Mùa Ðông Prague

truongvu

Tặng những nhà văn Việt Nam

DSC_6929

Vaclav Havel (trái, đang phát biểu) và Alexander Dubcek
Prague (1989) • Source: The Guardian.com

Lời Mở:
Đầu tháng 7-2016, trong một chuyến đi chơi Âu châu, tôi đến thăm thủ đô Prague của Cộng Hòa Tiệp (The Czech Republic). Khi đến công trường Wenceslas, tôi nhìn lên bao lơn của tòa cao ốc Melantrich. Nơi đó, một ngày mùa đông 1989, Alexander Dubček và Václav Havel đứng cạnh nhau, ngỏ lời với gần một triệu người dân Prague đang tụ họp ở công trường này, khởi động một cuộc cách mạng làm sụp đổ hoàn toàn chế độ Cộng sản và xây dựng một xã hội dân chủ thực sự cho Tiệp Khắc. Một cuộc cách mạng bắt nguồn từ những vận động của giới trí thức và văn nghệ sĩ, khởi đi từ đầu thập niên 1955, không ngừng thách thức với mọi đàn áp của giới cầm quyền. Những biến động ở công trường Wenceslas và trên toàn đất nước Tiệp Khắc đã gợi hứng cho tôi viết một tiếu luận ngắn, nhan đề “Mùa Đông Prague”, đăng trên tạp chí Văn Học ở California. Lúc đó, những vận động được biểu dương ở công trường Wenceslas chưa hoàn toàn thành công để trở thành cuộc “Cách Mạng Nhung” (The Velvet Revolution) của Tiệp Khắc. Lúc đó, kịch tác gia Václav Havel chưa trở thành Tổng thống đầu tiên của một nước Tiệp Khắc dân chủ sau thế chiến.
Gần hai mươi bảy năm đã trôi qua. Đã có biết bao đổi thay trên toàn cầu, bao đổi thay trên đất nước Tiệp Khắc. Có cả những đổi thay mà thoạt đầu người dân Tiệp Khắc không muốn có, như sự kiện đất nước bị tách làm đôi, thành hai nước độc lập, Cộng hòa Tiệp và Cộng hòa Slovakia. Ngày nay, cả hai đều là thành viên của Liên hiệp Âu châu (EU) và của khối Liên minh Quân sự Bắc Đại tây dương (NATO). Tuy tách làm đôi, liên hệ giữa họ luôn tốt đẹp. Ngày nay, Alexander Dubček và Václav Havel đều đã ra người thiên cổ.
Trong những ngày ở Tiệp, tôi cảm nhận được một sức sống mạnh và trẻ trung trên đất nước này. Người dân có mức sống cao, trình độ văn hóa cao, tôn trọng một cách tự nhiên những giá trị căn bản của con người như tự do và bình đẳng. Hầu hết những người dân bình thường tôi gặp đều nói tiếng Anh khá lưu loát, và dầu đất nước này vẫn có một sắc thái riêng của họ, tôi không có cảm giác lạc lõng như khi đến thăm Moscow hay Bắc Kinh. Và, ở Tiệp ngày nay, nếu không có chút hiểu biết về lịch sử, tôi sẽ không thể nào tin rằng dân tộc đó đã từng hơn bốn mươi năm sống cô lập sau bức màn sắt, chịu áp đặt một chủ nghĩa xã hội rất thiếu nhân bản, chịu sự kiểm soát chặt chẽ về chính trị và quân sự của Liên Xô, và chỉ mới tách rời khỏi những ảnh hưởng đó chưa tới 27 năm.
Trong mấy ngày ở Tiệp, tôi có đến thăm khu thương mãi Sapa của cộng đồng người Việt ở đây. Khu thương mãi khá lớn. Buôn bán nhộn nhịp. Nhà cửa, hàng quán, và cách buôn bán ở đây làm gợi nhớ đến một số khu buôn bán ở Việt Nam ngày nào. Đang ở một đất nước bên trời Tây, nói toàn tiếng Tiệp hay tiếng Anh, vào đây như vào một thế giới khác, thấy như trở về đất nước cũ. Rất xúc động. Đặc biệt, khi trò chuyện với một số đồng bào, được biết đa số sang Tiệp theo các chương trình xuất khẩu lao động, sống khá vất vả, thu nhập rất thấp so với thu nhập của người Tiệp trung bình. Tuy vậy, số người Việt tìm cách sang làm lao động vẫn tiếp tục. Điều đáng mừng, theo phóng sự của một số báo chí Tiệp, trẻ em Việt Nam đa số học giỏi và hội nhập vào xã hội Tiệp khá dễ dàng.
Nhìn lại một số đổi thay chính trị lớn, tôi nghiệm ra một điều: nơi nào có sự tham dự tích cực của giới trí thức và văn nghệ sĩ yêu nước, yêu sự sống, tôn trọng sự khác biệt, và can đảm đứng lên tranh đấu quyết liệt cho điều mình tin, cho những quyền căn bản của con người, thì ở nơi đó, sự đổi thay mang lại ít bạo lực nhất, những quyền căn bản được phục hồi và xã hội phát triển nhanh nhất. Hãy nhìn, như một phản đề, những gì đã xảy ra trong cuộc cải cách ruộng đất ở Việt Nam vào thập niên 50, trong cuộc “cách mạng văn hóa” ở Trung Hoa vào thập niên 60, và sự thống nhất bằng quân sự và áp đặt chủ nghĩa ở Việt Nam vào 1975. Và, như chính đề, hãy nhìn những gì đã xảy ra trong những đổi thay lớn ở Đông Âu, và đặc biệt, ở Tiệp Khắc, vào 1989.
Bài viết này được đăng lại vì tác giả tin những điều trình bày trong bài viết chưa bị thời gian hai mươi sáu năm đào thải, ít ra, với trường hợp Việt Nam. Tác giả giữ nguyên lời đề tặng những nhà văn Việt Nam, như trong bản gốc.

