Chiều sài gòn tìm quán cà phê cũ

Thèm ly cà phê bụi
Không nhớ quán ở đâu
Cây lộc vừng làm dấu
Bảng hiệu chớm phai màu

Chiều phố xá sài gòn
Có nỗi buồn bất chợt
Có những lời hứa suông
Trăm năm không ràng buộc

Ta lạc một con đường
Tình đã chia trăm ngỏ
Ngã tư đèn còn xanh
Lòng bỗng nhiên bật đỏ

Cách nhau mấy cây cầu
Mà sao lòng xa ngái ?
Chim vỗ cánh thiên di
Ngủ bên đồi tự tại

Chiều sài gòn lơ láo
Tìm quán cà phê quen
Một chỗ ngồi đã lạnh
Gọi tên anh và em

Nguyễn thị Bạch Vân

Advertisements

CHỈ LÀ CƠN MƯA,

Mười năm rồi khủng hoảng
Chôn giấu gì niềm đau
Hay vẫn là ngao ngán
Cho suốt cuộc về sau

Gia tài là sự chết
Đừng bối rối lòng nhau
Bao giờ cơn thê thiết
Vương vấn nợ đời sau

Có đi cùng đường nhau
Là vào chung tuyệt lộ
Cõi hoang đường tịnh độ
Cho hồn say hoang tàn

Đường đời quá thênh thang
Hay tự mình lừa dối
Chúa dang tay quên tội
Xuống cõi đời biển dâu

Chỉ là cơn mưa mau
Thấm khôn cùng sám hối
Dẫu tưởng thành vô tội
Tội hóa đành hư hao

Có thể và vì sao..
Trong thế giới muôn màu
Chứa vô cùng tội lỗi
Trời đen chỉ… vì sao..

Những cơn run cồn cào
Chảy qua từng huyết quản
Có tận cùng trường đoạn
Mới thấm đòn cơn đau

Chỉ là cơn mưa mau
Xuống đời sông vắng lạnh
Hỡi mười năm lận đận
Ngao ngán gì đời Tình…

Chỉ là cơn mưa mau
Rơi cũng là tan vỡ..
Đâu có gì vĩnh cữu
Chỉ là cơn vỡ tan..

Hoa Nguyen

SỬ KÝ CỦA TƯ MÃ DOANH DOANH.

Trường Giang cuồn cuộn về đâu
Sóng xưa vùi hết anh hào mỹ nhân
Được thua thành bại chẳng cần
Thiên thu còn lại chỉ ngần này thôi

( Tư Mã Doanh Doanh)

Tôi, người chấp bút, phải nói đôi điều về Tư Mã Doanh Doanh:
Cô là cháu nhiều đời của nhà sử học Tư Mã Thiên ( dĩ nhiên trước khi bị cung hình, sử gia Tư Mã Thiên đã có con trai nối dõi), có tội với triều đình nên dòng họ này phải lưu lạc vong thân, thay tên đổi họ.
Tư Mã Doanh Doanh, mấy ngàn năm sau, thương cảm cho những nguồn lịch sử bị vo tròn bóp méo, cô ngồi vào bàn phím, gõ gõ hằng đêm, thức cùng cô là con cú mèo lim dim trên ngạch cửa, những khi xao lòng hay mệt mõi, cô nhìn vào bạn mình và tìm kiếm ở nó sự kiên nhẫn và khôn ngoan cần thiết, nó gật gù nhìn cô, mỉm cười xoa dịu: Cố lên nào , bạn ta. Cuộc đời ấy, có bao lâu để đợi chờ…
Nên, những điều cô viết có thể là chính sử hoặc chỉ là ngoại truyện, tâm niệm của cô là làm giảm nhẹ mọi uẩn khúc, mọi tranh chấp, mọi hoài nghi… để lịch sử mãi mãi là một giòng trôi của định mệnh, mà ta tìm ở đó- ngàn năm sau- một tiếng thở dài!

VÀO TRUYỆN:

( kỳ sau tiếp)

Tôn Nữ Thu Dung

M ỘT NGÀY KHÔNG HÀNH QUÂN

 

Xin cô hàng thêm một két bia
Hôm nay lãnh lương tôi dành đãi hết
Cô hàng ơi, một mai tôi chết
Ai tiêu dùm, ba tháng tiền lương

Hôm qua tôi dừng chợ Bồng Sơn
Mẹ thằng bạn ôm tôi mà khóc
Tôi nói làm sao qua giòng nước mắt
Thị trấn này vừa mất thằng con

Tôi quá buồn ra đứng bờ sông
Sông Lại Giang ráng chiều đỏ sậm
Nhớ nó ngã nhào trên bờ đá xám
Thấy cả ngọn đồi những xác Bắc Nam

Cô hàng ơi cho một ly không
Tôi rót mời một người lính Bắc
Hắn nằm banh thây dưới hầm bí mật
Trên người vẫn còn sót lại bài thơ

Trên đồi cao, mây vẫn xanh lơ
Có con bướm vàng dịu dàng dưới nắng
Tôi với hắn, đâu có gì thống hận
Bài thơ nào cũng viết để yêu em

Xin cô hàng thêm một chút từ tâm
Tôi quen đập đầu mỗi khi say rượu
Đừng sợ cô em, những thằng đánh giặc
Nhảy Diều Hâu nhưng thật yếu mềm

Em có đôi hàng lông mi thật đen
Tôi bỗng nhớ người tôi yêu, quá đỗi
Đôi mắt nàng cả một trời vô tội
Sao lòng nàng lại tàn nhẫn vô tâm

Khi tôi buồn tôi nói trăm năm
Có nghĩa là tôi vẫn còn muốn sống
Đừng nhắc cùng tôi người tôi yêu dấu
Kẻo tôi lại sầu, mửa hết mật xanh

Trần Hoài Thư

GIỮA HAI MIỀN VIỄN XỨ 4

                  

 

Chương ngón giữa dặm trường

 TANG TÓC vương muôn nẻo
Theo người – neo quê hương?       

 

Việt lục trong kho lấy hai khẩu súng M16 vắt vai, mấy thùng đạn và một thùng xăng anh cột phía sau yên xe, trực chỉ quê nhà mà rồ ga chạy.

Việt chạy băng băng. Không chỉ con đường nhỏ anh chạy tắt không qua thị trấn Ninh Hòa mà ra tới Quốc lộ, đường xá chỗ nào cũng vắng ngắt. Tới thành phố Nha Trang cũng vậy, người ra đường rất thưa thớt chứ không sầm uất như trước đây gây khá ngỡ ngàng cho anh, rồi dần vào các thị trấn Cam Ranh, thị xã Phan Rang – Tháp Chàm, thị xã Phan Thiết cũng không khá gì hơn.

Việt cắm đầu chạy miết, chạy miết, cho bánh xe cuốn tròn con đường mỗi lúc càng nhanh hơn, anh bỏ lại sau lưng tất cả, chỉ một hướng hướng tới phía trước. Lâu lâu Việt dừng xe, do gặp phải trạm gác chặn lại xét hỏi giấy tờ, song thì kéo barie cho qua nhanh.

Chạy về tới Bảo Định, cửa ngõ của thị xã Xuân Lộc* (*Thị xã Long Khánh ngày nay), không chỉ bị chặn xét sơ ở bên barie, Việt bị đưa vào thẩm vấn khá lâu trong một căn phòng. Gần hai tiếng đồng hồ sau thì mới xong. Đưa anh ra ngoài, ông Đại úy cười mà trong khoảng thời gian cùng thẩm vấn với mấy người nữa sắc mặt ai cũng rất nghiêm trang, ông vỗ vai anh và nói:

“Xin lỗi cậu! Tình thế đang rất căng thẳng, buộc chúng tôi phải giữ cậu khá lâu để minh xác. Mong cậu không phiền chi.”

Việt đáp lời:

“Dạ thưa Đại úy, không có gì. Em còn có được bài học về tinh thần trách nhiệm.”

Đại úy hỏi:

“Bây giờ khá tối rồi, cậu về luôn hay sao? Hay để tôi thu xếp chỗ nghỉ qua đêm, sáng mai về cho an toàn?”

Việt nóng lòng về nhà, anh trả lời:

“Dạ thưa, em về luôn. Cảm ơn Đại úy!”

Chào Đại úy theo kiểu nhà binh, Việt bước đi. Được mấy bước thì anh suy nghĩ lại, quay lại hỏi:

“Dạ thưa, hồi nãy em nghe Đại úy tình hình rất căng thẳng, Đại úy cho em biết sơ được không?

Đại úy gật đầu:

“Chúng ta thất thủ nhiều nơi. Xuân Lộc bây giờ là chốt chặn, cửa ngõ trấn giữ Đô Thành* (*Đô Thành Sài Gòn), thông tin nay mai Cộng quân sẽ tấn công phá vỡ phòng tuyến này, chúng tôi đang ráo riết chuẩn bị phòng thủ. Cậu đi đường nên cẩn thận, đoạn đèo Mẹ Bồng Con, Trảng bom rất vắng vẻ.”

Việt cảm ơn lần nữa, nhưng rồi anh lưỡng lự không muốn đi, anh hỏi:

“Dạ thưa Đại úy,… em… em có thể… ở lại góp chút sức…”

Đại úy cắt ngang:

“Thôi, thôi, cậu nên về đi, dù gì cũng cảm ơn cậu! Chúc cậu may mắn nhé cậu… trẻ cậu triết.”

Đại úy bước đi. Ông thực sự không muốn một chàng trai trẻ tham gia vào cuộc này, ông không muốn mất đi một chàng còn đầy tương lai phía trước, một anh chàng có thể trở thành một triết gia. Nghe giọng nói cùa ông, Việt hiểu điều đó, nên anh tần ngần một chút, nhưng rồi anh vẫn chạy theo:

“Dạ thưa Đại úy, em không thể đi như thế này, xin Đại úy hiểu cho, em không muốn làm anh hùng, cũng chẳng bao giờ thích chiến trận nhưng tình thế rất nguy cấp, một chút sức mọn cũng có ích, vả lại không thể quá hèn như thế này, xin Đại úy thu nạp, cho em ở lại.”

Bây giờ thì Đại úy lưỡng lự. Việt nói cứng rắn hơn:

“Dạ thưa, đây là quyết định của em, dù ra sao em cũng chấp nhận, không liên quan gì tới Đại úy, xin Đại úy đừng phân vân và đừng khuyên em trở về. Nếu không gia nhập nơi này em cũng sẽ gia nhập nơi khác.”

Đại úy nhìn thẳng vào mắt Việt một hồi, ánh mắt Việt rất dứt khoát trong quyết định, nhưng ông vẫn hỏi lại:

“Cậu chắc chứ?”

Việt gật đầu ngay:

“Dạ, thưa, chắc chắn.”

Đại úy đành gật đầu nhẹ:

“Thôi được. Cậu cứ tạm ở lại, nhưng muốn đi lúc nào thì cứ hãy đi nhé. Để tôi gọi người lo liệu chỗ cho cậu.”

Đại úy đi về phòng mình, rất cảm khái tinh thần của Việt, song ông không hề vui chút nào.

 

***

 

Hai ngày lặng lẽ trôi qua. Thị xã Xuân Lộc không vắng lặng như các nơi trên đường Việt đi qua nhưng cũng không hẳn được bình thường, dân chúng vẫn nghe ngóng tin tức, và có hạn chế ra đường.

Sang ngày thứ ba, trời chưa ửng sáng thì khắp nơi trong thị tứ nhỏ bé yên lành bấy lâu nay đột ngột rung chuyển, rung chuyển kinh hoàng vì bị pháo kích dữ dội của Cộng quân. Đạn pháo hạng nặng bắn rào rào như mưa vào thị. Đạn pháo bất chấp nơi nào, chúng không có mắt, cứ có đường thì chúng đi, đường trên không thì vô lối, và cũng không có gì ngăn cản được đường đi của những quả đại bác, đạn pháo thản nhiên đi vào nhà dân, đi vô chợ búa, trường học, đùa giỡn ở chốn đình thờ, ở chùa chiền, ở nhà thờ, ở công sở,… dĩ nhiên làm sao nó bỏ qua những căn cứ quân sự, đó là những điểm nó nhắm tiến đến đầu tiên. Đạn pháo liên tiếp nổ ầm ầm tưởng chừng không bao giờ dứt.

Việt được Đại úy gọi lên. Ổng nói:

“Chúng ta bị pháo kích tấn công ai cũng biết rồi. Tin tức cấp báo dân chúng bị nạn rất nhiều và đang chạy nạn. Đã có lịnh cho một số đơn vị quân đội giúp dân sơ tán. Cậu có chiếc xe, vậy hãy tham gia vào nhóm Hồng Thập Tự mà đi cứu giúp dân lành nhé.”

Việt lưỡng lự, vì anh muốn ở lại và nghĩ Đại úy trao cho anh cơ hội để tránh cầm súng:

“Dạ thưa Đại úy, em… xin ở lại chiến đấu…”

Đại úy bước tới vỗ vai Việt:

“Tôi hiểu ý cậu, rất xứng  đáng là một quân nhân. Nhưng trong thị xã bây giờ cũng đã là chiến trường rồi đó, không còn là nơi chốn yên tĩnh của dân chúng nữa, sau đợt pháo kích địch chắc chắn sẽ tấn công bộ binh, vào đó có khi phải cầm súng chống giặc chứ không chỉ là cứu thương, giúp dân sơ tán. Vả lại đi cứu nạn không phải là hành động trốn tránh trách nhiệm, là hèn nhát, với tôi còn là việc quan trọng trên hết. Hẳn cậu rất rõ rằng “cứu người như cứu hỏa”, hay “cứu một mạng người còn hơn xây bảy tòa tháp”. Thứ nữa, phải biết thời điển nào, công việc gì là phù hợp nhứt. Ngày xưa, tôi cũng không khác gì cậu, nhưng giáp trận đầu tiên, tôi lính quýnh không biết làm sao nạp đạn, không biết lên đạn thế nào, rồi run cầm cập và phân vân không biết có nên bóp cò, có nên giết người không nữa. Chỉ chắn chắn có một điều, thấy người bị nạn, dù có ghê sợ, dù có ớn óc, nhưng rồi sẽ mau chóng bỏ lại sau lưng để lao tới cứu mà thôi.”

Nghe lời giảng giải từ tốn của vị Đại úy, Việt ngộ ra, anh đưa tay theo điều lịnh:

“Dạ thưa, xin tuân lịnh Đại úy.”

Việt chở theo một quân y y sĩ chạy vào thị xã.

Thị xã hỗn loạn còn hơn bị cơn đại hồng thủy. Tiếng xe rú ga, tiếng bước chưn người rầm rập thi nhau tìm nơi chạy trốn, tiếng la hét thất thanh, tiếng khóc, gào rú tuyệt vọng, những trái pháo dội xuống thì những nóc nhà bị hất tung vào không trung, vật liệu, đất cát, khói lửa bay mịt mùng, đổ nát chồng chất lên đổ nát, xác người chết chồng lên xác người, xác người, xác gia súc tan nát văng tung tóe, người bị thương nằm rên la vất vưởng…

Việt bàng hoàng, đồng đội anh bàng hoàng. Không thể, không thể có một ai đó không bàng hoàng với cảnh tượng này. Việt còn hơn thế nữa, anh thất thần, anh run lẩy bẩy, anh đứng như trời trồng cả buổi lâu không biết làm gì. Một quả đạn pháo dội xuống, nổ một tiếng uỳnh lớn cách vài chục bước chưn trước mặt, người đồng đội kéo anh ngã dúi anh mới bừng tỉnh. Rồi bắt đầu như một cái máy, làm theo hiệu lịnh của đồng đội, anh ẵm bồng những người bị thương vào những nơi còn có chỗ che chắn để băng bó, không ẵm bồng nỗi thì anh cố hết sức kéo vô, sau đó chở đi những nơi tập kết. Người thương nhẹ dìu và vịn vào nhau, người không bị thương lo cho người bị thương nặng…

Suýt soát trên dưới hai tiếng đồng hồ từ lúc khai mào quả đầu tiên thì tiếng pháo ngưng. Cả mấy ngàn trái pháo dội tan tác thị xã. Và đúng như lời đoán của vị Đại úy, Cộng quân tấn công bộ binh ngay sau đó.

Tai của Việt đã khản đặc và đang tập trung hết sức nên anh không nghe được tiếng súng tấn công nữa. Anh chỉ nghe kể lại rằng quân Việt cộng đông như kiến cỏ, xung phong hàng hàng lớp lớp, và cũng hàng hàng những chiến sĩ bị bắn ngã gục xuống trong đó có những người lính trẻ măng, mặt còn bấm ra sữa, có thể không quá mười bảy tuổi, có khi chỉ mười sáu không chừng. Họ ngã xuống như vậy chứ vẫn không ngừng hô xung phong và tiến, hăng máu tiến như vũ bão và lại bị ngã xuống như rạ. Việt không rõ lắm cuộc chiến kéo dài bao lâu. Toàn thị xã bị bao vậy, bị tấn công tứ phía nhưng các phòng tuyến vẫn trụ vững, không để bị chiếm. Duy nhứt tiền đồn Bảo Định, nơi anh đầu quân bị đẩy lui về ngã ba Tân Phong.

Việt cùng đồng đội được ngã lưng dựa vào bức tường loang lỗ ám khói khói thở dốc, nghỉ ngơi chút và gặm nhắm những ổ bánh mì khô cứng trong quang cảnh xung quanh đầy mùi thuốc súng khét lẹt thì mặt trời đã đi quá xế chiều, sau đó tiếp tục kéo về lo cho đồng đội thương vong. Trở về, Việt rất mừng, dĩ nhiên ai cũng mừng, do chuẩn bị hầm trú ẩn khá kỹ nên thương vong không nhiều.

Đêm, bầu không khí tĩnh mịch như đêm ba mươi Tết, là thời khắc chuẩn bị đón giao thừa nên mọi hoạt động thường chững lại, có chăng thì cũng rón rén, nhẹ nhàng. Ở đây, lúc này thì chững lại để trốn để lánh, để nghe ngóng tin tức, để chuẩn bị nghe tiếng dội pháo chứ không phải chuẩn bị nghe tiếng pháo báo hiệu thời khắc giao thời, tiễn năm cũ đi đón năm mới tới. Và cả buổi sáng sớm nghe rền rã đạn bom, bây giờ không có nữa, thì bầu không khí dường như có vẻ yên ắng lạ thường. Nguyên đêm, không một tiếng đạn pháo nào dội xuống. Nhiều lính tráng mệt mỏi vật mình ngủ vùi ngay giao thông hào. Người Việt rã rời như hồi những ngày đầu ở thao trường, mắt anh cứ chực quíu xuống nhưng không tài nào ngủ được, chẳng phải những câu hỏi ập tới trong cái đầu vốn thường suy nghĩ miên man, chẳng hạn như tại sao cứ phải dùng tới súng đạn, tại sao giết chóc, tại sao thế này thế kia… Trạng thái của Việt lúc này là gì cũng khó thể biết, có thể là trạng thái lưng chừng, cơ thể gần như bất động nhưng bộ não chưa mất kiểm soát nên chưa thể là vô thức.

Anh bạn quân y nằm cạnh bên rút gói thuốc lá lắc lắc cho lòi ra chừng một phần ba điếu đưa qua Việt, anh nói:

“Ám ảnh quá hải hông. Mình cũng đã từng bị ở những lần đầu. Bây giờ cũng vẫn còn nhưng đã đỡ hơn, mệt quá thì chìm được vào giấc ngủ.”

Đúng rồi. Nỗi ám ảnh. Ám ảnh kinh hoàng, Việt ngước nhìn lên trời, bầu trời tối đen nhưng vẫn chờn vờn những dòng máu loang, những mảng thịt bầy nhầy, những đường cắt da thịt tới tận xương tủy xé bành ra, lòi những miếng mỡ trắng phếu.

