Hiến tặng

Ngộ hiến một em lần nhứt
Phút chốc gã thành đàn ông

Phụng hiến một em lần nữa
Gã cun cút thành ông chồng

Những lần sau nếu tính hết
Như bãi cát dưới bờ sông

Tận hiến một lần sau chót
(Lần này gã giấu trong lòng

Nhất định không cho ai biết
Bao giờ còn cái bình không)

Em như hoa tươi vẫn nở
Phủi tay gã cũng vui lòng

Còn chút nên hình hiến tặng
Gã mới chịu về hư không!

Nguyễn Hàn Chung

Advertisements

Quán Biên Thùy

1.

Đêm Giao Thừa. Trên ngọn đồi 101, mà ai đã đặt cho cái tên là Quán Biên Thùy, cuộc vui vẫn đang tiếp tục. Đám người ngồi vây quanh bếp lửa. Ánh lửa đủ soi những gương mặt chập chờn và đỏ gay vì hơi rượu. Những người lính già thì yên lặng. Những người lính trẻ thì phấn kích hơn bao giờ. Lần này, họ đòi cho được Mỵ hát. Họ la: “Cô Mỵ phải hát cho chúng tôi nghe một bài. Cô Mỵ phải trổ tài.” Một người cầm cốc rượu đứng dậy, nói với người đại đội trưởng: “Đại úy phải nói làm sao để cô Mỵ hát cho chúng tôi nghe, nếu không, Đại úy phải bị phạt uống đền!” Sau đó, anh ta quay sang đám bạn, hỏi: “Phải không anh em? ” Cả bọn đồng đáp: “Phải!”. Rồi tiếng la gào cổ võ cực độ: “Cô Mỵ, hát đi, hát cho chúng tôi nghe đi cô Mỵ!” “Cho tràng pháo tay cổ động cô Mỵ đi anh em!” “Đại úy, 40 cốc đang chờ Đại úy!” Người đại đội trưởng chỉ biết nhìn cô em gái như cầu cứu “Em cứu anh với, Mỵ”.

Mỵ ngần ngại gật đầu. Người đại đội trưởng thở phào như trút cả một gánh nặng. Anh cảnh cáo:
– Chúng ta cùng vui Giao Thừa. Nhưng tôi xin anh em đừng uống nhiều. Anh em hẳn biết đơn vị chúng ta hiện ứng chiến cho sư đoàn. Sau đây tôi xin nhường lại cho cô em tôi…
Đám lính vỗ tay vang dội. Có người la lên:
– Cô Mỵ thương lính rồi, cô Mỵ hát bài lính chiến xa nhà đi cô Mỵ!

Riêng Mỵ, nàng đứng yên. Chưa lúc nào nàng cảm động như lúc này. Nàng đã có mặt tại một nơi mà nàng chỉ được nghe qua báo chí, hay những lời kể lại. Bởi vì Sài Gòn của nàng bình an quá! Bởi vì đời sống của nàng chỉ biết cuối tuần, chiếc áo dài tha thướt trên vỉa hè Lê Lợi, và ly nước mía ở đường Gia Long. Bởi vì mắt của nàng chỉ thấy bầu trời của Sài Gòn trên những phố lầu bình an, và rừng người yên ổn dạo chơi, không bao giờ bận tâm những gì ở xa, như ngọn đồi 101 này.

Rõ ràng, Sài Gòn của nàng chưa thật sự gần gũi cùng chiến tranh. Đêm nàng có thể trở về khuya và ngày vẫn yên tâm trên trang sách vở. Chiến tranh hình như chỉ xảy ra ở một cõi nào đó. Nàng chẳng bao giờ bận tâm thắc mắc. Nàng chẳng bao giờ lo âu về những tin tức từ chiến trường. Dù miền Quảng Trị nóng bỏng với đại lộ kinh hoàng, dù A Sao, A Lưới đã thấy bóng những chiến xa T54. Dù An Lộc, Bình Long, quân ta vẫn anh dũng trước lớp lớp hàng hàng kẻ thù. Dù bao binh đoàn Bắc quân đang tiếp tục theo đường mòn Hồ Chí Minh để tiến về miền Nam. Nàng vẫn chưa biết được sự thật, và cũng vì vậy nàng mới đánh điện tín ra ông anh. Nàng muốn xem cái Quán Biên Thùy mà anh nàng vẫn hằng nhắc ra thể nào. Tờ điện tín đã làm cho anh nàng phải điên đầu: “Em sẽ đón Giao Thừa ở Quán Biên Thùy. Stop. Đón em ở phi trường. Stop. Chuyến bay… Stop.” Anh nàng đã hiểu rõ được cái bướng bỉnh của cô em gái. Lúc nào nó muốn là nó làm. Nó không đợi một câu trả lời… Nó đã thật sự đặt cho anh nó vào một chuyện đã rồi.

Và chuyện đã rồi là cô gái Sài gòn đã đứng ở cửa phi cơ nhìn về khu nhà khách. Nàng mang bộ đồ lính màu hoa rừng, đuôi tóc cột sợi dây thun, đôi kính đen che gần phần trên của gương mặt. Trông nàng vừa có vẻ bướng bỉnh, vừa có vẻ kiêu hãnh. Người đại đội trưởng bảo với người trung đội trưởng: “Con bé cứng đầu bướng bỉnh kia đã đến rồi đấy!” Rồi anh ta cười: “Mày chịu nó không, để tao giới thiệu giùm cho.” Trọng, tên người trung đội trưởng, có vẻ xấu hổ. Dù cõi lòng chàng chợt nổi lên một sự rung động vô cớ. Chàng liên tưởng đến một cánh chim, một hôm nào đậu lại bên khung cửa của đời chàng. Ít ra, có một cánh chim xinh đẹp như thế trong cõi cô liêu này của chàng cũng là một nguồn an ủi lắm rồi. Chàng biết chàng đã bắt gặp một cái gì thân mến nhất mà chàng không thể cắt nghĩa nổi.

Người con gái Sài Gòn đã làm rộn ràng cả nhà đợi. Nàng liến thoắng và nhí nhảnh khác hẳn với đa số cô gái đồng tuổi, thùy mị và đoan trang. Người anh của nàng giới thiệu người đi cùng: “Đây là anh Trọng, Thiếu úy Trọng độc thân.” Anh ta nheo mắt nhìn Trọng. Mỵ đưa tay bắt tay Trọng, rồi nói: “Anh Hai của em có nhắc anh nhiều lần. Hôm nay em mới được gặp.”
– Tôi cũng hân hạnh được đón tiếp một cô gái Sài Gòn.
Trọng trả lời. Đến đây, Mỵ giục anh nàng: “Mau cho em về xem Quán Biên Thùy của anh đi!”
– Không phải của tao đâu, của anh Trọng đấy.
Nàng quay sang Trọng:
– Cắt nghĩa cho em tại sao anh lại đặt là Quán Biên Thùy? Nếu là quán thì phải có cô hàng. Quán anh có cô hàng nào chưa? Cho em biết với.
– Chờ cô Mỵ đấy – Trọng nói.
– Nếu vậy thì quán của anh sẽ bị lỗ nặng. Không tin anh hỏi anh Hai của em đi, có phải em là một tay ăn hàng…
– Chẳng những mày ăn hàng mà mày còn ăn vụng. Tao bắt tại trận nhớ không Mỵ?
– Em ăn vụng ở chỗ nào? Tại em xót thương mấy thức ăn ngon lành không ai làm ơn cứu độ mà thôi. Hứ, anh khó thấy mồ!
– Tao khó ở chỗ nào?
– Thế thì tại sao giờ này anh không có một cô nào? Này nhá, phải có gì cho em rồi em giúp…
Cả bọn cười vui trước câu nói của Mỵ.

Ngày cuối năm, ngày của trở về. Trên gương mặt của mỗi người hôm nay, dù đợi giờ lên phi cơ hay dù bước xuống tàu, đều hiện lên ánh mắt hân hoan và cảm động. Có lẽ lát nữa họ sẽ có mặt tại ngôi nhà cũ, gặp lại những người thân yêu, và sống lại những giờ khắc bé nhỏ như ngày xưa. Họ sẽ sống lại cùng thế giới của lòng mẹ, lòng cha, của ông bà nội ngoại, mà họ đã xa cách vì cuộc sống và vì chiến tranh. Nhưng với một người con gái Sài Gòn này, sự có mặt của nàng còn mang một ý nghĩa khác: Người đại đội trưởng có thể tìm lại qua nàng hình ảnh gia đình cùng cõi thân yêu cũ. Và Trọng, chàng bắt gặp ở nàng một niềm hạnh phúc thầm kín. Ít ra, vẫn còn có con chim Họa Mi tìm đến Quán Gió, hót lên tiếng hót, cho những đời trai miệt mài trong dòng cuồng lưu hung bạo.

Dọc đường, Mỵ nói chuyện huyên thuyên. Nơi này quả thật xa lạ và mới mẻ đối với người con gái Sài Gòn. Nàng hỏi anh nàng về từng tên của dòng sông, chiếc cầu, ngôi làng. Nàng bắt anh nàng phải kể về ngôi nhà thờ đổ nát mà anh nàng đã viết trong thư: “Không biết ông lão kéo chuông còn ở đấy không hở anh? Không biết những con sáo đen có còn trở về mỗi buổi chiều không hở anh? Không biết những xuồng ghe còn đổ về trong ngày phiên chợ không hở anh? Này anh, những cô thôn nữ chắc đẹp lắm, phải không anh?…” Và bởi vì nàng thắc mắc nhiều quá nên Hải, anh nàng, phải dùng Trọng để trả lời thay. “Anh Trọng biết nhiều lắm. Mày nên hỏi anh Trọng thì hơn. Để tao còn thì giờ lái xe”.

