, lộ rõ áo nịt ngực này. Không biết tên khai sinh của anh bóng này là gì nhưng về cái nghệ danh “Ngọc Hậu” nghe đầy nữ tính, rất gợi cảm kia thì anh chàng đã chọn cho mình suốt gần 20 năm theo nghề. Tôi có cảm giác như, dù có là hậu duệ thiệt thọ của bà Eva hay không đi nữa, em Hậu, với mặt-mũi-mình-mẫy như thế, trông vẫn trẻ, khá trẻ so với cái tuổi Mẹo tức 34 tuổi ta của em. Tôi thoáng nghe được từ bàn trà bên cạnh, một ông nào đó thốt ra luôn một câu nghe… kỳ cục, rằng: “Cái thằng…, coi bộ còn muốn đẹp hơn con gái!”.

Trước cái nhìn không việc gì phải kềm chế của phía đàn ông xung quanh, Hậu có vẻ thích thú, hả dạ –  kiểu phụ nữ tự biết là mình đẹp. Hậu còn có luôn cái kiểu rất con gái là cúi mặt lõn lẽn, chạy trốn ánh mắt chăm chăm của người đối diện, khi kiếm chuyện hỏi tôi:

– Chú… nhà báo hả? Chú có chụp hình bàn thờ tổ của tụi này không vậy?

Đang ngắm người đẹp bóng, thật tình là tôi có giật mình, bèn giả lã hỏi lại:

– À, à… Nghề tế cũng có tổ riêng sao Hậu? Bàn nào đâu?

Tại một chiếc bàn nhỏ kê gần các nhạc công, được xem là biểu trưng “Tổ” của nghề tế là một bức tranh lụa vẽ hai tiên nữ đứng cạnh một cái cây có 12 đóa hoa vàng nở rộ mà Hậu gọi là cây “bông Càn Thọ”. Khi không có được bức tranh hiếm quí, chỉ truyền thừa trong nghề tế này thì các nhóm tế có thể thay thế bằng bức tranh Bát Tiên, theo kiểu hình vẽ “Bát tiên quá hải” trang trí trên những cái chén, cái tô xưa của Trung quốc, gồm toàn những nhân vật huyền thoại như Hà Nguyệt Cô, Lã Đồng Tân, Tế Điên, Lý Thiết Quày.v.v…

 

3.

Kết thúc phần tụng Chầu mời và tạm nghỉ vài phút, Hậu ra diễn  nghi thức kế tiếp là múa tế “dưng bông”. Em vừa thay y, tức xỏ vô người một chiếc váy lụa trắng là tiếng đàn, tiếng trống, tiếng nhịp gõ đã háo hức vang lên.

Cứ mỗi lần Hậu lượn người tới bàn Tổ là một trong một bộ năm cái chén đầy ắp bông cúc vàng để trên bàn lần lượt biến thành một thứ đạo cụ ngộ nghĩnh. Hậu khéo léo đặt từng cái chén lên đầu, buông tay, ngồi thụp xuống, đứng lên, xoay tròn nhiều vòng, chấp tay lạy…, mỗi cử chỉ đều nhuần nhuyễn, tinh tế y như của một nữ vũ công dạn dày kinh nghiệm. Những chuổi động tác nhanh, gọn, dứt khoát như thế cứ như từ thân hình mảnh mai, thướt tha của vũ công mà hòa quyện một cách mông lung, hư ảo vào những cụm khói nhang, khói trầm đang tỏa lan nghi ngút từ các bàn thờ lớn, nhỏ trong miếu. Vị chánh tế tóc bạc trắng, mặc áo thụng xanh đang đứng cạnh bàn thờ Bà, gần như giật mình, thảng thốt khi vũ công thoáng một cái đã tiến đến sát bên ông, trao chén hoa cúc để ông đặt lên bàn thờ…

Tiếng đàn, trống đã dịu đi khi các chị em nhóm tế luân phiên phục vụ cho nghi thức Gởi của bà con cô bác. Gởi có nghĩa là khách dự lễ đưa một ít tiền cùng mảnh giấy ghi tên, họ của mình cho người tế, để người này ê a tụng những lời cầu xin Bà phò hộ cho người “gởi” được gia đạo bình an, buôn may bán đắt…

Buổi tế đã náo nhiệt trở lại với phần diễn cuối cùng: múa dân gian. Tùy theo người tế cầm vật gì trên tay mà phần múa này sẽ phân ra là múa mâm vàng/mâm bạc, múa bông huệ, múa lục bình… Đậm nét nghệ thuật múa dân gian nhất, giống trên sân khấu giải trí nhất, là múa mâm vàng, hôm nay cũng do Ngọc Hậu biểu diễn.

Trước tiên, từ bàn thờ Tổ, Hậu trình ra một tòa lâu đài đồ mã cao khoảng 5 – 6 tấc, được phất bằng giấy nhũ vàng óng ánh và được dán dính vào giữa một cái mâm nhôm cỡ trung trung. Vài người bước vào, dùng cọng bún dán sơ sài vào mâm thêm mấy tờ giấy bạc 20 ngàn, 50 ngàn. Muốn hưởng những tờ tiền thưởng đó thì trong tất cả các động tác của cánh tay cầm, đỡ mâm, người múa phải làm sao cho những tờ bạc không rơi khỏi mâm. Hậu có làm rơi hết một tờ 20 ngàn trong một thoáng úp ngược mâm. Bù lại, mọi người phải vỗ tay khen ngơi khi Hậu tung xoáy mâm lên khoảng không với khi Hậu ngửa mặt, dựng vành mâm vào nhân trung, rồi chu môi, giang rộng hai  tay, vừa múa vừa giữ thăng bằng cho mâm vàng trong khoảng 2 – 3 phút.

Rồi chiếc áo tế lại được Hậu cỡi ra, giao lại cho một “nghệ sĩ” bóng khác. Đó là em Đào, có vẻ lớn tuổi hơn Hậu, giọng tế khàn khàn và nước da ngăm đen thì khó có thể nói là xinh đẹp như Hậu. Nhưng Đào múa giỏi hơn. Sau màn múa không chút khiếm khuyết với một cành hoa huệ dựng đứng trên vai, Đào ngửa mặt, rồi từ đúng chỗ nhân trung dưới lỗ mũi, em dựng thẳng đứng một đoạn ống nước bằng nhựa. Kế đó, Đào từ từ thụp người xuống và quì thẳng lưng, tay giữ cho ống nước đứng yên, một bạn diễn bước vào đặt trên đầu kia của cái ống hai con dao cho nằm ngang, cái dưới cái trên theo hình chữ thập. Khi mọi thứ đã thăng bằng, Đào nói nhỏ “Xong!”, cả hai người cùng buông tay và bạn diễn bước ra, Đào từ từ đứng lên…  Nhà tạp kỹ đã khiến mọi người muốn nín thở khi vừa giữ thăng bằng cho mấy món hung khí, vừa uốn éo thân mình theo tiếng đàn, trống. Xong màn múa dao, ai nấy đều vỗ tay tán thưởng, thưởng thêm tiền để Đào diễn tiếp qua màn múa mâm bạc để trên trán với kiểu quì xoạc hai chân, ưỡn lưng xuống nái sát mặt đất…

 

4.

Theo chị Năm Tốt, tháng Ba là tháng làm ăn khấm khá nhất của nghề tế bóng.  Các nhóm tế liên tục đi diễn từ các miếu Ngũ Hành ở quận Nhất, Bình Thạnh, Gò Vấp, đình thần ở Phú Nhuận, miếu Bà ở Tân Phú, cho đến Dinh Cô ở Long Hải.v.v…, vái khi đến diễn cả ở những ngôi miếu nhỏ xíu trong đất vười tư gia nào đó. Về thù lao, không tính đến phần tiền bà con gởi, nhờ tụng cầu gia đạo bình an, bèo nhất cho một buổi vào đám cũng vào cỡ 2 – 3 triệu. Tháng Tư thì “lai rai” vì trong tháng này chỉ có vía Bà Chúa Xứ và vía Bà Thiên Hậu. Còn các tháng khác trong năm, các nhóm chỉ chờ được kêu đi cúng Bà Cửu Thiên Huyền Nữ, bà Mẹ Sanh ở vùng ngoại ô, tại nhà các gia đình theo tập tục xưa của người mình, với thù lao một buổi chỉ 800 ngàn hay 1 triệu, còn phải bao luôn cả mâm vàng, mâm bạc y như đi tế ở chùa, miếu.

Chị Năm chắt lưỡi nói nghề tế là nghề tay-trái nên khó có ai sống nổi, dù là sống tạm qua ngày tháng, nếu chỉ làm có mỗi nghề này.

Bấy lâu nay, khi theo nghề tế chuyên nghiệp, với ít nhiều kiêu hãnh, những bạn bóng như em Hậu, em Đào đã hiển nhiên tự phân biệt mình với các em pêđê chỉ có thể đi hát đám, có nghĩa là ca, diễn tân nhạc, cổ nhạc, trích đoạn tuồng cải lương một cách nghiệp dư ở những đám ma, đám cúng thất hay giỗ chạp. Cũng mang tiếng là bán nam bán nữ như dân pê-đê và vài khi túng kẹt quá thì cũng phải chấp nhận đi hát đám lai rai cùng các nhóm pê-đê để “kiếm chút cháo”, nhưng dân bóng theo nghề tế phải trải qua cả một quá trình bái sư, thờ tổ, học nghề, khổ công tập dợt với nhóm… Muốn được theo nhóm, bạn bóng nào cũng phải sử dụng thuần thục, khi thì nhạc khí là cái trống lịnh, khi thì đạo cụ độc đáo là cành hoa huệ, tách trà, bình bông, cái mâm vàng, con dao yếm… Rồi các chị em cũng phải thật điêu luyện, diễn cảm khi hát Chầu mời, tụng lời Gởi của bá tánh, và đặc biệt không được phép có sai sót về các tuyệt kỹ múa tế như múa “dưng bông” hay múa dân gian là múa mâm vàng, mâm bạc.

Nói gọn lại, có tài nghề như thế thì các bạn bóng rất xứng đáng được gọi là những nghệ sĩ ca múa nhạc và tạp kỹ chuyên nghiệp. Đặc biệt khi xuất hiện trước mắt công chúng, các bạn bóng không chỉ là những nghệ sĩ ca, múa dân tộc phục vụ cho nhu cầu giải trí của bà con mà còn là những thầy tế, thầy cúng chuyên thực hiện một số nghi thức tế, lễ rất đặc trưng, phục vụ cho mảng tín ngưỡng dân gian của người Việt miền Nam.

Có điều là, rất chua chát, hẩm hiu đối với các nghệ sĩ bóng, đó là xưa nay các chị em chỉ được trình diễn toàn ở những sàn diễn thường rất chật hẹp, gò bó, như một khoảng sân, mặt thềm nào đó ở các ngôi miếu, đình, chùa, nhà tư gia…, có khi rất tệ bạc chỉ là chiếc chiếu cũ trải ra trước quan tài…

PHẠM NGA

(Tháng 4-2017)

 

 

 

 

 

Đầu Xuân Nguyện Đi Mười Kiểng Chùa

phamnga

1.

Thuở còn niên thiếu ở đất Sài Gòn này, vào những đêm giao thừa xa xưa, tôi thường được tháp tùng mẹ tôi cùng mấy bác hàng xóm đi cúng ở Lăng Ông, gần chợ Bà Chiểu. Ngoài đường đông vui hết sức! Từ nhà tôi ở đường Trần Quang Khãi vùng Tân Định ra đến gần Lăng Ông là phải xuống xe xích lô để hòa mình vào đám người, ai đâu mà chợt đông nghẹt giữa đêm khuya, cứ lũ lượt đi bộ tràn ngập cả con đường Lê Văn Duyệt.

Chưa lọt vào cổng lăng đã thấy khói hương nghi ngút như sương mù. Cúng kiếng, xin xâm và hái lộc – không dễ gì làm cho đầy đủ, nhanh gọn cả ba nghi thức này nên bà con ai nấy đều vội vàng, còn do phải quay về trước 12 giờ để cúng giao thừa nhà mình. Trong đám đông náo nhiệt, nếu ai không chen lên được tới trước bàn thờ Ông (đức Tả quân Lê Văn Duyệt) thì đành chấp nhận cúi đầu lạy vào lưng, vào… mông người đứng trước mình cũng được nhưng nhớ cẩn thận, đừng quơ nhang làm cháy áo người ta.Trên đường về, mẹ tôi còn ghé thắp nhang ở tịnh xá sư nữ Ngọc Hương, cái chùa nhỏ hẹp, nghèo nàn ở ngõ hẻm gần nhà mà mùa Tết năm nào bà cũng tặng một, hai chục ký gạo tùy năm gia đình có làm ăn khấm khá hay không. Rồi sáng mùng một, trên đường đi chúc Tết, mừng tuổi ông bà nội tôi, mẹ tôi không quên ghé một lát ở chùa Vĩnh Nghiêm nguy nga, tráng lệ…

“Trên đường đi lễ xuân đầu năm…”, vào dịp Tết Nguyên đán hằng năm, hẳn không riêng gì người viết bài ký này mà rất nhiều người trong chúng ta đều xúc động, bâng khuâng khi nghe lời ca dịu ngọt, đầy tình người, mở đầu ca khúc Câu Chuyện Đầu Năm. Tôi còn nhớ, vào một năm đầu thập niên 60, đài Tiếng Nói VNCH ở Sài Gòn, trong một chương trình ca nhạc rất hay tên là “Sóng Nhạc” chỉ có vào các đêm chủ nhật, đã lần đầu tiên phát ca khúc Câu Chuyện Đầu Năm của cố nhạc sĩ Hoài An qua giọng hát ngọt ngào, tinh khôi, rất Nam bộ của Phương Dung, nữ ca sĩ được mệnh danh “Con nhạn trắng Gò Công”.

Chính với hình ảnh tuyệt đẹp ấy, đã hơn nửa thế kỷ trôi qua với bao thăng trầm lịch sử, đa số các gia đình người Việt mình vẫn giữ nguyên tập tục đi chùa, đi cúng, tức là rủ nhau đến các chùa chiền, miếu mạo đề dâng hương, cầu tài lộc, xin xâm, cúng sao, cúng hạn… vào ngày đầu năm mới  hay suốt trong tháng giêng âm lịch.

2.

Bao đời nay, ý nghĩa của Tết Nguyên đán vốn rất đậm chất tâm linh, tín ngưỡng đối với người mình, dù đang sống trong nước hay hải ngoại. Và ngày xuân đi lễ chùa là một hình ảnh rất tươi sáng, cao trọng – rất “quê hương” đối với người Việt chúng ta.

Do đó, cho đến ngày nay, tại những con đường chạy ngang những ngôi chùa lớn ở Sài Gòn, như Vĩnh Nghiêm, Xá Lợi, Việt Nam Quốc tự, Kỳ Viên tự…, cả ở trước một ngôi chùa, nhỏ thôi, như chùa Ngọc Hoàng ở khu Đakao, kẹt xe liên miên vào đêm 30 và ba ngày Tết là chuyện rất thường tình. Ngôi chùa mới nhắc, từng được tổng thống Mỹ Barack Obama ghé thăm khi đến VN, đã xấp xỉ 100 năm tuổi và từng được phong là “Di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia – Điện Ngọc Hoàng”. Xa xưa, nguyên nơi này là một đền (điện) thờ Ngọc Hoàng Thượng Đế của người Hoa, sau mới có thêm bệ thờ Phật xây ở phía trước bệ Ngọc Đế. Sau tháng 4-75, chùa có tên mới là “chùa Phước Hải” do giáo hội Phật giáo trong nước đặt, nhưng đối với hầu hết bá tánh Việt – Hoa, phải nói “chùa Ngọc Hoàng” thì người ta mới biết.

