gửi lại tháng tư

xin gửi lại một chút buồn trong mắt
biển chẳng vui từ thuở vắng chân người
trăng son rỗi nằm nghe đời tất bật
tiếng hát ai xanh mướt điệu u hoài

xin gửi lại một hoàng hôn thấm mệt
chút lòng đau dâu bể vô thường
tháng tư vội và bông hoa nở vội
lời hẹn hò đã thấp thoáng mù sương

xin gửi lại một mùa vàng đã lỡ
cho trăm năm vẫn nước chảy qua cầu
đường dẫu vắng, xin em đừng ngả nón
cho ta đợi chờ một chút mưa mau

xin gửi lại một dòng sông hiền hậu
chẳng còn đâu bên lở với bên bồi
không hiểu nữa, chút nắng vàng da diết
đã về đâu hay khi tóc đã phai rồi

xin gửi lại tháng tư mùa hoa nắng
đừng nhắc làm chi lời trách muộn màng
xin gửi lại những buồn vui rất thật
cho tháng tư về trời đất thênh thang

NP phan

Advertisements

NHỮNG KHÚC TANG CA

Tang Ca 3

có người nói với tôi về sự cứu chuộc của những hạt nước
cây xanh ở giữa thung sâu
và mưa qua lũng cao
những ngọn đèn đêm không tắt
sẽ mãi mãi không có gì về sự mãi mãi
từ sự khởi nguyên cho đến hồi kết thúc
biết được sao?

có người nói với tôi về sự trở về
Em đã khứ hồi trong tôi miên viễn
mùa hè rì rầm những lời mưa lúc nửa đêm
tiếng mèo gào, tiếng động cơ gầm rú, tiếng nhạc trầm buồn của Hy, và cả tiếng em thở dài đã át đi tiếng mưa trong sự áy náy

Em đang nói với tôi về sự lặng câm
không phải sự lặng yên mà tôi đã có
mùa hè bung nở những đám mây xám như đầm lầy lúc trời tối
những cơn sốt tứa máu đỏ ối
và drap giường uể oải một hoài nghi
Mùa hè đã trở về từ những cuộc ra đi
ngày tháng Tư mệt mỏi
mê sảng úa nhàu khi cơn lặng câm tràn về
không thể mở miệng
không thể kể nói
những hàng cây không trăng
những hàng cây trần truồng không được bảo vệ
từ những gốc cây khô héo
sự sợ hãi mọc mầm như một đàn dơi úa
bay lên.


Tang Ca 2

Những dường dẫn tính từ động từ danh từ
rớt tí tách trên vân gỗ
môi cười thâu đêm đông cứng dày đặc khuôn miệng
trận thánh ca rớt trên đêm tháng Ba
kéo lê thê tiếng than kinh
là nửa đêm
cáo hóa ra người, người hóa cáo
hồn phách bước qua bậc thềm
đã qua thì không bước lại
giả dụ sẽ luôn là sự thật trá hình

những thanh dẫn nối dài
qua những vị diện vắng mặt
những tiếng nói bị cầm tù
vào một ngày rồi bặt tiếng

đừng chờ mưa qua miền giêng hai
nơi tháng xưa môi ngoan còn sót lại
ngày chia ly hẳn sẽ rất dài
ai sẽ là người ở lại?

em ra đi ngày cùng không ngoái
trượt chân về một chốn bụi mù
vụn vặt một miền tin đã cạn
cùng cơn mưa xưa

Tang Ca 1

Cuối cùng những đóa hoa cũng gục ngã giữa cánh đồng
trên thân thể những chiếc lá úa
Mẹ nói với tôi về vết muỗi châm đêm qua
và những đám mây không về trong mùa mọng nước.

Cuối cùng, những ngón tay của mùa hè trở về
rờ rẫm bằng nỗi hoài nghi
vòng sóng siêu âm bất lực
khi tiếng chuông ban chiều vừa gióng lên
bắt lời cho những câu kinh
về một tình yêu vừa tự tận

Cuối cùng cũng là những hoang tàn của ngàn thông
nơi xác lá rã rượi qua mùa di trú mới
những lọn tóc rệu rã mà sương lam không thể phủ đắp hết
Mẹ đốt khói nhang trầm cho những nghi ngút đêm qua

trên mặt đá xám
người cười lung linh với bóng mình
tôi đếm những trận mộng du đã kéo tôi trượt qua thiên niên kỷ trước
trận mộng du cũng nói với tôi về sự tàn phai
hôn lễ của tình yêu này là lời khai sinh cho cái chết một tình yêu khác
những đám mây không thể che hết hình hài của mùa hè
và em đã dạt trôi theo những đám mây mang phù chú mới
tôi ngồi một mình và hát khúc tang ca
bằng những chiếc vẩy lấp lánh nắng
tháng Tư dập dềnh cho một lời nói dối đã xa.


Phương Uy

MẢNH THÁNG TƯ

Ta cắt tháng tư thành vô vàn mảnh vụn
Gửi tặng mỗi người mỗi mảnh cầm chơi
Soi vào đó để thấy đời hữu dụng ……..
Để thấy nỗi đau chất ngất tận trời.

Gửi tặng anh mảnh đao binh nóng hổi
Hừng hực như hào khí tuổi thanh niên
Giữ để nhớ từng bước chân nguồn cội
Biến rừng hoang thành gấm vóc tổ tiên.

Gửi tặng cha mảnh âm u vô tận
Như đêm dài vô tận ở quê hương
Đem trái tim làm ngọn đèn thắp sáng
Vẫn ngàn năm leo lét góc sân vườn.

Gửi tặng mẹ mảnh nhiễu nhương dao bén
Vì cưu mang từng thương tích trầm luân
Những đứa con như những đàn chim én
Lạc loài bay, chưa dựng nổi mùa xuân.

Gửi tặng em mảnh mặn mà đau khổ
Vắt lầm than trên dấu vết đoạn trường
Nước mắt có xẻ chia dòng hoen ố
Cõi lòng em lấp lánh vạn tinh sương.

Gửi tặng chị mảnh kinh hoàng địa ngục
Vừa thanh xuân đã góa bụa khóc chồng
Hồn tử sĩ từ cổ kim thao thức
Bồi hồi theo từng bước vợ long đong.

Gửi tặng bé mảnh cuồng phong phẫn nộ
Lát mì khô chan nước mắt âu lo
Tuổi thơ đứng giữa biển trời kiệt lộ
Vượt trùng dương tìm đất mới tự do.

Gửi tặng cháu mảnh lao đao lịch sử
Lật từng chương để sống lại tháng tư
Ghép mảnh vụn thành nỗi đau bất tử
Và ngậm ngùi tưởng tiếc đến thiên thu…

PHẠM HỒNG ÂN
(San Diego, 03/04/2010)

MỘT Ý KIẾN NHỎ: ĐI TÌM CÁI DỞ CỦA THƠ HAY.

Xin nói ngay từ đầu để tránh mọi ngộ nhận, tôi chỉ là người chọn lọc những bài thơ hay từ các nhà thơ gởi đến trang mạng của mình. Là một người yêu thơ nên khi chạm vào câu đầu tiên tôi đã biết đó là bài thơ hay hoặc dở! Nhưng cũng có rất nhiều bài thơ tôi cầm lên đặt xuống đầy băn khoăn nghi hoặc. Đó cũng là một trăn trở của rất nhiều nhà phê bình có tâm và có tên (tuổi). May mắn thay, tôi đọc được những lời này của Nguyên Hưng Quốc- một trong hiếm hoi những nhà phê bình tôi chọn đọc- nói thật, tôi vốn không mấy yêu thích những gì khoa học quá, cao xa quá, tiểu tiết quá, hiện đại quá, bề trên quá…nên tôi thường…bỏ qua những nhà phê bình thơ và nghĩ thầm: “giỏi thì viết một bài thơ hay ho nghe thử chớ nói thì ai nói chẳng được!”
Với người làm thơ, chỉ còn trang giấy. Không có gì ngoài trang giấy. Trên trang giấy, không phải chỉ có chữ mà còn có cả những khoảng trống chung quanh các con chữ. Từ đó, thơ có thêm một yếu tố mới: yếu tố phi từ vựng. Chữ, cuối cùng, chỉ là một loại ký hiệu. Mà ký hiệu nào cũng có một mục đích giống nhau: giao tiếp. Ngay cả khi người ta loại trừ chữ, chỉ sử dụng ký hiệu, mục đích ấy vẫn có thể được duy trì. Nghĩa là vẫn có thể có thơ được. (Nhà phê bình Nguyễn Hưng Quốc nói hay hơn, lập luận chặt chẽ hơn nhiều nhưng tôi chỉ nhớ đại khái vậy và lấy làm tâm đắc điều này lắm!)
Nhân đọc bài Bà Chúa Thơ Lục Bát của tác giả NGUYÊN LẠC gởi đến, viết về Phạm Hiền Mây ( cả hai đều là người cộng tác với Tương Tri). Thêm bài phê bình của Trần Trung Thuần- người mà ai cũng biết là nhà thơ Trần Vấn Lệ- cũng liên quan tới nhà thơ Nguyễn Hàn Chung với ” Lục Bát Tản Thần”. (Tóm lại cả bốn đều là những người tôi yêu mến.) nên tôi không thể không lên tiếng, dù tiếng nói của tôi chẳng có kí lô gam trọng lượng nào đối với ai và chắc chắn là …chìm vào hư không, nhưng kệ đi yêu ai cứ bảo là yêu/ ghét ai cứ bảo là ghét…. Còn nếu ghét thì im lặng chớ đừng nói yêu, như vậy là thỏa hiệp xấu xa! Tôi không bao giờ thỏa hiệp.( hết phần …để tránh ngộ nhận…)

