Tiếng Chuông Rơi

Hôm qua tôi tới nghĩa trang
chào vĩnh biệt một người bạn
Trước giờ phút được an táng
người thân làm lễ Tiễn Đưa…

Bạn nằm trong hòm vô tư
tuổi thơ từ từ hiện lại
trên đôi môi màu tai tái
trên vầng trán bao la buồn…

Bạn hiền ngoan ôi hiền ngoan
tôi nghĩ đến mình mai mốt
nói cùng bạn không thưa thốt
đi nha bạn hiền đi đi…

Rồi  tôi chờ xong lễ về
tôi ra ngắm hoa nghĩa địa
không thấy một con chim mía
không thấy bướm bay tung tăng

Chỉ thấy rất ít con ong
đậu trên nụ hoa hút mật
Tôi nghĩ có gì khuất tất
giữa trời quang đãng ở đây?

Tôi không đuổi con ong bay
Tôi không hái hoa nào cả
Tôi vuốt nhè nhẹ chiếc lá
Vuốt má bạn tôi phải không…

Bạn ơi Nghĩa Trang Đồi Hồng
Nghĩa Trang Đẹp Nhất Nước Mỹ
Đã có triệu người ở lại
ít nhất cũng hai trăm năm…

Tiếng chuông tiễn đưa boong boong
tiếng rơi của giọt nước mắt
bướm chắc đang chơi cõi Phật?
chim trời chắc đi nhặt sương?

Bong boong boong boong….

có chàng tới hỏi

Thu biếc có chàng tới hỏi:  “Em thơ chị đẹp em đâu?”
Tôi buột miệng chỉ một câu, em cúi đầu thưa…ấp úng…

Chưa nghe mà tôi thất vọng, nghĩ mình không nghe rõ chăng?
Chúng tôi cùng nhìn xa xăm, cánh rừng cánh rừng bát ngát…

Mười năm hết rồi đạn lạc.  Mười năm hết rồi bom rơi.
Vẫn còn mây bay trên trời. Vẫn còn gió nghe hiu hắt…

Tôi với em cùng nhắm mắt, mùa Thu như ở trong hồn.
Em không nói được tiếng buồn.  Tôi buồn tôi cũng im lặng…

Mùa Thu đường Thu xanh nắng. Con nai hiện ra, chạy đi
Con nai phóng qua cái khe.  Con nai chạy về chân núi.

Hai đứa chúng tôi chạy đuỗi những con bướm vàng bay bay…
Em nói một câu nghe hay “Chắc Chị đang bên bờ suối”.

Tôi cầm bàn tay em thổi tóc em lùa bốn kẽ tay…
Tóc em thành những sợi mây, thành hoa nở đầy con suối

Không thấy có ai đi dưới những áng mây trời trên cao…
Thế thì chị em ở đâu? Không lẽ trong lòng tôi mãi…

Thật thì những người con gái không hề có cánh bay xa
Chỉ có áo lụa hai tà huơng gió thơm phà trong ngực?

Tôi nghe tim mình thao thức, tôi nghe lòng tôi bâng khuâng…
Tôi nhớ câu hỏi mùa Xuân:  “Em thơ chị em đâu vắng?”

Ô kìa bướm vàng, bướm trắng, bướm xanh, bướm tím trong rừng
Hoa quỳ nở vàng rưng rưng hoa quỳ nở vàng rưng rưng…

Em với tôi cùng dừng chân hái hoa quỳ vàng, đắm đuối…
Không thấy ai ngồi bên suối.  Suối cười róc rách lung linh…

Mùa Thu rừng còn lá xanh mong manh cái hình nắng chiếu
Em thơ ấp úng, tôi hiểu…rừng mùa nào cũng rừng hoang

Em thơ không hiểu chữ Nàng nên tôi mới dùng chữ Chị…
Con nai qua hai Thế Kỷ…tôi về thăm lại rừng xưa…

Đà Lạt chiều nay không mưa, tại sao hai mắt tôi ướt?
Trời ơi ai mà hiểu được xin cho tôi lụy vì Tình…

Tôi muốn tôi đứng một mình, “Em thơ em về đi nhé!”.
Con suối hình như đầy lệ chảy từ ngóc ngách Cam Ly?

Trần Vấn Lệ

Thơ Lê Văn Trung

BẢN DI CHÚC VIẾT CHƯA THÀNH

Anh sẽ chạy một vòng quanh trái đất
Vào một ngày dài nhất của đời anh
Mỗi nơi anh qua xin gởi lại mảnh đời mình
Trên đá trăm năm trên đồi thiên cổ

Trên sóng xôn xao một trời giông bão
Trong gió oan khiên thổi bạc hồn người
Anh gởi lại từng giọt máu hồng tươi
Từng mảnh vụn thịt xương anh tàn rụi

Từng sợi tóc rơi buồn không vọng lại
Lời bi thương chạm vỡ nỗi đau này
Chảy suốt con đường hệ lụy trần ai
Anh gởi lại trên từng viên sỏi nhỏ

Giọt nước mắt xé đau hồn cây cỏ
Của lối anh qua của nẽo em về
Của một thiên thu là một sát na
Anh chẳng kịp một vòng quanh bản ngã

Hồn chẳng kịp theo một hồi Bát Nhã
Anh rơi vào hố thẳm cõi người ta
Những tai ương đổ ập xuống không ngờ
Em xa hút vẳng lời kinh cứu rỗi.

Tiếng chuông nguyện vang thầm trong bóng tối
Anh chạy hoài không hết một vòng quanh
Hết một ngày dài nhất của đời anh
Vẫn đau đáu gởi chút phần xương thịt

Vẫn thao thức ở trong lòng mộ huyệt
Đi chưa qua chưa cạn cuộc vuông tròn
Trả chưa xong chưa vẹn nghĩa sinh tồn
Anh cố chạy một vòng quanh trái đất

Đến lúc xuôi tay đến hồi kiệt sức
Vẫn mong rồi sẽ đến cuối bờ tây
Vẫn mong sao cả xác lẫn hồn này
Dẫu cát bụi gởi lại người nguyên vẹn 

SAO CHẲNG ĐÀNH BỎ LẠI

Tặng Vinh

thế nào rồi cũng phải
bỏ đất trời mà đi
trời đọa đầy khổ ải
đất chẳng xót thương gì

thế nào rồi cũng phải
bỏ cõi người mà đi
bỏ tình em ở lại
có ngọt bùi đắng cay

thế nào rồi cũng phải
bỏ lại hạt bụi này
bỏ lòng thơ cỏ dại
bỏ một đời mây bay

bỏ một chiều cuống quit
bỏ một đêm điên cuồng
bỏ một ngày đói khát
uống cạn dòng tang thương

thế nào rồi cũng phải
bỏ hết niềm mê say
với bao dòng hệ lụy
trói buộc xác hồn này

sao chẳng đành bỏ lại
bài thơ còn dở dang
sao chẳng đành mãi mãi
quên biệt cõi trần gian

mày bỏ trời đi đâu
mày bỏ đất đi đâu
làm sao mà giấu được
những vết hằn thương đau

mày bỏ người đi đâu
mày bỏ tình đi đâu
hạt bụi mầy còn đó
nằm lạnh dưới mồ sâu.

 (Cát bụi phận người)

SINH NHẬT

Sinh ra đời là nối cuộc rong chơi
Là tiếp tục bao dặm đường dang dỡ
Trần gian ơi còn phù du trắc trở
Ta còn về rộ nở đóa từ tâm

Còn luân hồi nên còn chạm trăm năm
Ta sinh ra để biết màu dâu bể
Ta sinh ra để biết mình không thể
Mãi kiếm tìm mộng ảo giữa bao la

Sinh ra đời để nhìn rõ cái ta
Còn khép mở đi về trong vô vọng
Chưa chạm vô cùng nên còn chiếc bóng
Của kiếp người giữa bồi lở tàn phai.

