THƠ HÃY NÓI, TÔI NGHE

Tôn Nữ Thu Dung làm thơ (và viết văn) rất sớm, vào thập niên 70 khi còn là một nữ sinh trung học của miền Nha Trang cát trắng. Vừa xuất hiện, thơ văn của Tôn Nữ Thu Dung nhận được sự chú ý đặc biệt của những người phụ trách toà soạn các tạp chí Tuổi Hoa, Tuổi Ngọc. Thơ văn ấy có nét tươi mát của tuổi trẻ, đồng thời mang hơi hướng của một tâm hồn đã trưởng thành. Ấy thế mà thơ văn ấy không có vẻ “bà cụ non” một chút nào. Chúng như lời tự sự của một tâm hồn tươi trẻ mà chín chắn (mang thêm một chút/khá nhiều nét lãng mạn quyến rũ.) Cho đến nay, đã một nửa thế kỷ trôi qua, vẫn có những người lưu giữ nhưng trang thơ văn ấy như những báu vật của một thời văn chương mật ngọt ở miền Nam Việt Nam thuở trước.

Ra nước ngoài, Tôn Nữ Thu Dung là cây bút Tuổi Hoa, Tuổi Ngọc tiếp tục sáng tác và xuất bản nhiều nhất và đều đặn nhất. “Con Chim Nhặt Hạt Ngô Đồng, Còn Tôi Lơ Đãng Nhặt Hồn Cỏ Hoa” là tập thơ mới nhất, lạ nhất với cái tên dài kỷ lục đầy sáng tạo vừa hoàn thành ở hải ngoại, do Tương Tri xuất bản và phát hành.

Thơ Tôn Nữ Thu Dung quá đa dạng, có tính trong sáng, tươi mát, chín chắn và lãng mạn. Theo dòng thời gian, tính tươi mát bớt đi nhưng sâu sắc nội tâm thì tăng lên. Nét lãng mạn vẫn rất rõ, khác chăng là cách biểu lộ nét lãng mạn ấy.

Nếu phải định nghĩa về thơ (mà thật ra không nên và không cần định nghĩa) thì “thơ là ý tưởng và tình cảm lắng đọng trong hình ảnh và ngân vang trong nhạc điệu, được diễn tả bằng ngôn từ, làm rung động tâm hồn người đọc.” Nếu định nghĩa như thế thì thơ của Tôn Nữ Thu Dung quả thật là… thơ, trong đó có ý tưởng, tình cảm, nhạc điệu, ngôn từ khiến cho tâm hồn người đọc rung lên theo từng câu thơ, từng từ ngữ.

Tôi đọc “Con Chim Nhặt Hạt Ngô Đồng…” một cách chậm rãi (không chậm chạp) để cho ý thơ, lời thơ thấm vào tâm và thức; từ đó khám phá ra khá nhiều điều.

Tôn Nữ Thu Dung có lối lặp lại một nhóm từ vựng. Điều này khiến người đọc phải để tâm, ý vào lời thơ, vì mỗi một lần lặp lại nhóm từ vựng đó, nhà thơ dẫn dắt người đọc vào một ngõ ngách tâm hồn khác, một cảnh vực đời sống khác.

Điển hình, xin cùng tôi đọc vài đoạn trong “Có Một Điều Rất Lạ” với nhóm từ ngữ “Khung cửa nhỏ- mở ra-.”

Ở tấu khúc 1, “Khung cửa nhỏ- mở ra-” dẫn ta vào “ngày nắng hạ” trong đó có
Ngày thương yêu, thuở ấy,
nắng Sài Gòn.
Những hàng cây ven đường lay bóng lá.
Chỉ dám nhìn- guốc mộc- gót chân son.

Ở tấu khúc 2, “Khung cửa nhỏ- mở ra-” vào một “chiều rơi chậm” để rồi người trong thơ phải yêu cầu (đúng hơn là năn nỉ):
“Chiều đừng rơi
để nhớ mãi Sài Gòn.
Căn nhà gỗ,
con đường Hồng Thập Tự.
Một điều gì… rất lạ, rất bâng khuâng.”

Ở tấu khúc 3, “Khung cửa nhỏ- mở ra-” vào một “đêm nguyệt tận.” Buổi ấy khiến người trong thơ hồi tưởng đến
“Đêm hoang vu
xanh mướt dáng Sài Gòn.
Có vì sao- buồn- cô đơn- bật khóc.
Giọt lệ này
rơi,
ướt lạnh trăm năm…”

 
Ba lần “khung của nhỏ- mở ra-” dẫn người đọc đến những cảnh, những tình khác nhau, để rồi đọng lại trong hồn mình nỗi bâng khuâng, ngậm ngùi, tưởng tiếc về một dáng người nữ ngày nào đã xa, hình như xa lắm.
Thì cũng là thơ tám chữ đấy, nhưng cách tác giả ngắt câu, xuống hàng khiến người đọc không thể đọc nhanh được, mà phải chậm rãi bước những bước nhẹ nhàng và thận trọng theo dòng thơ. Đọc và thích!

 
Có vẻ như Tôn Nữ Thu Dung chuộng lối gieo vần gián cách (trong một khổ thơ, vần trắc gieo ở cuối câu 1  và cuối câu 3; vần bằng gieo ở cuối câu 2 và cuối câu 4.) Xin đọc:

 Nhánh sông Tôi,
tiền kiếp
Tìm lối về đại dương
Sóng bờ xa tiễn biệt
Cuối chân trời,
đêm buông…

Trái tim Tôi,
tiền kiếp
Lơ đãng nhiều tơ vương
Và khi lòng mỏi mệt
Biết giấu vài vết thương…

(Tôi)

 
Sao lại gián cách? Tôi đoán nhé: thứ nhất, lối gieo vần này làm cho người đọc thích thú. Hơi thơ đi, tưởng là đi… tuốt luốt, nhưng rồi hơi thơ dừng lại ở tiếng cuối, một sự trở lại với vần đã gieo bên trên khiến cho khổ thơ tràn đầy, trọn vẹn. Thứ hai: lối gieo vần gián cách khiến người đọc cảm nhận được cái ý, cái tình của sự ngăn cách. Ngăn cách giữa tôi và người, giữa chung và riêng, giữa những cảm giác/cảm xúc lẫn lộn và khác biệt, giữa hiện tại và quá khứ, giữa  và 

 
Tôn Nữ Thu Dung cũng viết một số bài theo lối gieo 3 vần bằng, có phần nào sự cổ kính của Đường thi, cộng thêm chút nghiêm cẩn, trang trọng:

 Tôi lạc lòng tạt qua lối xưa
Bâng khuâng khung cửa có ai chờ
Bàn tay nhỏ bé thơm hương quế
Khua động hoài tôi những giấc mơ

Tôi lạc lòng đi ngang phố rêu
Nghe cơn đau cũ nhói trong chiều
Và tiếng phong linh rời rã khóc
Có phải thu vừa rơi khúc yêu

Tôi lạc lòng, lạc dạ thế thôi
Đêm đêm vẫn nhớ góc em ngồi
Ngọn nến tàn canh run từng giọt
Thảng thốt vầng trăng lạnh cuối trời

Tôi lạc lòng xin em hiểu tôi
Hồn tôi như chiếc lá chơi vơi
Trăm ngàn sông suối- em là biển-
(Tôi lạc lòng xin em hiểu tôi).

