KẺ LẠ

1.
Bỏ chiếc khung xe đạp chưa sơn xuống thềm nhà, anh ôm con búp bê bằng nhựa, ngồi chờ. Đây là con búp bê anh mua được với một cái giá gần như cho không trên đường phố Sài Gòn sau ngày Miền Nam giải phóng. Đương nhiên nó không đẹp như búp bê của Nga, nhưng vẫn đẹp hơn những búp bê bằng gỗ hay đất sét ở Hà Nội. Chân tay nó hồng hào, mũm mĩm, mà mắt lại biết nhắm biết mở nữa. Để nằm là nó ngủ, để ngồi là nó thức. Nhất định con gái anh sẽ reo lên, bố ơi, bố ơi, con yêu bố lắm.
Và vợ anh, chắc chị sẽ ôm lấy anh mừng mừng tủi tủi. Chị sẽ khóc, khóc nghẹn ngào vì mừng vui chứ không phải vì lo sợ, như 5 năm trước khi tiễn anh lên đường đi B.
Năm ấy, người ta đã không cho chị khóc. Trong buổi liên hoan, chị phải tươi cười, phải hát hò, phải hô khẩu hiệu để động viên anh. Nhưng khi về đến nhà, chị đã rũ xuống như một cọng rau héo. Có bao nhiêu nước mắt là chị để nó tuôn ra hết bấy nhiêu. Cả anh cũng vậy, khóc mùi mẫn, khóc dầm dề, khóc gần như suốt đêm.
Mãi đến khi đã đeo ba lô lên vai, hai người mới nhận ra rằng, sao ngu dữ vậy, sao cứ khóc lóc than thở hoài mà không yêu nhau đi.
Thế là, cũng trên thềm nhà này, chính chỗ anh đang ngồi này, anh vật chị và chị cũng vật anh, nên cả hai cùng ngã xuống một lúc để cho những thứ cần có nhau tự tìm đến nhau. Những thứ đó không thèm dỗ dành, không cần an ủi, cũng không hứa hẹn, cứ trần trụi xông thẳng vào nhau, hùng hục cắn xé như ăn tươi nuốt sống lẫn nhau, khiến cả anh và chị cùng quằn quại, rên siết một cách hả hê đến nỗi người hàng xóm thức giấc chỉa miệng sang: “định giết nhau đấy à?!”.
Chính lần “yêu” tưởng chừng đã chạm đến gót chân của cái chết ấy mà trong những trận đánh khốc liệt nhất, anh đã sống sót một cách thần kỳ. Và cả trong những cơn sốt rét rừng bải hoải, trong những lần bị thương thịt da thối rữa dòi bò lỏm ngỏm, anh cũng vượt qua khi nhớ tới tiếng kêu đắm đuối “em chết mất anh ơi”!
Rồi chốc nữa đây, chỉ nghĩ tới thôi đã thấy sướng ran, thì hãy cứ để mặc cho con bé chơi với con búp bê nhắm mắt mở mắt, cả hai sẽ lén đưa nhau vào buồng, sẽ không dữ dội điên cuồng như buổi sáng hôm ấy, nhưng nhất định không có cuộc ăn mừng hòa bình nào thắm thiết và no say bằng.

2.
Anh chưa hút xong điếu thuốc thì chị dẫn con gái đi vào sân gạch. Ôi, đúng là con bé xinh đẹp và dễ thương làm sao! Nó xúng xính đi cạnh mẹ, miệng lí nhí hỏi nói gì kia, chắc là hỏi có phải bố về rồi, phải không mẹ? A, dường như nó đang chạy tới bên anh. Và anh rướn người lên để dang tay ra, đón bé.
Nhưng không, nó bấu chặt lấy ống quần của mẹ, rồi giấu mặt vào đó.
Nó sợ! Đúng rồi, nó chưa gặp anh lần nào, sợ là phải.
Nhưng mẹ nó, sao lại nhìn anh với cái nhìn lạnh lẽo, khó chịu như nhìn một người lạ.
Anh đang lúng túng, chưa kịp thốt lên hai tiếng “chào em”, thì đã nghe đau nhói vì những tiếng nói khô lạnh, như đá sỏi ném xuống cái mặt hồ đang nổi sóng của lòng anh.
‘Ông gì kia, sao lại ngồi trước hiên nhà tôi?”
Anh ú ớ, : tôi là …là…là sao vậy trời? anh thoáng nghĩ, vợ mình đây sao, người mà mình thường nghĩ tới cứ như Phật như tiên, sao lại có bộ mặt mắt xanh nanh vàng của một bà chằng hé?! Chắc là đùa đấy thôi, phải không nào, cũng có thể là làm mặt lạnh chứ giữa ban ngày ban mặt mà mình đè ra thì xấu hổ chết!
Nghĩ thế, anh lấy lại bình tĩnh, nói như vuốt ve, dỗ dành:
“Thôi mà em, đừng trêu anh nữa, anh đây mà!”
“ Ông là ai mà dám xưng hô anh em với tôi?”
Thế này thì không phải là đùa dai nữa rồi! Anh điên tiết phun ra:
“ Là chồng cô, rõ chưa?”
Chị cũng không vừa, nói như tạt cả một thau nước vào mặt.
“Đồ điên! Bước ra ngay khỏi nhà tôi!”
Như thế này thì trời đất đảo điên hết rồi! Anh phanh ngực ra, gào to:
“ Cô dám đuổi tôi đấy à? Đây là nhà tôi, nếu cô không còn muốn nhận tôi làm chồng thì cứ việc cút xéo đi, nhưng kia là con tôi, con gái tôi”.
Anh lao xuống thềm, giằng lấy đứa bé. Cả hai đều cố sức kéo về mình khiến đứa bé dài ngoằng ra, ngất lên ặc ặc như sắp đứt làm đôi.
Thấy vậy, người hàng xóm bước qua can ngăn. Rồi cả xóm cùng kéo tới chở che cho đứa bé. Anh phân bua:
“ Làng nước có thấy lạ lùng chưa? Tôi sinh ra ở làng này, là thằng Trần Mạnh T. này, thế mà ma xui quỷ ám khiến con mụ này bảo tôi không phải là chồng, con bé này không phải con tôi, nhà này là của cha mẹ tôi chết đi để lại cho tôi, mà dám bảo tôi không phải chủ nhà, đòi đuổi tôi ra, thế là thế nào, thưa bà con làng nước?!”
Tuôn ra cả một hơi dài những người thật việc thật tưởng sẽ được nghe mọi người cùng kêu lên: thì đúng là ông chứ còn ai vào đây nữa, không ngờ những người đứng vây quanh đều im lặng, không một ai nói ra lời nào.
Anh lại gào lên hoang dại: không phải tôi là chủ nhà này sao? Tôi đã chết đâu, tôi là người thật đây mà, tôi bị thương cùng mình nhưng vẫn sống để về với vợ con, tôi đâu phải là ma hiện hồn về, phải không?
Đúng lúc ấy, một người đàn ông rẽ vào. Ông ta quát:
“Mày là thằng chó nào mà dám bảo là chủ nhà này?”
Một tay ông thộp ngực, một tay ông co lại thành nắm đấm dí sát vào mặt anh. Mặc dù vậy, anh vẫn thoát ra được và gằn giọng:
“Tao cũng muốn hỏi mày là thằng nào mà đến đây cướp nhà, cướp vợ con tao?”
Lúc này ông hàng xóm mới lên tiếng:
“Thôi tôi xin. Dù gì, hai đồng chí cũng là bộ đội phục viên. Đồng chí Trần Mạnh T. này (chỉ người đàn ông), thì đúng là người của làng này, ở sát cạnh nhà tôi, trước khi vào Nam còn qua chào tôi thì không thể là ai khác được. Nhưng đồng chí gì đây, chắc cũng có điều chi ẩn ức, hoặc là bị thuốc độc khai hoang của Mỹ nó làm cho đầu óc không còn sáng suốt nữa, nên mới có thể nhận lầm quê quán vợ con người khác là của mình. Tôi đề nghị hãy đem nhau ra đồn công an để làm sáng tỏ mọi việc chứ không nên hầm hầm muốn giết nhau như thế này.

3.
Tại đồn, trưởng công an nói:
“Đồng chí Trần Mạnh T. cấp bực thượng úy, tình nguyện đi B ngày…tháng, tham dự hơn mười trận đánh, trong đó có trận tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân, bốn lần bị thương, được trao huy chương chiến công hạng ba, huy chương anh hùng diệt Mỹ, ngày …tháng…phục viên, được tái nhập hộ khẩu, nhận sổ mua gạo… ”.
“Đó là lý lịch của tôi, anh nói, tuy chưa được nhập hộ khẩu và nhận sổ gạo vì người lạ mặt này (chỉ người đàn ông), đã nhận vơ là tôi, chiếm đoạt tất cả”.
“Tôi không nhận vơ, rõ ràng tôi là con dân của làng này, là thừa kế của dòng họ Trần nhà tôi, là chồng của Nguyễn thị Y. vợ tôi, là cha của con gái tôi tên là Trần thị Tiểu Quyên, yêu cầu đồng chí công an, căn cứ vào hồ sơ lý lịch, giải quyết việc này một cách mau chóng, trả lại danh dự cho tôi. Đồng thời tôi cũng đề nghị điều tra làm rõ âm mưu đen tối của tên Mỹ ngụy CIA này đội lốt bộ đội ta, trước mắt làm tan rã gia đình tôi, sau đó là lót ổ cho đế quốc Mỹ trở lại lần nữa để đánh chiếm nước ta”.
“Tôi còn muốn yêu cầu nhiều hơn nữa, anh nói. Phải đối chiếu chỉ tay và thử ADN của bố và con”.
Sự việc có hai người cùng một lý lịch, cùng một màu tóc, cùng một màu mắt tranh nhau nhà cửa vợ con quả thực chưa hề xảy ra ở làng này. Chỉ có một người biết rõ ai là thật ai là giả, chính là người mẹ. Chỉ cần nghe tiếng bước chân thôi cũng đã biết ai là con của bà, nhưng tiếc thay bà mất rồi. Rối mù như thế nên công an thôn không giải quyết được phải đưa lên các cấp cao hơn.
Trong quá trình điều tra, đồng đội và các cấp chỉ huy đều xác nhận người mà tác giả đang kể chuyện, chính là Trần Mạnh T. Trong khi tại cơ sở, chính quyền và dân làng, nhất là vợ anh, lại khẳng định người đàn ông mà anh tin là ma quỷ đó, thực sự là chồng của mình.
Nhiêu đó đủ điên cái đầu rồi, mà chỉ tay hai người lại giống nhau, ADN cũng phù hợp với ADN của con gái!
Vụ án vì thế thật khó để tuyên bố ai là thật ai là giả. Dẫu có kiện lên tận Trung ương, Đảng cũng bó tay mà thôi. Hồ sơ đành phải xếp lại, Người ta không làm tội anh, nhưng cũng không thừa nhận anh.
Từ đó, anh không nhà cửa, không vợ con, không hộ khẩu, không sổ gạo, sống lang thang vất vưởng như hồn ma bóng quế.
Anh không tài nào hiểu được, bằng phù phép ma thuật nào mà một thằng lưu manh như hắn có thể làm mờ mắt cả làng nước, và vợ anh, người đã chia xương xẻ thịt cho nhau đến nỗi tưởng không còn gì để cho nhau hơn được nữa, lại có thể nhận hắn làm chồng!
Sau này, trên những dặm dài lưu lạc, bới rác kiếm thức ăn, ngủ dưới gậm cầu, anh cũng đã gặp chục hàng trăm, những người đàn ông đi xa một hôm trở về, bỗng thấy trong nhà mình có một kẻ lạ hươ lạ hoắc mà vợ mình lại âu yếm gọi là chồng, con mình lễ phép thưa là cha.
Và cũng không ít những người vợ mất chồng theo cách có một con mẹ nào đó ngang nhiên chui vào giường, làm cái chuyện ấy miên man, rồi má má con con với lũ con mình ngọt xớt.

Phải rất nhiều năm sau nữa, anh mới hiểu được rằng đây là thời của lú, của mê, thời của bọn lộn sòng lộng giả thành chân. Một thời mà nước còn có thể mất, khi có kẻ lạ cứ lăm le nhảy vào làm vua, thì chuyện anh mất cả nhà cửa, mất cả vợ con chỉ là chuyện nhỏ.
Thôi nhé, hãy tìm một chị mất chồng nào đó mà làm lại cuộc đời. Một khi cả hai đều bầm dập thì chẳng còn thằng cha con mẹ nào thèm cướp nữa đâu.

MIẾNG MO CAU

Trong những kỷ vật hiếm hoi mà cô tôi để lại, ngoài đôi bông tai màu đỏ bằng đồng, một chiếc kẹp tóc bằng bạc, những thứ trang sức dành cho một cô gái nghèo, còn có một miếng mo cau hình tam giác to bằng bàn tay, mỗi góc nhọn đều có cột sợi dây dài chừng nửa mét. Tất cả đựng trong một chiếc hộp phủ khăn nhiễu đỏ, chỉ đến ngày giỗ cô, bà tôi mới mở ra lau chùi một cách nâng niu trìu mến.
Vào cái thời mà một miếng trầu cay được đưa vào miệng thường ngày sau miếng cơm, thì cây cau cũng được coi như một loại cây thân thiết của dân quê chỉ sau cây lúa.
Nhà tôi, nhờ vườn rộng nên bà tôi trồng đến cả trăm cây cau. Khi tôi được sinh ra, chúng đã lớn lên cao vút. Những thân cau xám bạc, mảnh mai, đội trên đầu những tàu lá xanh đen, trông từ xa cứ như có hàng trăm người khách đội dù đang đi cà khêu đến thăm nhà tôi vậy.
Vườn cau đối với bà không chỉ vui mắt, phong nhã, đẹp thanh tao mà còn là một nguồn lợi đáng kể trong số thu nhập ít ỏi của gia đình.
Dù đã nhịn ăn đến nỗi cả nhà, ngay cả khi đau bệnh cũng không một ai dám động đến hạt gạo, mà lúa vẫn không đủ để đóng thuế nông nghiệp, vì ông tôi bị quy là địa chủ.
Thực ra, ruộng ông tôi chưa đến hai mẫu ta, dù công cấy và công cày phải trả đến hai mươi công. Nhờ chút danh của ông anh con người bác làm thơ lại ở huyện, mà trong một lần bầu lý trưởng, ông tôi đã được dân làng dồn phiếu cho.
Cái gốc rễ đôn lên địa chủ là từ đó.
Nhưng, nguồn cội sâu xa là từ cái đầu óc đen tối của một tay bần cố nông cốt cán. Hắn ở sau lưng nhà tôi, trong một cái lều xập xệ nhỏ như lỗ mũi. Ngoài cái rẻo đất đó ra, hắn chẳng còn có cục đất nào nữa để ném chó ỉa như cách người ta mỉa mai.
Hắn sống bằng cái nghề mà ai cũng ghét nhưng chẳng dám nói ra. Người ta sợ, cũng đúng thôi, vì hắn thông thuộc hết mọi ngõ ngách của từng nhà, biết chỗ nào cất giữ của quý, biết ai nằm đâu ngủ đâu…
Dù phải tiết kiệm dầu đèn, nhưng mỗi tối bà và mẹ tôi vẫn phải thắp lên soi rọi khắp nhà, vì trong lúc chạng vạng hắn có thể lẻn vào đu người trốn dưới gậm giường, đợi cả nhà ngủ say là khoắng sạch những thứ đồ thờ và nồi chảo làm bằng đồng thau.
Ngoài ra, hắn còn có cái tật ban đêm thích lẻn vào vườn sau nhà tôi để rình xem cô tôi tắm. Cô tôi rất ghét, dù khi tắm vẫn để nguyên cả quần áo. Trong một lần thấy hắn thập thò sau bụi chuối, cô tôi đã lôi cả ông bà tổ tiên nhà hắn ra mà đổ cả xuống sông xuống biển.
Đó là lúc chưa có chính sách thuế nông nghiệp và chưa phát động cải cách ruộng đất. Khi được đảng ủy đưa vào ngồi một trong năm cái ghế chủ tịch đoàn, thì người đầu tiên mà hắn quy địa chủ chính là ông tôi.
Chuyện đó hãy nói sau, giờ xin trở lại với những cây cau của bà tôi. Dù những năm kháng chiến, chẳng còn mấy ai ăn trầu nữa, ngay cả những người già, nhưng cau khô vẫn được mua rất đắt. Người ta bảo cau có thể trị sốt rét và nhất là cầm máu khi bị thương. Ngoài cau sấy khô, bà tôi còn tướt tàu cau bó thành chổi để bán cũng khá được tiền. Mo cau kết thành gàu múc nước, cắt thành quạt mo hay đựng cơm vắt đem ra đồng, rất tiện lợi. Thế nhưng cái miếng mo cau be bé của cô tôi dùng để làm gì, hỏi thì bà chỉ mếu máo cười không nói, ra dấu bảo đi chỗ khác chơi.