Việt nhấc cánh tay nhức buốt rút một điếu thuốc, anh quân y cũng rút một điếu và châm lửa, anh nói tiếp, có bông lơn để xua tan bớt không khí nặng nề:

“Rít thiệt sâu, sâu hết cỡ thợ mộc, rồi thở ra cũng hết cỡ… hết cỡ thợ  gì ta? Thở ra hết cỡ thợ mộc còn rít sâu phải hết cỡ thợ đào giếng chứ hen. Như vậy có thể làm người đỡ hơn. Không hút thuốc cũng nên hít thở mạnh sẽ nhẹ nhõm người.”

Nói thêm được vài câu thì thào nữa thì anh quân y ngủ, điếu thuốc vẫn còn cháy dở giữa hai ngón tay. Việt thì vẫn không cho dù sau đó anh hút gần nửa gói thuốc. Khoảng bốn giờ sáng, người bắt đầu lơ mơ, có lẽ những làn khói được rít mạnh bay lên tới tận óc, len lõi vào và quần tụ trong đó, đâu có lối thoát nên làm cho nó mụ mị, Việt mới chợp mắt được.

Chợp mắt chưa được bao lâu, chừng một tiếng rưỡi đồng hồ thì Việt giựt mình bừng tỉnh ngay, cũng vào sáng sớm, giấc này như hôm qua, pháo lại ầm ầm đội xuống và tiếp nối các đợt tấn công vũ bão.

Ngày kế tiếp, sáng sớm không có động tĩnh gì. Ngỡ rằng là một ngày ngừng pháo kích để tính toán gì chăng thì khoảng bảy giờ sáng đạn pháo nổ tung tóe. Hơn một tiếng đồng hồ sau thì như hai ngày đầu, pháo ngưng thì bộ binh tiến lên khai hỏa.

Các phòng tuyết vẫn không bị phá vỡ. Các đợt tấn công đều bị đẩy lùi.

Việt và nhóm Hồng Thập Tự vẫn ngược xuôi với công việc của mình. Thương vong đã giảm nhiều, dân chúng còn bám trụ trong thị xã đa số có hầm kiên cố, và sơ tán khi không còn pháo kích. Gần như những người cố bám trụ cuối cùng cũng phải chịu dời đi. Thị xã vắng hoe, không một bóng thường dân, chỉ có hoang tàn, lửa khói đó đây âm ỉ chực chờ bùng lên, bùng lên trong chốc lát rồi trở lại âm ỉ bởi không còn mấy thứ trong đống đổ nát để nó thiêu rụi nữa.

Chiến trận bước sang ngày thứ tư.

Tin vui được báo vể, quân nhảy dù tiếp viện nhảy xuống đánh chiếm lại được Bảo Định, đẩy lui Cộng quân ra xa dần và tiếp tục cả ngày thứ năm.

Ngày thứ sáu, chiến trường yên ắng. Không có những trận tiến quân qui mô. Đó đây chỉ có những trận chiến lẻ tẻ.

Binh tướng bắt đầu tự tin kháo nhau Cộng quân sẽ không thể đánh chiếm được thị xã, và như vậy cửa ngõ sẽ được an toàn.

Nhưng, mọi chuyện không diễn ra như vậy. Cộng quân chuyển hướng tấn công vào Trảng Bom, Biên Hòa.

Trong ba ngày sau, nơi này im bặt tiếng đạn bom, dĩ nhiên đạn bắn lẻ tẻ lúc này đâu còn tính nữa, chỉ còn nghe tiếng rền vang vọng và thấy những ngọn khói bốc cao.

Đến ngày thứ tư thì một số quân được máy bay đón, đưa về lập phòng tuyến mới ở Trảng Bon, Biên Hòa.

Đơn vị của Việt  vẫn đóng tại Tân Phong. Việt tham gia giúp dân ở trại sơ tán lên máy bay di tản. Công việc tất bật, anh cũng không rõ di tản đi đâu, có thể xuống Ô Cấp* (*Vũng Tàu) hoặc đi Sài Gòn.

Chuyến bay cuối cùng cất cánh thì trời đã vào chiều dịu mát. Lý ra Việt đã ở trên chuyến bay này, anh đã lừng khừng, nửa muốn bước lên nửa muốn ở lại, cuối cùng quyết định ở lại. Vẫn còn nhiều người dân chưa sơ tán, chưa đi tản. Hiện tại thì vẫn còn một đơn vị chốt lại cùng địa phương quân và các toán lính dù chưa rút ra hết. Việt quay trở về tuyến phòng thủ.

Đang bon bon chạy với những miên man hỗn loạn trong đầu, những ý nghĩ không rõ ràng cứ chập chờn nhảy múa, chúng xáo trộn, đan xen, ngắt quãng lẫn nhau trong Việt, bỗng anh giựt mình vì tiếng người la ới ới. Việt cho xe chạy chầm chậm và ngoái đầu vào một con đường đất đỏ thông ra đường chánh gần đó, thì anh thấy một người đàng ông hớt hải vừa chạy ra vừa ngoắc tay:

“Chú lính ơi, chú lính ơi…”

Việt ngừng xe, bước xuống đứng đợi. Người đàn ông chạy tới thì muốn đổ gục. Ông gập người thở hổn hểnh. Chờ cho người đàn ông tạm bớt cơn mệt, Việt hỏi:

“Dạ, có gì hông chú?”

“Dạ… dạ… chú lính… chú lính làm ơn giúp với…”

“Chú cứ nói, giúp được gì trong khả năng, con sẽ cố hết sức.”

“Dạ, tôi… vợ chồng tôi và con cái đi di tản, nhưng ở xa quá, bây giờ mới tới được đây, chú cho hỏi tập trung ở đâu vậy?”

“Dạ, tập trung ở cách đây chừng hai cây số. Nhưng…”

“Nhưng sao hả chú?”

“Dạ… nhưng… nhưng chuyến bay cuối cùng đã cất cánh.”

Vừa nghe xong thì người đàn ông ngồi thụp xuống. Cũng vừa lúc ấy vợ ông cùng bốn đứa con nheo nhóc chạy tới, thấy ông rũ rượi, bà hốt hoảng:

“Có chuyện gì hả mình? Có chuyện gì?”

Ông ôm đầu, một chập sau mới lên tiếng:

“Hết đường đi rồi, biết làm sao đây?”

Bà hỏi liền:

“Dạ, hết đường rồi hả chú lính?”

Việt bối rối trả lời:

“Dạ, máy bay cất cánh chuyền cuối rồi.”

“Hông còn xe cộ gì hết hả chú?”

“Dạ, dạ… xe cộ cũng thấy vắng hoe, cũng chạy hết trơn.”

Bà cũng ngồi thụp xuống, còn khóc huhu:

“Trời ơi Trời! sao khổ dữ vậy Trời! giặc giã miết, chạy giặc miết, rồi cũng hết đường chạy. Các con ôi! biết làm sao đây?”

Những đứa trẻ đứng nhìn ngơ ngác, có chút biểu hiện hoang mang. Chợt Việt nảy ra ý:

“Dạ, hay như vầy, chú thím cứ lấy xe con mà đi, ráng chen chúc chở các cháu mà đi, cứ chạy về hướng Ô Cấp. Có lẽ dưới đó chưa bị tấn công.”

Bà sáng mắt lên. Nhưng ông thì xua tay:

“Dạ, đâu được, chúng tôi đâu dám. Thôi, cứ đi bộ, tới đâu hay tới đó.”

Bà tiu nghỉu, nhưng bà cũng đồng tình:

“Dạ, chú còn làm nhiệm vụ.”

Việt bước lại tháo cái ba lô và vài vật dụng cần thiết:

“Dạ, nhiệm vụ sắp tới cũng không còn cần kíp xe lắm nữa rồi. Chú thím cứ lấy đưa gia đình đi cho an toàn.”

Đôi vợ chồng còn tần ngần. Việt lấy tư trang của họ cột vào xe. Anh làm rất dứt khoát, nên đôi vợ chồng khó cản. Nhưng ông vẫn nói:

“Dạ, làm vậy… coi sao được… làm…”

Việt ngắt lời:

“Dạ, không sao hết. Bảo vệ dân, cứu dân cũng là trách nhiệm của tụi con. Chú thím đi từ từ, cẩn thận. Chúc chú thím và các cháu bằng an.”

Ông chồng bắt tay Việt, nói lời cảm ơn trong nấc nghẹn, còn bà vợ thì xá liên hồi mấy xá.

Việt quay đầu bước đi nhanh, bước đi như chạy, một phần anh muốn nhanh về  đơn vị, một phần anh không muốn những câu hỏi về đủ thứ lởn vởn trong đầu.

 

***

 

Việt trở lại chiến hào khoảng 7 giờ tối, chỉ còn hai đại đội đóng quân, đang chờ các tiểu đoàn dù với thông tin chừng hai hoặc ba tiếng đồng hồ nữa sẽ hợp tại đây rồi cùng rút theo đường bộ về Phước Tuy* (*Bà Rịa – Vũng Tàu ngày nay). Đây là toán rút quân cuối cùng, là lực lượng tập hậu. Vẫn còn dân chúng các xóm Đạo, Bảo Định, Bảo Hòa và Bảo Toàn chờ củng đi với Địa phương quân.

Trước đó, vào chập tối, một lượng lớn quân đã âm thầm di chuyển. Dân chúng nghe được tin quân sẽ rút, nên cũng chuẩn bị gói gém hành trang để theo chưn di tản.

Việt ngả lưng, tựa vào những bao cát chất cao làm lô cốt phòng thủ. Người bắt đầu thấm mệt, bắt đầu thấy rệu rã, đôi mắt cứ muốn cụp xuống, Việt cố gắn giữ ở trạng thái lim dim.

Một chiến hữu đem tới cho anh một cà mèn cơm, và nói:

“Ăn đi anh bạn. Ăn xong nhắm mắt được một chút thì tốt, để chuẩn bị sức đi trong đêm.”

Việt cảm ơn. Anh mở hộp cơm ra, vừa định xúc ăn thì chợt trào nghẹn, rồi rùng mình và muốn ói. Trong hộp, Việt vừa thấy những hột cơm trắng muốt, thì vụt đã chuyển sang màu đỏ, những dòng máu đỏ phun xối xả, chảy ào ào trộn lẫn vào cơm, những miếng thịt những mảng da bầy nhầy văng bay tung tóe cũng văng vào đây, và cả những khúc xương nức gãy còn dính những miếng mỡ trắng phếu, chỗ đầu xương bị gãy có những hình như những mũi giáo răng cưa nhọn hoắc lớn nhỏ xen kẻ nhau lỉa chỉa, bên trong ống xương dòng tủy phụt bắn ra ngoài, mùi cơm vừa hít hửi được thơm tho thì cũng chuyển sang mùi tanh tưởi, tanh tưởi kinh người.

Việt không tài nào xúc được muỗng cơm đưa lên miệng. Anh đóng nắp cà mèn, ngồi thở dốc. Chờ một lát sau thì anh cố mở lại. Nhưng lần này cũng không khác gì, vẫn những hình ảnh như vậy chình ình trước mắt. Và tệ hại hơn nữa, anh không kìm được cơn buồn mữa, không kịp chạy đi ra bên ngoài, anh tuông ói ngay tại chỗ, lộn ruột ói ra tới mấy bận. Qua những cơn ói, người Việt run bắn lên, anh cảm thấy lạnh run và thở hổn hển trong khi bên ngoài thì mồ hôi túa ra.

Người chiến hữu thấy vậy, chạy lại đỡ Việt, anh ngoắc thêm một chiến hữu nữa và nói:

“Ông bạn này chắc bị gió má gì rồi, mau đưa vô chỗ kín gió một chút.”

Hai chiến hữu khiêng Việt xuống giao thông hào. Cơ thể Việt càng run bắn, nhưng sờ bên ngoài thì nóng hầm hập. Người chiến hữu nói:

“Chắc bị sốt, lên cơn sốt. Trước mắt anh chạy lấy dùm cái khăn nhúng nước lạnh, đắp lên trán để hạ nhiệt, sau chạy vào kiếm vài viên thuốc.”

Đắp khăn một hồi thì Việt đỡ lại. Người chiến hữu nói tiếp:

“Ráng ăn một chút rồi uống viên thuốc.”

Việt không còn cách nào khác, anh phải mở nắp cà mèn nhưng không dám nhìn vào nó, cứ mò mẫm mà xúc cơm rồi ngấu nghiến. Việt cũng khổng hiểu vì sao những hình ảnh này lại ám vào cà mèn cơm. Anh nghĩ, có lẽ bữa cơm rất nhạy cảm với mùi và hình ảnh ghê rợn. Việt cũng không dám hé môi kể với chiến hữu của mình. Một phần anh sợ tâm lý này sẽ lây lan, một phần cũng vì xấu hổ cho tâm lý dễ bị ám ảnh, không vững của mình.

Uống thuốc một hồi thì Việt thiếp đi hồi nào hông hay. Lúc anh sực tỉnh thì khá ngơ ngác, không hiểu chuyện gì xảy ra khi thấy sự chộn rộn xung quanh, anh còn không nhận biết được đang ở nơi nào. Người chiến hữu chạy lại, hỏi:

“Thức rồi hả? còn mệt lắm hông? Có khỏe tí nào hông?”

Việt vẫn ngơ ngác:

“Mình đang ở đâu? Mấy giờ rồi?”

“Gần 9h rồi. Ông bạn đang ở chiến hào, hổng nhớ gì sao?”

Việt vuốt mặt vuốt mày thì trí nhớ dần trở lại. Anh hỏi:

“À, chuẩn bị rút quân phải hông?”

“Ừ, lính dù đã ra tới, bà con cô bác cũng đã tập hợp hết rồi, chuẩn bị đi đó, đi nổi hông hay chắc phải lên xe rồi. Để tôi dìu ông bạn tới xe, chắc sắp có lịnh xuất phát.”

Người chiến hữu vừa dứt lời thì một tiếng uỳnh thiệt lớn nổ ra cách chừng một trăm thước mà chấn động cảm nhận rõ tại nơi này. Trong ánh sáng mờ mờ, Việt lại thấy mọi thứ bay tứ tung, nghe tiếng la hét thất thanh, tiếng khóc thét vang lên, những bước chân chạy loạn xạ, và tiếng hô: “Đạn cối, đạn cối, núp đi, tìm chỗ núp đi…” nối tiếp nhau. Mọi người chưa định thần thì kế tiếp liền là một tiếng uỳnh nữa, nhưng không cách xa mấy mà ngay chỗ Việt, anh choáng váng bởi đất trời như rung chuyển bần bật trước mặt, dưới chưn mình. Người chiến hữu kéo anh cùng một số người nữa nhảy vào cái hố lớn mà tiếng uỳnh vừa tạo ra. Việt cắm đầu xuống đất, nghe theo lời của các chiến hữu như một cái máy. Mấy tiếng uỳnh uỳnh nữa liên tục dội xuống, Việt nghe văng vẳng trước khi vật ngã nằm ngang bất tỉnh, do người còn thấm mệt mà chấn động lại quá dày đặc: “Pháo kích, chúng pháo kích ngay vào dân thường, chúng giết dân thường không gớm tay, dân chết nhiều quá, quá sức man rợ!”

 

***

 

Việt không thấy thân mình nặng chịch, uể oải như mấy ngày nay, anh thấy mình nhẹ hẫng bay bay trong không trung. Anh rất thích thú, cảm giác như những sợi mây trắng lững thững trôi, lững thững mơ màng, không màng gì tới điều gì khác. Trong không trung rất êm dịu như thế này thì còn gì bằng nữa mà không cảm thích. Lâu lâu chỉ có một chút mùi khen khét làm khó chịu mà thôi.

Nhưng rồi, một bóng dáng chợt bay vụt qua, hai ba bóng dáng nữa bay vụt vụt, mỗi lần như vậy là mỗi lần Việt giựt thót người, không hiểu được chuyện gì đang xảy ra. Chưa kịp tìm hiểu, chưa kịp hiểu thì một bóng dáng bay ngay tới ngừng ngay trước mặt, và hỏi:

“Thân mình tôi đâu, anh có biết hông?”

Việt nhìn kỹ, thì ra bóng dáng chỉ có mỗi cái đầu, cái đầu mang bộ tóc rũ rượi, cùng đôi mắt mở trừng trừng, dòm thấy hầu như là tròng trắng. Việt ớn lạnh, dĩ nhiên anh không biết, anh đáp:

“Dạ, hông, hông biết.”

Bóng cái đầu buồn rầu bay đi. Việt cũng buồn rầu không kém, nhìn theo bóng dáng chưa khuất thì bóng một cánh tay xoay xoay như chong chóng trước mặt, cùng với câu hỏi đó, có khác là hỏi thêm cái đầu. Việt chưa biết trả lời thế nào cho vơi bớt sự thất vọng cho bóng dáng thì liên tục những câu hỏi tương tự xoay quang anh cùng những bóng dáng thiếu hụt thể xác. Bóng dáng một cẳng chưn xoay tròn như cánh tay, bóng dáng một nửa thân mình phía trên, một nửa thân mình phía dưới, một nửa thân mình theo trục dọc, bóng dáng một cái đầu bị tuốt mất phần da còn như cái đầu lâu, bóng dáng một bộ xương cũng bị tróc gần hết bộ da… Và những bóng dáng khác, cùng với những lời sầu bi không thể nào thê thảm hơn nữa: “Trời ơi! ruột gan của tui, ruột gan của tui sao đổ hết ra ngoài thế này?”, “Con mắt của tui đâu, có ai lượm được con mắt của tui hông?”, “Tui khó thở quá, tui ngột thở rồi, cho tui chút hơi thở đi, Trời ơi!”, “Cứu với, cứu với, Trời ơi! cứu tui…”… Cùng với lời kêu than là hành động của các bóng đáng, hốt ruột gan nhét lại vào trong bụng, cố hả họng để tìm chút ô xy, chút khí trời…

Việt càng ớn lạnh, nãy giờ đã run lẩy bẩy thì càng run bần bật hơn nữa. Anh trả lời lớn, như thể một câu chung:

“Dạ, hông biết, chẳng biết gì cả.”

Việt nhìn kỹ lại mình, anh không bị là sao cả. Anh không hiểu chuyện gì xảy ra hết cả. Anh suy nghĩ được gì để tìm hiểu tại sao. Trong anh bây giờ chỉ có nỗi sợ hãi, hãi hùng trùm hết người mình.

Nỗi sợ càng lúc càng lớn dần, anh sợ sẽ còn nhiều bóng dáng bay tới nữa, Việt muốn bay trốn, muốn trốn thiệt nhanh. Anh tìm những đám mây lớn để ẩn mình vào trong đó, những đám mây đen càng tốt. Nhưng quẩn quanh không có một đám mây nào. Chỉ có bóng đen tăm tối bao phủ. Không có một nơi nào trốn tránh được. Anh cứ xà quần xà quần mãi. Các tiếng thở than, các câu hỏi dần dần vơi bớt. Việt không vui mừng, anh chỉ cầu mong không phải nghe thêm mà thôi.

Cầu mong của Việt không được toại nguyện. Anh không còn nghe tiếng kêu than, nghe những câu hỏi nữa, nhưng thay vào đó là tiếng rên rỉ, rên rỉ hừ hừ từng tràng kéo dài, rên rỉ buốt tới tận óc. Khó chịu đựng quá đỗi, Việt bức bối và nổi nóng bất tử, một cử chỉ hiếm có trong anh, Việt la lớn:

“Thôi đi… im đi… im ngay đi…”

Tiếng rên im đi. Kế tiếp thì có giọng khàn khàn nhưng nghe như tiếng rên:

“Dậy đi ông bạn. Dậy đi, đừng mê man nữa, ráng dậy đi, đừng mê man mà đi luôn, bỏ tui một mình bơ vơ nơi này.”