Đến khu rừng thưa, chợt Hải rồ máy, Trọng lên đạn cây M16 và chĩa ra bên đường. Chiếc xe Jeep phóng ào trên con lộ vắng, hai bên đường nổi lên những lùm tre, lùm dừa bất trắc… Hành động của hai người đã làm Mỵ run sợ, mặt mày tái mét. Nàng bấu chặt lấy tay Trọng, và im thin thít. Bây giờ nàng mới có thể hiểu về một nơi mà người ta gọi là chiến tranh, một nơi mà nàng chỉ nghe mà không hề thấy. Nàng đã bắt đầu chạm vào cái khối không gian của hiểm nguy và từng thước đất của đe dọa thường trực. Nàng nghe cái ớn lạnh như chiếm lấy cả da thịt đến nỗi nàng phải run lên. Những lùm cây đó, những bờ mương, bờ rạch đó, chúng quá vô tri, vô giác, tại sao chúng lại tỏa ra nỗi đe dọa không rời. Thì ra, nàng nhớ anh Hải vẫn hay nhắc về những con ma rình rập mà ngày ngày anh phải đối diện, có phải là những con ma này không. Bên cạnh, Trọng vẫn hờm súng. Chiếc xe vẫn tiếp tục thả hết tốc độ về phía trước, trên con đường ngập những ổ gà và bụi mù. Và Mỵ đã nép sát vào người Trọng lúc nào nàng cũng không hay.

Khi qua khỏi khu rừng thưa, thấy lại xóm nhà, Trọng mới bỏ súng xuống. Mỵ nói không ra hơi: “Các anh làm em sợ muốn đứng cả tim.” Trọng cười: “Chúng tôi chỉ đề phòng. Cái chỗ rừng thưa này, bọn nó hay về bắn tỉa, hoặc đón xe đò.” Lúc này Mỵ mới nhận ra mình đang cầm tay Trọng và nép sát vào người chàng. Nàng bẽn lẽn đến đỏ mặt. Nàng cắn ngọn tóc đang bay xòa trước mặt, và ngồi im không nói.

2.

… Bây giờ Mỵ đứng dậy. Dưới ánh lửa, nàng có thể nhìn những người lính già, thu mình trong chiếc áo ấm rộng thùng thình. Nàng không thể ngờ họ lại có mặt tại nơi này. Đáng lẽ ở cái tuổi của họ, đêm nay họ phải có mặt bên lũ cháu nội ngoại. Đáng lẽ giờ này họ sẽ mặc lại chiếc áo cổ truyền để thắp những thẻ nhang trước bàn thờ gia tiên. Nàng lại nhìn những người lính trẻ. Có gương mặt của ruộng đồng còn in trên nét phong sương. Có người râu và tóc mọc đầy. Có người mang kính cận thị. Và nàng cũng bắt gặp đôi mắt của Trọng nữa. Từ đôi mắt ấy, có cả một khối buồn, khối thao thức, bâng khuâng, dằn vặt của một người trí thức. Nàng nghe anh nói Trọng có cử nhân văn chương và hơn nữa, cái tên Quán Biên Thùy do chính chàng đặt ra. Chàng đã làm một bài thơ nói về một ngọn đồi nắng lửa, bốn bề là rừng tiếp rừng. Bài thơ được đại đội chuyền nhau đọc, và người đại đội trưởng quá thích, đã cho lính dựng lên tấm bảng đề Quán Biên Thùy ngay ở cổng trại. Phải, anh Trọng ơi, em phải cảm tạ anh vì anh đã làm cho em hiểu được những giọt mồ hôi của các anh, của định mệnh đang đè nặng lên đất nước chúng ta. Em ao ước được mang về những ngọn gió dịu dàng, tình tự đến cùng các anh.

Ánh lửa trước cơn gió đêm làm hình bóng những người ngồi trên sân trở nên chập chờn, có lúc sáng lên, có lúc mất đi vì gió đánh bạt. Và Mỵ ấp úng nói: “Thưa các anh, cám ơn các anh đã dành cho Mỵ nhiều cảm tình. Trong đời Mỵ, Mỵ chưa bao giờ có một đêm hạnh phúc như đêm nay. Mỵ mới hiểu rõ về nỗi hy sinh vô bờ của các anh. Giờ này, Sài Gòn của Mỵ đang làm lễ giao thừa. Nhưng giờ này, các anh đang ngồi đây bỏ quên những giờ phút thiêng liêng nhất…” Nàng nói đến đây, không còn cầm được nước mắt. Có phải nàng hiểu giá trị của một nỗi an bình là kết quả của bao nhiêu nỗi hy sinh quá thầm lặng từ những người đã có mặt, sống và chết vô danh?

Mọi người im lặng. Họ hiểu người con gái Sài Gòn đang quá chừng xúc động. Tiếng củi cháy kêu lách tách. Có bóng người lính cầm súng ở chòi canh. Những tiếng nổ rời rạc đâu đó. Đó là tiếng súng thay tiếng pháo. Và nàng bắt đầu cất lời hát. Nàng đã từng được tiếng là người hát hay nhất của trường. Trong các buổi văn nghệ ở nhà trường, mỗi lần tên nàng được giới thiệu là cả một rừng pháo tay vang động, và không bao giờ đám học trò bạn học lại không bắt nàng hát thêm bài thứ hai, thứ ba. Tuy nhiên, những lần hát như thế, nàng ít khi bắt gặp cái hồn của âm nhạc, cái cảm thông của người hát và người nghe. Nhưng bây giờ, tiếng hát là tiếng lòng đích thực. Tiếng hát cất lên như niềm cảm tạ, như nỗi tri ân, như lời vỗ về an ủi, như cả dòng lệ đẩy đưa cái nôi hoạn nạn gian khổ từ những con người, như u ẩn nỗi lòng của người cô phụ chờ chồng trở lại. Ai lướt đi ngoài sương gió, không dừng chân đến em bẽ bàng… Em ngồi đan áo… Ừ nhỉ, giao thừa sao lại buồn tàn thu. Nàng cũng không biết tại sao nàng lại cất lên nỗi niềm của người cô phụ? Phải rồi, mùa xuân vẫn còn có biết bao người cô phụ vẫn còn ngồi đan áo. Phải rồi, nhắm mắt lại, người con gái Sài Gòn còn thấy được những người ngoài sương gió, bỏ quên cuộc đời, bỏ quên tuổi trẻ, bỏ quên hiện tại, tương lai.

Bài hát đã hết, nhưng âm hưởng vẫn còn lắng lại vào tâm hồn người lính xa nhà, đến nỗi sau đó, là nỗi lặng yên đọng trên từng khối đêm như mặc niệm cùng quá khứ, như hoài niệm lấy dĩ vãng của mỗi người. Rồi trong một thảng thốt, tiếng vỗ tay như pháo nổ đồng loạt vang dậy, và tiếng la, tiếng hét tiếp tục. “Họa mi hát nữa đi, hát cho chúng tôi nghe thêm nữa đi!” Người con gái quay lại nhìn anh nàng. Hải vừa vỗ tay vừa nói với em: “Em hát thật xuất thần. Chưa bao giờ anh nghe em hát hay như thế!” Bỗng một tiếng nói cất lên từ trong một góc tối: “Tôi có đề nghị, chúng ta không thể để cho cô Mỵ hát một mình mãi. Đêm còn dài, chúng ta phải chứng tỏ ở Quán Biên Thùy có nhiều tài năng. Tôi biết có một người hát thật hay, chơi đàn cũng thật giỏi. Thiếu úy Trọng…”

Tiếng vỗ tay lại nổi dậy: “Phải đó. Mời Thiếu úy Trọng. Đừng để Quán Biên Thùy phải mất mặt bầu cua…” Mỵ nhìn Trọng, đôi mắt ngời sáng. Trọng lúng túng nhìn Mỵ rồi lắc đầu. Nhưng chàng không thể ngồi yên như vậy được. Những người ngồi xung quanh đang đòi chàng phải đại diện. Họ giục. Họ khuyến khích. Họ đưa mắt nhìn người trung đội trưởng chờ đợi. “Thôi Thiếu úy đừng xấu hổ nữa. Có em đây. Em đứng đằng sau Thiếu úy đây.” Một người lính trẻ cầm tay Trọng kéo dậy: “Thôi mà ông thầy, bộ ông thầy muốn làm mất mặt Quán Biên Thùy này sao?”

Cuối cùng Trọng phải đứng dậy. Hát cho ai. Hát cho người nào. Con chim từ đâu đã bay lại, đậu trên đồi một đêm. Con chim từ đâu đến đây làm tôi nhớ lại ngôi trường Văn Khoa, con đường Nguyễn Du cây xanh bóng mát. Và gió Bạch Đằng. Và nhà thờ Đức Bà. Và ly chanh đường. Uống môi em ngọt. Đêm càng khuya, sương càng dày, đồi càng lộng gió. Tiếng súng bắt đầu rộn ràng và đồng loạt. Giây phút Giao Thừa. Đợi chờ một phút, cho hoài niệm. Những tia đạn lửa xẹt ngang dọc cắt bóng tối. Ở chòi canh, người lính đã bắn súng mừng giao thừa. Trọng bắt đầu hát. Giọng chàng thật ấm. Từ trong đám đông, Mỵ nhìn người thanh niên. Nàng bỗng nghe thân thể nóng ran khi nhớ lại lần nắm chặt tay Trọng, cùng nép sát vào người Trọng. Có phải đó là dấu hiệu khởi đầu cho một tình yêu hay không?

3.

Đêm còn lại, Mỵ trằn trọc không thể nào chợp mắt. Hay tại vì nàng đang ở tại một nơi xa lạ, cách biệt hẳn cái thế giới quen thuộc của nàng? Không còn căn phòng với ánh đèn mờ nhạt. Không còn chiếc giường nệm và tủ áo dài, cái bàn trang điểm. Hay tại vì nàng đã chạm vào cái thế giới vừa tội nghiệp vừa bi tráng của Quán Biên Thùy? Hay tại vì người thanh niên có đôi mắt quá buồn, nhưng dáng dấp thì kiêu ngạo? Nàng vói tay lấy chiếc áo dạ nhà binh mặc vào người, rồi bước ra cửa hầm. Nàng bước co ro trong bóng tối. Đêm đặc quạnh, chỉ nghe tiếng gió đập vào mái tôn kêu lách cách. Đôi mắt nàng khốn khổ để làm quen với cõi lạ. Dưới đồi, sân bay quân sự và bản doanh của sư đoàn còn thấy những ngọn đèn nhiều nến, mờ nhạt trong sương đêm. Nàng đứng yên lặng. Lạnh. Run rẩy. Bỗng nhiên nàng nghe tiếng nói của người thanh niên. Tiếng nói như thân thiết tự một kiếp nào: “Cô Mỵ, cô chưa ngủ sao? Chắc là nơi này không quen với cô…” Mỵ quay sang nhìn Trọng: “Anh Trọng, em chưa muốn ngủ. Em muốn được hưởng một đêm trọn vẹn tuyệt vời như đêm nay.” Trọng lại hỏi Mỵ:
– Tại sao cô Mỵ lại lặn lội đến Quán Biên Thùy này? Cô Mỵ không sợ nguy hiểm sao?
– Bộ các anh coi chuyện chiến tranh chỉ dành riêng cho các anh hay sao?
– Nhưng nơi đây không thể hợp cho một người con gái Sài Gòn. Cô làm cho anh cô phải lo đến điên khùng khi nhận tấm điện tín của cô.
– Nhưng đêm nay là đêm giao thừa. Chiến tranh cả năm ít ra còn chừa một đêm ngừng bắn. Em nghe nói hai bên hưu chiến.
– Phải. Ít ra đêm nay người ta bỏ qua thù hận, chém giết.
– Cầu mong 365 đêm là 365 Giao Thừa.
– Cô Mỵ có ý kiến thật ngộ nghĩnh. Nếu thế thì đất nước ta là thiên đàng.
– Và mọi người trên thế giới sẽ nạp đơn xin về Việt Nam.

