Giọng sầu

 

Tôi về đây nhớ chiều xanh
Con chim nào hót trên cành khô kia
Dòng sông mấy nhánh chia lìa
Đêm thành phố lại trầm mê giọng đồng
Hát đi em mấy mùa đông
Con chim cũng hót trong lồng nhân gian
Con chim nhớ mặt trời tàn
Nhớ sương đầu lá đêm vàng trăng rơi
Bây giờ tôi hát cho tôi
Và em sẽ hát cho người ta nghe
Để đêm nào bước chân về
Cô đơn đường phố lòng nghe rã rời
Giọng kia đã mất trong lời
Hồn kia đã lạc cõi đời điêu linh
Thôi em cứ hát cho mình
Đời quay trái đất vô tình tháng năm.

HOÀI KHANH

Như bóng mây bay cuối trời thương nhớ

Ngày không dưng chiều nắng quái lại về
Mang chút gió nồng nàn mùi hương cũ
Em đâu biết bầy chim xưa làm tổ
Trên ngọn sầu đông xanh biếc bao mùa

Mấy mươi năm người vẫn xa người
Như bóng mây bay cuối trời thương nhớ
Mộng đã tan. Trời ơi! Anh cứ ngỡ
Mắt thiên thu khép kín tự bao giờ

Em có buồn mai anh chết trong thơ
Hồn say khướt rượu đời chưa uống cạn
Em có khóc mai anh không còn sống
Cũng đừng quên chạm cốc lúc chia ly

Mưa Sài Gòn sẽ tiễn bước anh đi
Hồn vất vưởng theo đường em đến lớp
Tuổi học trò giấu thư anh giữa ngực
Em đi rồi bỏ lại trái tim đau

Mấy mươi năm ôm ấp mối tình sầu
Anh khốn khổ gò lưng qua ngõ lạ
Đứng chờ em – chờ đến khi hoá đá
Thành tượng đài đặt giữa trái tim mê

Ngày không dưng chiều nắng quái lại về
Em lẩn khuất giữa dòng đời xuôi ngược
Mấy mươi năm làm sao ai hiểu được?
Mối tình xưa – anh vẫn giữ trong lòng.

LINH PHƯƠNG

MỘ KHÚC SERENADE

 

Chủ nhật mùa hè 1826, buổi chiều nghiêng, nắng nuối tiếc rớt vài giọt vàng hấp hối. Trời đà thăm thẳm tím, chút tím vàng pha ráng hồng. Vài cánh chim lao xao khi ánh đèn thắp lên cuối làng. Những hàng sồi run rẫy. Người vẫn đi lang thang chưa muốn về. Nhưng chân đà mỏi và tim bồi hồi khát vọng mơ hồ. Cái khát vọng khó tả của người nghệ sĩ. Quán bên đường đã xôn xao tiếng người, cuộc vui như thường lệ của đời sống vào ngày cuối tuần. Những thửa lúa mạch đã gặt xong và con người như muốn gần nhau hơn khi nhàn rỗi. Tiếng cười nói cụng ly rộn ràng mời gọi, những ly bia đen sóng sánh bọt vàng trong ánh chiều. Những đôi nhân tình nắm tay khuất sau hàng giậu, trả lại những vạt nắng chiều dang dở cho kẻ cô đơn lang bạt. Schubert ngồi xuống cùng nhóm bạn, sau hàng rào ô liu thơm mùi cây trái. Vài cô gái trên hàng hiên cất quần áo đã khô nồng mùi nắng gió. Vài cô tựa ban công nhìn trời…

