ĐỖ TRƯỜNG- Người Chuyên Chở Văn Học Miền Nam Qua Vũng Lầy Lịch Sử

Đầu năm 2022, tôi bất ngờ đọc được bài viết “Níu Một Đời, Giữ Một Thời” của tác giả Ban Mai, một nhà văn trẻ trong nước. Cô đang là giáo sư giảng dạy về Khoa Học Công Nghệ và Hợp Tác Quốc Tế tại Trường Đại Học Qui Nhơn

Mở đầu bài viết, tác giả đã vẽ lại bức tranh đen tối, kinh hoàng sau ngày 30.4.75:

“…phần lớn người Miền Nam làm việc cho chính phủ Cộng Hòa đều bị tập trung cải tạo. Cuộc sống của nhiều gia đình đảo lộn. Vì sau khi đổi đời, họ bị thất nghiệp, nhiều người lâm vào cùng quẫn. Cảnh quan thành phố tiêu điều xơ xác, thiếu lúa gạo khiến dân phải ăn độn bo bo và mì sợi. Trầm trọng hơn nữa: Sự xơ xác tinh thần của trí thức Miền Nam không còn được tự do trình bày suy nghĩ, không còn được tự do hấp thu tri thức nhân loại. Thay vào đó là những đợt học tập chính trị triền miên, theo một định hướng duy nhất: Chủ nghĩa Marx. Tất cả sách báo, văn học nghệ thuật bị tịch thu tiêu hủy, nền văn chương Miền Nam hoàn toàn bị bôi xóa. Giống như thời man rợ của Tần Thủy Hoàng năm 210 trước công nguyên…

 Bắt đầu sau năm 1975, những thế hệ sinh ra và lớn lên ở Việt Nam không hề biết đã từng có một nền văn học nghệ thuật Miền Nam vô cùng gía trị với nhiều thể loại “trăm hoa đua nở”, đề cao tự do, dân chủ, với ý thức khai phóng, nhân bản, theo kịp trào lưu thế giới…”

Và tác giả cho biết sự tình cờ được may mắn tiếp cận với dòng văn chương miền Nam:

“Mùa hạ năm 2010, tôi tình cờ đọc bài viết của nhà thơ Du Tử Lê giới thiệu về tác phẩm “Những cơn mưa mùa Đông” của tác giả Lữ Quỳnh do nxb Thư Ấn Quán ở Mỹ xuất bản, thời gian này tôi đang tìm hiểu dòng văn chương Miền Nam nên liên hệ, ngay lập tức nhà văn Trần Hoài Thư và Lữ Quỳnh trả lời, tôi biết họ từ ngày ấy.

Bắt đầu từ đó, tôi tìm đọc dòng văn chương Miền Nam Việt Nam do nxb Thư Ấn Quán phát hành, vì ngày xưa trước năm 1975 tôi còn quá nhỏ chưa hiểu biết gì, tôi sinh ra và lớn lên ở Quy Nhơn, thuộc Miền Nam Việt Nam vì vậy tôi không muốn văn chương Miền Nam bị thất lạc và bôi xoá, tôi cần phải tìm hiểu và phổ biến lại cho thế hệ trẻ ở trong nước biết.

Thật may mắn, mùa thu năm 2011 nhà thơ Vũ Trọng Quang từ Sài Gòn photo cho tôi trọn bộ “Văn Miền Nam” (4 tập) và 2 tập “Thơ Miền Nam thời chiến” do Thư Ấn Quán phát hành năm 2009. Cuốn sách mới nhất tôi được Trần Hoài Thư tặng là cuốn “Những tạp chí Văn học Miền Nam” do ông sưu tầm và nhận định in năm 2018, ông đã sưu tầm được 15 tạp chí đã từng xuất bản ở Miền Nam Việt Nam gồm các tạp chí: Ý thức, Bách khoa, Văn, Sáng tạo, Khởi hành, Vấn đề, Trình bày, Thời tập, Hiện đại, Văn nghệ, Nghệ thuật, Mai, Văn học, Văn hóa nguyệt san, Tình thương.

Nhờ ông, tôi có được một cái nhìn khái quát về diện mạo nền văn chương Miền Nam Việt Nam mà hiện nay ở trong nước đã không còn nữa.

Nếu không có ông, làm sao tôi biết 462 tác giả trong 2 tập “Thơ Miền Nam trong thời chiến”, mà phần nhiều là những người lính cầm bút đã chết, đó là “những trang thơ được sưu tập từ một thời kỳ đen tối của quê hương, khởi điểm bằng lệnh tổng động viên và chấm dứt bằng ngày 30 tháng 4 năm 1975. Tập sách này là một nguồn tài liệu giúp cho những nhà phê bình văn học, những người nghiên cứu văn học sử, và những ai chưa có dịp tiếp cận với nền văn chương Miền Nam trong thời chiến tranh để họ có cái nhìn rỏ và đúng đắn hơn về một dòng văn chương tình tự, tự do, khai phóng, sáng tạo và nhân bản”

Cuối bài, tác giả có nhiều lạc quan về cái nhìn của một một số trí thức trẻ trong nước và kêu gọi sự tiếp tay của mọi người trong trách nhiệm “bảo tồn và chia sẻ Văn Học Miền Nam cho đời sau”.

“Bên trong nước, mấy năm gần đây có một bạn trẻ Nguyễn Trường Trung Huy ở Sài Gòn cũng dày công sưu tầm Văn học Miền Nam và bộ sưu tập của bạn ngày một đồ sộ đáng cho ta kinh ngạc, đó là một kỳ công. Tôi tin rằng, trên đất nước Việt Nam này có nhiều người thầm lặng âm thầm tìm kiếm, lưu giữ một nền văn chương nhân bản mà ta tưởng rằng đã chết sau năm 1975. Ngày nay, giới nghiên cứu văn học trong nước đang ngày càng tìm kiếm để nghiên cứu, mới đây trong một đề thi luận văn bậc trung học phổ thông, có một giáo viên đã đem bài thơ “Ta về” của Tô Thùy Yên cho học sinh bình giảng, với những câu thơ đầy tính nhân văn: “Ta về như lá rơi về cội/Bếp lửa nhân quần ấm tối nay/Chút rượu hồng đây xin rưới xuống/Giải oan cho cuộc biển dâu này”. Tuy đây chỉ mới là một hành động đơn lẻ nhưng đó là một tín hiệu vui.

Tôi tin rằng, sẽ không còn bao lâu nữa dòng Văn chương Miền Nam (1954-1975) sẽ được đưa vào giảng dạy chính thức trong nhà trường, nó xứng đáng được trả về với đúng vị trí của nó trong tiến trình phát triển văn học Việt Nam hiện đại, không ai và không một thể chế nào có thể bôi xóa một thời đại lịch sử của nước nhà. Giữ gìn, bảo tồn và chia xẻ Văn học Miền Nam cho đời sau là trách nhiệm của chúng ta, của tôi và các bạn những người yêu tiếng Việt, những người yêu văn chương Việt Nam.”

Đọc bài viết của tác giả Ban Mai, tôi bỗng nghĩ ngay đến một người khác, mà diện mạo của ông trong lĩnh vực này lúc nào cũng sáng lên trong suy nghĩ và hy vọng của tôi: Nhà văn Đỗ Trường.

 Đỗ Trường người Nam Định, tốt nghiệp Cao Đẳng Sư Phạm năm 1980. Sau thời gian theo học Khoa Anh Ngữ tại Đại học Ngoại Ngữ Hà Nội, năm 1987 ông nghỉ học, đi buôn rồi theo lao động xuất khẩu sang CHDC Đức. Sau khi bức tường Bá Linh sụp đổ, ông ở lại và cùng cả gia đình định cư tại thành phố Leipzip, CHLB Đức. Tác phẩm đầu tay là tập truyện “Không Bao Giờ Thành Sẹo” do Vipen xuất bản 2013. Sau đó là “Về Miền Ký Ức” (tạp bút),“Đất Nước Với Những Đường Cong”, “Không Thể Sống Trong Im Lặng”, “Từ Hộ Chiếu Buồn Đến Đau Thương Hành” (xuất bản năm 2019, là một tác phẩm đặc biệt nói về những khổ nạn mà chính quyền CS Việt nam đã hành xử đối với ông, vì những bài viết của ông), và mới nhất là “Men Còn Đọng Lại Đáy Vò”, viết về một số tác giả tiêu biểu, những người lính cầm bút miền Nam (Nhân Ảnh xuất bản năm 2022.) Ngoài ra, là một loạt các truyện ngắn, tùy bút, ký sự, biên khảo đựợc độc giả khắp nơi đón nhận khá nồng nhiệt.

 Sự nghiệp văn chương chưa dày lắm, nhưng tên tuổi ông đã nổi bật cả trong lẫn ngoài nước, bởi các bài nghiên cứu khá tường tận, với những nhận định một cách khá công tâm, sâu sắc, tinh tế về nềnvăn học miền Nam, đặc biệt qua những tác giả vốn là những người lính cầm bút trong và sau cuộc chiến.

Lần đầu tiên tôi biết và đặc biệt lưu ý tới Đỗ Trường, cách nay hơn mười năm, khi đọc được bài viết “Những Giải Văn Học Không Có Thật”. Ông phê phán (có thể gọi là lên án) Hội Nhà Văn Việt Nam tại Hà Nội đã trao giải thưởng cho tác phẩm Dị Hương của một tác giả trong nước:

“Ngắc ngứ mãi, rồi tôi cũng đọc xong truyện ngắn Dị Hương của Sương Nguyệt Minh. Quả thật, ngoài những pha làm tình mang dáng dấp từ truyện Đồi Thông Hai Mộ, Gia Long Nguyễn Ánh hiện lên đậm tính lục lâm thảo khấu với giọng văn kiếm hiệp phương Bắc. Còn lại tôi không tìm được điều gì khác tác giả muốn chuyển tải đến người đọc.”

Để rồi ông nhận định thêm về “hiện tượng” đa số các cây bút trong nước lúc ấy:

“Trong khi viết về chiến tranh, các cây bút trong nước thật sự chưa có cái nhìn công bằng với những người quân, cán của VNCH. Họ vẫn hiện lên đầy rẫy ở các tác phẩm với những hình ảnh méo mó, với những tên gọi xếch mé. Gần đây nhất tôi mới thấy các cây viết trong nước ca ngợi một người lính VNCH, vì anh có công cùng với người lính Mỹ cất giữ cuốn nhật ký Đặng Thùy Trâm, để hôm nay chúng ta mang ra phát động tuyên truyền. Chúng ta hãy bình tâm đọc lại những vần thơ của nhà thơ Trần Trung Đạo, anh là một thuyền nhân. Cũng viết về người lính, nhưng anh không phân biệt đâu lính VNCH, hay là anh bộ đội…..”

Sau này, qua nhiều bài giới thiệu, nhận định, phê bình về một số tác giả và tác phẩm miền Nam của ông, tôi dần dà có nhiều thiện cảm và đánh giá cao về khả năng văn chương, đặc biệt ý thức về một nền văn học mà cá nhân ông trước đây chưa từng biết qua, và chắc chắn khi còn ngồi trên ghế nhà trường, đã từng bị đầu độc đó là loại “văn chương phản động”, “văn chương đồi trụy” mà sau tháng 4 /1975 chính quyền Cộng Sản tìm mọi cách hủy diệt, nhưng không thể.

Ông nghiên cứu và viết khá nhiều về những tác giả, tác phẩm miền Nam. Một số tôi đã đọc được:

–    Trần Trung Đạo – Tiếng Vọng Từ Bên Kia Đại Dương

–     Luân Hoán – Người Kể Chuyện Bằng Thư

–    Vũ Hữu Định – Đường Đi Không Đến

–    Vũ Hoàng Chương – Lạc Loài Trong Cõi Nhân Sinh

–     Đinh Hùng – Con Đường Thi Ca Độc Đạo

–     Hòa Thượng Thích Như Điển – Chân Dung Một Nhà Văn

–      Du Tử Lê – Đời Lưu Vong Chưa Tận Tuyệt Với Linh Hồn

–    Phạm Tín An Ninh – Con Đường Giải Oan Cho Một Cuộc Bể Dâu

– Cao Xuân Huy – Người Vẫn Không Thể Thoát Ra Khỏi Cuộc Chiến

–  Tô Thùy Yên – Tiếng Thơ Lầm Than Hào Kiệt Từ Một Thời Khủng Khiếp, Một Vận Phân Ly

–      Nguyễn Đức Sơn – Chập Chờn Trong Cõi Hư Vô

–     Thảo Trường – Những Mảng Ghép Của Chiến Tranh

–     Duyên Anh – Từ Cảm Xúc Cho Đến Tận Cùng Của Con Chữ

–      Trần Hoài Thư – Người Ngồi Vá Lại Những Linh Hồn…

–      Trần Hoài Thư Với Những Vần Thơ Lúc Nửa Đêm

–      Nguyễn Bắc Sơn – Một Đặc Phẩm Của Thi Ca Miền Nam

–      Phạm Ngọc Lư – Người Vẫn Giữ Lửa Cho Văn Học Miền Nam–       Tùy Anh – Từ Tháng Tư Buồn Đến Nỗi Đau Biệt Xứ

–       Phan Nhật Nam – Hè Vẫn Còn Đỏ Lửa

–       Nguyễn Tất Nhiên – Một Trường Thiên Kịch Bản Bi Ai

–       Cao Đăng Khánh – “Lửa Ngoài Giới Hạn” Chúng Không Tạ Từ

–      Nguyễn Nho Sa Mạc – Một Ngôi Sao Xẹt Qua Bầu Trời Thi Ca

–      Lữ Quỳnh – Chiếc Cán Cân Của Văn Học Miền Nam

–      Song Vũ – Người Vẫn Chưa Thể Bước Ra Khỏi Cuộc Chiến

–      Trạch Gầm – Một Giọng Thơ Độc Đáo–    Cung Trầm Tưởng – Từ Chuyện Tình Lãng Mạn Đến Hồn Thơ (Thế Sự) Lưu Đày

– 

Đặc biệt, trong bài “Văn Học Miền Nam – Một Góc Nhìn” được viết  ngày 16.11.2021, nhà văn Đỗ Trường đã có cái nhìn rất sâu sắc về Văn Học Miền Nam, đặc biệt hai khía cạnh Hiện Thực và Nhân Bản. Xin trích đoạn một số  tiêu biểu:

…tuy bị bức tử, song cũng như âm nhạc, sức sống của nền văn học ấy vẫn mãnh liệt lắm. Nó không chỉ âm thầm đi sâu vào lòng người ở ngay đó, mà còn sinh sôi nảy nở ngoài cương thổ, nơi có mấy triệu người Việt nữa kìa!

…có được sức sống lâu dài ấy, cũng bởi Văn học miền Nam chứa đựng những giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo. Hai giá trị cơ bản của văn học này, dường như ta rất ít gặp ở những tác phẩm ngoài Bắc trong cùng giai đoạn chiến tranh 1954-1975, bởi tính tuyên truyền đã bóp nghẹt những giá trị ấy. Dù miền Bắc có rất nhiều nhà văn tài năng.

dù bị đánh tráo khái niệm, hay khoác cho một chiếc áo, một tên gọi mới, thì thực chất Văn học miền Nam không hề bị méo mó, đổi thay. Tuy nhiên, trong khuôn khổ bài viết này, tôi chỉ đi sâu vào cái giá trị hiện thực, và nhân đạo của Văn học miền Nam (trong chiến tranh) dưới ngòi bút của những nhà văn người lính mà thôi.

…Có thể nói, chiến tranh tuy tàn khốc, nhưng đã sản sinh ra một loạt các nhà văn, nhà thơ tài năng xuất thân từ những người lính: Dương Nghiễm Mậu, Thế Uyên, Thảo Trường, Tô Thùy Yên, Lữ Quỳnh, Trần Hoài Thư, Luân Hoán, Phan Nhật Nam, Nguyên Vũ, Nguyễn Bắc Sơn, Linh Phương, Trần Dzạ Lữ… Những tác phẩm còn nguyên mùi khói thuốc, vang tiếng đạn bom của họ như một luồn gió mới làm thức tỉnh, và giải tỏa sự bế tắc của Văn thơ miền Nam đang gà gật lúc đó. Và những tác phẩm ấy gắn liền với hiện thực của xã hội, sự tàn khốc chiến tranh, cũng như thân phận người lính.

…Có thể nói, những nhà văn miền Nam (1954-1975) không chịu ảnh hưởng, chi phối bởi bất kể thế lực, đảng phái nào. Cái tôi, và tự do tư tưởng, sáng tạo của họ đã được coi trọng, phát triển. Với tư tưởng như vậy, nên nền Văn học miền Nam được hình thành bởi những giá trị hiện thực, và nhân đạo là điều hiển nhiên. Với tôi đó chính là một nền văn học đích thực.

…Nếu không có thơ văn đích thực, thì chúng ta và các thế hệ sau này chắc chắn sẽ không hiểu sự thật về bản chất của cuộc chiến này, cũng như tâm trạng người lính với những năm tháng tang thương đó. Văn học như một chiếc cầu nối lịch sử đến với con người vậy. Và chính những nhà văn người lính đã nối những nhịp cầu ấy. Thật vậy, giữa sự sống và chết rất mỏng manh nơi chiến trường, vậy mà ta vẫn thấy tính nhân bản của con người chợt hiện lên…Và cái tình người ấy, dường như xuyên suốt trang thơ của người lính.

Trong bài “Phạm Ngọc Lư -, Người Vẫn Giữ Lửa Cho Nền Văn Học Miền Nam”, (khi đang ngồi đọc Văn thơ miền Nam 1954-1975, tác giả chợt nhớ đến nhà thơ Phạm Ngọc Lư, sống trong nước, gốc giáo chức (theo lệnh động viên nhập ngũ vào khóa 5/68 Sĩ quan trừ bị Thủ Đức, nhưng chỉ một thời gian ngắn, được biệt phái trở lại ngành giáo dục), sau 1975  dù phải sống đời lang bạt khốn cùng, nhưng vẫn tiếp tục sáng tác những bài thơ (hành) đầy khí khái miền Nam, nhà văn Đỗ Trường đã viết:

“…Từ độ“đất trời dị biệt, gió mây bất đồng” thì nền Văn học miền Nam bị khai tử. Và tròn bốn mươi năm, tưởng chừng nó cũng đã chìm vào lãng quên. Nhưng nhìn lại, dường như dòng văn học ấy vẫn nảy nở, âm thầm chảy trong lòng đất Việt. Có thể nói, ngay sau biến cố 1975 dòng chảy đó tự chẻ ra như những nhánh sông luân lạc… rồi tìm về, tụ lại đó đây. Tuy chưa thể cháy lên, nhưng nó đã cùng với những nhà thơ, nhà văn hải ngoại làm ấm lại phần nào cho nền Văn học miền Nam.

