Khải Tri

 

Ăn quả không nhả hột sẽ mọc cây trong bụng. Đấy là răn đe tôi từng tin sái cổ. Như một đứa trẻ biết phục thiện, tôi òa khóc, thú nhận mình đã ăn vụng nuốt cả hột và mong một sự cứu chữa từ người lớn để cây không mọc trong bụng. Ngoài việc trách mắng, nhiều khi đét đít bằng roi mây, mẹ tôi đã chẳng làm gì. Nghĩa là hạt quả vẫn trong bụng tôi. Chẳng thể biết hạt có đươm mầm và phá ruột tôi để chồi ra ngoài như cây đậu của Jack không nữa. Tôi lo từng ngày dù mẹ đã nhắc rằng không sao. Đến bây giờ tôi vẫn mạnh khỏe trừ vài trận ốm vặt. Hạt quả đã đi đâu hay vẫn ẩn trong bụng tôi chờ ngày nảy thành cây. Bọn trẻ ở khu này phải ăn rất từ tốn để nhằn hạt. Hầu như đứa nào cũng từng nuốt phải hạt quả. Kể cả khi chúng có móc họng để nôn bằng sạch những gì đã đi vào bụng thì hạt vẫn kẹt trong ruột. Đến thuốc xổ cũng không đào thải được dù chỉ một hạt nhỏ như vẩy cá. Trẻ con rồi cũng lớn. Chẳng đứa nào quên rằng đã canh cánh lo âu về thứ hạt đã nuốt chửng.

Táo. Đấy là thứ quả có nhiều nhất ở thị trấn tôi. Táo ở khắp nơi, mọc khắp chốn và chúng tôi hái ăn như loại thực phẩm thiết yếu. Ăn táo từ lâu đã thành truyền thống của mọi gia đình. Để tránh lạt miệng bởi ăn mãi táo nên nhiều người đã chế biến nhiều món ăn từ táo. Táo giòn gọt vỏ chẻ miếng là món cổ điển. Cơm vị táo, bánh táo, xúp táo, sữa bột hương táo, nước ép táo, bánh bao nhân táo, cháo quẩy vị táo rồi thì hàng loạt những vật dụng cá nhân từ cái áo, cái quần, lược, bàn chải, dầu gội, sữa tắm được làm từ quả, vỏ và gỗ cây táo. Chúng tôi xây nhà bằng gỗ cây táo và đóng quan tài cũng bằng gỗ cây táo. Thị trấn được rào quanh bởi một dãy táo trồng san sát theo kiểu hàng rào vòng tròn. Cuối thị trấn có một cái nhà cổ xây từ lâu và đổ nát, hoang hóa đến mức không ai nghĩ đấy là cái nhà. Tảng đá ngoài cổng khắc chữ gì đấy. Ngoài một nét đứng còn thì chỉ thấy những đường xước sẹo chen lấn nhau, tạo thành sự loang tróc của thời gian. Hàng chữ viết trên đá được khắc quá nông, quá ẩu nên chỉ một trận bão thời gian ngắn ngủn nửa thập kỷ là rụng lả tả như cái răng sâu. Đại loại là đây là Nhà Vòng của thị trấn. Người xưa đã gọi thế nghĩa là từng tồn tại cái tên này. Trong nhà không có ai ở, cũng chẳng thờ ai, không có đồ đạc, dấu vết gì chứng tỏ từng có người ở. Bên trong chỉ có một cây táo già cỗi nhiều trăm năm vẫn sai quả. Những quả táo mọng chín với lớp vỏ dày, đỏ và giòn xốp được hái từ cây táo này. Số táo đấy được dùng để cúng gia tiên hoặc dành cho mùa lễ hội. Táo chúng tôi hái để ăn, để bán trong chợ là từ các cây táo khác mọc quanh thị trấn. Chỗ chúng tôi không hề có trang trại táo, các vườn táo tư gia thì nhỏ bé trong bán kính ba mươi mét vuông. Cây táo ở khắp nơi và mọc khắp mọi nơi. Bên trái đường, đằng sau ngõ, trước cửa nhà, trong công viên, sát ủy ban, trạm chờ xe bus, bến cuối xe bus, nhiều lúc là trước cổng trường học, trong lớp học, nhiều cây còn nảy mầm trong thư viện, trồi từ lòng đất phòng thí nghiệm. Những cây táo này phát triển rất nhanh. Hầu như không phải ai gieo hạt bừa bãi. Chỉ là một mầm cây nhú xuyên qua đất, ngấu nghiến mưa nắng và vươn cao từng đoạn như nước vòi vặn chậm. Những cây táo hoang dã, tự sinh sôi này chỉ cao đúng một mét mốt thì dừng lại. Nếu muốn cây lớn hơn thì phải vun nước. Độ cao dù chỉ như vậy nhưng vẫn có quả. Người thị trấn hái ăn, dĩ nhiên có nhè hạt. Thứ trái cây trời ban này là nguồn thực phẩm dồi dào của thị trấn nhưng cũng có nhiều phiền toái khi đi lại, hoặc do xây nhà. Từng có một cái cây mọc đâm xuyên bàn thờ khiến cả gia đình phải điêu đứng trong những giấc nơm nớp âm ỉ triền miên.

*

Nhà Vòng là một cấm địa được tự do ra vào.

Cây táo già nua đấy được người thị trấn gọi là Cây Trưởng Lão, Táo Cụ, Lão Mộc hoặc Chúa Táo, Cây Xưa…Và, Ông Cả là cái tên tôi và những đứa thuộc thế hệ tôi thường gọi.

*

Ông Cả nảy mầm từ trong nhà hay khi người ta thấy cây héo úa, khô khốc như khung xương khổng lồ đã xây nhà như cách trấn yểm để cây không thành tinh, nào ngờ cây vẫn đủ nhựa và đã tái sinh như Phượng Hoàng. Nhà Vòng quạnh quẽ không một dấu chân. Việc hiếm hoi người qua lại có lẽ do công việc quá bận rộn, hoặc người thị trấn đã quá quen thuộc với cây táo ngay từ lúc chào đời. Chỉ mùa lễ hội người thị trấn mới tụ tập quanh Nhà Vòng để tổ chức đại tiệc táo. Người ta đốt đèn, nhảy múa, mở thành nhiều vòng tròn để hát, nhảy và tỏ tình bằng cách tặng táo cho nhau. Khi đấy táo Ông Cả mới được bổ ăn. Giờ giấc đấy ai cũng xuống đường. Mọi phương tiện giao thông ngừng hoạt động, cầu dao đèn tự ngắt. Đấy là ưu tiên hàng đầu để toàn thể thị trấn nối với nhau, gần gũi, gắn bó như cây với đất. Những năm này, người ta đã quen với Nhà Vòng, không ai còn muốn vào quá sâu dù là một đứa oắt với trí tò mò bay bổng. Tôi lâu lâu lại vào, và lập tức trở ra vì vấp ngã bởi phần gạch đá lồi lõm, bởi rễ cây táo gù lên, nhấp nhô khắp nhà.

Nhà Vòng chỉ có một gian nhưng rất rộng. Diện tích nhà áng chừng bằng nửa sân bóng hoặc một hội trường trung ương. Tường bao quanh đã xuống cấp, nhìn bong lóc và rách nát như tờ giấy. Ông Cả nằm chôn gốc giữa nhà. Đã không ai còn nhắc về niên đại của cây và nguồn gốc cái nhà viết tên Vòng. Người biết chuyện thì đã quá già, không lú lẫn thì cũng gần đất xa trời. Tôi thì lại tin Nhà Vòng được xây từ lâu, có khi xa xưa đến mức cây táo còn chưa đồ sộ như ngọn tháp thế này. Những gì cổ xưa thường linh thiêng, những gì linh thiêng thì cổ xưa-Lý lẽ của người đời là thế và tất cả tin như đấy là chân lý.

Ông Cả không phát triển về thân nữa nhưng cành thì vẫn xum xuê. Mái của Nhà Vòng đã bị những cành lớn đâm vỡ toác. Các nhánh con ban đầu thọc qua kẽ hở trên ngói để trèo lên. Khi các cành đủ khỏe thì gồng mình phá tung mái ngói. Những miếng ngói vỡ, rơi vãi khắp nơi như vẩy bò sát. Lá phủ rậm rạp khắp nhà và vươn rộng khắp thị trấn tạo thế bát úp. Vỏ Ông Cả cứng, gân guốc, xù xì và nhiều lỗ thủng do sâu đục. Phần sàn của Nhà Vòng tróc lở, gạch bật toác. Bộ rễ như con chuột chũi đào hang trong lòng đất, ngày qua ngày vẫn miệt mài hút dưỡng chất. Tôi đoán rằng các nhánh rễ đã tìm thấy một mỏ khoáng chất ngủ quên sâu trong lòng đất. Suối nguồn năng lượng hoặc long mạch, một kho tàng kim cang dẫn xuống thế giới ngầm… Chính nguồn dinh dưỡng lạ thường này đã tiếp sức, giúp Ông Cả vạm vỡ nhiều thập kỷ. Thị trấn được bao bọc bởi một hàng cây táo có niên đại từ bốn mươi năm đổ xuống. Một số cây mọc chắn đường lớn, hoặc cổng ngõ dẫn ra đường cao tốc thì đã bị chặt bỏ. Nhiều năm trước thị trấn có một đường xe lửa nhưng giờ đã bỏ trống do cây táo mọc kín đường ray. Con tàu và trạm bán vé tàu đã hoang phế. Rêu, cỏ hoang và cây dại phủ gần hết con tàu. Một mầm táo không biết từ đâu đục đẽo vỏ tàu từng ngày để phá xuyên nhìn trời. Trạm bán vé thì cây mọc chổng, kết thành những hàng dài. Những cây này đã chết khô nên nhìn từ xa trạm tàu như một nghĩa địa cọc gỗ.

Nóc của thị trấn là bầu trời xanh nhưng đã mờ xanh từ hơn nửa thập kỷ trước. Lí do không từ việc tàn phá môi trường bằng cách xây nhiều nhà máy, xí nghiệp, trồng nhiều ống khói. Lí do về đường dây điện thì càng không vì thị trấn này từ lâu đã sử dụng công nghệ không dây, chỉ một số khu do quá nghèo mới phải chằng dây. Mái trời xanh được phủ không bằng màu xanh dương, vàng, đỏ tía hay trắng ngọc. Màu xanh lá cây cũng là màu của bầu trời thị trấn. Phần màu này được tạo thành bởi những cành lá xum xuê phủ tầng của Ông Cả. Lá cây rậm rạp, không ngừng phát triển, dày nhiều lớp. Số cây táo mọc quanh thị trấn nếu cành lá đủ cao thì cũng móc vào tán cành Ông Cả. Bởi lá cây trùm rậm rạp như cái áo khoác lông thú nên thị trấn thường mau tối. Ngày cũng như đêm, toàn thị trấn phải bật hết đèn đường. Chúng tôi đã chặt đi nhiều cành lớn. Việc chặt không thể bừa bãi mà phải họp hội ý và xin phép Ông Cả. Chỉ những cành cây quá già, vươn quá dài hoặc nhiều lá quá mức cần thiết mới bị chặt. Nhiều khi, chúng tôi chẳng chặt bỏ cành mà chỉ tuốt hết lá cây để thấy chút bầu trời.

Tôi từng nhìn thấy tấm ảnh chụp bầu trời thị trấn khi róc hết lá trên cành. Trong ảnh, màu xanh dương êm ả như mặt biển, các gợn mây điểm lác đác tựa những cánh buồm. Một góc ảnh khác chụp được một cánh chim vắt ngang bầu trời. Có tấm trời mây được dệt trong màu vàng hoàng gia. Tấm khác, chụp lúc gần hoàng hôn, mặt trời vàng ấm như quả trứng lòng đào đựng trong bát phalê. Một tấm ghi lại một phần trời trắng muốt vì mây phủ. Đám mây dày, xòe rộng như váy cô dâu. Màu mây không sánh đặc như nhựa cây, chẳng nhạt lợ như sương muộn, không trong trẻo như sữa mẹ và còn thiếu chút chói lòa của sương mù sơn cước. Vẫn có đường quăn, nếp nhàu, gấp trên mây, chính những đường nét tình cờ này đã khiến tôi nghĩ đến một miếng bông gòn, chiếc máy bay được gấp bằng giấy nhàu nhưng vẫn đủ cứng cáp để liệng nhiều vòng cung. Tảng mây dày như núi băng trôi trên trời, nếu vung vẩy tấm ảnh, mây sẽ bồng bềnh thành ngọn sóng. Sự thướt tha này giống với một dải lụa mềm, càng giống hơn điệu múa vỗ cánh của những chú bồ câu.

Đấy là ảnh chụp các góc nhỏ. Nếu nhìn vào tấm hình chụp trọn vẹn cả bầu trời, sẽ bắt gặp các cành táo. Những cành dài, ngắn trụi trọc lá và quả chụp lên khung trời, đan xen ngang dọc như lớp hàng rào gỗ khổng lồ. Một ai đấy đã cả gan chặt hết cành, để mở toang cánh cổng nhìn lên trời. Nóc nhà thị trấn trắng trơn nên mưa, nắng sẽ đổ ập xuống như sóng thần. Không thể chạy nắng mãi bằng cách rúc trong nhà hay đội mũ, xòe ô giữa trời khô. Như một trừng phạt, Ông Cả đã không ra quả, những cây táo khác quanh thị trấn cũng ngừng đâm trổ. Thị trấn chịu một nạn đói dai dẳng. Nguồn sống nơi đây duy trì nhờ táo, thành ra kinh tế bị ngưng trệ. Cũng vì quá quen với món táo nên hễ ăn một thực phẩm khác táo là ai nấy đều nôn thốc tháo. Đã có một nghi lễ nhận tội ở Nhà Vòng. Một tháng sau, thị trấn táo hưng thịnh trở lại. Đã không còn ai dám bẻ hết cành táo. Khung cửa sổ của thị trấn tiếp tục được phủ màu xanh thực vật. Lá cây mọc dày đặc, chen chúc chỉ để hé ra vài khe thủng. Cành cây vươn dài, nhiều khi còn xuyên vào nhà dân. Sống dưới mái cây táo, chúng tôi như được bảo vệ khỏi mưa, nắng. Nhiều khi, táo còn tự rơi trên đường và cứu đói những người vô gia cư, ăn mày hoặc khách tha hương.