Maryland, tháng 8 năm 2016
Trương Vũ
——

Tháng 8- ngày con thỏ chết.

tonnuthunga

Tháng tám kéo dài như bất tận,
Ngày qua, ngày tới quá mơ hồ!
Ngọn lá, cành cây không chuyển động,
Chân buồn theo lối nắng ngây ngô.

Tháng tám ngồi nhìn con thỏ chết,
Lòng buồn ray rứt mãi không nguôi
Tháng tám đàn chim không thấy tới,
Chiều hoang chầm chậm phủ quanh đời.

Tháng tám trời hồng, cây bén lửa
Núi đồi khói tím trở thành mây
Có phải quanh ta là địa ngục?
U minh từ chốn thế gian này.

Tháng tám mùa hè trôi uể oải,
Đêm nằm chong mắt ngó trời cao.
Mưa sao băng rơi ngoài vũ trụ
Thầm xin cho mấy trận mưa rào.

Tháng tám, đêm có mưa sao băng.
Buồn ơi, sao cứ giữ trong lòng?

Tôn Nữ Thu Nga
San Dimas

Thơ Tôi

trantrungdao

Xin đừng tiếc, thơ tôi màu tang tóc
Bởi cuộc đời nắng sớm với chiều mưa
Mười bốn tuổi tôi làm thơ nước mắt
Khóc quê hương trăn trở đã bao mùa

Thôi em nhé cũng xin đừng thương hại
Thơ thẩn gì, chỉ trách móc nhau thôi
Con nước cũ chẳng bao giờ trở lại
Để nghìn năm nghe dốc đá ngậm ngùi

Em như cánh sen hồng đang hé nở
Giữa ao bùn vẩn đục của đời tôi
Trong gần gũi đã có nghìn cách trở
Nợ gì nhau sao nắng bám lưng đồi

Xin đừng tiếc, thơ tôi buồn như thế
Chuyện đau lòng chẳng thể viết cho vui
Tôi chỉ vẽ cảnh đời tôi dâu bể
Giấu niềm đau trong chua chát tiếng cười

Xin đừng tiếc, thơ tôi là sương đọng
Sẽ tan dần khi đêm tối ra đi
Trong xa cách có nghe lời ai vọng
Vì sao băng chưa kịp ước mơ gì

Xin đừng tiếc, thơ tôi là kỷ vật
Của một thời thơ ấu rất đơn côi
Tôi là kẻ độc hành không quán trọ
Đời tục du vai áo bạc quen rồi

Xin đừng tiếc, thơ tôi lời sỏi đá
Một linh hồn khép kín tự trăm năm
Đừng cúi nhặt sẽ đau lòng biển cả
Đừng lăn đi mất dấu chỗ tôi nằm

Tôi làm thơ chẳng mong thành thi sĩ
Ngủ với trăng hay bạn với sông hồ
Thơ tôi đấy trái tim đầy máu rỉ
Sẽ muôn đời ở lại với hư vô.