Mỵ cười thật vui. Lòng Trọng đâm ấm áp lạ lùng. Chàng hỏi Mỵ:
– Đi ngoài đêm, cô Mỵ có lạnh không?
– Em không lạnh. Em có cả chiếc áo dạ nhà binh trên người.
– Cô Mỵ à.
– Dạ, thưa anh.
– Văn Khoa của mình còn thầy T. dạy không?
– Dạ còn.
– Ông là vị thầy tôi kính nể. Nhờ ông mà tôi yêu văn chương. Mỗi lần ông giảng bài hay mỗi lần ông đọc thơ, là mỗi lần tôi phải ngồi chết trân. Ông đã giúp tôi tìm về chữ nghĩa. Một câu mà tôi vẫn nhớ mãi: “Văn chương là hơi thở.” Ngày ấy tôi vẫn còn nghi ngờ, nhưng giờ đây tôi mới biết. Hơi thở hụt hẫng từ những đêm những ngày của chiến tranh. Hơi thở ấy đến cả từng dấu chấm, dấu phết.
– Anh Hải nói như anh đang viết văn làm thơ.
– Phải, tôi dùng nó để mang hơi thở của tôi, của đồng đội tôi và tuổi trẻ của tôi.
– Và cả của em nữa, anh Trọng à!
– Thưa cô…
– Anh đọc cho em nghe một bài thơ của anh đi.
– Vâng, tôi làm nhiều thơ, nhưng không bao giờ thuộc hết. Để tôi rán nhớ xem… Vâng, tôi nhớ ra rồi. Bài Quán Biên Thùy.
Đồi đưa tôi lên tận mặt trời. Tôi lưng chảy dài những giọt mồ hôi. Mồ hôi tôi trộn vào nơi khói lửa. Tôi ở đây, một Quán Biên Thùy. Tôi là một tên tuổi trẻ lông bông. Thị tứ quá xa nên quán phải buồn. Không bàn ghế, không tách cà phê đắng. Tôi thổi khẩu cầm gọi bản gọi buôn…

Chợt một tiếng nổ lớn dội về. Tiếng nổ của trái hỏa châu. Rồi một vùng ánh sáng ngập lòa cả ngọn đồi. Tiếng nổ đã làm người con gái hoảng sợ, ôm chầm lấy người thanh niên. Người thanh niên dịu dàng nâng cằm người con gái lên. Chàng bắt gặp hai đốm sáng từ đôi mắt. Chàng nói trong hơi thở:
– Mỵ đừng sợ. Chỉ là tiếng nổ của trái hỏa châu. Họ mừng giao thừa trễ đấy!
Rồi chàng hôn lên mắt, lên trán của người con gái. Người con gái nhắm mắt lại. Nàng ngước đôi môi chờ đợi. Sau đó, họ hôn nhau cuồng bạo.

4.

Ngày hôm sau, giữa lúc Mỵ sửa soạn hành trang cho cuộc trở về thì đại đội được lệnh phải xuống đồi khẩn cấp. Địch đã chiếm một quận lỵ bên đèo vào sáng sớm mồng một và viên quận trưởng bị giết. Tiếng còi, tiếng kẻng tập họp khua liên hồi. Những người lính từ trong các dãy nhà tôn đổ ra, cùng với ba-lô, súng đạn nặng nề. Lúc này, Mỵ có thể thấy tận mắt thế nào là trận chiến, là binh lửa. Mọi người vẫn bình thản dưới ánh nắng đầu xuân. Mỵ nhìn Trọng. Người thanh niên đang đứng trước hàng quân. Người thượng sĩ già trung đội phó đang kiểm soát đạn dược súng ống. Con chó vàng vẫn tiếp tục vẫy đuôi cùng người này sang người khác. Những chiếc mũ rừng che những gương mặt rạm nắng. Những quả lựu đạn, hỏa tiễn M72 treo lủng lẳng trước ngực. Mỵ nhìn họ. Người ta đã từng kết án họ. Hãm hiếp. Mổ mật. Cắt xẻo lỗ tai. Nhưng Mỵ đã không bắt gặp một dáng dấp gì của đoàn quân đánh thuê, đánh mướn. Họ, những người rất bình thường, nông dân mộc mạc, hay những người lính già sạm đen, lưng trĩu nặng bởi cấp số đạn phụ trội, hay những người lính trẻ, đôi mắt sáng yêu đời nhưng chịu đựng và tuân phục trong hàng ngũ. Họ đang đứng nghiêm trước con mắt diều hâu của viên thượng sĩ thường vụ. Sau đó ông thượng sĩ thường vụ báo cáo với ông trung úy đại đội phó. Ông trung úy lại hô nghiêm, báo cáo với đại đội trưởng. Mỵ đã đặt thẳng câu hỏi cho Trọng, và Trọng nói:
– Trong một tập thể cả trăm người đôi khi cũng có một vài cá nhân làm xấu, dĩ nhiên. Mỵ hẳn biết, thú tính đôi khi phải cần để giải quyết chiến trường. Thú tính làm cho người lính không còn run sợ, khiến họ trở nên cọp beo sư tử. Có người nốc cả cốc rượu đế trước giờ lâm trận. Có người bị ám ảnh bởi khẩu súng phòng không của địch để được lên cấp. Có người bị ít tiền bạc trên xác chết…Có người vì hận thù địch đã tàn sát gia đình họ. Mới đây, có tên hành quân vào làng, lén dùng vũ lực hãm hiếp một cô thôn nữ. Chuyện đổ bể, cả làng biểu tình. Nó quì lạy khóc lóc. Nhưng cuối cùng, bọn anh cũng giải quyết. Anh Hải cử phái đoàn gồm có những người lính già như Trung sĩ nhất Kho, Thượng sĩ Tỏ, Trung sĩ nhất Mười và đám sĩ quan của đại đội đến làng mang cau mang trầu, trước hết là xin lỗi gia đình nạn nhân, sau xin làm đám cưới đàng hoàng. Bây giờ hai đứa đã trở thành vợ chồng.

… Bây giờ mấy chiếc xe GMC đã lên đỉnh đồi. Con chó vàng vừa cúp đuôi, vừa sủa inh ỏi. Trọng bước đến bên Mỵ: “Em trở về bình an. Cho anh gởi lời thăm Sài Gòn, thăm Văn Khoa, thăm chiều Chủ Nhật.” Mỵ nhìn đăm đăm người thanh niên, như muốn uống trọn vẹn hình ảnh của chàng trong buổi chia tay. Dáng Trọng gầy, chiếc mũ rừng chụp xuống, mái tóc dài, những ngón tay khẳng khiu. Chiếc quần trận màu xanh đã bạc, thấy có chỗ tươm rách. Mỵ thương chàng đến độ muốn ôm chầm chàng, để khóc òa như con nít. Mỵ muốn kể tất cả những gì mà con tim nàng đang trỗi dậy, đợi chờ một giây một phút cho cả cuộc đời con gái của nàng. Tuy nhiên nàng vẫn đứng chết trân, đôi mắt ướt nhòa, tóc mai phơ phất. Sau đó, không hiểu sao, nàng lại tháo chiếc trâm cài trên mái tóc của nàng rồi trao cho Trọng: “Anh Trọng, quà của em đây. Cầu xin cho anh được bình yên…” Rồi đoàn xe rồ máy xuống đồi. Bụi đã tung mù cả sân đại đội. Mỵ đứng yên nhìn theo.

Ngày mồng một đầu năm, trời thật xanh và trong. Những con chim én từ đâu bay lại, tiếp tục lượn vờn, nô giỡn trên giao thông hào. Người trung sĩ hậu cứ đã đến bên Mỵ: “Cô Mỵ, thôi mình xuống đồi thì vừa. Giờ này có chuyến xe đò chạy thẳng về tỉnh, không dừng lại dọc đường”. Nhưng Mỵ vẫn đứng yên. Nàng ao ước được làm cánh chim én trong bầu trời nắng vàng để bay theo đoàn xe, bay theo đoàn người, để mang tin lành, tin dữ về họ. Và nếu em có… Đến đây, tự nhiên nàng rùng mình. Cho nàng hay cho Trọng? Tại sao nàng lại nghĩ đến một điều ảm đạm trong buổi sáng mồng một này…”Và nếu em có mệnh hệ gì, em cũng xin được làm cánh chim…”. Nàng lắc đầu, cầm chiếc xắc tay, nhưng hai chân muốn chôn chặt. Có tiếng nói vô hình ở đâu đó như thúc hối nàng: Đừng đi. Đừng đi. Nhưng nàng vẫn bước lên xe Jeep. Ngồi trên băng mà mồ hôi thấm cả trán, cùng một con tim đang đập thình thịch. Hay nàng có một cái linh tính không may. Cho Trọng hay cho nàng? Có lẽ là cho Trọng, vì chàng là người trong cuộc. Chàng đang đối diện với tử sinh. Mỵ cứ nhắm mắt, van vái: “Anh Trọng ơi, cầu mong cho anh được bình an. Em lo sợ quá đi, anh Trọng ơi…”.

