KÝ ỨC THÁNG TƯ

 

Người ở lại chia cùng tôi khổ nạn
Ngày tháng tư vác thánh giá lên đồi
Nghe hoang vắng ngọn cỏ bồng phiêu dạt
Lay mơ hồ ký ức tuổi thơ tôi

Đêm rơi vỡ những vì sao mê hoặc
Hứng trên tay buốt lạnh hạt sương buồn
Người cũng thế… chia cùng tôi ngọt đắng
Bên kia bờ còn đau đáu vết thương

Lời tận tuyệt vẫn xanh màu ảo vọng
Ngày tháng tư vác thánh giá lên đồi
Lỡ đánh mất một thiên đường mộng tưởng
Đành buông tay…
gió tạt buốt hiên đời…

Tôn Nữ Thu Dung

Advertisements

HẠ ĐỎ

 

Một con đường nhỏ
Hàng hàng phượng bay
Tháng tư qua đó
Giọt mưa ngắn dài.

Một thời áo trắng
Mòn dấu chân ai
Hạt mưa ướt nắng
Hạt nào nghiêng vai?

Còn thơm hơi thở
Sao đành chia tay
Có mùa hạ đỏ
Hóa thành mây bay.

Mùa ve rộn rã
Vàng trên tóc người
Tóc xanh màu lá
Tìm đâu tiếng cười?

Người mang cánh phượng
Về bên kia trời
Còn trong cổ tích
Áo người sương phơi.

Ta đành tạ lỗi
Bỏ trường mà đi
Ta đành tạ lỗi
Một thời tình si.

Xin làm hạ đỏ
Một đời bên em
Xin làm cánh gió
Ru người bình yên.

NGUYỄN AN BÌNH

11/4-2018

THÁNG TƯ

Tháng tư về có chút tình trong kỉ niệm
Gửi về đâu thương, ghét tháng năm này
Gửi về đâu ta nhớ những con đường
Đã đi như chưa từng qua hết

Tháng tư ngồi nhớ chuyện chiến trường
Đâu rồi giáp trụ buổi biên cương
Ta về trên cánh tay đã gảy
Và những con đường quá đỗi tang thương

Giã từ vũ khí đời lính trận
Khóc cười như vỡ chuyện thái bình
Với những đổi thay thời tuyệt tận
Ta về rối rắm chuyện nhân sinh

Tháng tư đọc lại dòng kinh sử
Đã thấy ê chề nghĩa tự do
Mới hay trong muôn ngàn tình tự
Đã thấy vô vàn chuyện dã tâm

Tháng tư như mặt trận cuối cùng
Ta về trả nốt chuyện lâm chung
Ta thấy trong ta đời mạt lộ
Chút lòng vương vấn chuyện nghĩa trung..

Tháng tư về ngang như nghĩa trang
Thấy trong hiu hắt cỏ ven rừng
Có thể đâu đây là cát bụi
Của từng cái chết đã vô danh

Tháng tư thôi thế cũng đành…

hoa nguyên.

Có một cái “30 tháng 4” thu nhỏ

 

1.

Ủy ban phường vừa mời một số hộ trong khu phố lên họp để nghe ngành đường sắt công bố lịch cắm mốc giới tuyến đường sắt Trảng Bom – Hòa Hưng. Đúng hơn đây là buổi thông báo gián tiếp về tình hình giải tỏa nhà đất ở phường, sẽ thực hiện nhằm phục vụ dự án làm đường hành lang an toàn song song đoạn đường sắt chạy ngang đất phường mà việc cắm mốc nay mai là để xác định trước vùng cần giải tỏa.

Theo dự án, từ tâm đường sắt tùy chỗ sẽ lấy vô 15 hay 20 mét, nghĩa là hàng trăm căn nhà xưa nay nằm cạnh đường ray gần ga Xóm Thơm sẽ mất mặt tiền hay phần nhà phía trước hoặc bên hông. Riêng nhà ông Hòa cùng mấy chục nhà hàng xóm phải chịu giải tỏa trọn lọn – tức mất trắng, do lọt vào một khu vực dự định cất nhà ga, trạm khách cho tuyến metro trong tương lai, nên từ tâm đường sắt sẽ lấy vô sâu tới 50 mét. Oái ăm nhà ông Hòa nằm cách đường sắt chỉ khoảng 30 mét.

Anh đại diện ngành đường sắt cho biết lịnh giải tỏa và mức đền bù nhà đất sẽ được công bố vào khoảng năm 2020 nhưng chắc sẽ trễ hơn, do chưa có dấu hiệu gì cho thấy ngành đường sắt đã tìm được chỗ vay vốn làm dự án. Lập tức anh đại diện UB phường lên tiếng an ủi: “Còn lâu mà, vậy bà con cứ về an tâm cư trú, làm ăn. Nhà nước sẽ đền bồi thích đáng, sát với giá đất trên thị trường”.

Như thường lệ, ngay trên đường về, nhiều người cùng dự buổi họp đã thản nhiên bàn tán, như “Ối còn lâu mà!”, “Mấy ổng nói vậy chớ Tết công gô mới làm!”, hay ít thản nhiên hơn thì “Chà, hổng biết chừng nào chớ từ bây giờ, đất đã quy hoạch giải tỏa rồi thì mình không được phép sửa nhà, nới rộng, cất lầu gì được. Muốn bán nhà cũng khó có ai mua!”.

Thói thường bấy lâu nay trong bất cứ vụ giải tỏa nhà đất nào cũng đều có người vui kẻ buồn. Có người vui, phấn khởi ra mặt vì tự nhiên nhờ ông nhà nước mở đường mà cái nhà thúc thủ trong hẻm lâu nay của mình được ra mặt tiền đường cái. Hay, nhà mình chỉ bị thụt vô vài mét nhưng lại có cái con đường lớn, công trình lớn như chung cư, trung tâm thương mại, nhà ga metro… mọc lên sát bên, lập tức nhà mình có giá trị hẳn lên, giá đất cũng nóng lên ngay. Ngược lại, nhà nào bị giải tỏa toàn bộ thì chủ nó không khỏi buồn phiền, khổ đau… Như trường hợp nhà ông Hòa, ông đau khổ, tiếc đến quặn đau cõi lòng khi nhận ra rằng bản đồ quy hoạch chỉ cần khác đi một chút, mấy ổng chỉ cần vẽ đường ranh ngắn lại là chừng 20 mét, hoặc lệch sang trái hay sang phải độ 30 mét thì nhà ông đã không dính giải tỏa hay chỉ bị mất vài mét ở đuôi nhà. Và hơn thế, ông sẽ còn như trúng số cá cặp: khúc hẻm không còn nữa, căn nhà dấu mặt của ông sẽ rỡ ràng nhìn ra một khu công trình hoành tráng, nguy nga – đó là nhà ga metro tương lai.

Nhưng đó là “nếu như…”, còn hiện nay – nói theo kiểu bác sĩ chữa ung thư, tiên lượng căn nhà thương yêu sẽ mất trong vòng 2 – 3 năm nữa!

 

2.

Những ngày sau đó, vợ chồng ông Hòa buồn xo, biếng ăn biếng ngủ. Có muốn bán nhà ngay lúc này như một cách đào thoát khỏi cái tương lai 99% mất nhà kia thì cũng không kịp nữa rồi. Có ai khờ đến nổi đi mua nhà, dù rẻ mắc gì mà không tìm cách tìm hiểu, dò hỏi cho được tình trạng căn nhà mình tính mua có bị dính quy hoạch, rằng sẽ bị giải tỏa, mất một phần, mất trắng hay không? Hơn thế, dù trong tương lai, giá đền bù đất có “thích đáng, gần bằng giá đất thị trường’ như ông phường an ủi, kể cả suất tái định cư – được mua căn hộ chung cư giá rẻ ở vùng nào đó, thì dân đi mua nhà cũng vẫn thấy bấp bênh, không có gì là chắc chắn, thà bỏ tiền ra mua loại nhà có tương lai sở hữu ổn định vẫn hơn.

Không còn nhà nữa rồi! Ông Hòa thường lẩm bẩm. Đâu phải chỉ có câu “bị mất nhà” mới đau, trong cách nói “không còn nhà” có chữ “không” nghe như đất sụp dưới chân, như Hư Vô tràn đến phủ ngập cuộc đời con người.

Thấm thoát đã 30 năm trôi qua kể từ dạo vợ chồng ông nhờ làm lụng vất vả, chắt mót dành dụm mới có thể mua được căn nhà cấp 4 này, để ra riêng từ căn nhà cũ mèm của bố mẹ ông. Hiện nhà của ông đã xuống cấp, đã vài lần sửa chữa nhỏ nhưng vẫn còn nhiều chỗ tường nứt hay tróc vôi, mái tôn đã có chỗ nát, dột. Nhưng dù sao mặc lòng, căn nhà nhỏ đơn sơ này đã chất chứa, ghi khắc không biết bao nhiêu là thăng trầm, vui buồn trong cuộc sống, vốn là nơi ông bà chia sẻ nhau từ hạt muối đến hạt đường, là nơi chớm bệnh đau lưng thẩn kinh tọa với huyết áp cao, là nơi dựng vợ gã chồng cho con cái, cũng là nơi đón tin người già mất đi hay trẻ con ra đời… Đối với ông Hòa, căn nhà nhỏ sớm tối đi về này chính là cả khung trời bao dung của đất Sài Gòn quê hương thứ hai của ông, chính là nơi nuôi dưỡng nghiệp viết lách không-thể-nào-khác-đi của ông, nhất là đang ở cái tuổi 70 xế bóng cuộc đời…

Ông Hòa buồn lắm, mới hiểu tại sao y học đã ghi một trong những thủ phạm gây stress, gây chứng trầm cảm chính là biến cố mất nhà, phải dọn nhà hay thay đổi chỗ ở.

