Mười Giờ, Truyện Ngắn Võ Phiến

6988227b5d54581d76c53257d77171b8

Cây sweet pea — người Tàu gọi là đậu tuyết hay đậu xạ hương gì đó — màu sắc thật là sặc sỡ. Ở đây người ta chỉ trồng lấy màu, lấy hoa, lấy hương (xạ hương?). Người láng giềng gieo hạt hồi mùa đông, đầu xuân đã có hoa nở rộ trên hàng dậu ngăn cách hai khoảnh vườn. Tháng ba dương lịch, bà láng giềng thông báo cho ông về chuyện phá lũ dây đậu để gieo hạt anh túc. Cũng lại một hoa sặc sỡ nữa. Bà ta có cái thú làm nở ra những đóa hoa cánh mỏng dính có sắc màu lòe loẹt. Bà ta dự tính như thế, ông tán thành ngay. Mà hình như lũ bướm cũng tán thưởng lắm.

Ông lạc mất trang sách từ lúc nào không hay. Tay vẫn cầm hững hờ cuốn sách, nhưng mắt ông đã rời chữ. Xung quanh ông, khắp phòng, ánh sáng ùa vào nhiều quá, ùa vào tràn trề. Hai mặt phòng có nhiều cửa gương lớn, phòng ông vào giờ này là cả một niềm hân hoan.

Mấy hôm gần đây kể như hôm nào cũng vậy, rốt cuộc rồi cũng đến thế thôi: ông bỏ sách, loay hoay tìøm một mảnh giấy, một cái gì để cài vào làm dấu trang sách nhưng không tìm được, ông đành úp mặt cuốn sách xuống thảm. Rồi ông nằm ngẩn ngơ trong ngôi nhà sáng choang. Rồi ông ngồi dậy đốt một điếu thuốc, khói xanh tỏa chầm chậm qua những tia ánh sáng. Rồi ông mở cửa bước ra hiên. Ông trở vào pha cà-phê uống. Ông mở cửa ra vườn sau, nghếch mặt nhìn nghiêng nhìn ngửa, đến bên cây này cây nọ, lại nghếch mặt nhìn đàn sáo đậu trên dây điện, nhìn con quạ trên cây thông sau lưng căn nhà trên ngọn đồi bên kia đường, có khi nhìn lên trời xanh trống không. Rồi ông bước đến đứng một lúc dưới bóng cây long não. Rồi ông cảm thấy mình lơ ngơ, không có việc gì giữa ngôi vườn vắng vẻ, ông lại vào nhà, ông đốt một điếu thuốc nữa v.v… Ông nằm xuống, cầm lấy cuốn sách. Một lát, ông lại nhổm dậy, úp sách xuống mặt thảm. “Căn phòng này coi bộ sáng quá, sáng dữ đa!”. Ông nhìn qua cửa kính, theo dõi lũ chim hải âu từ đâu ngoài bãi mới kéo vào khu phố này, lượn thấp trên các mái nhà, sà cả xuống mặt đường. Ông đứng lên, mở cửa, bước ra hiên xem hải âu chúng nó làm gì! Xem ra chúng cũng chẳng làm gì đáng kể: không ăn không uống, không tìm sâu tìm hạt gì, chúng chỉ bay lên bay xuống, lượn đi lượn về rà rà khắp xóm vậy thôi. Có con đậu lên một chiếc tán đèn bên đường, một con hải âu xám trên chót đỉnh một cột đèn, đậu và phóng uế, xong lại bay đi, vậy thôi. Rồi ông nhìn sang hai con bướm chờn vờn trên hàng dậu sweet pea. Bướm nó bay, hay nhỉ, nó không bay thẳng từ nơi này đến nơi khác, như không cốt bay để đến; nó bay như nhảy như múa, như đùa như giỡn mà chơi. Một lát, tự cảm thấy thừa thãi trước hiên, ông quay vào nhà, sửa lại chiếc gối, ghé nằm xuống, cầm cuốn sách lên, xem đồng hồ: Thế mà đã mất khối thì giờ!

Gần như hôm nào cũng vậy. Đến một lúc nào đó, ông chợt để ý và tự hỏi: “Có gì vậy cà?” Hồi gần đây có gì xảy ra? biến cố gì vậy?” Kiểm điểm mãi, cũng thấy ra biến cố: Mười giờ.

Mười giờ là một biến cố. Đáng lẽ ông đã biết từ lâu, vậy mà không hiểu tại sao ông lại lú đi, chẳng chịu thấy. Mười giờ sáng; trời đất vào cái giờ ấy, nó lạ lắm. Bây giờ nhớ lại thì ông đã nhiều lần khốn khổ vào cái lúc mười giờ. Hồi nhỏ, ngày ngày ngồi trong lớp học, mỗi buổi mai vào khoảng mười giờ, thỉnh thoảng hoặc một con chim bay ngang qua cửa sổ kêu đánh “chéo” một tiếng nhỏ, hoặc mấy đứa chăn trâu đùa giỡn với nhau ngoài đồng để lọt vào tai ông mấy tiếng léo nhéo, hoặc tốp lính kéo đi rộp rộp ngoài đường v.v…, thế là ông trông ra cái nắng tưng bừng bên ngoài và lạc mất tiếng thầy giảng một lúc lâu, thần trí vẩn vơ mãi đâu đâu.

Ngày nhỏ lơ đãng trong lớp, lớn lên ông lơ đãng ngay tại nhà. Cứ mười giờ mai, vào giờ nắng ráo, ấm áp, là như thế. Cứ như có ai kêu ai réo ở ngoài trời. Cứ như có hội hè ầm ĩ linh đình, có trống thúc cờ reo giục giã khẩn cấp ở ngoài. Nằm không yên, ngồi đứng không yên.

Giá mà lúc ấy ta xô cửa, bước ra ngoài, bắt gặp quả tang “cái mười giờ”, nhìn tận mặt nó một lúc thì rồi cũng nguôi ngoai. Rồi thấy mình lơ ngơ thừa thãi. Rồi cũng đến trở vào nhà thôi. Nhưng nằm lì trong nhà, ngồi lì trước bàn viết, nắm mãi cuốn sách trên tay, thì khổ sở đa!

Mười giờ, ngoài trời có gì vậy? Thì trời xanh vậy thôi. Thì mây trắng tơ tướt ngang trời vậy thôi. Nhưng trời xanh thao thiết mênh mông vào lúc mười giờ, tưởng chừng nó có cái hấp lực hút bật dậy những thây ma. Những xác chết nhập tràng chồm lên dưới một tác động ma quái.

Ma quái chứ. Mở cửa ra, vẫn chỉ có trời xanh, có cây xanh, có ánh nắng nhấp nháy trên lá xanh, mọi sự y nhiên, như xế hôm qua, như trưa hôm trước, như sáng hôm kia, như một ngày năm ngoái, năm kia… Nhưng mà không! Mười giờ hôm nay, vào giờ phút này, tưởng chừng nó đập gõ khua ầm lên trước cửa mình vậy. Mỗi hôm nó mỗi quấy động, nó luôn luôn mới, luôn luôn bất ngờ, nó là biến cố hàng ngày. Hôm nào mười giờ cũng làm mình rạo rực, nao nức, như là một Mười Giờ đầu tiên buổi khai thiên lập địa. Mười Giờ nào cũng là một Mười Giờ hoang sơ. Khu phố có thể tha hồ vắng vẻ, cứ mười giờ là tưởng chừng có hội hè tưng bừng: Mười giờ ngoài cửa, nó là một im lặng ầm ĩ, huyên náo, chát chúa.