Nếu được phép đi tìm những khuôn mặt cho Văn học miền Nam còn ở lại trong nước, chắc chắn thi sĩ tôi nghĩ đến trước nhất phải là Phạm Ngọc Lư. Tuy viết không nhiều, nhưng cốt cách Con Người cũng như hồn vía văn thơ của ông trong một cái xã hội dối trá lọc lừa, không phải ai cũng giữ được.”

Không chỉ viết về những tác giả, tác phẩm của Văn Học Miền Nam, nhà văn Đỗ Trường cũng đã viết về một số nhà văn nhà thơ tiêu biểu miền Bắc. Ông ca ngợi tài năng, sự thành công và cả thái độ “phản tỉnh”của họ, nhưng cũng đã thẳng thắn phê phán những trường hợp sai lầm, tiêu cực:

-Trong bài “Vài Suy Nghĩ Về Hậu Báo Văn Nghệ Và Nỗi Buồn Chiến Tranh Của Nguyên Ngọc” có một đoạn nhà văn Đỗ Trường viết:

“Đọc “Hậu Báo Văn Nghệ Và Nỗi Buồn Chiến Tranh” của nhà văn Nguyên Ngọc, tuy rất khoái, nhưng tôi cảm thấy còn chút lăn tăn. Bởi, không chỉ Nguyên Ngọc, mà một số nhà văn trong nước vẫn còn luyến tiếc cái Trường viết văn Nguyễn Du. Một cái trường, dường như có tác dụng hợp thức hóa bằng cấp cho các bác vừa từ chiến trường trở về thì đúng hơn. Chứ các bác đã thừa biết, có cái trường quái nào đào tạo được nhà văn, nhà thơ đâu. Do vậy, không những giải tán cái trường này, mà các bác nên giải tán luôn cái Hội nhà văn, cái Văn Nghệ Quân Đội, cũng như các trường báo chí tuyên truyền, trường luật pháp cùng các đoàn, trường nghệ thuật quân đội đỡ gánh nặng thuế má của người dân

…Tôi đồng ý với Nguyên Ngọc về sự đánh giá cao Nỗi Buồn Chiến Tranh của Bảo Ninh. Tuy nhiên, cuốn sách này còn không ít những đoạn Bảo Ninh lên gân, và bốc phét hơi bị nghĩa lộ, chứ không toàn bích như Nguyên Ngọc đã viết

Cách nay vừa tròn hai mươi năm(1993), tôi có về Hà Nội, gặp được ông em họ vừa ở tù ra vì can tội là lính thám kích, quân đội VNCH. Tôi có đưa cho hắn cuốn Nỗi Buồn Chiến Tranh. Đọc xong, hắn bảo, ông Bảo Ninh viết hoàn toàn sai về người lính VNCH. Như câu chuyện bốn người lính thám kích bị bắt, tác giả viết một cách không đúng sự thật. Từ cách mô tả hành động đến thuật lại những mẩu đối thoại của những người lính thám kích này.

Lính thám kích được chọn, hầu hết còn trẻ, gan dạ và có bản lãnh. Họ không thể nào quá hèn hạ, van xin như Bảo Ninh kể. Nếu có xin tha đi nữa, thì cách nói và những lời nói ấy, nhất định không phải của họ. Điều này hắn khẳng định không thể có. Người lính thám kích đã được giáo dục về nhân cách, ngay sau khi đã được tuyển chọn. Trong nhiệm vụ đặc biệt, những toán thám kích cần phải tránh nổ súng, tránh bị phát hiện, trừ trường hợp, tự vệ, bất khả kháng. Cho nên, không thể có trường hợp phát hiện, bắt ba cô gái, rồi dẫn đi nhởn nhơ như vậy, để nhóm của Kiên tóm được. Hơn nữa, trong trường hợp đã bị bắt, trước sự sống chết, không thằng nào ngu xuẩn, nói giọng trêu cợt: Ba nhỏ đó trình quý anh, tụi này làm thịt cúng hà bá rồi… Mấy nhỏ la khóc quá trời..

Hắn cũng cho rằng, cuốn truyện còn nhiều cảnh tưởng tượng quá mức, như trường hợp, một đám lính, làm thịt con xà niêng, nhưng sau khi cạo lông mới phát hiện ra đó là một người đàn bà.

Tôi viết lại lời hắn theo trí nhớ của mình. Và còn nhiều lời nặng nề khác của hắn về Nỗi Buồn Chiến Tranh, nhưng tôi xin phép không chép ra đây. Hắn ra người thiên cổ đã lâu. Vài dòng như một chút tưởng niệm đến hắn và những người lính cả hai miền Nam-Bắc đã hy sinh trong cuộc chiến vừa qua.”

 Trong bài “Hữu Loan – Tài Năng Và Sự Mâu Thuẫn Trong Tư Tưởng Cũng Như Thi Ca”, (viết nhân 10 năm ngày mất của thi sĩ Hữu Loan), nhà văn Đỗ Trường đã đưa ra một vài chi tiết mà gần như hầu hết trong chúng ta chưa được biết về tác giả bài thơ nổi tiếng“Màu Tím Hoa Sim” này:

“Khó hiểu, và bất ngờ hơn nữa, trong cùng một thời điểm Hữu Loan viết bài ngợi ca: Chế Độ Ta, khác hẳn với sự châm biếm, đả kích ở bài: Cũng Những Thằng Nịnh Hót. Sự mâu thuẫn, nhức nhối này, làm cho người đọc một cảm giác “Cây gỗ vuông chành chạnh” Hữu Loan, dường như còn một khuôn mặt khác nữa:

“…Chế độ ta
Đến đâu
Mặt trời theo
Đến đấy
Chế độ ta
Đã dạy
Cho mặt trời
Công bình…

Chế độ ta
Không còn hành khất
Không còn người ăn sương
Nhân loại cần lao
Lớp lớp
Lên đường
Mặc áo muôn màu
Hát muôn thứ tiếng
Tay nắm tay thân mến
“Ta giữ hòa bình
Cho chế độ ta đây…”

Có thể nói, Hữu Loan có cái nhìn méo mó về Hà Nội và Saigon, cũng như cuộc di cư của hơn một triệu đồng bào miền Bắc (sau1954), khi ông viết bài Đêm vào tháng 5/1956. Qủa thực, dưới cái tư tưởng, quan điểm phiến diện như vậy của Hữu Loan, Hà Nội trước kia, và Saigon hôm nay (1956), hiện lên trong thơ như một thứ ung nhọt, giang mai cùng mã tấu. Sự đĩ điếm, bỉ ổi ấy, càng rõ nét hơn dưới phép so sánh của ông: “Đêm Hà Nội/ Ngày nay/ Như em nhỏ nằm tròn/ Ru trong nôi chế độ”. Cái khía cạnh, và sự ru ngủ này, trong thơ Hữu Loan, dường như ít được các nhà nghiên cứu, và phê bình nhắc đến:

“…Hốt hoảng gọi nhau
Không kịp vớ áo quần
Những đêm Hà Nội ngày xưa
Lõa lồ
Mình đầy ung độc
Đã xuống tàu đêm
Vào Sài Gòn
Tất cả

Những đêm Sài Gòn
Ngày nay
Đêm giang mai
Tẩu mã
Đang mưng
Cấp cứu gấp vạn lần
Những đêm xưa Hà Nội
“10$ 1 cốc cà-phê
100$ 1 con gái…”

Quảng cáo đóng đầy
Ngực đêm
Như áo ngủ Sài Gòn

Đêm Hà Nội
Ngày nay
Như em nhỏ nằm tròn
Ru trong nôi chế độ
Những đèn dài đại lộ
Như những tràng hoa đêm
Nở long lanh
Trong giấc ngủ
Bình yên”

Sau 1954, những thi sĩ, nhà văn cùng thời như, Chế Lan Viên, Xuân Diệu, hay Nguyễn Tuân… đều phải đảo bút, úp mặt quay lưng vì cuộc sống là điều dễ hiểu. Song với Hữu Loan một nhà thơ thẳng thắn, và can trường là một điều thật khó lý giải. Do vậy, cần lắm một sự nghiên cứu của các bậc tiền bối từ trong nước ra đến hải ngoại, để làm sáng tỏ một cách chân thật nhất về nhà thơ tài năng, đáng kính Hữu Loan.

Và một trong nhiều trường hợp thay đổi tư duy ngược lại: nhà thơ Đinh Thị Thu Vân (trong Hội Văn Nghệ Long An)

“…ngay từ những ngày đầu cầm bút Đinh Thị Thu Vân đã hồ hởi, reo vui: “Tháng Tư ơi xin đẹp mãi tâm hồn.”. Và Ba mươi tháng Tư đến, nhà thơ như cởi bỏ dĩ vãng, gột rửa được tâm hồn. Lời tự thú ấy đã được Đinh Thị Thu Vân viết thành thi phẩm: Nếu không có ngày Ba mươi tháng Tư, rất đồng điệu với khí thế hừng hực của những ngày sau 30-4-1975. Quả thực, nó chẳng khác gì một bản kiểm thảo trước chi bộ đảng đoàn vậy

“…Nếu không có ngày Ba mươi tháng Tư
Em giờ vẫn như thuở nào, sợ tay mình lấm đất
Sẽ không biết tự khuyên mình những lời nghiêm khắc nhất
Không một lần dám sống hy sinh
Và giữa dòng người cuộc sống gấp bon chen
Em đâu biết tin ai một điều gì tuyệt đối
Em sẽ đến với tình yêu bằng nửa trái tim yếu đuối
Còn nửa tim kia đành giữ lại… để nghi ngờ

—-

Sẽ… rất nhiều, anh hiểu phải không anh
Ngày tháng trước em là con ốc nhỏ
Con ốc đa nghi cuộn mình trong lớp vỏ
Sống vô tình mà ngỡ sống thông minh…”

Nếu “Nếu không có ngày Ba mươi tháng Tư” là lời tự thú, để rũ bỏ quá khứ, gột rửa tâm hồn, thì đến với “Saigon Đau” lại là sự tìm về dĩ vãng, trong cái tiếc nuối và nỗi đau mất mát của Đinh Thị Thu Vân. Có thể nói, “Saigon Đau” là bài thơ tiêu biểu, và rõ nét nhất cái mâu thuẫn tư tưởng trên những trang viết của Đinh Thị Thu Vân. Và nó cũng là một trong những bài thơ viết về thế sự xã hội hay nhất, mà tôi được đọc. Thật vậy, nỗi đau và sự luyến tiếc đó, dường như không phải của riêng nhà thơ, mà nó đưa đến, và nhận được sự đồng cảm của rất nhiều người. Vẫn những lời thơ tự sự, Saigon Đau như một mũi khoan xoáy vào lòng người đọc. Nhất là những kẻ buộc phải rời xa quê. Ta hãy đọc lại những trích đoạn có lời thơ dân dã, song rất đẹp dưới đây để thấy rõ, (và so sánh) cái mâu thuẫn tư tưởng, cũng như cái tôi, và chất trữ tình trong thơ thế sự xã hội của Đinh Thị Thu Vân:

“em yêu Sài Gòn, vì nơi đó có một người đau
một người mất những vàng son quá khứ…
Sài Gòn của anh
một thời Công Lý
một thời Tự Do
Sài Gòn của một thời Thương xá
em bước qua, ngơ ngẩn mắt quê mùa…
không có tình yêu, Sài Gòn như đất trống
như câu thơ lạc vận chẳng neo hồn!
không giữ lại dáng hình xưa được nữa
Sài Gòn đau ngơ ngác buổi em về
anh ở đâu những ngày cây lá đổ
có đợi chờ bàn tay nắm sẻ chia?…”

-Một vài nhận xét về Đỗ Trường từ những nhà văn thành danh trong và ngoài nước: 

-Trong bài viết về tác phẩm “Từ Hộ Chiếu Buồn Đến Đau Thương Hành” của tác giả Đỗ Trường, nhà thơ Trần Trung Đạo đã có nhận xét:

“Nhà văn Đỗ Trường cảm nhận giá trị văn chương và hoàn cảnh của tác phẩm bằng trái tim trong sáng hơn là tình cảm riêng tư, quen biết trước. Anh không viết theo cách “mặc áo thụng vái nhau”. Cảm xúc dâng lên sau khi đọc một bài thơ, một truyện ngắn anh bắt gặp đâu đó, và như thế anh ngồi xuống viết. Anh có thể không biết và cũng không quá cần phải biết ngay tác giả của bài thơ, bài văn mà anh đang phân tích là ai, tầm cỡ nào, còn sống hay đã chết, miền Nam hay miền Bắc, Cộng Sản hay Quốc Gia.

Trong không gian mênh mông không hố hầm ngăn cách của tâm hồn anh, họ là những con người có trái tim Việt Nam như anh và cùng rung môt nhịp xót xa hay hy vọng với anh.

Với nhà văn Đỗ Trường, giá trị của tác phẩm làm nên tên tuổi chứ không phải tên tuổi làm nên giá trị tác phẩm”

-Trong bài viết “Thân Phận Bút Mực Trong Con Chữ Đỗ Trường”, nhà văn Trần Mạnh Hảo đã có những nhận xét khá độc đáo:

“Đỗ Trường viết văn bí mật như người đi vào một thành phố bị chiếm. Chao ôi, những trang giấy trắng này đã bị sự dối trá chiếm đóng từ muôn nơi, trong đó có quê hương của ông tàn tạ những chân trời. Ông hân hoan trao sự thật lòng mình cho trang giấy như người vợ đêm tân hôn trao cho chồng sự trinh trắng cả tâm hồn và thể xác…”

-Đặc biệt và mãnh liệt hơn, trong bài viết ngày 28.8.2017, dưới cái tựa: “Đỗ Trường – Kẻ Không Khoan Nhượng Với “Bầy Sâu Đang Khiêng Nước Việt Đi Chôn”, được đăng trên RFA, nhà văn Võ Thị Hảo sau khi nhận định về tài năng và khí tiết của Đỗ Trường, đã kết luận như sau:

“Người Việt ở Đức và mọi nơi trên thế giới rất cần thêm những người viết mang nhân cách chính trực như Đỗ Trường. Ngay tại Đức quốc, ai ngờ lại quá hiếm hoi những người viết như vậy. Chúng ta cần biết bao những người dám nói và viết lên sự thật để tẩy rửa sự tanh tưởi của những cơ hội và nhạt đạo tâm hồn.

Không cần nổi danh, Đỗ Trường viết vậy là chỉ để tự cứu rỗi chính  mình. Nhưng nhân cách viết da diết vì sự thật và cộng đồng ấy đã cần mẫn ngày ngày gắng gỏi cho một sự nghiệp lớn và vì thế anh thành danh ngoài mong muốn.

Bằng những gắng gỏi, góp gió thành bão của mỗi người, sẽ tới một ngày, Việt Nam…”

-LỜI KẾT:

Bài viết này, ngoài việc giới thiệu đến độc giả diện mạo đặc biệt đáng quí của một nhà văn sinh ra và lớn lên từ miền Bắc trong giai đoạn chiến tranh, cũng để thay cho lời cám ơn gởi đến nhà văn Đỗ Trường, người đã “chuyên chở văn học miền Nam, đặc biệt những người lính cầm bút miền Nam, vượt qua vũng lầy của cuộc chiến” do chế độ CS man rợ đã cố tình hủy diệt sau tháng 4.1975, để mang đến cho mọi người Việt Nam, đặc biệt những thế hệ hậu sinh trong nước, giá trị đích thực và vĩnh cữu của nó.

Bắc Âu, 23.6.2022

Phạm Tín An Ninh

Đêm Mưa

Đêm mưa buồn đau ngất. Trăng chết vội bên thềm. Mình, hai con ngựa trắng. Vờn tình trong bóng đêm

Và hai hàng bạch lạp. Ảo ảnh một đường đi. Đêm mưa sầu chín rụng. Một trái tình biệt ly

Thời gian như đã chết. Ta đốt vội trầm hương. Hơ từng trang sách lật. Ngựa trắng quỵ bên đường

Em về trong huyễn mộng. Mờ ảo như hồn ma. Cắm một nhành hoa trắng. Cười bên giường mộng ta

Nằm mê man chợt nhớ. Mắt em ngời lưu ly. Ta tỉnh người ngồi dậy. Ngâm một bài Đường thi

Gió lay bên bờ dậu. Mưa tạt ở hiên ngoài. Đêm cười lên run rẩy. Bấc lụn đĩa dầu hao

Đêm mưa đùn mái dột. Tí tách rớt sau nhà. Đêm mưa lòng ảo nảo. Thương em đời quỳnh hoa

Có ta trong sợi mưa. Quay vù về dĩ vãng. Ướt từng đoạn bài thơ. Chút tình riêng lãng đãng

Đêm mưa buồn sương khói. Nhớ em vàng canh khuya. Hai ta là ngựa trắng. Đá nhau, hí, khi về

Đêm mưa dài hạt lệ. Ta trong một toa tàu. Thương em, dòng sông nhỏ. Tình chẻ sợi khổ đau

Tình ngửa tình mái dột. Nhớ em, trăng, chiêm bao. Một vành khăn tang trắng. Phủ liệm đời hôm nao

Đêm mưa buồn đau ngất. Nằm gối sách bên giường. Có hai con ngựa trắng. Đá nhau một bên đường…

Nguyễn Liên Châu
(1972)

Vĩnh Biệt Họa Sĩ Rừng

Sáng hôm nay, Họa Sĩ Rừng (*) hết thở!
Thế là xong!  Thêm nữa một kiếp người!
Hòa Bình rồi chưa có một ngày vui,
Không thua trận mà đành như thua cuộc!