Có lần tôi hỏi mượn tập tài liệu giới thiệu các gói tours của Saigon Tourist trên tay một du khách người Anh đang viếng chùa Ngọc Hoàng, thấy chữ “Jad pagoda” được in rành rành. Bước sâu vào chánh điện, mấy ông tây bà đầm rất thích chụp ảnh tượng Tam vị Phật tổ, tượng Ngọc Hoàng cùng những tượng chư tiên (Nam Tào, Bắc Đẩu, Thiên Lôi, Văn Xương, Văn Khúc, Thái Thượng Lão Quân.v.v…, gần như đủ mặt các “chức sắc” trên Thiên đình trong truyện/phim Tây Du Ký). Riêng bọn trẻ nhỏ đến chùa thì đứa nào cũng khoái cái hồ nuôi rùa bên phía phải chánh điện. Lũ trẻ cứ tìm cách ném xuống hồ nào là bắp rang, bánh mì…, nào là hoa, lá hái trộm trong sân chùa cho lũ rùa lúc nào cũng đói ăn.

Những năm gần đây, đến mùng 4 Tết – hạ nêu, cúng tất, tiễn ông bà về Trời – tôi lại hay tháp tùng một nhóm bạn thân, là những người luôn luôn giữ đúng lời nguyện đi lễ cho đủ 10 kiểng (cảnh) chùa, đền, miếu… tứ phương trong tháng giêng hằng năm.

Chúng tôi thường mở đầu chuyến hành hương bằng xe gắn máy này là những ngôi chùa ở Gò Vấp và Bình Thạnh. Vùng tỉnh Gia Định cũ tiếp giáp với đô thành Sài Gòn này vốn có rất nhiều chùa chiền, như các chùa Dược Sư, Pháp Hoa, Già Lam, Kỳ Quang, Linh Quang, Chưỡng Đức, Từ Quang, tịnh thất Trung Tâm, Ngọc Phương tịnh xá, Từ Quang.v.v…

Kế đó, chúng tôi ra ngoại thành, trước hết là ghé đình Phong Phú ở Thủ Đức. Tôi từng thắc mắc, sao năm nào cũng là đình Phong Phú. Một anh bạn đã cười: “Bộ đầu năm ông không muốn giàu hay sao? Chữ ‘phú’ trong tên chùa Phong Phú đó!”. Thì ra là vậy. Hèn chi mấy ngày Tết, dân chúng nội ngoại thành cứ lũ lượt kéo đến cúng Ông (hẳn Ông là thần, thành hoàng của xã Tăng Nhơn Phú?) trong ngôi đình hứa sẽ cho giàu sang, phú quí này. Và thiên hạ cũng không thường ghé thêm một ngôi chùa cổ, kiến trúc rất đẹp, cách đình Phong Phú khoảng 3.5 – 4 cây số, tên là Phước Thạnh tự.

Rồi chúng tôi tiếp tục ra miền Trung, tương tự chương trình tours hành hương ngắn ngày của những cơ sở cho thuê xe du lịch. Sau những ngôi chùa trên núi Gia Lào (vùng Long Khánh cũ), ra dinh Thầy Thiếm ở vùng biển Bình Thuận, bọn tôi lên núi Tà Cú ở vùng Bình Thuận Nam để vào Linh Sơn cổ tự. Nguyện ước “Mười kiểng chùa” đã viên mãn! Sau một đêm ngủ mê mệt tại mái hiên chùa, các bạn tôi hớn hở ra chánh điện lạy Phật, cúng tiền vào thùng công đức. Và đây mới là điều được mong chờ nhiều nhất, kết thúc chuyến hành hương mấy đêm ngày rong rủi, nhọc nhằn: lá bùa cầu an đã xin năm ngoái được trao lại cho một nhà sư trẻ, viết chữ Hán rất đẹp, để sư đốt bỏ và viết cho anh em lá bùa mới cho năm mới.

3.

Đã thấy, khi đi cúng kiếng, xin xâm, hái lộc để cầu an, cầu tài, cầu duyên – kể cả cầu… giãn nợ, thoát nợ – vào những ngày đầu năm, người mình đã rất phóng khoáng trong việc chọn lựa đối tượng thiêng liêng mà gởi gắm ước nguyện đầu Xuân. Bá tánh ngụ ở Sài Gòn, cả người Việt lẫn người Hoa, không phân biệt đâu là lễ Phật ở các chùa Nam tông hay Bắc Tông, đâu là cúng Ngọc Đế – vị nam thần cai quản vũ trụ – trong chùa Ngọc Hoàng, đâu là cúng nữ thần là Bà Thiên Hậu trong chùa gốc Trung Hoa ở quận 5 (thường là người ta đi cúng luôn cả Ông Phước An trong chùa Ông, cùng ở trên đường Nguyễn Trãi, gần chùa Bà). Cũng là Bà – nữ thần được bá tánh rất tin tưởng, sùng mộ nhưng có nguồn gốc xa gần với đạo Bà La Môn thì có Bà Chúa Xứ ở tận Châu Đốc, vía chính lễ là ngày mùng 4 tháng giêng ÂL. Nhiều người còn đi cúng danh nhân, anh hùng lịch sử, như đức Tả quân Lê Văn Duyệt ở Lăng Ông Bà Chiểu, Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn tại đền đức Thánh Trần ở Tân Định, lễ luôn cả ông bá hộ hiển linh ở dinh Thầy Thiếm vùng Bình Thuận, hay xuống miền Tây, ra Kiên Giang cúng miếu Thành Hoàng Mạc Cữu…

Từ ngày rằm đến ngày 28 tháng giêng, còn phảng phất không khí xuân, dân Sài Gòn lại tấp nập đi Bình Dương để cúng chùa Tàu thờ Bà Thiên Hậu. Riêng giới tiểu thương ở các chợ thì do đã khai trương buôn bán đầu năm nên vào ban đêm thường rủ nhau đi cúng Bà bằng cả nhóm xe gắn máy thật vui. Còn đối với người dân ở các vùng khác, như ở Nha Trang chẳng hạn, nếu đám thanh niên thích rủ nhau lên viếng đức Bà Thiên Y trên tháp Bà thì người lớn tuổi lại cung kính đi viếng mộ bác sĩ Yersin ở Suối Dầu. Ở nhiều vùng quê miền Tây, nông dân thường xuyên đi thắp nhang ở những cái miếu nhỏ thờ ông Tà trong tín ngưỡng dân gian, vị thần được tin là chỉ cai quản vỏn vẹn một vạt ruộng, một cánh đồng…

Có một điều mới nghe tưởng ngớ ngẫn nhưng đúng ra lại phong phú thêm cho đời sống tín ngưỡng của người Việt, đó là nhiều bà con, do tin tưởng mà thường cúc cung lui tới, cúng lạy, làm công đức hoài ở một ngôi chùa, cỗ miếu nào đó, nhưng khi có ai chợt hỏi chùa đó, miếu đó thờ vị Phật, vị thần nào, hay Ông nào, nào vậy thì y như rằng bà con đều cười giả lả “Hổng biết nữa!”.

Do đâu mà người mình lại có kiểu tin tưởng đa thần, không phân biệt như thế?

Với truyền thống tín ngưỡng “Tam giáo đồng lưu” đã có từ thời quân chủ xa xưa, cả ba đạo Phật – Khổng – Lão đã đề huề cùng tồn tại trong tâm hồn dân Việt suốt bao thế kỷ. Người qui y thì nhận mình là Phật tử, tức theo đạo Phật với đạo lý Từ Bi Hỉ Xả. Người không qui y thì nhận mình theo đạo “thờ cúng ông bà” – một phiên bản tín ngưỡng dân gian đặc biệt Việt Nam hòa quyện với luân lý Khổng Nho chủ trương Ngũ Thường,Tam Cương, Tứ Đức, Tam Tòng… và đề cao Phước Lộc Thọ… Người tin tưởng bói Dịch, bùa Lỗ Ban, kính ngưỡng giới thầy pháp, thầy cúng, đã vô hình trung là đệ tử của đạo Lão với các thuyết Thái Cực, Lưỡng Nghi… Rốt cuộc, trong nhà của hầu hết người Việt thường có rất nhiều bàn thờ, trang thờ khác nhau, ngoài phần thờ phượng tổ tiên, ông bà. Trong nhà Phật tử và người theo đạo thờ cúng ông bà, ngoài bàn thờ Thích Ca và Quan Âm (thuộc đạo Phật), còn có khám thờ Thần Tài, Thổ Địa ở phòng khách và Táo Quân ở nhà bếp (ba vị này thuộc đạo Khổng) cùng trang thờ lộ thiên ngoài sân để cúng Trời (Thiên/Thái Cực, thuộc đạo Lão), hay một số nhà giàu còn lập miếu thờ Ngũ Hành (cũng thuộc đạo Lão) trong sân vườn. Trong nhà người theo đạo Hòa Hảo hay đạo Cao Đài thì trước tiên là thờ đức Phật Thầy Tây An (sáng lập đạo Hòa Hảo) hay thờ Con Mắt, biểu tượng đạo Cao Đài.

Thú vị nhất là về Quan Nhị Ca mà trong các phim hình sự, xã hội đen của Hồng Công, các anh chị police hoàng gia thường thắp nhang cho ngài trước khi đi phá án. Có thể đây là nguyên Tổ của nghề bộ đầu/công an/cảnh sát bên Trung quốc từ thời xưa truyền lại nhưng không biết từ lúc nào, Quan Công (hay Quan Thánh, biểu tượng cho đức trung liệt Khổng Nho) hùng dũng với mặt đỏ, râu dài của người Hoa đã được người Việt cùng thờ kính vì cảm phục đức độ anh hùng.

Lại có nhiều người theo Thiên Chúa giáo (ngoài tượng Chúa ba ngôi và các thiên sứ, không được phép thờ ngẫu tượng, vật tượng nào khác) vẫn thờ Thần Tài. Có lẽ các nhà thờ địa phương đã châm chước cho kiểu thờ “phụ trội” của con chiên.

Ngoài ra, một số nhà thờ ở vùng Á châu (những quốc gia dùng cả hai loại lịch tây và ta) như tại VN, còn tổ chức các lễ đặc biệt trong dịp Tết Nguyên đán. Vào ngày mùng một Tết, trong lúc các chùa hành lễ cầu quốc thái dân an thì bên nhà thờ làm lễ “cầu bình an”. Mùng hai Tết, con chiên đi lễ “cầu ông bà tổ tiên”. Mùng ba Tết, trong lễ “thánh hóa công ăn việc làm”, con chiên mang một dụng cụ biểu trưng cho nghề nghiệp của mình đến đặt trên một cái bàn sát bên bàn thờ Chúa. Ví dụ thợ hớt tóc thì mang đến cái tông-đơ, thợ may thì cái kéo, còn nhà văn/nhà báo (thợ viết?) có thể bày ra cây bút ghép vào một cuốn vở… Lễ chấm dứt, mọi người hoan hỉ mang về nhà món đồ nghề đã được ban phép lành với niềm hy vọng sẽ được hành nghề, kiếm sống thuận lợi trong năm mới.

4.

Thờ phượng, lễ lạy trước bàn thờ Phật, thờ Chúa, thờ các thần linh muôn phương tại gia đình hay tại chùa, nhà thờ, đền, miếu… vốn là sinh hoạt thường xuyên, quanh năm suốt tháng của bất cứ ai có tín ngưỡng, có lòng tin vào thần thánh thiêng liêng, nhất là vào các kỳ Phật đản, Giáng sinh, Thánh đản, mùa vía Kỳ yên v.v… Nhưng riêng vào mùa Tết nguyên đán truyền thống – ngay giờ giao thừa năm cũ/năm mới hay trong chuyến hành hương “mười kiểng chùa” tháng giêng – thì việc hành lễ, cúng kiếng của mọi người lại mang một ý nghĩa tâm linh đặc biệt hân hoan, sống động.

Có lẽ mọi người rất dễ tự nhận ra rằng, trong giây phút mình trang nghiêm chấp tay, cúi đầu, khấn nguyện Trời Phật, Thánh Thần, tự nhiên mà cảm giác an lạc, hạnh phúc chợt nhẹ nhàng bừng sáng trong tâm hồn ta, và những khổ đau, lo nghĩ, phiền muộn như tạm lắng đọng vào bóng tối nguôi quên…

PHẠM NGA

 

Huyện đề, một thời cũ…

phamnga

1.
Ở tỉnh Khánh Hòa thời bấy giờ, sinh sau đẻ muộn hơn những đường dây ghi đề khác nhưng kỳ lạ là huyện ông Bảy/ bà Bảy, rất sớm phát đạt. Còn sớm hơn nữa là dân chơi đề đã nhanh chóng chỉ gọi gọn lỏn là huyện bà Bảy.
Ở căn nhà lầu trên phố Độc Lập, ông Bảy, thường ngồi ở nhà trước khi tiếp những người công khai, bình thường ra, vào bằng cửa trước khi đến giao dịch, làm ăn với đại bài gạo hay chuỗi nhà thùng cùng mang bảng hiệu Lý Phát của ông Bảy.
Còn ở nhà sau, tối tăm, ít sáng sủa hơn nhà trước thì bà Bảy, tức bà huyện, một mình giữ phần tiếp những người ra vào chỉ bằng lối cửa sau. Cánh cửa nặng nề này luôn luôn đóng kín, có người quen mặt gõ cửa mới mở hé. Người lách qua cửa luôn luôn có cùng một cung cách là thầm lén, vội vã, nhìn trước nhìn sau.
Nhờ mối quan hệ làm ăn lớn, rộng trước kia của dòng họ Lý, cộng thêm mối quen biết sát sườn hơn với những nhân vật – có chức vụ cao hay có tiền của, hoặc có cả hai thứ này – thường ngồi chung chiếu tứ sắc với vợ chồng ông Bảy, thì không có gì khó khăn, chậm lụt trong việc thu hút khách chơi và tuyển mộ người giúp việc tin cậy cho tổ chức cờ bạc mới ra đời, đầy triển vọng này. Có điều là trong nhà, bà huyện dành quyền chọn một đứa cháu ruột làm thư ký riêng cho bà. Một thanh niên có chữ nghĩa, tính toán nhanh nhạy và có nét chữ viết rõ ràng, sáng sủa. Còn ở ngoài cửa của huyện, những cánh tay nối dài của đầu não cờ bạc này được kín đáo dàn trải thành một hệ thống “chân rết”: hàng trên là các tay con, thay quyền chủ ở một khu vực, không trực tiếp ghi đề và thu tiền đánh mả chỉ tổng hợp kết quả làm việc của các tay ghi; hàng dưới là các tay ghi có nhiệm vụ ghi đề, ra biên nhận và thu tiền đánh của dân chơi đề.
Đối với dân mê cờ bạc trong khắp tỉnh, sức hấp dẫn của đường dây này là do tin đồn thường có người chơi trúng lớn và theo tin tức rỉ tai thì dễ trúng, trúng hoài khi bỏ tiền đặt số ở những tay ghi thuộc đường dây huyện bà Bảy. Do đó, từ trong những ngõ hẻm cho tới đường lớn, dân cờ bạc nô nức kéo tới những tay ghi đủ các cấp nhỏ, lớn – tất nhiên không hề thấy mặt chủ huyện.
Đúng là vào những ngày thứ ba hằng tuần, sau khi có kết quả thường lệ của cuộc xổ số kiến thiết quốc gia, nhà ông Bảy đều có chung trả những số tiền khá lớn cho một, hai người trúng đề nào đó. Nhưng số đông dân chơi số không hề được biết rằng, từ những tờ phơi (*) dày đặc những con số được mua và số tiền mua – còn gọi là tiền xác – do các tay ghi nộp về cấp trên, đến tay huyện là bà Bảy thu vô một số tiền thường là rất lớn. Chi trả xong cho số người trúng và trừ xong hoa hồng cho người chạy việc, chủ đề vẫn còn lợi chán. Đó là chưa nói tới sự hào phóng có tính toán của bà huyện đối với những tay con, tay ghi làm công cho mình nhưng có thể không hề biết mặt mình. Các tay ghi cứ giao phơi trước hạn bốn giờ chiều, hễ sau khi có kết quả xổ số mà trúng ngay tờ phơi trắng tức tờ báo cáo trắng, tức không có con số nào trúng thì lập tức được tay con đầu nhánh, đại diện chủ huyện thưởng cho một khoản đặc biệt.

