XIN ĐỪNG BỎ RƠI TÔI

MÙI SÁCH CŨ

Có lần, tôi được một người bạn sống ở nước ngoài tặng vài món quà nhỏ, trong đó có hũ thủy tinh đựng nến thơm, một món đồ xinh xắn không có gì đặc biệt. Một buổi tối mất điện, tôi mang hũ nến ra đốt và dần cảm nhận một mùi thơm thoang thoảng, không phải mùi hương hoa mà là một thứ mùi lạ lùng lại rất thân quen, gợi nhớ một điều gì rất xưa cũ.

Lúc đó tôi mới nhìn lại nhãn dán trên hũ nến. Đó là loại nến có mùi hương của … sách bọc bìa da thuộc, loại sách quý được đóng bằng kỹ thuật kinh điển, thường nằm trong các tủ sách giới thượng lưu hoặc là loại sách cổ lưu truyền nhiều đời trong một gia đình bình thường. Nhà tôi chỉ có vài cuốn sách như vậy, bằng tiếng Pháp, để lại từ thời ông ngoại còn làm ở sở Hỏa xa Đông Dương trước năm 1945. Mùi hương đó có mùi giấy cũ, mùi da thuộc và một chút mùi vani, mùi trà cũ… là những gì tôi cảm nhận.

Việc nghiên cứu và kinh doanh mùi hương của sách ở nước ta nghe có vẻ lạ lẫm, nhưng thế giới, nhất là phương Tây, đã đi rất xa trong chuyện này. Ở Anh có một viện mang tên “Viện Số hóa khảo cổ học” đã làm chuyện độc đáo là thu lại mùi từ những cuốn sách cổ thế kỷ XIII tại hai thư viện của Anh và Mỹ rồi tổ chức triển lãm cho khách đến thăm ngửi mùi.

Họ lấy mùi bằng cách đặt sách trong hộp kín 72 giờ, thổi khí tinh khiết vào và thu mùi hương, xong phân tích thành phần hóa học của nó rồi mô phỏng lại. Một số công ty nước hoa và làm nến thơm nắm bắt ngay ý tưởng này, cho ra lò các sản phẩm của mình cho dân “mọt” ngửi mùi sách. Có nơi còn tạo mùi hương lấy cảm hứng từ một tác giả cụ thể, như một người ở Mỹ kể rằng đã được mẹ anh tặng cho một cây nến Charles Dickens có mùi quýt, mùi cây bách xù và đinh hương. Tất nhiên, anh ta là một con mọt sách sống ở một đất nước nhiều người thích đọc sách.

Hình ảnh người mua sách ấp cuốn sách vào mặt hít mùi sách mới rất dễ bắt gặp đâu đó ở nhà sách, ngoài đường sách. Vậy sách có mùi gì? Tôi nhớ sách thường có mùi thơm nhẹ như vani, có khi có mùi chua nhẹ. Người ta nghiên cứu rằng giấy làm từ gỗ có chứa chất clignin, một hóa chất có liên quan mật thiết với vanillin là hợp chất tạo ra hương vani.

Ở Anh, từ một cuốn sách cổ xuất bản năm 1928, người ta ngửi thấy một phần của cuốn sách này là một trong tám mùi không xác định, bao gồm mùi sô cô la, mùi lửa than, mùi… nhà trọ cũ, mùi chợ cá, mùi vải lanh, bã cà phê, nước xốt và cà ri. Ở nhiều nơi, người ta cảm thấy mùi sôcôla là phổ biến nhất. Sau đó là mùi cà phê, mùi cà ri, gỗ và mùi than củi. Sách trong một nhà thờ ở Anh có mùi gỗ, khói, đất, vani, mùi mốc, hạnh nhân, mùi cay nồng, dược liệu, hoa, trái cây, mùi bánh mì, cam quýt, mùi chua, và mùi kem…

Tôi nghĩ, nếu có ai thích ngửi mùi sách, thật ra đó là tình yêu đối với sách mà mùi hương là chất dẫn truyền.

