ĐỂ MẶC CHO ĐỜI

Tác giả: Alice Munro

Nguyên tác: To Reach Japan

Người dịch: Nguyễn Đức Tùng

Khi Peter đã mang xong hành lý của cô lên xe lửa, dường như anh muốn bước ra xa. Nhưng không phải bỏ đi. Anh giải thích với cô rằng anh hơi khó chịu vì đoàn tàu sắp rục rịch chuyển bánh. Đứng trên sân ga nhìn lên cửa sổ toa tàu của họ, anh vẫy tay. Mỉm cười, vẫy tay. Nụ cười dành cho bé Katy rộng mở, tỏa nắng, như thể anh tin, không chút nghi ngờ, rằng con gái của anh luôn kỳ diệu đối với mình, cũng như anh với nó, như thế mãi. Nụ cười dành cho vợ đầy hy vọng và tin tưởng, với vẻ xác định mạnh mẽ. Đôi khi có những việc không thể nói thành lời, chẳng bao giờ nói được. Nếu Greta có lần nào nhắc đến điều ấy, anh sẽ nói, Đừng có điên. Và cô sẽ đồng ý với anh ngay, nghĩ thật không tự nhiên đối với những người gặp nhau hằng ngày, mọi lúc, mà còn đi giải thích dài dòng về mấy chuyện lặt vặt.

Khi Peter còn bé, mẹ anh đã mang anh qua nhiều rặng núi mà Greta không nhớ tên, trên đường chạy trốn khỏi nước Tiệp Khắc xô viết cũ, đến Tây Âu. Tất nhiên có nhiều người khác nữa. Cha của Peter, mới đầu dự định sẽ đi cùng họ nhưng hôm trước chuyến đi bí mật, ông bị chuyển đến viện điều dưỡng. Ông muốn đi theo họ một khi khoẻ lại, nhưng ông đã chết.

“Em đã đọc những chuyện tương tự như thế”, Greta nói, khi lần đầu Peter kể cho cô nghe chuyện của anh. Cô giải thích rằng trong những chuyện ấy đứa bé bắt đầu khóc thét lên và nó sẽ bị người ta bóp miệng hoặc bóp cổ để cho không có tiếng động nào làm nguy hiểm cả đoàn người chạy trốn.

Peter nói anh chưa bao giờ nghe mấy chuyện như thế và anh chẳng phẩm bình gì việc mẹ anh sẽ làm sao trong tình huống như vậy.

Điều bà đã làm là tới được British Columbia, nơi bà học thêm tiếng Anh và xin được một chân dạy cho học sinh trung học, một môn gọi là thực hành doanh nghiệp. Bà một mình nuôi dạy Peter, cho anh học đại học, và bây giờ anh trở thành kỹ sư. Khi bà đến căn hộ của hai người, rồi sau đó là nhà, bà lúc nào cũng ngồi ở phòng khách, không bao giờ xuống bếp, trừ khi Greta mời bà. Đó là phong cách của mẹ Peter. Bà tránh nhận xét. Tránh lưu tâm, không đường đột đi vào, không gợi ý, mặc dù trong mọi việc nội trợ hay nghệ thuật bà đều giỏi giang hơn đứa con dâu của mình.

Bà đã bán căn hộ nơi Peter lớn lên và dời vào một căn nhỏ hơn, không có phòng ngủ, chỉ có một phòng với chiếc ghế dựa có thể kéo ra làm giường. Vậy là anh không thể về nhà thăm mẹ được rồi? Greta trêu chọc bà, nhưng bà giật mình. Sự hài hước làm bà đau đớn. Hoặc có thể là vấn đề ngôn ngữ. Nhưng tiếng Anh là thứ tiếng bà dùng hàng ngày và đó cũng là ngôn ngữ duy nhất mà Peter biết. Anh đã học môn thực hành doanh nghiệp – dù không phải từ mẹ mình – vào lúc Greta học Thiên Đường Đã Mất (1). Cô tránh tất cả những thứ gì có ích như tránh bệnh dịch hạch. Còn anh ngược lại.

Có một tấm gương ở giữa họ ngăn cách họ, và Katy không ngừng vẫy tay với anh, họ nhìn nhau trìu mến. Cô nghĩ anh chàng quá sức đẹp trai, làm sao anh không bao giờ biết về điều ấy cả. Anh mặc một cái áo cắt ngắn, đúng thời trang – đặc biệt nếu như đó là một chàng kỹ sư – với màu da sáng nhưng không bao giờ ửng hồng lên như da của cô, không bao giờ sạm đi vì ánh mặt trời, nhưng có một màu ăn nắng đều đặn của các mùa.

Ý kiến của anh đối với chuyện này chuyện khác cũng hệt như màu da của anh vậy. Khi họ đi coi phim, anh chẳng bao giờ nói gì sau đó cả. Anh có thể nói đó là phim hay, hoặc rất hay, hoặc coi được. Anh dường như không thấy có chuyện gì nói thêm nữa. Anh coi ti-vi, đọc một cuốn sách hay một cái gì đó cũng tương tự thế. Anh là người kiên nhẫn với những thứ ấy. Người ta thường cố gắng làm điều đó một cách tốt đẹp. Greta thì tranh cãi và hỏi thử rằng liệu anh ta có nói giống mình không về một chiếc cầu. Người ta đã làm hết sức mình rồi, em ạ, nhưng điều tốt đẹp nhất của con người vẫn chưa đủ tốt, vì vậy chiếc cầu kia đã gãy và rơi. Thay vì tranh cãi, anh cười phá lên.

Mấy thứ đó không giống nhau, anh bảo.

Không?

Không.

Greta nhận ra rằng thái độ như thế – bao dung, tự tách mình ra khỏi chuyện rắc rối – thật ra là một may mắn với cô, bởi vì cô là nhà thơ, và những thứ trong thơ cô lại chẳng có cách nào có thể gọi là vui thú hay giải thích được.

(Mẹ Peter và những người làm việc với anh – những người biết rõ anh – vẫn gọi cô là nữ thi sĩ (2) . Cô đã dặn anh đừng gọi cô thế. Ngoài ra chẳng có chuyện gì cần phải chỉ bảo anh cả. Những người bà con mà cô không bao giờ gặp lại trong đời mình, và những người cô biết thì bây giờ đều trở thành vợ hoặc mẹ, những người nội trợ, họ chẳng cần ai chỉ bảo dạy dỗ vì họ chẳng biết gì mấy thứ ấy.)

Sau này, khi cô nhớ lại, thật khó giải thích tại sao lúc ấy cái này lại đúng, cái khác thì không. Bạn có thể nói, ồ, nhưng chủ nghĩa nữ quyền thì không. Nhưng bạn liền giải thích nữ quyền không phải là một chữ hồi đó được dùng. Rồi bạn phải nói ngắn gọn rằng chỉ cần một ý tưởng nghiêm túc thôi, chưa nói tham vọng này khác, hay ngay cả đọc một cuốn sách thực sự, cũng trở thành kẻ đáng nghi, biết đâu chẳng vì thế mà con của bạn mắc chứng viêm phổi do bị bỏ bê, và một nhận xét chính trị trong bữa tiệc văn phòng có thể làm chồng bạn mất cơ hội thăng tiến. Bất kể bạn đứng về phe nào. Nếu là phụ nữ, hễ bạn mở miệng ra có chuyện. Người ta sẽ cười bảo, Ồ, bạn nói giỡn chứ, và bạn phải trả lời, À, cũng không đến nỗi tệ hại thế. Rồi bạn thêm, dù vậy, nếu làm thơ thì phụ nữ an toàn hơn đàn ông. Có một thời danh hiệu nữ thi sĩ được dùng thoải mái, dễ như ăn món tráng miệng xay đường vậy. Peter không cảm thấy thế, cô nói vậy, nhưng bạn cần nhớ anh sinh ở châu Âu. Mặc dù anh hiểu tại sao cánh đàn ông đồng sự có lối suy nghĩ thành kiến như thế.

Mùa hè năm đó, trong vòng một tháng hoặc lâu hơn, Peter phải đi coi sóc công việc ở Lund, rất xa, trên đất liền, xa lắm về phía Bắc. Tại đó, không có phòng ở cho Katy và Greta.

Nhưng Greta vẫn giữ liên lạc đều với bạn gái, một người có thời làm việc chung trong thư viện Vancouver, nay đã lập gia đình và đang sống ở Toronto. Cô ấy và chồng sẽ đi du lịch châu Âu một tháng hè – anh ấy là thầy giáo – và cô đã viết thư cho Greta hỏi là liệu Greta và gia đình có vui lòng – lời lẽ lịch sự – tới sống trong nhà của họ ở Toronto vào khoảng thời gian ấy không, để cho nó khỏi trống vắng. Greta viết thư trả lời, kể cho bạn nghe về công việc của Peter, vẫn ngỏ ý muốn đến ở nhà bạn, chỉ hai người, mình và Katy.

Vì thế giờ đây gia đình họ kẻ vẫy tay từ biệt trên toa tàu, người thì vẫy dưới sân ga.

Thời ấy có một tạp chí, tên Những câu trả lời vang vọng, xuất bản không đều ở Toronto. Greta tìm thấy nó trong thư viện và gởi đến toà soạn vài bài thơ của mình. Hai bài thơ của cô được in, kết quả là khi người biên tập của tạp chí đến Vancouver, mùa thu vừa rồi, Greta đã được mời đến dự tiệc với nhiều cây bút khác, để gặp ông ta. Bữa tiệc được tổ chức tại nhà của một nhà văn mà tên tuổi rất quen thuộc với cô. Tiệc tổ chức khi chiều muộn, Peter đi làm chưa về, vì vậy Greta thuê một người coi em và lên xe buýt từ Bắc Vancouver, qua cầu Sư Tử (3) xuyên công viên Stanley. Rồi cô phải đợi ở vịnh Hudson để đáp một chuyến xe dài nữa tới khuôn viên đại học, nơi nhà văn kia cư ngụ. Xuống xe buýt ở trạm cuối, cô tìm thấy đường vào và vừa đi vừa nhìn số nhà. Cô mang giày cao gót nên bước chậm. Cô mang áo đầm đen cầu kỳ, dây kéo sau lưng, may thắt ở eo, lúc nào cũng siết chặt ngang hông. Cái áo làm mình thật kỳ quặc, cô nghĩ thầm, trong khi khập khiễng bước dọc theo đường vòng không có lề đường, người bộ hành độc nhất trong chiều tà. Những căn nhà hiện đại, những cửa sổ có tranh, như thường thấy ở ngoại ô sang trọng, không phải là xóm nhà cô tưởng. Cô bắt đầu tự hỏi liệu mình có đi lạc không đây, và không khổ sở lắm khi nghĩ là chuyện ấy đang xảy ra. Cô có thể vòng lại trạm xe buýt và nghỉ trên băng ghế dài, có thể kéo tuột đôi giày ra và ngồi thong thả trên xe buýt suốt chặng đường trở lại nhà mình.

Nhưng rồi cô thấy những chiếc xe hơi đỗ bên đường, thấy số nhà, đã quá trễ để quay lại. Trong nhà đầy tiếng cười nói vọng ra sau lần cửa đóng, cô phải rung chuông hai bận.

Một người phụ nữ ra đón nhưng trông bà ta dường như đang chờ một người nào khác, cũng không tỏ vẻ chào mời- người đàn bà chỉ mở cửa và Greta bảo rằng có lẽ đây là nơi có tiệc.

“Nhưng bữa tiệc đó ra sao?” Người đàn bà hỏi, và hơi nghiêng mình bên khung cửa, vẫn đứng chắn lối đi, cho đến khi Greta nói, “Tôi có thể vào nhà được không?” và bỗng có một cử động bất thần làm cô đau đớn. Bà ta không bảo Greta đi theo mình nhưng Greta vẫn cứ đi, mặc kệ.

Không ai trò chuyện với cô, không ai để ý tới người mới đến, nhưng chỉ một lát sau có một cô bé đi tới với cái khay trên đó có những ly đựng thứ nước kiểu chanh đường màu hồng hồng. Greta cầm ly lên, uống ực một phát, và lấy thêm ly nữa. Cô cám ơn con bé, cố gắng trò chuyện với nó về cuộc đi bộ dài nóng nực, nhưng nó chẳng quan tâm, quay người đi làm bổn phận của mình.

Greta tiếp tục. Cô kiên nhẫn mỉm cười. Không ai nhận ra hay tỏ ra vui vẻ với cô, mà cũng đúng, tại sao họ phải làm thế. Cái nhìn của mọi người lướt qua người cô và rồi lại tập trung vào câu chuyện rôm rả của mình. Họ cười nói. Mọi người trừ Greta đều có bạn, có chuyện đùa, có những bí ẩn riêng tư, ai cũng có vẻ đang có người khác chào đón họ. Trừ những cô bé lượn đi lượn lại mang những ly hồng hồng.

Cô không nản. Những ly nước làm cô quyết chí và cô quyết định uống thêm ly nữa khi cái khay trờ tới bên cạnh. Cô quan sát một nhóm người đang trò chuyện, nhận ra có một kẽ hở, nơi cô trượt ngay vào. Cô gần như tìm thấy được một cái kẽ hở như thế khi cô nghe một người nào đó nhắc tên cuốn phim. Những cuốn phim châu Âu bắt đầu được chiếu ở Vacouver thời ấy. Cô nghe một cái tên mà cả cô và Peter từng coi. Bốn Trăm Ngọn Gió. “Ồ, tôi đã coi phim đó rồi.” Cô cất tiếng khá lớn và nồng nhiệt khiến ai cũng quay lại nhìn, một người, có vẻ nhân vật chính, nói, “Thế à?”

Greta rõ ràng say. Một loại rượu vang và nước bưởi hồng hồng trộn nhau uống vội. Cô không uống bình thường. Cô biết mình say, nhưng cảm thấy trong không khí thế này mọi thứ đều được phép, cũng không quan trọng gì nữa chuyện có ai chịu làm quen hay không. Cô đi lòng vòng, thỉnh thoảng đưa ra nhận xét này nọ.

Có một nhóm người ở bên vòm cửa có vẻ quan trọng. Trong số đó cô nhận ra người chủ nhà, nhà văn mà tên tuổi và khuôn mặt cô biết khá lâu. Ông ta nói lớn tiếng, câu chuyện lộn xộn, có tính chất nguy kịch bao quanh và những người đàn ông khác nữa, như thể họ sẵn sàng ném vào mặt bạn sự tức tối. Vợ của họ, cô tin thế, đứng bao quanh thành vòng tròn mà cô muốn xông qua.