2.
Khác với lối xổ số tự chọn kiểu Mỹ ngày nay đã biến vài người chơi thành tỷ phú, nếu trò đánh đề ngày trước có thể ít nhiều chó dắt mà mang đến cơ may làm giàu cho ai đó thì cũng chỉ dành cho người tổ chức cuộc chơi, tức chủ huyện, chứ không phải dành cho con bạc, tức dân đánh đề. Ngay cả những tay ghi, tức đại lý của cái huyện rất phát tài là huyện bà Bảy, cũng chỉ là người làm công, mà khoản hoa hồng cho tay ghi cũng chỉ có chừng có mực.
Hay là, muốn làm giàu thì các tay ghi cứ tự đi đánh đề? Câu trả lời là khi đó tay ghi biến thành dân đánh đề, tức con bạc, thắng không bù nổi thua. Thậm chí có vài tay ghi thường chỉ rước lấy nợ nần khi không dằn được máu cờ bạc, cứ đi chơi đậm ở cửa các “đồng sự” hay chơi luôn vào tờ phơi mình phụ trách. Nhưng tai hại cực kỳ là khi họ liều mạng bao một vài con số trong tờ phơi sinh tử mỗi chiều thứ ba ấy.
Ví dụ như có tay ghi tên là Tư Liều, từ lâu đã chíp bụng con 09. Chiều nay, có ai đánh đầu hay đuôi gì vào con số này thì y cũng giữ lại, không ghi vào tờ phơi nộp cho huyện. Sau giờ xổ số, một là khi con 09 không ra thì Tư Liều hưởng hết tiền xác, còn hai là ngược lại, y phải tự lo chung 1 đồng thành 70 đồng cho những người trúng con số này.
Hầu như, chỉ sau vài lần bao số, 100% những tay liều mạng, có tham vọng muốn làm chủ huyện cỡ cò con, đều hết vốn, vỡ nợ. Mười lần ăn được tiền xác cũng không bù nỗi cho một lần chung tiền trúng. Cứ thế, các tay bao đề sạch túi, tàn mạt không thua gì một tay mê số, chơi đề đã lâu ngày chày tháng.
Vận số lại khác hẳn đi đối với ông Bảy, một tay chơi cờ bạc cũng từng trải lâu năm lắm rồi. Con-người-cờ-bạc nơi ông Bảy đã hiển nhiên có một trình độ lọc lõi đến mức khác thường. Một mặt, ngay từ những lúc chễm chệ ngồi trong chiếu bài tứ sắc ở làng chài, dù chỉ để giải trí nhưng ông rất giàu kinh nghiệm ăn thua, không kém gì một tay chuyên nghiệp, cờ bạc để kiếm sống. Mặt khác, ông có những linh cảm đặc biệt, đủ để quả quyết sai con cháu, người giúp việc chạy đi ghi ngay lập tức một con số đề nào đó. Kết quả là ông Bảy thường thắng với bài tứ sắc, còn trúng đề thì lại càng thường xuyên hơn. Đến khi cùng vợ vô nghề huyện, kinh nghiệm và linh tính lại tiếp tục giúp cho ông tránh được nhiều trường hợp hao tài mất của, đặc biệt với sự giúp sức của một tay em mẫn cán tuyệt vời. Tay này không ghi số, cũng không gom tiền xác và làm phơi, mà chỉ thầm lặng chạy đây đó, làm trinh sát theo dõi tình hình thiên hạ đánh số vào đường dây của chủ và cả các huyện khác.
Ngày thứ ba này, ngẫu nhiên hay do một tin đồn râm rang từ sáng sớm, chợt một con số, ví dụ như 09, lại được rất nhiều người đánh vào đường dây huyện ông bà Bảy. Tiền xác ước lượng từ sáng đến trưa đã lên tới một con số khổng lồ. Lập tức, tay em trinh sát sẽ tìm mọi cách báo ngay về cho ông bà Bảy. Phản ứng trước tình hình con số 09 đột biến này, ông Bảy sẽ cố vấn cho vợ, có thể chọn một trong bốn cách đối phó để ngăn ngừa nguy cơ vợ chồng ông phải chung ra một cú khủng khiếp vào chiều tối.
Một là, không rõ do điều gì mách bảo, ông Bảy vẫn bình chân như vại, nhếch mép cười, cho bọn tay em “chân rết” cứ tiếp tục nhận cho dân chơi đề đánh vào con 09.
Hai là, ông ra lịnh khóa con số 09, không nhận cho ai đánh vào nữa – cũng có nghĩa là xúi cho dân chơi đề đi ghi ở các huyện khác.
Ba là, ông Bảy xuất tiền cho tay em thầm lặng đi đánh con số 09 vào các huyện khác. Nếu chiều ra con 09, các huyện khác sẽ chia phần chung tiền trúng cho dân chơi đề.
Và cuối cùng, phương cách thứ tư là hoàn toàn dựa vào linh tính xác quyết của ông Bảy. Trong giới cờ bạc có một từ ngồ ngộ, nói theo âm tiếng Tàu là “tả”, tức “đã” theo âm giọng Hán Việt, tức là đánh, đánh đập. “Tả” là kiểu cờ bạc mà may rủi nhân đôi lên: một là nếu gặp vận may mắn, cứ với tiền vốn của thiên hạ, người “tả” không hề bỏ vốn tiền xác ra một cắc nào mà lại được toàn bộ tiền trúng đề; hai là ngược lại, gặp vận rủi thì phải chung trả đầy đủ số tiền trúng cho người bỏ tiền ra đánh đề mà vận may đã thuộc về họ.
Như khi có niềm tin mạnh mẽ rằng con số 09 không thể ra, ông Bảy sẽ ra lịnh cho đàn em sớm sủa lấy hết số tiền xác của thiên hạ đánh vào con 09 đem “tả” hết vào một con số khác mà ông ưa thích, ví dụ con 18. Do bọn đàn em chia nhau đi “tả” vào số 18 ở các huyện khác bằng những số tiền đã được chẻ nhỏ ra từ số tiền xác của thiên hạ đánh con 09, nên các huyện khác không thể đặt nghi vấn về bàn tay lũng đoạn của ông bà Bảy. Rốt cuộc, theo kết quả xổ số, không có con số 09 mà có con 18, thì ông bà Bảy đã ăn may một lần nữa khi không hề bỏ ra xu nào mà lại thắng được bộn tiền nhờ cách đi “tả” như trên.
Phải là tay chơi rất cả tin và rất mặn máu cờ bạc mới dám chơi kiểu “tả”. Và phải là những tay được thần Đổ Bác nhiệt tình độ trì thì mới thắng lợi trong cách chơi bằng tiền người khác như thế. Cỡ những tay em bày đặt bao, giữ lại vài con số trong tờ phơi để kiếm chác chút đỉnh tiền xác, nay lại tập tành lấy số tiền xác đó đi “tả” thì chỉ càng sớm tiêu ma cuộc đời hơn thôi.

3.
Cùng là mê cờ bạc, mê đề nhưng dân chơi lại có nhiều chọn lựa khác nhau. Người không thích liều, chịu thắng ít nhưng dễ thắng với xác xuất cao thì chọn cách chơi bao hết các lô xổ, thậm chí với số tiền rất nhỏ.
Thời ấy, đài xổ số kiến thiết quốc gia tổ chức xổ tổng cộng 12 lô, từ lô đầu 2 con số cho đến lô độc đắc 6 con số. Bên cạnh đó, hầu hết các huyện đều qui định các tay ghi thực hiện “khuyến mãi”, tự động ghi tặng thêm 20% tiền xác cho ai đánh đến mức 10 000 đồng trở lên. Cũng có nơi chịu thối lại khoản 20% này, nghĩa là người đánh đọc cho ghi hết 10 000 đồng như chỉ cần trả 9000 đồng là đủ, nhưng thông thường dân chơi cho ghi thêm hết luôn khoản 20% mình được hưởng “khuyến mãi”. Ví dụ đánh con 35 lô đầu 10 000 đồng, phát sinh 1000 đồng “khuyến mãi” nên giấy biên nhận ghi thành 11 000 đồng. Vậy, ví dụ như bao con 35 ở 12 lô, mức 1000 đồng mỗi lô, tức bỏ ra tổng cộng 12 000 đồng, cộng “khuyến mãi” 20% là 2400 đồng nữa, coi như bỏ ra 14 400 đồng nên biên nhận sẽ ghi là 1200 đồng mỗi lô. Lúc này người chơi có đến 12 cơ hội để trúng 1200 đồng x 70 = 84 000 đồng, trừ đi 12 000 đồng vốn chơi, cũng còn lợi được gấp 6 lần vốn chơi.
Người nặng máu ăn thua hơn thì vừa đánh bao lô vừa tăng chút tiền đánh ở lô đầu và cuối. Ví dụ, có thể bỏ ra 12 000 đồng đánh bao lô con 94, mỗi lô sẽ được ghi là 1200 đồng – nhưng dân chơi lại bỏ ra 14 000 đồng, theo nghĩa bỏ ra thêm 2000 đồng để đánh riêng cũng con 94 ở lô đầu và lô cuối, mỗi lô 1000 đồng nữa. Vì số tiền 2000 đồng là thêm vào 12 000 đồng, đã trên mức 10 000 đồng nên cũng tự nó nảy ra khoản 20%, tức 2000 đồng đẻ ra thêm 400 đồng, chia đôi vào hai lô đầu và cuối, tức rốt cuộc ở hai lô đầu và cuối sẽ được ghi là 1200 đồng + 1200 đồng, thành 2400 đồng. Rồi nếu kết quả xổ ra, 11 lô đều trật hết, may mắn chỉ đến với phần đánh riêng là lô đầu hoặc lô cuối thôi cũng đều đẹp. Người chơi vừa trúng được 2400 đồng x 70, thành 168 000 đồng, trừ đi 14 000 đồng tiền đánh, còn thắng 154 000 đồng, gấp hơn 10 lần tiền vốn chơi.
Rất thú vị kiểu chơi đề an toàn như trên, theo nghĩa có thua thì cũng thua rất ít. Một khi cứ chấp nhận mức chơi khiêm tốn, đánh nhỏ, người chơi tránh xa được một thảm nạn rất lớn, như thực tế thỉnh thoảng từng xảy ra, là các huyện trốn tránh, lánh mặt – giới cờ bạc gọi là “xù” – không chung những số tiền thắng đậm từ những số tiền xác quá lớn. Và cũng nên cầu nguyện cho họ có thể thường trực tự kềm chế, giữ mãi lối chơi “cò con”, vì theo tâm lý cờ bạc, nếu ngày nào cũng trúng mà chỉ trúng quá nhỏ, quá ít, đâm ra chán nãn và sốt ruột. Lúc này con ma đề sẽ ra tay xúi dục họ sanh tâm đánh lớn, đánh nhiều tiền hơn để mong “trúng cho đáng!”.
Khi ấy, Thần Tài sẽ ngán ngẩm, bỏ rơi đứa con ngoan, khiêm tốn chơi bạc cò con của mình, có nghĩa là con bạc say máu đã bước ra khỏi kiểu chơi an toàn và thảm họa khó tránh sẽ lừng lững đến với họ…

(*) Phơi: gốc chữ feuille tiếng Pháp, nguyên nghĩa là chiếc lá, tờ giấy. Ở đây chỉ tờ giấy mà các tay con, tay ghi trình bày báo cáo tổng kết với cấp trên về tình hình số tiền xác anh ta thu được, phân ra theo liên hệ (đánh lô đầu, lô cuối hay bao lô) với từng con số, từ con 00 đến con 99. Ví dụ: Trên tờ phơi của một tay con báo cáo tổng kết theo 3 cột, phần đầu các cột có dòng “120 – 01 – 80” hay ở cuối có dòng “150 – 94 – 25”, có nghĩa con 01 được dân chơi đánh ở lô đầu tổng cộng 120 000 đồng và 80 000 đồng ở lô cuối; tương tự, con 94 được đánh tổng cộng 150 000 đồng và 25 000 đồng.

PHẠM NGA
(Trích truyện kỳ ảo HỒN MA BIỂN, Saigon 2016)