Schubert chạnh nhớ. 10 năm trước, trăng lưỡi liềm nhú lên trong vườn khuya. Không gian im ắng ngoại trừ tiếng con chim sơn ca lạc lõng hót. Tiếng hót giữa muôn trùng áo não thiết tha. Schubert đứng cạnh bên nàng Therese Grob, áo đầm phồng phủ trùm đôi chân nhỏ ngực nàng phập phồng trong chiếc corset bó sát, ánh trăng mờ soi những đường cong sáng trên làn da mịn. “Vì sao chàng không tiếp tục chơi đàn trong khánh phòng?” Nàng hỏi. “Đêm tha thiết gọi tôi ra đây!” Schubert trả lời. Nàng khẽ quay gót.” Xin đừng đi”. Schubert nói khẽ. “Em chỉ đi dạo tí thôi.” Nàng dừng lại đợi. Schubert cầm tay nàng và bước theo, mắt không ngừng nhìn trời. Mặt chàng như thất thần và trống vắng. “Chàng đang nghĩ gì vậy?” Chàng quay lại và nói khẽ như thú tội. “Chỉ là một giai điệu, nó cứ âm vọng trong đầu.” Hát cho em nghe đi. Chàng từ chối: “Chưa đâu! bài hát chưa xong.” Mắt chàng lại ngước lên khoảng không. “Khi nào xong chàng sẽ hát cho em nghe chứ!” “ Dĩ nhiên!” Chàng đáp. “Chàng chưa bao giờ tặng em bài gì cả, chưa có một bài ca ngắn ngủi nào cho em cả.” Nàng hờn dỗi. Ngực nàng thổn thức chừng như đón đợi giọt nước mắt long lanh. “Tấc cả đều dành cho nàng. Các ca khúc trong 3 năm vừa qua khi chúng ta yêu nhau.” Chàng trìu mến quay nhìn mặt nàng. Nàng không nhìn lại. “Tôi sẽ hát cho em khi trở lại.” Chàng hứa. Nàng vẫn còn hờn dỗi nhưng chừng như an lòng. “Giờ anh phải đi! một ca khúc đang gọi mời anh. Anh đã gần gũi ca khúc này lắm, dường như nắm chặt nó trong đầu.” “Dành cho em chứ?” Nàng nhắc lại trong mơ hồ nghi hoặc. Rồi nàng chợt hỏi: “Mà sao mọi khi các ca khúc chàng làm nhanh lắm? Không như ca khúc này.” “ Đúng vậy, ca khúc này sẽ không như bao ca khúc khác. Nó sẽ ngọt ngào, sẽ nhẹ nhàng xa vắng, sẽ tinh khôi như tuyết đầu mùa, như lộc non cựa mình. Giai điệu đang réo gọi anh..”Chàng lại thì thầm như mộng du. Nâng bàn tay nhỏ xinh trong tay áo lụa phồng, chàng khẽ hôn lên và quay bước. Bóng chàng khuất trong bóng đêm, tiếng bước chân như lá rơi…

Nàng và Schubert đang đắm trong mối tình đầu ngất ngây. Cả hai đều che giấu một thực tế nghiệt ngã. Cha nàng mất sớm, người mẹ góa bụa phải trông nom một xưởng  tơ lụa nhỏ, cách không xa ngôi nhà của Schubert. Nàng có một giọng ca trong veo quyến rũ, làm ngất ngây những buổi sáng chủ nhật trong nhà thờ, nơi Schubert hàng tuần đến dự như con chiên ngoan đạo. Em trai nàng là một tay đàn piano và violon có năng khiếu. Âm nhạc đã vang lên giữa hai gia đình như sợi tơ duyên vô hình quấn quít. Thế nhưng chàng vẫn chưa có danh phận và tiền bạc. Luật lệ khắc khe buộc hôn nhân phải được bảo đảm bằng nghề nghiệp cơm áo vững chắc. Năm 1816 khi ấy Schubert tròn 19 tuổi mộng đầy mà tay trắng, chàng đệ đơn lên tòa án thành phố xin cưới nàng. Tòa bác đơn.

Ly bia mang ra sóng sánh đầy. Schubert nâng cạn cùng bạn bè. Tay chàng lau bọt bia trên miệng, ly bia ngon làm lòng hứng khởi. Chợt ánh mắt chàng rơi xuống cuốn thơ của Ludwig Rellstab mở sẵn trên bàn. Bạn của chàng đang đọc dở dang. Bài thơ Serenade – Mộ khúc. Như nam châm chàng bị cuốn hút vào những dòng thơ. Khuôn mặt chàng biến đổi, khi giãn ra khi dằn vặt, chàng cười mĩm rồi ngâm nga nhè nhẹ. Rồi chàng ngẩn lên nhìn quanh vào trời chiều. Xung quanh ồn ào tiếng người cười nói. Đèn sáng trong vườn quán và bóng chiều tím sẫm như ly rượu vang. “Đưa tôi cây bút chì!” Mắt chàng sáng rực, tay run rẫy. Ai đó đưa chàng cây bút, một tờ hóa đơn với vài khung nhạc kẽ vội ở mặt sau. Bạn bè lơ đãng tiếp tục cạn ly nói cười. Vài phút sau Schubert ngẩn lên, chiếc gọng kính nhấc lên trán, chàng khẽ ngâm nga và cất vội tờ giấy vào túi áo. Đám bạn vây lại đòi xem . “Không dành cho các bạn!” Chàng đáp: “Đã lâu tôi tìm kiếm bài ca này, qua núi cao, trong bão giông, trong bình minh, nhưng giờ mới gặp.” Chàng lắp bắp như nói với chính mình, giai điệu mộ khúc âm vang trong hồn:

