NGƯỜI CÙNG XÓM ĐÌNH

Chị Hẹ cầm tay tôi, nài nỉ :

– Em tới đó, gặp riêng anh Tấn…

Chị nhìn quanh quất rồi ghé sát tai tôi, nói nhỏ :

– …nói với anh Tấn là ra chỗ cũ, chị muốn gặp.

Thấy tôi còn ngần ngừ chưa hiểu, chị dặn thêm :

– Thì cứ nói ra chỗ cũ là anh biết liền. Nói chừng nớ thôi nghe. Mà nhớ đừng có cho ai biết là chị nhắn.

Tôi nhìn chị, thắc mắc :

– Nhưng mà anh Tấn là ai, em có biết đâu !

Chị Hẹ ngẩn người một thoáng rồi nhìn tôi cười :

– Ừ hỉ ?. Chị quên. Là anh Bòi Anh đó. Em biết rõ quá mà !

Tôi không giấu nổi vẻ ngạc nhiên :

– Ủa, anh Bòi Anh là anh Tấn đó hả ? Tên chi mà lạ hoắc, ai biết.

– Thì tên trong giấy tờ khai sanh đó. Mai mốt anh “ ra ràng” rồi, bộ cứ gọi tên cũ hoài, dị chết. Như chị đây cũng rứa. Chị…mà thôi, em đi đi. Trăng lên cao rồi, sợ khuya. Nhớ là đừng nói với ai nghe, giú kín cho chị.

Rồi thấy tôi còn đứng tần ngần, chị hiểu ý, dỗ dành :

– Mai ra quán, chị để dành cho hai tán đường.

Tôi kèo nài :

– Bữa trước hai tán, bây chừ phải thêm một nữa là ba. Mà đường đen hay đường vàng đây chị ?

Chị Hẹ “xì” một tiếng nhẹ, đẩy vai tôi, hối thúc :

– Cái thằng ni ! Thôi, đi đi cho mau. Ba bốn chi cũng được. Đường vàng đó, chịu chưa ?

Tôi cười, gật đầu rồi chạy vòng qua đầu con dốc.

Trăng sáng vằng vặc, trải ánh vàng trên con đường xóm nhỏ. Cảnh vật thanh vắng, nghe rõ tiếng dế kêu trăng hai bên đường. Tôi nhắm hướng có ánh đèn manchon từ xóm dưới. Anh Bòi Anh ( í quên, anh Tấn) đang sinh hoạt thanh niên thanh nữ ở đó. Cả tuần nay, mấy anh mấy chị lo tập dượt văn nghệ ráo riết để chuẩn bị tổ chức buổi lễ đưa tiễn đám thanh niên trong xóm lên đường thi hành Quân dịch. Làng trên xóm dưới, đi đâu cũng nghe bàn tán chuyện tòng quân, nhất là mấy anh thanh niên vào độ tuổi. Vừa rồi chị Hẹ nói anh Bòi Anh ( í, lại quên nữa, anh Tấn) “ra ràng” là vậy đó. Tại vì Ba của chị chuyên nuôi bồ câu. Ông có tới bốn cái chuồng cao nghệu đặt ở bốn góc nhà. Chuồng nào cũng được sơn phết màu mè sặc sở. Bồ cầu bay lượn từng đàn tấp nập suốt ngày. Ông thích thú và tự hào có đàn bồ câu mà theo Ông thường nói là đông đảo không chỗ nào sánh bằng. Một số đông người trong Xóm cũng lấy làm thích thú lắm. Nhưng mà không đủ can đảm để tự hào vì lẽ rình bắn bồ câu ăn thịt thì tự hào cái nỗi gì !

Chị Hẹ bắt chước Cha, nói gì cũng nhớ tới mấy con bồ câu. Nhiều chữ chị nói nghe lạ tai nhưng mà cũng có lý.

Chim đủ lông đủ cánh rời khỏi tổ tự kiếm ăn gọi là ra ràng.

Anh Tấn bây giờ cũng đã đủ sức lớn khôn để rời bỏ cái xóm nhỏ mà đi thì cũng giống như con chim bồ câu ra ràng chớ khác gì!

Anh vốn không phải là người trong Xóm. Trước sau anh cũng chỉ là người ăn nhờ ở đậu. Tôi nghe những người lớn kể lại, anh được chú Hai Mộc đem về nhà khi anh còn rất nhỏ, đâu khoảng một hai tháng tuổi gì đó. Chú giải thích với mọi người là lượm được anh bên cạnh đường khi chú trở về sau một chuyến làm ăn xa. Chú không đành tâm đi thẳng nên đem anh về nhà. Lời giải thích còn có nhiều nghi vấn, nhất là đối với thím Hai, người vợ đanh đá chua ngoa của chú. Trong một khoảng thời gian khá lâu, thím làm hành làm tỏi chú đủ điều. Chú chịu không nổi nên có ý định đem thằng bé gởi cho Bà Sơ nuôi nấng giùm. Một buổi sáng, chú bọc thằng nhỏ trong chiếc áo len, quày quả ra đi. Vừa đi vừa khóc. Lên tới

ngọn đồi nơi có ngôi nhà thờ lớn thì thím Hai rượt theo níu lại. Hai vợ chồng giằng co thằng bé một đỗi lâu. Cuối cùng chú đành để cho thím đem nó về. Từ đó, chuyện xưa thím không hề nhắc tới.

Anh Tấn ở với chú thím cho đến mười lăm tuổi thì chú, rồi sau đó tới thím, lần lượt qua đời. Anh trở thành đứa con chung của Xóm. Nay nhà này, mai nhà kia quanh năm suốt tháng. Miếng cơm đổi lấy từ những công việc nặng nhọc của một người ở mướn làm thuê. Như loài cỏ hoang trên đồi Trọc rừng Ngo, tự định đoạt lấy đời sống của mình.. Tính tình anh vui vẻ hoạt bát. Hình dong coi cũng ưa nhìn. Chị Hẹ ngó bộ ưa nhìn anh nhất. Không chừng anh chị có tình ý với nhau cũng tựa như con chim bồ câu trống với con chim bồ câu mái “gù” nhau. Tôi bật cười với sự so sánh ngộ nghĩnh này, suýt nữa táng đầu vô cái cổng Đình.

Anh Tấn đang bận sắm vai diễn trong một vở kịch, tôi phải đứng chờ. Vở diễn cảnh người con trai lên đường thi hành Quân dịch, người con gái bịn rịn tiễn bước chân đi. Vai nữ là chị Bưởi. Hai người đang diễn cảnh bịn rịn cầm tay nhau mà thề non hẹn biển. Có anh Trai đứng phía sau nhắc tuồng. Những câu hẹn thề mùi mẫn với lại cái cảnh cầm tay nhau thân mật, tôi thấy nó …động trời quá ! Chuyện trai gái của hai người sao lại đem bêu riếu cho mọi người cùng biết ?.

Chị Bưởi lại lớn hơn anh Tấn 5, 6 tuổi, đã có chồng con. Chồng chị là anh Thuận thợ mộc. Lấy nhau do hẹn ước của hai gia đình từ khi anh chị còn nhỏ. Lời thề hẹn đá vàng không được thốt ra từ tình yêu trai gái mà từ tách trà chung rượu bằng hữu chi giao. Chị ngồi xuống nơi cha mẹ chỉ với tấm lòng hiếu thảo chớ thiệt tình trái tim chị chưa một lần biết rung động trước tình yêu. Thời con gái chưa một lần e lệ cúi đầu che dấu nỗi thẹn thùng từ một ánh nhìn của người khác phái. Rồi những đứa con ra đời như là chất keo gắn chặt thêm tình nghĩa theo năm tháng dần qua, kéo theo tuổi đời an phận.

