Nếu Để Chia Tay Thì Đừng

Khi nàng bỏ đi rồi, trong suốt nhiều năm tôi mơ chỉ một giấc mơ. Là thấy nàng trở về. Những cơn mơ trống hoác nhưng chật chội hình ảnh nàng và những giọt nước mắt rơi không thành tiếng. Làm sao để kiểm soát được việc nhớ tới một người. Lại cũng không thể ép bản thân thôi đừng nhớ về người đó. Tôi không biết phải bắt đầu câu chuyện như thế nào, chỉ biết rằng để trải nghiệm một nỗi đau mà con tim đang chín đủ đau buồn, tôi đã phải thức trắng nhiều đêm. Trong căn nhà ba phòng, con gái tôi và đứa cháu ngoại chiếm hai phòng, còn tôi một phòng. Gần 3 giờ sáng, ai cũng ngủ chỉ mình tôi thức. Con chó ngủ bên cạnh sofa, lâu lâu nức lên, dường như nó cũng nằm thấy một giấc mơ? Ai đó nói rằng văn chương đi ra từ cuộc đời. Và như vậy thì tôi sẽ ghi lại một vết thương chưa kịp kéo da non và mới vừa đây mùa đông đã trở nên lạnh vô cùng. Tháng mười hai sắp bắt tay với tháng một. Nơi đầu hồi trước nhà, tiếng gió thổi lạnh căm như một hơi thở vừa rụng qua vai. Một phía của bình minh chưa đến. Nhưng một phía kia là bóng tối và tình yêu muốn nhờ gió đêm gởi đến cho nàng. Người đàn bà đang ở thì quá khứ…

Góc đường 24 và Guadalupe, đối diện cổng ra vào trường Đại Học Austin, Texas (UT) là quán cà phê Medici. Hương vị không đậm đà bằng Starbuck’s, có mùi giống như cà phê Pháp, nhưng chỗ ngồi thoáng và nhìn được ra đường. Có Wifi và giá cả thì vừa phải, vì khách uống đa số là sinh viên nghèo. Một điểm khiến tôi hài lòng là đối diện ngay với trạm lên xuống của nhiều chuyến xe buýt chạy về hướng nhà tôi. Nếu cần phải làm việc tại đây mà không bận tâm về phương tiện di chuyển, tôi có thể sử dụng xe buýt mỗi ngày. Trong cái góc êm ả nhìn ra con đường dập dìu xe cộ và những thanh niên thiếu nữ qua lại từng phút giây, đời sống sẽ trở nên chật chội vì hạnh phúc là một điều có thật và lâu dài. Nó làm cho người ta có cảm tưởng không buồn và không một mình. Chỉ cần đứng lên khỏi chiếc bàn đang ngồi, và ly cà phê trước mặt, bước ra ngoài, là tôi đã chạm mặt với hạnh phúc. Một lần như vậy, tôi thấy nàng.
Khi nàng quay đầu nhìn lại, từ một trạm xe, tôi thấy tôi bâng khuâng một góc đời thơ dại, nơi những tình yêu đuổi theo nhau miệt mài. Ánh nắng cuối ngày, xao xuyến hơn bao giờ. Có những con đường mà người ta đi hoài không hết, nhưng bất chợt vừa dừng lại, đã chạm đến hoàng hôn. Nàng đứng đó, dáng điệu cũng lặng lẽ mơ hồ như trụ đèn đường và con phố chiều nay có mùa đông rất lạ.

Bờ đường lác đác những chiếc lá vàng từ mùa thu. Một băng ghế ngồi bằng sắt cong uốn dợn và một thùng rác công cộng lạnh như chưa từng. Vài hình vẽ bằng sơn xịt do những ai đó nổi loạn phá phách, đậm màu trên những viên gạch đầy rét lạnh căm.

Chiếc áo thun màu tro và chiếc jupe đen ôm sát. Một đôi giầy da đen cao cổ gần đến đầu gối. Bên ngoài cùng là chiếc áo jean bạc màu nhẹ tênh. Mái tóc nàng cột về phía sau và hai dây headphone cắm trong hai lỗ tai làm tôn vinh ngấn cổ trắng ngần. Dáng điệu vừa lơ đãng vừa khép kín và đôi vai như chưa từng gánh tròn những bão giông. Những con đường đuổi theo nhau cùng những hàng cây phong trần bụi bặm. Vài người đứng chờ xe giống nàng, nhưng hình ảnh nàng vượt lên, nổi trội. Nàng giống như mới vừa từ khuôn viên trường đại học bước ra. Nhưng hình như dáng vẻ của nàng phản lại điều đó. Nàng không giống với những sinh viên chung quanh vì vẻ bụi đời trên mặt cùng đôi mắt trong suốt. Và những chiếc lá rơi bên đường chiều như giải thích về sự cô độc. Chiếc túi đeo lưng màu cà phê nhẹ tênh, đến nỗi tiếng gió mùa vượt qua vai nàng mất hút. Tình yêu cũng chưa hề?

Những dấu giầy chưa bao giờ biết nói, nhưng sao rộn ràng tín hiệu? Vạt nắng tự thuở nào vẫn giấu biệt trong nó hơi ấm một thời. Tôi thấy mình yếu đuối và hụt hẫng vì lát nữa đây sẽ mất nàng.

Lần đầu tiên gặp nàng như vậy và không có được một nụ cười.

Nhưng hình ảnh đó cứ mãi theo tôi trên đường về. Thì ra, giữa những âm điệu xô bồ, hỗn loạn của cuộc sống vẫn còn có những khoảng lặng đẹp đẽ và bình yên. Lần thứ nhì gặp nàng khi nàng đứng giơ tay mời mọc khách qua đường ghé thăm gian hàng bán hoa của nàng. Nói là gian hàng hoa cho có vẻ trịnh trọng, thực ra đó là những giỏ hoa đặt tạm bợ trên một ngạch cửa từ một shop bán đồ trẻ em có tên là Fanny và Marius. Tôi ái ngại nhìn những đồ vật bày biện. Nhưng đôi mắt xanh của nàng ngầm nói với tôi là không cần ở ai lòng thương hại.

Có vài chậu hoa màu sắc lạ lùng không biết nàng lấy từ đâu nhưng rất đặc biệt, giống như con người nàng. Một tay nàng đang cầm những xấp giấy màu có in hình một trang trại, có vẻ như khu vườn thì đúng hơn. Những luống hoa mọc ngay hàng dưới ánh nắng nhấp nhô. Một ngôi nhà dường như hiện ra để cầu chứng sự hiện hữu của nó với cuộc đời vội vàng. Nàng nói, với một giọng tiếng Mỹ không lưu loát:

– Mời ghé lại xem, các bạn ơi…

Trong này quán cà phê, tôi tần ngần nhìn ra. Nàng mang dáng vẻ không lo âu, cũng không trì kéo. Nàng vừa hồn nhiên, vừa dạn dĩ bên phố đầy người ngược xuôi và ồn ào . Giống như một kẻ chào mời mùa xuân đồng thời cũng gõ vào trái tim người nghe những âm điệu buồn.

Không biết sao, những điều như vậy làm tôi chạnh lòng. Tôi thấy những tháng ngày cô độc không biết làm gì trước một vùng biển bao la tưởng như không phải là của mình, dù tôi đã lớn lên từ đó.

Những năm tháng lang bạt và phiền muộn biết bao. Bây giờ, dù bình an trên xứ người, nhưng tôi không thể nào quên được ngày xưa. Nơi thành phố biển lớn lên mỗi ngày cùng những cơn mưa nhỏ xuống đời day dứt. Tiếng mưa làm trôi dạt mùa hè ra cửa. Trôi dạt những con thuyền ra khơi. Mặt nước rộng mênh mông và chất đầy nỗi sợ. Đàng sau lưng là bảy sắc cầu vồng.

Từ trên những góc đường của phố cũ, mỗi ngày, các chiếc loa phóng thanh phát đi những lời phù hư, làm ám ảnh tôi suốt nhiều năm như một ký ức sai lạc nẩy mầm. Những giấc mơ xa lạ trên xứ người và những tháng ngày để rơi cơn tỉnh táo, tôi giấu Việt Nam trong lòng. Như giấu một tình yêu ngỡ ngàng, bão gió.

Mười tám năm sống buồn bã nơi quê nhà. Những tiếng ve kêu ran cả một mùa không ai hay. Tôi rời Việt Nam lúc chương trình định cư đang thành hình. Tôi mang những tiếng ve ướt đẫm như lệ đời sang Hoa Kỳ. Những bước đi không đành mà nhìn lui thì không muốn.

Bây giờ, trước mắt tôi là một hình dáng mong manh nhưng đậm màu một nỗi buồn thật sự. Tháng mười hai chạy đuổi theo mùa đông, cùng tiếng gió rít ngoài mặt cửa quán. Có đôi lúc vì công việc tôi phải về khu Downtown. Những đêm muộn màng lái xe trở về. Thềm đêm lấp lánh ánh đèn như những ảo giác.

Lần gặp thứ ba, kể từ hai tuần trước, cũng vẫn chỗ cũ, nhưng lúc này nàng có thêm một chiếc mũ len trùm đầu. Trời lạnh đột ngột từ chiều qua. Dáng cô độc và bất cần vẫn còn. Nàng nói, sau khi quan sát tôi từ đầu đến chân:

– Rảnh nhỉ?

– Sao cơ?

– Làm ơn đừng bám theo tôi nữa để tôi bán có được không?

– Xin lỗi, tôi không thể…

– Tại sao?

– Vì cô là người giới thiệu hoa và tôi là người thưởng lãm. Vì tôi thích cái dáng vẻ của cô.

– Điên quá. Ông có hối tiếc cái thời gian phải bỏ ra như vậy không?

– Không bao giờ. Tôi chỉ hối tiếc nếu cô không chịu nói với tôi về cái gì đó. Một cái tên chẳng hạn…

– Ông biết gì về hoa và màu sắc của hoa? Nàng đốp chát.

– Không nhiều lắm. Nhưng tôi biết cô chọn lựa hoa như một người vừa có một trải nghiệm buồn bã. Cái màu sắc dữ dội nhưng cuốn hút cuộc đời.