Khoảng 15 năm trước, lúc đường Phạm Văn Đồng gần nhà bắt đầu được thi công, vợ chồng ông Hòa rất vui vì chẳng bao lâu nữa con hẻm nhà mình, thay vì dẫn ra con đường Lê Lợi 6 mét chật hẹp và đã xuống cấp, sẽ dẫn ra một đại lộ mới, rộng đến 60 mét thật hiện đại, được cho là đẹp nhất thành phố. Nhưng, hình như đã có một điềm gở gì đó…

Ông Hòa nhớ rất rõ là thời ấy, ngày ngày đi ngang một dãy nhà đã bị đập phá và bỏ hoang, tình cờ ông thấy một chú chim chích chòe bay lượn một mình hay nhập vào đám chim sẻ kiếm ăn. Hỏi bà con gần đó mới biết đây là chú chim được một gia đình nọ nuôi theo kiểu thả tự do cho chim bay nhảy ngoài lồng. Rồi không rõ lý do gì, khi đập nhà rồi dọn đi, gia đình này không mang chú chim theo qua chỗ ở mới của họ. Do quen bay nhảy ở khu vực có cỏ cây vắng vẻ, chú chích chòe cứ lẩn quẩn ở đây mãi. Lúc ấy, ông Hòa bâng khuâng mãi về tình cảnh lạc loài của chú chim, tự hỏi nếu giờ không có ai đưa nó về nhà nuôi thì không biết số phận nó sẽ ra sao khi các ngôi nhà mới được xây xong, không còn khung cảnh nhiều cây xanh, bụi cỏ, vốn thích hợp cho loài chim sinh sống.

Ông Hòa còn nghĩ, khi các công trình đô thị hóa được thực hiện, tức giải tỏa đất đai, xây nhà phố mới, thường người bị mất nhà, mất đất chỉ nhận lấy một cục tiền đền bù rồi sau đó phải vất vả tự lo liệu nơi ăn chốn ở mới, nhiều khi họ không biết đi ở đâu và làm gì tiếp tục để sinh nhai… Có nghĩa là người ta còn chưa giải quyết được chu đáo cho cuộc sống của nhiều người, nhất là người nghèo khi họ phải xa lìa chỗ ở cố cựu của họ, nói gì đến số phận của những vật nuôi bị bỏ lại ở khu xóm giải tỏa trắng, ví dụ như một con chim chích chòe nhỏ bé, lạc loài kia?

Thấy thương con chim, ông Hòa viết một bài tạp bút về chuyện bắt gặp chú chim chích chòe bị chủ nuôi bỏ lại trong cảnh gạch ngói hoang tàn khi gia đình họ phải chuyển đi nơi khác bởi nhà họ bị giải tỏa trắng, nghĩa là chú chim đã bị mất chỗ ở quen thuộc bên chủ nó… Nào ngờ gần 15 năm sau, đến lượt ông Hòa cũng rơi vào tình trạng sắp mất chỗ ở, không biết đi đâu…

 

3.

Đã 43 năm về trước, đối với nhiều số phận người dân Sài Gòn cùng gia đình họ – như ông Hòa, gốc sĩ quan chế độ cũ, khách quan hay chủ quan gì cũng thế, ngày 30 tháng 4 đã là một biến cố khó có thể gọi là vui, phấn khởi được. Mất nhà, mất chỗ làm, mất tài sản, mất địa vị xã hội, mất người thân và bạn bè, bị tập trung học tập cải tạo, bị chỉ định cư trú khu kinh tế mới… Đã dù ít dù nhiều đều bị mất mát, chia lìa, thua thiệt như thế, cuộc sống xuống cấp thấy rõ, đổi đời kiểu này thì làm sao bảo họ là “vui” được? Dù sao, hơn 40 năm trôi qua, cũng giống như bao người Sài Gòn khác, sau những mất mát này khác thì ông Hòa đã cố gắng tìm cách hòa nhập với thời thế, lao động một cách lương thiện để kiếm sống cho gia đình mình cho đến tuổi về hưu.

Vừa rổi, cũng chính vào thời điểm tháng 4, thời tiết đang rất oi bức này, ông Hòa lại được thông báo nhà mình ở sẽ bị giải tỏa, nói đơn giản là sẽ mất nhà, thì đối với ông, biến cố ấy có khác gì một cái “30 tháng 4” thu nhỏ lại và trớ trêu xảy đến lần nữa trên số phận hẩm hiu của gia đình ông cùng cả trăm bà con hàng xóm.

Đêm nay, thêm một đêm ông Hòa chập chờn nửa ngủ nửa thức. Đến gần sáng, ông nghe văng vẳng từ đầu hẻm tiếng kèn đám ma, tình cờ là bản Một cõi đi về của TCS. Về ở căn nhà cấp 4 này từ thuở trung niên còn khương cường để cày kiếm sống, đã bao sớm hôm đi về con ngõ hẹp, nay đã thuộc lứa thất thập cổ lai hy mỏi mòn, ông Hòa chợt ngậm ngùi, không thể nào nhớ nổi đã bao đêm về sáng mình đã thao thức nghe tiếng kèn đám ma, đưa người quá cố vĩnh viễn rời khỏi căn nhà họ từng cư ngụ, rời xóm phố họ từng sống lúc sinh tiền…

 

PHẠM NGA

(Trong oi nồng tháng 4-2018)

Buồn Nằm Dọc Nằm Ngang

 

Nguyễn Huy Thiệp có cuốn “Tiểu Thuyết”
Tuổi 20 Yêu Dấu, Văn Mới xuất bản năm 2004 tại Mỹ (*)
Đúng là tiểu thuyết / lời nói nhỏ, gồm 30 chương
Không có chuyện yêu chuyện thương, mà toàn chuyện ghét!

Nguyễn Huy Thiệp, chắc ai ai cũng biết:
một-nhà-văn-cộng-sản Việt Nam
nổi tiếng đầu đời với cuốn Tướng Về Hưu
và nổi tiếng tiếp theo là những giải thưởng…

Nhiều người nói Nguyễn Huy Thiệp đi chệch hướng
chống Cộng Sản bằng văn chương
có nhiều người thấy xót thương:
Nguyễn Huy Thiệp tại sao là Cộng Sản?

Nguyễn Huy Thiệp vẫn ở trong “nôi-cách-mạng”
ở nhà riêng, biệt thự, Đảng xây cho
Nguyễn Huy Thiệp có đọc thơ
nhưng nói “câu chữ trong bài thơ thì không ra gì” (**).

Đọc Nguyễn Huy Thiệp thật “mệt mề”
chế độ Cộng Sản không có gì tốt đẹp
không một người nào không biết
mà ở với Cộng Sản thì như cây cột đèn!

Cây cột đèn không biết đi, lại biết bon chen
và biết nói những điều “phải đạo”!
Nguyễn Huy Thiệp nói như không hề nói láo
về một chế độ rất “lạ lùng”:

–  Đ.mẹ!  Tao yêu Hà Nội quá chừng!
–  Nói khẽ thôi!  Hà Nội nó nghe thấy đấy…(**)
Sinh viên Hà Nội chuyện trò như vậy
Nói…tung hô nhưng vẫn cứ đề phòng!

Chắc họ nói lung tung?
“Chính họ cũng chẳng hiểu họ nói cái gì.” (**)
Tôi không thêm không bớt chút chi
Về một chế độ rất “kỳ quan”, “kỳ cục”…

“Nền giáo dục trung học và đại học theo tôi
là một nền giáo dục ngục tù khủng bố.
Nó làm cho thanh niên chúng tôi trở nên kiệt sức
ấm ớ, dở hơi hoặc đểu cáng
theo cách nào đấy.
Nó là một nền giáo dục lưu manh.
Tất cả những thanh niên thành đạt của nền giáo dục đó
đều là những tên lưu manh
một trăm phần trăm, tôi xin thề như vậy!” (**)

Nguyễn Huy Thiệp nói / viết, in trên giấy
thật lòng không hay giăng bẫy để nhận giải thưởng văn chương?
Tôi không còn yêu còn thương
một Quê Hương khốn kiếp!

Nguyễn Huy Thiệp!  Nguyễn Huy…Thẹp!
anh làm tôi muốn khóc!
Mua cuốn “tiểu thuyết” (*) của anh, tôi đọc
buồn…nằm dọc nằm ngang!

Trần Vấn Lệ

(*) Tuổi 20 Yêu Dấu, Tiểu Thuyết của Nguyễn Huy Thiệp, nhà xuất bản Văn Mới, Gardena CA, 2004.

(**) nguyên văn của Nguyễn Huy Thiệp trong cuốn “tiểu thuyết” đó.

GỞI NHỚ VỀ ĐÂU

 
Tháng tư về có chút tình trong kỷ niệm
Gửi về đâu thương,ghét tháng năm này..
Gửi về đâu ta nhớ những con đường
Đã đi như chưa bao giờ qua hết..(hn)
              * * *
DỤC MỸ ,

Những cây dương bóng mát rũ hai hàng
Có nắng tháng tư mùa hè thật nóng
Tôi đến đây hàng cây chào đứng bóng
Dục Mỹ mùa khô thở hắt ngọn gió Lào
Dục Mỹ những sắc áo, chào huấn khu
Đón về những chàng trai mùa đỏ lửa
Mười ngày phép màu da nâu chưa kịp nhả
Giờ nhập môn mình trở lại núi rừng
Bạn BĐQ tôi vào trường PB
Bọn mình lại dựa lưng nhau như rừng núi
Mặt trời nơi đây vẫn nung ráng đỏ
Vẫn còn nghe âm vọng một hai..
BĐQ thích chạy bộ hơn đi xe..
Bên nầy chiếc GMC đưa đường ra bãi tập
Con đường qua ngang căn cứ Cọp..
Còn xê xang ghế bố xếp.. giác bàn…
Buôn Sim, Buôn Lác lãng đãng khói nhà sàn
Như mơ màng nghe mây tan đồi trọc
Khi say nắng những buổi trưa cùng bắn tập
Những chùm hoa mù còn đọng dưới chân mây
Nhìn đỉnh Vọng Phu như đếm tháng ngày
Để cô gái Thượng lưng gùi chờ tìm mảnh thép
Ninh Hòa vẫn sinh con gái đẹp
Chiều tan trường có ai theo về huấn khu
Dục Mỹ rừng núi thâm u
Rất lãng du con đường Viễn Thám
Cà phê chiều nao nao dòng nhạc Phạm
Chủ nhật hết tiền ngong ngóng Nha Trang…
Câu lạc bộ mơ hồ trầm giọng Duy Quang
Cũng rung động đời pháo thủ
Sáng thứ hai sân cờ nghe huấn dụ
Thắm thoát mà đã hết một tháng tư..
CHÀO BIỆT : Bùi Ngọc Hùng ( 727 _ kbc4311 )