Nói xong, lại có tiếng rên hừ hừ. Việt cảm giác như có ai đang vịn vào người, lay người mình. Và đúng như vậy, Việt bất tỉnh, gần như chết rồi, anh bay bay là hồn anh đang bay đó thôi. Bay bay, anh gặp những hồn đã lìa khỏi xác bị thương tật kinh hoànhg. Kề bên anh bây giờ là một người chiến hữu bị thương lết được lại đây nằm kề và rên rỉ đã lay lay người anh. Việt tỉnh được, tỉnh khỏi cơn mê man. Người chiến hữu mừng rỡ:

“Ồ! Ông bạn tỉnh được rồi. May quá, không thì một mình tui chết ở đây thiệt sầu quá.”

Việt đã bớt mơ hồ, anh dần dần nhớ lại. Lâu lâu có mùi khét, À đó là mùi thuốc súng, mùi cháy khét của chiến trường đã tan dần đó thôi, anh đã biết mình đang ở chiến hào. Anh bật ngồi dậy:

“Anh bị thương ở đâu, để tui băng bó cho anh. Anh đợi một chút nhé.”

Việt chạy vào các dãy lán trại, lục tìm được hộp cứu thương. Anh quay lại băng bó nhiều vết thương khắp mình mẩy người chiến hữu, nặng nhứt là ở chưn, bị gãy ngang đoạn xương ống quyển. Việt hỏi:

“Mình hình như bất tỉnh ở đây, chẳng biết mô tê gì, chúng ta bị pháo kích thì phải?”

Người chiến hữu đáp trong nghẹn ngào:

“Đúng vậy. Hơn cả chục quả đạn cối dội ầm ầm xuống, không chỉ lính trận mà bà con theo di tản bị chết nhiều lắm, chết đau thương, xác không còn nguyên vẹn, như bị phanh thây. Kinh khủng tận cùng của sự dã man.”

Việt lắc đầu mệt mỏi:

“Anh nằm đây chút nhé, tui đi xem, coi có ai còn sống không.”

Đi một vòng, Việt trở lại:

“Không thấy một dấu hiệu nào của sự sống, kể cả cây cỏ, một bãi tha ma, toàn mộ mùi chết chóc. Có lẽ mọi người nghĩ hai ta cũng đã chết, nên đã nhanh chóng rút đi rồi.”

“Có lẽ vậy.”

Người chiến hữu đã đỡ đau hơn đôi chút nhờ những viên thuốc giảm đau. Việt nói:

“Ta rời khỏi đây thôi. Để tui dìu anh đi.”

Việt loay hoay dìu người chiến hữu, nhưng không tài lên nổi cái hố sâu hoắm, người chiến hữu cố lắm cũng không nhích chưn lên được, Việt xoay qua cõng cũng không thể. Anh đặt chiến hữu nằm ngửa,và nói:

“Xin lỗi anh bạn, không còn cách nào khác, tui phải kéo anh lên, ráng chịu đau một chút.”

Việt kéo từng chút, nhích từng chút, cuối cùng cũng lên được khỏi hố, anh và chiến hữu vật ngửa người nằm thở dốc. Người chiến hữu còn một chưn nguyên vẹn cũng ráng chòi đạp xuống đất nên mệt phờ, quên bớt cơn đau từ những vết thương tứa máu.

Nghỉ ngơi khỏe lại, Việt đỡ chiến hữu lên, dìu anh đi từng bước chầm chậm. Đi được chừng hai cây số, lúc này Việt thấy khỏe lại, anh xoay qua cõng người chiến hữu, ráng cõng chừng một cây số thì cùng ngồi nghỉ, sau đó cùng dìu nhau đi tiếp, khỏe chút thì cõng tiếp, cứ như vậy ráng lê lết dần dần con đường Tỉnh lộ 2* (Quốc lộ 56 ngày nay).

Đã trải qua khoảng ba tiếng đồng hồ, đã qua chừng mười cây số, Việt vừa dìu chiến hữu đi vừa trò chuyện, hỏi han gia cảnh của nhau để vơi bớt nỗi đau. Đường đi vắng vẻ, con đường dường như rất ít được sử dụng nên nhìn rất hoang phế dù đường không đến nỗi xấu, đó đây có những hố bom hố đạn, và rừng cây rậm rạp, nhiều cành cây, cỏ dại phủ ra hai bên đường. Lâu lâu tiếng súng lại rộ lên, vang vọng tới. Rồi từng tràng tiếng súng nghe rất rõ ở phía trước. Ngừng lại nghe ngóng, người chiến hữu nói:

“Phía trước không xa lắm là đồn Long Giao. Có lẽ có chạm trán ở nơi đó.”

Việt tần ngần:

“Bây giờ làm sao đây? hông biết có còn con đường nào nữa hông?”

Anh vửa dứt lời thì có hai người lính ôm súng ở phía ngược hướng hớt hải chạy tới.

Việt hỏi:

“Giao tranh phía trước hả anh?”

Anh đáp:

“Bị phục kích, đoàn rút quân tụi tui bị phục kích. Đồn Long giao cũng đã bị thất thủ.”

Người chiến hữu bị thương nói:

“Khắp nơi đã bị bao vây, bao vây tứ phía rồi quá.”

Việt đồng tình, rồi hỏi:

“Có lẽ vậy. Nhưng hai anh đang định chạy đi đâu?”

Một trong hai người trả lời:

“Bị bất ngờ, bị bắn rát quá, một số thương vong, quân tan đàn xẻ nghé, chạy tán loạn hết, hai tui cắm đầu chạy đại chứ chưa rõ đi đâu. Bây giờ mới định thần, chạy hướng này cũng đâu có được, phía đó ta vừa đi mà. Chắc phải băng rừng mà đi, không đi ngời ngời ngoài đường như thế này được.”

Cả bốn đồng tình, chuyển vào rừng và nhắm hướng đi. Họ di chuyển rất chậm, chậm chạp đến độ dễ sốt ruột nếu trong hoàn cảnh bình thường. Bởi vừa dìu người bị thương vừa khe khẽ vạch đường vạch lối, luồn cuối trong rừng rậm, tìm đường trong rừng nguyên sinh đầy gai góc, đầy nhánh cây tua tủa đan xen và cả những bụi cỏ cao ngất bon chen. Họ không dám gây tiếng động lớn, thậm chí là sợ đánh động những đàn chim, những con thú rừng.

Đã ba ngày trôi qua, trước mặt họ vẫn rừng là rừng. Họ không biết đã đi được bao xa. Đêm không dám đốt lửa, tìm những hốc đá hoặc hốc cây lớn mà trú ngụ. May còn những túi ngủ nên chống chọi được với muỗi mồng dày đặc. Ba người lành lặn thay nhau gác đêm. Thực sự thì cũng chỉ là cẩn thận không thừa, chứ trước mặt chỉ là một màn đen tối như mực. Trong cái tối này và giữa rừng, tưởng chừng như một ánh lửa nhỏ sẽ không tồn tại. Không ai dại gì rọi đèn để soi tìm, đó là cách tự tố giác vị trí của mình mà thôi, hoặc có dùng ánh đèn để đánh lạc hướng cũng không mấy hiệu quả.

Việt ngủ rất lơ mơ, chập chờn, nhưng anh không nghĩ ngợi gì, kể cả lúc thức, nỗi ám ảnh bị phục kích cứ thường trực trong đầu. Và họ rất dè sẻn, dè sẻn từng chút thức ăn, phải tìm lá, tìm trái cây ăn dặm thêm. Phía trước là một bức màn mịt mùng, họ đâu biết hành trình bao giờ kết thúc, bao giờ được thoát ra. Thú rừng nhiều vô kể nhưng họ không dám săn bắt, có bắt được thú một cách không gây náo loạn đi chăng nữa cũng không thể ăn thịt sống. Họ chưa tới mức độ này.

Đi tới gặp một dòng suối nhỏ. Dòng nước mát lạnh xăm xắp ngang mắt cá chưn trong vắt chảy qua những hòn đá cuội, chảy qua những lớp sỏi nằm bên dưới, có những đụn cát rải rác đó đây cũng giống như bên lở bên bồi ở các dòng sông. Đá cuội và sỏi được mài nhẵn, sáng bóng. Những hòn đá lớn nằm cạnh bờ mới có chỗ bị rong rêu bám vào.

Bốn người lính bê bết, tả tơi vốc nước thỏa thuê lên mặt, lên cổ. Họ có được phút giây sảng khoái. Tình cờ, lúc ngước mặt lên để tận hưởng hết sự sảng khoái, Việt thấy được rất nhiều những chùm bông tím trên những cành cây có xen lẫn những lá đã chuyển màu cam cam, vàng vàng. À, anh nhớ ra, đó là những bông bằng lăng đúng mùa nở rộ. Những lá cam cam, vàng vàng làm cho nơi đây giống mùa thu của các xứ lạnh, mùa thu tay lá. Bất chợt, Việt ước cuộc đời phải chi được như ở dòng suối này. Nó tuyệt đẹp, nó trong sáng, nó thanh bình, nó gột rửa và nó được gột rửa. Dòng nước gột rửa, những viên đá cuội, những hòn sỏi được gột rửa. Gột rửa, Việt thấy thêm được một hình thái khai sáng, như anh đã thấy ánh sáng chiếu vào vùng u tối. Ừ, nơi đây có cả những tia sáng chiếu xuyên qua rừng cây tán lá, đúng hơn là những luồng sáng chứ không chỉ là tia, những luồng sáng tới đây thiệt dịu, thiệt nhẹ nhàng. Anh nghĩ, nếu thoát ra được nơi này, rồi sẽ có một ngày anh trở lại khi nơi đây không còn là chiến trường. Ừ, mà phải là tất cả các nơi đều không còn chiến trường.

Việt thấy một người định vốc nước uống. Tìm thức trong anh thức tỉnh, anh vội ngăn lại:

“Ui, khoan, khoan đã, khoan vội uống.”

Cả ba chiến hữu ngạc nhiên:

“Sao vậy?”

“À, trong nước có thể có ký sinh trùng, uống vào có thể gây một số bịnh.”

“Vậy phải làm sao đây? Nước mát quá và chắc là rất ngọt.”

Việt làm cử chỉ trấn an. Anh lấy ra con dao găm, tìm một đụn cát ẩm, rồi đào một cái hố nhỏ. Một lúc sau thì những mạch nước nhỉ ra, nước cũng trong veo và mát lạnh. Anh nói:

“Nước đã được cát lọc bớt, uống an toàn hơn.”

Bốn người họ vốc nước uống ngon lành. Một người nói:

“Đúng là Biệt động quân có khác.”

Việt cười gượng gạo:

“Biệt động quân thiếu chuẩn, Biệt động quân thiếu beret”

Lấy nước đầy các bi đông, chuẩn bị tiếp tục hành trình, thì… nơi ngọt ngào trở thành đắng chát. Ừ. Phải, người ta thường nói nơi nguy hiểm nhứt là nơi an toàn nhứt đó thôi. Việt chợt nhớ, những người đi săn thường phục ở những nơi như thế này để rình rập, để chờ đợi những con thú ra uống nước hoặc tìm thức ăn.

Những một loạt đạn bay tới cùng những tiếng hô lớn:

“Buông súng, bước lên đầu hàng đi, chúng bây đã bị bao vây.”

“Bao vây chúng, tiểu đội chúng ở hết dưới suối.”

Việt chưa kịp phản ứng gì, anh nhảy lại núp sau một tảng đá để quan sát, một chiến hữu theo bên anh, còn một thì tách ra cách một đoạn, nhưng sực nhớ tới chiến hữu bị thương, Việt nói:

“Anh bắn trả đi, để tui lui đỡ anh bạn.”

Việt bước lồm cồm lại kéo chiến hữu bị thương tới chỗ núp trong khi người chiến hữu bên tảng đá lia một loạt đạn dài, anh phía bên kia cũng bắn tới tấp. Việt cũng nghe hai loạt đạn đáp trả. Khi về lại chỗ, anh nhận định:

“Có lẽ họ có hai người hoặc ba thôi. Họ nghĩ ta đông, cả tiểu đội. Chúng ta bắn rát một loạt nữa xem sao.”

Người chiến hữu đồng tình. Việt chẳng thể hiểu nổi tại sao mình bỗng dưng như kẻ dày dạn trận mạc. Có lẽ rằng, không chỉ chiến trường mới biến con người ta trở thành như vậy. Bị dồn vào những thảm cảnh đau thương, những gai góc của cuộc đời nó cũng biến con người ta mau chóng thu nạp kinh nghiệp và nhạy bén nữa.

Cả hai cùng xiếc cò, và ra dấu nên người chiến hữu phía bên kia xiếc cò theo. Tiếp tục có hai loạt đạn đáp trả. Tạm nghỉ để coi thế nào và nạp thêm đạn, song, Việt ra dấu bắn tiếp. Không nghe tiếng đạn bắn trả mà chỉ nghe một tiếng đạn lẻ, và cũng không nghe chiến hữu bên kia bắn tiếp, Việt quay qua thì… hỡi ơi! người chiến hữu bên kia đã đổ gục, nằm bật ngửa dưới dòng suối, máu loang đỏ rồi hòa vào dòng nước nhỏ, nhạt dần trôi đi. Việt lồm cồm chạy lại, người hữu tiếp tục bắn xối xả, anh rờ mạch rồi ôm đầu, rồi bưng mặt, rồi lắc đầu…

Việt quay lại chỗ núp, không còn nghe tiếng súng khá lâu, anh nói:

“Ảnh đi rồi. Và chắc họ ít người thiệt, nên cũng đã rút. Ta tranh thủ đi nhanh thôi.”

Người chiến hữu hỏi:

“Bỏ ảnh nằm đây sao?”

Việt thở ra rất mạnh:

“Trong tình thế này thì không thể khác rồi.”

Người chiến hữu cũng thở dài, tiếng thở dài chầm chậm chạy theo dòng nước nhẹ còn loang máu màu hồng, bịn rịn một tí rồi anh đành gật đâu.

Việt cố tỏ ra cứng rắn, không cứng rắn thì nơi đây không chỉ có một cái xác từ từ mục ruỗng mà sẽ có tới bốn cái xác chứ không đùa được. Anh cố nén cảm xúc vừa chực chờ, đành để chiến hữu nằm cô độc ở đây mà không có nỗi một nấm mồ dù lạnh giá. Hy vọng, nếu may mắn hơn thì anh có được nơi an nghỉ tươm tất.

Người chiến hữu nói:

“Xin lỗi anh bạn, tụi tui đành đi thôi. Đi nhanh thôi.”

Việt vừa xốc chiến hữu bị thương chuẩn bị đưa lên vai thì nghe có tiếng kêu cứu:

“Cứu tôi với, cứu với…”

Việt và chiên hữu khá tần ngần, và anh đặt người chiến hữu bị thương xuống và nói:

“Có lẽ họ cũng bị thương.”

Người chiến hữu nói:

“Coi chừng là cái bẫy.”

Việt gục gật, nhưng rồi anh không can tâm:

“Lỡ họ bị thiệt thì sao? Ta đâu thể bỏ mặc được, họ cũng là con người.”

Người chiến hữu im lăng. Việt nói tiếp:

“Anh ở đây canh chừng, tui dò xét xem sao.”

Việt luồng đi nhanh và rất nhẹ nhàng, đây là sở trường của anh được huấn luyện. Cánh rừng vắng lặng, vắng đến rợn người sau những loạt tiếng đạn kinh động. Rồi Việt nghe tiếng rên rỉ. Bằng trực giác và quan sát thêm Việt chắc rằng kẻ đối đầu vừa rồi đã bị thương. Anh lần tới, quả đúng là như vậy, và đó là địa phương quân, anh ta mặc bộ bà ba đen. Thấy Việt, anh ta có vẻ hốt hoảng, anh ta thều thào:

“Đừng bắn, đừng bắn tôi.”

Việt đưa tay lên môi suỵt sụyt:

“Tui không bắn anh, nhưng anh đã bị thương vẫn còn bẫy tôi sao?”

Anh ta nhúc nhích nhẹ đầu, ý muốn lắc đầu:

“Không. Tôi không bẫy anh đâu. Chúng tôi chỉ có hai người thôi, chúng tôi chỉ là trinh sát, đang ở xa căn cứ nhưng ham lập công, khi tôi bị thương, người đồng chí đã bắn phát đạn ân huệ tưởng rằng tôi đã chết, đã chạy chắc rất xa rồi.”

Việt khá sững sờ. Anh hỏi lại:

“Thiệt chứ?”

“Người sắp chết không thể nói dối.”

Việt bồng anh ta lên, đưa xuống suối, và nói:

“Anh không phải chết. Tụi tui sẽ cứu anh.”

Đến suối, Việt thuật nhanh lại câu chuyện, rồi anh nói người chiến hữu:

“Anh lục lấy dùm hộp cứu cấp.”

Việt tiêm cho anh ta một mũi thuốc. Người chiến hữu lấy bông băng. Bỗng anh ta thều thào cản lại:

“Đừng, đừng… đừng băng bó những… thứ đó cho tôi…”

“Chúng tôi bằng bó cho anh rồi đưa anh ra khỏi đây.”

“Không… không, làm ơn… đừng… tôi sẽ không sống được lâu nữa…”

“Anh sẽ sống…”

“Không… tôi biết sức mình… biết được cái chết đang đến, xin… các anh… có gì ăn thì… cho tôi ăn, tôi không muốn làm… ma đói…”

Người chiến hữu gật đầu ngay:

“Được, được.”

Anh nhanh tay lục lấy hộp cơm sấy trút ra cà mèn, đổ nước từ bi đông vào, cơm nở thì anh nhẹ nhàng bón từng muỗng cho anh ta. Ăn một hồi thì anh ta nói với gương mặt đượm buồn:

“Cảm ơn các anh… Tôi chết không… thành… ma đói nhờ kẻ thù của mình… nhờ cơm của đế quốc Mỹ.”

Việt đáp lại:

“Tất cả là do hoàn cảnh. Chúng ta bị bắt buộc như vậy mà thôi, bây giờ ở đây tụi tui và anh là những con người.”

Anh ta nhích cười có chút mỉa mai:

“Xin các anh một điều nữa, các anh hãy… xé áo của tôi mà băng cho tôi, đừng… lấy bông băng Mỹ – Ngụy, các đồng chí… của tôi tìm được xác thì nguy, tôi trở thành kẻ tội đồ, hèn nhát… đầu hàng giặc…”

Việt và người chiến hữu ngỡ ngàng, không thể hiểu nổi. Người chiến hữu thở dài:

“Trời ơi! tới nước này mà còn như thế này, ngay chính người của mình hạ sát không thương tiếc mình mà còn đồng chí. Họ bị nhồi cái triết lý quái quỷ gì thế này.”

Anh ta ưa ứa nước mắt, nói tiếp:

“Các anh đi đi…”

Việt cản lại:

“Tụi tui sẽ đưa anh cùng đi.”

“Không… tôi chỉ còn vài giây phút nữa thôi.” – Anh ta cố đưa tay lên chỉ: “Các… anh nên đi hướng này, hướng… khá an toàn.”

Việt móc gói thuốc lá:

“Anh làm một điếu được chứ? Đây cũng là thuốc lá Mỹ đó.”

Mắt anh ta sáng lên, anh ta mấp môi, cử chỉ không chỉ đồng ý mà còn mừng rỡ. Việt đốt điếu thuốc đưa lên môi cho anh ta, anh ta rít sảng khoái:

“Cảm ơn… cảm ơn…”

Người chiến hữu hỏi:

“Bao giờ thì đồng đội anh trở lại?

Anh ta đáp:

“Sẽ không trở lại.”

“Chắc chứ?”

“Căn cứ… ở xa lắm, đây… đây… cũng không phải điểm trọng yếu… tôi xin thề… Cảm… cảm… – Nói chưa hết được lời cảm ơn thì anh ta quẹo đầu sang bên.