(Lạc Lòng)

Tôn Nữ Thu Dung cũng viết Lục Bát; lời, ý, hình rất đẹp:

 Gọi người từ phía hoàng hôn
Nghe câu tử biệt
rợn buồn sinh ly,
Bến Vân Lâu chẳng hẹn kỳ
Trùng lai nội cỏ
thầm thì hạt sương.
Gọi người từ phía tà dương
Có chờ ta
cuối con đường trắng mây.
Một mai tàn cuộc
buông tay,
Nghiêng vai cho gió về lay dặm buồn.
Biết còn viễn phố giăng sương.
Biết còn tan hợp mây tuôn non đoài.
Lòng ta gác xế u hoài,
Cuối trời một bóng đổ dài hoang vu…

(…Nếu xưa đừng lạc lối về
Trao yêu lơ đãng,
quên thề trăm năm…)

(Gọi)

Trong Lục Bát “Gọi,” có những câu đẹp cổ kính như “Đoạn Trường Tân Thanh”:

 Bến Vân Lâu chẳng hẹn kỳ
Trùng lai nội cỏ
thầm thì hạt sương.

 hay

 
Biết còn viễn phố giăng sương.
Biết còn tan hợp mây tuôn non đoài.

 Có một tí Bùi Giáng ở trong đó, nhưng không phải là Bùi Giáng.

 Dường như Tôn Nữ Thu Dung thích ban đêm. Trong “Con Chim Ngậm Hạt Ngô Đồng…,” nhà thơ viết khá nhiều câu, bài về ĐÊM: “Khung cửa nhỏ- mở ra-/đêm nguyệt tận, Đêm hoang vu/ xanh mướt dáng Sài Gòn, Đêm Hồ Ly, Đêm Lưu Xứ, Đêm Nguyệt Quế, Đêm Chờ Quỳnh Hé Nụ, Đêm tàn… lạnh một chia phôi, Đêm thắp muộn một vì sao bé nhỏ…

 Xuân Tâm viết:

 “Tôi đổi hai mai lấy một chiều
Để tìm trong ấy ít lời yêu.
Ban ngày sáng quá, ban đêm tối,
Tôi sợ không mơ tưởng được nhiều.

 Xuân Tâm sợ “ban đêm tối” khiến nhà thơ “không mơ tưởng được nhiều.” Tuy nhiên, với Tôn Nữ Thu Dung, hình như “đêm càng tối,” cô lại càng “mơ tưởng… được rất nhiều!”

Tôi viết bài giới thiệu này không được trọn vẹn, nhất là mới chỉ phớt qua một chút hình thức, chưa đi vào nội dung các bài thơ. Tuy nhiên, tôi nghĩ, nói đến nội dung là nói về ý, tâm và cảm; mà ý, tâm và cảm là những gì người ta chỉ có thể cảm nhận bằng tâm hồn mẫn cảm của người đọc, không phải là những thứ để phân tích. Tôi tin người đọc “Con Chim Nhặt Hạt Ngô Đồng” đều là những độc giả có tâm hồn không những mẫn cảm và còn nhạy cảm.

 Vậy, xin phép tác giả và độc giả cho tôi ngừng ở đây.

 Riêng tôi, xin được thưa với nhà thơ Tôn Nữ Thu Dung: “Thơ ơi, cứ nói! Tôi đang lắng nghe.”

QUYÊN DI

(Một ngày đầu Thu 2022)

Advertisement

Với Tôn Nữ Thu Dung

Thời mà tuần báo Tuổi Ngọc thịnh hành – trước 1975 – hầu như mỗi độc giả đồng thời cũng là một cây viết đóng góp cho báo. Thơ văn nhận được hàng ngày từng xấp, từng xấp chất đầy tủ đầy bàn, có khi nguyên bó bỏ đâu đó quanh góc trống, cái tòa soạn chỉ là chỗ đi ăn nhờ ở đậu của nhà in. Vì thế để ghi hết những “bài nhận được” kịp thời đã khó, khó gấp nghìn lần để phải đọc hết chọn lấy bài đăng không được bỏ sót, với nhân lực loe ngoe vài ba người trong tòa soạn quả như… hên xui. Nhưng không phải thế, chúng tôi quen từng nét chữ, từng màu mực và loại giấy, bạn nào viết được là chúng tôi nhận ra ngay. Rất nhiều năm sau những cây viết này vẫn còn thấy xuất hiện đó đây, dù trong môi trường nào hoàn cảnh nào họ vẫn không từ bỏ đam mê của mình. Báo Tuổi Ngọc xưa chỉ như là chốn vỡ đất cho một thế hệ non trẻ ươm mơ của mình một thời. Tôi còn nhớ, một buổi chiều ở tòa soạn, có cô bé dáng nhỏ nhắn, còn nguyên bụi đường bám theo áo dài trắng nữ sinh, nói là từ Nha Trang mới vào, tôi nhận ra ngay đó là cây viết Tuổi Ngọc thường đăng bài. Tôn Nữ Thu Dung.

Cũng là duyên, chừng mươi năm sau có dịp ra Nha Trang tôi gặp lại cô trong buổi họp mặt Gia Đình Áo Trắng miền này. Những người thích viết không là nghề thì cũng là nghiệp chẳng thể nào vì… ngứa đầu bó tay mà thôi viết được. Tôn Nữ Thu Dung có trang Tương Tri quy tụ được nhiều bằng hữu yêu văn thơ từ nhiều năm nay. Và cũng từ nhiều năm nay cô cũng tự in truyện và thơ của mình, chẳng để làm gì cả, huề vốn là may, như là thú vui, như là hơi thở riêng để gợi biết mình còn sống, sống tha thiết để nuôi những đam mê. Tôi yêu thích những cây viết như thế, riêng những người làm thơ, những rung động thực của họ theo từng giai đoạn cuộc sống có thể cộng hưởng và lan tỏa rộng. Thơ Tôn Nữ Thu Dung thoát ra tự tâm mình qua thời gian luôn đổi thay nên phong phú ý và chữ. Không ai đặt hàng trước cho những bài thơ. Những câu thơ theo người và người viết theo những câu thơ của mình. Có khi chẳng ai nhớ ai, người buông ra nó hay nó chui từ tâm người như một điều tự nhiên, thế thôi. Đó là sáng tác.

Trước đây, từng trình bày sách cho một người cầm bút lâu năm, từ tập thơ đầu tay đến tập thơ kể như… cuối tay, tôi có dịp lướt qua hàng trăm bài thơ của ông. Bài thơ nào cũng mượt mà và vần điệu không thể bắt bẻ cũng như chữ nghĩa không thể chê vào đâu được. Đọc một bài ta thích thú có thể nhớ, nhưng trăm bài ta… khỏi cần nhớ nữa vì hầu như cũng thế thôi. 50 năm trước hay 50 năm sau không thay đổi tâm trạng với tình thơ trăm năm của ông. Mọi thứ chuyên nghiệp đều đáng kể, đáng quý, nhưng với thơ thì không, không có thi sĩ chuyên nghiệp. Dù không được đọc những tập thơ trước đây của Tôn Nữ Thu Dung, trong tập thơ này cũng đủ cho tôi nhận ra tính phong phú của một tâm hồn lãng mạn (thi sĩ nào chẳng thế, nam lãng 1 thì nữ lãng 10). Người vẽ hay viết không “chụp” hình ảnh hay sự kiện quanh mình mà chui ra từ bên trong để diễn giải, có thể đúng hoặc sai nhưng là cái gì rất riêng cảm nhận để như sáng tạo một lần nữa, (đôi khi mang tiếng dở hơi hay điên điên khùng khùng cũng là cấp bậc siêu, đạp lên nhân gian mà đi!). May thay điều này chỉ thường đến với các cây viết nam. Những cây viết nữ dù nhiều phản kháng dữ dội tới đâu cũng chỉ… tới đó… rồi thôi! (như: chiếc lá vừa rơi… nghiêng, chao/ tôi cũng muốn lòng mình… chao, nghiêng như thế/ nhưng cuộc sống vốn mang hình giọt lệ/ thì… thôi.)