Người đàn bà ra mở cửa cho cô không tham gia nhóm nào nhưng là một nhà văn. Greta thấy bà quay đầu lại khi có ai đó gọi tên. Đó là tên một người có bài trên tạp chí mà cô có thơ đăng. Trong một hoàn cảnh thế này liệu người ta có nên đứng lên tự giới thiệu không? Một cú trả đũa cho thái độ lạnh lùng ở cửa?

Nhưng bây giờ nhà văn nữ ấy đang bận cúi xuống vai người đàn ông gọi mình và rõ ràng họ không thích gì chuyện bị cắt ngang.

Nghĩ thế Greta liền ngồi xuống, nhưng vì không có ghế, cô đành ngồi bệt xuống sàn. Cô nghĩ ngợi. Cô nghĩ rằng khi đi với Peter tới những bữa tiệc của kỹ sư, không khí ở đó vui nhộn nhưng các cuộc trò chuyện chán ngắt. Là bởi mọi người đều biết sự quan trọng của mình và đều an tâm với sự thu xếp ấy. Ở đây, không ai được an toàn như thế cả. Sự phán xét xảy ra sau lưng bạn, ngay với những nhà văn danh tiếng, đã có sách xuất bản. Một khí hậu trí tuệ và lo âu, bất kể bạn là ai.

Và ở chốn đây, cô ngồi đợi ai đó ném cho mình mẩu xương của đề tài đặng mà bắt lấy.

Rồi cô xây dựng một lý thuyết về sự tức giận, và khi có nó trong tay, lòng liền dịu lại, chẳng quan tâm gì nữa chuyện có ai them bắt chuyện hay không. Cởi giầy ra, cô hoàn toàn thư thái. Cô ngồi trên sàn nhà dựa hẳn vào tường, chân duỗi thẳng chắn lối đi hẹp của bữa tiệc. Cô không muốn rượu đổ lên thảm, nên nốc cạn hết một hơi.

Một người đàn ông tới đứng ngay trước mặt cô, anh bảo, “Cô bạn tới đây bằng cách nào?”

Cô cảm thấy tội nghiệp cho những bàn chân chụm lại của anh ta. Cô cảm thấy tội nghiệp cho ai đó phải đứng lên. Cô trả lời cô được mời.

“Đúng rồi. Nhưng bạn tới đây bằng xe hơi của mình à?”

“Tôi đi bộ.” Nói thế chưa đủ, ngần ngừ một lát cô thêm.

“Tôi tới bằng xe buýt rồi đi bộ vào đây.”

Một người đàn ông ở trong nhóm những người bao quanh nhân vật chính nay tới đứng sau lưng anh chàng mang giày kia. Anh ta bảo, “Ý tưởng tuyệt vời”. Và tỏ vẻ sẵn lòng trò chuyện với cô.

Người đến trước không chú ý đến cô gái lạ mặt này. Anh ta đem đôi giày của Greta lại, nhưng cô từ chối, giải thích chân cô đau lắm.

“Hãy mang giày vào. Nếu không tôi sẽ tự mình mang cho cô đấy. Cô đứng lên được chứ?”

Cô nhìn quanh tìm kiếm người đàn ông quan trọng kia, nhưng ông ta không còn ở đó. Bây giờ thì cô bắt đầu nhớ lại những trang viết của ông ấy. Một vở kịch về Doukhobor, đã gây nhiều dư luận, bởi vì những nhân vật phải khoả thân. Tất nhiên đó không phải là những người Doukhobor thật, họ là các diễn viên. Và tất nhiên họ không được phép tuột áo quần ra.

Cô cố gắng giải thích điều này cho anh chàng đến sau đang giúp cô đứng dậy, nhưng anh ta chẳng chú ý tới vụ vở kịch. Cô hỏi là anh viết cái gì, anh trả lời rằng anh không phải là nhà văn, chỉ là một ký giả. Anh tới đây với đứa con trai và đứa con gái, cũng là những cháu ngoại của chủ nhà. Những đứa trẻ ấy đang mang thức uống đến cho mọi người.

“Thứ đồ uống chết người”, anh ta nói, ám chỉ những ly rượu. “Dở thậm tệ.”

Bây giờ thì họ đã ở bên ngoài. Cô bước đi chân mang vớ nhưng không giày trên cỏ, suýt nữa dẫm phải một vũng nước.

“Có ai đó đã đổ nước ra đây,” cô bảo.

“Chắc thế,” anh nói, đưa cô vào trong xe. Không khí bên ngoài làm thay đổi tâm trạng cô, từ hứng khởi đến ngượng ngùng, gần như xấu hổ.

“Bắc Vancouver,” anh nói. Chắc là cô đã từng nói với anh thế. “Phải vậy không? Chúng ta sẽ đi. Cầu Sư Tử.”

Cô hy vọng anh không hỏi cô đã làm gì ở buổi tiệc. Nếu cô phải nói rằng mình là một nhà thơ thì tình trạng hiện nay của cô, sự nhõng nhẽo quá đáng, sẽ được coi là thói tệ hại tiêu biểu. Trời chưa tối, nhưng chiều muộn. Họ dường như đang chạy đúng hướng, dọc theo bờ nước qua cầu Burrad. Rồi nhiều lối rẽ nữa. Cô mở lớn mắt nhìn những hàng cây chạy dọc đường, nhắm mắt lại, không phải cố ý. Khi xe dừng lại sớm, cô biết rõ họ chưa về tới nhà. Tức là nhà cô. Có những tàn cây lớn ở trên đầu họ. Không thể thấy một ngôi sao nào cả. Nhưng chúng chiếu xuống mặt nước, làm nước sáng lên ở khoảng giữa nơi họ ngồi và quầng sáng đô thị.

“Hãy ngồi xuống và suy nghĩ”, anh bảo thế.

Cô thấy lòng tràn ngập niềm vui vì một chữ của anh.

“Suy nghĩ.”

“Làm sao cô có thể đi bộ về nhà, ví dụ thế. Làm sao xử sự đúng mức?

Đừng liều mạng. Thản nhiên? Tôi đoán chừng cô có một ông chồng.

“Tôi sẽ cám ơn ông vì chở tôi về nhà,” cô nói. “Vì vậy ông nên cho tôi biết tên ông là gì thì hay hơn.”

Anh bảo đã nói tên mình cho cô rồi. Có thể hai lần. Nhưng một lần nữa cũng không sao. Tên Harris Bennett. Bennett. Anh là con rể của cặp vợ chồng tổ chức buổi tiệc. Những đứa trẻ kia là con của anh, những đứa đi mời thức uống. Anh và chúng đến thăm gia đình từ Toronto. Vậy đủ chưa?

“Thế mẹ chúng đâu?” cô hỏi.

“Bọn trẻ có mẹ chứ, nhưng cô ấy ở trong bệnh viện.”

“Ồ tôi xin lỗi.”

“Không cần đâu. Đó là một bệnh viện khá tốt. Chuyên chăm sóc các bệnh tâm thần. Hay cô có thể nói các bệnh xúc cảm.”

Greta vội vàng nói cho anh nghe rằng chồng mình tên Peter và anh ấy là kỹ sư, và họ đã có với nhau một đứa con gái tên Katy.

“Ồ, thật tốt,” anh nói thế, và thôi không trò chuyện với cô nữa.

Ở trên cầu Sư Tử anh bảo, “Tôi xin lỗi đã nói năng như vậy. Có lúc tôi nghĩ không biết có nên hôn cô hay không, nhưng rồi tôi quyết định là không nên.”

Cô nghĩ, tức là anh muốn nói ở người cô có một điều gì đó ngăn anh lại. Thật mất mặt, bỗng dưng trở thành nữ tu khổ hạnh.

“Bây giờ chúng ta qua cầu rồi, liệu có nên chạy về đường Marine không? anh tiếp tục. “Cô hướng dẫn tôi nhé.”

Suốt mùa thu và mùa đông và cả mùa xuân sau đó nữa không một ngày nào cô không nghĩ về anh. Giống như giấc mơ tới chỉ vài phút trước khi bạn ngủ thiếp đi. Cô ngả đầu lên gối trên ghế sofa, tưởng tượng đang tựa đầu vào tay anh. Bạn không tưởng tượng được là cô có thể nhớ như in khuôn mặt người đàn ông ấy. Nhưng cô nhớ từng chi tiết, nhớ khuôn mặt với những đường gân có vẻ mệt mỏi, hài hước kiểu người ở trong nhà. Không phải vì cơ thể bạc nhược, mà giống như một thứ bị hao mòn đi nhưng vẫn mạnh mẽ và đáng them khát khôn lường.

Cô gần như chảy nước mắt vì thương nhớ. Thế nhưng tất cả hoang tưởng kia liền rơi vào giấc đông miên một khi người chồng trở về. Tình cảm mỗi ngày giữa họ được thổi bùng lên, đáng tin cậy như bao giờ cũng thế.

Giấc mơ giống như thời tiết của Vancouver – một niềm thương xót bùi ngùi, một nỗi buồn mưa gió li ti, một sức mạnh luân chuyển vòng quanh trái tim ta.

Còn việc từ chối cái hôn, hình như một cú chơi không đẹp, cô biết phải làm sao đây?

Chỉ giản dị là triệt tiêu nó. Thôi đành quên, mãi mãi.

Nhưng còn thơ của cô? Không một dòng, không một chữ. Không dấu vết nào chứng tỏ cô còn nhớ đến chúng.

Tất nhiên cô dành cho những cơn nhớ nhung kia góc kín đáo trong tâm hồn, mỗi khi Katy đã ngủ. Đôi khi cô gọi lớn tên anh, liều ôm lấy nỗi xuẩn ngốc của mình. Sau đó cô lại phát ngượng, tự nguyền rủa mình. Đồ ngu. Xuẩn ngốc.

Nhưng chuyện tình cờ kia đến, công việc ở xứ Lund, lời đề nghị về căn nhà Toronto. Thời tiết âm u bỗng sáng ra, mở một lối cho nỗi đời táo bạo.

Cô bỗng nhận ra mình đang ngồi viết một bức thư, không phải bắt đầu một cách thông thường. Không có câu Harris thân mến. Cũng không bắt đầu như anh còn nhớ tôi không.

Em viết thư này như bỏ vào chai

Một tờ giấy, thế thôi, mơ ước

Sóng xô về nước Nhật một ngày mai

Bức thư này hơi giống một bài thơ.

Cô chẳng bao giờ biết địa chỉ người nhận. Cô đủ can đảm và thừa điên khùng để nhấc máy gọi điện thoại cho người tổ chức bữa tiệc. Nhưng khi đầu dây kia một người đàn bà trả lời thì miệng cô khô lại, há ra như vùng giá rét Bắc cực, và cô liền gác máy. Rồi cô lại đẩy xe chở bé Katy tới các thư viện công cộng và tìm được cuốn danh bạ điện thoại Toronto. Có nhiều cái họ Bennett nhưng không có người nào có tên Harris hay H. Bennett.

Cô nghĩ ra một ý tưởng điên rồ hơn, tìm kiếm trong các mục cáo phó, tin buồn. Cô không thể dừng lại được. Cô chờ đến khi một người đang đọc phiên bản thư viện đã xong. Cô không đọc các báo phát hành từ Toronto bởi cô phải đi qua cầu mới kiếm được chúng và Peter bao giờ cũng mang về nhà tờ Mặt trời Vancouver. Lật dở nhiều trang, cuối cùng cô cũng tìm thấy tên anh trên một cột báo. Nhưng anh không chết. Một nhà báo phụ trách chuyên mục. Tất nhiên anh không muốn người khác làm phiền bằng cách gọi về nhà riêng.

Nhà bình luận chính trị. Bài viết của anh tỏ ra sắc sảo, nhưng cô chẳng hề quan tâm tới chuyện ấy.

Cô gởi bức thư về toà soạn. Cô không biết chắc anh có tự mình mở các thư không, còn nếu cô ghi chữ “Thư riêng” lên phong bì thì có thể phiền hà, cuối cùng cô chỉ viết ngày đến Toronto, thời giờ chuyến xe lửa, sau mấy dòng nói về cái chai đựng giấy kia. Không có tên. Cô nghĩ nếu có ai mở ra, sẽ cho là có một người bà con già nua đâu đó viết lẩm cẩm. Chẳng có lời nào cụ thể về anh, ngay cả bức thư kỳ lạ kia có tới nhà anh và vợ anh có đọc được, sau khi cô ta từ bệnh viện về, thì cũng chẳng biết mô tê gì.

Rõ ràng Katy không hiểu việc Peter còn đứng trên sân ga có nghĩa là cha nó sẽ không đi cùng họ. Khi hai mẹ con bắt đầu di chuyển còn người cha thì không, và rồi khi tàu chạy nhanh lên bỏ lại người đàn ông một mình, con bé không còn chịu được nữa. Nhưng rồi nó dịu xuống, sau một lúc. Nó bảo Greta rằng cha sẽ tới cùng lúc với họ vào sáng hôm sau. Khi buổi sáng tới, Greta cảm thấy sợ hãi nhưng Katy không nói gì nữa về sự vắng mặt kia. Greta hỏi con có đói không, nó bảo có, giải thích cho mẹ – vì Greta đã từng bảo nó trước khi lên xe lửa, – rằng bây giờ họ phải thay đồ mặc ngủ ra, và chuẩn bị ăn sáng ở một phòng khác.

“Con muốn ăn gì đây?”

“Đậu chiên.” Đó là thứ gạo rang của trẻ con.

“Chúng ta sẽ xem trên tàu họ có thứ ấy không”

Họ có.

“Bây giờ mẹ con mình đi tìm cha chứ?”, cuối cùng con bé hỏi.

Có một phòng chơi của trẻ con nhưng khá nhỏ. Một đứa con trai và một đứa con gái – chắc là anh và em, bởi bộ dạng chúng giống nhau – chiếm mất rồi. Chúng chơi một trò đuổi chạy những chiếc xe hơi nhỏ va vào nhau. Ầm ầm.

“Đây là bé Katy,” Greta nói với chúng. “Cô là mẹ của nó. Tên của các cháu là gì đây?”

Trò chơi ngày càng ác liệt nhưng bọn trẻ không ngước mặt lên.

“Cha không có ở đây,” Katy bảo mẹ.