U HOÀI

Câu thơ viết trăm lần ta xé bỏ
Cuộc tình sầu xin gửi lại cho em
Ôi lữ khách trần gian là quán trọ
Đường trăm năm hun hút mộng không thành

Thuyền lênh đênh trên mịt mù biển sóng
Ta lênh đênh trong cuộc thế u buồn
Em đâu đó giữa lòng đời bão động
Có bao giờ chợt nhớ một người không?

Có bao giờ nhuốm chút hồn sương khói
Thắp trong chiều giọt lệ ấm hoàng hôn
Có bao giờ trong đợi chờ mòn mỏi
Chợt thấy lòng mình quá đổi mênh mông?

Em đâu đó giữa trùng vây lận đận
Chút hương phai nhuộm lại mắt môi chiều
Có thấy chăng cuối phương trời vô tận
Một bóng thuyền neo đậu bến cô liêu

Ôi lữ khách trần gian là quán trọ
Sao lòng hoài mơ mãi cuộc trăm năm?!

      Lê Văn Trung

SỐNG NHƯ LẦN NỮA

Có bao giờ bạn trải qua cảm giác này chưa? Mà chắc là rồi: Bạn soạn sành, sắp xếp lại sách vở, hoặc đem sách ra khỏi thùng để giải ẩm, bỗng dưng bạn gặp lại một tựa đề từng quen, và nhớ rằng mình đã đọc quyển ấy từ lâu lắc xa xưa. Bây giờ lướt lại vài trang –và do đó buổi soạn sách của bạn bị đình chỉ ít nhất một ngày– tim bạn khẽ rộn ràng khi bắt gặp vài đoạn văn đằm thắm mà mãnh liệt, mãnh liệt vì chúng lập tức lôi bạn tuốt trở về hơn nửa thế kỷ trước.

Khẽ rộn ràng như vậy, rồi sau đó tôi xao xuyến nhớ lại lần đầu làm quen với những đoạn trích mà cô giáo đọc cho nghe hồi thời học lớp 3. Nhớ lại phòng học nhỏ xíu, hẹp, dài, và nóng, với cô giáo lúc nào cũng rịn mồ hôi ở màng tang, cô giáo với cây thước kẻ vuông, bằng nhựa trong suốt…

Cô đọc vài đoạn văn. Với học trò lớp 3 thì không hiểu hết văn chương của những cây bút lỗi lạc đâu, nhưng chữ nghĩa, nhất là không khí của những đoạn hay đẹp ấy, đã âm thầm ghi lại dấu ấn của chúng. Tấm lòng của học trò đã nhiễm phải những cái hay cái đẹp như phiến trinh bạch nhuộm màu. Rồi quên. Tưởng đã quên. Để hơn nửa thế kỷ sau tình cờ gặp lại thật se sắt tâm can, khi đó là…“…ngày đẹp nhất buổi cuối mùa thu. Không khí thật sắc, thật trong, nhưng nắng vẫn còn nóng và trời không mây. Ta nghe tiếng chim sáo bay trong đám cây bách xù. Một con thỏ rừng màu hung ngạc nhiên dừng chân giữa vùng đất truông gai, rồi nhảy phóc thật mạnh sải nhanh sát đất. Lũ quạ gọi nhau; có tìm chúng thì cũng không thấy đâu. Có thể nói rằng đó là sành sứ xanh lơ của bầu trời rạng vỡ. Trong đám giậu trụi lá, những trái của cây tầm xuân đã mềm và dịu vì đẫm sương đêm.” (trang 177)Gặp lại những đoạn văn như vậy, mà ngày xưa ta từng nghe cô giáo giảng, hoặc đọc viết chính tả, làm sao mà không khiến ta xao xuyến?

Tất nhiên tôi không dám tự cho rằng mình đã lột tả được hết cái ‘nhã’ khi dịch văn của Giono. Nếu chỉ được cái ‘tín’ thì đã là khá rồi. Bởi vì văn Giono là một thách thức cho người dịch. Không, văn của ông không khó hiểu như văn của James Joyce với Ulysses, cũng không phải kiểu mệnh đề nhỏ lồng trong mệnh đề lớn, rồi lại lồng trong các câu dài cả trang giấy kiểu như Marcel Proust khi ông đi tìm ‘thời gian đã mất’. Văn của Giono bình dân, loại bình dân thôn dã, chứ không bình dân phố thị như Simenon. Thể hiện lại cái khẩu khí bình dân đã là khó cho người dịch, ngoài ra văn của Giono còn rất địa phương, cái địa phương Manosque mà nhà văn sinh ra, lớn lên, và qua đời ở đó, mà chưa hề rời khỏi. Mà không chỉ từ ngữ địa phương… bình thường, Giono dùng tiếng lóng, loại tiếng lóng cách nay hơn thế kỷ, mà ngay cả người Pháp đương đại cũng khó mà hiểu hết. Tôi có vài người bạn ở Lyon, tôi đem những tiếng từ này hỏi họ. Họ thú nhận là không hiểu, bảo rằng ‘Để tao hỏi ba tao, may ra…’Còn lại thì những tiếng từ phổ thông cũng khó dịch, không phải vì chúng khó hiểu, mà vì chúng giàu nghĩa quá. Ngay cái tựa đề của tác phẩm. Trong tiếng Pháp, nghĩa đầu tiên của Regain là loại cỏ dại mọc trở lại sau khi nông dân đã gặt xong. Nghĩa thứ hai là sự cánh sinh của một vùng đất mỏi. Nghĩa thứ ba mở rộng từ nghĩa thứ hai, nói về sự phục hồi, chẳng hạn như phục hồi sức khoẻ sau cơn bạo bệnh. Nhưng đọc tác phẩm, ta biết là ‘hổng phải vậy đâu’, khi bắt gặp thân phận đớn đau của những nhân vật, mà nếu không có Giono, lẽ ra họ đã lặng lẽ tàn phai ở miền đồi núi vùng sâu nghiệt ngã. Những thân phận ấy tưởng đã bị đóng đinh rồi, nhưng một phần nhờ sức bật của họ, một phần do tình cờ (chăng?), mà họ sống lại, làm lại, hay nối lại ước mơ dang dở một cách được chăng hay chớ. Nhìn chung, là họ ngẫu nhiên sống thêm lần nữa.

Chính vì vậy mà tôi chọn dịch ‘Regain’ là ‘sống như lần nữa’.Thật ra trong số cư dân của cái làng quê bé xíu đang bám víu cộng sinh ở sườn cheo leo đồi núi ấy, vẻ như chỉ có chàng Panturle lực lưỡng và nàng Arsule hoa dại là thực hiện được ước mơ tại bước ngoặt của cuộc đời. Còn thì tất cả cư dân đều không gặt hái được gì vui. Dân làng bắt đầu bỏ đi sau khi ông thợ đào bị cát chôn dưới giếng; vợ ông trở thành nửa tỉnh nửa rồ, để dân làng xem như mụ phù thủy dị hợm một cách cô đơn. Nhưng ai mà chẳng cô đơn trong làng quê đó nhỉ, như lão ông thợ rèn, yêu nghề đến mức khi buộc lòng rời khỏi làng, bỏ lại nguyên cả cơ ngơi, thì vật duy nhất ông muốn mang theo là cái đe; đe nặng đến nỗi ông không thể tự khiêng, mà phải nhờ Panturle đèo giúp. Cô đơn như mụ ‘phù thủy’, cô đơn như chàng thợ săn Panturle phải luôn độc thoại (trước khi gặp Arsule). Hoặc cô đơn như nàng Arsule, mặc dù phải sánh đôi với ông thợ mài dao để kéo chiếc máy mài qua truông cỏ.

Khuôn khổ bài này không cho phép tôi nói hết những điều thú vị của tác phẩm, chỉ nêu lên rằng xuyên suốt là khát vọng sống của các nhân vật, mà họ không đủ chữ nghĩa đến nói ra. Regain không phải là tác phẩm trữ tình hay lãng mạn theo nghĩa mà chúng ta từng gặp. Mà là bối cảnh của bản năng. Bản năng sống, sống còn, và tính dục. Mặc dù sặc mùi mồ hôi (nói chính xác là phéromone), Regain dung, nhưng không tục.