Hoa có thứ hoa giờ tí có thứ hoa giờ ngọ, hoa tự do chọn lựa giờ giấc. Thứ hoa chọn lúc khuya khoắt vắng vẻ như hoa quỳnh, nó tha thồ đơn độc, ẻo lả, kiều mỵ. Còn hoa mười giờ không thế. Nó là hoa bầy hoa lũ. Là thứ hoa đồng khởi. Nó dậy lên, đứng lên cùng lượt, rực lên chói chang. Nhất hô bá ứng: Mười giờ cất tiếng gọi, từng từng lớp lớp điệp điệp trùng trùng hoa nọ liền đứng lên giữa trời. Không có ai mang hoa mười giờ vào phòng, vào những căn phòng nhỏ hẹp, để cho những ông cụ già móm mém vừa nhắp từng hớp trà vừa “thưởng thức”. Hoa mười giờ phải nở giữa khoảng rộng, dười trời bao la.

Đã mười giờ lại mười giờ sáng một ngày xuân, thôi thì khỏi nói. Đám dạ lý hương bên hè phát triển mạnh quá, lấn tràn vào cửa, mùa đông vừa qua ông đã phát bớt đi quá nửa lùm. Những gốc dạ lý hương bị đốn tưởng đã chết khô, bẻ gãy rôm rốp. Thế mà sang xuân bỗng thấy mầm xanh phọt lên. Lại nhớ có lần trong đống củi xếp sau hè thỉnh thoảng lại có cành bắn mầm nứt lá non. Tiếng gọi mùa xuân, sức kêu gọi của sự sống, Trời! nó mạnh kinh khủng!

Nghĩ đến cái rạo rực trong lòng một cành củi, một gốc cây khô, ông lại nhân tiện nghĩ qua về cái rạo rực trong lòng mình: “Ờ! mà mình cũng “rạo rực” lắm, đâu đã yên? Khối thì giờ mất đi một cách vu vơ. Thế mà không để ý thì không biết đấy”. Ông nhìn xuống mấy ngón tay vàng khè khói thuốc, mấy ngón tay dẹp, mỏng, khô quắt dần. Ông nhìn thoáng qua, rồi quay mắt đi, chán ngán. Tuy nhiên cũng nhếch miệng cười bâng quơ.

Ngoài sân, con bướm chờn vờn bên dậu hoa sweet pea. Rồi nó rời dậu hoa, bay nhanh qua suốt chiều ngang của khoảnh sân trước, tưởng đi luôn sang vườn nhà bên cạnh, bỗng đâu lại thấy nó chập chờn ngay trước hiên. Cái bóng của con bướm múa rộn ràng trên tấm màn cửa. Vào lúc ấy, chợt vẳng lên tiếng một đứa trẻ. Tiếng gọi la eo éo gì đó, nghe không rõ ràng, cách vài con phố, cất lên mấy tiếng rồi bặt mất.

Ông bàng hoàng. Tiếng kêu ngắn quá không kịp phân biệt là tiếng nước nào. Mễ chăng? Mỹ chăng? Việt chăng? Tưởng chừng tiếng một đứa trẻ ngày xưa hắt vào căn nhà tranh của ông từ một ngôi gò nào trong làng. Tưởng chừng tiếng mấy đứa trẻ la giỡn ở một góc phố vẳng lọt vào lớp học hồi niên thiếu… Một cái gì rung lên, quẫy mạnh trong ông. Ông xao động cả người.

Ông nhớ bữa ăn sáng cuối cùng với một người đàn bà. Người đàn bà đã chung sống với ông hơn chín tháng, ở một ngôi nhà mát mẻ thanh tịnh bên Tân Qui Đông. Hồi tưởng lại những ngày đó thật êm đềm.

Hồi đó, hai người gặp nhau giữa một đám bạn. Ông có một cảm tình mơ hồ với Loan lúc vừa mới gặp, tuy vậy ông không bắt chuyện, cũng không có dự tính gì. Vào một lúc nào đó ông nói một câu vẩn vơ (bây giờ ông không còn nhớ đại khái ra sao nữa, hay nói cho đúng là ông quên bẵng đã từ lâu chứ không phải mới bây giờ). Loan nghe xong, không nói gì; nàng quay mặt về phía khác, nhìn mông ra xa, mỉm cười nhẹ nhàng, bâng quơ. Ông sực kiểm điểm và nhận thấy câu nói vừa rồi của mình quả nhiên là có hướng về nàng, một cách vô ý thức. Sự hưởng ứng của nàng xa xôi dè dặt, lại hơi hững hờ.

Vậy mà ít lâu sau hai người gần gũi, rồi ông rước nàng về chung sống.

Nghĩ lại, giá bấy giờ nàng niềm nỡ có lẽ ông đã lảng tránh. Độ ấy tự dưng ông tránh hết những thái độ nồng nhiệt, tích cực, hăm hở. Tự dưng ông mệt mỏi tận chỗ sâu xa nhất trong tâm hồn. Đang ở một căn phòng thuê tại đường Cô Bắc, đi lại các tòa báo khá tiện khá gần, ông quyết định rút hẳn về bên Tân Qui Đông. Ông từ chối bớt một số công việc tòa soạn, hạn chế bớt một số khoản chi tiêu, hạn chế giao du, để hưởng một thời gian yên tĩnh. Bên cạnh Loan. Và Loan là cả một sự yên tĩnh, êm đềm.

Hai người sống với nhau không lâu, nhưng “hợp nhau kinh khủng”, ông công nhận thế.

Hôm về ở với ông, nàng không có gì nhiều nhặn để mang theo. Y phục, nàng cũng không sắm bao nhiêu. Nhưng nàng có chở theo một chậu trúc đằng ngà. Kể ra không phải là thứ cây kiểng hiếm hay quí. Một cây trúc đằng ngà nhỏ hơn cổ tay bịï chặt ngang lưng chừng, cao chừng thước rưỡi tây, thế thôi. Đưa cây trúc xuống xe, nàng cười. Ông bảo đặt nó ngay trước hiên nhà, ngoài cửa sổ từ phòng khách trông ra. Nàng đồng ý dễ dãi.

Cây trúc thế mà khỏe. Cành lá nó tỏa rộng ra sum suê. Nhiều buổi trưa vắng lũ chim sẻ kéo đến ríu rít trong tàn lá ấy. Mỗi lần nghe tiếng khua động trong nhà, chúng bay tán loạn. Trưa mùa hè nhiều lúc không được trông đến, trúc khô nước, lá cuốn cả lại. Múc một lon nước đổ vào gốc cho nó, thử lắng tai, có thể nghe tiếng lá khô mở ra rào rào, khe khẽ. Chừng vài giờ lá lại cuốn queo, lại cần thêm lon nước nữa.

Tàn lá ấy làm khổ cây trúc. Có những đêm gió lớn, sáng ra thấy nó lăn kềnh, nằm chình ình trước hiên. Cái chậu đất nặng nề là thế vẫn chưa đủ để giữ thăng bằng. Rốt cuộc Loan phải hè hụi trói cây trúc vào song cửa bằng một sợi dây kẽm. Ông muốn giúp nàng một tay, nàng cười cười:

— Anh cứ để nó cho em. Em trị được mà.