Chiều buồn nhẹ xuống đời
người tình tìm đến người
thấy run run trong chiều phai…

 Schubert như thấy mình đứng trong vườn khuya kỷ niệm. Mối tình đầu xanh xao như ánh trăng non, đủ soi sáng ánh mắt nàng xanh lơ và mái tóc vàng trong đêm, khi nàng tựa ban công nhìn về xa thẳm. Trong bóng tối phủ vây tứ bề của hàng sồi, buổi chiều tạ từ để đêm xuống mang nỗi tự tình lao xao run rẫy. Chàng đứng đó dưới ban công nhà nàng, cất tiếng ca trong bóng đêm như đồng lõa, che giấu đi nét ngại ngùng tỏ tình.

Vẻ sầu của đóa cười
tình bền của lứa đôi
thoáng hương trong chiều rơi…

 Lá cây trên cao lao xao cùng tiếng chim về tổ. Thoảng nghe tiếng con chim sơn ca hót thảnh thót giữa yên ắng của đêm. Tiếng chim lạc lỏng thiết tha như tiếng lòng chàng thổn thức cho mối tình tuyệt vọng. Buổi chiều chết lịm êm ả. Cho hoàng hôn đến cô liêu. Cho người cần người, những tiếng yêu thương.

Chiều nay hát cho xanh câu yêu đời
cho người thôi khóc thương ai!
Cho niềm yêu đến bên tôi!

 Và chàng hát thì thầm khúc nhạc chiều. Dạ khúc hay mộ khúc? Giai điệu ru mơ như chiều xuống, giai điệu êm ả như khuya rơi, giai điệu thanh thoát như tình buông. Tiếng đàn trầm gót chân hò hẹn. Cung thứ buồn lãng đãng giọt thương. Sầu riêng tư gởi gắm muôn phương. Cho tình cũ hay dặm trường nhân thế.

Một ngày đó tóc mây đã phai màu
Có chờ ta oán trách đâu?
Có vì duyên kiếp không lâu

 Yêu nàng khi còn thơ, mối tình đầu ngu ngơ. Nay chàng 29 tuổi nhưng chàng đã nhuốm bệnh. Thất vọng vì âm nhạc và đời nghệ sĩ chẳng đem đến danh vọng sự nghiệp. Chàng hối hả sống và sáng tác. Một sự nghiệp sáng tác lấp đầy dòng nhạc cổ điển trử tình Châu Âu. Những dàn hợp xướng, những bản nhạc kịch. Những đoản khúc ngợi ca tình ái. Ngay cả Beethoven trong những ngày cuối đời trên giường bệnh đã cảm thán khi đọc những dòng nhạc của Schubert: “Thật là một thiên tài ẩn náu trong Schubert này!” Vậy mà tấc cả vẫn chưa đem đến kịp cho chàng cuộc sống phong lưu. Một mái ấm hôn nhân. Và chàng nhuốm bệnh phong tình qua những cuộc chơi. Chàng tiếp tục tiêu pha hết đời mình vội vã. Như sợ chiều sẽ đến sớm và đêm thì không dài.

Đời sẽ thấy chúng ta sống không cầu
Cho tình cứ úa phai mau
cho người cứ mãi phụ nhau…(*)

 Schubert vứt bút và bỏ đám đông rảo bước về. Đêm đặc quánh những thôi thúc huyền ảo. Tiếng đời thôi còn lao xao sau lưng. Con đường về gập ghềnh trong đêm vắng. Cô đơn đi với âm giai, vương vấn trong lòng. Một khúc nhạc chiều ra đời, đẹp ngời hơn cả chuyện tình riêng tư của chàng. Bởi chàng đã tìm thấy cứu cánh trong âm nhạc. Âm nhạc đã giải thoát xác thân nghèo nàn. Ca khúc ngỡ chỉ dành cho Theresa đã trở thành cho các tình nhân. 4 năm sau thì nàng đã thành hôn với một người chủ tiệm bánh. Lời hứa năm xưa đã mãn nguyện. Giai điệu thai nghén 10 năm trong cuộc tình đã bật ra một chiều. Một giai điệu êm ái mà thiết tha, sâu lắng mà đậm đà, không hờn trách tuyệt vọng, đã trở thành giai điệu bất tử cho đời.

