TRÊN TÀN PHAI NẮNG ĐỤC

 

khi ấp bàn tay lên nụ buồn chực nở
phía chân mây màu nắng đục sẫm vàng
anh sực nhớ màu hoàng thiên một thuở
hoa cúc tượng hình trên nhánh vai hoang
anh điếng đau thắt dạ bàng hoàng…

lời sấm giảng khoe tình đêm yên nghỉ
giọt sinh hồ lốm đốm nhả loan châu
tiếng hài vọng từ buổi chiều-thục-nữ
tiếng sáo trầm mình siết chặt đớn đau
anh vẽ mùa xuân trên bâu áo chực nhàu…

nghiêng mười ngón tay về phía mặt trời
ve vuốt sợi mưa đan mành nhốt bóng
nụ hôn ốm o guột gầy lạnh cóng
tiếng hạc trùng phùng trăng bối rối trăng
lời tai ương mở lối vĩnh hằng…

đêm thả vào đêm chiếc ôm hời hững
mùi trăng hạ huyền thấm vệt sầu xanh
cây bông trắng xoả một vùng hương trắng
nước mắt ngọ vàng trầy sướt mi trinh
cái nhớ tình lang tay rướn ôm tình…

gạn lọc tàn phai trên từng mắt nhớ
anh gánh sầu rao tưới bậc thiên du
mùi lá nõn phả hương bầu ngực mở
nắng đục phủ mê mắt đuối mắt ngờ

anh ước chi đời rộn nắng reo thơ !

Lê Hát Sơn

Duyên

Tôi đứng chỗ này, cổng nghĩa trang
không nghe mùi khói, chẳng mùi nhang
không ai dừng lại, không ai viếng…
Những nấm mồ không ai nhớ thương?

Những hàng hoa tím rưng rưng nở
những nụ hoa rưng rức mắt người
gió thổi đó, đây, vài lá rụng
vài bông hoa héo lạnh lùng rơi!

Không phải tự dưng tôi đứng đó
mà tôi, tài xế, đợi người ta…
hôm nay có hẹn nên xe đậu
một chỗ đìu hiu…thật xót xa!

Người hẹn với tôi chừng bận lắm
mới vừa phone nhắn: “Đợi nha anh”.
Dĩ nhiên tôi chẳng phiền chi cả
(tôi có dịp nhìn một nghĩa trang!).

Tôi đợi đến chiều cũng chẳng sao
(việc tôi là đợi chậm hay mau
với tôi, công việc là đưa, đón
khách trả tiền, xong, một cái chào!)

Có dịp cho tôi nhìn nghĩa địa
nhìn tên mình mai mốt mộ bia…
Nghĩ vui! Chắc chẳng cần mai mốt
khoảnh đất cho mình yên giấc khuya…

*
Tôi đợi tới khi điện sáng đường
khách ra, xe chạy, xé mù sương…
hình như: tôi, khách, đều thanh thản
đời, nhẹ nhàng thôi! Đời Dễ Thương!

Nghĩa trang lùi hẳn trong đêm tối
Tôi có bài thơ vậy cũng duyên?

Trần Vấn Lệ

đêm

 

Ngoài hiên Hồ Ly bước khẽ
Nghẹn ngào giọt nến lung linh
Trang sách thở dài rất nhẹ
Thư sinh rơi bút… giật mình

Từ đó đêm thành cổ tích
Thơ đề trên vạt áo xanh
Thời gian phai nhòa ảo ảnh
Mơ hồ sương khói mong manh

Từ đó đôi bờ huyễn ngạn
Chỉ là một chạm hoang mang
Ngàn xưa… ngàn sau phiêu dạt
Chỉ là một bước lang thang…

Tôn Nữ Thu Dung

SƯƠNG KHÓI

 

Mảnh sân cũ ta về rêu đã úa
Dấu thời gian khuya sớm mẹ nơi này
Cụm khói chiều còn vương trên mái rạ
Cứ ngỡ rằng còn mẹ ở quanh đây

Mùi cỏ dại từ ngày ta thơ ấu
Mười năm xa màu cỏ biếc bên lòng
Tiếng võng trưa hắt hiu như đời mẹ
Theo tháng ngày mòn mỏi vời chờ mong

Đây giàn mướp ra hoa ngày ta lớn
Bướm và hoa vàng nắng ban chiều
Ta hỏi với mưa bay ngoài cửa
Hỏi một đời mẹ vui được bao nhiêu?