Greta quyết định hai mẹ con quay trở lại và tìm cho Katy cuốn Christopher Robin để mang lên toa có vòm kính (4) và đọc. Họ không muốn làm phiền ai vì bữa điểm tâm vẫn còn và cuộc ngắm cảnh núi non chưa bắt đầu. Rắc rối xảy ra khi cô đọc xong cuốn Christopher Robin và Katy muốn mẹ đọc lại ngay lập tức. Trong lần đọc đầu tiên con bé giữ im lặng, nhưng bây giờ nó bắt đầu ngắt lời vào cuối mỗi câu. Lần này nó bắt chước véo von chữ này chữ khác dù vẫn không tự mình đọc lấy. Greta hình dung điều này làm phiền người khác khi mọi người đến đông hơn. Vào tuổi Katy, trẻ con không biết sự đơn điệu là gì. Thực ra chúng rất khoái trò lặp đi lặp lại, nhào lộn trong ấy, liếm các chữ thân quen quanh lưỡi như thể đó là kẹo ăn được mãi.

Một chàng trai và một cô gái leo lên mấy bậc thang và ngồi đối diện Greta và Katy. Họ chào hai mẹ con với vẻ vui tươi và Greta đáp lời. Katy tỏ vẻ không hài lòng, tiếp tục đọc nho nhỏ trong khi dán mắt vào trang sách.

Từ bên kia lối đi, giọng của chàng trai, cũng nhỏ như giọng đọc của Katy:

Họ đổi phiên gác ở cung điện Buckingham –

Christopher Robin đi xuống cùng Alice.

Sau khi đọc xong mấy câu ấy cậu ta liền tiếp theo. “Tôi không thích chúng, Sam- là- tôi.”

Greta cười phá lên nhưng Katy thì không. Greta có thể thấy được là con gái hơi chướng mắt. Nó thông cảm với những chữ lăng nhăng vô nghĩa được đọc từ một cuốn sách nhưng không thích những chữ ấy được nói ra trống không như vậy.

“Xin lỗi,” chàng trai nói với Greta. “Chúng tôi là trẻ mầm non. Đó là văn học của chúng tôi.” Cậu ta nghiêng người về phía trước, trò chuyện một cách trang nghiêm và dịu dàng với Katy.

“Đó là một cuốn sách hay, phải vậy không?”

“Anh ta muốn nói là chúng tôi làm việc với những đứa trẻ mầm non,” cô gái đi theo chàng trai bảo Greta. “Đôi khi chúng tôi lẫn lộn lung tung.”

Chàng trai tiếp tục câu chuyện với Katy.

“Tôi có thể đoán được tên em không. Tên gì nhỉ? Có phải là Rufus không? Hay là Rover?”

Katy cắn môi nhưng không cầm được một câu trả lời bực tức.

“Tôi không phải là con chó,” nó nói thế.

“Không. Lẽ ra tôi không nên ngốc thế. Tôi là một chàng trai. Tên tôi là Greg. Cô này là Laurie.”

“Anh ta chọc ghẹo em đó mà,” Laurie nói. “Hay là chị nên đập cho hắn một cái?”

Katy ngẫm nghĩ một lúc, rồi bảo, “Không nên.”

“Alice sẽ cưới một chàng lính canh,” Greg tiếp tục, “Cuộc đời quân nhân thật gian khổ, Alice than thở.”

Katy nói chen vào ở chữ Alice sau của Greg.

Laurie bảo Greta họ đang tập huấn lớp mẫu giáo, tập các lối văn trào phúng. Việc đó gọi là tập đọc sách. Thật ra họ là những nghệ sĩ. Cô sẽ xuống ga ở Jasper nơi cô có một việc làm mùa hè chạy bàn trong tiệm ăn và đóng những hài kịch nhỏ. Không hẳn là công việc thực tập đọc sách. Môn giải trí người lớn, thật thế.

“Lạy Chúa” cô ta nói. Rồi cười phá lên. “Kiếm được việc gì thì làm”

Greg thoải mái hơn, và sẽ xuống ở Saskatoon. Gia đình anh ở đó.

Bọn họ thật xinh đẹp, Greta nghĩ thầm. Cao, rắn rỏi, mảnh mai một cách kỳ lạ, chàng trai có mái tóc xoăn màu sẫm, cô gái tóc đen, da thịt mỡ màng như Madonna. Khi Greta nói tới sự tương tự này một lát sau đó, bọn họ bảo là đôi khi họ cũng lợi dụng điều này, khi cần phải thu xếp chuyện ăn ở. Điều đó làm cho mọi việc không kết thúc dễ dàng hơn, nhưng họ phải nhớ để đặt hai giường ngủ và làm cho cả hai cái bừa bộn lên sau một đêm.

Và bây giờ, họ nói với Greta, bây giờ thì họ không cần phải lo lắng nữa. Không có gì làm họ bực mình. Họ đang chia tay, sau ba năm ở bên nhau. Họ vẫn còn giữ trinh tiết qua nhiều tháng, ít nhất là trong quan hệ giữa hai người với nhau.

“Bây giờ thì hết chuyện cung điện Buckingham,” Greg bảo Katy. “Bây giờ tôi phải làm bài tập của mình.”

Greta nghĩ thầm có lẽ anh ta sắp đi xuống phía dưới hoặc ít nhất là tới chỗ lối đi để làm một vài động tác thể dục mềm dẻo, nhưng thật ra chàng ta và Laurie chỉ ngẩng đầu ra sau, ưỡn cổ ra, và bắt đầu hót líu lo, kêu lảnh lói và hát những bài nhạc kỳ quái. Katy rất thích thú, coi đó là món quà tặng, như thể là một màn biểu diễn dành riêng cho mình. Nó bắt đầu tỏ vẻ là một khán giả đứng đắn – ngồi rất im cho đến khi bài tập kết thúc, rồi phá ra cười ngặt nghẽo.

Một số người tính đi lên bậc thang lại phải dừng lại ở chân thang, không vui vẻ được như Katy và không biết phải làm gì.

“Xin lỗi,” Greg nói, không giải thích gì cả nhưng với một dáng điệu thân mật. Chàng ta đưa tay ra cho Katy.

“Hãy tìm xem có một phòng chơi nào không.”

Laurie và Greta đi theo họ. Greta hy vọng rằng chàng trai này không phải là loại người tìm cách kết bạn với trẻ con để tự đánh giá khả năng giao tế của mình, rồi cảm thấy chán và bực mình khi nhận ra sự nhiệt thành của một đứa bé là vô tận.

Đến giờ ăn trưa hay trước đó, cô biết mình không cần phải lo lắng thế. Điều xảy ra không phải là sự thú vị đối với Katy làm Greg mệt mỏi, nhưng là những đứa trẻ khác tham gia trò chơi và anh chẳng tỏ ra mệt tí nào.

Thật ra Greg không cố tình bày trò thi đua. Anh sắp xếp mọi việc sao cho sự chú ý của mọi đứa bé tập trung vào anh chuyển thành sự chú ý của bọn trẻ đối với nhau, và vào trò chơi, sống động, thậm chí ồn quá mức, nhưng cũng không ngỗ nghịch quá đáng. Không có đứa trẻ nào tỏ ra tức tối. Những trò nhõng nhẽo biến mất. Chỉ tiếc không đủ thì giờ – quá nhiều trò vui tiếp tục. Thật là phép lạ, thói nghịch ngợm trẻ con đã được dàn xếp gọn gàng trong không gian nhỏ hẹp. Bọn trẻ chơi đùa nhiều như thế sẽ ngủ giấc say vào buổi chiều.

“Anh ấy thật tuyệt,” Greta bảo Laurie.

“Gần được như vậy,” Laurie nói. “Anh ấy không sợ phí sức lực. Chị biết không? Rất nhiều nghệ sĩ tiết kiệm sức lực của họ. Đặc biệt các diễn viên. Ra khỏi sân khấu là y như chết vậy.”

Greta thầm nghĩ, đó cũng là điều mình đang làm. Mình đang tiết kiệm sức lực đây. Thận trọng với Katy, cẩn thận với Peter.

Trong mười năm họ đi vào tình trạng ấy, mặc dù cô không chú ý, gần như mọi thứ đều tập trung vào việc ấy. Đã tới tình trạng trước đây chưa từng có. Trôi đi tự nhiên. Cho đi. Một số người cho đi, một số người không. Rào cản giữa cái bên trong và bên ngoài của tâm trí bạn bị đạp đổ. Sự chân thực đòi hỏi điều ấy. Những điều như thơ của Greta, không trôi ra một cách tự nhiên, trở nên sự nghi ngờ và bị nhạo báng. Tất nhiên cô đã làm hết sức mình, bực bội tìm kiếm, cứng cỏi một cách bí mật như những cái đinh đóng ngược. Nhưng lúc đó, bé Katy đã chịu Greg, say mê những điều anh làm; việc ấy thì Greta biết ơn.

Về chiều, như Greta đoán trước, bọn trẻ ngủ vùi. Những người mẹ một số cũng đi ngủ. Một số khác chơi bài. Greg và Greta vẫy tay cho Laurie khi cô nàng xuống tàu ở Jasper. Laurie gởi một nụ hôn gió từ sân ga. Một người đàn ông lớn tuổi hơn xuất hiện, cầm lấy vali của cô, hôn cô âu yếm, nhìn về đoàn tàu và vẫy tay với Greg. Greg vẫy tay lại.

“Kẻ thế chỗ lúc này,” anh nói.

Nhiều cái vẫy tay nữa khi đoàn tàu rời đi, rồi anh ta và Greta đưa Katy trở lại toa tàu, con bé ngủ thiếp giữa hai người, vẫn ngủ ngay cả khi tàu giật sốc. Họ mở tấm màn cửa ra để có nhiều không khí, bây giờ không sợ trẻ con rơi ra ngoài nữa.

“Có con thích lắm” Greg bảo thế. Mỗi lần lại có một chữ mới mẻ, hay ít nhất cũng mới với Greta. “Đúng vậy” Greta nói.

“Chị rất bình thản. Sắp tới thế nào chị cũng nói, đời là thế đó.”

“Tôi sẽ không nói thế đâu.” Greta bảo, nhìn anh ta trân trối một lúc cho đến khi Greg lắc đầu và cười phá lên.

Anh nói với cô rằng anh trở thành một diễn viên cũng vì anh đi nhà thờ. Gia đình anh theo đạo Thiên chúa, thuộc một giáo phái mà Greta chưa hề nghe đến bao giờ. Giáo phái này không có đông giáo dân nhưng giàu có, ít nhất vài người trong số họ. Họ xây một nhà thờ có rạp hát bên trong ở một thị trấn thảo nguyên. Đó là nơi mà anh tập đóng kịch khi chưa tới mười tuổi. Họ diễn những vở kịch có xuất xứ trong thánh kinh nhưng cả những chuyện mới, về những điều tệ hại mà dân chúng mắc phải khi họ không có lòng tin vào Thiên chúa. Gia đình anh tự hào về anh và chính anh cũng cảm thấy thế. Anh không bao giờ dám nghĩ đến chuyện kể cho họ nghe về những chuyện xảy ra khi những người theo đạo tân tòng giàu có đứng cầu nguyện và được ban phép lành. Dù sao cậu trai nhỏ cũng thích được mọi người tán thưởng và quả thực anh thích đóng kịch.

Cho đến một ngày đứa bé nhận ra rằng nó có thể đóng kịch mà không nhất thiết phải làm tất cả những thứ theo phép tắc nhà thờ. Anh dùng những lời lẽ rất lịch thiệp để giải thích nhưng người ta bảo anh bị Quỷ ám. Anh cười ha ha và nói tôi biết cái gì đang ám tôi.

Tạm biệt.

“Tôi không muốn chị nghĩ rằng những chuyện ấy là xấu. Tôi vẫn tin vào cầu nguyện và mọi thứ khác. Nhưng tôi không bao giờ có thể kể cho gia đình tôi nghe điều gì xảy ra. Bất cứ điều gì chỉ đúng một nửa cũng làm họ không chịu nổi. Chị có biết những người như thế không?”

Cô bảo Greg rằng khi cô và Peter lần đầu chuyển về Vancouver, bà nội của cô, lúc ấy vẫn ở Ontario, có biết một vị linh mục nhà thờ ở đó. Ông gọi điện thoại và cô, Greta tỏ ra khinh khỉnh lạnh lùng với ông. Vị linh mục nói rằng ông sẽ cầu nguyện cho cô nhưng cô nói thẳng rằng cô chẳng quan tâm. Bà nội cô mất vào lúc đó. Greta cảm thấy xấu hổ và phát khùng lên về sự xấu hổ của mình mỗi khi cô nghĩ tới chuyện ấy.

Peter chẳng hiểu gì cả. Mẹ anh chẳng bao giờ tới nhà thờ, mặc dù một trong những lý do khiến ngày trước bà đã mang anh qua những ngọn núi là để họ có tự do trở thành người Công giáo. Anh nói Công giáo là chọn lựa tốt, bao giờ cũng giúp người ta có nhiều ưu thế trên đời.

Đó là lần đầu cô nghĩ tới Peter một lúc khá lâu.

Thực tế là cô và Greg đã uống một ít rượu trong khi cuộc trò chuyện tuy buồn rầu nhưng dễ chịu của họ tiếp tục. Anh mang tới một chai rượu ouzo (5). Cô thận trọng với nó như lúc nào cũng thế đối với rượu, kể từ buổi tiệc với các nhà văn kia, nhưng rồi tác dụng của nó cũng xuất hiện. Đủ để họ ve vuốt tay nhau, hôn hít và đụng chạm. Tất cả chuyện ấy xảy ra bên một đứa trẻ đang ngủ.

“Chúng mình phải dừng lại thôi,” Greta bảo. “Nếu không sẽ rất tệ hại.”

“Có phải chúng mình đâu,” Greg bảo. “Những người nào khác.”

“Vậy bảo họ dừng lại. Anh có biết tên của họ không?”

“Chờ coi nào. Reg. Reg và Dorothy.”

Greta bảo “Vậy thì dừng lại, Reg. Con bé ngây thơ của em thì sao?”

“Chúng ta có thể tới giường ngủ của anh. Không xa lắm.”

“Nhưng mà em không có – ”

“Anh có.”

“Anh không mang trên mình chứ”

“Tất nhiên không. Em nghĩ anh là thứ quỷ gì?”

Thế rồi họ sửa soạn chăn gối xô lệch, rời khỏi khoang tàu, cẩn thận gài nút tất cả khoá trên giường Katy đang ngủ, và với vẻ mơ màng, cả hai di chuyển lẹ làng từ chỗ của Greta tới nơi của Greg.

Việc ấy không cần – vì họ chẳng gặp ai cả. Hành khách nào không ở trong toa vòm chụp hình những dãy núi bất tận thì cũng ở trong toa bán rượu bia, hay say ngất ngư đâu đó.