Chị tham gia đoàn văn nghệ do lời tha thiết yêu cầu của anh Trai. Điểm chính là không có cô gái nào trong xóm chịu đóng vai nữ trong vở kịch nòng cốt cho buổi lễ sắp được tổ chức nay mai. Vở diễn do anh Trai, trưởng đoàn thanh niên thanh nữ, tự soạn và tự đặt lời. Công khó của anh đã thức liền mấy đêm đỏ lừ con mắt để “nặn” cho ra chữ, sắp xếp lớp lang cho thiệt mùi mẫn với lời thề non hẹn biển hợp với cảnh tiễn đưa. Nhất định là phải có chiếc khăn tay vẫy vẫy, có lệ rơi, có cầm tay bịn rịn không rời…

Vậy mà, không có ai chịu nhập vai hết. Mấy chị thanh nữ vừa mới nghe anh Trai diễn tả sơ qua đã đỏ mặt ngượng ngùng, lắc đầu le lưỡi. Miệng đâu mà nói những lời ngọt ngào tình tứ như vậy. Lại còn cái cảnh nắm tay bịn rịn thì thiệt là muốn chọc cho thiên hạ đàm tiếu, dị nghị. Đến như đã là vợ chồng rồi mà khi ra đường cứ việc chồng đi trước, vợ theo sau. Đi như kiểu nhà binh, hàng một. Đừng nói chi tới mấy bà trong Xóm, chụp được cơ hội này thì đố có tha. Đầu trên xóm dưới, tụm năm tụm bảy nói cho mà nhức óc. Cho nên mấy chị, mặc dầu trong bụng cũng ưng, nhưng mà đẩy không nổi bức tường thành kiên cố của thói cũ lề xưa…

Anh Trai bực mình lắm nhưng anh quyết định không chịu thua.. Là người đã từng có một thời gian lưu lạc kiếm sống qua những vùng đất xa lạ, tầm nhìn của anh vượt quá lũy tre làng. Khi mệt mỏi trở về, anh đã đem về bao nhiêu điều mới lạ. Điều mới lạ trước tiên là mái tóc anh lúc nào cũng láng mướt, chải tém đít vịt gọn gàng. Cái lược nhựa lúc nào cũng giắt ở túi áo trước. Chỉ chừng đó thôi mà ai cũng nhìn anh lạ lẫm. Lời khen tiếng chê dồn đống, anh vẫn tỉnh bơ. Riết rồi thấy hay hay, đám thanh niên lần hồi bắt chước. Mấy cái đầu trọc, đầu húi hai phân lần hồi biến dạng thành đầu tóc đen dài, láng coóng, tém đít vịt y theo một kiểu. Chiều chiều, thấy “ mấy con vịt” lạc đàn, đi lên đi xuống con đường chính của xóm nhỏ, mắt dáo dác nhìn quanh…

Nói tóm lại, anh Trai là người của thị thành. Chị Bưởi là người phụ nữ, tuy là hương-đồng-cỏ-nội, nhưng có đầu óc cách tân. Thêm anh Tấn là người thường khi trở chứng ngang tàng bướng bỉnh, không chịu trói buộc bởi lề thói khắt khe ngàn đời không thay đổi. Ba người gặp nhau thiệt là tâm đắc. Có anh Trai nhắc tuồng, chị Bưởi và anh Tấn nhập vai mùi mẫn như thiệt. Thiệt đến nỗi mà tôi cứ đứng nhìn mê mẩn. Cho đến lúc anh Tấn làm điệu bộ bước lên xe (chiếc xe tưởng tượng). Chị Bưởi đưa chiếc khăn tay lên vẫy vẫy tôi mới giật mình hoảng hốt. Cứ tưởng anh sẽ đi, tôi vội vàng chạy đến nắm tay anh giật giật :

– Khoan, khoan đi đã anh ơi !

Anh Tấn khựng người, ngạc nhiên nhìn tôi trong khi chị Bưởi với anh Trai phá lên cười ngặt ngoẻo. Tôi ngượng ngùng đỏ mặt. Anh Tấn cũng cười, đẩy nhẹ tôi một cái :

– Cái thằng này ! Ở đâu mà xuất hiện kịp thời vậy ?

Rồi anh ghé sát tai tôi, thì thầm :

– Sao ?. Có người nhắn nhe gì phải không ?

Tôi nhớ mấy tán đường. Tôi nhớ lời chị Hẹ dặn phải giữ kín cho chị. Kéo anh ra góc sân, tôi nói nhỏ :

– Là chị Hẹ nhắn anh ra chỗ cũ, chị muốn gặp.

Thấy anh ngần ngừ rồi lầm bầm :” Lại làm hành làm tỏi gì nữa đây, trời !…”.Tôi níu tay anh, giục :

– Anh phải ra đó nghe. Nếu như anh không ra là em mất ba tán đường !…

Anh Tấn im lặng. Không nói gì.

Đêm đó, anh và anh Trai đưa chị Bưởi về dưới đường trăng thanh vắng. Tôi lẽo đẽo theo sau. Khi chia tay hai người ở hai con dốc, anh quày quả một mình trở về nhà. Vậy là anh không đến nơi chị Hẹ nhắn. Tôi ngồi sụp xuống vạt cỏ ướt sương đêm, ngẩn ngơ tiếc nuối ba tán đường đã vuột khỏi tầm tay. Và tôi khóc, ngon lành…

Sân đình đêm nay như ngày vô hội kỳ yên. Bà con làng trên xóm dưới lũ lượt kéo về tụ tập trước cái sân khấu lộ thiên. Tiếng trống giòn giả làm nôn nao cả lòng người. Đêm văn nghệ tiễn đưa đám thanh niên hai xóm Đa Cát và Đa Trung lên đường thi hành Quân dịch vinh dự đón tiếp các vị chức sắc từ trên Thị xã xuống. Đoàn văn nghệ của xóm Đa Trung ( là xóm trên) cùng với xóm Đa Cát (là xóm dưới) đang bận bịu tới tấp ở hậu trường. Tiếng là văn nghệ giúp vui nhưng bên trong vẫn có sự ngấm ngầm ganh đua quyết liệt. Xóm nào cũng muốn cho đội văn nghệ của mình vượt trội. Bởi vậy, dưới hàng khán giả, vô hình trung đã có sự phân chia hai nhóm rõ rệt. Tiếng la ó, vỗ tay ủng hộ “gà nhà” vang trời dậy đất. Khí thế sôi nổi làm cho mấy diễn viên trong hai đội văn nghệ lên tinh thần. Thấy anh Trai lúc nào cũng cười nói, đi lên đi xuống, chạy qua chạy lại dặn dò phân công từng tiết mục cho từng người. Anh rất tin tưởng vào vở kịch nòng cốt của chương trình. Nhất định sẽ làm cho khán giả rơi lệ. Sẽ làm cho mấy anh con trai tới độ tuổi tự hào vì được là người lên đường. Sẽ làm cho mấy cô có người yêu (hay không có người yêu, cũng vậy) cảm thấy mình được chia phần vinh dự có người yêu bỏ cày bỏ cuốc, đáp lời sông núi, mà xông pha giữa lằn tên mũi đạn sa trường. Dám không chừng mấy tay trốn Quân dịch cũng phải hết sức hối hận vì đã lỡ dại dột làm cái chuyện đáng ra không nên làm.