Không tiếng kèn truy điệu
Đưa người về bên kia
Thanh âm lời ai điếu
Vì sao thành tích xưa
Chiếc lá nữa rời cành
Bay đi không báo trước
Bài quân ca buổi trước
Thiên thu đêm di hành
Chiếc lá đã rời cành
Bài ca thành hoài cổ
Phố… buồn ôm quốc lộ
Vằng vặc trăng di hành
Lá đã xa lìa cành
Bài ca về thiên cổ
Phố đâu còn , quốc lộ ..
Hồn đi về quanh quanh
Chiếc lá đã xa cành
Trời Sài Gòn mưa phủ
Trong im lìm hòm gỗ
Di ảnh ngời trối trăn
Không quyết định truy thăng
Cho người về miên viễn
Ai là người đưa tiễn
Thiết Giáp nằm im lìm
Không phủ kín Quốc Kỳ
Chiêu anh hồn tử sĩ
Một thời oanh liệt vị
Từ biệt nhau kinh kỳ
Chào biệt là phân ly
Là xếp lại tàn y
Là thiên di cõi khác
Là tắt bóng tà huy
Không chuyến về Phan Rí
Gởi nhớ lại ngã ba
Chí tang bồng hồ thỉ
Cho lỡ mùa 73…
Trao cái nhớ Hòa Đa
Dốc Lương Sơn đẫm tích
Giữa hai mùa chiến dịch
Nhật ký Bùi Ngọc Hùng
Đâu mùa hẹn ra Trung
Treo lại những lối Duồng
Chiều Thượng Văn sóng bạc
Trắng đỉnh trời Lương Sơn…

 hoa nguyên

HOÀI

 

HOÀI 1

Qua rồi những hào hùng ly loạn
Người về khoả áo mài đêm vắng
Gió rót cành sương tiếng thuốc lào
Ám mùi hơi thở hoài không lắng

Người lính ngày xưa giờ tóc trắng
Màu xuân đã đọng ở sinh phần
Bạn bè chiến hữu nhiều lưu lạc
“Thiên đàng” một cõi một chung thân

Người lính ngày xưa chừ tám chục
Ngóng trông từng cuộc gọi đường dài
Chiến hữu: bọn tôi về phương khác
Mỗi mình anh lạc phía giêng hai

Chiến hữu: Thôi cũng gần một kiếp
Nhớ thương cũng mấy chục năm rồi
Hào hoa tóc áo phai gần hết
Sao ở trong lòng mưa vẫn rơi?

HOÀI 2

Mình đến mình đi rồi quên lãng
Để đêm lóng lánh phúc âm buồn
Để mưa tháng sáu rơi chiều lạ
Để bình minh đọng những ngân sương

Mình đến giữa mùa hình nhân mới
Ngày xanh vướng vít nhánh hoa đầy
Diệp lục nã nồng hương hư ảo
Xanh rìa tháng mới với tranh vây

Mình đi chủ nhật mưa áp thấp
An nhiên còn có  giữa từ ly?
Tôi nhặt nhạnh mình đêm lá rách
Buông cánh rời cây khóc thiên di

Khúc lá khúc cây và khúc gió
Khúc nào xanh để nhận mặt người?
Lãng quên còn ấm trong ký ức
Cho nhau xin giú một khúc cười…

 

HOÀI 3

cuộc thiên di đỏ
mặt trời cuốn qua vùng tóc biếc
chảy mặn tháp ngà
nụ hôn mật non xưa xa
đã khét tanh dưới tê điếng mặt trời
không thể lưu trữ cho em được gì
giọt mưa miên miết đỏ
ngày cựa mình chừng như rất khẽ
tháng bảy cạn kiệt
lời lá khô
rơi từ vực sâu.

cuộc thiên di đỏ
mặt trời đi qua vườn đêm
cứa những xót thương
tối không gió
tôi với căn ngực rỗng
sự đợi chờ là vô vọng
mãi đời sau.
những bóng đèn nê ông cúi đầu câm lặng
cơn mưa không thể ướt át mãi buổi chiều tháng bảy
dụ dỗ về một tia sáng lóe nở
giấc chiêm bao mồ côi
hơi thở
như những đứa trẻ thành phố ngày loạn lạc
dắt díu nhau đi tìm ý nghĩa cuộc hành trình…

PHƯƠNG UY

LỜI KHÔNG DỄ NÓI

@ TBT NHÀ THƠ TÔN NỮ THU DUNG:

Thơ là tiếng nói nội tâm riêng biệt của mỗi người nhưng sự tao nhã và thanh khiết là điều không thể thiếu trong thơ, dù thế…

… Xin đừng ai khoác vào thơ (và người làm thơ) một sứ mệnh lớn lao nào cả! -Theo tôi – Thơ chỉ cần có một nhiệm vụ nhỏ bé duy nhất là làm một dòng suối mát trong veo để người lữ khách lạc loài trong sa mạc cúi xuống, vốc lên một ngụm… thế thôi!

HƯ ẢO TÔI, là tập thơ kỷ niệm TUONGTRI.COM bước vào năm thứ 6 gồm 200 bài thơ của 109 tác giả “tâm phúc ruột rà” với Tương Tri trên đoạn đường dài gập ghềnh đầy hoa cỏ và nhiều gai góc đang được các bạn cầm trên tay. Mong rằng nó sẽ đem đến cho các bạn yêu thơ một niềm tin thuần khiết về cái đẹp muôn đời.

Thay mặt Nhóm Chủ Biên TƯƠNG TRI xin gởi đến các bạn thơ của chúng tôi niềm cảm kích.

@ NHÀ PHÊ BÌNH TRẦN TRUNG TÁ:

…tập thơ Hư Ảo Tôi, phải nói rằng đây là món quà không chỉ là món quà văn nghệ mà hơn thế nữa, nó là món-quà-văn-hóa. Tôi tin khi cuốn Hư Ảo Tôi đến tay bạn đọc, bạn có một lúc hai món quà; Một là Tập Thơ…đúng là Tập Thơ, Hai là thấy cái nằm trên tay bạn là Trái Tim của một người Vì Thơ Mà Có, Bởi Thơ Mà Làm, Cho Thơ Tất Cả!…

Và là một tập thơ nặng kí cả nghĩa đen lẫn bóng…
______________________________________
@ 109 TÁC GIẢ TRONG NƯỚC & HẢI NGOẠI:

* NGUYÊN SA/2/Hư Ảo Trăng
* TRẦN TRUNG TÁ/5/Đôi Lời Thắm Thiết
* ÂU THỊ PHỤC AN/9/Phố/Tìm Suối Nguồn
* BÙI DIỆP/12/Người Hẹn Trăm Năm/Những Ngày Xưa Thật
Là Xưa
* CAO VĂN TAM/15/Chia Tay/Tiễn Đưa
* CHIÊU ANH NGUYỄN/18/Những Ngày Không Trở Lại/Giấc

* CHIM HẢI/21/Mời/Trả Lời
* CHU THỤY NGUYÊN/24/Lúc Tôi Rót Nắng Vào Ly/Đêm
Violin Xanh
* DAO LAM/27/Thả Nắng/Rờn Rợn Khóe Cười
* DU LÊ HUÊ/30/Huế Say/Ngày Thứ Tám
* DU NGÃ/34/Thơ Ngày Cũ/Tìm Nhau
* DŨNG KQD/37/Đừng Hỏi Nữa Con Ơi!/Buổi Sáng Đà Lạt
* ĐẶNG KIM CÔN/40/Lốc Đời/Những Hàng Ghế Trống
* ĐẶNG PHÚ PHONG/43/Đồi Lạc Gió/Đồi Tây Hay Đồi Đông
* ĐỖ TẤN ĐẠT/47/Trả/Nợ
* H. HIẾU/49/Căn Phần/Trưa Nắng
* HẠ QUỐC HUY/54/Lệ Trong Mắt Phượng/Xa Rồi Trăng Lay
Tóc Rối
* HẠC THÀNH HOA/59/Điệp Khúc Buồn Trong Quán Cà Phê
Màu Vàng/Ngồi Dưới Trăng Tan
* HIỀN MÂY/63/Về Cùng Em/Ngủ Đi
* HỒ CHÍ BỬU/66/Lặng Lẽ Mùa Đông…/ Người Sắp Về Chưa?
* HỒ VIỆT KHUÊ/69/Sương Khói Đa Mi/Quán Chân Núi
* HOA NGUYỄN/72/Lời Tình Vừa Lỗi/Hạt Tai Ương
* HOÀI KHANH/76/Sẽ Là Gì Trong Một Kiếp Xa Xôi
* HOÀNG CHẨM/79/Lạ Thường/Còn Một Chỗ Trống
* HUỲNH DUY LỘC/82/Không Tan Kỷ Niệm
* HƯ VÔ/84/Thu Nguyên Màu Bao Dung/Ngày Cũ
* HUY TƯỞNG/87/Chim Mùa Xuân Bay Về Lối Thu
Không/Người Yêu
* KHA LY CHÀM/91/Tháng Sáu và Kỷ Niệm/Ẩn Dụ Đêm
* KHA TIỆM LY/94/Nhỏ Bạn Ngày Xưa/Tình Nhạt
* KIM VÔ VỌNG/97/Cau Cay
* LÂM HẢO DŨNG/99/Cảm khái khi về núi/Sương Lạnh Miền
Cao Gọi Nhớ Rừng
* LÊ HÁT SƠN/103/Chiều Serenade/Riêng Em Ngày Chở Nắng
* LÊ PHÚ HẢI/107/Về Phương Nam/Điệu Buồn Tráng Sĩ
* LÊ SA/111/Chiều Phan Rang Nhớ Khói Ba Vì/Nhớ Nhớ Quên
Quên
* LÊ TRUNG TÍN/114/Sau Cơn Say/Về
* LÊ VĂN HIẾU/113/Tinh Khôi
* LÊ VĨNH TÀI/119/Không Đề Sáu Chữ/Thơ Bây Giờ Của Con
* LINH PHƯƠNG/122/Như Bóng Mây Bay Cuối Trời Thương
Nhớ/Đêm Ngủ Tôi Mơ
* LƯU XÔNG PHA/125/Đừng Treo Tim Lên Cành Cây Thương
Nhớ/Ta Ném Hết Đời Thơ Vào Ngọn Lửa
* MAI THANH VINH/128/Phía Buồn/Chiều
* MAI VIỆT/131/Vô Dinh 1 Nghe Tiếng Lăn Trầm/Gởi Lại Phan