*

Ăn táo nuốt cả hạt sẽ mọc cây trong bụng. Vậy nếu nhai nát hạt rồi nuốt thì hạt táo có sinh mầm? Ngày hôm qua một người trong thị trấn đột ngột mất tích. Nơi cuối cùng người đó ghé vào là ghế đá vỉa hè. Rạng hôm nay một cây táo mọc trên ghế đá vỉa hè. Cây đâm chồi, có lá non và cao bằng một người lớn. Vì cây táo mọc đằng sau ghế đá nên đã tạo thành một chỗ râm mát để ngồi nghỉ.

Thị trấn này thường xuyên có người mất tích. Mỗi một người đi mất, một cây táo lại mọc lên.

Quả Ông Cả luôn to, vỏ dày và nhiều nước. Quả táo nhỏ nhất chỉ bằng bàn tay, quả to hơn thì như cái sọ khô. Một cành táo lớn mọc xổ dài trên bậu cửa nhà tôi. Quả sai chín thơm phức cổng nhà. Có lúc tôi hái ăn khi táo vẫn xanh, khi lại chờ đợi táo chín thật sự thì mới bắc thang hái. Không thiếu dịp táo rơi lộp độp cổng nhà. Tôi từng được ăn một quả táo to như trái đào tiên trong phim Tây Du Ký. Màu táo đỏ tươi, thắm như môi nàng Bạch Tuyết. Vỏ cắn giòn như bánh xốp. Ruột táo thì khỏi chê, cắn một miếng tôi thấy vòm miệng mát lịm. Nước táo ứa tràn kẽ răng. Tôi nuốt ực nước cốt táo như uống sinh tố hoa quả. Giống táo để lâu sẽ thâm sì, mất chất nên tôi phải ăn nhanh. Mùi thơm mát của táo chín cây đã lùa tôi vào vườn Thượng Uyển. Như kẻ mộng du, tôi ngơ ngẩn trong hương táo chín. Tôi ăn, nhai rau ráu hoặc nhai nhỏ đến mức nát vụn. Ăn táo xong, sẽ thở ra mùi thơm. Ngay đến tiếng ợ hơi cũng như ăn thêm một lần táo. Những cây táo mọc ngoài thị trấn hay trồi lên bất cứ đâu cũng ra trái giòn, trái ngọt nhưng vị chẳng được đậm đà như mật ong. Sau khi ăn trái từ Ông Cả, nụ hôn của các lứa đôi cũng ngọt và thơm mát lạ kì. Nhiều cặp nam nữ đã hành lạc khi ăn xong một trái táo. Da thịt đàn bà khi ăn táo mát lịm, ngòn ngọt và mê hoặc đến mức dẫn dụ hồ điệp đuổi nhau trên da thịt. Còn đàn ông thì bớt nôn nóng hơn nhưng vẫn mạnh bạo, bền sức và thừa điên cuồng để khuấy tung cả Đông Hải. Máu xử nữ vấy màu táo chín.

Đánh chén một quả táo, sẽ đủ dinh dưỡng cho cả ngày. Nguồn sinh lực này tiêu trừ tính vô tri để biết che mình khi trần truồng. Nước cốt táo vẩy ra mực đỏ vẽ lên những mặt trời. Ăn một lát táo là tâm hồn say đắm, để thoát tục chốc lát hoặc để đợi chờ một nụ hôn đánh thức.

Cách đây rất lâu có một vụ án chấn động thị trấn. Một người mẹ đã ăn thịt đứa con bốn tháng tuổi. Lúc bị bắt, người mẹ đã hóa điên và tự cắn lưỡi trong lúc bị hỏi cung. Xác người đàn bà cùng mẩu lưỡi bị cắn đứt từ cuống vẫn được lưu trữ trong bệnh viện. Xác đứa bé nham nhở. Da nó bị lóc bằng dao gọt hoa quả, phần thịt bị ăn nhẵn, chỉ chừa lại xương. Lời đồn, mộ đứa bé sau này đã mọc lên một cây táo. Hẳn là đứa bé đã ăn táo không nhè hột, nhưng một đứa bé ba tháng tuổi thì nào đã đủ răng để nhai táo.

Cuối thị trấn có một anh chàng chết vì đói. Gia cảnh anh chàng không quá khốn khó, chỉ là anh ta đột ngột muốn bỏ món táo. Cả thị trấn này sinh nở từ táo. Việc bỏ táo chẳng khác nào kiêng đi lại bằng cách chặt chân. Không muốn ăn quả táo, thì còn có nước táo, bánh táo, cơm táo, mì táo, bún trộn táo, thịt nhồi táo, bánh mì vị táo và biết bao thứ ngon lành làm từ táo. Loài người không sinh ra từ táo và thành chúa tể các loài từ một quả táo.

*

“Thị trấn này, cái gì đang đứng? Dù đã bao nhiêu năm trôi qua, vẫn chỉ táo là táo. Nhà cửa, những công trình rồi dân số, thứ cần thiết để gầy lên một tinh hoa không đến từ táo. Đáng lẽ cây táo chỉ là món vật chất có sức sống, món quà từ mẹ thiên nhiên chứ không phải ông Hoàng. Vật chất chỉ nên phụng sự con người như nhổ rễ cây thuốc, nghiền chữa bệnh. Hãy cảm ơn bát thuốc, cảm ơn cây thuốc, không nhất thiết phải cúng bái dù là cây thuốc hay bát thuốc. Quanh thị trấn chỉ là táo và chỉ thấy táo. Cây táo bố, rồi cây táo nhỏ, cũng được coi như bố. Chúng đã giúp thị trấn no nê nhưng quá nhiều cây, quá nhiều táo thì còn gì gọi là đời sống. Chẳng có một trái quả nào khác táo. Nhà cửa cũng là gỗ táo. Nước uống cũng từ táo mà ra. Đến thứ chúng ta thải ra cũng là bã táo. Ta đã nghĩ, thị trấn này chỉ như một thứ dây leo tầm gửi lên cây táo, còn chúng ta là những con trùng cộng sinh.”

Hắn là ai mà nói với tôi như vậy. Một kẻ lạ mặt trong vô vàn những kẻ lạ mặt trên cõi đời này. Lúc tôi đi dạo, nhìn ngắm cây táo thì thấy hắn. Cũng thật lạ lùng khi hắn nói một mình nhưng nhìn về tôi. Hắn đeo dây chuyền với cái mặt giấu trong ngực áo. Tiếng hắn to tướng như muốn ai cũng nghe được. Bên cạnh hắn có một chú bồ câu trắng. Hắn có mang theo bánh và còn bẻ nhỏ để chia cho chú bồ câu. Hắn cũng bẻ cái bánh nhỏ hơn để mời tôi. Tôi nói rằng táo đã là nguồn sống của thị trấn này. Một đặc trưng hiếm có, độc nhất vô nhị của nơi đây là những cây táo.

“Nguồn sống của thị trấn này là cây táo hay nguồn sống của cây táo là thị trấn này. Chàng biết không, cây táo trong Nhà Vòng từ lâu đã không ra nhựa. Một cây lâu năm nếu đã phát triển đủ sẽ không cao lớn thêm. Số lá, cành um tùm đè ngửa lên bầu trời được nuôi bởi những cây táo nhỏ hơn. Ta sẽ không nói đến số táo trồng thành vườn. Thị trấn này luôn có người mất tích. Nếu chàng chịu đếm, để tổng quát sẽ thấy mỗi một cây táo ứng với một người mất tích. Đừng nghe ta nói, nhưng hãy tin là ta đang nói thật. Cha ta cũng từng biến mất khi đang sắp nến theo vòng tròn. Cây nến màu hồng đã đốt hụt. Thế rồi, một cây táo mọc lên và phá tung vòng nến. Ta đã chặt cây, nhổ bật rễ và chàng biết ta thấy gì không. Một cái rễ ăn sâu như đã thâm nhập lòng đất hàng chục năm. Rễ cây táo nơi thắp nến nối với rễ cây táo….”

Hắn vẫn còn liến thoắng phía sau.

Nhà Vòng ở xa tít tắp. Ông Cả đồ sộ hơn tất cả. Những cành táo vạm vỡ, chia những nhánh cũng to khỏe không kém. Màu xanh của lá cây táo phủ hết trời, nhiều chiếc rụng lả tả xuống đầu, chạm vào vai và dồn tụ thành chướng ngại. Một chàng lái xe bị lá cây chọc vào mắt, đâm xe vào góc đường. Một xe máy lao quá nhanh, không kịp giảm tốc độ đã đâm sầm vào cây táo chồi mọc giữa lòng đường. Cú va chạm tạo ra lửa, bén vào bình xăng khiến một cột lửa phụt lên sau tiếng nổ. Người, xe và cây rệu rã trong đám cháy. Lúc đạp phải một quả táo, tôi suýt ngã. Góc kia, bà mẹ đang đút cháo táo cho đứa con nhỏ. Con bé vùng vằng, kêu “ứ ừ”. Bà mẹ bóp miệng con rồi nhét thìa. Tôi thấy một bà cụ hóa vàng mã trước một cây táo mọc ven hè. Cách đấy ba số nhà, có người quen của tôi. Sáu năm trước một đôi vợ chồng sống ở đấy. Sáu năm sau, cô gái chung sống với một cây táo trong nhà. Anh chồng đã đi đâu mất. Người bảo anh ấy đi công tác xa, người bảo anh chàng du học, cũng không thiếu kẻ kháo vợ giết chồng phi tang giấu xác. Mọi cuộc điều tra vô ích. Anh chồng mất tích sau khi một cây táo đột ngột mọc trong nhà. Tôi ghé nhìn ô cửa, thấy cô vợ ăn tối cùng cây táo. Giữa thân táo có khoét lỗ, để cô vợ có thể bón thức ăn dù bằng muỗng, đũa hay mớm bằng miệng. Tôi đã chào người vợ, chị ta cười với tôi và lấy tặng tôi một ít mứt táo sấy khô.

*

Ăn táo không nhè hột sẽ mọc cây. Tối hôm đấy tôi đã lỡ nuốt cả hột táo. Tôi nuốt những hai lần hột. Một hột của cây táo nhỏ, một hột của Ông Cả. Đáng lẽ tôi không bất cẩn như thế. Lúc ăn táo tôi không quá đói đến mức ngấu nghiến nuốt quên cả nhai. Sơ xuất đầu tiên của tôi là đã không bổ táo để khoét hạt. Sơ xuất tiếp theo, là từ những câu nói của kẻ lạ hôm nay. Tôi nhớ lại, rồi nhẩm từng cây táo mọc hoang, bắt đầu từ dãy nhà mình. Trí nhớ mở ra làm tôi quên đi việc gọt vỏ trái Ông Cả. Một cây, hai cây, ba, bốn cây…Nếu đếm lùi về mạn nghĩa trang thì sẽ được thêm vô số cây táo. Để khu nghĩa trang được che mát người ta đã trồng thêm cây. Ồ, vốn chẳng cần thiết vì bao năm qua bầu trời thị trấn đã rợp phủ bởi lá cây. Một, hai tia nắng xói qua kẽ lá chẳng ăn nhằm gì. Một hàng cây táo rào quanh nghĩa trang. Bên trong, lại có biết bao cây táo mọc tua tủa như bàn chông. Số cây này đã phá nát mộ phần. Nhiều ngôi mộ bị bật hết lên, xương xẩu văng tứ tung như bản giao hưởng đang cao trào chợt mỗi người chơi một kiểu. Tôi từng thấy một cái sọ người bị cành cây móc qua hai hốc mắt và đưa lên cao. Ngày ra quả, cái sọ nhìn như quả táo trắng lẫn trong nhiều quả táo đỏ, nửa đỏ hoặc xanh. Thiếu gì những cây mọc từ mả người chết sau khi đã hấp thụ mọi dinh dưỡng, từ thịt rữa, xương trắng, dịch hủy cho đến đám giun, giòi béo ngậy như loài tằm tơ nhiều màu. Người sống được quyền lựa chọn làm việc có ích, còn người chết sẽ hữu ích nếu nuôi ra một cây táo. Những trái táo dù không to, không quá mọng nước và chất chỉ bằng một phần tư so với Ông Cả, vẫn có thể cứu khát, cứu đói khẩn cấp. Dòng nghĩ miên man hết cây táo này đến cây táo kia. Số cây nhiều lên ứng với số người rời bỏ thị trấn. Cây có ở khắp nẻo thị trấn, tạo thành một mê lộ cây táo. Miệng tôi cắn ngập, nhai cả vỏ, nuốt cả nước. Thế rồi, tôi dừng ăn sau một tiếng khe khẽ.