1.Trần Trung Thuần:
ông không phải là một nhà phê bình chân chính có học vị học hàm và các loại học này kia như những nhà phê bình khác mà chỉ là một nhà thơ trữ tình, vãi chữ như vãi trấu,thơ ông hay, ngôn ngữ tự nhiên dễ dàng như kể chuyện.Ông thành công vì người đọc nào cũng tưởng ông viết cho mình. Điều này rất khó.Nếu căn cứ vào những lời ông viết để đánh giá Phạm Hiền Mây thì không đúng và thiếu công bằng với cô
2. Phạm Hiền Mây:
Phạm Hiền Mây chưa bao giờ tự xưng và tự hào cho rằng mình là Bà Chúa Thơ Lục Bát. Cô từng là một cô giáo, lỗi của cô là đẹp và làm thơ dễ thương, lỗi của cô là mỗi ngày( hoặc vài ngày) lại đưa thơ và hình của mình lên FB. Cô là một cô giáo, một người làm thơ trẻ mà tôi yêu mến, có một nhà thơ tên tuổi nói với tôi về tính cách của cô:” ở ăn thì nết cũng hay…” Vâng , cô ấy không hề làm mất lòng ai kể cả những người cô không thích!
3.Tôi:
* Không nên đánh người đẹp dù chỉ bằng một cành hoa, nhất là những …người đẹp làm thơ. Các nhà thơ rất dễ bị tổn thương. Khi tổn thương họ làm gì nhỉ? Theo tôi, họ im lặng. Và tùy theo tính cách, họ thể hiện sự im lặng với ngầm ý rằng:
-Với tính cách hiền lành cam chịu họ sẽ im lặng khuất phục và tìm chỗ nhấm nháp xoa dịu vết thương.
-Với những người bản lĩnh họ sẽ phẩy tay bỏ qua không quan tâm đến kẻ làm tổn thương họ.
* Những cách đảo chữ , trùng lặp, mượn chữ cũ chen vào câu thơ mới v.v…chỉ là cách làm mới những gì đã cũ.Thử nghĩ coi , chỉ có 24 chữ cái thôi, các nhà thơ cũ danh tiếng lẫy lừng đã xài đến cạn kiệt rồi còn đâu!
Vậy thì hãy để cho những người trẻ sáng tạo, đôi khi không hay lắm, nhưng lạ. Lạ và sáng tạo là tính cách của các nhà thơ trẻ đang đi vào trường văn trận bút. Họ không muốn và không thể dẫm lên dấu chân người đi trước.Theo thời gian, thơ họ sẽ được chấp nhận hoặc đào thải, nhưng dù sao đi nữa, họ vẫn có một chỗ đứng nhỏ bé hoặc lớn lao trong nền văn học sau 75. Chưa ‘tam bách dư niên hậu” thì chúng ta có nói gì cũng còn là quá vội!
4. Quỳnh Nga:
Cô là một người làm thơ tôi thích đọc, hồn hậu, trong trẻo, tròn vần đúng luật và bát ngát cái tâm Nam Bộ. Nếu có duyên, tôi rất hân hạnh mời cô cộng tác
5. Cuối cùng:
Tôi muốn mình thật công tâm khi nói về những cây bút tôi yêu mến nên trên đây chỉ là một ý kiến nhỏ để rộng đường dư luận.
Rất biết ơn những nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình không ngừng quan tâm, không ngừng phổ biến, không ngừng sáng tạo, không ngừng cùng nhau giữ gìn tiếng Việt.
Rất cảm ơn anh Nguyễn Hưng Quốc, Nguyên Lạc, Phạm Hiền Mây, Trần Vấn Lệ, Nguyễn Hàn Chung. Thật bất ngờ, những “cái nhà” tôi nêu tên đều từng là nhà giáo dạy Văn nên dù có nói tới nói lui, họ đều cùng một mục đích cuối cùng là…tôi yêu tiếng nước tôi!
Và, tôi cũng vây. Giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt là một trong những tôn chỉ của trang TƯƠNG TRI.

Tôn Nữ Thu Dung

CẢM NHẬN VÀI BÀI THƠ CỦA “BÀ CHÚA THƠ LỤC BÁT”

.

BÀI “ĐỌC TẬP THƠ BẤT TƯƠNG PHÙNG, KHÔNG TIN…”

I. NHỮNG TRÍCH ĐOẠN
Tình cờ đọc được bài “Đọc Tập Thơ Bất Tương Phùng, Không Tin Của Phạm Hiền Mây” của nhà bình thơ Trần Trung Thuần thấy hay hay, xin được ghi ra đây vài trích đoạn “ấn tượng” của bài viết ĐỌC TẬP THƠ…[1]
[ … Ý tôi muốn mở bài viết hôm nay về thơ Phạm Hiền Mây, qua tập Bất Tương Phùng Không Tin do nhà Nhân Ảnh ở San Jose, Mỹ, xuất bản năm 2018, tôi vừa nhận được đầu năm mới, 2019, từ một người gửi ở Tiểu Bang Nevada, cũng Mỹ. Phạm Hiền Mây thì ở Việt Nam, ngay tại thành phố Hồ Chí Minh. Phạm Hiền Mây, nói theo lối của Xuân Diệu, mới đã: đây là Bà Chúa Thơ Lục Bát Nước Ta! Cả tập thơ Bất Tương Phùng Không Tin toàn thơ Lục Bát dày tới 250 trang, tổng thể là 100 bài rất dài hơi.

Cuối năm ngoái và đầu năm nay, tôi có hai cái hạnh phúc: năm ngoái, 2018, nhận tập Lục Bát Tản Thần của Nguyễn Hàn Chung gửi cho từ Texas, Mỹ, năm nay, 2019, nhận tập Bất Tương Phùng Không Tin của Phạm Hiền Mây (do ai) gửi cho từ Nevada. Trước hết là tôi Biết Ơn bạn bè luôn luôn chúc tôi có hạnh phúc, sau là Biết Ơn hai tác giả đều “chuyên khoa” làm thơ Lục Bát, theo cách định nghĩa của Nguyễn Du.
Thơ Lục Bát của Nguyễn Hàn Chung là loại thơ có tư cách Nguyễn Hàn Chung: Nói thẳng, nói thật, nói tuột luốt cái tư duy có trong đầu mình, trong bụng mình, không đụng hàng ai hết…thỉnh thoảng có giống giống chút thôi bởi không dè…người ta (Nguyễn thị Hoàng Bắc, Sơn Núi, Bùi Giáng…) lại có tư duy như Nguyễn Hàn Chung, không khéo mà thành Công Duy…(như chữ Tư Sản đã thành Công Sản vậy). Thơ Nguyễn Hàn Chung: Vui và Tuyệt Cú Mèo (dùng chữ Tuyệt Tác thì lễ phép hơn nhỉ?).
Thơ Lục Bát Phạm Hiền Mây…có thể “trùng thanh” nhiều người (toàn bậc thượng thừa) như Hồ Dzếnh, Trân Huyền Trân, Nguyễn Du, Huy Cận, Cung Trầm Tưởng…, có thể “trùng ý” nhiều người (toàn thể ai…hay yêu và hay buồn). Cái tài của Phạm Hiền Mây là làm thơ Lục Bát hay quá và đều tay quá, không chỉ một tập thơ dày cộm này, Bất Tương Phùng Không Tin! Phạm Hiền Mây có một đứa con thật mà có tới ba đứa con tinh thần, và chắc không ngừng ở số ba!

Bây giờ tới chuyện Phạm Hiền Mây, không khen là tôi đắc tội (không phải Phạm Hiền Mây đẹp). Tôi tin nếu Xuân Diệu còn sống thì Xuân Diệu cũng bái phục Phạm Hiền Mây như Xuân Diệu từng làm điều đó với Hồ Xuân Hương, Bà Chúa Thơ Nôm. Dù tôi “phát biểu”: Phạm Hiền Mây Là Bà Chúa Thơ Lục Bát, hơi hướng Xuân Diệu, nghĩ có sao đâu? Có thể có người bảo tôi “ninh tinh”, thì cứ lý lụn đi nào, coi ai lụn bại, ai thành công. Nếu “kết lụn” thua nghiêng về tôi, tôi sẽ méc Má tôi: tại Má sinh con ở Nam Bộ…phận!