Thực ra ông ngờ rằng không phải chỉ có thế. Không phải là nàng không muốn phiền đến ai khác chỉ vì nàng đủ sức “trị” nó, mà bởi vì nàng muốn tự tay mình chăm sóc cây trúc “của mình”. Cây tre cây trúc ít khi là cây kiểng của một người đàn bà. Có thể đây là một kỷ niệm riêng sao đó. Nàng có cây trúc trong trường hợp như thế nào? nàng “thừa hưởng” của ai? Có lúc ông thoáng nghĩ ngợi về điều ấy, nhưng rốt cuộc cả hai cùng lảng tránh, bỏ qua vấn đề. Sáng sáng hai người ngồi trước hiên điểm tâm, uống cà-phê, và nhiều lần ông khen cây trúc đẹp. Nàng thắc mắc:

— Không thấy nó nẩy được mụt măng nào.
— Ờ nhỉ. Trồng lâu chưa?
— Lâu.
— Ờ, thế thì lạ.

Vậy rồi thôi. Ông không hỏi thực sự nó ở với nàng từ bao giờ.

“Trị” cây trúc là công việc của nàng. Ngoài ra nàng còn một thành tích nữa, cũng đáng kể. Sau nhà có cây mít, không biết nàng tìm đâu ra cái chuông, đem về treo lên một cành mít, rồi lại buộc một khúc cây bên cạnh làm cái dùi. Thỉnh thoảng, trong gian nhà vắng lặng, hoặc ông đang nằm đọc sách, hoặc chợt ngừng bút giữa trang giấy, hoặc đang ngồi lơ mơ uống tách nước…, chợt nghe một tiếng “boong.., oong…oong…” từ sau vườn.

Tiếng chuông đánh thức sự tịch mịch vắng vẻ. Ông tán thưởng:

— Hay nhỉ. Không có tiếng chuông, mình không để ý đến sự im vắng của xung quanh.

Nàng không nói gì. Một lát, ông lại ngẫm nghĩ:

— Thì vẫn là im vắng, nhưng một im vắng vô ý thức. Lâu lâu một tiếng “boong” làm cho sự im vắng tự ý thức về mình. Thành ra một sự vắng lặng có ý thức.

Nàng vẫn không nói gì. Nàng nhìn mông ra ngoài, cười bâng quơ.

Người đàn bà ấy không có mấy nữ trang, mấy món phấn son trang điểm; nàng bỏ thì giờ vào những thứ vớ vẩn: cái chuông, chậu cây… Hai người sống với nhau như thế cho đến một hôm ông bắt gặp Loan với một vẻ khổ sở. Vài ngày sau, nàng bảo ông biết nàng vừa được tin nhà, nàng phải về quê, ở dưới Sóc Trăng. Hoàn cảnh nàng có gì rối rắm khó khăn lắm. Ông khựng lại, nhìn nàng chăm chú một lát, biết rằng sự thể không thể nào đổi khác được, ông thở dài.

Hôm cuối cùng, loay hoay thế nào mà họ thức trắng đêm. Buổi tối, ngồi trước hiên nhà mãi cũng buồn, ông lấy xe chở nàng đi ăn cháo cá, rồi hai người ra ngồi bờ sông hóng mát tới khuya. Về, ông lại pha cà-phê uống, rồi ngồi xem sách. Loan lên giường nằm hồi lâu không ngủ được, vẹt màn chui ra. Ông bỏ sách, ngồi với nàng, chuyện trò lẩm cẩm. Đêm hết lúc nào không hay. Lúc nhìn qua cửa sổ thấy chân trời ửng sáng, ông sực nhớ ra, kêu đói, bảo Loan chải tóc tai để đi ăn sáng. Nàng ái ngại:

— Anh thức suốt đêm, có mệt không? Nhà sẵn còn trứng. Hay để em chiên “ốp la” ăn với bánh mì. Được không?

Ông lắc đầu. Lúc này ông muốn ngồi ở tiệm, ăn một tô phở nóng, thơm tho.

Thì đi. Qua cầu Tân Thuận, gặp hơi nước mát, ông hít mạnh vào phổi, thích thú. Rồi ông cao hứng dừng xe lại bên kia cầu tìm một cái quán gần bờ sông, ngồi nhìn mặt nước sáng dưới ánh bình minh, nhìn người qua kẻ lại, thấy khoan khoái, tỉnh người dần. Hỏi chủ quán: không có phở, chỉ có bò kho, có trứng “ốp la”. Không muốn bỏ một chỗ ngồi thích ý, ông gọi trứng “ốp la” và quay lại bảo Loan:

— Nhất ẩm nhất trác, định trước cả. Số mình sáng nay ăn trứng thì chỉ được ăn trứng thôi… Huống hồ những chuyện lớn trong đời, chạy đâu khỏi số?

Nàng nhếch cười buồn bã.

Ăn xong, đốt điếu thuốc, ngồi trước tách trà thơm, ông lờ mờ nghĩ về những ngày sắp tới. Chắc chắn ông sẽ trả ngôi nhà ở Tân Qui mà trở về bên Sài Gòn. Ở một mình chỗ quạnh vắng, buồn chết. Vả lại, tiền dành dụm đã vơi, ông cần ở gần các tờ báo để làm việc nhiều thêm. Ông nghĩ đến cuộc dọn nhà trong tuần tới, nghĩ đến công việc lấy tin vào lúc mờ sáng ở các tòa soạn nhật báo, đến công việc viết lách liên tu bất tận suốt ngày… Ông thẫn thờ lẩm nhẩm: “Mệt kinh khủng!”

Nghe một tiếng cười khẽ, ông ngoảnh lại: Loan cười lớn hơn, nàng lấy tay che miệng cười ngặt nghẽo, rồi lấy tay che cả mắt. Lát sau, khi nàng bỏ tay xuống, nước mắt hãy còn trên má. Lưng bàn tay nàng cũng ướt.

Loan ra đi tuần trước thì tuần sau ông cũng dọn nhà đi luôn. Hai người để lại trong vườn cũ cái chuông trên cây mít. (Cây trúc tất nhiên là Loan đem theo. Nó lên xe sau cùng, khi nàng đã chất đồ xong và đã lên ngồi trên xích-lô máy nàng mới nhờ người phu xích-lô bê nó đặt lên sàn xe, và nàng bảo ông: “Để lại, anh không trị nó nổi đâu. Nó sẽ vòi vĩnh, làm phiền anh.” Ông biết đó chỉ là một cách nói. Đó không phải là lý do khiến nàng không rời nó.)

Ông thuê một căn phòng nhỏ ở tầng lầu hai một tòa nhà lớn gần chợ Thái Bình. Trong cái hiu hắt của một cảnh sống đơn chiếc, có những buổi xế chiều, sau một giấc ngủ trưa mê mệt, ông thức dậy, nằm thười trên giường, ngao ngán nhìn bức tường phòng trơ trụi không một cái tranh cái ảnh. Cửa sổ đóng kín, căn phòng im mát và râm râm tối. Nằm im hồi lâu, trí nghĩ vẩn vơ từ chuyện nọ sang chuyện kia; trong vắng vẻ tĩnh mịch chợt ông tưởng chừng nghe thấy một tiếng “boong…oong…oong!”

Ông bàng hoàng ngẩn ngơ. Ông không nghĩ đến Loan, nhưng từng giác quan của ông chúng vẫn nhớ nàng. Trong cùng thẳm cõi vô thức của ông cái hơi hướng của những ngày cùng Loan chung sống vẫn còn vương vất. Từ cái này đến cái nọ, từ chuyện này đến chuyện kia, chúng trở về. Cái cổ tay của nàng, bữa cháo khuya trước hiên nhà bên Tân Qui, và ơ kìa! cổ chân, còn cả cái cổ chân của nàng nữa, thật là kỳ cục! và mùi tóc nàng nữa, và cái nhìn mông rất bâng quơ v.v… Ở tuổi ông vẫn còn những vẩn vơ vậy sao?