Nàng cười. Nụ cười không rõ rệt nhưng rất tươi, làm ấm lòng. Trời đổ mưa lất phất tình cờ. Chung quanh không có chỗ nào để núp tránh. Ngoại trừ quán cà phê tôi vừa ngồi. Một quán bán Pizza nằm kế.

– Tôi phân vân không biết có thể mời cô đi uống nước vào một ngày nào đây?

– Tại sao không hôm nay luôn?

Nàng giống như một người hà tiện lời nói. Nàng ôm xấp Progam trước ngực, theo tôi chạy vào quán. May mắn còn chỗ trống. Quán cà phê nhưng cũng có bán bia, sau 3 giờ chiều. Tôi gọi cho tôi một chai bia còn nàng thì một ly Espresso nóng.

– Ông đang làm việc ở Downtown hả ?

– Chút ít thôi. Tôi vừa mất việc làm nhưng cũng vừa tìm thấy việc làm. Đang bàn luận giá cả và hợp đồng. Vì dù sao cũng đang trong 6 tháng Relax.

– Đúng là dân miền Nam.

– Tại sao?

– Vì thất nghiệp mà còn chơi bảnh. Nàng nhún vai.

– Đó là thói quen chớ không phải bốc đồng. Mà đã là thói quen thì không thể từ bỏ.

Mưa ít, nhưng pha trộn rất nhiều giá rét. Thời tiết lạ lùng vì mùa này rất ít khi mưa. Con đường trước mặt chùng xuống và buổi chiều ảm đạm giống như sắp tối. Những dòng nước run run trên mặt kiếng rồi lăn thành từng dòng, tiếc nuối.

– Có một màu hoa nơi những chậu hoa của cô tôi chưa từng biết tên. Nó ám ảnh tôi khi thấy nó.

– Nó màu gì và ra sao?

– Màu tím đậm. Và nhỏ bằng đầu ngón tay…

– Đó là mạc lan.

– Chúng giản đơn nhưng đẹp. Giống cô.

– Coi chừng lầm. Tôi không có giản đơn.

Nàng nói, môi đang cong lại vì chạm vào ống hút. Đôi mắt xanh đừng hư ảo nhé, đêm nay tôi sẽ về tương tư.

– Quê của ông ở đâu? Việt Nam?

– Vũng Tàu.

– Còn tôi Đà Lạt. Hoa mạc lan mà ông vừa nói, ở Đà Lạt tràn đầy.

– Tôi không biết ở Mỹ cũng có loài hoa này.

– Có chứ. Sao ông không hỏi tôi đã có gia đình hay chưa? Để khỏi hối hận khi lát nữa chia tay với tôi?

– Tôi định hỏi mà không dám. Tôi thích sự lãng mạn.

– Sự lãng mạn của ông vừa tàn phá buổi chiều như hôm nay. Tôi có chồng, và chồng tôi vừa qua đời.

– Xin lỗi.

– Trong hoàn cảnh này, lời nói tệ nhất là lời xin lỗi. Anh ấy chưa vào công dân Mỹ. Vừa mới mất vì uống rượu lái xe… Trong khi tôi cũng sắp hết hạn di trú tại đây…

Nàng nói về người bạn đời, như nói về một người qua đường nào đó. Nàng tóm gọn cuộc đời hiện tại của mình một cách suôn sẻ, không vấp váp, chồng chềnh. Bây giờ người hà tiện lời nói không phải là nàng, mà là tôi. Tôi nhìn mê đắm trên đôi môi màu phượng của nàng, cảm giác những đau đớn ùa về, không phải cho tôi mà là cho nàng.

Đâu đó có tiếng vang động của còi hụ ngoài kia. Tôi hay nàng tự huyễn hoặc về những ngôn từ? Và làm sao lý giải về một hoàn cảnh đi gần đến thảm kịch?

Mưa ngớt và đường chiều đông người trở lại. Uống vừa dứt ly cà phê của mình nàng vội vàng đứng lên. Cám ơn tôi ly cà phê và rón rén những bước chân như một người vừa đi trên những vũng lầy hấp hối. Tôi nghĩ nàng trên dưới ba mươi tuổi. Người đàn bà ba mươi tuổi không cần sự lãng mạn. Họ chỉ muốn sở hữu.

– Chúc ông sớm tìm thấy việc làm.

– Nhưng tôi chưa biết tên của cô.

– Đâu cần. Chúng ta qua đường, gặp gỡ. Cùng trú mưa và cùng uống cà phê. Bởi vì chung quanh đây không có ai và chỉ tôi và ông là Việt Nam. Cám ơn những lời khen tặng về mấy chậu hoa.

Khi người đàn bà đi, điều gì đó còn ở lại. Chẳng hạn như mùi hương từ thân thể. Chẳng hạn như ánh mắt lấp lánh nhưng phảng phất những mây trời. Mãi sau này, tôi mới biết không phải mây trời mà là… khói thuốc.

Nàng không đứng bán những chậu hoa sau ngày ngồi quán với tôi. Tôi không biết tung tích nàng. Giống như một cơn mưa rơi xuống tình cờ, người đàn bà đó không còn hiện hữu? Nàng đi về đâu khi mắt vẫn nhìn lơ đãng phía trước? Tôi không tin nàng biến mất dễ dàng và nàng sẽ tồn tại trong một số phận ấm áp. Sự gặp gỡ giữa tôi và nàng, dù là một giấc mơ, nhưng tôi muốn đó là một giấc mơ tỏa sáng.

Tôi vốn không để ý đến người khác. Nhưng càng ngày tôi càng tò mò về nàng.

Một đêm, tôi về trễ hơn mọi lần vì gặp gỡ những người chủ hợp đồng và ăn tối cùng họ. Gần mười hai giờ khuya tôi còn lang thang trên đường Congress. Chỗ đậu xe cách nơi đây vài Block đường. Những cảnh trí và màu sắc óng ả từ các cửa tiệm, hàng quán nối tay nhau bất tận, khiến đêm dường như dài ra, cuốn hút từng bước chân bộ hành. Đêm lạnh như cả một thành phố được ủ bằng nước đá. Tôi biết tôi sẽ khó lòng quay lưng lại với thời tiết tuyệt diệu của một mùa Lễ lạt. Những thềm đá nghe trên lưng nó tiếng gió và mưa bụi thầm thì. Một cây Giáng Sinh khổng lồ được đặt trước điện Capitol. Nó sẽ nằm yên và khoe vẻ diễm lệ của nó suốt nhiều tuần lễ, cho đến qua Tết Dương Lịch. Những chiếc taxi quanh co thả những khách đêm xuống từng ngưỡng cửa tiệm đêm và ai đã thổi tiếng trompet nơi góc đường như một điệu kinh cầu hồn.

Tôi không muốn làm một đứa trẻ để vừa mới đụng tới cái cô đơn mà đã khóc.

Cho đến khi tôi không còn hứng thú để thả bộ thì tôi thấy ai giống nàng. Lạy Chúa. Nàng không phải đang hòa nhập vào đêm và giá rét để hóa thân thành một sứ giả của đường phố, để khua khoắng một tình yêu ngoài trần thế? Nàng đang bé nhỏ và rất mong manh, giống như một người đang phê thuốc. Nàng nửa nằm nửa ngồi trên băng ghế chờ xe buýt. Rất mệt lả và tái xanh.

Có lẽ mọi câu chuyện đều khởi đầu và kết thúc bằng những cơn đau? Và ai đó nói rằng mùa đông là mùa mà người ta cần yêu thương nhất. Nàng đang oằn oại và khốn đốn trong khi tôi không kinh nghiệm để giúp cho nàng. Có một lúc nàng nhìn tôi, không từng biết tôi trên đời. Tia nhìn giống như màu đêm ướt át đậu trên cành mạc lan. Nó sâu và cuốn hút. Phải khó khăn lắm tôi mới làm cho nàng bình tĩnh lại. Nàng nhận ra tôi và lặng im như một người câm. Đêm cựa mình vì những cành lá giẫy giụa trên đường.

– Nhìn đủ chưa? Nàng cắm cẳn. Tiếng nói không muốn thoát ra hai hàm răng nghiến lạnh. Nếu đủ rồi thì biến đi.

Nếu có ngôn ngữ nào diễn tả sự sống sượng và trần trụi của một người đàn bà chắc là lúc này. Giọng điệu nàng lạnh lùng hơn như buổi chiều nào cùng tôi trú mưa. Giá mà có lỗ nào mọc ra bên đường để tôi chui vào trong đó.

Tôi đứng chôn chân bên chiếc ghế nhìn đôi chân nàng co lên (có đôi giầy bốt đen làm chứng và là hình ảnh chưa biểu lộ sự thảm hại từ nàng). Hai tay ôm choàng đầu gối. Chiếc áo Jean bạc màu nửa mặc nửa đắp hờ lên chiếc ngực run. Không đủ đâu vào đâu. Mắt nàng xanh như biển của tôi ngày nào, chưa bão tố.

– Tôi sẽ không biến đi nếu cô không để tôi đưa về.

– Về đâu?

– Về nhà cô hay nơi nào cũng được. Vì tôi không muốn cô nằm đây. Cảnh sát họ sẽ tìm gặp cô và đưa cô vào một nơi, mà dù đêm có bao la cách mấy, cô cũng sẽ thấy chật chội. Cô chịu không?

Hơi thở nàng yếu ớt. Không phải là gió mùa nhưng đủ làm cho đôi môi run kia vỡ òa bao điều quen lạ? Tôi nghe tiếng gầm gừ trong miệng nàng. “Tôi không về nhà”.

Tôi không có thời gian để tìm đến bãi đậu xe của mình, vẫy vội một chiếc taxi trờ qua. Nói đại một tên của khách sạn nào đó. Dù sao tôi cũng không về nhà đêm nay. “Đồ điên”. Đó là tiếng cuối cùng mà tôi nghe được trước khi đặt nàng gọn gàng trong xe. Những sợi tóc thấm đẫm sương mù, bện vào nhau ép sát hai bên thái dương. Nàng ngước mặt nhìn tôi. Tia nhìn trong suốt.