Trần Trung Đạo

Đáo hạn.

trachantranhuuhoi

Ngồi chờ đã hai giờ đồng hồ mà vẫn chưa thấy Hằng, Thụ nhấp nhổm nhìn ra cửa. Quán không có ai, bà chủ sau khi bưng ly cà phê cho anh rồi biến đi đâu mất làm anh muốn xin thêm chút đường cũng đành chịu!
Mấy năm rồi, từ ngày lập gia đình, anh trở thành khách hàng thường xuyên của Ngân Hàng. Lấy nhau, cả anh lẫn chị đều tay trắng. Anh làm đủ việc, từ đi rừng đốn gỗ lậu đến buôn gỗ vào Sài gòn…Gom được vài chục triệu, chưa kịp mừng thì chuyến kế tiếp bị bắt! Vay nóng nhiều chứ Ngân Hàng chỉ vài chục triệu không đủ làm vốn, được cái lãi thấp, có kỳ hạn trả nợ chứ không đòi bất thường như các chủ nợ chuyên cho vay nóng. Anh nhớ có lần nghe tin anh bị bắt gỗ trong Phan Thiết, bốn năm bà chủ nợ đến liên tục làm anh phải trốn lên Đà lạt cả nửa tháng. Ở nhà, chị Thu vợ anh khốn khổ với họ…
Từ ngày làm được cái sổ đỏ, dành dụm xây cái nhà, xem như có tài sản thế chấp, anh bắt đầu trở thành con nợ của ngân hàng, làm ăn theo hướng ổn định hơn là bán đồ lưu niêm, phim chụp hình, băng đĩa nhạc…kiêm luôn nghề thu băng.
Vừa lảm trả nợ xây nhà, vừa trang trải cho sinh hoạt của hai vợ chồng và hai đứa con, món nợ ngân hàng cứ tăng dần tử ban đầu ba mươi triệu, ba năm nay đã lên trăm triệu chẵn! Cái nhà anh ở mặt tiền đường Quốc Lộ nên cũng có giá, cộng với phí phần trăm chung chi cho cán bộ tín dụng qua mấy bà cò (*), anh mới vay được tới trăm triệu. Cứ đến hạn, cố làm sao chạy cho ra tiền lãi, còn tiền gốc thì đã có các cò tạm ứng, trả xong vay lại ngay, con nợ chỉ cần ký nhận còn cò nhận tiền…
Tiền phí dịch vụ, tức tiền lãi ngày trong thời gian chờ làm thủ tục trả, vay, có người lấy cao, có kẻ tình cảm thì lấy thấp. Cò không chỉ ứng tiền gốc, họ phải hỏi trước cán bộ tin dụng có cho vay lại không mới ứng tiền…Đã có những trường hợp dở khóc dở cười là sau khi trả xong cả gốc lẩn lãi, không vay lại được. Đòi gì được khách hàng nghèo rớt mồng tơi! Bởi vậy, cò phải là tay bản lĩnh trong quan hệ với ngân hàng và cả khách hàng…
Hằng là cò cứng cựa nhất trong số cò ở vùng này.
Quan hệ ngân hàng tốt và nhiều vốn. Hằng đẹp, mượt mà, lại góa chồng. Với cái tuổi ba chín, Hằng xem trẻ như mới chừng hai tám, ba mươi, nếu không bị cái tiếng sát phu thì chắc chị cũng đã có người tử tế chắp nối duyên tình từ lâu.
Anh chồng chị là một cán bộ huyện, đám cưới đúng ba tháng thì anh ta bị bênh uốn ván chết chỉ vì đạp cái đinh sét khi vào chăm đàn dê trong chuồng. Cũng may là đã kịp để lại cho chị thằng con trai trong bụng…Đâu khoảng chừng hai năm sau ngày chồng chết, một anh cán bộ Kiểm Lâm thương chị như điếu dổ, họ dự định làm đám cưới thì anh ta bị tai nạn chết khi vừa phóng xe ra từ cây xăng thường ngày vẫn đổ! Từ đó đến nay, nhiều người đàn ông nhìn chị khát khao…nhưng chị vẫn cô đơn.
oOo