Ông tự cười mình, lẩm nhẩm mấy câu lăng nhăng:

“Mình về mình nhớ ta chăng?

— Nhớ mình? Ta quyết đoan rằng là: Chưa!
Nhớ mình? đã nhớ đâu cơ
Chẳng qua chỉ có vẩn vơ nhớ… nhà
Vườn quê mỗi buổi chiều tà
Bâng quơ tai nhớ một và tiếng chuông
Cà-phê mỗi sáng tinh sương
Nhớ đôi cành trúc vấn vương bên thềm
Lưng trời nhớ một cánh chim”

Mãi sau đó khá lâu, một hôm ông có dịp sực nghĩ đến giọt nước mắt của Loan trong bữa điểm tâm cuối cùng. Trong một thoáng, tự dưng ông tưởng thấy rõ cả cái lý do, như thoắt “ngộ” sự thực tròn vẹn. Lý do là cái tiếng “kinh khủng”… Đó là một thói quen của ông. Ông thường nói: “Dại kinh khủng. Hay kinh khủng. Rắc rối kinh khủng”… Hôm đó ông vừa kêu “Mệt kinh khủng” thì Loan cười. Nàng cười một thói quen. Rồi lại nghĩ rằng từ đây nàng sẽ chẳng bao giờ còn nghe “kinh khủng” nữa, chẳng còn gần gũi với cái thói quen hàng ngày ấy của ông nữa, nàng khóc lúc nào không hay. Một thói quen ngộ nghĩnh, chẳng đâu vào đâu, nhưng nghĩ rằng nàng sẽ mất nó mãi mãi, cho nên cuối tiếng cười có những giọt nước mắt.

Một cuộc chung sống mấy tháng rồi tan rã đã lâu thỉnh thoảng còn hắt về một tiếng chuông mơ hồ như thế. Và ở Sóc Trăng chắc chắn một đôi khi ở chỗ người qua kẻ lại, ở một góc đường, một quán nước, đâu đó chợt thoáng nghe hai tiếng “kinh khủng” Loan cũng ngẩn người ra bồi hồi.

Hơi hướng một cuộc tình đã dai dẳng, ông nghĩ đến cái hơi hướng của cuộc đời. Của cả cuộc đời.

Mai kia, ông ra đi khỏi cõi đời này, chắc đâu cái hơi hướng của nó không đeo đuổi? Ba tấc đất đâu đã thực là đủ sâu? Trong nghĩa trang, những khu nghĩa trang với đồi cỏ xanh mướt, cây xanh mơn mởn, mười giờ lũ chim sẻ, chim quành quạch kêu tíu tít, kêu rối cả lên, và nắng thì chan hòa, những khu nghĩa trang đô thị nằm ngay cạnh các con lộ rộn ràng, sát kề cuộc sống náo nức, trong những khu nghĩa trang như thế làm sao yên được giấc nghìn thu! Khó đa. Cuộc đời còn inh ỏi hơn một tình nhân. Dĩ nhiên ông không muốn nhớ, nhưng không nhớ mà được sao? Một tiếng còi xe, một tiếng gọi la trong vắt của đứa bé ở một góc phố…, những cái ấy hắt lọt xuống lòng huyệt vào nửa buổi mai huy hoàng, nó làm kinh động giấc nghìn thu đến chừng nào. Không nhớ Cuộc Đời, không nhớ “mình” mà được sao? Mình réo gọi, mình hút ta lên từ đáy mộ mỗi buổi mai mười giờ chứ lị. Những inh ỏi của trần gian, chao ôi!

“Mình “về” mình nhớ ta chăng?

— Nhớ mình? Không nhớ được răng hả mình?
Ba tấc đất, biết bao tình
Mười giờ mình vỗ rập rình nắp săng
Mình xua gió thổi mây giăng
Mình tung ánh nắng vang vang khắp trời
Mình rung chuyển đất lay đồi…

Mai kia rồi nữa ta rời xa nhau
Nhớ mình không nhớ được sao?”

Ông lẩm nhẩm trong trí mấy câu sau cùng, rồi đứng lên, bước ra sau vườn, nhìn bâng quơ: đàn sáo đậu trên dây điện đã bay đâu mất cả. Ông nhìn mông lên trời xanh trống không một lát rồi quay vào nhà.

Mười giờ, ông bỗng dưng như thể một kẻ lểnh lảng: ở trong nhà thì nghe như có tiếng réo gọi đâu đó xa xa, tung cửa ra ngoài không thấy ai, không thấy gì cả. Trông bên nọ ngóng bên kia dáo dác một lúc, cảm thấy tưng hửng, bèn quay vào.

Quay vào, thì nghe réo gọi bên ngoài. Văng vẳng, mơ hồ, mà khẩn trương, hối hả. Thoạt tiên mình còn ngờ vực lấy mình, về sau càng lúc càng nhốn nháo cả ruột gan. Tiếng gọi thiết tha quá, cấp bách quá, không sao không đáp ứng được. Lại tung cửa chạy ra. Và nhìn xuôi trông ngược vẫn chẳng có gì. Chỉ có ngọn gió vừa lướt qua. Chỉ có cây gồi già đội một mảng mây trắng to tướng đứng trân trên ngọn đồi…

Như vậy là chẳng có gì? — Lẽ đâu thế? Tiếng réo gọi mơ hồ nhưng không thể chối cãi. Sự Sống đó. Tiếng réo gọi của Sự Sống đó mà. Từ nơi cùng thẳm hư vô, nó gọi ta. Cái lanh lảnh trong một tiếng trẻ con, cái rào rào trong gió lá; một cánh bướm chập chờn, một cành tre dưới nắng: Nó đấy. Nó cả đấy. Nó xa xôi tận cùng thẳm mà cũng gần gũi trong gang tấc. Sự Sống đó. Tiếng gọi của Sự Sống nhiệm màu. Tiếng gọi của Trời Đất đó. Của Vũ Trụ Càn Khôn mịt mờ ảo huyễn mà quyến rũ mê hoặc khôn lường đó.

Rồi mai kia:
“Nhớ mình không nhớ được sao?”

Võ Phiến
5 – 1987

CÀ PHÊ NƠI VƯỜN TƯỢNG PHẠM VĂN HẠNG

maiviet

Tôi ngồi tìm lại với người
Sáng nay nắng bỗng hong ngoài trái tim
Tiếng xe còn vọng trong đêm
Tưởng lòng ai nhắn lời mênh mong buồn
Tôi ngồi thả nỗi nhớ thương
Hồn se sắt lạnh theo đường em đi
Đà Lạt nói tôi điều gì
Mà trong đôi mắt thầm thì giọt sương
Tôi ngồi tìm lại mùi hương
Chiều qua ai gửi nơi vườn tượng xưa.

MAI VIỆT

LỤC BÁT KHÁNH MINH

nguyenthikhanhminh

TRẦN GIAN

Đêm qua đất mở mịt mùng
Sáng nay đất chở vô cùng nhịp vui
Trời chung cả cái xanh trời
Tôi thêm nữa, những mặt người tôi đang
Thế là, một cõi trần gian…

TÌM ĐÂU

Cuộc đời- hạnh phúc ú tim
Bước chân mọ mẫm tôi tìm hụt hơi
Cuộc đời bung nỏ, như chơi
Mũi tên Hạnh phúc hút trời mây bay
Cười ai, đứa trẻ trắng tay…

THÔI THÌ

Tôi kêu lên. Tôi tới đây
Tôi gõ mãi. Mà bóng ngày vẫn tăm
Mòn hơi tiếng gọi xa xăm
Bụi hồng bay vó đằm đằm nhân gian
Thì thầm khuya… đóa ngọc lan.