Bần thần trong giây phút, rồi Việt nhận định:

“Người chết, dù gì đi nữa cũng không nói dối, họ sẽ không trở lại. Ta phải chôn cất đàng hoàng hai thi thể này thôi.”

Tìm được chỗ, Việt và người chiến hữu đào huyệt, rồi đắp mồ. Họ lấy những tảng đá lớn đặt ở đầu mộ thay cho tấm bia. Người chiến hữu nói:

“Trước đây chừng tiếng đồng hồ, họ là kẻ thù của nhau, cố giết nhau, bây giờ lại nằm cạnh bên nhau. Mong cho họ có được sự bằng an ở thế giới bên kia, và là bạn bè, không còn chỉa súng bên nhau.”

Việt và chiến hữu bị thương gật đầu. Cả ba chào theo điều lịnh quân đội. Rồi Việt xốc người chiến hữu bị thương lên vai:

“Đi thôi. Theo hướng anh ta chỉ thôi.”

 

***

 

Người chiến hữu nhảy lên bờ qua dòng suối, phạt và đạp cành cây rào rào, rừng chỗ này thưa hơn một chút, nên có thể chạy chậm được, Việt vác người chiến hữu bị thương băng theo sau mà anh thấy nhẹ tênh, không hề nặng nhọc lắm.

Ý chí con người quả là có sức mạnh hơn sức mạnh thể xác khi cần kíp.

Chạy phải hai cây số thì họ mới ngừng nghỉ, cũng bởi vừa thấy được một hốc đá khá kín kẽ.

Bấy giờ họ mới ngồi thở dốc. Người chiến hữu bị thương thì rũ rượi, máu tươi rướm ra khắp các vết thương, ngồi tựa vào tảng đá mà đầu cuối gục, gần như bất động. Việt lay lay vai anh:

“Ráng lên anh bạn, rồi sẽ tìm được đường ra.”

Chiến hữu bị thương cố ngước đầu lên nói thều thào:

“Hai anh đi đi.”

Người chiến hữu kia nói liền:

“Hông được. Đi cùng đi, ở cùng ở.”

Việt đồng tình. Người chiến bị thương nói tiếp:

“Hai anh nên đi. Ở lại chỉ có chết chung.”

“Ừ, thì chết cùng chết, sống cùng sống.”

“Tại sao phải phí cuộc sống như vậy? Tại sao phải đánh đổi hai mạng sống vì một mạng sắp chết. Hai anh đi vẫn còn hy vọng. Vả lại như lúc chúng ta tâm sự ở dọc đường, anh đã biết rồi đó, tui là đứa trẻ mồ côi, không còn gì để mất, hai anh còn quá nhiều thứ để mất mát. Tấm thịnh tình của các anh  xin ghi tạc, xin cảm ơn các anh đã không rời bỏ đồng đội, dù chúng ta là các không cùng đơn vị. Xin hai anh, hai anh đi để kẻ này nằm lại được nhắm mắt yên lòng.”

Việt và người chiến hữu vẫn nhứt quyết không rời đi. Và chuẩn bị để tiếp tục thì người chiến hữu bị thương nói:

“Hai anh cho xin vài phút riêng tư, chỉ vài phút, vài phút suy nghĩ nhé.”

Việt và Người chiến hữu bước ra bên ngoài, cũng là để dò xét tình hình. Rồi một… tiếng đùng chát chúa vang lên bên tai. Tiếng đùng dội vào vách đá vang vọng, Việt  và người chiến hữu đã giựt thót thì càng rợn người hơn nữa bởi tiếng vọng kéo dài nhiều tiếng, tiếng vọng như thể đi về một nơi nào đó hun hút, đi về một nơi thăm thẳm.

Họ lại chứng kiến cảnh máu loang. Máu đã loang muôn nơi. Máu loang trên đất, máu loang trên cát, máu loang trên đường, máu loang trên thềm, máu loang trên nước, máu loang trên cỏ cây hoa lá, và bây giờ máu loang trên đá.

Họ quỳ phục bên thi thể, bên dòng máu loang của người bạn. Họ gần như bất động. Họ muốn thét lên, nhưng cũng chỉ phát ra được tiếng “Trời ơi!” nho nhỏ, chẳng khác gì tiếng rên. Cả lồng ngực họ đã ngập nỗi ức nghẹn. Mắt họ đỏ hoe và những dòng lệ tự động chảy tuông, không kìm nén được.

Việt cũng muốn bắn vào họng của mình. Anh muốn kết thúc nỗi thống khổ, giải thoát khỏi nỗi thống khổ, anh muốn đi theo tiếng vọng xa thăm thẳm chứ không còn muốn nghe nó nữa, không còn muốn thấy dòng máu loang nữa. Anh kinh sợ dòng máu loang lắm rồi, anh sợ nó không bao giờ kết thúc.

Người chiến hữu vội gạt ngang khẩu súng, ôm chầm lấy anh. Hai con người có lúc mạnh mẽ tưởng chừng như cơn bão, tưởng chừng như không có gì có thể quật ngã họ được rung lên bần bật, nước mắt tuông ra chảy dài…

Họ cứ mặc kệ, cứ để nước mắt chảy dài, họ không nói gì, lặng lẽ đưa xác chiến hữu bị thương đi chôn. Họ ngã người nằm ngửa với đầu gối lên nấm mộ với gương mặt như đứa trẻ nít khóc lớn, nước mắt nước mũi chảy dài và lem luốt bởi cánh tay, bàn tay quẹt ngang. Họ không buồn lau sạch và chẳng nói một lời, không còn lời để thốt ra nữa.

Rồi họ đứng dậy, bá vai dìu nhau đi. Hai thân thể thất thểu bước đi như hai bóng dáng vô hồn.

 

***

 

Hai cái xác vô hồn lẩn quẩn trong rừng thêm bốn ngày. Rồi cũng ra được khỏi rừng mà không bị phục kích lần nào nữa. Ra đến được Quốc lộ 15* (*Quốc lộ 51 ngày nay) ở đoạn phía dưới, qua cả xã Phước Lễ* (Tỉnh lỵ Phước Tuy – thành phố Bà Rịa ngày nay) mà họ cũng không thể biết vì sao ra được đến đó.

Việt và chiến hữu đang lừng khừng, chưa định được nên đi tiếp về hướng Ô Cấp hay đi ngược lại Phước Lễ, thì một chiếc GMC chở một toán lính chừng một tiểu đội chạy tới, xe rề rề lại, những người lính ngoắc và đưa ta kéo họ lên.

Lên xe rồi Việt mới biết Phước Lễ đã về tay Cộng quân.

Xe tiến thẳng về cửa biển Vũng Tàu. Tại đây có những chiếc tàu nhỏ đưa quân nhân ra Dương vận hạm đang neo ngoài khơi. Rất nhiều tàu đánh cá chở dân chúng cũng chạy ra theo xin di tản. Hạm  trưởng đã nhận được lịnh được di tản tự do.

Việt và người chiến hữuđược ăn một bữa no nê. Anh lên bon tàu, kiếm một chỗ khá vắng thả người nằm dài. Bây giờ anh mới cảm nhận được cơn mệt mỏi chất chứa, nhưng không ngủ được, Việt đành trở tư thế ngồi tựa lưng. Anh nhìn biển cả mênh mông, nhìn nước biển trong xanh với cặp mắt không hiểu sao vẫn cứ trơ trơ, không cảm nhận được điều gì. Có lẽ đầu óc trống rỗng, không có chút suy nghĩ nào hiện diện, thay vào đó đã bị trạng thái vô thức lấp đầy được gây ra từ sự mệt mỏi, nên đầu óc không còn điều khiển được điều gì cả. Những hành động lúc này thuộc về bản năng sinh tồn. Anh còn không biết chiếc hạm đang đón thêm dày đặc người ùn ùn kéo tới, còn không biết có cả những chiếc trực thăng chở đầy người đáp xuống, mà tiếng nổ máy của trực thăng đâu phải là nhỏ, cánh quạt của nó xoay khùng khục tạo ra gió rần rật cả một khoảng không gian rộng chứ đâu vừa.

Nếu trong hoàn cảnh bình thường, thì người ta dễ cho rằng đây là một trạng thái vô cảm, một trạng thái trơ trơ gỗ đá của trái tim trong con người này. Ưm, nhưng trạng thái vô thức của Việt cũng không hẳn hết do sự mệt mỏi gây nên, nó còn từ những chấn động tinh thần, chấn động liên tục, liên tục, liên tục đến nỗi tinh thần bị dồn ép thành một khối cứng đờ, tưởng tượng được rằng, giả sử nó nổ tung thì nó nổ không thua gì tiếng đạn cối và nó vang vọng trong không trung không thua gì tiếng súng vang trong vách đá. Nhưng nó không thể nổ, nó đã kết tinh như vật thể kết tinh nằm sâu trong lòng đất, ngay khi được người ta đào đưa ra khỏi nơi kìm nén từ rất lâu nó cũng không thể nổ.

Từ gần trưa, Việt ngồi gần như bất động cho đến tối. Khi ánh đèn  được bật lên, Việt nhìn chằm chằm vào những tia sáng, không phải anh thấy nó giống những tia sáng hừng đông, những tia sáng khai sáng, mà bởi nó có một sức hút kỳ lạ, như những tia sáng thôi miên. Ánh đèn thôi miên Việt không lâu thì anh vô thức hoàn toàn, giấc ngủ kéo tới phủ kín người anh.

Và anh ngủ một mạch cho tới khi Dương vận hạm khởi hành mới thức giấc. Anh nghe người ta kháo nhau, chiếc hạm xuất phát đi Phú Quốc.

Vệ sinh thân thể sạch sẽ, Việt lấy lại được phần nào sự tươi tỉnh. Dương vận hạm lúc này khá đông người. Việt len ra phía sau đuôi tàu. Anh tựa lan can dòm dòng nước trắng xóa mà chiếc hạm rẽ làm đôi như hai luồng nước nổi chạy ngược và thấy lớn dần chứ không nhỏ bởi càng lúc càng xa. Ngoài hai luồng nước, chiếc hạm thiệt lớn cho nên sóng biển trở thành những con sóng lăn tăn. Rồi Việt thấy một đợt sóng lớn hơn cuộn cuộn kéo tới hướng cắt ngang chiếc hạm. Đợt sóng này so với chiếc hạm cũng không là gì nhưng tự dưng trong lòng Việt lại cuộn lên như sóng, làm anh thấy sóng cuồn cuộn tiến lại càng lúc càng lớn, rất lớn. Anh lại thấy mờ mờ, ảo ảnh nhiều thứ phía trước con sóng, thấy những dãy nhà, thấy những làng quê, thấy những cánh đồng rau, thấy những cánh đồng đầy bông hoa, thấy những con người nhộn nhịp đi lại, làm lụng, thấy những ngôi trường với những tà áo trắng, nhứt là những tà áo dài tung bay, và rồi anh vừa thấy tà áo tím thì đợt sóng lao tới cuốn phăng đi tất cả…

Tìm thức lại tỉnh ngủ. Anh chưa nghĩ về quê nhà, về gia đình, về Nàng Nụ Tím Gia Long, về trường lớp… bởi anh chưa biết Dương Vận Hạm sẽ đưa về đâu, sẽ làm gì, nhưng bây giờ anh biết, mỗi phút chiếc hạm rẽ nước lao đi là mỗi phút anh nhòa dần những hình ảnh mà tìm thức khơi dậy, anh sẽ mất chúng.

Vửa lúc này thì có chộn rộn. Chiếc hạm neo lại, đã ở gần Đảo Ngọc* (*Phú Quốc) và đó thêm một số người nữa từ các ghe đánh cà vừa cập mạn. Bất chợt có người nói lớn:

– Thưa Hạm trưởng, tôi cho tôi xuống tàu cá, tôi xin trở về đất liền, tôi không đi nữa, tàu cá lúc này đã bỏ không.

Hạm trưởng lại gần, hỏi lại:

– Anh vừa nói gì vậy?

Anh ta nhắc lại và nói thêm với ánh mắt đỏ hoe:

– Tôi không thể rời xa quê hương. Xin cho tôi trở lại. Xin lỗi Hạm trưởng.

– Anh chắc chứ?

– Dạ thưa, chắc. Tôi cũng không thể rời bỏ vợ con ở quê nhà.

Một số người cũng xin trở về. Người Hạm trưởng cương nghị, nhưng ông cũng đã chớp chớp đôi mắt, ông chớp thêm mấy cái nữa, cố tình che lấp sự xúc động. Ông hội ý với vài sĩ quan, song, ông nói:

– Thôi được, ai muốn rời tàu trở về thì tập hợp lại. Tôi sẽ cho lo liệu nguyên liệu và thức ăn nước uống đủ để trở về.

Dòng người khoảng bốn, băm mươi người, từng người bước tới cảm ơn Hạm trưởng, cảm ơn các sĩ quan và thủy thủ đoàn, và được đưa xuống ghe cá. Việt cũng hòa vào dòng người này. Tự lúc nào không biết, anh đã đưa ngón tay thứ ba lên quyết định – Trở về.

 

***

 

Việt bước tới phía đuôi ghe đánh cá hướng về Dương Vận Hạm. Một người đàn ông bước lại hỏi:

“Thưa sĩ quan, sĩ quan còn phân vân không biết quyết định của mình có đúng không?”

Việt lắc đầu:

“Dạ thưa, hông phải vậy. Em chỉ dò tìm coi có thấy người chiến hữu không mà thôi, bởi lúc nãy quên chào từ biệt.”

Thực ra thì anh không có thời gian để nhớ, không có thời gian để tìm người chiến hữu. Lên trên chiếc hạm Việt cố tình tạm xa lánh để không phải bị ẩn hiện những cảnh vừa trải qua. Lúc này chúng lại xuất hiện. Dòng rẽ nước của ghe cá Việt không thấy màu trắng lại thấy đỏ ối, thấy loang loang và cuộn sóng. Những gương mặt chết đau thương đó đây chờn vờn phía trên dòng máu, nhứt là gương mặt của người chiến hữu bị thương tự sát, anh thấy hiện rõ mồm một, gương mặt đau buồn nhưng được một chút an ủi, chết một cách khí khái chứ không hèn nhát, chết khá thanh thản lương tâm và không biểu hiện oán giận gì ai, oán hờn gì cuộc đời, đó là điều anh lo sợ, điều lo sợ nhứt đã không xảy ra.

“Sĩ quan có lo lắng? Trở về sẽ bị trừng phạt.” – Người đàn ông vẫn còn đứng kề bên hỏi tiếp, đưa Việt về với thực tại. Anh Đáp:

“À, dạ không. Em chưa nghĩ gì tới chuyện này. Trong tâm trí, gia đình, làng quê đã choáng hết chỗ cùng với những ám ảnh của những ngày qua. Khi rời khỏi Dương Vận Hạm bước xuống ghe như có một động lực nào đó dẫn lối. Hổm rày ý thức rất kém. Và đôi khi chuyện này cũng có thoáng qua, nhưng nghe có chánh sách khoang hồng, hòa hợp hòa giải nên chắc chẳng sao, hông có chuyện gì ghê gớm xảy ra đâu.”

Người đàn ông gật đầu và hỏi nữa:

“Sĩ quan thuộc binh chủng nào vậy? Có phải Thủy quân lục chiến?”

Nãy giờ Việt quên đính chánh. Giờ nhìn kỹ mới nhớ người đàn ông là người xin xuống ghe đầu tiên, anh chắc ông không rành về nhà binh, và Việt nghĩ ông đang muốn nhường quyền thuyền trưởng lại cho anh. Việt nói và trả lời:

“Dạ thưa, em không phải là sĩ quan, chưa kịp xong khóa huấn luyện nữa chứ, chỉ buộc phải chiến đấu, sự tàn khốc của cuộc chiến biến thành như những kẻ dày dạn trận mạc vậy. Và em thuộc Biệt động quân. Đây là lần đầu đi xa trên biển nhứt, một vài lần chỉ đi chơi gần bờ, hầu như em hông biết gì về biển cả. Em cũng xin được trú dưới khoang tàu, tránh thấy dòng nước nó dễ gợi tới dòng… máu đổ…”

Người đàn ông hiểu ý, ông tỏ vẻ rất tôn trọng, ông cười:

“Biện động quân thì… đặc biệt nhứt rồi. Thôi, anh nghỉ ngơi dưới khoang nhé.”

Việt thay bộ bồ savin. Anh vứt bộ đồ lính và những gì liên quan xuống biển, anh nghĩ không cần tới nó nữa rồi, hãy để lòng biển sâu chôn vùi nó cũng như những hình ảnh ám ảm rợn người. Việt nhốt mình dưới khoang cho tới lúc ghe cập đất liền.

Trong khoảng không nhỏ bé và có phần mờ tối, Việt để tâm hết vào những hình ảnh gia đìmh, làng quê, ngôi trường, cả những quan cảnh xung quanh ngôi trường Văn Khoa, ngôi trường chắc chắn anh sẽ trở lại trong niên khóa tới, và dĩ nhiên đậm nhứt là hình ảnh nàng Nụ Tím Gia Long.

LÊ ĐẮC ĐỒNG VỌNG

 

 

 

 

 

Lòng Nghe Bát Ngát Thương Và Nhớ

Lòng nghe bát ngát thương và nhớ
Không hiểu vì sao nhớ cứ thương?
Chắc nhớ Nha Trang bờ biển nhỉ
Mà quên sao được nắng thùy dương?

Ôi nắng thùy dương, cái bóng người
Áo dài gió thổi sóng ngàn khơi…
Ngày xưa cứ muốn theo ai lắm
Mà lính kêu đành thôi phải thôi!

Cái tuổi hai mươi, tuổi lỡ làng
Bóp cò đạn nổ khói không tan
Chưa Xuân, nhiều lúc hoa mai nở
Cầm nụ hoa mai muốn tặng nàng…

Cầm nụ hoa mai vào Cải Tạo
Xếp hàng, bè bạn: Lính Hoa Mai!
Thằng này liếc liếc qua thằng khác
Có đứa khi không cũng thở dài…

Xe chở tù ngang qua Nha Trang
Lâu ghê thấy lại hoa muồng vàng
Nhìn qua khe cửa nhìn không thỏa
Ai giống người xưa gánh gánh than…

Ai áo dài xưa chừ áo ngắn
Nếp áo bà ba đẹp lạ lùng!
Đâu đẹp hơn là quê nữa chứ?
Ai đẹp hơn là em phải không?

Nha Trang! Nha Trang rồi mịt mờ…
Sáu năm tù chẳng có câu thơ!
Lại về ngang chỗ từng tha thiết
Xe lửa ngừng, mưa, gió, gió, mưa…

Nha Trang, em hứng trăm dòng lệ
Tưới được bao ngày cỏ Duy Tân?
Mưa được bao ngày mây Dục Mỹ?
Chỉ vàng thêm hoàng hôn Cam Ranh!

Hà Ra, Hà Thanh và Chụt hỡi
Bãi Hòn Chồng chồng nhớ chồng thương
Em có chồng hay em ở góa…
Có buồn buồn ra ngó thùy duơng?

Có buồn buồn nhớ ai yêu trộm?
Có buồn lòng người đó nay đâu?


Trần Vấn Lệ

“LỜI MẸ DẶN”

 

TỪ “LỜI MẸ DẶN’’ ĐẾN “CHỐNG THAM Ô LÃNG PHÍ’’, PHÙNG QUÁN, CON NGƯỜI BẤT HẠNH ẤY!

Một chút tiểu sử: Phùng Quán, một hội viên của Hội Nhà văn Việt Nam Thế Hệ Đầu 1956, sau đó không lâu, khoảng 1958 ông bị khép vào vụ “Nhân Văn Giai Phẩm” trên đất Bắc rồi bị khai trừ khỏi Hội Nhà Văn Việt Nam. Đến năm 1988, ông được phục hồi hội tịch Hội Nhà văn cùng lúc với Trần Dần, Lê Đạt và Hoàng Cầm.