Chú Vạy trưởng Xóm, người to lớn dềnh dàng, chống cây ba toong đi lên đi xuống cười nói hễ hả. Gặp anh Trai, chú cười hết cỡ, nói “Très bien”…”Très bien”…

Sau màn vũ khúc “Giã Gạo Đêm Trăng”, tiếng trống bất ngờ nổi lên dồn dập. Anh Trai lẹ làng nhảy lên sân khấu, điệu bộ màu mè chụp lấy cái micro giới thiệu vở kịch then chốt của đêm văn nghệ. Vì đã có sự dặn dò xếp đặt trước nên tiếng vỗ tay nổi lên đồng loạt, tiếng la hét muốn khản cổ của đám khán giả gà nhà làm rung động cả một góc trời. Đèn sân khấu được mấy tay chạy màn cố tình che lại cho trở nên mờ mờ ảo ảo. Có tiếng hát cũng cố tình ghìm giọng như từ xa vọng lại nghe như người nghẹt mũi : “Vài hàng gởi anh trìu mến. Vừa rồi Làng có truyền tin. Nói rằng nước non đang mong. Đi Quân dịch là thương nòi giống…”.

Tiếng hát nhỏ dần, nhỏ dần rồi lịm tắt. Đèn lóe sáng. Từ hậu trường có chàng thanh niên xách chiếc va li thiếc bước ra. Đám con nít tức thì la ré lên :” Anh Bòi anh. Anh Bòi anh đó, bây ơi !…”.Tiếng cười bỗng rộ lên đồng loạt làm anh Tấn (là anh Bòi anh đó) khựng lại, hơi bối rối. Cố giữ dáng điệu, anh bước ra vài bước, nhìn ngó bầu trời rồi làm vẻ mặt buồn ngoái lại phía sau. Ý là biểu lộ sự bịn rịn không rời nơi làng quê xóm cũ khi phải lên đường tòng quân.

Vừa lúc đó, cũng từ phía hậu trường bên phải, một người thiếu nữ bước ra. Đám con nít cùng ré lên : “Chị Bưởi. Chị Bưởi đó…” Không có tiếng cười, nhưng có tiếng anh Trai nhắc tuồng nghe rõ mồn một “ Chạy lên. Chạy lên. Kêu tên. Kêu tên “. Tức thì chị Bưởi sửa dáng, lấy đà lúp xúp chạy về phía người thanh niên đang ở tư thế dợm bước. Chị kêu lên : “Anh Tấn! Anh Tấn!”. Úi trời. Tiếng kêu cố tình hụt hơi đứt đoạn nghe thiệt khá não nùng. Có tiếng xì xầm ở dưới hàng khán giả rồi một khoảng thinh lặng kéo dài đờ đẫn khi hai người trao đổi với nhau những lời thề nguyền lâm ly bi đát. Ngay cả đám con nít cũng nín thở, trố mắt nhìn một màn diễn quá bất ngờ táo bạo chưa từng thấy. Không khí bỗng trầm lặng hẳn. Chỉ còn nghe tiếng, khi thì nức nở bi thương, khi thì dịu dàng âu yếm của cặp trai gái trước giờ phút chia ly. Rõ ràng anh Tấn và chị Bưởi đã nhập vai thiệt là xuất thần.

Anh Trai ngồi chùm hum giấu người ở góc hậu trường, ngạc nhiên đến độ ngẩn ngơ quên cả nhiệm vụ nhắc tuồng của mình. Đám thiếu nữ không còn giữ gìn e lệ, cứ nhăn mặt nhíu mày lòng dạ trải dài xót xa quặn thắt theo từng cảnh diễn, từng lời nói của đôi nam nữ.

Đám thanh niên thì hả lòng hả dạ. Trời ơi là trời! Những lời nói yêu thương nhắn nhủ như rót mật vô lòng. Giá như bom đạn có cày bừa nát ngướu tấm thân cũng thấy không có gì là tiếc nuối.

Sân đình trở nên thinh lặng. Bao cặp mắt đổ dồn, theo dõi từng diễn tiến. Tôi đứng gần sân khấu, thấy chị Bưởi nước mắt đầm đìa. Chị khóc thiệt tình làm cho vai diễn càng thêm sống động. Tự nhiên, tôi cũng cảm thấy nghèn nghẹn. Nếu như hai người thương nhau mà phải xa nhau, họ sẽ nói những lời buồn nẫu cả người như vậy hay sao ?. Nếu vậy thì xa nhau làm gì ! Thương nhau làm gì ! Mà chị Bưởi có thương anh Tấn thiệt không đó. Sao thấy chị khóc ngon khóc lành vậy chớ ! Không có ai trả lời giùm tôi. Mọi người đang say mê theo dõi.

Trên sân khấu, anh Tấn quay người định bước lên xe(chiếc xe tượng trưng là chiếc ghế dài che phủ lá cây). Chị Bưởi vội chạy theo nắm lấy tay anh Tấn. Đoạn này mùi mẫn nhất. Hai người nắm lấy tay nhau. Anh nhìn chị. Chị nhìn anh. Đắm đuối…Đắm đuối…

Bỗng nhiên, mọi người nghe một tiếng thét xé trời. Từ dưới sân đình, một bóng người nhảy chồm lên sân khấu, tay cầm khúc mía chạy ào tới chỗ anh Tấn và chị Bưởi. Tôi giật bắn người, kịp nhận ra là chị Hẹ. Vừa khi khúc mía nhắm ngay đầu anh Tấn vụt tới. Rất may là anh Tấn, khi nghe tiếng hét, giật mình làm chiếc ghế lật nghiêng hất anh ngã xuống. Cú đánh như trời giáng trượt qua đầu khi anh vừa ngã ngửa về phía sau. Chị Hẹ cũng mất đà ngã nhào theo. Hậu trường nhốn nháo, tiếng la hét ồn ào. Rồi thấy anh Tấn vụt chạy bương qua hàng rào nhà ông Thưởng. Đuổi bén gót theo sau là chị Hẹ. Khúc mía đưa cao nhấp nhô theo đà nhún nhảy rồi mất mất hút vào khoảng tối mịt mù phía trước…

Sự việc xảy ra bất ngờ làm bà con bán tín bán nghi. Không lẽ vở diễn kết thúc như vậy sao ? Thấy chú Vạy chống cây ba toong chạy lên tìm anh Trai. Chú giận tím mặt, la lối om sòm :” Cái thằng trời đánh !.Kết cục như rứa là ý nghĩa gì đây ! Trời ơi mi giết tau rồi, Trai ơi!”. Anh Trai, cũng đang giận sôi lên, nói xẵng : ” Trai gái với lại cục hòn chi đây chú! Cái con giặc cái đó tự nhiên ở đâu nhảy lên làm bể dĩa hết trơn “. Rồi anh day sang phía anh Rớt đang trố mắt nhìn, nạt lớn :” Nhìn cái gì nữa. Kéo màn. Kéo màn”.

Chỉ có mình tôi là hiểu thấu sự tình. Ăn đường của chị Hẹ nhiều lần quá mà, làm sao tôi không hiểu thấu cho được !

Rốt cục rồi mọi người cũng vỡ lẽ. Thì ra, nói theo kiểu chị Hẹ, là anh Tấn với chị “gù” nhau .

Chuyện xảy ra từ cái đêm văn nghệ đó là đề tài bàn tán xôn xao làng trên xóm dưới. Búa rìu dư luận theo nề nếp cổ xưa, đuổi xô chị Hẹ về phía cô đơn….