CÕI LỜI

Một vòng sinh tử trêu ngươi
Đành thôi ăn dối cõi lời mây bay
Mai kia mốt nọ. Hoạ may
Còn hơi thở ấy mà bày cuộc vui
Dẫu đời ngàn dặm phủi phui…

Nguyễn thị Khánh Minh

Facebook tại Viêt Nam

nguyendinhbon

Nhân chuyện Tiến sĩ văn học XHCN Đoàn Hương phát biểu “Theo thống kê thì có đến 50% người chơi Facebook là vô công rổi nghề” (Trích clip Cà phê sáng với VTV3 ngày 23/9/2016), tôi đăng lại bài viết cũ của mình để bạn nào chưa đọc thì đọc cho vui (bài này chỉ dành cho các bạn Fb thân quí của tôi, xét về trình độ ngôn ngữ bà Hương không xứng để tôi phản biện):
Facebook: báo mạng lớn nhất, đa dạng nhất, nhanh nhất và miễn phí tại Việt Nam!

Dẫu là một tài năng ngoại hạng, tay Mark Zuckerberg khi tạo ra facebook hẳn không tưởng tượng được rằng rồi sản phẩm của mình nhanh chóng trở thành một kênh truyền thông số một Việt Nam hiện nay.
Thực vậy từ ngày ra đời, facebook đã thay đổi triệt để cách con người giao tiếp với nhau và chưa bao giờ cụm từ “mạng xã hội” quen thuộc như hiện nay tại các đô thị, trường học… Việt Nam. Điều đặc biệt hơn tất thảy, khi tại các nước phát triển, có nền chính trị đa nguyên, tự do báo chí, facebook gần như chỉ là phương tiện để trao đổi thông tin với bạn bè, biểu thị và quảng cáo “cái tôi”, giải trí, kinh doanh… thì tại Việt Nam, trang mạng xã hội này còn làm hơn thế nữa, khi trở thành một tờ báo lớn nhất, đa dạng nhất, đưa thông tin nhanh nhất và hoàn toàn miễn phí.
Điều này quá dễ dàng nhận thấy. Trong khi tại các nước tư do báo chí, những tờ báo lớn có đầy đủ phương tiện hiện đại nhất, kể cả máy bay và những thiết bị trực tiếp truyền hình, nhằm phục vụ cho việc đưa tin, nghĩa là mọi thứ tin tức mà bạn đọc quan tâm từ ông tổng thống đương nhiệm đi ăn kem đến con chó xấu nhất thế giới vừa qua đời, thì tại Việt Nam, báo chí hoàn toàn nằm trong sự kiểm duyệt khắt khe của nhà cầm quyền, không được thông tin không chỉ là chuyện chính trị ở trong nước, mà ngay cả chuyện giật sụp tượng Lê nin ở Ukraina tờ Thanh Niên, tờ báo khá lớn có giấy phép của Việt Nam, vừa đưa lên đã… gỡ xuống!!!
Trong tình thế ấy facebook đã làm thay mọi tờ báo ở Việt Nam, vượt mặt tất thảy và không có đối thủ có thể cạnh tranh. Chúng ta có thể bắt gặp trên facebook gần như tất cả các cây bút viết bằng tiếng Việt trong đủ mọi đề tài từ xã hội, chính trị, văn hóa, sáng tác, tôn giáo, giải trí… trong mọi thời điểm, mọi lĩnh vực với nhiều văn phong, cách miêu tả khác nhau, phù hợp với đủ loại người đọc, thú vị hơn, nó còn là “tờ báo” châm biếm hàng đầu, khi quay hướng đả kích những tờ báo chính thống, thò ra rồi lại rút vào… như chơi!
Không còn nghi ngờ gì nữa, môi trường facebook hiện nay, nếu nhìn và đọc nó như một tờ báo mạng thì đó chính là môi trường tự do báo chí, một nền tự do báo chí ngoài dự liệu và ngoài tầm kiểm soát của nhà cầm quyền. Tất nhiên nhà nước Việt Nam nhìn thấy sức mạnh của facebook và muốn ngăn chặn nó tương tự như Trung Quốc đang làm là không để nó hoạt động ngoài cái vòng kim cô của mình, nhưng có lẽ điều này là quá muộn một khi internet không thể không là một lựa chọn cần thiết cho một xã hội cần phát triển về kinh tế để mong tồn tại.
Và trong khi chờ đợi một nền báo chí tự do đích thực còn ở tít mù xa, bản thân tôi mỗi ngày khi mở facebook ra, đọc những thông tin thú vị và chân thực, nhận những đường link bổ ích từ bạn bè, tôi lại nghĩ thầm: cám ơn Mark Zuckerberg!
14516323_1204693782918271_2479393607604795887_n

(10/2013)
NGUYỄN ĐÌNH BỔN

Lạc Tình Ca

luuxongpha

Rụng dần vòm lá mơ phai
Tiếng chim khắc khoải trên cây rụng dần
Cành khô queo quắt thời xuân
Nhắn mênh mông gởi hết bâng khuâng về
Lặc lè chân phố hồn quê
Theo đời nâng chén bùa mê cạn đời
Góc hồn ươm hạt tình tươi
Đâu ngờ hoa nở chơi vơi tình sầu
Gánh buồn đi lấp chiêm bao
Gánh chiêm bao đổ về đâu dại khờ
Bốn mùa lòng cứ vu vơ
Từng đêm khâu vá giấc mơ ngược dời
Trước đèn có thực là tôi
Quàng vai man trá ngậm lời điêu ngoa
Đưa tay vẫy suốt ta bà
Ai mua tôi bán chiều tà xác xơ
Dỗ người hết mộng còn mơ
Cơn mưa hóa đá vẫn chờ bóng mây
Hồn tôi tiếng gió lăn dài
Tìm em chiếc lá rơi ngoài mùa thu!

Lưu Xông Pha

NÍU

truongdinhphuong

Trăng tà níu ngọn tre cong
Mái tranh xiêu níu lưng còng thời gian
Cành trơ níu mảnh lá vàng
Heo may níu giọt đêm tàn buồn tênh
Bàn chân níu bước lênh đênh
Dòng sông vắng níu chênh vênh nhịp cầu
Con tim níu lấy nỗi sầu
Để thương tiếc mối tình đầu nhạt phai
Hạt sương níu ánh ban mai
Đôi tay trắng níu tương lai hững hờ
Mi gầy níu bóng cơn mơ
Vần thơ níu những ngu ngơ đường trần…

TRƯƠNG ĐÌNH PHƯỢNG

BẤT CHỢT MƯA

buidiep

Tôi nhớ ngày nao hạt mưa còn trẻ lắm
Đổ trên vai em tròn
Lăn tăn
Lăn tăn

Bến sông ấy
Buổi trưa năm ấy
Âm u mưa giấu biệt mặt trời
Chỉ có mảnh trăng non bên vai tôi tỏa sáng
Rực rỡ vùng đôi mươi

Và mùa thu đôi mươi không trở lại
Sông đã già hơn xưa

Chỉ vầng trăng trẻ mãi
Về đâu về đâu
Những lời chưa nói

Ngoài ngã tư mỗi mùa lễ tình nhân người ta bán rất nhiều hoa hồng
Không ai bán mùi ổi chín
Không ai bán bông màng màng bươm bướm
Không ai bán gói bắp rang
Thuở tình tang tình tang
Chung trường ngõ nhỏ

Sao lòng tôi còn mở ngõ
Gió hồn nhiên còn thổi bến sông gầy

Tôi vẫn đợi dù không mong gặp lại
Khuôn mặt mình một thuở biết heo may.