Mọi hoàn cảnh trên đời liên kết với nhau và không cần những lý giải. Đêm qua lâu trong vùng Downtown nhưng tiếng bánh xe vẫn liền lạc đuổi theo dưới đường. Tôi nghĩ về một tình huống trớ trêu khi tôi phải đối mặt với nàng trong lúc này. Trên chiếc giường mênh mông nàng nằm yên như một nàng công chúa ngủ trong rừng. Tôi kéo chiếc chăn len dầy đắp cho nàng và định bụng sẽ xuống quầy rượu kiếm vài ly bia uống, vừa chờ sáng. Vừa không muốn nhìn một người đàn bà ngủ.

Quầy rượu vẫn còn lác đác vài dân nhậu đêm. Chúng tôi không quen nhau nhưng mạnh dạn cụng ly và chúc nhau sức khỏe dù ai cũng biết lời chúc vô nghĩa và phù phiếm hơn bao giờ.

Càng uống, tôi lại càng không thể không nghĩ về nàng. Tôi nhớ lại dáng điệu vừa lơ đãng vừa khép kín của nàng. Và nỗi đau nào vừa qua? Tình yêu hay sự đau khổ đã làm nàng gục ngã? Trong khi lòng tôi dấy lên một cảm xúc không muốn rời xa nàng. Phải mất bao nhiêu lâu, bao nhiêu tháng ngày để người ta nuôi trồng nó? Vì nếu đã là cảm xúc thì khó tìm được kết thúc và bắt đầu…

Khi hết vại bia thứ ba thì tôi cảm giác không yên tâm khi nghĩ nàng đang một mình. Tôi trở lên phòng. Có một chút bình minh mờ nhạt hiện ra sau một bức rèm nơi tiền sảnh. Một đêm không ngủ nhưng tôi không cảm giác mệt mỏi. Không thấy nàng nằm trên giường. Có ánh đèn dọi ra từ phòng tắm và tiếng nước chảy. Giống như tiếng đời câm trôi sóng sượt theo những cơn mưa mù lòa. Nàng hiện ra sau một thời gian dài dễ chừng làm tiêu hao mấy chục gallon nước của khách sạn. Rồi ngạc nhiên khi bước ra nhìn thấy tôi. Chiếc khăn tắm choàng sơ sài trên người làm nàng lúng túng. Trong một thoáng tôi cảm nhận mùi hoa Lavender trên tóc nàng.

– Thật là một đêm ngu ngốc phải không?

Nàng nói và ngồi yên ả trên giường. Hai tay nàng thủ trước bụng. “Mấy món quần áo của em đã lấm lem từ tối qua.” Nàng nói. “Anh phải đền cho em”. Lần đầu tiên từ lúc gặp nhau tôi nghe nàng xưng hô như vậy.

– Anh sẽ mua đền cho em bằng số lương thất nghiệp. Tôi cũng đổi cách xưng hô.

– Bởi vậy em mới nói anh bảnh.

Nàng không giống với người đàn bà hồi đêm. Với môi run và chân mỏi. Nhưng màu mắt nàng vẫn như hai hòn bi làm bằng đá xanh. Nàng ôm chiếc gối trong lòng.

– Em… hút từ bao giờ? Tôi hỏi mà sợ nàng giận dỗi.

– Từ khi anh ấy loan báo cho em biết là không có khả năng bảo lãnh em ở lại đây.

– Em tuyệt vọng nhiều đến vậy sao?

Nàng không trả lời. Đôi mắt nhìn về hướng khác. Tôi thấy thực sự nỗi đau của nàng. Như một sân ga không hề muốn gánh bão giông nên phải cố nén lòng khi tàu đã rời đi khỏi.

– Không ngờ, bên ngoài, lúc nào em cũng tỏ ra rất mạnh mẽ, nhưng bên trong lại dễ tổn thương.

– Em phải ồn ào như vậy để giấu đi nước mắt. Nàng cười cợt. Khi người ta ngã một lần thì người ta sẽ ngồi lại và không muốn đứng lên.

– Thật sự anh rất đau lòng khi nghĩ em cô đơn một mình.

– Có muốn em trả ơn anh không? Nàng rụt rè hỏi.

Tôi không ngờ nghe câu nói đó từ nàng. Nhưng đó không phải là câu nói tệ hại.

– Vì sao?

– Vì những gì anh làm cho em.

– Không cần. Anh chỉ muốn thấy em cười.

– Đơn giản thế sao?

– Vì như vậy thì anh mới có thể cười. Như vậy có tham lam quá không?

– Đúng là tham lam quá rồi.

Nàng ngồi xích vào phía trong nhường chỗ cho tôi ngồi.

– Ai nói với anh em đang cô đơn?

– Những việc làm của em. Và những đóa hoa của em. Đứng giữa phố phường mà sao hờ hững…

– Mai mốt anh sẽ không còn thấy những cành mạc lan…

Tôi nhìn nàng. Ở đó, đôi vai non yếu của nàng đang run. Không phải vì lạnh mà vì đang thổn thức.

– Anh ấy mất là một phần do em. Thời gian có vẻ như gấp rút để trở lại Việt Nam của em làm anh ấy căng thẳng.

– Bao giờ thì em phải trở về?

– Lúc đầu tưởng không còn cơ hội. Nhưng vừa may em có một người đàn ông hứa sẽ bảo lãnh em, nếu em chịu kết hôn với ông ta.

– Cho dù như thế nào, anh cũng muốn em hạnh phúc.

– Để coi. Tháng sau em sẽ về Florida. Em có một người bạn gái ở đó. Nó ghi tên em vào một lớp cai nghiện. Nó hứa sẽ giúp em.

Tôi thấy mệt mỏi. Những tia nắng đầu ngày xuyên qua mành cửa, dù vẫn chưa được mở ra để tôi thấy hết bình minh bên dưới. Căn phòng vuông vức như một hộp diêm mùa Giáng sinh, chỉ thiếu có một que diêm thôi đủ làm bùng lên ngọn lửa. Nàng quay mình trở lại. Chiếc khăn tắm bây giờ không che kín hết thân thể và chỉ thêm một cử động nhẹ nữa thôi, người đàn bà sẽ phơi bày ra hết những quanh co khuất lánh. Như một dòng sông không giấu giếm những tháng năm đi qua những bến bờ son trẻ. Còn những buồn bã nào làm nên những trầm tích? Khi dòng sông đó muốn chảy lui về thượng nguồn?

– Anh có ham muốn em không?

Tôi vuốt ve trên ngực nàng. Không có lời nói nào đủ trong hoàn cảnh này.

Trong một ý nghĩa giản đơn nhứt, là giữa một trong hai người, cơ hội để ngả vào nhau chính là sự yếu lòng của người kia.

Tôi thấy bàn tay mình ôm lưng nàng. Cái ôm chặt và cần cho một thân thể rã rời sau một đêm dài thức trắng. Nghe cánh tay nàng vòng trên cổ tôi, nặng nề… Thời gian dễ chừng phải đi qua nhiều chục năm.

– Nếu em muốn hôn anh thì sao?

– Nếu để chia tay thì đừng…

– Rồi phải như vậy thôi. Chúng ta sẽ trở về với vị trí của mình.

Tiếng nói nàng nhỏ gần như một lời gió. Đôi mắt nhắm nghiền không đủ lấp kín một màu biển xanh.

Những ngày còn lại nàng bán lại “hành lang hoa” cho một người khác. Tờ Progam đổi mới và ghi lên đó một địa chỉ lạ. Những chậu hoa cũng thôi không còn nằm ké trên ngạch cửa tiệm bán đồ con nít. Hoa cũng giống như người. Đều không thích cô đơn. Chúng lớn lên mỗi ngày bằng cách nghe bước chân của người trồng nó. Trong thời gian này, tôi ít khi gặp nàng vì tôi đã vào công việc mới. Nhưng tôi không an lòng vì chưa biết rõ ngày nàng rời khỏi đây.

Sáng hôm nay, tôi đưa nàng ra phi Muôn đời, mưa vẫn là cái cớ để người ta nhìn về nội tâm mình. Vì bên những tiếng rời rụng của mưa, bao nhiêu người đã nối kết thành những trang tình yêu ướt đẫm.

Tôi kéo dùm nàng túi hành lý có bánh xe. Nàng không còn mỏng manh mà rất mạnh mẽ trong bộ đồ đen có áo len chùng bên ngoài. Dây thắt cột hờ hững không ôm hết vòng lưng thon. Giầy Vascapa cũng màu đen và mái tóc bay ngược khi hối hả chạy qua hành lang. Tình yêu đau nhói trong lòng tôi cũng chạy đuổi theo bước chân nàng. Tôi không biết tình yêu ấy- cái tình yêu trái mùa đó- tồn tại bao lâu. Nhưng với nàng chắc chẳng là mãi mãi.

Chỉ còn nửa tiếng nữa là nàng sẽ rời khỏi phòng “check in” để bước vào cổng chánh. Bao lâu nữa sương sẽ phủ chật đường về và gió qua đường vẫn cất vang tiếng hát? Sau lưng chúng tôi, qua một góc parking bằng xi măng có kẻ lằn sơn trắng, những chiếc xe nằm nín thở. Có những hành khách vội vàng xuôi ngược, giống như từng cuộc đời xuôi ngược không hề tìm thấy một trạm dừng? Trong giây phút đó, tôi cảm giác như nàng sẽ quay lưng lại với tôi, quay lưng lại với một quá khứ mà sự cô độc mỗi ngày đang đè nặng lên nàng.

Tôi nhìn thấy bóng tôi và nàng dội lại trong bức tường gương phi trường. Nàng đang sửa lại áo khoác ngoài và khăn choàng cổ lất phất. Còn tôi sáng mai sẽ là nỗi cô đơn như đã từng.

– Ngu ngốc.

– Em nói sao?

– Mấy tháng qua anh theo đuổi một người phụ nữ dù biết người đó có chồng?

– Phải. Ngu ngốc thật. Nhưng tình yêu mà em. Anh không thể bắt trái tim mình làm khác được.

– Hãy quên em. Hãy trao tình yêu của anh cho người xứng đáng nhận nó.