Phùng Quán sinh tháng 1 năm 1932 tại làng Thanh Thủy Thượng, tổng Dạ Lê, nay là xã Thủy Dương, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên. Ông tham gia vệ quốc đoàn vào tháng 1 năm 1946 tại trung đoàn 101 Trần Cao Vân tỉnh Thừa Thiên, làm liên lạc, trinh sát. Sau đó gia nhập Thiếu Sinh Quân liên khu 4, rồi đoàn văn công liên khu 4, giữ chân kéo màn và đọc thơ diễn tấu cho bộ đội nghe. Năm 1954 được điều về cơ quan sinh hoạt văn nghệ quân đội, thuộc Tổng cục Chính trị, tiền thân của tạp chí văn nghệ quân đội.

Sau vụ Nhân Văn Giai Phẩm, ông rời Tạp chí Văn nghệ quân đội, đi lao động cải tạo cải các nông và công trường ở Thái Bình, Thanh Hóa, Việt Trì v.v…Ông được trợ cấp 27đ mỗi tháng. Sau khi hoàn thành lao động cải tạo, được chuyển về công tác tại vụ Văn hóa quần chúng thuộc Bộ Văn hóa và nhiều năm ông được phân công đi tăng gia sản xuất tại vùng núi Bắc Thái. Về hưu năm 1985 và mất lúc 16:50 ngày 22 tháng 1 năm 1995 tại Hà Nội thọ 64 tuổi.

– Bối cảnh sinh thành của “Lời Mẹ Dặn” và “Chống Tham Ô Lãng Phí”: Hiệp định Genève năm 1954, chấm dứt chiến tranh kháng chiến chống Pháp tại Việt Nam và vĩ tuyến 17 chia đôi Việt Nam qua hai miền Nam, Bắc. Ở miền Bắc chế độ Việt Nam dân chủ cộng hòa đang đi vào con đường xây dựng Chủ nghĩa xã hội. Để thực hiện một chế độ xã hội chủ nghĩa và nền kinh tế chỉ huy, đảng Lao động, (tiền thân của đảng Cộng sản) và chính quyền miền Bắc tiếp tục phát động phong trào cải cách ruộng đất, đấu tố địa chủ và cải tạo công thương nghiệp ở thành thị… Riêng chủ trương “Phóng tay phát động quần chúng, đấu tố địa chủ cường hào và bọn phản động’’ đã trở thành một phong trào khốc liệt, lan tỏa khắp nông thôn miền Bắc và đã gây ra không ít tai họa, không ít thảm khốc kể cả người và của cải vật chất mặc dù sau này Bộ chính trị đã ra lệnh sửa sai….

Trong cái không khí đấu tố địa chủ, bọn phản động (mà ở đây là Quốc Dân Đảng) một không khí đầy sắt máu, uy quyền và thủ đoạn, kích động, căm thù, gieo oan giáng họa, chụp mũ và vu khống….. Do một đám cán bộ vô học hoặc kém văn hóa, hoặc quan liêu mệnh lệnh, hủ hóa, dối gian, đứng ra làm mưa làm gió: “Trưởng thôn Cối làm tổ trưởng tịch, trưng mua, nhưng lại là mù chữ, lúc đội sục sạo đến báo cáo, tôi phải ghi ngoáy con số vào sổ tay”… (Tô Hoài “Ba người khác” nhà xuất bản Đà Nẵng trang 148). Còn có những mẫu người cán bộ đầy quyền uy như: “…. một người dáng như tổ trưởng, xách cây gậy, lảng vảng đến. Đây không phải cái chợ. Ai xì xào nữa người ta cắt lưỡi đấy”…

Phong trào cải cách ruộng đất ngày một lan rộng, ngày một cuốn cuồng như thác lũ: “Giải phóng Nhân dân lao động khỏi ách địa chủ phong kiến, mọi người đều có nhiệm vụ tham gia…” (Tô Hoài, sđd trang 19). “Bấy giờ phóng tay phát động quần chúng công tác cải cách ruộng đất là quan trọng nhất. Mọi người công tác ở cơ quan, từ cấp dưỡng đến cán bộ chuyên, có biết đồng ruộng hay không, nhất loạt đều phải đi làm “thổ cải” (Tô Hoài, sđd trang 18). Hồi này từ người già đến trẻ con, tối đến phải đóng cửa đi tập trung để ôn nghèo kể khổ, đấu tố địa chủ, phát giác các hoạt động của bọn Quốc Dân Đảng.Và đây là lời dặn dò của Cự, đội trưởng đội cải cách: “…Các đồng chí xem bản đồ, rồi tự tìm đường về xóm. Không được hỏi han lung tung. Coi chừng tay sai địa chủ và tổ chức cũ sẽ đưa người nó bố trí sẵn. Kể từ bây giờ các đồng chí về vị trí chiến đấu dưới thôn cẩn thận, cảnh giác, không được liên lạc với tổ chức cũ, cứ chọn nhà thăm nghèo, hỏi khổ, bắt rê xâu chuỗi.” (Tô Hoài “Ba người khác” trang 21)

Họ lý luận rằng: “Ở đâu có nông dân, là ở đấy có địa chủ. Chỗ nào có nông dân, có ruộng đât, tất có bóc lột”. Còn cán bộ cải cách ruộng đất là những mẫu người như đội trưởng Cự vừa nói trên, hoặc như Nguyễn Vạn chẳng hạn: “Nguyễn Vạn xốc lại ba lô, phanh ngực áo, đứng trên con đê nhìn về làng Đông. Cây quéo trước cửa đình tàn lá xanh thẩm cao lừng lững giữa khoảng trời chiều. Người của làng Đông không còn nhận ra Nguyễn Vạn. Thằng Vạn mắt toét bỏ làng đi, bây giờ về đây, đố ai còn coi thường Nguyễn Vạn: Hãy cứ nhìn những tấm Huân chương rung rinh lấp lánh trên ngực Vạn”. (Dương Hướng “Bến không chồng” NXB Hội Nhà Văn, trang 5).

Những mẫu người như Cự, Vạn, họ làm việc như những lãnh đạo, với kỷ luật là ba cùng (cùng ăn, cùng ngủ, cùng làm) với bà con nông dân ở thôn xóm: “Vẻ mặt người nào cũng ra chiều đăm chiêu, quan trọng. Chúng tôi đang làm thay đổi cái làng, cái xã này. Cả nước đứng lên, các tổ chức sẽ bị đánh đổ, bao nhiêu địa chủ và bọn bóc lột phải đạp xuống đất đen, chúng tôi phóng tay đưa bần cố nông lên vị trí và địa vị người chủ thực sự của đồng ruộng. Tôi đương làm thế, tôi đã làm thế, tôi đương làm từng ngày, từng ngày theo kế hoạch” (Tô Hoài, sđd trang 50 – 51). Họ nói rất hay, tuyên bố rất lý tưởng, nhưng việc làm của họ thì đầy tội lỗi, đầy uy quyền và thiếu sáng suốt, công minh, nên việc gây ra oan khiên là không tránh khỏi, chưa kể đến cái hủ hóa của họ nữa. Chẳng hạn như việc Nguyễn Vạn đã vu oan cho ông Xung, người cùng họ với Vạn:

“Dưới ánh trăng Nguyễn Vạn nhận ra có bóng người ngoài vườn chuối, Vạn định quay vào nhà lấy súng, nhưng sợ mất thời cơ. Chắc là tay chân lão Hào định giở trò gì đó…. Thoắt cái, Vạn đã bám sát theo cái bóng đang tìm kiếm gì ngoài vườn chuối. Nhanh như sóc, Vạn dùng hết sức lực, lao vào siết chặt hai tay kẻ gian.

– Thằng Vạn đấy à?
Thì ra ông Xung
– Ông làm gì ở đây vậy?
– À, chả…. Chả là. Lão Xung ẫm ờ…..Sáng mai tao đi chợ Quầy sớm, kiếm mấy tàu chuối, dây chuối về trói lợn – mày biết thừa tao là Xung lái lợn.
– Mời ông lên Ủy ban Xã – Vạn nghiêm giọng, tôi thấy ông đào bới gì đó.
Ông đã bị bắt quả tang về hành động lén lút giấu giếm chính quyền. Lẽ ra hôm qua, ông phải tố giác khai báo, biết đâu lão địa chủ Hào còn có vàng giấu ở đó.
– Hử? Tao có biết nó giấu con mẹ nó ở chỗ nào mà tao khai báo, tao chỉ nghi nghi.
– Ông phải báo cả những gì ông nghi.
– Đấy là tội thứ nhất, Vạn tiếp; tội thứ hai ông đã vi phạm lệnh giời nghiêm. Đúng giờ, ai không nhiệm vụ, không được thắp đèn, không được đi lại tụ vạ trong làng, Nhân danh đội trưởng, tôi mời ông đi lên xã” – Khi nghe ông Xung nhấn mạnh tiếng “Nguyễn” để nhắc Vạn nhớ đến ông và Vạn cùng bà con, tộc họ với nhau: “Mày quên cả lời răn của tổ là người trong họ phải thương yêu đùm bọc lẫn nhau?”
– “Tôi không quên lời răn của tổ! Vạn gắt, tôi còn nhớ cả lời thề danh dự của người chiến sĩ cách mạng, phải tuyệt đối trung thành với Đảng – Ông nên nhớ, bố Nguyễn Vạn còn sống, nếu có tội, Nguyễn Vạn cũng không dung thứ – Mời ông đi!”
(Dương Hướng “Bến không chồng” NXB Hội Nhà văn, trang 36 -37).

– Với giọng điệu khoát lác như thế, sau này tên Nguyễn Vạn đã làm nhiều điều tội ác vì cố tình vu khống, gieo oan, giáng họa cho bao người trong đó có ông Xung, chú Hinh, chú Xình, chú Xèng và cả mấy người của làng Hội nữa. Vạn nói: “…..Tay Xình, tay Xèng thì dân quân bắt quả tang đặt mìn phá hoại cống Linh” (sđd, trang 38). Nhưng đó chỉ là sự vu khống cho hai người này, khi họ dùng mìn để đánh cá trong cống Linh và cống không hề hấn gì, ngoài ra còn trường hợp như Hinh, Vạn cho rằng :…. “ Theo điều tra cho biết, bọn Quốc Dân đảng hoạt động từ nhà thờ Thượng. Chúng có đường dây bí mật liên lạc với cơ sở quanh vùng này. Cuộc họp xóm ba tối qua bắt quả tang tay Hinh thổi kèn phát tín hiệu báo cho bọn Quốc Dân đảng.
– Khiếp thật! Chị Nhân thốt lên, thế mà từ trước đến này ai cũng bảo anh ta hiền lành! Thế mới biết bụng dạ con người….
– Những kẻ thâm ngầm đều gớm thế đấy – Vạn nói – Tay Hinh bao biện khôn ranh – Hắn bảo: do sợ muộn họp nên trước khi đi không kịp hút thuốc lào. Trên đường đi hắn tiện tay xé miếng lá chuối làm điếu theo kiểu loa kèn. Vừa đến cổng nhà xóm trưởng, hắn vô tình đưa cái điếu lên miệng thổi. Chẳng may cái điếu nó lại kêu đánh toe một tiếng – Thế là dân quân đứng gác ập đến tóm cổ hắn luôn. Chị thấy hắn ta bao biện giỏi không?” (Dương Hướng, sđd, trang 38).

Thế là những con người vô tội, bị oan uổng kia bị trói vào những chiếc cột chôn dựng đứng thành một hàng ngang.

– Đả đảo bọn địa chủ cường hào gian ác!
– Đảo đảo, đả đảo!
– Đả đảo bọn Việt gian Quốc Dân Đảng!
– Đả đảo, đả đảo!
– Bịt mắt – một mệnh lệnh từ đâu đó phát ra.
Một loạt súng nổ dậy lên
(Dương Hướng, Sđd _ trang 53)

Và còn nữa, còn nhiều vụ ra đấu trường thảm khốc và chết chóc như thế. Cả xóm làng miền Bắc vào những năm phát động phong trào đấu tố từ năm 1955 đến 1958, người ta không thể ghi hết những vụ oan khiên! Rõ ràng là: “Mọi nhà hoảng hốt ngẩn ngơ. Tiếng oan dậy đất, án ngờ loà mây!” (Kiều). Tuy nhiên, bọn cán bộ đi đấu tố thì tha hồ dối gian, mà hủ hóa:

….“Mãi để ý những người đang bị trói, lúc này cái Hạnh mới nhìn lên những người ngồi oai nghiêm trên đài cao ngất, còn có cả cô tý Hin, em gái chủ tịch Đột. Ôi! Sao lúc này cô Hin đẹp thế, đôi má cô cứ đỏ hồng hồng.
– Cô Hin trông oách nhỉ, cái Hạnh thốt lên – Oách đéo gì – Cậu trưởng nam buộc miệng.
– Sao anh nói bậy thế? Cái Hạnh sững sờ nhìn Nghĩa.
– Tao bắt quả tang cô ấy ngủ lang với tay đội trưởng đội cải cách sau từ đường.
– Chết! Anh nói thế mà không sợ cố ấy bắt à!”
(Dương Hướng, Sđd trang 46) – Và đây nữa, một cán bộ hủ hóa khác:

“…Trong đợt 4, đồng chí Bốn đã phạm lỗi nghiêm trọng: Vì hủ hóa mà phải đổi đi 4 xóm. Đến xóm nào cũng lại hủ hóa ở xóm đó, hủ hóa với vợ bộ đội, vợ tử sĩ… Điên cuồng hơn nữa, ngay trong Đại hội nông dân, đồng chí Bốn đã công nhiên cắn vào vú, vào mặt một chị chuỗi tích cực – Tổng cộng trong đợt 4, đồng chí Bốn đã thông dâm với 8 người và có hoạt động chọc ghẹo nhiều người khác….. Về xã Đào Khê mới 3 ngày, đồng chí Bốn đã liên lạc với con Ái, con địa chỉ cường hào gian ác. Cho con Ái vào dân quân, đêm đến nấu chè đậu đen cho nó ăn rồi hủ hóa với nó. Lại cho mẹ nó đi họp nông dân khiến không ai dám tố bố nó là địa chủ cường hào gian ác.

Đồng chí Bốn lại đưa con Hạnh thành phần công thương vào dân quân, đem con Hạnh về hủ hóa ở nhà rễ. Bố Thị Hạnh có tội đánh chết người, đã bị quần chúng tố, nhưng đồng chí Bốn che giấu không báo cáo với đội. Đồng chí Bốn lại hủ hoa với chị Chắt, thiếu nhi trong xóm đã bắt được bốn lần trong bụi cây.

Chồng chị ấy đi dân công vắng, mẹ chồng bị lòa, tối nào đồng chí Bổn cũng vào nhà chị ấy để hủ hóa…”
(Tô Hoài “Ba người khác” trang 82, 83).

Thế mà người ta vẫn say sưa đấu tố: “Hoan hô giai cấp nông dân, kiên quyết tử hình Việt gian và đả đảo bọn địa chủ cường hào gian ác…” Bài hát “Nông dân là quân chủ lực” vẫn vang vang…

Tô Hoài viết: “Ấy là quang cảnh những hôm các thôn rộn rịch lần lượt mitting tuyên bố xóa giai cấp địa chủ. Công tác lại tuần tự chiều gọi loa, hô khẩu hiệu, tối họp xóm xong, từng nhà còn mạm đàm trao đổi, ngày mai là ngày sung sướng nhất của nông dân, ngày mai giai cấp địa chủ bị tiêu diệt hoàn toàn ở xã ta và trên cả nước nữa.” (Tô Hoài, sđd trang 145)

Người ta đã thổi phồng cuộc đời rằng “Ngày mai là ngày sung sướng nhất của nông dân, ngày mai giai cấp địa chủ bị tiêu diệt hoàn toàn …” Cũng giống như khi đấu tố, người ta đã thổi phồng: “Ba đời cùng đinh, mà nó đấu nâng lên ba đời Cai tổng, ba đời Mật Thám toàn những bố láo bố láo tất.” (Tô Hoài, sđd trang 113)

Nhưng thực tế thì bức tranh của cuộc sống bây giờ ra sao? Đây ta hãy nghe Tô Hoài tả: “nhớ lại quang cảnh thôn chợ huyện. Chúng tôi húc đầu vào hàng bánh đúc, thì xung quanh mênh mông đói khát. Trong chợ những cánh tay cẳng chân đi lại như những cảnh que. Một người đàn bà ở đâu đến ngồi xập xuống, bồng đứa con gái nhỏ trên tay, thằng con trai khoảng bốn năm tuổi, mặt già cấc, bò bên chân. Mỗi lần người mẹ giơ đứa bé cho người hỏi mua, đứa anh lại oà khóc. Người mẹ mếu máo: “Nó khóc quá tôi không dám cho” chốc lại nói lại câu ấy. Một bà nói: “Để tôi đi mua cái kẹo nhử thằng bé thì nó mới nhãng em nó được” Người đàn bà vỗ vỗ lưng con, lặng im. Xung quanh đổ đến mỗi lúc mỗi đông, cái người tần ngần đứng hỏi mua trẻ con, người ấy cụt một tay. Có người đòi xem thẻ Thương Binh của anh ta. Tiếng ai kêu lên: “ối giời ơi! cái lúc lung tung này thằng Ngô Đình Diệm ở trong Nam cho người đi mua trẻ con rồi ném vào bụi cây, đổ cho ta giết. Đã tìm ra đã tìm ra khói đấy, phải cẩn thận cái thằng địch đồng bào ạ!” (Tô Hoài, sđd trang 124,125) Cuộc sống đã cơ cực đến thế, nhưng người ta vẫn luôn luôn gắn chặt nó vào một ý thức hệ chính trị, một thứ chủ nghĩa tuyên truyền vẫn quanh co, lắc léo, đổ lỗi đổ vạ cho kẻ khác, mà chẳng bao giờ những con người ấy dám chân thật với mình và dám nhìn thẳng vào mình. Phải chăng trong cái bối cảnh dối gian, rách nát và đầy oan khiên ấy nên Phùng Quán đã động lòng cảm xúc thành “Lời mẹ dặn” và ông cũng đã không chịu được cái cảnh tham ô, lãng phí và nhức nhối trước đói nghèo, nên ông đã lớn tiếng tố cáo “tham ô lãng phí”.

Đó là hai bài thơ độc đáo nhất của Phùng Quán và cũng là “những bài thơ đầu tiên trong lịch sử văn học cách mạng chống tệ nạn tham nhũng, lãng phí” như có người đã nói thế.