Hai năm Schubert từ biệt cõi đời một buổi chiều, chàng vừa qua tuổi 31. Hai năm sau khúc hát được đưa vào tuyển tập Bài ca thiên nga, những khúc hát của con chim thủy chung, mang vũ khúc hân hoan đến phút cuối cùng, trên mặt hồ đời sống áo cơm đầy sóng vỗ. Mộ khúc mãi còn đó đẹp như một bản tình ca bất tử. Cái đẹp đi thẳng vào lòng người không cần giải bày. Đẹp đến thiên thu. Chừng nào trái đất còn quay, chiều rơi mỗi ngày và người tìm đến người.

SEAN BẢO

NẰM NGỦ TRÊN CẦU

 

 

Thuở bé, đọc Tây Du Ký tôi rất thích đoạn tả  vua khỉ Mỹ Hầu Vương (Tôn Ngộ Không sau này) nằm dựa thành  cầu ngủ say sưa trên đường về,  sau một chầu nhậu với bạn bè gồm vua của các loài thú .Trong giấc ngủ,  Mỹ Hầu Vương bổng thấy  có hai tên quỷ sứ đến mời đại vương khỉ đi chầu…Diêm Vương.
Gặp Diêm Vương, vua khỉ hỏi :” Diêm Vương mời ta đến đây có chuyện chi?”
Diêm Vương đáp “Đại vương đã tới ngày tận số nên không còn được sống trên dương thế. Đại vương phải xuống âm ty để chờ xét xử. Nếu đại vương ăn ở hiền đức, đại vương sẽ được  tiếp tục đầu thai  làm khỉ.. Nếu ăn ở ác nhân,  ác đức , đại vương sẽ bị trừng trị ở chín từng địa ngục, sẽ bị cưa hai, bị nấu dầu, bị cắt đuôi, cắt  lưỡi…”
Mỹ Hầu Vương rụng rời tay chân thầm nghĩ :” Chẳng lẻ từ nay ta không còn được  đánh đu, rong chơi, bơi lội … làm vương làm tướng lủ khỉ nhỏ nơi Thủy Liêm Động thân yêu?”
Bọn Diêm Vương này là ai mà dám xét xử ta. Vốn thông minh, Mỹ Hầu Vương biết lúc này mình phải tỏ ra nhún nhường:
”có gì làm bằng chứng rằng ta đã tới số ?”
Diêm Vương sai thư ký   mang ra cho Mỹ Hầu Vương xem một quyển sổ dày ngoài bìa ghi  “Hộ Tịch Loài Khỉ” , trong đó có ghi rành rành Mỹ Hầu Vương ngày , tháng đó là phải chết.
Vua khỉ giả bộ liếc ngang qua rồi bất ngờ xé toang quyển sổ.
Mỹ Hầu Vương nằm ngủ  trên cầu mấy ngày bổng tỉnh dậy. Bọn khỉ nhỏ vui mừng hò reo  khi Đại Vương  của chúng  kể lại câu chuyện  chầu Diêm Vương và cho biết rằng từ nay loài khỉ được miển dịch với cái chết.
Mấy ngàn năm sau có một  người  cũng nằm ngang thành  cầu mà ngủ,  mặc cho  người qua kẻ lại dòm ngó, mặc cho nắng chiếu xiên trên  mặt. Người ấy tên là Bùi Giáng. Có lẻ những câu thơ sau được làm trong những lúc ông thơ thới nằm ngủ bên cầu:
“Rụng rời dĩ vãng xô ngang
Kết thành tố mạch đôi đàng chia nhau
Nửa xin để lại bên cầu
Nửa xin trường mộng nhiệm màu mang đi” (1)

Từ ngàn xưa thi nhân đã lưôn trải hồn thơ lên những chiếc cầu:
Cảnh tiển đưa bên cầu lúc nào cũng buồn và đẹp hơn ở  siêu thị  hay  bến xe đò:
“Ngòi đầu cầu , nước trong như lọc,
Đường bên cầu cỏ mọc còn non
Đưa chàng lòng dặc dặc buồn
Bộ khôn bằng ngựa, thủy khôn bằng thuyền” (2)

Buổi chiều trong  thơ Nguyễn Du sao êm dịu  đến vậy  khi có bóng dáng một cây cầu:
“Dưới cầu nước chảy trong veo
Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha”.