Chắc chắn mùi của sách ở châu Âu khác mùi sách ở xứ nhiệt đới. Cuốn sách trong căn nhà ẩm thấp hay thiếu vệ sinh dễ hình thành mùi của sách. Sách càng cũ càng có mùi riêng. Mùi sách có được còn từ những thói quen của người đọc sách. Có ai ăn vặt khi đọc không? Có ai đã làm đổ rượu, hút tẩu, hay vừa đọc vừa nấu bếp đốt bằng củi? Có cuốn sách nào được dùng đế… chống chân ghế hoặc đập con ruồi, con muỗi hay con gián không? Có ai ép lá thuộc bài, cánh hoa hồng hay cánh hoa phượng không? Tất cả đều tạo nên hương của sách.

Vậy sách ở Việt Nam có mùi gì?

Thập niên 1940, khi giấy in khan hiếm, người ta dùng giấy dó in sách, vậy sách bằng giấy dó có mùi gì?

Sau năm 1975, giấy in sách dùng giấy tái chế có mùi gì? Trong trí nhớ, tôi nghĩ đó là mùi than củi khét, mùi cỏ khô, có đúng vậy chăng? Mùi sách in bằng giấy tái chế gắn chặt với thời bao cấp khốn khó, thèm đọc sách đến độ không thể tưởng tượng rằng mình có thể đọc được những cuốn sách giấy đen xỉn đến như vậy. Mua lại vài cuốn sách xưa như Đội săn của quốc vương Xtac hay Nhà nguyện Critxtốp, lại cảm thấy có mùi ẩm mốc và mùi bụi lâu năm không thoát được.

Mùi sách gắn với những kỷ niệm. Tôi nhớ ba tôi thích vừa đọc sách vừa rít ống điếu (bây giờ gọi là tẩu). Khi giở mấy cuốn sách ba thường đọc đi đọc lại như bộ Con đường đau khổ của Alexey Tolstoi hay bộ Sông Đông êm đềm của Solokhov, thoảng qua mùi thuốc lá Gò Vấp. Tuy nhiên, khi giở ra bộ Tam Quốc Chí mà ông đọc thường xuyên thời trước 1975, lại có mùi thuốc lá nhồi Half and Half mà sau này tôi biết đó là mùi anh đào.

Những ngày hè mùa mưa tuổi nhỏ, không đi chơi được, tôi ôm bất cứ sách gì đang có để đọc. Ánh sáng ngày mưa ngoài cửa sổ không đủ nên sách được dí sát vào mắt. Tôi nhớ nhiều cảm giác lúc đó với mùi sách ấm, hơi chua sát tận mũi.

Tôi nghĩ, nếu có ai thích ngửi mùi sách, thật ra đó là tình yêu đối với sách mà mùi hương là chất dẫn truyền. Cuốn sách mới mua, nâng niu trên tay nhưng chưa đọc được ngay thì động tác ấp sách vào mặt để cảm nhận mùi hương là cách tiếp nhận ban đầu chóng vánh nhất. Đối với những cuốn sách xưa cũ, sách quý trong thư viện mới có, sách do người Pháp viết về Đông Dương, sách giấy dó của Tản Đà, sách L’art à Hue… mùi sách đôi khi ẩm mốc, đôi khi khô cứng hay bụi bặm…. tỏa ra mùi quá khứ, mùi thuộc địa, mùi của những ngày xưa lạc hậu, lễ nghĩa cũ mòn… Ai đã cầm đến những cuốn sách này: ông Tây thực dân? Cụ Vương Hồng Sển? ông Sơn Nam?… Nó đã nằm ở đây từ khi nào, lưu lạc vào Nam từ biến cố 1954, Huế 1968 hay được thu mua sau này?

Người ta có thể đoán tuổi một cuốn sách dựa vào mùi giấy cũ in ra cuốn sách đó đang trong quá trình tự hoại dù rất chậm. Điều đó được giới bán sách cổ nghiên cứu kỹ. Trong số đó, vài người đã tìm cách làm sách cổ giả, ngoài hình thức cũ kỹ và tàn tạ bằng kỹ thuật in ấn, kỹ thuật đóng sách theo kiểu cổ điển và nhiều thủ thuật khác, họ bắt buộc cần phải tạo mùi mốc, ẩm lâu ngày, bụi và những mùi khác để đẩy tác phẩm giả mạo tinh vi của mình lên giá rất cao mà chỉ giới siêu giàu mới mua nổi. Đó là câu chuyện ở nước ngoài và biết đâu nó sẽ lan tới thị trường sách Việt!