Bánh Snack Ăn Được Nên Khách Hàng Hỏi Nhiều

phamnga

Sáng nay thứ bảy, được nghỉ học nên nhỏ Na muốn ngủ nướng một chút nhưng đành chỗi dậy vì sực nhớ một việc quan trọng mà mình đã lên kế hoạch chu đáo cho bữa nay. Vừa đi vừa nhảy như chim sáo, nhỏ xuống nhà sau đánh răng, rửa mặt. Làm vệ sinh cá nhân xong – cũng xong luôn hộp cơm tấm trên bàn bếp và hũ yaourt trong tủ lạnh, nhỏ xin phép mẹ qua nhà nhỏ Liên hàng xóm chơi bán hàng, như kế hoạch hai đứa đã lên từ hồi đầu tuần.
Trò chơi “bán hàng” hay “bán đồ hàng” của mấy bé gái thường rất giản dị là trải chiếc chiếu hay tấm thùng cạc-tông dưới đất, coi đó là gian hàng, tiệm, gian hàng, cửa hàng, cửa hàng tiện lợi, siêu thị, siêu thị mini… gì gì cũng được. Nếu cần phải đăng ký ngành hàng kinh doanh thì căn cứ vào đủ thứ linh tinh được bày ra, chủ gian hàng bữa nay là nhỏ Na có thể kê khai là bán thực phẩm bánh kẹo, và tuy không khai luôn là có kinh doanh ăn uống nhưng cũng có thêm một ít mặt hàng giải khát nữa.
Như đã nói, đủ món linh tinh đang được bày ra trên chiếc chiếu trải ra dưới gốc cây bàng trước nhà nhỏ Liên. Món thì lấy ra từ thùng đồ chơi trong nhà, món thì lượm được ở sau hè hay ngoài đường xứ. Bên cạnh bộ tách trà nhựa nhỏ xíu có chế nước phông-tên là mấy cái nắp chai nước ngọt được coi như những cái dĩa dùng để đựng những viên sõi vốn được phân biệt một cách mơ hồ, nào là kẹo dừa, nào là kẹo xô-cô-la và cả kẹo trứng cút…. Không lầm vào đâu được là cái món xi-rô dâu mà nhỏ Na rất thích đang được chứa trong cái chai pet đầy nước, có màu đỏ nhạt nhưng thật tươi do mấy cây chưn nhang nhả màu ra khi được cắm thẳng vào chai. Còn lá cây ngắt đại ở đâu đó thì được qui ước vừa là món bánh xu xê vừa là khăn lau tay. Tự nhiên có hai ã búp bê ngồi im ắng cạnh một cái võ chai có cắm hoa giấy ngắt ở hàng rào. Không rõ các ả này có chức năng quan trọng gì tại gian hàng này hay không nhưng nhất định đây là nhỏ Na muốn trang trí cho đẹp cơ ngơi buôn bán vậy mà.
Kể cả trong giấc ngủ mơ vào ban đêm cũng như giữa ban ngày, mấy thứ búp bê, bông hoa, gương lược…, lúc nào mà chẳng theo sát tụi bé gái – tức những quí cô yểu điệu nhì nhằng, rắc rối sau này.
Theo thị hiếu không cần nói ra của người tiêu dùng – ở đây đang duy nhất chỉ có cô khách hàng trung kiên là nhỏ Liên – thì những thứ không ăn được, uống được như kẹo sõi, bánh xu xê lá cây, nước xi-rô giải khát đỏ màu chân nhang…, không thể nào được ưa chuộng cho bằng món bánh snack tôm ăn được, cứ vừa dòn vừa thơm lừng khi đưa vô miệng. Cô khách đặc biệt hã dạ khi gặp bữa chủ gian hàng có bày ra cái món vắng bóng hôm nay là bánh snack bắp ngô, màu vàng tươm như bắp Mỹ, thơm ngon cực kỳ. Chỉ tưởng tượng những miếng snack ngô dòn tan trong miệng thôi là nhỏ Liên đã nhễu nước miếng… Nhưng người bán đã lên tiếng, tàn nhẫn dập tắt giấc mơ Mỹ – giấc mơ huy hoàng mang màu vàng chói lọi của snack bắp Mỹ – của khách mua:
“Sao cứ bánh tôm hoài vậy? Còn bánh xu xê nè, kẹo xô cô la, kẹo dừa nè, sao hổng mua? Bà chơi kiểu này thì tui hổng cho bà làm khách hàng nữa đâu nhe!”
“Thì tui cũng mua cái này cái kia vậy…”, nhỏ Liên gượng gạo thanh minh.
“Sau khi bà ăn hết sạch bánh tôm. Phải hôn?” – nhỏ Na mỉa mai.
Lâu nay, khi chơi bán hàng, nhỏ Liên không hề phàn nàn gì về chuyện nhỏ Na thường xuyên phân cho mình vai khách mua hàng – quá có lợi thì sao lại thắc mắc, than thở ? Tuy nhiên, đã đến lúc phải coi chừng vì chủ gian hàng vừa mới lên tiếng chỉ trích khác hàng về một vấn đề chưa từng bị đem ra đề cập trong trường kinh doanh nội địa cũng như nước ngoài, một vấn đề gần như thuộc về khía cạnh đạo đức của khách hàng, đó là cái lỗi cô ta cứ chăm bẵm mãi vào cái món bánh snack tôm. Thường thì hai bé gái cùng trang lứa này gọi nhau là bạn như kiểu xưng hô trong lớp học nhưng vừa rồi, bực mình quá sức nên nhỏ Na mới dùng tiếng bà, nghe rất hằn học, xa lạ.
Nói là làm, cô chủ gian hàng đứng dậy và ra lịnh đổi vai, đổi chỗ ngồi. Kế đó, để làm gương, nhỏ Na bỏ “tiền” ra mua luôn một lô bánh xu xê và kẹo trứng cút, tức toàn những thứ hàng không ăn được, chẳng màng đến món bánh snack mà dù sao nhỏ cũng đã từng vòi mẹ mua cho ăn quá nhiều rồi.
Chợt nhỏ Na nhớ tới một chuyện tiếu lâm rất vui do ba nhỏ kể, có liên quan hơi hơi đến trò chơi hiện giờ của nhỏ. Truyện kể có hai ông bợm rượu, đại khái tên là Giáp và Ất, muốn kiếm kha khá tiền mua rượu uống nhưng lại làm theo một cách rất mạo hiểm là cùng trút hết số tiền có trong túi, hùn nhau làm vốn đi buôn rượu và chỉ mỗi Giáp là còn được duy nhất một quan tiền riêng giắt túi. Hai ông hè nhau khiêng một bình rượu lớn, đi rao bán khắp xóm làng. Đi mỏi cả chân cũng chẳng có khách nào gọi mua, hai ông bèn kiếm chỗ mát ngồi nghỉ. Đến cơn thèm rượu, Giáp đề nghị bạn mình đong ra vài xị rượu để cùng uống đỡ ghiền nhưng Ất đã nghiêm nghị từ chối, bảo đây là rượu buôn bán, đem ra uống khơi khơi thì lỗ vốn mất. Quá thèm, Giáp đành đóng vai khách hàng, móc ra quan tiền của mình mua một cốc rượu từ tay Ất và do ghét cái thói “nghiêm túc” của bạn nên uống một mình ngon lành. Đến lượt Ất không chịu nỗi cái mùi men quá hấp dẫn, định dùng quan tiền mới thu được của Giáp mua rượu từ bạn mình thì đến lượt Giáp nghiêm trang lắc đầu, bảo rằng quan tiền đã là tiền quĩ chung mới thu được và giao cho Ất giữ, không phải là tiền riêng của Ất nên bạn miễn xài. Ất nài nĩ bạn, đề nghị cho mình khất nợ đối với quĩ chung và khi nào bán hết rượu, trả vốn và chia lãi thì sẽ trừ lại quan tiền này trong phần của Ất. Giáp đồng ý, lấy sổ ra ghi nợ cho bạn mình rồi rót rượu. Để trả đũa, Ất một mình uống sạch cốc rượu. Chẳng bao lâu, đến lượt Giáp ghi nợ một cốc. Rồi đến lượt Ất ghi nợ lần nữa… Cứ thế, luân phiên làm người bán/người mua, hai ông bợm đã ghi nợ cho nhau – thời này gọi là ‘bán nội bộ, cho trả chậm’ – đến cạn sạch bình rượu. Hai bợm ta cùng say khướt, túi ai nấy vẫn rỗng không vì khi kết thúc thương vụ kinh doanh rượu tưởng như vô cùng nghiêm túc này thì rốt cuộc khi kết toán quỹ chung, vốn cùng lãi thu được cho “công ty” chỉ được võn vẹn một quan tiền duy nhất.
Trở lại với gian hàng bán hàng kẹo bánh, đồ giải khát linh tinh của nhỏ Na hiện giờ thì dù cũng có màn chủ hàng/khách hàng đổi vai cho nhau, nhỏ vẫn yên tâm rằng việc kinh doanh của mình không đến nỗi bị đe dọa phá sản như kiểu đi bán rượu của hai ông bợm trong truyện, đó là nhờ mấy miếng bánh snack dù sao cũng ít bị nội bộ xâm hại hơn là bình rượu của hai ông bợm kia.
Trong mối quan hệ chủ hàng/khách hàng ở đây, có hai điều kỳ lạ diễn ra hoàn toàn trái với tập quán thương mại xưa nay trên toàn thế giới. Một là về mặt hàng hấp dẫn nhất, bán chạy nhất thì trớ trêu chủ hàng lại không hề mời chào, khuyến khích khách mua. Hai là về các mặt hàng còn lại thì dù có được khuyến mãi hay tặng kèm quà thật hậu hĩ đi nữa, khách hàng cũng chỉ miễn cưỡng mua qua quít, chiếu lệ cho vui lòng người bán, chứ thật tình trên đời này, người tiêu dùng nào ưa được những món hàng mua rồi chỉ để nhìn mà không thể “tiêu thụ” được?
Cũng nên để ý một chút về chuyện tiền tệ, ngân lượng trong thương trường cá biệt này. Cô chủ chủ trương dùng những tờ vé số cũ – dĩ nhiên là đã được ai đó dò lâu rồi và cũng dĩ nhiên là đã không trúng lô nào. Tuy nhiên, cho phù hợp tầm cỡ cái gian hàng bán hàng linh tinh, đơn sơ và nghèo nàn, chỉ có vài thứ kẹo bánh bình dân chứ không có hàng cao cấp này, nhỏ Na ra qui định là dù vé số nào cũng in ra với giá 10,000 đồng rành rành, nhưng tại sàn tức cái chiếu bày đồ hàng này – hiển nhiên phân biệt với các sàn giao dịch chứng khoán, vé số đài Sài Gòn thì trị giá 2000 đồng, còn vé của các đài tỉnh hay thành phố khác thì chỉ coi như 1000 đồng. Ví dụ như khi đưa ra một tờ vé đài Sài Gòn hay đưa tương đương là hai tờ vé đài Long An, nhỏ Liên khách hàng đều có thể mua được một số món hàng mà cô chủ đã dặn tới dặn lui không biết bao nhiêu lần là đồng giá 2000 đồng, như: một miếng bánh snack tôm hay bốn viên kẹo xô-cô-la ‘sõi nâu’, hoặc sáu viên kẹo dừa ‘sõi trắng’.v.v…
Có điều là về vấn đề giá cả thị trường, đối với cô khách này thì dù có khi cũng chưa thuộc lắm về trị giá các mặt hàng dạng ‘không ăn được’ như mấy loại kẹo, nhưng tuyệt nhiên bao giờ cô cũng thuộc nằm lòng giá các loại bánh snack, tức dạng hàng ‘ăn được’.
Kể ra, dù qui định rạch ròi về trị giá trao đổi giữa tiền tệ và hàng hóa bất cứ ở dạng nào như trên, cô chủ gian hàng đã có ngầm chiếu cố cho khách hàng duy nhất của mình – một mẫu khách hàng đầy tiềm năng nhưng cũng rất cần nâng đỡ do thực tế là nhân thân cô ấy còn nhiều khó khăn, ít tiền ít bạc, ít được ăn quà bánh… Rõ hơn, dù cô ấy không được đánh giá cao về tính siêng năng sưu tầm vé số cũ như một trò đầu cơ tiền tệ nhưng vẫn được hưởng chế độ “đặc biệt chiếu cố” khi mua hàng.
“Ê bán cho gói xì-nắc coi! Mấy ngàn hả?”
Đang tạm ngưng mua bán để cùng nhau nhặt nhạnh rác rến thì hai cô nhỏ chợt nghe vang lên từ ngoài đường cái giọng khó ưa như thế, nhất định là phát ra từ loại khách hàng không thân thiện.
Không cần quay mặt nhìn ra đường, hai cô nhỏ cũng biết ngay tác giả của cái giọng trỏng trơ, khó nghe ấy không ai khác ngoài một tên con trai có mái tóc ngắn ngủn, lởm chởm, y như trái chôm chôm khô quắt khô queo do thiếu nước tưới trong mùa nắng hạn.
Thì lâu nay, mấy nhỏ đâu lạ gì cái mặt của cái tên nhóc này, vốn ở xóm trên và học cùng trường nhưng khác lớp. Từ hồi nào không biết, cậu ấy – ba nhỏ Na có dạy là khi nói, gọi ở ngôi thứ ba, phải gọi là cậu ấy hay cậu đó, đừng gọi là cẩu, như gọi ổng, bả, ảnh, chỉ… thì nghe kỳ lắm, vì cẩu là từ gốc tiếng Hoa đọc theo âm tiếng Việt mình, dùng để chỉ…con chó – được tụi con gái tặng cho một tên gọi riêng rất gây ấn tượng là thằng “đầu đinh”. Nếu cái gọi là bộ tóc dài chỉ nửa phân đều tăm tắp của cậu ấy mà được nhuộm vàng, nhuộm nâu nữa thì có thể nói tên nhóc ‘đẩu đinh’ là một phiên bản thu nhỏ một cách thảm hại từ những diễn viên Hàn Quốc chuyên đóng vai những gã thanh niên hay những cậu tuổi teen nông nổi, ồn ào, quậy phá trong ‘rừng’ phim của xứ này được phát tối ngày trên ti-vi.
“Bán cái gì hả? Lần trước tụi này đã nói rõ ràng là không thích bán bất cứ thứ gì cho bạn rồi mà!”
Nhỏ Na trả lời rất lớn giọng, cứ như e rằng đứa nào bày đặt để tóc “đầu đinh” thì thường bị lãng tai.
Tên “đầu đinh” đang ngồi chông chênh trên chiếc xe đạp leo núi bánh gai đậu nghênh ngang gần ngay giữa mặt đường. Nhóc “đầu đinh” cũng không bận cái áo nào khác ngoài cái sơ-mi sọc ca-rô đỏ, đen trông rất chướng mắt và đang chăm chú nhìn vào gian hàng hàng của nhỏ Thủy. Nhưng thằng nhóc lặng thinh, chừng như lúng túng, không biết nói sao trước lời từ chối thẳng tưng, lạnh lùng của chủ gian hàng.
Thình lình nhỏ Liên lại bật ra một câu hỏi với tên “đầu đinh”, cái câu mà sau này bị nhỏ Na trách là ‘vô duyên hết chỗ nói’ vì vô tình lại giải vây cho cái thằng khó ưa:
“Mà bạn làm gì có tiền để mua xì-nắc?”
Tất nhiên là nhỏ Liên muốn nói đến loại tiền vé-số-xổ-rồi-không-trúng lưu hành tại thị trường đặc biệt này, chứ không phải nghi ngờ rằng một cậu ấm con nhà giàu, ngụ trong một căn phố mới cất tới ba tầng lầu ở xóm trên là không có xu nào giắt túi.
Mắt sáng lên, tên nhóc “đầu đinh” lập tức móc trong túi ra mấy tờ tiền giấy 5,000 đồng, 10,000 đồng lẫn lộn và hí hửng nói:
“Bạn khùng chắc, tui mà hổng có tiền? Muốn bao nhiêu cứ nói. Mà mấy bạn bán bao nhiêu tiền một bịch xì-nắc hả? Hay là…, ở tiệm tạp hóa bà Tư thì ba ngàn rưởi, giờ tui hổng có tiền lẻ thì gởi các bạn năm ngàn luôn, lấy một bịch, khỏi thối lại, được hông?”
Đúng ra nhỏ Na muốn trừng trị ngay lập tức cái con bạn ngớ ngẩn, hậu đậu lời ăn tiếng nói đang ngồi bên cạnh nhưng để giải quyết hồ sơ cái tên “đầu đinh” đang chãnh chọe đứng kia cho xong đã:
“Cũng không bán là không bán! Đừng có tưởng là đưa ra nhiều tiền, dư tiền là tui bán cho đâu nha. Mà tụi này đâu có xài tiền đó, biết không hả? Mời đi chơi chỗ khác đi, đừng quấy rầy chỗ buôn bán của người ta!”
Có thể nói chưa bao giờ một cậu trai tóc tai sành điệu thế kia, còn là đại diện thật trẻ trung cho giới nhà giàu thời đại, lại bị tụi con gái nhà nghèo – nghèo mới buôn gánh bán bưng lê lết ở lề đường – khi dễ đến như vậy.
Dựa trên cơ sở nào mà tụi nhà nghèo mà chãnh này dám vừa chê tiền vừa lớn tiếng đuổi nhà giàu đi khỏi chỗ buôn bán gì đó của tụi nó?
Tự ái dồn dập là chắc rồi, tên “đầu đinh” còn hoang mang, không hiểu nỗi lý do tại sao nhỏ Na lại nói không xài tiền do cậu ta đưa ra.
Nói đúng ra, xưa nay dù cho có ngẫu nhiên vào một sáng thứ bảy nghỉ học mà bị rơi vào tình cảnh không có bạn chơi hay trước đó đã chơi chán mọi trò ồn ào, mạnh bạo theo kiểu con trai, thì tên “đầu đinh” cũng không đến nổi gì mà phải mò xuống xóm dưới, tìm cách tiếp cận với cái trò bán đồ hàng tủn mủn, vớ vẩn của tụi con gái. Và theo kiểu dân xóm trên với xóm dưới chỉ biết mặt, biết nhà nhau mà thôi – còn chưa biết rõ tên nhau nữa kìa, cậu con trai dù có nảy ra ý muốn chính thức làm quen đi nữa thì chắc cũng không xin vào chơi chung với hai đứa gái kia. Chẳng qua là vài lần trước đây, khi một mình đạp xe dạo chơi quanh quẩn trong khu phố, quá rảnh rỗi nên nhóc “đầu đinh” đã chợt để ý đến chỗ hai đứa con gái trải chiếu ngồi chơi trên vĩa hè. Cái cảnh tụi con gái giả bộ buôn bán qua lại mấy thứ vừa ăn được, vừa ăn không được cũng ngộ ngộ nên cậu ta muốn, bằng một cách nào đó, đến gần hơn nữa cái gian hàng độc đáo của nhỏ Na. Từ ý đồ đơn giản ấy, bữa nay tên “đầu đinh” đã quan sát từ xa và ghi nhận được là tại gian hàng chỉ có món snack tôm là quen thuộc để có thể hỏi mua chơi – một cái cớ rất bình thường mà cậu nghĩ là phù hợp hoàn cảnh để mở lời, chứ xì-nắc xì-niếc gì thì cậu cũng đã ăn chán chê rồi. Còn lại thì dù có thấy rõ ràng cả xấp vé số xếp thành chồng trên mặt chiếu kia, tên “đầu đinh” đã chẳng thể nào nắm được đó mới là loại ‘tiền’ được chấp nhận tại chỗ buôn bán đặc biệt này, đồng thời những tờ tiền giấy thứ thiệt 100% trong túi cậu lại là vô giá trị.
Bị từ chối, người khách hàng khó ưa – nói theo tụi con gái – đành làm thinh, tiu nghỉu đạp xe đi. Nhỏ Liên nhìn theo giây lát thì bỗng nhăn mặt, ôm bụng đứng dậy:
“Hổng biết sao bụng tui đau quá! Bạn ngồi đây bán một mình nhe, tui đi… một chút.”
Nhìn theo bạn mình đang chạy thiệt lẹ xuống nhà sau, nhỏ Na định thần nhớ lại… Nảy giờ con nhỏ này chỉ ăn toàn là snack, đâu ăn món gì không-ăn-được, cũng đâu có uống nước xi-rô dâu chưn nhang? Vậy mà hô đau bụng, thiệt rộn chuyện! Cô nhỏ chỉ bực mình về bạn mình chút vậy thôi chứ khi nhỏ Liên trở lại chiếu bán hàng, cái mặt vẫn còn “đau khổ” vì bụng vẫn đau ngâm ngâm thì nhỏ Na cảm thấy rất thương bạn, bèn đề nghị “Để tui chữa cho!”
Rồi mặc kệ sự ngạc nhiên của bạn, nhỏ Na làm đại theo những lời truyền dạy của mẹ. Nguyên trước đây, mẹ nhỏ có học chữa các bệnh thông thường bằng cách bấm, ấn huyệt gì đó ở chùa và các ni cô đã dạy là muốn trị chứng đau bụng thì rất dễ: cứ dùng ngón tay xoa xung quanh rún và ấn vào cái huyệt tên gì đó cách phía dưới rún ba đốt ngón tay. Kết quả hiện giờ là cô bệnh nhân dần dần hết đau bụng thấy rõ, vượt cả sự mong đợi của cô “thầy lang” nghiệp dư. Kỳ diệu hơn nữa, đây là lần đầu tiên nhỏ Na chính thức trổ tài chữa bệnh cho người khác. Trước đây, nhỏ nghe theo mẹ mà thử trị cho chính mình trong vài lần bị đau bụng thì kết quả nói thiệt chỉ bữa đực bữa cái thôi.
Đối với đa số phụ nữ, không loại trừ bé gái, hễ có gì thắc mắc thì hỏi ngay chứ không thể nào chịu nhịn lại mà để dành qua lúc nào khác mới hỏi. Và tất nhiên, quí bà quí cô thường cứ tuôn ra liên tiếp nhiều câu hỏi chứ không hề bằng lòng với một câu hỏi duy nhất. Đặt câu hỏi liên tục, vô tội vạ, nghe chuyện nọ thì hỏi “xọ” qua chuyện khác không thôi vẫn vốn là điều không tránh khỏi trong khuôn khổ vô hạn của cái tật “tám” chuyện kéo dài qua ngày tháng của vô số các bà, các cô “ăn ở không” hay rỗi việc hoặc khi họp riêng tư vài ba chị em. Rồi với các nhỏ gái – điển hình như nhỏ Liên lúc này – mà cái tật hay thắc mắc, hỏi han đủ thứ ở tuổi lên ba vẫn cứ giữ gần như nguyên vẹn tần số và cường độ ở tuổi lên tám, thì:
“Ngộ thiệt ta, cứ vẽ vòng vòng chỗ rún thì hết đau bụng, thiệt vậy sao hả?”
Và “Bạn hay thiệt, làm sao bạn biết làm vậy hả?”
Rồi “Hay thiệt, mà bạn học chữa đau bụng ở đâu vậy hả? Ai dạy vậy hả?” …
Tội nghiệp cho nhỏ Na, người đang được bạn hết sức khâm phục và ái mộ nhưng hiện không hề rảnh rỗi, thoải mái để hỉnh mũi tự hào vì đang bị biến thành người bị hỏi, tức bị tra tấn bởi hàng loạt câu cứ kết thúc theo kiểu “vậy hả?”, y như kiểu thoại lồng tiếng trong các phim bộ Hồng Kông. Nhỏ Na chỉ trả lời qua loa, thật ngắn gọn trước chuỗi câu hỏi đầy thán phục và cảm mến của bạn, với hy vọng là nhỏ Liên không bám ngay vào mỗi câu trả lời mà hỏi nữa, hỏi hoài…
Dù sao thì ở chỗ buôn bán này, cái vai thầy lang chữa bệnh có hay ho cách mấy đi nữa thì cũng phải sớm trả lại đất diễn cho vai người bán hàng. Vừa dọn dẹp hàng họ cho nhanh vì đã trưa rồi, nhỏ Na nghĩ thầm trong bụng – không thể nói ra vì nhất định hễ nói là bị hỏi này nọ nữa – rằng cũng may, tại gian hàng nay “chủ đầu tư” là mình đây đã ra tay chữa đại, ai dè con Liên “khách hàng” cũng hết đau bụng. Chứ nếu bữa nay nó không hết bệnh, mai mốt có ai biết rồi đi méc thì không chừng gian hàng của mình sẽ bị công an dẹp vì bán đồ ăn tầm bậy tầm bạ, làm người ta mua ăn là bị đau bụng, ỉa chảy!