Ta về lại khi bao điều đã khác
Mưa chiều nay rơi quanh chỗ mẹ nằm
Dòng hương khói có ấm lòng mẹ được?
Nơi xa nào, lặng lẽ cõi ngàn năm!

Phạm Thanh Chương

TẤT NIÊN TÔI

đêm quàng vai tất niên tôi,
sương hiu hắt bụi mặt người lạ quen,
phố dài cho bước không tên
chưa năm tháng hạ đã miền lập đông…

ngày đi chưa hết mơ mòng
dài tay em ngọn muôn trùng mưa mau,
này em còn cuộc vui nào
xin vui cho hết,còn chào nhau đi
xa đời khuất bóng chim di,
còn nghe em nụ xuân thì trên môi…

đêm quàng vai tất niên tôi,
say tờ lịch cuối,say người hết duyên,
cạn nhau này chén chênh vênh,
ừ thôi,em nhé…miên trường có nhau…

Hoàng Uyển Văn

Đường Xa Xăm Mộng Diễm Kiều Hoang Mang

Em bây giờ đang ở đâu?
Bài thơ mới nhất, một câu mở bài!
Thơ Lục Bát làm ngộ thay,
Dễ như là ngửa bàn tay hứng chiều!

Chiều chiều lại nhớ chiều chiều,
Nhớ người quân tử khăn điều…là em?
Cảm ơn nàng, nụ cười duyên!
Mười thương chín nhớ, một thêm nha mình?

Bài thơ này, bài thơ tình
Cũng là trang chữ viết nhìn mà chơi
Chớ thơ chi vậy, lạ đời
Lời không liền lạc là lời vu vơ…

Một là tại gió phất phơ
Hai là tại thấy chiều mờ mờ xa
Chiếc xe thổ mộ vừa qua
Một ông xà ích, vài ba bạn hàng…

Chiếc xe tàn chợ chiều tan
Em không có mặt chỉ ngàn thông xanh.
Chắc gì em chẳng nhớ anh
Bao nhiêu là ngói trên Đình, phải không?

Chiều Lạc Nghiệp chiều mênh mông
Trời bên Thạnh Mỹ cầu vồng ai treo
Bỗng dưng trời đất hoang liêu
Đường xa xăm mộng diễm kiều hoang mang…

Trần Vấn Lệ

hàm tiếu mai

 

biết mai hàm tiếu mỉm chi
ta còn quấn níu làm gì mãn khai?

cái ngày hàm tiếu đơn sai
làm sao sánh cái mãn khai đậm đà

trăm năm hàm tiếu vẫn là
nghìn năm hàm tiếu không nhòa nhạt hương

từng yêu hàm tiếu con đường
cũng từng chết bỏ phi thường mãn khai

mãn khai một mối tình dai
dẳng là hàm tiếu cành mai cuối chiều

 

nguyễn hàn chung

CÒN MỘT CHÚT GÌ ĐỂ NHỚ – Tập thơ Vũ Hữu Định

Một buổi trưa năm 1973 trong căn phòng bề bộn ở đường Nguyễn Trãi trong thành Ô Ma, tôi đang dọn dẹp thì có một người đi thẳng vào, dáng thấp, đậm, bận áo chemie dài tay, trán cao, cười rạng rỡ :
– Mày là Phạm thanh Chương? Tao Vũ hữu Định, nhà còn cơm không?
Vũ hữu Định ngồi xuống sàn nhà, cởi áo, ăn cơm tự nhiên:
– Mày có biết Hạc thành Hoa nói “làm người mà được ăn cơm thì có hạnh phúc gì bằng” chứ?
Câu nói ấy cứ ám ảnh tôi mãi suốt những năm tháng sau này. Buổi chiều tôi giao căn phòng cho Vũ hữu Định, anh tắm giặt, viết rồi nằm lăn ra ngủ. Chiều tối trở về tôi không thấy Vũ hữu Định đâu cả, anh đến rồi đi bất chợt như một cơn mưa giông ở Saigon.
Bẵng đi hơn tuần lễ, một buổi sáng Vũ hữu Định đến tìm tôi :
– Sáng nay mày làm gì? Gần đây có cái quán nào không?
– Chi vậy ?
– Đi uống với tao chai bia.
– Sao hôm nay chơi “sộp” vậy ?
– Tao vừa ghé VĂN nhận nhuận bút bài thơ của Hạc thành Hoa.
Tôi với Vũ hữu Định vào cái quán nhỏ trong khuôn viên thành Ô Ma, Vũ hữu Định nói mỗi đứa uống 1 chai thôi nhưng cứ vừa uống hết anh lại kêu thêm chai nữa… và cứ như vậy cho đến lúc nhuận bút bài thơ của Hạc thành Hoa bay theo những chiếc vỏ chai nằm lổn ngổn dưới góc bàn anh mới chịu ra về.
“Chiều khó thở ta ngồi bên quán xép.
Một miếng khô một xị rượu nồng
Nhai là nói với đời lận đận
Uống là nghe sầu cháy long đong”