Trở lại chuyện trả thù của tay bần cố nông cốt cán.
Dạo ấy là cuối năm 54. Cả làng rùng rùng trống mõ, không đêm nào là không học tập phóng tay phát động quần chúng, tố khổ địa chủ. Ông tôi và cả chục địa chủ phú nông trong làng bị đem ra cho mọi người mắng nhiếc, chửi rủa…tức là đấu lý trước khi đấu lực. Mà đấu lực là bị đánh cho dập mình dập mẩy, ngoan cố thì bị đánh cho đến chết!
Pháp đi càn, đốt nhà hãm hiếp, mổ bụng trẻ con, sợ lắm! Nhưng chưa sợ bằng những cảnh đấu lực khủng khiếp sắp diễn ra! Vì vậy, trong một đêm, ông tôi đã leo lên cây cau cao nhất, định nhảy xuống tự tử. Nhưng khi trông thấy cô tôi đứng dưới gốc gào khóc thảm thiết, ông không còn lòng dạ nào mà chết nữa, đành phải tụt xuống và cả hai cha con cùng ôm nhau ngồi khóc.
Cô tôi, người rất thuộc Kiều, đã nói với ông tôi:
“Thôi xin cha, hãy để cho con bán mình mà chuộc cha!”
Mãi một lúc, ông tôi mới hiểu ra cớ sự, hỏi:
“Bán à, nhưng bán cho ai?”
Cô tôi nói: “bán cho thằng Còn!”
“Thằng Còn nào?”
“Thằng Còn sau nhà chứ còn thằng nào nữa!”
“Thằng ăn cắp đó à?”
“Dạ!”
“Không đời nào! Thôi để cha chết phứt cho rồi! Cha chết là hết chuyện!”
“Không đâu cha! Cha chết, hãy còn mẹ và con. Nhất là con. Nó thèm muốn con từ lâu, nếu lấy được con làm vợ, chắc nó sẽ tha mạng cho cha!”
“Không được! Vậy thì cả cha và con cùng chết, sống như thế nhục nhã lắm!”
“Không sao đâu cha, con có cách sống được mà!”
Ngay từ sáng sớm, cô tôi đã qua báo cho hắn biết cái tin không bao giờ hắn ngờ được, là sẽ lấy hắn làm chồng, thì ngay tối hôm đó, ông tôi đã không bị điệu ra đứng trước nhân dân nữa.
Và, liền hôm sau là động phòng mà không cần cưới hỏi.

Trước cái quyết định như đi vào hang cọp của cô con gái út, thay vì khóc lóc than thở, bà tôi bỗng trở nên im lặng như đất trời trước cơn bão lớn. Bà lấy một cái mo cau còn mới, gọi cô tôi vào buồng, rồi hai mẹ con rầm rì làm những gì trong đó mãi đến chiều tối mới bước ra.
Cô tôi mang theo một bọc áo quần, lặng lẽ ra sau vườn, vạch rào chui qua nhà hắn. Hồi đó chó đã bị giết sạch, nên khi thấy cô tôi bước vào, hắn giật mình kêu ớ ớ, lúng túng không biết gọi cô bằng gì.
Không đèn lồng, không pháo nổ, không đưa dâu, không đón dâu, một đời con gái mà lấy chồng trốn chui trốn nhủi như thế, ông bà tôi rất xấu hổ đau lòng. Ông thì nằm dài trên phản như chết đã ba ngày mà chưa chôn, bà thì cứ ngồi ngoáy mãi cái cối giã trầu đến nỗi làm nó thủng một lỗ mà chưa chịu đưa miếng trầu lên miệng.
Suốt đêm hôm đó hai ông bà không hề ngủ, nín thở chờ đợi mà chẳng biết chờ gì. Có thể là tiếng khóc, cũng có thể là tiếng thét, để cả hai có cớ mà ôm nhau khóc cho đứa con tội nghiệp của mình.
Mặc dù đảng ủy bảo như thế này là sai quan điểm lập trường, là không đúng với đấu tranh giai cấp, nhưng hắn bảo các nữ bần cố có ai chịu làm vợ hắn đâu!
“ Thưa thiệt với các đồng chí, hắn vừa nói vừa cười, con nít thì em biết, nhưng lớn lên thành đàn bà thì em không biết cái đó nó nằm ngang hay nằm dọc, thôi hãy nhắm mắt thông qua giùm cho. Mà nhà đó chiếu theo tiêu chuẩn thì cũng chỉ là trung nông thôi. Địa chủ là do em đẩy lên đấy!”
Vì cần một tên trơ khất có lý lịch đến bảy đời là cố nông để cơ cấu vào trong đội cải cách, nên đảng ủy cũng đành phải bớt cố chấp mà gật đầu. Một trong các vị liền vỗ vai nháy mắt, bảo sắp lên tiên rồi đấy nhé. Sướng thế!
Suốt buổi chiều hắn ngâm mình dưới sông kỳ cọ và vuốt ve cái của nợ, rủ rỉ nựng nịu: “mày sắp sướng ngất trời rồi đấy con ạ. Dài ra hơn nữa đi, to ra hơn nữa đi, cứng lên nào! Đấy, thế đấy, chưa chi đã thấy sướng điên lên rồi!”
Khi cô vợ bước vào, hắn liền đóng kín cửa, và như bọn trai làng cười cợt, chắc là hắn đè nghiến ra như hổ đói vồ mồi. Nhiều người, mặc dù sợ hắn như sợ cọp, nhưng vẫn tỏ ra bất bình và xót xa thương cảm cho cô tôi hoa nhài cắm bãi cứt trâu. Họ bảo bị Tây đen hiếp mà còn ít nhục hơn là làm vợ hắn!
Sáng ra, ai cũng tưởng vớ được con gái nhà địa chủ da trắng tóc dài, là coi như giai cấp vô sản đã chiến thắng, thế nào mặt hắn cũng câng câng, đã dễ ghét lại càng dễ ghét hơn nữa. Rồi thừa thắng xông lên, hắn sẽ đấu cho các nhà khác cũng phải nôn ra hết của cải vòng vàng, nếu muốn giữ lại chút danh tiết của vợ con.
Nhưng không, mặt hắn bỗng trở nên ỉu xìu như một miếng giẻ lau vừa mới đem nhúng nước. Thay vì vác mặt lên hiu hiu tự đắc thì hắn cụp đuôi tiu nghỉu như chó mất chủ. Đêm đấu lý hôm đó, hắn ngồi im re bỏ cả hai chân lên ghế, không còn xỉa xói hò hét, đánh đánh, giết giết như mọi đêm trước nữa.
Chẳng ai hiểu vì sao, nên khi tan buổi đấu lý, nhiều kẻ tò mò liền đi theo hắn về nhà để rình xem. Cả bọn vô cùng kinh ngạc khi thấy hắn bò xuống sàn nhà, vừa van xin vừa rên rỉ như một tên đầy tớ đang chịu tội, trong khi cô vợ nằm lặng thinh trên giường như một bà chủ uy nghiêm khó tính.
Người ta xì xào nhỏ to bàn tán. Có kẻ bảo hắn đã từng đào mồ lên lấy trộm đồ, giờ cùi tận mạng nên bị cô vợ hất xuống giường là phải lắm. Nhưng cũng có người thâm trầm hơn thì bảo, cái giống lưu manh bần tiện nó hùng hùng hổ hổ là vậy, nhưng khi đứng trước một nhan sắc trời cho lại run bắn lên. Làm bậy thì dễ chứ làm chồng một người cách xa mình cả một trời một vực đâu có dễ.
Chẳng biết đâu mà lần. Nhưng cô tôi dù đã sa chân vào hang cọp, cũng vẫn không mất đi cái cốt cách đằm thắm tự nhiên của một người đã được bà tôi dạy dỗ một cách cẩn thận. Mặc cho thằng chồng mặt lúc nào cũng nhăn như khỉ ăn ớt, cô tôi vẫn bình thản, coi như không có chuyện gì xảy ra.
Thế rồi, mấy tháng sau, xệch xạc như một manh chiếu rách, hắn thất thểu bước lên tàu Ba Lan đi tập kết ra Bắc. Cô tôi trở lại nhà, coi như vừa mãn hạn tù.
Khi chính quyền quốc gia đến tiếp thu, có một trung úy muốn ra tay nghĩa hiệp cưới cô làm vợ, nhưng cô lắc đầu từ chối. Cô tâm sự với mẹ tôi: “dù gì, em cũng đã mang tiếng chung chạ với một thằng cán bộ bẩn thỉu, thì chồng và con em nếu có sau này, cũng sẽ chỉ xấu hổ lây mà thôi. Em nhất định ở vậy, thề sẽ không lấy ai nữa!”
Cô sống đến năm ba mươi tuổi thì mất vì một căn bệnh hiểm nghèo.

Phải nhiều năm sau, trong một bữa giỗ cô, cha tôi vừa nhìn lén mẹ tôi vừa giải mã cái bí mật của miếng mo cau do cô tôi để lại.
“ Có gì khó hiểu đâu, ông nói, cô mày đeo cái miếng mo cau ấy vào, giống như cái đai trinh tiết của lính La Mã thời xưa đeo cho vợ trước khi ra trận, thằng Còn chỉ có nước ngồi khóc mà thôi! Nó héo ruột héo gan là vì thế!”
Mặc dù mẹ tôi nguýt dài tưởng chừng vung một đường dao sắc hơn cả dao cau, cha tôi vẫn đưa ly rượu lên môi, uống cạn. Xong, ông khà một tiếng, vuốt chòm râu lơ thơ một cách đắc chí, nói lớn:
“Giỏi thiệt! Chống cọng mà bản lĩnh mưu trí như bà nội và cô mày, đúng là giỏi hơn cả Mỹ!”


QUÊ NGOẠI

Thưở bé, được về ngoại là không gì thích bằng. Mà tôi lại có đến những ba nơi gọi là quê ngoại: một của tôi, một của cha và một của ông nội.
Hai tiếng quê ngoại lúc nào nghe cũng dịu ngọt, ấm áp. Và những chuyện bên ngoại nghe cứ như chuyện cổ tích.
Quê ngoại của tôi ở làng Thuận Thái, một ngôi làng bao quanh những tre là tre nằm dọc phía hạ lưu của sông Kôn, con sông chảy qua thành Đồ Bàn, nơi mà bóng dáng Huyền Trân tưởng chừng vẫn còn thấp thoáng đâu đó bên tháp Cánh Tiên.
Quê ngoại giáp ranh với quê nội, nên tôi có thể chạy một mạch từ nhà nội thẳng đến cổng nhà ngoại, chỉ chừng mười lăm phút. Bà ngoại đã mất sau khi sinh mẹ tôi, nên chỉ có ông ngoại râu trắng và dài tận ngực, ra đón cháu với một miếng đường phèn ngọt lịm.
Tôi nói có thể là sau này lớn lên, chứ lúc ấy tôi mới có bốn tuổi và mẹ tôi phải bồng, tôi mới có thể qua được con đường rẽ vào nhà tối om, đầy gai tre mục.
Nhà ông tôi nằm cạnh nhà ông nghè, là em họ của ông. Ông ấy đậu cử nhân thứ nhì nhưng không ra làm quan, nên vẫn là nhà lá mái lợp tranh, chỉ cửa ngõ xây gạch có đắp hình ông Lã Vọng ngồi câu. Ông là hình ảnh của nạn nhân đấu tố qua nhân vật cụ nghè Nhã của Những tháng năm cuồng nộ.
Làng có một ngôi chợ rất nhỏ lèo tèo vài chiếc lều chỏng chơ, gọi là chợ Rượu, nhưng dạo ấy cấm bán rượu, chỉ nhóm vào buổi sáng và là nơi bà tôi thường đem cau chuối trong vườn nhà lên bán.
Vào dịp Tết, chín cái chòi bé tí mỗi cái chỉ đủ chỗ cho một người ngồi được dựng lên giữa chợ, rồi trống kèn, hò hát, để mọi người từ khắp nơi kéo đến thử vận may. Những ông Ầm, Nọc Đượng, Sáu Cẳng, Bạch Huê …trong trò chơi đánh bài chòi ấy đã in vào đầu óc tôi từ đó. Và cũng không bất ngờ khi nó đi vào tác phẩm Lão tiền bối.
Dân làng, trong một lần đốt rác sau khi dựng chòi xong, đã bị máy bay Pháp trông thấy ném xuống một trái bom giữa chợ. Miểng văng vào tận vườn sau nhà ngoại, giết chết cô cháu gái tám tuổi con dì cùng một tuổi với tôi. Chị ấy mắt đen, da rất trắng, chẳng hiểu sao có tên là Quạ. Đến thời chống Mỹ, một trái nữa lại rơi ngay cạnh nhà, giờ hãy còn một cái hố sâu thẳm không bao giờ cạn nước.
Những ấn tượng đó ít nhiều làm mất dần cái vẻ ngọt ngào đầy yêu thương của quê ngoại, chỉ còn là những vang bóng lạnh lẽo của thương đau mà thôi.
Cái hình ảnh đẹp nhất còn để lại trong tôi, chính là bộ râu dài của ngoại. Trông nó rối rắm nhưng chưa bao giờ làm bối rối những ngón tay bé bỏng của đứa cháu nhỏ, mỗi khi nó được ông cho phép vuốt thử. Cũng may, trong những bài tập làm văn dù đã được nhồi nhét, tôi vẫn không một lần nào đem ra so sánh râu của ông với râu…Bác Hồ!

Quê ngoại thứ hai là của cha tôi. Dù đi bộ phải mất hơn nửa ngày, nhưng tôi vẫn thích theo bà về thăm trong những lần cúng giỗ hay Tết đến.
Mỗi lần như thế, tôi được dịp đi chơi xa, thoát khỏi sự dạy dỗ nghiêm khắc của con trai bà. Tôi lại được những người cháu gọi bà bằng cô chìu chuộng, cho rất nhiều quà bánh và tiền lì xì. Làng tên Lục Thuận, gần ngã ba sông có bắc một cây cầu chữ Y. Bên kia cầu là quê chồng của người chị ruột ông tôi. Ở đó, lính Đại Hàn đã dồn những người đàn ông mà bọn họ nghi là cọng sản vào trong một căn nhà, bên ngoài tưới xăng rồi châm lửa đốt. Một người cháu gọi ông bằng cậu may mắn thoát được nhờ nằm dưới một tấm vách bị ngã đổ.
Con đường đi qua làng của bà là con đường liên xã khá rộng và bằng phẳng, dạo sau này có xe ngựa, đi rất thích. Không gì vui bằng những ngày đầu năm, xúng xính trong bộ quần áo mới, giày mới, được ngồi bên cạnh bác xà ích nhìn cái bờm ngựa vàng hoe phơ phất và nghe tiếng nhạc ngựa leng keng ngọt ngào. Và càng thích hơn nữa, khi trong xe có một cô bé áo tím kiềng vàng cũng theo mẹ đi chùa hay về thăm quê ngoại. Đừng tưởng lấy cớ xe chật mà đụng tay đụng chân như bây giờ, cả hai ngồi im như pho tượng bằng đất sét, chỉ có trái tim, nếu tượng có một trái tim, là nhảy choi choi như muốn vọt ra khỏi lồng ngực. Nhưng cũng hơi buồn là chẳng có một cái liếc mắt nào dù là liếc trộm, chứ nếu có thì chắc đã nhớ nhau từ độ lâu rồi.Quê ngoại thứ ba là của ông nội tôi. Xa, rất xa, tận chân núi Chuông mây phủ, nơi có hai hòn đá một lớn một bé giống hình người mẹ đang ngồi bắt chí cho con. Từ đó phát sinh câu chuyện huyền hoặc: hòn vọng phu. Vẫn là chờ chồng hóađá, nhưng người chồng lại là người anh ruột bỏ đi sau khi biết mình phạm tội loạn luân! Câu chuyện ấy khiến quê ngoại của ông trở nên huyền bí và hấp dẫn. Tôi từng ao ước được một lần leo lên, tận mắt ngắm và tận tay sờ thử cái da thịt kia một khi đã thành đá nó như thế nào. Mãi đến năm đình chiến, ông tôi lần đầu và cũng là lần duy nhất đưa tôi về thăm quê mẹ của ông.Đứa cháu ngoại già đương nhiên không còn mong gặp ông bàngoại, cũng không mong gặp cậu mợ, chỉ mong gặp những người anh giờ cũng đã già như ông. Họ đứng mãi bên thềm, xúc động không nói lên lời. Mãi một lúc sau mới bước vào nhà. Ông tôi khoe đứa cháu trai mười bốn tuổi và họ xem mắt xemmũi tôi thật lâu như thể cố tìm trên đó một chút gì của nhà họPhạm còn lưu lại ở đứa cháu đời thứ tư. Rồi đó, hết nhà ông bác này đến nhà ông bác nọ mở tiệc đón mời. Chưa bao giờ tôi được ăn nhiều thịt như thế. Các mâm cỗ đầy ắp thịt, có cả thịt nai và heo rừng.
Trong bữa ăn, họ hỏi nói đủ thứ chuyện, nhất là chuyện cải cách ruộng đất vừa qua. Họ cũng không quên nói chuyện đi săn, chuyện cọp trả thù và chuyện bắt rết rừng trong những cơn mưa đầu mùa để làm mồi nhậu. Không ai nói chuyện hai mẹ con trên núi Chuông, không biết có phải vì quá quen thuộc hay vì đó là nơi linh thiêng có đầy âm khí.Nhà họ Phạm khá giàu, đã chia một phần gia tài cho cô em, và bà cố tôi đã đem số của cải ấy về tậu ruộng ở quê chồng. Ruộng sát vườn nhà, gọi là đám Ngõ. Lúc bé, mùa lụt tôi thường ra ngồi câu, đến mùa gặt xem thợ gặt và mùa cấy xemthợ cấy. Hình ảnh những cô thợ cấy trên đồng, tuy lam lũ, nhưng theo tôi là dịu dàng và xinh đẹp nhất. Ruộng vừa bừa xong, nước bùn lênh láng, biến thành một tấm gương thật to in cả mây trời long lanh nắng. Các cô gái mười tám đôi mươi, quần đen xắn lên quá gối, nón trắng nghiêng nghiêng, xếp thành hàng dài như những con thiên nga đen trong vở ballet Swan lake. Khi con đầu đàn dứt một câu hò là cả đám cùng cất tiếng hế hò hê nghe thật êm ái.Nhưng, giống như quê ngoại của tôi và của cha, quê ngoại của ông cũng không tránh khỏi bất hạnh do chiến tranh.Một người có cha đi tập kết, mà con lại bị Thượng cọng bắn chết trên đèo Mang Giang, khi bác ấy chạy xe đò trên đường Quy Nhơn An Khê.Một người nữa, là gái, tôi gọi bằng cô, một mình lái xe geep đưa mẹ tôi vào Ninh Hòa trước khi chạy vào Sài Gòn, đến Phan Thiết thì bị lính di tản cướp mất xe. Nghe nói cô ấy ngã xuống bất tỉnh dù không bị bắn, vì trong bánh xe secours có chứa đầy vàng! Quê ngoại buồn như thế đấy! Mà quê nội cũng không ít buồn hơn. Ông tôi đã bị bắn chết bên bờ dậu sau khi ngôi nhà đã bịđốt cháy. Thật không may, thế hệ của chúng tôi, ai cũng có một tuổi thơ ít nhiều ngậm ngùi. Ngậm ngùi hơn nữa nếu mai đây, chẳng những không còn quê nội quê ngoại, mà cả thành phố cũng trở nên xa lạ, nếu đất nước này biến thành một tỉnh của những con chó sói
phương bắc. Đi đâu, dứng đâu, ngồi đâu cũng chỉ thấy rặt một giống tàu, tàu và tàu!Thì thôi, hãy khóc lên đi hỡi quê hương yêu dấu*!

mượn tựa tiểu thuyết nổi tiếng của Alan Paton


Khuất Đẩu

Đầu năm 2019

Advertisements

ĐÔI KHI NẮNG LÊN

Đôi khi nắng lên làm tôi nhớ
Trịnh Công Sơn

Mưa!