Tôi nhớ mấy năm đầu thập niên 2000, thị trường sách khởi sắc do các công ty văn hóa tư nhân được làm sách liên kết. Sách tồn nhiều nên vài nơi bắt đầu bán sách giảm giá, đến tận kho chọn lựa. Cảm giác được bò dưới sàn xi măng lựa sách, lúc đó đã bề bộn không theo thứ tự nào, thật sung sướng. Mùi sách cũ lưu kho thoảng trong không khí, không giống lắm mùi của những tiệm sách cũ… kiểu gì cũng là những khoảnh khắc hạnh phúc, nhắc tôi nhớ tuổi nhỏ cùng anh đi mua sách ở mấy cái sạp gần khu vệ sinh công cộng trên đường Lê Lợi, và những lần tự đón đi xe lam ra chợ sách cũ Đặng Thị Nhu sau năm 1975…

Phạm Công Luận

SÔNG,

SÔNG,

Dòng sông, không còn dòng sông nữa
Bởi hôm qua có kẻ qua đời
Hồn trôi lạc chỉ vì sấp ngửa
Tôi ở đâu trong trí nhớ tôi

Dòng sông, chỉ còn trong trí tưởng
Bởi hôm qua mưa đã xóa nhòa
Hồn khải niệm mùa thu cánh phượng..
Hương bay ngang chỉ một thoáng qua

Dòng sông dòng sông nước dửng dưng
Thuyền không, chở nổi cánh hoa xuân
Bởi như sông dòng sông như đã
Lạnh lùng! Trong mỗi sớm chim khan

Dòng sông, không còn dòng sông nữa ..
Người qua bờ mỗi chuyến dở dang
Còn đâu chiếc cầu treo nghiêng ngửa
Đưa người ta chẳng có bến sông.. 

BỤI,

Thêm vài năm nữa còn ai đưa tiễn
Thuyền đã chìm đáy quá khứ không tên
Bầu trời thăm thẳm … vài con én
Liệng vào đêm đen bóng lãng quên

Đất trở nghiêng mình thêm hạt bụi
Cỏ cây về vui với tối … tăm
Lỡ lầm .. có nên mà ước hẹn
Trăm năm lời phủ dụ từ tâm !


Ta đi nhé y… như lần vỡ mộng
Về đâu ta chẳng thể về đâu
Những yêu thương có chút nào lộng lẫy
Những con đường cùng.. hóa biển dâu


EM PLEIKU ,

Tôi cũng biết rằng mùa Thu Pleiku
Ở thì buồn xa đi thì rất nhớ
Vẫn những đồi sương phố núi mây mù
Và những cơn mưa sụt sùi bụi đỏ

Tôi cũng nhớ bài thơ em ở đó
Như sương giăng lãng đãng suốt mùa
Và áo em bay chiều vương mưa phố
Nét dễ thương về nép dưới Thu mưa..


VỀ SÀI GÒN,

Về sài gòn chỉ để tủi buồn thêm
Phố xá cao cao những con đường ngập nước
Chống úng bên hông đường đông tây phía trước
Sài Gòn bây giờ hay trũng viễn đông

Về Sài Gòn hỏi xem còn vui không ?
Đâu đấy nữa đôi hàng cây lấp lánh
Hố tử thần đó đây em cố tránh
Phố Sài Gòn trắng dã nước mênh mông

Qua Quang Trung nhớ tìm hàng Bả Đậu
Những ngày mưa tháng nắng đã giã từ
Dẫu có phai nào Vườn Tao Ngộ
Chủ nhật nào thơm mát bóng tiểu thư

Sài Gòn bây giờ như tiết sang đông
Nước triều dâng gội rửa những phong trần
Đã lận đận phong ba từ năm tháng
Để Đế Đô trầm mặc biết bao lần

Sài Gòn của những công trình thật kỳ tân !
Đi giữa phố nhấp nhô từng cao thấp
Người phu quét đứng nhìn đường đã ngập
Mà mơ hồ những chiếc lá thu xưa