PHAM NGA
(Trích truyện kỳ ảo NHỎ NINA VÀ NHỮNG BÓNG QUẾ, Saigon 2016)

Sydney, Những Ngày Hạ Xanh

phamnga

Đi trên đường John, cứ ngỡ Sài Gòn một dạo;
Ngồi Cà phê 86, cứ ngỡ tưởng Brodard.
*Nguyễn Ngọc Thành

1.
Tôi đến Sydney vào cuối tháng 11. Nghe vậy, một người bạn vui vẻ nhắn trên facebook “OK, ở đây đang cuối xuân đầu hạ. Còn vài cơn mưa nhưng nói chung là ấm áp, mát mẻ…”. Lần đầu tiên đặt chân đến nước Úc, rồi ở được vài ngày, tôi lại thấy cái ‘nói chung’ trong message của anh bạn có hơi khác trời thực đất thực một chút. Trước hết, thời tiết ở đất Úc – ghi nhận cụ thể là thành phố Sydney, nơi tôi sống gần 3 tháng – phải nói là lạ lùng. Giữa mùa hạ, giữa những chuỗi 3 – 4 ngày thật nóng đột ngột có một ngày lạnh, bất kể hôm đó không mưa hay có mưa. Hoặc sáng ra, mới sớm mai chỉ thấy nắng, nóng nhưng đến trựa lại đổi qua lạnh, lạnh luôn đến chiều tối. Có ngày, đã biết trước là 37-38 độ C nhưng sáng sớm, mở cửa bước ra đường thì phải có áo ấm, khăn choàng cổ vì lạnh đến 16 -17 độ C.
Do thời tiết kiểu Nắng Sydney, anh đi mà chợt… lạnh – xin lỗi dám nhái thơ Nguyên Sa – nên chỉ ở Úc đôi ba ngày thôi là tôi đã rành ngay việc theo dõi bản tin thời tiết trên tivi địa phương. Khi đã nắm được thông tin dự báo nắng mưa, nóng lạnh, tôi có thể dạn miệng, thoải mái cùng mọi người trong nhà bàn tính cho ngày mai, ngày kia, tuần tới… sẽ đi đâu, là đi chơi xa hay chỉ là đi shop gần nhà, sao cho thuận với “thiên thời”, cũng như chuẩn bị cho chu đáo mọi thứ, từ nón rộng vành, áo lạnh, giày vớ cho đến dù ô, áo mưa, khăn choàng cổ …
Căn nhà tôi ngụ nằm trên một ngọn đồi nhỏ, có vẻ như là điểm cao nhất khu vực Cabramatta West, thuộc Fairfield City, phân khu hành chánh phía Tây của thủ phủ Sydney. Điều thú vị là ngày mùa hạ ở Úc rất dài, khoảng 6 giờ đã sáng bửng và đến 8 giờ đêm mới tắt hẳn ánh mặt trời.
Ngày dài/đêm ngắn vào mùa hạ tại Úc phải nói là quá hớp nếu đem so “Tháng 5, chưa nằm đã sáng” – hiện tượng ngày dài/đêm ngắn vào mùa mưa ở Việt Nam như một câu tục ngữ mô tả. Nếu so sánh trong cùng một chặng tháng 10, tháng 11 trong năm, ở Việt Nam có “Tháng 10 chưa cười đã sáng”, tức hiện tượng ngày ngắn/đêm dài vào mùa khô của ta, thì tháng 11 tại Úc có lẽ là “Cười mỏi miệng chưa thấy tối”, ngược ngạo hoàn toàn!
Mùa hạ, ngày rất dài, dường như để tăng thêm thời gian mỗi ngày cho người ta hưởng thụ cuộc sống nhiều hơn. Ở trung tâm Cabramatta, sáng ra thông thường 9 giờ các tiệm ăn, điểm tâm, cà phê – nói chung là sinh hoạt đường phố – mới mở cửa. Người ta ăn sáng hoành tráng, bữa trưa ăn nhẹ hoặc bỏ luôn, cũng không ngủ trưa như người Việt trong nước. Chiều đến, người ta thường dùng bữa tối sớm. Đặc biệt vào những chiều tối ngày thứ sáu, tức mai nghỉ week end, nhiều gia đình đưa nhau đi ăn ngoài nên các nhà hàng, quán tiệm đông nghẹt khách và kiếm chỗ đậu xe rất gian nan.
Cứ sáng sáng, giấc 6 giờ là tôi cùng anh sui – nhà thơ Nguyễn Ngọc Thành, lặng lẽ mở cổng đi ra đường trong khi cả nhà còn ngủ. Không rõ về những khu vực khác của quận Fairfield ra sao, riêng ở vùng ngoại ô này thì khách đi hướng nào cũng gặp công viên. Công viên cái lớn cái nhỏ đủ cỡ, nối tiếp nhau liên tục. Khách ra khỏi một công viên ở phần đường bên này, vừa sang đường bên kia đã thấy lấp ló cái khung cổng dẫn vào một công viên khác. Cùng là công viên nhưng cái có tên, cái không tên, cái từ xa đã thấy chan hòa màu sắc xanh, đỏ rực rỡ vì được đặt thêm những xích đu, cầu tuột cho con nít chơi; ngược lại là vài cái khá hiu quạnh như bị bỏ bê, cây lá rậm rạp um tùm, chắc lâu lắm rồi chẳng ai cắt tỉa và đến một dãy bờ rào cho phân biệt cũng chẳng ai dựng cho. Rồi có loại công viên lớn bao la nhưng thực chất là một sân đá banh cùng nhiều bãi đánh bi sắt và chỉ có một lối đi bao quanh sân banh là dành cho người đi bộ. Hay ở công viên Cabra-Vale Memorial Park với đài tưởng niệm tử sĩ uy nghiêm, đường bệ – nằm ở góc đường xe lửa PDE với Bartley St., thì ở đây dù cũng có đầy đủ bồn bông, thảm cỏ, lối đi bộ, băng đá…, nhưng khu tưởng niệm mới là chủ đề, lý do chính để chính quyền Fairfield xây dựng công viên này từ năm 1919.
Tôi kể lể dài dòng về mảng công viên trong một khu phố không lớn lắm như trên có lẽ do cảm giác rất dễ chịu, êm ả mỗi lúc bước ra đường thả bộ. Phần vỉa hè của con đường nào cũng vậy, thường rộng rãi và luôn có lối đi đổ bê-tông cỡ 1 mét ngang dành cho người đi bộ, cũng như tràn ngập những vạt cỏ và hoa dại viền hai bên lối đi và ô đất trồng cây lấy bóng mát. Nhà dân Úc vùng ngoại ô hầu hết làm theo theo kiểu một trệt, một lầu và gỗ được sử dụng nhiều. Nhờ vậy, trước mắt khách đi đường, không gian sống thong dong dàn trải theo chiều ngang, mềm mại theo màu xanh cây lá và chất liệu gỗ, chứ không như khung cảnh đường phố bên mình thường hiếm hoi màu xanh cây lá, cứng nhắt và bó rọ với toàn vách tường, cột xi măng và hễ có cơ hội thì chỉ phát triển theo chiều cao, được nhiều tầng càng tốt do đã bị khóa cứng chiều ngang như kiểu nhà liên kế, phố nhà ống.
Nhắc đến nhà kiểu nhà ống chung vách, san sát nhau ở Sài Gòn mới nhớ là ở xứ Chuột Túi, nhà nào cũng có sân trước, sân bên khá rộng, nghĩa là từ trong nhà, bốn phía nhìn ra cửa đều thấy các mảng xanh của bầu trời, của cây lá vây quanh nhà. Do mặt bằng thong thả, hầu hết chủ nhà chỉ cất nhà một phần của lô đất, còn lại là sân cỏ có cây xanh, bóng mát hay để thực sự là những mảnh vườn nho nhỏ để gia chủ trồng hoa, trồng rau cải, cây ăn trái theo ý thích riêng. Vườn nhà mình tiếp giáp vườn hàng xóm, cây xanh tiếp nối cây xanh. Và như đã nói, từ nhà bước ra đường là công viên – lai rai công viên tiếp nối nhau, để thế giới xanh lại chan hòa ở khắp các hướng đi, tạo nên một cảnh quan thoáng đãng kéo dài đến chân trời xa xa… Cũng thật êm ả, khỏe đầu óc khi xe cộ ở đây, dù là phương tiện di chuyển của 99.9% cư dân, từ ông giám đốc cho tới bà nội trợ, nhưng vào sáng sớm thì khá thưa thớt. Phải nói thêm rằng đúng là “xứ văn minh” khi người lái xe ở Úc không có thói bóp còi inh ỏi vô lối như ở xứ mình. Đa số các xe, lại khác Sài Gòn là thường phóng nhanh tới 60-70 km/giờ nhưng tài xế luôn luôn giữ luật rất nghiêm túc, chặt chẽ, cũng như đường xá rất tốt nên tai nạn rất ít xảy ra.