Tôi không có nhận xét nào thêm để dài dòng về một thi tài độc đáo là Nữ Thi Sĩ Phạm Hiền Mây. Chuyện của Phạm Hiền Mây qua thơ (Tôi chỉ biết thơ, thú thật hổng biết Thơ Ca hay Thi Ca nghĩa là làm sao?). Tôi coi Phạm Hiền Mây như một đóa hoa mai. Nhất sinh đê thủ, rồi. Tôi coi Phạm Hiền Mây là Bà Chúa, tôi nghĩ Chúa Trịnh, Chúa Nguyễn không bắt lỗi tôi
Tôi không còn gì để nói thêm! ](Trần Trung Thuần)

II. VÀI SUY NGHĨ VỀ BÀI ĐỌC TẬP THƠ

1. Đọc lời khen của nhà bình thơ Trần Trung Thuần, tôi chợt nhớ lại bài thơ “Lời mẹ dặn” của Phùng Quán:

Lời mẹ dặn
Phùng Quán

Yêu ai cứ bảo là yêu
Ghét ai cứ bảo là ghét
Dù ai ngon ngọt nuông chiều
Cũng không nói yêu thành ghét.
Dù ai cầm dao doạ giết
Cũng không nói ghét thành yêu…

2. Đây là vài ý nghĩ của các bạn tôi khi đọc bài khen thơ trên:
– Chưa từng thấy có lời khen “tuyệt vời” như vầy
– Quảng cáo tập thơ cô thi sĩ trẻ quá siêu!

THƠ CỦA “BÀ CHÚA THƠ LỤC BÁT”

Theo lời giới thiệu: “Phạm Hiền Mây, nói theo lối của Xuân Diệu, mới đã: đây là Bà Chúa Thơ Lục Bát Nước Ta!”(Trần Trung Thuần), tôi mạo muội ghé qua “vương cung” (Facebook) của “bà chúa” để thưởng thức các bài thơ tuyệt với như lời “quảng cáo”.
Thấy gì?
— Đúng là nơi “vương giả” chỉ dành riêng cho thiểu số tót vời, giới thượng lưu.
Này nhé: – Dầy đặc trong các bài thơ những cụm từ “hàn lâm”: Hư không, vô ngôn, miên khê, miên trường, miên du, uyên nguyên, phiêu bồng, địa đàng, thiên cổ, cát bụi, nguyên sơ, phù vân, cố thổ, tà huy, tà dương và nhiều nhiều nữa.
Gặp ở đây nhiều chữ của Phật giáo, của các triết gia, đặc biệt là của thi sĩ Bùi Giáng những chữ mà ông thường dùng một cách nhuần nhuyễn.

I. Phân tích một số chữ tiêu biểu được dùng trong thơ

Xin tạm phân tích một số chữ của “bà chúa” Phạm Hiền Mây dùng trong các câu thơ. Có gì không đúng xin bà giảng dạy thêm.
– Miên trường
Tiếng Hán Việt (H) giống như tiếng Anh (E) tính từ đứng trước danh từ, ngược với tiếng Việt(V).
Thí dụ: Bạch mã (H) White horse (E) Ngựa trắng (V)
Do đó “miên trường” không phải là giấc ngủ dài, mà là dài rất dài: Trường = dài; miên = dài (miên viễn).
Áp dụng vào các câu thơ:
“thiên lý dặm miên trường mù không” ̣Phạm Hiền Mây (PHM)]
(thiên lý dặm = ngàn dặm đã dài rồi, thêm miên trường = rất dài vào, ôi!)
“mới cơn bụi cát miên trường đêm say”(PHM)
“ừ anh mật ngọt miên trường giọt môi”(PHM)]
tôi thấy chúng sao ấy, nếu không nói là vô nghĩa!
– Tà dương ̣
Tà dương ̣hay tịch dương: Mặt trời lúc sắp lặn, có nghĩa là buổi chiều gần tối.
Câu thơ: “có em chiều xuống tà dương” (PHM) dư chữ “chiều xuống”
– Vô ngôn
Vô ngôn là cụm từ của Phật giáo với nghĩa không lời. Sóng tràn thì phải động mới tràn, nghĩa là có âm thanh: Xem như có lời.
Vậy câu thơ: “sóng tràn vô ngôn” thi sĩ muốn nói về điều gì? Vô ngôn?
– Biển ngâu
Trong “mai đời dẫu khóc biển ngâu” có hai chữ “biển ngâu”
Sự tích Ngưu Lang – Chục Nữ gặp nhau ngày mùng 7 tháng 7 âm lịch, ngày mưa Ngâu (Ngưu) sụt sùi. Bắc cầu “ô thước” qua “sông” Ngâu chứ đâu có “biển” Ngâu: Biển làm sao bắc cầu. Lại nữa, dãi ngân hà giống như dòng sữa, nhìn như dòng sông chứ đâu phải khắp bầu trời mà gọi là biển?
– Miên khê
Miên khê là khe nước đứng yên (ngủ), giang đầu là đầu nguồn sông lớn… vậy câu sau đây có nghĩa là gì?
“giang đầu nguyệt bóng miên khê”
Và “nguyệt bóng” là gì tôi tìm từ điển không thấy, xin bà chúa giải thích cho biết?
Hai chữ “nguyệt bóng” này làm tôi nhớ đến “sự đảo chữ”

II. Bàn sơ lược về đảo chữ

Tôi thấy “bà chúa thơ” rất “sính” đảo chữ. Mời đọc những chữ này: Nắng vạt, hoặc nghi, phai phôi, nguyệt bóng, trùng muôn… nhiều nhiều nữa.
Thí dụ:
“hư không níu trùng muôn bớt dài”
Trùng muôn nghĩa là gì vậy nữ sĩ?

Tôi thấy đa số những cụm từ đảo trên gợi ra nhiều vấn đề. Bà chúa thích “đố chữ”?
Xin có vài ý kiến qua trích đoạn dưới đây:

[…Phép đảo chữ (đảo từ):
Đảo: Ngược, đảo ngược.
— Trong nói đảo người ta thường dùng lối chuyển đổi trật tự, vị trí các chữ trong một nhóm chữ (nhóm từ)
— Ta phận biết được ba trường hợp trong phép đảo chữ:
1. Chữ mới khi được đảo có thể xem như cùng nghĩa với chữ trước khi đảo:
Ngồi ngủ/ ngủ ngồi.
Đứng ăn/ ăn đứng
Khổ đau / đau khổ…
2. Chữ mới khi được đảo sẽ “vô nghĩa”, nghĩa là không thể nào đảo được.
Chữ mới khi được đảo sẽ “vô nghĩa”, nghĩa là không thể nào đảo được.
Độc đáo / đáo độc: Đáo độc vô nghĩa
Độc lập/ Lập độc: Lập độc vô nghĩa
Tà huy / huy tà: Huy tà vô nghĩa
– Khờ khạo / khạo khờ: Khạo khờ vô nghĩa.
– Vừa vặn / vặn vừa: Vặn vừa vô nghĩa.
Muôn trùng / trùng muôn: Trùng muôn vô nghĩa
câu thơ:
Hư không níu trùng muôn bớt dài (PHM): vô nghĩa.
Các thi sĩ nên xét lại! Nếu có nghĩa xin các thi sĩ cho biết tên từ điển Việt nào?
3. Chữ mới khi được đảo khác nghĩa với chữ trước khi đảo, nghĩa có khi trái nghịch…]
(Đảo Chữ – Nguyên Lạc)

Sẵn dây xin được ghi ra trích đoạn về ngôn ngữ thơ mà tôi tâm đắc của Lê Hữu
[… Ngôn ngữ thơ là chữ nghĩa, hình ảnh, ý tưởng … chỉ có ở trong thơ hơn là trong đời thực. Có điều, khi đọc, nghe, ta cảm thấy như là có thực, có ý nghĩa và chấp nhận được; hơn thế nữa, lại còn rung cảm vì thứ ngôn ngữ ấy. Bất kỳ cách diễn đạt nào làm cho người ta đọc ra thơ, nghe ra thơ, hiểu ra thơ muốn “nói” điều gì, đều là ngôn ngữ thơ.
Chữ nghĩa cần có sự phát minh, sáng tạo hơn là lặp lại rập khuôn người đi trước. Những vô thường, vô vi, phù vân, phù ảo, hư ảo, hư không, tà huy, miên trường… mà người làm thơ cố đưa vào bằng được trong thơ mình thường có một vẻ gì khập khiễng, gượng gạo như một kiểu tạo dáng kém tự nhiên, đôi lúc khiến câu thơ tối tăm, khó hiểu.
Thường, thơ khó hiểu thì khó hay; thơ tạo dáng thì khó tạo được cảm xúc.
[Lê Hữu: Thơ lục bát còn, tiếng Việt còn]

III. Cảm nhận hai bài thơ tiêu biểu của “bà chúa thơ lục bát”

1. Hai bài thơ tiêu biểu
Các bài này đã được phổ nhạc và được rất nhiều thi sĩ “lão thành” có tiếng khen (like), tức nhiên nó phải hay và chắc tôi không cố ý chọn lầm.