Bài thơ đầu tiên rất hiền trong tập thơ này có lẽ viết từ thuở học trò, có Sàigòn và những khung cửa nhỏ, có chạm tới căn nhà gỗ đường Hồng Thập Tự trong ký ức của tôi. Tôi nhớ. Và tôi cũng nhớ một câu gần cuối trong tập thơ: Tôi muôn đời thiếu nợ những đa đoan… Và còn muốn nhớ nhiều nữa nhưng thôi, mời bạn đọc để thấm hơn một tâm hồn nữ, người yêu nắm chặt thủy tinh vỡ trong bàn tay mình không ngại. Gần gũi hơn để hiểu: Trao yêu lơ đãng quên thề trăm năm…

Đinh Tiến Luyện, (Houston cuối tháng 9, 2022)

Đọc “Con Chim Nhặt Hạt Ngô Đồng…”

Vũ Hoàng Thư

Hai ngày mưa tầm tã, tôi ngập sũng tận hồn, rũ người trong nước. “Ta tìm thấy trong ta / Giọt lệ mưa cuồng nộ”. Tôi thèm một cơn trầm thủy cho dẫu mục rữa chân thềm. Mưa ơi xin cứ tiếp. Nơi này nắng hạn đang khát khô một thác nguồn. Ôi, rào rào tia nước vỗ vào mái, êm ả như âm ngày xưa đập vào mái tôn cầu đôi qui nhơn tôi mới lớn. Và như thế, “Con chim nhặt hạt ngô đồng / Còn tôi lơ đãng nhặt hồn cỏ hoa” đến giữa đêm, lững thững không hẹn. Chỉ nội nhan đề tập thơ cũng làm người đọc sững sờ. Phiêu nhiên ủ mộng nắng gió bất thần. Bỏng cháy cho thơ hiện về trong bát ngát, cho sóng triều dồn lại vi vu.

Ngày xưa vua Phục Hy thấy chim Phượng đậu xuống cây ngô đồng thì biết đây là cây quý, liền sai lấy gỗ cây làm nhạc khí gọi là Dao cầm. Nhắc chuyện cổ đại hồng hoang vì những con chim huyền sử. Huyền sử dẫn đến huyền thoại để ở đó ly tao dâng lời. Tiếng dao đã ngân, hồn lâng về đâu trong đêm mưa? Thơ ngập lời cổ điển. Cổ điển ở chỗ những lời ấy bây giờ ít ai nói đến vì nó đã thành sáo ngữ. Chỉ có nội công thâm hậu mới vực dậy đem về sức sống mới,

Còn tôi lơ đãng
nhặt
hồn cỏ hoa
Một ngày qua
một người xa
Một ngàn thu khóc
chiều tà rưng rưng…
(Hồn cỏ hoa)

Cỏ hoa đã bay, như bông liễu trong câu thơ Tô Đông Pha,

Chi thượng liễu miên xuy hựu thiểu
Thiên nhai hà xứ vô phương thảo

(Tô Đông Pha)

Lìa cây bông liễu phiêu bồng
Ven trời vạn nẻo cỏ hồng muôn phương
(Mây ngàn cỏ nội đâu không là nhà ?)

(Vũ Hoàng Thư phỏng dịch)

Chỉ mình nhà thơ đứng đó giữ lại phần hồn, lơ đãng cầm nắm trong tay tinh cốt cỏ hoa. Ôi, phiêu hốt làm sao! Chữ Một lập lại trong hai câu lục bát cuối như muốn nhấn mạnh gợi khêu miên trường trông ngóng, và kết tụ thành lệ rưng rưng. Rưng rưng vì sầu dâng mà phải ngăn, kìm hãm lại. Hay đằng đẳng đợi chờ trong một khúc lục bát ngắt dòng khác,

Gọi người từ phía tà dương
có chờ ta
cuối con đường trắng mây
(Gọi)

Thi sĩ đang tự nhủ lấy mình hay thi sĩ nói giùm nhân gian những điều bất khả, những cơn mộng giữa chừng về đâu đó ở đêm khuya, bởi chưng “cuộc sống đã trót mang hình giọt lệ”. Tài tình ở chỗ gọi điều xa xăm rồi đem về bỏ lửng. Để làm gì? Không cần thiết phải giãi bày, có chăng bật dậy nỗi mong manh của nhân sinh, của lựa chọn khôn hàn tư lự,

Đừng chờ…
đâu chắc ngàn sau…
Hãy chờ…
có lẽ ngàn sau…
sẽ là…
(Mây)

Thiền sư cởi áo che quỳnh
Nghe trong khuya khoắt…
trở mình,
hạt sương…
(Đêm chờ quỳnh hé nụ)

Có lúc nỗi nhớ quê vỡ bùng trong niềm bất lực lưu vong, nâng chén hừng ca nhưng chốn ấy đã xa tít không còn. Thi sĩ hiêu nhiên mang hồn kiếm sĩ, chỉ muốn một vung tay chém rụng chia cách nghìn trùng. Thơ đẹp như một khung gương, rồi vỡ nát thành muôn mảnh như cõi lòng,

Chém xuống dòng sông trăm nhát kiếm
Nước vỡ… như lòng ta trưa nay…
(Bài tặng Doanh Doanh)

Nhà thơ luôn ngậm mối cô đơn một mình bởi vui buồn đó là nỗi riêng, trần gian kia đùa vui trong kệch lạc, gào khóc khi khắc khổ nghịch đường. Cứ mặc kệ họ cất bước đưa chân, thi sĩ đứng lại. Vì sao? Bởi vì… Bởi vì và ba dấu chấm, không nói và bỏ ngưng nhưng có lẽ tự đáy sâu tiền kiếp đã chứng nghiệm cái vô lý của cuộc đời, 

Trên con đường mọi người đang đi
Tôi một mình đứng lại…
Bởi vì…
(Chữ)

Rất nhiều câu thơ của Thu Dung chấm dứt bằng ba dấu chấm. Sự bỏ lửng để cho độc giả mường tượng những gì kế đến? Sự mời gọi lên chung chuyến tàu cùng hồn hoang lơ đãng? Hay mọi thứ chỉ là hai mặt sấp ngửa, lựa chọn nào mà không có hư hao?