Vũ hữu Định mất năm 1981, mười lăm năm sau, năm 1996 Trần từ Duy đứng ra quyên góp anh em trong giới văn nghệ, tập hợp bản thảo để in cuốn CÒN MỘT CHÚT GÌ ĐỂ NHỚ. Sách in trang nhã, do Nguyễn việt Hải (hoạ sĩ báo Tuổi trẻ một hoạ sĩ tài hoa trình bày thật ấn tượng. Việt Hải mất khi còn rất trẻ năm 2003 trên đường đi viếng tang lễ nhà thơ Thu Bồn). Tập thơ hình thành như một nén nhang tưởng nhớ anh. Sự đóng góp tuy nhỏ nhoi và khiêm tốn của đông đủ bạn bè đó cũng là cách biểu hiện sự trân trọng và quí mến của tình bằng hữu, những người đã một thời cùng sống hay quen biết Vũ hữu Định.
Anh mất để lại một lượng thơ khá lớn in rải rác trên các tạp chí và tản mác trong bạn bè. Và, anh cũng để lại trong lòng người yêu thơ nỗi nhớ tiếc khôn nguôi.
Hơn ba mươi năm sau, đọc lại thơ Vũ hữu Định bên cạnh những ngổn ngang và lo toan cuộc sống, vẫn thấy dòng thơ anh nhẹ nhàng, mộc mạc đến độ hồn nhiên như chính anh chẳng hề vướng bận điều gì :
” Con đường đất cỏ màu xanh bữa nọ
Cây bên đường màu lá lục hôm kia.
Con chim bỏ đi có bận quay về
Cất tiếng hát chào niềm vui của gió.
Anh ra đứng sau hè để ngó
Không thấy chim mà thấy tiếng kinh chiều”.
Anh thấy “tiếng kinh chiều” giữa khoảng không gian bát ngát, giữa cái vô cùng của thời gian và trong cái ngắn ngủi của kiếp người không biết anh có cảm nhận được điều gì? Nhưng chắc chắn một điều là lòng anh sẽ buồn man mác, vì :
“Vui trong lòng anh đã bước chân theo.
Em có nói là em không trở lại”
“Không trở lại” là một điều mất mát mà trong mất mát bao giờ cũng đi kèm theo đó một nỗi buồn.
Con đường đất, bãi cỏ, dòng sông, luỹ tre làng hình ảnh quen thuộc của tuổi thơ, những hình ảnh quen thuộc đến nỗi không còn rỏ nét mỗi khi nhớ lại, đó cũng là cách nói hết sức tự nhiên của một tâm hồn phóng khoáng ;
” Cây bên đường, cỏ bụi, hàng tre
Quen đến nỗi không nhớ gì tha thiết”
Đôi khi những hình ảnh quá quen thuộc không còn làm ta để ý đến những tiểu tiết, nhưng có một lúc nào đó ta chợt nhận ra :
” Con chim nhỏ có nằm trong vạt cỏ.
Bữa hôm nay anh mới thấy cỏ vàng”.
Vũ hữu Định đã sống một quãng đời lang bạt, anh đã từng “bụi đời” như một gã giang hồ chính hiệu .
” Ta có những ngày đi vất vưởng
Những buổi chiều ngồi chẳng đợi ai quen”.
Tài hoa thì mệnh yểu, không biết câu này có đúng với trường hợp Vũ hữu Định hay không? Anh làm thơ như một nhu cầu bức xúc, như hơi thở, như tiếng nói tự đáy lòng mình. Chân chất, mộc mạc nhưng đầy ấn tượng :
“Phố núi cao phố núi trời gần
Phố xá không xa nên phố tình thân.
Đi dăm phút đã về chốn cũ…”
Anh mất không phải …CÒN MỘT CHÚT GÌ ĐỂ NHỚ…mà còn biết bao điều để nhớ về anh :
” Xin cám ơn thành phố có em
Xin cám ơn một mái tóc mềm..”
Xin được cám ơn những bài thơ anh đã viết, những bài thơ bao giờ cũng thấp thoáng một nỗi ngậm ngùi như cuộc đời ngắn ngủi của anh.