PHÙNG QUÁN VỚI NÉT HIỆN THỰC CỦA LỜI MẸ DẶN VÀ CHỐNG THAM Ô LÃNG PHÍ

Tôi mồ côi cha năm 2 tuổi
Mẹ tôi thương con không lấy chồng
Trồng dâu nuôi tằm dệt vải
Nuôi tôi đến ngày lớn khôn

Đó là những lời tự sự của chính tác giả, một cậu bé “mồ côi cha từ năm 2 tuổi”. Tuy nhiên thân phận của cậu bé mồ côi ấy vẫn còn được cái diễm phúc là được tình thương của người mẹ, một người Mẹ tần tảo “trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải” để nuôi tác giả đến ngày lớn khôn. Người Mẹ ấy không những chỉ biết nuôi con, trái lại còn có công dạy bảo con của mình nữa

Hai mươi năm qua tôi vẫn nhớ
Ngày ấy tôi mới lớn lên năm
Có lần tôi nói dối mẹ
Hôm sau tưởng phải ăn đòn
Nhưng không, mẹ tôi chỉ buồn
Ôm tôi, hôn lên mái tóc
– Con ơi!
Trước khi nhắm mắt
Cha con dặn con suốt đời
Phải làm một người chân thật

Thật tuyệt vời trước những cử chỉ điềm đạm, ân cần âu yếm của người mẹ khi thấy con mình có lỗi, không phải giận dữ và trừng phạt con bằng “đòn roi” mà chỉ lộ nét buồn trên mặt, rồi âu yếm con mình “ôm con”, “hôn lên mái tóc”. Nét buồn hòa với sự im lặng đã trở thành một mối truyền thông giữa hai tâm hồn mẹ con, và lời dạy bảo của người mẹ tiếp theo đó, đã là một làn sóng của âm vang rung động vào tận tâm hồn của người con ấy;

Mẹ ơi chân thật là gì?
Mẹ tôi hôn lên đôi mắt
Con ơi một người chân thật
Thấy vui muốn cười cứ cười
Thấy buồn muốn khóc là khóc
Yêu ai cứ bảo là yêu
Ghét ai cứ bảo là ghét
Dù ai ngon ngọt nuông chiều
Cũng không nói yêu thành ghét
Dù ai cầm dao dọa giết
Cũng không nói ghét thành yêu

“Hôn lên mái tóc” rồi lại “Hôn lên đôi mắt”. Một nụ hôn vào hai vị trí khác nhau, nhưng bản chất của nụ hôn vẫn là một, vẫn là sự biểu tỏ tình cảm đơn sơ và dịu dàng của người mẹ đối với đứa con thơ dại. Tuy nhiên, xuyên qua nụ hôn ấy vẫn là sự thẩm thụ từ một tâm hồn đến một tâm hồn, từ một trái tim bao dung nồng thắm đến một trái tim non dại thơ ngây, nhưng không kém dạt dào thương mến. Đó là tình mẹ con, tình yêu thương bao la như biển rộng, sông dài, một thứ tình thiêng liêng và hằng cửu, tưởng rằng con người không bao giờ thiếu thứ tình ấy được! Nhưng tình ấy dù bao la nhưng vẫn đơn giản, dù mênh mông nhưng vẫn tinh tế. Tinh tế và đơn giản như lời mẹ dặn: “Thấy vui muốn cười cứ cười, thấy buồn muốn khóc là khóc” …. Nói thế, chứ đâu phải dễ làm! V ì trong cuộc đời đã có bao nhiêu chuyện vui chuyện buồn, mà con người đã không được cười khi vui, và cũng không được khóc khi buồn! Chẳng hạn như trong những trường hợp “phóng tay phát động quần chúng” đấu tố địa chủ … có bao nhiêu chuyện khóc cười mà con người vẫn không được cười được khóc thật sự….! Ngược lại, có lúc “Khi vui muốn khóc, buồn tênh lại cười” nói như cụ Nguyễn Công Trứ đã nói. Lời giáo huấn của người mẹ tưởng chừng giản dị và tự nhiên như ta đang hít thở không khí hàng ngày “Yêu ai cứ bảo là yêu, ghét ai cứ bảo là ghét, dù ai ngon ngọt nuông chiều, cũng không nói yêu thành ghét, dù ai cầm dao dọa giết, cũng không nói ghét thành yêu”. Sự giản dị và chân phương ấy, không thể làm cho đứa con phải suy nghĩ khi nó đi vào đời, một cuộc đời thường “đổi trắng thay đen”, một cuộc đời có lắm “khẩu phật mà tâm xà” và hơn thế nữa, một cuộc đời có lắm quyền uy, áp đặt độc đoán với một xã hội, chẳng có gì gọi là “công bằng dân chủ và văn minh”… Xã hội như thế, nên đã có kẻ “vào đời bằng hai đầu gối” bằng uốn ba tấc lưỡi: “ngon ngọt nuông chiều” để chạy theo quyền chức, danh vọng, bổng lộc, sang giàu. Cuộc đời “nhầy nhụa” và “âm u” như thế, nếu ai thực hiện được sự chân thật trong cuộc đời, dù phải quyết liệt đấu tranh chống bọn cường quyền đang “cầm dao dọa giết” để bảo vệ chân lý bảo vệ sinh mệnh cho chính mình và cho mọi người, thì người ấy quả là kẻ có nhân cách lớn! Ở đây, Phùng Quán hẳn đã nghe theo lời mẹ dặn và chắc chắn rằng ông không thể không suy nghĩ sâu sắc về việc thực thi “lời mẹ dặn” khi ông đi vào đời:

Từ đấy người lớn hỏi tôi:
Bé ơi, bé yêu ai nhất?
Nhớ lời mẹ, tôi trả lời
Bé yêu những người chân thật
Người lớn nhìn tôi không tin
Cho tôi là con vẹt nhỏ
Nhưng không, những lời dặn đó
In vào trí óc của tôi
Như trang giấy trắng tuyệt vời
In lên vết son đỏ chói
Năm nay tôi hai mươi lăm tuổi
Đứa bé mồ côi thành nhà văn
Nhưng lời mẹ dặn thuở lên năm
Vẫn nguyên vẹn màu son chói đỏ

Phùng Quán đã thẩm thụ được “lời mẹ dặn” ông đã biến giáo đều thành tín điều!…. Nói đến tín điều là nói đến lòng tin.

Nhưng khi nói đến có lòng tin vào thánh thần hay một đấng vô hình nào đó, thì con người của niềm tin sẽ gặp phải một trở lực của con người không có niềm tin. Chẳng hạn khi ta nói đến hữu thần, thì cũng có kẻ nói đến vô thần. Hữu và Vô chỉ là hai mặt của một vấn đề, hay cũng có thể là một biện chứng phản diện…

Vì vậy cho nên khi Phùng Quán bảo: “bé yêu những người chân thật” thì đã bị người lớn “nhìn tôi không tin cho tôi là con vẹt nhỏ”. “Con vẹt” chỉ là một loài chim, loài chim chỉ biết nhại theo tiếng nói con người, chứ tự nó không có ý thức gì về lời nói của nó.

Nhưng ở đây tác giả đã phủ nhận vai trò con vẹt, và tự xác nhận rằng: “những lời dặn đó, in vào trí óc tác giả như vết son đỏ chói in lên trang giấy trắng tuyệt vời!” Thế là đã có sự tranh chấp xảy ra trong tâm thức của tác giả. Mà nói đến tranh chấp là nói đến sự chọn lựa và ý thức về sự chọn lựa. Qua đó ta thấy, Phùng Quán đã ý thức về sự chọn lựa “yêu những gì chân thật”. Trong bất cứ một sự tranh chấp nào, cũng luôn xảy ra những hiện tượng thắng thua, sai đúng, phải trái, vui buồn, v.v… Thái độ của sự tranh chấp là thái độ của sự lựa chọn, của dấn thân.

Ở đây ta thấy Phùng Quán đã lựa chọn một dấn thân “Đi trọn đời trên con đường chân thật” với sứ mệnh của một nhà văn, một sứ mệnh của nhà văn đi trên con đường chân thật. Con đường ấy rất khó “khó hơn người làm xiếc đi trên dây”.

Người làm xiếc đi trên dây rất khó
Nhưng chưa khó bằng làm nhà văn
Đi trọn đời trên con đường chân thật
Yêu ai cứ bảo là yêu
Ghét anh cứ bảo là ghét
Dù ai ngon ngọt nuông chiều
Cũng cũng không nói yêu thành ghét
Dù ai cầm dao dọa giết
Cũng không nói ghét thành yêu
Tôi muốn làm nhà văn chân thật
Chân thật trọn đời
Đường mật công danh không làm ngọt được lưỡi tôi
Sét nổ trên đầu, không xô tôi ngã
Bút giấy tôi ai cướp giật đi
Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá

Đấy đến đây ta thấy tác giả của bài thơ đã trở thành một tín đồ trung thành với Đạo. Đạo ở đây là Đạo chân thật. Phùng Quán muốn làm nhà văn chân thật trọn đời, như một con chiên trọn đời dâng mình cho Chúa, như một tín đồ hiến trọn cuộc đời cho một lý tưởng thánh thiện, cao xa. Phùng Quán, cũng như họ, không là những kẻ mê tín, mà là những kẻ được mặc khải hoặc là được thăng hoa bởi những ý thức cao đẹp của chân, thiện, mỹ. Phùng Quán đã quyết tâm như một tín đồ chân chính, không chịu nghe theo lời cám dỗ của quỷ Satăng , ông quyết không để cho lưỡi mình bị làm ngọt bởi “đường mật công danh”, ông quả cảm đi trọn đời trên con đường chân thật, suốt đời nhớ mãi lời mẹ dặn, dù “sét nổ trên đầu” vẫn không xô ngã ông , dù gian nguy vất vả đến đâu vẫn không làm sờn lòng ông. Con người ấy phải chăng đã tìm ra được ánh chân lý và quyết lòng tử sinh với nó, dù cho:

“Bút giấy tôi ai cướp giật đi
Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá”

Có thể nói: Trọn cuộc đời Phùng Quán đã vác cây Thánh giá của chân thật “lời mẹ dặn” đi khắp nẻo đường chông gai và hóc hiểm của con đường hay của lòng người, của xã hội, của chế độ hay của cả lịch sử đã đổ xuống cuộc đời ông, là kẻ vác Thánh giá của chân thật, vinh danh cho một nhà văn chân thật trọn đời.

Bài thơ “Lời mẹ dặn” trên đây vào cuối năm 1957 có tên Trúc Chi (tức Hoàng Văn Hoan) làm bài thơ “Chân thật” đăng trên báo Nhân Dân và lên tiếng lập trường chính trị để đã kích Phùng Quán và chửi rủa Quán với cái “giọng hạ cấp” (1). Đó là một trong hiện tượng mở đầu cho việc Phùng Quán đã bị ghép vào tội “Nhân văn giai phẩm” rồi đi tù cải tạo sau này. Dù sao, bài thơ “Nhớ lời mẹ dặn” của Phùng Quán cũng như một số bài thơ khác của ông ngày nay vẫn có nhiều người nhắc nhớ và có kẻ đã nghĩ rằng… “Thơ Phùng Quán là một chuỗi tình ca lớn về cuộc đời. Dù chỉ là hình bóng thoáng qua, hoặc chỉ cho mà không nhận, tất cả trong thơ Phùng Quán đều là hình ảnh của cuộc đời úp mặt, và tất cả cũng là trái tim tươi đỏ của ông trước một kiếp người bị đời phụ. Tình ca của Phùng Quán bao giờ cũng là tiếng kêu đoạn trường của một con người tự cảm thấy bị xúc phạm và kêu đòi quyền được sống có nhân phẩm của nó” (H. P. N. T, Huế 22-6-2002)

Sống trong một thời đại chuyên chế, (Totalitaire), hơn bao giờ hết người văn nghệ sĩ cảm thấy sâu sắc về nỗi cô đơn của mỗi cá nhân, đồng thời cũng cảm thấy mãnh liệt tính cách liên đới về thân phận làm người. Do đó, ở thời đại này, quan niệm đi tìm hạnh phúc bằng một lối sống lẩn trốn cuộc đời, ẩn dật, nhàn hạ, sung sướng, suy niệm thảnh thơi như các cụ ngày xưa…. Điều đó, bây giờ chỉ còn là kỉ niệm đẹp, một hình ảnh xa mờ… Ngày nay, mọi văn nghệ sĩ đều bị đẩy xuống cái thuyền thời đại của họ. “Họ phải bấm bụng mà chịu vậy, dù họ có cho rằng con thuyền ấy tanh ngòm mùi cá, rằng bọn cai tù trên thuyền quá nhiều, và tệ hơn nữa, con thuyền bị lạc hướng”. (A. Camus, “Sứ mệnh văn nghệ hiện đại”, bản dịch của Trần Phong Giao, trang 28). Trong hoàn cảnh hiện đại, nhà thơ không còn là một thi sĩ chỉ biết: “Ru với gió, mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây” hoặc là cái hình ảnh của “một chàng trai hiền hậu và say mê, tóc như mây vương dài trên trán thơ ngây…. Chàng đi trên đường thơ hái những bông hoa…” như Thế Lữ đã giới thiệu Xuân Diệu trong tập “Thơ Thơ” trước đây. Đã xa rồi cái hình ảnh mộng mơ của thời Xuân Diệu trước! Bây giờ, làm sao còn cái hình ảnh thoát ly hiện tại ấy nữa! Nhà thơ hôm nay, khó thoát khỏi cái thực tế cuộc đời phải chui rúc trong ngõ hẻm sình lầy, khi phải đi giữa gió mưa lạnh lẽo, khi phải chứng kiến những cảnh cơ hàn, phải nghe những tiếng khóc than của kẻ đói cơm, thiếu thuốc, phải nhìn những hình ảnh cơ cực của người nông dân lao động nhọc nhằn, vất vả mà vẫn thiếu áo, đói cơm, những “bà mẹ già thân quấn giẻ rách”, những “Em thơ đói khát” v.v… Nếu hiểu nghệ thuật thi văn như một thứ mơ màng, nhớ nhung vẩn vơ, một thứ tình cảm ủy mị và lãng mạn, mơ hồ và hờ hững, vô tình trước thực tế đắng cay chua xót của cuộc đời, thì làm sao cái xã hội đau khổ kia không căm thù thứ nghệ thuật xa cách thoát ly đó? Quần chúng không thể chịu đựng được thứ nghệ thuật lãnh đạm trước số phận của họ nhất là thứ nghệ thuật ngồi trên sự đau khổ của quần chúng để ca hát cho mình và giai cấp thống trị của mình. Nghệ thuật văn chương của lớp người ấy quả thật xa hoa, hơn nữa còn là một thù địch của lớp người thống khổ. A Camus đã nhận định qua một văn ảnh như sau:

“Khi được ngồi trên vọng lâu của những chiếc cổ thuyền thì bất cứ ở đâu và lúc nào, người ta cũng có thể ca ngợi các vì sao, trong khi đó thì dưới hầm thuyền, bọn tù tội vẫn còng lưng ra sức mà chèo, chèo cho đến kiệt lực.” (Sứ mệnh văn nghệ hiện đại trang 33-34). Do đó, ngày nay nhà văn, nhà thơ không được quyền sống lẻ loi với những mộng mơ riêng của mình mà họ phải hòa mình vào cuộc sống thực tế chung cho cả mọi người. Nhà thơ, nhà văn ở giữa lòng cuộc đời tha thiết tham dự vào sự tranh đấu chống áp bức, bạo tàn và chống bất công đang đè nặng trên lớp người bị áp bức, bị chà đạp và khổ nghèo. Nhà văn, nhà thơ quyết tâm dùng ngòi bút c ủa mình để phản ánh những khát vọng của quần chúng cùng tố cáo cường quyền bạo lực, tham tàn. Đó là sứ mệnh của nhà văn trong cộng đồng xã hội và đó cũng là ngòi bút của Phùng Quán trong bài “Chống tham ô lãng phí”

Tôi đã đi qua
Những xóm làng chiến tranh vừa chấm dứt
Tôi đã gặp
Những bà mẹ già quấn giẻ rách
Da đen như củi cháy giữa rừng
Kéo dây thép gai, tay máu chảy ròng
Bới đồn giặc trồng ngô tỉa lúa
Những cô gái trồng bông
Hai mươi? Ba mươi?
Tôi không nhìn ra nữa
Mồ hôi sôi trên lưng
Mặt trời như mỏ hàn xì lửa
Đốt đôi vai cháy hồng
Tôi đã đi qua
Nhiều xóm làng vùng Kiến An, Hồng Quảng
Nước biển dâng cao, ướp muối các cánh đồng
Hai mùa rồi lúa không có một bông
Phân người toàn vỏ khoai tím đỏ
Tôi đã gặp
Những em thơ còm cõi
Lên năm lên sáu tuổi đầu
Cơm thòm thèm độn cám và rau
Mới tháng ba đã ngóng mong đến Tết!
Để được ăn cơm no có thịt
Một bữa một ngày
Tôi đã đi giữa Hà Nội
Giữa Hà Nội những đêm mưa lất phất
Đường mùa đông nước nhọn tựa dao găm
Tôi đã gặp những chị em công nhân đổ thùng
Yếm rách, chân trần, quần xăng quá gối
Run lẩy bẩy chui vào hầm xia tối
Vác những thùng phân
Ta thuê một vạn thùng
Mấy ai dám vác?
Chị em suốt ngày đêm quần quật
Sáng ngày chỉ vừa đủ nuôi con…

Trên dây là những hình ảnh của một bức tranh sống thực mà Phùng Quai đã thực hiện dưới ngòi bút của ông. Không là một địa ngục trần gian mà là một cảnh đời thực tế. Cuộc sống đã được dàn trải trước mắt, một cuộc sống cơ cực của những con người cơ cực! Họ đã sống như thế, con người Việt Nam đã sống như thế sau cuộc kháng chiến chống Pháp. Chiến tranh đã gieo bao nhiêu tang tóc và còn để lại bao đau thương và cuộc sống vẫn phải diễn ra từ hình ảnh: “Những bà mẹ già mặc giẻ rách, da đen như củi cháy, đang lao động” kéo dây thép gai “Tay chảy máu ròng” – “Bới đồn giặc để trồng ngô tỉa lúa”. Đến những hình ảnh cô gái trồng bông, kham khổ, nhọc nhằn và ruộng đồng thì không canh tác được, sự đói ăn đang đe dọa trầm trọng và những bé thơ còm cõi thiếu cơm, “ăn độn rau và cám”. Đó không là hình ảnh thơ mộng nữa, mà là một thực tế, một thực tế của con người bằng xương bằng thịt, đang sống trong một thảm trạng của xã hội đói nghèo! Nhìn vào cuộc sống ấy, không ai không ray rứt, không xót xa cho cảnh đời lao động của những hình ảnh con người lao động từ nông thôn đến thành thị, từ ngày nắng như: “mỏ hàn xì lửa” cho đến đêm đông “mưa lất phất nước nhọn tựa dao găm”! Ở Hà Nội có những chị em công nhân đổ thùng: “yếm rách, chân trần, quần xăng qúa gối, run lẩy bẩy chui vào hầm xia tối, vác những thùng phân,…” thế mà công lao động của chị em “suốt đêm quần quật, sáng ngày chỉ vừa đủ nuôi con”. Lời thơ của Phùng Quán đây, chẳng khác nào những lời tâm huyết trong cái nhìn chia sẻ đau thương, làm cho ta không khỏi liên tưởng đến Cao Bá Quát ngày xưa, con người đất Thăng Long ấy, đã có lần đi giữa đường gặp một người đói, ông lân la hỏi chuyện rồi mời người ấy vào nhà ông ăn cơm và tìm cách an ủi “Ôi thôi! Bác ngừng lệ – Cùng ta dùng bữa chơi – Trăm năm, đời người ấy – Như Quán Trọ mà thôi. Ung dung nào mấy kẻ -Được sung sướng trọn đời – Bác hãy ăn thông thả. Đừng nuốt vội làm gì. No vội dễ hại người.” Qua những vần thơ của Phùng Quán cũng như của Cao Chu Thuần (Bá Quát) như đã nhìn thấy những vấn đề của xã hội đang hiện thấp thoáng đằng sau tấn bi kịch của con người khốn cùng:

Một triệu bài thơ không nói hết nhọc nhằn
Của quần chúng anh hùng lao động
Phải buộc bụng, thắt lưng để sống
Để xây dựng kiến thiết nước nhà
Để thương yêu nuôi nấng chúng ta….
Vì lẽ đó
Tôi quyết tâm rời bỏ
Những vần thơ đầy bướm hoa
Những vần thơ trang kim vàng mã
Dán lên quân trang đẫm mồ hôi và máu tươi của cách mạng
Như công nhân
Tôi quyết đúc thơ thành đạn
Bắn vào tim những kẻ làm càn
Vào lũ người tiêu máu của dân
Như tiêu giấy bạc giả.