BÙI DIỆP
( Trích Ngụ Ngôn Gió Cát 8)

ĐI VỀ PHÍA CON NGƯỜI : KÝ ỨC SẮC MÀU ( Truyện dài)

ledachoanghuu

Ngược lại với những giọt mồ hôi, cu Sô không mấy rành rẽ về màu của giọt sương cho tới khi lớn hơn, tới khoảng cái tuổi bẻ gãy sừng trâu. Nó thức dậy thì sương đã tan trên cành cây ngọn cỏ, chỉ có cọ quẹt ướt chân cẳng hay quần áo mà thôi. Có những buổi sáng trời se se lạnh, không dài lắm như một mùa đông nơi khác, vài buổi sáng trong độ chừng một tháng trước tết Nguyên Đán, bầu trời có sương mù. Làn sương mù như làn khói màu xám lơ lửng, không bay mà ở ngay trước mặt. Nó khoái huơ tay nắm lấy làn sương nhưng chẳng bao giờ được. Nó chưa biết hư ảo là gì nhưng cũng cảm nhận được đi trong làn sương rất khác lạ, không giống đi trên con đường bình thường, giống đang bồng bềnh, cùng bạn bè rất giống chơi năm mười, trốn và vén màn sương mà tìm. Sương tan trả lại bầu trời trong sáng, nó cũng thích nhưng tiếc thì nhiều hơn. Về tối về khuya, sương chỉ cho cảm nhận cái lạnh, cái ươn ướt, nhứt là trên mái tóc chớ không thấy giọt sương rơi.

Chạng vạng là lúc làn khói lam chiều cho màu rõ nhứt. Khói bốc lên từ những căn bếp mái tranh. Chạng vạng có những ngày tuyệt đẹp. Những ráng đỏ ráng vàng, ráng cam ráng tím… lớp lớp xen kẽ cạnh nhau còn ửng ánh mặt trời vừa lặn. Cu Sô rất muốn đặt những làn khói này vào cái nền ráng chạng vạng nhưng không thể, chưa bao giờ được. Khói bốc lên gần tới thì đã tan. Khoảng cách chiều sâu cũng quá xa, không ăn nhập được. Nó chỉ ước một ngày có màu sắc sẽ kết hợp điều này. Chắc chắn sẽ rất đẹp vì tưởng tượng bây giờ đã tuyệt vời. Nhưng chạng vạng không chỉ làm làn khói lam chiều rõ đẹp, có những chạng vạng làm khói lam chiều bị che mất, bị lấn át bởi từng luồng khói đen xì. Từng luồng khói đốt cỏ rác của ruộng đồng nương rẫy. Khói bay cuồn cuộn gặp gió mạnh càng cuồn cuộn điên cuồng, mù mịt trời đất cùng với tàn lửa bay tứ tán. Tiếng lách tách nổ của đống lửa nhỏ hơn tiếng nổ của những viên pháo chuột. Màu đen xấu xí của từng luồng khói tựa hồ như sự lồng lộn của bầy quỷ dữ bị thua cuộc phải cuốn khỏi vùng đất. Trời sụp tối, làn khói đen chỉ còn thấy được một đoạn gần với lửa rồi bị cuốn vào đêm trời hun hút, bầy quỷ dữ mau chóng bị biến mất. Một vài năm trước, đám con nít tụi nó thấy đốt lửa thường chạy ra gần coi, những người lớn lo làm điều này, cào cỏ rác tấp thêm vào, khưi lửa cháy lên gương mặt bừng bừng ửng đỏ nhưng luôn tươi cười, công việc mệt nhọc nhưng có phần náo nhiệt, vui vẻ chuẩn bị đất cát cho sạch sẽ để vào vụ mùa thì nay không còn nữa, những gương mặt cũng bừng đỏ đó lầm lũi lo âu.
Ông Tiên kể chuyện, tụi nó đặt cho ông có đầu bạc trắng là vậy dù ông chưa già là mấy, ông Tiên trở thành tên riêng, ông kể chuyện cổ tích cho đám con nít nghe say sưa, ông hồn nhiên không khác gì tụi nó bữa nay lặng lẽ, ông quẹt ống tay áo lau mồ hôi, chống bồ cào đứng nghỉ nhìn chăm chăm vào đống lửa.
“Lòng rối bời phải không?… ừ, mà sao không rối bời cho được, một mùa qua rồi, một mùa theo phương thức làm ăn mới, làm ăn chung chạ, không thấy gì mới cả, chỉ thấy khó khăn đói kém tràn ngập, không thấy gì sáng sủa.” Ông thầy giáo, người ta cũng gọi như tên riêng là ông Thầy đến bên ông Tiên kể chuyện hỏi rồi tự trả lời luôn. Ông Tiên kể chuyện chỉ có biết lắc đầu.
Ông Thầy nó không thấy đi dạy, đa số chào ông là thầy. Một số ít người lẻo mép, nhiều chuyện nói rằng ông bị cấm dạy, ông không xứng dạy ở thời này, dĩ nhiên họ cũng chẳng chào chứ đừng nói chào ông bằng thầy. Với cha cu Sô và một số người thì khác, rất kính nể, còn khoanh tay trước bụng chào thầy. Cha còn biểu nó khoanh tay trước ngực thưa thầy đàng hoàng khi gặp ở bất cứ nơi đâu.
Đám con nít vẫn nô đùa gần bên những đống lửa. Cu Sô có hòa vào nhưng không được sôi nổi. Nó chưa thấu hiều hết nhưng vẫn thấy những gương mặt chán chường của người lớn, những cuồn cuộn như làn khói đen, những bầy quỷ trong lòng. Nó hay ước ao, nên ước gì mình được là hiệp sĩ đánh đuổi bầy quỷ này bay đi tận xa lắc mù khơi. Một thoáng buồn qua mắt nó bởi mình bất lực. Bù lại một chút, cỏ rác cháy hết, khói đen cuộn hết, còn lại những đốm lửa tàn rất sáng đẹp. Những đóm tàn giống hình tổ ong hừng hực màu đỏ nổi bật trong đêm tối trời.

