LOẠN KHÚC

Ở cương vị biên tập, không nên và không được so sánh nhà thơ này với nhà thơ kia… nhưng qua các cây bút trẻ, nữ, sao tôi vẫn yêu cái giọng thơ( không phải dòng thơ) của Hà Duy Phương và Phương Uy đến thế: thông minh, tinh tế và vô cùng khốc liệt.
(TNTD)

LOẠN KHÚC 1

dòng sông lột da rút sâu qua hoài niệm
bỏ lại trong tôi mặt nước lặng buồn
tôi chôn chân bên bờ như cây thu đứng gió
muốn trút một lần cho hết lá trăm năm

buồn-vui như trái chín
vữa trong hồn
ta lên men giữa mùa thinh lặng
mời nhau đêm nay
ngây ngất giọt đời…

đêm ấy, tôi mở tung những gì chưa nhìn thấy
sáng hôm sau, tôi lại mở tung những gì tôi đã thấy
bình minh bắt đầu bằng những tia nắng
rất khác nhau…

người không xa lạ người
sao ta xa lạ ta?

này em,
cắt lát ước mơ
chia nhau!

lưỡi dao khát vọng
bã bời xưa sau…

mặt trời đi qua
vòng gai xiết lại
ta hôn nhau
cơn mơ tứa máu…

hỡi những linh hồn cô độc
về đây cùng tôi trắc ẩn mộng đời!
và những cơn mơ xa khơi
cứ đánh đắm tôi phía trời hư ảo!

cuối cùng
cơn mưa tháng 7
là nước mắt buông rơi trên sông yêu muộn tàn
cánh quỳnh đêm trôi hoang
nhà anh – nhà em
sóng vàng cuốn lối

tử thi trôi trên sông
hồn về đâu về đâu
dòng sông trôi bao lâu
xác thân ai nhiệm màu

chôn hết vào em những giấc mơ của anh
ngày sau nấm mồ này đẹp lắm
khoảnh đất hoang mang mọc nhiều gai mắc cỡ
co ro em nằm
lỡ hẹn trăm năm…

có vì sao đã bứt khỏi lòng đêm
rủ gọi nỗi buồn trong tôi dứt rễ
mưa tuôn những đường bay kẽm gai
tuốt càn ngực nhớ
trên vũng máu dại khờ
tôi quỳ đợi sao rơi…

tiếng đàn ma mị ép gân hồn bứt máu
tưới thẫm hoàng hôn
đêm đỏ tràn cửa mộng…

em trên thân anh
nghê thường vũ khúc
chối bỏ xiêm y
thánh thần phủ phục

em vẫn thường hôn lên đôi mắt anh
trong ân cần giấc ngủ
vuốt mắt anh nhiều lần
cho nâng niu quen dần bờ-mi-khép-lại
ngày anh xa mãi

một ngày mai đã rớt lại đêm này…

mở ra đi rồi anh sẽ thấy
một hồn người nơi ấy vỡ đôi
em đã mang cẩn vào da thịt
thơm ngọt linh lan đôi nấc thang trời

cánh Thơ hồn nhiên rũ buồn trên môi thánh giá
ngày tôi dở chết
nóc chuông chao dao
trong mưa chiều những câu kinh chấp chới…

mỗi một lần trở về là mỗi một lần chông chênh
đời nối đời mỏi mệt
đi trong sáng lóa hồn nhau
bằng đôi chân đã ướm vừa bóng tối

nằm chết lặng cùng hoàng hôn bên cửa sổ
tôi ngỡ đời mình đã bốc hơi theo nắng
nhớ đêm qua vành môi ai trăng
lướt thả trên thân tôi những chiếc hôn lưỡi liềm
tình rung sóng máu
vỗ về bờ bến thủy tinh
tôi vàng hơn trăng
vàng lên bình minh cơn say đắng

chiều nay tôi vàng cát bờ phẳng lặng
hoàng hôn chôn vào một mặt trời hấp hối

đừng hỏi vì sao em yêu anh
khi ta đã biết yêu những nỗi đau đời mình
anh không thấy sao
người xa người
– tưởng như đêm nào mặt trời cũng mọc…