VẼ EM…

vẽ em
bằng hết đời
sầu
anh tô lại đẹp từ đầu giấc mơ
từ đầu buổi mắt xanh thơ
còn trong veo nắng màu tơ sợi trời

**
còn chân gót hát ca lời
vẽ em
anh vẽ mưa rời rợi
đau
tay vời vợi níu tay nhau
mùa đông hoài gạt lệ dàu dàu vương

**
mùa đông hoài vắng người thương
hoài thiên lý dặm miên trường mù không
vẽ em
bằng hết chờ
trông
đợi anh tịch lặng mênh mông bóng gầy

**
trăng treo cao bóng lên đầy
tiếng khuya lả tả trắng bầy rong rêu
trắng dòng lá mục lêu bêu
vẽ em
anh vẽ vạc kêu sương
tàn

**
vẽ em
bằng nỗi vui
tràn
anh hoàng hoa xuống cội vàng cánh xương
cội hoàng hoa đóa uyên ương
mây hoàng hoa bến mộng thường vân lâu

**
yêu cho bằng hết bể dâu
sông
anh ru cọ ơ ầu
vẽ em… .

VÔ CÙNG TRĂM NĂM… .

yêu anh
cuộc
mộng nghìn trùng
dấu cô lý bến mịt mùng xa xăm
gót chân viễn xứ mù tăm
bâng khuâng bờ vắng em nằm chờ mai

**
bâng khuâng cõi vốn phôi phai
yêu anh
từ độ chia hai mây
trời
đất mơ gặp gỡ nhau đời
tạc câu huyền sử bời bời uyên ương

**
ghi rằng trời đất vấn vương
mới cơn bụi cát miên trường đêm say
yêu anh
yêu
cả gầy tay
hương thơm ngón thắp em ngày ái ân

**
hương xanh đôi thắp phù vân
thắp men tình muộn màng trần gian không
còn gì ngoài gió mùa đông
yêu anh
em
trái tim hồng cánh môi

**
yêu anh
yêu
vĩnh hằng ngôi
chỉ duy nhất một bồi hồi xưa sau
hàng mi khép lúc giọt mau
rót riêng em giấc ngủ màu bao dung

**
như nhiên đã lối về chung
em yêu anh
rất vô cùng
trăm năm…
(Phạm Hiền Mây)

2. Vài nhận xét

a. Vài ý đóng góp:
Đây là vài ý của bạn tôi đóng góp khi chúng tôi trao đổi về 2 bài thơ tiêu biểu trên:
— Người được gọi là ” Bà chúa lục bát” có giọng thơ hơi sáo rỗng:
“mùa đông hoài vắng người thương
hoài thiên lý dặm miên trường mù không
vẽ em
bằng hết chờ
trông
đợi anh tịch lặng mênh mông bóng gầy” (sic)

Các câu khác cũng vướng lỗi gần giống vậy. Ví dụ:
“còn chân gót hát ca lời
vẽ em
anh vẽ mưa rời rợi
đau
tay vời vợi níu tay nhau
mùa đông hoài gạt lệ dàu dàu vương” (sic)

— Khổ 2:
“Còn chân gót hát ca lời” là ý gì?
“Mùa đông hoài gạt lệ dàu dàu vương”: Câu này có ăn nhập gì với câu đầu (còn chân gót hát ca lời) của đoạn thơ không? Đã vậy lại vừa thừa vừa thiếu, Thừa cái kể lể, thở than; thiếu mất hình ảnh thương sầu, ly biệt.
— Khổ 3:
Câu đầu rất ổn, nhưng câu kế vừa thừa lại vừa lang bang.
“Thiên lý” là ngàn dặm rồi, vậy “Thiên lý dặm” nghĩa là gì đây?
Lại nữa, “Thiên lý” đã diễn tả được cái cách biệt, cái xa xăm nghìn trùng rồi, lại nối theo hai chữ “miên trường” (thôi thì cứ hiểu theo ý tác giả “miên trường” là đằng đẵng, là vô cùng) vậy thì cái ” thiên lý dặm miên trường” nên hiểu sao đây? (Chữ “hoài” đầu câu là phó từ, 2 chữ “mù không” phía sau là ngữ động từ mình tách ra)
— Hai bài thơ khác nhau, mỗi bài đều có 2 chữ “miên trường”
“hoài thiên lý dặm miên trường mù không”
“mới cơn bụi cát miên trường đêm say”
đúng là đặt ở hai ngữ cảnh khác nhau. Tuy nhiên xét kỹ thì hai cụm chữ:
“Miên trường mù không”
“Miên trường đêm say”
Giai địêu lập lại, cách dùng lập lại, ý tưởng không khác. Nghĩa là tác giả tự bị TRÙNG TÁC với chính thi phẩm của mình.
[Đỗ Phú]

b. Ý nghĩ riêng tôi:
— Trước hết xin có ý kiến: Rong rêu và lá mục thường xanh đậm (xanh rêu) hoặc xanh đen chứ không thể nào màu trắng. Làm gì mà “trắng bầy rong rêu”?
— Theo chủ quan của tôi, trong con người cái tôi chia ra hai phía, hay nói một cách đơn giản là có hai cái tôi nhỏ: Cái tôi lý trí và cái tôi cảm xúc:
. Cái tôi lý trí do lý trí chi phối, mang tính hơn thiệt, đúng sai, được thua.v.v.. Trong cái tôi này có chứa cái tôi sợ hãi. Biết rằng mình không thích, biết rằng dối gian… nhưng vẫn phải làm. Cái tôi sợ hãi này thì có nhiều thi sĩ, văn sĩ XHCN đã kinh qua và lên tiếng rồi. (Nếu tôi nhớ không lầm là Tô Hoài)
. Cái tôi cảm xúc: Đây là cái tôi đích thực, cái tôi nhân bản, cái tôi của thương yêu, cái tôi cảm nhận sự thua thiệt, không cần tiền tài,danh tiếng, vân vân và vân vân. Nhà thơ rất cần cái tôi này.
Một bài thơ hay khi nào “cái tôi cảm xúc” lên làm chủ, đè “cái tôi lý trí” xuống. Do đó, người ta thường nói: Tình yêu thường “mù quáng” là vậy. Nghĩa là lý trí “đi chổ khác chơi”: Thơ mà chỉ có lý trí, chỉ sắp xếp chữ, không có cảm xúc thì thơ chắc không gây một hiệu ứng nào đối với người đọc, và chắc sẽ bị quên mau .
Hình như tác giả Phạm Hiền Mây đưa cái tôi lý trí lên “đỉnh”, đè bẹp “cái tôi thực sự, cái tôi cảm xúc”.
Nói như nhà phê bình Nguyễn Hưng Quốc, đại khái: – Thơ loại này (lý trí làm chủ) “Ào ào lá đổ nhưng chẳng thấy mùa thu đâu!: Thơ thiếu vắng” hồn thơ”
Hai chữ “cảm xúc” cũng xuất hiện trong định nghĩa về thơ của William Wordsworth:
“Poetry is the spontaneous overflow of powerful feelings: it takes its origin from emotion recollected in tranquility”.[3]
“Thơ là sự tuôn trào tự phát của cảm xúc mạnh mẽ, bắt nguồn từ cảm xúc được hồi tưởng trong sự tĩnh lặng”
— Xin được ghi ra đây vài ý về “thơ mở ngõ”
[… Về thơ mở:
Thơ muốn “hay” phải là thơ mở, nghĩa là bài thơ tác giả mở ngõ, mời độc giả dự phần, đưa tâm tư của riêng mình vào. Độc giả bây giờ không còn là người bàng quan và sẽ nghĩ rằng thơ viết cho mình, nên rất thích thú, thấy bài thơ hay thêm.
– Xin giới thiệu bài thơ mở của thi sĩ Trần Phù Thế, thi sĩ mời các bạn gởi tâm sự riêng mình vào:
khóc
tuổi thơ
khóc
kiếp người
từ đâu tiếng khóc gọi mời nỗi đau?
khóc là cười chẳng được sao?
(khóc cười – Trần Phù Thế)…]
[Vài Khái Niệm Về Việc Dùng Chữ Trong Thơ – Nguyên Lạc]

Một bài thơ hay khi ta cảm thấy hình như thơ ấy viết riêng cho ta, thấy có cuộc đời riêng của ta trong đó. Thơ mở rộng cánh cửa để ta đặt cuộc đời riêng mình vào. Nếu tất cả đã được nói ra hết rồi thì độc giả bây giờ chỉ là người bàng quan và từ đó nghĩ thơ viết cho ai chứ đâu phải cho mình; do đó thơ sẽ bớt hay.
Trong các bài thơ của Phạm Hiền Mây, hình như thi sĩ đã nói lên “hết tất cả”rồi, không còn gì để độc giả đóng góp thêm được nữa. Không còn “ngõ” nào để vào “lâu đài” thơ “Bà Chúa”, chỉ đứng ngoài cửa nhìn vào. Hay nói chính xác hơn, thi sĩ Phạm Hiền Mây là ông thầy đang “giảng đạo”, độc giả chỉ biết lắng nghe và tuân theo. Hoặc như Trần Trung Thuần đã nói: Phạm Hiền Mây là “Bà Chúa thơ lục bát VN”, nên “Bà Chúa” đang ban “huấn từ” cho người dân, đã đầy đủ rồi phải tuân theo, không được ý kiến. Chữ nghĩa ơi là chữ nghĩa!
Qua trên là những cảm nhận của tôi và bạn tôi về các bài thơ tiêu biểu của “Bà Chúa thơ lục bát VN”, giờ xin thử đọc thơ của “người dân dã”.