2.
Tôi cho rằng, ở đất nước này, một khi đã được miễn trừ tiếng ồn tàn khốc của xe cộ rồi thì âm thanh rộn ràng nhất có thể nghe được ngoài đường phố chính là tiếng chim chóc. Chim chóc trên đường phố có nhiều giống loài, phổ biến là quạ, sáo, kéc, cu đất, bồ cầu rừng…, ít hơn là chim sâu, cò quắm, cò trắng, chích chòe, vịt nước, le le và vài chú mỏ dài hay lặn hụp ở các mương xả nước mưa. Chim tụ tập nhiều nhất là trong các công viên toàn cây xanh, thảm cỏ. Lạ là bất cứ ở đâu cũng không thấy bọn se sẻ, giống chim cư-dân-đô-thị quen mặt ở VN.
Chim líu lo, ríu rít hót, kêu với đủ loại chất giọng, âm vực khi bay, nhảy, kiếm ăn trên bãi cỏ, cành cây. Thường ồn ào, chộn rộn nhất là lủ quạ và kéc. Kéc thì đủ màu: kéc xanh, kéc trắng, kéc trắng/hồng, kéc ngũ sắc; quạ thì có quạ đen, quạ khoang. Nhiều con quạ, dù đang mãi miết mổ tìm mồi rất lâu trong cỏ hay đang đứng im trên dây điện cũng đột nhiên – không rõ vì chuyện gì – vừa bay đi vừa lớn tiếng kêu quang quác, khiến người đi đường giật cả mình.
Tôi đã thầm mến phục thái độ sống gần gũi với chim chóc của người dân Úc. Hay ít ra với một mớ luật lệ được họ đặt ra nhằm bảo vệ chim chóc nói riêng và thú hoang dã nói chung, người Úc chấp nhận cho chim chóc sống kề cận mình, dù ở nơi đồng quê hay thành phố cũng thế. Trừ trường hợp đặc biệt như có bệnh dại, bệnh truyền nhiễm phát tác trong thú hoang dã, còn bình thường không ai được phép tấn công, giết hại chim chóc. Do vậy, chừng như chim chóc rất an tâm, không sợ bị bắt, bị giết, bị làm thịt nên chúng cứ ung dung lẩn quẩn bên cạnh con người. Và khi gần gũi với chim, một giống loài hoang dã rất đông đảo trên trái đất, người dân ở Úc – nhất là thị dân – sống gần với thiên nhiên hơn. Ít ra là gần thiên nhiên hơn hẳn người Việt trong nước, đa số vốn có tập tục lạnh lùng là thấy chú chim lơ đãng nào đó xớ rớ đến gần thì lập tức tìm cách chụp, bẫy để cho nó …lên dĩa.
Tất nhiên, ở đây nói người dân ở Úc “sống gần thiên nhiên” hoàn toàn không có nghĩa dân xứ Chuột Túi còn man dã, còn ở trình độ phải săn bắt chim, thú hay hái lượm trái rừng để nuôi miệng. Trái lại, được xếp vào hàng quốc gia phát triển trên thế giới, nước Úc cứ văn minh tiến bộ, nhưng người Úc cứ chọn một lối sống gần gũi thiên nhiên, gần gũi chim, thú hoang dã. Thậm chí, có người ở đây còn đi shop lựa mua thức ăn sản xuất riêng cho các loại chim, đem về cho vào hộp treo ngoài vườn cho chim sà xuống tranh ăn và xem chim ăn là một thú vui nhẹ nhàng của họ.
Lúc nào người dân xứ này cũng dễ dàng và thường xuyên nhận ra sự hiện diện của chim chóc. Chưa thấy mặt thấy mỏ chúng là đã nghe tiếng chúng hót hay kêu, la tùy lúc. Và trước tiếng chim kêu, hót đâu đó, không thấy ai ở xứ này, cả dân Tây lẫn dân gốc Việt, tỏ vẻ ngạc nhiên tới mức xem đó là hiện tượng lạ, âm thanh lạ, đáng để chú ý, tìm hiểu. Ngược lại, chỉ đáng quan tâm là khi chợt có một bãi cứt chim trắng sệt dính trên mui xe, kiếng xe mà thôi.
Còn vì lý do gì mà ngay tại Sài Gòn, ở vùng ngoại ô hiện vẫn có một số người sống bằng nghề bẫy chim bằng lồng, lưới, keo dính thần sầu của Trung Quốc? Trước hết, họ bẫy chim để kiếm tiền khi bán chúng cho những đầu nậu buôn bán chim phóng sinh. Tiếc rằng, cái nghề tạm coi là cũng kiếm ra chút ít tiền này không hề được công nhiên ghi trong danh sách ngành, nghề xã hội – đương nhiên là những nghề lương thiện, cũng như không hề được khuyên khích bởi tàn sát chim chóc, làm tổn hại đời sống thiên nhiên. Kế đó, cần nói đến những bà con cứ cúc cung mua chim đem phóng sinh trước cổng chùa, rôi hồn nhiên nghĩ là mình đang làm phước, giúp chim được tự do. Ước gì bà con hiểu cho rằng mình càng “làm phước” kiểu trên là càng khuyến khích đám đầu nậu buôn bán chim cùng đám “thợ” săn, bẫy chim có cớ để bắt nhiều chim hơn nữa, tức làm nhiều chim chóc bị mất tự do hơn nữa.

3.
Chưa đặt chân vào đất Úc tôi đã cảm thấy thật hạnh phúc khi dư biết qua tới bển thế nào bạn bè, nhất là giới văn nghệ – báo chí, cũng đưa mình đến các quán cà phê Việt – không bỏ sót quán nào. Đó là cách bạn bè gặp nhau dễ nhất, gọn nhẹ nhất, trước khi bàn tới chuyện ăn nhậu hay đưa nhau đi chơi, viếng thăm các thắng cảnh, đền đài…
Ở Cabramatta/Sydney, phải nói là hiếm hoi mới có vài quán cà phê quý giá – theo nghĩa có không khí rất Việt, tức như thể được mặc nhận là chỗ riêng của người Úc gốc Việt cùng du khách Việt Nam nên nghe toàn tiếng Việt. Như Cafe Nhớ ở hẽm 68A đường John và một quán cùng tên, cùng chủ ở đường Bankstown, hay Quán Xưa và Cafe 86 cũng nằm trên đường John, hoặc Vy Vy Garden Cafe ở Canley Vale Road… Ở những quán này, không khí cà phê thuốc lá quen thuộc như ở Sài Gòn. Cũng những quý ông – đa số đã ngoài tuổi trung niên – thường ăn mặc bụi bậm, hầm hố, ngồi nhâm nhi cà phê, chuyện trò rôm rã cùng bạn bè hay lặng thinh, tư lự một mình theo tiếng nhạc Nhật Trường, Khánh Ly… Như thế, cung cách khách uống cà phê ở đây hao hao giống dân ghiền cà phê, ghiền ra quán cà phê ở Sài Gòn.
Chỉ tiếc là về thức uống, một mặt cà phê Úc ngon bởi chắc chắn không bị trộn bắp nhưng mặt khác vẫn thua cà phê Việt 1% bởi thường rất khó kiếm ra món cà phê pha phin, nhỏ giọt mà toàn cà phê pha máy, như: espresso (gồm 3 bậc black khác nhau), late (½ sửa ½ cà phê), cappuccino (cà phê pha sửa tươi và bột chocolate). Riêng cappuccino là thức uống phổ biến nhất, chiếm 90% cà phê được bán trong các quán cà phê tại Úc.
Và thật tiếc nữa, trong khi chính một người Úc, nhà văn/nhà báo/blogger/dân du lịch “bụi” chính hiệu Ben Groundwater, trên chuyên trang du lịch báo The Sydney Morning Herald đã bình chọn cà phê sữa đá Việt Nam vào hạng 2 trên 10 loại café ngon nhất thế giới, tại quán xá trên đất Úc lại rất khó kiếm ra món uống rất thông thường ấy, tức cà phê đúng kiểu quán xá VN gồm một cốc cà phê phin với sữa đặc-có- đường, nhất định không dùng sữa tươi, cùng một ly đá để sẵn bên cạnh.
Dù sao, cũng rất vui là sau này, tại một khu shop Việt ở Inala, thành phố Brisbane, tôi tình cờ thấy một tấm bảng ghi “Cà phê sữa đá đúng kiểu Việt Nam” nơi một cửa hàng bán đủ thứ đồ giải khát, chủ gốc Việt, bèn mua take away, uống cũng tạm được.
Trở lại với Sydney, biết tính tôi chỉ uống cà phê phin, nên mới ngày thứ nhì tôi đến đây, con gái tôi đã đi shop Việt mua cho một một cái phin inox rất đẹp. Nhưng gia đình con gái tôi và sát bên là anh sui, họ chỉ dùng cà phê hòa tan, tôi đành khẽ lên tiếng về cà phê rang xay. Chuyện nhỏ, đã ở tại Úc thì muốn hàng nội địa như Gloria Jeans, The Coffee Club hay hàng ngoại là Trung Nguyên đều có cả. Và, nói ra thì có vẻ lẩm cẩm, khi được đi thăm bà con, bạn bè ở Brisbane và Melbourne, tôi đều cắp nách theo cái phin và bịch cà phê Trung Nguyên 500 gr. đang uống dở. Làm vậy cho chắc ăn, cũng để các chủ nhà không phải lo liệu gì cho một thói tật riêng của mình.

4.
Có những buổi chiều, như chiều hôm qua, thời tiết không tốt. Bầu trời xám xịt và mưa lâm râm. Tôi vẫn ráng xỏ giày thể thao, nón vải cùng áo khoác nylon, nhất định bước ra đường thả bộ, bởi muốn phục hiện một cảm giác dễ chịu – không thể kiếm ra ở Sài Gòn – khi đi bộ thể dục ở những công viên vào những sáng trời se lạnh. Và cả cái thú suy tưởng giữa công viên vắng lặng nữa, kể cả vừa giữ nón vừa suy tưởng giữa những cơn gió thổi mạnh, rào rạt thổi tới thổi lui từng chập.
Cũng có một vài buổi chiều khác, thời tiết thật dễ chịu, mát mẻ và khô ráo, anh Thành hay rủ đối ẩm rượu chát ở chỗ sân lộ thiên. Toàn nhãn red wine Úc, khi thì Wolf Blass khi thì Cabernet Chauvingon, đều có vị vừa uống, không quá chát, không quá ngọt và màu đỏ thật đẹp. Chỉ có kiểu uống của hai bạn già là bụi đời, không đẹp mặt đẹp mày cho lắm vì bỏ ra sân đều giản đơn là những thùng nhựa cũ, loại đựng bình gaz, nay lật úp trên sàn xi măng để làm bàn, ghế cho bữa rượu tri kỷ. Mồi nhậu cũng đơn giản, có khi là bánh snack tôm, đậu phộng, con mực khô, có khi là dĩa salad xúc xích, trộn cả lá bồ công anh. Chủ nhà đã giải minh ngay cho tôi rõ, rằng đây không phải là thứ cây giống như cỏ, có hoa vàng, mọc hoang ngoài đường như tôi đả từng thấy hoài mà là một loại rau xanh, bảo đảm sạch vì được trồng chính quy trong các trang trại.
Chúng tôi nhâm nhi thật chậm rãi, nói đủ thứ chuyện trên đời. Đề tài nào cũng thú vị tuy hay bị ngắt ngang bởi nhảy từ chuyện này sang chuyện khác, hay bởi những lỗ hổng trong trí nhớ tuổi già. Anh Thành nhắc lại nhiều chuyện cũ, kỷ niệm xưa như thời còn đi lính lắm hiểm nguy và may rủi trước 30 tháng 4, thời thiếu đói, ăn độn trong nước, thời mới qua Úc, vất vã đi làm farm…
Có lúc, người bạn già có việc, trở vào nhà hơi lâu. Tôi ngồi một mình, chẳng phiền hà gì tình trạng cô độc bất chợt này, không có chuyện để nói hay nghe thì cứ tha hồ nghĩ ngợi – đúng hơn là trở lại với những chuỗi cảm nhận chưa hoàn tất về đất nước này.
Buổi chiều của những ngày hạ ở đây là thời khắc kết thúc một ngày bình-thường-như-mọi-ngày ở một đất nước có thành tích tốt nhất thế giới về đời sống cho người dân, đó là nếp sinh hoạt lành mạnh, tổ chức an sinh xã hội chu đáo, khoa học, hợp lý, bình đẳng. Hàng hóa, đồ tiêu dùng các cấp hạng đều dư dã, dễ tìm và điều tuyệt vời là do nền kinh tế phát triển, phúc lợi xã hội nhiều và dàn đều, nên hầu hết người dân đều có thu nhập, đều có khả năng mua sắm, tiêu xài. Môi trường sống không bị ô nhiễm ở nhiều mặt, không khí sạch, nước sạch, ít tiếng ồn… Cũng ở đất này, đỉnh cao của văn minh nhân loại được thể hiện qua sự thượng tôn con người và nhân vị. Luật lệ và qui đinh trật tự xã hội của nước Úc chuyên tâm phục vụ sao cho tốt nhất, hiệu quả nhất, cũng như tạo nhiều đặc quyền, đặc lợi hợp tình, hợp lý cho trẻ em, người già, phụ nữ, người tàn tật. Cả người đi xe đạp ngoài đường cũng có lối đi dành riêng để khỏi bị xe ô – tô chèn lấn vô tội vạ.
Trên thế giới nói chung, từ xa xưa vốn có kiểu trọng phụ nữ của đàn ông phương Tây mà dân mình vẫn gọi là “nịnh đầm kiểu Tây”. Tại đất nước này, tôi mới thấy quý ông nịnh đầm không chỉ là sơ sịa nhường bước cho quý bà kiểu “Lady first!” thôi đâu. Ngay bữa mới đặt chân xuống phi trường Sydney, khi cùng các hành khách khác đẩy xe hành lý băng qua một con đường nội bộ gần cổng ra, tôi đã chứng kiến một người công nhân Úc, da trắng, đã lớn tuổi, vừa tươi cười chạm nhẹ ngón tay vào vành chiếc mũ bảo hộ trên đầu để chào một bà khách, vừa mau mắn bước tới đẩy xe dùm bà này. Và ngoài đường, tình cờ đối mặt nhau trên vỉa hè đi bộ, chẳng quen chẳng biết mà vẫn thường có những người Úc da trắng nói “Good morning!” hay “Good day!” với tôi trước hay cùng một lượt.
Chiều nay, tôi ngồi một mình trong sân nhà, cũng giản dị trên một thùng nhựa cũ lật úp. Xung quanh chỗ tôi ngồi đều vắng lặng. Cả xa xa, sau những đỉnh cây của nhà hàng xóm, từ phía St. Johns Road cũng chỉ mơ hồ vọng về tiếng xe cộ chạy ngoài đường. Không gian vắng lặng, tịnh yên tạo cảm giác gần như mọi sự trong đời sống, ít ra là ở phương trời này, đều an lành, suông sẻ, đâu vào đó – vừa đủ an lành cho mỗi con người cảm nhận được niềm hạnh phúc, chừng mực thôi của đời thường.