Nhưng các nhạc sĩ mới là những người mê cầu nhất. Hãy nghe văn Cao mô tả niềm hạnh phúc lần đầu đón  bước chân nàng tìm đến:
“Nhà tôi bên chiếc cầu soi bóng
Em đến tôi một lần
Bao lũ chim rừng
Hợp  đoàn trên khắp bến xuân” (3)
Bài hát “Bên Cầu Biên Giới” của Phạm Duy thì lại mang đến cho ông tai họa.
Theo lời ông kể trong một hồi ký, Bên Cầu Biên Giới được sáng tác tại Chợ Neo,  năm 1948.mô tả mối tình say đắm của ông với một cô ca ve tuyệt đẹp  đã hoàn lương. Vì bài hát này ông bị kiểm điểm tơi tả và có lẻ vì không được tự do sáng tác, ông bỏ kháng chiến,  tìm cách vào Nam.

Chẳng phải  bài “Trăng Rụng Xuống Cầu” đã đưa Nguyễn Hữu Thiết lên hàng nhạc sĩ được yêu thích một thời ?

Ngày xưa  chưa có nhiều sắt thép, chưa phát minh ra xi măng nên loài người chỉ có thể bắt những nhịp cầu nho nhỏ. Những  cầu ván cũ kỷ , những cầu tre lắt lẻo gập ghình khó đi thân quen, gần gủi với khách bộ hành  biết bao.
Cầu thường cao hơn mặt đường nên khi đi qua cầu người ta thường đi chậm lại và được  nhìn thấy nhau nhiều  hơn. Cầu bao giờ cũng là nơi mát mẻ  nên  các chàng trai, cô gái thường hay ra cầu  để hóng gió hay để chờ đợi ai đó ,  làm sao mà biết được.
“Ngày đó trên chiếc cầu, em nhớ chăng?
Một chiếc áo dài màu trắng xinh xinh
Một nụ cười, mời anh, đưa em vào đời
Và từ đó hai đứa mình quen nhau (4)

Những cây cầu dài đến mấy cây số thời văn minh hầu như  không mặn mà với  thơ nhạc như thời “Ví dầu cầu ván đóng đinh”.Thật lạ. Những cây cầu dây văng  lộng  lẫy và tuyệt đẹp mới mọc lên ở nước tôi không gợi cho người ta một niềm tự hào dân tộc mà khiến cho người ta nghĩ đến cái chết.Tin trên báo,  cho đến nay đã có 42 người nhảy cầu Cần Thơ tự tử.
Buồn quá!
Không còn cảnh chờ phà để có cớ chuyện trò rôm rã,  không còn nữa những giây phút được  thấy cuộc đời trôi đi bình yên, chậm rãi.
Xe chạy vun vút trên cầu đưa ta về nhà nhanh hơn nhưng biết đâu cũng đưa ta về quá sớm  với những tuyệt vọng  , rối ren chưa kịp phân giải.
Tôi vốn sợ tốc độ. Một thời  báo đăng tin, Việt Nam dự tính mua tàu  siên tốc của Trung Quốc  để người dân có thể  ăn sáng, uống cà phê ở Hà nội rồi  ăn trưa ở Sài Gòn. Nghe mà ớn lạnh.

Bỗng nhớ và ngưỡng mộ  họa sĩ Hoàng Lập Ngôn với chiếc xe ngựa đưa ông cùng gia đình và bạn bè lãng du từ Bắc  chí Nam. Chiếc xe ngựa được họa sĩ thiết kế như một ngôi nhà gọi là “ Nhà Lăn  Mê Ly” vừa là phương tiện di chuyển, vừa là phòng triển lãm di động vừa là nơi hội họp bạn bè.
Ôi! Một thời lãng mạn, đáng yêu quá chừng:
“Ồ mê Ly đời sống với cây đàn
Tình tình tang dạo phím rồi ca vang” (5)