Ba năm nay Thụ trở thành khách hàng của Hằng, lần đáo hạn này anh tính nhờ Hằng giúp cho anh tăng tiền vay lên trăm rưỡi triệu, một trăm trả lại cho Hằng còn dư năm mươi triệu mua cái máy photocopy, làm thêm dịch vụ này.
Anh vừa định gọi cho Hằng thì thấy cô ấy đến:
– Anh Thụ chờ lâu phải không?
– Ừ, kẹt gì thế?
– Anh có biết anh Kiên bên xưởng mộc không? Em vừa trả xong lãi và gốc hai trăm triệu, vay trung hạn, làm hồ sơ lại rồi nhưng vợ chồng lình xình, hôm qua đánh nhau ầm ỉ, đòi ly dị…Chuyện tới tai cán bộ tín dụng làm Ngân hàng không cho vay lại…
– Rồi sao, em uống gì anh gọi?
– Phải chờ vài hôm, êm êm rồi vợ chồng anh Kiên mời cơm, diển tuồng kha khá, nó thấy cơ sở làm ăn…Có em nói vào là xong thôi. Em uống rồi!
Hằng vòng hai tay ôm cái túi trong lòng, cười với Thụ rồi quay người nhìn quanh quán, những bụi hoa Hoàng yến vàng rực và nhiều loại hoa trồng chậu rất đẹp…nhưng từ khi vào đến giờ, Thụ chưa hề đảo mắt bởi trong anh đang cộm lên nỗi lo âu thường trực cứ mỗi lần đáo hạn. Lần này, vay thêm năm mươi triệu anh lại càng lo hơn.
Năm ngoái, khi vay lại một trăm triệu, Hằng cho anh biết là càn bộ tín dụng nói nếu tính theo sổ đỏ, ngôi nhà mặt tiền của anh còn rất ít đất sau khi trừ đường dây điện cao thế phía sau và mốc lộ giới phía trước. Tính theo giá quy định của tài chính thì lô đất không đến sáu mươi triệu, mặc dù giá thị trường có thể lên đến vài trăm! Anh nói với Hằng cứ chung chi và giúp anh vay lại mức ấy…Nhưng rồi không tốn kém gì, tiền lãi vay ngày và đơn trương cho dịch vụ Hằng chỉ lấy anh hai trăm ngàn. Anh ngạc nhiên nhìn Hằng, cô ấy nói:
– Em chỉ lấy anh phí bên Tài nguyên môi trường thôi.
Năm nào cũng vay và năm nào cũng tốn phí cho Tài nguyên dù đất và nhà ở không hề thay đổi, tiền thì không nói nhưng cái công chờ đợi…Nhiều lần hồi chưa có Hằng, anh chờ có khi cả hai ngày mới đóng được con dấu. Trong phòng chờ của tài nguyên, lúc nào cũng đông, chỉ toàn những người nghèo, vay đôi ba chục, có người chỉ vay năm bảy triệu sửa cái chuồng bò…cũng phải đợi…Những khuôn mặt lo âu ngao ngán nhìn nhau… Nếu không hoàn thành hồ sơ thì phải qua ngày khác, kéo theo chậm trễ bên Ngân hàng và tăng lãi vay vốn nóng tính từng ngày của việc đáo hạn.
Cò giải quyết khâu này rất nhanh bằng cách riêng của họ!
Bây giờ vay thêm năm mươi triệu không biết Hằng có giúp anh được không! Thụ tự nhiên hồi hộp như đứng trước cán bộ ngân hàng:
– Anh tính lần này cô giúp vay cho anh trăm rưởi, được không Hằng?
– Làm gì vay nhiều vậy anh Thụ?
– Anh làm thêm dịch vụ Photocopy.
Hằng nhìn Thụ, nghĩ tới Thu vợ Thụ, hơn năm nay bỗng bị bệnh tiểu đường và suy tĩnh mạch, vào ra Sài gòn liên tục.
-Trên một trăm là chuyển qua vay trung hạn, trả dần trong hai năm, nhưng phải có cơ sở làn ăn hay kinh doanh…Cái sổ đỏ lô đất của anh mà nó cho vay một trăm là nể nang em lắm rồi…
– Cô cứ chi thêm phí đi Hằng, anh cần làm thêm mới có dư ra chút ít chứ như hiên tại thì chỉ đắp đổi…
Hằng có vẻ suy tính…
– Anh đưa hợp đồng vay cũ cho em, gặp thằng cán bộ này mới đổi về…hơi khó. Có gì em gọi lại.
Thụ tin vào khả năng của Hằng nhưng vẫn lo âu. Hằng bỏ xấp hợp đồng vào túi xách, nói:
– Có thể phải lo cái giấy phép kinh doanh.