Họa Sĩ Rừng ra đi…không có bước
Hồn chàng bay…về nước Nhược non Bồng!
Còn nước non, còn nhỉ chữ Non Sông,
Còn chút đó để mình về vĩnh cửu!

Sáng hôm nay, bạn bè thêm đứa thiếu,
Thừa chỗ ngồi…bát ngát tiệm Cà Phê!
Có người nói:  Họa Sĩ Rừng đã về
Có người vẽ chữ Quê lem lem nước mắt!

Không biết có ai ruột bào gan thắt?
Không biết có ai sợ sự thật này không?
Tuổi chúng ta tô điểm chẳng ai hồng
Ngậm miệng lại!  Đừng nói lời hơn thiệt…

Rừng đã nghiêng…trời đã nghiêng…Vĩnh Biệt!
Đường cuối cùng…chơm chớp cánh…thiêu thân!

Trần Vấn Lệ

(*) Cũng là Nhà Thơ Dung Nham, Nhà Văn Kinh Dương Vuơng.  Tên Khai Sinh là Nguyễn Tuấn Khanh.  Mất sáng nay, 8 tháng 6 năm 2022 tại Thành Phố Westminster, California.

Chiều Buồn

Chiều buồn nhẹ xuống… nắng phai vàng
Tôi đứng bên hồ buồn mang mang
Trời mây lãng đãng mờ sương khói 
Tôi một mình… bóng núi Chứa Chan

Rừng núi giăng thành 
vây xóm thôn
Gương hồ tịnh lắng
phơi linh hồn
Cỏ hoa muôn thuở
sầu cô độc
Như kiếp con người 
dẫu dại khôn!

Chiều buồn nhẹ xuống…
người buồn ngó
Một cánh chim nghiêng 
bay lẻ loi
Núi đá nghìn năm 
im vách đá
Mình tôi tóc gió…
hồ gương soi

Mặt trời xuống núi… 
ráng hoàng hôn
Tôi một mình tôi… chiều khói sương 
Chẳng có ai người! Đời huyễn ảo
Mình tôi ôm cả một chiều buồn!

TRẦN THOẠI NGUYÊN

Na Uy, những dấu chân lưu lạc

(Viết cho gia đình và bạn hữu)

     Như vậy là tôi sẽ phải rời xa Na-Uy, đất nước đã cưu mang tôi và sẽ còn mãi in đậm những dấu chân tôi trong cả một quãng đời hơn 30 năm lưu lạc?  Cũng như tâm trạng của những ngày tìm cách vượt biên, rời khỏi Việt Nam, nơi chôn nhau cắt rốn, câu hỏi này đã làm tôi ưu tư trằn trọc nhiều đêm, như sắp phải cắt đi một phần máu thịt ràng buộc với chính sự sống của mình.

     Sau bậc trung học ở Na-Uy, bốn đứa con lần lượt được học bổng sang Mỹ du học từ năm 1990. Có việc làm sau khi tốt nghiệp, nên ba cháu đã chọn ở lại đây lập nghiệp và trở thành công dân Mỹ, mong muốn bảo lãnh cha mẹ, khi về hưu, sang sống với các cháu những năm cuối đời, và với khí hậu ấm áp của vùng biển Cali sẽ làm người già đỡ căn bệnh đau nhức các khớp xương khi mùa đông Bắc Âu mang cái lạnh trở về. Mấy năm nay, sau khi về hưu, chúng tôi cũng chỉ sang Cali ở với các con sáu tháng mùa đông, còn sáu tháng mùa hè về lại với Na-Uy. Vậy mà trong những ngày mùa đông nắng ấm Cali, tôi vẫn da diết nhớ về Na-Uy với cả khung trời ngập đầy tuyết trắng, những hàng cây trước nhà, vào đêm Giáng Sinh, đóng băng, trở thành những cây thủy tinh lung linh dưới ánh đèn đường. Tôi nhớ cả cái không khí yên bình tĩnh mịch và những người bản xứ láng giềng tốt bụng. Nhiều lúc tôi ngồi bất động, thả hồn về Na-Uy, tìm lại từng dấu chân lưu lạc của mình.

     Hơn ba mươi năm trước, khi phải đành lòng bỏ lại quê hương, bao nhiêu người thân và mồ mả cha mẹ ông bà, ra đi trên chiếc thuyền đánh cá mong manh, cũng như rất nhiều người, tôi không hề nghĩ là mình sẽ đến một đất nước xa lạ có tên Na-uy. Cái tên Norway, Norvège, tôi chỉ nhớ loáng thoáng qua phim The Vikings mà tôi đã xem qua lúc còn đi học, và cái giải Nobel Hòa Bình năm 1973 trao lầm cho Kissinger – Lê Đức Thọ, đã từng gây cho tôi cái ác cảm với đất nước xa xăm lạ lẫm này. Đặc biệt, năm 1978, khi đang ở tù ngoài Yên Bái, nhân một ngày lễ lớn của Cộng sản, tổ tù chúng tôi được phát một hộp thịt cá voi. Thấy ngoài hộp thiếc có ghi “Made in Norway”, bọn tôi càng ghét thêm cái tên này, vì nghĩ đó là một quốc gia thân Cộng Sản.

(Thuyền Viking- biểu tượng NaUy)

   Chiếc thuyền nhỏ chở theo 52 người, gần một nửa là đàn bà và con nít, ra khơi hai ngày thì gặp bão. Cả bầu trời phủ kín mây đen. Những ngọn sóng bạc đầu từ trên cao phủ xuống, như muốn nuốt chửng con thuyền nhỏ mong manh. Mệnh số 52 con người chỉ còn biết phó thác cho trời nước mênh mông. Bóng tối tử thần bủa vây khắp phía. Con thuyền bây giờ như cánh bướm nhỏ rơi giữa dòng thác lũ, chìm xuống ngoi lên tả tơi, thoi thóp. Chưa khi nào con người lại quá nhỏ bé và bất lực trước thiên nhiên như lúc này đây. Người điều khiển chiếc thuyền là anh bạn tù, một sĩ quan Hải Quân trước 75. Dù từng làm hạm trưởng, giàu kinh nghiệm hải hành, nhưng bây giờ chỉ còn biết cố giữ cho chiếc thuyền không nằm ngang để bị sóng đánh vỡ. Khả năng đó trong lúc này đã là một điều tuyệt vời, nhưng lại quá nhỏ nhoi trước sức mạnh của phong ba. Đám thanh niên thi nhau tát nước tràn vào liên tục có lúc gần ngập cả con thuyền. Chỉ sau một ngày đêm, tất cả đều mệt lã, đuối sức. Mọi người chỉ còn biết nhắm mắt, miệng lâm râm lời cầu nguyện. Bất ngờ có người hét lên và chỉ ra phía trước mặt. Tất cả nhốn nháo nhìn về hướng ấy. Một cái gì to lớn màu đỏ chói chập chờn xuất hiện giữa trùng khơi sóng gió. Mới đầu chỉ thấy mấy cái bồn lớn, tưởng như những cây trụ cao to trong một ngôi chùa vĩ đại, cho mọi người cái cảm giác như đang ở trên một thế giới nào đó, huyễn hoặc, mơ hồ. Khi nhận ra chiêc tàu thật lớn, ai cũng thầm nghĩ là có điều gì màu nhiệm được Thượng Đế gởi đến để cứu vớt chúng tôi trong cơn khốn nguy tuyệt vọng.


(Tàu chở dầu Hoegh Grandia cứu vớt chúng tôi trên biển đông)

   Chiếc tàu mang cái tên với vài mẫu tự rất lạ (Høegh). Có người nghĩ là chữ Nga. Nhưng trong hoàn cảnh này dù là tàu nước nào, cũng phải sống trước đã. Nhưng khi chúng tôi cố gắng cho thuyền đến gần tàu, thì họ lại tránh ra xa. Bao lần như vậy làm chúng tôi thất vọng và thầm oán trách. Nhưng cuối cùng chiếc tàu ngừng hẳn lại, hụ còi làm dấu hiệu cho thuyền chúng tôi chạy đến. Khi chiếc thuyền con cặp vào thành tàu cao chót vót, một số thủy thủ trên tàu thòng những chiếc thang giây và đu mình xuống để bồng những đứa con nít hoặc cõng trên vai những người đàn bà yếu mệt lên tàu. Một số khác, có cả vài người đàn bà, đứng trên thành tàu, đưa tay đón lấy từng người. Chúng tôi đã nhận ra đây phải là những con người từ tâm, đến từ một quốc gia giàu lòng nhân đạo.

    Tôi và anh bạn Hải Quân là hai người cuối cùng lên tàu. Khi nói chuyện với vị thuyền phó, được biết chiếc tàu này thuộc Vương Quốc Na-Uy (Kingdom Of Norway) và đang trên hải trình công tác chở dầu từ Nhật sang Singapore. Và cơn bão chỉ mới bắt đầu. Trận bão chính khuya nay mới tới. Nếu tàu không vớt, chắc chắn chúng tôi không thể nào sống sót qua đêm nay. Ông cũng cho biết sở dĩ ông không cho chiếc thuyền nhỏ của chúng tôi lại gần khi tàu lớn đang chạy, vì lo ngại thuyền sẽ bị nhận chìm bởi sóng từ chiếc tàu lớn tạo ra, nên ông phải cho tàu dừng hẳn lại trước khi cho chúng tôi cặp vào.

     Chúng tôi đem tặng cho ông thuyền trưởng chiếc hải bàn, nói lời cám ơn và để làm kỷ niệm. Ông đưa hai chúng tôi ra sàn tàu để chứng kiến và từ biệt chiếc thuyền con, khi ông cho nhận chìm bằng cách cho rú mạnh máy tàu. Đứng nghiêm đưa tay chào vĩnh biệt, lòng chúng tôi thật bùi ngùi, khi nghĩ là chiếc thuyền mong manh ấy đã đưa chúng tôi vượt bao sóng gió, từng chạm mặt với tử thần, nhưng cuối cùng tất cả chúng tôi đã được an bình để tới bến bờ, còn chiếc thuyền thì lại bị nhận chìm vào đáy của đại dương.

     Và cũng kể từ giờ phút ấy, hai tiếng Na-Uy gắn liên với phần đời còn lại của chúng tôi.

     Sau khi tắm rửa xong, đám đàn ông con trai thì được phát cho những bộ quần áo kaki màu vàng của thủy thủ, phụ nữ thì những chiếc áo blue trắng của các cô y tá. Còn đám con nít thì được áo thun đủ màu và quần short. Chúng tôi được đưa xuống các phòng ngủ nghỉ ngơi, và chiều hôm đó được ăn một bữa cơm Tây thịnh soạn.

      Vị thuyền trưởng cho biết là sẽ đưa chúng tôi sang gởi tại trại tị nạn Singapore, và cho mỗi người được gởi ba cái điện tín về ba địa chỉ khác nhau để báo tin cho gia đình. Ông còn cho biết thêm, trước đây chiếc tàu này do ông làm hạm trưởng cũng đã từng cứu vớt bốn chiếc thuyền tỵ nạn từ Việt Nam. Đọc danh sách những thuyền nhân trong bốn chiếc thuyền này, hầu hết phát xuất từ miền Tây, chúng tôi không nhận ra có người quen biết.

     Hai ngày đêm trên tàu với chúng tôi là cả một thiên đường. Mặc dù bên ngoài, cơn bão cấp sáu nhiều lúc làm con tàu lắc lư, nhưng trên tàu chúng tôi cảm thấy thật yên ả hạnh phúc. Chúng tôi được bác sĩ khám bệnh, cấp thuốc, ăn uống thịnh soạn Đám con nít có quà, bắt đầu đừa giỡn, vui chơi.

     Đêm cuối cùng, ông thuyền trưởng mong muốn có một buổi cơm chung với tất cả thủy thủ trên tàu cùng những người tỵ nạn. Chúng tôi thành lập một tổ nhà bếp. Họ cung cấp mọi thực phẩm theo yêu cầu. Một bữa ăn với thực đơn hoàn toàn Việt Nam. Vừa  thích thú vừa cảm động.

      Sau hơn hai ngày đêm, tàu cặp vào cảng Singapore. Tất cả thủy thủ đoàn đứng thành hai hàng dài từ đài chỉ huy xuống tận cầu tàu, bắt tay và ôm từng người chúng tôi tiễn biệt. Nhiều người đã bật khóc.

     Tôi vừa cảm động vừa đau đớn trong lòng. Cảm động vì phải chia tay những ân nhân của mình, nhưng đau đớn vì nghĩ họ là những người xa lạ, không cùng ngôn ngữ, màu da màu tóc, mà đã cứu vớt, hết lòng yêu thương lo lắng cho chúng tôi, trong lúc những người anh em cùng một nhà lại thẳng tay đàn áp hành hạ đuổi xô chúng tôi đến bước đường cùng, đến nỗi phải đánh đổi cả mạng sống để bỏ nước ra đi. Nếu không có chiếc tàu Na-Uy này cứu vớt, chắc chắn 52 người chúng tôi đã bỏ mình trên biển khơi, cũng giống như hàng trăm ngàn người bất hạnh khác, không một ai hay biết.


(Gia đình vừa mới vào trại Hawkins Road- Singapore)

   Chúng tôi được gởi vào trại tị nạn Hawkins Road, một doanh trại cũ của quân đội Anh tại Singapore.  Tòa đại sứ Na-Uy tại đây đến thăm nom, chăm sóc và gởi hai cô giáo thiện nguyện đến để sinh hoạt và dạy ngôn ngữ Na-Uy. Sau ba tháng, chúng tôi được chuyển sang trại chuyển tiếp Bataan ở Phi Luật Tân. Trại chia ra 9 Vùng. Riêng Vùng I được dành cho những người được tàu Na-uy vớt, và hầu hết sẽ đi định cư tại Na-Uy. Ông Đại sứ Na-Uy tại Phi Luật Tân thường xuyên đến thăm nom giúp đỡ chúng tôi. Có lẽ không có một vị đại sứ nào hiền lành, phúc hậu, và bình dị như ông đại sứ Na-Uy này.  Một toán cô thầy giáo được chọn lọc, từ Na-Uy sang để dạy tiếng Na-Uy cũng như hướng dẫn chúng tôi về lịch sữ, địa lý, văn hóa, tập quán và nhiều hiểu biết khác về xã hội và đất nước này. Một số người tỵ nạn được chọn ra, học riêng thêm một số giờ, để làm phụ giảng và thông dịch. Tôi là một trong vài người may mắn được chọn.

(Cô giáo Toril và tôi làm phụ giảng cho bà)

   Vào thời điểm này, trại tỵ nạn chuyển tiếp Bataan chứa khoảng 10.000 người, nhưng những người được tàu Na-Uy vớt được chăm sóc chu đáo nhất. Bà Thư Ký Tỵ Nạn và bà Bộ Trưởng Xã Hội Na-Uy cũng thường sang thăm viếng.

(Ông Đại Sứ, bà Bộ trưởng Xã Hội và bà Giám Đốc Sở Tỵ Nạn NaUy đến thăm viếng chúng tôi tại Bataan- Philippine)

   Sau tám tháng, chúng tôi lần lượt được đưa sang định cư chính thức tại Na-Uy.  Gia đình tôi lúc ấy có 10 người, gồm vợ chồng tôi, 6 đứa con và 2 đứa cháu, đến phi trường Fornebu Oslo vào buổi chiều cuối hè. Trời nắng đẹp. Chúng tôi được hai người đàn bà thuộc văn phòng Thư ký Tỵ nạn và Phòng Xã Hội kommune Skedsmo, địa hạt nơi tôi đến định cư, đón chúng tôi tại khu nhận hành lý của phi trường. Khi bước ra cổng, tôi được một số phóng viên báo chí và đài truyền hình phỏng vấn. Hai người đàn bà mời gia đình chúng tôi đến ăn tại một nhà hàng Tàu. Khi về đến nhà, bất ngờ chúng tôi thấy các phóng viên lúc nãy đang chờ trước cổng. Căn nhà rộng, loại rekkehus (townhouse) hai tầng, có cả sân trước sân sau được trồng hoa và lát cỏ, trang bị đầy đủ nội thất, có cả một TV mới và trong tủ lạnh đầy đủ thức ăn nước uống. Các phóng viên mời chúng tôi vào phòng khách, vừa uống cà phê vừa để họ quay phim, chụp hình và phỏng vấn. Họ hỏi về nhiều đề tài, đặc biệt là chiến tranh Việt Nam và chuyện tù đày, khổ ải của người miền Nam sau ngày VNCH thất thủ vào tay Cộng Sản, cùng cảm tưởng khi đến Na-Uy. Với mớ vốn liếng tiếng Na-Uy và cả tiếng Anh ít ỏi, tôi cố gắng trình bày và chỉ hy vọng họ hiểu được những điều chính yếu mà mình muốn nói. Trước khi từ giả, mọi người đều cảm động ôm lấy chúng tôi cùng với những lời chúc tốt lành cho một đời sống mới. Tôi rất ngạc nhiên, khi bà Trưởng Phòng Tỵ Nạn đưa chúng tôi một xâu chìa khóa, và trao cho chúng tôi tờ giấy chủ quyền ngôi nhà, mà bà cho biết kommune đã đứng ra mượn tiền mua trước, và họ sẽ trả mọi thứ tiền cho đến khi nào chúng tôi đi làm và có khả năng tự trả được. (Vì họ được mượn từ quỹ gia cư của chính phủ nên tiền lời rất thấp)

     Buổi tối, cơm nước xong, cả nhà quây quần trước cái TV. Thằng con trai lớn ra điều mới học được văn minh, bấm tới bấm lui tìm đài. Cả đám bất ngờ nhìn thấy dung nhan của mình trên màn ảnh. Thì ra chương trình phóng sự. Họ đang kể về gia đình chúng tôi: “những công dân mới của Na Uy, mà ông bố đã từng ở tù nhiều năm, giống nhiều người Na Uy bị nhốt trong các trại cải tạo của Đức quốc xã, cái thời Hitler làm mưa làm gió ở Âu Châu, và đã can đảm dắt theo mấy đứa con nhỏ vượt đại dương trên một chiếc thuyền đánh cá mong manh”. Nghe họ ca ngợi mình mà tôi xấu hổ. Dù gì tôi cũng là kẻ bỏ nước tha phương, với họ ít nhiều gì cũng là một cành tầm gởi. Còn chuyện vượt biển, vượt biên, đến bước đường cùng thì ai cũng phải liều mạng thế thôi, chứ có hàng triệu người còn can đảm gấp vạn lần tôi. Nhiều người đi bằng đường bộ, trèo núi, băng rừng, lội suối, bơi sông, qua Cam Bốt, Thái Lan, sống chết với bọn hải tặc, để vài năm sau mới đến được Singapore. Và dĩ nhiên đã có biết bao nhiêu người chẳng bao giờ tới bến.
     Khi cả nhà ngủ vùi sau hai ngày di chuyển mệt nhọc (từ trại Bataan đến Manila và từ Manila đến Na-Uy), tôi một mình xuống ngồi ở phòng khách, suy nghĩ thật nhiều về những tháng ngày sắp tới, ưu tư cho chính bản thân mình và nhất là đám con nhỏ dại, sẽ lớn lên và chấp nhận xứ sở xa lạ này như một quê hương mới. Nước mắt tôi bỗng trào ra khi nghĩ đến quê nhà, hồi tưởng một quá khứ có quá nhiều biến đổi thăng trầm và mất mát, dù đã xa khuất sau lưng, nhưng chắc chắn mãi mãi không thể nào mờ nhạt. Tôi cũng nghĩ tới thân phận của những người bạn tù còn ở lại,rồi cuộc đời sẽ không biết ra sao. Thầm cầu mong cho họ sẽ gặp được nhiều may mắn.