Sài Gòn ơi ! mùa thu vội ướt mưa
Giữa thành đô như chưa từng mưa vậy
Sài Gòn thiếu đi bàn tay vẫy
Đi qua em cứ ngỡ nữ đạo Hồi


Sài Gòn ơi ! áo tha thướt đâu rồi
Đâu Thánh lễ người xem ngày chủ nhật
Chiều Giáo Đường lằng lặng ướt mưa rơi
Về Sài Gòn dấu chân xưa lạc mất

Sài Gòn đi thấy trời không thấy đất
Muốn tìm em mất dấu những con đường
Để bây giờ trôi dạt mất ngàn phương
Sài Gòn ơi ! như có lần tiễn biệt..

hoa nguyên.

Cảm Nhận Mùa Thu

Chiều Nay Trời Có Gió

LẠC TƯỚNG VÀ CỔ THƯ

1.
Nghìn trang kinh ủ lời mê
Chìm trong tiếng hạc, lạc về cõi hư

Vạch họa đồ, xáo cổ thư
Tây đoài, Bắc khảm, mưa thu, hạ hường

Phông phênh áo hẹn hoang đường
Hoa thêu cỏ lạc
tha phương não nùng

2.
Ra đi sương độ vừa bung
Ngàn năm
sương dậy ngập cùng lê thê

Trẩy qua từ độ sương mê
Sao Hôm nghẽn lối,
sao Khuê sương ngàn

3.
Giẫm trên cổ độ trăng lan
Núi in Lạc Tướng hồn man dại rừng

Nỏ, tên thành đá hoa cương
Đao binh tiền kiếp vấn vương bụi hồng

4.
Ra đi từ độ trăng không
Hồ cầm ai khảy tiếng đồng cung thương
Trống chiêng hóa đá vô thường
Dội hồn Lạc Tướng biên cương lỡ làng

5.
Tìm về quan ải hỗn mang
Gặp chương hóa thạch mấy ngàn năm trôi

Thấy bên khiên giáp tả tơi
Trường thành hoang phế. Nàng ngồi khóc ta

HẠ QUỐC HUY

Gang Tấc


Mùa Thu đâu đã lá phong vàng?
Đây, đã hơn tuần, nắng chói chan!
Sắp tới tháng Mười  ôi quá nóng
Ngày nào cũng nắng…nắng hoang mang!

Biến đổi toàn cầu, đây trở ngược
Rừng vừa tàn lửa khói còn bay
Bao nhiêu tro bụi xanh thành phố
Cây vẫn xanh dờn tới ngọn cây!

Phong cảnh Cali ngộ với kỳ
Người người không nỡ bỏ đây đi
Bởi đây sa o cũng đời no đủ
Thấy mệt thì than chớ… chẳng gì!

Sẽ hết nóng thôi, ai cũng biết
Sẽ không còn dịch…nếu không còn!
Trải qua bảy tháng ghìm chân cẳng
Trời thấu lòng người chắc phải bung?


Niềm tin sắt đá vào Thiên Chúa
Cũng rất trung thành Phật Tịnh Như.
Những tiếng chuông mai, chiều vẫn rộn
Tiếng lòng lấp lửng  Cuộc Phù Du!


Bạn tôi ở tận trên miền Bắc
Ở tận trời Đông nói lạnh rồi
Mà tiếc máy bay chưa mở cửa
Thì thôi không thiết cuộc rong chơi…

Tôi viết hồi âm đuơc mấy dòng
Coi như đầu núi gửi đầu sông…
Cái xa cách chỉ là gang tấc
Cái sự muôn trùng, nỗi nhớ nhung…

Trần Vấn Lệ

Một Tôi Giữa Đất Trời

MẠT VẬN

Thôi bẻ đời ta thanh kiếm gãy
Thôi vỡ đời ta ly rượu buồn
Ta uống không đành, men rượu đắng
Ta nuốt không đành, giọt lệ tan

Chí lớn lặng chìm trong đáy cốc
Ta thương Phạm Thái khóc Quỳnh Như
Chí lớn tan chìm trong khóe mắt
Ta thương Từ Hải, Thúy Kiều ơi