Chẳng hạn“Luồn vào áo cánh của nàng, luồng gió cứ như đi vào nhà mình. Gió chảy giữa hai bờ ngực, xuống tới bụng như một bàn tay; gió trôi giữa hai đùi, gió sũng hết cả hai, gió như tắm mát nàng. Hông và thắt lưng nàng đẫm những gió là gió. Cơ thể nàng cảm được gió, mát, vâng, nhưng cũng ấm áp như đầy những hoa, toàn những nhồn nhột, tựa rằng ai đó phẩy vào người nàng bằng những lọn rơm.” (trang 60)Vừa rồi là lúc mà Arsule tạm rũ khỏi đôi vai ê ẩm những sợi đai kéo chiếc xe gỗ chở máy mài dao, ngồi nghỉ ngơi giữa cao nguyên cao ngất cỏ bồng. Cơ thể của người phụ nữ mạnh mẽ này bỗng dưng lên tiếng, một loại ngôn ngữ mà nàng không tiện đặt tên.

Ngay từ những trang đầu tiên, Regain đã dành một sân chơi rộng rãi cho gió miền Nam, khi viết rằng “ Gió làm bầu trời dậy như biển, gió khiến trời sôi sục đen ngòm, nổi bọt như núi […] có những lúc, gió ấy lặn xuống, đè nặng cánh rừng, vụt lên con lộ và cuồn cuộn thắt lấy những bím bụi dài.”Nếu sử dụng gió để mô tả sức sống của các ước ao mãnh liệt như vậy thì hình tượng lắm, loại ngôn ngữ của những người muốn quật cường, là tiếng nói chung của Arsule và gã thợ săn Panturle cường tráng. Cả hai cơ thể bần bật ấy gặp nhau thật tình cờ, làm quen nhau thật lặng lẽ, không chút thô tục giữa bao bụi bặm và mùi vị một miền quê bị lãng quên. Nồng nàn một cách đằm thắm, để rồi“Anh đang đứng trước đồng ruộng của mình. Anh cúi xuống. Anh vón lấy một nắm đất thịt ấy, đất có nhiều gió và đất đã mang mầm.”

Bạn cảm được điều đó không?

SUN YATA

ru khúc tháng ba về

ngoan em êm dỗ xuân nồng
gió đưa thơ dại động phòng the buông
vuông tình nở đoá quỳnh hương
vuông đêm giấc điệp hồ tương tư nàng

thả mơ chấp cánh đồng hoang
thả em giây phút lênh lang mưa vàng
múc trăng tắm gội huy hoàng
em nằm chợt sáng đôi hàng tơ rung

tiếng sương hoà điệu muôn trùng
cánh hoa len lén thẹn thùng nửa khuya
nở ra nụ biếc dâng mùa
nở em nhánh ngọc mình ngà dâng trao

ghé răng cây trái ngọt ngào
ngậm môi tan vỡ vị đào thiên nhai
trở giấc đêm đường mi dài
ru em mà tưởng nhớ hoài không đâu

ngoan em à mùa xuân đầu
lộc non nhú nõn nhiệm mầu bình an
quạt nồng ru em mơ màng
rồi mai khép lại địa đàng đã xưa

Phạm Quang Trung

Cơn Bão Mùa Đông Thứ Hai


Bão mùa Đông tháng trước…đúng là Bão-Mùa-Đông!  Rất nhiều người nát lòng vì tan hoang mơ ước trong gió xuôi gió ngược, trong băng tuyết ngút ngàn…Bão đúng là tan hoang và mùa Đông xơ xác!

Bão mùa Đông tháng trước cái đuôi còn tháng này, cũng khởi đi từ Tây để ùa lên phía Bắc và có nhiều bước ngoặt xáo trộn cả miền Nam…


Một nước Mỹ thênh thang chia thành ngàn mảnh vụn!  Ngày Hè chưa được nóng, giờ đổi vì tới kỳ…Mùa Hè không có chi vì mùa Xuân chưa tới dù rất nhiều ngày đợi mà mùa Đông cứ trùm.  Bão đang là bão Đông!  Bão nát lòng nát dạ!


Hãy nhìn kìa phố xá!Hãy nhìn kia bùn trôi!Hãy nhìn kìa mặt người cái khẩu trang che kín!Không tay nào bịn rịn nắm tay nhau ngoài đường!Không ai vui là buồn.  Ai cũng buồn, giống hệt! 


Không thấy người homeless, bão cuốn họ đi đâu?Chắc họ đang gối đầu cái ba-lô quần áo…cái ba-lô sầu não…cái cõi đời co ro?


Tôi có một bài thơ không có gì thơm thảo!

Trần Vấn Lệ

Mùa Xuân Đình Chiến !


Mùa xuân con chim nào vừa hót
Rong rêu trên những nhánh dây rừng
Mùa xuân biên giới rơi gió bấc
Tết gì đâu, chỉ tiết rưng rưng

Những xác hôm qua mưa tơi tả
Mặt hồ đọng võng vẫn chưa phơi
Áo trận thâm thâm màu rừng lá
Vừa phong phanh chơm chớm nụ mai

Chẳng có rượu ngon hay bánh mức
Chỉ bình ton hôm ghé quán nghèo
Vài quả lựu đạn treo trước ngực
Mùa hoa thăng cấp ở cheo leo

Lệnh tác xạ từng cơn pháo dập
Mùa xuân chốt đất ở lưng chừng
Chấm trên bản đồ từng hỏa tập
Đất đá dội lên lửa giao thừa

Hỏa châu vụt sáng thêm đêm mưa
Ngày đầu năm mang mầm nỗi chết
Những đóm sáng như vừa phụt tắt
Thù hận bắt đầu giữa âm u

Máy truyền tin bắt ra tầng số
Lẫn trong âm sinh Bắc tử Nam
Mịt mù sương khói mùi đạn súng
Trò chơi sinh tử giữ quan san

Từ lúc đã quen mùi súng đạn
Năm này năm trước dễ ba niên
Huyền hoa từ cài lên hỏa tuyến
Một lứa bên trời xuân lãng quên ..

Ta Về Giữ Núi,

Phút chốc đời nhẹ như bông
Về bay trên những cánh đồng cỏ hoa
Hồn nghe tựa ở bao la
Lời ca là gió thơ xa muôn trùng
Câu kinh vang vọng không cùng
Đưa ta về chốn thanh bình an yên.
Côn trùng réo rắc bên hiên
Hay là tiếng thở.. oan khiên của rừng!
Nằm bên tháng chạp rưng rưng
Nghe chừng giá rét cũng ngừng ngập mưa
Về non ngàn tiếng huyên xưa
Tìm người triết giảng giữa mùa chiến chinh
Nghiêng nghiêng ngọn thác quyên mình
Kề vai Bạch Hổ lưng chừng đế thiêng
Bài thơ vĩnh hiển uyên nguyên
Cũng lời đại tự cũng truyền hịch tâm
Ai về xóc lại xa xăm
Trong thoáng chốc đã dặm ngàn núi sông
Ta về với núi chùng thâm …