Những ai mất niềm tin
Hãy tin: mình đã mất
(Tin)

Say từ khi… lạc dạ
Hay… lạc dạ rồi say?
(Thiền sư)

oOo

Tập thơ “Con chim nhặt hạt ngô đồng / Còn tôi lơ đãng nhặt hồn cỏ hoa” với hơn một trăm bài thơ dàn trải qua nhiều chủ đề. Hầu hết là những bài thơ có vần điệu, những bài lục bát đẹp, ở lời cũng như ý, như  “Hồn Cỏ Hoa” được trích hai câu từ bài thơ làm nhan đề tập thơ. Tôi lướt nhanh tập thơ trong đêm mưa, mưa bên ngoài cùng những rầm rì tương ứng bên trong. Viết vội đôi lời biểu cảm vì chưa có cơ hội đọc hết nhưng đã cảm nhận được một hồn thơ kín đáo ngậm ngùi, có khi quắt quay cuồng nhiệt, và lắm khi thăm thẳm cõi bờ thơ mồng bằng một phong thái kỳ thú, thi vị. Người thơ Tôn Nữ luôn để lại trong lòng người đọc một khí hậu lãng đãng của luyến nhớ, kỷ niệm và mất mát, không nói ra nhưng đều hướng về một chốn nơi đã không còn, quê hương. Ngay cả khi ấm áp nhất, nàng vẫn quạnh hiu hồn lẻ, mang mang lữ thứ,

Và nắng cũng buồn hơn thuở xưa…
(Đừng)

Cảm tạ nhà thơ Tôn Nữ Thu Dung đã có nhã ý tặng sách, cũng như đem đến nhân gian một trời thơ vô ngần hoa cỏ.

Vũ Hoàng Thư

Tháng 11, 2022

Chữ in nghiêng (italic) trong bài là thơ Tôn Nữ Thu Dung được trích từ tập “Con chim nhặt hạt ngô đồng / Còn tôi lơ đãng nhặt hồn cỏ hoa”.

BỨC TƯỜNG ĐÁ

Tôi đang ngồi trong thư viện một trường đại học Công giáo thâm nghiêm. Khung cửa kính rộng cho tôi nhìn thấy toàn cảnh bên ngoài. Trời hôm nay nhiều mây xám, không biết chiều nay có mưa không, nhưng hình như bầu trời ngậm nước. Khung cửa kính thư viện trông ra một khu vườn hoang dã bên ngoài, có những cây cổ thụ cành lá rườm rà, nhiều loại hoa leo đủ màu sặc sỡ tôi chưa từng biết tên, và những ngọn cỏ đang rạp mình theo chiều gió thổi. Có những con chim lạ từ đâu bay tới, con nào cũng đẹp với hình dáng và màu sắc riêng; chúng vừa bay vừa hót ríu rít. Vài chú sóc không biết từ một gốc cây nào đó rủ nhau ra giữa vườn cỏ đùa giỡn, rồi thoắt chốc đã leo lên những cành cây cao chót vót.

Nhìn sang người bạn ngồi ở ô đối diện, tôi thấy bạn cắm cúi trên sang sách. Bạn tôi có lẽ đang tập trung tâm trí vào bài học, còn tôi thì lại thả cho hồn bay lượn ngoài trời.

Mắt tôi dừng lại ở bức tường, ngăn cách khuôn viên đại học với thế giới bên ngoài. Những viên đá được xếp chồng lên nhau, không biết đã từ bao giờ, làm thành một bức tường đài, cổ kính. Như bị cuốn hút, tôi rời chỗ, đứng lên tìm lối đi ra khu vườn với bức tường đá ấy. Những ngọn cỏ cúi chào, chim chóc bay xào xạc, những chú sóc vội vàng trốn chạy, còn những bông hoa dại vẫn tươi tắn mỉm cười. Khung cảnh vừa yên tĩnh, vừa thơ mộng một cách hoang sơ. Tôi đưa tay ngắt một bông hoa tím rồi bước dọc theo bức tường đá, đầu óc nghĩ ngợi mông lung.

Những bức tường…

Ngôi nhà nào, cơ sở nào, khu vực nào cũng có những bức tường ngăn cách nó với thế giới bên ngoài. Những bức tường tạo nên một ranh giới, bên trong và bên ngoài. Nếu tôi có một căn nhà, thì bên trong bức tường thuộc về tôi, chứa đựng những gì của tôi. Bên ngoài là những gì không phải của tôi, không thuộc về tôi. Bên trong là thân tình, bên ngoài là xa lạ. Nếu tôi ở trong một cơ sở như trường học chẳng hạn, thì bên trong bức tường là sinh hoạt của nhà trường, với những lớp học, thư viện, sân chơi, những giáo sư, sinh viên, nhân viên, sách vở và một hệ thống giáo dục của nhà trường; còn bên ngoài là sinh hoạt của thành phố, với xe cộ, hàng quán, đường xá, nhà cửa, cảnh sát, khách bộ hành…, những gì không thuộc về nhà trường mà tôi đang ở trong.

Bức tường bảo vệ cho những gì ở bên trong và khiến cho bên trong trở thành một cái gì có tên. Nếu nhà không có tường thì người và đồ vật trong nhà không được bảo vệ. Hơn nữa, khi ấy “cái nhà” không còn phải là nhà, không có tên là cái nhà nữa. Nếu một cơ sở không có tường thì cơ sở không còn là cơ sở, và không thể nào có những sinh hoạt đặc thù của nó nữa. Như thế, hỏi tường có cần không, thì tường cần lắm, rất cần. Bởi vậy, thật là hữu ích khi trường học có tường, tu viện có tường. Có tường là có an toàn, là người bên trong được bảo vệ. Người ở bên trong tường, nếu chấp nhận sự hiện hữu của tường, tức là chấp nhận những gì có bên trong tường, xảy ra bên trong tường.

Tuy nhiên, tường chỉ giúp tôi khi tường bảo vệ tôi, mà không ngăn cản tôi. Nghĩa là tôi phải được tự do ra vào, tự do hoà nhập với thế giới bên ngoài khi tôi muốn. Chính vì vậy mà có tường thì thường có cửa, có cổng. Cánh cửa hay cánh cổng là dấu hiệu của sự thông thương. Cổng mở là dấu hiệu của tự do và mời gọi. Cổng đóng là dấu hiệu của hạn chế và chối từ. Người ở trong tường được tự do hay không, điều đó được xác định ở chỗ người đó có được mở cổng và đóng cổng theo ý của mình không.

Có một thứ tường thật cao mà không có cổng, hay nếu có thì cổng luôn luôn đóng. Đó là tường của nhà tù. Người ở trong tù mất quyền tự do, do đó, họ không được tự nhiên mở cổng mà ra. Khi đó, bức tường tạo nên sự ngăn cách hoàn toàn, khiến cho người tù không nhìn thấy được người và khung cảnh bên ngoài, không được quyền tiếp xúc với người và hoà nhập những sinh hoạt của xã hội bên ngoài. Tường mang ý nghĩa sự cấm cản, mất tự do

Xây tường và đóng cổng để chỉ lo cho mình, không biết đến người bên ngoài là hành động ích kỷ. Khi đó người ta biến nhà của mình thành một pháo đài an toàn. Tôi chỉ biết lo cho tôi, cho sự an toàn và no đủ của tôi mà không cần biết đến sự bất an và đói khổ của những người bên ngoài. Tường tạo nên sự an toàn, cổng cần phải đóng để giữ được an toàn cho người trong nhà. Nhưng người trong nhà cũng cần mở cổng để đón tiếp những người khác, khi những người này cần đến sự giúp đỡ. Bất cứ bị thúc đẩy bởi một lý do nào để người bên trong xây tường cao và đóng kín cổng, người ấy đã tự biến mình thành một thứ tù nhân.