* MỘC MIÊN THẢO/135/Vọng/Hỏi
* MƯỜNG MÁN/139/Về Bên Cổ Thành/Qua Mấy Ngõ Hoa
* NGÔ TỊNH YÊN/143/Những Ngón Tay Ký Ức/Đừng Khóc Tôi
Ơi
* NGÔ YÊN THÁI/146/Trăng Rơi Cuối Bãi/Bất Tận
* NGUYÊN VI/149/Cõi Xưa/Đà Lạt
* NGUYỄN AN BÌNH/152/Tháng Năm Hoa Tím Lại Về/Hạt
Bụi Nghìn Trùng
* NGUYỄN BÁ TRẠC/155/Thoại Châu, Tôi Biết Trời Chưa
Sáng/Quê Mẹ
* NGUYỄN BẮC SƠN/159/Một Ngày Nhàn Rổi/Nhắc Đến Ma
Lâm
* NGUYỄN ĐĂNG TRÌNH/163/Cuối Năm Chia Tay Huế/Sợ
Một Ngày Mưa
* NGUYỄN ĐÌNH BỔN/166/Biền Biệt/Vết Cắt
* NGUYỄN ĐỨC BẠT NGÀN/169/Cùng chút Bụi Bên
Đường/Hương Cau
* NGUYỄN HẢI THẢO/172/Như Khói Sương Bay/Như Lá
Ngậm Ngùi
* NGUYỄN HÀN CHUNG/176/Biết/Gió Mồ Côi
* NGUYỄN LÃM THẮNG/179/Một Ngày/Sông Trăng
* NGUYỄN LIÊN CHÂU/183/Long Đong Y Bát/Trương Chi Dị
Khúc
* NGUYỄN MINH PHÚC/186/Bóng Tàn Phai/Bóng Tối Không
Lời
* NGUYỄN NGỌC NGHĨA/190/Thu Nào Xưa Hở Em/Mưa
Lập Đông
* NGUYỄN NHƯ MÂY/193/Không Đề/Bước Xuân
* NGUYỄN QUANG TẤN/196/Dạo Khúc 27/Dạo Khúc 50
* NGUYỄN TAM PHÙ SA/199/Hai Nửa Huế/Bài Thơ Thứ Nhất
* NGUYỄN TẤN CỨ/202/Niệm/Chia Đời Nhau Nhé
* NGUYỄN THÁI BÌNH/205/Mùa Thu/Lục Bát Rơi
* NGUYỄN THỊ KHÁNH MINH/210/Đêm/Ngày
* NGUYỄN VÂN THIÊN/214/Huế Mười Năm Xa/Tương Tư
Kinh
* NHÃ MY/217/Mười Năm/Biển Đêm
* NP PHAN/217/Chưa Phai Bờ Áo Nguyệt/Biệt Khúc
* PHÙ DU/225/Buổi Phai Sương/Bên Này Bên Kia
* PHẠM HỒNG ÂN/228/Dọn Chỗ Cho Phiên Khúc Gãy/Tháng
ba, ký ức Sài Gòn
* PHẠM KHÁNH VŨ/232/Tôi Sẽ Là Tôi?/Tôi Nói Với Chiêm
Bao
* PHẠM NGỌC LƯ/235/Huế Ngày Về/Thuyền Quyên
* PHẠM NGŨ YÊN/239/Viết Cho Tháng Mười Hai Sắp Hết/Tạ
Ơn Một Tình Yêu
* PHẠM QUANG TRUNG/244/Trầm/Ghé Thăm
PHAN ANH DŨNG/248/Tiếng Xuân/Quán Không
* PHƯƠNG TẤN/251/Ở Huế Nhớ Phương/Chờ Đến Thiên Thu
Một Bóng Người
* PHƯƠNG UY/255/Phong Linh Trắng/Thất Lạc Trăng
* QUAN DƯƠNG/258/Đêm Trở Nhớ/Chiếc Xương Lá
* RÊU/261/Chọn/Chiều Nay Xuống Phố
* SƯƠNG NGUYỄN/264/U Uất/Tôi Muốn
* TẠ CHÍ THÂN/267/Giang Hồ/Đừng
* TẠ VĂN SỸ/269/Gọi
* TÂM NHIÊN/271/Nước Chảy Mây Trôi/Mây Trắng Ca
* TẦN HOÀI DẠ VŨ/274/Hẹn Về Với Huế/Đêm Giáng Sinh
* TÔN NỮ THU DUNG/277/Vọng Âm Buồn/Khúc Tặng Doanh
Doanh
* TÔN NỮ THU NGA/280/Ngọc Lan Hương/Niệm Khúc
* TÔN PHONG/283/Từ Chối/Không Có Gì
* TRÂN SA/286/Dặn Bàn Tay/Nghĩ Tới
* TRẦN ANH/289/Nát Mùa Trăng Hung Bạo/Bên Mùa Ve
Năm Cũ
* TRẦN BÁ NGHĨA/292/Tà Hoa
* TRẦN DZẠ LỮ/294/Qua Đèo Hải Vân/Cà Phê Ở Tôn Nữ Viên
* TRẦN HỒ DŨNG/297/Em Và Tôi/Ngủ Bên Chân Mẹ
* TRẦN HOÀI THƯ/300/Xa Lạ/Cuối Năm Bên Dòng Sông
Hudson
* TRẦN HUY SAO/303/Diều Giạt Gió Đưa/Dẫu Một Đời Phiêu
Bạt
* TRẦN HUYỀN THOẠI/307/Lang Thang Khói/Thắp Sáng
Cánh Rừng Thơ
* TRẦN NGỌC HƯỞNG/310/Sương Khói Lặng Thầm/Giạt
* TRẦN THIÊN THỊ/313/Ngày Thu Cuối Cùng, Chén Rượu Cuối
Cùng/Gởi Cho Thu Thảo
* TRẦN THOẠI NGUYÊN/317/Cõi Tàn Phai/Đà Lạt, Hoa
Phượng Tím
* TRẦN TRUNG ĐẠO/320/Đêm Ngồi Nghe Tiếng Chim Trên
Biển/Xuân Đất Khách
* TRẦN TUẤN/323/Nơi Tôi Ở/Nếu…
* TRẦN VĂN NGHĨA/326/Tôi Ngồi Ở Đó/Tháng Chạp, Đà Lạt
Và Em
* TRẦN VẤN LỆ/329/Nửa Đêm Về Sáng/Ngủ Đi Chàng Lính
Xưa
* TRẦN VIẾT DŨNG/332/Cỏ Xanh/Gái Bình Định
* TRƯƠNG ĐÌNH PHƯỢNG/335/Hoa Cẩm Chướng Trên
Bàn/Lục Bát
* TRƯƠNG ĐÌNH TUẤN/339/Phố Núi Hoài Mây Bay/Câu Thơ
Phượng
* TƯƠNG GIANG/342/Ngược Nguồn Nhớ Quên
* VĂN CÔNG MỸ/344/Tắm Trăng/Hóa Thân vào ”Tình Nghệ
Sĩ”
* VÕ DUY CHUNG/347/Mùa Trăng Sáng/Những Đoạn Rời
* VŨ ĐÌNH HUY/350/Doanh Doanh/Đoản Khúc
* VŨ NGỌC GIAO/353/Phố Và Trăng/Đâu Đó Một Làn Hương
* VŨ TRỌNG QUANG/356/Maria Nguyễn/Cuối Đường
* YÊN HỒNG/359/Mật Ngôn/Thấu Cảm

 

Nhà Thơ Trần Thoại Nguyên

Món quà đặc biệt:
Tập thơ HƯ ẢO TÔI.