Chiếc xe đò vào ngày đầu năm như một cõi rộn ràng và thân mật. Hôm nay, mọi người dường như thân thiết gần gũi hơn mọi ngày. Những người con gái trong những chiếc áo mới, gương mặt tươi sáng, nụ cười cũng tươi. Những bà bán buôn có vẻ hiền từ, nhường nhịn, thay vì gắt gỏng do bận rộn trong những ngày thường. Và nhiều người thanh niên. Họ là lính về nhà ăn Tết muộn màng. Mỵ ngồi cùng với họ, nhưng dường như cách biệt hẳn họ, bởi vì Mỵ là một cô gái Sài Gòn xinh đẹp, áo quần thời trang: chiếc quần jean xanh và cái áo pull màu xanh đậm. Nàng lại mang chiếc kính đen che khuất cả phần trên của khuôn mặt. Nàng đã quên những gì đen tối trước đây nàng đã dự cảm. Bây giờ nàng đang chia xẻ cùng một niềm hạnh phúc chung của một ngày thiêng liêng nhất của dân tộc. Bỏ lại chiến tranh, chết chóc, thù hận đằng sau, để cùng tiếng cười tiếng nói và nỗi lòng rạo rực cho một cuộc sum họp.

Nắng vàng thắm cả đồng lúa bạt ngàn. Thỉnh thoảng, bên đường hiện lên những em nhỏ, các người đàn ông, đàn bà trong những bộ quần áo mới. Vài ông già mang áo dài khăn đóng lướt qua. Mỵ không thể tìm thấy cái không khí của chiến tranh, cái ve vuốt của bất trắc. Ngay cả những người thanh niên trong xe. Họ ngồi bên cửa, ló đầu ra ngoài, vô tư, bình thản.

Nhưng khi chiếc xe chạy đến khúc rừng thưa, nơi mà Trọng đã lên đạn, chĩa súng ra ngoài, và chiếc xe anh Hải rú ga ào phóng trên mặt lộ, thì một nhóm người trong bộ bà ba đen đã xuất hiện. Mỵ lại nhận ra họ còn mang cả súng. Bây giờ cả xe nhốn nháo. Gương mặt những người thanh niên tái mét. Nhưng họ đã bất lực. Họ đã bị sa vào cái bẫy vào ngày mà họ nghĩ là ngưng bắn, hưu chiến hay ít ra, thiêng liêng nhất của mọi người Việt Nam. Mỵ cũng vậy. Tim nàng như ngừng đập. Nàng nghẹt thở theo chiếc xe đò đang từ từ chậm lại, rồi ngừng hẳn.

Cuối cùng, cả một đoàn người được dẫn vào sâu trong bìa rừng, dưới hàng dừa bạt ngàn. Và người ta điều tra xem ai là lính quốc gia, bằng cách nhìn từng bàn chân một. Lính quốc gia dĩ nhiên là mang giày saut, bàn chân trắng không khô nứt. Có bốn người thanh niên được bắt trói ra một bên. Một người trong đám Việt Cộng, có lẽ là kẻ chỉ huy, đã đến trước Mỵ, nhìn chăm chăm nàng, rồi quát lên, giọng Bắc:
– Con này trước Cách Mạng mà còn mang kính đen của tư bản đế quốc đĩ điếm phản động!
Mỵ giật mình co rúm lại. Thì ra, vì sợ quá, nàng đã quên tháo chiếc kính che nắng của nàng.

Đó là dấu hiệu khởi đầu cho một điều dự cảm. Mỵ ngồi một bên, và chỉ mỗi một mình Mỵ là con gái, cùng với bốn người thanh niên đang bị trói, ngồi dưới gốc dừa. Rồi bài học tuyên truyền, rồi răn đe được tiếp tục nói lên từ một người bên kia. Rồi bốn người bị buộc tội là lính đánh thuê, đánh mướn, tàn sát nhân dân, bị bắn trực xạ bằng những phát súng lục trên đầu. Và sau đó, đến phiên Mỵ. Họ dẫn Mỵ vào khu nhà gạch đổ nát. Tay chỉ huy nói với người thuộc cấp: “Đồng chí ở ngoài canh chừng. Tôi phải làm việc với con bé này. Nó chắc là tay sai gián điệp Sài Gòn không chừng.” Người lính gật đầu: “Tuân lệnh anh Ba!” Sau đó hắn bước ra ngoài, đứng gác dưới cây bông sứ.

5.

Trong khi đó, đoàn xe 6 chiếc chở đại đội thám kích đã lên đèo An Khê. Xe trung đội Trọng chạy đầu tiên. Trọng như một người còn say men hạnh phúc. Hạnh phúc hay là định mệnh? Cánh chim từ đâu bay lại, hót bên thềm đời chàng, để lại những dấu chân hồng êm ái. Trong muôn ngàn cánh chim của mùa xuân bay lượn trên đồi, chàng đã tìm thấy một con chim yêu dấu. Đôi mắt sáng lung linh. Bờ ngực phập phồng sau làn vải lụa. Và hai bờ môi cắn bầm bằng nỗi cuồng nhiệt của tuổi trẻ.

Mùa xuân đã về đúng hẹn, và em là mùa xuân, mùa hạnh phúc, mùa ngọt lịm ân điển của địa đàng. Em đã mang tin lành, bình an, đến giữa cõi hoạn nạn. Em ở trên bầu trời xanh sẫm, đúng lúc, đúng hẹn, vô tư, đùa nghịch, vút lên cao, sà xuống thấp. Em, cánh chim mang mùa xuân về trời đất, núi rừng, dù không gian vẫn đầy những đe dọa gầm gừ. Ô kìa, một đàn chim én đang bay rợp trên đèo xám và rừng xanh. Trọng xúc động. Con họa mi của anh giờ này chắc trên chiếc xe đò xuôi về thành phố. Nhưng kia kìa, chàng muốn đứng thở khi nhận ra cả một đám chim mùa xuân, khi không sà xuống đoàn xe. Cứ hết con này, tiếp đến con khác. Chúng phóng xuống đường dễ chừng chúng đang làm một cuộc tự sát tập thể. Rồi trong một khắc giây nào đó, chàng nghe một tiếng rú như xé dội cả trùng trùng điệp điệp núi đèo, đẩy bật cả mấy tầng trời, gốc cây đại thụ, bạt cả bờ vách đá, sau đó là lời van lơn dồn dập: “Anh Trọng. Anh Trọng. Ngừng xe lại. Hãy ngừng xe lại. Anh Trọng ơi!…Nghe em đi, anh Trọng ơi!…”.

Trọng bủn rủn châu thân, nắm tay người tài xế, hối hả nói: “Anh ngừng xe nhanh lên!” Xe thắng giữa đèo. Đại bàng gọi máy hỏi sự tình. Trọng kể trong hơi thở về cái dự cảm của chàng. Đại bàng nói cũng nghe tiếng la rú. Rồi Đại bàng ra lệnh đại đội nhảy xuống xe, bố trí hai bên đường. Sau đó, một đoàn xe chở đạn pháo binh của Đồng Minh qua mặt. Chỉ trong mười phút ngắn ngủi, là sấm động ầm ầm của những quả mìn và tiếng súng lớn, sau đó là cả một khối lửa vĩ đại bừng dậy. Còn Trọng, chàng lom khom bò về hướng Đại bàng, nói không ra hơi: “Đại úy ơi, tôi có linh cảm Mỵ… Đại úy nói giùm tôi một câu. Một câu thôi để tôi yên lòng. Đại úy có nghe tiếng rú không?” Viên đại úy, dù đang bấn loạn, cũng cố an ủi Trọng: “Trọng, tin tao. Mỵ nó không hề gì đâu. Về lại trung đội mày đi. Chuẩn bị bọc hậu. Chừng năm phút nữa có trực thăng bay đến yểm trợ. “

Trần Hoài Thư
Thư Quán Bản Thảo Số 79 Tháng 4.2018
Chủ đề: Trần Hoài Thư Vẫn Còn Mãi Đam Mê

SAO CHẲNG EM?

Đã cuối đông rồi sao chẳng em
Chờ nhau ngòn ngọt nụ hôn mềm
Anh qua đất Trích hề! Ren rét
Đốt đuốc soi tìm hương ấm êm …

Đã cuối đông rồi sao chẳng em
Bởi góa tình nên ngơ ngác thêm
Gió cũng mồ côi, đêm nguyệt tận
Anh hùng lỡ vận xót thuyền quyên !

Đã cuối đông rồi sao chẳng em
Tiếng độc huyền ai rơi vào tim?
Anh nghe đau đáu niềm thương nhớ
Đá cũng tương tư dấu mắt huyền…

Đã cuối đông rồi sao chẳng em
Chiều bơ vơ ,phố biếng lên đèn
Một năm có đủ mười hai tháng
Sao tháng mười hai anh thiếu em ?

Trần Dzạ Lữ

ĐƯỜNG SỐ MƯỜI BẢY

(Gửi hai nhà thơ Trần Vấn Lệ Đà Lạt Cali, Nguyễn Hàn Chung Đà Nẵng Houston- nhờ nhà thơ Tôn Nữ Thu Dung Nha Trang Mỹ chuyển giúp)

“em mười sáu tuổi tôi mơ
em mười bảy tuổi hai bờ sông xanh”.

Thơ ai vậy? Dạ, của Trần Vấn Lệ. Những câu chữ như một bài kệ. Dạ, tình yêu vốn đong đầy hợp tan, phải câu nệ. Yêu ai như thể mình đang tụng chú, sân si hoặc sám hối đôi lúc là một cái thú. Thú thương đau, vô duyên chẳng ôm mâm trầu cau. Đời vốn lẫn lộn những vàng, thau. Người đi lối khác, nhạt phai mau?

Thử làm một phép tính trừ giản đơn, mười bảy nằm trên mười sáu, kết quả đẻ ra một. Không chắc đã tròn 365 ngày đêm dại khờ. Bị sao vậy? Dạ, tự dưng hai bờ sông xanh hiện tới, chia lìa. Chuyện chi rứa? Dạ, mười bảy tuổi người nớ lên đò, sang ngang.

Mười Bảy. Có sớm quá chăng? Dạ, hình như luật pháp quy định phải đủ tuổi 18 mới có quyền “xác pháo vướng gót chân”? Không biết được, đôi khi chúng ta phải đối mặt với hai chữ trái ngang hy hữu. Lại bày thêm một công thức toán (lớp đệ Ngũ đệ Tam trong tưởng tượng). Hy hữu @ Buồn + Thở Than = Nhà Thơ. Xin rộng lòng bỏ lỗi nếu đứa dốt toán bày ra thứ phương trình tầm bậy, ưa quậy. Tầm bạ, lang chạ.