“Trèo tường” hay “trèo cổng” ra ngoài là hành động biểu lộ một sự phản kháng, một sự chối từ những gì ở bên trong bức tường. Ở tuổi thiếu niên cuồng dại, Đinh Hùng “đã nhiều phen trèo cổng bỏ trường về, xếp đạo đức dưới bàn chân ngạo mạn.” Như thế có nghĩa là ở vào tuổi ấy Đinh Hùng vì cuồng dại đã phủ nhận đường lối giáo dục của nhà trường! Ở vào một thời đại khác và với một ý thức khác, hàng ngàn người dân Đông Đức đã trèo qua bức tường Bá Linh, ngăn cách Đông Đức và Tây Đức. Hành động ấy biểu lộ ý chí chối từ của người dân Đông Đức đối với chế độ chính trị của phần lãnh thổ này. Bức tường ấy bây giờ không còn nữa. Người dân Đức, trong đó chắc chắn có nhiều người đã từng trèo qua nó, đã phá đổ bức tường ấy. Bây giờ không còn ngăn cách nữa, người Đức tự do đi lại mà không hề bị cấm cản.

“Trèo tường” hay “trèo cổng” vào trong thì gọi là “đột nhập.” Có nhiều lý do của hành động đột nhập nhà hay cơ sở. Có thể đột nhập để trộm cướp, mà cũng có thể đột nhập để cứu thoát một người nào đó. Đột nhập để trộm cướp người ta trở thành kẻ trộm, kẻ cướp. Nhưng đột nhập để giải cứu người bị giam giữ hay bị nạn, một cách chính đáng, người ta trở thành anh hùng.

Như thế, “trèo cổng” hay “trèo tường” là một hành động táo bạo và nguy hiểm, tuy nhiên tốt hay xấu không do hành động “trèo,” mà do mục đích của hành động ấy.

Tôi và những người chung quanh tôi cũng đều có những bức tường vây bọc. Bức tường ấy tạo nên tôi, với bản chất, tính nết, tâm tình, hoàn cảnh riêng của tôi. Nếu không có bức tường ấy, tôi không còn phải là tôi. Khi tôi ra khỏi bức tường, tôi hoà nhập với mọi người, sinh hoạt với mọi người. Nhưng khi vào phía trong bức tường, tôi có thế giới của riêng tôi. Người khác cũng thế, ai cũng cần có một thế giới riêng của mình, một nơi thân mật nhất, chỉ có mình và những người mình cho phép mới vào được. Thỉnh thoảng tôi nghe có những người nói về người này, người khác, đôi khi nói về chính người chồng hay người vợ mình, với một câu: “Ông ấy (hay bà ấy,) tôi biết quá rồi!” Khi nghe một người nói rằng họ “biết quá” về một người nào đó, hơn nữa người đó lại là một phụ nữ, tôi thường cảm thấy hoài nghi. Tôi vẫn nghĩ mỗi người đều có một bức tường, nhất là người phụ nữ. Không ai có thể vượt qua bức tường ấy mà vào bên trong, trừ khi chính người bên trong sẵn lòng mở cửa cho họ vào.

Một khi bức tường là của tôi, do chính tôi dựng nên, thì việc giữ lại nó, hay phá đổ nó thuộc quyền tự do của tôi. Nói đến những bức tường ngăn cách người này với người khác, người ta thường có ấn tượng không tốt và đều có khuynh hướng muốn mọi người phá đổ những bức tường ấy. Tôi thì không đâu, tôi muốn giữ bức tường của tôi, nhưng tôi cũng muốn có ý chí và tự do để ra vào phía ngoài, phía trong bức tường ấy khi có sự cần thiết; cần thiết cho chính tôi cũng như cần thiết cho người khác. Như vậy tôi vừa giữ được cái gì thuộc riêng về nội tâm của tôi, vừa bước được ra ngoài, cùng chung sức với những người khác để kiến tạo một xã hội, một cộng đồng, trong đó có nhiều người chung sống.

Với những người thân, tôi vẫn giữ bức tường là bản chất của riêng tôi, nhưng tôi để họ tự do ra vào qua bức tường ấy. Với một vài người, tôi để cho họ tự do khám phá những gì có phía bên trong bức tường, và có thể tôi gợi ý để họ khám phá những gì mà tự họ không nhìn thấy được. Tôi cố gắng tránh khuynh hướng nhốt họ lại trong bức tường của tôi. Khi tôi đã mở cửa và cho họ tự do, họ có quyền vào, ở lại, mà cũng có quyền ra đi. Đi hay ở khi đó là quyền của họ. Họ ở lại, nếu căn nhà của tôi có gì khiến họ quyến luyến và ràng buộc. Họ ra đi, nếu thấy những gì bên trong bức tường không thích hợp với họ, nhất là khiến họ chán ngán. Do đó, nếu muốn người nào đó ở lại phía bên trong bức tường của tôi, thay vì tìm cách nhốt họ, tôi cố gắng làm cho trong tôi có điều gì khiến họ yêu thương và quyến luyến.

Tôi tuyệt đối tránh hành động “trèo tường” hay “trèo cổng” để đột nhập căn nhà nội tâm của người khác. Tôi gợi ý, có thể tôi xin để họ mở cửa cho tôi vào nếu tôi thực sự muốn. Ép uổng tình cảm, tư tưởng của người khác là điều không tốt và tôi không muốn làm. Ngay cả việc muốn hướng dẫn tâm hồn người khác, cũng phải tôn trọng quyền tự do và đời sống riêng của họ. Chúa Ki-tô bảo: “Ai không cứ cửa mà vào chuồng chiên, song trèo qua lối khác mà vào, thì ấy là kẻ trộm, kẻ cướp.” Gioan 10: 1).

Trời đã xế chiều, từng mảng tối đã chập choạng che phủ cảnh vật. Tôi vẫn cầm bông hoa tím đứng bên cạnh bức tường đá. Qua khung cửa kính thư viện, tôi thấy bạn tôi đang giơ tay vẫy gọi. Bạn, bạn có muốn mở cánh cửa trổ ra từ bức tường của bạn, để tôi được bước vào không?

*

Với một người, giờ đây tôi luôn luôn muốn mở toang cửa để chào đón. Tôi muốn giữa người ấy và tôi không còn một bức tường nào cả. Tôi muốn bản thể của tôi hoà nhập với bản thể của người ấy, tình yêu của tôi hoà nhập với tình yêu của người ấy, tất cả những gì của tôi đều thuộc về người ấy. Đối với người ấy, tôi không muốn giữ lấy bất cứ cái gì là của riêng nữa. Tôi muốn dâng hiến tất cả. Người ấy là Chúa Ki-tô.

Tôi suy nghĩ nhiều về bức tranh người họa sĩ kia vẽ Chúa Ki-tô. Ngài đứng trước một căn nhà tường xây kín mít, kiên nhẫn gõ cánh cửa đóng im ỉm, mà nắm đấm mở cửa lại nằm phía bên trong nhà chứ không ở bên ngoài. Có phải bức tranh ấy vẽ về chính căn nhà của tôi, căn nhà đã có một thời chối từ không muốn Chúa Ki-tô vào thăm viếng?