hoa nguyên,

Chuyện cổ tích không dành cho bé thơ

Một ngày vài lần tôi rẽ ngang exit đó, người đàn ông râu tóc bạc phơ với tấm bảng nguệch ngoạc:
“Dave, Vietnam veteran, I want $5.00.”
đập vào mắt những khi tôi dừng đèn đỏ.
Không thấy ai cho tiền ngoài tôi, có lẽ bởi chỗ đứng của ông ta không thuận tiện. Tự nhiên tôi thấy như mình mắc nợ Dave, tôi đã chiếm một chỗ làm việc của ông trên đất nước ông… Có một lần khi dừng lại, tôi ra dấu cho ông đến cạnh xe, hỏi:
– Only $2.00. Do you want?
– Oh my God, never say no, Lady.
Hình như ông ta trêu chọc tôi với cái nhún vai khinh khỉnh và một nụ cười tôi không thể nào diễn tả được, cái vẻ kẻ cả ban ơn… nhưng nếu tôi không lầm thì tôi mới chính là người ban ơn chứ!
Buổi sáng cuối tuần rảnh rỗi, ôm một thắc mắc lớn lao, tôi chạy bộ ra nơi ấy – cũng khá gần nhà – để hỏi cho ra lẽ…
Ông đang ngồi trên ghế đá, gần chiếc xe ngựa cổ biểu tượng của thành phố San Dimas… Ly cà phê McDonald bên cạnh bốc khói thơm lừng, dáng ung dung, thanh nhã, sạch sẽ, thơm tho chẳng khác chi những công dân đáng quý của thành phố này mỗi buổi sáng vẫn chạy bộ ven những con đường xinh đẹp nên thơ hay thong dong cỡi ngựa dạo chơi trên những đường mòn ven rừng thơm ngát mùi thảo mộc.
– Xin chào, lady.
Ông ta chào tôi thân ái như thể một người quen, ông không biết “lady” đang kinh ngạc đến sững sờ vì cái giọng Việt Nam rất Mỹ:
– Bà là người Việt Nam, tôi biết, tôi thấy từ trong xe mắt bà cứ chăm chăm nhìn chữ “Vietnam Veteran.”
Phát âm chuẩn đến không ngờ với cái giọng khan khan ngắt quãng… Ông đưa tay chạm vào dưới cằm, nơi mớ râu bạc hiền hòa như ông già Noel bước ra từ chiếc xe tuần lộc bên cạnh:
– Một viên đạn còn nằm ở đây, lady, trận Khe Sanh.
Dave cứ dẫn câu chuyện của mình như tìm thấy tri âm và tôi ngơ ngác ngồi nghe như chiến tranh đâu đó vẫn rất gần trong trí nhớ… Dave mở ba lô, đưa tấm bảng cho tôi coi, cười:
– Cái này là để cho Sơn Mỹ, không phải cho tôi.
Sơn Mỹ, một địa danh thuộc tỉnh Quảng Ngãi, nơi xảy ra trận thảm sát Mỹ Lai kinh hoàng. Ngày ấy… Dave ở đâu, làm gì, tôi không dám hỏi.

Mọi người đều cho là tôi rất khinh suất khi mướn Dave làm vườn, cắt cỏ… Một cựu chiến binh tinh thần hơi hoảng loạn… nhưng tôi quý mến con người ấy, khẳng khái, điềm đạm và thích độc thoại, tôi chỉ việc ngồi im nghe ông nói và học được bao điều bổ ích.
Thật sự Dave không cần ra ngã tư đứng để xin tiền, ông có tiền hưu, tiền thương tật, có một Mobile home nhỏ bé ấm cúng, một xe Volkswagen hai chỗ xinh xắn… nhưng như ông nói: dành cho Sơn Mỹ… và những ngày khỏe mạnh ông vẫn ra đứng đó, như một chứng nhân với dòng chữ Vietnam Veteran trên ngực.
Dave bắc thang trèo lên cây phượng tím làm cho lũ sóc những mái nhà ấm áp trong mùa đông, Dave rải lên cỏ những thức ăn ưa thích để bầy Smocking birds về lang thang trong vườn cho con gái tôi chụp ảnh. Dave gắn những hình tượng Halloween, Thanksgiving, Merry Christmas, New Year… thật đặc sắc mỗi lần lễ hội để mọi người trằm trồ chiêm ngưỡng.
Một lần thấy tôi ngồi viết say mê suốt buổi chiều thứ bảy đẹp trời mà không ra vườn ngắm nắng. Dave lặng lẽ đi mua cho tôi ly cà phê Starbucks.
– Lady viết sách cho con nít vậy có biết chuyện ông thần đèn không?
– Biết chứ Dave. Lúc nào tôi cũng muốn có 3 điều ước.
– Đừng nói 3 hạt dẻ của cô Lọ Lem… nhưng tôi sẽ kể cho lady câu chuyện này, một chuyện cổ tích không dành cho bé thơ.

Không biết Dave có gởi gắm gì, ẩn ý gì trong đó… nhưng khi kể Dave chìm vào ký ức, đôi mắt mơ màng như kể cho đứa con trai mà Dave đã không gặp từ lâu lắm, cậu đang thất lạc ở một chiến trường nào đó… Những chiến binh vì một lý tưởng hòa bình đã dấn thân đến một đất nước hoàn toàn xa lạ để chết hoặc để trở về với một xác thân tàn phế. Dave nói khi thấy tôi buồn thương cho những người lính ấy: “Có gì đâu, lady, được chết cho một lý tưởng chẳng cao cả sao?”

Câu chuyện Dave kể bắt đầu từ đây, tôi có biên tập chút đỉnh cho thích hợp.
Người đàn ông Homeless nhặt được trong thùng rác một chiếc đèn cũ kỹ, ông ta rao bán với giá $5.00, người mua hỏi:
– Chiếc đèn rất cũ, sao ông muốn tới $5.00?
– Đó là giá tối thiểu để tôi có một bữa ăn trưa gồm một phần hamburger và một coke.
– Thôi được, nhưng ông hãy lau chùi cho sạch.
Người Homeless ngồi dưới bóng mát của cây phượng tím bắt đầu chăm chú lau chùi… Rồi như trong cổ tích thứ thiệt, một làn khói trắng mù mịt bay ra, ông thần đèn hiện lên cho người Homeless được ước ba điều .
– Tôi muốn một bữa ăn no như vẫn thường mơ.
Một đĩa thức ăn với chiếc bánh Hamburger đầy ắp thịt dọn kèm khoai tây rán… Người Homeless ăn ngấu nghiến.
– Tôi muốn một ly coke lớn, thật lạnh.
Một ly coke nhìn mát rượi với những hạt sương lạnh lấm tấm bên ngoài. Người Homeless thở phào sảng khoái.
– Bây giờ ông chỉ còn một điều ước nữa thôi, hãy ước điều gì cho xứng đáng.
Đúng với tính cách trung thực và nhân hậu của các vị thần, ông thần đèn nhiệt tình khuyên nhủ:
– Ông nên ước trở thành một người nổi tiếng hơn cả Bill Gate, ông sẽ là founder của đại công ty HomelessSoft, ông sẽ tạo ra một hệ điều hành mới có tên là Doors. Doors của ông sẽ thống lĩnh thị trường thế giới, sẽ đè bẹp Windows của Bill Gate.
Thấy người Homeless im lặng không trả lời, ông thần đèn khuyên tiếp:
– Nếu ông không thích làm giàu, thì ông nên ước 4 năm sau sẽ trở hành tổng thống thứ 45 của Hoa Kỳ. Ông sẽ là vị tổng thống đầu tiên trong lịch sử Hoa Kỳ xuất thân từ homeless. Sao? Ông ước muốn điều nào?
Người Homeless cười, một nụ cười vô nhiễm với trần gian:
– Vâng, tôi muốn ông biến đi, tôi cần ngủ, tôi muốn ngủ…
Vị thần biến mất.
Chiếc đèn cũ kỹ nằm lăn lóc trên sân cỏ.
Và người Homeless chìm vào giấc ngủ thần tiên dưới vòm phượng tím…


Tôn Nữ Thu Dung (2013)

Chuyện Xảy Ra Trong Chiều Hôm Qua


Em muốn xé lòng anh trăm mảnh
mà sợ đau nên đứng khóc thôi
rồi xuống núi về gian nhà cỏ
nhớ học trò thả khói bay chơi…

Cô giáo núi và học trò cũng núi
chàng, ngựa ô, ai khiến băng rừng
tiếng lạc ngựa rung hoài không mỏi
khối tình chàng trăm mảnh em nâng!

Cô giáo núi khóc chưa từng được khóc
yêu làm chi trời có chân mây?
Xa thăm thẳm rú rừng, cỏ bụi
khi không người làm lạnh hai tay!


Cô giáo muốn xé lòng chàng trăm mảnh
Mảnh nào là ngọc ẩn trái tim côi?
Cô giáo rửa hai bàn tay dính phấn
rồi đưa lên con mắt ngậm ngùi…

Khi nàng biết mình yêu ai đó
bóng ngựa ô bay mất cuối ngàn
nàng bóp nát nhánh bông lau bờ sậy
người ơi người yêu mênh yêu mang!