Trước khi đứng xếp hàng để chờ gọi đến tên mình, nàng hôn tôi:

– Anh bảnh lắm. Thật đó…

Nụ hôn tê điếng đủ làm tôi liêu xiêu. Tôi vẫn chưa biết tên nàng. Có cần thiết hay không? Nếu nhớ nàng, tôi sẽ gọi thầm Mạc Lan. Người đàn bà có đôi mắt mở to, trong sáng luôn làm tôi thấy bình yên…

Phạm Ngũ Yên

Advertisements

Tiếc

Khúc tình dòng cuối chấm câu,
Chắc là khó gặp lại nhau nữa rồi.
Một mình anh giữa cuộc chơi,
Thả thơ thao thức tiếc thời thương nhau.

Ngày còn nắng vội mưa mau,
Cơn mê rừng biển say nhàu cỏ hoa.
Nụ hôn xuân muộn vỡ òa,
Hồn nhiên một đóa tan ra tận cùng.

Tưởng chừng thiên địa mù không,
Suối sông ngủ giấc rất nồng chiêm bao.
Rượu cay mượn chén má đào,
Ngàn mây cánh hạc cõi nào rong chơi.

Cho nhau trăng mật rạng ngời,
Thở hòa nhịp thở mắt môi ngọt ngào.
Tóc mềm lộng gió trăng sao,
Phút giây nào quyến vào nhau bềnh bồng

Kiếp người bóng khuất sắc không,
Còn đây giấy trắng cạn lòng bể dâu..
Nhủ mình dỗ với lòng đau,
Một lần đã đủ nhớ nhau một đời.

Trần Ngọc Hưởng.

CÓ THỂ


* Tặng Nhu

Có thể tan trường phố sẽ mưa
Đường xưa anh đội nắng ban trưa
Một mình trông bóng em se sắt
Mà nhớ mà thương thuở đón đưa.

Có thể anh như kẻ lái đò
Suốt đời nhìn nước chảy bơ vơ
Đưa em sang bến sông vời vợi
Chờ đợi trăm năm đến dại khờ.

Có thể mùa hè chơi biển xa
Ngắm trăng em giỡn sóng bao la
Nhưng đâu hiểu được tình trong sóng
Nhầu nát từng cơn giông bão qua.

Có thể em như sáo xổ lồng
Hồn nhiên đôi cánh vỗ hư không
Em bay trong đám mây vô định
Nào biết mưa rơi mấy khúc sông?

Có thể anh đành yêu gốc đa
Thủy chung đứng mãi, bóng la đà
Trăm năm trước cổng trường quen thuộc
Chờ đợi cuộc tình đã vội xa…

Phạm Hồng Ân

TÌNH KHÚC THÁNG BẢY

tháng bảy mưa buồn hơn nước mắt
mắt lá nhìn ai suốt cõi người
ta đưa em về dòng sông cũ
tình cờ gặp lại tuổi hai mươi

tháng bảy sương gầy như dĩ vãng
gửi trăm năm sau lời tự tình
bàn tay đơn lẻ chờ tay nắm
từng giọt rơi vào cõi lung linh

tháng bảy nắng vương màu hư ảo
một đoá quỳnh hoa đã ngủ quên
cho đêm tỉnh mộng là hương sắc
là khúc nồng say chẳng nhớ tên

NP phan

55 năm ngày Trùng Thất – Nhất Linh 7/7

Thứ 7 – ngày 7/7 … nhớ về một ngày Song Thất khác của năm 1963 !
“Người quay tơ đôi bạn tối tăm, anh phải sống chứ sao đoạn tuyệt?
Ðời mưa gió lạnh lùng bướm trắng, buổi chiều vàng đâu nhỉ nắng thu?”
(Vũ Hoàng Chương khóc Nhất Linh)

Đọc lại một vài số báo tưởng niệm ngày Trùng Thất này, trong đó có một vài bài ít thấy trên mạng.

Khi tôi đưa những trang sách này lên Facebook, có những comment về Nhất Linh và sự kiện 1/11/1963 như sau :

“ Sinh thời Nhất Linh được rất nhiều người tôn vinh, không chỉ đồng chí của ông. Ông được tôn vinh phần lớn vì tài năng xuất chúng, nhưng cũng một phần vì “màn sương mù huyền thoại” ông tạo ra. Chắc chắn ông cũng thích những “huyền thoại” đó, cũng như sự tôn vinh mà người thường cũng như đồng chí dành cho ông. Tuy nhiên, chúng (những “huyền thoại”) lại trở thành sức nặng đè lên ông, níu kéo ông khi ông chỉ còn muốn làm một nhà văn… Đó là lúc ông từ Đà Lạt trở về Sài Gòn, khơi lại TLVĐ, ra tạp chí Văn Hóa Ngày Nay, cả hai đều thất bại. Rồi đến biến cố 11/11/1960 (cuộc đảo chánh thất bại) , mà ông được coi là người “thủ lãnh” không chính thức. (Nếu cuộc đảo chánh thành công, thì người đứng ra lãnh trách nhiệm lãnh đạo quốc gia chỉ có thể là NTT)…

Theo tôi, đáng lẽ ông nên ra trước tòa án, và công khai nhận trách nhiệm, dù có phải đi tù một vài năm… Như thế mới đúng là một lãnh tụ!!!”

“…Sự thất bại của chính quyền Ngô Đình Diệm sau cùng có thể viện dẫn bằng duy nhất thái độ cứng rắn hay cứng ngắc của “ông Cố vấn” Ngô Đình Nhu. Là một học giả, thông kim bác cổ, đọc qua thiên vạn pho sách Đông Tây, nhưng chưa từng lăn lộn trong bùn lầy của cuộc sống thực, cuối cùng chỉ có thể dựa duy nhất vào cái đầu mình.

Đó là “công thức” chắc chắn nhất để tự cô lập mình, ngày càng xa rời thực tế. Ngay cả khi mình đúng nhất, lại chính là khi mình sai nhất. Đó là điểm tàn bạo nhất của chính trị! Khi chỉ một mình mình đúng, thì kẻ đó sẽ phải chết cho “chân lý”. Không thể nào khác.

Tôi đoán, khác với cụ Diệm, ông Nhu chắc hẳn không bao giờ thực sự đọc hay hiểu phần nào Thánh Kinh. Thánh Kinh truyền dạy rằng có một Chân Lý duy nhất, và đó cũng chính là Thượng Đế. Nhưng cả hai vẫn chỉ là tên gọi, không phải là Đạo. Đạo là bác ái, là tình yêu, là san sẻ hạnh phúc hay khổ đau.

Dưới cái vỏ của một ông quan cựu triều, ông Diệm là người biết thương yêu, sẵn sàng hy sinh bản thân cho dân tộc, nhưng sự thật đó lại bị che lấp bởi bộ mặt lạnh lùng của bào đệ Ngô Đình Nhu, một nhà kỹ trị đúng nghĩa. Một tấm thảm kịch tầm vóc vĩ đại, nhất là khi nó không chỉ cho hai anh em TT Diệm, mà cho cả dân tộc”
——————

Ngoài báo VĂN của Nguyễn Đình Vượng có thể dễ dàng đọc cái bài trên mạng như
VĂN – HOÀI NIỆM NHẤT LINH http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=13353&rb=08
Thì có những bài trên VĂN HỌC cũng rất giá trị…

(Ở đây cần mở ngoặc nói thếm về tạp chí này – trích từ Thư Quán Bản Thảo https://tranhoaithux.wordpress.com/2016/10/10/hanh-trinh-cua-tap-chi-van-hoc-1962-1975/

“Văn Học được ra đời do một số người trẻ nhập cuộc. Họ là những học sinh, sinh viên của các trường Trung học, Đại học trên toàn quốc, và một số đang du học tại ngoại quốc nhưng đã cùng nhau chung một lý tưởng thực hiện một tờ tạp chí nghiên cứu và phê bình về văn hóa và chính trị để làm diễn đàn chung cho những thanh niên tự do tại Miền Nam.
Số đầu tiến phát hành vào tháng 11- 1962 trong thời Đệ nhất Cọng Hòa, và số cuối cùng là số Mùa Xuân 75, kéo dài được 13 năm – số tuổi xem như rất thọ so với các tạp chí văn học miền nam khác , ngoại trừ chỉ sau tạp chí Bách Khoa. Từ số 1 đến số 72 (1-5-67), khổ báo khổ lớn (15×25 cm). Từ số 73 đến số cuối cùng khổ giấy loại nhỏ (14×20 cm).
Hai năm đầu, báo được phát hành mỗt tháng một kỳ, sau đó, báo đổi thành bán nguyệt san, phát hành mỗi nửa tháng một kỳ (kể từ số 21).
Chủ nhiệm đứng tên là Phan Kim Thịnh, nhưng chủ bút thì thay đổi ba lần. Hai năm đầu (1961-1963), chủ bút là Dương Kiền, sau đó chủ bút là Phan Kim Thịnh. Tiếp đến vào năm 1966 là Nguyễn Đình Toàn (từ số 63 ngày 1-9-66 đến số 69 ngày 15-11-66). Sau đó vai trò chủ bút lại được giao lại cho Phan Kim Thịnh.
Hai năm đầu (từ số 1 đến số 20), tạp chí nhắm vào thành phần thanh niên sinh viên như tiêu đề trên bìa của tạp chí: Nguyệt san văn hóa xã hội nghệ thuật. Diễn đàn sinh viên Việt Nam tự do.Mỗi số báo đều có mục liên quan đến sinh viên như Sinh Hoạt Sinh Viên do Trần văn Ngô, Phương Khanh, Hà Thanh phụ trách… Cọng thêm vào những bài viết liên quan đến những vấn đề của sinh viên như “vài tâm trạng nghịch thường của thanh niên trước những giá trị xã hội (Dương Nhất Nhân – số 1), Sinh Viên và trí thức lảnh đạo (Quan điểm, số 2), Chính sách sinh viên (Quan điểm, số 3), cái nhìn của người sinh viên (Nguyễn Vũ, số 4),. Dân chủ hóa nền đại học (Quan điểm, số 5), Chỉ huy hay hướng dẫn (Quan điểm, số 6) hay mỗi số có mục Vấn Đề của chúng ta ví dụ: Bài trả lời ông Nguyễn Đăng Thục, Khoa trưởng đãi học văn khoa SG của Văn Học(số 4), Nhân các kỳ thi: Đặt lại vấn đề nguyên tắc (số 6) v.v….
Sau số 20, tiêu đề Diễn đàn sinh viên Việt Nam tự do được lấy ra, và nội dung Văn học có tinh cách khai phóng hơn, ảnh hưởng nhiều bởi thời sự. Sau 1965 chiến cuộc càng lúc càng leo thang, những người cọng tác viên trẻ phải vào quân ngũ, hay xa Saigon, để lại một khoảng trống lớn cho Văn Học. Cọng vào sắc luật 007 đã khiến chủ trương của Văn Học từ một tờ báo chính trị văn học đổi sang một tờ báo thuần túy văn học kể từ năm 1968” )
Nhìn vào những số Văn Học có nhắc đến Nhất Linh cũng là nhìn lại một đoạn đường lịch sử với những sự kiện liên quan đến chính thể Đệ Nhất Cộng Hoà và sự kiện 1/11/1963.