Nhà thơ có lần giải thích: “Nếu mình lấy-nhau-đặng thì tôi đâu có làm thơ!” Rồi cũng có lần tự vấn: “Phải chi hồi đó tụi mình đừng nhỏ… như bây giờ, không biết đã ra sao?”. Và hồi đó, quá khứ cho tới hiện tại vẫn khẳng định: “Ai sinh em vậy làm con gái cho cõi đời này hết Mỹ Nhân?”

Lại của Trần Vấn Lệ? Dạ, nghe dễ thương cách gì! Tác giả của thi tập mới (một hai năm trước) mang cái tên cũng ngộ “Ở Chi Xa, Xa Mút Chỉ Chân Trời”. Ở tận bên Mỹ mà ngó về Đà Lạt biểu sao chân trời chẳng mút chỉ? Ở Canada cũng rứa, xêm xêm. Mờ mịt thức mây, ngó không êm. Nỗi nhớ hơn cả trái gió trở trời thấy mình rêm. Nghìn trùng chất thương yêu thêm.

Mình từng ở Đà Lạt, có mối tình đầu dại khờ ở tuổi 17. Thành ra thích mượn thơ Trần Vấn Lệ, thế tấm gương soi về tháng ngày cũ. Có chút trùng lẫn giữa mình và hình ảnh chất chứa trong dòng thơ mang mang tâm sự kia. Nếu hồi đó, biết làm thơ, đứng trước ngõ nhà nàng ở đường Phan Đình Phùng để ký gửi nỗi niềm thì có lẽ hai đứa đã lấy-nhau-đặng-thương-hoài-muôn-năm. Chữ “nếu” ngàn đời vẫn hăm he gây nhiễu sự. “Nếu” luôn còn đó để tạo dựng ra cớ: Một nửa tiếc uổng, một nửa hối hận. Ba phần ganh tị bảy phần phân trần. Nếu hồi đó mình cầm tay Hiệp (tên người như tên rạp chiếu bóng Ngọc Hiệp nằm dưới dốc Minh Mạng đầu đường Phan Đình Phùng) nói lời thề nguyền “bao giờ thác Cam Ly cạn, nước hồ Than Thở khô hạn, anh mới thôi làm bạn cùng em”. Nếu hồi đó tình hình không lem nhem, anh bình thân như vại mong làm mộc đóng con tem. Ra cầu ông Đạo lên khu Hoà Bình chỉ em xem, thông đồi Cù cứ đứng giữa trời mà reo, nào cheo leo. Hai trái tim vàng đâu thể đói meo. Nếu này nối nếu kia theo để mười bảy tuổi sớm nhận cơn gió heo may dồn về.

Thấy tóc dài đi hớt. Thợ hỏi: hớt làm sao? Trả lời: hớt thế nào mà đầu vẫn còn tóc. Chao ơi, nếu mình là thợ ắt phải mang cảm tình với ông khách lạ đời. Hiệp nói: Chăm học đi, kẻo thi hỏng tú tài phải rời cao nguyên xuống Đồng Đế Dục Mỹ làm Trung sĩ. Mình trả lời: Học yêu chưa thành thì làm sao toại chuyện khoa bảng? Gió bên đường Hai Bà Trưng làm đồng minh thổi qua, lạnh run. Hiệp cởi chiếc áo laine màu xanh bleu ủ nhiệt cho thân người tình mãi xớn xác. Mai hẳn trả. Bài thơ chưa tượng hình thốt lời đáng yêu, nếu anh cưỡng đoạt báu vật ấy liệu em có than kêu? Áo đan bằng tay nhốt giữ tất thảy những hương hoa được trồng trên hoàng triều cương thổ. Có mùi thơm nào sánh được mùi trinh nữ chăng? Ngây ngất, biết cách gì để khiến Hiệp dậm cẳng: Vật đi thay người? Đêm về ôm ấp tấm áo ngự hàn không ngủ được, hôn hít trở trăn không cách gì tả xiết. Bao sách giáo khoa lưu trữ trong bộ nhớ đều đổ biển trôi sông. Khuy nút cài lại sao nách, cổ, ngực thảy đều vừa kích, sít sao hơn quần áo đặt may ở hiệu Văn Gừng. Vô tình Hiệp cấy vào người mình một rung động: Bưng chén cơm lên mà đũa rớt hồi mô chẳng hay. Ai nói mười bảy bẻ gãy sừng trâu? Người ấy đáng bị đánh đòn. Thật dại khờ thay!

Chưa mở mắt khôn lanh được chút nào thì vân cẩu bay nát nhừ bầu trời Đà Lạt. Có thể gia đình Hiệp trốn về Sài Gòn mong tìm được lối thoát thân. Sao mình vẫn lần khân? Răng cứ thúc thủ trói chân? Yêu người lậm khiến dạ phân vân? Đi qua đa-nhim tôi kêu hồ nước mắt. Mình cải chính: Dạ, Hồ Thuỷ Lệ chính là tui đây. Gạt lệ thua buồn mình xuống núi hàng lại hàng ngó mờ mịt cảnh bể dâu. Đi xe qua cầu Đà Rằng cúi trông xuống dưới cát bồi khe khô. Điệu hò người dân Tuy Hoà nghe nẫu ruột:

Chứ bây giờ mà em ở kìa nơi đâu?
Để cho anh, anh trông đứng nửa trông ngầu, rầu canh khuya.
Chứ bây giờ em không ngó nữa em không ngàn
Lấy chồng nghèo nó cực khổ mà gian nan nó cơ hàn.

Nghèo! Tháp Nhạn cũng vắng thưa chim bay én lượn. Gặp lại người thầy cũ thiếu đường chắp tay bẩm đạo sĩ. Dép mòn vẹt xách bị lát người gầy khô như cây xương rồng bị vặt sạch gai nhọn. Căn nguyên lưu lạc thổ lộ bên đường tựa giọng cảm hoài của Cao Bá Quát: “Mười năm xuôi ngược dọ hỏi cốt tìm thanh gươm cũ. Một đời cúi đầu chỉ vái lạy trước hoa mai”. Thầy khuyên mình nên ra Đà Nẵng ở nếu còn thân nhân ngoải. Bây chừ thì thôi còn đất lành để chim đậu, tan nát những cánh hoa thời hậu loạn, nhưng chốn ấy nghiệm ra vẫn hơn chốn đây, tin thầy đi. Để xác quyết, đạo sĩ bất đắc dĩ dặm pha thêm lời “vàng ngọc” cơ hồ sao chép từ Charles Bukowski: Này, chỉ tính riêng giấc ngủ của thầy thôi, cũng đủ dài hơn quãng đời mà mi từng trải qua.

Cũng là đà, bỏ Đà Rằng, nhưng không Đà Lạt mà Đà Nẵng. Lại đâm nhớ em má đỏ môi hồng mặc áo laine xanh, sửa đổi ca dao:

Hỡi người ôm sách khoá sinh
Vợ con chưa có nên chưa thành thất gia
Ngộ tình cờ bướm mới gặp hoa
Anh mà lại gặp Hiệp hoạ là trời xây.

Vô duyên với Hiệp thì gặp Hoa. Chợ Cồn, cầu Vồng, Hùng Vương ra tuốt Bạch Đằng thì châu về hiệp phố. Mênh mông chi xứ mà chẳng dè có sợi dây vướng cẳng khiến bổ nhào cảm ơn ông Địa. Nhủ thầm lần ni chắc hẳn hoà hợp. Chánh quán cô hàng cà phê bụi thì ở tuốt trong Điện Bàn. Em mô có tự hồ người thành thị, ở trong quê đúa cơm rách ố mới lần mò roa lồm eng chỗ ni. Reng em biết được lòng doạ anh, có nên trao lời thề thốt giữa hươi đứa mình? Thì cứ thong thoả nhìn mẹt mà bắt hình dong, mình nói, lòng anh ngay thẳng ghét dối gian, y như cái lốp xe đạp thì kêu là cái láp xe độp, không thay đổi mảy may. Hoa cười: Chửi choa không bèng phoa tiếng, đừng có ở đó mà cạnh khoé khó nghe. Mình cúi đầu: Mô có, thiệt hàm oan. Hoa không biết đó thôi, ông nội bà ngoại của anh đều được sinh ra ở Cẩm Lệ quận Hoà Vang làm ăn ở Hoà Khánh. In tuồng như mình cùng xứ, chu choa ơi mình phải tự hồ được đẻ ở đất Ngũ Phụng Tề Phi đó con bạn mình ơi!

Không dưng xúi nhớ bài “Nhìn Em” của thi nhân Bùi Giáng:

Nhìn em nhìn thấy một muôn nơi
Ngó em ngó thấy một muôn trời
Nghe em thỉnh thoảng vô ngần lúc
Ngóng đất đôi phen tuyệt đối đời
Cũng thể em là tiên rất mực
Cầm bằng anh chỉ đứa điên thôi
Trùng lai thái thậm Thiên Đường cũ
Tương kiến tung hoành lệ máu rơi.

Qua êm màn phỏng vấn với tự giới thiệu lý lịch. Bà chủ rất mực rộng lòng thâu nhận nhân viên mới. Mình phụ Hoa pha cà phê chặt nước đá rửa ly tách thu dọn bàn ghế đóng khoá cửa nẻo và kiêm luôn chức vệ sĩ bảo toàn khối tài sản biết di động. Được tin tưởng giao cho giữ chìa khoá chiếc xe gắn máy để sẵn sàng chở tiên cô đi mua nhu yếu phẩm trà đường chanh thuốc lá bột cà phê hoặc mánh mung chuyện tối mật gì đó. Đất Quảng Đà chưa mưa đã thấm, hợp phong thổ nên chỉ hơn tháng mà cây si bén rễ cành lá ra rậm rạp tựa lá bồ đề. Nắm tay xong nắm chân, mới cởi áo chưa cởi quần thì giông bão ập về, gió giật liên hồi kỳ trận để cuốn phăng bao dự tính chõng cọng dơ que. Một bộ phận không nhỏ đã xông vào quán nước làm tan đàn sẩy nghé. Họ bắt Hoa đi với tội danh: Mở hàng bán cà phê chỉ nhằm làm bình phong che đậy, thực chất đây là tụ điểm nhằm liên lạc móc nối tổ chức người vượt biển. May mà họ chẳng sờ gáy mình, sẵn có xe gắn máy của Hoa mình chơi một màn tẩu vi thượng sách. Ôi, ông Bùi Giáng ơi: “Khóc em duy nhất tình đầu, đã đầy đủ quá sức người của anh”.