Rồi mấy cái hầm nữa chứ! Trời ơi! Tôi ghét mấy cái hầm quá đi thôi.
Khi những cây cầu dây văng thay thế cho phà Mỹ Thuận, phà Rạch Miểu, tôi tiếc cái cảm xúc  khi  đứng trên phà ,  nhìn những mãng bèo lục bình trôi trên   dòng nước mênh mông. Nhưng dầu sao khi xe qua cầu,  mình vẫn  còn nhìn thấy trời nước  , làng mạc  xa xa.
Chuyến lữ hành còn ý nghĩa gì khi  xe chui qua hầm chứ không  chạy  ngang qua đèo  Cả, Đèo Hải Vân, Đèo Ngang ? Chẳng lẽ ngày nay người ta tất bật kiếm tiền để được  hẹn nhau ở Thái Lan, Singapore chứ không còn muốn  hẹn nhau ở Cầu Ngói Thanh Toàn (8)? Chẳng lẽ ngày nay người ta ngồi  với nhau ở Cà Phê tầng 68 chứ không còn thích  ngồi  “Bên Dòng Sông Trẹm”? (7). Chẳng lẽ ngày nay người ta chỉ biết chúi mũi  nhìn vào màn hình Ipad chứ không thèm nhìn nhau   để  thấy lòng rưng rưng  khi cùng nhau   nhìn ngắm những con đường cây  cỏ  chen nhau,  cheo leo qua vách núi khi chiều nắng xế , rồi nhìn thấy mấy chú tiều lom khom gánh củi, rồi ngâm nga: “Nhớ nước đau lòng con “Quốc Quốc”? (6)

Huyền Chiêu

(1) Hôm Qua Mộng- Thơ Bùi Giáng

(2) Trích Chinh Phụ Ngâm

(3) Bến Xuân- Văn Cao

(4) Ngày đó (nhạc của…)

(5) Ô Mê Ly-Văn Phụng

(6) Thơ Bà Huyện Thanh Quan

(7) Tên một quyển tiểu thuyết thập niên 50

(8) tên một cây cầu cổ nhỏ bé ở Huế.

 

 

ĐĂM ĐĂM DỐC NHỚ TÔI VỀ

TRĂNG TREO CÕI THIỀN

chợt quên dâu bể

 

 

nghe đêm xuống phố u hoài
tiếng chim vườn cũ ngân dài xót xa
góc trời lộng lẫy hoàng hoa
thoáng như có chút mù sa tội tình

 

cây đời ngả bóng chông chênh
giữa cơn tràn mộng riêng mình ta đau
hắt hiu một ngọn tình sầu
mênh mang đêm lạnh một màu trăng khuya

 

người trên vạn nẻo đi về
chợt quên dâu bể, chợt mê mải tìm
từ tâm một chút là duyên
xin cho ta đợi đêm nguyên thủy tàn

NP phan

 

 

Điên Như Kiệt Tấn 2: năm nay đào lại nở

 

Ờ, đào lại nở trên đất Paris! Lại một mùa xuân rưng rức hoa đào làm lạnh thêm một người xa xứ. Để ấm lòng, ông Kiệt Tấn hết nhớ em vịt vàng bé xíu lại nhớ đến những người đàn bà mà có lẽ chỉ có ông trên đời này mới  nhớ tới họ mà thôi.

Những người đàn bà ấy, một bà lượm lon, một bà bán càrem, một bà bán đậu phộng. Ba người ấy là những “mối tình đầu” theo như cách nói của ông. Mối tình đầu của tuổi học trò! Ông có đùa dai không đấy. Sao không là Diễm để những chiều mưa sao em không lại? Sao không là Ngọ để theo Ngọ về? Sao không là người em xóm học để em ơi “khoóc” đi em? Mà lại là những bà cụ hom hem chít khăn mỏ quạ đi dép Nhựt cũ đến nỗi cao su bè ra, hoặc đội một chiếc nón rách tơi tả, hoặc để đầu trần đi cẳng không, áo trắng rách lưng đã ngã màu vàng xỉn!

Yêu lần đầu mà yêu như thế, bảo sao người ta không bảo ông điên!

Người tình đầu thứ nhất ông gặp ở xóm Hàng Xanh. Mới Tết xong ba bữa đã lại hỏi: thưa ông cho nhà cháu hỏi thăm, còn mấy hôm nữa thì là tết ạ? Còn lâu lắm cụ ạ! Thế hở ông? Thế mà cháu quên mất, làm phiền ông quá. Ông cho nhà cháu xin lỗi.

Những câu nói làm tôi bỗng giật mình. Cụ bà đồng bằng bắc bộ di cư ấy những năm mươi năm trước đây sao ăn nói lễ phép và lịch sự đến như vậy. Chả bù với bây giờ, nào nỡm, nào cút xéo ngay không bà đánh cho nát mặt!

Và cụ lại hỏi: Phiền ông cho nhà cháu hỏi thêm. Ông có biết nhà ông Đa ở lối nào, xin ông chỉ hộ cho nhà cháu! Lịch sự hơn cả Tây, hơn cả Mỹ!

