Tác Phẩm Mới: Chàng Từ Nhã Ca Bước Ra

CHÀNG TỪ NHÃ CA BƯỚC RA là một tập thơ của Mục Sư TRẦN NGUYÊN ĐÁN ra mắt bạn đọc tại văn phòng Oneway Radio Sài Gòn vào đêm 20/1/2019.
LỮ THÀNH KIẾN là tên khai sinh.
Ông đã từng viết cho các tuần báo, bán nguyệt san như TUỔI HOA, TUỔI NGỌC, NGÀN THÔNG, VĂN, THỜI TẬP, KIẾN THỨC NGÀY NAY v.v…ở SÀI GÒN với các bút danh THƯƠNG VŨ MINH, PHẠM KHÁNH VŨ… và được các bạn trẻ thời ấy ngưỡng mộ yêu mến.
Hiện ông định cư tại Hoa Kỳ, nghề tay phải: Rao giảng lời Chúa và Giám Khảo cuộc thi VIẾT VỀ NƯỚC MỸ hàng năm được tổ chức định kỳ của tờ VIỆT BÁO; nghề tay trái: Hát, làm thơ, viết văn với bút danh TRẦN NGUYÊN ĐÁN.
( Tiếc rằng không được thông tin sớm để các bạn viết và bạn đọc ngày xưa đến tham dự và chia vui cùng bạn)

Chàng Từ Nhã Ca Bước Ra

chàng từ ban ngày bước vào trong đêm
từ trong bóng đêm nở một đóa quỳnh
sự nhạy cảm của quỳnh lan hoa tím
sự gợi cảm của đêm buồn mưa nghiêng

từ trong nhã ca chàng bước ra ngoài
mùi hương dậy thì của suối trên vai
tiếng thở mê mệt của bầy chim sẻ
giọng cười hổn hển mất dần trong mây

tôi từ bên ngoài bước vào trong chàng
chàng lấn vào tôi rừng núi bạt ngàn
giữa những san hô, đá và cây cỏ
mùi của rong rêu, hoa biển và trăng

nếu có một lần, và chỉ một lần
tất cả xuân thì của gió tràn dâng
căng những cây dù rách bươm trên cát
bay vào cơn say cuồng nhiệt ái ân

chúng tôi sẽ cùng dạ vũ đêm nay
rót những ly rượu không bao giờ đầy
và những niềm vui không bao giờ cạn
sẽ không bao giờ chấm dứt cơn say

Tôi Rất Yêu Chàng

chàng là ai, hoàng tử của lòng tôi
trong giấc mơ tôi chạy vội đến người
chàng ôm tôi vòng tay như nắng ấm
nụ cười chàng là ánh sáng ban mai

chàng là ai, ai định nghĩa được chàng
chàng là trăng là sao là mênh mang
trên dòng sông chảy dưới gầm cầu thấp
những con thuyền trôi mầu hoa mộc lan

chàng là của tôi chỉ một mình tôi
chàng đứng cùng tôi và ngồi cùng ngồi
tôi ăn bữa tiệc do chàng chuẩn bị
thức ăn chàng có mùi hương đôi môi

tôi có khi buồn như chiều đang tàn
vài đám mây trôi về đâu lang thang
tôi không biết chàng đang đi bên cạnh
chàng không nói gì, nhìn tôi bâng khuâng

khi tôi ngủ trong đêm dài mông mênh
mới vừa hôm qua lại khóc một mình
tôi mơ thấy giữa những vòng hoa tím
khuôn mặt chàng buồn hơn tôi trong đêm

LỮ THÀNH KIẾN

Advertisements

DI NGÔN

Rồi anh sẽ gối đầu lên giấc mộng
ngủ quên đời trong giường mộ bình yên
em hãy khuấy hai tay làm biển động
che giùm anh tiếng đại bác vang rền

Xin em hãy liệm anh bằng tiếng hát
đắp mặt anh bằng mái tóc em buồn
cho anh quên những xác người tan nát
những kẽm gai còn rào kín tâm hồn