Hoa có trách móc mình không? Vướng vào vòng lao lý, ở trong tù chắc Hoa sẽ đối mặt với toà án lương tâm: Có nên quy kết tội danh hắn bằng bốn chữ “quất ngựa truy phong”? Cũng oan cho hắn quá, bởi thân này còn nguyên vẹn chưa bị hoen ố xẻ ra làm đôi. Nếu hén thiệt bụng thương yêu, thế nồ hén cũng đợi chờ ngày mình thoát cũi sổ lồng, nửa in gối chiếc nửa chì chiết trong ruột gan. Cho dù không mất đi sự tỉnh táo, hắn mô có tiền của để chạy chọt tìm đường dây mà gỡ rối, bị Bùi Giáng từng cảnh báo: “Trái mít ra quả sớm chiều, Đại Ca Chủ Tịch còn nhiều bận tâm”.

Có một chuyện Hoa không lường được, chính mình cũng ngỡ nằm mơ, do số phận run rủi, một đêm tối trời bên quận 3 mình đu bám được theo nhóm người lên ghe vượt biển. Kỳ lạ thay, ngày mình làm đứa phản bội tổ quốc, tờ lịch in con số 17. Sang tới Hồng Kông mất chỉ năm ngày, lịch chỉ số 22. Từ đây tôi mất Hiệp Hoa, trước thân đơn chiếc mơ hoà hợp sau.

Đà Lạt, Đà Nẵng là hai địa danh. Riêng chữ đà còn mang nghĩa là màu nâu. Người miền Trung thường nói áo lam, áo đà nhằm chỉ tới những vị tu hành khoác áo xám, nâu sòng khổ hạnh. Hoa thấy tóc dài nên đi hớt. Hỏi: Hớt làm sao? Trả lời: Hớt thế nào mà đầu trơ trụi chẳng còn tóc. Cô này nhiều chuyện quá! Sao không bảo là cạo trọc cho dễ hiểu? Khi mình sang định cư ở tệ tam quốc gia, tình cờ có một chị trước ở đường Hoàng Diệu gần Ngã Năm cho hay: Hoa ở tù đúng một năm, sau đó xuống tóc quy y cửa Phật, trú thân trong chùa nhỏ gần bãi biển Thanh Bình, mang tên mới ni cô Lãng Nghiêm.

Ở xứ người, hàng năm mình thử len lỏi đi chung vui ở những đêm liên hoan gặp gỡ các cựu học sinh Đà Lạt. Dọ hỏi cùng khắp, chẳng một ai hay cô bạn đầu đời dấu yêu: Hiệp. Khi viết ra bài hồi ức này, mình hy vọng mong manh có ngày cả Hiệp lẫn Hoa đọc thấy, chỉ để gửi theo một lòng ăn năn và xin được thứ tha. Tuổi 17 có người sang ngang vui duyên mới, có đứa vượt qua biển rộng mà lòng mang nặng một kiếp dại khờ. Cho mình cúi đầu: A di đà Phật. Tội lỗi… Hoa ngừng gõ mõ, gióng tiếp cho một tiếng chuông từ bi.

“Bây giờ sự đã tam bành
Cũng chi một chút cho đành chút chi”.
(B.G)

Hồ Đình Nghiêm
Sau lễ Tạ Ơn

ga lyon đèn vàng

em đến nhé
tôi chờ
Paris trống.
đèn vàng khuya
tô điểm ít phấn son.
dăm khách lạ và tôi
ngồi thu bóng.
lại dài đi Paris với muôn mầu.

như lời hứa
em à nơi ga vắng.
Lyon buồn những con mắt
thu mau.
tờ lá úa
chạm chân người bỡ ngỡ.
tập làm quen trong buổi nọ xa lìa.

ừ xa lắm
tiếng còi tầu
hy vọng.
đóm lửa nhen
thắp sáng cuối đường ray.
búng tàn thuốc
lụn vàng tay
điểm đỏ.
bay vòng cung
Paris nối tay dài.

em
tôi gọi
à Paris không nói.
tiếng mưa đông
nghẹn khóc lũ chim câu.
đã đi vắng
từ hôm tầu rời bến.
không gian này
giam nhốt
mỗi tôi thôi.

năm tháng lạ
mở từng trang
kí ức.
có bóng ai
thuở nọ tóc mây vương.
Paris trắng
một Paris hoài trắng.
như áo em
sông trắng
suốt dặm đường.

em đến nhé
ga Lyon
mùa giao hưởng.
giữa mùa thu
và hoa trắng lang thang.
tôi sẽ đợi với ngón đàn nghệ sỹ.
bỏ cung trầm
từng nốt
vỡ
mê hoang.

pham quang trung

Một Bài Thơ Mới

Em mười bảy tuổi, anh không nghĩ. em sẽ thôi không còn học trò…Anh nhủ lòng anh: Mai Mốt Lính. Đường Anh Đi Có Bóng Nàng Thơ…

Từ lúc anh đi ra mặt trận, thật tình anh có lúc quên em: Tình Riêng Nghĩa Cũ Lòng Không Bận, Mình Sống Là Mình Vẫn Có Duyên…

Tan cuộc, tan tành cả nước non…Tình xưa nghĩa cũ nặng trong hồn. Trong rào dây kẽm, anh nhìn nắng…Chuông giáo đường ngân những tiếng chuông…

Trong rào dây kẽm…anh rồi, vậy! Than trách ai chừ? Ai tâm tình? Ai với mình chia nhau nước lả? Với mình thu vén cái mông mênh?

Sáu năm, không biết gì hơn nữa…ngoài một ngày mai rất mịt mùng! Buồn lắm, đi về, đi hỏi khắp…đường Bà Trưng, vắng, dốc Bà Trưng!

Chao ôi Đà Lạt chừ sao lạ? Em rất là quen cũng lạ rồi! Anh bắt xe qua đèo Ngoạn Mục, núi, rừng, suơng, khói, khói, sương, ơi…

Thấy khói sương mờ tan khói sương…Cố huơng, cố lý…bao la buồn…K’Rôngpha ngó dừa xanh ngọn, thấy gió bày về tha thiết hôn!

Lại nghĩ em đi chẳng trở về…Gió rừng lành lạnh buốt sơn khê…Bóng người xưa đã tan cùng nắng…thì đoạn trường thêm có nghĩa gì?

*

Con chim xanh bay về rừng xanh…Vầng trăng tháng Chạp thật mong manh…Và bờ liễu cũng mong manh nhỉ, lau lách đường xa…nỡ đoạn đành!

Vậy thôi! là có bài thơ mới…Thôi để thời gian nó vẽ bùa. Đã nói yêu em thì đã nói… dẫu tình trong mộng tận ngàn xưa…

Trần Vấn Lệ

QUA NGÕ SƯƠNG TAN

Năm mươi năm trước. Ờ! Lâu lắm
Từ thuở trăng khuya vắng nguyệt cầm
Từ thuở rượu buồn anh uống cạn
Em về qua ngõ bóng sương tan

Áo lụa Hà Đông hương mới lớn
Tay ngoan e ấp lá thư tình
Bài thơ mực tím- con bướm phượng
Em giữ hoài”lưu bút ngày xanh”

Năm mươi năm trước. Ờ! Lâu lắm
Em ngồi chải tóc hết một thời
Giã biệt kinh kỳ anh ra trận
Tuổi hai mươi khắp nẻo sông hồ

Tuổi hai mươi nụ hôn rất vội
Lên môi trầm – ngực ngải em thơm
Anh nhớ mùa xưa trăng đã cũ
Rượu uống mềm môi bóng nguyệt rằm

Năm mươi năm trước. Ờ! Lâu lắm
Anh tìm về qua ngõ sương tan
Sương tan khóc đời nhau lận đận
Là lúc thuyền quyên bước theo chồng

Là lúc sầu đời anh lưu lạc
Bến sông nào cũng khổ như nhau
Bến sông nào cũng chảy nước mắt
Qua ngõ sương tan bạc mái đầu.

LINH PHƯƠNG

GỌI MỪNG SẮT SON

Tặng em một đóa trăng thề
Giúp em một buổi quay về thương yêu
Gửi em độ lượng trăm điều
Và ngàn nỗi nhớ những chiều đợi trông
Tay em này cánh hoa hồng
Môi em biển rộng rượu nồng đêm nao
Khi về rửa dép bờ ao
Dặn lòng tát cạn câu chào thủy chung
Mai đây tới bước sau cùng
Bên trời ân ái gọi mừng sắt son!

TẦN HOÀI DẠ VŨ

HƯ BIỆT NGHÌN NĂM

đôi khi ngồi trốn gió
bên tường xám rêu mờ
trong tay vò cọng cỏ
cười y hệt trẻ thơ

đôi khi nằm ngó nắng
nắng đi rồi nắng về
sao em hoài mây trắng
mãi dặm ngàn suối khe

đôi khi anh lẩm cẩm
như lão già bặt câm
không bới tìm kỷ niệm
không múc trăng phơi rằm

đôi khi chân nhốn nháo
lòng râm ran bất an
đi về như kẻ chợ
nhìn trống hoác chiều tan

gió ru mùa ru mãi
hết nắng rồi sang mưa
em ru thì con gái
xa nhau từ nghìn xưa

con sông bùng bọt sóng
quải mái dầm tương tư
thương hai bờ gánh nắng
đợi nhau…bấy…đến giờ !

đôi khi ngồi trốn gió
lêu lổng bàn tay hoang
vẽ câu thơ dị tật
trên đọt lá tàn xuân
từ em mang tình nhớ
treo hư biệt nghìn năm !