(Ngày mới đến thị xã Skjetten, thuộc Kommune Sketsmo, Na Uy)

     Hôm nay, cả gia đình tôi đang ở trên một đất nước tận vùng Bắc Âu xa lạ để gầy dựng lại cuộc đời.  Các đứa con thơ dại sẽ lớn lên ở đây. Tất cả sẽ bắt đầu học ngôn ngữ mới, tập quán mới. Tôi thực sự đã mất quê hương. Tất cả, nếu có còn chỉ nằm sâu một nơi nào trong tâm tưởng. Nhưng chúng tôi may mắn được đất nước này mở rộng vòng tay, để được nhận nơi đây làm quê hương mới. Cái diễm phúc ấy hy vọng sẽ xoa dịu vết thương còn đang đau đớn trong lòng, mà tôi biết sẽ mãi mãi không bao giờ lành được.

      Sáng hôm sau, bà trưởng phòng tỵ nạn trở lại thăm chúng tôi, dắt theo hai người đàn bà khác, mà bà giới thiệu là đến từ phòng giáo dục và phòng xã hội Thị Xã. Hai người sẽ đến thăm gia đình tôi thường xuyên trong hai tuần, để lo việc học hành cho các con, đưa chúng tôi đi khám bệnh, làm răng và sắm sửa thêm những gia dụng theo nhu cầu. Bà đưa tôi đến một ngân hàng gần nhà, mở cho tôi một trương mục, bỏ vào đó tiền ăn và mọi khoản chi tiêu dành cho gia đình chúng tôi trong hai tháng đầu. Sau đó, bà sẽ gởi tiếp, nhưng bà dặn bất cứ khi nào cần cứ ra rút tiền. Và nếu tiền hết vì bà chưa kịp gởi vào, ngân hàng này sẽ phải ứng trước theo giao ước của bà.

     Thêm một điều rất may mắn cho tôi. Thời gian ở trại tị nạn, tôi đã được các thầy cô giáo dạy riêng thêm ngôn ngữ Na-Uy để giúp làm phụ giảng và thông dịch, nên khi sang Na-Uy tôi đã có một ít vốn liếng tiếng Na-Uy, dù chưa thông thạo lắm. Ngày đầu tiên khi chúng tôi cùng một số gia đình tỵ nạn khác được bà Trưởng Phòng Tỵ Nạn  đưa đến Phòng Cảnh Sát Ngoại Kiều Thị Xã để được phỏng vấn làm thủ tục di trú. Vào giờ chót người thông dịch không đến được, nên tôi đã tình nguyện đứng ra giúp. Không ngờ đó lại là một cơ hội cho tôi sau này. Tôi được giới thiệu theo học khóa “Ngôn ngữ Mùa Hè” tại Đại Học Oslo. Sau đó được làm thông dịch cho Văn Phòng Xã Hội và Phòng Cảnh Sát, và được gởi theo học một khóa tài chánh kế toán trong 13 tháng, mà đa số học viên là những công chức hoặc nhân viên của các phòng sở, công ty gởi đến. Biết thân phận là người tị nạn, nên tôi cố gắng hết sức để theo kịp, nên khi mãn khóa nhận được chứng chỉ với số điểm ưu hạng.

   Khi cả nhà đang hái dâu ở vùng Drammen, vừa tiêu khiển vừa kiếm thêm tiền gởi vể Việt Nam giúp cha mẹ vợ, bà cô, cùng một số bạn tù ngày trước, tôi nhận được thư của kommune thu nhận tôi làm việc tại Kommune Kasseren (Phòng Tài Chánh Thị Xã) trong một năm. Công việc thật nhàn nhã, nên tôi được phép đi làm thông dịch thêm theo yêu cầu của các cơ quan khác và được nhận thêm tiền trả riêng. Đặc biệt việc di chuyển đều được dùng Taxi do cơ quan ấy đài thọ. Có những ngày chẳng có việc gì làm, tôi lại ngồi đọc sách để học thêm ngôn ngữ mới. Sau một năm, tôi nôp đơn xin theo học và làm trong ngành Ngân hàng Bưu Điện (Postbanken) cho đến ngày về hưu.

( Ba đồng nghiệp thân thiết nhất tại Postbanken-Anita-Reidun và Guldhaug)

     Đến Na-Uy tôi mới biết đây là một Vương quốc có dân số chỉ hơn bốn triệu rưởi, nhưng đời sống khá cao và giàu lòng nhân đạo. Gia đình tôi được chăm lo đủ thứ. Tiền phụ cấp hằng tháng quá đầy đủ. Với chúng tôi có thể nói là thừa thãi. Ngay sau khi học xong, tôi được việc làm. Khi đi học vẫn được nhận đủ lương lại còn thêm phụ cấp. Vơ tôi được đi học thêm ngôn ngữ tại một trường trung học dành cho người lớn và sau đó học nghề tại trung tấm huấn nghệ dành cho người tỵ nạn, và ngay sau khi học xong cũng cnhận dược việc làm chuyên môn về điện tử tại Siemens, một công ty lớn của Đức. Lương bỗng hằng tháng của hai vợ chồng cộng lại chỉ hơn một nửa số tiến trợ cấp trước kia. Phòng Xã Hội có nhã ý giúp chúng tôi thêm vì có đông con, nhưng chúng tôi từ chối vì thấy đã đủ trả mọi chi phí cho đời sống gia đình. Điều thú vị hơn, đất nước này gồm rừng núi, sông hồ thơ mộng và quanh năm tĩnh mịch, thích hợp với những người cần sự yên tĩnh để chữa nhiều vết thương trong lòng còn đang đau đớn như tôi.

      Mùa đông đầu tiên, khi tuyết bắt đầu rơi trắng bầu trời, chúng tôi được cấp áo quần, dụng cụ trượt tuyết, và có người đến dạy các con tôi trượt tuyết. Sau một năm, trong một kỳ thi dành cho tuổi thiếu niên, cậu con trai út của tôi được lãnh cúp hạng nhất, trở thành cậu bé trượt tuyết có tiếng trong vùng. Sau đó, chúng tôi còn được biết thêm, Nauy là quốc gia thường chiếm nhiều huy chương vàng nhất tại các Thế Vận Hội Mùa Đông.

(Huy Vinh trượt tuyết giỏi nhất giải thiếu nhi và em gái Ngọc Quỳnh)

      Định cư được hơn ba năm. Lúc kinh tế gia đình và việc học hành của mấy đứa con tạm ổn định, hơn nữa các con đã lớn cần một ngôi nhà rộng rãi có đủ phòng ốc hơn, chúng tôi quyết định mua một ngôi nhà lớn nằm dưới thung lũng nhỏ Harabakken, bên bờ sông Nitelva yên tĩnh, bên kia sông là cánh đồng cỏ mênh mông tiếp giáp với núi rừng. Cái khung cảnh có mang một chút hình dáng và màu sắc quê nhà giúp tâm hồn tôi yên ả hơn mỗi khi thấy lòng trăn trở, nhung nhớ một điều gì. Những lúc buồn, tôi ngồi hằng giờ trong bao lơn nhìn ra cánh đồng và rừng núi phía xa xa, để ngỡ là quê hương mình như đang ở phía bên kia triền núi đó. Và cũng chính nơi đây, tôi đã bắt đầu tập tễnh cầm bút viết lại cuộc đời mình, thế hệ mình, cuộc chiến bất hạnh và cuộc tang thương dâu biển mà cả miền Nam Việt Nam đã trải qua.

     Ở đất nước bé nhỏ này và với số người Việt tị nạn khi ấy khoảng 10.000 người, nhưng có một số nhà văn, nhà thơ tiếng tăm: Nguyễn Thị Vinh, Dương Kiền, Hoài Mỹ, Nguyễn Hữu Nhật, Tâm Thanh, Khánh Hà, Cung Vĩnh Viễn, Nguyễn Văn Thà…

      Bán ngôi nhà cũ của kommune mua giúp lúc ban đầu mới đến, chúng tôi may mắn lời được một khoản tiền đủ để trả hơn một nửa số tiền mua ngôi nhà mới. Ngôi nhà này nằm ở một kommune khác. Khi vừa dọn về nhà mới được hai tuần, tôi nhận được một Ngân Phiếu Trả Tiền ( Utbetalingskort) gởi từ Phòng Xã Hội của kommune cũ, cấp cho tôi một số tiền gần bằng 10 tháng lương của tôi lúc ấy. Tôi ngạc nhiên, vì số tiền khá lớn nên nghĩ là có điều gì nhầm lẫn. Cầm tấm Ngân Phiếu Trả Tiền, tôi đến gặp ông Trưởng Phòng Xã Hội. Ông cho biết đó là món tiền mà Sở Tỵ Nạn cấp để lo cho gia đình tôi, nhưng kommune không chi tiêu hết cho chúng tôi, vì con đông nên không đủ phòng ốc và đồ dùng ở ngôi nhà cũ, hơn nữa chúng tôi đã đi làm quá sớm sau khi đến Na-Uy, nên ông quyết định gởi cho chúng tôi để sắm sửa cho ngôi nhà mới. Đã vậy ông còn xin lỗi, vì đã không lo lắng đủ cho chúng tôi trong thời gian mới tới. Tôi bắt tay ông từ giã mà trong lòng cảm thấy ngậm ngùi, khi nghĩ là ở trên quê hương mình bây giờ biết tìm đâu ra những công chức chính quyền thanh liêm và giàu tấm lòng như thế?

( Ngôi nhà mới dưới thung lũng Harabakken-NaUy)

     Trong thung lũng nhỏ này chỉ có bốn ngôi nhà. Ngoài gia đình tôi, một gia đình người bản xứ, còn có gia đình người Thụy Điển và một gia đình người Đức. Tất cả những người láng giềng này rất tốt bụng, sau này đều trở thành những người bạn thân thiết của gia đình tôi.

    Gần 30 năm làm việc, tôi may mắn được sắp xếp làm ở những chi nhánh rất gần nhà. Được hưởng bậc lương tính theo thâm niên từ khi bắt đầu làm việc tại Việt Nam. Hầu hết những đồng nghiệp người bản xứ đều luôn thân tình, giúp đỡ. Điều làm tôi cảm phục hơn là sự thành thật và tin tưởng lẫn nhau của họ. Công việc mỗi ngày liên quan tới tiền bạc. Có thời gian mấy năm tôi được giao cho trách nhiệm thủ quỹ. Vào những ngày trước Giáng Sinh hay thời điểm trả thuế, số tiền trong tủ sắt lên đến nhiều chục triệu kroner. Mới đầu, tôi rất ngạc nhiên, khi giao một số tiền lớn cho mỗi kasse (quày), mà họ chẳng bao giờ kiểm lại. Có khi, một vài cô cậu sinh viên làm thêm vào các ngày thứ bảy, hay ngày lễ, làm mất đến mấy chục ngàn, họ vẫn không bị la rầy hay đuổi việc. Chúng tôi được học và dặn dò, nếu có cướp (cho dù biết vũ khí là đồ giả), hãy luôn làm theo yêu cầu của kẻ cướp, đừng bao giờ có ý chống lại. Nhưng điều này chưa hề xảy ra. Họ rất quý sinh mạng con người. Không phải như dưới chế độ Cộng Sản trên quê tôi, sính mạng con người chẳng khác gì cỏ rác!

(Giáng sinh trước khi ba cháu lớn đi du học Mỹ)

    Trong gần 30 năm làm việc, tôi chưa hề thấy những ông “sếp” nặng lời với bất cứ một nhân viên nào cho dù khi họ làm sai, thất thoát ít nhiều tiền bạc. Chỉ cần viết một đôi dòng giải thích là đủ. Ngược lại, đôi lần, trong các buổi họp, tôi thấy một vài nhân viên lại khiển trách “sếp” chỉ vì một đôi điều không được hài lòng. Phải nói, đây là một quốc gia có tinh thần dân chủ cao độ. Tôi nhớ mãi chuyện vợ chồng ông chủ tịch quốc hội bị nhân viên quan thuế phi trường Oslo chặn lại và buộc nộp tiền phạt khi hai ông bà đi công cán ở nước ngoài về, và bà vợ mang trên tay một chiếc nhẫn hột xoàn quên khai báo. Một bà bộ trưởng quốc phòng, mặc bộ quân phục khi đến thăm binh sĩ Na-Uy đang tham gia chiến trường khói lửa A Phú Hãn, bị nhiều quân nhân phê phán, bảo bà không phải là quân nhân, nên không có quyền mặc quân phục. Bà đã phải lên truyền hình chính thức xin lỗi. Tôi nghĩ chẳng có quốc gia nào dân chủ hơn . Điều này làm tôi rất hãnh diện để được trở thành công dân của đất nước này. Và biết đến khi nào mới có được trên quê tôi?

      Sau bậc trung học, bốn đứa con của chúng tôi muốn sang Mỹ du học. Khi được một đại học ở Mỹ chấp nhận, tất cả đều được chính phủ Na-Uy cấp học bổng đủ để trả học phí, tiền bảo hiểm và di chuyển, đến bậc Cao Học.Vợ tôi làm công nhân cho một công ty điện tử. Có lẽ vì nhiều năm chỉ làm một động tác, nên vai cánh tay phải bị đau nhức. Bác sĩ xí nghiệp cho nghỉ một năm có lương để điều trị và sau đó được một hội đồng giám định y khoa quyết định cho nghỉ vĩnh viễn với hưu bệnh. Lại được công ty bảo hiểm của xí nghịệp bồi thường một số tiền sai biệt so với lợi tức hằng tháng trước đó.

( Cháu trưởng nam Phạm Hoàng Minh và cháu gái út Phạm Ngọc Quỳnh sau khi tốt nghiệp Đại học)

    Bây giờ, tuổi đã già, nhìn lại quá khứ thăng trầm khốn khó, nhớ lại từng bước chân lưu lạc, lòng tôi bùi ngùi xúc động. Quê hương vẫn còn mịt mờ xa, khốn đốn trong bàn tay cai trị của bọn người CS không còn nhân tính. Mai này, tôi cũng sẽ gởi lại trên quê hương thứ hai này nắm xương tàn, hướng đầu về cố quốc mà tạ tội cùng núi sông tiên tổ.

(Các cháu trai- gái đã trưởng thành và có gia đình riêng)

      Những đứa cháu nội, ngoại của chúng tôi sinh ra và lớn lên ở Na-Uy, dù không có một kỷ niệm nhỏ nhoi nào với Việt Nam. nhưng vẫn mãi có những ràng buộc máu thịt, bởi cha ông là người Việt. Dù nói được tiếng Việt, nhưng các cháu không thể thấy gần gũi với quê cha đất tổ. Nhiều lúc tôi thấy chạnh lòng khi nghĩ rồi các thế hệ sau này càng lúc càng xa dần nguồn cội. Nhưng tôi cũng tự an ủi mình, vì các cháu lớn lên, nhận đất nước này là quê hương, sẽ cố gắng chăm chỉ học hành để vừa đóng góp phần trách nhiệm, nghĩa vụ của mình, vừa trả cái ơn cưu mang từ những ngày đầu thời ông bà cha mẹ lưu lạc đến đây. Quan trọng hơn, sẽ học tấm gương những người Do Thái, nối tiếp công việc dang dở của cha ông, góp sức đấu tranh cho no ấm tự do trên quê hương tiên tổ.

(3 cháu nội nhỏ nhất trong ngày Quốc Khánh NaUy 17/5)

      Xin cám ơn Na-Uy, đất nước xa xôi, lạnh lẽo, nhưng rất nồng ấm tình người. Nơi in đậm mãi những dấu chân lưu lạc của tôi và cả gia đình. Đã cho chúng tôi, nhất là các con cháu tôi, một tương lai tốt đẹp như hôm nay, mà nếu còn ở lại trong nước sẽ phải khốn cùng dưới chế độ phân biệt đối xử của chinh quyền Cộng Sản. Xin cám ơn Na-Uy, nơi mà tất cả những người Việt tỵ nạn đến đây sung sướng và hãnh diện để được nhận là quê hương thứ hai của mình sau ngày phải đành lòng bỏ nước ra đi.

Môt ngày buồn cuối tháng 4, sau đúng 38 năm lưu lạc

Phạm Tín An Ninh

… mãi chẳng quay về…

Cầm Cô Đơn

Cầm cô đơn khuấy vũng lầy
Ẵm câu thơ thử chôn gầy guộc em
Ngày lấp ngày đêm vùi đêm
Cạn tình tang lại đầy thêm tang tình

Cầm cô đơn xúc bóng mình
Đổ lên ký ức loáng hình ảnh xưa
Dằng dặc dằng dặc dây dưa
Gỡ tờ lịch cuối vẫn chưa thấy gì

Cầm cô đơn niệm thầm thì
Tâm hướng tỉnh hồn lầm lì hướng mê
Chạm chiều buồn giẫy tê tê
Mồ thơ cắm một miếng bia không đề….