Mai cô lại một mình lên núi
và học trò bỏ núi đến trường
chúng kháo chuyện hôm qua ai đó
cỡi ngựa bay xuyên trời mù sương…


Trần Vấn Lệ

Chuyện “Điên Nặng” ở Texas: Vì Đâu Nên Nỗi?

Sau ngày 23 tháng Chạp đưa ông Táo về trời, tôi khấp khởi mừng thầm vì năm Canh Tý – năm tuổi của tôi – sắp hết mà chưa có điều gì xui xẻo lớn xảy đến.  Không dè đến đêm 27 và 28 tháng Chạp, trời Austin (Texas) trở mưa lớn, và nhiệt độ tụt xuống đến 20° Fahrenheit (khoảng ­-7° Celsius); và sáng hôm sau, 29 tháng Chạp, khoảng 11 giờ sáng nhà tôi bị cúp điện.  Điện nhà tôi do thành phố Austin cung cấp dưới cái tên nghe rất kêu là “Austin Energy.”  Nghĩ trong đầu là không bao lâu sẽ có điện trở lại, vợ chồng tôi hồn nhiên ăn cơm trưa dưới ánh nến (mua dùng cúng Tết), và rồi kiên nhẫn ăn tối và bực bội cúng giao thừa cũng dưới ánh nến.  Đồng thời, chúng tôi lạnh cóng vì không có điện thì máy sưởi dùng động cơ điện thổi hơi ấm ra ngoài không chạy, đành phải mở lò gas nấu ăn lên để giữ ấm một phần nào.  Bước sang năm Tân Sửu lạnh lẽo trong bóng tối, không có máy sưởi ấm, không có Internet, không ti-vi tin tức, và cạn pin điện thoại di động, chúng tôi vào giường buổi tối với hai ba lớp quần áo dày cộm.

Theo lời khuyên của thành phố, để giữ ống nước khỏi đóng băng, chúng tôi để tất cả các vòi nước trong nhà nhỏ giọt suốt ngày đêm.  Mấy ngày đầu năm mới, trời Austin lạnh kinh hồn, hai đêm liền nhiệt độ tụt xuống đến 5 và 6°F (khoảng ­-15°C), và tuyết rơi liên miên chồng chất đến 10–12-inch (khoảng 0.3 m), phủ lấp mái nhà và đường đi.  Ở Austin, hai điều kiện thời tiết hà khắc này chưa bao giờ xảy ra cùng một lúc.  Trong mấy ngày kế tiếp, nhiệt độ nằm lì dưới nhiệt độ đóng băng 32°F, chúng tôi bị “cầm tù” vì đường sá đầy tuyết và nước đá, không đi lại được, và chỉ có cách “tử thủ” và tìm cách sống còn trong nhà mình.  Nhờ để nước nhỏ giọt, ống nước lạnh từ ống nước chính của thành phố vào nhà không bị đóng băng, nhưng nhiệt độ quá thấp khiến cho ống nước nóng chạy trong tường từ máy nước nóng vào nhà kém may mắn hơn, bị đóng băng (và bị vỡ vì nước đóng băng thì tăng thể tích); vậy là chúng tôi mất nước nóng.

image.png
image.png

Sau hơn một tuần mất điện, chúng tôi có điện lại tối mồng 7 Tết.  Trước đó hai ngày, lúc trời ấm lại bình thường, ống nước nóng rã băng và phun nước ào ào từ trong tường ra ngoài, và chúng tôi phải gọi người khóa nước từ ống dẫn chính của thành phố và như thế hoàn toàn mất . . . nước.

Hôm nay, ngày mồng 10 Tết, chúng tôi đang chờ thợ ống nước tới sửa.  Từ năm cũ đến nay, vì lúc đầu thiếu ánh sáng và sau đó thì mất nước, hàng ngày chúng tôi nấu nước nóng và dùng khăn mặt lau người; đó là phương pháp “tắm khô” tôi từng dùng thời còn trẻ bỏ nhà đi bụi đời.  Vẫn cố gắng nấu ăn (vì không thể ra ngoài) nhưng khi rửa chén và nồi niêu soong chảo phải dùng phương pháp rửa tô của các bà bán bún bò gánh ngày xưa ở Huế:  chỉ một thau nước nhỏ và cái khăn lau mà các bà “rửa” hết tô này sang tô khác suốt ngày.  Ngày nay, chúng tôi “tiến bộ” hơn vì có các cuộn paper towel rất tốt và dễ dùng.  Và phương pháp cổ điển này sẽ còn được dùng ít nhất là ba, bốn ngày nữa.

Thực ra, trong tuần lễ “mất điện” đó, điện có trở lại vài ba lần, nhưng lần nào cũng chập chờn khoảng 10 hay 15 phút rồi biến mất.  Lần điện tái xuất giang hồ lâu nhất là khoảng nửa tiếng đồng hồ trước nửa đêm mồng 4 Tết.  Sau đó, tôi nghe tin tức nói ERCOT (Electric Reliability Council of Texas) lúc đó đã ra lệnh cho Austin Energy và các công ty điện lực ở Texas cúp điện luân phiên.  ERCOT là cơ quan điều hành hệ thống điện và chỉ huy các công ty điện lực trong tiểu bang.

Cúp điện luân phiên là một cách giải quyết vấn đề thiếu điện; công ty điện lực chia vùng phục vụ thành từng khu, cho mỗi khu có điện 45 phút rồi cúp đi, và đóng điện cung cấp cho khu khác.  Không may cuộc cúp điện luân phiên thất bại ê chề và khiến cho hơn 40 phần trăm khách hàng toàn tiểu bang bị mất điện tuốt luốt.  ERCOT cho biết, lúc đó nếu không ngưng kịp thời, chỉ trong vòng vài phút hay vài giây là tai ương xảy đến:  toàn thể hệ thống điện Texas sẽ sụp đổ hoàn toàn, và sẽ cần vài tháng mới có thể phục hồi.  Về mặt kỹ thuật, các viên chức có trách nhiệm trong việc quyết định và thi hành công tác cúp điện luân phiên này xứng đáng được thưởng huy chương vàng về sự . . . bất tài.

Vì Sao Nên Nỗi?

Là một kỹ sư điện hồi hưu, chúng tôi đã từng làm việc gần 40 năm trong ngành điện lực Hoa Kỳ, trong đó khoảng 13 năm là hội viên của Reliability Assessment Subcommittee (RAS) là tiểu ban có nhiệm vụ nghiên cứu, tiên liệu, và tìm cách ngăn ngừa những vụ cúp điện rộng lớn ở Bắc Mỹ, tương tự như vụ cúp điện Texas trong tuần lễ vừa qua.  RAS là một ủy ban thuộc North American Electric Reliability Council (NERC), NERC là cơ quan tầm Bắc Mỹ chỉ huy và bao gồm các cơ quan như ERCOT.  Theo lời yêu cầu của anh bạn trẻ Nguyễn Đình Hiếu đang biên tập và trình bày cho Nguyệt san KBC, chúng tôi ghi lại dưới đây một số cảm nghĩ tại sao “dân Texas phải gánh chịu những ngày ‘thảm thương’ như thế.  Lỗi tại ai hay lỗi tại . . . Trời?” (nguyên văn thư của Hiếu).

Lỗi tại . . . Trời

Dĩ nhiên đổ lỗi cho ông Trời, hay “khoa học” hơn là đổ thừa cho hiện tượng “biến đổi khí hậu,” là cách giải thích dễ dàng và an toàn nhất.  Mưa lạnh và tuyết rơi cộng thêm nhiệt độ cực kỳ (nói một cách tương đối) lạnh giá lúc đầu khiến cho các đường dây tải điện đến khách hàng bị đứt, khách hàng mất điện.  Đồng thời, thời tiết giá lạnh làm cho các cơ quan điện lực thiếu khả năng cung cấp điện (“thiếu điện”), càng làm cho việc phục hồi điện cho khách hàng khó khăn và trì trệ.