Ta thương ta sóng chìm sông Dịch
Thì đắng cay chi lòng Kinh Kha
Ta bẻ đời ta thanh kiếm gãy
Ta chết không đành, sống xót xa

Muối mặn gừng cay, không đành đoạn
Mà trăm năm đành đoạn tan lìa
Ta nợ từng mầm cây ngọn cỏ
Nợ khói quê nhà, nợ ánh trăng khuya

Ta nợ tình em không trả nổi
Năm mươi năm đá nát vàng phai
Thuyền ta chìm giữa dòng hưng phế
Thuyền em trôi giữa dòng thiên tai

Ta đốt lòng ta không đủ sáng
Ta ươm tình ta không nẩy mầm
Sinh bất phùng thời, hề chí lớn
Tan như hạt muối giữa trùng dương.

                   

MỘT TÔI GIỮA ĐẤT TRỜI

Mình tôi với những con đường
Quanh co trong cõi vô thường nhân gian
Buồn rơi giọt nắng khô tàn
Lá mùa quên lãng rụng vàng giấc mơ

Buồn trong tôi những sợi mưa
Tự nguồn thiên cổ về chưa hết sầu
Réo gì lời thiết tha đau
Đường tôi gãy những nhịp cầu trần gian

Nhớ gì mà sương chưa tan
Còn che kín cõi tình dang dỡ tình
Một tôi trời đất rộng thênh
Quanh co đường quạnh buồn tênh phận mình.

                         

MÙA CẠN

Lòng hoang vu tình như bãi cạn
Ta con còng khổ bò quẩn quanh
Vắt kiệt đời xanh đau mùa hạn
Gió cháy cồn lau cúi rạp mình

Nắng sém ghềnh run nghe đá vỡ
Cây trơ cành úa quặn khô mầm
Khói cuộn cuồng phong trời hấp hối
Lửa đốt hờn căm đất nát bầm

Ta ném đời ta như hòn sỏi
Lóc cóc khua hoài một cõi mê
Ta ném đời ta viên ngói vỡ
Mặt đời lếch thếch trượt lia thia

Ta búng đời ta mẩu thuốc tàn
Tình bay màu khói lụn tro than
Đành dối lừa nhau cơn say ảo
Ta buồn như kẻ vừa cư tang

Ta nhặt đớn đau từng sợi tóc
Cơ hồ như sợi máu tàn phai
Ta nén vào tim từng tiếng nấc
Giọt máu nào rơi tiếng thở dài

Đời lăn đau xác thịt khô gầy
Đời mộng du suốt cuộc lưu đày
Ai gióng vội hồi chuông báo tử
Tình xanh chết yểu từ trong thai

Nằm nghe gió hú rên mùa cạn
Năm tháng đui mù lấp bãi khuya
Vì sao rụng tắt mù phương hướng
Thiên thu lệ cháy mộng tan lìa

Vung tay vạch một đường sinh tử
Dẫu chết bên này hay bên kia
Ta ngồi đọc hết trang cuồng sử
Máu biển xương rừng khóc mộ bia.

Lê Văn Trung

Dấu Ấn Một Mùa Thu

Nhật Ký của ngày thơ tình thơ.

1.

…”Chúc mừng em bước chân vào thế giới tự do…”
Những hàng chữ nhấp nháy vui vẻ với một dọc các biểu tượng cười, Cái Email dầu tiên tôi nhận được trên đất Mỹ là của T. Người mà tôi đã tưởng nếu -thôi-yêu-thì-chết của thời nào … nhưng lạ thay, tôi lại gặp những người tôi yêu hơn… rồi lại gặp những người yêu hơn nữa… Đầu óc tôi có vấn đề hay sao đó!
Ôi, cuộc đời…
Tôi là một người mang trái tim đầy trắc ẩn, lưu luyến và yêu quý từng hạt bụi nhỏ nhoi huống chi là với một con người thực thể… nhưng sao trái tim tôi cũng thật dễ dàng quên lãng để đến nỗi tôi cứ phải tự khuyên nhủ mình:

”Đừng mang lòng ngờ vực
Khi tình yêu còn đầy
Giữa đôi bờ hạnh phúc
Đã nhuốm màu tàn phai”