Trong khoang của Greg lộn xộn đồ đạc, họ cởi những đồ mặc trên người còn lại. Cái giường chật khó nằm, nhưng họ xoay xở được, nằm lăn lên người nhau. Mới đầu họ cười phá lên, sau đó một niềm vui bất tận, và chỉ nhìn vào mắt nhau để thỏa mãn. Cắn vào nhau để khỏi bật ra những tiếng kêu la inh ỏi.

“Thích quá,” Greg bảo. “Mọi thứ đều tuyệt.”

“Em phải trở về thôi.”

“Sao lẹ vậy?”

“Katy có thể thức dậy bất cứ lúc nào, không thấy em.”

“Được rồi, được rồi. Anh cũng phải xuống Saskatoon. Cái gì xảy ra nếu đoàn tàu tới đó mà chúng ta đang làm chuyện kia? Chào mẹ ạ. Chào ba ạ. Xin lỗi con đang bận làm cái này một chút. Ô hô!”

Greta trở nên kín đáo và buông Greg ra. Thật ra cô cũng không quan tâm lắm ai là người cô đã gặp. Cô yếu đuối, hoảng loạn, nhưng bay bổng nhẹ nhàng, giống như một đấu sĩ La Mã – cô thực ra cũng nghĩ tới điều này và mỉm cười – sau một cuộc đấu trên khán đài.

Dù vậy cô biết cô chưa gặp tri kỷ.

Cái vòng khoá của màn cửa đã bị mở. Cô biết chắc cô đã kéo nó lại rồi và đóng chặt. Mặc dù cái khoá đã mở nhưng Katy cũng khó mà bò ra ngoài và con bé chắc không làm thế. Có lần Greta đã đi nhà vệ sinh và cô giải thích một cách rõ ràng cho Katy là không nên chạy theo cô, và Katy đã nói con sẽ không làm vậy đâu, như thể mẹ quá coi thường nó.

Greta cầm cái màn cửa mở toang ra, nhưng không thấy Katy đâu hết.

Cô phát điên. Cô chụp cái gối như thể một đứa trẻ cỡ Katy có thể núp đằng sau. Cô đấm vào chăn như thể con bé nằm im trong ấy. Cô bình tĩnh lại và nghĩ xem chuyến tàu có lúc nào dừng không, và nếu có thì ở đâu, trong khoảng thời gian cô đang ở bên Greg. Khi tàu dừng lại, nếu quả có một lúc nó dừng, một tên bắt cóc trẻ em có lên được tàu hoả và bồng con bé đi mất không?

Greta đứng giữa lối đi, cố nghĩ xem làm cách nào để dừng đoàn tàu.

Rồi cô nghĩ, cố làm cho mình nghĩ, rằng thật ra chẳng có gì xảy ra cả. Đừng nghĩ ngợi lung tung. Katy thức dậy, không thấy mẹ và đi tìm. Và nó đi tìm mẹ một mình, thế thôi.

Greta đứng sững. Thân xác cô, tâm trí cô, trống rỗng. Điều ấy không thể xảy ra được. Trở lại, trở lại nữa, trở lại cái lúc mà cô cùng bỏ đi với Greg. Dừng. Dừng lại.

Bên kia lối đi là một cái ghế không có ai ngồi. Một cái áo len phụ nữ và một vài tạp chí để trên ghế như đánh dấu chỗ ngồi. Bên kia nữa một chỗ ngồi với dây an toàn kéo lên như thể cô đang- họ đang- ngồi đó. Greta kéo bật chúng ra. Một ông già nằm ngủ trở người nhưng không thức dậy. Ông ta chẳng thể nào che giấu một người khác sau lưng mình.

Thật quái lạ.

Một nỗi sợ hãi khác đến. Giả sử Katy đi một mình tới đầu này hay đầu kia của toa tàu và mở được cánh cửa toa tàu ra. Hoặc đi theo một người vừa mở cửa. Ở giữa hai toa tàu có một lối đi nhỏ bạn có thể bước qua chỗ chúng nối lại với nhau. Ở đó bạn có thể cảm nhận được sự xô đẩy của toa tàu náo động ầm ĩ và ghê sợ. Một cánh cửa nặng nề phía sau lưng bạn, một cánh cửa nặng nề phía trước, và hai bên là những tấm sắt thép loảng xoảng va vào nhau. Những thứ này che khuất bậc tam cấp khi đoàn tàu dừng lại.

Bao giờ bạn cũng vội vàng đi qua những chỗ nối hai toa tàu, khi sự va chạm xoay chuyển kim loại nhắc bạn nhớ đến những điều sắp xếp không phải bao giờ cũng hiển nhiên. Sự va chạm xoay vần của các tấm thép ngẫu nhiên mà hối hả.

Cánh cửa cuối toa tàu quá nặng ngay cả với Greta. Hay cô đuối sức vì sợ hãi. Cô dùng vai đẩy mạnh.

Và ở chỗ ấy, giữa hai toa tàu, trên một trong những tấm sắt thép va đập ồn ào liên tục – Katy ngồi đó. Mắt nó mở to, môi hé mở, một mình, sửng sốt. Nó không khóc, nhưng khi nhìn thấy mẹ, con bé òa lên nức nở.

Greta ôm lấy nó, kéo nó vào lòng và loạng choạng lùi lại bên cửa, cánh cửa cô vừa mở ra.

Tất cả các toa xe đều có tên, nhắc nhở các trận đánh, những cuộc phiêu lưu mạo hiểm hay những người Canada có công trạng lịch sử. Tên của toa xe của họ là Connaught. Cô sẽ không bao giờ quên.

Katy không bị tổn thương. Quần áo của nó không bị mắc dính vào các tấm sắt ở khoang giữa hai toa xe lửa.

“Con đi tìm mẹ.” Nó nói.

Khi nào? Mới lúc nãy, hay là ngay khi Greta bỏ con mà đi?

Chắc không phải thế. Nếu thế thì có người đã nhìn thấy, kéo nó lên và kéo còi báo động rồi.

Mặt trời mọc nhưng thời tiết không ấm lắm. Mặt và hai tay cô lạnh giá.

“Con nghĩ mẹ ngồi ở bậc lên xuống” con bé nói.

Cô choàng một cái mền lên người con, và ngay lúc đó cô bắt đầu run lập cập như bị lên cơn sốt. Cô thấy ngấm bệnh, và có chút buồn nôn lợm lên trong họng. Katy nói, mẹ đừng có đẩy con, và bước lùi lại.

“Mẹ có mùi kỳ quá hà”, nó nói.

Greta rụt tay lại, ngồi tựa hẳn lưng vào ghế.

Thật kinh khủng, cô nghĩ miên man về những điều xảy ra, thật kinh khủng. Con bé vẫn cứng người lại vì phản ứng, tự ngồi xa ra.

Một người nào đó dễ dàng tìm thấy Katy, lúc nó ngồi một mình. Một người tử tế nào đó, không phải kẻ xấu, nhìn thấy con bé ở đó và mang nó tới nơi an toàn. Greta sẽ nghe được những thông báo lo ngại, tin tức loan ra là có một đứa bé bị bỏ rơi trên xe lửa. Một đứa bé khai rằng nó tên là Katy. Cô sẽ luống cuống bò dậy và chạy đi từ chỗ nằm của mình, sửa soạn cho tử tế một chút, chạy thật mau đến chỗ con bé và sẽ nói dối, bảo rằng cô mới đi vào phòng vệ sinh. Tất nhiên cô sẽ sợ hãi, nhưng vẫn còn hơn là bây giờ bị ám ảnh bởi hình ảnh của Katy ngồi một mình ở đó nơi khoảng trống chật hẹp ồn ào kia, cô độc giữa hai toa xe lửa.

Không khóc, không than phiền, như thể nó ngồi đó mãi mãi, và không nhận được một lời giải thích nào của người lớn, không hy vọng. Mắt nó mở to trống rỗng, miệng nó hé mở, trễ xuống, vào giây phút được mang đi và nó bắt đầu khóc. Chỉ vào lúc đó con bé mới trở lại với thế giới của nó, quyền của một đứa bé được đau khổ và được than vãn.

Bây giờ nó nói không buồn ngủ và muốn thức. Nó hỏi Greg ở đâu. Greta bảo anh chàng đi ngủ vì mệt.

Katy và mẹ đến chỗ toa có vòm kính và ngồi suốt buổi chiều. Chỉ có hai mẹ con ở đó. Những người chụp hình dãy núi Rocky Mountain chắc đã mệt và đi nghỉ. Và như Greg đã từng nhận xét, những cánh đồng cỏ làm họ trở nên phẳng lặng.

Chuyến tàu dừng lại một lát ở Saskatoon và vài người xuống ga. Greg đi xuống giữa những người ấy. Greta nhìn thấy hai người đến đón anh ta, có lẽ cha mẹ. Và có cả một người đàn bà lớn tuổi ngồi trên xe lăn, có lẽ bà nội hay bà ngoai, và rồi một vài người trẻ tuổi hơn đứng vòng quanh vui vẻ, bối rối. Không có ai ra vẻ thuộc nhóm đạo cuồng tín, hay những người khó tính hay dễ ghét cả.

Nhưng làm sao bạn biết được một người như thế trong đám đông?

Greg quay lại và nhìn các cửa sổ tìm kiếm. Greta vẫy tay từ toa xe lửa, anh ta nhìn thấy và vẫy tay lại.

“Kia là Greg,” cô bảo Katy. “Nhìn xuống dưới kia. Anh ta đang vẫy tay. Con vẫy lại đi chứ?”

Nhưng Katy cảm thấy tìm anh ta thật khó khăn. Hay vì nó chẳng cố gắng làm điều ấy. Nó quay đi với vẻ thản nhiên nhưng hơi bực bội và Greg sau một hồi vẫy tay liên tiếp cũng quay đi. Greta tự hỏi có phải vì con bé trừng phạt anh vì bỏ rơi nó, không muốn nhớ đến anh nữa hay không muốn biết.

Thôi được, chuyện đã như vậy thì quên đi.

“Greg có vẫy tay cho con mà.” Greta bảo khi xe lửa bắt đầu rời ga.

“Con biết chứ.”

Đêm ấy khi Katy đã ngủ bên cạnh mẹ, Greta ngồi viết thư cho chồng. Một bức thư thật dài, cô cố viết cho vui vẻ, về tất cả những người mà họ đã gặp trên xe lửa. Họ thích nhìn qua những chiếc máy ảnh hơn là nhìn vào cảnh thực, và tương tự thế. Con bé Katy cư xử phải phép. Không nhắc gì về vụ cô để lạc nó, tất nhiên, hay nỗi sợ hãi kia. Cô bỏ thư vào thùng khi những cánh đồng cỏ đã bị bỏ lại phía sau và những rặng cây vân sam trôi đi mãi mãi, và chuyến xe dừng lại vì một lý do nào đó ở một thị trấn nhỏ hoang phế có tên Hornepayne.

Những giờ thức giấc còn lại qua hàng trăm dặm cô dành cho Katy. Cô thầm biết sự săn sóc này chưa từng có trước đây. Tất nhiên cô là người săn sóc con, mặc áo cho nó, cho nó ăn, trò chuyện, trong những giờ họ bên nhau, Peter đi làm việc. Nhưng Greta cũng có những công việc khác trong nhà và không phải bao giờ cũng chú tâm săn sóc con, sự âu yếm chỉ là đối phó.

Nhưng không phải chỉ vì cô bận việc nhà. Những ý tưởng khác dồn dập đến làm cho đứa bé không còn trong tâm trí cô nữa. Ngay cả trước khi sự ám ảnh vô ích, mệt mỏi, ngốc nghếch về người đàn ông ở Toronto, có những công việc khác, và việc làm thơ cũng choán hết tâm trí cô. Điều ấy làm cô ngạc nhiên như thể đó là một hình thức phản bội – đối với con gái, với chồng, với cuộc đời. Và bây giờ, bởi vì hình ảnh trong đầu cô về Katy ngồi một mình ở giữa những tấm sắt thép đụng nhau loảng xoảng kia – vì thế mà cô, mẹ của đứa bé, nghĩ đến chuyện vứt bỏ tất cả.

Một tội lỗi. Cô để tâm trí vào chuyện khác. Cô tập trung vào việc gì đó chứ không phải vào con mình. Thật tội lỗi.

Họ đến Toronto vào giữa buổi sáng. Trời âm u. Sấm chớp mùa hè. Katy chưa bao giờ thấy chuyện ấy ở vùng bờ biển miền Tây Canada, nhưng Greta bảo con gái không có gì phải sợ và Katy cũng không tỏ vẻ sợ hãi. Hay sợ bóng tối được thắp sáng bằng điện trong một đường hầm hun hút khi tàu dừng.

Nó bảo, “Đêm”.

Greta nói, Không, không, hai mẹ con chỉ việc đi tới đầu kia của đường hầm, bây giờ họ đã xuống xe lửa.

Rồi vài bậc tam cấp, có thể một cầu thang, rồi họ đi lên một toà nhà lớn và bước hẳn ra ngoài, nơi họ đón taxi. Taxi là chiếc xe hơi nhỏ, sẽ chở họ về nhà. Nhà mới của họ, nơi họ sẽ sống một thời gian. Hai mẹ con sẽ sống ở đó một thời gian, rồi họ sẽ lại quay về với người cha yêu dấu của con.

Họ đi lên đường uốn lượn, rồi một thang máy. Katy dừng lại và Greta cũng đứng chần chừ, cho đến khi nhiều người đi qua vượt lên họ. Rồi Greta nhấc Katy lên, bồng con một bên nách, kéo vali bằng một tay, khom người lôi xềnh xệch lên các bậc tam cấp. Khi lên xong cô đặt con bé xuống và họ lại cầm lấy tay nhau trong ánh sáng rực rỡ của Ga Lớn.

Những hành khách đi qua trước mặt họ bắt đầu tản mác theo những người đến đón, những người kêu lớn tên người thân, hay chỉ đơn giản bước về phía họ và nắm lấy quai xách vali, nhấc lên. Có một người nào đó cũng nắm lấy vali của hai mẹ con. Nắm lấy vali của họ, ôm chầm lấy Greta, và hôn cô lần đầu tiên, hôn một cách mạnh mẽ và hân hoan.

Harris.

Đầu tiên cô choáng váng, rồi run lên trong lòng, và sau cùng cảm giác an tâm.

Cô muốn đứng sát vào Katy nhưng trong giây lát ấy con bé bỗng tách ra khỏi mẹ, buông hẳn tay ra, để cho cô được tự do.

Cô không chạy trốn. Cô đứng đó để mặc cho đời trôi tới đâu thì tới.