Ông Đa là ông nào, có trời mà biết, nhưng bà cụ lượm lon cứ quanh quẩn ở xóm Hàng Xanh hỏi mãi. Ông Kiệt đoán chừng có thể là người tình cũ lấy nhau chẳng đặng thương hoài ngàn năm, cũng có thể là người chồng đi lạc lúc trốn lên tàu di cư vào Nam. Một cụ bà còm cõi lẩn thẩn đi tìm người xưa cứ tới lui hỏi mãi khiến ông Kiệt đa đoan của chúng ta “yêu” lúc nào không hay. Vì yêu nên thương. Vì thương nên lo. Vì lo nên sợ. Và ông sợ rằng, xe tăng thiết giáp rần rần rộ rộ kéo lê những khẩu đại bác dài ngoằng băng qua xóm Hàng Xanh một ngày nào đó sẽ làm cho cái khăn mỏ quạ, đôi dép Nhựt bổn, mấy cái lon vừa lượm được văng tung toé và trái tim vẫn còn ấp ủ hình bóng người xưa còn đập, nhảy trên mặt đường!

Người tình đầu thứ hai là một bà già bán cà rem lúc tác giả còn học tiểu học. (Yêu sớm quá ông Kiệt nhĩ?). Không như bây giờ, kem đông cứng thơm ngon đựng trong thùng xốp, kem của sáu mươi năm trước xanh đỏ toàn nước đá đụng một tí là vỡ tan, lại giữ trong tẹt mốt làm bằng thuỷ tinh, nên người bán phải nâng niu ôm giữ trong lòng. Bà không thể chạy theo khách hàng là đám học trò nghịch phá như quỷ, không thể cạnh tranh với bọn con trai ma mảnh bày trò đổ xíngầu để vét sạch túi bọn nhỏ. Bà chỉ ngồi một chỗ vẩy vẩy cái chuông bằng đồng bóng loáng, leng keng, leng keng mời mọc như con chó hiền lành chỉ chờ có người ngó là vẩy đuôi ngoắc! Bà già nghèo xấu xí đó không ngờ hiện ra dưới mắt cậu bé Kiệt thân thương đến nỗi cậu thấy đó là  má tôi đang ngồi chồm hổm. Gọi ngon lành, má tôi tay xách bình cà rem, đứng ngó thằng con trai của bà đang xếp hàng đi vào lớp.

Yêu như ông đúng là điên thật, một người điên vô lượng thanh khiết, dẫu tôi có muốn điên cũng đâu có dễ.

Người tình đầu thứ ba là một bà già bán đậu phộng ở bến xe Mỹ Tho. Bà cũng rách rưới, xập xệ nhưng lúc nào cũng sẵn sàng tặng không một nụ cười móm mém cho khách. Cũng như bà bán cà rem, bà không thể nào tranh khách được với các cô gái nhanh nhẹn trẻ trung. Vì vậy bà bán ế. Mà càng ngày càng ế ẩm hơn nữa vì bà buộc phải bán đậu lép. Trời hỡi! Sao khốn cùng tới mức phải đi bán đậu lép! Tác giả kêu lên nghe đứt ruột. Đứt ruột vì một người biết việc bán đậu lép là không lương thiện mà vẫn cứ phải bán. Dù có lí nhí cảm ơn, dù có tặng không bao nhiêu nụ cười thì trong lòng bà vẫn nặng trĩu xấu hổ xót xa. Con trai đi lính chết, con dâu phải tần tảo nuôi con. Hạt chắc cô dâu luộc bán ban ngày, hạt lép để bà lập lờ đánh lận con đen lừa bán trong đêm. Có vậy mới kiếm được chút tiền lời nuôi mình và nuôi cháu! Thế là những người nghèo muốn sống lương thiện cũng khó mà sống được. Cứ phải dối gạt một chút. Một chút nhưng mà cả một đời dài thì dối gạt bao nhiêu?! Cho nên những hạt đậu ấy tan vào miệng ông đắng chát.

Ngồi ở tầng cao Paris bên ly rượu vàng sóng sánh mà ông không nhấm nháp được hương vị nồng nàn của mùa xuân vì ông nhớ ra không chỉ ờ Hàng Xanh, ở sân trường tiểu học Bạc Liêu, ở bến xe Mỹ Tho mà còn ở bến phà  Rạch Miễu, Cần Thơ, Vàm Cống…nhiều không đếm hết những bà già quê hương, những bà có làn da nhăn thơm tho mùi đất, có nụ cười rì rào tre trúc, có bàn chân nứt nẻ phù sa, có trái tim từ bi vô lượng đã bơm máu vào rún tôi từ thưở còn trong bụng mẹ. Những bà mẹ Việt Nam không một chút anh hùng, những bà mẹ bình thường của bao nhiêu năm chinh chiến. Vẫn còn đó những mối tình đầu của ông. Vẫn còn đó cho dù thời gian qua mau và cuộc sống quay cuồng khiến chúng ta vô tình hay ơ hờ không thấy.