Anh Tấn đã “ra ràng” rồi! Chỉ còn chị vẫn còn náu lại trong cái xóm nhỏ tựa cái chuồng bồ câu dần bạc màu sắc theo thời gian. Tội nghiệp. Mỗi lần ra đường, mọi người đều nhìn chị với ánh mắt khác lạ. Nhất là mấy bà ngồi lê đôi mách, họ thêu dệt về chị theo đà câu chuyện để mua vui trong giờ rảnh rỗi. Đám trai làng e dè ra mặt. Chỉ còn có tôi. Nói cho đúng nghĩa hơn là những-tán-đường-của-chị còn có tôi. Rồi cũng phải nói thêm cho thật lòng, dù ăn miếng đường ngọt ngào thanh cảnh của chị nhưng sao tôi vẫn cảm thấy không gần gụi chị được như ngày nào. Cú đánh trời giáng của chị đã gây ấn tượng mạnh trong tôi. Nó chì chiết trầy trụa tình cảm của tôi về chị đến nỗi tôi đã mất dần cảm giác thèm vị ngọt ngào như tôi vẫn thèm. Và rồi, tôi dần xa chị hồi nào không hay. Mỗi lần có việc qua quán nhà chị, tôi cố tình rão bước. Đôi lần bắt gặp ánh nhìn của chị, tôi cúi đầu lảng tránh.

Thời gian cứ lần lựa trôi qua. Hết hạn ba năm, chẳng thấy anh Tấn trở về như những chàng trai cùng xóm. Rồi đáo hạn kỳ lần nữa, thêm lần nữa, anh Tấn cũng biền biệt phương trời. Chị Hẹ vẫn ngồi nơi quán nhỏ mà lòng trải rộng cả phương trời. Chị gầy ốm, teo tóp rồi lạc tuổi thanh xuân. Nghe đâu trong thời gian qua cũng đã có nhiều đám gần xa mai mối, nhưng chị vẫn không chịu “ra ràng”. Chị như con chim vẫn ngày ngày giam mình trong cái chuồng chim bạc màu son để nhìn ngắm khoảng trời xanh vô tận, tìm kiếm một bóng chim quen.

Con chim lẻ bạn chắc là buồn. Chị Hẹ lẻ loi tình anh Tấn, chắc chị buồn thấm tận tim gan…

Chị Hẹ ơi ! Giờ đây em không còn trách chị như ngày xưa còn bé.

Sự đời vốn nhiều đa đoan. Sự tình cũng có nhiều cớ sự. Khi người ta yêu nhau thì chỉ thấy có mỗi người mình yêu. Và dễ thương (hay dễ ghét) hơn nữa, chỉ muốn người mình thương là của riêng mình.

Em cũng hiểu khúc mía chị dành riêng cho anh Tấn nó đầy đặn ngọt ngào tình yêu thương chớ đâu có phải hận thù. Giá như khúc mía được chia đôi cắn nửa thì tình tự biết bao nhiêu. Nhưng ác thay khúc mía lại làm nên cú đánh như trời giáng để cho anh Tấn hồn bất phụ thể mà lú lẫn cả đường về !. Khi yêu nhau người ta vẫn làm những điều khôn, điều dại cũng chỉ vì người mình thương.

Em cũng hiểu thấu nỗi buồn da diết qua tháng năm chị chờ đợi anh Tấn trở về…

Lý lẽ này tôi tìm kiếm được là lúc tôi lớn khôn. Biết soi gương làm dáng. Biết trái tim có hai dòng đập. Một cho nhịp sống đời thường. Và một cho nhịp slow, tango, bebop hay cha cha cha tùy thuộc hoàn toàn theo đối tượng mình thương…

Chiếc Honda vượt khỏi con đường đất đỏ hai bên là rừng cao su bạt ngàn, dừng lại ở đường quốc lộ. Anh Hường, phụ huynh của học trò tôi, vừa dựng xe vừa nói :

– Thôi, Thầy về ăn Tết vui vẻ nghe. Thầy quyết định về quê ăn Tết tụi tui cũng thấy mừng. Ở đây buồn lắm Thầy ơi !

Buồn hay vui, không phải là nguyên do để tôi đột ngột quyết định phải về nhà ăn Tết. Chỉ vì nhớ.

Tình cờ, sáng nay, khi vừa thức dậy nghe tiếng hát từ chiếc radio ở nhà bên cạnh :

“…Đàn trẻ thơ ngây chờ mong anh trai. Sẽ mang về cho quần áo mới. Ba ngày Xuân đi khoe xóm làng…”. (*)

Lời hát làm cho tôi nhớ đến xót xa những ngày Tết quê nhà. Tôi nhớ những đêm cùng các em thức canh nồi bánh Tết, lòng nôn nao nghe tiếng pháo vọng xa trong màn đêm tĩnh mịch. Những ngày Tết rộn ràng xôn xao câu chúc tụng trên con đường xóm nhỏ dập dìu người qua kẻ lại. Tôi nhớ không khí ấm nồng của những ngày Xuân chan hòa tình làng nghĩa xóm.

Và tôi quyết định phải về, dù hôm nay đã là ngày 30 Tết.

Tốt nghiệp ra trường rồi thuyên chuyển về vùng đất mưa bùn nắng bụi, heo hút bạt ngàn rừng núi này. Đây cũng là cái Tết đầu tiên xa nhà. Tôi muốn trải nếm cảm giác của lòng người xa xứ. Vậy mà, cuối cùng, vẫn không chịu được. Mới hay là nơi chôn-nhao-cắt-rún mãi mãi là nơi chốn phải quay về.

Có chuyến xe hàng ở đầu con dốc. Anh Hường mau mắn đưa tay vẫy chặn. Trong xe thưa thớt chỉ vài người khách, có lẽ cũng về quê ăn Tết muộn như tôi. Bác tài vừa sang số xe, vừa nói :

– Xe về tới Dục Mỹ thôi, thầy Hai. Tới đó, Thầy liệu đường mà bương tiếp…

Tôi không nói gì. Định bụng là đến Dục Mỹ sẽ đón xe về tới ngã ba Thành. Từ đó, đón tiếp xe lên Đàlạt. Chậm lắm là khoảng 11 giờ đêm sẽ có mặt tại thành phố sương mù. Hy vọng còn kịp giờ đón Giao thừa.

Bắt đầu qua dèo M’Drăk, xe ngừng lại đón thêm một người khách. Anh ta vứt cái bao đồ khá lớn ở cuối xe rồi nhìn quanh tìm chỗ ngồi. Trong xe cũng còn quá nhiều chỗ trống.

Anh đứng tần ngần một thoáng rồi đến ngồi bên cạnh tôi :

– Chào anh. Ngồi đây cho có bạn chuyện trò đường xa.

Tôi cười gật đầu chào xả giao

– Vâng, chào anh. Anh cũng về Dục Mỹ à ?

– Không, tôi chỉ đến Khánh Dương.

Rồi anh che tay, ngáp, ngon lành. Tôi lén nhìn anh, quan sát. Bộ râu quai nón rậm rì

lốm đốm nhiều sợi bạc. Mái tóc lâu ngày không cắt tỉa phủ xuống quá gáy. Da mặt sạm đen vì nắng gió. Nhìn vẻ dáng thật phong trần. Tôi cứ ngờ ngợ như là đã gặp anh đâu đó một đôi lần. Tôi đem ý nghĩ này nói với anh. Anh cười, hàng răng trắng đều giữa hàm râu rậm :

– Vậy hả ?. Cũng có thể là đã gặp đâu đó. Tôi vẫn qua lại vùng này thường lắm

Qua lại thường ở vùng này thì chắc thế nào anh cũng đến Phước An, nơi tôi làm việc. Có thể là gặp anh một đôi lần nơi đó. Tôi hỏi :

– Nhưng có khi nào anh đến Phước An ?