QUYÊN DI

Lòng Thật Bình Yên

Lòng thật nhẹ, thật bình yên em ạ
Gió vàng thu còn níu lại bên thềm
Tiếng chim hót ru mềm trên phím lá
Mây trời xanh nhuộm thắm áo thiên thanh

Lòng cũng vui, chập chờn theo cánh bướm
Tiếng ai cười rơi giọt nắng giòn tan
Tôi bỗng nhớ bóng người qua cửa lớp
Mang mùa thu về nhuộm áo thu vàng

Tôi bỗng nhớ buổi nụ rằm chưa chín
Trăng cài hoa lên tóc chảy đôi dòng
Cơn gió nào đã âm thầm hò hẹn
Mà đất trời tỏa ngát một mùi hương

Lòng nhẹ quá đã tan thành sương mỏng
Em có về cho áo quyện màu sương
Lòng nhẹ quá đã tan vào cơn mộng
Nở giùm tôi, em nhé , nụ môi hồng.

Lê Văn Trung

Ơi Những Con Quạ Của Tôi 

Những con quạ của tôi / không về đây, thật lạ!  Người ta ghét chúng quá?  Người ta đuổi chúng đi?

Xưa nay cảnh chia ly / luôn luôn là buồn lắm!  Không lẽ vì trời nắng, quạ đi tìm suối, sông?

Bạn ơi, nhìn mênh mông, trời cũng không mây gợn…Hơn nửa năm tôi muốn / một chút mưa không sa…

Nghe nói Colorado / tuyết đổ tràn cả núi / trong khi đây con suối giống y như một lối mòn…

Quạ có biết tôi buồn?  Nhớ tiếng kêu quà quạ…Không món quà ai thả / vào hộp thư…khô ran!

Tôi ném xuống cỏ vàng / bao nhiêu tàn điếu thuốc!  Tôi nhớ Ban Mê Thuột…tiếng quạ kêu ngày xưa…

Tôi nhớ tiếng võng đưa /. Mẹ ru con xót xa…”Ví dù con quạ bay qua, Mẹ bảo con gà con phải nghe theo!”.

Rồi…Đất Nước mến yêu / của tôi như bầy quạ.  Chúng bay để hoa lá / tả tơi!  Mùa Thu về!

Tôi ngồi im, lắng nghe / tiếng ai đi nhè nhẹ / hoa sen vàng đẹp nhé / gót chân người xa xăm!

Ai đó về Nha Trang.  Ai đó ngang Diên Khánh.  Ai à trăng Đại Lãnh / đêm nay đã tròn chưa?

Tôi nói trong cơn mơ thấy mình bay với quạ. Chòm sao rơi như lá…như nước mắt Má tôi…

Trần Vấn Lệ

VIẾT CHO NGƯỜI BỎ PHỐ

Em đi
bỏ phố
thình lình
Chiều em đi ấy
Phố mình đổ mưa
Hoàng hoa mới nụ
vừa vừa
Đã tơi tả rụng
để mùa xuân trơ.
Thư phòng em
nhện giăng tơ
Đoản tình thi
mất người thơ
võ vàng…

Có người
tri kỷ
nhớ em
Tìm sang
không gặp
ngổn ngang nỗi niềm.
Về đâu?
Hỡi trái tim hiền!
Đêm hoang
gió có
cuồng bên
phía người?
Giang hồ
chán lắm em ơi!
Phải đâu thơ mộng
cho đời thăng hoa!
Sáng nay
trời đất giao hòa
Cầu mong em
mãi nuột nà
an nhiên.

Trần Tuấn

BÙI GIÁNG

( Một thiên tài kỳ dị)

Nhân ngày nhà thơ BÙI GIÁNG mất (7.10.1998).Tôi xin trích đăng bài viết : BÙI GIÁNG Một thiên tài kỳ dị trong tập Trần Gian Sầu Muộn như một nén nhang tưởng nhớ con người siêu đẳng sinh bất phùng thời

(Qua nhận xét của những nhà văn cùng thời với ông và những người viết trẻ lớp hậu bối)
… Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ?
(Vũ Đình Liên)

Nhà thơ Nguyễn Lương Vỵ nói rằng: “Nhiều người đang và sẽ viết về Bùi Giáng dưới nhiều góc độ khác nhau, thậm chí có người nhắc đến ông là để “tự nâng mình lên”. Không biết anh nói vậy có đúng hay không?

Viết về Bùi Giáng không hề là chuyện dễ nếu không đủ “nội công thâm hậu”, kiến thức uyên bác về các vấn đề liên quan đến cuộc đời và sự nghiệp của ông chứ không phải chuyện kể bên lề những lần gặp gỡ cùng những câu thơ ngẫu hứng ông viết trong quán cóc ven đường hay trong một lần tình cờ chạm mặt. Vì vậy có những người viết về Bùi Giáng đôi khi lại là “tự hạ mình xuống”.

Bài viết này chỉ ghi lại những nhận xét về Bùi Giáng của những nhà văn cùng thời và cũng là bạn của ông trong những thập niên trước 1975 và nhận xét của những người viết trẻ thuộc lớp hậu bối.(Những nhận xét được trích dẫn dưới đây với tư liệu ít ỏi mà chúng tôi có được.).

Bùi Giáng có quá nhiều giai thoại khi ông còn sống và cũng có rất nhiều huyền thoại khi ông đã mất. Thường thì người ta tôn vinh, viết những bài ca ngợi, kể những giai thoại hay những câu chuyện liên quan đến nhân vật nổi tiếng trong một lĩnh vực nào đó khi họ không còn nữa. Nhưng với Bùi Giáng thì là một ngoại lệ.

Nhiều tuyển tập sáng tác văn học, nhiều tờ nguyệt san, bán nguyệt san, trước và sau năm 1975 đã viết về ông, đã làm những đặc tuyển cho riêng ông khi ông còn sống cũng như những bài viết, phân tích về ông trên các tờ báo văn học trong nước và hải ngoại khi ông đã mất.

​Người ta dùng nhiều tên gọi để gán cho Bùi Giáng, như: Hiện tượng của sự phá hủy, Nhà hiền triết, Trung niên thi sĩ, Bồ tát giáng trần…nhưng dù với bất cứ tên gọi nào thì ông vẫn là một người trần tục đến đây, cõi ta bà này để rong chơi và thưởng ngoạn…

Nhà biên khảo, dịch giả Huỳnh Ngọc Chiến trong một bài viết đã nhận xét:“Bùi Giáng là bậc thượng trí, hầu như “vô sư tự ngộ”. Ở miền trung du hẻo lánh xứ Quảng đó ông chỉ đọc sách mà “phát minh tâm địa” như trường hợp thiền sư Huyền Giác đọc kinh Duy Ma Cật…” Anh viết: “Trước 1975 ông thường sống trong lô cốt trước viện Đại học Vạn Hạnh với các lon cơm bẩn thỉu. Lối sống kỳ dị đó cũng không ảnh hưởng đến sự sáng tạo phi thường của ông. Ngay vào giai đoạn người ta xem như ông bị điên nặng thì ông cho ra đời tập thơ: Bài ca Quần đảo mà theo nhà xuất bản thì đây là cả một đại dương thi ca” . Anh viết tiếp:“Như Kim Mao Sư vương Tạ Tốn đột nhiên xuất hiện trên Vương Bàn Sơn đảo dùng thần công vô địch trấn áp quần hùng và đoạt thanh đao Đồ Long của Thiên Ưng giáo gây chấn động kinh hoàng cho hai phe hắc bạch thì Bùi Giáng xuất hiện trong nền văn học miền Nam cũng bất ngờ như thế. Nhà thơ gầy gò nhỏ bé của xứ Quảng đã đột nhiên hiện ra sừng sững như một cây đại thụ giữa cõi thi ca và triết học Đông – Tây trên vùng đất “hàn lâm”mà xưa nay người ta nghĩ rằng chỉ dành riêng cho những kẻ học phiệt và khoa bảng .