PHẠM NGA
(Sài Gòn, tháng 8/2016)

Ký: Nhớ Bạn Làm Thơ Từ Đất Rẫy Quê Nghèo

phamnga

Ta buồn bã khiêng mùa thu xuống núi
Mưa phùn bay nhè nhẹ ở ngoài trời
Ta cóng lạnh nhìn em cười nụ nhỏ
Đẹp vô cùng nhưng ngắn ngủi, tan, vơi…

THƯỢNG THUẬT
(Khiêng Mùa Thu Xuống Núi – tạp chí Văn, 1972)

1.
Tôi và Châu kết bạn từ hơn 50 năm trước ở Sài Gòn. Hồi đó, tôi đang học đệ nhị C Pétrus Ký thì bạn trong lớp rủ vô một thi văn đoàn học trò – nhóm ‘Văn Nghệ Tim’. Tôi sớm kết thân với anh chàng nhóm phó đặc trách thơ – Ngô Văn Châu, người nghĩ ra tên nhóm. Trong giới thơ văn học trò lúc này rất phổ biến cái kiểu chọn bút hiệu khá cải lương, như trong nhóm tôi thì Châu xưng Hà Thy Châu, tôi xưng Dzũng Thy do khoái cái âm ‘Z’ trúc trắc, rồi Hà Mộng Thủy, Đỗ Lệ, Trần Thiện Ngã, Sa Miên…
Châu nghỉ học sớm, nhưng bù lại anh sớm có thơ và truyện ngắn đăng ở nhiều nhật báo, tạp chí văn hóa – nghệ thuật như Văn, Tự Thức, Thời Tập, Thời Nay, Tuổi Ngọc…, trong đó tôi nhớ nhất là bài thơ Ta Buồn Bã Khiêng Mùa Thu Xuống Núi và truyện Người Tình Ngực Lép mà anh đều ký là Thượng Thuật, đăng trên Văn, tạp chí văn học – nghệ thuật danh giá nhất miền Nam thời xưa. Châu còn cặm cụi làm một cuốn bìa đen cỡ thật lớn để cắt dán những bài thơ, văn của nhóm viên Văn Nghệ Tim được đăng trên các báo…
Đến tuổi lính thì Châu trở về quê, đăng vô cán bộ Xây dựng Nông thôn ở Trung tâm Chí Linh, Vũng Tàu. Chẳng bao lâu, anh làm biên tập viên trong tờ Nước Ta, cơ quan ngôn luận của lực lượng “áo đen”.
Châu vừa ham mê đá banh đủ để viết bài tường thuật bóng đá, vừa mê mãi làm thơ lục bát đủ để gởi cho nhiều tờ báo lớn, nhỏ cũng như để tán gái. Đúng ra, máu me văn nghệ lai láng cỡ nào cũng không đủ tạo cho Châu vẻ phong nhã, hào hoa trước mắt con gái, do nhà thơ vừa lùn, tướng thô, y như một anh thâu tiền chỗ ngoài chợ, vừa thường xuyên túng bấn, tính mời bạn gái ly nước mía cũng phải đắn đo… Vậy mà không riêng gì vài cô gái trẻ, nhiều bà già, ông già cũng dễ cảm mến Châu vì gã dân Nam bộ thuần gốc này rất cởi mở, vui vẻ, lúc nào cũng ăn nói bải buôi, ân cần với bất cứ ai, bộc lộ tánh chất phác đến buồn cười. “Để anh Châu nói em nghe nè…”, lúc nào cũng cái giọng ngọt lịm ấy mà lấy thêm tình cảm của các cô ái mộ nhà thơ, hay lối xưng ngộ nghĩnh là hô lên đầy đủ tên họ, như “Bữa nào Ngô Văn Châu với Phạm Văn Khả làm tiết canh, lòng heo nhe Phạm Văn Khả?”, do Châu đề xướng trong giới bạn bè “đồ đen” đã khiến nhiều anh rất khoái nói chuyện với Châu.
Còn tôi, từng phải nhiều lần đành cười trừ, bỏ qua về chuyện có chút nhuận bút nào từ bài tôi viết cho tờ Nước Ta thì coi như tiền… “chiến sĩ trận vong” – đúng hơn là “chận vong”. Hỏi thì Châu cười hề hề vì sau khi ký lãnh dùm tôi tại tòa soạn, cậu mình tỉnh bơ ăn “chận”, làm tiêu “vong” hết số nhuận bút, chỉ để trả những chầu café thuốc lá cho bạn bè bất kể có mặt tôi hay không. Do tôi rủ vô làm thân hữu, Châu gởi thơ tình đăng trên tập san Nghiên Cứu Triết Học của nhóm Triết ở đại học Văn Khoa Sài Gòn. Khi nhóm ra tờ tạp chí văn học – nghệ thuật ‘Tự Thức’, Châu vừa đươc đăng thử vài bài thơ, chuẩn bị gởi tiếp thì xảy tới biến cố 30-4-75.

2.
Nhà thơ Thượng Thuật, con người lạc quan, chất phác ấy khó mà còn cười nói vô tư sau ngày 30/4. Học tập cải tạo xong, anh rời Vũng Tàu rút về xã An Ngãi, thuộc huyện Long Đất, Bà Rịa, xin một ít đất của người bà con đề làm rẫy kiếm sống. Tôi thường chọc: “Ở chế độ mới, cấp cán bộ rất được trọng dụng, nể nang. Ở chế độ cũ mày cũng làm cán bộ chớ bộ, tiếc cái lại là cán bộ bình định nông thôn. Mà bọn ‘chiêu hồi’, ‘bình định’ như mày thì cũng ‘tội lớn với nhân dân’, khác gì ngụy quân tụi tao. Thôi về quê cắm câu là phải Châu ơi!”.
Muốn đến vạt rẫy khô cằn, nghèo mạt ấy thì từ phải quốc lộ đi Long Hải vượt qua khoảng 3 cây số đường mòn quanh co đi về phía chân núi Dinh Cố, khu rừng thưa rất vắng người, cây dại um tùm. Tôi nhớ cứ mỗi bận gò lưng đạp xe vô rẫy Châu, cứ thầm nghĩ giờ mà xui xẻo bị rắn cắn dọc đường thì chắc chết, vì hoàn cảnh rất rất ngặt nghèo là phải lết đi ít nhất nửa cây số đường mòn mới mong thấy được một căn chòi, căn nhà lá nào đó.
Thấm thoát mấy chục năm trôi qua, nơi nhà thơ náu thân vẫn là nhà tranh, vách đất, vẫn đèn dầu, nước giếng và cây trái còi cọc ngoài rẫy – nghĩa là gia đình Châu vẫn nghèo, nghèo suốt. Thỉnh thoảng, ngặt nghèo quá, có khi Châu phải lén cắt cỏ tranh “lộn” bên đất người bà con để bán kiếm tiền đong gạo. Cho nên mỗi lần từ Sài Gòn xuống Bà Rịa chơi, phải sơ ý lắm tôi mới quên mang theo thứ quà cáp thực tế – đồ ăn, nhưng thứ ít thực tế hơn là sách báo, tạp chí thì bạn tôi cũng rất mong mỏi. Đặc biệt khi có ý định làm món gì đó ăn, nhậu với Châu, thường là tôi lễ mễ mang theo luôn đủ thứ, từ bột ngọt cho đến hành ngò.
Vậy mà trong những năm 80 – 90, hễ gặp lúc phiền muộn, bất đắc chí là từ Sài Gòn, tôi mò xuống rẫy Châu ở ít bữa. Cứ gọi là đi hoang, đi bụi, hay đi thiền gì cũng đúng, tôi muốn tìm đến một khung cảnh hoang sơ, vắng lặng, không điện, không nước máy, không nhà xí…
Chúng tôi thường uống ngoài vườn. Lúc nào cũng là manh chiếu rách trải dưới tàng cây mít, mảng cầu điếc nào đó. Thứ rượu thuốc rẻ mạt mà bình toong nhà binh đựng được tới gần 5 xị, bọn tôi ‘cưa’ đôi với vài miếng cóc, ổi, khấm khá hơn thì có con khô đuối, khô hố hay một con rắn vô phước nào đó dám bò ngang lưỡi cuốc của Châu ngoài rẫy. Tôi thường tựa lưng vào gốc cây, uể oải đưa tầm mắt ra xa, vượt khỏi khu vườn còi cọc của Châu, nhìn về núi Dinh Cố. Bên dưới vài đám mây trắng lóa bởi nắng trời, sườn núi xanh rờn màu cây lá, lác đác vài chỗ chợt sẫm tối bởi bóng mây.
Chè chén kiểu “phong lưu hàn sĩ” mạt hạng như thế mả Châu cũng làm được thơ tình, thơ đời, tôi cũng viết được vài tản văn, tạp bút từ những cảm hứng ngông ngạo, hí lộng cuộc đời thời ấy. Rồi anh Hai Lúa đất An Ngãi làm gì có tiền để lên thành phố, tôi lại đem những bài lục bát của bạn về Sài Gòn và sau đó, thấy đăng trên mấy tờ báo tuổi trẻ, học trò, tờ Áo Trắng chẳng hạn.

3.
Hồi năm 1982, gia đình bên vợ tôi ngụ bên Vũng Tàu, do trong nhà có mấy anh em vượt biên ở Rạch Dừa nên bị chính quyến buộc phải “hồi hương, lập nghiệp” tức phải chuyển về Bà Rịa – quê ngoại của vợ tôi. Từ đó, tôi về Bà Rịa thường xuyên hơn, nhất là gặp lúc Châu tạm bỏ cái rẫy còi cọc ở An Ngãi để đi đẩy xe ba bánh chở rau, đậu ở chợ Bà Rịa kiếm sống, sau vài tháng ốm nhách, đen thui khi làm lò than bên Châu Pha.
Cũng lúc này, tôi làm nhân viên soát vé ở rạp xi nê Văn Cầm, Phú Nhuận. Biết tôi là sĩ quan chế độ cũ học tập cải tạo về, một cô thuyết minh phim ở rạp thố lộ mình là con vị chánh án tỉnh Phước Tuy cũ và ông cũng vừa ‘đi học’ bên ngụy quyền về. Khi đó, nghỉ chủ nhật là tôi dông liền về Bà Rịa, vô đất rẫy ở Long Đất, báo tin về vị chánh án cho bác Sáu Tí – ba Châu – vì ngẫu nhiên bác vốn là một cảnh sát viên áo trắng gác tại toà án Bà Rịa, tức tỉnh Phước Tuy cũ.
Cái tin tôi tình cờ làm việc cùng chỗ với con gái vị chánh án đã khiến bác Sáu hết sức vui. Lập tức bác bắt Châu chạy đi lấy thêm mấy xị nữa rồi truy cứu tiếp nơi tôi những thông tin quá nghèo nàn về vị xếp cũ. Có gì đâu, ông cảnh sát già đang sống lại cảm giác vinh quang của cái hồi được chuyển công tác, từ gác chợ về gác tòa án tỉnh. Sau bao nhiêu đổi thay, mất mát từ ngày 30-4, ông già thầm lặng đóng cửa với hiện tại, tiếp tục sống tự hào ngấm ngầm về một chút quá khứ ‘làm công chức’ một thời mà bà con ở quê thường gọi một cách kính trọng là ‘mần việc’. Thật may mắn, nếu cần một xác minh hùng hồn cho mãng quá trình ‘mần việc’ của bác Sáu thì vị cấp trên cao nhất vẫn còn đó. Bác Sáu bắt tôi vô một ly đầy rồi trợn mắt quả quyết: “Bây giờ mà gặp thì chắc chắn ông Đẫu nhớ tao liền hà!”.
“Để bữa nào lên Sàigòn một chuyến, con dẫn thằng Châu với Sáu tới nhà ông Đẫu thăm ổng…”. Người già ở miền Nam có cái tật rất dễ thương là khi gần gũi, ân cần, họ xưng trõng trơ với con cháu bằng thứ bậc tư, năm, sáu, bảy… gì đó, lướt nhẹ tưng qua vai vế chú, bác, cậu, dượng… vốn ấn định người trên kẻ dưới, để giữa người già và bọn trai trẻ thắm đẫm hơn nữa cái tình trìu mến, tin cậy. Vào lúc ấy thì nói nào ngay, cái thằng tôi khố-rách-áo-ôm chẳng có gì đáng cho bác Sáu bấu lấy mà cậy nhờ. Chỉ có chuyện rất nhỏ nhoi là tôi sẵn sàng ra đón bác ở bến xe miền Đông để đưa bác đến nhà người mà bác muốn gặp lại với tất cả lòng kính mến. Trở về Sàigòn, tôi lập tức kể chuyện về bác Sáu cùng niềm mong mỏi của bác với cô con gái vị chánh án. Rất thuận lợi vì liền sau đó, vị xếp cũ của bác Sáu đã nhắn qua con gái mình rằng ông rất vui khi được gặp lại một thuộc cấp còn nhớ tới ông.
Rồi cuộc sống khó khăn đã xô dạt, nhấn chìm đâu mất cuộc hẹn gặp giữa hai ông già. Vị chánh án qua đời đang khi trông ngóng hồ sơ H.O. nghe nói còn nằm đâu đó bên Thái Lan. Biết được tin buồn này vào lúc đã nghỉ việc tại rạp chiếu bóng, tôi lại phải bám chặt lấy Sàigòn để kiếm sống nên rất chậm trễ trong bổn phận đưa tin về Bà Rịa. Rồi bác Sáu đau ốm liên miên, lặng lẽ qua đời trong niềm tuyệt vọng không còn cơ hội lên Sàigòn, dù chỉ còn có thể đến viếng mộ phần cấp trên của mình như một cách vớt vát cho một ước nguyện nhỏ bé cuối đời bác. Đã có gì đó thúc thủ, cam chịu, rất số phận về cái chết của hai người già – hai món đồ chơi cũ mèm mà bàn tay vô tâm của Định Mạng đã lạnh lùng vứt vào xọt rác Hư Vô.