Không chỉ một cơn mà nhiều cơn. Không chỉ một ngày mà nhiều ngày. Mưa gần như suốt mùa đông. Có một nhà thơ đã phải kêu lên:

Mưa chi mưa mãi
Mưa mãi mưa hoài
Lòng biết thương ai
Trăng lạnh về non không trở lại.

Đó là những cơn mưa xứ Huế, mưa dầm dề, mưa lê thê. Mưa như một người đàn bà ghen ngồi tỉ tê kể tội chồng mình suốt đêm dài không cho anh ta ngủ.Đất trời chìm trong màn mưa trắng đục, lạnh cả chiếu chăn, lạnh cả hồn.

Thế rồi bỗng dưng mây tan, và nắng lên. Ôi nắng mới ngọt và ấm làm sao. Nắng xối xả, nắng vàng tươi, nắng trên mái nhà, trên đường phố, trên bãi cỏ ven sông… nắng cũng có âm thanh trong veo như tiếng cười. Mọi người đều đổ ra đường kể cả những cụ già suốt ngày ngồi ôm lồng ấp trước ngực. Tiếng người nói, tiếng guốc khua, tiếng còi xe sau bao nhiêu ngày như mất tăm trong mưa bỗng dưng xuất hiện đông vui, rộn rã.

Nhưng cũng chỉ một ngày, có khi chỉ một vài giờ, rồi lại mưa, mưa dầm dề mưa lê thê, mưa như để bù lại cái bất chợt nắng lên.

Lại lạnh cả chiếu chăn. Và, lại lạnh cả hồn.

Nhưng, đôi khi, hay chỉ là một vài khi, như thế cũng đủ ấm lòng người. Trịnh Công Sơn hát:

Đôi khi nắng lên làm tôi nhớ

Nhớ gì nào?

Nhớ những buổi sáng đầy sương mù trên sông Hương, những con thuyền hư ảo như trôi trong mơ, những tà áo trắng của nữ sinh Đồng Khánh biến thành mây trên bến Thừa Phủ.

Và những chiều tím với bao tà áo màu tím than rất riêng của Huế, nhớ tiếng rao hàng ngọt ngào nũng nịu, đã nghe là y như rằng không thể không muốn ăn.

Nhớ sen nở trắng như tuyết quanh hồ thành nội, những mảng tường rêu xanh ở cữa Thượng Tứ, nhớ những quan văn quan võ bằng đá cung kính đứng chầu trước sân đại nội cho dù các ông vua triều Nguyễn đã đi vào thiên cổ, nhớ chợ Đông Ba trên bến dưới thuyền và cầu Trường Tiền như một nét mày cong duyên dáng của giai nhân.

Có lẽ, người ta chỉ thật sự yêu Huế khi đã đi xa. Và cũng chỉ một đôi lần nhớ Huế khi mùa mưa tới. Nhất là một đôi khi nắng lên.

Tôi chỉ ở Huế một mùa thu và nửa mùa đông. Tôi không có một chút ấn tượng nào của núi Ngự, dù rằng Bùi Giáng đã rất thực và cũng rất dí dỏm khi viết:

Thưa rằng: xứ Huế bây giờ
Hãy còn núi Ngự bên bờ sông Hương

Ngọn núi trở thành bình phong của kinh thành nhà Nguyễn ngày nào đã không còn thông reo vi vu xanh ngắt, giờ trơ trụi với mồ mả chênh vênh trồi sụt. Tôi cũng không ưa những lăng tẩm tàn phai buồn hiu hắt. Lăng Gia Long khiến tôi nhớ đến cuộc hành hình tàn bạo đối với mẹ con nữ tướng Bùi Thị Xuân, lăng Minh Mạng nhớ tới cái chết của lão thần Nguyễn văn Thành, lăng Tự Đức nhớ tới giặc Chày Vôi, còn lăng Đồng Khánh thì nửa Tây nửa Tàu rất dị hợm.

Cái còn đọng lại trong tôi ấy là, gần như các gốc cây cổ thụ trong thành nội đều có những ngôi miếu nhỏ lúc nào cũng khói hương ấm áp. Người Huế đã không quên cái đêm kinh thành thất thủ khiến mấy ngàn người chết. Và lại càng khó quên những người chết trên bãi Dâu trong trận Mậu Thân.

Tôi cũng không quên được cái rạp hát bội cũ nghèo nàn trên đường Phan Bội Châu, chỉ lèo tèo một vài chục khách mà đêm nào cũng sáng đèn hự hự ứ ư, quán thịt dê bên cạnh với những con dê chờ chết suốt đêm kêu be be như oán như than.

Và lại càng không quên những chiếc bánh nậm mỏng như chiếc lá, bánh bột lọc trong vắt như kiếng trông thấy cả con tôm nằm im bên trong, chén nước mấm ngon dầm ớt xanh vừa cay vừa thơm ngát.

Hỏi rằng có nhớ riêng cô gái Huế nào không, thì thưa rằng không dám. Nhưng bảo rằng quên thì thực khó mà quên được những chiếc nón bài thơ e ấp, nép bên trong là những mái tóc thề. Gần như các cô gái Huế chưa chồng không cô nào chịu phi dê. Các cô chỉ ra khỏi nhà khi đi học và chỉ đi bộ hay đi xe đạp tới trường rồi lặng lẽ ra về, không tụm năm tụm ba ăn quà vặt hay dung dăng dung dẻ lang thang trên đường. Cho nên cô nào cũng có vẻ tiểu thư con nhà khuê các.

Những cô gái ấy, sau này trở thành bà quận trưởng, bà đại úy lại nói rất nhiều và ghen đáo để.

Tôi có anh bạn, bảo rằng anh đã lầm cái vẻ khuê các đó trong nhiều năm và ngao ngán chịu đựng suốt cả một đời.

Mà thôi, hãy yêu Huế một đôi khi và nhớ Huế một đôi lần, để thấy mình giàu có thêm đôi chút, vậy là vui rồi.

Khuất Đẩu

Diễn từ của nhà văn Khuất Đẩu ( vắng măt)

 Chúc Mừng Nhà Văn Khuất Đẩu Nhận Được Giải Đặc Biệt Của Văn Việt Lần 3 năm 2017

Thưa các bạn

Thật vinh hạnh khi được đứng ở nơi đây trong tiết xuân mát mẻ và trong tình thân hữu ấm áp để nói một đôi lời.

Tôi có người bạn bảo cầm bút bây giờ còn nguy hiểm hơn cả Kinh Kha cầm con dao chủy thủ đi vào đất Tần bất trắc. Vì đất Tần lúc này không chỉ có một, mà có đến những hàng trăm hàng ngàn bạo chúa còn tàn bạo hơn cả Tần Thủy hoàng.

Biết vậy, nhưng tôi vẫn phải cầm lấy bút để viết về những tháng ngày mà thế hệ chúng tôi đã sống và đã chết, trong suốt cơn mê dài của lịch sử với những cuộc bắn giết kinh hoàng, những chia ly mất mát.

Tôi gọi đó là Những tháng năm cuồng nộ.

Qua cuộc đời của một đứa bé bị thả trôi sông, tôi muốn nói đến thân phận của người nông dân Việt Nam, trong gần 100 năm qua, thời nào cũng bị lợi dụng, bị phỉnh gạt, sau cùng là bị bỏ rơi trong đói nghèo và tuyệt vọng.

Nhưng họ vẫn sống, đùm bọc nhau, nương tựa nhau mà sống.

Một cô Sáubằng tình thương, một chị Thảo bằng tình yêu, hai người đàn bà một già một trẻ đã đưa nhân vật tên Được vượt qua những đoạn đường gập ghềnh khi phải lăn theo vòng quay của bánh xe lịch sử.

Nhờ vậy mà anh ta sống đến năm 2000, năm mà Chúa bảo là tận thế, để được nghe chào cha đi con như tiếng gọi từ trong mơ hay từ một cõi trời nào đưa lại.

Dù không thoát khỏi cái bóng quá lớn của lịch sử, nhưng khi viết Những đêm trắng là tôi viết về mối tình của Nguyễn Thái Học và Nguyễn Thị Giang chứ không phải lịch sử của Việt Nam Quốc Dân đảng.

Một mối tình theo tôi là bi tráng nhất của thế kỷ 20. Ở đó, ngoài tình yêu tổ quốc còn có tình đồng chí, tình chồng vợ và tình mẫu tử. Cô Giang, sau khi chứng kiến người đảng trưởng và cũng là người chồng của mình bị chặt đầu, đã có một đêm thức trắng trên cánh đồng Thổ tang với bao trăn trở: chết theo chồng cho trọn lời thề, hay cố sống để sinh con là những phút giây vật vã đau đớn còn hơn cả Hamlet thao thức “to be or not to be”.

Truyện Những con đom đóm, một người mẹ bất đắc dĩ phải làm cái nghề đáng xấu hổ, đã quyết định từ bỏ nghề để sống sao cho xứng đáng với linh hồn trong sáng của con.

Truyện Ai đã giết A.Q, một cô gái miền Tây chỉ với 500 đô đã trở thành nạn nhân của nô lệ tình dục, còn bi thảm hơn cả cô Kiều khi rơi vào tay Mã Giám Sinh.

Những nhân vật nói trên đều có một sức chịu đựng thầm lặng vô cùng bền bỉ. Họ bị đàn áp, bị đọa đày, nhưng không hề oán than số phận, cũng không cả căm thù. Họ không muốn nổi loạn, chỉ muốn tháo bỏ chiếc gông trên cổ mình chứ không muốn chặt tay kẻ đóng gông.

Nhưng không phải vì thế mà bảo rằng họ yếu hèn bạc nhược. Không có sự dũng cảm nào phi thường bằng sự chịu đựng, cũng không có sức mạnh nào đủ sức đánh bạt cái ác, cái xấu, bằng tình yêu thương.

Thưa các bạn,

Trước năm 2000, tôi chưa hề cầm bút. Và giờ tôi cầm bút nhưng chưa phải là nhà văn.

Tôi không có một hạt giống tư tưởng nào để gieo, không có một học thuyết nào để rao giảng. Tôi chỉ là một công dân bình thường và tầm thường, kể lại những điều đã thấy, đã nghe, nhưng không phải để mua vui một vài trống canh, cũng không phải để khóc than, mà để chứng tỏ một điều rằng, dù nghiệt ngã cay đắng đến đâu, tôi vẫn yêu cuộc sống này và trước khi giã từ tôi muốn được nói lời cảm ơn.

Trước hết, tôi xin cảm ơn Bà tôi mà hình ảnh của cô Sáu có nhiều nét giống bà, nhất là cách kể chuyện và tính tình nhân hậu.

Tôi cũng xin cảm ơn quê hương tôi, một làng quê nghèo gần thành Đồ Bàn với những Thủ ngữ Đực, những Khứ vừa có thật vừa không thật, là những con rối ngô nghê trong chín năm kháng chiến, thời mà người ta gọi là ấu trĩ cách mạng.

Xa hơn, rộng hơn, tôi đặc biệt cảm ơn trí tuệ vô tận của loài người, đã tạo ra một bầu trời mới lạ vô cùng rộng lớn, đó là Internet.

Nhờ có Internet, mà những kẻ cầm bút hôm nay không phải còng lưng ra thồ từng con chữ như Trần Dần, hay phải mòn tay viết văn lên đá như Phùng Quán.

Có thể nói cuộc cách mạng tin học đã hoàn toàn cởi trói cho chúng ta. Rất tự do, rất đường hoàng, như tháp Bút “tả thanh thiên”, chúng ta viết lên bầu trời ảo hàng tỷ trang viết, mà không một Tần Thủy hoàng nào, không một Hitler nào có thể dùng ngọn lửa phần thư mà thiêu hủy được.

Cho dù không được in ấn trên giấy trắng mực đen, không được nâng niu cầm trên tay, nhưng chúng ta biết những con chữ mang hơi thở của cuộc sống vẫn sáng lấp lánh trên màn hình của bạn đọc như những vì sao.

Sau cùng, tôi xin bày tỏ lòng kính phục đối với Ban Vận động Văn đoàn Độc lập, dù bị văn đoàn ồn ào cấp nhà nước cô lập hòng xóa sổ, vẫn dũng cảm và gan lì tập hợp những cây bút nhân bản trong nước và ngoài nước ngày càng đông đảo, hùng hậu.

Với cách nhìn đúng đắn và trân trọng về nền văn học miền Nam, Ban Vận động cũng đã bước đầu kết nối tình tự dân tộc để bắc cầu cho hai bờ tư tưởng Bắc Nam.

Xin gửi đến Ban Biên tập lòng biết ơn sâu đậm, trong suốt một năm qua đã tải lên Văn Việt những tác phẩm bé nhỏ của tôi để mỗi lần lên mạng, tôi đều xúc động vì biết rằng, dù viết trong cô đơn nhưng tôi không hề cô độc.

Xin cảm ơn các bạn có mặt trong buổi sáng hôm nay.

Xin chúc các bạn sức khỏe dồi dào để viết nhiều và viết hay hơn nữa.

KHUẤT ĐẨU

NGƯỜI TÌNH GIÀ

 

 

Tôi yêu văn ông trước khi yêu con người thật của ông. Chuyện đó giống như yêu một mùi hương lạ trước khi biết được nó từ đâu tới.
Trong khi ông thai nghén và sản sinh ra tác phẩm đầu tay của mình, thì ở một nơi cách xa trên bốn trăm cây số cũng có một người đàn bà đang hoài thai đứa con gái đầu lòng. Mẹ tôi khi đó yêu những tác phẩm tinh thần của ông, đâu biết rằng 40 năm sau ông lại yêu tác phẩm bằng xương bằng thịt của bà.
Có một truyện ngắn của ông được bà cứ tấm tắc khen hoài. Truyện kể một người đàn bà sống đến 80 tuổi mà không được ai yêu, mãi đến khi chết mới có một người bạn cũ đến khóc và than rằng, “tôi yêu em mà em đâu có hay”! Truyện đó cứ ám ảnh tôi mãi, biết đâu cũng có thể, chính là truyện của đời mình!
Tôi sinh ra và lớn lên bên bờ biển đầy cát trắng. Từng đêm tôi nghe tiếng sóng vỗ miên man. Và, cũng miên man từng ngày, tôi nghĩ đến những con sóng của cuộc đời. Sóng cứ ngày đêm xô mãi như thế, thì thứ gì dù cứng đến mấy rồi cũng sẽ vỡ tan. Bao nhiêu cát trắng xóa kia phải chăng là những mảnh vỡ của cuộc đời?
Có lẽ vì thế mà tôi trầm ngâm ít nói. Dưới cái nhìn của mọi người tôi có vẻ xa cách, lạc lõng. Ngay từ khi còn bé, tôi đã không chơi trò chơi của những đứa cùng tuổi. Lớn lên, trong khi bọn họ chuyền tay nhau thơ văn của các nhà văn thời thượng, thì tôi âm thầm đọc hết những tác phẩm của ông mà mẹ tôi đã có được. Văn của ông so với các nhà ấy, cứ như cơm nhà nghèo so với cao lương mỹ vị. Nó mộc mạc, đơn sơ, rất đời thường nhưng lại hợp với khẩu vị của mẹ con tôi.
Ông thường khen tôi đẹp, đương nhiên rồi, người đàn ông nào mà chẳng khen người yêu của mình đẹp, nhất là khi người đó là nhà văn thì lại càng không tiếc lời. Tôi rất thích nhưng tin chỉ một nửa hay nhiều hơn một chút. Nếu đẹp như ông nói, tôi đã có chồng từ những năm 20 chứ đâu mãi đến năm 40 mới được ông “tuyển vào hậu cung!”
“Tuyển vào hậu cung”, là cách chúng tôi đùa cợt khi đã yêu nhau.
Cái đêm mà Ôn Như Hầu không biết gọi “đêm ấy là đêm gì” tôi đã đem cái “nghìn vàng” ra “phụng quân vương”*. Khi biết tôi hãy còn trinh, ông nửa ngạc nhiên thích thú, nửa ngại ngùng xót xa.
“Nếu biết thế này, anh đã không làm thế!”, ông nói.
“Nghĩa là sao?”, tôi hỏi.
“Nghĩa là phải để dành”
“Để dành cho ai?”
“Cho chồng em chớ cho ai nữa!”
“Thế anh không phải là chồng em sao?”
“Không, anh chỉ là một người tình già!”
“Anh là một quân tử Tàu thì có!”