– Có chứ, một đôi lần. Nhưng hơn năm nay, tôi không ghé. Chẳng có gì phải ghé.

Tôi ngạc nhiên :

– Có gì là có gì, anh ?

Anh lại cười :

– Thì đại khái là kim loại, đồng, thau, vàng, bạc, các loại đồ cổ. Mua bán có, trao đổi có. Nhưng tôi thường đến các buôn bản Thượng. Họ có những món đồ cổ, quý hiếm. Thuận thì trao vừa thì đổi, chẳng ai ép ai. Người Thượng họ thật thà chất phác, gần gụi họ mình cảm thấy cuộc đời phẳng lặng hơn. Anh thấy tôi đầu tóc râu ria giống họ không ? Cố tình đó.

Rồi anh huyên thuyên kể chuyện vui về việc mua bán trao đổi với người Thượng từ các buôn bản xa xôi hẻo lánh. Anh có lối kể chuyện thu hút người nghe và đặc biệt là không ngừng nghỉ. Một mẫu người vui tính và dễ thân thiện, tôi thầm nhận xét.

Kể lể một thôi một hồi, bỗng anh khựng người nhìn tôi, cười :

– Thiệt là vô tâm. Nãy giờ ham chuyện quên hỏi chú em. Í, mà gọi chú em được chớ?.

Ngó bộ dạng trẻ quá mà. Sao? Về quê ăn Tết hay là đang đi kiếm ăn đây ?

– Kiếm chác gì đâu anh ! Tôi làm việc ở vùng này. Về quê ăn Tết đó.

Anh cười, phụ họa :

– Thiệt là bươn chải đường xa, tới ba ngày Tết cũng kiếm đường về. Mà về đâu đây, chú em ?

Tôi đáp gọn :

– Đàlạt

Anh “Hả” lên một tiếng, gương mặt có vẻ ngạc nhiên. Tôi vẫn vô tình :

– Anh lưu lạc nhiều nơi, chắc cũng có dịp về qua Đàlạt.

Gương mặt anh trở nên tư lự. Anh khẽ thở dài :

– Ghé qua sao được. Có thời gian anh ở đó rồi. Mà không lâu.

Tôi cười vui vẻ :

– Vậy là gặp người cùng quê rồi. Anh ở vùng nào vậy ?

Anh im lặng, nhìn ra cửa xe, như đang suy nghĩ điều gì. Rồi anh thở dài :

– Ở không lâu mà đi xa cũng nhớ mới kỳ. Hồi đó anh ở vùng Trại Mát.

– Tôi thì ở cây số 4, là Xóm đình Đa Cát đó. Trại Mát nơi anh ở họ trồng rau nhiều lắm. Đặc biệt, anh biết có gì không ? Đá gà. Nhứt là mùa Tết, cá độ gà đá dữ dằn lắm. Để coi, ở Xóm tôi cũng có nhiều tay mê đá gà nặng. Sống bằng nghề đó luôn. Có Ôn Tôn Lạc, có chú Cử, chú Phú xe Lam nè. Lớp sau này có anh Trai, anh Đát con rể của ôn Cai Hoành…

Tôi đang ngập ngừng cố nhớ thêm vài tay mê đá gà nữa thì nghe anh nói, giọng có vẻ hốt hoảng :

– Ái chà, thôi chú em ngồi nghe. Anh xuống coi cái bao đồ không chừng mấy tay lơ xe moi móc…

Rồi không chờ tôi trả lời, anh hối hả đứng lên đi thẳng. Tôi mất hứng ngồi yên.

Khá lâu không thấy anh trở lại. Tôi ngoái nhìn, thấy anh ngồi khuất ở băng ghế cuối, đang loay hoay làm gì đó.

Xe chạy một đoạn dài, tôi vẫn có ý chờ anh trở lại để tiếp câu chuyện đang còn hứng thú. Vừa lúc đó nghe tiếng bác tài xế rổn rảng :

– Khánh Dương. Khánh Dương. Ai Khánh Dương chuẩn bị xuống nghe.

Xe bắt đầu hãm thắng, chậm dần. Tôi quay lại, cũng vừa lúc anh vội vàng đi lên. Bàn tay anh bóp mạnh lấy vai tôi, đau nhói. Tôi nghe anh nói, giọng có vẻ xúc động :

– Nhớ tìm anh nghe.

Rồi anh lẹ làng nhét một mảnh giấy nhỏ vào túi áo trên của tôi, quay người đi vội xuống cửa sau, chụp bao đồ nhảy xuống khi xe chưa ngừng hẳn. Tôi nhoài người ra cửa

hông, thấy anh đứng bên lề đường đưa tay vẫy vẫy.

Xe qua khỏi Khánh Dương một đoạn, tôi chợt nhớ tờ giấy anh nhét vào túi áo. Đó là tờ giấy bao vỏ thuốc Capstan, trên có ghi địa chỉ nhà anh và ở dưới có dòng chữ viết vội :

“ Chú Trọng

Về quê ăn Tết vui vẻ nghe. Biết chú không có thì giờ thôi thì để ra Giêng tìm tới anh. Có nhiều chuyện muốn hỏi chú.

Anh, Tấn

Người cùng Xóm Đình “

viết dưới hiên trăng

TRẦN HUY SAO

(* ) nhạc phẩm Xuân Này Con Không Về – Trịnh Lâm Ngân

Advertisements

LỄ HỘI AN – DƯƠNG – VƯƠNG

Hằng năm nước ta có ba lễ hội lớn mang ý nghĩa lịch sử dựng nước và giữ nước. Đó là lễ hội Hùng-Vương
[ 10/3 AL ] lễ hội Trường-Yên [ Hoa-Lư ][ 15/2 AL ] và lễ hội vương thành Cổ-Loa.
Cổ-Loa là kinh đô thứ hai của nước Việt.
Kinh đô đầu tiên là Phong-Châu, thời đại các vua Hùng.
Nhưng Cổ-Loa với Thục-Phán An-Dương-Vương là hiện thực lịch sử.
Phong-Châu thời đại các vua Hùng cho đến nay vẫn là truyền thuyết.