đừng hỏi vì sao em không xa anh!

ném vào nhau thêm vài vốc cát
anh sẽ thấy hoang vu sa mạc

có đoạn đường phải qua – bước chân tự sát
bởi những ngã rẽ yêu thương
đừng ngồi đó nơi hành lang ký ức
ôm dấu chân nào quyện khói
mong ngóng nhau về trong mắt môi xa…

người lữ hành không dám băng sa mạc
còn chán chường nào hơn
ta một đời cứ ái ngại ta?

cong trút mịn màng tràn da ánh sáng
cháy lõa mê bóng lửa ẩn tàng
nghiêng ngọn mắt Tình Yêu nhảy múa
đôi vết bỏng-lòa vụt nhận ra nhau

đổ lên mùa trăng chết
bóng em nghiêng giáo đường
câu Thơ quỳ thắp hương
dậy thơm hồn thập giá

chỉ có gió,
tiếng chim,
và bóng tối
– đêm thanh âm mặc khúc buông trầm

chỉ bóng tối,
tiếng chim,
và chút gió
– ta phiêu du trên đôi cánh âm thầm…

rồi cũng có một ngày em không nghe thấy
mưa rơi êm ru trong đêm
anh lách mình vào em
lặng câm nỗi niềm kẻ trộm

rồi cũng có một đêm em không nhìn thấy
giọt mưa vỡ ra anh của những ngày cuồng mây thương nhớ
đêm màu gì em ơi
mà đời mây xanh xám một màu mưa
em màu gì em ơi
mà hồn anh trong suốt một màu xưa…

ai một chiều bối rối khi chạm ngõ mùa thu
muốn úp mặt mình lên gió tình lãng mạn
cơn đau đời mê man thuở nọ
dậy gió lung bay vũ khúc hoang đàng

ảo vọng niềm đau – lưỡi dao lút cán
mở một mùa thu trống hoác xa mù
đêm mở mắt hồn ta ngất lịm
ai bung vuốt sầu bấu mặt thiên thu…

LOẠN KHÚC 2

không bánh mì, cũng chẳng hoa hồng
tôi lớn từ nụ hôn – nắm đấm
không hương đời, cũng chẳng hương trời
tôi linh hương lịm ngời lưỡi sấm…

này, giọt nước của dòng sông
mắc mớ gì lại trôi ra biển?

này, đứa con của long đong
mắc mớ gì bình yên thoắt hiện?

bước ra từ quán nhậu
người đàn bà tháo giày bước vào đêm
chân giẫm mảnh sành
cơn say phủ đầy nước mắt
giấc mơ bặt im chối từ cút bắt
gió đuổi theo người…

ừ thì
so găng
tranh cơn sầu lẫm liệt
em quán quân rồi
điêu tàn
cuộc mộng hoang mang

là nắng
là mưa
là bầu trời
là bông hoa dại vào nguyên thủy…

ôi lời rêu trải mềm thân đá
bát ngát mưa hôn
những nụ hôn đời
anh từ trời cao mây vỡ…

em cười với bóng tối
từ độ thân gió lên rêu
hồn ta màu mận chín
bứt xanh đêm tiêu điều…

có những nỗi niềm
nguyên hơn thủy tinh
dường như mình là cát?

nhận ra nhau cuối mùa đổ nát
mảnh vỡ có không ngọt ngào?
mảnh vỡ không đau
óng ánh răng cưa cứa hồn buốt nhớ

từ đó
ta biết yêu Thơ!

chưa bao giờ tôi thấy một bông hoa nào đẹp
bởi nó vốn sinh ra đã thế
chưa bao giờ tôi thấy ngày-mai là đẹp
khi nó cứ dẫn về hôm-qua

nơi ngổn ngang chất chồng
thấy mình đầy kẽ hở
nơi lòng nhau mênh mông
là hồn tôi gối sóng…

tôi chỉ thấy trông-mong
là đẹp!