Từ Khi Hạ Đỏ

Vô định hướng nỗi buồn như biển loạn
Ném ta vào tận đáy vực hoang mê
Cơn cuồng nộ xé vòm xanh tơi tả
Hồn chữ khô ngập ác mộng tư bề

Nhồi số phận thất thanh vào vỏ ốc
Mặc người tranh chiếc bánh vẽ hư không
Những gương mặt bần thần như trúng độc
Gài trần gian làm bẫy rập lông chông

Sầu lăn mãi chữ yêu nhòe nét mực
Nắng qua đời bóng tối ngập vòng tay
Tom góp niềm vui cược ngày giáp hạt
Dư chấn dồi gộp đá lên vai

Ta cái kiến buồn hiu đeo cành cụt
Người con sâu đục ruỗng những miền tươi
Thơ un khói nằm mơ trên gác bếp
Đường chân trời không một bóng chim chơi

Hồn tử sĩ đong đưa ngoài chiến địa
Xua căm hờn đi khất thực cô đơn
Hòn đất lén đem sơn hà cầm cố
Giày há mồm nhìn sông nước trôi hoang

Mồ viễn xứ lắt lay cờ viễn xứ
Ôm cõi người nhen đốm lửa gây mơ
Đâu tri kỷ rót đôi lời tri bỉ
Mùa trở vàng rơi mấy giọt ưu tư

Ảo ảnh cứ thập thò che mất hướng
Ném câu thơ lỡ vận chợt sầu tê
Mùa hạ có người thả mình xuống biển
Vớt niềm vui mãi chẳng quay về…

Lưu Xông Pha

TÓC AI PHẤT PHỚI BAY NGHÌN DẶM

Tóc ai phất phới bay nghìn dặm
Có lẽ chiều nay mưa hở em
Trăm giọt bay bay nghìn giọt nhớ
Ta sầu từ thuở mới xa em

Đôi mắt buồn xưa nay có lạ
Có nhìn như những kẻ không quen
Tôi về sau những năm lang bạt
Đôi mắt xưa còn không hở em

Từng sợi mù sương trong mắt cũ
Tóc mơn man lạnh dặm sông dài
Tháng năm dẫu cướp nàng hương săc
Mà mắt buồn xưa vẫn láng lai

Ta đã mòn chân trời viễn xứ
Mười năm vẫn thấy hồn chưa già
Ơi em một chút tình hương lửa
Có giữ chăng nàng hay cũng xa

Cố quận hàng soan ngùi ngậm tiễn
Thuở nào luân lạc vẫn không quên
Tóc ai phất phới bay nghìn dặm
Có lẽ chiều nay mưa hở em!
(1969)

THỦY TÁNG

Mọi thứ đều yên tĩnh. Có một lúc biển thôi gầm thét, mặt nước xanh như một lời hứa. Khoảnh khắc ấy trong chiều muộn sẽ qua nhanh, sóng lại tung bọt trắng xóa, hắt ướt sàn thuyền. Con bé chết đúng vào khoảnh khắc yên tĩnh ấy, người mẹ quỳ xuống bế nó lên trên tay, ôm chặt. Chung quanh không ai nói gì, hồi lâu chị ngất đi, buông tay ra, đứa bé rơi xuống tay một người đàn bà khác. Chị cúi thật lâu nhìn mặt đứa bé. Khuôn mặt bụ bẫm kháu khỉnh miệng nói bi bô lúc mới xuống thuyền, sau mười mấy ngày nay tái xanh, gò má nhô cao, môi nứt nẻ, mắt hõm sâu vì mất nước do tiêu chảy. Chị trao lại cho một phụ nữ trẻ, người này ôm lấy nó vào lòng như chính con mình, rồi chuyển cho một người khác nữa. Sinh vật nhỏ bé không còn sự sống được chuyền trên tay những người chung quanh, cuối cùng trở lại với người mẹ. Nhìn mặt con, lúc này chị mới khóc. Những lời cuối cùng của con bé, khi nó còn tỉnh táo, khi chưa đi vào hôn mê và co giật, là “mẹ”. Và “nước”. Nước là mẹ, chúng ta sinh ra từ nước. Chúng ta sinh ra từ biển. Từ mẹ. Từ muối. Từ nguyên thủy chúng ta đã khát.

Mặt trời lăn đi trên sàn thuyền, biển tạm thời bớt hung hãn, trở nên êm ả hơn, đám đông những người áo quần tơi tả, mặt lọ lem, tiếng động của im lặng, gió thổi qua cánh buồm rách nát cột lại bằng quần dài và áo sơ mi và váy đầm kẻ hoa bay phần phật như ngọn cờ chiến bại sau cuộc chiến tranh lien miên, tiếng lăn khô khốc của chiếc thùng gỗ chứa nước không còn một giọt. Trên thuyền mọi người vây quanh, nghe được cả tiếng đập trong những lồng ngực thắc thỏm. Khung cảnh tựa như nghi lễ trước giờ tiễn biệt, người chủ thuyền, sau khi hỏi ý mọi người, quyết định thủy táng. Chúng tôi chờ thêm lát nữa, trước khi mặt trời sắp lặn xuống biển, cho gió bớt thổi tàn bạo, lên hết mạn thuyền. Người mẹ lúc này thôi khóc, xơ xác, nhưng mặt chị tỏ ra bình tĩnh. Chị im lặng đi theo con mình đến gần mạn thuyền, nơi mấy người đàn ông đang quỳ. Đứa bé nằm trên cái chiếu nhựa nửa xanh nửa đỏ không biết ai kiếm ở đâu ra, tay chân buông thõng, mắt nhắm, thoạt nhìn tưởng như đang ngủ, thản nhiên, dịu dàng. Tôi quỳ xuống ở xa, để cho những người phụ nữ đến gần hơn, tất cả đều cầu nguyện, đọc kinh rì rầm. Người mẹ được dìu đến sát bên con, hai tay chị ôm chặt lấy con giờ đây nằm gọn trong chiếc chiếu, chị không nói năng gì, không khóc, khuôn mặt nhợt nhạt thuộc về một thế giới khác. Như một người bỗng nhận ra linh hồn vốn không nằm trong thể xác, bỗng nhận ra thế giới thoạt kỳ thủy vốn không có gì cả. Chị đi một mình với đứa con gái lên bốn tuổi, chồng chị đã đi vượt biển trước đó cùng với con trai đầu lòng, sau nhiều tháng không nghe được tin tức gì, người ta nghĩ thuyền của họ đã mất tích. Trước một đứa trẻ bốn tuổi nằm trước mặt bạn, không cử động, không nói năng, như con cá trích, cá chuồn, ướp muối, thế giới dừng lại, thời gian dừng lại, cái sai dừng lại cái đúng dừng lại, sóng biển không còn đập ầm ầm vào mạn thuyền. Trời nhá nhem nhưng chưa tối hẳn, trăng bắt đầu hiện ra, một mảnh lưỡi liềm mỏng sáng bạc hiu hắt, chúng tôi, tôi và ba thanh niên khác, mỗi người cầm một góc chiếu giữ chặt, chúng tôi quỳ một hồi, để những người phụ nữ cầu nguyện. Tôi nghe tiếng đọc kinh, cảm thấy sức nặng trên tay bỗng nặng lên một cách lạ lùng, kéo trĩu xuống. Mảnh chiếu giờ đây đã cuộn tròn đứa bé vào trong, vừa đủ kín, sắp rách, không nhìn thấy mặt nó, nhưng cái chiếu ngắn bày đôi bàn chân ra hẳn bên ngoài, khẳng khiu, rồi một chiếc dép rơi xuống bên cạnh. Chỉ có một chiếc. Một đôi chân hồi chiều bạc trắng, bây giờ đổi qua xanh tím trước mắt tôi, một người cầm manh chiếu quay người lại hỏi có ai tìm chiếc dép còn lại của đứa bé không, mang cả đôi vào cho nó. Tôi không hiểu sao anh ta hỏi thế, tại sao lại cần đến dép hay giày cho một người sắp sửa đi qua thế giới khác, hay họ phải đi bộ thêm nhiều đoạn đường nữa mới tới nơi, như tôi từng đi bộ thời chiến tranh?

Người mẹ trở lại khoang thuyền, lục lọi hồi lâu trong đống đồ đạc chị mang theo, nhưng không tìm được thứ gì, không biết chiếc dép kia của đứa bé thất lạc đâu. Chúng tôi quyết định không thể chờ nữa, tôi cũng không nghĩ con bé cần giày dép làm gì, mọi người tiến sát mép thuyền, nâng chiếc chiếu lên cao, tiếng tụng niệm vang lớn. Vào lúc ấy một đứa bé gái khác, khoảng sáu hay bảy tuổi, da mặt đen nhẻm, quần áo gọn gàng, bất ngờ rút đôi dép trong chân nó ra, hồi đó gọi là dép Nhật, tới đưa cho người mẹ. Tôi không biết con bé này ở đâu ra, nó đi với ai, sao nó lại xuất hiện một mình, mọi thứ đều mù mờ không duyên cớ trong khoảnh khắc ấy. Chị lắc đầu từ chối, dùng dằng một hồi, đứa bé nói một câu gì đó tôi không nghe rõ, nhưng tỏ ra cương quyết, cuối cùng chị cũng nhận lấy và xỏ vào chân cho con mình. Đôi dép hơi rộng hơn bàn chân nhưng trông vẫn thích hợp, tươm tất hẳn, đôi bàn chân không còn trống trải sau mũi dép dài và nhọn. Người mẹ hôn lên mặt con lần nữa trước khi buông hẳn tay ra, lùi một quãng khá xa, mắt mở to. Chúng tôi cùng đứng thẳng người, giữ chặt mép chiếu trong tay, nâng cao nó lên, giữ thăng bằng, im lặng một lúc. Thời gian lặn xuống nước, để lại trên mặt biển những vòng tròn đồng tâm đỏ sẫm. Chúng tôi đưa mắt nhìn nhau, lấy đà ném đứa bé ra xa xuống biển cùng với đôi dép của nó, được tặng bởi một người bạn nó chưa kịp quen biết. Tôi cúi mặt nhìn kỹ đôi dép sợ chúng sút ra, nhưng không, chúng vẫn nằm đó, ôm lấy đôi bàn chân nhỏ bé lướt qua mạn thuyền như chân của con chim hạc, vừa cất mình đã kêu lảnh lót, tiếng kêu vang xa trên mặt nước.

nguyễn đức tùng

BỪNG CON MẮT DẬY…

Bốn năm sau khi rời trại tỵ nạn Trại Pendleton, mùa thu năm nay (1979), tôi trở lại nam California lần đầu tiên để dự khóa học ngắn về kỹ thuật điện toán tổ chức tại khách sạn Hilton ở Los Angeles.  Chiều thứ Sáu, khóa học kết thúc, tôi xách va-li bước ra lobby (căn phòng lớn dùng làm phòng khách của khách sạn) và thấy Ngân bạn tôi ngồi đợi.  Ngày Sài gòn, Ngân học Đại học Khoa học, đỗ cử nhân hóa học, và mở trường dạy luyện thi tú tài và thi tuyển vào đại học chuyên khoa.  Ngân cười tươi,

            “Hôm nay vợ và hai con em tao trổ tài nấu nướng đãi mày với thằng Bào.  ‘Thằng khỉ’ đó vừa từ Galang qua đây tuần trước.”  Trại tỵ nạn Galang do Liên hiệp quốc điều hành nằm trên đảo Galang thuộc quần đảo Riau của Nam Dương.

            “Thằng Bào luật sư ăn nói khéo léo và giỏi xoay xở, tao biết thế nào nó cũng thoát ra khỏi Việt nam; bây giờ kêu là ‘vượt biên.’  Có vợ con nó không?”

            “Tại thiếu địa (tiền), đúng hơn là thiếu vàng, mua chỗ nên chỉ mình nó đi; vợ và đứa con trai ba tuổi ở lại.”

Bào đưa cả hai tay ôm chặt tay tôi.  Khuôn mặt hốc hác và thân hình còm cõi, nhưng tiếng cười giòn giã và giọng nói oang oang của người bạn cũ vẫn như trước,

            “Ba Hoa ơi hỡi Ba Hoa!  Thế còn chị ‘Chích Chòe’ đâu?”

            “Bà xã để ở nhà, cõng theo làm gì cho bận bịu chân tay,” tôi quay sang các bạn khác, “Bà con ơi, thằng này là thầy kiện mồm loa mép giải, nhưng ăn nói đâu ra đó, không một tấc lên tới trời như bọn Việt Cộng đâu.  Bào à, mày kể tiếp chuyện vượt biên cho tao nghe  với.”

            “Tôi ra đi cùng với 41 người khác trên chiếc thuyền dài 16 mét có 15 phụ nữ từ 13, 14 tuổi đến khoảng tứ tuần và năm trẻ em dưới 12 tuổi.  Vừa ra tới ngoài khơi là nguy khốn bắt đầu:  Thuyền gặp bão dữ, hư máy, và trôi vô định.  Rồi chiếc thuyền chở đầy hải tặc Thái quấn xà-rông xuất hiện, thằng nào cũng có vũ khí.  Chúng bắt già trẻ lớn bé cởi hết áo quần đứng trần như nhộng để lục xét tìm vàng, ra lệnh cho đàn ông ở lại thuyền, và lùa phụ nữ còn trẻ lên thuyền chúng và cưỡng hiếp năm ngày liền trước khi thả chúng tôi đi,” Bào rưng rưng nước mắt thuật lại khổ nạn tiếp theo của đám “thuyền nhân.”

Ba ngày sau lại gặp toán hải tặc khác.  Thuyền không còn gì đáng giá để cướp, đàn ông bị đánh đập túi bụi, và ai có răng vàng đều bị đè ra cạy nhổ lấy vàng.  Phụ nữ lại bị bắt sang thuyền hải tặc và hiếp dâm như trước, lần này chúng bắt cả trẻ em mang theo.  Một ngày sau, toán hải tặc thứ ba xuất hiện và đòi chia “chiến lợi phẩm.”  Hai toán gầm gừ đánh nhau, và hai hôm sau, tất cả bọn chúng đột ngột biến mất trong đêm tối cùng với đàn bà và trẻ em đã bị bắt.

Nỗi tuyệt vọng của những thuyền nhân còn lại lên tới mức tột cùng khi họ thấy một chấm đen ở chân trời lớn dần tiến lại gần thuyền.  Hải tặc lần thứ tư, chỉ có nước chết!  Nhưng khi chiếc thuyền kia lại gần, họ thấy những người thân yêu đang trở về.  Khi nhận ra mình bị bắt đem đi và sẽ không bao giờ gặp lại người thân, các phụ nữ đã can trường phản đối và đòi nhảy xuống biển tự trầm.  Bọn man rợ chịu nhường bước và chở họ trả về.

Bào cầm lon bia uống một hơi, mắt nhắm nghiền như để xua đuổi nỗi kinh hoàng,

            “Con thuyền lại lềnh bềnh trôi.  Không có thức ăn trong nhiều ngày và nước uống rất hạn chế, mọi người thoi thóp nằm yên một chỗ và bắt đầu nghĩ tới chuyện ăn thịt người để sống.  May có một chiếc tàu buôn Anh chạy qua, dừng lại cho thức ăn và nước uống, giúp sửa máy thuyền, cung cấp dầu, và chỉ đường chạy tới Galang.”

            “Phù…ù…ù, rốt cuộc mày đến bờ tự do,” tôi thở ra một tiếng dài.

            “Trong trại, túp lều tao ở nằm cạnh lều một gia đình người Nam năm người, lớn tuổi nhất là ông Trương khoảng ngũ tuần, chững chạc, và rất kín đáo.  Không người nào hé môi lộ ra tông tích gốc gác của mình.”

            “Nhưng sức mấy mà qua mặt đôi mắt tinh như cú vọ của mày,” tôi mỉm cười.

            “Làm ngành luật, tao nhận ra ông Trương là bộ trưởng bộ Tư pháp của cái phường tuồng gọi là chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam,” Bào gật đầu.

* * *

Trương là con thứ hai trong một gia đình Nam kỳ quý phái dưới thời Pháp thuộc có sáu cậu con trai.  Mỗi cậu có riêng một a má là chị vú người Tàu đưa đón đi học và hầu hạ việc ăn mặc, tắm rửa, ngủ nghê, v.v.  Mỗi cậu có riêng thầy dạy kèm các môn học chính ở trường và thầy dạy âm nhạc, mỗi cậu học một loại nhạc khí riêng.  Ngoài ngôi nhà chính ba tầng trên đường d’Espagne (Lê Thánh Tôn bây giờ) giữa trung tâm Sài gòn, cha mẹ Trương có đồn điền cao su ở Thủ Dầu Một (Bình Dương), nhà in tại Sài gòn, nhà nghỉ mát ở Ðà Lạt, và biệt thự mùa đông ở Cap Saint-Jacques (Vũng Tàu).  Cha Trương là giáo sư trung học dạy ở trường Chasseloup Laubat (sau này gọi là Jean-Jacques Rousseau), nhưng dạy lấy tiếng chứ tiền lương chỉ là phụ.

Anh em Trương học trường dành cho trẻ em Pháp.  Lúc đầu bị bọn bạn học người Pháp gọi nhạo là nhaque (đọc là “nhác-cờ,” do chữ “nhà quê”) hay mite (đọc là “mít-tờ,” cách nói tắt khinh miệt của chữ “annamite” người Pháp dùng chỉ người Việt), cậu Ba Trương thấy khó chịu, nhưng rồi cũng quen và nhập tâm bài học lịch sử vỡ lòng, “Tổ tiên ta là người Gaulois.”  Năm Trương 13 tuổi, cha cậu quyết định,

            “Lớn lên con sẽ làm dược sĩ.  Anh con làm bác sĩ, em kế con chủ nhà băng, và ba em sau kỹ sư.”