Số 9 (tháng 7 / 1963) chỉ một bài TƯỞNG NIỆM NHẤT LINH của NGUYỄN MẠNH CÔN, đến 4 tháng sau, khi báo đã lên khuôn thì xảy ra sự kiện 1963 – ngay lập tức những trang hồng perlure được thêm vào và lần này, NHẤT LINH được nhắc lại một cách trang trọng.

Số 41 VĂN HỌC (ra đúng ngày 7/7/1965) có bài của NGUYỄN ĐÔNG NGẠC (*) “Vài thắc mắc về Nhất Linh” , bài “Ít hàng về Nguyễn Tường Tam” của NGUYỄN QUÂN .

Tạp chí VĂN số 14 (7/7/1964) có một bài thơ Tưởng Niệm Nhất Linh của Trần Như Liên Phượng thì..ngậm ngùi thay số VĂN 37 Thương Nhớ Nhất Linh (7/7/1965) chúng ta thấy một trang AI TÍN thông báo về cái chết của chính nhà văn / nhà thơ / người lính này!
Và cũng trong số VĂN 37 này có một truyện ngắn liên quan đến Nhất Linh của Nguyễn Đăng (một bút danh khác của Mai Thảo) viết.

(*) Về nhà văn Nguyễn Đông Ngạc, nổi tiếng trong vai trò chủ nhà xuất bản SÓNG với tập truyện tuyển tập NHỮNG TRUYỆN NGẮN HAY NHẤT CỦA QUÊ HƯƠNG CHÚNG TA :
http://www.luanhoan.net/tacpham/hoikyroi/NguyenDongNgac.htm

“Xen kẽ trong thời gian đứng trên bực giảng, bàn chân Nguyễn Đông Ngạc thơm tho cỏ đất trường đua ngựa và bàn tay anh trải ra những luống chữ trên Hành Trình, Nghệ Thuật, Quần Chúng, Đất Nước, Văn Học…Cuộc sống phơi phới đào hoa của Ngạc bỗng bị neo giữ trong tay chị Nguyễn Thị Nga, đốc sự Quốc gia Hành Chánh, ái nữ của bà Nguyễn Thị Thế, em gái nhà văn Nhất Linh Nguyễn Tường Tam. Nguyễn Đông Ngạc từ giã cuộc sống độc thân năm 1964, nhưng không tạm biệt những cuộc tình. Lãng mạn nhưng không trác táng. Dựa vào ưu điểm của quán sách Khai Trí, do bố mẹ anh gầy dựng tại Bình Dương (không phải Khai Trí của ông Nguyễn Hùng Trương tại Sài Gòn), Nguyễn Đông Ngạc cho khai sinh nhà xuất bản Sóng, tung ra thị trường chữ nghĩa miền Nam trước 1975 các tác phẩm: Chuyện Tình (Love Story của Erich Segal), Một Ngày Cho Người Yêu (Goodbye Columbia của Philip Roth), Những Cuộc Tình Không Trở Lại (tuyển tập nhiều tác giả ngoại quốc), Buổi Sáng Cuối Cùng (Women In Love của D.H.Lawrence). Các tác phẩm này đều do bà Phan Lệ Thanh chuyển sang Việt ngữ. Công trình đồ sộ nhất trong các tác phẩm do nhà xuất bản Sóng của Nguyễn Đông Ngạc phát hành là tuyển tập Những Truyện Ngắn Hay Nhất Trên Quê Hương Chúng Ta, được đến tay bạn đọc năm 1973. Để thực hiện tác phẩm văn học này, Nguyễn Đông Ngạc đã phải dồn hết tâm sức lẫn tài chánh. Từ việc xin bài, gom bài đến nhờ chụp bắt chân dung từng tác giả, Nguyễn Đông Ngạc đều đích thân lo tận tình, chu đáo”

Nguyễn Trường Trung Huy

(huyvespa@gmail.com)