oOo
Gom hết tiền trong nhà mới đủ một triệu rưỡi. Thụ nhìn Thu đang lo lắng bồn chồn, anh nói cho vợ yên tâm:
– Có cái giấy phép kinh doanh thì tốn thêm thuế hàng quý, hàng năm, nhưng mình làm ăn dễ hơn em ạ. Em uống thuốc chưa? mệt thì gởi ai mua đại cái gì ăn cũng được, khỏi đi chợ.
Ba ngày nay Thụ bần thần, không biết Hằng có lo được không thì sáng nay nghe cô ấy gọi, bảo đang chờ anh trên huyện, mang theo một triệu rưởi đóng tiền làm giấy phép kinh doanh cho phòng Thông Tin – Văn Hóa.
Từ phòng TT-VH đi ra, Thụ cảm phục tài giao tế của Hằng. thêm tin tưởng vào lần vay này. Anh nhìn Hằng nói rất thật tình:
– Cô Hằng nói sao mà hay vậy?
– Tiền nói chứ em có nói đâu, anh xem cái phiếu thu chỉ hai trăm bốn chục ngàn mà mình đóng tới một triệu tư lận!
– Anh tính vay xong cũng phải chạy cái giấy phép kinh doanh, giờ cô làm dùm thế này anh đỡ khổ. Cho tiền cũng chưa chắc làm dễ thế này! Xe cô để ở đâu?
– Thằng con chở em lên, giờ nó đi Phan Rang rồi. Anh cho em qua ngân hàng, nếu sáng nay duyệt được thì nhận tiền luôn.
Thụ nhìn Hằng với đôi mắt biết ơn. Khi cán bộ tín dụng nhận hồ sơ rồi trình duyệt, thì xem như đã được vay. Không cưỡng được nỗi mừng, anh nắm lấy bàn tay Hằng bóp nhẹ, nhà đễ xe vắng vẽ, Hằng dựa người vào Thụ, anh ngây ngây trong mùi nước hoa và hơi ấm của cơ thể Hằng…
Đẩy chiếc xe quay đầu, Thụ nói như cố xua đi cảm xúc vừa bùng lên trong anh:
– Cái thằng Hào leo thật nhanh, năm năm trước, hồi nó mới ra trường thực tập, ngơ ngơ ngáo ngáo…vậy mà giờ đã là phó giám đốc ngồi duyệt đơn vay!