Ông sống mực thước cũng như văn của ông. Từ tóc tai đến áo quần không một thứ gì ra vẻ, hay cố làm ra vẻ, của một nhà văn. Lại càng không giống với những kẻ lập dị râu tóc dài thậm thượt hay cạo trọc nhẵn thín như sư cọ. Ông như một công chức mẫu mực, lúc nào tay áo cũng cài cúc, cổ thắt cà vạt nghiêm chỉnh. Tuy không phải che dấu ai vì vợ ông đã ly dị, nhưng ông cũng rất ít khi cùng tôi đi dạo ngoài phố. Nếu có phải đi mua sắm, ông cũng không cho tôi khoát tay và thường rảo bước thật nhanh để tôi theo không kịp. Ông cố tạo ra một khoảng cách giống như khoảng cách tuổi tác giữa ông và tôi. Mặc dù tôi cố tình làm cho mình già trước tuổi bằng cách búi tóc, một đôi khi ăn trầu, nhưng ông bảo, dù làm cách gì chăng nữa, thì em cũng vẫn là em, một công nương trẻ và đẹp. Còn anh, dẫu có cưa sừng cũng khó mà thành nghé được.
Bốn mươi năm sau ngồi nhớ lại, tôi thấy ông nói khá đúng, nhất là khi ở trên giường. Trong khi tôi tuôn trào như một con suối sau cơn mưa rừng, thì ông như một con sông lững lờ khi đã ra tới biển. Dù vậy, chúng tôi vẫn là hai người tình gắn bó tưởng chừng không thể nào xa nhau. Tôi thì phơi phới thật sự khi yêu và được yêu lần đầu, còn ông thì ngậm ngùi tiếc nuối vì cái quỹ thời gian còn lại quá ít ỏi.
Nên ông rất đỗi dịu dàng, rất đỗi nâng niu.

Sinh nhật thứ 40 của tôi được ông tổ chức ở một nhà hàng sang trọng. Có hoa hồng vàng, có rượu vang đỏ, có nến trắng và cốc thủy tinh trong veo. Ngồi đối diện trên hai chiếc ghế bọc nhung, chúng tôi có vẻ như hai ông tây bà đầm nào đó ở Paris.
“Mời em”, ông nói khi ra hiệu cho tôi thổi nến.
Tôi phải thổi đến hai lần mới tắt hết 40 cây nến nhỏ cắm đầy trên chiếc bánh sinh nhật. Đến khi cắt bánh, tôi run tay đánh rơi con dao, ông phải cắt giúp. Rồi ông khéo léo và ân cần đưa phần bánh đã cắt sang đĩa tôi.
“Mừng sinh nhật em”, ông nói.
“Cảm ơn anh”, tôi nói.
Chúng tôi nâng ly, trong khi bản nhạc Happy Birthday ở đâu đó vang lên êm ái và bên ngoài trời thì mưa.
Thực là lãng mạn nếu có thêm một nụ hôn. Nhưng ông không hôn, dù tôi rất muốn, điều đó thật quá khó đối với ông lúc này.
Rồi tiệc tan, mưa tạnh.
Đêm đẹp và thơm tho vì hãy còn mùi hương của nước mưa. Tôi muốn đến một quán cà phê nào đó để nghe nhạc, nhưng ông bảo cà phê khó ngủ, nên đưa tôi về. Đến lúc này ông mới kéo tôi lại gần, hôn một cách hờ hững, hôn cho đúng thủ tục vậy thôi.
Hóa ra, tiệc mừng sinh nhật cho tình nhân mà tinh khiết quá cứ như tiệc mừng sinh nhật của con gái.

Đến khi xa nhau, tôi tự hỏi có phải vì cái khoảng cách 20 năm sâu quá không lấp nỗi chăng, hay vì cái ý tưởng trông như cha và con đã khiến cho cả hai không thể đi chung một con đường?
Có thể như thế lắm.
Cách ông chăm sóc, cách ông yêu thương khiến cho tôi xúc động, nhưng chỉ vì tôi không có cha chứ không phải vì ông là một người tình. Còn ông, chỉ có hai người con trai, một theo mẹ, một ở với cha. Tôi là hình bóng đứa con gái ông mong muốn mà không được sinh ra chứ đâu phải là “thứ phi”.
Thế nên, cái ly rượu tình tưởng là nồng nàn uống vào sẽ say ngây ngất hóa ra càng uống càng thấy đắng, càng uống càng thấy tỉnh ra, để biết rằng “phải sớm liệu mà xa nhau ”.*
Những buổi hẹn hò thưa dần.
Những phút giờ trên giường ngắn lại.
Chẳng ai đến cướp mà vẫn cứ mất đi từng chút một.
Và rồi, đến lúc không còn gì nữa ngoài chút dư vị ngẩn ngơ.
“Quả thực anh đã làm hại đời em, một hôm ông nói. Chính vì cái tham lam của đàn ông đã khiến anh muốn chiếm đoạt em dù biết rằng không giữ được. Dù sao, mọi sự cũng đã rồi, anh không thể nói lời xin lỗi mà chỉ muốn nói cảm ơn. Cảm ơn em đã đến với anh như một bất ngờ tuyệt hảo. Cảm ơn em đã cho anh trẻ lại dù không phải cưa sừng”.
“Anh đang ca vọng cổ đấy à?” tôi cay đắng mỉa mai.

Sự tham lam của ông giống như một người đã rụng gần hết răng nhưng thấy đồ ăn ngon vẫn cứ muốn động đũa. Ăn không được thì bỏ mứa. Tôi là món ăn ông động vào rồi bỏ đó, đến nỗi ế thiu ế chảy đến tận bây giờ.
Cảm ơn!
Cảm ơn!
Tôi sợ hai tiếng đó cho tới già.
Nhưng rồi, nhớ tới người đàn bà bất hạnh trong truyện của ông, chẳng những tôi hết giận mà còn biết ơn, chứ không phải cảm ơn, rằng nhờ có ông mà tôi cũng có được một người ngõ lời yêu khi còn sống chứ không phải đợi đến lúc chết mới nói, “anh yêu em mà em đâu có hay”!
Tôi viết những dòng này thay cho bó hoa tưởng niệm đặt trên mộ ông. Xin hãy yên nghỉ, hỡi người tình già của em.

Khuất Đẩu
Những ngày đầu năm 2018
*mượn chữ của Đoàn Phú Tứ
*mượn thơ Phan Khôi

MONG ĐƯỢC MỘT LẦN!

 

 

Chị ơi, em viết những dòng này khi chỉ còn một tuổi nữa là đã 80, và chắc chị cũng đã không còn trên cõi đời này nữa.

Năm ấy, chị trên 30, một góa phụ trẻ, sống với hai con, một trai một gái. Chị đi làm ngày hai buổi, một mình, dù nắng hay mưa chị đều cuốc bộ. Buổi sáng, khi chị rời khỏi nhà, tháp chuông trên nhà thờ đá giục giã đổ hồi. Buổi chiều, chuông cũng ngân nga khi chị bước ra khỏi sở. Chiếc đồng hồ bốn mặt trên tháp cao vẫn cứ âm thầm đếm bước thời gian. Không biết có khi nào chị đếm những bước chân lẻ loi của chính mình.

Cuộc đời chị nhỏ nhoi quá, lặng lẽ quá. Có thêm một nụ cười cũng chẳng ai biết, thêm một giọt lệ cũng chẳng ai hay.

Cho đến khi có bé Tr.

Bé Tr. đến với chị như một nụ hồng ân sủng. Tiếc thay hoa hồng nào mà chẳng có gai. Trong khi chị nâng niu bé Tr. thì trái tim chị rướm máu. Bên hiên nhà, khi ánh trăng lọt qua kẽ lá rải những đốm sáng như những nụ hoa vàng, chị khóc và kể cho em nghe mối tình oan nghiệt của chị.

Người đàn ông ấy, có một thưở là thư ký riêng của vua Bảo Đại, rất mực hào hoa và cũng rất mực đa tình. Chị bảo, ông ta có lạ gì những người trẻ và đẹp khắp bốn phương, cuộc đời tình cảm của một viên chức cao cấp đâu chỉ có mỗi một bà vợ cho dù rất đẹp, mà còn có những mối tình thoáng qua với phấn son ngào ngạt. Những người đẹp dễ dãi ấy qua tay ông nhạt nhòa như nhấp thêm một ly rượu, hút thêm một điếu thuốc.

Ông chẳng yêu ai cả.

Cho đến khi gặp chị.

Một nữ nhân viên chỉ hơn một nữ lao công, thầm lặng không phấn son, đơn giản với chiếc áo dài màu tím và guốc mộc.

Chỉ vậy thôi mà ông điên đảo.

Cũng có thể là ông điên thật, nên nhiều đêm ông một mình lái xe qua đèo Hải Vân chìm trong mây mù, vào thành nội âm u chỉ để lặng lẽ đứng yên bên khung cửa sổ đã đóng kín.

Ông nghe tiếng chị thở, tiếng chị trở mình, thương tấm thân mỏng manh bé nhỏ của chị co ro trong chiếu chăn lạnh lẽo. Rồi ông trở về để kịp sáng ra có mặt trước vợ con đề huề, ăn sáng như thường lệ, xong đến sở ngồi đĩnh đạc trên chiếc ghế giám đốc dành riêng cho ông.

Không chỉ một đêm mà nhiều đêm.

Không chỉ những đêm đầy sao mà cả những đêm mưa.

Ông đứng như trời trồng, trong khi những cơn mưa mùa đông của xứ Huế cứ rỉ rả kéo dài lê thê.

Ông đứng đó cho đến khi chị bất ngờ mở cửa sổ, thấy ông toàn thân ướt sũng.

Thế là ông đã biết yêu và cõi lòng lạnh lẽo của một góa phụ cũng đã bắt lửa, để rồi kết trái là  bé Tr.

Có bé Tr. chị bỗng nhiên sống trong lo sợ. Không sợ chiến tranh mà sợ bà chị  có thể vào bắt cháu để cắt đứt một cuộc tình hoang dại.

Em đến nhà chị cũng vì vậy, đến để có thêm một người đàn ông cho rậm cửa rậm nhà chứ không chỉ để dạy kèm hai con nhỏ đang còn học tiểu học.

Rồi mọi sự cũng qua đi. Không một người đàn bà nào có thể cấm cản được một người đàn ông đang yêu. Bé Tr. cứ phơi phới lớn lên, mặc cho đàm tiếu, mặc cho bom đạn, mặc cho những kẻ không mời mà đến cướp mất nhà em, đẩy mẹ con em xuống thuyền vượt biên chỉ với hai ổ bánh mì và một lon sữa.

Thuyền ra khơi cứ như đi picnic. Đến ngày thứ ba thì hết cả đồ ăn và nước uống. Ai cũng đi vội nên chẳng mang theo được gì nhiều.

Khát!

Phải uống nước tiểu của nhau. Mà nước tiểu cũng cạn dần. Chỉ còn mỗi một cách là lạy trời mưa xuống! Nhưng trời cũng rất không độ lượng, chỉ có mây đen nghìn nghịt vần vũ mà ngóng mãi cũng chẳng có giọt mưa nào rơi xuống.

Nước không có, tàu các nước qua lại như mắc cửi nhưng chẳng tàu nào chịu dừng. Sau mười bảy ngày đêm lênh đênh trên biển, đành phải quay vào bờ.

Thuyền tấp dưới chân đèo Cả, có công an biên phòng chờ sẵn. Đàn ông đi tù một lũ, đàn bà con nít được đưa vào nhà thương rồi được tha.

Chưa bao giờ chị trải qua những ngày giờ kinh hãi đến thế. Sợ nhất là bé Tr. cứ muốn lao xuống biển vì khát.

Mặc dù vậy nhưng sau đó ít năm Tr. muốn thử đi lần nữa. Tr đi một mình. Và thoát.

Em đến được Pháp, được gặp bố dù đã rất già, được học nghề rồi đi làm với lương đủ sống thoải mái. Hình em chụp gửi về, mặc áo pull đỏ ngồi trên lan can trông khỏe mạnh và rất xinh.

Rồi em biết yêu và được yêu. Chàng là một thanh niên Pháp, rất đẹp trai. Cả hai đều rất trẻ trung, gần như là một cặp đôi hoàn hảo. Chàng đưa em đi thăm thú khắp nơi rồi đưa về nhà chào bố mẹ. Ông bố đã có một thời ở Việt Nam, khen Nha Trang thanh bình và đẹp. Ông cũng rất quý em, thầm khen con trai đã tìm được một ý trung nhân phương đông xinh đẹp.

Rồi một buổi chiều, trong khi tiếng chuông nhà thờ Đức Bà ngân nga, chàng quỳ gối xin cầu hôn và em đã chìa tay ra cho chàng trao nhẫn. Cả hai ôm nhau hôn thắm thiết rồi bay về phương nam đầy nắng ấm để ăn mừng.

Đẹp quá phải không chị và lòng người mẹ bấy lâu buồn lo bỗng sáng bừng lên niềm vui chờ đợi. Chị vội vã lo mọi thủ tục để sang dự lễ cưới của con.

Thế nhưng, một hôm cả hai rủ nhau về một miền quê. Trên ngọn đồi xinh có một nhà tu kín. Em bỗng muốn xin vào thăm và được Mẹ bề trên vui vẻ mời vào.

Em chơi ở đó suốt ngày, được Mẹ dẫn đi thăm mọi chỗ, được mời ăn trưa, và khi chiều đến em bỗng dưng không muốn về!

Thế là em được ân phước của Chúa, như Mẹ nói, và em đã nguyện dâng mình cho Chúa suốt đời.

Trước khi bước vào cánh cửa đóng kín, em được phép gặp mẹ một lần. Và chỉ một lần rồi thôi.

Chị tất tả đi qua Pháp để gặp con. Chị chỉ nghe em nói, bonjour maman rồi xách giỏ theo các bạn đồng tu đi xuống đồi hái nho. Đã tự bao đời, các nữ tu quần quật chặt cây khiêng đá biến ngọn đồi đầy đá sỏi thành những vườn nho. Rồi họ làm rượu không phải để uống mà để bán, tự mưu sinh chứ không có một nguồn trợ cấp nào khác.

Em rồi cũng sẽ như vậy, ăn ngủ thức đều theo giờ giấc nghiêm ngặt, làm việc bằng chân tay chứ không có máy móc nào trợ giúp. Và tối đến, sau giờ đọc kinh chỉ được ngã lưng trên bệ xi măng cứng lạnh.

Chị khóc và âm thầm quay về. Từ đó, chị coi như mình đã đánh mất cả cuộc đời.

Tr. nay cũng đã lớn, không hiểu khi bỏ cả người chồng sắp cưới, bỏ cả người mẹ khổ đau để dâng mình cho Chúa thì đã được những gì. Nước Chúa ư? Xa xôi quá nếu không muốn nói là rất ảo tưởng, và có phải là thiên phước chăng khi chung quanh chỉ có một bầy chiên ngoan đang quỳ dưới chân Chúa?!

Chị ơi, em viết những dòng trên đây như một nén hương thắp cho linh hồn tội nghiệp của chị. Nếu có một cõi khác, em cầu mong chị được một lần gặp lại con.

Khuất Đẩu

Noel 2017

ĐỌC ĐỐT LỬA NGHE SƯ ĐÀN CỦA NGUYỄN XUÂN THIỆP

Cách đây khoảng 10 năm, tôi nhặt được đâu đó tập truyện và những đoản văn của Lâm Chương. Sách được xuất bản tại Mỹ, nhưng photocopy tại Việt Nam. Sau trận phần thư và đưa một số nhà văn đi cải tạo, thì việc lưu truyền một tác phẩm từ một người tù cải tạo là cực kỳ nguy khốn. Nhớ trước đây, Hoàng Hưng chỉ giữ một bản chép tay tập thơ của Hoàng Cầm mà phải bị tù đến mấy năm. Thì ai đó xem xong rồi xóa dấu vết bằng cách thải vào đống ve chai cũng là chuyện thường ngày.