Tháng Ba năm 1946, trước khi Trương lên đường sang Pháp du học, cha Trương làm lễ đính hôn cho cậu và ý trung nhân là con gái của một bác sĩ và điền chủ giàu có ở Bến Tre và cũng là bạn thân của ông.  Sang Paris, Trương được nhận vào ở trong đại học xá sinh viên Đông dương.  Cùng thời điểm đó, Hồ Chí Minh ăn dầm ở Paris chờ thương thảo về đề nghị cho Việt Minh (Việt nam) độc lập trong Liên hiệp Pháp, hội nghị diễn ra tại Fontainebleau cách Paris chừng 60 km về hướng đông nam.  Nhờ vậy, Trương gặp ông Hồ hai lần.  Lần đầu, ông cho mời cả nhóm sinh viên Việt nam trong đại học xá đến họp chung và lần sau chỉ mời hai đại diện sinh viên người Nam đến “dùng trà với bác Hồ”; Trương là một trong hai sinh viên được đề cử đi.  Với dáng điệu và cử chỉ của một chính trị gia xảo hoạt bậc nhất thế giới, ông Hồ hớp hồn chàng sinh viên 23 tuổi bằng những khẩu hiệu nghe rất kêu như

Không có gì quý hơn độc lập-tự do.

Chúng ta phải chống giặc ngoại xâm, chống giặc đói, chống giặc dốt.  v.v.

Hội nghị Fontainebleau tan vỡ, nhưng lần gặp gỡ ông Hồ đã thay đổi toàn diện ước vọng về tương lai của Trương.  Trương bỏ ngành dược, học chính trị học ở Học viện Khoa học Chính trị, một grande école người Pháp gọi là “Sciences Po,” và cùng một số sinh viên Việt nam đi biểu tình và vận động ủng hộ cuộc chiến đấu chống Pháp của Việt Minh.  Cha Trương giận dữ khi được tin Trương không tuân lời về việc học hành và dính dáng vào chuyện chính trị, nhưng quyết định dùng mật ngọt để khuyến dụ:  Ông sui gia (tương lai) đưa cô vị hôn thê của Trương sang Paris, dắt hai người đi du lịch một vòng quanh Pháp, Ý, và Thụy sĩ, và trở về làm lễ cưới theo nghi thức hành chánh tại quận đường Quận 12, đồng thời với lễ gia tiên của hai gia đình cử hành tại Sài gòn.

Kế sách của hai người cha đưa lại kết quả trái ngược.  Không những Trương không đổi ý hướng mà còn dẫn dắt vợ vào con đường của mình.  Khi hội Người Việt Đoàn kết cử vợ Trương dâng hoa cho vợ tổng thư ký đảng Cộng sản Pháp, bà này cũng là ủy viên trung ương đảng, hai ông già hết chịu đựng nổi bèn ra lệnh cho vợ chồng Trương phải về nước.  Trương cương quyết ở lại và để vợ về một mình, lúc ấy cô mới 20 tuổi và mang thai sáu tháng.  Hai ông già quyết liệt hơn, cắt đứt tiền bạc cấp dưỡng, và buộc cô vợ trẻ ký giấy ly dị.  Lần đầu tiên trong đời, Trương phải tự kiếm sống, rửa chén và gọt khoai cho nhà bếp đại học xá.

Năm 1951, Trương tốt nghiệp cao học chính trị học và ghi danh học luật ở Đại học Paris.  Cuối năm, Trương bất ngờ nhận được thư cha gọi về Sài gòn giúp ông gầy dựng lại cơ sở kinh doanh bị chiến tranh tàn phá để giúp anh và các em tiếp tục việc học.  Để tránh lệnh động viên của chính phủ Quốc gia Việt nam, Trương xin đi dạy ở Châu Ðốc và được bổ làm giáo sư chính ngạch rồi kết hôn với em gái bạn đồng nghiệp.  Vợ Trương sinh con gái đặt tên Loan.  Để tránh lệnh trưng binh khẩn cấp vì chiến tranh lan rộng, Trương xin gia nhập Hải quân và được nhận vào trường Tiếp liệu Hải quân Pháp ở Toulon.  Sau khi Hiệp định Genève được ký kết, Trương tốt nghiệp sĩ quan và xin giải ngũ.

Trương về nước với chí hướng quyết liệt chống đối phe Quốc gia là chính phủ Việt nam Cộng hòa (“VNCH”).  Nhờ bằng cấp cao, liên hệ bạn bè thời Chasseloup Laubat, và thế lực gia đình, Trương được trọng dụng làm tổng thanh tra Việt nam Kỹ thương Ngân hàng và sau đó tổng giám đốc Công ty Đường Việt nam, một công ty hàng quốc gia.  Trong lúc Trương ngầm câu kết với  các tổ chức Cộng sản trong bóng tối, con gái là Loan lại học cùng lớp với con gái Tổng thống Nguyễn văn Thiệu, thường vào dinh Độc lập ăn cơm tối và ngủ lại đêm, và được ông bà Thiệu yêu thương như con.

Tháng Sáu năm 1966, hành tung bị bại lộ, Trương bị cơ quan an ninh VNCH bắt giữ.  Nhờ Việt Cộng bí mật điều đình với tòa Đại sứ Hoa kỳ, Trương và hai tù nhân chính trị khác được trao đổi với ba quân nhân Mỹ bị Việt Cộng bắt.  Thế là Trương ra bưng hoạt động hẳn cho phe Cộng sản.  Sau khi Trương bị bắt, ông Thiệu dịu dàng kéo Loan ra một bên,

“Con yên tâm, ba con với tonton là kẻ đối nghịch. Nhưng con là con cháu nhà này, chuyện kia không ăn nhằm gì cả.”

“Tonton” tiếng Pháp là “chú/bác/cậu” khi xưng hô thân mật.  Sau đó, bà Thiệu bảo trợ cho Loan đi Hoa kỳ du học.  Ngày 8 tháng Sáu năm 1969, Hà nội đưa ra trình làng con múa rối đặt tên là chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam (“CMLTCHMN”) để mà mắt thế giới, và Trương được phong chức bộ trưởng bộ Tư pháp cho đủ lệ bộ. 

Mãi đến sáu năm sau, trong cuộc diễn binh mừng chiến thắng chiếm trọn miền Nam của Việt Cộng, Trương mới mở mắt nhận ra thực chất của CMLTCHMN.  Trên khán đài dựng lên trước dinh Ðộc lập (mới đổi tên thành Thống nhất), chủ tịch đoàn gồm lãnh tụ ngoài Bắc vào và những nhân vật quan trọng khác đứng duyệt khán các đơn vị quân đội diễn hành.  Bộ binh, chiến xa, pháo binh và hỏa tiễn phòng không, v.v. với cờ đỏ sao vàng miền Bắc lần lượt đi qua.  Gần tàn buổi lễ mà không thấy các “đại đơn vị” và lá cờ hai màu xanh đỏ của CMLTCHMN đâu cả, Trương nghiêng vai hỏi Tướng Văn Tiến Dũng chỉ huy quân đội đứng bên cạnh,

            “Các Sư đoàn 1, 3, 5, 7, và 9 của tụi tui đâu?”

            “Mấy thứ đó hả?” ông tướng đưa mắt nhìn Trương và không đắn đo, “Quân đội thống nhất rồi,” rồi quay đầu nhìn xuống đường với khoé môi trề xuống tỏ vẻ khinh miệt. 

Khi vở kịch CMLTCHMN đến lúc hạ màn, Trương ra Hà nội dự lễ phê chuẩn văn kiện “thống nhất nước nhà về mặt nhà nước” chính thức chấm dứt tấn tuồng lừa đảo này.  Trong buổi tiếp tân, có người vỗ vai, Trương quay lại thấy Trường Chinh chủ tịch Quốc hội miền Bắc; ông ta trừng mắt hỏi xách mé,

“Đồng chí là ai mà trông quen quen?”

Trương ngớ người bối rối.  Mới bảy tháng trước, ngay tại sảnh đường này, chính đồng chí lãnh đạo này đã ôm hôn chào mừng líu lo và chiêu đãi rộn ràng Trương và toàn bộ CMLTCHMN.  Trương ấp a ấp úng,

Tui là bộ trưởng bộ Tư pháp miền Nam.”

“Thế à?” mắt Trường Chinh sáng lên khoái trá, “Đồng chí tên gì, bây giờ làm gì?”

Trương tỉnh mộng hoàn toàn, cưới cô vợ mới, và cậy nhờ người em cột chèo trù hoạch vượt biên.  Cuối tháng Tám năm 1978, vợ chồng Trương theo gia đình người em đó lên ghe đánh cá đi từ Long Xuyên đến trại tỵ nạn Galang.  Sáu tháng sau, sang Pháp định cư và sống đời lưu vong.  Ba mươi năm “làm cách mạng” của Trương rốt cuộc chỉ là:

Giấc Nam kha khéo bất bình,

Bừng con mắt dậy thấy mình . . . thuyền nhân.

(Theo Cung Oán Ngâm Khúc)

Nguyễn Ngọc Hoa

                                                                                        

THIÊN THẦN

“Sắp về Việt Nam đó.”

Dễ Thương thông báo một buổi chiều thứ tư. Trời còn chút mùa xuân. Nắng trong, gió nhẹ.

Bất ngờ như hụt chân bước lọt vào khoảng trống, người đàn ông hoảng hốt, “Chừng nào về?”

“July.”

“Sắp tháng Bảy rồi.”

Nụ cười nở ra trên cánh môi. Con mắt ướt như có gió có mưa đâu đó tạt về. Cõi lòng như cái ống nước cao su bị xoắn, người đàn ông kiếm giùm cô một cái cớ. Tháng Bảy ở Việt Nam thì có gì nhỉ. Loài hoa nào nở vào tháng Bảy ở quê nhà. Mùa mưa bắt đầu từ tháng nào. Bão nhiệt đới thổi về. Bão rớt từ biển đông. Tháng Bảy có gì. Xa Việt Nam lâu quá, người đàn ông quên mất tiêu.

“Tháng Bảy nóng muốn chết.”

“Thì nóng.”

Đoán mò, người đàn ông hân hoan thầm nghĩ, vậy mà trúng phóc. Thành ra người đàn ông hăm hở, “Why?”

“Why what?”

“Nóng vậy sao lại về?”

“Chỉ có nghỉ hè mới về được.”

“Sài Gòn tháng Bảy vừa nóng vừa mưa dai, không nhớ sao.” Ông thêm một chi tiết nhỏ vào bảng phân chia thời tiết của quê nhà.

“I know.”

“Biết nói I know mà còn về.”

“Đi lâu lắm rồi.” Người con gái nhăn nhó, như giải bày một điều quá hiển nhiên.

“Lâu là bao lâu?”

“Bốn năm.”

“Bốn năm ăn nhằm gì.”

Cô nhìn ông, ngạc nhiên. Chắc hôm nay ông không bình thường như mọi khi thành ra cô mới nhìn ông như thế. Bởi ông thấy chút ngỡ ngàng rất mỏng, rất thưa, như những miếng mành mành treo đầy những cửa nhà Việt Nam giăng trong mắt cô. Và một chút gì đó loang ra thật nhanh trong đáy mắt. Vết loang của một nỗi niềm không tên gọi.

Ông vội chữa, “You về Việt Nam, me sẽ đi uống cà phê với ai đây?”

Ông hạ thấp giọng ở cuối câu, thành ra câu nói thành một lời than không dấu chấm than ở cuối.

Cô cười, “Đi uống một mình.”

Có cái gì đó ngân nga trong lòng người đàn ông. Vậy là người ta cũng quan tâm đến nhau ít nhiều dù nỗi bận tâm chỉ vương trên trán, như lọn tóc mầu nâu đen, chả làm bận lòng ai. Nhưng vẫn là mối quan tâm. Cô không muốn ông đi uống cà phê với ai. Vắng cô, ông hãy chỉ đi uống cà phê một mình.

Vắng em, anh không được đi uống cà phê với ai đâu đó. Ông dặn lòng như vậy, giùm cô.

“Đi một vòng nghe.” Lòng muốn rủ cô về căn phòng trọ nhưng miệng lại nói ra một điều xa lơ lắc. Người con gái gật đầu và người đàn ông thầm trách mình.

Ngang cà phê Tim Hortons, ông ghé vào gọi cho cô một ly capuccino lớn và một ly nhỏ cho ông, rồi lái xe ra hướng ngoại ô. Khu rừng quen. Lá xanh rợp trời. Cỏ mượt trải thảm nhấp nhô những mảnh đồi cao thấp. Nắng lấp ló đầu cành.

“Nhớ chỗ này không?” Ông hỏi với chút bồi hồi trong lòng.

“Sao không?” Cô trả lời, đôi mắt chớp nhanh.

“Mới đó mà đã nửa năm rồi.” Câu nói tuột ra khỏi miệng, nghe không khác một tiếng thở dài.

“Đâu đã tới nửa năm.” Cô vặn, nhỏ nhẹ.

Lòng lại nao nao. Thì ra cô còn nhớ. Một buổi tối mùa đông. Tuyết trắng mặt đất. Mây mù xám không gian. Vặn vẹo trong tay nhau. Hụt hẫng những hơi thở. Xe thổi hơi nóng sưởi ấm hai bàn chân. Hơi ấm thổi nóng cái lưng trần nhấp nhô. Môi dán lấy môi. Cái miệng tham lam bò miết như loài ốc sên trong bóng tối. I love your breasts. Thổi vào tai người con gái cái câu sần sùi, cái lời thô nhám. Nhưng không thể nào không nói, bởi đôi vú thật căng, thật đầy; đầy nứt những ngón tay ôm. No căng tuổi trẻ, mê man hạnh phúc. Hạnh phúc trong vòng tay. Gã trung niên thì thầm cám ơn đất trời đã cho mình những đặc ân không lời nào viết hết. Biết người con gái có nhớ được như ông vẫn nhớ không.

“So you still remember.” Ông nói bâng quơ.

“Sao không.”

Cô đưa cái ống hút lên môi, mắt nhìn xa vắng.

“Another exam tomorrow.” Cô thở dài, nói nhỏ lúc bỏ ly cà phê xuống chỗ đặt ly trước mặt. “Ghét Shakespeare quá trời.”

Ông nhìn cô bằng con mắt khoan dung. “Vất vả một thời gian, mai mốt khỏe.”

“Không dám đâu. Nợ tiền học ngập đầu.”

“Vất vả ít năm, có bằng đại học, lấy chồng giầu. Về làm dâu nhà triệu phú.”

Người đàn ông thấy ngộ nghĩnh cái chuyện cô về làm dâu nhà nào đó (lòng sẽ đau, riêng một mình ông). Và hình ảnh cô rót nước, bưng cơm hầu hạ bố mẹ chồng nó ra làm sao nhỉ. Không cách nào hình dung ra được.

“What?”

“Lấy chồng, làm dâu.”

“Làm dâu, trời ơi, nghe chị Phi Nhung ca chuyện làm dâu, thấy sợ luôn. I’ll never làm dâu.”

“Chắc không?”

“Sure.”

“Canada never có chuyện làm dâu.”

“Tại chưa yêu ai.”

“Dù có yêu mà bắt me làm dâu là me good-bye liền.”

Nghiêm trang sau câu nói nhưng có ánh cười trong khóe mắt. Người đàn ông cười. Cô gái cũng cười theo. Nụ cười làm rung những giọt nắng trên vai. Không cưỡng lại được cái cảm xúc nhảy múa trên những đầu ngón tay nên những ngón tay rụng xuống một bên vai thiên thần.

Cứ thế mà hẹn hò.

***

“Uống cà phê nghe.”

Cái gật đầu rất nhẹ cũng làm lòng ông xao xuyến. Người con gái như cánh hoa, thế gian đã ví von trăm ngàn lần. Và ông thấy nhân gian nói những điều chí lý. Như cánh hoa chỉ nở một lần. Những ý nghĩ vụn vặt vắt ngang tâm tư. Lòng ông rối bời. Rồi em có yêu như những người con gái Việt Nam thuở trước. Yêu một người, yêu một đời. Người con gái lưu lạc. Người con gái nửa tây nửa Việt. Xứ sở văn minh. Cuộc sống buông thả. Điều khổ tâm suốt một đời là mai sau, lòng cứ nổi trôi trên những bến bờ tình cảm vô định.

“Thiên thần.” Ông buột miệng.

“What?”

Vẫn mảnh hợp âm thơ dại. What. Cao ở đầu, trũng xuống ở khúc giữa khi âm hưởng vẫn tròn đầy, rồi vươn cao như một dấu hỏi gợi tình. Whaaaaat. Whaaaaat. Rồi làm sao tôi quên được cái hợp âm dễ thương ấy, hỡi thiên thần bé nhỏ.

“Thiên thần.” Ông lập lại tiếng than. Người con gái mở ra cho ông một nụ cười.

***

Cuối cùng, ông quyết định không nghĩ đến điều đó nữa, bởi càng nghĩ, ông càng thấy như mình đang làm điều gì sai trái. Đời người ngắn ngủi. Tâm trí đâu bận rộn những chuyện không đâu. Ông đứng dậy, bấm công tác điện bình nước, rồi trở lại ghế ngồi. Cuốn sách nằm trên mặt bàn. Cây bút viết mầu đen. Xấp giấy trắng trơ vơ như chờ đợi một điều gì khác thường. Ông nhìn quanh căn phòng trống trải. Lâu lắm không làm được điều gì. Ngày hai mươi lăm tuổi, người bạn học trò đã bảo, ở tuổi này nếu có tài thì đã có rồi. Bây giờ tuổi tác đã chồng lên quá con số nhân đôi của cái thời hoa mộng ấy. Và ông thấy mình vẫn chưa làm được điều gì coi được.

Tiếng nước sôi réo gọi. Hơi nước ngùn ngụt bốc lên từ vòi cái ấm nhựa. Ông chậm rãi đứng lên, mở hộc tủ lấy một gói cà phê Việt Nam, xé một góc, đổ vào chiếc ly thủy tinh cũ. Bột cà phê quẫy động, bọt nâu sủi lên ngầu đục. Ông khuấy chiếc muỗng vào lòng ly. Tiếng thủy tinh kêu lanh canh như đánh thức cái xôn xao ngái ngủ trong đáy lòng. Lâu lắm mới tìm lại được cái lao xao thời mới lớn. Ông vẫn nghĩ mình không làm điều gì sai trái. Ông đưa ly cà phê lên môi. Thành ly mịn màng, quen lắm; như đôi môi người con gái. Đôi môi của thiên thần bé nhỏ ông gặp mới hôm nào.