Mừng 6 năm ra đời & phát triển Website TUONGTRI.COM và những tuyển tập thơ văn TƯƠNG TRI đã phát hành, Nhóm Chủ Biên đã táo bạo đề ra in tuyển tập thơ HƯ ẢO TÔI làm món quà tặng thi văn hữu TUONGTRI.COM , như LỜI CẢM ƠN của Nhóm Chủ Biên : “HƯ ẢO TÔI,là tập thơ kỷ niệm TUONGTRI.COM bước vào năm thứ 6 gồm 200 bài thơ của 109 tác giả thơ “tâm phúc ruột rà” với TƯƠNG TRI trên đoạn đường dài gập ghềnh đầy hoa cỏ và nhiều gai góc…”
BBT đã tuyển chọn công phu ! Tôi nghĩ bài thơ đưa vào tập thơ đã phải qua 3 lượt: Lần 1- Chọn bài post lên Website. Lần 2 – Tuyển bài đăng lên các tuyển tập in giấy đã phát hành. Và lần 3 – Tuyển lựa mỗi tác giả một vài bài thơ hay tiêu biểu nhất. Nữ chủ trang Tương Tri, Nhà thơ Tôn-Nữ Thu-Dung (Thu-Dung Ton-Nu) đã bày tỏ lòng mình trong buổi Hội Ngộ Tuongtri ra mắt HƯ ẢO TÔI: “Mình muốn in một tập thơ cho bè bạn, các thi hữu đã cộng tác cùng TUONGTRI,không hề nghĩ đến tính toán kinh doanh lợi nhuận!” Tôi nghĩ Tôn-Nữ Thu-Dung đã nói thật lòng! Mấy ai bỏ tiền ra mua một tập thơ dày cộm đến 370 trang dù in đẹp trên giấy tốt . Lật qua từng trang sách, các Thi hữu phải cảm động,không những thơ mình được đăng trang trọng mỗi bài thơ một trang,bài dài hai,ba trang không cắt bỏ.Đặc biệt là mỗi tác giả đều được dành riêng một trang với chữ ký và bút danh của mình! Có lẽ cả thế gian nầy chưa có NXB nào “Chịu chơi” trân trọng sang đến như thế !?
Gần 6 năm qua,tôi vẫn thường xuyên cọng tác cùng TUONGTRI.COM và đã được chọn in trong tuyển tập thơ HƯ ẢO TÔI 2 bài (Các tác giả khác cũng thế),dù tôi chưa tâm đắc lắm,nhưng phải nói đó là 2 bài thơ hay đều đã được các Nhạc sĩ phổ nhạc thành ca khúc .
Bài CÕI TÀN PHAI đã có hai phiên bản phổ nhạc , 1 của NS Mộc Thiêng và 1 của NS Ngô Tùng Văn ( Tùng Văn Ngô) đã được ca sĩ hát trong chương trình NHẠC CHIỀU CHỦ NHẬT của Đài Truyền hình Tphcm.
Bài ĐÀ LẠT HOA PHƯỢNG TÍM đã được 3 NS phổ nhạc thành ca khúc: 1 là của NS Mộc Thiêng, 2 là của NS Phạm Minh Thuận ( Qua Nhà thơ Nguyễn An Bình, NS NMT đã chuyển email cho tôi và nói rằng NS lang thang trên mạng bắt gặp được bài thơ hay giàu cảm xúc và cảm hứng viết liền thành ca khúc. Và 3 là của NS Nguyễn Hảo đã đàn hát cho tôi và Thư Thiên Phạm cùng nghe.

Chắc tôi cũng như các Thi hữu có thơ in và có chữ ký của mình trong tập thơ HƯ ẢO TÔI rất cảm ơn Nhóm Chủ Biên TUONGTRI.COM,nhất là Tổng Bí Thơ Tôn-Nữ Thu-Dung! Xin chúc BBT và văn thi hữu “tương tri tâm phúc ruột rà” luôn vui khỏe tràn đầy cảm hứng sáng tạo! Chúc TUONGTRI.COM không ngừng phát triển ngân vang bay xa!

 

Nhà Giáo  Nguyễn Hoàng Quý

Đọc tin nhắn do anh Tạ Chí Thân (Bạch Mao Sư Vương – Than Ta) gửi 10 ngày trước, tôi thật sự xúc động: “Kính mời anh chị 19/4 tới Sông Trăng nghen . . . xin gặp một lần, biết ngày mai sẽ ra sao?!”. Và thế là (hăm hở) đến. Cứ tưởng dân ở Mỹ đúng giờ, tôi tới chỉ có anh Trần Dạ Lữ, một nhà thơ cao tuổi, có thơ đăng báo từ đầu 1960’s và Nghĩa từ Đồng Nai lên.

Đến khi bắt đầu, có khoảng gần 60 người là những nhà thơ, nhà văn, nhà báo, nhạc sĩ, họa sĩ . . . cùng với vợ/chồng, những cộng tác viên đắc lực của tuongtri. Sân khấu nhỏ dựng trên bờ sông Thanh Đa của nhà hàng khá lý tưởng, không bị tiếng ồn từ những thực khách khác và không làm phiền họ dù cuộc gặp này dùng hệ thống âm thanh cho phát biểu và đàn hát, đọc thơ.
Đây là lần thứ ba tuongtri tổ chức hội ngộ ở Sài Gòn mỗi khi những người chủ trương từ Mỹ về. Cũng có lần tổ chức ở Hà Nội, Huế, Quy Nhơn, Nha Trang. Đúng như tinh thần của website và anh Thân phát biểu trong lời mở đầu: không màu mè, không trang điểm, son phấn mà chỉ thuần túy bảo đảm tinh thần Việt Nam từ những cây bút tiếng Việt, cuộc hội ngộ hôm nay mang đậm sắc thái này. Những người gặp nhau, dù đã hay chưa quen đều đối với nhau bằng “Những lời tâm phúc ruột rà”. Chỉ cần đọc “Đôi lời thắm thiết” của giáo sư Trần Trung Tá khi viết lời giới thiệu tập thơ “Hư ảo tôi” do Tương Tri xuất bản và gửi về tặng thì thấy rõ.

Dịp này tôi có duyên “kiến kỳ hình” hoặc nói chuyện với những cây bút trước đây chỉ “văn kỳ thanh”. Đó là các anh Nguyễn Viện, Ngô Quang Hiển, Nguyễn Đặng Mừng, Phạm Nga, Nguyễn Liên Châu, Nguyễn Đăng Trình, Nguyễn Đình Bổn, Nguyễn Tấn Cứ, Trần Thoại Nguyên, Phạn Thụy Ngữ, Tuệ Mỹ, Phan Văn Quang, Dũng KQĐ . . . Gặp được những tác giả có bài trên Tương Tri, thăm được Tôn Nữ Thu Dung (Tương Tri Giáo chủ), Tạ Chí Thân, Văn Công Mỹ, gặp được chị Âu Thị Phục An (An Âu), Đào Thị Thanh Tuyền (từ Nha Trang vào) cũng là niềm vui, chưa kể anh bạn già Vũ Ngọc Giao lâu nay không gặp.

Chương trình Thơ Nhạc góp vui khá phong phú. Sự có mặt của các chị Nguyễn Hồng Nga, Mai Thanh với những bản nhạc xưa cũng như những bài thơ do chính các tác giả đọc, các giọng nam ca, tấu hài đều ngẫu hứng vì không theo kịch bản nhưng mọi người đều lắng nghe đủ biết sức thu hút của tác giả và người trình bày. Gần giữa buổi, nghệ sĩ Ngọc Minh (Nguyễn Thị Minh Ngọc) xuất hiện với hai tiết mục “diễn” tuyệt vời làm mọi người đều ấn tượng.

Cám ơn chiều Sài Gòn bình yên, sông Thanh Đa lặng lờ và mát mẻ, cám ơn nhà hàng Sông Trăng với những món ăn ngon, website Tương Tri và tất cả mọi người đã cùng góp phần để làm nên một buổi tối kết nối tình thân khó quên này.
PS: Qua album này xin cám ơn anh Trần Dạ Lữ đã tặng tập “Thơ tình viết trên bao thuốc lá” và em Dũng KQĐ đã (chép tay) tặng anh QNH bài thơ “Tôi đã đánh mất nước Việt buồn” em đọc ở Hội Ngộ tối 19.4.2018.

 

Nhà Thơ Nguyễn An Bình

TƯƠNG TRI, CUỘC HỘI NGỘ VĂN CHƯƠNG ĐẦY THÚ VỊ BÊN BỜ SÔNG SÀI GÒN.

Lúc 5 giờ chiều, ngày 19/4/2018 có buổi hội ngộ cộng tác viên của trang Tương Tri.com tại nhà hàng Sông Trăng của nhà thơ Văn Công Mỹ trên đường Bình Quới-Bình Thạnh bên bờ sông Sài Gòn. Tương Tri.com là một trang web thuần túy về văn chương với người chủ biên Tôn Nữ Thu Dung(Ton-Nu Thu-Dung– đang định cư tại Mỹ) đầy nhiệt huyết với một đội ngũ cộng tác viên từ mọi miền trên thế giới. Nhân những ngày về thăm quê hương và tặng tuyển thơ HƯ ẢO TÔI cho các tác giả kỷ niệm 6 năm ngày Tương Tri hoạt động. Ở đây tôi được gặp mặt nhiều anh chị đã từng viết trên Tuổi Hoa, Tuổi Ngọc và nhiều tạp chí văn học trước năm 1975. Những bản tình ca và những bài thơ được đọc đã tạo sự thân mật gắn kết anh em văn nghệ đến không ngờ. Hôm nay chị Thu Dung đã lên đường về Mỹ. Cám ơn chị Thu Dung, anh Văn Công Mỹ, anh Tạ Chí Thân đã tổ chức cuộc hội ngộ đầy tình thân và gởi cho những tấm hình kỷ niệm nầy.

Nhà Văn Phạm Nga

Cuộc vui nào cũng tàn…, nhưng không sao, ta cứ hẹn nhau sẽ cùng vui lần nữa. Chúc THU DUNG trở về nhà tiếp tục được làm ‘giáo chủ’  suông sẻ, phấn chấn, để bạn bè còn gặp lại.🌷

Nhà Thơ Nguyễn Đăng Trình

TƯƠNG TRI – khoảnh khắc tuyệt vời & đáng nhớ…
(chiều 19.4.18)

Và Nhà Thơ Dũng KQD đọc:


…Có khi nghĩ trời sinh một mình ta là đủ
Vì đám đông quậy bẩn nước hồ đời
Nhưng lại nghĩ trời sinh thêm bè bạn
Để quàng vai ấm áp cuộc rong chơi!
( Nguyễn Bắc Sơn)

Vâng, … chỉ để quàng vai ấm áp cuộc rong chơi!

Tôn Nữ Thu Dung

 

            Heo tai xanh

 

Bẩy tuổi mới biết mặt ba. Thời chiến tranh nó vậy. Ba lên Xanh dẫn theo chú và anh biền biệt cho đến ngày thống nhất. Về, ba lại tiếp tục công việc đâu đó trên phố lớn. Tuy con quan, cháu quan, em quan nhưng mà quan cách mạng, vô sản gộc nên Hạnh – đi học về – cũng ống cao ống thấp phụ mẹ từ đồng áng, bếp núc… mác con quan chỉ giúp Hạnh được thầy cô ưu ái khoản trường lớp, nghĩa là học lực dù trung bình yêu yếu vẫn được cất nhắc lên hàng tiên tiến. Thời bao cấp và cấm vận quan cho chí dân ai cũng thắt lưng buộc bụng nên Hạnh mảnh như giấy là tất yếu. Mẹ còn mảnh hơn vì chồng năm thì mười một hoạ mới tạt qua nhà, dạo dạo đôi vòng là lên xe đi tiếp. Cả ông chú cũng nằm riệt đâu đó. Lâu lâu anh Tâm về. Chỉ lúc ấy Hạnh mới cảm nhận được mình có anh. Lúc đầu Hạnh có thắc mắc về ba, nhưng câu trả lời của mẹ muôn đời là ba bận việc cơ quan, bận lắm. Về sau Hạnh không hỏi, ba về cũng không quấn, ba đi Hạnh cũng ừ thì đi. Hạnh biết rõ vì sao ba không về nhà, vì sao ba nhạt.