Ay…Ay…Tôi đang cố nhại lại tiếng mình nghe được. Xung quanh chẳng có ai vì tôi đang đứng trên ban công. Cái tiếng nhỏ, đứt quãng kia vẫn vọng ngắn đoạn. Nhà hàng xóm đã tắt hết đèn, ai chưa ngủ thì cửa sổ để hé. Tôi không tìm ra một ô cửa sổ nào khả nghi. Ay…Ay…Da…Tiếng bên tai trái. Khi nhẩm đọc thì tiếng vang bên tai phải. Đèn đường vẫn sáng nên không khó để tìm ra một cái bóng quằn quại, chờ mong cái xòe tay hảo tâm. Tôi nhìn mãi, vẫn chỉ thấy những cây táo to, nhỏ, cành lá xòe to hoặc chỉ vươn dài, khô mộc như xương bốc mả. Ngước lên chỉ thấy bầu trời lá cây sẫm đen vì đêm. Ai thế! – Tôi hô to và không nghe thấy tiếng hồi đáp. Tiếng xuýt đau vẫn chập chờn mang tai như với gọi tôi. Mắt tôi đảo nhiều vòng dài và đột ngột chăm chú vào bàn tay mình. Quả táo trong tay tôi nhìn nham nhở như bị chuột gặm. Nước táo rỉ đỏ. Ruột táo cũng sục ngầu màu Nguyệt Thực. Tiếng thều thào tưởng gần nhưng lẩn khuất xa xôi. Cái âm thanh ảo não, nhưng nhức và khẩn thiết gần với tiếng sóng vỗ trong vỏ ốc nhưng có đập nát con ốc cũng chẳng tìm ra giọt sóng nào. Trong cái run rẩy choáng váng, tôi “Ợ” một tiếng. Từ sáng đến trưa tôi chỉ ăn táo, từ trưa đến chiều muộn, tôi cũng chỉ ăn táo. Tôi đã không ợ lên mùi táo. Một mùi khác, vị khác, dai nhách như món thịt lạ chưa một lần ăn nhưng cái mềm mại lại quen thuộc như cắn ngấu cơ thể người tình trong say đắm.

Tôi đánh rơi quả táo. Tôi khạc nhổ, móc mọng để khạc nhổ. Được một lúc, tôi nhìn lại quả táo cùi cụt vì những cái ngoạm quá lớn. Ruột táo trắng, vỏ táo vẫn đỏ thắm như cánh hoa hồng. Hạt táo đã vào bụng tôi rồi. Tôi không móc nhổ được hạt táo. Chẳng biết vừa rồi tôi có nhai hạt không, và nhai nát đến đâu hay khi thấy cứng quá thì nuốt luôn…Táo này chỉ là một quả ngắt từ cây được đâm chồi từ hạt giống. Vẫn có những cây mọc không từ hạt giống táo. Có bàng hoàng lắm không nếu nghĩ về một cây táo mọc trong cơ thể người. Vì ăn táo không nhè hột nên đã mọc cây. Sự đâm rễ từ từ, chậm chạp và hiệu quả như hạ độc liều nhỏ theo quy trình. Nếu sự lớn lên của cây nhanh chóng như đột biến hóa học, có lẽ người ta sẽ đỡ đau đớn hơn. Cây táo phá ruột, nảy trồi ra ngoài hệt như chú gà con mổ vỡ vỏ trứng, xông ra thế giới. Tôi chẳng nghĩ gì ngoài việc toát mồ hôi. Cây táo và những cây táo…Đâu đâu cũng chỉ là táo. Quá lâu không được ngâm mình dưới nắng mặt trời, hít hà khí sạch từ bầu khí quyển thoáng đãng, cũng như việc ăn táo quá thường xuyên khiến da dẻ tôi xanh xao. Người khác…Tôi nghĩ đến điều này…Trong lúc tôi còn tư lự mở gói suy nghĩ thì một đôi cánh vọt qua, cắt cháy khoảng không. Một con bồ câu. Lúc bay dưới ánh đèn cao áp, bồ câu mang lông vàng. Lúc ánh đèn nằm khuất vào màu khuya, bồ câu phủ lông đen.

Như biết rằng tôi đang ở sau, con bồ câu bay thấp và chậm lại. Những cái liệng bay sắc, gọn như nhát chém bổ đôi trái táo. Số cây táo mọc lắt léo khắp nơi khiến tầm nhìn tôi hẹp lại. Một chốc, tôi mất dấu. Trong lúc ngó nghiêng, tôi thấy con bồ câu đứng trên một mái nhà. Con thú bay nhìn tôi, cái mỏ nghếch lên rồi vỗ cánh. Một sợi lông cánh rớt lại sau mỗi lần tung cánh. Tôi chạy, còn con bồ câu bay. Không có tiếng gù gù, chỉ có tiếng vỗ cánh phần phật như chim ưng đi biển. Vẫn có người còn lang thang ngoài đường nhưng không ai chú ý tôi. Đường bay của con chim vòng vèo, quẹo vào xó này, quẹo ra xó nọ, luồn qua nhiều cây táo, đâm xuyên vào một vườn táo với biết bao nhiêu lá, quả ngổn ngang lối đi. Lá cây rơi sột soạt, táo rơi từng quả. Người ta nhặt táo ăn, rồi khi no nê thì nằm ngửa dưới đất như con hải cẩu tắm nắng. Tiếng ngáy pho pho thỏa mãn. Mùi táo và lá cây dày thành sương mù. Phần đường này không có đèn cao áp. Tôi đã cố để không mất dấu con bồ câu bằng cách tập trung vào cả mắt lẫn tai. Chạy một hồi, chân tôi vấp vào một rễ cây và ngã lộn nhào. Đầu tôi vô sự nhưng đôi bàn tay đã xước máu vì mài xuống đường. Tôi cố tìm kiếm một mảnh trăng dẫn đường nhưng chỉ thấy lá cây. Trời không om om màu mực nhưng mọi vật mù mờ như thị lực của người cận thâm niên mất kính. Trong lúc dọ dẫm chẳng biết lạc vào đâu, tôi nghe thấy tiếng đập cánh. Chỉ một tiếng nhỏ, ngắn cũng đủ để tôi lần ra dấu con bồ câu. Cánh vỗ mạnh hơn nhưng con chim chỉ bay lưng chừng vì cổng trời bị rào lại. Đoạn đường giữa người và chim kéo dài, ngừng lại rồi nối dài.

Mắt tôi sáng rõ hơn nhờ mẩu sáng của các hộ dân ngủ quên tắt đèn. Tôi nhìn thấy nhiều người ngủ lăn lóc dưới đất sau khi đã xơi no táo. Mấy cái bụng tròn căng phập phồng, phô ra cái rốn lồi. Chưa một lần tôi đến gần chỗ con bồ câu. Tôi mãi ở sau. Hễ tôi chạy vượt lên con chim liền bay vụt như một đầu đạn. Tôi chạy mãi. Đâu phải tôi muốn bắt con bồ câu. Còn bồ câu, cớ gì lại vờn trước mặt tôi như mặt trăng? Nếu đây là cuộc săn đuổi, thì tôi như thợ săn bị con mồi dẫn dụ thành mồi. Rõ ràng chẳng ai bắt ai, cũng chẳng ai đuổi ai. Đấy là sự thắp sáng. Nhưng? Bộ hành tìm sáng từ đôi cánh hay đôi cánh tìm sáng bằng cách dẫn theo bộ hành…

Những thân táo rẽ ra như được vén màn. Trong lúc đói bụng, tôi định cúi nhặt một quả táo để lót dạ nhưng lại thôi. Chạy quá một con đường, tôi đi chậm lại vì một cây táo già mọc đồ sộ giữa lối đi. Một cơn gió xoáy qua làm rung rinh cành táo, lá rơi xuống như trận mưa. Một quả táo rơi trúng đầu tôi đau điếng. Chẳng có sáng kiến nào lóe ra trong đầu tôi. Chỉ cơn đau như búa giáng nài tôi dừng lại. Và rồi, tôi đã bội bạc lại suy nghĩ của mình bởi con bồ câu đã bay vọt khỏi tầm mắt. Lông vũ rơi, chập chờn trước mắt như một mách bảo rằng con vật đã rẽ vào đường lớn. Đèn sáng giúp tôi thấy rõ mặt những người đang ngủ dựa vệ đường. Một cô gái đứng tỳ tay trên lan can ban công. Màu da xanh xao không đồng nghĩa tất cả cùng mắc bệnh hiểm nghèo. Thị trấn táo này, da dẻ ai cũng xanh và càng lớn màu da càng sậm, đỏ thắm như vỏ táo. Lòng đường đã không còn bóng xe. Mọi thứ quạnh quẽ trong tiếng lá rơi, cùng tiếng chân tôi quét trên lá. Tại con hè, một chàng đang huơ hoắng tay. Cặp chân chàng ta dính vào mặt đất, và lún xuống. Trong lúc tôi chạy đến để kéo chàng trai khỏi lòng đất thì táo lại rụng. Những quả to bằng cái đấu gạo nện xuống lòng đường, lăn lóc khắp nơi. Thoắt cái, đôi chân chàng trai đã ăn liền mặt đất, đôi bàn tay cứng đơ và vươn dài, trổ cành. Từ các cành khúc khuỷu như xương đơm ra các nhánh nhỏ hơn. Lá cây mọc ồ ạt như lúa trổ đòng đòng. Chàng trai biến mất ngay trước mắt tôi. Một cây táo mọc ngay trước mắt tôi. Cây chưa ra quả nhưng đấy rõ ràng là một cái cây nảy lớn từ cơ thể người.

Con bồ câu lại vỗ cánh sau một chặng dừng. Lông vũ rơi một lần nữa nhắc nhỏ tôi rằng con bồ câu đã bay nhanh hơn và sắp băng hết đường lớn. Trên con đường mới, tôi thấy một ông già đang gặm táo rồi ngã chúi xuống. Tứ chi ông ta cắm ngập xuống đường, miệng ông ta ngoác lớn, hét không thành tiếng. Ánh sáng đổ dọc hai bên đường rồi ngắn đi, lọt thỏm như cái bóng đổ trườn mặt đất. Trời đất âm u một lúc rồi sáng trở lại vì sáu ánh đèn cùng chiếu vào một chỗ. Tôi dừng chạy vì đã để mất dấu con bồ câu. Không còn nghe thấy tiếng vỗ cánh. Tôi chỉ nghe thấy tiếng lá cây xào xạc dữ dội. Bầu trời thị trấn rung chuyển vì những cành lớn đang lay như cái cựa mình của người khổng lồ. Giờ đây, tôi cố định ở một vị trí đầy đủ ánh sáng.

Trước mặt tôi, Nhà Vòng. Trước mắt tôi, một cây táo.

Sau một hồi ngó nghiêng, tôi tìm thấy những sợi lông vũ. Số lông vung vãi quanh con đường dẫn vào nhà. Con bồ câu đã bay đến đây. Mỗi một sợi lông rớt lại, tạo thành một dấu chân, một đường kẻ nối các dấu chấm thành một bản đồ hoàn chỉnh. Tôi đi theo dấu lông vũ rơi, và nhặt từng sợi một sau khi ướm dấu chân mình lên vị trí nằm chờ của các sợi lông cánh. Thêm sáu ngọn sáng từ sáu cây nến không rõ ai cắm ngoài cổng nhà. Bên trong kể ra cũng sáng sủa. Nguồn sáng cũng từ những cây nến được thắp trong nhà. Sợi lông vũ cuối cùng nằm dưới một rễ cây gồ khỏi mặt đất. Ông Cả lại sai quả. Những trái chín mọng hoặc rơi quanh gốc, hoặc vẫn cao vút trên các cành lớn.

“Chàng tìm gì ở đây. Nếu muốn ăn táo thì hãy ăn. Uống nước từ nguồn bao giờ cũng ngọt. Ta thấy chàng đang mệt, có phải chàng đã lả sức sau một chuyến đi dài. Đến đây, và bồi bổ.”

Hắn là ai mà nói với tôi như vậy. Một kẻ lạ mặt trong vô vàn những kẻ lạ mặt trên cõi đời này. Dưới những ngọn sáng, tôi xác thực được hắn không phải người tôi gặp ban chiều. Hắn có đeo dây chuyền với cái mặt giấu trong ngực áo. Chỗ đứng của hắn không gần tôi, cũng chẳng quá xa tôi. Khoảng cách này gần kề nhưng cũng xa xăm. Tôi đứng dưới gốc cây táo, còn hắn đứng dựa lưng trên thân táo. Thế rồi, hắn trèo sang trái, sang phải, đu lên cái cành gần đấy lanh lẹ như con sóc.

“Tôi tìm con bồ câu.”

“Không có bồ câu ở đây, chỉ có một cây táo. Chàng ăn một trái đi. Rất nhiều quả dưới chân chàng nhưng tuyệt đối chẳng phải trái ngon. Nếu chàng muốn, ta sẽ hái giúp chàng. Táo ngon giòn khi ăn cả vỏ, nhớ đừng nhè hạt vì chàng sẽ để lỡ mất những viên trân châu.”

“Ăn táo không nhè hạt sẽ mọc cây trong bụng.”

“Chàng đúng một nửa.”

“Thế nửa còn lại?”

“Chỉ những người đã chết, cây mới mọc trong bụng. Gượm đã, chàng đừng sợ hãi, đấy là một quy luật thôi. Nói đúng hơn, chỉ là một sự vãn sinh sau khi hết tuổi trời. Một thân xác dù mỹ miều, thánh thiện đến đâu rồi cũng thối rữa và bị lãng quên dưới lòng đất. Đấy là khi không còn linh hồn. Nhưng nếu xác họ nảy thành cây, thì đấy là tái sinh. Chàng nghĩ xem, còn gì vĩ đại hơn được sống vĩnh hằng.”