Em có nhớ, thắp hương bằng nước mắt
ngọt vô cùng anh sẽ uống no say
để anh quên chuyện trần gian đói khát
chén cơm đen muối mặn nuốt qua ngày

Và em hãy viết thư bằng cổ tích
đừng nhắc chuyện quê hương chinh chiến hận thù
anh sẽ tưởng hồn anh không xiềng xích
bay tìm em dù gió cát, sương mù

Anh sẽ dựng nhà với chân tay làm cột
giăng mùng cỏ xanh ngồi đợi em về
hai chúng mình sẽ bắt đầu hạnh phúc
tủi nhục này rồi con cháu quên đi!

TẦN HOÀI DẠ VŨ

mai về ngậm nắng tháng giêng

ngọt thơm nào của tư riêng
mai về ngậm nắng tháng giêng quê nhà
ngổn ngang đời với phong ba
bước chân luân lạc rong qua tuyệt mù

hồn thơ nhập cánh phù du
bay trong mắt khói… hời ru bãi bờ
vài giây sinh, tử ai ngờ
hình ta khoác áo sương mờ nhớ sông

tím hoa hoài niệm theo dòng
tuổi thơ biền biệt nao lòng hay chưa
xin đừng lỗi hẹn mùa xưa
ngày đông dần cạn xanh mưa xuân hồng

ta ơi, thôi nhé phiêu bồng
câu thơ ngậm nắng trổ bông hoa cười.

KHA LY CHÀM

Tháng chạp cuối ơi buồn chết được

Tháng chạp cuối ơi buồn chết được
Nhành mai mưa đá héo queo rồi
Bánh tét dưa chua cùng kẹo mứt
Gom về cũng để tết nhìn chơi

Hồi trẻ mơ ơi trời viễn xứ
Phơi trong mưa tuyết ngẫm thơ nàng
Cỡi ngựa làm cao bồi Texas
Phì phèo cao tốc lái bon bon

Giờ tuyết vẫn rơi ngoài khung cửa
Người núp phòng riêng chat chit thơ
Rượu vẫn còn nguyên chưa mở nắp
Trên bàn gói thuốc rất bơ vơ

Trái tim khi đói tìm phương khác
Phương nào cũng rối loạn như tơ
Về với quạnh hiu đời tan nát
Mót đời như cuộc tú lơ khơ

Tháng chạp cuối ơi buồn chết được
Mà không buồn chết được bao giờ …

Nguyễn Hàn Chung

HỘI XUÂN MIỀN BẮC NGÀY ẤY

Tản Văn

Đây cả mùa xuân đã đến rồi
từng nhà mở cửa đón xuân tươi
từng cô em bé so màu áo
đôi má hồng lên nhí nhảnh cười.
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Pháo nổ đâu đây khói ngợp trời
nhà nhà đoàn tụ dưới hoa tươi
lòng tôi như cánh hoa tiên ấy
một án thơ đề nét chẳng phai.

Nguyễn-Bính “ Thơ Xuân “

Mỗi độ xuân về . . .nhi đồng, thiếu niên thì nao nức đếm từng ngày đợi tết, thanh niên nam nữ thì xao xuyến trước hương xuân như không khí trong bài “ thơ xuân “ của Nguyễn-Bính. Riêng tầng lớp trung niên, thất thập cổ lai hy thì ngồi bên cốc trà, ly rượu để bâng khuâng hồi tưởng lại những xuân xưa, thầm tiếc cho những cái tết cổ truyền đã qua. Tết xưa có rất nhiều hội hè gọi là “Xuân Bách Hí “, xuân có trăm trò vui nồng nàn bản sắc dân tộc. Có xuân vui thật trữ tình, lãng mạn, có thú vui thật thanh tao, nho nhã. Nhưng mọi xuân vui đều mang một ý nghĩa quyện trong hồn thiêng sông núi trải dài từ bắc chí nam.
Với cuộc sống tất bật bộn bề hiện nay, tết chỉ thật sự đến vào ngày 30, mồng 1 nhưng với người xưa thì tết bắt đầu từ đêm 23, đêm cúng đưa ba Ông Táo về trời để tâu sớ mọi việc ở hạ giới với Ngọc-Hoàng. Thời ấy cách đây hơn thế kỷ, Trần-Tế-Xương đã nâng cốc chúc ba vua bếp trong nụ cười châm biếm, hóm hỉnh :