Saigon, mùa Giáng sinh
Phạm thanh Chương

Cá linh non

 

Tháng mười gió chướng về se se lạnh bờ vai,lách luồn vào ký ức khơi dậy trong tôi những hoài niệm đẹp tuổi thơ.Nước lũ từ thượng nguồn sông Mekong mang theo món quà phù sa ban tặng những cánh đồng lúa,vườn cây ăn trái. Đặc biệt là những con cá linh non óng ánh vãy bạc. Con cá linh đã từ lâu sống gần gũi với người dân miền Tây trong canh tác nông nghiệp và ẩm thực. Ông bà ta thời trai trẻ thường ca ví đối đáp nhau,có câu đố tả hình dáng con cá linh như ” ốm yếu hình dong là con cá nhái. Thiệt như lời vái là con cá linh” hay câu ca dao ” Nước không chưn sao kêu nước đứng. Con cá không thờ sao gọi cá linh”.Trên đồng ruộng lũ tràn vào nước mênh mông,những bụi lúa ăn phù sa hớn hở tươi vui. Những cây điển cũng vui không kém,các cô mỉm cười môi nở những chùm hoa vàng nhuộm sắc nắng thu ghẹo trêu mấy chú bướm si tình lạc cánh. Dưới mặt nước tép trấu thi nhau vũ điệu đón mùa nước lũ và chào đón các vị khách cá linh tham quan quê mình.
Nhớ lại những năm tháng tuổi thơ còn ở Ô môn khi lũ về,tuy có lo lắng nước dâng cao,dòng chảy mạnh,nguy hiểm cho lũ trẻ chúng tôi khi cắp sách đến trường phải vượt qua bao chiếc cầu khỉ lắt lẻo,gập ghềnh. Nhưng bà con quê tôi hầu như đã quen,năm nào lũ không về,ngồi chống cằm,buồn trông đợi,lo lắng cho cái ăn của lúa và cây trái từ những hạt phù sa. Chưa nói đến việc thèm món cá linh non nấu canh chua bông điên điển và kho mía.Tuy cá linh chế biến nhiều món ăn ngon như: làm mắm,kho mắm,lăn bột chiên giòn,bầm nhuyển làm chả viên dùng nấu canh hay kho lạt,chiên… Ngoài chế biến những món ăn ngon ấy,cá linh còn được ủ làm nước mắm đồng rất ngọt,thơm ngon. Nhớ lời ngoại kể,hồi thời pháp thuộc,xăng dầu hiếm hoi,giá cao,người dân ngoài việc thắp sáng bằng đèn đốt việc nấu nhựa từ trái mù u còn nấu cá linh để lấy mỡ thắp đèn. Đó là thời của ngoại tôi,cá linh còn nhiều,chứ bây giờ đừng mơ được làm người nghèo mà thắp đèn bằng mỡ cá linh. Món ăn cá linh không đơn điệu với ẩm thực người dân quê mà nó trở thành món ngon của người dân thành phố. Cá đánh bắt không đủ cung cấp cho thị trường có đâu mà nấu lấy mỡ thắp đèn.Cái chính đáng lo khi lũ không về là những người dân chuyên sống bằng nghề “hạ bạc” đóng đáy,cào,chài lưới hay đặt dớn.
Thời điểm này nơi bến sông trước cửa nhà tôi,người, ghe,xuồng hội họp đông vui như lễ hội. Mà cũng có thể gọi cao sang là lễ hội lắm chứ,nhìn những gương mặt tươi vui rạng rỡ của họ,nơi ánh mắt sáng lên niềm tự tinh một mùa đánh bắt cá linh bội thu.Từng chiếc xuồng,ghe lần lượt rời bến,đa phần là những dân chài,một số ít ghe lớn có trang bị máy đuôi tôm hay còn gọi là Koler, trên ghe có lắp đặt bộ phận lưới kéo hay còn gọi là ghe cào.Họ kéo như vậy thì thu hoạch nhiều cá hơn. Chưa kể những giàn lưới đóng đáy theo những khúc sông.Tất nhiên những ngư chài nghèo buồn là cái chắc. Nhưng mưu sinh mà!Sông nước bao la,chim trời cá nước, trời biếu cho không chứ của riêng ai mà buồn mà giận.”Kình ngư vui thú kình ngư,tép tôm, tôm tép vui bề tép tôm”.