Tôi không thể thấy mặt hắn. Việc hắn leo trèo lên tục trên cây táo chỉ là một lí do. Nơi đây được thắp sáng bởi ánh nến, tôi có thể biện hộ rằng ánh sáng không đủ, còn thị lực tôi vốn đã chẳng tinh tường. Cái mặt lạ lùng với những đường gân gấp lên gấp xuống như di chuyển liên tục. Hắn không ăn táo nhưng hễ với tay là nắm được táo. Táo rơi bồm bộp như mưa rào. Phần gốc cây nổi gờ lên như muốn trồi khỏi mặt đất. Tôi ngửi thấy mùi táo chín mọng của lễ hội hàng năm. Không hề có mùi gỗ, hương lá cây khuấy trong gió, thoang thoảng thấy mùi mốc meo của đất lở. Hắn cười vang, tiếng cười cuốn thành tiếng xào xạc của những cành táo. Số táo treo trên cành cũng lắc lư như túm chuông lúc động gió. Ngoài kia, người ta xuống hết đường. Tất cả nhặt táo ăn, ai mang theo ghế cao thì leo lên hái táo. Số người cắm rễ chuyển sinh thành cây đơm quả, người ta hái quả, nhai rốp roắc trong tiếng vỡ xương. Không một ai nhổ hạt. Một vố lừa quá đau khi tất cả đều nuốt hạt. Hương táo đổ trào khắp nơi. Tôi thấy mê man.

“Ăn, là thống trị.” hắn nói trong lúc mắt tôi mê mẩn trong giấc. Giọng hắn du dương hơn tiếng em bé gọi cuộc đời và êm, lịm chất nghiện hơn sữa mẹ.

Người thị trấn nhảy nhót, mừng vui. Nam thanh lột bỏ áo, lột bỏ quần, mặc nhiên thả con giống ngóc thẳng. Nữ tú thả tóc, vén váy, rồi tháo lần lượt từ đôi tất cho đến mảnh đồ lót cuối cùng. Các cặp đôi cùng hái táo và cùng ăn. Họ ăn táo trong khoái trá, thụ hưởng vật chất trong thế chúa muôn loài. Ông Cả trổ quả. Quả tự bứng rơi xuống để rồi đám hai chân bò lồm cồm thành loài bốn cẳng. Bàn tay tôi xiết lại, nắm thấy táo. Một quả táo đỏ tươi như máu xử nữ mất cuộc đời. Trái to bằng bàn tay tôi, nắn thấy cứng, dày, chắc mẻm là táo chín cây. Quả Ông Cả, quà Ông Cả. Mùi táo ngậy thơm làm tôi say mèm. Trong cái choáng mình ê ẩm, nhũn nhão như được chắp cánh, tôi thấy nhiều quang cảnh chập chờn hiện ra, khép lại mở, mở lại khép. Tôi chẳng vén được gì nhưng cái úp mở đã thôi thúc lòng tham phải rút kiếm cướp ngai. Miệng tôi khan, thấy khát, thấy đói, thấy thèm thuồng và thấy được kích dục. Một cái cắn ngập răng vào táo, có khi ngốn hết sạch như hố đen húp sống cả thiên thạch lẫn hành tinh. Cái giòn ngọt của táo Ông Cả tôi đã thử nhưng táo ngày hôm nay sẽ là thượng phẩm. Táo nảy chín kể từ lúc tôi tìm vào Nhà Vòng. Ăn, cái bụng luôn đói ngấu sẽ được thỏa. Một sự no căng phát phì? Hay tôi sẽ chạm đến thứ khoái lạc tối cao và nguyên thủy nhất của thế giới.

Tôi ăn táo.

“Khoan!” – Tiếng ngăn tôi ăn táo.

Vẫn là hắn, kẻ lạ mặt trong vô vàn những kẻ lạ mặt trên cõi đời này. Hắn vẫn cheo leo trên thân cây táo, bám vững chắc như dính vào cây.

“Này chàng, Thiên Đường trong tay chàng, hãy…” – Hắn nói.

“Khoan…” – Hắn lại nói.

“Đồ Lưỡi Chẻ, Kẻ Xấu Xa, Thứ Quỷ Quyệt Trên Cánh Đồng…” – Hắn vẫn nói.

Hắn dựa vào Ông Cả. Hắn ôm mặt, vằn vò mặt. Tiếng hắn cứa làm hai, kháng nhau chan chát. Giọng hắn lúc ngọt ngào như nước hoa, lúc lại dữ dằn như sấm. Sau cái chỉ tay về phía tôi, hắn ngã lộn khỏi cây và đột ngột biến mất sau như trò ảo thuật. Thế rơi của hắn, hai cánh tay duỗi hai bên với đôi chân chập lại theo khuôn thánh giá đổ nhào. Tôi không lần được dấu hắn. Lý do ánh sáng là thừa, tôi cũng chẳng bao biện rằng cỏ mọc dày và rậm đến mức có thể chơi trốn tìm. Hắn đâu rồi. Sau cú rơi, hắn có phải đã tan thành vũng nước và ngấm hoặc bị cây hút làm dinh dưỡng.

Ông Cả trước mặt tôi. Phần vỏ nhăn nheo như bộ mặt tối cổ rỉ nhựa xanh, biểu hiện cho sự tái sinh. Táo trong tay tôi. Chỉ một cái ngoạm, nhai, nuốt ngấu và tôi….

Tôi do dự chưa ăn. Đầu óc tôi choáng lộn bởi tiếng hò hét phía ngoài. Đèn đóm của thị trấn tắt phụt. Người ta xuống đường đốt nến. Những cây nến cong queo, ánh lửa vẹo vọ như lưỡi rắn tìm mồi trong đêm.

Những cơ thể tìm nhau, cùng hái táo và cùng nhai, mớm nhau bằng cái hôn. Táo ăn không nhè hạt. Mọi người ca hát bằng cách vỗ miệng hú. Những thân mình uốn éo, cuốn vào nhau, cuốn vào thân táo.

Tay trái tôi nắm số lông con bồ câu đánh rơi. Chặng đường giữa tôi với bồ cầu, giữa người và chim, giữa cặp chân và đôi cánh. Bảy, đấy là số lông cánh tôi có. Đếm đi đếm lại, vẫn chỉ con số này. Vốn tôi nghĩ mình nhặt được nhiều hơn bảy sợi lông. Nắm chặt bàn tay, tôi đâm bảy đầu ngọn lông vũ vào ngực. Đâm từng nhát một, liên tục cho đến khi cơn đau làm tôi choàng tỉnh. Bảy sợi lông ngấm ngút vào ngực tôi. Chúng biến mất sau khi để lại một bên ngực bầm dập, trầy trụa vết đâm. Máu rỉ và chảy nối nhau từng giọt từng giọt như nước sáp nến. Cơn đau làm tôi tỉnh táo.

Tôi lõa thể từ bao giờ.

Nhà Vòng loang lổ, mục rỗng, tỏa mùi mốc meo của nấm siêu vi trùng. Cây táo Ông Cả kềnh càng như con bạch tuộc già đang hấp hối. Táo rơi bồm bộp từng đợt như lũ kéo.

Những cây táo khác đang quẫy đạp đòi ngoi khỏi đất nhưng rễ đã bắt vào Ông Cả. Mùa lễ hội…Người trong thị trấn ăn táo cả vỏ, cả hột. Tiếng cắn to tướng, nhai cũng to tướng. Một người ngã lăn lộn, hóa cây.

Đôi bàn tay tôi xòe hướng trời. Quả táo đứng trên một bàn tay. Tay còn lại trống trơn, bàn tay từng nắm bảy lông vũ. Trái quả tươi đỏ như mảnh đất màu mỡ, chờ khai phá. Mùi táo chín ngọt ươm trí tuệ nhân loại. Lát táo dày, tinh túy của trời và biển. Uống hết sao rơi, liếm khắp dãy ngân hà…Chúa Tể…

Tôi nghĩ ngợi về tương lai. Tôi đắn đo, nhắm nghiền mắt để đắn đo. Tôi trầm tư thật lâu, tựa như đang chết trong một giấc im lặng kéo dài, đốt cháy tuổi trời. Vết đâm nơi lồng ngực đã khép miệng nhưng máu vẫn nhức nhối và sôi sục, thúc giục tôi mở Thiên Đường…

Không phải trò tưởng tượng! – Tiếng đánh trong đầu trong ngân vang.-Tương lai nào phải trò tưởng tượng. Chọn tương lai, không giống như chọn vật để đấu giá, tìm nơi để náu thân trong khi đấy chỉ là sự ăn bám liều lĩnh. Một Thiên Đường, hay nhiều Thiên Đường…Tôi điên mất. Một con thuyền có đến được đất hứa không khi chúng ta đã dùng hết gỗ thuyền cốt để đóng cho mình một áo quan bền, đẹp nhằm kiêu hãnh với giun dế giòi bọ, sẽ gặm thân ta thành xương trắng. Táo, không phải táo, là tôi. Lông vũ, không phải lông vũ, vẫn là tôi. Cân lượng này, tôi chọn…

TRU SA

 

Advertisements

DẠO KHÚC 9

Tôi không còn đồng bạc nào
đặt lên bàn tay
người bạn ăn mày
ngoài chút ảo mộng
với chút tình phai…

Tôi không còn hạt lúa nào
cho cánh chim đói khổ
bay về đây từ chốn xa xôi
bay về đây chờ đợi
bay về đậu trước túp lều tôi.

Sương lạnh đầy trời
xin vào sưởi ấm
này cánh chim đói khổ
ăn mày lạc loài.

Ta đốt ảo mộng
thắp sáng tình phai…

Nguyễn Quang Tấn

LẠI THÊM LẦN HỘI NGỘ GIỮA CÕI TẠM NÀY

 

 

Bạn hãy mở giùm tôi ô cửa ở ngoài kia
Nắng đã luống tuổi cùng da mồi tóc bạc
Trọ cũng lâu giữa cõi đời sương tuyết
Chinh chiến yên lâu sao chưa thấy bóng ai về?

Đường chiến binh lao xao rồi bặt tiếng
Máu cùng xương phơi trải  khắp sơn hà
Vậy mà với lời thề năm xưa ấy
Vẫn còn đây vai nặng chốn bôn ba

Bè bạn đâu những người muôn năm cũ
Thoát dần vơi theo nến lụn, nhang tàn
Thôi vậy nhé, còn đây chung rượu lạt
Những nụ cười hóm hém buổi hợp tan!

Ta lại về đây, chốn trọ này sang chốn trọ khác
Tuổi liêu xiêu còm cõi dắt dìu nhau
Biết rồi sẽ quanh đây nhiều chinh phụ
Non nước mịt mờ , bờ bãi tận đâu đâu…

Đứa còn khỏe hôm nay siết tay thằng yếu nhớt
Ráng nghe mày, còn chút nắng ở ngoài kia
Liệu đủ ấm trái tim người lính già bại trận
Đời chiến binh sống gởi thác quay về…

 

CHU THỤY NGUYÊN

BỮA ĐIỂM TÂM CỦA TRÂN SA

 