Ba ông Vua Bếp dạo chơi xuân
đội mũ đi hia chẳng mặc quần
Trời hỏi làm sao ăn vận thế ?
Thưa rằng hạ giới nó duy tân.
[ Vua Bếp Chơi Xuân – Trần-Tế-Xương ]
Sang ngày 24 AL là lễ khép ấn. Lễ khép ấn diễn ra thật long trọng từ triều đình cho đến các làng xã, những vị vua nhà Nguyễn thời ấy thì đóng lại ngọc tỷ, từ phủ huyện cho đến hương lý thì rửa sạch con triện bỏ vào tráp, bao nhiêu việc quan, việc dân xem như khép lại, nếu lỡ gặp việc trọng đại các quan bất đắc dĩ mới hành xử, còn những việc tuế toái như đánh lộn, trộm cắp, kiện cáo nợ nần . .thì tạm thời giam lại đó, đợi qua ba ngày tết chọn giờ lành ngày tốt mới gọi lên công đường khai ấn.
Sau ngày khép ấn các quan tha hồ vui chơi, rượu chè, cờ bạc, đàn ca xướng hát bằng thành quả của một năm thu hoạch của bàn dân thiên hạ. Cùng với ngày khép ấn thì bà con nhà nhà cũng khép lại bao việc ruộng nương, đồng án tứ cao nguyên cho đến biển xanh để chuẩn bị đón tết. Chùa chiền bắt đầu treo phướng, làng dựng nêu để dành đất với ma quỷ. [ thường các gia đình chiều 30 mới dựng nêu ]. Nhưng nàng xuân chỉ có quyền khai hoa nở nhụy khi có lệnh vua sau lễ ban sóc.

Xuân từ trong ấy mới ban ra
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