LÊ HÁT SƠN

Vàng và tro than

Mặc dù đã biết trước sẽ xẩy ra – nhưng – khi sự thể xẩy ra thì toàn thể cư dân của ấp Tà Rua bàng hoàng đến độ sửng cả người. Thiên hạ xôn xao bàn về cái chết của vợ chồng Út Chuột và thằng cháu nội tên Mèo. Mèo phóng xe hết tốc độ đâm đầu vô trụ điện. Nghe tin báo Út Chuột ôm ngực lảo đảo rồi té cái oành. Chết trên đường đến bệnh viện bởi cao máu. Bà Út cũng một khuôn. Một ngày mà ba người chết thì chấn động luôn chứ bàng hoàng là chuyện nhỏ. Đúng không?
Sau bàng hoàng thiên hạ lại nói ra miệng rằng vậy là khốn đốn cho anh em nhà Minh Mây. Minh và Mây là con trai của vợ chồng Út Chuột. Dưới Minh và Mây còn có hai bà con gái. Hai bà nầy có chồng và nhà cửa ruộng nương đề huề nhưng ba cái vụ tranh dành tài sản thì tỷ phú còn ham nói chi dân lấm lem vì ruộng. Ủa… mà… đang chết chóc lại lấn vô tài sản và tranh dành là sao? Bộ Út Chuột giàu lắm hả?
Ừ… Tà Rua thì nhất hạng Út Chuột rồi – lão già có biệt danh Ba Cụt nâng chén rượu nói với ba quân – Thằng Út Chuột phải hỏi tao… rằng thì nó là việt kiều Kampuchia. Năm ’73 cha thằng Út bỏ Biển Hồ trên K về Việt Nam vì chịu không xiết sự truy sát của vô số các phe cánh trên xứ Ăng-co. Nào Lonnol nào đảng áo đen nào phe cách mạng… trên đường về cha má Út Chuột bị cướp giết sạch. Út thoát chết vì sợ quá nên bất tỉnh trước đó. Trong rủi có may. Út ta nằm đè lên cái chỗ ông cha dấu vàng. Bọn cướp lấy được cái ruột tượng của bà má nên không kiểm soát kỹ. Út một mình về lại mẫu quốc năm mười lăm tuổi. Nó tìm đến giáo xứ X là họ đạo từ K về hội tụ. Nghe ba má nó chết bà con trong họ thương lắm bèn trình bày với cha xứ và Út được cấp một lô đất cất nhà.
Út theo bà con cô bác vô rừng phá lâm làm nương rẫy. Vốn tính cần cù và sẵn có vàng nên Út Chuột thuê người khai hoang. Thuở ấy rừng sát bên lộ cái và bên trong rừng là quý vị nón cối mũ tai bèo. Út chơi với tất cả từ cảnh sát cộng hòa cho đến dép râu. Đến ngày thống nhất phe chiến thắng về chòi rẫy của Út tạm ngụ để chỉ huy. Nếu cứ thế mà tiến không chừng Út Chuột làm lớn chứ không đùa. Từ 1973 đến 1975 xe bò của Út đã đưa vào rừng cho mặt trận biết bao nhiêu là lương thực và thuốc men, thậm chí cả lựu đạn và đạn M16 mua được từ lính đào ngũ. Công quá lớn chứ chơi sao? Kẹt cái là ở cái năm mười chín tuổi Út Chuột sa vào lưới tình của một kiều nương thứ thiệt. Nàng tên Loan – Kim Loan – hai mươi tuổi và đẹp thôi thì khỏi nói. Từ Sài-gòn nàng cùng gia đình xuống xứ rừng nơi Út cư ngụ với tư cách kinh tế mới. Út Chuột lúc bấy giờ là một ông chủ với mười mẫu đất và một bầy bò cả hai chục chú trong tay. Kinh tế mới khốn khó nên nàng theo chúng bạn đi làm thuê cho chủ Út Chuột. Vừa gặp Kim Loan, Út đã bị tiếng sét ái tình đánh cho một phát vong mạng. Chao ôi gã trai mới lớn nào biết tình là gì, thậm chí mười chín mà đàn bà còn chưa biết thì chết phải quá.
Út Chuột ghé nhà nàng chơi cho biết. Gia đình tiếp Út rất chi trọng thị. Riêng Kim Loan thì ngồi chơi tiến lên với mấy đứa em. Cái thái độ phớt tình của nàng làm Út đuối. Là thằng từng hút cái chết và đã nằm trên vũng máu của cha má nên Út có một cái quyết tâm rất khác người. Để khắc phục nhược điểm khi đứng gần Loan thì cuống quýt vụng về, Út theo chúng bạn lên Sài Gòn chơi cho tỏ mặt đàn ông. Khi đã là đàn ông Út ta tậu một chiếc 67 đến nhà nàng cho tiện. Một đêm khuya khoắt kia Út ôm lấy nàng và ngỏ lời yêu. Nàng gật đầu cái rụp chả có cuống quýt vân vê tà áo chi ráo.
Kim Loan mê bài. Nàng biết chơi tứ sắc tiến lên cả xập xám. Chơi trong nhà cho vui thôi chứ chả ăn thua chi. Út Chuột ngồi bên nàng, bắt bài dùm nàng… sư cha cái cờ bạc. Không có gì nhanh biết và nhanh tinh thông bằng nó và khi biết thì ghiền chết bỏ. Út Chuột sa vô cờ bạc từ ngày quen biết em Loan và cái dòng cờ bạc khi chơi phải tiền nó mới thú. Tiền thì Út không thiếu. Nó cùng em Loan trên 67 hết sòng này qua sòng khác. Và sạch bách từ bò bê đến nương rẫy:
– Thiệt vậy ha Ba Cụt?
– Tao nói láo cho trời đánh sút huyết. Hồi mới đến xứ X tao làm thuê cho Út Chuột nên rành. Thằng Út bị con Kim Loan thuốc đến thân bại danh liệt. Con Loan là dân phố lớn từng trải đời lên hàng đại úy. Út Chuột chết vì con chồn cái quá oan uổng.
– Sao oan?
– Con hồ ly đưa thợ thầy của nó từ phố lớn xuống xứ nầy xẻ thịt con nai. Tao nói bây hiểu không?
– Nhưng bây giờ vẫn nứt đổ đổ vách thôi Ba Cụt ơi.
– À… đó là chuyện về sau… Út Chuột giàu như bây thấy là nhờ bãi vàng Tà Rua nổ lớn…
***
Sau khi tàn đàn xẻ nghé với Kim Loan. Than ôi, nàng vượt biên. Vụ nầy dân tình ở giáo xứ X bàn rằng con hồ ly vặt trụi lủi thằng si tình để có tiền qua trời âu mỹ. Thời may Út Chuột còn lại đúng một cổ xe và hai con bò kéo. Hắn tìm gặp Ba Cụt. Anh em lại tạc thù bên chén ba xi đế:
– Tao đi phát rẫy mướn trong Tà Rua.
– Tao theo với được không?
– Mày có xe bò vô cưa củi là ngon đa.
Vào Tà Rua, Ba Cụt xúi Út Chuột chui sâu vào rừng nguyên sinh ăn cắp be. Be là cổ thụ to cả hai mét bề hoành dài năm bảy mét. Muốn có cây phải mua cán bộ trông coi rừng tục gọi kiểm lâm hay bảo vệ. Thời ấy cán bộ rách lắm. Họ dẫn lâm tặc vào từng gốc gây rồi ngã giá. Cẩm Lai bao nhiêu Gõ bao nhiêu… chung chi rồi tối mang cưa vào hạ. Nhưng mấy ông bảo vệ rừng ma mảnh lắm. Ông nầy bán ông kia vào bắt. Hôm đó xe bò bị bắt đưa về trạm. Chán quá Út Chuột theo Ba Cụt ra quán cóc nhậu thiếu. Có ba giọt rượu Út buồn tình buồn đời ngổi khóc hu hu. Hận con đàn bà khốn nạn đã chơi mình trí mạng, Út thề rằng nếu gặp lại Kim Loan sẽ cho nàng biết thế nào là lễ độ. Ba Cụt tuy ba trời bảy búa mở miệng ra là văng tục, uống rượu bằng lỗ mũi nhưng cũng có chút chữ bèn mắng bằng thơ rằng:
– Có vấp ngã mắt mới nhìn sáng suốt. Có đau thương lòng mới cứng rắn hơn. Có thẳng căng như một sợi dây đờn. Mới tạo được những âm thanh huyền diệu”. Bị gái đả cho là may mắn chứ có chi mà khóc lóc. Lo kiếm tiền mà chuộc xe bò kìa ông cố nội.
Út chửi thề:
– Sư cha mày chứ thơ với thẩn…
Nói rồi Út giã từ bàn nhậu lang thang đúng tư cách kẻ không nhà. Từ quán nhậu ra suối Tà Rua đi ngang một đám rẫy trồng dưa hấu. Khát nước quá Út ghé vào ăn trộm trái dưa. Than ôi lúc túng cùng ngay trái dưa mà ăn cắp thì hết thuốc rồi. Vừa ngồi xuống Út nghe nhói ở ngón chân út. Nhìn xuống thì thấy một con rắn phóng vào bụi cây. Con rắn to bằng nửa cổ tay và dài khoảng bốn mươi phân. Hốt hoảng Út ngồi xuống và nhận ra hai dấu răng đang rỉ máu. Đúng lúc đó một thằng nhóc chừng bảy tuổi có mặt:
– Chú bị sao vậy?
– Tao bị rắn cắn mày ơi.
– Yên tâm… may mà ông gặp tui bằng không ông chết.
Nói xong nó bứt cọng dây rừng buộc bắp chân Út Chuột rồi dẫn ông trộm dưa vào chòi. Nó lấy lưỡi lam rạch một đường ngay vết cắn. Máu từ ngón chân ròng ròng chảy và Út nghe cơn nhức nhối dịu bớt đi:
– Ông biết rắn gì không?
– Không.
– Hổ Quạp đó.
Má tui nói – thằng cu tiếp tục – hồi năm nẳm mấy ông lính Thái Lan ở tiểu đoàn Mãng Xà Vương nuôi loại rắn này rồi thả vô rừng để giết mấy ông dziệt cộng. Rắn này độc lắm. Tui chỉ làm nhiêu đây giúp chú thôi. Lát nữa má tui về rồi tính tới. Chỉ có má tui mới biết cách trị tuyệt nọc loại rắn nầy.
Bà chủ tức má thằng cu về. Nghe nói bị rắn cắn bà nhai một miếng trầu, hớp một ngụm rượu rồi lẩm nhẩm như bị ma làm sau đó phun phèo phèo vào vết rắn cắn. Thật là thần diệu. Hết nhức nhối ngay tức khắc. Thiệt hú hồn hú vía. Và cái bà nầy sau đó là vợ Út Chuột. Thật là trong họa có phúc. Bà Út bỏ tiền ra chuộc xe bò còn ra tay thuê người phá cụm rừng sát bên suối Tà Rua làm rẫy. Út chuột không theo Ba Cụt ăn cắp cây nữa mà dùng bò kéo củi thuê cho chiến dịch khai thác trắng.