Hồ Đình Nghiêm
Thi phẩm của Trân Sa
đời ta đâu phải là cây mục
trôi với rong và rã với rêu
đời ta đâu phải là ga xép
đứng chờ đỗ lại một tàu xiêu.
Bài trên có tựa là “Tĩnh”. Còn dưới đây, thơ mang tên “Động”. Sắp chung một trang, được viết vào năm 1983.
đôi khi gió bão qua ngang núi
chim bay cuồng nơi ẩn trú đâu
đôi khi cỏ dại gai đầy lối
ngựa ngửng đầu ngơ ngác ngó quanh.
Biên giới giữa Tĩnh và Động, cái sự lọt vào, thứ trạng thái nhập nhằng ấy dường như không hiện diện trong thơ Trân Sa. Cô mềm lòng khi đứng bên này đường và cô cứng rắn khi đặt chân sang tới lề bên kia. Con người Trân Sa chẳng chấp nhận cái nửa vời. Nắng chan hoà trên từng câu thơ, đôi khi chữ chết chìm dưới một bầu trời sũng nước. Tôi đọc, không nhìn ra cái ui ui của thứ thời tiết tức giông nắng trốn. Ra ngô ra khoai, chẳng ỡm ờ!
Từ chỗ tôi ở đến thành phố Trân Sa trú ngụ cách nhau 6 giờ lái xe. Mưa ở Montréal mà nắng vàng ngập phố Toronto. Cách trở bao nhiêu cây số mà trái khoáy vậy? Tôi mua vé xe lửa (không tàu xiêu) và lần khác thì leo lên xe đò băng đồng vượt suối. Chúng tôi gặp nhau đúng ba lần (sự bất quá tam). Vậy thì cuộc hội ngộ còn lại là do “người về từ Toronto” tạo nên. Ba lần, trải dài qua tháng năm của thời điểm 1989 và 1990. Ôi, mới đó mà đã sang một thế kỷ rồi ư?
Trân Sa hơi gầy, hình như ngày cũ ở Nha Trang. Trân Sa nói giọng Huế chưa phai nhạt nước sông Hương, trầm, hơi khản tiếng; thứ chất giọng mà tôi nghĩ những người hát nhạc Jazz đều sở hữu. Tóc cắt ngắn, thật ngắn. Mang gương cận thị. Thích uống cà phê đen đậm đặc và ngồi bên nhau chừng hơn nửa giờ, hai đứa đã đốt khói bay 20 điếu thuốc trong chiều tà. Nhìn Trân Sa, tôi dấu ý nghĩ là cô đã vô tình chở trí nhớ tôi về lại Huế năm xưa, hồi tôi gặp nhà văn Trùng Dương theo nhật báo Sóng Thần đi viết bài tận vùng địa đầu giới tuyến. Ngồi với anh Đinh Cường trong Đại Nội có thể đón nhận cơn địa chấn lan về do hoả tiễn lẫn đại pháo chăm trút xuống cổ thành Quảng Trị. Có chút gì đọng trên gương mặt Trân Sa làm gợi tới Trùng Dương? Cái kính to trên gương mặt gầy tóc ngắn? Những cọng khói ẻo lả từ tay bay lên? Và văn chương. Và lên đường. Và nhập cuộc. (Có thời Trân Sa làm chủ biên tờ Trăm Con, đăng tải thơ văn nhiều bài đặc sắc nhưng chẳng thọ lâu do bởi những ngộ nhận, ngay tại Toronto).
Chúng tôi ngó phố phường, miệng mồm thì bận cà phê thuốc lá, nói chung là vụng về không biết tìm cách trao đổi lời qua tiếng lại. Mà nghĩ cũng chẳng cần thiết bởi vì cả Trân Sa và tôi dạo đó đều viết rất hăng. Mê muội gửi bài tới các tạp chí văn học. Đã đọc của nhau và vai đâu vai như giờ này cũng do chữ nghĩa tác thành để làm nên cuộc xúi dại, hơi ngây ngô, hơi khờ khạo. Ngoài thơ, những truyện ngắn của Trân Sa tựu trung đều là những hạt cát quý, lấp lánh (chẳng rành Hán Nôm nhưng tôi vẫn diễn dịch tên Trân Sa ra thế). Ý tưởng lạ, cách dựng truyện và không khí trong đó luôn để lại một thứ gì gần với xót xa. Một dụng công cố sắp xếp lại những đổ vỡ. Hạnh phúc vốn từ đau đớn mà phát sinh. Truyện ngắn “Giữa Những Hàng Ghế Trống” là một ví dụ. “Về Già Tôi Sẽ Đi Tu” là một chứng minh khác.
Tôi nghĩ, ngồi bên nhau mà người ta ít nói, gần như câm lặng, cũng nên được xem là họ đã hiểu lòng nhau. Nếu cho đó là nguỵ biện, thì có thể thưa rằng, e chúng đang bận suy tưởng, mỗi người tự truy đuổi riêng một nỗi niềm để về nhà dựng được một áng văn ghi dấu, đãi đằng nhau.
Chỉ ba lần, nhìn sâu vào mắt nói trong vô ngôn, rồi Trân Sa thầm lặng bỏ đi, biền biệt, mất dấu. Hỏi thăm bạn bè ở dưới đó, không một ai hay. Chưa già, chắc chắn là Trân Sa chẳng “Tôi sẽ đi tu”. Chợt nhớ lại bài thơ “Bơ Vơ” của người đang lẩn trốn vào bóng tối:
Phật ở bên tay trái
Chúa ở bên tay phải
Đối diện: một rừng người
Phía sau lưng: vực thẳm
Ngó xuống: toàn hư vô
Bàn chân tôi đứng lại
Giữa vô cùng bơ vơ
Xác thân chỉ tồn tại
Những nhịp sầu rất thơ.
Nhớ luôn cả bài “Bạn Xưa”:
trong giấc mơ người ám ảnh tôi
sáng hôm nay trời đất buồn rầu
tôi thay áo bước vào đời sống
quá khứ nặng bàn chân thế sao
tôi ở đây hồn ở đâu đâu
một cánh hoa lạc loài trong đầu
đem gửi tặng người qua trí tưởng
thấy môi ai cười khô héo thôi.
Tới ngang đây, tôi đành “nhớ” thêm các bài thơ khác của Trân Sa. Tôi mượn Trân Sa để gửi theo chút tâm tình mà mình chẳng đủ lời để thổ lộ. Tôi vẫn tự nhận tôi mãi kém thua bạn tôi. Và về già có thể tôi sẽ đi tu, tại gia. Ngồi diện bích, hồi tưởng: Chúng tôi đã có một thời như thế. Hồn nhiên trong sự già cỗi. Dấn thân trong hoạn nạn. Mê muội trong phụ rẫy. Tàn hơi trong lãng công. Chỉ còn nỗi nhớ trong thất lạc. Và chỉ còn thơ văn làm bồi đắp thứ tình bạn không tuổi tác. Một buổi điểm tâm Xanh.
Tuy chênh lệch đôi ba tuổi, nhưng Trân Sa tìm đến thơ văn trước tôi một chặng đường dài. Có bài làm năm 1973, 1975, lai rai về sau… Nhưng tôi yêu thơ Trân Sa ở thời điểm mà tôi vừa đến góp chung một tiếng nói. Chẳng hạn như bài “Đối Thoại Trong Một Cuốn Tiểu Thuyết” được viết vào tháng 11, năm 1988:
Họ nói về những bầy chim gẫy cánh giữa trời
về những con người chôn mặt mình trong đất
về cuộc đời giữa những còn và mất
về tương lai trống không và hiện tại chôn vùi
Họ nói về một vầng trăng chết đuối ngoài khơi
về một tình yêu không còn trong trí nhớ
về cái chết và về niềm hãi sợ
về hoang đảo cô liêu chỉ có một người
Họ quên nói với nhau về những tiếng cười
về những ban đêm không thể còn bóng tối
về không-một-trái-tim-nào-có-tội
về không-ai-là-dã-nhân khi còn biết thương đời
Họ bận rộn nhỏ lên nhau giọt lệ ngậm ngùi
nên quên nói với nhau những lời hy vọng
Họ mải miết với quá nhiều phủ nhận
nên không còn gì ở giữa những đôi môi.
MỘT
tâm hoa nở rộ khắp mùa
thương em búp nhỏ bao giờ ra bông
tay ai khuấy nước trên sông
thương em gợn sóng tan vào hư vô
a ha địa ngục tang bồng
ta quăng cực lạc nhập vòng tử sinh
bước chân lạc lõng u minh
môi cười bình lặng tỉnh điên cũng là
bao giờ em hiểu ra ta
ý thân nhất thể ta là chính em.
(4/88)
LẠNH
tôi đã đi rồi tôi đến đâu
không về. nhất định chẳng về đâu
trời ơi. sao đất vô cùng lạnh
dưới một dòng sông gãy nhịp cầu.
(1987)
NHỚ
đã ra đi
đã qua đường
tình xưa
còn động
vết thương ngọt ngào
đã quay lưng
đã tay chào
hôm nay
còn nhớ
hôm nào,
rưng rưng.
(6/86)
NGƯỜI
đêm
nâng ly café
thấy Nét Đẹp Em Người Da Đen
buổi sáng
châm điếu thuốc
hồng Lửa Ấm Anh Người Da Đỏ
trưa
một ly sữa nhỏ
mát rượi Diễm Phúc Người Da Trắng
chiều
tĩnh lặng
Tôi Người Da Vàng trực nhận mối tương quan
đầy thân ái
nhân loại bao la
dưỡng sinh và huỷ phá
Tôi xin yêu Người
   Da Đen Da Đỏ Da Trắng Da Vàng
Tôi xin vô cùng yêu Anh yêu Em yêu Tôi
Dù sao.
(1984)
NỖI NHỚ
yêu từ cái thuở
trăng còn Rằm
thuở Hoa
đơm nụ mới
đầu năm
bao nhiêu
Thu rụng
Đông tàn úa
Xuân Hạ
còn nguyên
nỗi nhớ
Xanh.
TÂM TRẠNG
có khi rớt xuống huyệt
có khi bay lên trời
có khi đùa mải miết
có khi sầu không nguôi
có khi tôi yêu người
có khi lòng lạnh nhạt
có khi hát yêu đời
có khi gần tự sát
có khi ngồi nghĩ mãi
điều vô lý đời mình
có khi chợt kinh hãi
lặng lẽ kiếp nhân sinh.
BAO DUNG
lặng im mà ngó
mưa về
ngó trời đất
sụp
gần kề hai chân
lặng im
rơi lệ xuống
thầm
trái tim nhẫn nhục
ôm chầm bão giông
từ đêm
địa chấn tới gần
lặng im nghe
tiếng chim gầm mái hiên
lặng im nghe
tiếng khóc phiền
lặng im nhìn
những sắc hình
rụng phơi
lặng im
môi hé
nửa vời
tiếng bao dung
thoảng
giữa trời bụi che.
MEN MÙA HẠ
chiều mang tiếng nói đi theo gió
mang theo ngọn nắng khuất về tây
có chi trong nắng mà tôi nhớ?
một giọng cười hay sợi tóc bay?
có chi trong tiếng mà tôi nhớ?
một chút ân cần một chút vui?
có chi như mật trên môi đó
ngọt với muôn người hay chỉ tôi?
có chi như thể trong vườn lạ
nở một nhành ôi đẹp bất thường
có chi xanh mượt như cây lá
vẽ lại trần gian vốn thật buồn
có chi như thể hương mùa hạ
tiễn một mùa đông đã quá dài
ô hay cứ tưởng tim thành đá
lại đập hồn nhiên mấy nhịp sai
cứ đến rồi đi rồi trở lại
cứ cho tôi nhớ hết đêm này
ngày mai cứ nắng đừng mưa nhé
cứ vẫn ngọt ngào như bữa nay
chiều mang tiếng nói đi theo gió
mang theo ngọn nắng khuất về tây
có chi trong nhớ mà tôi ngỡ
men nồng chưa chuốc vội vàng say…
Những bài thơ hiển thị ở trên, tôi nhặt ra từ hai thi tập “nàng thơ” ký tặng năm xưa (đã qua thế kỷ rồi sao?): “Thơ Trân Sa” (Tập Họp xuất bản năm 1989) và “Điểm Tâm Cho Người Tình” (Tân Thư xuất bản năm 1990). Cả hai thi tập đều không ghi đôi dòng tiểu sử tác giả và những trang thơ giờ này thảy đều úa màu. Thứ sắc màu vàng vọt có trong thơ Nguyễn Tất Nhiên:
“Nắng bờ sông như màu trang vở cũ
Thuở học trò em làm khổ ai chưa?”
Tôi từng khổ và tôi đang hối hận. Giá mà ngày ấy thực hiện được một buổi chuyện trò cùng bạn, để tìm hiểu do đâu, ngọn nắng nào đã soi rọi vào, tác thành nên những hạt cát lấp lánh có tên gọi Trân Sa. Bởi chăng chúng ta đều bị cuốn vào thứ đời sống hối hả chuyện mưu sinh. Không thể cưỡng chống, chẳng thể nghe theo lời Bùi Giáng:
“Áo cơm bỏ lại bên đời
Bỏ tan lìa mộng bên lời tử sinh”.
Bạn còn đâu đó ở Toronto? Hay “khi về già tôi sẽ trở lại chốn xưa”? Sài Gòn, Phan Thiết, Đà Lạt hay Nha Trang? Thành phố mà nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng từng gọi: “Hang động của tuổi thơ”. Có lẽ bạn chẳng hay biết “chuyện nhỏ” về tai ương mà tôi từng hứng trong mùa Đông khắc nghiệt chốn này. Khi ấy, tôi gượng cơn đau, nhớ thơ bạn vụt hiện:
“đi ngang bãi tuyết
thấy đời dễ thương
ngã trong đám tuyết
ôi lạnh khôn cùng”.
Mùa đông lại sắp về, tôi chống gậy đi tới quán cà phê cũ kỹ mà chúng ta từng ngồi hun khói. Tôi nhớ lại nhân dáng bạn, khuôn mặt bạn, đang ngồi ghế đối diện. Ừ, nỗi nhớ hiện ra “giữa những hàng ghế trống”. Tôi chép lại thơ bạn, một cách thiếu sót, cũng là một cách làm ấm lại. Chúng ta, chẳng ai có cảm tình về một khoảng trống cả. Phương ấy, bạn còn khổ tâm chêm đầy vơi những câu thơ? Và quan trọng hơn, bây chừ lòng bạn đang Tĩnh hay đang Động?
Chỉ một chút
thoáng động
trên
ngọn cỏ ướt mưa
ngoài ngắt xanh biển rộng
con cá nằm
ngủ trưa.
HỒ ĐÌNH NGHIÊM 
song thập, 2017

THÔNG BÁO

Nhân dịp kỷ niệm 5 năm TƯƠNG TRI đồng hành cùng độc giả, BBT TƯƠNG TRI sẽ xuất bản một tuyển tập đặc biệt : HƯ ẢO TÔI. Gồm 200 bài thơ của 100 tác giả đã cộng tác với TƯƠNG TRI từ những ngày đầu.
Để tránh mọi ngộ nhận, mỗi tác giả sẽ tự chọn 2 bài đã từng hoặc chưa đăng trên TUONGTRI.COM và gởi về trước ngày 1/12/2017.
Mong những ý kiến đóng góp từ mọi phía.
Thân ái,
Thay mặt BBT
Tôn- Nữ Thu- Dung

NỐI ĐUỐC ĐỢI TÀN ĐÊM

Bên ánh nến võ vàng đêm hiện thực
Sao lòng em huyễn hoặc một vầng trăng
Sao không cháy bừng lên như ngọn đuốc
Để ngày mai còn lại chút tro tàn

Bao kẻ đứng quay lưng về phía biển
Lũ kình ngư ngạo nghễ nuốt trùng khơi
Hảo bằng hữu ngông nghênh làm giặc lạ
Dối lòng chi ru khúc hát lừa đời

Tan hoang rừng sum sê cây thương nhớ
Cạn kiệt nguồn trơ sỏi đá tương tư
Người phóng độc vào xanh tươi hoa cỏ
Mảng tư duy độc tố cũng ao tù

Những vấn nạn đeo còng lưng khổ nạn
Những kiếp ruồi mê mải chỗ tanh hôi
Những mắt ếch giương ánh nhìn vô cảm
Hí hửng say trong vuốt bọn săn mồi

Vuốt mắt biển tiếng gầm căng vỡ ngực
Ai đạp luồng sóng dữ tạnh ngàn khơi
Ai trở giáo dẫn đường cho tội ác
Ai đang chôn mong đợi xuống chân trời

Đong từng giọt nỗi buồn đầy khoảng trống
Đêm không tàn nối đuốc sẽ tàn đêm
Lòng trơ đáy nhưng tình người chưa cạn
Vén mù sương đắm đuối mảng yên bình!