Tú Xương

Ban sóc là ngày nhà vua ban lịch có ấn tín cho tất cả thần dân biết thời điểm năm cũ chuyển sang năm mới bằng một cái lễ hết sức trọng thể ở hoàng cung. Triều đình Huế thời ấy, các quan từ huyện, phủ phải theo về tập trung hai hàng văn võ theo thứ tự phẩm trật. Ở giữa điện Thái-Hòa trên bệ cao có đặt một cái ngai sơn son thếp vàng, dù có vua hay không, các quan vẫn làm lễ hết sức cung kính như thể vua đang ngự ở đó. Xong lễ nghi mới được nhận lịch, đinh ninh rằng, nàng xuân sẽ theo lệnh vua nẩy lộc khắp nơi khắp chốn.
Sau lễ ban sóc, nhân dân mới tha hồ mua pháo, nấu bánh chưng, làm đủ loại bánh mứt theo phong tục mỗi miền, nhà nhà quét dọn, dựng nêu, treo câu đối . . .nợ nần chạy ngược chạy xuôi, bên đòi bên trả và cũng không thiếu cảnh cãi vả chưởi bới nhau cuối năm xôn xao cả góc làng góc xóm.
Nay trước thềm xuân Kỷ Hợi [ 2019 ] , mặc dầu ngày tết chưa tới nhưng sao những cánh mai vàng trước sân đã vội nở, lòng chợt bồi hồi nhớ lại những ngày xuân xửa xuân xưa với bao hội hè đã làm nao nức hồi hộp nhiều thế hệ cha ông. Bởi vậy xin gởi hồn về quá khứ để nhớ lại một vài hội lễ vui xuân của dân tộc ở miền bắc mỗi năm vào tết cổ truyền.
ĐÁNH VẬT:
Hội vật ở làng Mai-Động, tổ chức hằng năm vào mồng 4 – 5 – 6 tháng giêng AL, trong làng có đền thờ Bà Lê-Chân, nữ tướng tiên phong của Hai Bà Trưng.
Thủa xa xưa, nữ tướng Lê-Chân đã tổ chức những hội vật để tuyển tướng. Khi quân của Mã-Viện sang xâm chiếm nước ta, Hai Bà Trưng đã sai Bà Lê-Chân cầm quân chống giặc ở hồ Lãng Bạc, Bà đã dũng cảm ngăn bước quân thù nhưng không chống nổi tài thao lược của Mã-Viện với hai phó tướng là Phù-Lạc Hầu Lưu-Long và Đốc-Lâu Đoàn-Chí. Cuối cùng Bà Lê-Chân phải rút quân về Mai-Động và tuẩn tiết ở đó. Dân làng Mai-Động lập đền thờ Bà và tôn làm Thượng Đẳng Phúc Thần Công-Chúa. Hằng năm sau tết Nguyên-Đán, dân làng mở hội “ Chọi Vật “ để tưởng nhớ những cuộc thi tuyển võ tướng của Bà Lê-Chân.
Vật là một môn võ kết hợp cả sức, miếng, thế rất được giới bình dân khâm phục. Thời bình đó là môn giải trí kích thích lòng người, còn thời chiến là môn võ để tự vệ và chiến đấu rất hữu hiệu. Ở những miền quê đất bắc, thanh niên trai tráng ai cũng có vài miếng võ vật. Ngày xưa có rất nhiều tay đô vật nổi tiếng như ở làng Chung Màu, làng Yên Xã tỉnh Bắc-Ninh, làng Vị-Thanh, làng Hội-Hạ ở Vĩnh-Yên, làng Mộ-Trạch ở Hưng-Yên, làng Mai-Động . . .
Đánh vật tất nhiên là dùng sức nhưng muốn thắng địch phải giỏi thế và dùng miếng mới quật ngã được đối thủ gọi là “ vật ngã trắng bụng “ hoặc nhấc bổng đối thủ lên mới gọi là thắng cuộc. Hội vật thường tổ chức trước đình làng, già trẻ lớn bé ai cũng nô nức cổ vũ. Giải vật gồm ba giải chính : Nhất, nhì, ba và nhiều giải hàng, giải hàng là giải khuyến khích, kích động tinh thần thượng võ, thường cho đấu trước khi diễn ra cuộc đấu chính. Ba giải chính đấu vào ngày chính hội, thường người chiến thắng năm trước giữ giải đợi đối thủ phá giải, nếu trong ba ngày không có ai thách đấu, theo luật, người giữ giải là người thắng cuộc tiếp tục giữ giải cho đến năm sau.
Thể thức vật là, hai bên đều trần truồng chỉ đóng một cái khố che bộ hạ. Khố của các đô vật có màu xanh, vàng, hồng điều bằng lụa, bằng nhiễu. Đó là những vuông nhiễu, lụa họ đã đoạt được trong những lần thắng giải trước đây. Khi vào cuộc đấu, hai đô vật phải bái vọng Thần-Hoàng của đình làng rồi mới diệu võ giương oai, xông vào ôm níu nhau dùng những miếng đòn quét ngáng cho đối thủ ngã xuống, hoặc dùng đầu húc vào bụng, nhấc bổng đối thủ lên. Có những đô vật thất thế phải vội nằm sấp xuống đất bò nhoài như con chạch mặc cho đối thủ tìm đủ mọi cách quật ngữa họ lên, rồi lựa lúc địch thủ hớ hênh họ bật dậy tiếp tục cuộc đấu. Lúc hai đô vật quần thảo, bà con ở ngoài chia làm hai phe, bên nầy bên kia la hét vang trời, còn các cụ đánh trống như thúc quân ra trận. Trên đài thường có một tuần đinh cầm cái trống quân chạy quanh hai đô vật đánh “ bùng ! bùng ! “ bên tai họ để “ thúc thúc ! giục giục ! “, tiếng trống càng dập dồn khi hai đô vật ra đòn ra thế quyết dành lấy giải vàng.
Ngày hội vật chính thực hào hứng làm xôn xao hồn xuân những ngày đầu năm mới.
Các giải chính có tỷ lệ :