Đứng trên bờ sông nhìn họ ra khơi lòng tôi cũng náo nức muốn được lên ghe ra sông như bọn thằng Út con mẹo được cha nó cho đi theo phụ giúp.Nhưng biết sao giờ, chỉ biết cầu mong cho dân xóm tôi chài được nhiều cá. Đón mua cho bằng được mẻ cá đầu tiên. Mẹ nói cá linh non,thịt mềm, thơm ngọt.Bởi mẹ không cho ra ruộng dùng chiếc rổ tre xúc hay cái gió lưới nhỏ mà lũ trẻ hay dùng. Cha thằng Út lấy tre chẻ đóng một cái chữ thập,phía trên có cây đòn buộc vào sợi dây,phía dưới 4 đầu thanh tre có 4 sợi dây buộc vào 4 gốc tấm lưới. Chỉ cần đặt gió xuống sâu khỏi mặt nước ruộng,khi thấy bầy cá linh bơi vào phạm vi lưới tức thì nhấc đòn lên,bầy cá bị dính nằm trong lưới vùng vẫy sáng lấp lánh. Cũng phải thôi mẹ lo sợ tôi ham mê phơi nắng dầm mưa bị bệnh không đi học được. Tôi vâng lời mẹ nhưng trong lòng rất ấm ức,rất dễ hiểu vì đó là thú vui chơi của bọn trẻ chúng tôi khi mùa lũ về,tha hồ bắt cá về chơi nhà chòi,tự nấu thưởng thức ngoài vườn.Bù đắp sự chờ đợi ấy bằng niềm vui chào đón những chiếc ghe,xuồng trở về bến. Khoảng xế trưa thì đoàn ghe,xuồng từ từ cặp bến,người lớn,trẻ con reo hò túm tụm nơi bến sông. Trong số đó có người là mối bạn hàng bán cá ngoài chợ, và người thân,vợ, con của chủ ghe,có người là hàng xóm đợi mua cá. Tôi cũng là một trong số người chờ mua,bác Sáu giở tấm be xuồng lên,cầm chiếc rổ dạo dạo dưới lớp nước rồi giơ lên trút vào chiếc rổ tre của tôi với những chú cá linh còn sống oằn mình lấp lánh ánh bạc
Là chòm xóm với nhau nên bác chỉ tính nhẩm,phỏng chừng nói giá tiền chứ không cân như bán cho bạn hàng ngoài chợ vào mua.
Hí hửng cầm chiếc rổ cá chạy riết lên nhà giao cho mẹ. Trong khi mẹ ngồi cắt vây,đuôi rồi dùng hai ngón tay móc nơi yết hầu cá,moi lấy phần ruột,mật bỏ. Sau đó rữa sạch để cá trong rổ cho ráo nước.Tôi nhanh nhẹn lấy cái rổ tre thảy lên chiếc xuồng con,dùng cây sào tre chống xuồng ra ruộng,dọc hai bên mé,thấy nơi nào có cây điên điển thì chống xuồng vào cặp gần phía dưới gốc. Đứng dưới xuồng với tay lên kéo nhánh cây xuống,từ từ lặt hái những đóa hoa vàng. Khi rổ đã đầy thì chống xuồng trở vào. Không biết thời ông bà ngoại tôi thì sao mà người ta thường nói ” Muốn ăn bông súng cá linh. Thì về Đồng Tháp ăn cho đã thèm”. Chứ thời của tuổi thơ tôi thì Ô môn cũng có cá linh và bông súng để mà thưởng thức,đâu có cần chi qua Đồng Tháp cho xa.Ra sau