Có nhiều mảng màu đỏ nổi bật trong những đêm tối trời như vậy nữa nhưng ở rất xa là những đám cháy rừng trên các dãy núi lớn. Những đêm sáng trăng vẫn có nhưng nó không chú ý. Đêm sáng trăng con nít rủ nhau tụ lại đùa giỡn cho thỏa chí. Cha nó nói bị cháy do người đi làm rừng, đi săn… lơ đễnh có thể từ một mồi tàn thuốc cháy dỡ, một bếp nấu ăn xong quên dập… gió phát tán lửa lan rộng nhanh cấp kỳ, có khi trời quá nóng mà tự phát hỏa từ đá nức nổ hay đá lăn va chạm tóe lửa. Cu Sô nghe cha tả lại chớ chưa tận mắt cảnh cháy rừng bao giờ. Cây cỏ, lá khô gặp lửa và gió cháy kinh khủng, đôi lúc như bão táp nhứt là mùa khô hanh, nắng bức. Giữa rừng già, nhiều người bị bất ngờ không đường thoát kịp, trong tích tắc bị làm mồi cho lửa. Nó thấy màu lạnh tanh, ớn lạnh gai óc dù giữa sức nóng cả ngàn độ C. Và thấy màu đen tối của giây phút tích tắc tích tắc, tích tắc giây phúc thôi, có thể đếm hàng ngàn cái tích tắc trong lúc rảnh rỗi, tích tắc nghe quá đơn giản nhưng lại là điểm kết thúc chớ không phải chuyện giỡn chơi. Rừng cháy xong thì nó đã chứng kiến. Cánh rừng thưa, bìa của bìa rừng chớ chưa được bìa của rừng già cháy, những tán cây, thân cây trơ trụi khô rát, le ngoe vài cái lá còn đeo dính tòng teng, đất lốm đốm màu đen, tro tàn vương vãi, cây gỗ mục còn lõi nằm trên đất ám đầy khói, có khúc còn âm ỉ cháy, khói nhẹ như những làn khói lam chiều nhưng màu trắng bạc, đây đó xác vài con vật nằm co quắp cong queo khô cứng đen thùi, có những khúc xương cũng đen thùi với vài mảng xám chớ không còn màu trắng. Mùi rừng cháy hăng hắc, hanh hanh, kheng khét, đôi chỗ khét nghẹt. Theo lời của cha kể lại thì cu Sô mường tượng, những luồng khói cuồn cuộn cỏ rác không là gì đối với khói của cháy rừng, rừng bạt ngàn, con mắt nhỏ nhoi của nó là vô cùng tận, lửa cháy những đống cỏ rác chỉ là đốm lẻ so với cháy rừng, như vài ánh đom đóm trong đêm tối trời.

Cu Sô ghét những đêm tối trời. Đêm buồn lắm!
Không phải trong những đêm tối trời thì ma quỷ xuất hiện, nhiều câu chuyện kể về ma quỷ như vậy. Nó không sợ là mấy, không phải nó không tin có ma quỷ. Nó và đám con nít tụi nó đã nhiều lần thấy những hình ảnh giống ma quỷ, nghe những âm thanh giống ma quỷ, những bà mẹ ru con, những tiếng khóc nỉ non đâu trên tuốt trên đọt cây, chót vót đọt tre ở nơi không người ở, rồi tan biến nhanh, đứa thì khẳng định chắc chắn, đứa chưa chắc chắn đó là quỷ ma, nó cũng nửa tin nửa ngờ, chưa đứa nào bị bắt, bị dẫn đi, bị nhét giữa bụi tre như trong những câu chuyện, nhưng nó vẫn nghiêng về phía tin nhiều hơn. Không sợ có lẽ đã quen với đêm tối trời quá nhiều và cũng có lẽ một phần nó hay nghễnh ngãng với thực tại, luôn nghĩ xa xa hơn, điều khác hơn, chỉ giựt thót sợ những lúc bất ngờ, cơn gió lớn rùng rùng rung động cây lá hay tiếng động lớn, lóe sáng của sấm chớp chẳng hạn. Điều nghịch nhĩ là lâu lâu nó lại mong đêm tối trời tới. Nhiều đêm mong tới lại toàn thất vọng, đêm tối càng buồn hơn, tối mịt mờ không chút ánh sáng.