THỬ ĐỌC VÀI BÀI LỤC BÁT CỦA “NGƯỜI DÂN DÔ

Xin thử đọc vài bài thơ mà theo tôi “cái tôi đầy cảm xúc” làm chủ: Thơ của “người dân dã”, thi sĩ Quỳnh Nga, người tôi chỉ tình cờ biết qua Facebook.
Đây là vài bài thơ với lời lẽ giản dị, đọc hiểu ngay, không “hàn lâm”, không “đố chữ”, khỏi cần chạy tìm từ điển:

CÁI ĐÊM TRĂNG MỎNG EM TỪ TÔI NGHIÊNG

Cái đêm mưa gió ướt đầm
Cái đêm tôi nhớ điếng bầm ruột đau
Cái đêm ta nợ nần nhau
Cái đêm ân ái mùa sau để dành

Cái đêm phiến nhớ long lanh
Cái đêm tơ lụa mong manh khôn cùng
Cái đêm em chạm ngại ngùng
Cái đêm tôi đợi cháy bừng đêm tôi

Cái đêm hôm ấy phải rồi
Cái đêm cánh gió gọi trời sang thu
Cái đêm em tóc hương nhu
Cái đêm trăng mỏng em từ tôi nghiêng…

GÕ CỬA THÁNG GIÊNG

Tôi về gõ cửa tháng giêng
Hỏi ai giấu tuổi hồn nhiên đâu rồi?
Tháng giêng tôi mở cửa tôi
Tìm mong gặp lại một thời chân quê

Tháng giêng tôi đón tôi về
Áo vàng hoa với đường đê hoa vàng
Nghe hồn quê rộng thênh thang
Nghe tôi về giữa nồng nàn yêu thương!
(Quỳnh Nga)

***
Đó là thơ lục bát của hai người, “bà chúa” và “người dân dã”, tự các bạn cảm nhận và phán đoán.

Nguyên Lạc
…………………
Ghi chú:
[1]. Tôi đồng ý với Trần C. Trí không dùng chữ “từ”, vì nó chính là cội rễ của tất cả những “từ” độc hại khác. Xin xem:
“từ và chữ” – Trần C. Trí
https://damau.org/archives/51321
[2] (William Wordsworth Quotes, Brainy Quote, brainyquote.com)
(https://www.brainyquote.com/quotes/william_wordsworth_390135)

NGOẢNH ĐẦU

Hắn gọi điện thoại hỏi:
“Qua chở tao ra sân bay được hông, tối 7 giờ?”
Tui trả lời được, nhưng ngờ ngợ, thằng này có bao giờ lết tấm thân “lầm lì củ mì” ra đây đâu, và gặp chuyện lạ theo quán tính nên hỏi lại, chứ bình thường hắn nhờ điều gì, một là theo vậy, hai là không, không hỏi không han bởi hắn sẽ nói là chuyện của tao, không hé môi chi cả:
“Mày làm gì ở sân bay?”
Lần này hắn đáp không hằn học, thêm một chuyện rất lạ lùng:
“Qua đi rồi biết.”
Đúng giờ, tui tới. Hắn đã ngồi chờ sẵn. Thấy tui, hắn đứng dậy ôm từng người trong gia đình, “tam đại đồng đường” không đủ mặt hết cũng cỡ chừng mười lăm người đứng ngồi chậc cứng trong căn nhà bé tí tẹo. Song, hắn quẩy cái ba lô lên vai bước ra, leo lên xe nói gọn lỏn:
“Đi mậy.”

***

Chạy gần cuối đường Hồng Hà hay Bạch Đằng gì đó, tui chẳng nhớ nổi những con đường lằng ngoằng khu này, có nghĩa là sắp vô đường Trường Sơn, cũng có nghĩa còn chút xíu thôi là vô sân bay Tân Sơn Nhứt. Hắn dòm đồng hồ, rồi nói:
“Còn bốn chục phút. Tấp vô uống ly cà phê.”
Hắn vẫn “lầm lì củ mì” như bình thường, không tỏ một chút thái độ gì là khác thường. Tui định hỏi mày đi đâu hả? Rồi nghĩ… thèm hỏi hả mậy, nên thôi, chuyện của mày, nói hay… để tao sốt ruột kệ… tao đi hen.
Nhấm ngụm cà phê thì hắn mở miệng, rất may tui cũng vừa hết sức chịu đựng “thèm hỏi hả?”:
“Tao đi nước ngoài.”
Tui giựt mình cái tưng, trợn mắt ngó hắn cả chập, hồi sao mới trấn tỉnh, buộc phải hỏi lại:
“Mày đi nước ngoài?”
“Ừ.”
Tui lắc đầu:
“Cái thằng, hết biết. Đi nước ngoài mà làm như đi… chợ, tới giờ xách giỏ ra kêu đi là đi. Dẫu biết mày thuộc hàng nói cởi áo là cởi cái rột, chẳng lèm bèm lôi thôi, nhưng đi nước ngoài là đi biền biệt, có phải ngày một ngày hai chi đâu, sao hông báo trước vài ngày, dù gì cũng có vài anh em bạn bè góp mặt, làm bữa liên hoan nho nhỏ đưa tiễn.
“Vui vẻ gì mà liên hoan hở mậy?”
Tui… mủi lòng quá, nhứt là nghe lại được từ mà thuở nhỏ tụi tui hay xài. Có bịch sinh tố đá, cây cà rem mát lạnh chia nhau mút thì khen, và hỏi cũng là trả lời – Ngon hở mậy? Bực bội nhau cũng nói như vậy – Ngon hở mậy, muốn bặc co tay đôi hông mậy? Coi chung được bộ phim hay, bộ phim hài cũng thế – Hay hở mậy? Vui quá chừng hở mậy?… Cả đám lớn lên đi kèm với hở mậy? Từ xóm Chùa qua xóm Đình, từ xóm Đình lên xóm Miễu, từ xóm Miễu tới xóm Đạo, xa xa hơn là xóm Gà, xóm Cây Quéo, Cây Thị, Cầu Bông, Cầu Kiệu… từ con hẻm băng ra con đường, từ con đường chui vô hóc bà tó khác…
Tui nói tiếp:
“Thôi thì bạn bè có thể bỏ qua, cũng chẳng cần phải “thanh minh Thanh Nga” làm chi. Nhưng từ lúc qua chở mày, thấy mày bước ra là một mạch đi tới giờ, hông thèm ngoảnh đầu lại. Tao thấy quá bất nhẫn với mảnh đất, với ngôi nhà, chẳng một chút lưu luyến gì sao hở mậy?”
Hắn uống một ngụm lớn, tuy vẫn không tỏ thái độ nhưng tui nhận ra có chút nghèn nghẹn trong hắn, hắn nói nhỏ hơn:
“Có gì mà lưu luyến? Có khỉ mốc gì đâu?”
“Chí ít cũng vì nơi chôn nhau cắt rún chớ?”
Hắn quay qua dòm thẳng vào mặt tui với vẻ ngạc nhiên. Vốn dĩ bản tánh phớt tỉnh Ăng Lê như cố hữu trong máu, cùng với ngay từ đầu cho tới lúc này hắn vẫn lơ đễnh với tất cả, nên cái nhìn chăm chú và ngạc nhiên làm tui quá đỗi… ngạc nhiên. Hắn nhún thêm vai một cái:
“Chôn nhau cắt rún? Nó ở nơi đâu? Chắc mày nghĩ là ở ngôi nhà chút é đó chứ gì? – Rồi hắn chầm chậm lắc lắc đầu, trầm giọng xuống: Hông, hông ở đó, mà ở đâu tới bây giờ tao cũng chịu thua, chẳng biết ở chỗ nào. Địa danh ghi trên giấy khai sanh tao còn chẳng biết nó có tồn tại hay không. Ngôi nhà chỉ là địa chỉ trú ngụ mà thôi.
Rồi hắn kể rõ hơn về chuyện này. Cũng ngắn gọn, nhát gừng, đủ để hiểu.