Lớp học có đủ các sắc dân. Người đàn ông chìm vào cái đám đông nhốn nháo. Lúc cầm miếng giấy sắp lớp từ văn phòng giáo viên hướng dẫn, lững thững đi dọc hành lang, nhìn chăm chú từng con số dán trên cửa mỗi phòng học, lòng ông lặng lờ như mặt nước ao tù. Cái thuở một tay ôm cặp sách, một tay níu áo mẹ rụt rè bước vào cổng trường tưởng như đã từ thế kỷ nào, có ai mà ngờ. Xin lỗi, có ai ngồi đây không. Ông hỏi đôi mắt đen nhánh đang ngỡ ngàng nhìn ông. Cánh mi mềm khẽ rung. Cánh bướm lạc vào khu vườn lạ.

Tiếng Anh của ông cứng, nhưng mái tóc dài đen nhánh ấy vẫn nghe ra được. Cái đầu tròn tròn lắc qua lắc lại thay cho câu trả lời. Ông bỏ cuốn tập xuống bàn, loay hoay kéo chiếc ghế cho xa cái bàn một chút, rồi ngồi xuống một cách chật vật. Ông cảm thấy như bao nhiêu mắt nhìn đang dán vào lưng mình. Chưa đến giờ học, giáo viên chưa đến. Ông tháo cây bút trong túi áo, đặt lên bàn, ngước nhìn dòng chữ viết bằng phấn đỏ trên mặt bảng đen. Lớp văn chương Anh. Đâu ngờ cũng có lúc lại phải làm một tên học trò sách vở lếch thếch đến trường.

Đến giờ ra chơi thì ông biết người con gái ấy là người Việt. Vài câu trao đổi thành quen, như thể trước kia ở cùng một khu phố bên nhà. Đến giờ ăn trưa, hai người ngồi đối mặt nhau qua chiếc bàn gỗ sơn cái mầu vàng ệch bỏ trống dưới bóng mát cây phong già.

Hỏi nhau cơn gió nào dun dủi cho hai người vào chung một lớp. Đổ thừa cho số mạng. Chừng ấy tuổi đầu rồi mà vẫn phải cắp sách đến trường. Người con gái cười nửa miệng, được đi học hoài, lucky thấy mồ.

Người đàn ông không cười. Câu nói vô tình nhưng cứa nhẹ vào lòng, chỗ một vết thương đã cũ.

Một lát ông khẽ lắc đầu, cảm khái, “Cái thuở hàn vi sao mà dài dằng dặc.”

“What do you mean hàn vi?”

Cô gái ngước mắt nhìn ông. Bầu trời xanh cuối mùa thu chìm sâu trong đáy mắt ấy. Ông thấy cả những ngọn cây phong còn xanh mầu lá trong vũng mắt thăm thẳm.

“Hàn vi là cái thời còn trẻ, còn nghèo túng,” ông ngập ngừng giải thích.

Hàn vi là gì nhỉ trong tự điển Hán Việt. Ông moi óc tìm tòi. Không một chữ thánh hiền nào trở về với ông. Chữ nghĩa thánh hiền rơi rớt dọc những đoạn đường đời mịt mờ bụi đỏ. Chữ nghĩa đã bỏ ông. Như tuổi trẻ; như những mùa vui. Ông xé một miếng bánh donut, bỏ vào miệng để lấp đi cái khoảng trống không thể đặt tên.

“You eat too much.” Cô gái nhìn ông, nghiêng đầu, chớp mắt.

Nghiêng đầu. Chớp mắt. Cách làm duyên thông thường và cổ điển.

Ông nheo mắt suy nghĩ. Người con gái nào năm xưa hay nghiêng đầu chớp mắt nhỉ.

“You eat too much.” Cô nhắc lại. Ông đọc được trong âm hưởng giọng nói chút gì như trách móc. Lâu lắm rồi, không được nghe một lời trách móc. Bây giờ ông thấy tiếng Anh dễ thương và tình tứ hơn tiếng Việt bội phần. Nếu bắt cô phải nói với ông bằng tiếng Việt, cô sẽ nói câu ấy thế nào cho ông khỏi bị đẩy sâu vào xó lạnh của cõi người bóng xế. Gọi nhau bằng you, tình tứ biết bao nhiêu.

“Not too much,” ông phản đối dịu dàng.

“Yes, you eat again and again.” Cô quả quyết. Những ngón tay gõ nhẹ trên mặt bàn. Hai mắt ông dán vào những móng tay mầu hồng mịn màng, không sơn phết đỏ đỏ đen đen. Lòng khi không dấy lên chút gì đó quá đỗi dịu dàng, khói sương, phù ảo. Từ tháng năm nào đã không còn những người con gái để mộc mạc đầu mười ngón tay thon. Có một dịp nào đó ông sẽ nói với cô bé rằng ông yêu hai bàn tay cô, từ những đầu ngón tay thuôn, những móng chuốt sạch, yêu cái mầu hồng hồng của móng, yêu cái phao ngón tay mầu trắng đục, những cái phao tay hình lưỡi liềm. Yêu những vừng trăng quê nhà xa lơ lắc. Ở những móng tay sơn đỏ sơn đen sẽ không còn thấy được những cái phao tay mầu trắng đục. Ông yêu mười đầu ngón thuôn, và ông yêu luôn cả chiếc nhẫn đeo ở ngón tay cái. Sao lại có người đeo nhẫn ở ngón cái. Ông thầm hỏi.

“Tại đói chứ bộ.” Câu trả lời bâng quơ. Mãi đến bây giờ ông mới trả lời cái câu thắc mắc của cô từ năm mười phút trước. Bỗng dưng ông thấy mình nói năng hệt như cái thời mới lớn; cái thời mượn xe của bố đi đến chỗ hẹn với người yêu.

“Why?”

“Why what?”

“The ring.” Ông chỉ ngón tay cái của cô.

“The ring.”

Nụ cười thắp sáng một vũng không gian hẹp. The ring. Những ngón tay co lại, duỗi ra trên mặt bàn. Nhưng không có câu trả lời. Chỉ có môi cười thật tròn, thật ngọt.

“Sao đeo nhẫn ngón tay đó.”

“Don’t ask.”

“Okay.”

Có dịp nào đó ông sẽ nói ông yêu những ngón tay học trò kia.

Những ngón tay còn da non như da tay trẻ em chưa dùi mài vất vả.

“Why don’t you go to university?

Tiếng Anh của cô có âm hưởng Á châu, như những người Trung Hoa, Đại Hàn, Nhật Bản và Việt Nam thường có. Cái âm hưởng nghe quê mùa nhưng hiền hậu. Và ông cũng hiểu được là cô hỏi sao ông không vào đại học.

“Phải lấy bằng trung học trước.” Ông chậm rãi trả lời.

“Thì ra vậy. Your English very good. My English not good.”

“You’ll be okay.”

“Don’t think so.”

Cái lối nói chuyện trống không, xa xa gần gần ngày xưa ông không thích. Lối nói chuyện ở quê nhà người ta cho là xách mé. Ừ, một con bé mười chín tuổi nói chuyện với bậc cha chú ai lại trống trơn như vậy. Ngày xưa dễ gì ông ưa lối nói ấy, vậy mà bây giờ ông thấy dễ thương. Rồi cái lối Anh không ra Anh, Việt không ra Việt cũng vậy nữa. Thà cứ dốt hẳn tiếng Anh. Hoặc mù luôn chữ Việt. Nhưng đó là chuyện xưa. Từ lúc gặp cô bé, ông trở nên độ lượng với cuộc đời.

Yêu em lòng chợt từ bi bất ngờ. Ông thì thầm câu hát Trịnh Công Sơn.

“Whaaaat?”

“Yêu em lòng chợt từ bi bất ngờ.” Ông lại thì thầm.

Cô gái nhăn mặt, “Whaaat. Yêu em lòng… what?”

“Chợt từ bi bất ngờ.”

“What do you mean từ bi?”

Ông cố tìm một chữ có nghĩa tương đương trong tiếng nước người. Nhưng chữ nghĩa nhồi nhét ngày đêm bao nhiêu năm trời mà lúc cần tra tìm bỗng dưng thấy mình thành kẻ ăn đong.

“Không hiểu thì thôi.” Ông nói bằng tiếng Việt.

Cô gái bậm môi, “Không hiểu mới hỏi.”

“Người Việt mà không hiểu tiếng Việt.”

“You don’t want to tell me. That’s fine. I don’t care.”

“O-kê. Từ bi là rộng lượng, bao dung.”

“Bao dung?”

“Yes.”

“What do you mean bao dung?”

“Ví dụ như nói chuyện tiếng Việt mà you không hiểu, but I don’t give up. I try to explain to you. Even though I want to yell, I still keep calm trying to explain. That’s từ bi.”

Câu nói pha trộn nửa Anh nửa Việt, nhưng chắc cô cũng hiểu.

“Lúc ở Việt Nam người ta còn nhỏ chứ bộ.” Cô gái phụng phịu.

“I know.”

“I don’t want to talk to you any more.” Cô xoay ghế qua phía bên kia. Trước khi lọn tóc trên trán cô rũ xuống che kín khuôn mặt trái xoan, ông còn kịp bắt gặp bóng tối loang đầy hai con mắt.

Lần nào đó cũng giận hờn như thế, trong một thương xá. Ngồi đối diện nhau. Nhưng không nhìn vào mắt nhau như mọi khi. Ông ngước nhìn khung trời hẹp phía trên khung kính lộ thiên. Bầu trời trên ấy biếc xanh. Tiếng nhạc lao xao. Giận dỗi mềm và mỏng, như miếng bánh tráng nhúng nước. Dễ giận, nhưng cũng mau quên.

“You know that song?”

Cô hỏi. Cô hay hỏi trống không. “Biết bài hát đó không?”

“Bài hát nào?”

“Bài hát mình đang nghe đó. Hay là you đang ngủ quên.”

“À, hay.”

“They talk about biology gì gì đó.”

“Yes.”

“You know that song,” cô lại hỏi.

“Yes.”

“Translate for me.”

Thì dịch. “Hình như là don’t know much about biology don’t know much about đủ thứ. Không biết gì về sinh vật học. Không biết gì về bao nhiêu thứ; chỉ biết chắc là I love you và biết luôn là you love me too.”

“Nice song.”

“Yes.”

Ông nhìn cánh môi hơi cong lên một chút ở khóe. Ông nhìn chăm chú đường viền ngăn cách làn da vàng nâu nhạt trên má với mầu hồng mịn màng của môi. Đường viền mỏng như sợi chỉ. Đường viền này sẽ máy động như thế nào khi vạch những lời thì thầm yêu đương, và sẽ gẫy khúc ra làm sao khi đứa con gái vểnh cổ lên cãi lời bố mẹ.

Ý nghĩ làm ông mỉm cười.

“Whaaaaat?” Cô hỏi, giọng trẻ thơ ngân nga cái chữ duy nhất trong câu nói, kết thúc ở nốt cao như một nét nhạc đeo đầy dấu hỏi. Đôi mắt tròn. Cái đầu nghiêng. Như tình cờ bắt gặp một nụ cười chế nhạo trên môi người đối diện.

“Nothing.” Ông buột miệng, rồi vội thêm. “You’re so cute.”

Đường viền trên cánh môi giãn ra, vẽ cho ông một nụ cười.

Buổi sáng. Nụ cười hiền. Mắt hồn nhiên. Hồn giấy trắng. Thiên thần. Hãy mãi mãi là thiên thần nghe cô bạn học trò. Ông thầm khấn vái. Cô học trò ngây thơ duy nhất còn sót lại trên xứ người.

Mình không làm điều gì sai trái. Ông dỗ dành mình hàng trăm lần như vậy. Cô bé chưa tròn mười chín tuổi. Trẻ thơ. Thiên thần. Nụ cười lúc nào cũng đọng trên môi. Cặp môi hồng tinh khiết. Đôi mắt chưa biết ngóng xa xăm. Con mắt chưa biết liếc tình. Thân thể thiên thần ấy chưa một bàn tay trần gian nào ve vuốt. Ông không được phép tháo gỡ đi những lời kinh thơm tho của đời sống. Thần linh nào đó nhắc nhở ông một cách nghiêm trang. Đừng làm vấy bẩn một trang giấy, đừng làm nhăn nhúm tấm khăn hồng trên bàn tiệc vua chúa. Đừng bao giờ. Never. Nhưng mà trời ơi, sao Trời lại tạo nên cô dễ thương như thế. Tại sao trời đất lại xui khiến cho ông gặp cô nơi xứ sở lạnh ngắt mùa đông và hừng hừng nóng những ngày mùa hạ.

Cái chuyện sai trái ấy nó như thế này.

Số là buổi ấy, đưa cô đi lòng vòng, trời đất khiến xui, ông dừng xe bên đường.

“Want to have a look at my apartment?”

Cô nhún vai.

Ông mở cửa, gật đầu khuyến khích. Cô khẽ nghiêng đầu rồi duỗi chân chuồi ra khỏi xe, nặng nề như phạm nhân bước ra khỏi xe cảnh sát.

Hết những bậc cầu thang, ông mở cửa, đứng lách qua một bên cho cô bước vào.

“Wow, messy!”

“I know.”

“Bụi không hà.”

“I know.”

Ông chạm khẽ vào vai cô. “My room’s over here.”

Cô bước theo ông vào căn phòng hình chữ nhật.

Cô ngồi xuống chiếc ghế duy nhất trong phòng. Ông lách vào khoảng trống hẹp phía sau chiếc giường, đẩy khung kính cửa sổ cho gió lùa vào.

“Cold!” Cô vòng hai cánh tay ôm lấy hai vai. Co ro như con mèo nhỏ.

Ông đứng sững lại nhìn cô. Tất cả những dịu dàng, hiền thục trên thế gian gom lại nơi người con gái mặc quần jean xanh, mặc áo thun trắng, đôi vớ trắng dầy và đeo nhẫn ngón tay cái kia. Ý nghĩ nặng nề nào đó níu lấy tâm tư ông. Trời ơi. Đừng làm gì hết. Hại người ta tới cả một đời. Trách nhiệm một đời người đi theo cái hành động ngắn ngủi năm mười phút ấy thôi. Hãy nhìn đi chỗ khác. Vẫn biết khuôn ngực trắng hồng và no căng ấy gọi mời đến xao xuyến cả những núi đồi của rặng Rocky Mountain, đến xôn xao những thảo nguyên trải dài khắp miền đồng bằng xanh ngắt một vựa lúa mì của tỉnh bang Saskatchewan phì nhiêu. Ý nghĩ xào xáo đầu óc gã trung niên. Người đàn ông trải cả trăm trang địa lý hùng vĩ của xứ sở tạm dung ra trên bàn viết trí tưởng mong làm nhòa đi cái quyến rũ mê hồn của đứa con gái vừa qua tuổi dậy thì ngày hôm trước.

Ôm hờ một bên vai thiên thần, ông thì thầm, “Sweetie.”

“Whaaaat?” Cô hỏi lại, ngơ ngác – thật hay giả – ông không còn phân biệt được nữa. Nhưng cái giọng vẫn dễ thương và quen thuộc. Bắt đầu ở nốt thấp, wh uốn cong lên tới wha, cao nhất khi chữ what tròn đầy, rồi buông xuống nhịp nhàng thành câu cong như một dấu hỏi. Wwwhhhhaaaatttttttttt.

Ông run rẩy nhấc hai bàn tay mình lên. Hai bàn tay run ấy ôm lấy đôi bờ vai thon. Hai bàn tay dìu cái mảnh mai lại bên giường. Hai bàn tay dịu dàng đỡ cho cái mảnh mai nằm nhẹ xuống miếng nệm dầy. Môi khô đắp xuống khuôn mặt trái xoan những nụ mềm. Cánh môi hồng mở ra. Những nụ hôn đắp lại. Trời ơi. Thương quá là thương. Nhưng sao lại dịu dàng đón nhận. Sao không quay mặt qua bên phải. Sao không quay mặt qua bên trái. Sao không cau mày. Không bậm môi.

Không dừng lại nữa đâu. Tới đời kiếp nào nữa mới lại được mê đắm với một người con gái vừa qua tuổi dậy thì khi mình đã quá cái tuổi trung niên. Ông vùi mặt lên khuôn ngực căng. Hàm răng nhay nhay đôi núm vú hồng thẫm.

Những gì xảy ra sau đó tuần tự như những bài bản thời mới lớn.

Áo quần ông quăng vội xuống sàn nhà. Áo thun trắng vẽ một vòng cung, đáp xuống, vắt một bên thành ghế. Cái mặt già cỗi vùi vào khoảng trũng dưới chiếc bụng thon. Gã trung niên mê man nhưng vẫn đủ tỉnh táo để chờ những phản công cuối cùng của thành trì thời con gái. Sẽ đẩy ra hoảng hốt, sẽ cuống cuồng kéo lại cái zipper, sẽ chống tay ngồi dậy, sẽ khoác vội lên mình bất cứ thứ gì quơ quào bắt được đầu những ngón tay. Như bất kỳ người con gái nào khác; như bao nhiêu con gái, như bao nhiêu đàn bà đã qua trong đời. Với cô, ông sẽ nghe những chữ nửa Anh nửa Việt. No, I don’t want to. Đừng. I don’t like it. Không thích vậy đâu.

Cuốn kinh thân xác với thịt da thơm mùi giấy mới mở ra trước đất trời ông những trang huyền hoặc.