Nước mưa và tuyết tan thành nước đọng trên dây truyền điện, gặp lạnh đông thành đá, và khiến cho dây nặng quá sức, bị đứt ra rơi xuống, và không thể tải điện từ nhà máy đến người tiêu thụ.  Texas lại có rất nhiều cây cối; nước đọng trên lá và cành cây khiến cành cây trĩu nặng, gãy lìa ra khỏi thân cây, và hoặc là rơi đè lên nối tắt hoặc là kéo đứt các dây phân phối dẫn điện vào nhà khách hàng.  Tóm lại, dây điện đứt là do thời tiết ông Trời gây ra, người đành ngậm đắng nuốt cay mà khó có thể làm gì được.

Nhưng tại sao thiếu điện?  Trong một số năm gần đây, do chính sách của chính phủ và khuynh hướng của quần chúng cổ võ việc bảo vệ môi sinh và ngăn ngừa hiện tượng sưởi ấm toàn cầu, Texas cũng như nhiều tiểu bang khác đã thiết trí nhiều nhà máy phát điện dùng năng lượng gió cũng như khai thác triệt để năng lượng mặt trời.  Cả hai loại “nhiên liệu” tái tạo này có sẵn trong thiên nhiên, người ta chỉ tốn tiền xây nhà máy và dụng cụ, sau đó dùng “miễn phí.”  Austin Energy lôi cuốn khách hàng tư gia thiết trí các tấm pin quang điện trên mái nhà để giảm bớt nhu cầu dùng điện, và do đó giảm nhu cầu xây cất nhà máy phát điện, bằng cách tặng tiền mặt (gọi là “rebate”) cho khách hàng giảm bớt chi phí.  Thí dụ, các tấm pin quang điện giá $25,000, Austin Energy có thể tặng cho khách hàng $10,000 tiền mặt.  Khách hàng còn có thể được miễn thuế lợi tức một phần (40 phần trăm chẳng hạn) của chi phí $15,000 còn lại.  Từ các chính trị gia đến công ty điện lực và khách hàng, ai nấy đều thơ thới hân hoan, vờ quên mất rằng sẽ có một lúc nào đó gió không thổi và mặt trời không hiện ra, lấy điện đâu ra để khách hàng dùng và có được những tiện nghi của đời sống văn minh?

“Lúc nào đó” đã xảy ra.  Trời mưa lạnh và tuyết rơi tan thành nước và đông đá trên cánh quạt của các trụ phát điện dùng năng lượng gió, bão tuyết dữ với gió thổi mạnh có thể bẻ gãy các cánh quạt này, và các trụ phát điện phải ngưng hoạt động.  Năng lượng gió trở thành vô dụng.  Tuyết và mây mù che khuất mặt trời, dân Texas đành hôn chia tay với năng lượng mặt trời; nhu cầu dùng điện tưởng là đã giảm nay lại càng gia tăng hơn vì trời lạnh giá và thiếu ánh sáng mặt trời.  Ôi thôi, thế là anh em ta cùng nhau hô lên là thiếu điện.

Lỗi tại . . .  Người

Theo ý kiến thô thiển của chúng tôi, đổ lỗi “thiếu điện” cho ông Trời thì quả là lưỡi không xương nhiều đường lắt léo.  Nhà nghiên cứu kế hoạch điện lực luôn luôn tâm niệm công ty điện lực có “nghĩa vụ phụng sự” (obligation to serve) khách hàng trong mọi trường hợp.  Ở một cửa hàng bách hóa, nếu khách hàng đến mua một đôi giày mà cửa hàng không có, khách phải ra về hay tìm mua ở cửa hàng khác.  Công ty điện lực không thể làm như thế, bất cứ lúc nào khách hàng bật đèn lên hay cắm một dụng cụ vào ổ điện, khách mong đợi đèn đỏ lên hay dụng cụ hoạt động ngay lập tức.

Để thực hiện sứ mạng của mình, công ty điện lực phân biệt hai loại khả năng của hệ thống phát điện:  Một là “năng lượng” (energy) tương tự lượng kilowatt-giờ công ty điện lực đọc đồng hồ tính tiền khách hàng tư gia.  Hai là “khả năng cung cấp điện” (capability) là công suất điện có thể cung cấp bất cứ lúc nào khách hàng cần tới.  Trước đây, khả năng “được công nhận” (accredited) của các nguồn điện dùng năng lượng tái tạo bị quy là rất thấp.  Thí dụ, căn cứ theo thống kê về hoạt động thực sự của nhà máy phát điện dùng gió, người ta chỉ công nhận khả năng của chúng khoảng 6-10 phần trăm, và các nguồn điện mặt trời khoảng 3-5 phần trăm.  Ngoài ra, NERC và các cơ quan như ERCOT còn đòi hỏi mỗi công ty điện lực phải có đủ khả năng cung cấp điện cho khách hàng ở thời điểm dùng điện cao nhất trong năm, cộng thêm “số dư dự trữ” (reserve margin) thường là 15-18 phần trăm nhu cầu tối đa của khách hàng.  Như thế, dù “có chuyện gì xảy ra,” công ty điện lực vẫn đủ khả năng đối phó với tình thế bất trắc.

Trong những năm gần đây, do chính sách của chính phủ, các yếu tố kinh tế, và tâm lý quần chúng, nguồn điện dùng năng lượng tái tạo trở thành những mặt hàng quý giá.  Khả năng được công nhận của nhà máy gió được nâng lên đến 60-80 phần trăm, năng lượng mặt trời đến 30-50 phần trăm.  Song song với sự “sáng tạo” ra các khả năng cung cấp điện ma, người ta không còn đòi hỏi công ty điện lực có thêm số dư dự trữ, với lý do các hệ thống điện nối liền với nhau và có thể giúp đỡ lẫn nhau khi cần.  Họ vờ quên mất rằng khi thời tiết khắc nghiệt xảy đến trong một diện tích rộng lớn như cơn bão lạnh Texas vừa qua, công ty nào cũng bị ảnh hưởng, cũng bị thiếu điện, và không thể trợ giúp công ty khác.  Không còn tích cốc phòng cơ, tích y phòng hàn (chứa lúa để ngừa đói, để dành áo phòng khi lạnh) như cái thuở không mấy xa xưa ấy.

Xem ra, lý do khiến Texas thiếu điện và nạn cúp điện kéo dài hơn mười ngày là lỗi tại . . . người.  “Người” ở đây có thể hiểu là các chính trị gia hay các nhà quản trị điện lực ở cấp cao nhất; từ năm, mười, hay mười lăm năm nay, họ đã dần dần tạo nên những chính sách và đường lối đưa lại hậu quả chẳng đặng đừng như đã thấy.  Ta cũng có thể đổ lỗi cho các kỹ sư thiếu khả năng tìm ra bột để khuấy thành hồ.  Nhưng trong một quốc gia dân chủ như Hoa kỳ, trách nhiệm tối hậu là của người dân.  Họ đã bỏ phiếu bầu người lãnh đạo, đặt viên chức có thẩm quyền vào những chức vụ quyết định, và chấp thuận các chính sách đề ra.  Nếu chưa kể họ đã tận hưởng những lợi lộc phát sinh từ các chính sách đó.

Tôi đã thấy rõ và tiên liệu những gì sẽ xảy đến, và dĩ nhiên không đồng ý với những chủ trương “cấp tiến” đó.  Nhưng tôi là thiểu số.  Vì vậy mà phe tôi bị thất cử.

Nguyễn Ngọc Hoa

Còn Nợ Một Lời Xin Lỗi

Giữa tháng Mười Một, mặt trời North Dakota lặn sớm, mới năm giờ chiều mà đã chạng vạng tối.  Chiều nay tan sở, tôi và anh bạn Charlie đứng xếp hàng sau chiếc xe chở hàng phân phát gà tây ở góc bãi đậu xe; hàng năm, vào khoảng thời gian này, công ty tặng nhân viên mỗi người một con gà tây để ăn lễ Tạ ơn.  Charlie hiếu kỳ hỏi tôi,

            “Ở Việt nam anh có ăn gà tây hay mừng lễ Tạ ơn không?”