***

Ba má hắn cưới nhau đã bốn năm, nhưng chuyện con cái, bầu bì thì cứ… bí rị. Lâu lâu ông bà nội, anh chị em phải nhắc khéo. Thiệt tình, không hẳn bị bí mà bởi họ muốn bí. Điều ba má hắn sợ nhứt là sanh đứa con ra chẳng giống ai, sợ bị què quặc, bị bịnh tật… thì rất tội nghiệp cho con trẻ. Ba má hắn rất bình thường, chẳng bị làm sao hết, nói trắng ra là chẳng phải yếu sinh lý gì cả nếu không muốn nói ngược lại là rất mạnh mẽ chuyện đó. Chuyện nghe có vẻ kỳ cục nhưng thiệt tình là vậy, trên đời có rất nhiều chuyện tréo ngoe.
Mấu chốt ở lúc… “làm chuyện đó”, những ngày mới cưới về họ còn chẳng dám nữa là, dần dà ráng đánh bạo nhưng cũng chẳng dám để xảy ra độnh tác mạnh chứ đừng nói là rên rỉ. Họ sợ lắm, họ ngại lắm, ai lại không sợ, không ngại khi dòm xung quanh đâu đâu cũng thấy người là người, người nằm sắp lớp như cá mòi, đến nỗi những chiếc xe đạp cũng không thể đem vào trong mà chằng chịt dây xích khóa ở bên ngoài. và nghe hơi thở trong đêm vắng phì phò phì phò như tiếng ong tiếng ve khá khó chịu. Thế hệ hắn chưa ra đời, có “nhị đồng đường” thôi cũng hai ông bà nội, bảy người con cùng bốn dâu rễ, tổng cộng đã mười ba con người. Đó là còn ba người chưa nên bề gia thất chứ không thì đã mười sáu. Mười ba người trong căn nhà hai chục mét vuông không cơi nổi cái gác, vị chi mỗi người chưa được hai mét. Mấy cái bếp lò lo cơm nước hay thau chậu giặt giũ đã để phía trước hiên để không chiếm diện tích, đúng hơn là lấn chiếm con hẻm bé tí của người ta qua lại. Chỗ nằm dành cho người “đi về nơi thiên cổ” cũng còn lớn hơn chỗ dành cho người “còn cựa quậy” này.
‘Chật chội nó… dội ra cái khôn’. Ba hắn có sáng kiến chờ có… xe lửa đêm khuya. Xe lửa rung chuyển và tiếng của nó át mạnh mẽ ai cũng biết rõ rồi. Ấy vậy mà, một ngày kia, ba hắn đang “ngon trớn theo nhịp – cạch cạch cạch, cạch cạch” của bánh xe lửa chạy qua khớp nối của đường rày, má hắn cũng “xả những uất ức” thì chú Út, người mới mười mấy tuổi đã chán học hành, theo bạn bè nhảy tàu đó đây, bị tiếng hú còi đập vào óc hay sao đó mà chú ta mơ màng hiệp sĩ, khi xe lửa vừa rầm rập chạy ngang, ba má hắn đang ráng “rầm rập” thì chú “tung một cước” hết sức để phóng lên nóc toa, xe lửa đi qua, người vẫn ở lại nhưng tấm ri đô xỉn màu cũ mèm thì không còn nguyên vẹn, đã bị xé toạt tanh bành. Ba má hắn một phen hoảng loạn, bà thu lu người về sát trong góc, ông xé tờ lịch bước ra ngoài để vấn điếu thuốc trấn tỉnh. Tờ lịch in ngày thứ sáu, ông lẩm bẩm phải chăng cưới vợ nhằm hợp thành con số mười ba xui xẻo? ‘Cái khó ló cái khôn’, cái khó còn ló cái nghi ngờ, nghi ngờ đủ thứ.
Ba má hắn ám ảm sự hoảng loạn, họ liên tưởng đến “anh chàng nòng nọc hoảng loạn bơi trong mê cung thì bị nàng trứng bắt”, anh chàng không thể đủ khỏe, anh chàng lưng tưng thì lớn lên dễ bị quặc quẹo tinh thần mà thôi. Như người ta cũng cảnh báo những kẻ nhậu say xà càng, “chàng nòng nọc say mèm” cũng chẳng thể làm nên “cơm cháo” chi. Vậy là bí lại hoàn bí rị.
Thế rồi để bí hoài cũng đâu có được, hơn nữa họ cũng muốn xóa con số mười ba gây nổi ám. Chỉ còn một cách, họ ráng dành dụm tiền để mỗi tuần kéo nhau ra… nhà trọ. Hình hài của hắn được kết tinh từ đó, nhưng biết ở nhà trọ nào? Và cũng biết để làm gì? Để tới vinh danh căn nhà trọ đó hay sao? Hay lại sỉ nhục căn nhà tồi tàn? Cho nên, với hắn nơi tạo ra hình hài chẳng còn mấy ý nghĩa.
Còn hai tháng ngày má hắn “khai hoa nở nhụy”, không chịu nổi sự ngột ngạt, bà phải về quê. Hắn lọt lòng trong căn nhà của bà ngoại giữa chốn đồng không mông quạnh, có bà mụ già túc trực đỡ đẻ chứ cũng chẳng tới được trạm xá.
Khoảng bốn tuổi, hắn một lần được trở lại thăm bà ngoại, thăm căn nhà giữa đồng. Trong mớ trí nhớ nhỏ nhoi lúc đó còn giữ được về sau thì đi được đến nơi là một kỳ công, đi xa lắm lắm, xa mút chỉ cà tha. Đi xe ôm bằng Honda từ chợ, tức từ trung tâm của của thị trấn băng băng qua cả chục cây cầu bắt qua những con kinh, rồi xuống chiếc ghe nổ lạch tạch chạy miết nữa, chạy trên sông lớn có, qua sông nhỏ có, song rồi còn lên bờ cuốc bộ thêm vài cây số. Đó cũng là lần duy nhứt hắn được trở lại, có lẽ sẽ được nhiều hơn nếu ngoại hắn không mất sớm.
Kể từ đó, cứ cuốn theo cơm gạo, theo áo quần, học phí cho con cái, theo xe cộ, theo nhà cửa cho đỡ hơn, mà ba má hắn chẳng bao giờ nhắc tới quê ngoại nữa. Hắn hoàn toàn mù tịt về nơi chôn nhau cắt rún của mình.
Chơi với hắn từ hồi còn nhỏ xíu, nhưng tới bây giờ tui mới vỡ lẽ được phần nào. “Lầm lì củ mì, phớt tỉnh Ăng Lê” của hắn tui không còn thấy bực bội mấy nữa.

***

Tui hỏi:
“Chừng nào mày về lại?”
Hắn lắc đầu:
“Chưa biết. Có lẽ rất lâu mà cũng có thể là hông bao giờ.”
Hắn nói càng lúc càng nhỏ. Tui hiểu cảm giác của người ra đi và chờ hắn giải thích thêm. Hắn ậm ừ:
“Đi làm… cu li thì biết có kiếm đủ tiền để trở về? Trở về chí ít phải thay đổi được điều gì đó chứ hông lẽ lại co người trong cái xó chưa đủ hai mét vuông? Để rồi nằm mơ mộng hảo huyền? Chẳng thay đổi được điều gì thì tốt nhứt là biền biệt.”
Hắn nói nghe có lý. Đó cũng là số phận của hàng triệu người nhập cư khắp chốn ở các thành phố lớn. Hắn thực tế hơn, không hứa hẹn trở về như bao nhiêu người ra đi để trở về. Cũng có trở về đó chứ, nhưng trở về lại để ra đi.
Bốn chục phút qua lẹ làng, tui đưa hắn vô tới cổng. Vẫn là một câu nhát gừng “Tao đi” vậy thôi, hắn xuống xe bước nhanh ào ào. Cái dáng thấy giống lơ lửng, bay bay, có lẽ hắn muốn vút đi thiệt nhanh, chốn chạy thiệt nhanh với mặc cảm một con người mang tội lỗi. Khi gần khuất dạng bỗng thấy hắn đứng lại, rồi… ngoảnh đầu…
Ừ, tui còn nhìn thấy đôi mắt hắn dòm xa xa tới căn nhà “tam đại đồng đường”. Và lúc kể tới đoạn cuối, “sợi dây rún” của hắn ngọ ngậy, đào xới trái tim tưởng chừng đã biến thành sắt đá!