oOo
Nhận tiền xong thì cũng vừa lúc Ngân hàng nghỉ việc.
Những lần đáo hạn trước, anh chỉ ký nhận nợ ở hợp đồng, mấy tờ phiếu chi nơi quầy thu chi tiền vay rồi chào Hằng, có khi cô ấy ghé nhà lấy phí dịch vụ, có khi anh mang xuống nhà, bao giờ cũng rẻ hơn những cò khác.
Lần này số tiền nhận ra có phần dư năm mươi triệu, Hằng để Thụ tự nhận. Cô nhân viên gầy nhom ở quầy chi tiền chuổi ra cho anh một cái túi nilon có in chử “Ngân Hàng Nông Nghiệp”, Thụ bỏ tiền vào túi trong khi các nhân viên cũng lục tục chuẩn bị ra về.
Anh tìm Hằng định chào và cảm ơn như mọi khi nhưng chợt nhớ Hằng không có xe. Lác đác vài con nợ nhếch nhác và cò trong sân, Thụ thấy Hằng nổi bật trong cách ăn mặc gọn gàng sang trọng, nước da trắng mịn với nụ cười, đang đứng chờ bên quầy rút tiền ATM ngay cổng ra vào.
– Có rắc rồi gì không anh Thụ?
Hằng hỏi khi đã ngồi sau xe, Thụ nói đùa rồi quay lại đưa túi tiền cho Hằng:
– Không, kiểm tiền xong cô thu ngân còn cười duyên khi cho anh cái túi nữa!
Hằng cũng vui vẽ:
– Vay được tiền rồi thì thấy ai cũng dễ thương phải không?
Thụ cười thành tiếng, tâm trạng anh không còn nặng nề như những ngày trước.
oOo
Về đến nhà Hằng, ngôi nhà rộng và vắng vẻ, Hằng bật chiếc quạt trần ở phòng khách, vào trong rồi trở ra với cái túi có năm mươi triệu và ly nước.
Đặt ly nước và cái túi lên bàn, nhìn anh cười như chia niềm vui, hỏi:
– Anh dự tính khi nào mua máy Photocopy?
– Cũng phải sắp xếp nhiều thứ, Hằng cho anh gởi mấy cái phí dịch vụ, bao nhiêu vậy Hằng?
Hằng cười cười lắc đầu:
– Sang năm đáo hạn em lấy luôn.
– Sao được!
– Được, em chỉ bỏ chút công nói giúp anh thôi mà!
Thụ không tin là Hằng không chi phí cho nhân viên tín dụng, ít nhất cũng một triệu cho trường hợp của anh! Hằng lại đứng dậy đi vào trong, trở ra với cái túi nilon màu đỏ:
– Bánh người ta cho, anh mang về cho mấy nhóc.
Thụ nhìn Hằng, bất giác anh nắm tay Hằng rồi ghì mạnh…Hằng thở dồn dập đón nhận đôi môi tham lam của Thụ! Đôi tay Hằng cũng ghì lấy tay Thụ nhưng rồi buông ra trong tiếng nói ngắt quảng:
– Đừng anh… lỡ có chuyện gì…thì tội cho Thu và…mấy đứa nhỏ!
Thụ như không nghe thấy gì…Anh siết mạnh tấm thân run rẩy trong vòng tay, nhẹ đẩy Hằng nằm xuống salon…Hằng đưa hai bàn tay yếu ớt đẩy nhẹ ngực Thụ thì thào:
– Con em sắp về…Em có đi coi nhiều thầy, ai cũng nói cái số ấy là có thật…
Thụ sựng người tỉnh lại, cơn rạo rực đang hừng hực chợt lắng xuống, anh đỡ Hằng ngồi dậy:
– Anh…anh… xin lỗi!
Hằng đưa tay vuốt tóc rồi quay qua nắm tay Thụ bóp nhè nhẹ:
– Quản lý thị trường họ cũng quản lý cả Photocopy, có rắc rồi gì thì gọi cho em…

Sài gòn, tháng 8 năm 2016.
Trạch An-Trần Hữu Hội.

(*) Cò: Những người làm dịch vụ ứng tiền ra trả cho Ngân hàng khi đến hạn, lấy liền lãi, tiền công làm hồ sơ…

CHẾT

tonnuthudung

Con chim chết bởi rừng khô
Con cá chết bởi biển hồ suối sông
Con người chết bởi hồn câm
Đại dương chết bởi rêu rong đầu nguồn
Ngòi bút chết bởi bẻ cong
Nhà thơ chết bởi nhẫn tâm cúi đầu
Lịch sử chết bởi loài sâu
Ngàn năm văn hiến?
Ở đâu?
Rùng mình!…
Hạt mưa rơi ướt tội tình
Hạt mưa nhiễm độc
nhục hình
thiên thu…

Tôn Nữ Thu Dung

Nhờ Em Lần Cuối

trantuan

Đêm qua thả mộng lên trời
Đụng ngôi sao lạc
lại rơi xuống trần!
Đời ta,
…thả đã bao lần
Là rơi cũng bấy…
Dập bầm tả tơi!

Từ nay, thề có đất trời
Sẽ không thả nữa cho đời bình yên.

À, mai ta lỡ ngủ quên
Nhờ em – lần cuối – gọi tên ta giùm!

Trần Tuấn

NHỚ MÁ TÔI XƯA

lephuhai

Từ Tuy Hòa đi ra phía bắc khoảng 30 cây số là đến thị trấn Chí Thạnh. Qua khỏi Chí Thạnh chút xíu rẻ phải dọc theo sông Phường Lụa là đường đi về nhà thờ cổ Mằng Lăng. Đường đi đến nhà thờ ngang qua một con đập có tên Tam Giang. Đứng đó nhìn qua phía bên kia bờ thấy có một nhà nguyện be bé. Đó là xứ đạo Gò Chung, là quê quán bên ngoại của má tôi.
Ngày đó bà ngoại tôi về đây sinh má tôi, bà mất trong lần sinh nở này, má tôi sống với cậu dì và họ hàng bên ngoại. Khoảng 5 năm sau, có người đàn ông cởi ngựa về tìm dẫn má tôi đi. Nghe nói đó là cha, má tôi xúc động và đi theo ngay không cần suy nghĩ. Sau này má nói có lẽ do sự thiêng liêng của huyết thống.
Mười chin tuổi má tôi lấy chồng. Lúc đó Phú Yên là vùng kháng chiến do Việt Minh kiểm soát kể từ sau cách mạng tháng tám năm 1945. Khoảng đầu năm 1951, Pháp thả bom Cầu Máng, không có nước tưới tiêu nên cả vùng đồng bằng bị mất mùa và lâm vào cảnh thiếu đói. Ba má tôi ở miền núi nhưng vẫn phải ăn bắp thay cơm suốt nhiều tháng liền. Đến năm 1953, ba má tôi trốn ra khỏi vùng Việt Minh kiểm soát và bắt đầu cuộc đời lưu lạc…