Chú Thích:

(1) Paradise Lost. Trường thi của John Milton (1608- 1674), nhà thơ lớn của Anh. Xuất bản lần đầu năm 1667, gồm mười cuốn, trên mười ngàn câu thơ, được giảng dạy trong các chương trình văn học.

(2) poetess.

(3) Lions Gate Bridge, lấy tên hai ngọc núi phía bắc Vancouver, The Lions, là một cây cầu nổi tiếng, xây xong năm 1938, băng ngang eo biển phía bắc công viên Stanley Park.

(4) dome car, một toa hành khách trên xe lửa, có một vòm bằng kính trên nóc để ngắm cảnh, có thể có phòng ăn, phòng ngủ, phòng sinh hoạt, phổ biến ở Mỹ và Canada.

(5) ouzo: một loại rượu của Hy lạp.

May be an image of 1 person, standing and outdoors
Advertisement

THƠ HÃY NÓI, TÔI NGHE

Tôn Nữ Thu Dung làm thơ (và viết văn) rất sớm, vào thập niên 70 khi còn là một nữ sinh trung học của miền Nha Trang cát trắng. Vừa xuất hiện, thơ văn của Tôn Nữ Thu Dung nhận được sự chú ý đặc biệt của những người phụ trách toà soạn các tạp chí Tuổi Hoa, Tuổi Ngọc. Thơ văn ấy có nét tươi mát của tuổi trẻ, đồng thời mang hơi hướng của một tâm hồn đã trưởng thành. Ấy thế mà thơ văn ấy không có vẻ “bà cụ non” một chút nào. Chúng như lời tự sự của một tâm hồn tươi trẻ mà chín chắn (mang thêm một chút/khá nhiều nét lãng mạn quyến rũ.) Cho đến nay, đã một nửa thế kỷ trôi qua, vẫn có những người lưu giữ nhưng trang thơ văn ấy như những báu vật của một thời văn chương mật ngọt ở miền Nam Việt Nam thuở trước.

Ra nước ngoài, Tôn Nữ Thu Dung là cây bút Tuổi Hoa, Tuổi Ngọc tiếp tục sáng tác và xuất bản nhiều nhất và đều đặn nhất. “Con Chim Nhặt Hạt Ngô Đồng, Còn Tôi Lơ Đãng Nhặt Hồn Cỏ Hoa” là tập thơ mới nhất, lạ nhất với cái tên dài kỷ lục đầy sáng tạo vừa hoàn thành ở hải ngoại, do Tương Tri xuất bản và phát hành.

Thơ Tôn Nữ Thu Dung quá đa dạng, có tính trong sáng, tươi mát, chín chắn và lãng mạn. Theo dòng thời gian, tính tươi mát bớt đi nhưng sâu sắc nội tâm thì tăng lên. Nét lãng mạn vẫn rất rõ, khác chăng là cách biểu lộ nét lãng mạn ấy.

Nếu phải định nghĩa về thơ (mà thật ra không nên và không cần định nghĩa) thì “thơ là ý tưởng và tình cảm lắng đọng trong hình ảnh và ngân vang trong nhạc điệu, được diễn tả bằng ngôn từ, làm rung động tâm hồn người đọc.” Nếu định nghĩa như thế thì thơ của Tôn Nữ Thu Dung quả thật là… thơ, trong đó có ý tưởng, tình cảm, nhạc điệu, ngôn từ khiến cho tâm hồn người đọc rung lên theo từng câu thơ, từng từ ngữ.

Tôi đọc “Con Chim Nhặt Hạt Ngô Đồng…” một cách chậm rãi (không chậm chạp) để cho ý thơ, lời thơ thấm vào tâm và thức; từ đó khám phá ra khá nhiều điều.

Tôn Nữ Thu Dung có lối lặp lại một nhóm từ vựng. Điều này khiến người đọc phải để tâm, ý vào lời thơ, vì mỗi một lần lặp lại nhóm từ vựng đó, nhà thơ dẫn dắt người đọc vào một ngõ ngách tâm hồn khác, một cảnh vực đời sống khác.

Điển hình, xin cùng tôi đọc vài đoạn trong “Có Một Điều Rất Lạ” với nhóm từ ngữ “Khung cửa nhỏ- mở ra-.”

Ở tấu khúc 1, “Khung cửa nhỏ- mở ra-” dẫn ta vào “ngày nắng hạ” trong đó có
Ngày thương yêu, thuở ấy,
nắng Sài Gòn.
Những hàng cây ven đường lay bóng lá.
Chỉ dám nhìn- guốc mộc- gót chân son.

Ở tấu khúc 2, “Khung cửa nhỏ- mở ra-” vào một “chiều rơi chậm” để rồi người trong thơ phải yêu cầu (đúng hơn là năn nỉ):
“Chiều đừng rơi
để nhớ mãi Sài Gòn.
Căn nhà gỗ,
con đường Hồng Thập Tự.
Một điều gì… rất lạ, rất bâng khuâng.”

Ở tấu khúc 3, “Khung cửa nhỏ- mở ra-” vào một “đêm nguyệt tận.” Buổi ấy khiến người trong thơ hồi tưởng đến
“Đêm hoang vu
xanh mướt dáng Sài Gòn.
Có vì sao- buồn- cô đơn- bật khóc.
Giọt lệ này
rơi,
ướt lạnh trăm năm…”

 
Ba lần “khung của nhỏ- mở ra-” dẫn người đọc đến những cảnh, những tình khác nhau, để rồi đọng lại trong hồn mình nỗi bâng khuâng, ngậm ngùi, tưởng tiếc về một dáng người nữ ngày nào đã xa, hình như xa lắm.
Thì cũng là thơ tám chữ đấy, nhưng cách tác giả ngắt câu, xuống hàng khiến người đọc không thể đọc nhanh được, mà phải chậm rãi bước những bước nhẹ nhàng và thận trọng theo dòng thơ. Đọc và thích!

 
Có vẻ như Tôn Nữ Thu Dung chuộng lối gieo vần gián cách (trong một khổ thơ, vần trắc gieo ở cuối câu 1  và cuối câu 3; vần bằng gieo ở cuối câu 2 và cuối câu 4.) Xin đọc:

 Nhánh sông Tôi,
tiền kiếp
Tìm lối về đại dương
Sóng bờ xa tiễn biệt
Cuối chân trời,
đêm buông…

Trái tim Tôi,
tiền kiếp
Lơ đãng nhiều tơ vương
Và khi lòng mỏi mệt
Biết giấu vài vết thương…

(Tôi)

 
Sao lại gián cách? Tôi đoán nhé: thứ nhất, lối gieo vần này làm cho người đọc thích thú. Hơi thơ đi, tưởng là đi… tuốt luốt, nhưng rồi hơi thơ dừng lại ở tiếng cuối, một sự trở lại với vần đã gieo bên trên khiến cho khổ thơ tràn đầy, trọn vẹn. Thứ hai: lối gieo vần gián cách khiến người đọc cảm nhận được cái ý, cái tình của sự ngăn cách. Ngăn cách giữa tôi và người, giữa chung và riêng, giữa những cảm giác/cảm xúc lẫn lộn và khác biệt, giữa hiện tại và quá khứ, giữa  và 

 
Tôn Nữ Thu Dung cũng viết một số bài theo lối gieo 3 vần bằng, có phần nào sự cổ kính của Đường thi, cộng thêm chút nghiêm cẩn, trang trọng:

 Tôi lạc lòng tạt qua lối xưa
Bâng khuâng khung cửa có ai chờ
Bàn tay nhỏ bé thơm hương quế
Khua động hoài tôi những giấc mơ

Tôi lạc lòng đi ngang phố rêu
Nghe cơn đau cũ nhói trong chiều
Và tiếng phong linh rời rã khóc
Có phải thu vừa rơi khúc yêu

Tôi lạc lòng, lạc dạ thế thôi
Đêm đêm vẫn nhớ góc em ngồi
Ngọn nến tàn canh run từng giọt
Thảng thốt vầng trăng lạnh cuối trời

Tôi lạc lòng xin em hiểu tôi
Hồn tôi như chiếc lá chơi vơi
Trăm ngàn sông suối- em là biển-
(Tôi lạc lòng xin em hiểu tôi).

(Lạc Lòng)

Tôn Nữ Thu Dung cũng viết Lục Bát; lời, ý, hình rất đẹp:

 Gọi người từ phía hoàng hôn
Nghe câu tử biệt
rợn buồn sinh ly,
Bến Vân Lâu chẳng hẹn kỳ
Trùng lai nội cỏ
thầm thì hạt sương.
Gọi người từ phía tà dương
Có chờ ta
cuối con đường trắng mây.
Một mai tàn cuộc
buông tay,
Nghiêng vai cho gió về lay dặm buồn.
Biết còn viễn phố giăng sương.
Biết còn tan hợp mây tuôn non đoài.
Lòng ta gác xế u hoài,
Cuối trời một bóng đổ dài hoang vu…

(…Nếu xưa đừng lạc lối về
Trao yêu lơ đãng,
quên thề trăm năm…)

(Gọi)

Trong Lục Bát “Gọi,” có những câu đẹp cổ kính như “Đoạn Trường Tân Thanh”:

 Bến Vân Lâu chẳng hẹn kỳ
Trùng lai nội cỏ
thầm thì hạt sương.

 hay

 
Biết còn viễn phố giăng sương.
Biết còn tan hợp mây tuôn non đoài.

 Có một tí Bùi Giáng ở trong đó, nhưng không phải là Bùi Giáng.

 Dường như Tôn Nữ Thu Dung thích ban đêm. Trong “Con Chim Ngậm Hạt Ngô Đồng…,” nhà thơ viết khá nhiều câu, bài về ĐÊM: “Khung cửa nhỏ- mở ra-/đêm nguyệt tận, Đêm hoang vu/ xanh mướt dáng Sài Gòn, Đêm Hồ Ly, Đêm Lưu Xứ, Đêm Nguyệt Quế, Đêm Chờ Quỳnh Hé Nụ, Đêm tàn… lạnh một chia phôi, Đêm thắp muộn một vì sao bé nhỏ…

 Xuân Tâm viết:

 “Tôi đổi hai mai lấy một chiều
Để tìm trong ấy ít lời yêu.
Ban ngày sáng quá, ban đêm tối,
Tôi sợ không mơ tưởng được nhiều.

 Xuân Tâm sợ “ban đêm tối” khiến nhà thơ “không mơ tưởng được nhiều.” Tuy nhiên, với Tôn Nữ Thu Dung, hình như “đêm càng tối,” cô lại càng “mơ tưởng… được rất nhiều!”

Tôi viết bài giới thiệu này không được trọn vẹn, nhất là mới chỉ phớt qua một chút hình thức, chưa đi vào nội dung các bài thơ. Tuy nhiên, tôi nghĩ, nói đến nội dung là nói về ý, tâm và cảm; mà ý, tâm và cảm là những gì người ta chỉ có thể cảm nhận bằng tâm hồn mẫn cảm của người đọc, không phải là những thứ để phân tích. Tôi tin người đọc “Con Chim Nhặt Hạt Ngô Đồng” đều là những độc giả có tâm hồn không những mẫn cảm và còn nhạy cảm.

 Vậy, xin phép tác giả và độc giả cho tôi ngừng ở đây.

 Riêng tôi, xin được thưa với nhà thơ Tôn Nữ Thu Dung: “Thơ ơi, cứ nói! Tôi đang lắng nghe.”

QUYÊN DI

(Một ngày đầu Thu 2022)

Với Tôn Nữ Thu Dung

Thời mà tuần báo Tuổi Ngọc thịnh hành – trước 1975 – hầu như mỗi độc giả đồng thời cũng là một cây viết đóng góp cho báo. Thơ văn nhận được hàng ngày từng xấp, từng xấp chất đầy tủ đầy bàn, có khi nguyên bó bỏ đâu đó quanh góc trống, cái tòa soạn chỉ là chỗ đi ăn nhờ ở đậu của nhà in. Vì thế để ghi hết những “bài nhận được” kịp thời đã khó, khó gấp nghìn lần để phải đọc hết chọn lấy bài đăng không được bỏ sót, với nhân lực loe ngoe vài ba người trong tòa soạn quả như… hên xui. Nhưng không phải thế, chúng tôi quen từng nét chữ, từng màu mực và loại giấy, bạn nào viết được là chúng tôi nhận ra ngay. Rất nhiều năm sau những cây viết này vẫn còn thấy xuất hiện đó đây, dù trong môi trường nào hoàn cảnh nào họ vẫn không từ bỏ đam mê của mình. Báo Tuổi Ngọc xưa chỉ như là chốn vỡ đất cho một thế hệ non trẻ ươm mơ của mình một thời. Tôi còn nhớ, một buổi chiều ở tòa soạn, có cô bé dáng nhỏ nhắn, còn nguyên bụi đường bám theo áo dài trắng nữ sinh, nói là từ Nha Trang mới vào, tôi nhận ra ngay đó là cây viết Tuổi Ngọc thường đăng bài. Tôn Nữ Thu Dung.

Cũng là duyên, chừng mươi năm sau có dịp ra Nha Trang tôi gặp lại cô trong buổi họp mặt Gia Đình Áo Trắng miền này. Những người thích viết không là nghề thì cũng là nghiệp chẳng thể nào vì… ngứa đầu bó tay mà thôi viết được. Tôn Nữ Thu Dung có trang Tương Tri quy tụ được nhiều bằng hữu yêu văn thơ từ nhiều năm nay. Và cũng từ nhiều năm nay cô cũng tự in truyện và thơ của mình, chẳng để làm gì cả, huề vốn là may, như là thú vui, như là hơi thở riêng để gợi biết mình còn sống, sống tha thiết để nuôi những đam mê. Tôi yêu thích những cây viết như thế, riêng những người làm thơ, những rung động thực của họ theo từng giai đoạn cuộc sống có thể cộng hưởng và lan tỏa rộng. Thơ Tôn Nữ Thu Dung thoát ra tự tâm mình qua thời gian luôn đổi thay nên phong phú ý và chữ. Không ai đặt hàng trước cho những bài thơ. Những câu thơ theo người và người viết theo những câu thơ của mình. Có khi chẳng ai nhớ ai, người buông ra nó hay nó chui từ tâm người như một điều tự nhiên, thế thôi. Đó là sáng tác.