ánh đèn ửng vàng má đêm
gió kẻ viền môi bóng tối
mắt tình buồn
trong chân dung bay…

bay lên
bay lên cánh cung
thịt da không kẽ hở
tôi thấy rồi
những lằn gân bỡ ngỡ

êm ru đường bay
máu chảy
tên người…

xuân mơ hồ vén màn sương quá khứ
ký ức vãng lai qua những nách gai đời
hồn tôi mây trắng…

trong tôi đang là mùa đông
rũ đâm nhánh cành trơ lá
có cánh chim vụt qua
rồi mất hút nơi lùm cây lạ

đánh rơi tiếng hót muôn trùng…

trong nổi trôi những phận người lận đận
tôi thấy tôi lách nhánh phao đời
tình giăng lưới trong mắt mùa ẩn nhẫn
mênh mông ân cần

sóng gió ôm tôi…

tôi lạc đà tôi qua sa mạc
gió nắng cười, hỏi:
có vui không?

thinh lặng chờ mong
mắt môi khép lại
hôn mê nắng gió nồng nàn

hồn tôi tung cát trắng hân hoan…

hãy cuốn tôi vào mơ
theo đền đài sụp đổ
hãy vùi tôi trong Thơ
không cần tên bia mộ

LOẠN KHÚC 3

HDP – ngọn đồi nắng gió
tôi hay rong chơi và lạc mất bóng mình nơi đó
tiếng chim tía lia rộn bước chân về
nghe bóng tôi cười khúc khích miên mê

HDP – khoảng trời mộng mơ
nghìn trùng lao xao đồi cao nắng hát
tôi buồn ngơ buồn ngác
ôi con sẻ nhỏ
lim dim nhánh gió hoang đường

đừng như cánh diều
bay lên
để rồi dùng dằng với gió
tự do chỉ có
băng rơi!

hai tia nắng ấy cứ thì thầm kể nhau nghe về hành trình của bóng tối
chiều tàn rồi, ngày tôi sinh ra
dường như chỉ có xót xa trong từng sát-na đời sống
diễm tuyền vô vọng
cơm-áo-gạo-tiền
con người buồn hơn con chó
tru đêm

tôi xúi anh nên uống nước dừa sau cơn say
khi cả linh hồn chừng như nghe nhức nhối
và lập tức chiều nay
anh rủ tôi vào quán… xưng tội

là tôi của những ngày ngã ba, ngã tư
rẽ hướng nào cũng thế
giã từ những nhánh sông đời và ngàn lau vẫy gọi
tôi chọn muôn trùng gió xé tên nhau

ngựa 7 màu
giấc mộng trăng
tôi băng trong bào ảnh trắng

cuồng nộ hồn tôi treo bóng tối tan hoang lên ngàn mắt bão
anh vì sao lạc buông rơi chút ánh sáng muộn màng
cú chớp mắt tin yêu nhá lửa
tôi cong theo rèm mi gió
thốc đáy vực sâu cháy quặn hình hài

cảm giác đâu đây những linh hồn rệu rã
khao khát yêu thương giấu mòn tuổi tác
trĩu nặng mười đầu ngón tay
cơn bình sinh ùa về chia sớt
tôi vuốt mắt mình như gió chạm phong linh

gió giễu cợt bình minh bằng âm thanh của sóng
tôi giễu cợt hồn mình bằng nỗi nhớ anh
trong bóng đêm rầm rào tiếng cười của quỷ
tôi bạt tay đời mình bằng hằng vạn nụ hôn

ai mài tuổi tác trên linh hồn của đá
tôi mong đợi gì ngoài những phôi pha?