Năm 218 trước Công-Nguyên, sau khi gồm thâu lục quốc, Tần-Thủy-Hoàng với chiếc đầu bạo chúa, đã phái 50 vạn quân binh tiến về phương nam đánh Bách-Việt. Thủ lĩnh dân Việt thủa ấy là Thục-Phán, dựa vào núi rừng hiểm trở đã đứng lên tổ chức trường kỳ kháng chiến. Sau mười năm bị tổn thức nặng nề, quân Tần ngậm đắng rút về phương Bắc. Thục-Phán thay vua Hùng lập ra nước Âu-Lạc, kinh đô là Cổ-Loa [ nay thuộc huyện Đông-Anh cách Hà-Nội 15 km về hướng bắc ].
Cổ-Loa thành là kiến trúc độc lập đầu tiên của người Việt. Xưa, kinh đô có chín vòng thành, hiện nay thành chỉ còn lại ba vòng. Thành ngoài chu vi rộng 8 km2, thành giữa mang hình đa giác rộng 6,5 km2, thành trong là 1,60 km2, hình chữ nhật. Chiều cao của tường thành là 5 m, có nơi cao tới 12 m, còn bề dày của thành rộng tới 20 – 30 m. Tương truyền là do thần Kim-Quy báo mộng đề An-Dương-Vương dựng nên kinh thành kỳ vỹ nầy hầu chống lại giặc phương Bắc.
Thục-Phán lên ngôi vào năm 208 trước Công-Nguyên, trị vì được 50 năm. Sau nhiều năm đánh Âu-Lạc không thắng nổi, Triệu-Đà xin giảng hòa rồi lập kế cho Trọng-Thủy kết duyên cùng Mỵ-Châu để tráo lấy nỏ thần. Năm 179 trước Công-Nguyên, An-Dương-Vương bị diệt, nước ta từ đó bị phong kiến Trung-Hoa đô hộ hơn cả ngàn năm.
Hằng năm mỗi độ xuân về, từ mồng 6 tết cho đến 16/1 AL, xã Cổ-Loa lại rộn ràng tổ chức Lễ Hội An-Dương-Vương trong không khí tưng bừng, dân làng của 12 xóm đất đế vương xưa làm kiệu kết hoa tiến về thành Cổ-Loa để dự lễ rước thần. Lễ là những ngày hội vui xuân với bao nét đẹp văn hóa cổ truyền được người dân làm sống lại qua những hội hát chèo, đánh cờ người, đu bay, chọi gà, đánh tổ tôm . . .
Trong những ngày lễ hội, hàng vạn người khắp nơi tụ hội về để tưởng niệm công ơn dựng nước của Thục-Phán An-Dương-Vương trong không khí vừa huyền thoại vừa hiện thực. Cổng làng Cổ-Loa ngày nay, xưa là thành trong, qua khỏi thành trong là đến đình làng, đây là đền cũ điện triều, nơi bá quan văn võ cùng vua luận bàn việc nước. Hiện nay trong đền còn tấm hoành phi “ Ngự Triều Di Qui “ và trong di tích nầy tại Ba-Cầu đã từng phát hiện kho chứa hàng vạn mũi tên đồng ba cạnh, có lẽ truyền thuyết về nỏ thần cũng từ những mũi tên nầy mà có.
Đền Thượng, tức là đền thờ An-Dương-Vương nằm phía trong, theo các vị bô lão thì đây là nội cung của vua ngày xưa. Đền được xây dựng từ thế kỷ 11, thờ An-Dương-Vương, thần Kim-Quy và nỏ thần, đền gồm có hạ điện là ngôi nhà ba gian rộng lớn, cột gỗ lim đồ sộ, tám mái vút cao. Tượng vua được đúc từ năm 1897, nặng tới 255 kg bằng đồng lấy từ một kho đồng được phát hiện năm 1893 dưới nền điện trong thời gian đền được trùng tu lại. Trước cổng điện là hai con rồng uy nghi chầu phục với những nét khắc chạm tinh vi của thời đại nhà Trần.
Miếu thờ công-chúa Mỵ-Châu cách đền chính vài mươi bước, nép mình dưới cây đa cổ thụ khổng lồ, miếu am khiêm tốn u huyền như cuộc đời u uẩn của nàng, trong miếu có một tảng đá thân người không đầu, tương truyền đó là tượng Mỵ-Châu “ trung tín, thệ tâm thân hóa hóa thạch “ từ biển xa trôi về Cổ-Loa mong phụng dưỡng vua cha. Giếng Trọng-Thủy nằm giữa cồn đất của ao tròn trước mặt đền, giếng xây bằng gạch, đây là nơi Trọng-Thủy thương tiếc Mỵ-Châu đã nhảy xuống tự vẫn, nước giếng từ ngàn xưa đến nay vẫn trong xanh một màu, tương truyền những viên ngọc trai từ máu của Mỵ-Châu hóa thành được rửa bằng nước giếng nầy thì sẽ sáng đẹp bội phần. Nhà bia nằm bên phải đền thờ, bia được dựng vào năm 1601, ghi lại những phong tục, tập quán thời ấy, nét chữ đến nay vẫn còn rõ ràng sắc sảo.
Sau khi thành Cổ-Loa rơi vào tay Triệu-Đà, An-Dương-Vương lên ngựa truy phong về phương nam mang theo Mỵ-Châu và chiếc áo lông ngỗng cùng những lời dặn dò của Trọng-Thủy trước lúc chia tay, lại một lần nữa đã làm Mỵ-Châu đắc tội với vua cha. “ Chạy đến biển thì cùng đường, Rùa Vàng hiện lên mặt nước nói rằng : “ Người ngồi sau ngựa chính là giặc đó sao không giết đi ? “ Vua rút gươm muốn chém, Mỵ-Châu ngữa mặt lên trời khấn rằng : “ Thiếp là con gái, nếu có lòng phản cha, xin chết làm tro bụi, nếu một lòng trung tín nhưng thật bụng tin người, bị người lừa dối thì xin chết hóa thành châu ngọc để rửa mối nhục nầy . . .” Vua chém Mỵ-Châu, máu chảy thành giòng, trai hút lấy hóa thành ngọc, còn An-Dương-Vương nhảy xuống biển theo thần Kim-Quy về với lòng đại dương.
Lễ hội vương thành Cổ-Loa trong không khí thiêng liêng của những ngày tết cổ truyền là tiếng chuông đánh thức mỗi người dân nước Việt, dù ở năm châu hay bốn biển, đến ngày 6/1 AL, bằng tâm tưởng hãy hành hương về 2316 năm trước, Thục-Phán An-Dương-Vương bằng ý chí quật cường, lần đầu trong lịch sử đã đánh thắng 50 vạn quân Tần hùng mạnh, đã sáng tạo nên thời đại đồ đồng và để lại biết bao bài học lịch sử bi tráng cho dân tộc Việt trường tồn đến ngày nay.

Ai về qua huyện Đông-Anh
Ghé thăm phong cảnh Loa Thành Thục-Vương
Cổ-Loa thành cũ khác thường
Trải bao năm tháng dấu thành vẫn ghi.
[Nhân gian ca]

Đầu Xuân Kỷ-Hợi 2019

VƯƠNG KIỀU

Unhappy Valentine’s Day

Nàng không buồn nghĩ tới / Valentine’s day hôm nay. Trùm khăn tóc khỏi bay, nàng đi ra làm bếp!

Làm đàn bà, số kiếp: Lo cho chồng cho con. Trong ngực nàng không còn / trái tim cho người cũ…

Nàng lâu nay, vậy đó! Nàng là người đàn bà. Vẫn miệng còn như hoa. Vẫn mắt như hồ nắng…

Valentine’s day lẵng lặng / mỗi năm đều trôi qua. Không ai nói nàng già, nhưng soi gương nàng biết…

Thời gian đi qua thiệt / qua trước của nhà nàng/ khói lam chiều mang mang / ôi những làn khói tỏa…

Nàng nghe lạnh trên má / giọt nước mắt nàng lăn…Ai cũng có tuổi Xuân…Nàng, hoa hồng treo ngược!

Nàng mở khăn cho tóc / xỏa xuống bàn tay nhăn / nhớ khi đò trôi ngang / bàn tay nàng trên ngực…

Nếu hồi đó nàng khóc…vu quy thiếu nữ…mà! Và bây giờ thì xa / Valentine’s Yêu Dấu!

Nàng! Ôi anh thật “xấu” / xa em thời chiến tranh!