Nếu không về giữa chừng buổi học vì cô giáo bệnh, Hạnh đã không hề biết. Vậy ra Hạnh là con của trưởng ấp Tám Phát. Nghe qua là cô bé chín tuổi lạnh sống lưng. Cứ đứng bên ngoài cửa nghe cho bằng hết chuyện người lớn. Bằng một giọng lạnh tanh có cả tiếng “hức” của một cái cười khẩy:

– Thằng Tám Phát hiếp hay bà cho chỉ bà và nó biết.

– Đã không tin thì ông đừng về làm chi. Loạn lạc, ông còn phải đi để giữ cái thân, tôi một mình làm sao giữ? Mà thôi ông đã khinh tôi thì nên bỏ chuyện đó đi. Và đã như vầy thì không nên gặp nhau để làm gì.

– …

–  Sao không bỏ nó đi hả? Thằng Tâm mới mười tuổi đã theo ông lên Xanh không một tin tức. Tôi phải giữ để có cái mà sống. Ông không hiểu sao? Và huỷ giọt máu trong bụng mình là điều tôi không thể làm. Không có nó chắc gì ông đã ở với tôi… Mà thôi, đã không thể là vợ chồng, cũng không là bạn thì xin để cho tôi yên, đừng để cho con Hạnh biết chuyện nầy, tội nghiệp nó.

Một tiếng hừ khô vang lên, cửa nhà bật thô bạo bởi cú đá. Ba bước ra, tất nhiên là cả hai nhìn thấy cô bé nhỏ nhắn. Sựng một giây, người mà Hạnh gọi ba bước ra xe. Ù ù, xe nổ máy và mất dạng.

Má ôm Hạnh vào lòng. Vậy là Hạnh biết hết rồi nghe, rằng cái ông mà toàn thể cư dân nơi Hạnh cư ngụ kính trọng không phải ba ruột. Thì cũng có sao đâu, từ nhỏ cho đến giờ Hạnh vẫn ở với má mà. Có  hay không có ba cũng chả sao trăng gì. Mà Tám Phát là cái ông bên ấp Bốn mới cãi tạo về phải không? Gì thì không chứ chuyện nầy Hạnh phải tìm cho ra lẽ mới được. Ra cái cha nội đen đen xám xám, mặt mày khắc khổ là người đã đẩy má và Hạnh vào sự ghẻ lạnh đây. Hạnh là con riêng của má nên chi, ba và cả ông chú nhạt tình với Hạnh là phải lắm.

***

Ấp Bốn của Hạnh và Ấp Một – nơi ngụ cư của nguỵ quyền cấp ấp Tám Phát – cách nhau bốn mét đường be, đủ cho hai xe bò tránh nhau. Nhà Tám Phát là nhà đúc. Nhà nầy có đâu từ thời cố lũy cô lai  rồi. Nó bề thế và rêu phong lắm, tường cao và cổng kín nên có vẻ bí ẩn. Đồn rằng cho đến đời Tám làm trưởng ấp thì dòng họ nầy là tổ sư chống cộng. Tám là trưởng ban dân vệ thời nhà Ngô, thiên hạ  kể rằng Tám ta đội mũ đen rộng vành vai khoác súng cạc-bin, tay cầm cái loa phát thanh hết làng trên đến xóm dưới, nhà nào có thân nhân nhảy núi là chết bà với Tám. Đến kì các Nguyễn từ Khánh Râu đến Tông tông Thiệu Tám là Ấp trưởng, lại tiếp tục lôi nhân dân tự vệ với Ar15 lục tìm vixi. Bà mẹ nó – Thiên hạ chửi – Việt cộng ở trong rừng chứ đâu ở nhà mẹ goá con mồ côi mà mò vô.

Lúc đầu thiên hạ tin Việt cộng không dám về cái xóm bị rào bởi kẽm xẹctinai đâu. Trên dưới ngang dọc đâu đâu cũng lính cộng hoà mò về để ngủm sao? Đùng một cái, con Hậu vợ thằng Huy lớn bụng. Thằng nầy dẫn con lên xanh đâu hồi xa lắc. Vậy là cái tin Việt cộng đã về nằm vùng đâu trong lòng… đất được thổi lên. Và Hạnh đã ra đời mà không có cha là vậy đó. Và tất nhiên sau thống nhất hùng bá một thời như Tám đi cãi tạo cũng phải thôi. Có cha, chú và anh từng nằm gai nếm mật cả mười năm trên cao xanh thì Hạnh là con, cháu và là em cách mạng gộc. Tưởng bảnh ngờ đâu không hề vậy.

Quá rõ về mình. Hanh vờ đi chơi qua ấp một, ngang qua cổng nhà Tám Phát, Hạnh thấy y đang ngồi ở xích đu. Cô bé đứng lại nhìn vào, mấy con chó nghe mùi lạ xồ ra inh ỏi. Cao cao, đen và xám pha nhau, má hóp nên gò má nhô cao, Tám Phát đi ra cổng:

– Cháu tìm ai?

– Có bạn Phương ở nhà không chú? – Hạnh nhìn vào mặt Tám Phát hỏi.

– Ai kêu con nè Phương ơi.

Từ trong nhà chạy ra Phương mở cửa và nắm tay Hạnh:

– Hạnh bạn con đó ba. Con cô Hậu bên ấp Một.

Tám Phát chăm chú nhìn. Hạnh biết cái nhìn ấy bao hàm điều gì.

Đó là lần duy nhất suốt bốn mươi năm Hạnh đối diện cùng Tám Phát.

Về muộn nên má hỏi:

– Sao về muộn vậy con?

– Con qua nhà nhỏ bạn bên ấp một.

– Nhà ai vậy?

– Nhỏ Phương con Tám Phát.

Má nhìn Hạnh. Hạnh cũng nhìn má.

Rồi thôi.

Mọi chuyện trôi như dòng suối sau nhà Hạnh vẫn chảy. Về sau suối chậm lại vì một con đập được chận lại thành hồ chứa nước. Hồ chứa nầy đưa nước phân bổ cho hai cánh đồng của hai xã liền kề. Tuy dòng chảy có chậm nhưng nó không ảnh hưởng chi đến việc chăn nuôi của những hộ sống bên con suối. Như nhà Hạnh chẳng hạn. Một năm má cô xuất chuồng đôi ba lứa heo đủ tiền sách vở và áo quần cho Hạnh hết cấp một cấp hai rồi cấp ba. Cuối mười hai Hạnh chia tay trường lớp vì cô yêu.

Chàng của Hạnh tên Hùng. Để được Hạnh, Hùng phải qua mặt cả mươi anh con nhà gia thế. Thực vậy,  gò gẩm một em con cháu nhà quan lại xinh mơ đâu phải đùa. Cỡ Hùng đừng có mà mộng hão. Đã nghèo thì chớ anh còn chẳng có tí quyền lợi chính trị chi, ngoại trừ cái xuất ngũ sau ba năm bốn tháng trong quân đội. Còn trong quân Hùng cũng chỉ là một anh hoả đầu tầm thường, thường đến độ chẳng được nấu ăn mà ở vị trí chăn nuôi và trồng trọt để cãi thiện bữa ăn cho chiến sĩ. Thuở Hùng đi lính thì chiến tranh đã tàn, Pôn pốt và Bành trường đều đã được dẹp yên. Hùng chỉ vác súng mà chơi còn chích heo là chính. Về đời thường anh sống với nghề thú y.

Cã xã duy nhất Hùng sành điệu nghiệp này, ai có heo gà chi trái gió là kêu anh. Hùng đến nhà Hạnh theo lời mời của bà Hậu. Anh chả dám mơ chi con gái nhà quan, kẹt cái mới gặp Hùng, Hạnh đã đem tâm tình con gái mới lớn mà đắm cái đẹp trai, phong thái của chàng. Vậy là cô quăng cục lơ với tất cả các anh đang đeo đuổi. Hùng đúng mèo mù vớ cá rán. Người ta yêu mình tội chi không yêu lại. Vậy là cả hai tần tấn nên duyên. Thời thắt lưng buộc bụng, con em cán bộ bự thì phải thắt đến siết để làm gương cho quần chúng. Đám cưới cả hai chỉ tiệc trà đơn sơ, thậm chí ông cha và chú vợ chỉ tạt qua dăm phút rồi lên xe dông tuốt. Kệ đi, thời nào cũng vậy đời ai nấy lo, có câu đời cua thì cua máy, đúng không?

Nhà Hùng những sáu anh chị em nên anh làm rể nhà Hạnh là phải quá. Vậy là ung dung trở thành ông chủ của lô đất tròm trèm hecta. Gia đình Hùng chuyên sản xuất giống cây trồng. Vậy là Hùng chuyển đổi ba cái màu mè hoa lá cành của nhà vợ thành khu ươm cây. Trong nghiệp chăn nuôi, Hùng chiến nhất vì văn minh hơn bà con cô bác xứ ruộng. Thêm cái thương khó của kẻ xuất thân là nông dân Hùng xây thêm chuồng, đào ao chăn cá thả vịt. Với tay nghề thú y kèm thợ hồ, Hùng cho tất cả chất thải của heo qué xuống một hầm chứa, còn gọi bao tử. Ở đó chất thải sẽ tự huỷ rồi cho ra cái gọi Bioga. Thuở mà chưa có thức ăn gia súc, bao nhiêu thừa thải của thực khách ở những quán ăn của thị trấn kề bên Hùng thầu tất và chúng được sôi lên bởi bioga… Nhìn Hùng nên và ra thiên hạ  cũng muốn lắm nhưng để làm được như anh thì còn khuya. Rất phóng khoáng, các hộ liền bên ai cần bioga Hùng sẵn sàng phân bổ mà chả cần một xu, hộ nào bi quá Hùng cho không luôn ống dẫn, xóm giềng giúp nhau vậy là quá quý.