Trước đây, từng trình bày sách cho một người cầm bút lâu năm, từ tập thơ đầu tay đến tập thơ kể như… cuối tay, tôi có dịp lướt qua hàng trăm bài thơ của ông. Bài thơ nào cũng mượt mà và vần điệu không thể bắt bẻ cũng như chữ nghĩa không thể chê vào đâu được. Đọc một bài ta thích thú có thể nhớ, nhưng trăm bài ta… khỏi cần nhớ nữa vì hầu như cũng thế thôi. 50 năm trước hay 50 năm sau không thay đổi tâm trạng với tình thơ trăm năm của ông. Mọi thứ chuyên nghiệp đều đáng kể, đáng quý, nhưng với thơ thì không, không có thi sĩ chuyên nghiệp. Dù không được đọc những tập thơ trước đây của Tôn Nữ Thu Dung, trong tập thơ này cũng đủ cho tôi nhận ra tính phong phú của một tâm hồn lãng mạn (thi sĩ nào chẳng thế, nam lãng 1 thì nữ lãng 10). Người vẽ hay viết không “chụp” hình ảnh hay sự kiện quanh mình mà chui ra từ bên trong để diễn giải, có thể đúng hoặc sai nhưng là cái gì rất riêng cảm nhận để như sáng tạo một lần nữa, (đôi khi mang tiếng dở hơi hay điên điên khùng khùng cũng là cấp bậc siêu, đạp lên nhân gian mà đi!). May thay điều này chỉ thường đến với các cây viết nam. Những cây viết nữ dù nhiều phản kháng dữ dội tới đâu cũng chỉ… tới đó… rồi thôi! (như: chiếc lá vừa rơi… nghiêng, chao/ tôi cũng muốn lòng mình… chao, nghiêng như thế/ nhưng cuộc sống vốn mang hình giọt lệ/ thì… thôi.)

Bài thơ đầu tiên rất hiền trong tập thơ này có lẽ viết từ thuở học trò, có Sàigòn và những khung cửa nhỏ, có chạm tới căn nhà gỗ đường Hồng Thập Tự trong ký ức của tôi. Tôi nhớ. Và tôi cũng nhớ một câu gần cuối trong tập thơ: Tôi muôn đời thiếu nợ những đa đoan… Và còn muốn nhớ nhiều nữa nhưng thôi, mời bạn đọc để thấm hơn một tâm hồn nữ, người yêu nắm chặt thủy tinh vỡ trong bàn tay mình không ngại. Gần gũi hơn để hiểu: Trao yêu lơ đãng quên thề trăm năm…

Đinh Tiến Luyện, (Houston cuối tháng 9, 2022)

Đọc “Con Chim Nhặt Hạt Ngô Đồng…”

Vũ Hoàng Thư

Hai ngày mưa tầm tã, tôi ngập sũng tận hồn, rũ người trong nước. “Ta tìm thấy trong ta / Giọt lệ mưa cuồng nộ”. Tôi thèm một cơn trầm thủy cho dẫu mục rữa chân thềm. Mưa ơi xin cứ tiếp. Nơi này nắng hạn đang khát khô một thác nguồn. Ôi, rào rào tia nước vỗ vào mái, êm ả như âm ngày xưa đập vào mái tôn cầu đôi qui nhơn tôi mới lớn. Và như thế, “Con chim nhặt hạt ngô đồng / Còn tôi lơ đãng nhặt hồn cỏ hoa” đến giữa đêm, lững thững không hẹn. Chỉ nội nhan đề tập thơ cũng làm người đọc sững sờ. Phiêu nhiên ủ mộng nắng gió bất thần. Bỏng cháy cho thơ hiện về trong bát ngát, cho sóng triều dồn lại vi vu.

Ngày xưa vua Phục Hy thấy chim Phượng đậu xuống cây ngô đồng thì biết đây là cây quý, liền sai lấy gỗ cây làm nhạc khí gọi là Dao cầm. Nhắc chuyện cổ đại hồng hoang vì những con chim huyền sử. Huyền sử dẫn đến huyền thoại để ở đó ly tao dâng lời. Tiếng dao đã ngân, hồn lâng về đâu trong đêm mưa? Thơ ngập lời cổ điển. Cổ điển ở chỗ những lời ấy bây giờ ít ai nói đến vì nó đã thành sáo ngữ. Chỉ có nội công thâm hậu mới vực dậy đem về sức sống mới,

Còn tôi lơ đãng
nhặt
hồn cỏ hoa
Một ngày qua
một người xa
Một ngàn thu khóc
chiều tà rưng rưng…
(Hồn cỏ hoa)

Cỏ hoa đã bay, như bông liễu trong câu thơ Tô Đông Pha,

Chi thượng liễu miên xuy hựu thiểu
Thiên nhai hà xứ vô phương thảo

(Tô Đông Pha)

Lìa cây bông liễu phiêu bồng
Ven trời vạn nẻo cỏ hồng muôn phương
(Mây ngàn cỏ nội đâu không là nhà ?)

(Vũ Hoàng Thư phỏng dịch)

Chỉ mình nhà thơ đứng đó giữ lại phần hồn, lơ đãng cầm nắm trong tay tinh cốt cỏ hoa. Ôi, phiêu hốt làm sao! Chữ Một lập lại trong hai câu lục bát cuối như muốn nhấn mạnh gợi khêu miên trường trông ngóng, và kết tụ thành lệ rưng rưng. Rưng rưng vì sầu dâng mà phải ngăn, kìm hãm lại. Hay đằng đẳng đợi chờ trong một khúc lục bát ngắt dòng khác,

Gọi người từ phía tà dương
có chờ ta
cuối con đường trắng mây
(Gọi)

Thi sĩ đang tự nhủ lấy mình hay thi sĩ nói giùm nhân gian những điều bất khả, những cơn mộng giữa chừng về đâu đó ở đêm khuya, bởi chưng “cuộc sống đã trót mang hình giọt lệ”. Tài tình ở chỗ gọi điều xa xăm rồi đem về bỏ lửng. Để làm gì? Không cần thiết phải giãi bày, có chăng bật dậy nỗi mong manh của nhân sinh, của lựa chọn khôn hàn tư lự,

Đừng chờ…
đâu chắc ngàn sau…
Hãy chờ…
có lẽ ngàn sau…
sẽ là…
(Mây)

Thiền sư cởi áo che quỳnh
Nghe trong khuya khoắt…
trở mình,
hạt sương…
(Đêm chờ quỳnh hé nụ)

Có lúc nỗi nhớ quê vỡ bùng trong niềm bất lực lưu vong, nâng chén hừng ca nhưng chốn ấy đã xa tít không còn. Thi sĩ hiêu nhiên mang hồn kiếm sĩ, chỉ muốn một vung tay chém rụng chia cách nghìn trùng. Thơ đẹp như một khung gương, rồi vỡ nát thành muôn mảnh như cõi lòng,

Chém xuống dòng sông trăm nhát kiếm
Nước vỡ… như lòng ta trưa nay…
(Bài tặng Doanh Doanh)

Nhà thơ luôn ngậm mối cô đơn một mình bởi vui buồn đó là nỗi riêng, trần gian kia đùa vui trong kệch lạc, gào khóc khi khắc khổ nghịch đường. Cứ mặc kệ họ cất bước đưa chân, thi sĩ đứng lại. Vì sao? Bởi vì… Bởi vì và ba dấu chấm, không nói và bỏ ngưng nhưng có lẽ tự đáy sâu tiền kiếp đã chứng nghiệm cái vô lý của cuộc đời, 

Trên con đường mọi người đang đi
Tôi một mình đứng lại…
Bởi vì…
(Chữ)

Rất nhiều câu thơ của Thu Dung chấm dứt bằng ba dấu chấm. Sự bỏ lửng để cho độc giả mường tượng những gì kế đến? Sự mời gọi lên chung chuyến tàu cùng hồn hoang lơ đãng? Hay mọi thứ chỉ là hai mặt sấp ngửa, lựa chọn nào mà không có hư hao?

Những ai mất niềm tin
Hãy tin: mình đã mất
(Tin)

Say từ khi… lạc dạ
Hay… lạc dạ rồi say?
(Thiền sư)

oOo

Tập thơ “Con chim nhặt hạt ngô đồng / Còn tôi lơ đãng nhặt hồn cỏ hoa” với hơn một trăm bài thơ dàn trải qua nhiều chủ đề. Hầu hết là những bài thơ có vần điệu, những bài lục bát đẹp, ở lời cũng như ý, như  “Hồn Cỏ Hoa” được trích hai câu từ bài thơ làm nhan đề tập thơ. Tôi lướt nhanh tập thơ trong đêm mưa, mưa bên ngoài cùng những rầm rì tương ứng bên trong. Viết vội đôi lời biểu cảm vì chưa có cơ hội đọc hết nhưng đã cảm nhận được một hồn thơ kín đáo ngậm ngùi, có khi quắt quay cuồng nhiệt, và lắm khi thăm thẳm cõi bờ thơ mồng bằng một phong thái kỳ thú, thi vị. Người thơ Tôn Nữ luôn để lại trong lòng người đọc một khí hậu lãng đãng của luyến nhớ, kỷ niệm và mất mát, không nói ra nhưng đều hướng về một chốn nơi đã không còn, quê hương. Ngay cả khi ấm áp nhất, nàng vẫn quạnh hiu hồn lẻ, mang mang lữ thứ,

Và nắng cũng buồn hơn thuở xưa…
(Đừng)

Cảm tạ nhà thơ Tôn Nữ Thu Dung đã có nhã ý tặng sách, cũng như đem đến nhân gian một trời thơ vô ngần hoa cỏ.

Vũ Hoàng Thư

Tháng 11, 2022

Chữ in nghiêng (italic) trong bài là thơ Tôn Nữ Thu Dung được trích từ tập “Con chim nhặt hạt ngô đồng / Còn tôi lơ đãng nhặt hồn cỏ hoa”.

BỨC TƯỜNG ĐÁ

Tôi đang ngồi trong thư viện một trường đại học Công giáo thâm nghiêm. Khung cửa kính rộng cho tôi nhìn thấy toàn cảnh bên ngoài. Trời hôm nay nhiều mây xám, không biết chiều nay có mưa không, nhưng hình như bầu trời ngậm nước. Khung cửa kính thư viện trông ra một khu vườn hoang dã bên ngoài, có những cây cổ thụ cành lá rườm rà, nhiều loại hoa leo đủ màu sặc sỡ tôi chưa từng biết tên, và những ngọn cỏ đang rạp mình theo chiều gió thổi. Có những con chim lạ từ đâu bay tới, con nào cũng đẹp với hình dáng và màu sắc riêng; chúng vừa bay vừa hót ríu rít. Vài chú sóc không biết từ một gốc cây nào đó rủ nhau ra giữa vườn cỏ đùa giỡn, rồi thoắt chốc đã leo lên những cành cây cao chót vót.

Nhìn sang người bạn ngồi ở ô đối diện, tôi thấy bạn cắm cúi trên sang sách. Bạn tôi có lẽ đang tập trung tâm trí vào bài học, còn tôi thì lại thả cho hồn bay lượn ngoài trời.

Mắt tôi dừng lại ở bức tường, ngăn cách khuôn viên đại học với thế giới bên ngoài. Những viên đá được xếp chồng lên nhau, không biết đã từ bao giờ, làm thành một bức tường đài, cổ kính. Như bị cuốn hút, tôi rời chỗ, đứng lên tìm lối đi ra khu vườn với bức tường đá ấy. Những ngọn cỏ cúi chào, chim chóc bay xào xạc, những chú sóc vội vàng trốn chạy, còn những bông hoa dại vẫn tươi tắn mỉm cười. Khung cảnh vừa yên tĩnh, vừa thơ mộng một cách hoang sơ. Tôi đưa tay ngắt một bông hoa tím rồi bước dọc theo bức tường đá, đầu óc nghĩ ngợi mông lung.

Những bức tường…

Ngôi nhà nào, cơ sở nào, khu vực nào cũng có những bức tường ngăn cách nó với thế giới bên ngoài. Những bức tường tạo nên một ranh giới, bên trong và bên ngoài. Nếu tôi có một căn nhà, thì bên trong bức tường thuộc về tôi, chứa đựng những gì của tôi. Bên ngoài là những gì không phải của tôi, không thuộc về tôi. Bên trong là thân tình, bên ngoài là xa lạ. Nếu tôi ở trong một cơ sở như trường học chẳng hạn, thì bên trong bức tường là sinh hoạt của nhà trường, với những lớp học, thư viện, sân chơi, những giáo sư, sinh viên, nhân viên, sách vở và một hệ thống giáo dục của nhà trường; còn bên ngoài là sinh hoạt của thành phố, với xe cộ, hàng quán, đường xá, nhà cửa, cảnh sát, khách bộ hành…, những gì không thuộc về nhà trường mà tôi đang ở trong.

Bức tường bảo vệ cho những gì ở bên trong và khiến cho bên trong trở thành một cái gì có tên. Nếu nhà không có tường thì người và đồ vật trong nhà không được bảo vệ. Hơn nữa, khi ấy “cái nhà” không còn phải là nhà, không có tên là cái nhà nữa. Nếu một cơ sở không có tường thì cơ sở không còn là cơ sở, và không thể nào có những sinh hoạt đặc thù của nó nữa. Như thế, hỏi tường có cần không, thì tường cần lắm, rất cần. Bởi vậy, thật là hữu ích khi trường học có tường, tu viện có tường. Có tường là có an toàn, là người bên trong được bảo vệ. Người ở bên trong tường, nếu chấp nhận sự hiện hữu của tường, tức là chấp nhận những gì có bên trong tường, xảy ra bên trong tường.

Tuy nhiên, tường chỉ giúp tôi khi tường bảo vệ tôi, mà không ngăn cản tôi. Nghĩa là tôi phải được tự do ra vào, tự do hoà nhập với thế giới bên ngoài khi tôi muốn. Chính vì vậy mà có tường thì thường có cửa, có cổng. Cánh cửa hay cánh cổng là dấu hiệu của sự thông thương. Cổng mở là dấu hiệu của tự do và mời gọi. Cổng đóng là dấu hiệu của hạn chế và chối từ. Người ở trong tường được tự do hay không, điều đó được xác định ở chỗ người đó có được mở cổng và đóng cổng theo ý của mình không.