Chính trong tập truyện nhàu nhò bị kết tội là phản động ấy, tôi đã đọc được bài thơ rất dị thường của Nguyễn Xuân Thiệp. Lâm Chương kể:” Nhà thơ Nguyễn Xuân Thiệp có bài Đốt lửa nghe sư đàn. Đọc lên cứ nghe rờn rợn. …mùa đông rét mướt, áo quần không đủ che thân…lạnh quá không ngủ được, tù ngồi hơ tay bên đống lửa…”

Bài thơ ấy mà chỉ cần một câu lọt đến tai ban quản giáo là coi như tác giả sẽ được cọng thêm nhiều năm trong con số năm đã cao chất ngất của mình! Đó là chưa nói tới hình phạt cùm chân tức thời, e rằng đã vùi thây đâu đó bên bờ suối.

Bài thơ mở đầu bằng những chữ khô cứng, dù đứng cạnh nhau thành câu sáu, bảy chữ nhưng vẫn rạc rời như những đốt xương vỡ vụn vừa bốc lên từ mộ sâu:

đốt lửa. chừng như người qua khe
mùa đông. tím. những nương mưa
đốt lửa bên trong lán suối
mưa.mưa trên con đường núi
có ai tìm vầng trăng mọc khuya
rét.đói.sầu miên. đất.đá.gỗ
đầm sấu hoang.lau thắp.bến chờ

Bạn hãy nhìn cho kỹ những dấu chấm ở hai câu cuối. Những dấu chấm bé nhỏ, lặng lẽ, đã biến những từ và cụm từ trở thành mồ côi, nếu không muốn nói là bị giam cứng trong ngục tù. Có thể tin rằng đó là thân phận của những người tù, dù biết nhau nhưng không dám nhìn nhau. Trước 75 những người viết văn và làm thơ ai chẳng biết Tô Thùy Yên nổi tiếng với những bài thơ tự do, vậy mà, mãi sau này khi ra tù Lâm Chương mới biết cũng là một trong những người “rét.đói.sầu miên” ngồi nghe sư đàn.

Đốt lửa được lập lại hai lần, nhưng những câu thơ vẫn lạnh ngắt, vì mưa. mưa. mưa…mưa đến nỗi mùa đông tím. Chữ tím ở đây không lãng mạn như màu tím hoa sim của Hữu Loan, mà là tím tái (vì đói và lạnh) và tím gan tím ruột (vì uất hận). Đói.rét.sầu miên…nhưng lạ lùng làm sao, những người tù miền nam vẫn thao thức “tìm vầng trăng mọc khuya”. Đó là chút lãng mạn rất người vẫn còn sót lại của những kẻ bị cướp tất cả, bị đày đọa xuống tận cùng của cái ác!

Chính vì vậy mà tiếng đàn của nhà sư mặt ốm bỗng rộ lên vừa hư ảo vừa thắm thiết lạ thường. Nửa như tiếng của quỷ ma, nửa như tiếng của tù thổn thức.

sư ngồi đàn như cây trăm năm

…cây đàn gỗ xưa như mặt trăng

…năm ngón tay gầy như chim ưng
bật dây.rỏ máu.hoàng hôn rừng
gọi những mùa đi không trở lại
đàn qua.tiếng buồn trong lau sậy
gió thu đưa võng. ai chờ ai

Nhà sư này là ai vậy? Có phải nhà sư ở Hàn Sơn Tự, không đánh chuông mà lại gảy đàn? Không. Nhà sư này cũng là một người tù!

kể từ sư rũ áo đi đày
cái tâm mây nổi. trăng thiền đạo
cuồn cuộn trường giang sóng lục đầu

Một nhà sư thoát tục đến như vậy mà muốn sống đành phải:

đầm cỏ nước in thân cò vạc
bắt cua.vồ nhái. ngày qua ngày

Để rồi:

đêm đêm ôm đàn trong xó tối.

Người đàn “bật dây.rỏ máu” còn người nghe thì sao?

người nghe đàn khơi đỏ lửa khuya
tóc râu tiền kiếp đầm hơi mưa

Bảy chữ câu sau vẽ nên hình hài vừa bi vừa tráng của những người tù. Giống như ba ngàn tân khách tóc dựng ngược khi nghe Kinh Kha hát “tráng sĩ hề nhất khứ bất phục phản!”

Tiếng đàn khiến họ “bỗng thấy sân nhà cây sứ gãy/ năm cửa ô quan ngấn lệ mờ/ những nẻo chiều sương người rách rưới/những mái nhà mưa xoi nắng rọi/ lọ rơi.sành vỡ.lục cục âm…”

Khi tiếng đàn của nhà sư mặt ốm khiến “ gỗ nổi.đá lăn.trâu bứt gốc/hồn u. mả tối./rạng tiếng Ngư Dương thơ quỷ đọc…”

Nhưng khi tiếng đàn dứt, hãy còn nghe “tiếng đàn trôi trong hương lá xanh” và trông thấy tiếng “đàn ngân. cánh chim soi trên đầm” Thanh bình làm sao! Bát ngát làm sao! Những người tù quên “đói.rét.sầu miên” quên những ngày dài ô nhục, tưởng chừng “mặt đất vừa qua cơn mộng dữ” để mơ thấy “từ trong động ấy giờ trăng mọc/ ánh trăng chảy vàng trăm cửa sông”.

Nhà sư mặt ốm kia dù “bắt cua.vồ nhái” qua tiếng đàn như “mưa thu rơi trong trăng” đã giải thoát cho chính mình và liễu ngộ được cái chúng sinh tù tội đang ngập chìm trong khổ đau cùng tột.

Bài thơ chẳng những dị thường về ý mà còn dị thường về những hình ảnh. “tím những nương mưa”, “cây đàn gỗ xưa như mặt trăng. gốc cây cháy như đầu thiên cổ. huyễn huyễn củi tàn màu kinh xưa”.

Và rất nhiều câu thơ đẹp:

cái tâm mây nổi trăng thiền đạo
cuồn cuộn trường giang sóng lục đầu
sư ngồi đàn như cây trăm năm
hơi đàn trôi trong hương lá xanh
ánh trăng chảy vàng trăm cửa sông…

Thử nghe lại tiếng đàn trong những áng thơ cổ. Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu: “đàn kêu tích tịch tình tang/ai đem công chúa lên thang mà về” Tiếng đàn kể công chẳng có chút gì là mã thượng. Với Nguyễn Du, ba lần Kiều đàn là ba tâm trạng khác nhau. Lần đầu khiến Kim Trọng phải “khi vò chín khúc khi chau đôi mày”. Lần thứ hai trước Thúc Sinh thì “bốn dây như khóc như than/ khiến người trên tiệc cũng tan nát lòng”. Lần thứ ba với Hồ Tôn Hiến: “một cung gió thảm mưa sầu/bốn dây rỏ máu năm đầu ngón tay”. Đúng là : “rằng hay thì thực là hay/ nghe ra xưa cũ mượn vay thế nào!”

Trong khi, tiếng đàn của nhà sư trong đêm đốt lửa tuy có mượn của Nguyễn Du mấy chữ “bật dây.rỏ máu”, nhưng so  những câu “tiếng khoan như gió thoảng ngoài/ tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa” với “dạo đàn.mưa thu rơi trong trăng/ tiếng mau. chim bay qua mùa đông” thì thực hoàn toàn khác xa, nếu không muốn nói mới lạ hơn, hay hơn. Còn như “ve ngâm vượn hót nào tày” mà so với “đàn ánh thép xanh gươm phạt trúc/gỗ nổi.đá lăn.trâu bứt gốc/hồn u mả tối đây là đây/rạng tiếng Ngư Dương thơ quỷ đọc”, nếu cụ Nguyễn Du có sống lại cũng phải khen Nguyễn Xuân Thiệp là tài.

Có một tiếng đàn được coi là hay nhất cổ kim, ấy là tiếng tì bà trên bến Tầm Dương của một kỹ nữ về già phải kết duyên cùng khách thương. Tiếng đàn ấy làm cho Tư mã Giang châu phải lệ đầm áo xanh vì cảm phận mình đi vào nơi đất trích. Nhưng đó là một bối cảnh hết sức lãng mạn, có ánh trăng, có hơi thu và nhất là tiếng đàn của một kỹ nữ đẹp tuy không còn trẻ. Tiếng đàn ấy đương nhiên là mênh mang bát ngát.

Còn nhà sư rũ áo đi tù, cùng với những người tù đói rét, trong đêm tối đốt lửa, bối cảnh hoàn toàn khác, có thể nói là cực kỳ trái ngược. Chính vì vậy mà tiếng đàn ấy không chỉ nói lên một phận người mà hàng vạn người, rộng hơn là tiếng kêu đứt ruột của mấy chục triệu người miền Nam.

Lâm Chương bảo: “ Nguyễn Xuân Thiệp thai nghén và làm bài thơ này từ năm 1977 đến 1988. Mười một năm ròng rã, dốc hết tâm huyết cho một bài thơ đầy nội lực”. Chỉ một bài này thôi cũng đủ phơi bày hết cả cái Nhân, cái Bi, cái Trí và cái Dũng của Nguyễn.

Xin được ngã mũ kính chào*
10/4/2017
KHUẤT ĐẨU

*Đốt Lửa Nghe Sư Đàn

đốt lửa chừng nghe người qua khe
mùa đông tím những nương mưa
đốt lửa bên trong lán suối
mưa.mưa trên con đường núi
có ai tìm vầng trăng mọc khuya
rét.đói.sầu miên.đất.đá.gỗ
đầm sấu hoang.lau thắp.bến chờ

lửa đã cháy.cháy trên củi ướt
tù ngồi hơ tay nghe cổ tích
chuyện Huyền Trang đi thỉnh kinh
bỗng trong đêm rộ tiếng ai đàn
lửa củi soi nhà sư mặt ốm
kể từ sư rũ áo đi đày
cái tâm mây nổi.trăng thiền đạo
cuồn cuộn trường giang sóng lục đầu
đầm cỏ nước in thân cò vạc
bắt cua.vồ nhái.ngày qua ngày
đêm đêm ôm đàn trong xó tối

năm ngón tay gầy. tiếng thổ cầm
sư ngồi đàn như cây trăm năm
lửa cháy xèo xèo nùi nhựa ngái
khói tỏa mù khe.màu cỏ rối
dạo đàn.mưa thu rơi trong trăng
tiếng mau.chim bay qua mùa đông
đàn ánh thép xanh.gươm phạt trúc
gỗ nổi.đá lăn.trâu bứt gốc
hồn u.mả tối.đây là đây
rạng tiếng Ngư Dương thơ quỷ đọc
lán sâu.bếp ảo.lửa đào lay

cây đàn gỗ xưa như mặt trăng
năm ngón tay gầy như chim ưng
bật dây.rỏ máu.hoàng hôn rừng
gọi những mùa đi không trở lại
đàn qua.tiếng buồn trong lau sậy
gió thu đưa võng.ai chờ ai
đêm cẩm khê.đàn trong u độc

người nghe đàn khơi đỏ lửa khuya
tóc râu tiền kiếp đầm hơi mưa
bỗng thấy sân nhà cây sứ gãy
năm cửa ô quan ngấn lệ mờ
những nẻo chiều sương người rách rưới
những mái nhà mưa xoi nắng rọi
lọ rơi.sành vỡ.lục cục âm
khuya rồi.ai đẽo gỗ huỳnh đàn
ửng sắc hoa gầy trên áo quan

sư bỗng ngừng đàn.nhìn đống lửa
gốc cây cháy như đầu thiên cổ
huyễn huyễn củi tàn màu kinh xưa
mặt đất chừng qua cơn mộng dữ
nên ngón tay gầy như ngó sen
hơi đàn trôi trong hương lá xanh
đàn ngân.cánh chim soi trên đầm
mùa hoa mơ nở trắng non ngàn
từ trong động ấy giờ trăng mọc
ánh trăng chảy vàng trăm cửa sông

bếp rụi.lửa riu.âm đàn dứt
trăng lên rồi.hổ xuống cẩm khê

NGUYỄN XUÂN THIỆP

 

LỤC BÁT PHÙ SA

 

 

(đọc Lục Bát Điên của Kiệt Tấn)

 

(Kiệt Tấn trong ngày ra mắt sách tại Kafka, Sài Gòn, 3/2017)

 Chằng chịt như kênh rạch miền nam, mênh mang như sông nước Cửu Long, non 3000 câu lục bát kết thành một chuỗi dài 200 khúc, từ tháng 10 đến tháng 12 năm 2008 , Kiệt Tấn đã làm nên một mùa nước nổi ngập tràn phù sa hoài niệm ở ngoại ô Paris.

Và ông mở đầu con nước nổi bằng những câu lục bát dị thường:

bỗng dưng biển động non đoài
khiến dòng lục bát chảy hoài không ngưng
bỗng dưng chớp động lưng chừng
khiến dòng lục bát trong rừng chảy ra
bỗng dưng là bỗng dưng là
điên khùng lục bát ta bà đảo điên
bỗng dưng lục bát triền miên
ầm ầm lục bát khắp miền núi sông
triền miên lục bát xuôi dòng
mưa xuống sa mạc ngàn bông dị kỳ

Sa mạc đó không phải Sahara hay Gobi mà chính là lòng ông khô héo sau hơn 40 năm lưu lạc xứ người và ngàn bông dị kỳ cũng chính là:

hương rơm mùi rạ ngất ngây
lá dừa ai đốt thơm hoài tuổi thơ….

sáng trăng ngoại nướng bánh phồng
củi nổ lách tách rộn lòng cháu cưng

Và ông tưởng chừng về lại chốn xưa

về đây ta lại về đây
về dòng sông cũ ngất ngây lặng tờ
lục bình mấy cụm trơ vơ vơ
cá trồi ăn móng đợi chờ trăng lên
hương dạ lý ngát bên thềm
hiu hiu gió thoảng êm êm tre hiền
….
về dây thở chút hương thừa
nghe vai sương nặng nghe mưa trong hồn

Những tên đất tên miền hiện ra trong trí ông nối tiếp tưởng chừng bất tận:

bạc liêu cái tắc hàm luông
bước qua bến cát bình dương bước về
xe lên trà nóc lai khê
thu qua cồn phụng tết về  bến tre
xuống đò mỹ thuận đợi xe
mùa xuân xá lỵ mùa hè mận xanh…

Trong truyện ngắn nổi tiếng Đêm cỏ Tuyết, bố ông là một ông già chịu chơi, giờ xuất hiện dưới dạng lục bát  cũng ngộ nghĩnh không kém:

đợi mùa tháng bảy mưa ngâu
chặt cây dừa lão bắc cầu thăm ba
đem cho ba một con gà
một xị rượu đế để mà nhậu chơi
nhậu rồi ba chửi khơi khơi
chửi con khỉ đột chửi chơi đỡ buồn
chửi thằng chú tắm ở truồng
khiến cho bà thím trong buồng thất kinh
một cơn mưa đá thình lình
khiến cho thằng chú bầm mình sưng cu

Nhưng nhớ về mẹ, ông có những câu mộc mạc rất ấm lòng

gác tay lên trán mơ mòng
nhớ bà từ mẫu hết lòng nuôi con
đêm đêm thức suốt mỏi mòn
xức từng mụt ghẻ cho con mau lành…
trái tim bồ lúa ta bà
từ bi hột lúa di đà nam mô
bồng con diện kiến ni cô
xin bùa linh hiển cam lồ con đeo

Ông cũng không quên chuyện Phạm Công Cúc Hoa mẹ ông kể, truyện Tàu, truyện Huyền Trân…và nhất là các đào kép cải lương

thùng thùng trống giục cải lương
năm châu phùng há văn hường thanh nga
điêu thuyền lữ bố á a
hồ quảng lệ thủy ngân nga mút mùa
râu rồng vuốt thị oai vua
“bớ tam quân” hét trống khua tùng xèng.

Và chỉ bốn câu lục bát, ông đã vẽ nên cảnh Tuyết tắm truồng dưới trăng mê ly hơn cả Kiều khỏa thân trước Thúc Sinh:

ngọc thân mỹ thể một tòa
vú thơm lấp lánh trăng ngà tắm khuya
anh ơi buông áo em dìa
kẻo không ngõ tối đầm đìa sương sa.

Nhưng những câu lục bát sau đây mới khiến hơi thở Nguyễn Mộng Giác phải rướn cong:

vú non tròn trĩnh vun bầu
đôi mông săn chắc lũng sâu dậy thì
gò tình cỏ dợn lâm ly
hỏi anh anh muốn em thì xin cho

Như ông viết trong “Mở lời”:  “Lục bát điên viết về bất cứ đề tài nào, viết tùy hứng và buông thả cho vần điệu lôi cuốn…Viết chơi cho đã thèm. Hạ hồi phân giải. Nói như Bùi Giáng: “Cho vui vậy mà”

Không chỉ nói như, mà còn viết như. Gọi Bùi Giáng là đại ca. Và ông đã “giỡn mặt” Bùi Giáng như vầy:

nhớ ông Bùi Giáng lâm bồn
đẻ ra bao lá hoa cồn tốt tươi
ông cười từng nụ đười ươi
chuồn chuồn châu chấu rợp đời lăng xăng
mê kim cương thẩm thúy hằng
miên trường thái thậm ai bằng được ông
khoái mari lỉn ngoáy mông
brigite vú lớn thoắt vòng eo thon
đạm thanh diệp thúy sài gòn
ngàn thu rớt hột có còn hiển linh

Và nếu Bùi Giáng đọc được khúc lục bát này chắc phải khóc òa vì không ngờ có một hậu sinh khả úy đến như vậy:

em về ải hạng mai sau
gặp ông bàng giúi nhớ chào đại ca
biếu ông nửa ký trăng tà
bốn chai hồng hạnh bó hoa sương mù
nửa đêm trời xỉn trăng lu
làm thơ cồn lá lu bù quàng xiên
lục bát điên lục bát điên
điên  khùng lục bát khùng điên điên khùng
“sè sè đứng đái bên đường
rầu rầu ngọn cỏ nửa hường nửa xanh”
mưa nguồn thúy dựng em anh
cỏ cây mình mẩy trổ quanh liên tồn
ngàn thu rớt hột làng thôn
mọc lên châu chấu thu bồn suối khe
thơ ông lén đọc sau hè
mỏi chưn ngồi xuống em tè ổng coi.