TÌNH YÊU MÀU HOA ANH ĐÀO

Nghi đáp tàu từ ngoại ô và xuống ga ở trạm Tokyo Metro Kudanshita lúc 8 giờ. Anh lướt nhìn đồng hồ rồi thầm nghĩ chỉ 5 phút đi bộ đến công viên Chidori-ga-fuchi là mình sẽ gặp được lại Khúc Diễm là anh đã cảm thấy niềm vui tràn ngậptrong tâm hồn. Hôm nay hai người hẹn nhau đến công viên nhân ngày nghỉ cuối tuần để cùng ngắm hoa anh đào đang vào thời kỳ nở rộ. Ở đất nước xứ sở mặt trời mọc, khi mùa xuân về tiết trời trở nên ấm áp, cả Nhật Bản tràn ngập sắc hồng và hương thơm dịu nhẹ của một loài hoa sakura mà ta thường gọi là hoa anh đào, người ta có cảm giác muốn được cùng ai đó chia sẻ cảm giác dịu dàng, thân thương trước vẻ đẹp của một loài hoa mảnh mai và thanh khiết. Mùa xuân ở Nhật Bản thường bắt đầu từ tháng 3 và kéo dài đến tận tháng 5. Đây cũng chính là thời điểm hoa anh đào khoe sắc rực rỡ nhất, mãn khai nhất trong năm. Mỗi một bông hoa anh đào được ví như cuộc đời của một võ sĩ đạo samurai khi cần có thể hy sinh trong nụ cười bình thản, vô ưu đi vào cỏi chết nhẹ nhàng như một bông hoa anh đào thanh thản lìa cành về với đất mẹ. Hoa nầy vừa tàn thì hoa khác lại bung nở, rụng xuống đất rồi vẫn còn tươi nguyên và vẫn còn thoang thoảng mùi hương trong gió làm ai cũng phải xao lòng ngất ngây.
Cũng ở thời điểm nầy thường diễn ra lễ hội Hanami – lễ hội ngắm hoa truyền thống nổi tiếng nhất của Nhật Bản và được coi là một quốc lễ của họ. Nghi sống ở Tokyo đã hơn 4 năm, tức là anh đã trải qua 4 mùa lễ hội Hanami trên đất Nhật, hai năm đầu anh còn có cái cảm giác háo hức đi lang thang khắp nơi, hòa vào dòng người đi trẩy hội ngắm hoa anh đào nở khắp nơi tìm cảm hứng cho nét cọ của mình được tung tấy đầy ngẩu hứng về loài hoa đọc đáo nầy, có một cảnh tượng mà anh không bao giờ quên khi tàu điện chạy qua một khu vực trồng toàn hoa anh đào, cảnh một rừng hoa chạy ngược về phía sau như một khúc phim quay chậm làm anh liên tưởng như mình đang lạc vào chốn thiên thai trong câu chuyện Lưu Nguyễn lạc thiên thai vậy. Những năm sau cái háo hức ấy bớt dần đi vì anh cảm nhận niềm vui tràn ngập ấy đơn độc quá, không biết chia sẻ cùng ai nên không còn thích thú khám phá lắm như năm đầu mới đến nữa. Nhưng mùa Hanami năm nay lại khác, hình như ông trời đã ưu ái đem đến cho anh một người có thể san sẻ niềm vui mà tưởng chừng không thể tìm ra được: Đó là Khúc Diễm.
Ở cái xứ Phù Tang nầy người Việt sinh sống và làm việc không phải là quá ít ỏi đến độ ra đường không thể tìm gặp được một người đồng hương nhưng để được làm bạn và có thể tâm sự trao đổi với nhau một điều gì đó trên xứ người thì phải nói khó lòng tìm được người bạn đồng hành với mình. Nghi gặp lại Khúc Diễm cũng là một sự tình cờ hay có thể là do sự run rủi của trời đất chăng? Buổi họp mặt diễn ra ở Đại Sứ Quán Việt Nam với các Việt kiều, sinh viên, nghiên cứu sinh đang sinh sống làm việc học tập trên đất Nhật Bản mừng cái tết cố truyền của dân tộc. Khúc Diễm đã nhận ra anh ngay từ cái nhìn đầu tiên, nhưng còn anh lại lớ ngớ đến tội nghiệp trước một cô gái vinh đẹp gọi tên anh với vẻ mừng rỡ, một hồi lâu mới nhận ra được cô em gái của người bạn thân hồi còn đi học ở Sài Gòn. Lúc anh nhận được học bổng sang Nhật nghiên cứu về hội họa đương đại của nước bạn thì Khúc Diễm đang học năm cuối của bậc phổ thông. Sau đó cô cũng tìm được học bổng nghiên cứu về văn học Nhật Bản và qua đây. Thế mà thoáng chốc đã 5 năm rồi còn gì. Khúc Diễm trở thành một thiếu nữ xinh đẹp, hoạt bát khác xa thời anh gặp cô ở quê nhà mỗi lần đến chơi nhà người bạn – Huy anh Khúc Diễm – cũng là người đam mê hội họa và có một vài giải thưởng trong và ngoài nước khi còn ở quê nhà. Khác với sở thích của Nghi, luôn tìm tòi khám phá những đường nét uyển chuyển, khói sương trong hội họa phương đông thì Huy lại thích những đường nét phóng khoáng, mạnh mẽ trừu tượng trong từng mảng màu của hội họa phương Tây nên Huy đã sang Mỹ để tiếp tục theo đuổi niềm đam mê của mình. Gặp lại nhau trên xứ người làm cả hai rất vui, vì họ có chung một người thân quen nên tình cảm cũng cởi mở gắn bó hơn. Hôm ấy Khúc Diễm uống rượu vang hơi nhiều có lẽ vì vui mừng nên má cô có vẻ hồng hơn, mắt long lanh hơn làm Nghi tự hỏi sao hồi ấy mình không thấy cái đẹp duyên dáng tiềm ẩn của Khúc Diễm nhỉ, suy nghĩ ngây thơ ngộ nghỉnh nầy làm anh bật cười đã làm Khúc Diễm hơi ngơ ngác hỏi anh: – Anh Nghi cười gì thế, chắc anh thấy em xấu xí quá chăng? Khiến anh phải vội vã đính chính: – Khúc Diễm đẹp như thiên nga ấy mà, sao hồi đó anh không nhận ra nhỉ? Câu nói của Nghi đã làm Khúc Diễm cảm thấy xôn xao,nao nức trong lòng vì có người khen mình đẹp làm sắc mặt của cô càng đỏ hồng hơn dưới chùm đèn vàng cam dịu dàng của tòa sảnh đường đại sứ quán.
Bước vào công viên Chidori-ga-fuchi một đoạn ngắn phía bên tay phải, Nghi đã thấy Khúc Diễm ngồi chờ sẳn trên một băng đá trống tự lúc nạo. Hôm nay ngày cuối tuần nên khách tham quan khá đông và ồn ào, Khúc Diễm mặc chiếc đầm màu nâu cánh gián và chiếc khăn quàng cổ màu xanh ngọc thạch làm tôn nước da nền nả mịn màng của người thiếu nữ đang xuân, mái tóc được chải khéo, buông xỏa xuống bờ vai một cách tự nhiên trông Khúc Diễm thật xinh xắn tươi mát. Nghi bước tới ngồi cạnh nàng, nói một cách vui vẻ:
– Khúc Diễm chờ anh có lâu lắm không?
– Ồ! Em cũng mới vừa đến thôi mà. Ký túc xá nơi em ở cũng gần đây thôi, chỉ băng qua một con lộ là tới đây ngay. Anh Nghi đi metro có lâu lắm không?
– Em biết giao thông ở Nhật rất tuyệt vời mà khoảng 20 phút là cùng. Mọi cái như lập trình sẳn, giống như người ta cố tình lập trình cho chúng ta gặp lại nhau trên cái đất nước mặt trời mọc nầy vậy mà.
Khúc Diễm nhìn Nghi cười khúc khích:
– Anh làm như ông trời ban cho chúng ta nhiều ân sủng mà không ai có vậy làm cho em mừng hụt. Thôi chúng ta đi dạo ngắm hoa anh nhé.
Nghi khẻ gật đầu. Cả hai cùng đi theo con đường đã có sẳn. Công viên Chidori-ga-fuchi rất rộng lớn nằm gần cung điện hoàng gia, một nơi mang nhiều nét cổ kính nằm lọt thỏm trong một thành phố hiện đại, người ta ví nó như một ốc đảo giữa lòng Tokyo hào nhoáng. Ở đây bạn có thể vừa ngắm hoa anh đào vừa có thể chèo thuyền suốt dọc dòng kênh để chiêm ngưỡng nhiều loại hoa anh đào tuyệt đẹp được đem về trồng tại đây. Nếu bạn đến vào ban đêm sẽ càng hấp dẫn lý thú hơn nữa. Bầu không khí sẽ thay đổi hoàn toàn khác. Từng cây hoa anh đào được thắp sáng, phản chiếu lên mặt nước lung linh một ánh sáng huyền ảo tạo nên một bầu không khí vô cùng lãng mạn. Đây cũng là địa điểm ngắm hoa nổi tiếng khắp nước Nhật bởi nó vừa có hoa đẹp, vừa có mặt hồ lung linh lại được chèo thuyền xuôi theo dòng kênh để ngắm hoa thì còn thú vị nào bằng, không phải công viên nào trên hòn đảo nầy được thiên nhiên ưu đãi như thế.
Họ đi dạo một vòng quanh các con đường trong công viên. Hoa anh đào có nhiều màu sắc đẹp đến nao lòng. Từ màu đỏ rực đến hồng thắm, trắng tinh khôi đến phớt xanh, vàng vương giả, người ta đã khéo léo chọn những giống anh đào đẹp khác nhau khắp nơi đem về đây tạo nên một quần thể hoa có một không hai. Cả hai vừa đi vừa nói chuyện với nhau rất vui giống như một cặp tình nhân đang đi dạo một cách nhàn nhã khiến người ngoài nhìn vào có thể ghen tỵ. Nghi nói với Khúc Diễm:
– Khúc Diễm biết không hoa anh đào được trồng khắp nơi trên đất nước Nhật Bản từ công viên, bờ kênh, ven sông hay trong các sân vườn của người dân, nó là biểu tượng quốc hoa của người Nhật vì nó mang một vẻ đẹp thật tinh khiết. Nhất là về mùa xuân, mọi nơi tràn ngập sắc hồng của sakura. Có một điều rất đặc biệt loài hoa nầy khi lìa cành sắc hoa vẫn còn tươi thắm bởi sự tàn lụi vào đúng lúc dỉnh cao rực rỡ của nó lại chính là cái đẹp thanh cao nhất nên hình ảnh cánh hoa anh đào lìa cành được người Nhật liên tưởng đến cái chết nhẹ như lông hồng của các võ sĩ samurai, vì vậy người Nhật có câu nói thật ví von nhưng không kém phần tôn kính: “Nếu là hoa xin làm hoa anh đào. Nếu là người xin làm võ sĩ đạo”.
Đang đi chợt Khúc Diễm thấy trước mắt mình một hàng cây anh đào mà hoa của nó màu hồng đậm, hình dáng giống như một cái chuông rất lạ mắt làm cô ngạc nhiên reo lên:
– Màu hoa anh đào đẹp quá anh Nghi ơi. Chẳng biết nó có tên gì anh nhỉ?
Nghi nhìn theo hướng tay chỉ của Khúc Diễm cười trả lời cô bạn nhỏ của mình:
– Đó là hoa anh đào Kanhi Zukura, mình gọi là Hàn Phi Anh. Giống hoa nầy xuất xứ từ Đài Loan và đảo Okinawa, nằm trong giống hoa nở sớm vào khoảng tháng 1 và 2.
– Đã vào tháng 4 rồi mà nó vẫn còn nở sao anh.
– Ừ! Đợt hoa nầy tàn thì tới đợt hoa khác bung nở thôi mà.
Rồi Nghi giải thích thêm:
– Ở Nhật có mấy trăm loài hoa anh đào khác nhau như Nhiễm Tĩnh Cát Dã Anh(Somei Yoshino Zakura) hoa có màu hồng nhạt hay trắng. Vẻ ngoài của chúng đặc biệt đẹp nhờ vào lá cây không trồi ra cho tới mùa cao điểm hoa nở. Hoa có sắc hồng chuyển dần sang trắng, các biểu tượng hoa sakura đều bắt đầu từ loài nầy. Còn có Sơn Anh(Yama Zakura) cũng màu hồng nhạt, hoa năm cánh nhưng nhỏ hơn, Chi Thùy Anh(Shidare Zakura), hoa màu hồng có những nhánh rũ xuống, rồi Hàn Anh(Kanzakura) là loại hoa anh đào nở sớm, Hà Tân Anh(Kawazu Zakura). Hàn Phi Anh hoa có màu đỏ đậm giống như cái chuông mà Khúc Diễm thấy đấy. Thời gian rộ nở của hoa anh đào cũng rất khác nhau như Hàn Phi Anh có thể rộ nở từ tháng 1 làm cho du khách rất thích thú có loai nở rất muộn như Nhất Diệp Anh(Ichiyou Zakura) nở vào cuối tháng tư một bông có khoảng 20 cánh, rồi Uất Kim(Ukon) hoa có màu vàng nhạt, Anh Đào Hoa Cúc(Kikuzakura) có khoảng 100 cánh trong một bông, đặc biệt là Anh Đào Mùa Thu(Jugatsuzakura) thời gian nở từ tháng mười đến tháng một và mùa xuân, là một trong những loài hoa nở vào mùa thu và mùa đông. Hoa nhỏ và ít nhưng tạo nên cái nhìn ngạc nhiên trong sự kết hợp cùa màu sắc mùa thu hoặc tuyết trắng.