LÊ ĐẮC HOÀNG HỰU

ĐI TRONG TUỔI NHỎ

nhaca

Nàng đã đứng dậy, nàng đã đi
Gió biển mênh mông và nước mắt
Nước mắt tan trong thân thể nàng
Nàng ướt sũng
Và trí nhớ bốc hơi
Trời thì xanh và cao
Nàng thì bé bỏng
Biển xô nàng xuống

Trong khu vườn trẻ thơ của nàng
Có một bầy ngựa
Khu vườn rộng, cẳng ngựa dài
Mỗi buổi chiều
Bầy ngựa nô giỡn cùng cô bé
Những buổi chiều không bao giờ tắt

Trong khu vườn trẻ thơ của nàng
Có một người đàn bà
Người đàn bà điên và chiếc thanh la
Đi vòng quanh, đi vòng quanh
La hét cùng cô bé
Những tiếng la không bao giờ tắt

Trong khu vườn trẻ thơ của nàng
Có mặt trời
Mặt trời và những chàng hiệp sĩ
Những đứa trẻ bụng to hơn đầu
Những người đàn ông đầu to hơn bụng
Và những người đàn bà tong teo
Ngậm kín như miệng hến những nụ cười
Nhẫn nhục
Tất cả được mặt trời nuôi sống

Trong khu vườn trẻ thơ của nàng
Có một con đường
Con đường trôi ra biển
Với hai hàng phi lao
Lặp lại những lời ru của mẹ
Hai hàng phi lao và những ghe cá mắm
Cá và mắm ngọt ngào như hơi thở
Đến bây giờ chưa nguôi

Trong khu vườn trẻ thơ của nàng
Có những con rắn con
Trườn mình dưới chân ngựa

Và người đàn bà có đôi đũa
Khi đôi đũa giơ lên
Bầy ngựa lồng lộn quanh vườn và mất hút
Những con rắn kêu than
Ngựa hồng ôi ngựa hồng
Ngựa hồng ta đâu, ngựa hồng ta đâu
Chiếc thanh la gào hốt hoảng

Trong khu vườn trẻ thơ của nàng
Có những con dã tràng
Những hòn sỏi trắng và cát vụn
Và rất nhiều những dấu chân bé bỏng

Những con ốc những con rù rì
Và rất nhiều hang hốc
Trò chuyện mãi không thôi

Trong khu vườn trẻ thơ của nàng có tất cả
Tất cả những gì mọi người có thể nghĩ ra
Sự giáo dục đó thổi lớn cô bé lên
Bầy ngựa dạy nàng sự hung hãn
Người đàn bà điên dạy nàng
Những ảo tưởng
Con rắn dạy nàng sự khôn ngoan
Bầy dã tràng dạy nàng sự tan vỡ
Mặt trời dạy nàng sự nhẫn nhục
Và biển dạy cho nàng khóc lóc

Nàng đã đứng dậy, nàng đã đi
Đi hung hãn đi khôn ngoan đi tan vỡ
Đi nhẫn nhục đi khóc lóc
Đi trên con đường trôi ra biển
Nàng hỏi thăm bè bạn và biển dịu dàng
Biển dịu dàng trả lời bằng cơn bão
Mùa đông
Mùa đông ôi mùa đông
Mùa đông làm những bạn bè nàng trốn hết

Nàng đã đứng dậy nàng đã đi
Đi dần về cái chết

NHÃ CA

Nguồn: Thơ Nhã Ca, NXB Thương Yêu, 1972

TÌM LẠI

.
Khói đốt đồng chiều…
Người xưa cay mắt!
Mùa vẫn xưa!
Em có biết người về?
Tìm lại một khoảng trời
Khoảng trời ký ức
.
Ai? Đánh thức giấc mơ tôi một thời
Một thời tôi cố quên!
Một thời tôi có em
“Một thời để yêu và một thời để chết” [*]
.
Tôi đi tìm em
Chỉ thấy tôi riêng!
Chiều hấp hối bên bờ kinh nắng quái
Tiếng kêu chiều chim vịt cứa lòng quê!
.
Đã ra đi!
Sao lại về?
Để con nước xô bờ!
Để lặng lờ hoa tím!
.
Cổ độ!
Sông ráng chiều khói tỏa
Một bóng người thấy bao nỗi tàn phai!
Đời mong manh!
Tình mong manh!
Đâu đây tiếng gió thở dài
Nghe trong hồn tiếng sương rơi lạnh!
.
Tiếng bần rụng
Tiếng hò ơi
Tiếng thời gian
Tóc bạc màu ai
Tím biếc cõi lòng người lữ thứ!
.
Bến sông vắng
Tiếng kêu sương vạc khổ!
Mơ một thời!
Mờ theo sóng… trôi…trôi!
………
[*] Tên quyển tiểu thuyết của Erich Maria Remarque
.
Nguyên Lạc

Lục Bát Uyên Nguyên

​Trời không chớp biển với mưa nguồn
Đêm nảo đêm nao tớ cũng buồn…
(Trần Tế Xương)

1,
Trăng chìm. Quạ khóc. Trời sương
Câu thơ âm hưởng Thịnh Đường bỗng hay!
Ngó trời…tráng sĩ buông tay
Quê Hương thôi đến nỗi này…buông xuôi!

2,
Tóc người ta, tóc có đuôi
Em cầm lược chải, em cười dễ thương!
Một mai rồi thiên nhất phuơng
Nhớ đuôi mái tóc mưa nguồn bão sông…

3,
Đường đi…đi sẽ tới cùng
Gian nan ngó lại: mấy vòng gian nan?
Mấy vòng một cổ Việt Nam
Thân không máu chảy, súng cầm bắn ai?

4,
Không còn Đất Nước chia hai
Cây cầu Bến Hải hết dài thiên thu!
Từ nay bạn cũng như thù
Phất cao chỉ một lá cờ một sao!

5,
Hợp hòa, hòa hợp, tào lao
Một Tào Tháo đuổi mày tao chạy dài
Chạy đi! Chạy nữa! Chạy hoài
Chạy cho đến tận cuối trời chân mây!

6,
Buồn buồn lấy bút cầm tay
Nối đuôi lục bát cũng đầy trang thơ!
Ôi đuôi con mắt đừng chờ
Bài thơ đoạn cuối chỉ mờ mắt em…

Trần Vấn Lệ

VĨNH BIỆT “PHÂY-BÚC”

Thằng con trai 28 tuổi ế chỏng ế chơ của tôi một hôm bỗng tuyên bố giữa bữa cơm:
– Chủ nhật này con đưa bạn gái con về giới thiệu với ba mẹ được không?
Vợ tôi tròn mắt:
– Con? Có bạn gái?
Thằng khỉ làm bộ mặt nghiêm nghị:
– Mẹ làm gì vậy? Tại con chưa muốn thôi, chứ muốn là… 30 giây! Xếp hàng cả đống!
– Thì con cứ đưa về đi – tôi có ý kiến – Nhà mình thoải mái!
Vợ tôi lườm tôi:
– Thoải mái gì? Không phải ai muốn vô nhà này cũng được đâu! Bạn trước đã! Thấy được rồi mới muốn gì muốn nha!

Thằng con tôi cười hehe:
– Không phải được mà là quá được! Mẹ thấy là chịu liền cho coi! Công dung ngôn hạnh đầy!
– Nó tên gì? Mấy tuổi? Làm gì? – vợ tôi thăm dò.
– Dạ tên Trang, 24 tuổi, làm phòng kế toán cùng công ty với con.
– Vậy là tuổi con ngựa?
– Dạ.
Vợ tôi tính trong 10 giây:
– Dần với Ngọ… Nằm trong “tam hợp”. Cũng hợp với mẹ luôn. Được!
– Em thiệt tình! – tôi nhăn nhó – Giờ này mà cứ mê tín! Thử nó mê đứa nào “tứ hành xung” coi em có cản được không?
– Sao không? – vợ tôi trừng mắt – Không phải vụ tuổi nhưng phải có chuẩn đàng hoàng chứ! Nhà này không có chuyện con đặt đâu cha mẹ ngồi đó đâu!
Con tôi tỉnh bơ:
– Con bảo đảm mẹ thấy là chịu liền mà!
Đến lượt tôi sực nhớ:
– Con nói nó tên Trang?
– Dạ. Sao ba?
– Trời! Ba lo nhứt chuyện này, sao lại dính đúng luôn vậy?
– Gì vậy anh? – vợ tôi hỏi.
Tôi thở dài:
– Thì thằng con mình tên Nghĩa! Tên hai đứa gộp lại…
Con tôi ngoác miệng cười:
– Nghĩa Trang! Hehe! Tụi bạn con chọc rồi! Càng vui! Đích đến cuối cùng của mọi người mà!
Rồi nó nghiêm lại, chốt hạ:
– Vậy trưa chủ nhật nha ba mẹ! Trang sẽ đi chợ rồi tới đây sớm để phụ làm cơm với mẹ…