Trần Trung Tá

ĐÊM BUỒN…

ĐÊM BUỒN…

Im vắng mơ hồ như giấc mơ
Ai buồn buông thả một hồn thơ
Quê hương khuất nẻo chiều nghiêng bóng
Viễn khách sầu lay khói sóng mờ

Ta cũng như người – thương nhớ thương
Quê mình biền biệt mất trong sương
Lưu vong trên đất mình đang ở
Đau nhói trong tim nỗi đoạn trường

Ta cũng như người ray rứt thôi
Những chiều mưa rụng lá chơi vơi
Nhớ ơi khói ấm cay lòng mắt
Ta khóc – mà thôi – đã-mất-rồi….

TẶNG HH.

Còn quê đâu nữa mà về
Chỉ còn lại những não nề. Phù vân
Chỉ còn lại tiếng chuông ngân
Rung trong tiềm thức mỗi lần nhớ quê
Cầu tre – lắc lẽo – câu thề
Không nên danh phận – không về cố hương…

Hồ Chí Bửu.

ĐÊM TRỪ TỊCH


Tặng Bạn hiền Zulu DC CAO HẠO NHIÊN

Năm tàn nguyệt tận đêm trừ tịch
Xa xứ lòng ai chẳng ngậm ngùi.
Huống nỗi quê xưa bao thảm kịch
Đau thương đất Mẹ lệ than ôi !

Buồn xuyên thế kỷ ta lữ thứ
Sóng vỗ ầm vang dội biển đông.
Hỡi kẻ rước voi dày mả tổ
Hoàng Sa vết chém…máu Tiên Rồng…!

Chợt nhớ mùa xưa mai vàng điểm
Chiều ba mươi Tết mẹ têm trầu
Bàn thờ nghi ngút trầm hương quyện
Rước tổ tiên về nhắc nhớ nhau…

Lò than lửa réo, nước sùng sục
Nồi bánh chưng đây: Hồn cố hương.
Dân tộc! Ta mơ hoài chẳng được
Đêm trừ tịch buốt giá trong lòng!

TRẦN THOẠI NGUYÊN

Phạm Công Luận: Vẻ hấp dẫn của ký ức

Có người nói: “Viết, một cách nào đó, là chết”. Có những câu chuyện cũ, không có gì độc đáo nhưng ta muốn giữ cho riêng mình. Một ngày, ta ghi lại kỷ niệm ấy trên trang giấy, rồi được nếm trải cảm giác sung sướng khi bài viết nên hình nên dạng, được đăng trên sách, báo… Đến lúc nào đó ngồi lục lại trong trí nhớ, ta bỗng thấy những kỷ niệm lấp lánh ấy không còn đậm đà trong lòng mình nữa, không còn làm ta thao thức nữa, nó “chết” dần theo từng con chữ, để lại vài hình ảnh mờ nhạt. Điều đó như một quy luật tự nhiên.

Có một dạo tôi miệt mài viết về những cái Tết trong gia đình khi còn cha mẹ. Đó là khoảng thời gian hạnh phúc khi ngồi trước màn hình máy tính hoặc trong bóng đêm thả trí nhớ bay về miền xanh thẳm thơm mùi thuốc pháo ở những ngày xưa. Sau đó, những chuyện cũ như phai dần sau một lần lấy ra từ trong kho của kỷ niệm, giống như cuốn sách cổ trong hầm mộ tan thành bụi bay theo gió khi phơi ra ánh sáng mặt trời.

Khi có nhà riêng, anh bạn tôi tách gia đình nhỏ ra khỏi cuộc sống đại gia đình và dần thay đổi lối sống, từ cách trang trí nhà cửa trở đi. Ngày Tết, cả nhà đi du lịch nước ngoài, cửa nhà khóa kỹ vài lớp. Anh kể rằng thật thoải mái khi mấy ngày Tết không bị ràng buộc bởi những kiểu cách xã giao như trước kia. Anh không cần mua hoa về chưng, dọn bày cỗ bàn, cúng kiến, xông đất, cúng giao thừa, tiếp khách.v.v…

Một lần, ngồi bên hồ bơi ở một resort xứ người để trông con đang ngụp lặn dưới nước, anh sực nhớ hôm nay là mồng Một Tết. Anh nhớ trong căn nhà cũ kỹ một thời, nơi sum họp của gia đình bảy người con cùng cha mẹ khi xưa. Anh nhớ cái bàn thờ sáng choang với lư đồng mà chính tay anh, đứa con trai út trong nhà mỗi năm nhận phần việc lau chùi bằng khế, chanh. Anh nhớ dáng cha bận bà ba trắng đứng thắp nhang trước bàn thờ, dáng mẹ ngồi cắt củ kiệu và nhớ cảm giác sung sướng khi mang từng cái sàng tre sắp đầy kiệu và củ cải lên phơi trên sân thượng trong cái nắng thơm dịu của tháng Chạp ta. Anh thấy buồn thiu, rồi tự nghĩ tốt nhất là cất cho kỹ cái tâm trạng u uẩn ấy, vì những người thân yêu quanh anh khó mà hiểu được những gì thuộc thế giới tuổi thơ của anh mà họ không từng có mặt.

Có khi vợ anh, khi sống trong nhà chồng, cũng từng cảm thấy lạc mất nhiều cảm xúc của tuổi thơ, của quê hương, của kỷ niệm và của những nghi thức ở tôn giáo mà cô ấy gắn bó từ nhỏ. Tối đó, anh ngồi trên một góc giường phòng nghỉ, gõ phím ghi lại từng dòng về những thổn thức trong lòng. Anh thức để viết đến một giờ sáng, lưu lại và mỏi mệt nằm xuống ngủ khi tâm trạng đã nhẹ nhàng hơn. Biết mình không quen viết lách có văn vẻ, câu cú có lộn xộn, nhưng đó là liều thuốc hay. Anh bớt đi nhiều cảm giác nhớ nhung, cảm thấy việc viết lên trang giấy chẳng khác chi đốt một lá bùa, để những sầu não bay đi và tâm bình yên hơn.

Nhiều lần tôi thấy mình bị lạc trong mớ ký ức hỗn độn của “những năm niên thiếu dịu dàng và tuổi trưởng thành khắc khổ” (nói như Gogol), trong đó từng có những câu chuyện buồn, đáng xấu hổ và đầy giận dữ. Nhưng cho dù ký ức xấu cũng là ký ức, tôi chỉ thích nhớ những chuyện vui khiến mình từng thấy hạnh phúc.

Sự nghiêm khắc của cha trở nên dễ thông cảm, câu răn dạy khó chịu của ông anh cả chứa đựng sự chăm lo thương yêu trên bước đi của đứa em đang trưởng thành. Phải chăng đó là màng lọc không chỉ tạo nên từ lý trí mà còn từ sự thông hiểu và biết ơn, mà khi trưởng thành ở tuổi nào đó ta mới có được.

Viết về ký ức phải chăng chỉ là sự trốn chạy thực tại?

Tôi không nghĩ mọi chuyện đơn giản như vậy. Khi viết về quá khứ, tôi nhận ra mình là ai, những gì đã tác động đến mình để trở thành một con người đủ cả những tính tốt và xấu, với những điều mạnh mẽ lẫn yếu đuối trong tính cách không dứt bỏ được. Tôi hiểu rõ hơn vì sao mình yêu tha thiết một thành phố dù nó dần dần không giống như mình yêu thương, vì sao gắn bó với những xóm giềng, cây cỏ, thời tiết, khí hậu chung quanh khi chúng đã dần biến dạng. Và vì sao, luôn cố gắng truyền cho con một điều gì đó của quá khứ, dù các con thật ra đang sống để hình thành một quá khứ cho tương lai của các con. Đó là mật mã để gắn kết các thế hệ mà nhiều khi mong muốn truyền đi như là một thứ bản năng có sẵn. Có lẽ đó là lý do các cụ già thích kể chuyện xưa.