Chính vì viết tùy hứng và buông thả cho vần điệu lôi cuốn mà trong dòng lục bát phù sa, ta bắt gặp những vần điệu vừa thô mộc vừa tí tởn chỉ có ông Kiệt ( không có Trụ) mới có thể viết được:

cô em bán bưởi liếc tình
bưởi lớn đủ cặp cô mình có không?
vô duyên anh chớ đèo bòng
bưởi lớn là bưởi của chồng em cơ
Cứ như hò đối đáp trên sông Hậu vậy.
Còn đây là giọng điệu ca dao rất cà rỡn:
em ngồi cầu nhỏ vo cơm
con cá nó rỉa con tôm thụt lùi
con lươn ngó thấy tức cười
cười lên một tiếng đất trời vui theo

Và đây là giọng điệu ba gai của lính chịu chơi miền nam

trời bày chi cuộc binh đao
để  ta xít lại gần nhau hít hà
anh đây vốn “tư rà rà”
ôm  em ghì siết sẽ “ra từ từ”

Thực ra Lục Bát Điên là những gì tác giả đã viết bằng văn xuôi như Nụ cười tre trúc, Em vịt vàng, Em điên xỏa tóc, Đêm cỏ tuyết…Giờ ông thử đưa vào lục bát vì cái tật mê làm thơ như mê đàn bà, để lai rai ngâm ngợi cho đỡ rầu (chữ của ông, hay đúng hơn là của cha con nhà ông). Nửa đùa nửa thật, ông bảo ông có cái tật làm thơ vừa dài vừa dở. Nhận xét đó có lẽ đúng với những ai mê thơ lục bát của Huy Cận hay Hồ Dzếnh. Nhưng theo tôi, cái thời “Tô Châu lớp lớp phù kiều/ trăng đêm Dương tử mây chiều Giang nam” đã xa rồi. Giờ là thời của tràn lan internet, đọc rất nhiều nà chẳng nhớ bao nhiêu. Thì thôi, hãy cứ buông mình xuội theo dòng lục bát hơi điên điên một chút, khùng khùng một chút còn hơn là toát mồ hôi leo lên những “đỉnh cao” hậu hiện đại đến mệt phờ mà chẳng được gì.

Tôi viết những dòng này cũng chẳng phải để vinh danh hay để bốc thơm ông. Ông đã gọi tôi là “bạn ta”, thì tôi cũng nói (nhỏ) để ông biết rằng, cái điên của ông trong Lục Bát

Điên cũng đã đến mức thượng thừa như đại ca bàng giúi của ông.

04/4/2017
Khuất Đẩu

Điên Như Kiệt Tấn 2: năm nay đào lại nở

 

Ờ, đào lại nở trên đất Paris! Lại một mùa xuân rưng rức hoa đào làm lạnh thêm một người xa xứ. Để ấm lòng, ông Kiệt Tấn hết nhớ em vịt vàng bé xíu lại nhớ đến những người đàn bà mà có lẽ chỉ có ông trên đời này mới  nhớ tới họ mà thôi.

Những người đàn bà ấy, một bà lượm lon, một bà bán càrem, một bà bán đậu phộng. Ba người ấy là những “mối tình đầu” theo như cách nói của ông. Mối tình đầu của tuổi học trò! Ông có đùa dai không đấy. Sao không là Diễm để những chiều mưa sao em không lại? Sao không là Ngọ để theo Ngọ về? Sao không là người em xóm học để em ơi “khoóc” đi em? Mà lại là những bà cụ hom hem chít khăn mỏ quạ đi dép Nhựt cũ đến nỗi cao su bè ra, hoặc đội một chiếc nón rách tơi tả, hoặc để đầu trần đi cẳng không, áo trắng rách lưng đã ngã màu vàng xỉn!

Yêu lần đầu mà yêu như thế, bảo sao người ta không bảo ông điên!

Người tình đầu thứ nhất ông gặp ở xóm Hàng Xanh. Mới Tết xong ba bữa đã lại hỏi: thưa ông cho nhà cháu hỏi thăm, còn mấy hôm nữa thì là tết ạ? Còn lâu lắm cụ ạ! Thế hở ông? Thế mà cháu quên mất, làm phiền ông quá. Ông cho nhà cháu xin lỗi.

Những câu nói làm tôi bỗng giật mình. Cụ bà đồng bằng bắc bộ di cư ấy những năm mươi năm trước đây sao ăn nói lễ phép và lịch sự đến như vậy. Chả bù với bây giờ, nào nỡm, nào cút xéo ngay không bà đánh cho nát mặt!

Và cụ lại hỏi: Phiền ông cho nhà cháu hỏi thêm. Ông có biết nhà ông Đa ở lối nào, xin ông chỉ hộ cho nhà cháu! Lịch sự hơn cả Tây, hơn cả Mỹ!

Ông Đa là ông nào, có trời mà biết, nhưng bà cụ lượm lon cứ quanh quẩn ở xóm Hàng Xanh hỏi mãi. Ông Kiệt đoán chừng có thể là người tình cũ lấy nhau chẳng đặng thương hoài ngàn năm, cũng có thể là người chồng đi lạc lúc trốn lên tàu di cư vào Nam. Một cụ bà còm cõi lẩn thẩn đi tìm người xưa cứ tới lui hỏi mãi khiến ông Kiệt đa đoan của chúng ta “yêu” lúc nào không hay. Vì yêu nên thương. Vì thương nên lo. Vì lo nên sợ. Và ông sợ rằng, xe tăng thiết giáp rần rần rộ rộ kéo lê những khẩu đại bác dài ngoằng băng qua xóm Hàng Xanh một ngày nào đó sẽ làm cho cái khăn mỏ quạ, đôi dép Nhựt bổn, mấy cái lon vừa lượm được văng tung toé và trái tim vẫn còn ấp ủ hình bóng người xưa còn đập, nhảy trên mặt đường!

Người tình đầu thứ hai là một bà già bán cà rem lúc tác giả còn học tiểu học. (Yêu sớm quá ông Kiệt nhĩ?). Không như bây giờ, kem đông cứng thơm ngon đựng trong thùng xốp, kem của sáu mươi năm trước xanh đỏ toàn nước đá đụng một tí là vỡ tan, lại giữ trong tẹt mốt làm bằng thuỷ tinh, nên người bán phải nâng niu ôm giữ trong lòng. Bà không thể chạy theo khách hàng là đám học trò nghịch phá như quỷ, không thể cạnh tranh với bọn con trai ma mảnh bày trò đổ xíngầu để vét sạch túi bọn nhỏ. Bà chỉ ngồi một chỗ vẩy vẩy cái chuông bằng đồng bóng loáng, leng keng, leng keng mời mọc như con chó hiền lành chỉ chờ có người ngó là vẩy đuôi ngoắc! Bà già nghèo xấu xí đó không ngờ hiện ra dưới mắt cậu bé Kiệt thân thương đến nỗi cậu thấy đó là  má tôi đang ngồi chồm hổm. Gọi ngon lành, má tôi tay xách bình cà rem, đứng ngó thằng con trai của bà đang xếp hàng đi vào lớp.

Yêu như ông đúng là điên thật, một người điên vô lượng thanh khiết, dẫu tôi có muốn điên cũng đâu có dễ.

Người tình đầu thứ ba là một bà già bán đậu phộng ở bến xe Mỹ Tho. Bà cũng rách rưới, xập xệ nhưng lúc nào cũng sẵn sàng tặng không một nụ cười móm mém cho khách. Cũng như bà bán cà rem, bà không thể nào tranh khách được với các cô gái nhanh nhẹn trẻ trung. Vì vậy bà bán ế. Mà càng ngày càng ế ẩm hơn nữa vì bà buộc phải bán đậu lép. Trời hỡi! Sao khốn cùng tới mức phải đi bán đậu lép! Tác giả kêu lên nghe đứt ruột. Đứt ruột vì một người biết việc bán đậu lép là không lương thiện mà vẫn cứ phải bán. Dù có lí nhí cảm ơn, dù có tặng không bao nhiêu nụ cười thì trong lòng bà vẫn nặng trĩu xấu hổ xót xa. Con trai đi lính chết, con dâu phải tần tảo nuôi con. Hạt chắc cô dâu luộc bán ban ngày, hạt lép để bà lập lờ đánh lận con đen lừa bán trong đêm. Có vậy mới kiếm được chút tiền lời nuôi mình và nuôi cháu! Thế là những người nghèo muốn sống lương thiện cũng khó mà sống được. Cứ phải dối gạt một chút. Một chút nhưng mà cả một đời dài thì dối gạt bao nhiêu?! Cho nên những hạt đậu ấy tan vào miệng ông đắng chát.

Ngồi ở tầng cao Paris bên ly rượu vàng sóng sánh mà ông không nhấm nháp được hương vị nồng nàn của mùa xuân vì ông nhớ ra không chỉ ờ Hàng Xanh, ở sân trường tiểu học Bạc Liêu, ở bến xe Mỹ Tho mà còn ở bến phà  Rạch Miễu, Cần Thơ, Vàm Cống…nhiều không đếm hết những bà già quê hương, những bà có làn da nhăn thơm tho mùi đất, có nụ cười rì rào tre trúc, có bàn chân nứt nẻ phù sa, có trái tim từ bi vô lượng đã bơm máu vào rún tôi từ thưở còn trong bụng mẹ. Những bà mẹ Việt Nam không một chút anh hùng, những bà mẹ bình thường của bao nhiêu năm chinh chiến. Vẫn còn đó những mối tình đầu của ông. Vẫn còn đó cho dù thời gian qua mau và cuộc sống quay cuồng khiến chúng ta vô tình hay ơ hờ không thấy.

Ông Kiệt ( không có Trụ ) ơi, đọc xong truyện này tôi thấy mắc cỡ quá. Mắc cỡ vì tôi đã từng gặp bao nhiêu người lượm lon, bán cà rem, bán đậu phộng, bán chuối chiên, cóc ổi xoài như ông mà sao lòng tôi lúc ấy và cả đến bao năm sau vẫn cứ dửng dưng. Tôi không khinh họ nghèo vì tôi có giàu có gì hơn đâu, nhưng tôi lại chỉ động lòng trắc ẩn với những người ăn mặc lành lặn và nói ra ông chớ cười, xinh đẹp một chút, trẻ trung một chút, sẵn sàng lao vào dòng xe cộ như mắc cửi để nhặt cho nàng một chiếc khăn rơi, hay gồng mình làm Lục Vân Tiên trước bọn lục lâm thảo khấu cho dù sau đó ôm đầu máu vì dở hơi trói gà không chặt. Tôi nào dám gọi một bà bán cà rem, bà lượm lon hay bà bán đậu phộng bằng một cách thực lòng như ông.

Nhiều người khen ông là bồ tát nhưng tôi không nghĩ vậy. Ông yêu họ một cách thực lòng vì cuống rún của ông chưa lìa, vì mùi bùn đất phù sa vẫn chưa rửa sạch ở tim ông dù ông đang sống ở Paris. Sống ở Paris mà lòng ông thì ở Bạc Liêu, ở Việt Nam, còn tôi và chắc cũng có nhiều người khác sống ở Việt Nam mà hồn mộng ở tận Paris hay Nữu Ước! Sống xa quê hương mà ông lại nhớ, lại yêu. Còn tôi sống giữa quê hương mà lại quên lại ghét. Đôi khi ghét quá vì nghèo đói, vì tụt hậu, vì …hàng trăm thứ…!

Có ngứa ngáy cầm bút một đôi khi, tôi mới thấy viết được một truyện như ông viết, nếu có phải lăn ra chết thì cũng thực là sướng. Sướng vì ít ra cũng làm được một việc nhỏ có ích cho mình và cho đời. Mà đọc lại cho kỹ thì thấy ông đâu có viết, ông chỉ trải lòng mình ra, không như trải thảm đỏ ở nhà hàng khách sạn hay các cuộc đón rước phương diện quốc gia quan trên ngó xuống người xa trông vào, mà là trải như lúa rạp mình trên đồng ruộng, như nước phù sa đong đưa vào tận thềm nhà, trải như nghé con goi mẹ như cháu sà vào lòng bà. Tự nhiên phơi hết gan ruột chứ không kỳ khu gọt dũa, không làm văn theo kiểu cách tân.

Ông Kiệt ơi, cảm ơn ông đã cho tôi tìm gặp lại quê hương ngay chính giữa quê hương mình. Tôi cũng như ông, chỉ mỗi một quê hương chiến tranh nghèo đói, nhưng đó là một quê hương thật với những bà mẹ quê hương, mà dù có đi khắp năm châu bốn bể cũng không dễ gì tìm ra được. Ờ, cũng như ông, tôi yêu họ, dù đây là tình cuối chứ không phải tình đầu…

 

KHUẤT ĐẨU

Những Nhân Vật Xa Lạ Trong Cánh Đồng Bất Tận

khuatdau

Thật ra không nhiều, bọn họ chỉ có ba cha con gã chăn vịt và một ả điếm. Họ như ở tận cùng dưới đáy xã hội. Và như thế thì có chi mà lạ.

Vậy mà qua ngòi bút có một thời rất dịu dàng đắm thắm, rất mộc mạc chân tình của Nguyễn Ngọc Tư, đột nhiên thay đổi khiến họ trở nên kỳ cục, quái đãn, xa cách lạ lẫm, cứ như ở một hành tinh nào tới chứ không phải ở những cánh đồng miền nam bát ngát tình người.

Dựa theo từng chữ, từng câu của tác giả, tôi xin được mời họ ra trình diện trước bạn đọc.

Nhân vật 1: Sương.

Tôi hỏi chị làm gì để bị đánh. Chị cười, “làm đĩ”…chúng tôi đã gặp nhiều, rất nhiều người phụ nữ giống chị. Cứ mỗi mùa gặt họ lại dập dìu trên đê..họ cố làm ra vẻ trẻ trung, tươi tắn nhưng mặt và cổ đã nhão… Đêm đến sau các đụn lúa, họ thả tiếng cười chút chít, tiếng thở mơn man…chúng tôi nhận ra họ ngay khi không còn mảnh vải nào trên người họ vẫn điềm nhiên cười khúc khích và uốn éo thân mình chứ không trơ ra ngượng nghịu, cam chịu như những người phụ nữ quê…

 Chị cũng giống như họ, chớm tàn tạ, đói rã ruột ở thị thành mới chạy xuống quê, cất cái quán nhỏ giả đò buôn bán bánh kẹo lặt vặt…mồi chài đàn ông vào chơi trò giường chiếu. ( trích CĐBT)

 Đấy là Sương, qua giọng kể rất già dặn, rất sõi đời, rất sắc sảo của một cô gái quê tự nhận là thất học. Phác họa chân dung ngắn gọn của một ả điếm như thế phải nói là rất tài tình. Hãy đọc kỹ các từ được tô đậm để thấy ma lực của câu chữ và hiểu vì sao Cánh đồng bất tận có một sức hút đến như vậy. Và cứ như thế, cái ngôn từ khiêu khích, lột truồng của cô gái chỉ hơn cô gái đi chùa Hương của Nguyễn Nhược Pháp có 2 tuổi, sẽ đưa chúng ta biết rõ hơn tính cách của một gái làm tiền, mà ở tuổi đó các cô gái trung học, ngay cả khi học Kiều cũng không dám nghĩ đến.

Vì mồi chài đàn ông vào chơi trò giường chiếu, nên ả bị các bà vợ xúm nhau đánh, cắt cả tóc và đổ cả keo dán sắt vào cửa mình của chị. Chuyện quý bà nổi ghen “xé xác con đĩ nọ” là chuyện thường ngày. Nhưng đè ra, banh ra mà đổ keo dán sắt vào cái chỗ “có hơn gì của bà đâu” thì quả thật là quái đãn nếu không muốn nói là man rợ. Ba hôm sau, chị ngồi dậy, đi tắm. Chị trầm mình dưới đó rất lâu, chẳng kỳ cọ gì, chỉ để nước lạnh chườm dịu lại những chỗ đau. Lúc chị lên bờ, tôi thấy máu lợn cợn theo những giọt nước nhỏ xuống hai đùi, chắc chị đã làm gì với chỗ keo dán ác nghiệt ấy.(trích CĐBT)

 Vậy mà, khi lên bờ mới thấy Út Vũ đã khen” Ba mấy cưng đẹp trai dễ sợ” và“con mắt đung đưa về phía cha”. Mắt chị nhìn cha đầy khiêu khích…Chị đổ lì, tìm mọi cách để sà vào cha. Chị bảo Điền xuống ghe ngủ với tôi, còn chị sẽ lên chòi…chị ra khỏi chòi, khoan khoái vươn vai. Sự ưng ý mãn nguyện lấp lánh trên khóe mắt. Khuôn mặt chị tràn ngập ánh sáng, như chị vừa mở ra một cánh cửa mặt trời.

 Thấy chưa, một cô gái chăn vịt mà diễn tả cách chài mồi, cách chiếm đoạt và nỗi sướng khoái sau những trận làm tình rất văn vẻ, rất mới như thế thì văn hóa của nông thôn ta đã nâng cao hàng chục bước chứ không phải một bước.