xxx

Miền Nam Việt Nam trải qua hết thời đệ nhất lại đến thời đệ nhị cộng hòa. Và cứ mỗi một thời gian qua đi, chúng tôi càng lớn thì thấy gia đình mình càng nghèo đi, càng bớt sang trọng, càng thắt lưng buộc bụng nhiều hơn. Sau năm 1975 thì đúng là nghèo thiệt…
Năm 1979 gia đình tôi đi KTM Hòa Nguyên, những chuyến xe chở đồ đoàn của người đi kinh tế mới lũ lượt đổ về Tuy Hòa, ghé nghỉ trưa chút xíu ở cầu Ông Chừ rồi tiếp tục rẽ theo hướng tây đi về phía mặt trời lặn. Nhìn má tôi buổi trưa hôm đó, một mình với lỉnh kỉnh đồ đạc chất đầy phía sau xe: cái gạc măng rê cũ kỹ, cái đi văng làm bằng ván ép Mỹ đã tróc véc ni loang lổ, mấy tấm tôn đầy vết đinh rỉ, mấy cái giường đã tháo rời ra thành mấy bó, thanh giường, vạt giường, thúng mủng, nong nia, rỗ rá và lóc nhóc những chai lọ, hũ ghè… chợt nhớ hồi Mậu Thân nhà tôi cũng một lần chuyển đi như vậy từ xóm Máy nước về xóm Bóng, cũng má tôi ngồi sau xe một mình với đống đồ đạc…
Về sau tôi có viết bài hát “Bài ca người di trú” mở đầu bằng câu: “Năm mươi năm sao vẫn đi đi hoài, chiều dần trôi về đây lòng con tê tái…” và kết thúc: “… Năm mươi năm đã mỏi cánh chim bay, cơn mơ là vùng đất vui hiền hòa”… là tôi viết cho má tôi. Năm đó má tôi 50 tuổi.

xxx

Sống ở KTM mười mấy năm, mang bệnh sốt rét trong người lâu ngày lại không có nhiều thuốc men để điều trị nên dần dà má tôi chuyển sang sưng lá lách. Bước qua tuổi sáu mươi lăm má tôi bắt đầu suy sụp. Cái lá lách sưng to thường hay gây sốt. Đi bệnh viện mấy lần nhưng bác sĩ không dám mổ. Họ nói má tôi sức yếu sợ không chịu đựng được. Bà bước đi khó nhọc vì cái bụng sưng to.
Năm 1996, tôi và vợ con chuyển về Tuy Hòa. Không lâu sau đó tôi được tin má bị té, hôn mê và đang hấp hối. Tôi hấp tấp chạy về nhưng chỉ còn thấy má tôi nằm im trên giường, thỉnh thoảng hai bên khóe ứa ra những giọt nước mắt. Đến chiều tối hôm đó má tôi trút hơi thở cuối cùng. Năm đó bà được 67 tuổi. Chỗ chúng tôi ở lúc bấy giờ không có cửa hàng bán hòm đóng sẵn nên nhà nào cũng có để dành mấy tấm ván phòng khi hữu sự. Tôi đạp xe ra tiệm mua đinh và mấy lon sơn.
Ngày hôm sau trời vẫn còn mưa phùn gió bấc. Chiếc xe bục bịch chở xác má và mấy anh em tôi nặng nhọc tiến về phía nhà thờ. Những người đưa tang mặc áo mưa đi xe gắn máy hoặc xe đạp chạy theo sau. Sau thánh lễ Misa và nghi thức làm phép xác, cái hòm màu xanh da trời có má tôi trong đó được một nhóm trai tráng khiêng đi. Nghĩa trang công giáo đang bị ngập nước nên má tôi về nằm trên một cái gò cao, bên cạnh em gái tôi đã mất vì bệnh sốt rét hơn mười năm trước đó. Thường thì người công giáo khi chết chôn trong hòm sơn đen, cha Hiên nói sơn màu gì cũng được vì chết cũng là một sự vui mừng… Nghe kể lại trước đó bác Huy ở Sơn Nguyên mất, chôn trong một cái hòm sơn màu hồng, bên hông có ghi hàng chữ: “Ta đi về nhà Cha”, và bây giờ là má tôi với cái hòm không ghi chữ, chỉ có màu xanh da trời như sáng lên giữa một ngày đông xám.