Đó là thái độ dấn thân của Phùng Quán. Thái độ ấy xuất phát từ một nhận thức trước thực tế cuộc sống, trướ c tấn bi kịch của những con người khốn cùng và tác giả đã lớn tiếng tố cáo:

“Một triệu bài thơ không nói hết nhọc nhằn
Của quần chúng anh hùng lao động
Phải buộc bụng thắt lưng để sống”….

Thái độ trước tiên của tác giả là quyết tâm rời bỏ những gì gọi là hào nhoáng của cuộc đời, những gì mà thứ văn nghệ thoát ly cuộc đời đã ru ngủ, đã tô vẽ đầy bướm hoa với “Những vần thơ trang kim vàng mã” hay đúng hơn là cái sống sung sướng xa hoa trên đau thương, chết chóc của mọi người “Đẫm mồ hôi và máu tươi của cách mạng”. Đó là nét tương phản trỗi bậc nhất của Phùng Quán đã thấy được, để rồi có một thái độ chọn lựa đứng hẳn về phía người cùng khổ để tuyên chiến với bạo quyền: “Những kẻ làm càn” với lũ quan liêu, tham ô, lãng phí: “Tiêu máu của dân như tiêu giấy bạc giả” Và Phùng Quán lần lượt tố cáo:

Các đồng chí ơi,
Tôi không nói quá
Về Nam Định mà xem
“Đài xem lễ” họ cao hứng dựng lên
Nửa chừng bỏ dở
Mười một triệu đồng dầm mưa giãi gió
Mồ hôi máu đỏ mốc rêu
Những con chó sói quan liêu
Nhe răng cắn rứt thịt da cách mạng!
Thật là tai hại cho “cao hứng” của những ai sống theo bản năng nhiều hơn là sống theo lí trí. Bản năng ấy vùng lên “cao hứng” lên, để rồi đem lại những hậu quả tai hại cho mọi người! Phùng Quán đã ray rứt đã đau xót trước những gì gọi là “mồ hôi, máu đỏ, mốc rêu” ấy và ông đã không nén được bầu nhiệt huyết, lòng căm thù sẵn có của người chiến sĩ trong ông. Ông như gầm thét:

“Những con chó sói quan liêu
Nhe răng cắn rứt thịt da cách mạng”
Thế rồi ông thao thức bồi hồi và xót xa:
Nghe gió mùa đông thâu đêm suốt sáng
Nhớ “Đài xem lễ” tôi xót bao nhiêu
Đất nước đêm nay không đếm hết người nghèo
Thiếu cơm thiếu áo…”

Nói đến đây, ta không thể không nghĩ đến những câu thơ của Trần Dần trong bài “Nhất định thắng” Trần Dần viết:

Tôi đã sống rã rời cân não.
Quảng thời gian nhưng nhức chuyện đi Nam.
Những cơn mưa rơi mãi tối sầm.
Họ lếch thếch, ôm nhau đi từng mảng…
Họ kêu những thiếu tiền, thiếu gạo, thiếu cha thiếu chúa v.v…
Có cả anh nam chị nữ kêu buồn
– Ở đây: khát gió thèm mây…
Mưa đổ mãi lên người xa đất Bắc
Dẫn đi đâu mà họ khóc mãi thôi.
Trời vẫn quật muôn vàn tảng gió.
Bắc Nam ơi, đứt ruột chia đôi.
Tôi cúi xuống, quì xin mưa bão
– Chớ đổ thêm lên đầu họ
– Khổ nhiều rồi!
Những ngày ấy bao nhiêu thương xót.
Tôi bước đi không thấy phố, không thấy nhà.
Chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ”.
(Trần Dần – Nhất Định Thắng )

Hai bài thơ (của Phùng Quán và Trần Dần) trong hai bối cảnh khác nhau, nhưng ta thấy có một cái gì vương vấn bi thương trong đó.

Trở về với Phùng Quán, ta vẫn thấy ông băn khoăn ray rứt:

Bọn tham ô lãng phí quan liêu
Đảng đã phê bình trên báo
Còn bao nhiêu tên chưa ai biết ai hay
Lớn, bé, nhỏ, to, cao, thấp, béo, gầy…
Chúng nảy nòi sinh sôi như dòi bọ
Khắp đất nước, đâu đâu chẳng có!
Đến một ngày Đảng muốn phê bình tất cả
E phải vạn nghìn số báo Nhân Dân!
Tôi đã đến thăm nhiều hố xí cầu tiêu
Giấy trắng nữa mặt sẽ toan chùi đít
Những người này không bao giờ biết
làng quê con cái nhân dân ta
Rọc lá chuối non, đóng vở học i tờ
Tôi đã dự những phiên tòa
Họp suốt ngày luận bàn xử tội
Những con chuột mặc áo quần bộ đội
Đục cơm, khoác áo chúng ta
Ăn cắp máu dân,
Đổi chác đồng hồ
Kim phút kim giờ lép gầy như bụng đói
Những mẹ già, em trai, chị gái…
Còng lưng, rỏ máu, lấn vành đai!
Trung ương Đảng ơi!
Lũ chuột mặt người chưa hết
Đảng cần phải lập những đội quân trừ diệt
Có tôi
Trong hàng ngũ Tiên phong
(Phùng Quán)

Bài thơ trên đây như một bản cáo trạng hùng hồn, như những lời tuyên chiến gắt gao với bọn tham ô lãng phí. Phùng Quán đã đi vào một cảnh đời rất thực, một cảnh đời rất tương phản giữa lớp người lao động khổ đau và lớp người quan liêu tham ô lãng phí. Nét bi đát nhất là sự đói khổ, nghèo nàn của quần chúng nhân dân lao động, phải đổ ra cả mồ hôi và máu, phải đói khổ “Để xây dựng kiến thiết nước nhà’’… Thế mà lại có một “Lũ người” “Tiêu máu của dân như tiêu giấy bạc giả” – Bài thơ thật sâu sắc thật nồng nàn tính nhân văn và tình yêu tổ quốc, yêu nhân dân lao động!

Người ta tưởng chừng như tác giả của bài thơ là kẻ có công hàng đầu, nào ai ngờ lại là kẻ có tội, cái tội dám tố cáo sự thật dám chống tham ô chăng? Phùng Quán đã bị khép vào nhóm “Nhân văn giai phẩm” và phải đi “Lao cải” (lao động cải tạo) ngót 30 năm.

Và đây, ta hãy nghe nhà văn Tô Hoài kể lại một trong vô vàn mẫu chuyện mà Phùng Quán đã làm trong lúc đi lao cải.

…”Các đường ngoắt ngoéo trong xóm trổ ra cổng đồng còn tối đất. Những con trâu, con bò ra ruộng làm sớm, thói quen tự nhiên tới vệ cỏ bên hào nước thì dừng lại ỉa. Đến khi sáng hẳn, thì trẻ con trong xóm mắt nhắm mắt mở, lốc nhốc kéo ra, ngồi bĩnh đấy. Hai thanh tre của Quán mở ra gấp lên sọt tuốt cả phân trâu, phân người” (Tô Hoài, Hồi ký Chiều chiều, NXB Hà Nội năm 1999)

Khi nhận xét về bài “Chống tham ô lãng phí”, sau này có người đã viết: “Bài thơ đã cảnh báo một tai họa của đất nước thế mà tiếc thay, đến đầu thế kỷ 21 này, 45 năm sau Đảng Cộng Sản trong cuộc chỉnh đốn Đảng, lại phải ráo riết kêu gọi “chống tham nhũng lãng phí”. Tham nhũng còn nặng hơn tham ô! năm 1958 tôi còn dạy học ở Vĩnh Phúc ngày dạy ở trường phổ thông, một tuần 4 tối dạy bổ túc văn hóa cho cán bộ các cơ quan tỉnh. Năm ấy, Quán bị… rồi. Một hôm phấn khích một cách dại dột tôi đọc hùng hồn bài thơ “Chống tham ô lãng phí” cho học viên nghe, im phăng phắc không khí trong lớp ngột ngạt như trước bão. Tôi nhìn rõ cả nét giật trên mặt một ông Trưởng Ty ngồi bàn đầu. Từ bàn thứ 3, một học viên mặt mũi phương phi, tóc hoa râm đứng dậy: – “Tôi hỏi thầy giáo: Phùng Quán lấy tư cách gì mà phê phán xã hội như thế?”. Tôi điềm tĩnh: “Thưa anh trước hết tác giả lấy tư cách công dân, rồi mới lấy tư cách nhà thơ. Phùng Quán không phê phán xã hội mà phê phán tệ nạn xã hội: Đó là tệ nạn tham ô lãng phí” (Nguyễn Bùi Vợi – Đọc thơ Phùng Quán).

Cuộc đời rồi cũng qua đi, thời gian không bao giờ quay trở lại, con người ngày một mỏi mòn, và có ai đó đã bảo rằng: “Đời như giấy mỏng hồn người như cờ lau” mong manh và dễ tan biến: “Đi đâu về đâu? Đò em đò lỡ nghiên cầu. Bờ mi trĩu nặng vương màu trầm luân”. Ta xin nhớ về Phùng Quán bằng những câu thơ của Nguyễn Đỗ Lưu ấy… “Bờ mi trĩu nặng” với bao nhiêu khổ đau đã trút xuống cuộc đời “trầm luân” của bao nhiêu thân phận người dân khốn cùng , bao nhiêu thân phận bị đọa đày của những con người văn nghệ sĩ, trí thức miền Bắc, những con người như Thụy An, Phùng Quán, Lê Đạt, Trần Dần, Phan Khôi, Đào Duy Anh, Trương Tửu, Nguyễn Mạnh Tường, Trần Đức Thảo, v. v… và v. v… Cái cuộc đời “trầm luân’’ ấy, đã đổ xuống những kiếp người muốn sống cho ra con người, nhưng đã không muốn được! Ngày nay, tham ô lãng phí vẫn còn hoành hành, “màu trầm luân” vẫn chưa xóa hết … Một thời mà nhóm Nhân văn giai phẩm đã từng trầm luân vì nói lên khát vọng đích thực của con người: “Bao giờ nghe được bản tình ca. Bao giờ bình yên xem một tranh tĩnh vật … – Bao giờ, bao giờ ….” (Văn Cao – Anh nghe thấy gì không) Và cuộc sống vẫn còn ngột ngạt vì chung quanh còn những người khôn ngoan, không có mồm, mắt không bao giờ nhìn thẳng: “Những kiếp người sống lâu trăm tuổi, y như một chiếc bình vôi. Càng sống, càng tồi. Càng sống càng bé lại.’’ (Lê Đạt). Một kiếp sống hèn nhát, chỉ biết ngậm miệng cúi đầu, hoặc chỉ biết a dua theo danh lợi, quyền chức … Do vậy, đã không tránh khỏi những ý thức phản kháng của lớp người trẻ trung tiến bộ, vì họ không thể chịu được “bao cuộc đời mệt mỏi” và cuộc sống cứng nhắc như một công thức…: “Tôi mới 25 tuổi. Chung quanh tôi bao cuộc đời mệt mỏi Thất bại cúi đầu. Công thức xỏ giày vào mũi.” (Lê Đạt.). Cuộc sống ấy, mỗi ngày bao nhiêu bụi bặm rơi xuống đầu người, bao nhiêu gông xiềng, tập quán … cột lấy bước chân! “Tôi đã sống rất nhiều ngày thảm bại. Khôn ngoan, không dám làm người. Bao nhiêu lần tôi không thực là tôi. Tim chết cứng trong lề thói.’’ Một cuộc sống bị áp đặt, bị khép vào khuôn kh ổ toàn trị và đói nghèo, họ kêu: “Thiếu tiền, thiếu gạo, thiếu cha, thiếu Chúa. Thiếu v. v… Họ cảm thấy: Ở đây khát gió, thèm mây. Thiếu cả quả tim, bộ óc” (Trần Dần) … Và có kẻ đã kêu lên:

“Tôi đã sống rất nhiều ngày thảm bại. Khôn ngoan không dám làm người. Bao nhiêu lần tôi không thực là tôi. Tim chết cứng trong lề thói… Bao nhiêu khao khát làm người. Nhưng lại đẩy tôi về bến cũ. Những ao ước trong đầu ấp ủ. Chết dần như những chiếc thai non. Tôi ngập chân đi trong những lối mòn. Mong đổi lấy một cuộc đời yên ổn. Nếp cũ cay chua và trắng trợn. Đè trên vận mênh con người. Đời đời nối đời đời …Trao lại cho nhau một lời nóng hổi …’’ Những vần thơ ấy của Lê Đạt, của Trần Dần đã ghi từ thời Nhân văn giai phẩm của thế kỷ; nhưng hôm nay đọc lại, ta vẫn thấy như đâu đấy còn bao nhiêu khao khát làm người … và người ta vẫn không khỏi lo ngại: “Những ao ước trong đầu ấp ủ. Chết dần như những chiếc thai non.’’ … Hôm nay Trần Dần, Lê Đạt, Văn Cao, Phùng Quán …đã đi vào cõi vĩnh hằng, dù rằng tham ô lãng phí đã trở thành quốc nạn và “Lời mẹ dặn’’ đã trở thành tiếng vọng trùng dương… Nhưng những vần thơ của Phùng Quán và các văn nghệ sĩ ấy, vẫn không bao giờ chết sau khi nó đã sống. Nó được tạo nên, chính là để sống và trở thành mãi mãi cái mà nó vừa trở thành.

Hồ Sĩ Duy

Một cuộc chiến khác

Dành riêng để tặng những người lính VNCH vô danh

Tôi ra đời vào một ngày mùa hè năm 1975, thời điểm cuộc chiến Việt Nam vừa kết thúc. Khi đó ba tôi đang bị “cải tạo” ở Tiên Lãnh – một xã vùng núi thuộc huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam. Nghe mẹ tôi kể lại, đó là thời điểm mà mọi người đều tâm thần bấn loạn, đặc biệt là những gia đình có người tham gia chế độ cũ, chẳng ai còn đủ bĩnh tĩnh để nhận biết đầy đủ những náo loạn đang diến ra và cái gì sẽ tới. Tất cả đều đảo lộn, rối tung rối mù. Mẹ nói chỉ biết có chạy và chạy. Gần như mọi sự đều phó mặc cho số phận.

Giữa lúc khốn khó ấy, mẹ lại đang mang bầu tôi nên chỉ còn biết về quê. Trong tâm thức của người Việt, quê cha đất tổ là một cái gì đó, ngoài sự thiêng liêng, còn mang cả nỗi niềm tin tưởng, là nơi nương cậy lúc cùng đường. Quả vậy, mẹ, tay dẫn anh chị tôi, bụng mang dạ chửa, chân bước nặng nhọc trở về quê, tá túc trong ngôi nhà cũ của ông bà nội trong khu vườn được phủ kín tre xanh.

Chỉ hơn một tháng sau khi về quê, vào một đêm đầu tháng trời tối như mực, mẹ trở dạ…

Tôi ra đời trong tay một bà lang vườn. Mẹ tròn con vuông. Sau này mẹ thường nói: “hú hồn, nếu lúc đó xảy ra chuyện gì…chắc chỉ còn biết chết! Ơn Trời Phật!”.

Dĩ nhiên tôi không có bất kỳ ký ức nào về quảng thời gian đó. Đầu óc trẻ thơ là trạng thái nguyên sơ nhất của ý thức con người. Nó giống như một hồ nước tĩnh lặng trong veo mà hình ảnh những đám mây lần lượt in bóng rồi lần lượt trôi qua không để lại một chút dấu vết. Tôi lớn lên vì phải lớn lên, đó là xu hướng nguyên uỷ của một cơ thể sinh học.

Nhưng ký ức trẻ thơ cũng thật lạ lùng, nó không hoàn toàn vô cảm với tất cả những thứ diễn ra quanh nó. Đôi lúc, như một sự tình cờ, nó ghi lại một vài hình ảnh mà sau này, nhờ có nó, một người có thể nhớ lại một vài câu chuyện nào đó đã xảy ra trong một bối cảnh xưa cũ mà bây giờ đã hoàn toàn mờ nhạt.

Đó là hình ảnh ba tôi ngày trở về sầu não. Và những ngày sau đó là hình ảnh ông uống rượu triền miên rồi say nằm la mắng vang cả xóm… Rồi thỉnh thoảng, những lúc ngồi bên mâm cơm, câu chuyện của ba tôi luôn nói về những ký ức của một thời đã qua. Giọng ông lúc trầm lúc lắng, nhưng luôn đau đớn khi kể đến những thứ… mà nay đã không còn, hay như cách quả quyết của ba tôi, là mọi thứ đã bị tước đoạt, và kinh khủng hơn, đã bị chôn vùi vĩnh viễn vào đêm tối của căn bệnh chóng quên của người đời…

Sau này, khi đã đủ trí khôn, tôi cũng không thể hình dung ra nổi những bối cảnh trong các câu chuyện mà ba tôi đã kể. Tôi không biết một quả mìn bên vệ đường phát nổ là như thế nào? Hình ảnh một chiếc xe khách bị lật nhào cháy đen ra sao? Quá khó để tưởng tượng ra những thảm cảnh đã diễn ra hàng ngày trên con đường chỉ dài vài chục cây số mà giờ đây tôi hay đi đi về về…

Như một bằng chứng, vào ngày giẩy mả đầu xuân, ba tôi đã chỉ cho tôi ngôi mộ của một người xa lạ đã chết trẻ. Đó là anh chàng học trò trường Trần Cao Vân Tam Kỳ về nghỉ hè và đã chết trên một chiếc xe bị mìn ở vệ đường. Ba tôi nói anh ta chết vào tầm tuổi tôi bây giờ…

Nhưng quả thật, khi nói về cái chết cho một người trẻ tuổi cũng giống như việc phết một lớp sơn lên một bề mặt trơn bóng không ăn màu. Nó sẽ mau chóng phai đi và trả lại lớp trơn bóng cố hữu bên dưới một cách nguyên vẹn như chưa từng có gì xảy ra. Thậm chí cho đến lúc tôi chứng kiến cái hố chôn tập thể lên đến hàng ngàn bộ hài cốt mà người ta tình cờ phát hiện khi đào móng xây nhà, nó vẫn hoàn toàn không gây nên một niềm xúc động nào trong tôi. Khi thấy ba tôi xót xa nói đó có lẽ là hố chôn đồng bào tản cư bị chết trong trận chiến mậu thân 1968, tôi cũng muốn tỏ ra chút đồng cảm nhưng tuyệt nhiên trong tôi vẫn phẳng lặng như tờ.

Tôi biết mình gần như vô cảm với những thứ ấy, những thứ giống như đã xảy ra từ một thời xa lơ nào đó trong tiền kiếp mà bây giờ thỉnh thoảng người ta kể lại như những câu chuyện dân gian. Tôi chưa bao giờ hình dung ra ba mẹ tôi cũng là những nhân vật đã ở trong những câu chuyện ấy. Tôi có cảm giác đó là những câu chuyện chỉ dành để nói về những kẻ xa lạ mà chẳng mảy may liên hệ gì đến tôi.