Lưu Xông Pha

TẠI SAO TA LÀM THƠ TÌNH

(để trả lời một câu hỏi,
chưa chắc những người sống trong lòng quê hương
yêu quê hương bằng những người xa quê hương…)

không hiểu sao em cứ bất bình
lạnh nhạt mãi ngữ ngôn ta viết
mấy mươi năm sống chết với thơ tình
vẫn chưa khiến lòng em rung động.

ta biết hôm nay qua thời mơ mộng
chuyện học trò thành cổ tích ru con
có cách xa nhau trái đất vẫn tròn
tình đã chết là tình chờ sống dậy.

cứ đứng đợi mùa cây chín trái
từ hương hoa thơm ngát vườn đời
quá khứ ta là những trận mưa rơi
giờ đến lúc thất thời khô khốc.

ta biết Sài Gòn vỉa hè đang khóc
ôm vết thương cắt nát mặt mày
những bậc thềm lịch sử đã phân ngai
bỗng vụn nát từ bàn tay quyền lực

ta biết miền trung biển đang chết tức
thuyền ngư dân nằm phơi bụng trên bờ
sóng ngày xưa mềm mại tựa bài thơ
nay biến sắc oi nồng mùi hóa chất.

ta biết non sông dần dà sẽ mất
đảo, vịnh, đất, rừng, biên giới, lương tâm…
những con người biểu hiện thú cầm
những thú cầm nhân danh thiên tử.

ta biết trẻ em đến trường kiếm chữ
nhọc nhằn hơn kiếm gạo nuôi thân
vượt suối băng sông bằng dây cáp tử thần
đội mưa học trong lớp nghèo xơ xác.

ta biết ngoài kia bọn nịnh thần khoác lác
xây tượng đài, dinh thự…thật nguy nga
tính toán công trình bằng bạc đô la
dân thì sống lùi về thời lượm hái.

em đừng bảo ta suốt đời cuồng dại
suốt đời làm thơ ca tụng tình yêu
mấy mươi năm vui ít buồn nhiều
hận chồng chất làm sao ta thở được
hãy cho đời một lần thêm ơn phước
(đem yêu thương vào nơi oán thù).*

PHẠM HỒNG ÂN

Những hồi ức từ buổi họp mặt của một khóa Võ Bị lừng danh

 

Tối Chủ Nhật 24/11, trước Thanksgiving, tôi được ông anh bà chị cho tháp tùng tham dự buổi họp mặt Cựu SVSQ Khóa 16 VBQGVN của anh, kỷ niệm 54 năm ngày khai giảng Khóa Võ Bị đặc biệt vang danh này.

Có lẽ hầu hết những ai đã trưởng thành tại miền Nam Việt Nam trong cuộc chiến chống Cộng đều biết hay nghe nói về Khóa 16 VB(Đà Lạt). Khóa đầu tiên cũng là khóa điển hình của quân trường mang danh “Võ Bị Quốc Gia Việt Nam”, hậu thân của trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt (École Militaire InterArmes de Dalat (EMIAD).  Một quân trường danh tiếng nhất Vùng Đông Nam Á, đào tạo những sĩ quan hiện dịch mẫu mực nhất. Với Đại tá Trần Ngọc Huyến, vị chỉ huy trưởng nhiều tài năng và huyền thoại,  một chương trình huấn luyện bốn năm mới mẽ, đặc biệt chú trọng đến kiến thức văn hóa, với châm ngôn được dùng như kim chỉ nam: “Tự Thắng Để Chỉ Huy”, những bài giảng về nghệ thuật lãnh đạo có sức lôi cuốn, cùng với bài truy điệu và những hình thức tưởng niệm đầy tính bi hùng của chính vị chỉ huy trưởng đặt ra, đã thổi vào tim óc học trò của ông, những SVSQ Khóa 16 VB, lòng say mê binh nghiệp, niềm kiêu hãnh của một người lính sẵn sàng hy sinh cho tổ quốc, để sau này trở thành những vị chỉ huy tài ba, thao lược, văn võ song toàn, làm rạng danh cho Quân Lực VNCH.

Hôm nay, những cánh “đại bàng” còn sống sót từ một thời lẫy lừng trên khắp chiến trường ngày ấy, dù trên thân xác và trong tâm hồn còn mang nhiều thương tích, và tuổi đời đã đến lúc không còn nhiều cơ hội để hẹn một lần sau, nhưng đã cố qui tụ về đây để cùng gặp gỡ những đồng môn năm xưa, khi tất cả còn là những SVSQ trai trẻ, đứng trên đỉnh Lâm Viên với hào khí ngút trời, cùng một lời nguyền :” Chúng tôi không cầu an lạc dễ dàng, mà chỉ khát khao gió mưa cùng nguy hiểm”. Nhìn những mái đầu bạc, những bước chân khập khiểng, những đôi mắt mơ hồ như đang hồi tưởng về quá khứ lẫm liệt một thời, có ai không khỏi chạnh lòng?

Nếu không có ông anh “chỉ điểm” hai vị đồng môn ngồi ngay phía sau lưng, tóc vẫn còn đen, trông hiền lành như hai vị giáo sư, chắc chắn tôi không thể ngờ được, một người từng là Đại tá BĐQ (Nguyễn Văn Huy) nổi tiếng, một người là Trung Tá Nhảy Dù (Bùi Quyền), vị thủ khoa của Khóa Võ Bị vang danh này. Khi nhìn được “dung nhan mùa thu” của vị thủ khoa Khóa 16, tôi bỗng nhớ lại chuyện bốn mũi tên do vị thủ khoa Khóa 17, Vĩnh Nhi, giương cung bắn đi trong ngày lễ ra trường mà tôi được nghe một ông anh Khóa 17 kể lại vài năm trước.

Mặc dù đã được thực tập nhiều lần trước ngày hành lễ về động tác dùng cung bắn 4 mũi tên đi 4 phương trời tượng trưng cho chí tang bồng hồ thỉ của các tân sĩ quan, nhưng trong giây phút trang nghiêm nhất của buổi lễ hôm ấy, trước sự chứng kiến của vị nguyên thủ quốc gia, tân thiếu úy Vĩnh Nhi, thủ khoa Khóa 17, đã chỉ bắn bay xa được có một mũi tên duy nhất. Sau này nhiều người nghĩ mũi tên ấy chính là biểu tượng cho vị thủ khoa Khóa 16, Bùi Quyền, người hùng còn sống sót đến hôm nay. Ba mũi tên còn lại bị rơi ngay trước mặt là điềm báo trước sự hy sinh của ba thủ khoa kế tiếp:  Nguyễn Anh Vũ thủ khoa khóa 18, sĩ quan binh chủng Nhảy dù hy sinh trong trận đánh tại mật khu Bời Lời năm 1964. Thủ khoa Võ Thành Kháng khóa 19, TQLC, tử trận ngay trong trận đánh đầu đời, Bình Giả năm 1965. Và cuối cùng chính là người bắn cung hôm ấy, thủ khoa Vĩnh Nhi, SĐ7BB,  hy sinh  bên bờ sông Bảo Định, Mỹ Tho trong trận Mậu Thân 1968.

Đã có rất nhiều bài viết ca ngợi vinh danh những sĩ quan, những cấp chỉ huy tốt nghiệp Khóa 16 VB, như là những người lính kiệt liệt, những cấp chỉ huy mẫu mực ở những binh chủng lừng danh, không những đã tạo nên những chiến tích lẫy lừng mà còn mang nhiều huyền thoại. Từ vị Thủ khoa, Mũ Đỏ Bùi Quyền, đến vị Á khoa Mũ Xanh Robert Lửa Nguyễn Xuân Phúc, Á khoa Mũ Đỏ Trần Đăng Khôi, vị Lữ Đoàn trưởng Nhảy Dù ” bô trai” Lê Minh Ngọc, vị Lữ đoàn phó TQLC “hào hoa” Đỗ Hữu Tùng từng làm say đắm một nàng ca sĩ nổi danh thời ấy. Đại tá BĐQ Nguyễn Văn Huy, mang lon đại tá khi chỉ mới 34 tuổi và có lẽ là một trong số rất hiếm sĩ quan cấp đại tá có Đệ Tam Đẳng Bảo Quốc Huân Chương. Đại tá Đặng Phương Thành, người anh cả của Trung Đoàn 12/SĐ7BB đã tạo nên chiến thắng cuối cùng lẫy lừng nhất khi đánh tan hai trung đoàn thiện chiến của Công trường 7 CSBV tại Long An, trong mưu đồ vây hãm và tiến chiếm Sàigon tháng 4/75. Ông đã nhận tấm Bảo Quốc Huân Chương Đệ Tứ Đẳng cuối cùng của VNCH do Tổng thống Trần Văn Hương đến tận nơi trao tặng. Năm 1976 Ông đã bị bon CS trả thù giết chết man rợ tại một trại tù miền Bắc. Đại tá Nguyễn Hữu Thông, vị trung đoàn trưởng can trường của SĐ22BB, luôn hết lòng yêu thương, sống chết với anh em đồng đội. Cuối tháng 3/75 theo lệnh, đã cùng đơn vị lên tàu Hải quân chờ di chuyển, nhưng thấy còn thiếu một “đứa con” đang vẫn còn chiến đấu , đã nhảy xuống tàu bơi vào bờ, để rồi không bao giờ trở lại.

Trong số những tên tuổi tiêu biểu này, có người đang còn sống đời lưu lạc tha phương, có vị đã vĩnh viễn nằm lại chiến trường xưa, ở một nơi vô danh nào đó. Dù xương cốt đã tan vào cát bụi, nhưng hình ảnh kiêu hùng và tên tuổi sẽ còn linh hiển và vang vọng mãi trong lòng mọi người, đặc biệt những ai đã từng là lính.

Được vinh hạnh tham dự buổi họp mặt của những vị đàn anh ” quá khổ”, những ông thầy một thời hằng ngưỡng mộ, tôi bỗng nhớ đến những vị Khóa 16 mà tôi đã từng phục vụ dưới quyền hoặc có cơ duyên được làm việc chung trong các cuộc hành quân hổn hợp hay đã được quen, được gặp. Đa số những vị này có thể ít người biết đến, hoặc đang còn ở cái thời chưa vang tiếng, nhưng tất cả đã để lại trong lòng tôi một niềm kính phục.

Rời trường Thủ Đức, tôi được bổ nhậm về một Sư Đoàn Bộ Binh ở Vùng 2. Sau khi trình diện đại tá Lữ Lan, Tư Lệnh Sư Đoàn, trong số 12 người cùng khóa, tôi và hai thằng bạn  được về Tiểu Đoàn 3/44, bổ sung cán bộ trung đội trưởng vừa bị tử thương trong các trận Đỗ Xá, Vũng Rô.

Hậu cứ tiểu đoàn đóng tại Ban Mê Thuột, nhưng vì được chọn làm đơn vị lưu động, trừ bị cho quân đoàn, nên đơn vị đi hành quân liên miên từ các tỉnh đồng bằng vùng duyên hải đến các tỉnh cao nguyên xa tít: Quảng Đức, Lâm Đồng, Pleiku, Ông thiếu úy già chỉ huy hậu cứ cho biết, đã hơn bốn năm, tiểu đoàn chưa có lần trở về hậu cứ.

Lãnh quân trang súng ống xong, hai ngày sau chúng tôi được lệnh tháp tùng chuyến bay C47 của đại táTư Lệnh SĐ đi họp ở Nha Trang, để trình diện đơn vị. Tiều đoàn đang hành quân tảo thanh địch tại vùng Diên Khánh, nơi một mật khu của địch vừa bị khám phá sau khi khai thác những tù binh bị bắt trong trận tấn công của chúng vào khu vực Đại Điền và Thanh Minh bị thảm bại.

Chúng tôi được ông tiểu đoàn trưởng mang xe đến phi trường đón về đơn vị. May mắn, đúng vào lúc đơn vị vừa chấm dứt cuộc hành quân dài hạn, đang nằm dưỡng quân tại một vườn dương trên bờ biển, bên ngoài hàng rào của TTHL Hải Quân Nha Trang. Lần đầu tiên chúng tôi thấy tận mắt hình ảnh cực khổ của một đơn vị tác chiến thực thụ. So với hình ảnh sinh hoạt của TTHL/ HQ nằm ngay bên cạnh, thì đó là một thiên đường, một hình ảnh lính hoàn toàn khác.