luôn đi ngủ khi mặt trời thức dậy
sao tôi có thể yêu đêm đến độ phải ruồng rẫy vừng hồng?
bình minh lên từ đâu?
trong tôi mọc
một nhành đêm
rất trắng…

tôi nuôi nấng một loài đêm rất lạ
đêm bạo tàn
đêm hoang mang
đêm giam kín hồn tôi trong mắt lửa
cánh mỏng âm thầm hương yêu tinh

cuộn tròn… cuộn tròn…
đêm búp nhung
tướt nhuỵ
giọt tinh khôi ứa ra từ khoé mắt
bục vỡ dạt dào cơn mưa mơ

bung giữa hồn tôi
cánh hồng đen mướt máu

cảm giác ram ráp của râu và những sợi lông rạp mình vẽ vời lên thân thể
đêm qua
chiếc chìa khoá tôi đeo trên cổ bỗng hoá thành chùm lông tơ rực lửa
tôi thở ra sặc nồng mùi rượu…

khi không còn có thể tối hơn, đêm sẽ trở thành trong suốt
anh có nhìn thấy bóng tối co ro nằm trên giường
như chiếc vỏ chai chỉ còn sót lại vài giọt rượu
tưởng chừng ngàn năm?

đêm nồng hơn anh nghĩ
và tôi… cạn rỗng!

có gì để hoang mang
nơi vòng tay bất khả
gió đem buồn về biển
đêm lót sóng lên da…

đêm đã đầy chưa anh
tắt dùm tôi bóng tối
trên môi lời yêu mỏi
ta đang tràn gian dối

khi không còn gì để vui
ta xin mời nhau chơi đùa cùng những vết thương
ánh hồn muộn phơi bình minh yêu đương
cội thiên thu lung ngời lá tội
ừ thì một lần thấy vầng trăng sám hối
cho muôn đêm ai nhả khói lên trời

đêm đã đầy chưa anh
tắt dùm tôi bóng khói

nụ cười ấy đã nở sâu vào tôi
hương tình ngây ngất
con đường ấy đang mở ra từ tôi
hoàng hôn rực ngời bóng hình đôi-tay-nắm-chặt

nụ cười ấy tôi yêu
như đóa thơ ngây lãng đãng bay trên vùng ngơ ngác
tôi thấy tôi từ ngày bước lạc
nơi cõi vô cùng đau đáu tuổi thơ…


LOẠN KHÚC 4

ngọn gió cô đơn
quẩn quanh đỉnh núi
đỉnh núi cô đơn
gió về gần gũi
gần gũi cô đơn
nảy tình gió-núi
gió-núi cô đơn
dờn dợn sóng trời…

luồn tay qua kẽ đêm
khẽ xoa đầu ngọn gió
tôi thấy tóc mình nơi đó
bật gốc thinh không

ngồi đếm tuổi như đếm tiền lẻ
chẳng biết từ đâu ra
vui như trẻ thơ
thanh xuân vẫn còn hâm hấp
sống lưng máu nóng trườn lên gáy
Thơ ơi bừng nở
một đời huyệt mộ cánh hoa da…

mặt trời cứ đứng soi trên dòng sông tuổi
Chúa ở nơi nào… Chúa ơi!

Thơ con đó đóng đinh vào thập giá
thân con đó vùi đi trong lửa đỏ
nghe nhau nhé, tiếng con gào trong gió
nghe nhau nhé, một lần…

Chúa ơi!
con như lá biếc trên cành tai ương…

ngược dấu bay loài chim mất tổ
những vòng xe cắt lên mặt phố
đường chiều nắng cũ

đâu đây trên mái tiếng chim gù
bờ giậu hàng cau
bầy cá con mới nở
nỗi nhớ hoang tàn
chó sủa trong mơ…

chạy về quê ban trưa
rách trời mưa nắng
đồng không mông quạnh
người ăn xin tật nguyền ôm mưa bám đất
nằm co ro vất vưởng bên đường

nắng chói lòa, mưa rát mặt
bóng ai phù trầm hun hút vực sâu
dừng lại… dừng lại… dừng lại…
hay tôi cứ đi
hay mưa cứ cạn trời cho vực sống bốc hơi?

có điều gì đó bỗng trở thành thiêng liêng
dẫu tôi đã khước từ tình yêu ấy
khi mầm sống trong tôi bật dậy
là hoang vu gió cát xa mù…

đêm không một mình
tôi nói chuyện cùng người nơi xa đang ngủ
tự thú tôi yêu…

tình tôi như cánh diều vút lộng hồn gió
dường như hư vô đứng đó
tôi mở trong tôi một ngõ đợi chờ…