Có vẻ khi Đấng Tạo Hoá ban cho con người khả năng ghi nhớ, Người cũng đã thiết lập một luật lệ rằng, mỗi người phải tự chịu trách nhiệm về ký ức của mình mà không thể san sẻ cho ai khác. Phải chăng vì vậy mà cho dù rất thương ba mẹ, nhưng đầu óc tôi vẫn mãi trơ lì với những ký ức thân thiết của họ. Những bóng hình vẫn còn đó, nhưng đồng cảm thì hoàn toàn vắng bóng…

Tôi rời quê vào Sài Gòn học đại học. Đây là lần đầu tiên tôi xa nhà và đi xa đến vậy – cả ngàn cây số. Đối với những gã trẻ tuổi quê mùa như tôi, Sài Gòn gần như là thiên đường, là nơi chất chứa hy vọng thay đổi số mệnh. Trước khi tôi đi, ba tôi đã kể rất nhiều về Sài Gòn cho tôi nghe. Thực ra, ông chỉ ở đó được khoảng một hai tháng trong một chuyến tập huấn ngày trước. Ba tôi nói rất nhiều, tất cả những gì ông còn nhớ được về Sài Gòn. Sau này, khi đã ở Sài Gòn lâu ngày, tôi nhận ra là những ký ức của ba tôi về Sài Gòn cũng hoàn toàn xa lạ. Có lẽ, Sài Gòn bây giờ đã khác xa cái thời trước, cái thời mà chỉ còn trong ký ức của những người “muôn năm cũ”…

Trường tôi học nằm ở quận nhứt, nhưng tôi lại ở nhà một người quen ở khu Bảy Hiền. Đây là khu xóm dệt do những người Quảng Nam di cư lập nên từ thời năm 1954. Những ngày đầu vào ở đây, không có cách nào để chịu đựng nổi tiếng ầm ầm vang như sấm động suốt ngày từ những khung dệt vải. Nhưng dần dà mọi thứ lại trở nên dễ chịu. Tôi quen dần với những tiếng động ấy đến mức, nếu không có nó, tôi sẽ chẳng ngủ được. Những tiếng đập ầm ầm theo nhịp khung cửi không ngờ lại có tác động như một lời ru dị kỳ.

Những buổi chiều rảnh rỗi tôi thường tản bộ ra uống cà phê ở khu Bàu Cát. Đây là một khu rất mới mà nếu vào thời có trong ký ức của ba tôi, nó chỉ là những ao rau muống lầy lội chạy dài ngút ngàn. Khoảng đầu thập niên chín mươi, một tay lanh lẹ đã xây dựng nó thành những khu phố khang trang như bây giờ. Khu phố này rất đẹp và nhiều cây xanh, rất thuận tiện để mở quán cà phê. Vì vậy mà quán cà phê ở đây nhiều vô kể, cái này nối tiếp cái kia, san sát bên đường.

Nhưng số phận của kẻ đã xây dựng nên nó lại không được may mắn như vậy. Anh ta là một trong số những tay nổi đình nổi đám vào thời mới mở cửa. Đó là cái thời mà những kẻ quản trị nhà băng còn kém xa những bà chủ tiệm cầm đồ. Họ cho vay vô tội vạ bất chấp các nguyên tắc an toàn tài chính miễn có “lại quả” cho họ là được. Còn những công ty ma lanh thì được phép huy động tín dụng với lãi suất rất cao rồi dùng tiền để chơi bời xả láng hay hoang phí vào những thứ xa xỉ mới được du nhập vào. Và tay ấy, cái kẻ đã xây dựng Bầu Cát, là một trong số những tay chơi khét tiếng. Cuối cùng, với số nợ khổng lồ không có khả năng trả được, gã đã bị tử hình.

Bây giờ, chẳng còn mấy ai nhớ đến gã…

Tôi thường ngồi ở một quán cà phê có nhiều cây xanh trong sân. Đây xưa kia có lẽ là một khu vườn trồng cây ăn trái nhưng người chủ của nó đã nhìn xa trông rộng mà không bán đi vào thời mở cửa. Để giờ đây nó là một mặt tiền rộng rãi, với nhiều cây xanh còn giữ lại, che bóng mát rượi. Tôi thích ngồi ở đây vì chủ quán cũng là người Quảng. Những cô con gái của ông cũng nói giọng Quảng, tuy thỉnh thoảng có pha vài phát âm kiểu Sài Gòn. Ngồi ở đây tôi cảm thấy có gì đó gần gũi và đáng tin cậy. Người Quảng vốn nói năng nặng trịch và ít cảm tình, nhưng khi xa quê lại thường gắn bó với nhau hơn người ở những vùng khác.

Và vào một buổi chiều ở đó, tôi đã gặp một người lạ lùng…

Thực ra ban đầu tôi chẳng để ý gì đến ông, một người bán vé số như vô số những người bán vé số khác. Thường tôi sẽ khước từ những lời mời mua vé số. Tôi chẳng bao giờ tin vào vé số, vả lại nó cũng không rẻ. Theo cách tính kiểu sinh viên như tôi, một tờ vé số tương đương một bữa trưa, thường là một dĩa cơm đậu hủ. Chẳng gã nghèo túng nào lại mạo hiểm đánh đổi một bữa cơm trưa để mua lấy một niềm hy vọng có xác suất nhỏ đến một phần trăm ngàn cả.

Nhưng trái với những người bán vé khác, thường sẽ bỏ đi ngay sau cái phẩy tay, ông ấy hình như vẫn còn ở đó. Cho đến lúc tôi quay lại nhìn, thì đó là một ông trung niên bị cụt cả hai chân lên đến tận háng. Ông di chuyển bằng hai cái đòn gỗ trơn bóng vì bị bào mòn lâu ngày. Đôi mắt ông nhìn tôi lạ lùng và có phần sửng sốt. Và ông cứ nhìn chăm chăm như vậy một hồi lâu. Tôi không biết là bao lâu, vì chính tôi cũng sửng sốt không kém ông. Bởi tôi chưa từng gặp phải một tình huống lạ thường như vậy bao giờ. Một gã trai trẻ quê mùa như tôi chưa bao giờ học được thói quen phản ứng mau lẹ với xung quanh.

Rồi cuối cùng ông cũng giật mình tỉnh lại. Gương mặt ông lộ rõ vẻ bối rối như một đứa trẻ vừa phạm một lỗi nặng. Ông nhìn tôi vừa đau khổ, vừa như muốn xin lỗi về sự bất nhã vừa rồi. Nhưng tôi nhớ mình đã mỉm cười với ông, một nụ cười tự nhiên chẳng thoáng chút kỳ thị. Rồi như được cởi bỏ một gánh nặng, ông cũng mỉm cười theo. Cuối cùng ông cũng lên tiếng giải thích cho cái nhìn kỳ lạ của mình:

“Cậu giống như đúc một người bạn cũ của tui”

Rồi ông nhanh chóng trở lại với gương mặt rầu rĩ cố hữu.

Tôi lên tiếng:

“Chắc là một người bạn thời trẻ của chú?”

Ông gật đầu.

“Vậy chắc anh ta đã đi Mỹ rồi?” Tôi nói đùa.

“Anh ấy chết rồi”

Câu trả lời của ông làm tôi thoáng chút gợn. Tôi hơi sợ khi nghe từ chết, đặc biệt là một cái chết trẻ. Có lẽ, câu chuyện về cái chết của anh chàng học trò trường Trần Cao Vân đã ám ảnh tôi ít nhiều.

Tôi hỏi ông:

“Chắc là chết thời còn đi học chung với chú?”

“Không, anh ấy là lính Cộng Hoà chết trận.”

Nói đến đó, gương mặt của ông trở nên như vô hồn, nhưng trên mí mắt thâm quầng đang chảy xuống một giòng nước mắt. Lúc đó tôi không hiểu ông đang nghĩ gì. Một cái chết xa xôi như vậy của một người bạn cũ đâu thể gây nên một sự đau buồn lâu dài đến vài chục năm. Thực tế, con người là những động vật rất dễ thích nghi, kể cả với nỗi đau. Thường với một cái chết nào đó, nó chỉ gây ra tổn thương trong một thời gian nhất định mà thôi, tuỳ thuộc vào mối quan hệ của người sống với người đã chết, nhưng ít khi nó kéo dài quá vài năm. Có thể trong phút chốc một niềm xúc động đột ngột dâng lên từ một sự kiện đã gợi lại những kỷ niệm đau buồn trong quá khứ và khiến ông đau lòng. Nhưng nhiều lắm nó cũng chỉ đủ loé lên như một ánh lửa rồi lại chìm ngay vào trong đêm tối của ký ức xa xăm.

Nhưng lạ lùng thay, những dòng nước mắt của ông vẫn không ngưng chảy. Ông đang khóc như một cơn mưa dầm. Gương mặt già nua của ông trông đau khổ đến tột bực…

Tôi nói dối với ông rằng ba tôi cũng là lính cộng hoà. Thực ra, ba tôi làm bên chính quyền. Nhưng dù sao như vậy cũng đủ để tạo nên một chút đồng cảm hiếm hoi và làm lắng lại cõi lòng sâu kín nào đó trong ông.

Bởi vậy, tôi trông ông có vẻ hoạt bát hẳn lên. Rồi ông kể cho tôi nghe đôi chút về những ký ức đau buồn đó…

Ông và người bạn ấy – người đã chết, người mà ông nói có khuôn mặt giống tôi như đúc – là hai anh lính trẻ trong một đơn vị tác chiến đóng quân ở Tây Ninh. Trong thời chiến tranh Việt Nam, Tây Ninh là vùng tranh chấp ác liệt, bởi nó gần Sài Gòn lại gần biên giới Miên. Tây Ninh cũng là cửa ngõ để những cánh quân Bắc Việt thâm nhập xuống Sài Gòn.

Trong một trận đánh khốc liệt vào năm 1974, người bạn của ông đã bị chết mất xác do pháo kích. Còn ông thì bị mảnh đạn phạt mất hai chân.

Ông được đưa về quân y viện dưỡng thương. Cho đến tháng 4 năm 1975, khi những cánh quân CS Bắc Việt tiến chiếm quân y viện, ông bị đuổi ra khỏi nơi ấy. Và sau đó là những tháng ngày nhọc nhằn của cuộc đời ông…

Với tấm thân tàn phế, ông đồng ý chia tay với người vợ trẻ, mà như lời ông, là để giải thoát cho một số mệnh. Ông sống thui thủi một mình với cuộc mưu sinh nhọc nhằn bằng đủ mọi cách. Để rồi cuối cùng ông chọn cách lên Sài Gòn bán vé số cho đến bây giờ…

Đó là một buổi chiều buồn man mác trong thời hoa niên ít nghĩ suy của tôi. Nhưng câu chuyện của ông làm tôi nhớ đến một bức ảnh nổi tiếng của Nick Ut – một phóng viên ảnh của hãng thông tấn AP. Câu chuyện trong bức ảnh ấy cũng xảy ra ở Tây Ninh. Đó là hình ảnh một bé gái trần truồng, bị phỏng bởi bom napal, đang chạy hốt hoảng trên đường trong một buổi chiều đầy khói lửa. Một bức ảnh đã gây xúc động trên toàn thế giới về thảm cảnh của chiến tranh Việt Nam.

Cách đây vài năm, tôi lại được thấy trên báo chí hình ảnh của cô bé Kim Phúc năm nào mà giờ đây là một quý bà công dân Canada và là đại sứ hoà bình của UNESCO. Có lẽ cô ấy đã vượt qua được số phận đau thương nhờ tình nhân ái.

Thế còn số mệnh của những người lính, như người lính già tàn phế ấy, ai sẽ cứu vớt cuộc đời họ? Thậm chí, có bao nhiêu người còn nhớ đến họ không, những kẻ đã phải hy sinh một phần hay tất cả thể xác, để bảo vệ cho Tự Do, mà nay không còn nữa? Phải chăng họ chỉ là những kẻ bạc mệnh và vô phước, được sinh ra và lớn lên trong một thời cuộc không mong đợi?

Câu chuyện của ông rồi cũng mau chóng phai mờ trong tôi. Nhưng hình ảnh của ông lại có một sức sống kỳ lạ. Cứ mỗi khi đến quán cà phê ấy, tôi lại thấy bóng dáng của ông thấp thoáng đâu đó, đang lê lết trên hai đòn tay bằng gỗ, từ bàn nọ qua bàn kia để mời mua vé số. Hình bóng của ông như một thứ gì đó đã sắp tàn nhưng chưa chịu mất, nó vẫn còn bám víu vào cõi đời này như một sự khắc khoải kỳ bí của hiện hữu.

Rồi một buổi chiều khác, tôi lại được gặp ông. Lần này ông đến bên tôi rất nhẹ nhàng. Khi tôi thấy ông, cũng là lúc ông nở một nụ cười rất tươi đáp chào. Tôi thấy ông có ý muốn nói gì đó nhưng vẫn chưa mở lời được. Rồi sau một hồi ông cũng lên tiếng:

“Có chuyện này, nhờ cậu giúp cho không biết có được không?”

Tôi suy nghĩ mình thì có thể giúp được gì cho ông ấy. Trong khi cái ông cần tôi lại không có. Trông tôi có vẻ bảnh bao, nhưng độ nghèo chắc cũng chẳng thua kém ông. Tôi hỏi ông:

“Cháu thì có thể giúp được gì cho chú?”

Ông ngần ngừ giây lát rồi nói:

“Cậu có thể cho tui mượn một tấm hình được không?”

Tôi trố mắt ngạc nhiên nhìn ông:

“Chú cần hình của cháu để làm gì?”

Ông tỏ ra e ngại rồi phân minh: ông cần một cái hình để làm ảnh thờ cho người bạn đã chết mất xác năm xưa. Vì sau bảy lăm đồ đạc thất lạc hết nên ông chẳng còn giữ được tấm hình nào. Vì vậy trên bàn thờ anh ấy ông chỉ để cái bài vị. Ông sợ nếu không có cái hình, sau này sẽ chẳng còn ai hình dung ra gương mặt anh ấy nữa. Rồi ông kể anh ấy chỉ có một bà mẹ già, mà có lần về phép hai anh em xuống thăm, bà đã yếu lắm rồi. Sau bảy lăm ông không có điều kiện xuống lại quê anh ấy, nhưng chắc bà cụ đã chết rồi. Nên ông nghĩ, ngoài ông ra, chẳng còn ai thờ anh ấy nữa…

Tôi hốt hoảng thật sự:

“Kỳ lắm, cháu chưa chết mà đưa lên bàn thờ thì sợ lắm.”

Ông vội xua tay phân bua:

“Không, tui chỉ mượn tấm hình của cậu để vẽ truyền thần cho anh ấy một tấm hình thôi. Vì cậu rất giống, nên chỉ cần sửa đổi đôi chút là được.”

Tôi thở phào nhẹ cả người.

Khoảng vài tuần sau tôi lại gặp ông. Ông nói đã chờ tôi mấy hôm nay mà không thấy. Ông khoe đã vẽ xong và trả lại tôi tấm hình với lời cám ơn. Ông nói mấy hôm nữa là ngày giỗ anh ấy và ông mời tôi ghé nhà ông chơi. Tôi đồng ý.

Mấy hôm sau, tôi cọc cạch đạp xe xuống Thủ Đức mất cả tiếng đồng hồ. Ông đã ngồi đợi ở đầu con hẻm lớn để đưa tôi vào. Nhà ông là một túp lều mái tôn, vách được che bằng những tấm ny lon lớn. Nó được dựng dựa vào bức tường của một cái đình cổ. Trong lều, ngay chính giữa, có một cái bàn thờ Phật trên cao, bên dưới là tấm hình mà ông đã nhờ vẽ truyền thần. Nhìn hình, tôi cố không hình dung ra đó là mình. Dù sao thì môi trên hơi dày hơn và đặc biệt, có một nốt ruồi ngay dưới mí mắt phải. Đó là những chi tiết khác biệt rất dễ nhận thấy. Có thể còn những điểm khác nữa mà tôi chưa kịp nhận ra.

Ông mỉm cười nói với tôi:

“Hồi đó, tụi tui cũng tuổi như cậu bây giờ. Mà thật kỳ lạ, trông cậu chẳng khác gì anh ấy. Hôm đầu tiên trông thấy cậu, tui không tin vào mắt mình nữa. Trên đời sao lại có người giống nhau đến vậy…”

Ông ấy nói đúng. Sao tôi lại đi giống một người xa lạ mà tôi chưa từng gặp đến vậy. Đây chỉ là một sự ngẫu nhiên, một tình cờ của Tạo Hoá, hay là một bí hiểm nào đó mà tôi chưa ngộ ra?

Tôi không biết.

Đêm đó, trong giấc ngủ, tôi đã mơ một giấc mơ kỳ lạ. Tôi thấy mình đang băng qua một khu rừng trong bộ đồ chiến binh bết đầy bùn đất. Tiếng trực thăng quần thảo điên loạn trên đầu, rồi từng tràng đạn rít chói tai qua những khóm cây, làm những chiếc lá xanh rụng xuống lả tả như mưa. Và cứ thế, tôi miệt mài bước đi như bị thôi miên. Cuối cùng, tôi rơi vào một vùng sáng chói loà, rồi mất hút…

Trà Đoá

XIN KHỐN KHÓ TỪ BI MẸ GIÀ

 

Ngày Mother’s day con không có chi kính hương linh mẹ. Con chỉ có bài thơ làm trong tù từ năm 1976 ở trại tù Hiệp Đức. Con đọc Mẹ nghe, nghe mẹ

“Thân tôi nào có tiếc chi
Chỉ xin khốn khó từ bi mẹ già” .(Thơ Hạ Quốc Huy)

 

Dưới, rừng cạn.
Trên, rừng sâu .
Rừng nào thì cũng một màu oan khiên

Rừng xanh ngó núi ưu phiền
Rừng già lá mục triền miên hận thù

Ngoài, rừng hạ.
Trong, rừng thu
Sao không thổn thức cho dù lá rơi ?

Con nai uống giọt sương trời
Còn tôi ngậm giọt lệ rơi nuôi thù

Con nai giỡn lá chiều thu
Còn tôi bới lá âm u chôn tình

Rừng đày ải. Rừng linh đinh
Tác tan cung kiếm,
đao binh ngậm ngùi

Điệu rừng thượng – tải rừng xuôi
Rừng chinh chiến bại
tả tơi máu chàng

Rừng trói chặt – Rừng siết ngang
Giòng đời xua động lỡ làng nước non

Chim quyên khản giọng rát hồn
Tôi tim bứt máu. Sống hờn thác mang

Nai ơi, thơ thẩn bên ngàn
Nghe anh uất hận ứa tràn triền cao ?

Lạy trời đất . Lạy trăng sao
Lạy sông . Lạy biển, cuốn ào rừng đi

Thân tôi nào có tiếc chi
Chỉ xin khốn khó từ bi mẹ già

HẠ QUỐC HUY
Tổng trại 1 Hiệp Đức Quảng Nam
Trại 2 Hiệp Đức 1976

KỂ CHUYỆN VỀ MÁ TÔI

 

Khi quân Bắc vào cào xé miền Nam
Má mắc u lòng lên đôi vai gánh
Bảy thằng con trai, năm thằng là lính
Lần lượt vô tù bỏ má héo khô

Gió tụ đông về lạnh nhíu bờ da
Đỏ mắt má mòn chậm dòng lệ khổ
Năm thằng con trai, chiến tranh năm ngã
Khi đi ở tù, năm đứa năm nơi

Má xẻ làm năm giọt lệ già nua
Má trải chia đều ba miền đất nước
Những giọt già nua quặn từng khúc ruột
Má tưới thân gầy lên con mong manh

Tóc má trắng dày theo cuộc điêu linh
Núm ruột má mang làn dao ai cắt
Khi tôi ra tù lăn thân cầu thực
Bỏ má đoạn đành bỏ nước mà đi

Má nuốt ngậm ngùi má hiểu vì đâu
Thằng con cam lòng làm chim xa tổ
Má gầy hom như ngọn đèn trước gió
Nuối đợi thằng con, gượng lắt leo vàng

Thằng con thất thời trôi giạt tha phương
Bì bõm xăn quần lội dòng cơm áo
Vũng nước phù trầm rẽ năm, rẽ bảy
Cắn xé lòng đời lội mãi không qua

Để giọt má buồn buổi con đi xa
Ngập cả hồn con chuỗi ngày lưu xứ
Đất lạ quê xa cuối đời thấm hiểu
Hình bóng má giờ đã mất còn đâu

Quan Dương