Có một thứ tường thật cao mà không có cổng, hay nếu có thì cổng luôn luôn đóng. Đó là tường của nhà tù. Người ở trong tù mất quyền tự do, do đó, họ không được tự nhiên mở cổng mà ra. Khi đó, bức tường tạo nên sự ngăn cách hoàn toàn, khiến cho người tù không nhìn thấy được người và khung cảnh bên ngoài, không được quyền tiếp xúc với người và hoà nhập những sinh hoạt của xã hội bên ngoài. Tường mang ý nghĩa sự cấm cản, mất tự do

Xây tường và đóng cổng để chỉ lo cho mình, không biết đến người bên ngoài là hành động ích kỷ. Khi đó người ta biến nhà của mình thành một pháo đài an toàn. Tôi chỉ biết lo cho tôi, cho sự an toàn và no đủ của tôi mà không cần biết đến sự bất an và đói khổ của những người bên ngoài. Tường tạo nên sự an toàn, cổng cần phải đóng để giữ được an toàn cho người trong nhà. Nhưng người trong nhà cũng cần mở cổng để đón tiếp những người khác, khi những người này cần đến sự giúp đỡ. Bất cứ bị thúc đẩy bởi một lý do nào để người bên trong xây tường cao và đóng kín cổng, người ấy đã tự biến mình thành một thứ tù nhân.

“Trèo tường” hay “trèo cổng” ra ngoài là hành động biểu lộ một sự phản kháng, một sự chối từ những gì ở bên trong bức tường. Ở tuổi thiếu niên cuồng dại, Đinh Hùng “đã nhiều phen trèo cổng bỏ trường về, xếp đạo đức dưới bàn chân ngạo mạn.” Như thế có nghĩa là ở vào tuổi ấy Đinh Hùng vì cuồng dại đã phủ nhận đường lối giáo dục của nhà trường! Ở vào một thời đại khác và với một ý thức khác, hàng ngàn người dân Đông Đức đã trèo qua bức tường Bá Linh, ngăn cách Đông Đức và Tây Đức. Hành động ấy biểu lộ ý chí chối từ của người dân Đông Đức đối với chế độ chính trị của phần lãnh thổ này. Bức tường ấy bây giờ không còn nữa. Người dân Đức, trong đó chắc chắn có nhiều người đã từng trèo qua nó, đã phá đổ bức tường ấy. Bây giờ không còn ngăn cách nữa, người Đức tự do đi lại mà không hề bị cấm cản.

“Trèo tường” hay “trèo cổng” vào trong thì gọi là “đột nhập.” Có nhiều lý do của hành động đột nhập nhà hay cơ sở. Có thể đột nhập để trộm cướp, mà cũng có thể đột nhập để cứu thoát một người nào đó. Đột nhập để trộm cướp người ta trở thành kẻ trộm, kẻ cướp. Nhưng đột nhập để giải cứu người bị giam giữ hay bị nạn, một cách chính đáng, người ta trở thành anh hùng.

Như thế, “trèo cổng” hay “trèo tường” là một hành động táo bạo và nguy hiểm, tuy nhiên tốt hay xấu không do hành động “trèo,” mà do mục đích của hành động ấy.

Tôi và những người chung quanh tôi cũng đều có những bức tường vây bọc. Bức tường ấy tạo nên tôi, với bản chất, tính nết, tâm tình, hoàn cảnh riêng của tôi. Nếu không có bức tường ấy, tôi không còn phải là tôi. Khi tôi ra khỏi bức tường, tôi hoà nhập với mọi người, sinh hoạt với mọi người. Nhưng khi vào phía trong bức tường, tôi có thế giới của riêng tôi. Người khác cũng thế, ai cũng cần có một thế giới riêng của mình, một nơi thân mật nhất, chỉ có mình và những người mình cho phép mới vào được. Thỉnh thoảng tôi nghe có những người nói về người này, người khác, đôi khi nói về chính người chồng hay người vợ mình, với một câu: “Ông ấy (hay bà ấy,) tôi biết quá rồi!” Khi nghe một người nói rằng họ “biết quá” về một người nào đó, hơn nữa người đó lại là một phụ nữ, tôi thường cảm thấy hoài nghi. Tôi vẫn nghĩ mỗi người đều có một bức tường, nhất là người phụ nữ. Không ai có thể vượt qua bức tường ấy mà vào bên trong, trừ khi chính người bên trong sẵn lòng mở cửa cho họ vào.

Một khi bức tường là của tôi, do chính tôi dựng nên, thì việc giữ lại nó, hay phá đổ nó thuộc quyền tự do của tôi. Nói đến những bức tường ngăn cách người này với người khác, người ta thường có ấn tượng không tốt và đều có khuynh hướng muốn mọi người phá đổ những bức tường ấy. Tôi thì không đâu, tôi muốn giữ bức tường của tôi, nhưng tôi cũng muốn có ý chí và tự do để ra vào phía ngoài, phía trong bức tường ấy khi có sự cần thiết; cần thiết cho chính tôi cũng như cần thiết cho người khác. Như vậy tôi vừa giữ được cái gì thuộc riêng về nội tâm của tôi, vừa bước được ra ngoài, cùng chung sức với những người khác để kiến tạo một xã hội, một cộng đồng, trong đó có nhiều người chung sống.

Với những người thân, tôi vẫn giữ bức tường là bản chất của riêng tôi, nhưng tôi để họ tự do ra vào qua bức tường ấy. Với một vài người, tôi để cho họ tự do khám phá những gì có phía bên trong bức tường, và có thể tôi gợi ý để họ khám phá những gì mà tự họ không nhìn thấy được. Tôi cố gắng tránh khuynh hướng nhốt họ lại trong bức tường của tôi. Khi tôi đã mở cửa và cho họ tự do, họ có quyền vào, ở lại, mà cũng có quyền ra đi. Đi hay ở khi đó là quyền của họ. Họ ở lại, nếu căn nhà của tôi có gì khiến họ quyến luyến và ràng buộc. Họ ra đi, nếu thấy những gì bên trong bức tường không thích hợp với họ, nhất là khiến họ chán ngán. Do đó, nếu muốn người nào đó ở lại phía bên trong bức tường của tôi, thay vì tìm cách nhốt họ, tôi cố gắng làm cho trong tôi có điều gì khiến họ yêu thương và quyến luyến.

Tôi tuyệt đối tránh hành động “trèo tường” hay “trèo cổng” để đột nhập căn nhà nội tâm của người khác. Tôi gợi ý, có thể tôi xin để họ mở cửa cho tôi vào nếu tôi thực sự muốn. Ép uổng tình cảm, tư tưởng của người khác là điều không tốt và tôi không muốn làm. Ngay cả việc muốn hướng dẫn tâm hồn người khác, cũng phải tôn trọng quyền tự do và đời sống riêng của họ. Chúa Ki-tô bảo: “Ai không cứ cửa mà vào chuồng chiên, song trèo qua lối khác mà vào, thì ấy là kẻ trộm, kẻ cướp.” Gioan 10: 1).

Trời đã xế chiều, từng mảng tối đã chập choạng che phủ cảnh vật. Tôi vẫn cầm bông hoa tím đứng bên cạnh bức tường đá. Qua khung cửa kính thư viện, tôi thấy bạn tôi đang giơ tay vẫy gọi. Bạn, bạn có muốn mở cánh cửa trổ ra từ bức tường của bạn, để tôi được bước vào không?

*

Với một người, giờ đây tôi luôn luôn muốn mở toang cửa để chào đón. Tôi muốn giữa người ấy và tôi không còn một bức tường nào cả. Tôi muốn bản thể của tôi hoà nhập với bản thể của người ấy, tình yêu của tôi hoà nhập với tình yêu của người ấy, tất cả những gì của tôi đều thuộc về người ấy. Đối với người ấy, tôi không muốn giữ lấy bất cứ cái gì là của riêng nữa. Tôi muốn dâng hiến tất cả. Người ấy là Chúa Ki-tô.

Tôi suy nghĩ nhiều về bức tranh người họa sĩ kia vẽ Chúa Ki-tô. Ngài đứng trước một căn nhà tường xây kín mít, kiên nhẫn gõ cánh cửa đóng im ỉm, mà nắm đấm mở cửa lại nằm phía bên trong nhà chứ không ở bên ngoài. Có phải bức tranh ấy vẽ về chính căn nhà của tôi, căn nhà đã có một thời chối từ không muốn Chúa Ki-tô vào thăm viếng?

QUYÊN DI

Lòng Thật Bình Yên

Lòng thật nhẹ, thật bình yên em ạ
Gió vàng thu còn níu lại bên thềm
Tiếng chim hót ru mềm trên phím lá
Mây trời xanh nhuộm thắm áo thiên thanh

Lòng cũng vui, chập chờn theo cánh bướm
Tiếng ai cười rơi giọt nắng giòn tan
Tôi bỗng nhớ bóng người qua cửa lớp
Mang mùa thu về nhuộm áo thu vàng

Tôi bỗng nhớ buổi nụ rằm chưa chín
Trăng cài hoa lên tóc chảy đôi dòng
Cơn gió nào đã âm thầm hò hẹn
Mà đất trời tỏa ngát một mùi hương

Lòng nhẹ quá đã tan thành sương mỏng
Em có về cho áo quyện màu sương
Lòng nhẹ quá đã tan vào cơn mộng
Nở giùm tôi, em nhé , nụ môi hồng.

Lê Văn Trung

Ơi Những Con Quạ Của Tôi 

Những con quạ của tôi / không về đây, thật lạ!  Người ta ghét chúng quá?  Người ta đuổi chúng đi?

Xưa nay cảnh chia ly / luôn luôn là buồn lắm!  Không lẽ vì trời nắng, quạ đi tìm suối, sông?

Bạn ơi, nhìn mênh mông, trời cũng không mây gợn…Hơn nửa năm tôi muốn / một chút mưa không sa…

Nghe nói Colorado / tuyết đổ tràn cả núi / trong khi đây con suối giống y như một lối mòn…

Quạ có biết tôi buồn?  Nhớ tiếng kêu quà quạ…Không món quà ai thả / vào hộp thư…khô ran!

Tôi ném xuống cỏ vàng / bao nhiêu tàn điếu thuốc!  Tôi nhớ Ban Mê Thuột…tiếng quạ kêu ngày xưa…

Tôi nhớ tiếng võng đưa /. Mẹ ru con xót xa…”Ví dù con quạ bay qua, Mẹ bảo con gà con phải nghe theo!”.

Rồi…Đất Nước mến yêu / của tôi như bầy quạ.  Chúng bay để hoa lá / tả tơi!  Mùa Thu về!

Tôi ngồi im, lắng nghe / tiếng ai đi nhè nhẹ / hoa sen vàng đẹp nhé / gót chân người xa xăm!

Ai đó về Nha Trang.  Ai đó ngang Diên Khánh.  Ai à trăng Đại Lãnh / đêm nay đã tròn chưa?

Tôi nói trong cơn mơ thấy mình bay với quạ. Chòm sao rơi như lá…như nước mắt Má tôi…

Trần Vấn Lệ

VIẾT CHO NGƯỜI BỎ PHỐ

Em đi
bỏ phố
thình lình
Chiều em đi ấy
Phố mình đổ mưa
Hoàng hoa mới nụ
vừa vừa
Đã tơi tả rụng
để mùa xuân trơ.
Thư phòng em
nhện giăng tơ
Đoản tình thi
mất người thơ
võ vàng…

Có người
tri kỷ
nhớ em
Tìm sang
không gặp
ngổn ngang nỗi niềm.
Về đâu?
Hỡi trái tim hiền!
Đêm hoang
gió có
cuồng bên
phía người?
Giang hồ
chán lắm em ơi!
Phải đâu thơ mộng
cho đời thăng hoa!
Sáng nay
trời đất giao hòa
Cầu mong em
mãi nuột nà
an nhiên.

Trần Tuấn

BÙI GIÁNG

( Một thiên tài kỳ dị)

Nhân ngày nhà thơ BÙI GIÁNG mất (7.10.1998).Tôi xin trích đăng bài viết : BÙI GIÁNG Một thiên tài kỳ dị trong tập Trần Gian Sầu Muộn như một nén nhang tưởng nhớ con người siêu đẳng sinh bất phùng thời

(Qua nhận xét của những nhà văn cùng thời với ông và những người viết trẻ lớp hậu bối)
… Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ?
(Vũ Đình Liên)

Nhà thơ Nguyễn Lương Vỵ nói rằng: “Nhiều người đang và sẽ viết về Bùi Giáng dưới nhiều góc độ khác nhau, thậm chí có người nhắc đến ông là để “tự nâng mình lên”. Không biết anh nói vậy có đúng hay không?

Viết về Bùi Giáng không hề là chuyện dễ nếu không đủ “nội công thâm hậu”, kiến thức uyên bác về các vấn đề liên quan đến cuộc đời và sự nghiệp của ông chứ không phải chuyện kể bên lề những lần gặp gỡ cùng những câu thơ ngẫu hứng ông viết trong quán cóc ven đường hay trong một lần tình cờ chạm mặt. Vì vậy có những người viết về Bùi Giáng đôi khi lại là “tự hạ mình xuống”.

Bài viết này chỉ ghi lại những nhận xét về Bùi Giáng của những nhà văn cùng thời và cũng là bạn của ông trong những thập niên trước 1975 và nhận xét của những người viết trẻ thuộc lớp hậu bối.(Những nhận xét được trích dẫn dưới đây với tư liệu ít ỏi mà chúng tôi có được.).

Bùi Giáng có quá nhiều giai thoại khi ông còn sống và cũng có rất nhiều huyền thoại khi ông đã mất. Thường thì người ta tôn vinh, viết những bài ca ngợi, kể những giai thoại hay những câu chuyện liên quan đến nhân vật nổi tiếng trong một lĩnh vực nào đó khi họ không còn nữa. Nhưng với Bùi Giáng thì là một ngoại lệ.

Nhiều tuyển tập sáng tác văn học, nhiều tờ nguyệt san, bán nguyệt san, trước và sau năm 1975 đã viết về ông, đã làm những đặc tuyển cho riêng ông khi ông còn sống cũng như những bài viết, phân tích về ông trên các tờ báo văn học trong nước và hải ngoại khi ông đã mất.