Giải nhất trong 6 ngoài 5
Giải nhì trong 5 ngoài 4
Giải ba trong 4 ngoài 3
Theo luật chơi thì người giữ giải phải thắng luôn 6 đối thủ, còn người phá giải chỉ cần 5 thắng là đoạt được giải và các giải nhì ba cũng theo tỷ lệ như vậy. Lệ thường giải ba vật trước rồi đến giải nhì. Mỗi lần có đô vật thắng, làng đánh trống thật rộn ràng rồi đốt chúc mừng người chiến thắng một phong pháo.
Đến giải chính mới thật sự sôi nổi hào hứng. Khi hai đô vật đã loại hết đối thủ, họ ra đòn, lừa nhau từng động tác khiến người xem hồi hộp, thú vị tưởng chừng như chính mình đang tham dự cuộc đấu trong những ngày đầu xuân vậy.

ĐÁNH TRUNG BÌNH TIÊN:

Trung bình tiên là một cây thảo dài hơn hai sải tay, khi vào thế phải xuống trung bình tấn, thời trước ở miền bắc, thanh niên trai tráng rất mê luyện tập, tương truyền môn võ nầy có từ thời Vạn-Thắng-Vương Đinh-Bộ-Lĩnh, Ngài đã dùng thảo roi để luyện tập ba quân tướng sĩ và để nhớ lại thời cờ lau tập trận trong thủa còn chăn trâu.
Đánh trung bình tiên còn gọi là đánh thảo, đánh roi. Ở huyện Vũ-Tiên, tỉnh Thái-Bình có thảo đường Ô-Mê, tại phủ Vĩnh-Tường, tỉnh Vĩnh-Yên, thanh niên rất mê say môn võ trung bình tiên. Thường các làng xã tổ chức lễ hội vào mồng 6 tết. Đó là ngày hội kích thích tinh thần thượng võ, quy tụ nam phụ lão ấu khắp nơi về dự hội trong những ngày đầu năm mới.
Đánh trung bình tiên là hai võ sĩ thượng đài thi đấu, vũ khí là một cây gậy dài được bịt bằng vải để tránh nguy hiểm, đầu gậy được nhúng vào nước vôi để khi đánh trúng đối phương còn để lại dấu trên mình và lấy đó mà tính điểm. Ai đánh trúng đối thủ vào chỗ hiểm nhiều nơi trên thân thể thì ban giám khảo lấy đó mà tính điểm để quyết định người thắng cuộc, Thường trận đấu có nhiều hiệp được phân ra theo động tác của hai đối thủ. Trung bình tiên là môn võ hữu dụng trong thời chiến, một mình có thể chống cự được nhiều kẻ địch. Ông cha ta đã biến hóa thành thú vui lễ hội đầu xuân để giữ gìn khơi dậy bản lĩnh tự cường của dân tộc trước hiểm họa giặc phương bắc luôn luôn dòm ngó. Thời bình thanh niên rất ưa thích luyện tập để tham dự những ngày hội và để bảo vệ nhà cửa phòng khi có trộm cướp.
Với cây trung bình tiên bằng tre đặc, một người có thể tả xung hữu đột với bọn cướp hoặc đám côn đồ quậy phá, thời bình là môn võ đem thú vui trong lễ hội nhưng thời loạn trung bình tiên là môn võ hữu hiệu để chiến đấu với kẻ thù.