Khúc Diễm vỗ tay thán phục:
– Ồ!Anh Nghi giỏi thật. Cái gì cũng biết. Em phải học hỏi ở anh nhiều mới được.
Nghi cười khì:
– Làm họa sĩ mà không nắm bắt sự thay đổi kỳ diệu của thiên nhiên xung quanh mình thì làm sao thể hiện trong nét vẽ được phải không Khúc Diễm. Nói vậy chứ sống lâu lên lão làng thôi mà. Biết đâu mai mốt Khúc Diễm còn giỏi hơn anh gấp nhiều lần thì sao?
– Chuyện đó chắc còn lâu đó anh Nghi ơi.
Cả hai cùng cười vang. Có vẻ đi lòng vòng ngắm hoa một lúc thấm mệt, họ tìm một thảm cỏ đối diện với con kênh để nghỉ chân, nơi đây vừa có thể ngắm hoa vừa có thể thấy những chiếc thuyền chèo hai người chèo qua lại trên dòng kênh lòng cảm thấy muôn phần thú vị. Bỗng một cơn gió lớn thổi ngang, hoa từ các cây được một phen tung ngược lên trời tạo thành một vũ điệu hoa đẹp không thể tả. Nghi đột nhiên nhắm mắt lại để xem cảm giác của mình như thế nào trước sự dịch chuyển của những cánh hoa bay trong gió trước khi chạm xuống đất. Khúc Diễm tò mò nhìn anh một cách thích thú rồi hỏi:
– Sao anh Nghi nhắm mắt lại kia chứ? Nhắm mắt có thấy gì đâu nà?
Nghi nhìn cô gái cười ra vẻ bí mật:
– Anh đang thử cảm giác của chàng hiệp sĩ mù Zatoichi nghe gió kiếm ấy mà.
Khúc Diễm ngơ ngác:
– Hiệp sĩ mù ở đâu ra thế?
Nghi bật cười:
– Hiệp sĩ mù nghe gió kiếm trong bộ phim trường thiên của Nhật Bản nổi đình nổi đám những năm đầu thập niên 1970 do tài tử Shintaro Katsu đóng đấy mà. Zatoichi tuy mù nhưng lại có đường kiếm tuyệt luân, với chiếc gậy dò dẫm trên khắp nẻo đường thiên lý để trừ gian diệt bạo. Chỉ cần một tiếng động khẻ là biết vị trí của đối phương ở đâu, ra chiêu như thế nào mà nhanh chóng hóa giải đánh bại được đối phương trong chớp mắt.
– Em thì chịu thôi. Có người tài giỏi như thế sao? Anh Nghi lúc nhắm mắt nghe được gì nào?
– Anh nghe được tiếng gió, tiếng hoa rơi và cả tiếng thì thầm của Trúc Diễm.
– Anh nói sạo ghê. Em có nói thì thầm gì đâu.
– Đó là tiếng thì thầm của hoa anh đào.
– Hoa anh đào cũng biết thì thầm sao anh?
Nghi nhìn vào đôi mắt của Khúc Diễm thật lâu rồi nói:
– Nhắc đến đường kiếm tuyệt luân của chàng hiệp sĩ mù Zatoichi làm anh nhớ đến đường kiếm của chàng samurai Vũ Đằng trong truyền thuyết hoa anh đào của Nhật Bản quá. Hoa anh đào tượng trưng cho mối tình bất diệt của đôi trai gái yêu nhau mà không sống được gần nhau đấy đóTrúc Diễm.
– Thật thế sao anh? Anh kể cho em nghe đi.
– Vào một thời rất xa xưa, nước Nhật sống dưới sự cát cứ của các sứ quân, có một lãnh chúa vô cùng tàn ác đã sai một samurai cũng là một người luyện kiếm tài giỏi đúc cho mình một thanh kiếm chém sắt như chém bùn để trấn áp được thiên hạ. Dưới áp lực của vị lãnh chúa, người samurai ấy buộc lòng phải đúc kiếm. Sau khi đúc xong thanh kiếm báu ông lại không giao cho tên lãnh chúa vì ông biết khi ông giao xong ông sẽ nhận lấy cái chết vì thế nào tên lãnh chúa sẽ giết ông để ông không còn có thể đúc gươm báu cho một ai khác được nữa nhất là đối với kẻ thù đối nghịch với ông ta, người samurai ấy trao thanh kiếm cho vợ bảo bồng con trốn đi, sau nầy hãy giao lại cho con khi nó lớn khôn để nó trả thù cho ông và dặn thêm rằng thanh gươm chỉ phát huy tác dụng của nó khi được tắm máu của một người nữ đồng trinh tình nguyện chết.
– Sao lại tàn độc thế. Sao phải có sự hy sinh của người nữ đồng trinh thanh kiếm mới có tác dụng thế anh?
– Hình như đó là thuật luyện kiếm của người xưa đó thôi. Giống như bên Trung Quốc có truyền thuyết về luyện kiếm Can Tương và Mạc Tà thời Chiến Quốc ấy mà.
– Rồi câu chuyện diễn ra thế nào anh Nghi?
– Người vợ sau đó trốn đi, mười bốn năm sau bà trao lại thanh kiếm cho đứa trẻ và kể lại lời trăn trối của người cha. Đứa trẻ bấy giờ với cái tên Vũ Đằng run rẩy cầm thanh kiếm thốt lên trong tâm trạng nghẹn ngào: – Ta phải trả được mối thù cho cha và sẽ trở thành một kiếm sĩ nổi tiếng nhất trên đất nước nầy. Thế là Vũ Đằng tìm đến một vị võ sư nổi tiếng xin làm đệ tử. Vị samurai ngắm nhìn chàng trai từ đầu tới chân thấy cốt cách thật phi thường nhưng ẩn sau nó là một luồng sát khí vô cùng mạnh mẽ khiến người ngồi trầm ngâm suy nghĩ hàng giờ liền. Cuối cùng ông thở dài lẩm bẩm một mình “oan nghiệt” và chấp nhận Vũ Đằng làm đệ tử. Thời gian qua đi, chàng kiếm sĩ đã 18 tuổi, một lứa tuổi đẹp nhất đời người võ sĩ đạo và tay kiếm của chàng khiến cho những samurai kiêu hùng nhất cũng phải e dè, cũng là lúc người thầy dạy già yếu qua đời, bên cạnh chàng chỉ còn lại người thân duy nhất là nàng Phương Tử con của vị võ sư cũng là thầy dạy của chàng.
Từ đó mỗi ngày khi nắng bắt đầu lui dần về phía sau đỉnh núi Phú Sĩ, đêm đen tràn về xóm núi, Phương Tử lại thấy Vũ Đằng ngồi buồn bã, trầm tư bên bếp lửa. Vũ Đằng biết thanh kiếm chỉ trở nên dũng mảnh phi thường, biến hóa thần kỳ khi nó tắm được máu của một người nữ đồng trinh chịu hy sinh một cách tự nguyện nhưng ai sẽ tình nguyện làm chuyện đó, không một có thể hy sinh cái chết của mình cho một câu chuyện tưởng chừng hoang đường như thế.
Phương Tử buồn bã hỏi Vũ Đằng:
– Anh thân yêu! Có phải thanh kiếm đó đối với chàng là tất cả chăng? Nếu nó không được tắm máu người nữ đồng trinh để trở thành một thanh kiếm báu thì mãi mãi chàng buồn đau vì không trả được thù nhà ư?
Nhìn bếp lửa chàng trai vuốt ve thanh kiếm và nói chậm rãi nhưng thật quả quyết:
– Chỉ buồn đau thôi ư? Không đâu! Mãi mãi đó là sự tuyệt vọng sẽ làm ta chết mất. Đối với ta, thanh kiếm là sự nghiệp, là con đường đi tới vinh quang của ta, làm sao ta có thể trở thành một samurai chân chính khi thanh kiếm báu không phát huy tác dụng của nó chứ?
Cô gái mỉm cười đau đớn. Cô chỉ hỏi để khẳng định lòng quyết tâm của mình mà thôi. Cô dịu dàng nói với Vũ Đằng:
– Anh thân yêu! Hãy cho em được cầm lấy thanh kiếm của chàng một chút để ngắm xem nó đẹp dường nào mà chàng say mê đến vậy.
Cầm thanh kiếm đen bóng, sắc lạnh trong tay, Phương Tử nhìn Vũ Đằng bằng một ánh mắt buồn vời vợi, tội nghiệp cho chàng, tội nghiệp cho ta quá, tình yêu ta dành cho chàng đành đem xuống tuyền đài mà thôi. Phương Tử đột ngột dùng thanh kiếm đâm thẳng vào tim. Một dòng máu nóng trào ra đẩm ướt tấm thân mảnh dẻ, nhuộm đỏ chiếc áo kimono trắng nõn, trinh bạch mà nàng đã chuẩn bị từ trước để chấp nhận sự hy sinh của mình cho người mình yêu dấu.
Vũ Đằng hốt hoảng thét lên một tiếng kinh hoàng, vội lao mình tới, vươn tay rút phăng thanh kiếm khỏi ngực cô gái nhưng không kịp nữa rồi, cô gái đã lã mình và lịm thiếp đi trước sự bàng hoàng sửng sốt hối hận của chàng trai. Dưới ánh lửa bập bùng, thanh kiếm bỗng đột ngột ngời lên sắc xanh rực rỡ, hào quang lóe lên lộng lẫy lạ thường: nó đã được uống những dòng tinh huyết của người thiếu nữ trinh bạch và giờ đây nó trở thành một thanh kiếm vô địch.
Chàng trai từ đó thành một samurai lừng danh thiên hạ, chàng bắt tên lãnh chúa phải đền tội, tiếng tăm của chàng làm kẻ thù khắp nơi phải run sợ, chàng hiện thân của cái thiện của chính nghĩa mà những kẻ gian tà chỉ mới nghe nhắc đến tên chàng là hải hùng tháo chạy, nhưng ngược lại bên cạnh chàng không còn một người thân nào, chàng hoàn toàn cô độc.
Cho đến một hôm, một buổi chiều mùa đông lạnh lẽo buồn bã, khi những bông tuyết đầu mùa bắt đầu rơi. Chàng trai bây giờ đã trở thành một người đàn ông trung niên mệt mõi trở về quê cũ, ôm thanh kiếm báu quì xuống bên cạnh mộ cô gái. Chàng thì thầm trong tiếng gió: “ Hãy tha lỗi cho anh. Anh đã hiểu ra rồi…”
Rồi chàng bình thản, lặng lẽ cắm thẳng mũi kiếm vào bụng, rạch một đường thật sâu và rút gươm ra nằm gục bên mộ nàng Phương Tử. Thanh bảo kiếm cắm sâu vào lòng đất lạnh. Ngoài trời tuyết vẫn không ngừng rơi, rơi mãi.
Những bông tuyết đã ôm trọn chàng trai và ngôi mộ vào vòng tay của mình. Từ đó mọc lên một cây hoa lạ, vươn lên tràn đầy sức sống, mỗi độ xuân về, cây hoa ấy bung nở những chùm hoa hồng thắm, rực rỡ dưới ánh mặt trời. Không ai biết loài hoa ấy hóa thân từ thanh kiếm nhuộm máu của hai kẻ yêu nhau nhưng không đến được nhau. Loài hoa ấy được người dân xứ phù tang đặt một cái tên thật thân thương: Sakura tức Hoa anh đào.
Khúc Diễm nhìn lên bầu trời, khắp nơi nền nã một màu hoa hồng thắm tinh khôi, nàng cảm thấy hình như trong từng cánh hoa run rẩy trong gió như đang thì thầm nói với nàng hãy yêu nhau đi, thời gian đi qua sẽ không bao giờ quay lại. Khúc Diễm nhìn Nghi nỏi khẻ:
– Câu chuyện cảm động anh Nghi nhỉ?
Nghi khẽ khàng nắm bàn tay của Khúc Diễm đặt trong hai tay của mình nói một cách chậm rãi:
– Ừ! Rất cảm động. Anh mong mình cũng yêu nhau như chàng trai và cô gái trong truyền thuyết hoa anh đào được không Khúc Diễm?
Khúc Diễm để yên bàn tay của nàng trong đôi tay ấm áp của Nghi. Nàng ngã đầu vào vai chàng và nói:
– Nhưng em không thích cái kết thúc buồn thảm của loài hoa ấy đâu.
– Anh cũng thế. Tình mình sẽ dẹp như mùa hoa anh đào vậy.
Lại một cơn gió mạnh lại thổi lên. Vũ điệu hoa mới lại bắt đầu. Lần nầy trong mắt hai người yêu nhau nó rực rỡ và tuyệt vời biết bao nhiêu.