            “Ngày Sài gòn tôi biết hai điều:  Lễ Tạ ơn vào ngày thứ Năm tuần lễ chót của tháng Mười Một, và lính Mỹ đóng ở bất cứ nơi nào trên thế giới đều được ăn tiệc gà tây trong dịp này.  Gà tây thì mỗi năm tôi ăn một lần – vào đêm Giáng sinh, khi được mời dự bữa ăn nửa đêm theo kiểu Pháp sau khi đi lễ mi-xa nhà thờ,” tôi ngượng ngập trả lời.

            “Anh nhớ lễ Tạ ơn nhằm ngày thứ Năm thứ tư của tháng Mười Một chứ không phải thứ Năm cuối cùng vì có khi tháng Mười Một có đến năm ngày thứ Năm,” chàng nháy một bên mắt chỉnh tôi, “Đối với dân Mỹ, lễ Giáng sinh mang tính cách tôn giáo và lễ Tạ ơn thiên về gia đình hơn.  Nhưng cả hai đều là dịp gia đình sum họp vui vầy.  Hàng năm vợ chồng tôi ăn lễ luân phiên giữa hai nhà:  nếu Tạ ơn với gia đình tôi thì Giáng sinh với gia đình bà xã, và năm sau thì ngược lại.”

Ở nhà tôi, trong những ngày trước lễ Tạ ơn, cha rộn ràng mở tiệc “cám ơn Chúa” lần lượt mời ông bà Mục sư Nielsen, ông bà Gardner, cặp vợ chồng “thân” nhất với cha khi đi lễ nhà thờ, và sau hết là bác Kiệt đến nhà “dùng cơm gia đình.”  Tuy cha không giao thiệp với “đám Việt nam không ra chi,” nhưng bác Kiệt là ngoại lệ.  Cha nghe nói trước đây bác mở trường dạy Anh văn ở Nha Trang và chắc mẩm thế nào bác cũng biết cha đã giữ chức vụ quan trọng ở vùng duyên hải và sẽ phục cha không biết để đâu cho hết.

Bác Kiệt mang bó hoa tươi tới tặng mẹ; cha đón nhận và biểu tôi tìm bình hoa cắm vào và để giữa bàn phòng khách, nhưng không gọi mẹ ra chào.  Như các khách người Mỹ dự tiệc trước, bác Kiệt rất đỗi ngạc nhiên nhưng không nói gì khi thấy bàn tiệc chỉ có cha và bác ngồi đối diện nhau.  Xưa nay cha vẫn đãi khách như thế.  Mẹ nấu nướng sau nhà bếp, Quỳnh Châu và Bình phụ giúp để kịp làm món ăn trong thực đơn cha đề ra, và bọn con trai là đội ngũ hầu bàn phục vụ tỉ mỉ.  Bác khen dồi các món ăn mẹ nấu và lắng nghe cha khoe khoang thành tích và quyền hành ngày cũ, nhưng không hùa theo tán dương; có lẽ cha thất vọng lắm.  Bác khiêm tốn,

            “Thưa bác, tôi dạy học nên không biết nhiều về quân sự và chính trị.”

Khi ăn trái cây tráng miệng, cha hết chuyện nói bèn chuyển sang đề tài mà chín người mười ý, dân tỵ nạn lúc nào cũng tranh luận sôi nổi và trong lúc cãi cọ khó lòng giữ được hòa khí:  Tại sao mình mất nước?  Cha đưa ra ý kiến huyền hoặc,

            “Nếu mà thằng Mỹ và thằng Pháp không bắt thằng Thiện từ chức, bây giờ Việt nam Cộng hòa (“VNCH”) mình vẫn còn khả năng chiến đấu và chưa mất.”

Bác Thiện là bạn thân và cũng là thần tượng của cha.  Ngày tôi học đệ tam niên trường kỹ sư, cha muốn kết thông gia với bác và ép tôi làm rể.  Tôi không bằng lòng, cha nổi trận lôi đình từ bỏ “thằng con bất hiếu bất mục,” và tôi cuốn gói bỏ nhà ra đi bụi đời.  Tôi nhớ như in tối thứ Hai 21 tháng Tư (1975), cả gia đình xúm xít trước chiếc ti-vi đen trắng xem trực tiếp truyền hình bác Thiện tuyên bố từ chức tổng thống tại dinh Độc lập.  Không đồng ý với cha nhưng bác Kiệt nhẹ nhàng hỏi,

            “Thế ạ?  Làm sao ông Thiện làm được?”

            “Thằng nớ hắn giỏi ghê…ê…ê…ê lắm,” cha thán phục nói lớn.

            “Thưa bác, ông ấy giỏi làm sao ạ?” bác Kiệt vẫn từ tốn.

            “Tiếng Anh và tiếng Pháp hắn giỏi ghê lắm,” cha suy nghĩ vài giây rồi nói thêm, “Hắn là thằng tướng duy nhất tốt nghiệp đại học trước khi gia nhập quân đội.”

            “Điều này mới, tôi chưa được biết.  Ông ấy học đại học nào ạ?”

“Sau khi học hết đệ tứ (lớp 9) và đậu bằng diplôme (Trung học đệ nhất cấp), hắn học trường Hàng hải và hai năm sau tốt nghiệp sĩ quan hàng hải.  Hắn không thèm làm việc trên tàu biển khi biết tụi Pháp trả lương thấp hơn sĩ quan Pháp và ghi tên nhập học trường Võ bị Quốc gia khóa 1 ở Đập Đá Huế.  Chỉ có tay tài giỏi kinh hồn như hắn mới có cơ lật ngược thế cờ.”

Trường Việt nam Hàng hải sau này thuộc Trung tâm Quốc gia Kỹ thuật ở Phú Thọ, trung tâm gồm cả trường Cao đẳng Điện học của tôi, và chương trình sĩ quan hàng hải ngang hàng với bậc cán sự kỹ thuật.  Ngày Sài gòn, tuy cãi lệnh cha về việc hôn nhân, tôi vẫn một lòng kính trọng vị nguyên thủ quốc gia vì thấy bác là người đàng hoàng chín chắn nhất trong số các tướng lãnh và chính trị gia đương thời.

* * *

Trong đợt người từ trại tỵ nạn Đồn Chaffee đến Bismarck định cư sau cùng, bác Hòa được mọi người kính nể nhất.  Bác là đệ nhất tham vụ tòa Đại sứ VNCH tại Trung hoa Dân quốc (Đài Loan), nhân vật số hai của tòa đại sứ.  Bác trạc dưới bốn mươi, người tầm thước lịch sự, nói năng dịu dàng, và làm việc ở nha Chức nghiệp North Dakota và chuyên tìm việc cho người Việt.  Bác gái trẻ hơn bác hai, ba tuổi, mặt đẹp như hoa, và thường kiên nhẫn chỉ dẫn cho các bà các cô về lối sống gia đình ở Mỹ.

Bọn đàn ông thường vấn kế bác Hòa về việc mua xe hơi, mua bảo hiểm, và bảo trì xe cộ.  Hầu hết những người này chưa bao giờ ngồi vào ghế tài xế lái xe nên làm chủ chiếc xế tứ và oai vệ lái phom phom chạy ngoài đường là ước ao tột cùng.  Có việc làm và để dành đủ món tiền trả trước là tính ngay đến chuyện mua xe.  Với túi tiền giới hạn, họ chỉ đủ sức mua xe cũ – có tên văn hoa là xe tiền sở hữu (pre-owned) – và trở thành mồi ngon cho hãng và người bán xe cũ.  Những người bán xe cũ học một sách lừa dối khách hàng nghèo mà cần mua xe như nhau.  Thí dụ, dù chiếc xe cọc cạch đã chạy sáu, bảy chục ngàn dặm Anh, anh nào cũng lôi ra bài quảng cáo cũ mèm,

Máy móc và bên trong xe còn mới toanh.  Chủ trước là bà cụ già góa chồng giữ gìn xe cẩn thận và mỗi tuần chỉ lái đi nhà thờ một lần.