“Đêm tối trời giữa rừng hoang vu rất kinh khủng…” đó là lời ông Tiên kể mở đầu câu chuyện cho đám nhóc con. Từng đứa ngồi im thin thít, há hốc mà nuốt từng lời của ông. Dĩ nhiên cu Sô mê mẩn, nó như chừa hẳn một chỗ trong đầu để ghi nhớ sắc màu này. Ông kể về hành trình khai phá vùng đất nơi đây của những người đi trước. Từ đó nó nhận ra đêm tối trời mình kinh qua chẳng là gì cả, bớt buồn cho những đêm này. “… Rừng già bịt bùng bởi những cây cổ thụ mấy người ôm cao vút, cây nhỏ chen chân dưới đất, dây leo chằng chịt che khuất tầm mắt, che gần trọn ánh mặt trời soi rọi xuống, ánh nắng chỉ còn là những tia chiếu nếu xuyên qua được và rừng trải dài không biết điểm dừng nơi đâu. Đi, cứ đi tới, nhích từng bước với cây rựa phía trước phát hoang, lá dưới chân ủ mục bị đạp vỡ ra bốc mùi hăng hắc có chỗ dày hơn gang tay. Những lúc trời đổ mưa bầu trời biếng thành đêm tối, tối mịt mùng. Mưa không rớt hột thẳng xuống đất được là bao, chỉ đoán mưa lớn hay nhỏ qua vần vũ của gió làm xao động những ngọn cây, của dòng nước chảy xuống từ thân cây. Dĩ nhiên có những cơn gió vần vũ rùng rợn lại mưa nhỏ, hoặc làm tan mây mưa nhưng thường thì dông gió to lớn, mưa cũng vậy và dai dẳng. Mưa đêm càng thêm cực hình, lạnh buốt thấu xương với tán lá tạm bợ không đủ che chắn, củi lửa lập lòe tắt ngúm, mưa dứt là dịp làm mồi cho muỗi mồng đông như kiến cỏ. Bình thường giấc ngủ đã chập chờn theo ngọn lửa bập bùng, lúc say lúc tỉnh, trong giấc mộng còn âm vọng tiếng hú tiếng gầm rú của thú dữ giữa đêm liêu tịch. Đi cứ đi, đó là bước chân của những người khai phá. Gan dạ cùng mình. Can đảm lắm mới chịu đựng như vậy”.
Vừa kể ông vừa làm điệu bộ, vừa tạo âm thanh. Nhứt là những chỗ ông bắt tay làm loa giả tiếng hú của thú dữ. Ông tiếp, “Có những khoảng thời gian đáng nhớ, những khoảng thời gian dù ít ỏi đã nhen nhúm cho tia hy vọng làm cho lòng can đảm. Những đêm nằm nhìn thấy những vì sao le lói trong đêm tối mịt, những vì tinh tú xa xăm âm thầm nhấp nháy như báo hiệu có một con đường. Những buổi sáng phát hoang lay động chỗ rừng tán lá thấp, từng đàn chim náo loạn bay lên, chúng đông như những đàn ong rùi đen kịt, chúng vỗ cánh tạo cơn gió rạt cả lá cây bung ra một khoảng trống lớn, một bầu trời xanh thẳm ngay trước tầm mắt, khoảng trời đẹp đến lạ lùng, khoảng trời đó và những vì sao đêm là hai thứ đẹp nhứt trong nhiều thứ đẹp mà những người khai phá đã từng thấy…”.
Ông Tiên dừng lại chỉ lên bầu trời đêm tối có vài vì sao lung linh, quả là rất đẹp mà bấy lâu nay nó cũng như những đám con nít chẳng để ý vì quá ít mà. Bầu trời đêm tối lấn át ngự trị cho dù đó là bầu trời rộng mở, tự do cho đôi mắt chứ không bị bao phủ bởi điều gì. Cu Sô nghe tới câu nói “Thấy ánh sáng cuối đường hầm” nó nghĩ, có lẽ khi vào tận cùng mờ mịt người ta mới tìm ánh sáng. Ông Tiên kể chuyện tiếp tục:
“Bắt đầu đi khi tới rừng già khoảng nửa tháng, còn lại hơn một tháng rưỡi ngày lưng lửng bữa cơm, phải tìm đào củ rừng mà lót thêm cái dạ, đọt lá rừng là những nồi canh thấm cổ thấm giọng. Rồi một ngày trời ráo hoảnh, vừa phát xong bụi mây gai lùm xùm gặp phải khe nước trong vắt chảy róc rách, cá lội như đi hội. Bước qua con khe thì gặp phải khung cảnh thoáng đãng, nhìn thấy bầu trời rộng rinh, một dải đất bằng phẳng hiện ra với rừng thưa ngay dưới chân đồi, xuống chút nữa là một vùng trũng hơn, cỏ xanh rì trên nền nước xâm xấp, chỉ có cây trâm nước mọc được và cũng lát đát chớ không nhiều. Vậy biết là chỗ này nước có quanh năm. Họ dừng chân mừng rơn còn hơn bắt được vàng, rút rìu ngay mà bổ một nhát vô cái cây ý chừng đánh dấu, ta đã đến rồi ngã rật người trên cỏ xanh mượt nhìn mây bay mà thở phì phò khoan khoái.”
Cu Sô có phần hiều ra nên nó hỏi:
“Làng Bàu Đôi (ao đôi) mình là nơi đánh dấu phải không ông?”
Ông Tiên lắc đầu:
“Không con à. Làng mình chỉ là làng mở rộng. Làng Bàu Sương ngay chân đồi Đất mới là chỗ đánh dấu, khai phá đầu tiên. Phía sườn đồi có nghĩa trang bây thấy đó, ở trên cao nhứt của nghĩa trang có một cụm năm ngôi mộ là chỗ chôn cất, tưởng nhớ những cha ông gồm sáu người đặt chân đến trước nhứt. Vùng đất trũng sâm sấp nước nay là làng Bưng phía dưới làng Bàu Sương.”
Một đứa hỏi:
“Con nghe kể lại có người bị ông cọp ăn thịt khi đi khai phá, phải hông ông?”
Ông Tiên cười đáp:
“Hông có đâu con. Nhiều người lấy thú dữ ra hù con nít thôi. Thú rừng bất kể là loại gì, hung tợn tới đâu gặp người cũng chỉ có tung giò cắm đầu chạy trối chết, nó chỉ chống trả trở lại khi vô nước đường cùng. Ông cọp bình thường không ăn thịt người, chỉ rình bắt ăn khi quá đói hay điên lên muốn xé xác trả thù. Lúc bấy giờ rừng còn mênh mông, thú rừng còn ê hề đi muốn đụng mặt thì làm sao đói, người thì mới tới, tìm đường đi có gây thù chuốc oán chi đâu. Chỉ có chết vì bị tật bởi bên cạnh thiếu thốn còn bị rừng lúc này là rừng thiên nước độc, nhứt là bịnh sốt rét và chết vì tai nạn, đường đi còn khó khăn, hiểm trở.”
Cu Sô biết ý đứa hỏi, đoàn có sáu người sao có năm ngôi mộ nên nó hỏi tiếp:
“Vậy còn một ông nữa ở đâu vậy ông?”
Ông Tiên đăm chiêu một hồi rồi thủng thẳng:
“Ông… ông còn sống, nhưng sống ở ốc đảo làng Bàu Sương, mấy con hông biết đâu.”
Đám con nít không biết chứ cu Sô thì biết. Nó khoái sương mù, mà Bàu Sương thì thường có sương mù dày đặc những tháng ngày cận tết, nó nghĩ có lẽ vậy làng mới có tên này từ bàu, nên nó hay đi đường tắt lúc đi học ngang qua đây để ngắm nghía và khám phá ốc đảo. Đó là ông già, rất già ở bên kia dòng suối cạnh triền đồi, trên mảnh đất chừng hơn chục mẫu mà con suối chảy uốn quanh tạo gần thành vòng tròn, kết nối khoảng hở nên vòng tròn là một ngọn đá tảng, mảnh đất thành ra như một ốc đảo cách biệt với làng. Trên đất còn nguyên xi rừng rậm, hai bên bờ suối tre già gai góc mọc phủ kín bưng. Ngày xưa, những ngày khai thiên lập địa không biết như thế nào chứ từ ngày năm người tiền bối khai hoang với ông nằm xuống thì không ai dám bước qua dòng suối để lên ốc đảo, bởi vậy nơi này mới được gọi là ốc đảo Bí Ẩn. Người sống trên đó cũng quá bí ẩn, người làng đặt là ông thầy Bí Ẩn. Ông thầy sống ẩn dật và cũng từ đây xuất phát rất nhiều giai thoại. Vể sau nó còn biết ngay tảng đá lớn xảy ra một vụ tai nạn thương tâm của ông trong đoàn tiền khai phá. Trải qua bao khó khăn của cuộc hành trình ông đều qua khỏi vậy mà lại trượt chân đập đầu xuống đá mà mất, máu loang cả một vùng rộng lớn, để rồi nơi đây còn cả vệt thâm đen không xóa nhòa theo bao nhiêu là thời gian, bao nhiêu là nắng gió mưa sa. Chuyệt thật bí hiểm mà không ai giải thích được.
Cu Sô loáng thoáng nhìn thấy dáng ông thầy Bí Ẩn chỉ hai lần nhưng không rõ lắm, và cũng rất sợ nên không dám mục kích nữa, nhưng giai thoại về ông là người đã hóa hổ thì nó không tin. Một khoàng thời gian trước đó, chứ về thời nó thì đã hết, cứ độ một tuần hay lâu hơn, chừng mười ngày non nửa tháng là ở làng Bàu Sương lúc chỗ này lúc chỗ kia sẽ nhận được những con thú rừng, khi thì con nai, con đỏ (mang hoặc mễn), con dê, con heo, khi thú nhỏ thì một vài cặp gà, thỏ, nhím, cheo, chồn… và có lúc thì một vài bao lúa, bao bắp bao khoai… Rồi có giai thoại khác truyền lại, cho tới lúc ông Tiên kể chuyện vẫn còn kể cho tụi nó nghe.

LÊ ĐẮC HOÀNG HỰU

Ngọc Lan Hương.

tonnuthunga

Dạ Hương thoang thoảng bên song,
Ngọc Lan nở dưới trăng rằm.
Dạ Hương ôm lòng huyệt tối
Ngọc Lan tàn giữa mùa đông.
Chơi vơi trong đời ảo mộng
Tan như một chút bụi hồng.

Ngọc Lan của ngày tháng cũ
Tóc huyền bạt gió ngàn khơi.
Dạ Hương xưa còn ngào ngạt
Cho ta quyến luyến một đời.

Mong manh Ngọc Lan mình hạc
Dạ Hương một cánh xương mai.
Nắm tay đi về sương khói
Tóc bay lồng lộng trên vai.

Tôn Nữ Thu Nga

hình như ta đợi từ lâu lắm

npphan

hình như ta đợi từ lâu lắm
mất cả trăm năm, một kiếp người
và em đã đến trong ngày mộng
vầng trăng thương nhớ thoáng đầy vơi

thuyền sao có thể rời xa bến
sông vẫn ngàn năm trôi lửng lơ
núi vẫn ngàn năm cao vời vợi
còn không lay lắt nỗi mong chờ?

hiển nhiên bao tháng năm mòn mỏi
ta vẫn là ta thuở viễn hoài
và em là mộng mơ ngày ấy
đường trần chưa vương dấu chân ai

NP phan