NGUYỄN AN BÌNH

THƠ HÀ DUY PHƯƠNG

CHIỀU AMURA

từ Amura
chiều nhuộm chiều huyết phách
vấn vương, cám dỗ
đời buồn rã họng
réo gọi nhau mưa nắng lộn nhào

anh nói rừng chiều màu tím
em bảo rừng đen-lá-cây
mộ đời dương xỉ
tình lửa nóng, hồn cát bỏng
sa mạc nào ốc đảo tìm nhau

“em nâu đất ấm và ẩm ướt buồn
hoang dã sắc màu nguyên thủy”
Amura thì thầm
gió khóc lặng câm

Amura vỡ màu
chiều nối chiều lạc lối
vòng tay trói chặt vòng tay
giam cầm, xâm lấn
anh nhấn chìm em trong nôi sóng
lút bóng trùng khơi

Amura rã rời
chiều phơi như hổ phách…

CHO NGƯỜI MƠ-GIẤC-MƠ-TÔI

Tình Yêu ta sẽ bay về vô tận
hóa thân thành loài chim
đêm đêm bay đi tìm ăn những giấc mơ để sống…

tàn rồi, mùa ơi!
tiếng chim chết khô trên vòm lá xám
đời vắng xanh rã rượi môi cười
đêm tan hoang hàng cây thổ huyết
khung trời nhầy nhụa gió loang
con đường máu bóng tôi hoại diệt
anh còn tìm tôi trong sớm mai?

trồi lên ngực là những nhánh gai
hừng hực tình trổ nụ hỏa táng
ta cài lên nhau cành hoa lửa
khi nói về cơn mưa
cơn mưa màu huyết dụ…

tôi bặt câm ủ mầm cho lửa
Thơ anh thoát cháy nhẹ nhàng
chấn thương
chấn thương
chấn thương
ôi! hồn người-dễ-chết…

hoang mang tủa ngón sầu xóc mắt nhau giấc muộn
bến bờ mộng mị trôi suông
bình minh tôi
– cánh rừng đêm trùng trùng lá ngún

bóng cơn mơ đắm mờ trí nhớ
ta đã từng yêu nhau?
anh
– tinh thể của sự lặng yên và mãn nguyện
vụt sáng lung linh hốc mắt bù nhìn
thân tôi cánh đồng cỏ khát
đêm này hết biết hoang vu

rồi những cơn mơ cũng vờn trôi mộng
đàn trâu lững thững tìm về chỗ trú
mục đồng ngã bóng tinh khôi
dấu hoàng hôn ngút trắng

nguyện cầu nồng rực mắt đêm
ngân linh vọng hồn buốt giá
dưới cội phù du
dế giun mơ giấc tự trầm
tôi mơ tôi như mơ tiếng hót một loài chim đớ lưỡi
cơn mơ lẫy lừng tuyệt vọng

khoảng cách mong manh dễ thường vô tận
dòng sông thủy ngân
loài cá bơi tìm mộ
chứa chấp hồn mình trong vĩnh cửu cơn đau

sẽ có một lần
hai đứa cùng gào lên rồi ôm nhau khóc
chiếc lá khô trên dòng sông nắng
tấp trắng tình người mang mang
yêu thương đổ
hồn ta
ra cửa biển…

Hà Duy Phương

Chiều Đậm Hơn Xưa

Thân đứng thẳng giữa cõi đời nghiệt ngã
Hồn liêu xiêu theo gió quật trăm chiều
Bàn tay lạnh ngoi lên từ cơn lũ
Vẫy phương nào nghe tiếng vọng mùa yêu

Kìa phương em vạt nắng chiều thoi thóp
Kìa phương người sương khói phủ ngàn lau
Khi gặp gỡ có khi là ly biệt
Dây đàn chùng đọng vũng những niềm đau

Ngày giá rét môi có làm khăn ấm
Mắt có làm tia lửa sáng long lanh
Đời đã phất bao nhiêu tà áo giấy
Áo lụa sầu loang lổ vệt rêu xanh

Ấp giả định nở ra đầy quán tính
Dăm tấm lòng mòn mỏi góp tàn hơi
Đá vô cảm phũ phàng khoe nét tĩnh
Lũ đười ươi lấp liếm những con người

Vẫn lặng lẽ độc hành vào vô ngã
Quay trở về tìm những dấu chân đi
Buồn tù đọng trong tâm hồn vi cảm
Nghiêng bên nào để trút sạch u mê?

Câu Thơ Đồng Cạn

Câu thơ đồng cạn đồng sâu
Người thơ mải miết kiếp trâu luống cày
Chữ gieo neo xuống vũng lầy
Nghĩa may ra nở một hai bông tình

Đã bầm dập với ba sinh
Vô ngôn ẩn ngữ đầu ghềnh sương vây
Quạnh hiu sỏi đá ngủ ngày
Quạnh hiu hiu quạnh vơi đầy quạnh hiu

Những mong xô ngược bóng chiều
Lom khom cấy hạt thương yêu ruộng người
Ngó lên lãng đãng cao trời
Úp mặt rổ mặt dưới đời lao xao

Bồng thơ qua đoạn trường nào
Ngửa nghiêng bên lý tấp vào bên chân
Còn chăng một ít nghĩa nhân
Để tim đập giữa đường trần thành thơ

Thơ người giải mã bơ vơ
Thơ tôi le lói giấc mơ nửa vời
Ngày mai trong đám lửa trời
Trăm năm bỗng dậy những lời tro than!

Lưu Xông Pha

Nghĩ Về Một Loài Chim

Hiếm có khi nào bạn thấy / Thiên Nga bay có đôi. Thiên Nga, chim của trời , của thơ, của muôn đời diễm ảo!

Chắc bạn chưa đi dạo / trên Bắc Cực phải không? Bạn chưa tới tận cùng / chỗ của trời của đất! Chắc chắn đó sự thật…dù bạn rất bơ vơ, bạn đi kiếm nguồn thơ…cũng không thấy nguồn nước!

Ai có xin thì được. Chân lý đó xa vời!

Ai gõ thì cửa mở. Coi chừng camera!

Chúng ta, cõi-người-ta, chính chúng ta còn lạ / ngay với cả chính mình! Thì những chuyện hiển linh…chỉ nằm trong tiểu thuyết!

Lão Tử biến mất biệt / sau khi nói câu gì? “Đạo khả đạo phi thường đạo. Danh khả danh phi thường danh!”. Đại đế Alexandre chết với hai bàn tay trắng. Tại sao bạn cứ nặng / của, tiền, vật phù du?

Bạn nói bạn đi tu…mà xây chùa trăm triệu! Thế là bạn chưa hiểu / đời chỉ là phu du! Chết mới là Thiên Thu…Phật Di Lặc cười mãi!

Thiên Nga có trống, mái, sao chúng không có đôi? Một Thiên Nga cuối trời, một Thiên Nga góc biển…

Thơ – báu vật dâng hiến. Mà hiến cho ai, giờ? Thời dân chủ không Vua, chỉ có ông Tổng Thống…hứa hẹn rồi lật lọng, nói ngọng…đọc diễn văn! Chỉ tội nghiệp thằng dân, đưa lưng cõng mưa nắng. Người Bắc có lý luận…rồi lụn bại, tại sao?

Bạn ơi, ngó trời cao: Con Thiên Nga một bóng…bay đi tìm ảo vọng…cuối đường trời vẫn xa…bao la…bao la buồn chất ngất.

Mười bảy tuổi, ngộ thật! Tôi nói gì với tôi? Ôi hai chữ Mồ Côi, chữ một đôi mà đời ngơ ngác! Con đò ngang sóng dạt…bỉ ngạn, bờ bên kia?

Đứng bên ni đồng ngó qua bên tê đồng mênh mông bát ngát…

Đứng bên tê đồng ngó qua bên ni đồng bát ngát mênh mông…

Có bao giờ bạn đứng trước một con sông nghe lòng mình cuộn sóng? Bạn à, tôi tuyệt vọng ngày về thăm Quê Hương!


Trần Vấn Lệ

CHẠY

Một buổi trưa mùa hạ
Có một cuộc chạy đua
Một Mỹ một Việt Nam
Khởi hành từ đỉnh núi
Cuộc đua thật hào hứng
Đạn đuổi ở đàng sau
Trước mặt là hố sâu
Xung quanh là chó dữ
Thắng là ra cõi tử
Thua là nằm phơi thây

Cuộc đua vào giờ G
Giờ bắt đầu lọt ổ
Chàng Mỹ là hạ sĩ
Thầy hắn đã tử thương
Nằm sóng soải trên đồi
Bên những người lính Thượng

Chàng Việt trung đội trưởng
Kiêm thêm là nhà thơ
Bút hiệu Trần Hoài Thư
Các chị em đều biết

Hai kẻ cùng chạy riết
Từ đỉnh xuống dưới chân
đồi Bình Định trọc lông
Đá hang hầm tràn ngập
Xuống đồi, bạn không gặp
Chỉ gặp mấy chòi không
Nhưng không dám ngừng chân
Sợ vùng này Việt Cọng

Thế là ta cứ chạy
Dù muốn rả hai chân
Chạy hơn cả marathon
Mâc đầm lày mương rạch
Mặc đồng sâu đồng cạn
Mặc ngực đập thùng thùng
Ta còn chân còn chạy !

Tội cho chàng lính Mỹ
Chỉ nhìn quanh : Vi Xi !
Thấy mặc bà ba đen
Tưởng Vi Xi, chạy tiếp !

Tẩu vi là thượng sách
Ông bà dạy mà hay
Chạy để mà thoát thân
Để không vào tay địch

Để giờ đây được nhận
Hàng chữ đỏ triện son
Thầy thưởng kỳ Final!


Trần Hoài Thư