Thời ấy, được một đơn vị chủ lực hùng mạnh tăng phái hành quân truy tìm và tiêu diệt địch trong lãnh thổ của mình là một điều rất vui mừng, nên ông tỉnh trưởng Khánh Hòa đã dành riêng 4 phòng tại khách sạn Phụng Hoàng, nằm trước ga xe lửa, cho tất cả sĩ quan nghỉ ngơi sinh hoạt. Chúng tôi được ông tiểu đoàn trưởng đưa về đây trình diện các ông đại đội trưởng và giới thiệu với các sĩ quan khác trong đơn vị.

Trong bốn ông đại đội trưởng có một vị oai phong cao lớn, mang hai hoa mai trước ngực. Sau khi được giới thiệu, chúng tôi biết đó là Trung úy Thái Hữu Dư, tốt nghiệp Khóa 16 VB Đà Lạt. Đại Đội trưởng Đại Đội 1.

Tôi về Đại Đội 3, không thuộc quyền của anh, nhưng hầu hết sĩ quan trong đơn vị đều gần gũi thân tình. Anh xem bọn tôi như em út, chỉ dạy, hướng dẫn đủ điều. Không những về kinh nghiệm chiến trường, mà còn nghệ thuật lãnh đạo chỉ huy. Anh bảo, là sĩ quan ở một đơn vị tác chiến phải làm sao cho quân sĩ vừa yêu thương mà vừa kính nể. Hơn một năm, đơn vị tham dự khá nhiều trận chiến, anh luôn là một vị đại đội trưởng xuất sắc, gan dạ mưu lược, đã tạo nhiều chiến thắng vẻ vang cho đơn vị.

Một năm sau, anh được thuyên chuyển bổ sung đại đội trưởng nòng cốt cho một tiểu đoàn bạn. Trong một cuộc hành quân tại Lâm Đồng, đại đội anh bị địch quân phục kích khi đang di chuyển bằng xe trên quốc lộ. Anh bị thương nhưng vẫn điều động đại đội phản phục kích, chuyển bại thành thắng. Tuy nhiên chiến thắng ấy chính anh phải trả giá, vết thương ở chân bị trở nên trầm trọng. Anh được tản thương về TYV Cộng Hòa để giải phẫu. Xuất viện, anh được thuyên chuyển về một đơn vị thuộc Vùng 4.

Sau đó, sư đoàn bổ sung cho đơn vị một vị đại đội trường khác, cũng xuất thân Khóa 16VB mà chúng tôi đã từng nghe danh và gặp gỡ trong các cuộc phối họp hành quân trước đó: Trung úy Huỳnh Bá Vạn. Anh về nắm đại đội của tôi.

Anh Vạn là người đã tạo nên nhiều huyền thoại (và giai thoại) trong đơn vị, mà tất cả anh em từ quan tới lính đều hết lòng thương yêu và kính nể. Anh là một trong những SVSQ Khóa 16 VB được chọn sang ngành Hải Quân. Nhưng sau một thời gian ngắn ở TTHL/HQ Nha Trang, anh đã xin ra Bộ binh để được đi chiến đấu. Anh đúng là một “chiến binh” thực thụ, luôn một lòng sống chết với anh em, dù ở chiến trường hay khi về thành phố. Anh chiến đấu thật hào hùng và sống hào sảng như một Lương Sơn Bạc. Thương yêu sĩ quan dưới quyền như các em út trong nhà. Đàn bà và rượu dường như không đủ làm anh say và luôn xem nhẹ hơn tình đồng đội. Khi uống rượu anh cũng bình tĩnh như lúc đánh giặc, chỉ cười, không nói, vậy mà chưa có tay nào trong đơn vị uống hơn anh và đánh đấm hơn anh.

Sau khi rời tiểu đoàn, anh về làm đại đội trưởng Trinh sát Sư Đoàn rồi ra nắm tiểu đoàn ở một trung đoàn khác của sư đoàn. Vài tháng sau lên làm trung đoàn phó, thăng cấp trung tá. Bị thương, anh được thuyên chuyển về TTHL Lam Sơn (Dục Mỹ).

 

Tháng 5 năm 1966, đang hành quân trong rừng núi Phú Yên, đơn vị tôi có lệnh kéo ra Quốc lộ, lên xe di chuyển đến phi trường Tuy Hòa để không vận lên Ban Mê Thuột, tăng phái cho Trung Đoàn 45 BB, tham dự cuộc hành quân Quảng Nhiêu, tiếp viện một tiểu đoàn BĐQ và một chi đoàn TQV bị VC phục kích.

Trước giờ xuất quân, đám sĩ quan chúng tôi ngồi uống rượu đế. Ông đại đội trưởng Huỳnh Bá Vạn của chúng tôi đi tìm và kéo về một người bạn đồng môn Khóa 16: Trung úy Nguyễn Tấn Mỹ. Trông anh thật đẹp trai và hào hiệp. Được biết anh là vị đại đội trưởng nổi tiếng nhất của Trung Đoàn 45 này. Cuộc rượu chưa tàn thì có lệnh xuất quân. Một giờ sau, cánh quân bạn đụng địch. Lực lượng đich khá hùng hậu, có nhiều ổ súng cộng đồng, bố trí trong các vườn cà phê với hầm hố kiên cố. Cánh quân đi đầu của ta phản công mãnh liệt, dưới sự điều động gan dạ liều lĩnh của người đại đội trưởng, đã nhanh chóng đè bẹp đối phương. Nghe trong hệ thống vô tuyến, nhiều địch quân bị giết và bắt sống, bỏ lại một số vũ khí có cả đại liên và súng cối 60 ly. Chiến thắng hào hùng ấy đã phải trả giá bằng chính sinh mạng của vị đại đội trưởng. Chúng tôi giật mình thảng thốt, khi biết vị sĩ quan ấy chính là Trung úy Nguyễn Tấn Mỹ, vừa mới gặp để chỉ kịp cạn nửa bi-đông rượu mà đã đem lòng kính mến, chúng tôi đã vĩnh viễn mất anh.  Đó là vị sĩ quan tốt nghiệp Khóa 16 VB đầu tiên mà tôi được quen biết, đã hy sinh. Nghe nói anh ra đi, cũng đã để lại rất nhiều nước mắt cho các mỹ nhân, nữ sinh Ban Mê Thuột.

Trận chiến Quảng Nhiêu kết thúc, đơn vị tôi di chuyển đến Lâm Đồng. Trong một cuộc hành quân phối hợp với một tiểu đoàn bạn, tôi lại được gặp Trung úy Điều Ngọc Chuy, cầm trên tay khẩu Carbine M.2 bá xếp, đang chỉ huy đơn vị lục soát, vội vàng chạy đến hướng dẫn đại đội tôi đi theo lộ trình tránh mìn bẫy của địch. Thấy anh bắt tay ông đại đội trưởng của tôi, thân mật mày tao, chúng tôi biết anh cùng Khóa 16. Anh Chuy rất vui vẻ hiền lành. Sau này anh lên trung tá, làm Trưởng Phòng Nhì Sư Đoàn. Trong vài lần ghé thăm trung đoàn tôi, khi bào huynh của anh đang làm trung đoàn trưởng (Đại Tá Điều Ngọc Chánh, Khóa 8 VB). Gặp chúng tôi, lúc nào anh cũng bình dị, hòa đồng, luôn nở nụ cười và xưng hô anh em thân thiện. Từ các vị Tư Lệnh đến tất cả sĩ quan các đơn vị, ai cũng mến mộ và kính nể anh.

Trong thời gian hành quân ở Ninh Hòa (Khánh Hòa), nhờ có ông đại đội trưởng Khóa 16VB, bọn sĩ quan chúng tôi được quen biết và “ăn có” uy danh và lòng hào hiệp của một ông quận trưởng tốt nghiệp Khóa 16VB: Trung úy Nguyễn Đằng Tống.  Lúc ấy, anh Tống có lẽ là một ông quan quận trẻ nhất nước, lại làm quận trưởng của một cái quận lớn nhất tỉnh Khánh Hòa:  quận Ninh Hòa.

Bọn tôi đi theo ông quận trưởng đến thăm các trường tiểu học, và trung học. Chẳng báo trước và cũng chẳng có tiền hô hậu ủng. Ông quận thì “thăm dân cho biết sự tình”, còn bọn tôi dựa hơi để tán mấy cô giáo trẻ. Ở vài trường, các cô thầy giáo không biết anh là quận trưởng, vì thấy anh còn quá trẻ, đặc biệt mặc quân phục TQLC, nên chẳng có ai biết cấp bậc của anh. Có người còn hỏi anh có phải là cảnh sát.  Anh cũng chỉ cười, không giới thiệu mình là ai.

Anh là cựu học sinh, huynh trưởng của tôi, ở trường Võ Tánh Nha Trang. Về sau chúng tôi rất hãnh diện biết anh là một tiểu đoàn trưởng, rồi lữ đoàn trưởng vang danh của TQLC. Rất đau đớn khi biết anh đã chết trong những ngày sa cơ khốn khó tại một trại tù ở Nghĩa Lộ. Khi ấy tôi cũng đang ở một trại tù khác trong vùng, nhưng không được biết tin và chào anh lấn cuối.

Trong một cuộc hành quân tại khu vực Bình Lâm (Phan Thiết), đơn vị tôi được đại tá Tư Lệnh Sư Đoàn đến thị sát và ở lại với chúng tôi một đêm. Vị tư lệnh rất đặc biệt và nổi danh này là Đại tá Nhảy dù Trương Quang Ân (từng thủ khoa Khóa 7 VBĐL và nhiều khóa tham mưu khác trong và ngoài nước. Sau lên chuẩn tướng và  đã hy sinh cùng phu nhân khi chiếc trực thăng của ông bà bị bắn rơi ngay sau khi rời khỏi tiền đồn Đức Lập mà ông bà vừa ghé thăm, ủy lạo anh em binh sĩ và gia đình, vào tháng 8/68).

Ông là một vị tư lệnh rất mẫu mực, nghiêm khắc.  Khi nghe tôi trình bày về tình trạng quân số của đại đội, do tôi vừa mới tạm thời thay anh đại đội trưởng bị thương nằm bệnh viện, nên không nắm vững, Ông đã lớn tiếng khiển trách tôi về số binh sĩ bất khiển dụng và phục vụ ở hậu cứ. May mắn có một vị trung úy trẻ tháp tùng vị Tư Lệnh đã xin phép Ông, giúp tôi kiểm soát và cùng trình bày lại với vị Tư Lệnh sau khi Ông duyệt qua hệ thống phòng thủ. Vị trung úy luôn vui vẻ, tươi cười và khuyên tôi bình tĩnh, giúp tôi tính lại chính xác và giải thích các lý do bất khiển dụng của binh sĩ trong đại đội. Lần này được vị Tư Lệnh chấp nhận, hài lòng. Sau đó tôi được biết đó là Trung úy Nguyễn Xuân Thắng, tốt nghiệp Khóa 16 VB.  Sau này trở thành trưởng Phòng TQT của Sư Đoàn với cấp bậc Trung tá.

Cuối năm 1966, sau cuộc hành quân tại Di Linh, Lâm Đồng, tiểu đoàn tôi được di chuyển về giữ an ninh cho công trường Đập Đa Nhim. Riêng đại đội tôi được biệt phái cho Tiểu Khu Ninh Thuận. Đúng lúc ông trung úy đại đội trưởng đi phép đặc biệt, không có đại đội phó, tôi là sĩ quan trung đội trưởng thâm niên được chỉ định xử lý thường vụ.

Đại đội tôi có nhiệm vụ tùng thiết một chi đoàn TQV, phối hợp với Hải Quân, đổ bộ đột kích bất ngờ vào Sơn Hải,  ngôi làng hẻo lánh nằm ven biển, bị địch chiếm đóng từ ba tháng trước và đang tổ chức thành một sào huyệt kiên cố.

Đại đôi di chuyển đến Ninh Chữ, quê hương của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Sau khi bố trí quân xong, cho anh em binh sĩ luân phiên ra biển tắm rửa, nghỉ ngơi, tôi vào Duyên Đoàn 27 họp hành quân. Điều bất ngờ lý thú là anh Duyên đoàn trưởng, HQ Trung úy Hoàng Đình Thanh, lại là bạn cùng Khóa 16 VB với ông đại đội trưởng của tôi, cùng được chọn về Hải Quân khi còn ở trường Mẹ, nhưng anh đại đội trưởng của tôi đã xin ra Bộ Binh đánh giặc. Tôi bèn khoe danh tánh và thành tích ông đại đội trưởng của mình, nên “Commandant” Thanh xem bọn tôi như em út của chính anh. Lệnh cho duyên đoàn thết đãi và chăm sóc bọn tôi chu đáo. Sau khi họp hành, nhận bản đồ và đặc lệnh truyền tin xong, anh xách xe jeep chở bọn tôi lên thành phố Phan Rang chơi xả láng một đêm và cả một buổi sáng hôm sau. Ông duyên đoàn trưởng gốc Võ Bị Đà Lạt này chịu chơi còn hơn cả đám bộ binh đánh đấm nhà nghề bọn tôi. Tửu lượng của anh cũng thuộc hàng “sư phụ”. Và đây là lần đầu tiên tôi tham dự một cuộc hành quân do Hải quân chỉ huy.

Chúng tôi đã đánh một trận rất đẹp và chiến thắng vẻ vang. Từ ấy, anh Thanh xem tôi như là em và chúng tôi thỉnh thoảng vẫn liên lạc với nhau trước ngày mất nước. Năm 1974, trong thơi gian theo học một khóa tham mưu tại Long Bình, tôi gặp lại anh. Lúc ấy anh là trung tá đang làm việc tại BTL/HQ. Anh em cũng đã say một buổi. Sau này biết tin anh mất ở Hoa Kỳ.