Dù sao, thời thơ ấu là thời gian đẹp nhất đời người cho nên viết về tuổi thơ là niềm vui thực sự. Bằng bàn phím, tôi du hành ngược thời gian, để được lần nữa nếm miếng bánh tráng kẹo mạch nha ngọt lịm của ngày xưa, hút nhụy hoa trong cuống bông bụp trồng bên hàng rào, nhai lại hạt điệp vàng thơm bùi và đăng đắng… Đó là những khoái cảm đơn sơ nhưng nhớ lâu.

Nên cho dù, viết là “làm chết” hay “làm mòn” những kỷ niệm, tôi vẫn muốn viết về những ngày xưa. Kỷ niệm càng đào, càng khai thác càng đầy và lộ ra những điều từng quen thuộc nhưng lạ lùng như mới gặp lần đầu. Đó là vẻ hấp dẫn khi được đào bới kho tàng ký ức.

Phạm Công Luận
(Nguồn: Tác Giả cho phép)

ĐÊM LƯU XỨ

Đêm khói tỏa, đêm trầm hương mê hoặc
Đêm tàn canh qua vội rất vô tình
Con dế nhỏ gọi hoài âm thưa, nhặt
Cũng như người thao thức với đêm thanh.

Bờ huyễn ngạn còn vang lời hư ảo
Đưa tôi về nồng ấm những khuya mưa
Và hoài niệm vẫn xanh màu phương thảo
Màu chiêm bao lẫn khuất bụi xa mờ.

Đêm lưu xứ nghẹn ngào men rượu đắng
Từng giọt buồn như lệ buốt thiên thu
Nghiêng ly cạn đợi một giờ Nguyên Đán
Vàng son xưa phai nhạt tự bao giờ…

Tôn Nữ Thu Dung

BÀI ĐẦU NĂM TÌNH YÊU

Nắng xuân nào long lanh trong mắt bé
Đầu tháng giêng tây anh đã tết ngày tình
Đầu tháng giêng tây anh đã xênh xang mới mẻ
Óng ả linh hồn, ríu rít nhịp tim

Nắng xuân nào long lanh trong mắt bé
Linh hồn anh từ đó ướp trầm hương
Linh hồn anh, từ đó, ngạt ngào thơm
Máu, như nước hoa chan đời lễ lạc

Máu, như gió lành chảy qua ruộng đồng bát ngát
Chở chuyên mùi lúa chín quanh năm
Như sông hiền chia chín ngả: cửu long giang
Ôm ấp phù sa, lẫy lừng sức sống

Tình, đã mở ra một bầu trời nạm ngọc
Linh hồn anh, từ đó, khảm muôn sao
Nắng xuân nào long lanh trong mắt bé
Thơ học trò anh thách thức thời gian

Có luật đào thải khắt khe, có kẻ cùng thời ghen tị
Hãy duyên dáng nở nụ cười âu yếm nhẹ
Hạt răng đều chới với đứa ngồi trông
Thơ học trò anh gieo vần tuyệt kỹ

Thơ học trò, anh thổi ấm gió tàn đông
Cho ai mang vào trường khoe với bạn: của anh Nhiên …
Nắng xuân nào long lanh trong mắt bé
Mười ngón tay gầy anh có cách chi không

Nhặt cả bóng cả hình chàng thi sĩ
Lẫn cái tài hoa, trao gọn giữa tròng đen
Nắng xuân nào long lanh trong mắt bé
Linh hồn anh, từ đó, bỗng ham vui

Linh hồn anh, từ đó, mãi mê chơi
Thượng đế nếu hỏi tại sao, anh sẽ trả lời mạnh dạn:
Thiên đàng của ngài là an bình, thanh thản
Ngài nên đem phủ dụ những bà cả ông già

Nắng xuân nào long lanh trong mắt bé
Đầu tháng giêng tây anh đã tết ngày tình
Đầu tháng giêng tây anh đã xênh xang mới mẻ
Quên hết phận người, hiện tại, việt nam …

NGUYỄN TẤT NHIÊN

Tối Hăm Chín Tết

Một bước nữa thôi…là tới Tết! Thời gian lui lại, có bao giờ? Ba mươi chờ vậy, đêm trừ tịch, dám…ngủ quên…chừ, dám có mơ?

Mưa mãi…mưa hoài. Mưa sẽ tạnh! Nửa đêm, lưng lửng, nửa đêm buồn…Buồn ai, không có, đang buồn ngủ…Dẫu có thế nào, mai cũng Xuân!

Mai, chuyện của mai, Thiên Chúa phán. Khổ đau đã đủ bữa hôm nay! Nào ai theo Đạo không tin Chúa? Mình ngoại Đạo mà mắt cũng cay!

Thôi kệ, buông xuôi dòng nước chảy…Thời gian, nước chảy, một đường xuôi! Những người lội ngược không hề tới / cái chỗ ngọn nguồn mây trắng trôi!

“Bạch vân thiên tải không du du!”. Thiên tải – ngàn năm…cõi tít mù. Biết vậy, tại sao mình cứ tính…Tính mờ con mắt thấy Thiên Thu!

Hôm nay, hăm chín, mai ba mươi. Mồng một chào nhau nở nụ cười…Ai viết cho tôi trên cánh thiếp, nhành mai đơm nụ thấy thương ơi!

Tôi biết mình xa…vẫn cứ xa…Xa Non, xa Nước, biệt quê nhà! Nhớ ai mặc áo bà ba tím…nhớ nụ tầm xuân…nhớ xót xa!

Bốn mùa…không biết Xuân hay Hạ, một trộ mưa, trời…không lẽ Thu? Tí tách…nằm nghiêng, nghe tí tách…Một ngày sắp tới…sẽ bao lâu? (*)

“Mưa chiều Thứ Bảy, tôi về muộn, cây khế trên đồi trổ hết bông!” (**), Nguyễn Hàn Chung nhắc thơ ai đó, mười bảy ai xui bậu lấy chồng?

Mười bảy…Bây giờ hăm chín Tết, ai còn tần tảo phải không ai? Ai còn tíu tít cơm và áo…Chiếc áo bà ba…kệ gió bay!

Trần Vấn Lệ

(*) Cổ thi: Tứ thời vô Xuân Hạ, Nhất vũ tiện thành Thu.
(**) Thơ Phạm Công Thiện.

MỘNG XUÂN… .

tìm trong xuân
mộng
bình yên
chút se sắt lạnh bên hiên gót về
hương thơm theo bước chân thề
chỉ duy nhất trái tim kề người thôi

**
người duy nhất trị vì ngôi
mộng xuân
tìm
lạc thuở đôi cát lầm
đất trời tự thuở lặng trầm
uyên ương tạc đã âm thầm kiếm nhau

**
tạc âm thầm kiếm xưa sau
hoài ngăn cách mãi nỗi đau vẫn giờ
tìm trong xuân
mộng
tình cờ
và trong cả những bất ngờ nào hay

**
bất ngờ trận bụi sầu bay
cội xương rụng trắng lá lay khi mùa
lá lay cỏ ngọn gió đùa
mộng xuân
tìm
cánh chim vừa ngõ hoa

**
tìm trong xuân
mộng
thiết tha
may ra sót chút dấu mà nhớ thương
sót yêu sót trót vấn vương
thành đông giá sớm dậy sương khói miền

**
khói sương đông giá thần tiên
tìm chiêm bao
thấy mây hiền
mộng xuân…

PHẠM HIỀN MÂY