——–

Mới chín giờ sáng chủ nhật, Trang chạy xe máy tới, phía trước vừa treo vừa chất mấy bịch hàng mới mua ở siêu thị. Tiêu chuẩn “công” và “dung” có vẻ đúng. Con nhỏ mặt mày dễ coi, sáng sủa, tướng tá gọn gàng, ăn mặc lịch sự. Đi chợ nhanh nhẹn thế kia, chắc là chuyện thường làm. Nó vui vẻ chào tôi và vợ tôi rồi ào ào xách đồ vào nhà và bất chợt… rú lên:
– Trời! Đẹp quá!
Thì ra đó là cái bình hoa vợ tôi lo đi mua cắm từ sáng sớm để trên bàn ăn để chuẩn bị tiếp khách đặc biệt. Trang móc ngay điện thoại, chụp hình lia lịa, rồi nhí nhoáy bấm tới bấm lui một lúc mới cười khì:
– Xong!
Nó bắt đầu bày biện các thứ vừa mua đầy mặt bàn trong bếp. Vợ tôi mon men tới gần, bị nó mời:
– Bác để con làm đi! Có gì thì anh Nghĩa phụ. Con làm hai món thôi, nhanh lắm! Bún chả giò, xúp mì ngôi sao nấu thịt bằm. Bảo đảm ngon, no!
– Để bác rửa rau cho? – vợ tôi rụt rè.
– Dạ không!
Sau lời tuyên bố chắc nịch, Trang nhào qua rửa rau. Nó vặn một chậu nước đầy, thảy rau vô và cứ vừa xả nước ào ào vừa kỳ cọ từng cọng rau. Tôi biết chắc bà vợ mình đang xót cho cái đồng hồ nước đang quay kim vèo vèo nhưng rất lạ là bà lại im ru, làm như đang bị khớp trước nàng dâu tương lai hậu hiện đại.
– Rửa rau dưới vòi nước đang chảy mới tốt nha bác! – Trang quay qua nói với vợ tôi, rồi mặc cho vòi nước chảy xối xả, nó lại móc điện thoại ra bấm bấm, vừa coi vừa chỉ đạo thằng con tôi làm này làm nọ, điều mà chưa bao giờ thằng khỉ làm cho mẹ.
Vợ tôi len lén đi tới nhìn vô cái điện thoại coi có gì trong đó. Trang cười:
– Con coi lại Gu-gồ chỉ làm chả giò cho chắc bác ơi!
Bữa ăn rồi cũng được dọn ra, bày biện đẹp mắt. Thằng Nghĩa mặt tươi rói xoa tay mời ba mẹ vào bàn. Vợ chồng tôi vừa cầm đũa thì Trang đưa tay cản lại:
– Hai bác chờ con xíu!
Nó lại cầm điện thoại chụp xạch xạch xạch, lại nhoay nhoáy bấm bấm một lúc. Vợ tôi không thể không thắc mắc:
– Con làm gì vậy?
– Dạ con pốt Phây-búc (*).
– Là cái gì?
– Dạ là mạng xã hội đó bác! Vui lắm! Con pốt cho các bạn biết con đang èn-choi trưa nay cho tụi nó thèm chơi. Đó, đó, tụi nó còm lia lịa rồi nè! – Trang đưa điện thoại qua cho Nghĩa coi. Thằng nhỏ vừa đọc vừa cười tủm tỉm.
– Hai bác lớn tuổi nên chơi Phây-búc cho đỡ buồn. Ngồi một chỗ trò chuyện, trao đổi thông tin, hình ảnh khắp thế giới với cùng lúc cả ngàn người bạn. Lại được thoải mái nói tâm trạng của mình, bình luận chuyện người khác, chém gió, chơi games, nghe nhạc, xem phim thoải mái… Cả gia đình, dòng họ ngồi một chỗ vẫn biết hết nhứt cử nhứt động của nhau. Anh Nghĩa! Sao anh không chỉ hai bác chơi Phây-búc vậy? – Trang cự Nghĩa.
– Sợ ba mẹ nói mất thời giờ! Ba mẹ hay la anh mỗi lần anh thức khuya để chat – Nghĩa nói.
– Trời, vậy mà còn không biết chỉ hai bác chơi! Ba má em cũng cự em, em chỉ xong là mỗi người ôm một cái điện thoại, hết la hehehe! Vui lắm hai bác ơi!

——–

Bạn bè tôi cũng chơi Phây-búc lâu nay, có rủ tôi nhưng tôi giấu dốt, làm bộ chê là trò vớ vẩn, mất thì giờ. Sau buổi gặp Trang, thằng Nghĩa bắt đầu hướng dẫn tôi vào cuộc. Từng bước một, tôi dần dần bị cuốn hút vào trò chơi mới. Cũng động chút là chụp hình, pốt, ghi sì-ta-tớt, like, còm… cả ngày.
Bạn bè đông dần, trong đó bạn ngoài đời càng ngày càng ít hơn bạn ảo. Các bạn ảo này mới là vui, vì chả quen biết gì, thậm chí cái tên cũng ảo, thí dụ Loài hoa bé dại, Ai thèm nhớ anh, Thiên thần mắc đọa, Cá mập chết đuối… Hầu hết không biết mặt mũi thế nào. Có người đưa con chim, bông hoa, cờ nước… làm ảnh đại diện. Kể cả họ có đưa ảnh chân dung thì cũng không có gì bảo đảm là thật. Bạn ảo thì khỏi úy kỵ, bình luận ào ào, khen chê chửi rủa vung vít. Nói chung dù là một thế giới ảo, Phây-búc đúng là vui ra phết, y lời con dâu tương lai đã nói, tha hồ tán dóc. Tôi còn thấy sở dĩ nó được thiên hạ khoái như điên vì còn là một phương tiện tự sướng vô địch về mặt tinh thần. Từ đó lúc nào tôi cũng kè kè cái điện thoại bên cạnh, đến mức đi ngủ cũng để một bên, thấy rung báo có tin là lại mở ra bấm bấm nhấn nhấn.
Vợ tôi nổi điên:
– Anh cười thằng Nghĩa con Trang rồi bây giờ còn lậm hơn tụi nó! Anh vừa phải thôi nha! Toàn trò chuyện với mấy đứa con gái thôi phải không?
– Con gái đâu mà con gái! – tôi chống chế.
– Hôm nọ anh nằm bấm, tôi nhìn thấy rồi! Toàn hình con gái! Mê quá há! Anh coi chừng tôi, lộn xộn tôi cho anh lên đường ngay tức khắc!
Khi vợ xưng “tôi” là biết có chuyện rồi! Tôi kêu trời:
– Không có đâu em ơi. Bạn ảo thôi, có gặp đâu! Chơi cho vui thôi mà! Em cũng chơi đi cho vui? Bạn của anh cũng là bạn của em – tôi đề nghị.
– Không! Tôi không có rảnh! Mà tưởng tôi ngu hả, mấy người tạo group riêng, có trời mới biết đang nói gì với nhau!
Tôi sửng sốt nhìn vợ. Sao nàng lại biết cả vụ này nữa trời? Vợ tôi như hiểu cái nhìn ấy, cười:
– Vợ anh không ngu đâu nha! Coi chừng đó! Bạn gái ảo thôi phải không? Nhất định không gặp phải không?
– Đúng rồi! Em tin anh đi! – Tôi nói chắc như bắp.
———

Bất ngờ có một cô gái với gương mặt đẹp như mơ và cái tên cũng quá thơ mộng – Giọt nắng bên thềm – xuất hiện xin làm bạn với tôi, cùng dòng nhắn tin: “Qua bạn bè, em rất thích những lời bình của anh. Xin anh cho em được làm bạn. Có thêm một người bạn tốt, cảm thông, chia sẻ, cuộc sống của mình sẽ nhẹ nhàng hơn”. Trời, hay như vậy làm sao tôi từ chối?

Giọt nắng bên thềm tỏ ra là một cô gái rất thông minh, tinh tế, đặc biệt qua những câu chat riêng tỏ ra rất hiểu tôi. Em nói mới 30 nhưng đã một lần dang dở. Em nói mới chơi Phây nên rất ngại việc phơi bày rộng rãi cảm xúc riêng tư. Không hiểu sao em lại tin tôi và rất thích trò chuyện với tôi, nên xin được tạo group riêng hai người. Thấy không hại gì, tôi… nhận lời. Từ đó thỉnh thoảng tôi lại được xem những tâm trạng buồn vui của Giọt nắng , những tấm hình Giọt nắng thật đẹp trong những bộ quần áo thời trang, kể cả bikini gợi cảm trên bãi biển… Tôi bắt đầu chat thường xuyên với Giọt nắng , điều lạ là em chỉ chat vào ban ngày, lúc tôi đi làm. Em xin lỗi tôi, nói là ban đêm không tiện, sẽ giải thích với tôi sau. Càng ngày em càng tỏ ra có tình cảm với tôi, hôm nào em không lên Phây, tôi cũng thấy thiêu thiếu, nhơ nhớ.

Một hôm bất ngờ em nhắn: “Chắc em không chơi Phây nữa, hoặc sẽ bỏ group của mình và lock anh luôn. Em nghĩ đến anh nhiều quá! Mà anh thì đã có gia đình… Em rất ngại… ”. Tôi hốt hoảng: “Đừng em! Không sao đâu, không có chuyện gì đâu. Mình chỉ là bạn trên Phây thôi mà…”. “Nhưng em cứ nghĩ đến anh và muốn gặp anh. Em không thích chỉ làm bạn ảo của anh. Anh có cho em gặp không? Em muốn mời anh ăn sáng uống cà phê, từ nay mình sẽ trò chuyện ngoài đời thỏa thích với nhau…”.
Bạn nghĩ tôi có thể từ chối lời mời ấy được không?

Và tại quán cà phê Chiều tà thơ mộng, tôi đã gặp Giọt nắng bên thềm. Đó chính là… vợ tôi!

Hix! Với sự hướng dẫn tích cực của cô dâu tương lai tuổi Ngọ, nàng đã sử dụng Phây-búc thành thạo và cho tôi một vố nhớ đời…
Vĩnh biệt Phây-búc!

NGUYỄN ĐÔNG THỨC