ĐÁNH PHẾT:

Đánh phết cũng như môn thể thao khúc côn cầu ngày nay, khác biệt là quả phết bằng gỗ to như bong bóng trâu thổi phồng, nặng như quả tạ. Người chơi phải thật khỏe mạnh mới đánh nổi, tương truyền đánh phết là môn thể thao ưa thích của Hai Bà Trưng, vừa để giải trí, vừa để cho ba quân luyện tập cơ thể để chiến đấu.
Gậy đánh phết là một gốc tre đào nguyên cả cây chặt dài khoảng 1m, vạt bỏ rễ lấy gốc cong cong, vì vậy người chơi phết phải khí lực mới vung được gậy phang vào phết. Chơi phết chia làm hai đội, phải chọn khu đất rộng, mỗi bên đào một cái hố tròn. Khi hai đội vào cuộc đấu phải lừa phết bằng gậy như cầu thủ lừa bóng, làm sao đánh phết rớt xuống hố mới được tính điểm, nhưng phải coi chừng khi tinh thần tranh thắng dâng cao thì những chiếc gậy tre kia sẽ trở thành quả chùy nguy hiểm, đối thủ nào không kịp né tránh những đối thủ phang trật vào phết thì chỉ có đường cấp cứu phải rời sân.
Thủa xa xưa khi nữ binh chơi phết Hai Bà Trưng thường ngự lãm treo giải thưởng để cổ động tinh thần tướng sĩ. Khi Hai Bà thua Mã-Viện nhảy xuống sông Hát-Giang tuẩn tiết, tướng sĩ của Hai Bà có nhiều người chết theo để giữ lòng trung. Tướng Cao-Nguyên sau khi trầm mình xác trôi về phủ Vĩnh-Tường ở Phong-Châu, dân làng Thượng-Lập vớt lên mai táng lập đền thờ. Những làng có thờ các danh tướng thời Hai Bà Trưng hằng năm đều tổ chức hội đánh phết để tưởng nhớ thời oanh liệt của đoàn nữ binh.
Ngày xưa chơi phết đều là đàn bà con gái nhưng về sau các làng Bình-Đại, Thượng-Lập . . .các cụ cho thanh niên trai tráng giả làm gái để chơi phết trong những lễ hội mùa xuân. Chơi phết là môn khí lực tràn trề sức sống, đúng như câu nói “ vui ra phết “. Những lễ hội đầu năm ở miền bắc ngày ấy đầy tinh thần thượng võ, tôi luyện dũng khí của dân tộc, hẳn đó cũng là một trong những tầm nhìn xa trông rộng của tiền nhân trước hiểm họa giặc Tàu luôn luôn mưu đồ xâm chiếm.

VƯƠNG KIỀU

XUÂN NHỚ

ngocbut


Thơ Huyền Chi-Trích trong tập Cởi Mở xuất bản năm 1952

Giá băng xuân đến thành đô,
Đêm nay không rượu giang hồ mà say!
Có nghìn tay nắm nghìn tay,
Lòng đang trĩu nặng một ngày xuân sang.
Ai xây trên cảnh hoang tàn,
Máu xương trên những mộng vàng mà vui!
Hương thề chưa cạn ly bôi,
Vội gì khi xếp những lời sắt đanh.
Mái đầu trai tráng đương xanh,
Có ai nỡ sống yên lành được đâu?
Gái lành đóng cửa vườn dâu,
Trai lành tô lại những màu sắc xưa…
Súng che tiếng pháo giao thừa,
Nửa đêm trừ tịch nghe mưa mái ngoài.
Đêm nay có vạn hồn trai,
Lắng mùa xuân đến lạc loài mà đau!
A ha! Mấy vận thơ sầu,
Vẫn không lấp được ngàn câu tâm tình.
Nghe đời réo khúc điêu linh,
Cười vang nuốt một bất bình xót xa.
Xuân về huyên náo phồn hoa,
Đào tươi như máu người ra sa trường.
Tanh tanh ly rượu đầy hương,
Có ai hiểu được nỗi buồn thiên thu?
Cố nhân đâu? Cố nhân chừ!
Mắt xanh đã nhắm ưu tư giữa đời.
Áo cơm chưa tủi kiếp người,
Thơ chưa chắc tả hết lời người xưa.
Mấy năm ly loạn chưa mờ,
Đời người không khác nước cờ đổi thay.
Lấy gì đã gọi là say,
Dăm ba đứa bạn của ngày ra đi…
Mấy năm xuân đến kinh kỳ,
Đứa xuôi, đứa ngược, nghĩa gì, chao ôi!
Giờ đây có lẽ xa xôi,
Bao nhiêu lòng vọng về tôi phút này,
Cười lên tan vỡ đêm nay,
Quay về quá khứ đón ngày xuân xưa…