Điều kinh khủng ở Sương là chị ta chài mồi Út Vũ không phải vì tiền, mà vì ghiền đàn ông! Hãy nghe cô bé Nương kể:

Mà, kiểu yêu tinh thần để nhìn nhau, để nắm tay vuốt tóc, để nín nhịn và hy sinh chỉ tồn tại trong văn chương (thất học mà sao biết văn chương nhỉ?). Chị cần nhiều hơn, nhiều hơn, nhiều khủng khiếp, tưởng như  chị có thể ngốn ngấu, bào mòn tất cả đàn ông trên thế gian này(tưởng đâu chỉ có yêu râu xanh, té ra giờ có cả yêu nữ tóc xanh, sợ quá!).Lúc đầu là kiếm sống, nhưng lâu dần sự chung đụng thể xác làm chị nghiện (Ối trời, chẳng lẽ ả Sương tâm sự với cô bé Nương sao?!)

Một ả làm điếm vì nghiện trai nên mồi chài cả cậu bé Điền. Nương kể:

Trưa ấy chúng tôi trầm nghịch dưới nước rất lâu..Tự dưng nét mặt chị âu yếm lạ, như đang nựng nịu một đứa bé con và thằng em trai 17 tuổi của tôi đúng đực ra, chết lặng trong nỗi ngượng ngùng. Nước cồn cào chỗ bụng nó, tôi biết chị táo tợn làm gì phía dưới đó. Rồi phát hiện ra một mất mát lớn lao, chị thảng thốt kêu lên; Trời đất ơi, sao vầy nè, cưng? ( cái mất mát ấy chắc là cái ấy quá bé đến nỗi lúc nhỏ Điền cũng phải đái ngồi như chị. Cô ả vì tiếc nên mới thảng thốt kêu, chứ nếu như trai 17 bình thường thì ả đã ngốn ngấu bào mòn mất rồi!). Ả còn mồi chài mấy gã kiểm dịch để cứu bầy vịt của út Vũ bằng chính xác thân của ả. Và ả chỉ chịu bỏ đi khi út Vũ coi ả như một con điếm chứ không phải như người tình.

Từ một nàng Kiều của Nguyễn Du đến những cô điếm buồn của Marquet, chưa có ai vì chung đụng xác thịt lâu ngày mà sinh ra nghiện cả. Đây là một trường hợp bệnh hoạn, một nhân vật do một đầu óc hoang tưởng tạo ra, chứ trên thế gian này không có người nữ nào lại cần nhiều, rất nhiều, nhiều khủng khiếp (tác giả nhấn mạnh đó) tưởng như có thể ngốn ngấu bào mòn tất cả đàn ông trên thế gian này.

 Một nhân vật như thế làm sao thể hiện trên sân khấu và màn ảnh nhỉ? Và thể hiện để làm gì? Để câu khách và hốt bạc chăng? Thế thì cũng xin vái lạy sân khấu  và màn ảnh.

Điều buồn nhất, đau đớn nhất cho những người đọc như tôi là thấy cậu bé Điền yêu mê Sương, ghen với cha, rồi bỏ nhà đi theo ả, mặc dù chị cậu lo lắng không biết có được mệt nhoài úp lên mình chị ta hay không! Mịt mù quá, tối tăm quá, kỳ dị quá! Nói đại là nhân vật này từ hành tinh nào đó tới chứ chắc gì có một hành tinh như vậy.

Nhân vật 2: Điền.

 Cậu bé Điền. Gọi là bé vì tối đến vẫn muốn chị hát ru cho ngủ. Bé vì vẫn chơi trò giả bộ nói chuyện với vịt. Và cũng rất bé dưới cái nhìn của Sương (vì gần như chẳng có gì dưới háng). Có thể nói cậu là đứa bé rất tội nghiệp. Cha nghèo, hay đánh (không vì say), mẹ bỏ đi theo người đàn ông khác. Chỉ có chị Nương vừa là chị vừa là mẹ. (Có lần thức dậy thấy chị Nương tưởng là mẹ, khóc).

Thế rồi gặp Sương không hiểu vì sao bỗng đâm ra yêu người đàn bà tự nhận mình làm đĩ một cách trâng tráo.

Ngay từ lúc thấy chị ta mặc cái quần cụt quăn queo và chiếc áo sơ mi thẩm phèn của mình, Điền đã hí hửng. (Như đứa khác là xụ mặt khó chịu). Rồi nó dành cho chị ta cái kẹp tóc, trái dừa tươi, con cá thát lát…khi chị ta vào chòi với cha thì Điền ngọ ngoạy xoay trở liên tục, nó kêu khó ngủ, đòi nghe tôi hát bài gì cũng được. Nhưng Điền vẫn thao thức, dường như giọng hát tôi không át được tiếng sột sọat rạo rực trong cái chòi nhỏ trên bờ. Điền chê, ngủ ghe chòng chành quá chừng. Tôi biết lòng nó đang chao. (ghê chưa!). Khi thấy Sương buồn, Điền rủ đi câu. Nghe Sương nói” mắc cười quá, tới mấy con cá quỷ này còn chê chị” thì Điền lặn bắt cá rô lội xuống mương lặn sâu, móc cá vô lưỡi câu của chị. Lúc nó trồi lên thì đã thấy chị cười. (Hỡi ơi! Cứ như cậu Cẩn lãnh chúa miền Trung đi câu ở Huế. Phải chi với một cô bé chăn vịt nào đó thì cũng được đi. Cũng vui và có một chút lãng mạn cho dù hơi ngây ngô, chứ với một con đĩ thập thành thì quả là ngu tận mạng nếu không muốn nói là kỳ quặc). Nó rất chi dịu dàng với chị ta nhưng với lũ chó dính nhau thì nó tàn nhẫn lấy cây quất cho đến rã nhau mới thôi. Sau cùng nó bỏ cha và chị theo hút tìm chị ta, cứ như mẹ nó đã theo gã bán vải.

Lúc lên chín trong một buổi trưa, nó thấy mẹ đang oằn mình dưới một người đàn ông lạ. Mặc dù khóc nhưng cái hình ảnh mẹ cào cấu rên siết đã ám ảnh khiến nó hành động như si như dại trước một người đàn bà lần đầu tiên nó biết cũng có thể làm như mẹ. Giá như nó yêu chị ta như yêu mẹ (vì thiếu mẹ) thì nó đã là một đứa bé rất nhân bản và bình thường.

Với những tính cách như thế, Điền cũng chỉ là một nhân vật kỳ cục hư cấu dựa trên những ẩn ức dục tình thiếu logic như Sương, như Nương, vậy thôi. Điều đáng tiếc là, một ngòi bút đôn hậu nhân ái như Nguyễn Ngọc Tư lại đi vẽ ra một nhân vật trẻ thơ lạc lõng bệnh hoạn đến như vậy khiến cho những đứa trẻ mới lớn phải giật mình hoang mang tự hỏi rồi mình cũng sẽ như vậy à?.

Nhân vật 3: Út Vũ.

 Chăn vịt và biết đóng đồ mộc. Đẹp trai ( Ba mấy cưng đẹp trai dễ sợ, Sương nói). Cha ra đó tắm. Nước chảy re rắt trên khuôn mặt lạnh lùng, nước mỏng tanh tràn qua những thớ thịt đỏ au của cha tôi. Chị giật thót người, cài vội chiếc áo bung ra vì không chịu nổi chiếc vú căng tức. Một con đực có sức hấp dẫn kinh người. Thế nhưng cô vợ lại nằm oằn mình dưới tấm lưng nhiều mụt ruồi của một gã bán vải rồi tếch theo gã. Từ đó út Vũ đốt nhà, lang thang theo bầy vịt để trả thù đàn bà. Cha nhìn chị, cười nhẹ, rồi hỏi khẽ khàng: “cô đi với cha con tôi nghen” Như chờ đợi chỉ có thế, chị gật đầu…chị te tái tới lui, kiếm giỏ xách…cuối cùng chị đưa con nhỏ về chơi ngoại…cha ghé một chợ nhỏ đầu xóm kinh, biểu chị mua một ít củ cải muối đem theo. Người vừa khuất trong tiệm tạp hóa, cha cười…cha quăng đồ đạc của chị lên bờ vung vải. Và nổ máy cho ghe đi.

Đểu cáng như thế đó. Nhưng với Sương thì lại làm ra vẻ khinh bạc: cha đưa chị một ít tiền trong bữa cơm, khi nhà đủ mặt, “tôi trả cho hồi hôm”. Rồi cha điềm nhiên phủi đít đứng lên, sự khinh miệt và đắc thắng no nê trong mắt. Và cay cú khi thấy Sương đi ngủ với đám kiểm dịch: sáng sau, gặp ở quầy vịt, cha tôi cười, hơi diễu cợt”sao, hồi tối vui không? Chắc họ tưởng cô là vợ tôi nên vui thú lắm hả? Cứ để họ nghĩ vậy…

 Út Vũ qua cái nhìn như thấu suốt tâm can của cô con gái đã hiện ra như thế này đây: Không, lúc chỉ một mình, cha đáng sợ hơn thế. Cha giống như con thú trở về tổ sau khi no mồi, và ngầm ngợi thòm thèm con kế tiếp. Có lúc sự vật lộn làm vết thương cũ của con thú đau, nó liếm láp máu và tôi hãi hùng nhận ra chỗ đau ấy cứ rộng thêm ra…với những người đàn bà sau này, cha tôi tính toán rất vừa vặn, sao cho vừa đủ yêu, vừa đủ đau, vừa đủ bẽ bàng, và bỏ rơi họ đúng lúc.

 Nạn nhân của gã chẳng những là chị chủ nhà ở bầu Sen, ả gái điếm tên Sương mà còn là cả tá: Có người vừa mới bán xong cái quán nhỏ của mình. Có người vừa nói xong những lời dứt tình với chồng con. Có người vừa chia xong gia sản, có cô gái sắp về nhà chồng…hết thảy đều cun cút tin yêu. Cha mang họ đi một quãng đường vừa đủ để người ở lại nhìn rõ chân dung của sự phản bội, sau đó người đàn bà bị hắt lên bờ. Con đường quay về bị bịt kín…Tôi có cảm giác cha quắp lấy người ấy, vùi mặt vào da thịt, ngấu nghiến mà lòng cha lạnh ngắt…

Cha với con! Trời hỡi Trời!.

Nhưng hận vợ mà lại trả thù ngay cả con gái vì càng lớn nó càng giống mẹ. cha vẫn thường đánh chị em tôi, thường đánh vừa khi ngủ dậy. Đó là khi người ta thấy hoang hoải, chán chường sau một giấc dài…Tôi đành để để cha đánh để ông bớt đau chút lòng. Sau này chị em tôi không day dứt chi cho mệt, vì hiểu thấu ra, mình bị đòn chỉ vì là con của má, vậy thôi. Còn hơn thế nữa, lòng hiếu thảo kỳ dị đã khiến Nương nhìn cha như một đồ vật bằng gốm vừa qua cơn lửa lớn, vẫn hình dáng ấy nhưng đã rạn nứt, nên chúng tôi chỉ đứng xa mà nhìn, mủ mỉ nâng niu, nếu không thì vỡ mất.

Người cha kiêu bạt, tàn độc với phụ nữ ngay cả với con gái mình ấy, nhưng lại hèn nhát, bạc nhược để cho bọn con trai làng mới nứt mắt bắt quỳ xuống ruộng mà xem chúng hiếp đứa con gái còn lại duy nhất của mình. Hay đó cũng là cách trả thù vợ qua con gái?  Có người bảo đó là quả báo nhãn tiền, gã hại đời người khác thì kẻ khác hại lại con gã, cho chừa! Nhưng bày ra một gã đàn ông như thế để nói lên điều gì? Đất phương nam với những con người chơn chất nghĩa khí sao lại có một kẻ khốn nạn như thế mà giờ đây người ta lại đưa một kép đẹp là Việt kiều vào vai để cho thế giới biết nông thôn ta cũng có một Don Juan Hai Lúa sao?

Nhân vật 4:  Nương.

Mới 17 tuổi, có một người mẹ chỉ vì mê một tấm vải đẹp mà bỏ cả chồng con, có một người cha vừa ác vừa hèn, một đứa em trai khiếm khuyết cơ thể lại nổi cuồng vì một ả điếm, thì không cần kể ta cũng biết chỉ có ngần ấy năm sống ở đời mà cô đã phải chịu biết bao đau khổ. Cái bi kịch khủng khiếp nhất đời là lúc cô bị ba thằng con trai hiếp giữa đồng trước mặt cha mình. Tuy câu chuyện đã hết nhưng lại mở ra cả một tương lai nhất định không thể nào sáng sủa. Có nghĩa đây là một nhân vật trung tâm, thẩm thấu được tất cả tình cảm xót thương mà người đọc dành cho. Nhưng thật kỳ lạ, nghe cô kể, người ta chỉ tò mò, háo hức, thích thú trước những cái nhìn sắc sảo, những phân tích sâu sắc của cô về tình yêu, tình dục ( nhất là tình dục) mặc dù cho đến khi bị hiếp cô chưa trải qua sự giao tiếp thân xác.

 Thực vậy, như một con người khác vừa ranh mảnh, vừa trải đời, vừa khôn lỏi núp trong cô, một cô gái quê nghèo khó theo cha chăn vịt. Cứ xem cách cô kể về ba nhân vật vừa kể trên là đủ thấy cô không hề thở than cho số phận mình. Cô nói về họ sắc lẹm, nhất là phân tích cách chiếm đoạt, cách gạ gẫm của Sương, rồi cách phụ rẫy tàn hại đàn bà của cha. Có nghĩa là giọng kể đó là của ai khác và cô cứ như một người kể nhép (mượn từ hát nhép). Điều đó khẳng định rằng về nghệ thuật, ngay từ bước đầu cơ bản đã hỏng. Phải như tác giả không dùng ngôi thứ nhất tôi, mà dùng ngôi thứ ba là nàng hay Nương thì còn có thể chấp nhận được, dù rằng những nhận định về những con người chân quê như thế là không trung thực.

Một điều kỳ dị ở cô là cái nhìn, cái nghĩ, cái nghe đều ngập tràn âm thanh và màu sắc dục tình. Cô thấy mẹ mình oằn mình dưới một tấm lưng đầy mụt ruồi, rên xiết, cấu víu, vật vã. Cô thấy ông ta sửng sốt khi thấy má rạo rực khi ướm thử những khúc vải rực rỡ lên người. Ba mùa lúa rồi…một mình nuôi con, một mình soi gương, tự ve vuốt và yêu lấy mình. Cô biết rõ cha mình và người đàn bà bầu sen sẽ làm gì trên ghe và cô chắc chị hơi ngại ngùng, mắc cỡ vì ghe không có vách, vì thế chị em tôi sẽ cố ngủ thật say, ngáy thật to để át những tiếng thở hổn hễn dìu dặt. (Người đàn bà sắp trở thành mẹ ghẻ của cô đó chẳng những đã không bị cô căm ghét mà còn tế nhị cảm thông, sắp đặt cho cha và chị ta yêu nhau ở trên thuyền bên cạnh hai đứa con). Trời ạ, đó là chuyện chưa xảy ra sao mà đáo để đến như vậy, sao mà dự báo khéo đến như thế. Biết trước cả tiếng thở hổn hển, dìu dặt. Đó là lúc cô mới 13 tuổi thôi đấy nhé! Thật là kinh người!

Và những nhận xét rất tỉnh táo về chuyện vợ chồng ở thôn quê: Mệt nhọc làm lụng trên đồng, người đàn ông đã trở nên khô cằn, có khi cả đời, họ không nói với phụ nữ một câu yêu thương. Họ không biết vuốt ve âu yếm, khi cần, họ lật cạch người phụ nữ ra và thõa mãn, rồi quay lưng ngủ khò. (Xin hãy mời cô bé Nương đến phát biểu trong các buổi hội thảo về hạnh phúc gia đình do hội phụ nữ tổ chức).

Cô lại còn so sánh người với vật:

Khoảng thời gian trước khi con trống trèo lên con mái rất thật, mềm mại, êm đềm…Tuyệt không có gì thô tục…khác với những gì chúng tôi biết (qua cha tôi, má tôi), trong sự hoan lạc (của những con vịt) đầy ắp thứ gọi là tình yêu! Đấy nhé, hãy về nông thôn mà học cách loài vịt yêu nhau, rất chi êm đềm hoan lạc mà không thô tục!

Có thể nói chưa có cô gái nào chỉ ngần ấy tuổi mà rành rẽ về chuyện tình dục đến thế. Vì vậy ta không còn ngạc nhiên khi thấy cô đủ bình tĩnh, đủ chai lì để mà tỉ mỉ phân tích cái giây phút đối với người khác là kinh hoàng còn với cô thì cái gì không biết hai chị em cũng đã thử, là cách tự học để sống!

 Nhưng lúc này cảm giác thật là đơn điệu. Đầu tiên là sự xé toạt, và từ rách nát, đau đớn như lũ kiến cánh được giải thoát, chúng bò rân khắp thân thể…hình như không phải khoái lạc thăng hoa mà đau ràn rụa nhói tận chân tóc.