Thiên hạ cho phân xuống suối. Hùng thì không, bao nhiêu được tống xuống hầm ngầm để tạo bioga, còn dư Hùng tập trung lại cho hoai mà chăm cho cây giống. Dư nữa anh bán cho mấy tay trồng rau… về sau bà con cũng ủ phân lại và nhờ Hùng bán giúp. Ai cũng cám ơn vợ chồng Hùng, không phải ba cái vặt vảnh đó đâu nghe, họ còn cám ơn cái khác lớn hơn nhiều.

Cái khác đó là nguồn cá ở hồ chứa nước. Hùng đã thắng trọn gói thầu toàn quyền sử dụng mặt nước  cho việc nuôi cá. Dân trong ấp ai muốn cứ việc câu. Câu thôi đừng có tung chài nghe mấy bạn, để cho em có cái thu hoạch. Lổ lã tội nghiệp lắm. Hùng nói với bà con vậy. Trời ơi, đâu có ai bỏ tiền ra thầu, bỏ cá xuống nuôi rồi mình câu mà ăn? Vậy nên ai cũng có bổn phận trông coi giúp cho Hùng. Trộm đạo nào lèng phèng vác chài lang thang trên mặt đập là có người đạp xuồng ra hỏi thăm sức khoẻ liền. Xóm giềng bảo vệ nhau cỡ vầy là hết phép.

Chỉ có cái hơi phiền một tí, một tí thôi. Đó là cái mùi đặc trưng của phân heo và ruồi. Nhưng rồi tất cả cũng quen, thời chiến người ta còn sống chung với bom đạn và kẻ thù, những thứ mùi khác, ghê gớm hơn còn chịu được nói chi ăm-mô-nhắc. Còn ruồi thì đâu mà chả có, người ta giải quyết cái sự bực bằng cách chui vô mùng ăn cơm. Biết làm sao bây giờ? Ở đây ai chả nuôi heo? Phàn nàn ai?

Đời cứ vậy mà tới cho đến kì của nền chăn nuôi công nghiệp.

***

Hùng bỏ vốn ra để tiếp cận văn minh chăn nuôi. Trước tiên là phải có giấy phép chuyển đổi hình thức sản xuất. Chuyện đó đối với một con, cháu, em rể quan thì có chi lớn? Có cả kiến trúc dạng sư tư vấn cho Hùng mô hình mới. Phải hội đủ mọi điều kiện thì mới được sự quan tâm hổ trợ vốn của nhà nước. Nghĩa là anh có quyền đưa chủ quyền đất đai để vay vốn. Vợ chồng Hùng chả cần vay ai. Nhiều năm sau thu hoạch cá từ hồ chứa nước, thêm heo xuất một năm đôi ba lứa… Cặp đôi rất ư hoàn hảo nầy dư sức làm mọi việc.

Hecta đất được vây bọc một tường gạch cao hai mét, bên trên cắm miểng chai phòng trộm đạo. Chuồng trại phân bổ cực kì khoa học. Heo được nuôi trong môi trường sạch đến không ngờ. Chất thải  được dồn về hầm chứa tạo bioga. Phân sau hoai sẽ chảy về một ao chứa khác cách xa khu vực chăn nuôi cả trăm mét. Từ ao chứa nầy những công nhân loại vai u thịt bắp sẽ kéo phân lên bằng cuốc, dồn đống, phơi khô, đóng bao để cung cấp cho các nông gia chuyên trồng rau củ quả. Nước trong hầm chứa sẽ đi vào một cống ngầm và tuôn ra suối. Nước trong dòng chảy sẽ bò ra đập, tràn vào các con mương rồi lững lờ ra cánh đồng. Chắc chắn là mầu xanh của lúa nhờ rất nhiều vào chất thải của trại chăn nuôi mà Hùng là chủ nhân.

Không phải sao? Đợt đầu tiên Hùng thả một trăm con heo giống. Mẹ ơi. Chăm chúng còn hơn chăm con mới đẻ. Công nhân phải đồng phục. Bước vào khu vực chăn phải mang giày ống đi qua một bể chứa thuốc sát trùng. Chả nấu nướng chi để phục vụ cho con cháu lão Trư. Cám gia súc được kéo về hàng xe tải, trút vào thùng, nước uống cũng vào thùng. Bầy được gọi ngu như lợn khôn trời sợ, chúng biết dùng mõm hất nắp thùng chứa để ăn và uống, lại biết thải xuống mương, phe ta chỉ việc cầm vòi xịt cho  xuống hầm. Nói thì nghe nhanh gọn và yên ả lắm, nhưng để lo cho một trăm chú trư thì năm người là bở hơi tai. Chúng còn ăn khuya nữa đó nghe. Lợn mà, chỉ biết ăn và ngủ, và đó là mục đích của bất kì kẻ chăn nuôi nào từ sơ đến cao cấp. Có vậy mới hai tháng rưởi là xuất chuồng. Vậy anh mới có lãi, bằng ba tháng heo mới đạt một tạ một em thì anh chết chắc. Đã nói ra biển lớn thì thuyền to chừng nào sóng to theo chừng đó. Thuyền trưởng không khéo là chết chìm, đã biết bao anh hùng thò tay chơi với nghiệp nầy đã bị công quyền đến thanh lý đất đai, nhà cửa bán đấu giá để trừ cái nợ đã vay. Hùng thì khác, dân thú y sành đến độ chỉ nhìn qua là biết bệnh. Hùng ung dung lái thuyền qua các cửa. Từ một trăm chú ỉn lứa đầu, lên hai trăm rồi ba trăm và hơn nữa… Rõ ràng, với kẻ có tài, biết nắm bắt thời cơ thì  thành công buộc phải đến. Hùng có tất cả. Vợ đẹp, con ngoan. Hai đứa con Hùng rất tuyệt, một trai đầu, một gái út. Chúng được ăn học ngon lành, chả phải nhờ vào uy iếc chi của ai. Giống lợn mà nuôi trong môi trường tốt còn đẹp như mơ nói chi con người. Được học với trường lớp tốt và thầy giỏi, học trò phải giỏi đó là tất yếu. Hùng dư tất cả mọi thứ. Hạnh còn sành điệu cả xế hộp, cô lái chiếc bốn bánh đưa con đi học, đi giao dịch, vợ chồng cùng đi nhà hàng vân vân và vân vân. Sự dư thừa luôn làm con người thoải mái và hạnh phúc.

Thật vậy không?

Không. Cũng có cái dư làm người ta âu lo và mệt mỏi.

Cái gì vậy?

Xin thưa, đó là phân heo.

***

Chả có cái hầm chứa nào nuốt nổi lượng chất thải lúc cao điểm. Heo mà bắt đầu từ năm mươi kí đi lên, chúng ăn, ngủ và vệ sinh thôi thì khỏi nói. Cái bao tử tạo bioga không thể nào tiếp nhận được, và cũng đừng nghĩ mở rộng nó cho tốn tiền. Phải tìm cách khác. Hùng tậu năm chiếc xe đẩy cầm tay, lượng dư thừa được tập trung vào một góc của thửa đất. Nhân công sẽ đóng vào bao khi đã được nắng làm cho khô, những mối lái rau củ quả sẽ cho chúng làm mầu mỡ đất đai của họ.

Điều kiện nầy cũng chỉ giúp vào những tháng mặt trời làm chủ. Mùa mưa đến, bên phân tươi, bên tuôn ra từ bờ tràn hầm bioga. Vấn nạn nầy khiến ông chủ phải giảm lượng heo nuôi. Từ năm trăm cho mùa nắng gió còn lại một trăm cho bão bùng. Hùng phải mở cống cho tất cả từ tươi đến hoai tuôn ra suối. Tất nhiên nước sẽ cuốn, dù chậm nhưng vẫn trôi. Nhìn phân heo lờ đờ chảy cư dân sống nhờ vào con suối mệt mỏi gấp tám lần Hùng. Cái mà ai cũng hãi không phải phân đâu nghe, nó sẽ trôi, chắc chắn vậy, nhưng có cái đứng lại, đó là ruồi và cái mùi đặc trưng của nó.

Khi hồ chứa hình thành, nước tích lại tạo một cảnh quan tạm gọi là. Mấy tay có đất kề bên hồ lợi dụng thời cơ dựng nên những quán cà phê sân vườn đẹp không thể chê. Thử hỏi ngồi trong một cái phum lợp lá, ngắm người đẹp đạp xuồng trên hồ hái rau muống thì còn chi thơ mộng hơn hỡi trời đất? Khách đến thôi thì nườm nượp, để lôi kéo, quý ông bà chủ liền trí trang cho quán mình những hòn giả sơn có róc rách nước chảy, có tiên ông chơi cờ, lại thêm vài chậu chiếu thuỷ, mai vàng cho thêm phần thanh nhã. Có vậy mới lột tiền của khách tham quan.

Đặc sản của miền hồ nước nầy là bánh tráng me.  Ngoại trừ chăn nuôi và đồng áng, nông nhàn người ta còn tráng bánh  bỏ mối kiếm thêm. Mấy cái quán bên bờ hồ còn sáng chế ra nước mắm me chua ngọt tuyệt hảo. Nam thanh nữ tú và tụi trẻ trẻ vừa nhai bánh vừa đấu láo cũng thú vị lắm. Nhưng những cái quán ấy đã không một phương kế nào kéo được khách bởi ruồi và trìu trịu mùi ămmôniắc. Tất cả đều phá sản, đành phải cho mái lá lụi tàn theo năm tháng. Và ai cũng bực bội vì cái trang trại heo công nghiệp của vợ chồng Hùng Hạnh. Bực thì bực vậy chứ ai làm gì được ai? Bởi một lẽ rất giản đơn tôi chăn nuôi thì có tội chi? Còn ruồi hay cái mùi của nó thì phải chấp nhận. Đúng không? Đúng hay không thì trại heo đã yên vị rồi, và ông chủ của nó đang nên và ra nhờ nghiệp nầy. Có ai đang hưng thịnh mà chuyển đổi sang hình thức khác không? Chắn chắn không.