​Bùi Giáng với bút pháp tài hoa khi viết những câu thơ làm lay động lòng người :

“ Em về giũ áo mù sa
Trút quần phong nhụy cho tà huy bay”

​Nhưng ông lại viết những câu thơ thật dễ dãi, như :

“Gặp nàng, nàng ở Già Lam
Gặp cô, cô ở Lê Quang Định đường”

Hoặc :

“Một con vịt, hai con gà
Thêm ba con lợn gọi là chăn nuôi”

​Đúng là ông đã bỡn cợt với thi ca mà Huỳnh Ngọc Chiến gọi là “đùa bỡn với thi ca đến độ quỷ khốc thần sầu”

Nhà văn Mai Thảo, người cùng thời và cũng là bạn của Bùi Giáng, viết: “…Tôi chỉ kể tới Bùi Giáng, bởi suốt thời kỳ đó, có thể nói, thầy Thanh Tuệ (Giám đốc nhà xuất bản An Tiêm) chỉ in Bùi Giáng, dành trọn phương tiện cho ưu tiên xuất bản Bùi Giáng trước mọi tác giả khác. Và giai đoạn có thể đặt tên là giai đoạn Bùi Giáng này, An Tiêm đã in đêm, in ngày, in mệt nghỉ vì những năm tháng đó chính là những năm tháng đánh dấu cho thời kỳ sáng tác kỳ diệu sung mãn nhất của Bùi Giáng, cõi văn, cõi thơ Bùi Giáng bấy giờ ào ạt vỡ bờ, bát ngát trường giang, mênh mông châu thổ, Bùi Giáng bấy giờ mỗi tuần viết cả ngàn trang khiến chúng tôi bàng hoàng khiếp đảm, ngôn ngữ và tư duy của Bùi Giáng bấy giờ hiển lộng tới không bến không bờ, vô cùng vô tận, và tài năng của ông cũng vậy. ..

Vắn tắt là Bùi Giáng chẳng làm gì hết, chẳng ai một lần nhìn thấy Bùi Giáng làm gì hết. Mà hoàn toàn phiêu bồng, hoàn toàn rong chơi.

Vậy mà cái sức viết hồi đó đến như Bùi Giáng là tột đỉnh, là không tiền khoáng hậu. Vậy mà cái lực viết đến như Bùi Giáng là ngàn người không một, là phi phàm, là vô địch rồi”

Mai Thảo môt nhà văn nổi tiếng, cùng thời và suýt soát tuổi với ông (Bùi Giáng hơn Mai Thảo một tuổi), đã “bàng hoàng, khiếp đảm” trước lực viết “tột đỉnh, không tiền khoáng hậu” là “ngàn người không một”, là “phi phàm, vô địch” của Bùi Giáng làm cho chúng ta vô cùng kinh ngạc như nhận xét của nhà thơ Đinh Hồi Tưởng:

“Thiền sư xuống núi bỏ chùa
Dìu trăng cà rỡn mút mùa lang thang
Huơ tay chọc thủng địa đàng
Múa chân dẫm nát niết bàn nề chi

Hay : ……

“Một lời đảo lộn ngàn chương
Trợn trừng đôi mắt mộng trường ngời xa
Rong rêu giữa cõi ta bà
Ngõ về im lặng đập ra não phiền
Dấu tìm, rối rắm, thơ điên
Siêu phàm nhập thánh, dĩ nhiên là Người (6)

​Nhà văn Mai Thảo đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác, ông đem những thắc mắc của mình ra hỏi thầy Thanh Tuệ.

Thanh Tuệ nói : “Tôi cũng lấy làm lạ, anh lang thang suốt ngày, chẳng thấy lúc nào ngồi viết. La cà hết nơi này đến nơi khác, uống rượu say ngất rồi về lầu lăn ra sàn ngủ, nhiều ngày bỏ cả bữa ăn. Đêm cũng không thức, chỗ nằm tối thẳm. Tôi in không kịp, nói ảnh tạm ngừng thì ảnh ngừng. Nói có máy, có giấy, nói buổi sáng buổi chiều ảnh đã tới ném bịch xuống cả năm, bảy trăm trang. Cứ thế đem sắp chữ thôi, đâu có thì giờ đọc. Điều kỳ lạ là không riêng một thể loại mà thể loại trước tác nào anh cũng có ngay sách, dễ dàng và nhanh mau vô tả.

Từ thơ đến văn. Từ một cuốn tiểu luận về Camus đến một cuốn tiểu luận về Nguyễn Du. Từ dịch thuật tiểu thuyết đến phê bình triết học. Tất cả như đùa như chơi vậy.”

Rồi Mai Thảo lại đem những thắc mắc này ra hỏi chính Bùi Giáng thì ông chỉ : « Cười cười, đốt điếu thuốc, cầm lấy ly rượu, nói: “vui thôi mà”. “Ừ vui, ba chữ “vui thôi mà” là câu trả lời mơ hồ nghịch ngợm duy nhất cuả Bùi Giáng trước mọi tìm hiểu lực thơ và số lượng thơ không thể tưởng tượng được ở nơi ông, cõi thơ vô bờ của ông trăm phương nghìn ngã mênh mông và chính ông là hiện thân của mênh mông nghìn ngã trăm phương ấy.”

Cho dù là Bồ tát giáng trần, cho dù là thiên tài kiệt xuất thì Bùi Giáng cũng chỉ là một con người nhưng là một con người phi thường mà bao nhiêu trăm năm nữa chúng ta mới có một người như vậy?

Xin mượn hai câu thơ của nhà thơ Nguyễn Hữu Thụy để khép lại bài trích dẫn ngắn này:

“ Dẫu cho sinh bất phùng thời
Còn trong thiên hạ những lời thơ bay…”

Saigon, những ngày mưa

PHẠM THANH CHƯƠNG

TẢN KHÚC CHO MỘT NGÀY

Bắt đầu một ngày với ly cafe góc chợ quê nhà. Bên cái nắng vàng rất vàng của ngày đầu tháng 10, bên từng cánh gió xao lá xao cây chuyển mình chờ hơi đông trở lại. Vài ngụm cafe, vài hơi thuốc, viết vài dòng tưởng nhớ đến hai nhà thơ lớn dù chênh lệch tuổi đời khi sinh, năm mất cũng cách nhau 21 năm, nhưng có cùng ngày mất,tháng mất. Đó là hai nhà thơ Bùi Giáng(1926-07.10.1998) và Du tử Lê(1942-07.10.2019)

Bài này tôi đã nhờ Fb chuyển đến những bạn bè thân hữu. Nhưng ngồi cafe, viết vội nên còn nhiều điều muốn nói mà chưa nói được, nên tôi thêm những cảm nghĩ, suy ngẫm của tôi ở đây như một bày tỏ…

Với tôi cũng như nhiều người khác chung thế hệ, it nhiều đều biết đến một vài tác phẩm hay gần như toàn bộ trước tác của hai nhà thơ cũng là điều dễ hiểu.

Với nhà thơ Bùi Giáng chúng ta còn được biết đến vài tên gọi khác là Trung niên đười ươi thi sĩ, nhà thơ điên, nhà thơ của những cuộc rong chơi, nhà thơ có nguồn nội lực vô bờ bến khi viết. Viết nhanh, viết mọi lúc, mọi nơi trên mọi chất liệu không cầu kỳ.