Một vài lần, dẫn đơn vị về thụ huấn bổ túc tại TTHL/ QG Lam Sơn (tại Huấn Khu Dục Mỹ), chúng tôi được gặp một vị thiếu tá trẻ, Trưởng Khối Huấn Luyện, đẹp trai, tướng tá oai phong nhưng rất vui vẻ hiền lành, đã tận tình hướng dẫn và giúp đơn vị chúng tôi trong suốt thời gian huấn luyện. Vị sĩ quan này đã để lại trong lòng tất cả sĩ quan và binh sĩ đơn vị tôi sự kính trọng và quí mến. Đó là Thiếu tá Trần Khắc Thuyên, tốt nghiệp Khóa 16 VB. Sau này anh được thuyên chuyển về Sư Đoàn 21 BB, và sau cùng về một TTHL/ QG khác để giữ chức vụ quan trọng hơn. Khi ra hải ngoại tôi được biết anh luôn gắn bó với Trường Mẹ, với đồng môn, hết lòng gầy dựng Tổng Hội Cựu SVSQ /VB.

Năm 1970, (lúc này tôi đã được điều về BCH Trung Đoàn), một sĩ quan từ Sư Đoàn 22BB  chuyển về giữ chức vụ Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 4/44: Đại úy Võ Anh Tài. Có lẽ anh là một trong số rất ít sĩ quan tốt nghiệp Khóa 16 VB có quá nhiều lận đận, trong tình trường cũng như trên chiến trường. Anh là người cùng quê Ninh Hòa với bà xã tôi, và khi ở trong cư xá sĩ quan. chúng tôi ở sát vách nhau.  Dường như chính những nỗi niểm đặc biệt trong tình yêu, hôn nhân, và chứng tâm bệnh kỳ lạ của một đứa con, đã làm cho anh trở nên khắc khổ, trầm lặng, nghiêm nghị, ít nói. Rất khó để tìm được ở anh một nụ cười, hay một lời đùa giỡn. Khá thân nên anh thường rủ tôi sang uống bia, sau các cuộc hành quân trở về. Anh uống khá nhiều, đôi mắt đỏ hoe, nhưng chỉ trầm ngâm, họa hoằn lắm anh mới thốt ra vài tiếng, rất nhỏ nhẹ thân tình. Hiểu và thương quí anh, nhưng thực tình, tôi rất ngại và không mấy hứng thú khi được anh gọi sang uống rượu. Vì tửu nhập mà ngôn không thể xuất.

Nhưng dường như ở bất cứ một vị sĩ quan tốt nghiệp từ Khóa 16 VB nào cũng có nhiều điều làm tôi nể phục. Anh làm tiểu đoàn trưởng cùng với ba anh tiểu đoàn trưởng khác đều là đàn em của anh: Đặng Trung Đức, Nguyễn Xuân Phán (khóa 19) và Hồ Đắc Tùng (khóa 20).  Đặc biệt hơn, vị trung đoàn phó (và sau này là trung đoàn trưởng) cũng là một đàn em Võ Bị của anh: Trung tá Ngô Văn Xuân (Khóa 17).

Vậy mà trong các sinh hoạt, qua các buổi hội họp, hành quân, tôi thấy anh luôn nhường nhịn, “tương kính” đàn em. Các vị đàn em, dù có người là cấp chỉ huy của anh, ai cũng kính trọng anh trong tình thần đệ huynh Võ Bị. Tôi rất khâm phục.

Mùa hè 1972, Trung Đoàn 44 BB chúng tôi tạo một chiến thắng lẫy lừng và giữ vững được Kontum trước sự tấn công của Sư Đoàn Điện Biên 320 CS. Anh Tài được thắng cấp thiếu tá tại mặt trận cùng 3 vị tiểu đoàn trưởng đàn em. Và cấp chỉ huy của anh, một đàn em khóa 17 được thăng cấp trung tá.  Tôi được uống rượu “rửa lon” cùng bốn anh tiểu đoàn trưởng trong một buổi trưa tạm im tiếng súng. Sau khi cụng ly vui vẻ với đàn em, anh tỏ ra bực dọc về việc Mỹ bỏ rơi đồng minh Việt Nam, chúng tôi phải chiến đấu trong điều kiện khó khăn, thiếu thốn đủ mọi phương tiện. Bỗng anh nở một nụ cười (hiếm hoi) rồi thốt lên: “Mai mốt tao bị thương hay chết chẳng biết có trực thăng đưa tao ra khỏi Kontum này hay không nữa?”

Không ngờ câu nói ấy lại trở thành điềm gỡ. Chỉ hai hôm sau, khi CSBV đưa chiến xa T54 tấn công chiếm Bệnh viện 2 Dã chiến, nằm sát hàng rào phòng thủ của thành Dak Pha, đang được xử dụng làm BCH Trung Đoàn. Tiểu Đoàn 4/44 được lệnh mở đường sang tái chiếm. Hỏa lực địch quá mạnh, anh Tài phải cho cắt hàng rào kẻm gai phòng thủ, rồi đích thân dẫn đầu toán thám báo chui qua vùng địch chiếm. Một quả mìn phòng thủ của ta phát nổ làm bay mất cả hai chân của anh. Được binh sĩ khiêng ra phía sau. Trong khi chờ phi cơ tản thương, anh rất tỉnh táo, hé mở mắt nhìn anh em, từng người, với thói quen im lặng không nói một lời gì. Nhưng tôi nhìn thấy dòng nước mắt vừa ứa ra trên mí mắt anh. Một trung úy đại đội trưởng là em ruột của anh, được phép tháp tùng đưa anh về QYV Pleiku. Nhưng khi trực thăng cất cánh được khoảng 15 phút, qua hệ thống vô tuyến, người em báo cho chúng tôi biết là anh Võ Anh Tài đã trút hơi thở cuối cùng.

 

Đầu tháng 3 năm 1972, Trung Đoàn 44BB có lệnh di chuyển từ bản doanh Lý Thường Kiệt Sông Mao ( Bình Thuận) lên  An Khê để thay thế vị trí của một Lữ Đoàn thuộc SĐ 101 Không Kỵ Hoa Kỳ rút quân về nước.  Trong các cuôc hành quân trực thăng vận vào các khu vực Đèo Mang Yang và các mật khu nằm phía bắc An Túc, tôi có vài dịp cùng bay trên C&C đổ quân với trung tá Vĩnh Quốc, Phi Đoàn trưởng Phi Đoàn Sơn Dương 235 (Pleiku). Ông xuất thân Khóa 16 VB.  Trung tá Vĩnh Quốc là vị phi đoàn trưởng rất cẩn trọng, bình tĩnh, trong tình huống nào cũng quan tâm đến sinh mạng , không những của phi hành đoàn , mà cả các binh sĩ bộ binh. Ông điều động các gunship dọn bãi đáp và cover thật kỹ, trước khi cho các trực thăng (slick) đáp xuống đổ quân. Vài trường hợp bộ binh vừa xuống đất thì chạm địch, ông luôn túc trực trên trời để hổ trợ. Sau này tôi gặp lại ông vài lần tại Kontum. Phi Đoàn Sơn Dương 235 của ông đã ròng rã sống chết với những người lính bộ binh chúng tôi trong suốt Mùa Hè Đỏ Lửa.

 

Sau ngày mất nước, trong lúc sa cơ tù tội, tôi được “biên chế” về một đội tù mà anh đội trưởng là một “ông thầy Khóa 16” nổi danh trên chiến trường Vùng I: Trung tá Nguyễn Phú Thọ. Anh cũng là bào đệ của Á khoa khóa 16, sau này là vị lữ đoàn trưởng lừng danh của TQLC: Trung Tá Nguyễn Xuân Phúc.

Trong đội tù, anh là người có cập bậc cao nhất. Dường như đó là thủ đoạn của đám VC, nhằm tạo sự ngờ vực lẫn nhau. Dù bắt buộc phải làm, nhưng anh là người đội trưởng rất tư cách, khí khái, luôn tìm cách bảo vệ, giúp đỡ em út tận tình, chấp nhận mọi hình phạt của bọn cai tù. Ở trong tù, nhưng anh đã xem “đội tù” như là đơn vị cũ của mình, hết lòng thương mến đùm bọc, chở che em út. Ngày tôi được chuyển trại vào Nam, trong lúc chia tay, anh đưa cho tôi lá thư nhờ chuyển về một địa chỉ ở Sài gòn. Anh kể cho tôi nghe giai thoại giữa anh và người nhận thư. Sau khi ra tù, tôi có ghé lại thăm người bạn quí ấy của anh và nghe những lời ca tụng về anh với sụt sùi hai dòng nước mắt. Sau này biết anh trốn trại và vượt biên sang Canada. Tôi mừng lắm, liên lạc hỏi thăm anh. Rồi một hôm khi vừa đến Cali thăm mấy đứa con, tôi được tin anh Nguyễn Phú Thọ đã ra đi một cách chẳng ai ngờ, cũng trong một buổi họp bạn Khóa 16 ở Nam Cali. Tôi ân hận là đã đến trễ hơn hai tuần để không được gặp lại anh, tiễn đưa anh về cõi vĩnh hằng.

***

Những khuôn mặt Khóa 16 VB mà tôi đã được vinh dự làm việc dưới quyền hay quen biết ấy đã cho tôi một cái nhìn thật chính xác và toàn diện về các vị sĩ quan tốt nghiệp từ Khóa 16VB. Bất cứ ở cương vị nào, quân binh chủng nào, từ tác chiến đến tham mưu, từ những vị thành công hay thất bại trong thăng tiến, và ngay cả trong hoàn cảnh tù đày nghiệt ngã nhất, cũng đều tỏ ra rất xứng đáng để được ngợi ca, nể trọng.

Trong buổi họp mặt, một vị đàn em Khóa 18 rất nổi danh: Trung Tá Trần Ngọc Huế, người từng được báo chí Mỹ ca tụng là một anh hùng, được mời lên nói vài lời tâm tình. Với một giọng rất xúc động, ông nói:

“Tôi đã được người Mỹ gọi là một anh hùng, một “real hero”, nhưng điều đó không làm tôi hãnh diện hơn là đã được làm đàn em, được trực tiếp dạy dỗ bởi các niên trưởng Khóa 16VB. Một khóa đã đào tạo rất nhiều anh hùng cho QLVNCH. Trong bất cứ hoàn cảnh nào, tôi luôn ngưỡng mộ và hãnh diện về các Niên Trưởng của tôi”.

Điều đau lòng là miền Nam Việt Nam vô cùng bất hạnh và chúng ta đã tham dự một cuộc chiến quá bất công, để chính nghĩa không thắng được bạo tàn, chí nhân đã phải thua cường bạo. Bao đấng anh hùng Khóa 16 đã phải đành vất cung bẻ kiếm trong đớn đau uất hận. “Ôi! sự nghiệp đang công đeo đuổi thôi đành gián đoạn nửa đường. Chí tang bồng hằng mong thực hiện thôi cũng đành ôm hận ngàn thu”, nhưng tất cả thực sự đã không phụ lòng kỳ vọng của vị chỉ huy trưởng và vị nguyên thủ quốc gia, đã làm rạng danh cho ngôi trường Mẹ, Trường VBQGVN, cùng QLVNCH.

Dân tộc ngày một tan tác điêu linh, đất nước ngày một lâm nguy trong tay của bọn người chiến thắng man rợ, sẵn sàng bán nước cầu vinh. Nhất định có lúc, dân tộc Việt nam sẽ viết lại bản anh hùng ca dành cho những người chiến binh can trường bị bại trận oan khiên tức tưởi năm xưa.

Phạm Tín An Ninh

tâm khúc

 

 

thuở áo thu vàng

thuở áo thu vàng chưa gối mộng
phố xưa đã vắng nụ cười hiền
bến xưa đã vắng con đò nhỏ
chênh chếch đường khuya trăng vô biên

 tưởng đâu…

tưởng đâu là mộng hồn nhiên
vô tư đậu xuống một miền cỏ hoa
té ra là cõi ta bà
lung linh chỉ một sát na hiện tồn

tìm lá diêu bông

(tưởng nhớ nhà thơ HC)

lắng nghe
một tiếng gà trưa
buồn
như cái thuở
chị chưa lấy chồng
làm gì có
lá diêu bông
một đời em
đã cất công đi tìm
đồng chiều
đã nát con tim
lá ơi là lá
trôn kim gãy rồi

 mưa nắng giữa đời

 chỉ là một chút trời xanh
chỉ là câu hát dỗ dành, à ơi
chung chiêng mưa nắng giữa đời
buồn vui gửi lại ở nơi giang đầu

có một đời sông

nẻo buồn khép bóng tà dương
một đời sông cũng đã tường biển dâu
rưng rưng nước chảy qua cầu
chợt nghe sương khói ngàn sau tìm về


NP phan

Hạt Tai Ương,

 

Chào ngày mặt đất
Chào đêm miên trường
Cứu đàn khất thực
Hình nhục cố hương

Ở cuối con đường
Là một tha phương
Một chân trời mục
Một nhánh rong buồn

Chào ngày đã mất
Chào đêm vãn tuồng
Trong vòng trời đất
Một con dế con

Mơ về giữa chợ
Gáy trút hơi tàn
Dư âm tiếng thở
Rền rĩ dế than

Chào ngày tan hoang
Cõi buồn muôn thuở
Chào đóa đại ngàn
Nở chiều tắt thở

Chào ngày đến trễ
Một hạt tai ương
Gieo vườn hoang phế
Thành chiều thê lương

Một hạt nhiễu nhương
Trôi về tứ phương
Nở thành tang tóc
Một đóa vô thường..

hòa nguyễn