Chữ nghĩa sắp hàng trong đầu, sẵn sàng tuôn ra. Vô số những lời dỗ dành. Please. Sẽ phải please thật nhiều. Không gì dễ nói bằng please. Không cần phải vội vã I love you. Chuyện gì phải đến, sau này sẽ đến. Tình yêu là chuyện lâu dài. Còn chuyện thể xác, chuyện mê đắm. Chuyện having sex. Không thể nào ngừng, bé ơi. Gã trung niên tự nhủ sẽ rất nhẹ nhàng. Sẽ đẩy vào thong thả. Cô sẽ không đau. Cô học lớp mười ba ở Canada, cô thừa biết chuyện tình dục. Dù chưa làm bao giờ thì cô cũng vẫn biết chuyện tình dục nó ra làm sao. Tụi học trò bên này quỷ quái gấp ngàn lần bọn học trò bên ông thời trước. Ông phải chỉ cho cô biết thế nào là ân ái. Tụi tây chỉ biết làm tình, ít đứa biết ân ái như người Á đông mình. Ông sẽ chỉ cho cô biết thế nào là ân ái. Năm tới cô vào đại học, cô sẽ có bồ, rất nhiều hy vọng sẽ là bồ tây. Lúc ấy ông có vun xới, đắp bồi đến thế nào đi nữa thì tòa lâu đài ông dựng lên cũng chỉ là phù phiếm. Ý nghĩa biện hộ cho ông.

Gã trung niên yên tâm xua quân chiếm đoạt. Gã trung niên vùi mặt vào khoảng trũng dưới bụng cô, để đánh lạc hướng, để cô không để ý được tới những ngón tay gian manh đang đẩy xuôi cái zipper. Rồi cái mặt có những nếp nhăn của gã học trò già tuồi lên phía trên ngực người con gái. Để hai bàn tay rảnh rỗi tuột cái quần jeans đang vướng lại ở hai mảnh xương hông.

Chợt bàn tay người con gái rời khỏi cái lưng trần của người đàn ông, chạy xuôi xuống hai bên thân thể, tiếp tay với ông, kéo chiếc quần xuống khỏi khoảng hông. Ông mừng rỡ nhổm dậy, gỡ những vướng víu còn sót lại trên cặp đùi trắng muốt.

Và ông đổ xuống thân thể cô cái ham muốn không dây cương nào chế ngự.

Đã chuẩn bị cho một tiếng kêu não lòng; đã chuẩn bị cho một cái tát tai nảy lửa; ông chuẩn bị luôn cho cả cái trầy trật, vất vả, vượt đèo lội suối, trần ai lai khổ trước khi có thể vào sâu được trong thân thể người con gái vừa qua tuổi dậy thì. Lòng ông cuống quýt khúc thánh ca rực rỡ hào quang cho một lần động phòng hoa chúc. Thiên thần của đời sống. Thiên thần của riêng anh. Từ giây phút sắp tới đây. Người con gái ngây thơ duy nhất còn sót lại trong cái thành phố Bắc Mỹ nói tiếng Anh này sẽ thành đàn bà. Người đàn bà trẻ thơ. Người đàn bà mới dậy thì sáng hôm qua.

Anh sắp yêu em đây, em nhỏ. Em sắp là của anh đây, hỡi thiên thần trẻ con.

Người con gái mở rộng cặp đùi. Ông nhìn đăm đăm hai con mắt trẻ thơ, ông đón bắt một nét thất thần. Ông ôm ghì lấy thân thể mượt mà. Ông hít hà mùi của thịt da.

Nhưng bỗng dưng ông nhận ra mình đã lọt sâu vào thân thể cô tự lúc nào. Không một cái ngắt quãng của hơi thở. Ông ngỡ ngàng như người bước hụt. Thôi thì cứ mê muội. Lúc này có ngừng cũng không được. Ông nghe hơi thở mình ngắt quãng. Ông nghe hơi thở cô hình như cũng ngắt quãng ít nhiều.

Khăn trải giường trắng. Chiếc nệm dày. Êm. Chiếc gối mầu hồng.

Những hình ảnh đập vào mắt ông. Sẽ in sâu vào trí nhớ. Không tiếng thét não lòng. Không vật vã, không quằn quại. Ông hụt hơi leo dốc. Những ý nghĩ nổi loạn trong đầu. Thua rồi. Thua mấy thằng nhóc tóc vàng tóc nâu trong trường trung học của cô rồi. Tụi nó đã dẫn cô đến nơi ấy trước ông. Người con gái mới qua tuổi dậy thì sáng hôm qua.

Thua thật rồi.

Cả một lâu đài nhòe nhoẹt đổ xuống trước mắt, gã trung niên vùi mặt lên cái khoảng tối tăm ẩm ướt mà tủi thân. Rồi ông thong thả lau chùi. Rồi ông mặc quần áo cho cô, như người y tá ân cần chăm sóc bệnh nhân. Đầu óc nặng nề, ông tránh nhìn vào mắt cô. Cô cũng tránh nhìn ông.

Rồi ông lặng lẽ đưa cô về. Lúc về gần tới nhà, cô xoay qua hỏi ông, ngôn từ mỏng mảnh.

“Why are you crying.?”

***

“I’ve just got an English name.” Nàng đánh thức người đàn ông ra khỏi cơn độc thoại nặng trĩu ưu tư.

“Really?” Gã xoay qua nhìn nàng. “Tên gì?”

Nàng đọc cái tên cùng với sự phấn khởi trong giọng nói.

“Beautiful name.”

Nàng cười.

“Có ai chọn dùm không?”

“No, coi trong cuốn sách baby’s name.”

“Good. Nhớ giữ cuốn sách.”

“What for?”

“Mai mốt cần.”

Nàng cau một bên mày. Rồi đôi môi khẽ nở ra một nụ cười. Người đàn ông cười theo.

“Can I ask you something?”

Một buổi chiều. Mưa. Họ ngồi trong xe với nhau như vẫn thường ngồi chiều này qua chiều khác. Chạy vòng vòng qua bao nhiêu phố phường vẫn chưa hết mưa. Lâu lâu, ngừng xe lại bên đường. What are you doing. Cô hỏi bằng vành môi cong và con mắt ướt. Người đàn ông gài số xe, thận trọng tháo dây thắt lưng an toàn rồi xoay qua ôm lấy vai người con gái. Whaaaat. Vẫn tiếng what kéo dài lên bổng xuống trầm, như khúc nhạc ngắn. What nhưng ánh cười trong mắt.

Người đàn ông vòng tay ra sau vai dễ thương, níu nhẹ đôi vai mềm lại gần, rụt rè hôn lên đôi môi hồng. Bao nhiêu lần như thế, và lần nào dễ thương cũng nhắm hờ đôi mắt, và đôi môi đón chờ nụ hôn người đàn ông một cách nhiệt tình.

Rồi ông thong thả buông cô ra, vuốt nhẹ sợi tóc vương trên má người con gái.

“Biết tại sao phải ngừng xe không?”

Cô ngơ ngác nhìn, đôi con mắt ngạc nhiên.

“Tại vì dễ thương quá.” Ông thấy mình cải lương Hồ quảng nhưng ông biết mình nói thật. Ông thấy đôi con mắt cười; cả đôi môi cũng cười. Và ông cho xe chạy lướt đi.

“Ô kê. Bây giờ hỏi đi.”

“You like children?”

Gã trung niên lặng yên, đo lường những ẩn ý nằm sâu trong đôi mắt đen nhánh. Rồi, rất nhiệt tình, gã dịu dàng yes và ngập ngừng hỏi lại why. Trong đầu gã bập bềnh những ước mơ ngoài tầm tay với. Có cô vợ mười chín đôi mươi ở cuối đoạn đường trung niên là cả một điều hãnh diện lớn lao. Gã nhớ Picasso. Bỗng dưng chỉ nhớ được mỗi một Picasso tám mươi tuổi có người tình ngoài hai mươi mặc dù trước đây gã có nguyên một danh sách những người đàn ông có vợ hoặc người tình đáng tuổi con, tuổi cháu.

“You want to do me a favour?”

Làm ơn. Do me a favour. Tiếng nước mình, tiếng nước người. Do me a favour tiếng nước người nghe đơn giản. Làm ơn, tiếng nước mình, nghe nặng nề, có phải vì đôi khi còn kèm hai chữ mắc oán theo sau.

“Được không?” Nàng nhắc.

“Được chứ. Mà cái gì?”

“You promise.”

Nàng gài gã trung niên vào thế kẹt. Người đàn ông lừng khừng. Hứa-với nàng-có thể là chuyện đơn giản như làm giùm bài luận văn về những chủ đề chính trong The Catcher in the Rye của J.D. Salinger nhưng cũng có thể là chuyện về Việt Nam, lên rừng Ban Mê Thuộc, tìm cho được con cọp, lấy miếng cao hổ cốt.

“Nói thử xem.”

“You không promise thì thôi.”

Cái giọng của Dễ Thương tẩm với nước mưa. Cái giọng ẩm ướt, buồn như gỗ mục.

Gã vội vàng, “Thì hứa.”

Nàng đưa ra một ngón tay cho gã móc. Gã ngoan ngoãn móc ngón trỏ vào ngón tay trỏ của nàng.

“Rồi nói đi.”

“You hứa do me that favour.”

“OK.” Hắn kéo dài hai chữ OK suốt một quãng đường, tới khi xe ngừng ở đèn đỏ. Nàng bật cười vì cái hơi dài của người đàn ông.

Gã quay qua nhìn nàng. Trong cái nhá nhem của buổi chiều mưa cuối tháng Sáu, gã thấy nàng đẹp và dễ thương như thiên thần đi lạc.

“I will do anything to make you happy.”

Nàng đặt bàn tay mát lạnh lên cánh tay trần của người đàn ông. Đó là lần đầu tiên nàng đặt tay lên tay gã. Một luồng cảm giác lạ lùng tỏa ra từ những đầu ngón tay người con gái làm người đàn ông ngây ngất. Gã nhìn xuống bàn tay nhỏ bé của nàng và gã thấy rõ những vòng ánh sáng tỏa ra từ năm đầu ngón tay nàng, bập bềnh như một mảng sương sa mỏng, mềm, thường thấy đầu những ngọn lá những ngày mùa đông rất lạnh ở núi đồi cao nguyên thời nhỏ dại.

Cho dù đầu óc gã bị nhiễm những cảnh trong phim ảnh thần thoại, huyền hoặc với phép phù hôn ám mà thấy như vậy nhưng cái cảm giác tê tê trên thịt da nơi tiếp xúc với bàn tay người con gái là điều hoàn toàn có thật. Thiên thần. Người đàn ông thì thầm. Thiên Thần. Thiên thần của tôi.

“Nói nghe đi,” người đàn ông dịu dàng khuyến khích.

“Phải hứa không được la me nữa đó.”

“Cũng ô kê luôn.”

Nàng cười, nhưng con mắt buồn. Long lanh nỗi buồn như người đàn ông vẫn bắt gặp nơi những người con gái thuở trước trong thi ca.

***

Cuối cùng, ông quyết định không nghĩ đến điều đó nữa, bởi ông thấy mình không làm điều gì sai trái. Đời người ngắn ngủi. Tâm trí đâu bận rộn những chuyện không đâu. Ông đứng dậy, bấm công tác điện bình nước. Rồi ông trở lại ghế ngồi. Sáng nào cũng vậy. Cuốn sách nằm trên mặt bàn. Cây bút viết mầu đen. Xấp giấy trắng trơ vơ như chờ đợi một điều gì khác thường. Ông nhìn quanh căn phòng trống trải. Lâu lắm không làm được điều gì. Ngày hai mươi lăm tuổi, người bạn học trò đã bảo, ở tuổi này nếu có tài thì đã có rồi. Hồi đó ông mới ngoài hai mươi. Bây giờ tuổi tác đã chồng lên quá con số nhân đôi của cái thời hoa mộng ấy. Và ông thấy mình vẫn chưa làm được điều gì khả dĩ coi được. Tiếng nước sôi réo gọi. Hơi nước ngùn ngụt bốc lên từ vòi cái ấm nhựa. Ông chậm rãi đứng lên, mở hộc tủ lấy một gói cà phê Việt Nam, xé một góc, đổ vào chiếc ly thủy tinh cũ. Bột cà phê quẫy động, bọt nâu sủi lên ngầu đục. Ông khuấy chiếc muỗng vào lòng ly. Tiếng thủy tinh kêu lanh canh như đánh thức cái xôn xao ngái ngủ trong đáy lòng. Lâu lắm mới tìm lại được cái xôn xao mới lớn. Năm sáu năm trời ngủ yên, bây giờ thấy lại cái xôn xao. Ông vẫn nghĩ mình không làm điều gì sai trái. Ông đưa ly cà phê lên môi. Thành ly mịn màng, như đôi môi người con gái. Đôi môi thiên thần bé nhỏ của riêng ông.

Thằng bé lăng xăng đạp chiếc xe ba bánh vòng vòng trong phòng khách. Người đàn ông mắt nhắm mắt mở nhưng cũng cố rõi mắt nhìn theo. Thằng bé chạy quanh cái bàn gỗ rồi len lỏi đẩy chiếc xe vào khoảng cách giữa cái bàn và chiếc ghế sa lông dài. Một bánh xe sau vướng lại sau cạnh bàn. Thằng bé cố bậm môi, cong người đạp. Chiếc xe không nhích đi được chút nào.

“Dad.” Tiếng gọi lanh lảnh. “Daddy.”

Mãi đến bây giờ mới có người gọi ông là daddy.

“Lui lại mới qua lọt được.” Người đàn ông nói bằng giọng khàn khàn.

Thằng bé ngước nhìn người đàn ông, nét van nài trong ánh mắt.

“Daddy, help.”

“Okay. Chờ chút.”

Người đàn ông nhẫn nại chống tay đứng dậy, xỏ chân vào đôi dép cao su mầu đen, lững thững bước về phía thằng bé.

“Where’s mom?”

“Nói tiếng Việt.” Giọng ông lạnh băng.

“Mẹ đâu?” Thằng bé cũng cộc lốc.

“Mẹ đi học.” Ông cộc lốc như trả thù.

“Again?”

“Yes.”

Ông trả lời với chút ẩm ướt trong giọng nói. Chút uất ức nào đó, chút giận hờn nào đó không tên gọi. Ông lặng lẽ giúp thằng bé đẩy bánh xe qua một bên cho chiếc xe đi lọt.

“Thanks, dad.”

“Don’t call me dad.”

Ông gầm gừ như con báo bị cướp mất miếng mồi. Thằng bé ngước mắt nhìn ông, ngơ ngác.

“Đạp xe được rồi,” ông nhắc, giọng dịu lại.

Thằng bé vẫn sững sờ nhìn ông. Mầu nước biển của đôi mắt trẻ thơ xoáy vào tim ông những con sóng lao xao. Mầu biếc xanh của một thứ hy vọng mượt mà. Nhưng không phải mầu con mắt của mẹ nó. Không phải con mắt của Thiên Thần. Con mắt biếc xanh ngả qua mầu đỏ, như ráng chiều, như mặt trời vỡ loang những vạt máu trên bãi hoang, bên bờ biển vắng. Con mắt hờn ghen, con mắt của vết đớn đau tột cùng. Và những giọt ứa ra ở khóe bờ biển xanh. Tiếng sụt sùi kéo người đàn ông trở về với cõi thực của cuộc đời.

“Don’t cry.” Ông quên mất tiêu rằng mình vẫn nhắc thằng bé nói tiếng Việt. “I’m sorry. Đừng khóc.”

Ông đặt tay lên đầu thằng bé, những ngón tay vùi vào mớ tóc rậm nhưng mịn màng trăm ngàn sợi nhỏ quăn cuốn vào nhau.

“When will mom be back?”

“Nói tiếng Việt.”

“Chừng nào mẹ về?”

“Tối mẹ về.”

Thằng bé phụng phịu. Người đàn ông ngồi xuống, đưa tay bồng thằng bé lên.

“Đừng khóc. Mẹ đi học, mai mẹ về. Lại coi ti-vi với daddy.”

Ông đặt thằng bé xuống ghế. “Dựa lưng chỗ này êm này. Con thích coi phim gì?”

Chiếc nệm ghế trũng xuống dưới sức nặng của ông và thằng bé. Chiếc ghế nệm cũ, bất cứ sức nặng nào cũng làm trũng xuống được. Ông nhìn một đầu ghế bạc mầu. Mái tóc thiên thần xõa trên ấy. Những sợi đen nhánh, như những nhánh sông, như trăm ngàn ngả rẽ của dòng sông mùa nước lớn. Mùa ân tình. Môi hồng nở tròn như con cá mắc cạn, như con cá hớp nước. Thiên thần đi lạc xuống dương gian.

“Beauty and the Beast.”

“À, phim Beauty and the Beast.”

Cuốn phim mua tặng mẹ bây giờ thằng con đòi coi đi coi lại hoài. Ông thầm nghĩ.

“What’s mom doing now?” Thằng bé bỗng hỏi.

Giờ này Thiên Thần đang làm gì ở Sài Gòn nhỉ. Ông loay hoay tìm câu trả lời. Thiên Thần về quê thăm mẹ. Ba tuần nữa mới trở lại.

Ông bỗng nhớ một cảnh trong phim. Quái vật bắt giam người con gái, nhưng đành thả cho nàng về thăm cha bệnh nặng. Quái vật nghĩ nàng sẽ không bao giờ trở lại. Nhưng khi quái vật bị trúng thương, giữa lúc thập tử nhất sinh, người con gái trở lại. Ông nhớ hoài mẩu đối thoại trong phim. You come back. Of course, I come back.

Còn Thiên Thần của ông. Nàng có trở lại không. Và ông? Có điểm nào để nàng nhìn ông thành quái vật.

“Dad!”

“Cái gì?”

“What’s mom doing now?”

“Mom’s with granny.”

“I want…”

“Thôi không want gì hết. Coi phim. Mở lên đi. Turn it on. Và không được nói chuyện khi coi phim nghe chưa. Okay?”

Nhớ em muốn khùng. Mẹ gì đi xa đến nửa vòng trái đất mà không gọi về hỏi thăm con đến một lần. Người đàn ông lẩm bẩm.

“Dad, đừng la me mà.”

Ừ thì không la. Mẹ bắt hứa trước không được la, con cũng giao hẹn không la.

Người đàn ông lặng lẽ lắc đầu. Hôm nay chắc không ngủ sớm được rồi, ngày nào cũng phải thức sớm đưa thằng bé lại chỗ gửi trẻ rồi đi làm trễ thế này chắc bị đuổi việc sớm. Thiên Thần ơi, where the hell are you now?

HOÀNG CHÍNH