Nghĩa là trong lúc kinh hoàng ấy cô vẫn âm thầm chờ đợi cái cảm giác khoái lạc thăng hoa. Vậy nên, ta cũng không lấy làm ngạc nhiên khi cô tỉnh bơ hỏi cha: liệu có con không và vẫn nằm đó trần truồng trên bùn mà mơ mộng: Cảm giác một cái gì nhỏ xíu nhưng lanh lợi như con lăng quăng đang ngụp lặn trong nó (rành rẽ chưa, còn hơn cả bác sĩ đấy, biết lũ tinh trùng của bọn khốn nạn đang tranh nhau chen chúc trong ấy)… trời ơi, có thể mình sẽ sinh con. Đứa bé đó nhất định sẽ được đặt tên là Thương Nhớ, Dịu, Xuyến, Hường… chứ không phải là Hận là Thù mang khuôn mặt rắp tâm của cha tôi!

 Và đây là triết lý của cô: Nhưng nó chấp nhận việc ấy dù phũ phàng (với nó, chấp nhận cũng là một thói quen) và trẻ con, đôi khi nên tha thứ lỗi lầm của người lớn.

Chính cái kết kỳ cục gượng gạo đó không ngờ được người ta ầm ĩ khen là nhân bản. Liệu những cô gái bị hiếp như thế có muốn được khen như vậy chăng? Và được khen để làm gì khi cả một đòi người tan nát!

Sau cùng, với cái nhìn tràn đầy dục tính của cô nên những nơi cô đi qua, những người cô đã gặp cũng rạo rực những cơn động tình có khi dữ dội như lúc cả bọn đàn bà xởn tóc, đổ keo dán sắt (chứ không phải diệt chuột) vào chỗ kín, khi mùa gặt đến bọn gái điếm đi dập dìu trên đê, những đôi người trần truồng tỉnh bơ ôm nhau cười khúc khích mặc dù có người đi qua bên cạnh…Khi âm ỉ nhưng cũng dữ dội không kém, người đàn bà xa chồng,  một mình tự ve vuốt, tự yêu mình. Rồi những tiếng động trong chòi, tiếng loạt soạt của dăm bào, tiếng thở hổn hển…và những con cái khát khao con đực. Sương mới bị đổ keo chảy máu, vậy mà chỉ mới ba ngày đã sấn vào út Vũ, chị chủ nhà ở bầu sen mới thấy tấm lưng trần của anh ta mà vú đã căng đến nỗi bật cả nút áo.

Không tình cha con, không tình chồng vợ, không tình bè bạn, không cả chút tình thiên nhiên…Chỉ có tình dục và tình dục, ngay cả chó và vịt, con thì kêu la quằn quại, con thì êm đềm hoan lạc…Cả một cánh đồng mênh mang không thấy đâu là mầm xanh, không thấy đâu là giòng nước mát, chỉ có những con người và những con vật khao khát dục tình.

Cũng không còn một chút tình làng nghĩa xóm nào. Hãy đọc đoạn mẹ Nương bỏ nhà theo gã bán vải: Tôi chạy qua hàng xóm, nói với thím Tư rằng má đi mất tiêu rồi. Cả xóm tưng bừng, kẻ mừng vì vợ mình chưa bỏ theo trai, người vui vì con đàn bà đẹp nhất xóm đã đi rồi, khỏi lo ông chồng suốt ngày thòm thèm dòm ngó…

 Thực ra, cô là một cô gái tội nghiệp rất đáng thương. Mới 9 tuổi, sau bồ lúa cô đã thấy những cảnh không nên thấy, đã phải nghe những tiếng không nên nghe. Cái thảm kịch mẹ nằm dưới tấm lưng đầy mụt ruồi đó đối với Nương khủng khiếp hơn với út Vũ. Nó tàn phá tuổi thơ của cô, làm méo mó xệch xạc tất cả những gì cô nghe thấy, trông thấy. Trong cái cách kín đáo, tế nhị thu xếp cho cha và những người đàn bà khác làm tình có một nỗi niềm cay đắng nào đó như thể là cô thay mẹ để chịu tội với cha. Có thể nói tâm hồn cô đã bị người đàn ông bán vải phá trinh từ buổi trưa nọ và cha cô đã “hãm hiếp”cô trong những lần trên ghe, trong chòi, trên những đống dăm bào, qua Sương, qua những người đàn bà khác, trước khi bị bọn con trai ngu dốt, tham lam hiếp thật sự trên ruộng. Cô là một nhân vật bị tổn thương, bị què quặt, không được ai cứu vớt chỉ mong chờ vào những con tinh trùng đang bơi vào dạ con!

Cô bị bắt buộc phải khôn, phải ranh ma quá sớm. Cô lại bị tác giả áp đặt cả những ẩn ức, những dục tình của cả mẹ, cha, em trai, con đĩ Sương, chị chủ nhà và hàng lô hàng lốc những con cái con đực khác kể cả bọn con trai ngu xuẩn. Cô ngút thở trong cánh đồng mà lúa không trỗ nổi đòng đòng, nước phèn chua sánh, gió chướng ngật ngừ mà cô đặt tên là Bất Tận như nỗi buồn bất tận của cô.

Tôi tự hỏi tác giả vui gì mà dựng nên một nhân vật khốn khổ trong vũng lầy tình dục như vậy? Bắt một đứa nhỏ mới lớn vác trên vai và mang nặng trong hồn cái cơn cuồng điên tinh dục của thời đại là quá hoang tưởng (cho là mới, là theo kịp thời đại), nếu không muốn nói là quá ác.

Những con người đó, làng xóm đó, đồng ruộng đó thật khác xa với những con người đầy cá tính nhưng đáng yêu của Trang Thế Hy, Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, Kiệt Tấn…những tác giả làm vẻ vang đất và người phương nam. Chính Nguyễn Ngọc Tư trước khi viết Cánh đồng bất tận, cũng có những nhân vật rất chi là nam bộ, nhân hậu rất mực và dĩ nhiên rất nhân bản.

Bốn nhân vật nói trên cùng với cánh đồng tình dục của họ xuất hiện trên mảnh đất văn chương Việt Nam quả thực giống như những vật lạ có kích thước khổng lồ đã từng va vào trái đất. Nó`gây nên một tiếng nổ kinh hồn và để lại một hố sâu đến cả triệu năm vẫn còn đó (như ở rùng taiga của Nga).

Có người “im lặng thở dài” như nhà văn hóa đáng kính, bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc(1). Có người cho rằng tác giả đã đi tìm “một lối thoát bế tắc” như Hồng Lê Thọ (2). Còn tôi, dù đã chạng vạng cũng cố kêu lên một tiếng, xin đùng đi lạc vào cánh đồng ma quỷ ấy, nhất là các cháu bé bỏng sắp bước vào đời.

Và, với Nguyễn Ngọc Tư, xin cô hãy quay về với những kênh rạch nhiều tôm cá, những cánh đồng lúa chín vàng tươi, những chòm xóm rộn ràng tiếng nói cười của dỉ Tư, má Năm…hãy quay về với đồng đất tuy có mùi phèn nhưng vẫn thơm ngát hương rừng Cà Mau. Hãy bám rễ trên quê hương như rừng đước Năm Căn, hãy giữ vững bản lĩnh của một cây bút mạnh mẽ mọc lên từ đất như cây mắm cây bần, mặc cho những cơn sóng tâng tiu hay những cơn bão nịnh nọt.

Được vậy, cô xứng đáng được ca tụng và biết ơn xiết bao.

KHUẤT ĐẨU

 

1-Hãy đọc bài “Im lặng thở dài” tr185,186…của Đỗ Hồng Ngọc trong tác phẩm Như Thị , NXB Văn Nghệ, 2007.

2-Xem Một “lối thoát” bế tắc của Hồng Lê Thọ trên http//vietsciences org.

 

Điên Như Kiệt Tấn 1: Em vịt vàng nhỏ của tôi ơi!

khuatdau

 

Thuở còn bé, St Exupéry vẽ một con trăn nuốt con voi mà bao nhiêu người lớn nọ cứ tưởng là vẽ một cái mũ. Cái hồn mộng mị mà người lớn không sao hiểu được ấy, mãi sau này, giữa sa mạc mông mênh, giữa chết và sống, chú mới tìm được người đồng cảm. Đó là một cậu bé mong manh như ánh trăng từ một tinh cầu bé xíu đi lạc xuống trần gian, nhờ vẽ cho một cái rọ bịt mõm. Phải mất một lúc lâu, từ người lớn trở lại làm đứa bé, anh mới vẽ được một cái thùng hình hộp đủ cho trí tưởng tượng của chú bé tin là mình đang nhốt một con cừu.

Hoàng tử bé của tôi ơi! Biết bao người ở khắp nơi trên thế giới đã từng kêu lên như thế. Nhờ cậu mà tâm hồn khô cằn của họ bỗng dưng xanh mướt như cỏ tháng giêng, để cho đứa bé của năm xưa bước đi núng nính. Nhưng họ là những cư dân của phố thị giàu có rộn ràng. Họ reo vui khi tìm lại được thiên đường tuổi nhỏ nhưng với một anh nông dân cho dù là ở xứ Bạc Liêu giàu có nếu một hôm bất ngờ gặp hoàng tử bé thì cũng chỉ biết giương mắt ếch mà nhìn. Vì sao? Vì chú mong manh quá, cao sang quá, con của vua mà lại!

Cho dù Kiệt Tấn đã có bằng đại học ở Canada và đang sống ba mươi năm hơn ở Pháp, tôi vẫn tin ông là một nông dân. Mà lại là nông dân thứ thiệt, chẳng tin, thử đọc Em vịt vàng nhỏ của tôi ơi thì hết cãi. Kiệt Tấn không kêu Hoàng tử bé của tôi ơi mà lại kêu em vịt vàng nhỏ của tôi ơi!, kêu lên giữa Paris hoa lệ, giữa xứ sở của St Exupéry, kêu lên giữa lúc khôn nguôi nhớ về cái tuổi nhỏ quê mùa ở tận Hậu Giang, chỉ mong đến Tết để được ăn thèo lèo cứt chuột!

Mà lại kêu bằng em mới dễ thương và dễ ghét làm sao! Dễ thương vì một cậu bé sáu tuổi tưng tiu con vịt bé xíu như em út của mình là thương đứt đuôi con nòng nọc rồi, không trật một ly ông cụ nào. Còn dễ ghét là vì anh dám gọi con vịt bằng em trong khi tôi là vợ anh cho dù đã già nhưng rất hiền lại cứ bị gọi mụ nọ mụ kia!  Hay là tại ông điên như Bùi trung niên thi sĩ đã từng kêu các nàng dê bằng em! Kêu sướng miệng quá, ước gì tôi cũng điên được như ông.

Nói vậy mà chơi chứ ông không điên đâu, ông khôn bỏ mẹ. Ông mượn cái chết của con vịt vàng để chửi Pháp, chửi chiến tranh, chửi thằng con bà chủ, chửi luôn cả bà, lại nói kháy cả ông cụ sinh ra mình. (Cái chi tiết bà chủ đi ra bờ ao xả nước thải bị con vịt xiêm cồ cuồng dâm rỉa cái bàn tọa la choi chói đã lạ rồi mà ông bố bảo gặp tao, tao cũng rỉa huống hồ là con vịt, quả thật là có một không hai trong văn chương Việt).

Xin được trở lại với em vịt vàng. Câu chuyện bắt đầu bằng một cái trứng vịt ( trứng sinh ra vịt đấy nhé, đừng có cãi cù nhầy nữa). Cậu bé Kiệt sáu tuổi một hôm nhặt được một cái trứng giữa đám ruộng trước nhà. Cậu lấy mực đánh dấu rồi nhờ con vịt xiêm mẫu hậu ấp nở giùm. Con vịt xiêm là mẹ nuôi còn cậu tự xưng là anh ruột. Nhưng vịt vàng xinh xinh lại tưởng mẫu hậu là mẹ ruột nên suốt ngày cứ lẻo đẻo chạy theo. Và rồi một hôm trước tết, bị một đoàn xe nhà binh và xe thiết giáp của Pháp cán chết. Chỉ có vậy thôi, nhưng tôi nghĩ Trường hận ca của Bạch Cư Dị khóc Dương Quý Phi, hay Tự Đức khóc Trịnh Bằng Phi cũng không lâm ly não nuột bằng chú bé Kiệt Tấn khóc em vịt vàng của mình. Không bằng, bỡi vì cái chết của con vịt vàng tội nghiệp quá. Mười mấy chiếc xe mười bánh và xe tăng xích sắt kêu loảng xoảng cán qua thì còn gì là xương thịt. Không bằng, cũng bỡi ông quan tư mã áo xanh và ông vua ốm yếu mặc hoàng bào ấy dẫu sao cũng đã là người lớn. Mà người lớn thì đã chắc gì khóc thiệt nhất là khóc bằng cách “đập cổ kính ra tìm lấy bóng/ xếp tàn y lại để dành hơi”

Có một thời tôi cũng đã khóc con chó mực của mình, nhưng khi cột ba đồng tiền vào cổ liệng xuống sông là hết khóc ngay. Có đâu như Kiệt Tấn, qua Canada rồi qua Paris mà vẫn còn khóc đến tận bây giờ. Xem cái đoạn cậu bé sáu tuổi phải mất một buổi ngồi nhặt từng sợi lông, cạy từng chút đất sỏi dính máu dính thịt bỏ vào tờ báo gói đem đi chôn, tôi không khỏi liên tưởng đến người mẹ Gio Linh nghẹn ngào không nói một câu mang khăn gói đi lấy đầu. Có biết bao người mẹ đi nhặt xác con, người chị đi nhặt xác em, người vợ đi nhặt xác chồng trong cuộc chiến dài lê thê vừa qua! Bây giờ ông hãy còn khóc là khóc cho bọn họ, những nạn nhân không tên không tuổi ở quê hương mình.

Cái tuổi thơ của những người Việt nay sáu bảy chục tuổi là vậy. Mất mát nhiều quá. Chỉ một con vịt vàng bé xíu kêu lép kép đã đau như thế huống hồ mất mẹ, mất cha, mất cả quê hương.

Em vịt vàng nhỏ của tôi ơi! Từ ngày em bị chiếc xe nhà binh mười bánh và chiếc xe tăng nghiến nát, cuộc chiến tranh không ngừng tiếp diễn khốc liệt ở quê hương hai anh em mình Tôi tô đậm sáu chữ này để khắc sâu một lần nữa cái quê hương đằng đẵng ba mươi năm chiến tranh khiến một người giàu xúc cảm như ông xót xa khi nhớ tới. Con vịt vàng bé xíu bị hàng chục chiếc xe mười bánh và những chiếc xe tăng nghiền nát sao giống với thân phận của nước Việt mình quá.

Năm nay đào lại nở, năm nào đào chẳng nở, nhưng ông chẳng nhớ tới ông đồ già, cũng chẳng nhớ tới một nhân diện đào hoa tương ánh hồng nào, lại càng không nhớ tới một tà áo tiểu thư hay tóc vàng sợi nhỏ mà nhớ tới em vịt vàng nhỏ của mình. Nhớ tiếng kêu lép kép, nhớ màu lông vàng tức là nhớ tới cái xóm Mới tuy nghèo vẫn rộn ràng đón xuân. Nhớ tài kho thịt của cha, quần áo mới do má xỏ kim may có hai túi thẳng hai bên coi cũng le lói lắm. Trên tầng thứ mười lăm của một cao ốc lạnh lẽo ở ngoại ô Paris, ông nhớ thương quê cha đất tổ còn hơn bà huyện Thanh Quan nhớ nước đau lòng con quốc quốc / thương nhà mỏi miệng cái gia gia khi đi qua đèo Ngang.

Ông Kiệt( không có chữ Trụ) ơi, bắt chước một câu thơ nổi tiếng, tôi cũng kêu lên rằng, ông ơi, ông ở rất xa/ mà sao tôi thấy rất là Việt Nam. Ông đã là dân Paris rồi nhưng không mất gốc, những người đã gần bảy chục tuổi đầu mà còn biết nhớ tới con vịt vàng bé xíu là không bao giờ mất gốc. Nỗi nhớ như rễ đước cắm sâu ở rừng Cà Mâu thì sóng gió nào nhổ bật lên được.

Cũng đừng bảo rằng chuyện một con vịt be bé bị xe cán có chi đâu mà phải ầm ĩ. Hãy nhớ rằng đối với một đứa bé sáu tuổi, con vịt xấu xí đó đã được cậu yêu thương hơn cả cha, yêu như yêu mẹ đó, thì trên đời này không có gì to tát bằng. Yêu nước, yêu dân, cậu không biết yêu ra làm sao, nhưng bảo yêu con vịt từ lúc xí được cái trứng cho đến khi biết kêu lép kép là cậu hiểu được và yêu được. Yêu mãi cho đến già, đến chết.

Trở lại câu chuyện Hoảng tử bé. Tác giả bảo cảnh đẹp nhất là cảnh vẽ một ngôi sao cô độc trên nền trời sa mạc. Còn đây là cảnh đẹp và buồn nhất mà ông Kiệt vẽ ra cho tôi, một người đồng niên ở tận quê nhà: trên cụm mây xa thiệt xa, tôi hình dung một đứa nhỏ sún răng đang ôm con vịt vàng nhỏ của mình trong lòng và hai anh em đang bồi hồi ngó xuống trần gian ngắm thiên hạ nở pháo rộn ràng đón Xuân…

Cảm ơn ông đã cho tôi sống lại thuở lên năm lên sáu bằng một truyện nhỏ đầy chất dân dã mộc mạc như những câu hát buồn muốn chết mà thương cũng muốn chết trên Cửu Long giang.

KHUẤT ĐẨU