Bác Hòa hay kể câu chuyện khôi hài,

Người bán xe cũ và luật sư là hai hạng người chuyên ăn gian nói dối.  Hỏi:  Làm sao biết được khi nào họ nói dối?  Trả lời:  Khi thấy môi họ mấp máy!

Điều kiện cần để mua xe cũ là có vài trăm đô la trả trước và việc làm, tức là có lương để trả góp hàng tháng.  Sau khi hai bên thương lượng giá cả mà thua thiệt về phần người mua, anh bán xe cũ “thương tình” khách hàng và vào trong văn phòng “năn nỉ ông sếp” đồng ý cho vay trả góp số tiền còn lại với lãi suất “rất nhẹ.”  Anh ta thừa biết nếu khách hàng ra nhà băng vay tiền mua xe, nhà băng sẽ từ chối vì khách không hội đủ tiêu chuẩn về lợi tức để trả nợ.  Thế là ông di dân mới hí hửng ký giấy vay nợ mua xe với mức lời cắt cổ 29 phần trăm một năm, rước về chiếc xe cà rịch cà tang, và è lưng kéo cày trả nợ 36 tháng dài.

Tôi không phải qua cầu đoạn trường đi mua xe cũ vì hai tuần sau khi tôi nhận việc, Charlie mua xe mới và tặng tôi chiếc Chevrolet Chevelle đời 1967 cũ của anh; tôi nhận xe và cuối tháng lãnh lương đưa cho anh 100 đô la.  Chiếc Chevelle tám máy to gần bằng chiếc tàu đánh cá di tản ra biển Đông, dư sức chở người và đồ đạc đi câu cá hay cắm trại, thoải mái cõng bàn ghế tủ giường khi dọn nhà giùm, ăn chịu với tôi hơn hai năm, và gồng mình qua ba mùa đông dài không hề ho hen hư hỏng.  Bạn tỵ nạn gọi nó là chiếc “phi thuyền” và chế nhạo tôi kẹo kéo bủn xỉn, đi xe cũ kỹ xấu xí làm “người Việt mình” mất mặt bầu cua với Mỹ.

* * *

Cuối tuần lễ Tạ ơn, mẹ, bác Hòa gái, và vài bà khác tụ họp nấu nướng ở nhà bác Hòa để mừng lễ Tạ ơn trễ, tổ chức thành một buổi sinh hoạt chung.  Sau bữa ăn thịnh soạn, mọi người chia làm hai phe:  Phe đàn bà ngồi ở phòng ăn bàn chuyện . . . đàn bà, phe đàn ông tiếp tục uống bia và cãi nhau chí chóe trong phòng khách.  Như một truyền thống tự ngàn xưa, chuyện gì đàn ông An nam cũng cãi nhau cho bằng được, và chuyện gì họ cũng khăng khăng cho mình giỏi mình đúng và mọi người khác đều dở đều sai.  Thí dụ, khi nói về chuyện bảo hiểm xe cộ, anh nào cũng gân cổ trưng ra lý lẽ chứng tỏ hãng bảo hiểm của mình có uy tín nhất, mình mua bảo hiểm rẻ nhất, và hợp đồng bảo hiểm của mình tốt nhất, và các người khác đều chọn lầm và mua lầm.  Làm tôi nhớ lại chuyện ngụ ngôn “thầy bói mù xem voi”!  Họ chỉ đồng ý với nhau một điều,

            “Bọn Mỹ trong sở tao ngu như bò.  Tao hỏi mua xe ‘mới’ trả bảo hiểm bao nhiêu tiền, tụi nó ngu ngơ lắc đầu không biết và biểu tao gọi hãng bảo hiểm mà hỏi.”

Thấy tôi ngồi yên tay cầm lon bia còn uống dở, bác Hòa bước lại,

            “Sao không nói năng gì cả vậy, anh cần thêm gì không?”

            “Dạ không.  Rượu vào lời ra, cháu chưa đủ đô (dose) nên chưa thưa thốt và còn dựa cột mà nghe,” tôi cười cười.

            “Vậy thì anh qua kia ngồi nói chuyện ba lăng nhăng với tôi.  Hay là muốn sang với ‘cô ấy’ để hóng chuyện ngồi lê đôi mách của các bà?” bác chỉ sang phòng ăn; nói “cô ấy” bác ám chỉ Quỳnh Châu.

            “Cháu mà lết sang bên kia thế nào cũng bị ‘cô ấy’ đuổi trở lại đây, ‘Khu liền bà, anh léo hánh tới làm chi?’  Vả lại, cháu có chuyện quan trọng muốn hỏi bác,” tôi đứng dậy đi theo bác; hơn nửa năm nay tôi băn khoăn thắc mắc về chuyện bác Thiện.

Đầu tháng Tư dân Sài gòn đồn đại bác Thiện ra lệnh cho thống đốc Ngân hàng Quốc gia liên lạc với hai hãng hàng không Trans World Airlines và Pan Am và hãng bảo hiểm Lloyd’s of London để chuyển 16 tấn vàng ra ngoại quốc nhằm tài trợ chính phủ lưu vong và mua vũ khí cho quân kháng chiến trong trường hợp đất nước lọt vào tay Cộng sản.  Đêm thứ Sáu 25 tháng Tư, bốn ngày sau khi từ chức, bác rời Sài gòn bay sang thủ đô Trung hoa Dân quốc là Đài Bắc với danh nghĩa đi phúng điếu cố Tổng thống Tưởng Giới Thạch mất trước đó ba tuần rồi bay đi Anh quốc.  Tiếng đồn lan rộ lên:  Bác lấy 16 tấn vàng mang theo.  Từ đó, mỗi khi nghe người đồng hương lên án bác biển thủ tài sản quốc gia, tôi không biết thực hư nên cứ xót xa trong lòng.  Bây giờ có dịp hỏi bác Hòa,

            “Thưa bác, ông Thiện có mang 16 tấn vàng sang Đài Bắc hay không?”

            “Làm quái gì có chuyện đó!  Trong trại Đồn Chaffee, tôi đã cãi cọ với nhiều người về lời đồn ác nghiệt này.  Thủ phạm không ai khác hơn lũ Việt Cộng lưu manh phao tin láo toét, trong lúc phần lớn dân mình ngây thơ dễ tin.  Nhưng có đôi ba thằng tướng tá vốn hèn nhát ôm vợ con của cải chạy trốn, có tật giật mình, và đồn rân lên để bôi nhọ ông Thiện xuống hàng giun dế như nó,” bác Hòa giận dữ mặt đỏ gay.

            “Sao bác biết chắc như vậy?”

            “Tôi không biết thì ai biết?  Ông Thiện đến Đài Bắc bằng máy bay quân sự Mỹ.  Đại sứ Kiển là anh ông Thiện đi vắng, đi đâu không biết, và đích thân tôi ra phi trường đón đưa gia đình ông Thiện,” bác giơ tay ra quả quyết, “Chính tay này mang tất cả 31 chiếc va-li của gia đình ông Thiện từ trên máy bay xuống cũng như đưa lên máy bay khi họ rời Đài Bắc đi Anh.  Nếu chia đều 16 tấn vàng cho 31 chiếc va-li, mỗi va-li phải đựng vào khoảng nửa tấn, tức là 500 kí.  Làm sao sức người có thể đưa lên đưa xuống máy bay?”

Hơn ba thập niên sau, năm 2006, chính phủ Việt Cộng cuối cùng thú nhận toàn bộ số vàng gồm 1,234 thỏi vẫn nằm y nguyên tại Sài gòn và được bàn giao cho chúng “khớp với sổ sách từng chi tiết nhỏ.”  Nợ bác Thiện một lời xin lỗi những kẻ phe VNCH đã kết tội bác, dù tưởng lầm hay có ác ý.  Nhưng không ai đứng lên tạ lỗi.  Dầu sao đã cũng trễ rồi.  Bác mất năm năm trước tại Boston thuộc tiểu bang Massachusetts.

Nguyễn Ngọc Hoa