Với ông, cả cuộc đời Phụng Hiến*cho Thi ca nên ông luôn “… đặt trong bàn tay vạn vật. Quả tim mình nóng hổi những chờ mong”*. Từ đó ông yêu chuồn chuồn châu chấu, yêu “con kiến bé cùng hoa hoang cỏ dại. Con vi trùng sâu bọ cũng yêu luôn”*

Sức sáng tạo của nhà thơ Bùi Giáng khó ai sánh kịp về số lượng được viết trong một quãng thời gian khi đem so với số đầu sách đã xuất bản.

Cùng với đó là cách vận dụng ngôn ngữ rất bình dân cửa miệng của người đời nhưng khi được ông đưa vào thơ lại mang một dáng dấp khác, một uy nghiêm khác. Ở đó, tất cả được ông ban cho sinh hồn, trái tim. Tất cả toát lên một chữ Tình. Tình của người với người. Tình của người với đời. Tình của người với muông chim sâu bọ, đất đá sông ghềnh, thị thành phồn hoa, ruộng đồng làng mạc. Trân trọng là vậy!

Với nhà thơ Du tử Lê,ngoài những tác phẩm thơ chúng ta còn được thưởng thức những ca khúc được các Nhạc sĩ phổ nhạc từ thơ của ông. Chính những ca khúc được nghe mỗi ngày đã đem cái tên Du tử Lê đến với chúng ta một cách phổ cập hơn, gần gũi hơn, thân thiết hơn.

Với tôi, sự kính trọng về tài năng và nhân cách của hai ông, qua những gì tôi được đọc, được nghe từ hồi mới lớn đến nay ít ra cũng nửa thế kỷ, khi tôi hiện tại đã sắp bước tới “…thất thập cổ lai hy”rồi ,vẫn nguyên vẹn cảm xúc vui buồn khi đọc lại những câu thơ, nghe lại những khúc tình ca như buổi ban đầu. Đó cũng có thể gọi là hạnh phúc chăng?

Ngoài những điều nói trên,tôi biết trong những gì tôi viết dù thơ hay nhạc sự ảnh hưởng từ hai nhà thơ đối với tôi là điều không tránh khỏi. Trong chừng mực nào đó,tôi vẫn thầm cám ơn hai ông. Còn thoát được hay không khi viết là do mình, chính mình để tạo cái riêng mà thôi.

Riêng trong lĩnh vực thư pháp, khi muốn gởi gắm một điều cần chuyển tải đến người thưởng ngoạn, tôi luôn tìm đến những câu thơ của hai ông để thay lời tôi muốn nói.

Về âm nhạc, tôi đã phổ cho nhiều bạn thơ bấy lâu nay, coi đó là niềm vui cộng hưởng của người làm thơ, người viết nhạc, tuyệt nhiên không dám coi mình là Nhạc sĩ này nọ. Càng không bao giờ có ý định sẽ phổ nhạc dù một bài của nhà thơ Du tử Lê. Nhưng khi nghe tin ông mất,tôi mạo muội phổ một bài,cũng là bài duy nhất.

Tôi chọn một bài ông viết khi đóng quân ở Pleiku trong những năm chiến tranh nhưng chỉ nói đến Pleiku, một Thị xã nhỏ nhắn với màu dã quỳ vàng ruộm mỗi mùa đông về. It nhiều, dã quỳ vàng đã là biểu tượng của người Pleiku chúng tôi từ đó và mãi sau này. Bài thơ tên PLEIKU VÀ HOA QUỲ.

Đó là cách tưởng nhớ riêng dành cho nhà thơ Du tử Lê.

Đến đây,chợt nhớ đã hai lần được gặp nhà thơ Du tử Lê. Lần thứ nhất là năm 2015, khi ông về TP Pleiku ra mắt tập thơ GIỎ HOA THỜI MỚI LỚN. Lần thứ hai,tháng 10/2018 ông và phu nhân là Nhà giáo Hạnh Tuyền, là cô giáo của nhiều thế hệ học trò Trung học ở Pleiku trước 1975. Về TP Kontum lần đó còn có vợ chồng anh Nguyễn Sơn-Đinh Liên, có cả Huỳnh Quang Vũ, là những người em nhà thơ Du tử Lê rất quý mến. Cuộc gặp gỡ chân tình, thân thiết tại phòng tranh của tôi (khi đó còn hoạt động ở Kontum) luôn là một kỷ niệm đẹp trong đời.

Nghĩ và nhớ về hai lần hội ngộ với nhà thơ Du tử Lê bỗng dưng chạnh lòng khôn tả. Vì đâu và vì sao?

Vì lần thứ nhất ở Pleiku có tôi cùng Khanh vẽ từ Kontum về. Đêm đó còn có Bùi Ngọc Thành nữa. Đến hôm nay, ngồi viết những mông lung này, Khanh vẽ, Bùi Ngọc Thành, anh Nguyễn Sơn và nhà thơ Du tử Lê, người trước, người sau đã bỏ đời sống này bay về miền cổ tích.

Còn riêng tôi… bao giờ để bao giờ?

Chạnh nghĩ… cuộc sống cho dù thế nào đi nữa,dòng đời vẫn trôi, trôi về phía trước theo một dòng chảy vô hình vô hạn. Chỉ con người là có dấu chấm hết cho cuộc hữu hạn mà thôi.

Một ngày rồi sẽ qua.
Một tháng rồi sẽ qua.
Một năm rồi sẽ qua.
Nhiều năm, nhiều năm nữa sẽ qua.

Khi đó… như Trịnh công Sơn đã nói “Những người đến không vì mong.Những người chết không vì quên”.Vậy tại sao khi còn bên nhau cứ phải ganh ghét,tỵ hiềm?Tại sao không xích lại gần nhau hơn bởi “cuộc đời đó có bao lâu mà hững hờ

Một ngày đầy nắng.
Một ngày ngập gió.
Một ngày của bao ngày trong cái Mất Còn muôn thuở luôn khuấy động lòng mình khi có điều gì đó gợi tưởng?

Hôm nay… một ngày như thế!

Hoài niệm đầy ắp trong tôi.

LÊ HÁT SƠN

07.10.2022

*Phụng Hiến, tên một bài thơ của Bùi Giáng và những câu được trích từ bài này.

TRÁI TIM DIGAN

Cứ thả anh đi một mình
giữa mênh mông thành phố cỏ
và cứ mặc anh ngồi yên
lắng nghe tiếng reo của gió

Anh thèm một khoảng trời riêng
như mọi người cần hít – thở
như trăng sao vẫn chờ đêm
nói lời tự tình muôn thuở

Đừng làm viên sỏi vướng chân
hãy buông vòng tay giam giữ
có khi vừa chạm đời nhau
tình yêu sẽ vơi một nửa!

Đừng làm sợi tơ trói buộc
biết đâu tình đứt nửa chừng!
đừng làm trái tim day dứt
xót xa với những giận hờn!

Anh cần một sớm mai trong
một chiều vàng tươm mật nắng
một đêm bình yên giấc nồng
một ngày chứa chan hạnh phúc

Cứ thả anh đi một mình
phố núi chiều nay sương thấp
trái tim hóa gã Digan
suốt đời lang thang nhịp đập…

Nguyễn Hải Thảo