Trầm hương toả đón giao thừa,
Chua cay nâng chén say mùa chiến chinh.

NGỌC BÚT

Nhắn quê xa lắc tiếng kêu thầm


Gửi quê và bạn bè tôi

Ba mươi năm làm thân lữ thứ
Áo cơm xoay tít chốn thị thành
Lòng đâu lưu lạc mà xa xứ
Nên rượu giang hồ rót dửng dưng..

Tết đến ngâm tràn câu tống biệt
Xé lòng câu hát buổi ra đi
Đời không ly biệt làm sao biết
Tiếng gọi đò ơi lạnh bến về

Rượu có say đâu sầu nghiêng chén
Vẫn ướt đời buốt dập đôi môi
Nhớ quê muốn khóc thôi đành nén
Mà ngóng chân mây bật tiếng cười

…Gửi quê cuộc đời tôi lầm lỡ
Chỉ một lần cũng đủ trăm năm
Ngậm một trời đau nơi phố chợ
Nhắn quê xa lắc tiếng kêu thầm..

Nguyễn Minh Phúc

Thả tờ lá biếc…

Mùa xuân
giã phố về non
núi xanh động biếc
đôi con bướm hồng
tơ trời sợi khói mênh mông
hay là bụi sóng dưới giòng thác reo
ta ngồi phiến đá cheo leo
ngó xuân biêng biếc trong veo lưng đồi

Mùa xuân
biệt núi ngàn khơi
về ngang phố cũ
đón mời bạn xưa
rượu hồng bếp lửa giao thừa
dường như ngoài ngõ chút mưa xuân đầu
ta ngồi đêm xuống đã lâu
nghe xuân khe khẻ hát câu mê tình

*

Mùa xuân
lễ lạc sân đình
rồng bay phượng múa
cung nghinh xếp hàng
đì đùng pháo nổ liên tràng
tụm năm tụm bảy bên đàng hò reo
ta ngồi một chỗ vắng teo
thấy con chim mộng bay vèo thực hư

Mùa xuân
đọc sách án thư
bỗng dưng mặc khải
khởi từ thiện tâm
lại rồi biệt phố âm thầm
về non thấp ngọn hương trầm tạ ơn
ta ngồi trên đỉnh cổ sơn
thả tờ lá biếc vào cơn mê hồng

Phạm Quang Trung

HỒ TRƯỜNG RÓT VỀ ĐÂU…

rượu này không rót về phương bắc
hướng giặc lăm le cướp nước tôi
rượu chẳng rót về phương nam
sợ mẹ và em tràn nước mắt

rượu chẳng rót về đông phương
nơi bầy sói lang đang xâu xé ..
rượu này không rót về tây phương
Nỗi nhục trăm năm chưa xóa hết

hồ trường! hồ trường!
nay biết rót về đâu?
hồ trường
không rót về đâu cả!
chỉ rót vào lòng cho bớt đau

và xin được rót vào đất Mẹ
ấm chút thịt xương anh em nằm
nơi ấy không còn phân biệt nữa
tất cả đều con của Mẹ thôi

ôi, những đứa con
hồn còn vất vưởng!
thiên địa mang mang
ai hồn tri kỷ?
hãy về đây
cùng nhau
cạn một hồ trường!

(bốn phương
tám hướng
trĩu buồn

còn phương
Thiên -Địa
mộng cuồng
hóa vui?)

TRẦN HỒ DŨNG
Saigon 2009 – Washington, Jan 2019 .