xxx

Hồi còn ở Nha trang, mỗi lần đến lễ Vu lan, bạn tôi sinh hoạt trong Gia đình phật tử thường hay rủ tôi đi chùa. Tụi nó kể tôi nghe về bông hồng và bông trắng. Tôi cũng biết bài hát “Bông hồng cài áo”… nhưng chưa khi nào tôi quan tâm đến ý nghĩa người mẹ… Má tôi mất khi mấy anh em tôi ai cũng cắm đầu cho việc mưu sinh, cho “giọt nước mắt chảy xuống” của qui luật cuộc đời…

Lê Phú Hải

Chào Em Buổi Sáng

tranvanle

Hôm qua, tôi viết gì em nhỉ
Có phải “Chào Em Buổi Sáng” không?
Lạ chớ, trái tim tôi chẳng lớn
Muôn năm nhớ mãi má em hồng!

Em là hoa mận hoa mơ nhé
Sáng nở trắng vườn cứ ngỡ trăng
Đêm nở trên bàn tôi, gió thoảng
Mùi hương làm nhớ những mùa Xuân!

Tôi biết tôi vừa, đang, đã, nói
“Chào Em Buổi Sáng” giống hôm qua
Giống hồi nào đó tôi trên núi
Hứng giọt mù sương nắng nở hoa…

Em ơi tôi nhớ em từng phút
Từng bước em mười bảy tuổi xưa!
Tôi hỏi tại sao sông có khúc
Khúc nào không nắng cũng không mưa?

Khúc nào không có đò xa bến?
Em lớn hồi nào hỡi ngọn cau?
Cái bóng đổ nghiêng vườn của Ngoại
Tiếng gà vừa gáy nhớ nao nao…

Sáng nào cũng sáng, bình minh dậy
Tôi dậy “Chào Em Buổi Sáng” hồng
Có phải em là trăng mãi mãi?
Đêm tàn bến Ngự Nguyệt mênh mông…

Trần Vấn Lệ

Nghe một đời hư

nguyenminhphuc

Suốt một đời ngóng núi
Thấy núi nói gì đâu
Đêm ngồi nghe đá thở
Mới hay ta bạc đầu

Mênh mang làn gió thoảng
Trôi giữa chiều hư không
Thấy một ngàn mây trắng
Rụng dưới bóng ngô đồng

Lần trang kinh tiền kiếp
Nghe đổ bóng luân hồi
Người về mang bóng nguyệt
Che kín đời ta trôi

Chiều nay ngồi với núi
Ta có nói gì đâu
Sao ngoài kia hoa rụng
Mây đổ dưới chân cầu

Ai thả nghìn cánh hạc
Về qua cõi niết bàn
Ngậm ngùi cầm y bát
Ta một mình lên non…

Nguyễn Minh Phúc

LẦN ĐẦU…

hienmay

lần đầu
nếm trái chín… rơi
bắp non hé đón chơi vơi nụ tình
giữa ngày… sao chiếu lung linh(!)
nghe đâu đây ngát hương trinh
lần đầu

lần đầu
thơm vị chua dâu
nôn nao hái sớm (sợ lâu… quả… già)
như con nít ngóng chờ quà
anh vung phép mở mắt na
lần đầu

lần đầu
bối rối nguyện cầu
đừng buông… đang lửng lơ mây ngang trời
vòng tay ôm chớ để rời
ngọt dòng mật lịm anh ơi
lần đầu

lần đầu
huyền thoại nhiệm mầu
lặng im mà ngỡ nói câu yêu rồi
ai làm bung cánh thềm môi
rước em – phi ái… lên ngôi
lần đầu

lần đầu – anh đó
lần đầu…

Hiền Mây