– Tao đi làm cho vợ chồng nó nên rành. – Ba Cụt nói –
– Sao cùng một thời mà ông Út vậy còn chú không có đất cắm dùi là sao?
– Bộ mày tưởng muốn là được sao? Phải có tiền chung chi mới tra được rựa vô phá rừng làm rẫy. Phải có cái tọng vô họng cho no bụng mới làm được hiểu chưa mấy ông con? Thằng Út tuy bị gái lừa nhưng còn hơn tao cổ xe bò. Tao thì tha phương cầu thực nên trên răng dưới củ từ.
Ngay lập tức Út Chuột có thằng con trai. Nó tên Minh. Năm sau bà Út đẻ thằng Mây rồi tiếp tục hai con Trinh và Trang. Một nhà đề huề hạnh phúc ấm no với hai héc ta mía và năm sào ruộng. Đời mà vậy cho đến chết thì cũng quá xá tốt rồi. Ngờ đâu “cái giàu đem đến dửng dưng, lọ là con mắt tráo trưng mới giàu”. Năm ấy rừng Tà Rua bể lớn một bãi vàng.
Ba Cụt tiếp tục:
– Cha con thằng Út trúng một cục to bằng bàn tay của tao và dày khoảng bốn phân. Cục đó nặng ba ký lô. Tức là trên dưới bảy chục cây vàng.
– Sao biết chắc vậy chú Ba?
– Tao có mặt và cầm cục vàng đó trên tay. Tao đặt nó lên cái cân đồng hồ Nhơn hòa và nó đúng ba ký.
Lúc đó con vợ thằng Minh anh thằng Mây chuyển bụng đẻ.
***
Từ Tà Rua ra cái trạm xá là năm cây số đường bộ. Ngay lập tức con Thúy – vợ thằng Minh – được cáng đi bằng võng. Cũng cần nói thêm để biết rằng những năm tháng ấy người ta đùa với tử thần riết nên quen. Bằng chứng là Út Chuột bị rắn cắn mà chữa bằng bả trầu và rượu là một minh chứng. Mấy thằng bị sốt rét uống nước rể ớt hiểm sau khi sao khô hạ thổ là minh chứng thứ hai. Tại sao đùa ư? Trả lời luôn: Chạy ăn muốn sặc gạch hơi sức đâu mà lo ba cái vặt. Đàn bà con gái bầu bì chuyện đi khám thai định kỳ là một cái gì đó xa xôi, hàng quý tộc mới dám rớ chứ bần cố nông thì kệ bà nó đi. Gia đình Út Chuột nằm ở dạng liều số một.
Nhỏ Thúy sanh xong thì chuyển tốc hành lên phố lớn vì bị băng huyết. Trước khi bãi vàng Tà Rua nổ ra thì xứ sở nông nghiệp nầy ai có chiếc 81 kim vàng giọt lệ là người người đưa mắt ngưỡng mộ mà ngắm nhìn. Chả ai có lấy một chiếc bốn bánh. Bãi vàng nổ ra quý vị bán thuốc sơn đông lưu động đến ngày một. Đoàn này đi đoàn kia đến phục vụ cho quý khách lưng đau đầu gối mỏi vì nằm sương nếm mật. Út Chuột thuê ngay một bốn bánh chuyên trị cao đơn hoàn tán đưa con dâu tức khắc lên đường. Thời may tay chủ xe thuốc rất rành đường đi nước bước của Sài Gòn hoa lệ nên sản phụ đến Từ Dũ vẫn còn bình an vô sự.
Máu được chuyền. Thuốc được tiêm. Ba-by được nuôi đặc biệt trong lồng kính. Tất cả không nghĩa địa gì vì Út Chuột bây giờ có trong tay trên dưới tám chục cây vàng. Có còn chi nữa để âu lo? Tiền lớn. Bệnh viện lớn. Bác sĩ uy tín nhất…. Chao ôi vậy mà không cứu được mới là đáng hận. Bác sĩ báo cho người thân biết rằng sản phụ vô phương cứu chữa vì bị xuất huyết:
– Lý ra – bác sĩ nói với bà Út – con của chị phải được khám thai định kỳ. Đây là một trường hợp đặc biệt. Rất đặc biệt…
Nói rồi bác sĩ mời bà Út và Minh vào phòng sản phụ. Hai tay người mẹ tội nghiệp là máu và nước biển đang chuyền. Vị bác sĩ lấy một mũi kim và châm nhẹ vào dái tai sản phụ. Ông ta đặt vào vết châm một miếng bông gòn. Chỉ một lát miếng bông đẫm ướt máu. Bà Út và Minh ngơ ngác nhìn:
– Máu không cầm. Bà hiểu không? Chuyền bao nhiêu cũng bằng không. Chúng tôi đã làm mọi cách có thể nhưng đành chịu. Ngân hàng máu thì đã cạn loại máu dành cho con bà… tôi nói mong bà hiểu.
Đến cái nước này thì kim cương còn chết nói chi vàng. Về sau khi bình tâm lại thằng Minh kể rằng mỗi khi đến kỳ vợ nó những nửa tháng mới bình thường. Đàn ông con trai mới lớn nên Minh nào có biết chi. Vợ nó cũng mới nứt mắt đã có chồng nên mù câm. Thực vậy. Thằng Minh mười bảy đã lấy vợ và con Thúy mười sáu. Tà Rua là cái xứ rừng sát bên nhà. Thúy đi làm thuê cho vợ chồng Út Chuột nên gặp Minh. Anh trai nhà có mía có ruộng có bò yêu mình. Anh lại đẹp trai ngu sao không yêu lại. Lấy anh là hết kiếp làm thuê liền – má Thúy nói vậy.
Mười chín tuổi mất vợ Minh khóc như mưa. Ông bà Út ôm cháu nội cho bú sữa ngoại. Thuở mà dân uống cà phê chủ quán phải bỏ đường vào ly có định lượng, chả quán nào dám bỏ hủ đường ra bàn vì sợ khách uống trà đường. Vậy mà thằng Mèo được bú sữa Guigoz thì quá xá là quý tộc. Không có tám chục cây vàng thì sữa ông thọ còn không có. Ông bà Út ôm cháu nội dỗ dành. Chăm trẻ không mẹ thuở lọt lòng thì chỉ ông và bà mới được chứ cô gì chú cậu thì xin thua.
Năm Mèo lên hai cha nó có vợ khác. Rồi chú rồi cô ai có gia đình riêng nấy. Ông bà Út Chuột chia đất đai đồng đều cho tất cả phòng hiểm họa về sau. Đứa nào cũng mẫu mía dăm sào ruộng cặp bò. Thằng Mèo ở với ông bà nội và được cưng đúng cái nghĩa nâng trứng hứng hoa. Ông bà có câu con hư tại mẹ cháu hư tại bà. Là do bà và mẹ cưng quá chăng? Dám vậy lắm. Đằng này thằng Mèo được cả ông và bà nội chiều thì hư hao âu cũng phải. Năm lớp tám nó đòi bỏ học nếu ông bà nội không mua cho nó cái xe máy. Có xe rồi nó bỏ học theo chúng bạn đua thâu đêm suốt sáng. Rồi ăn nhậu rồi phá quán rồi đánh nhau… ông và bà Út lo cho cháu thiếu điều sói trán. Họ lên tăng xông là điều không thể tránh. Còn cha nó đâu? Than ôi! Đàn ông thì mười thằng hết sáu đội vợ lên đầu. Con vợ nói: “ tui mới nói một tiếng cha má anh đã nạt là mày biết cái gì mà xen vô…” Thôi thì ông bà nội lo vậy.
Dân Tà Rua nhìn cảnh hai ông bà già cầm tiền đi bồi thường cơm thuốc cho người bị cháu mình gây ra mà tội nghiệp. Họ tin rằng, chắc rằng, trăm phần trăm rằng thằng Mèo mà có mệnh hệ chi là hai ông bà này đứt bóng vì lên máu. Y như rằng. Có rượu vô thằng Mèo phóng 125 phân khôi lao vô trụ điện. Hai ông bà già ra đi cùng một ngày. Thiên hạ nói:
– Ba cái vàng đào được ở Tà Rua nầy xưa kia của người Champa… nó thiêng lắm. Mười người trúng vàng thì đúng mười thân bại danh liệt… rồi đây bầy con vợ chồng Út Chuột sẽ giết nhau vì đất đai vườn tược. Thằng Minh và ba đứa em nó cùng mẹ khác cha. Khác máu tanh lòng mấy người tin tui đi…
Ba Cụt cãi rằng:
– Vàng bị ếm cái con khẹc… bọn mày đúng là mê tín ba láp ba xàm. Vàng nào chả là vàng. Tất cả đều từ đất mẹ mà ra chứ không hề trên trời rơi xuống. Nó có bổn phận giúp con người sang cả chứ không hề gây họa. Và đời sống của bọn mình ai chả mong kiếm chút ít phòng khi hữu sự. Có điều chuyện nhà Út Chuột và chuyện nhà tao y một khuôn. Nếu con cái tao không ra ôn gì trong chuyện học hành vì nghèo quá thì thằng Mèo ngược lại. Nếu vì miếng cơm manh áo không còn thời gian để kèm cặp nên con tao được khoán trắng cho nhà trường. Trường lớp thì giáo dục con em mình một ngày được mấy tiếng bây nói tao nghe coi? Tựu trưng gia đình là cốt lõi. Đã nhiều lần tao cảnh báo thằng Út Chuột cưng thằng Mèo vừa thôi. Nhưng – Ba Cụt thở dài – cái sự yêu thương con cháu đến tối mắt. Không thương sao được khi nó không cha không mẹ? Đánh không nỡ, la không đành nên con cháu ỷ thế mà hư hao…
Cũng có cái tụi mày nói đúng – Ba Cụt tiếp tục – bầy con Út Chuột đứa nào cũng không xong tiểu học. Bọn nó lớn lên trong ruộng đồng theo bản năng nhiều hơn lý trí. Anh em nó giết nhau vì tài sản Út Chuột để lại là có…
Nhân bảo như thần bảo. Ba Cụt nói linh như miểu. Ông và bà Út chuột cùng đứa cháu chưa xanh ngọn cỏ bầy con đã lục tung tủ giường bàn ghế đào cả nền nhà truy tìm vàng cất giấu. Chúng kéo nhau ra tòa đòi phân chia tài sản. Anh em thằng Mây một phe, thằng Minh một phái.
Buồn quá Ba Cụt nâng chén rượu hát rằng : “Đời phu du có nghĩa chi… những lợi danh sẽ tan thành tro…”

NGUYỄN TRÍ