Ông Kiệt ( không có Trụ ) ơi, đọc xong truyện này tôi thấy mắc cỡ quá. Mắc cỡ vì tôi đã từng gặp bao nhiêu người lượm lon, bán cà rem, bán đậu phộng, bán chuối chiên, cóc ổi xoài như ông mà sao lòng tôi lúc ấy và cả đến bao năm sau vẫn cứ dửng dưng. Tôi không khinh họ nghèo vì tôi có giàu có gì hơn đâu, nhưng tôi lại chỉ động lòng trắc ẩn với những người ăn mặc lành lặn và nói ra ông chớ cười, xinh đẹp một chút, trẻ trung một chút, sẵn sàng lao vào dòng xe cộ như mắc cửi để nhặt cho nàng một chiếc khăn rơi, hay gồng mình làm Lục Vân Tiên trước bọn lục lâm thảo khấu cho dù sau đó ôm đầu máu vì dở hơi trói gà không chặt. Tôi nào dám gọi một bà bán cà rem, bà lượm lon hay bà bán đậu phộng bằng một cách thực lòng như ông.

Nhiều người khen ông là bồ tát nhưng tôi không nghĩ vậy. Ông yêu họ một cách thực lòng vì cuống rún của ông chưa lìa, vì mùi bùn đất phù sa vẫn chưa rửa sạch ở tim ông dù ông đang sống ở Paris. Sống ở Paris mà lòng ông thì ở Bạc Liêu, ở Việt Nam, còn tôi và chắc cũng có nhiều người khác sống ở Việt Nam mà hồn mộng ở tận Paris hay Nữu Ước! Sống xa quê hương mà ông lại nhớ, lại yêu. Còn tôi sống giữa quê hương mà lại quên lại ghét. Đôi khi ghét quá vì nghèo đói, vì tụt hậu, vì …hàng trăm thứ…!

Có ngứa ngáy cầm bút một đôi khi, tôi mới thấy viết được một truyện như ông viết, nếu có phải lăn ra chết thì cũng thực là sướng. Sướng vì ít ra cũng làm được một việc nhỏ có ích cho mình và cho đời. Mà đọc lại cho kỹ thì thấy ông đâu có viết, ông chỉ trải lòng mình ra, không như trải thảm đỏ ở nhà hàng khách sạn hay các cuộc đón rước phương diện quốc gia quan trên ngó xuống người xa trông vào, mà là trải như lúa rạp mình trên đồng ruộng, như nước phù sa đong đưa vào tận thềm nhà, trải như nghé con goi mẹ như cháu sà vào lòng bà. Tự nhiên phơi hết gan ruột chứ không kỳ khu gọt dũa, không làm văn theo kiểu cách tân.

Ông Kiệt ơi, cảm ơn ông đã cho tôi tìm gặp lại quê hương ngay chính giữa quê hương mình. Tôi cũng như ông, chỉ mỗi một quê hương chiến tranh nghèo đói, nhưng đó là một quê hương thật với những bà mẹ quê hương, mà dù có đi khắp năm châu bốn bể cũng không dễ gì tìm ra được. Ờ, cũng như ông, tôi yêu họ, dù đây là tình cuối chứ không phải tình đầu…

 

KHUẤT ĐẨU

học em

 

học em ở cái hững hờ
cái hờ hững cái lửng lơ thiệt tài
học em ở cái liêu trai
cất trong rương đợi ngày mai…điêu tàn

học em cầm cái phím đàn
không bao giờ gẫy khúc tràn cung mây
học em không uống mà say
không cầm điếu thuốc hoa tay vẫn vàng

học em tập bước qua hàng
bao giờ cũng biết ngó sang bên đường
học tỉnh bơ học nhún nhường
học em nói tiếng yêu đương không lời

học em tiến học em lùi
học dọa dẫm học bùi ngùi học em…
học chính khóa học dạy kèm
sao anh chẳng tiến bộ thêm được gì

cuối đời bước đến phòng thi
trước tờ giấy trắng giống y tên khờ


NGUYỄN HÀN CHUNG