4.
Cuộc sống của Châu chỉ chợt đổi khác khi run rủi, uỷ ban xã An Ngãi cần thư ký đánh máy. Tuyển được một nhân viên gần như là người có chữ nghĩa nhất xã, mấy cán bộ giao luôn con dấu của ủy ban cho Châu giữ. Anh có thêm hai nghề mới, một là làm đơn mướn giá “bèo” cho bà con nông dân, hai là nghề … nhậu. Nhậu cả giấc trưa lẫn giấc chiều tối, nhậu lòng vòng ở gần ủy ban xã với tay cán bộ nấu rượu tại nhà hay nhậu với anh nông dân ở chỗ xa mút chỉ cà tha, cần làm đơn xin tách thửa nhưng chỉ trả bằng chầu nhậu. Nhậu đến té bờ té bụi nhưng nhà thơ /thư ký xã đã có hoàn cảnh, cơ hội để phất lên.
Những lá đơn liên quan đến đất đai, như: xin lại đất tập đoàn, xin quyền sử dụng đất, xin tách thửa, xin thừa kế.v.v…, luôn luôn đem lại lợi lộc cho cán bộ ký giấy và chút cháo cho thư ký xã làm giấy. Hơn thế, nhờ thân cận với cán bộ, vạt đất 200m2 do người bà con cho ngày nào mà Châu cùng cha mẹ già đã dần hồi khai khẩn, mở rộng thành hơn 2000m2, đã được sớm sủa cấp giấy đất, thuộc diện “tự khai khẩn, phát hoang từ đất rừng”, ông chủ đất Châu chỉ tốn mỗi một chầu nhậu thịnh soạn đãi cán bộ. Lô đất nằm ngay bên con đường nhựa mới mở theo qui hoạch, thay thế cho con đường mòn xưa cũ. Có điện, có đường nhựa, xã An Ngãi đươc treo bảng là khu du lịch – thắng cảnh tôn giáo với chùa Thiên Thai, chùa Ngũ Đế… và đặc biệt một ngôi chùa mới tinh, nguy nga đồ sộ, do một Việt kiều bỏ tiền ra xây cất, rất gần rẫy của Châu. Khách du lịch đi chơi biển Long Hải ít khi quên ghé khu vực này để tham quan, hành hương. Xóm làng đông vui hơn, nhưng vui nhất là giá đất lên vùn vụt.
Và… nhà thơ lấy vợ. Chuyện anh chọn vợ là người Thiên Chúa giáo đã bị bà mẹ và các cô em gái sùng tín đạo Phật phản đối kịch liệt. Rốt cuộc, vì Châu nắm toàn bộ kinh tế gia đình nên từ việc cưới hỏi tại nhà thờ cho đến việc chú rễ – đã 55 tuổi – học giáo lý để theo đạo đều suông sẻ, vui vẻ.
Vậy mà, trong vòng chỉ hơn một năm không gặp nhau, tôi đã sững sờ khi vợ Châu báo cho biết mới đưa chồng lên Sài Gòn, vô bịnh viện Chợ Rẫy cấp cứu. Xơ gan và loét bao tử – những bệnh không mới lạ, độc đáo gì đối với những bợm nhậu. Vợ Châu cho biết, cả năm rồi anh thường cảm thấy khó chịu, đau râm rang ở bao tử. Nhiều khi đi cầu ra phân đen như dầu hắc. Thôi rồi, y học gọi đó là xuất huyết nội, máu đã rỉ rả chảy từ vết loét tự hồi nào! Xuất huyết bên trong khiến người ớn lạnh và đổ mồ hôi thì Châu cho đó là trúng mưa, nóng lạnh. Khi vợ con dìu ra khỏi nhà cầu, thấy phân đen thì Châu nói đại rằng do chiều hôm qua nhậu tiết canh vịt hay ăn cháo huyết. Sau khi uống bậy mấy viên thuốc cảm, thuốc đau bụng hay mấy gói thuốc Nam cho dễ tiêu hóa, anh hể hả nói “ợ một cái là khỏe!” rồi nhậu tiếp! Đến lúc quá đau đớn, Châu mới chịu mò ra trạm y tế xã, rồi trung tâm y tế huyện. Bác sĩ ở đây nói đích danh bệnh loét bao tử, yêu cầu bệnh nhân phải bỏ rượu và kiêng mấy thức ăn cay-chua-cứng. Châu bắt đầu uống thuốc trị loét nhưng quá khó kiêng cữ. Ngày nào mà không ‘đụng’ với mấy xếp và dân nhờ làm đơn, nghĩa là tránh rượu thì gặp bia và mồi nhậu phải cay, chua thì nhậu mới bắt. Cuối cùng là sau một trận ói có máu lẫn vào những sợi bún, Châu nằm liệt…
Nhìn Châu ốm o, già háp, hôn mê thiêm thiếp, truyền nước biển rồi truyền máu, tôi hiểu bạn mình đã quị ngã thật sự lần sau cuối chứ không phải như những lần trước, chỉ là quá xỉn mà lủi xe xuống mương, nằm đo đất cùng cái triết lý “trời kêu ai nấy dạ!”. Học hết đệ nhị ban C, cộng thêm tánh ham đọc sách báo, tạp chí đủ loại, có thể cũng tạm đủ cho bạn tôi hiểu biết tối thiểu về các bệnh tật đe dọa dân nhậu. Nhưng phải chăng do nghèo khố lâu năm cùng tâm lý sống biết-ngày-nào-hay-ngày-nấy cố hữu đã khiến nhà thơ mất ý thức về việc chăm sóc bản thân?
Bác sĩ lắc đầu, ký giấy cho về, Châu được gia đình đưa về quê nhà Bà Rịa. Nhà thơ tắt nghỉ chính trên miếng đất rẫy của mình.

5.
Một điều rất đáng tôn quý, Châu bạn tôi – gã áo rách từng cắm cúi làm thơ tình trên rẫy trồng khoai mì ngắn ngày cứu đói, từng gò lưng đẩy xe ba bánh chở đồ hàng rẫy ngoài chợ, khi từ bỏ cõi tạm này cũng kịp để lại nhiều bài thơ ngọt ngào cảm xúc cho thế nhân cùng chút ít của cải, tức miếng đất rừng tự khai khẩn cho vợ con, cho mẹ cùng các em mình.
Mới đây, tình cờ nhận ra nhau trên Facebook, cậu em út của Châu đã gởi cho tôi vài tấm ảnh đen trắng, vàng ố của bọn tôi chụp chung thời còn sống nghèo, thiếu, rách – và ốm nhách – ở đất Bà Rịa, trong đó có cảnh đất rẫy An Ngãi. Châu được chôn chính trên trong mảnh đất cằn khô, quạnh hiu ấy, cạnh phần mộ bác Sáu Tí, gần gốc cây mít mà trong một thời cùng khổ, bọn chúng tôi đã từng lãng đãng chia xẽ những xị rượu bất đắc chí, ngông ngạo đàm luận thơ văn…

PHẠM NGA ghi

Câu đêm ở vịnh biển Botany

phamnga

au bottany park

1.
Đang mùa hè ở nước Úc, ngày dài đến 15 tiếng. Năm giờ chiều, chiếc tàu câu của Phương – nhà tổ chức, chủ xị bao biện mọi thứ cho chuyến câu đêm nay – được thà xuống nước xong xuôi ở cảng nước sâu Botany Port, mặt trời vẫn còn chói chang ở phía Tây, nắng rực ngỡ như xế trưa ở Sài Gòn.
Dù bờ biển phía bắc vịnh Botany có phi trường quốc tế Sydney luôn rộn rịp, phi cơ lên xuống liên tục, vịnh biển xanh này vẫn có vẻ gì đó vắng lặng, hoang liêu.
Tàu câu sơn hai màu đen/trắng, kiểu dáng thật đẹp, số đăng ký “AHW663N”, dài 6.5 m, máy Honda 225 phân khối. Phương nói đã mua 60,000 AUD, tức gần 1 tỷ VND. Và hôm nay đi biển 5 người là không nhẳm nhò gì cả vì tàu chứa thong thả 7 người, có khi người lớn cùng con nít lên đến 10 người cũng all right. Có điều là rất hiếm phụ nữ, bà xả Phương chẳng hạn, theo nổi thú vui đi tàu câu trên biển này vì không chịu nổi sóng gió. Lúc mới lên xe kéo tàu đi, Cường – bạn câu rất thân của chủ tàu – đã chia cho tôi và anh Thành ‘sui gia’ uống ngay 1/2 viên chóng ói.
Mở đầu buổi câu, Phương cho tàu chạy băng qua vịnh, đến một bãi rất cạn có nhiều rong để mò bắt sò lông. Chỗ nước sâu ở đây cũng chỉ đến thắt lưng. Bàn chân mình chạm gì đó cứng cứng vùi dưới cát đáy biển là ‘nó’ đó, Cường nói lớn. Vừa dứt lời, cậu ta đứng thẳng lên thì trên hai bàn tay đã có hai chú sò đen thui.Và do sò ăn rong biển nên nếu chịu khó hụp người xuống, ngồi mò vào các bộ rễ rong là bắt được, nói như Cường là cả family sò con, sò cha. Chừng nửa tiếng, vừa tiếu lâm về sò lông, lông sò, lông phía trên sò… vừa lơ đãng mò mẫm, bốn người chúng tôi đã làm đầy nhóc hai thùng nhựa xách theo, với khoảng 15-18kg sò mỗi thùng.
Trở lại tàu thì thấy Phương đã nhanh chóng ráp, cắm xong hết bốn cần câu dọc theo hai mạn tàu nhưng vẻ mặt hơi bí xị. Tàu đang mắc cạn vì hồi nãy vào quá gần bờ. Vậy là hai ông già được ngồi lại trên tàu, ba thanh niên nhảy ùm xuống nước… Một đỗi sau, tàu đã được được đẩy lùi và quay đầu, Phương nổ máy, tàu chạy tiếp ra cửa biển.

2.
Tàu câu chồm mũi tới như cắt sóng, lướt nhanh trên mặt biển. Chỉ cho tôi thấy mấy cái phao màu cam đang nhảy chập chờn trong làn sóng trắng xóa, cuồn cuộn phía sau đuôi tàu, Cường nói đang dùng mồi giả, dạng con mực nhỏ bằng ngón tay, làm bằng nhựa dẽo và ở chỗ biển sâu này hy vọng bắt được cá ngừ hay king fish, một loại tương tự cá bốp.
Phương cho tàu chậm lại rồi giao cho Cường lái. Anh cười hể hả nói, có sò làm mồi thì làm sương sương 1 -2 chai thôi, khi nào có cá, mình nhậu tiếp cá nướng. Rõ ràng anh chủ tàu trung niên vui tính này không chỉ giỏi giắn, nhanh nhẹn trong các việc điều khiển tàu hay soạn, ráp cần câu. Ở mặt bàn bếp gắn vào đuôi tàu, Phương khéo léo tách võ một mớ sò lông, mời mọi người ăn sống với vài giọt chanh hay mù tạt wasabi, tương tự như ăn hàu. Thịt sò sống không hề ngậm một chút rong hay cát nào, vị hơi mặn nhưng không mềm nhẽo như hàu mà ngon, dòn cực kỳ.
Thân tâm đều vui vẻ, mãn nguyện, tôi nhìn quanh sàn tàu và bên trong “nội thất” tàu AHW663N. Bên cạnh những thứ mà Phương gọi là hộc chứa hay thùng cất đồ nghề, như dụng cụ câu cá, gồm cần câu, dây cước, phao, lưỡi câu; hay dụng cụ sửa chữa nhỏ tại chỗ cho máy tàu, máy cần câu…gồm búa, tua-vít, mỏ-lết, máy khoan mini, cờ-lê đủ cỡ…, còn có những thùng, hộp nhựa chứa đồ chơi – chữ dùng của Phương – như: bếp than, túi than đá, chén bát ly giấy, soong, chão, dao, thớt… Riêng trong thùng trữ nước đá là rau sống, nem chua không-hàn-the và lổn ngổn những chai Victoria Bitter. Toàn thể thủy thủ đoàn – gồm cả hai ông già vô tích sự – đều thích VB, nhãn bia Úc chai lùn này. Đặc biệt, từ lúc sang Úc đến giờ đã hai tháng, tôi từng nhiều lần uống VB, nhưng bữa nay mới thấy vị bia này ngon lạ lùng khi nhậu với sò sống tái chanh.
Tàu chạy qua khỏi vịnh và chạy dọc bờ biển phía nam cảng hàng hóa Botany. Bên mạn phải tàu là khơi thẳm của đại dương Úc châu. Mặt trời xuống thấp hẳn, đường chân trời chói lòa những tia nắng cuối cùng của ngày. Tuyệt vời cảnh mặt trời lặn!
Sốt ruột vì tàu chạy lên xuống đã hai vòng mà cần VIP lưỡi lớn chỉ dính được một trự cá ngừ nhỏ, Phương quyết định cho tàu trở vào vịnh, bỏ neo ở một chỗ nước cạn cạn gần bờ. Máy định vị ở ca-bin cho thấy 2.8m sâu và lăn tăn có cá. Phương gật gù nói để anh thay lưỡi câu nhỏ hơn, gắn thêm cục chì là bắt cá cam, cá nục. Và đốt than đi, Cường ơi! Cứ nướng sò trước!

3.
Đã tám giờ đêm. Tôi tình nguyện quạt cái lò mini bằng một miếng bìa cứng cho than đá mau hồng. Cường bước ra mạn tàu, vừa đúng lúc để giật lên mở hàng một con cá cam khoảng 0.5 kg. Cứ thế, ba cần câu dính cá lai rai. Vẫn bọn cá cam và yellowtail fish tức cá nục gai hay cá nục đuôi vàng. Con nào rỉa mồi, giật lên thấy quá nhỏ thì thả xuống nước trở lại. Riêng về tailer fish, tức cá thợ-may, hàm răng bén như cá piranha, cắn đứt dây cước, mất mồi, mất lưỡi rồi vuột mất 2-3 bận nhưng rốt cuộc cũng dính hai trự cỡ 200 – 250gr. Vô tích sự như tôi cũng ra cầm cần câu. Rốt cuộc ngư ông dỏm cũng giật lên được một con cá cam nhỏ.
Vừa lật con cá cam dính mở hàng trên vĩ lò thì mớ sò lông cũng vừa chín tới. Lại khui một loạt năm chai VB hổ trợ cho việc tách võ sò và trét mỡ hành. Vô! Chủ tàu còn cười lớn, enjoy đi, mấy chú ơi!
Tuy nhiên, đêm nhanh chóng lạnh hơn và sóng lớn lắc tàu quá mạnh, nhậu cũng khó mà câu cũng khó. Phương lại quyết định nhổ neo, đưa tàu vào núp sâu trong vịnh cho ít sóng hơn. Tàu bỏ neo cạnh một bãi đá “ba chân”, tức các khối bê-tông ngăn sóng xâm thực bờ biển. Chủ tàu AHW663N vừa hơi ẩu vì từ lâu đã có qui định cấm tàu đậu gần bãi đá này. Nay tàu có thể bị buộc phải đi chỗ khác bởi chiếc tàu tuần của bảo vệ cảng đang chạy rề rề phía xa kia. May thay, chiếc tàu tuẩn chạy luôn về hướng khác!
Vì số cá giật lên, đem rộng trong cái hầm nhỏ chứa một ít nước biển, nằm dưới sàn tàu đã khá nhiều nên Phương dẹp bớt cần câu, chỉ chừa lại một cần thôi. Cuộc nhậu tiếp tục. Cá biển mới câu lên, đem nướng đã thơm lừng, giẻ ra chấm nước mắm ớt thì thịt loại cá nào cũng ngon, béo, thơm không tả nổi. Cuộc đời ơi, enjoy nhé!
Gió biển lồng lộng bốn bề. Anh Thành, hơi co ro trong chiếc áo lạnh mới mặc thêm, nhìn ra khơi xa, ngâm nga:
Chiều về trên biển Sydney,
Sò lông nướng với Vi Bi tuyệt vời.
Nhấp nhô sóng vỗ liên hồi,
Tha phương rồi cũng một đời phiêu linh
(*)

Cả tàu vỗ tay rần rần, hô lão thi sĩ phải đọc lại bài thơ lần nữa. Vô!

Mười một giờ đêm, gió rất lạnh, tàu nhổ neo, quay đầu về bến. Phương rất nghề trong việc lái tàu lên an vị trên trailer (cái xe mooc 4 bánh cõng chiếc tàu) gắn phía sau xe hơi và lái xe kéo tàu về nhà.
Tôi hiểu đối với Phương, anh chủ tàu chịu chơi, đêm câu này có thể xem là không thành công vì không trúng cá lớn, nhưng rõ ràng vui là chính, rõ ràng Phương đã hào sãng và đầy kinh nghiệm để tổ chức quá tốt cho mọi người, đặc biệt là hai ông chú mới quen, được enjoy một đêm vui chơi phóng dật, mãn nhãn, mãn ý với biển trời, sóng gió, cá tươi, bia ngon và cả thơ tức cảnh sinh tình đầy thú vị nữa.

PHAM NGA
Sydney, tháng 1/2016

(*) Nguyên văn bài thơ:
Chiều về trên biển Sydney,
Sò lông nướng với VB tuyệt vời
Nhấp nhô sóng vỗ liên hồi
Tha phương rồi cũng một đời phiêu linh
Cầm chai nốc cạn nghĩa tình
Trời cao,biển rộng chỉ mình với Ta
Mặt trời khuất núi mờ xa
Bấy nhiêu thôi cũng gọi là vấn vương……….

Nguyễn Ngọc Thành