Trước sau gì tự nó cũng nhuốm màu tàn phai thôi mà. Tôi đâu giống các nhà thơ yếu đuối khác , cứ vội vàng chạy đi chôn cất những mối tình vào đâu đó !
Tôi tuổi Nhân Mã, thích màu xanh lá cây nhưng luôn phô trương cái vẻ bề ngoài bằng màu đỏ. Là dạng người mà tử vi cung cấp thông tin: Một con sư tử ẩn trong một con cừu… Tôi không tin tử vi nhảm nhí. Tôi chỉ cố chứng tỏ với mọi người rằng tôi chỉ là một con cừu ẩn trong một con sư tử…
Và nói chung chẳng ai tin điều đó .
Có hề chi
Chỉ một người tin tôi là đủ …

2.

Tôi sinh ra với một vết chàm trên má. Từ khi biết soi gương tôi đã thấy mình bất hạnh. Vết chàm nhỏ bé thôi nhưng đã làm tuổi thơ tôi đau đớn, tôi thu mình vào cái vỏ ốc của riêng tôi, tôi nâng niu nỗi bất hạnh của mình để thấy mình cô độc cho đến ngày T. chạm vào và nói: ” Ồ , dễ thương quá, giống như một trái tim nhỏ bé “, bình thường vết chàm màu nâu nhạt, khi tôi giận nó màu nâu đậm,  khi tôi buồn nó ửng như một vết  son, khi tôi vui nó hầu như biến mất…
Chưa ai nói với tôi điều đó ngoài T.  Vậy thì tôi phải vui thôi.
Lớn hơn một chút, tôi để tóc dài che một bên để đừng ai thấy. Tôi học trường dòng, kỷ luật rất nghiêm. Tóc phải cột gọn gàng. Soeur Hiệu Trưởng nhiều lần gọi tôi lên văn phòng để  chép phạt. Khi thấy tôi khóc và lấy tay che vết chàm, Soeur ôm tôi vào lòng, thương xót: “Chúa đã cho con một dấu ấn đặc biệt khác với mọi người. Hãy cảm ơn Chúa và đừng làm Ngài thất vọng.”
 Tôi không biết trang điểm để che dấu khiếm khuyết của nhan sắc.
Tôi lại càng không biết ngụy trang để bảo vệ tâm hồn mình.
Tôi cô độc và trống rỗng…

   Tôi hay chống cằm, T. nói: Thói quen của những người hay mơ mộng. T. nói: Không việc gì phải che giấu trái tim. T. nói… T. nói…
Chưa ai nói với tôi những điều như thế và tôi được an ủi biết bao…
Nhiều năm sau gặp lại, câu đầu tiên T. hỏi: “vết chàm đâu?”
Tôi hồn nhiên trả lời: “đi thẩm mỹ viện xóa rồi, bây giờ thấy em đẹp không?”
T. giận.
Tôi mất T. từ đó… 

3.

Từ đó, tôi mất T.
Từ đó, dường như trong tôi có hai con người, một cứ trôi theo thời gian mà sống, còn một cứ quay đầu nhìn lại phía sau.
Đâu đây, có người ôm đàn đến giữa đời nghêu ngao hoài câu hát: ” Giấc mơ của tôi là cánh chim hải âu bay xa khỏi tầm tay và tiếng sóng...”Giấc mơ của T. hoang dại và vời vợi mây trời, còn giấc mơ của tôi chỉ là thế giới của tuổi thơ nhỏ bé: luôn thấy mình đi học trể, luôn thấy mình không thuộc bài, luôn thấy mình thi rớt,  luôn thấy mình đi lạc… và thức dậy với ngập tràn nước mắt. Tôi gọi T. ơi…
Không còn ai trả lời.
Không còn ai ở đó.
Chỉ đơn độc mình tôi soi gương nhìn vết chàm nâu nhạt.
Không còn ai vẽ lên một trái tim.
Không còn ai vẽ lên một bông hoa.
Không còn ai vẽ lên một môi cười.
Không còn ai…
Chỉ còn lại một vết chàm đơn điệu và xấu xí…

Tôn Nữ Thu Dung