 

Hùng có nghe những ta thán của xung quanh về mình không? Sinh hoạt của gia đình anh có bị ảnh hưởng như bọn dân đen không? Sao lại không. Nhưng phải biết khắc phục chứ. Ông nhà nước kéo điện cho ta làm chi vậy kìa? Hùng xây dựng căn nhà hai tấm bê tông của mình kín bưng, muốn ấm lạnh đã có máy điều hoà. Và ai cũng biết rằng những căn phòng có máy lạnh chả một mùi vị nào xen vô được nói chi ruồi. Còn thiên hạ ta thán ư? Kệ họ chứ, nói thì chả làm ai chết cả.

Và ngữ dân đen thấp cổ bé họng nghèo mướt vài mươi hộ liền kề bên trại heo chả ai không dính dấp ân oán nghĩa nhân với Hùng, không cá thì heo, mười thì hết chín đã nấu ăn bằng bioga. Thì họ cũng có ong ve đôi câu trong những quán cà phê, cũng bàn về ô nhiễm. Có thằng phê ba xi đế vô cũng văng tục chửi thề rằng:

– Nó ỷ thế cha chú anh trai là cán bộ bự… Bà cha nó…

– Thôi mày ơi… Cả cái uỷ ban xã nầy còn điếc không nghe, đui không thấy bọn mình nghĩa địa gì?

– Mấy ông xã tuốt ngoài nầy làm chi biết ruồi hay mùi kít heo?

– Mẹ… mày không biết những lúc gió mạnh hay xả chuồng, mùi của nó bay tuốt ra tận đây luôn đó con… thúi cự kì. Tao cũng không hiểu vậy rồi vợ chồng thằng Hùng có bị ảnh hưởng không? Hay là ngửi riết rồi ghiền luôn.

– Vợ chồng con cái nó trong phòng lạnh thì biết cái khỉ khô gì?

Vậy là thôi. Vậy là hết. Và tất cả cứ theo cái guồng đã có mà chạy, việc của Hùng Hùng làm, ai nói chi cứ nói. Dân đây kể cũng hiền, gặp xứ khác họ kiến nghị lên trên chứ không chơi. Đâu có thể vì quyền lợi cá nhân mà anh làm ảnh hưởng đến môi trường sống của kẻ khác được. Đúng không?

Thực ra đời chả ai hiền hậu hay dữ dằn chi. Cái gì phải thì thôi, không phải dễ gì yên. Sao lại không đơn từ và kiến nghị. Mấy tay già từng thụ ơn Hùng, không ra mặt nhưng cũng xúi bầy trẻ. Kẹt cái đơn lên tới xã là đứng lại. Bực quá đơn vượt cấp bay lên huyện, huyện đưa về cho xã giải quyết. Ba cái vặt vảnh heo qué thì có gì mà mấy anh không làm được? Xã cũng cho người vào tận trại chăn nuôi, vào rồi ra… Riết rồi mệt quá xá vụ đơn từ. Người ta con quan, cháu quan, em quan. Lại quan bự tuốt ở trển. Dân đen gật gù và cười rằng con kiến kiện củ khoai, không phải khùng mà là ngu. Ngu tợn.

Nhưng sự đời đâu đơn giản. Nếu ông cha vì nể nang ân ngãi và kém hiểu biết mà cho qua. Bầy trẻ lớn lên thì khác. Cái thời mong cơm no áo ấm qua rồi. Bây giờ ăn ngon mặc đẹp, đẹp phải thơm. Em yêu anh thiệt mà về nhà anh nghe mùi cứt heo là em ói. Ói anh luôn. Bầy trẻ có học cùng bầy ăn nên làm ra ở những công ty thời hội nhập, sành lắm văn minh tin học. Chúng lên gu gồ và biết mình phải làm chi. Vậy là đơn từ có quy cũ được ký bởi gần trăm chủ hộ được tống lên trên chỉ một yêu cầu duy nhất làm trong sạch môi trường. Cái đơn ấy – như bao lần đã qua – cũng quay về xã cũng lọt vào tay vợ chồng Hùng Hạnh, nhưng lần nầy nghiêm trọng hơn. Nếu Hùng không khắc phục thì chả một bàn tay nào che được. Khắc phục ư? Cũng có chi đâu khó. Một là Hùng phải dời trại vào thâm sơn, tách biệt hẳn với dân cư. Nhưng sơn đâu nữa mà thâm với sâu. Hai là dẹp trại.

Dẹp ư?

Hạnh đọc lá đơn rồi lên chiếc Liberty chạy đến nhà thằng chủ xị lá đơn.

Thằng kể cũng yêng hùng, nó kí và ghi rõ họ tên: Nguyễn Văn Tài.

***

Nguyễn Văn Tài là con trai út của Tám Phát. Gia đình nầy chỉ duy Tài tạm gọi có chút đỉnh hiểu biết. Nguyên nhân là cả chục năm sau thống nhất hắn mới ra đời. Tài không hề bị cái phốt cha nguỵ quyền mà ảnh hưởng. Kẹt cái học hành dỡ ẹc, kiểu lên lớp do chỉ tiêu nên đâu có tốt nghiệp nổi mười hai. Tuy nhiên với đời Tài nhanh như tép. Nếu thiên hạ lấy câu nhất thân nhì thế để lên hương thì Tài có hai chữ mánh mung để xài. Thoắt ẩn thoắt hiện như ma, Tài dư sức nuôi cha già ăn ngon mặc đẹp. Tài yêu cha lắm. Sau bẩy năm cãi tạo, thêm một năm mới lại hồn người, phải chi thôi thì bà Tám đâu có mất mạng. Sanh Tài thì bà má bị băng huyết nên đi luôn. Tám Phát và bầy con gái xúm vô cho Tài bú thép. Vậy nên Tài quý cha lắm. Ranh ma đâu với đời chứ về nhà thì Tài đúng là đệ nhất hiếu tử.

Lúc Hạnh đến. Cổng mở nên cô cho Liberty chạy một mạch vô sân. Tài cùng với một trai trẻ khác đang chén bạn bè bên một bàn trà. Thấy Hạnh, Tài hơi ngạc nhiên:

– A… Chào chị Hạnh… Ô… đúng là rồng đến nhà tôm. Mời chị ngồi.

Hạnh hỏi sau khi yên vị:

– Có chú Tám ở nhà không em?

– Có chị ạ. Ba tôi đang sau vườn. Để em gọi. Chị uống nước… Giới thiệu với chị đây là Hoàng, bạn tôi, anh ấy là phóng viên của báo X.

Tài nhấn mạnh hai từ phóng viên ra cái vẻ liệu đấy mà đối phó:

– Có chi chị nói với tôi cũng được vậy.

– Chị có chuyện riêng muốn gặp chú Tám.

Có chi khó chuyện gặp. Vậy là Hạnh được mời vào nhà. Tám Phát đích thân tiếp khách, cả hai trò chuyện đâu chừng nửa tiếng rồi với một gương mặt lành lạnh bà chủ trại heo ra về.

Việc Hạnh đến nhà Tài, đâu thoát mắt dân tình. Họ thầm thì trong cà phê cóc rằng:

– Tao biết mà… Thằng Tài mánh mung ghê lắm, nó đi thu thập chữ kí của bọn mình chẳng qua để làm tiền vợ chồng Hùng Hạnh thôi. Chắc chắn là mụ Hạnh sẽ nhét tiền vào họng cha con Tám Phát, nếu không sao lá đơn đã hai tháng mà không tăm dạng, đúng không?

Nghe qua cũng có lý lắm nghe. Nếu không tại sao mọi chuyện lại đi vào yên lặng? Rõ ràng nén bạc ném toạc tờ giấy. Xưa nay ai chẳng lấy tiền làm trọng và cha con Tám Phát đâu phải thánh mà không cần tiền. Có tiền Tám cũng chơi phòng máy lạnh xịt nước hoa chứ sợ gì ai. Và cái thằng đó – thiên hạ nói – bộ tưởng sau bảy năm cãi tạo là xong hả? Không dám đâu nó còn phải học bài dài dài. Còn dân đen như mình hả? Ráng chịu đi con, chừng nào… chết là hết thôi.

Và rồi thiên hạ thở dài khi thầy trại heo vẫn bình chân như vại.

***

Nhưng Hùng cũng thở dài không kém dân đen. Như bao lần khác anh thả vào mùa mưa lũ một trăm chú. Nhưng dịch tụ huyết trùng đã chén sạch bầy heo. Để giải quyết hàng trăm con heo một lần không phải chuyện đơn giãn, Không một loại thuốc nào ngăn chận sự lây lan của bệnh.  Hùng phải thuê một xáng cạp móc một hố sâu như địa ngục thả bọn tử vì tụ huyết rồi lấp lại sau khi đã đổ cả tấn vôi bột để sát trùng và phòng lây lan.

Mùa nắng lên Hùng lại thả cả năm trăm chú sau năm tháng cho chuồng ngơi nghĩ. Sau một tháng rưởi bầy lợn bình yên, tròn lẵn, mỗi chú tròm trèm năm mươi cân chứ không ít. Vậy mà trời không dung Hùng nữa rồi, cái đại hoạ tai xanh cũng cấp kì không kém tụ huyệt trùng. Cả bầy lây lan đến chóng mặt. Chúng ngã ra mà chết hằng loạt. Lần nầy buộc phải đốt. Đốt ở đâu?  Hùng phải vào tận trong sâu, nơi khu vự khai thác đá xây dựng, thuê một địa điểm thật xa rồi thả xuống mà đốt. Xong phải thuê máy cày lấp đất lại, và đất để lấp cũng phải mua mới có.

Hùng hoảng hốt thật sự.

Dân đen bất chiến tự nhiên thành. Ở cà phê cóc lại tiếp tục đấu láo: Cám ơn cái tụ huyết trùng và heo tai xanh, không có nó bọn mình xanh cỏ sớm.

      Nguyễn Trí