vườn nhảy ùm xuống ao,quơ một mớ cọng bông súng,cù nèo,rau nhút và chặt một cây mía. Rồi không quên leo thót lên cây dừa xiêm thân thấp vặn cuốn hái một hay hai trái dừa. Ì ạch đem các món chiến lợi phẩm ấy vào nhà. Mẹ kêu chặt mía róc bỏ lớp vỏ cứng,chặt mía khoảng từ 5 đến 7 cm.Chẻ lóng mía theo chiều dọc thành 4 hoặc 6 thanh. Xong vạt mặt trái dừa trút nước vào cái tô lớn. Cá đã ráo nước,cho vào nồi nhôm nhỏ,đập vài tép tỏi,ớt hiểm cho vào ướp cùng chút nước màu,đường, nước mắm,chút dầu ăn hay mỡ nước. Xếp mía lót dưới đáy nồi,cho cá lên phần trên của mía. Đặt nồi lên lò lửa liu riu,khi nước mắm sôi bọt tràn phủ mình cá,cho nửa tô nước dừa vào. Khi nước dừa sắp cạn cho nửa tô nước dừa còn lại vào tiếp tục kho lửa nhỏ. Vì thời gian cần cho cá thắm hương thơm và vị ngọt của mía nên phải kho từ hai đến năm tiếng thì nhấc nồi xuống cho vào chút mỡ nước. Cho nên món này dành cho bữa cơm chiều. Trong thời gian kho mẹ có thời gian lặt rửa rau các thứ và bông điên điển. Món cá kho mía có thể chấm với rau cù nèo,bông súng,rau nhút hay lục bình hoặc bắp chuối bào hay cây chuối xiêm con bào mỏng trộn với rau sà lách xắt nhỏ,rau thơm các loại.
Buổi chiều thật vui ấm áp,gia đình tôi hội tụ quanh chiếc bàn gỗ tròn đặt ở căn phòng nhà sau. Gió từ sau hè thổi vào đem theo mùi hương thơm của lục bình,rơm,rạ. Trên bàn thì hương thơm từ dĩa cá kho,tô canh chua bốc lên bên cùng những lời tâng bốc của chúng tôi nịnh mẹ khen ngon. Mà quả thật ngon thiệt,khi gắp đũa rau chấm vào nước cá kho vị thơm giòn của rau hòa vị ngọt mằn mặn của nước mắm nấu chung với nước dừa,nước mía cùng vị ngọt béo của thịt cá linh. Vị nhân nhẫn của bông điên điển hòa cùng vị chua chua ngòn ngọt của nước canh trộn lẫn tiếng rột rột của mấy đứa em tôi húp canh và tiếng hít hà cay từ vị ớt.
Giờ ra thành phố sống đã lâu,tuổi đời lớn.Tôi ít được ăn lại hai món ngon này. Mỗi khi nghe lũ về thì từ vùng ký ức tôi nhắc nhở,chợt nghe thèm bữa cơm thời thơ ấu ở quê ngoại Ô môn với món cá linh kho mía và canh chua bông điên điển ngon tuyệt trần.

HUỲNH DUY LỘC

VỚI CHÚT XUÂN CÒN SÓT

 

gió ru hời bốn phía
ngoài kia xuân rải sỏi ô quan
anh bật ngày xưa ngắm nghía
chút xuân còn sót lại…ngỡ ngàng !

nắng quây quần lợp mái
những chiếc lá nhảy lò cò dưới sân
anh vén tấm màn tuổi dại
chút xuân còn sót lại…bàng hoàng !

mưa khơi dòng sông nhỏ
con thuyền giấy chở ước mơ đầu đời
anh vẫn nhìn theo từ đó
chút xuân còn sót lại…riêng thôi !

trời ngập chiều mây trắng
cánh diều dài sợi chỉ bay.bay
cỏ dưới lưng ướt sũng
chút xuân còn sót lại…thở dài !

anh gánh mùa ký vãn
lưu lạc qua từng mùa vụ không tên
thảo nguyên xanh.sa mạc hạn
chút xuân còn sót lại…đáp đền !.

Lê Hát Sơn