​Người ta dùng nhiều tên gọi để gán cho Bùi Giáng, như: Hiện tượng của sự phá hủy, Nhà hiền triết, Trung niên thi sĩ, Bồ tát giáng trần…nhưng dù với bất cứ tên gọi nào thì ông vẫn là một người trần tục đến đây, cõi ta bà này để rong chơi và thưởng ngoạn…

Nhà biên khảo, dịch giả Huỳnh Ngọc Chiến trong một bài viết đã nhận xét:“Bùi Giáng là bậc thượng trí, hầu như “vô sư tự ngộ”. Ở miền trung du hẻo lánh xứ Quảng đó ông chỉ đọc sách mà “phát minh tâm địa” như trường hợp thiền sư Huyền Giác đọc kinh Duy Ma Cật…” Anh viết: “Trước 1975 ông thường sống trong lô cốt trước viện Đại học Vạn Hạnh với các lon cơm bẩn thỉu. Lối sống kỳ dị đó cũng không ảnh hưởng đến sự sáng tạo phi thường của ông. Ngay vào giai đoạn người ta xem như ông bị điên nặng thì ông cho ra đời tập thơ: Bài ca Quần đảo mà theo nhà xuất bản thì đây là cả một đại dương thi ca” . Anh viết tiếp:“Như Kim Mao Sư vương Tạ Tốn đột nhiên xuất hiện trên Vương Bàn Sơn đảo dùng thần công vô địch trấn áp quần hùng và đoạt thanh đao Đồ Long của Thiên Ưng giáo gây chấn động kinh hoàng cho hai phe hắc bạch thì Bùi Giáng xuất hiện trong nền văn học miền Nam cũng bất ngờ như thế. Nhà thơ gầy gò nhỏ bé của xứ Quảng đã đột nhiên hiện ra sừng sững như một cây đại thụ giữa cõi thi ca và triết học Đông – Tây trên vùng đất “hàn lâm”mà xưa nay người ta nghĩ rằng chỉ dành riêng cho những kẻ học phiệt và khoa bảng .

​Bùi Giáng với bút pháp tài hoa khi viết những câu thơ làm lay động lòng người :

“ Em về giũ áo mù sa
Trút quần phong nhụy cho tà huy bay”

​Nhưng ông lại viết những câu thơ thật dễ dãi, như :

“Gặp nàng, nàng ở Già Lam
Gặp cô, cô ở Lê Quang Định đường”

Hoặc :

“Một con vịt, hai con gà
Thêm ba con lợn gọi là chăn nuôi”

​Đúng là ông đã bỡn cợt với thi ca mà Huỳnh Ngọc Chiến gọi là “đùa bỡn với thi ca đến độ quỷ khốc thần sầu”

Nhà văn Mai Thảo, người cùng thời và cũng là bạn của Bùi Giáng, viết: “…Tôi chỉ kể tới Bùi Giáng, bởi suốt thời kỳ đó, có thể nói, thầy Thanh Tuệ (Giám đốc nhà xuất bản An Tiêm) chỉ in Bùi Giáng, dành trọn phương tiện cho ưu tiên xuất bản Bùi Giáng trước mọi tác giả khác. Và giai đoạn có thể đặt tên là giai đoạn Bùi Giáng này, An Tiêm đã in đêm, in ngày, in mệt nghỉ vì những năm tháng đó chính là những năm tháng đánh dấu cho thời kỳ sáng tác kỳ diệu sung mãn nhất của Bùi Giáng, cõi văn, cõi thơ Bùi Giáng bấy giờ ào ạt vỡ bờ, bát ngát trường giang, mênh mông châu thổ, Bùi Giáng bấy giờ mỗi tuần viết cả ngàn trang khiến chúng tôi bàng hoàng khiếp đảm, ngôn ngữ và tư duy của Bùi Giáng bấy giờ hiển lộng tới không bến không bờ, vô cùng vô tận, và tài năng của ông cũng vậy. ..

Vắn tắt là Bùi Giáng chẳng làm gì hết, chẳng ai một lần nhìn thấy Bùi Giáng làm gì hết. Mà hoàn toàn phiêu bồng, hoàn toàn rong chơi.

Vậy mà cái sức viết hồi đó đến như Bùi Giáng là tột đỉnh, là không tiền khoáng hậu. Vậy mà cái lực viết đến như Bùi Giáng là ngàn người không một, là phi phàm, là vô địch rồi”

Mai Thảo môt nhà văn nổi tiếng, cùng thời và suýt soát tuổi với ông (Bùi Giáng hơn Mai Thảo một tuổi), đã “bàng hoàng, khiếp đảm” trước lực viết “tột đỉnh, không tiền khoáng hậu” là “ngàn người không một”, là “phi phàm, vô địch” của Bùi Giáng làm cho chúng ta vô cùng kinh ngạc như nhận xét của nhà thơ Đinh Hồi Tưởng:

“Thiền sư xuống núi bỏ chùa
Dìu trăng cà rỡn mút mùa lang thang
Huơ tay chọc thủng địa đàng
Múa chân dẫm nát niết bàn nề chi

Hay : ……

“Một lời đảo lộn ngàn chương
Trợn trừng đôi mắt mộng trường ngời xa
Rong rêu giữa cõi ta bà
Ngõ về im lặng đập ra não phiền
Dấu tìm, rối rắm, thơ điên
Siêu phàm nhập thánh, dĩ nhiên là Người (6)

​Nhà văn Mai Thảo đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác, ông đem những thắc mắc của mình ra hỏi thầy Thanh Tuệ.

Thanh Tuệ nói : “Tôi cũng lấy làm lạ, anh lang thang suốt ngày, chẳng thấy lúc nào ngồi viết. La cà hết nơi này đến nơi khác, uống rượu say ngất rồi về lầu lăn ra sàn ngủ, nhiều ngày bỏ cả bữa ăn. Đêm cũng không thức, chỗ nằm tối thẳm. Tôi in không kịp, nói ảnh tạm ngừng thì ảnh ngừng. Nói có máy, có giấy, nói buổi sáng buổi chiều ảnh đã tới ném bịch xuống cả năm, bảy trăm trang. Cứ thế đem sắp chữ thôi, đâu có thì giờ đọc. Điều kỳ lạ là không riêng một thể loại mà thể loại trước tác nào anh cũng có ngay sách, dễ dàng và nhanh mau vô tả.

Từ thơ đến văn. Từ một cuốn tiểu luận về Camus đến một cuốn tiểu luận về Nguyễn Du. Từ dịch thuật tiểu thuyết đến phê bình triết học. Tất cả như đùa như chơi vậy.”

Rồi Mai Thảo lại đem những thắc mắc này ra hỏi chính Bùi Giáng thì ông chỉ : « Cười cười, đốt điếu thuốc, cầm lấy ly rượu, nói: “vui thôi mà”. “Ừ vui, ba chữ “vui thôi mà” là câu trả lời mơ hồ nghịch ngợm duy nhất cuả Bùi Giáng trước mọi tìm hiểu lực thơ và số lượng thơ không thể tưởng tượng được ở nơi ông, cõi thơ vô bờ của ông trăm phương nghìn ngã mênh mông và chính ông là hiện thân của mênh mông nghìn ngã trăm phương ấy.”

Cho dù là Bồ tát giáng trần, cho dù là thiên tài kiệt xuất thì Bùi Giáng cũng chỉ là một con người nhưng là một con người phi thường mà bao nhiêu trăm năm nữa chúng ta mới có một người như vậy?

Xin mượn hai câu thơ của nhà thơ Nguyễn Hữu Thụy để khép lại bài trích dẫn ngắn này:

“ Dẫu cho sinh bất phùng thời
Còn trong thiên hạ những lời thơ bay…”

Saigon, những ngày mưa

PHẠM THANH CHƯƠNG

TẢN KHÚC CHO MỘT NGÀY

Bắt đầu một ngày với ly cafe góc chợ quê nhà. Bên cái nắng vàng rất vàng của ngày đầu tháng 10, bên từng cánh gió xao lá xao cây chuyển mình chờ hơi đông trở lại. Vài ngụm cafe, vài hơi thuốc, viết vài dòng tưởng nhớ đến hai nhà thơ lớn dù chênh lệch tuổi đời khi sinh, năm mất cũng cách nhau 21 năm, nhưng có cùng ngày mất,tháng mất. Đó là hai nhà thơ Bùi Giáng(1926-07.10.1998) và Du tử Lê(1942-07.10.2019)

Bài này tôi đã nhờ Fb chuyển đến những bạn bè thân hữu. Nhưng ngồi cafe, viết vội nên còn nhiều điều muốn nói mà chưa nói được, nên tôi thêm những cảm nghĩ, suy ngẫm của tôi ở đây như một bày tỏ…

Với tôi cũng như nhiều người khác chung thế hệ, it nhiều đều biết đến một vài tác phẩm hay gần như toàn bộ trước tác của hai nhà thơ cũng là điều dễ hiểu.

Với nhà thơ Bùi Giáng chúng ta còn được biết đến vài tên gọi khác là Trung niên đười ươi thi sĩ, nhà thơ điên, nhà thơ của những cuộc rong chơi, nhà thơ có nguồn nội lực vô bờ bến khi viết. Viết nhanh, viết mọi lúc, mọi nơi trên mọi chất liệu không cầu kỳ.

Với ông, cả cuộc đời Phụng Hiến*cho Thi ca nên ông luôn “… đặt trong bàn tay vạn vật. Quả tim mình nóng hổi những chờ mong”*. Từ đó ông yêu chuồn chuồn châu chấu, yêu “con kiến bé cùng hoa hoang cỏ dại. Con vi trùng sâu bọ cũng yêu luôn”*

Sức sáng tạo của nhà thơ Bùi Giáng khó ai sánh kịp về số lượng được viết trong một quãng thời gian khi đem so với số đầu sách đã xuất bản.

Cùng với đó là cách vận dụng ngôn ngữ rất bình dân cửa miệng của người đời nhưng khi được ông đưa vào thơ lại mang một dáng dấp khác, một uy nghiêm khác. Ở đó, tất cả được ông ban cho sinh hồn, trái tim. Tất cả toát lên một chữ Tình. Tình của người với người. Tình của người với đời. Tình của người với muông chim sâu bọ, đất đá sông ghềnh, thị thành phồn hoa, ruộng đồng làng mạc. Trân trọng là vậy!

Với nhà thơ Du tử Lê,ngoài những tác phẩm thơ chúng ta còn được thưởng thức những ca khúc được các Nhạc sĩ phổ nhạc từ thơ của ông. Chính những ca khúc được nghe mỗi ngày đã đem cái tên Du tử Lê đến với chúng ta một cách phổ cập hơn, gần gũi hơn, thân thiết hơn.

Với tôi, sự kính trọng về tài năng và nhân cách của hai ông, qua những gì tôi được đọc, được nghe từ hồi mới lớn đến nay ít ra cũng nửa thế kỷ, khi tôi hiện tại đã sắp bước tới “…thất thập cổ lai hy”rồi ,vẫn nguyên vẹn cảm xúc vui buồn khi đọc lại những câu thơ, nghe lại những khúc tình ca như buổi ban đầu. Đó cũng có thể gọi là hạnh phúc chăng?

Ngoài những điều nói trên,tôi biết trong những gì tôi viết dù thơ hay nhạc sự ảnh hưởng từ hai nhà thơ đối với tôi là điều không tránh khỏi. Trong chừng mực nào đó,tôi vẫn thầm cám ơn hai ông. Còn thoát được hay không khi viết là do mình, chính mình để tạo cái riêng mà thôi.

Riêng trong lĩnh vực thư pháp, khi muốn gởi gắm một điều cần chuyển tải đến người thưởng ngoạn, tôi luôn tìm đến những câu thơ của hai ông để thay lời tôi muốn nói.

Về âm nhạc, tôi đã phổ cho nhiều bạn thơ bấy lâu nay, coi đó là niềm vui cộng hưởng của người làm thơ, người viết nhạc, tuyệt nhiên không dám coi mình là Nhạc sĩ này nọ. Càng không bao giờ có ý định sẽ phổ nhạc dù một bài của nhà thơ Du tử Lê. Nhưng khi nghe tin ông mất,tôi mạo muội phổ một bài,cũng là bài duy nhất.

Tôi chọn một bài ông viết khi đóng quân ở Pleiku trong những năm chiến tranh nhưng chỉ nói đến Pleiku, một Thị xã nhỏ nhắn với màu dã quỳ vàng ruộm mỗi mùa đông về. It nhiều, dã quỳ vàng đã là biểu tượng của người Pleiku chúng tôi từ đó và mãi sau này. Bài thơ tên PLEIKU VÀ HOA QUỲ.

Đó là cách tưởng nhớ riêng dành cho nhà thơ Du tử Lê.

Đến đây,chợt nhớ đã hai lần được gặp nhà thơ Du tử Lê. Lần thứ nhất là năm 2015, khi ông về TP Pleiku ra mắt tập thơ GIỎ HOA THỜI MỚI LỚN. Lần thứ hai,tháng 10/2018 ông và phu nhân là Nhà giáo Hạnh Tuyền, là cô giáo của nhiều thế hệ học trò Trung học ở Pleiku trước 1975. Về TP Kontum lần đó còn có vợ chồng anh Nguyễn Sơn-Đinh Liên, có cả Huỳnh Quang Vũ, là những người em nhà thơ Du tử Lê rất quý mến. Cuộc gặp gỡ chân tình, thân thiết tại phòng tranh của tôi (khi đó còn hoạt động ở Kontum) luôn là một kỷ niệm đẹp trong đời.

Nghĩ và nhớ về hai lần hội ngộ với nhà thơ Du tử Lê bỗng dưng chạnh lòng khôn tả. Vì đâu và vì sao?

Vì lần thứ nhất ở Pleiku có tôi cùng Khanh vẽ từ Kontum về. Đêm đó còn có Bùi Ngọc Thành nữa. Đến hôm nay, ngồi viết những mông lung này, Khanh vẽ, Bùi Ngọc Thành, anh Nguyễn Sơn và nhà thơ Du tử Lê, người trước, người sau đã bỏ đời sống này bay về miền cổ tích.

Còn riêng tôi… bao giờ để bao giờ?

Chạnh nghĩ… cuộc sống cho dù thế nào đi nữa,dòng đời vẫn trôi, trôi về phía trước theo một dòng chảy vô hình vô hạn. Chỉ con người là có dấu chấm hết cho cuộc hữu hạn mà thôi.

Một ngày rồi sẽ qua.
Một tháng rồi sẽ qua.
Một năm rồi sẽ qua.
Nhiều năm, nhiều năm nữa sẽ qua.

Khi đó… như Trịnh công Sơn đã nói “Những người đến không vì mong.Những người chết không vì quên”.Vậy tại sao khi còn bên nhau cứ phải ganh ghét,tỵ hiềm?Tại sao không xích lại gần nhau hơn bởi “cuộc đời đó có bao lâu mà hững hờ

Một ngày đầy nắng.
Một ngày ngập gió.
Một ngày của bao ngày trong cái Mất Còn muôn thuở luôn khuấy động lòng mình khi có điều gì đó gợi tưởng?

Hôm nay… một ngày như thế!

Hoài niệm đầy ắp trong tôi.

LÊ HÁT SƠN

07.10.2022

*Phụng Hiến, tên một bài thơ của Bùi Giáng và những câu được trích từ bài này.