ánh sáng phủ tràn khi cơn đau tìm tới
mưa vỡ ngang trời cơn mưa chưa xưa
tôi biết giọt vui trên mặt đời tiều tuỵ
vỡ rất tan tành khi mắt em cay…

những ước mộng cứ thế khóa chặt vào trong đôi mắt
một ngày tôi không còn nhìn thấy
nhưng tôi biết bóng tối vây quanh tôi sẽ như chiếc kén nhung mềm
đôi mắt tôi là hố đen nuốt chửng ánh sáng
hoàn toàn

cho một chân trời nguyên khởi trong tôi…

đêm thịt da xõa lưới
trốn vào đâu anh ơi
hồn em đau ná thở
trong điên mê nhớ người

trốn vào nhau nghe anh
trốn vào em thật sâu
lún đau cơn xuyên thấu
bừng vọng hồn nhau bát ngát muộn phiền

còn xa nhau không nơi kiệt cùng?
còn yêu nhau không trong chập chùng?
đêm thịt da xõa lưới mênh mông…

em có thể quên đi nước mắt của chúng ta
nhưng em không thể quên những giọt mồ hôi đã ứa tràn thân thể
đêm bên anh, hồn lộng mê bóng nhớ
cuống cuồng níu nhau, xiết ghì nhịp thở…

lòng em – biển chết
những cuộc tình là xác sóng trôi
anh đang trong em sao vẫn thấy xa xôi
xác thân mê man, hồn chìm réo mỏi
em gọi tên anh…

gọi tên anh em gọi tên anh
cho bơ vơ mang ta trôi trong nhau
chân đêm vọng lời hư ảo
đôi bóng miệt mài

biển thức muôn đời từ những đợt sóng xô
khao khát lặng im như đôi ta khát tìm bình yên – nỗi chết
tình lầm mê, đời lả mệt
xin cho tận cùng thấy hết-hư-hao

dẫu có ra sao…

ngủ nhé
hoa hồng và bình yên của nến
trong thân đêm lửa nở
em thấy anh cười
hồn trời ngân ngấn huyết mây

ngủ nhé vĩ cầm
bức tường xám âm celtic
khu vườn ẩn mật
gió khóc bên trời
gió hát trong nhau…

Hà Duy Phương

Advertisements

CHUYỆN KỂ Ở ĐỘNG ĐÌNH HỒ

Mùa thu năm ấy, sau hơn hai tháng hành trình, đoàn sứ bộ của Đại Việt đã đặt chân đến Hồ Nam bên bờ hồ Động Đình sau một chuyến đi dài từ ải Nam Quan sang Trung Quốc. Trong hai tháng đó, đoàn sứ bộ do chánh sứ Nguyễn Anh Vũ dẫn đầu di chuyển theo con đường định sẳn của những lần sứ bộ đi trước đó, chủ yếu bằng đường sông: theo dòng Minh Giang và Tả Giang để đến Ngộ Châu, sau đó ngược dòng Quế Giang sang Quế Lâm, rồi đi vào kênh Hưng An xuôi thuyền vào sông Tương, rồi theo sông Tương chảy dọc suốt tỉnh Hồ Nam đến hạ lưu thị trấn Tương Đàm, Tương Âm vào hồ Động Đình nổi tiếng thơ mộng. Tại đây quan chánh sứ Anh Vũ cho các quan lại trong đoàn sứ bộ được nghỉ ngơi vài ngày để dưỡng sức trước khi dùng thuyền vượt qua hồ Động Đình để đến Hồ Bắc đi Bắc kinh hoàn thành trách nhiệm đất nước giao phó đồng thời nhân đó có thời gian tham quan thăm thú một số các danh lam thắng cảnh nổi tiếng của đất Hồ Nam. Từ lâu Anh Vũ nghe đồn phong cảnh xung quanh hồ Động Đình rất nên thơ hữu tình nên cũng muốn tìm hiểu nhằm mở rộng tầm nhìn đôi chút về xứ người. Xét về mặt địa lý, hồ Động Đình nằm ở phía nam sông Dương Tử và do nhiều hồ lớn hợp thành, có thể nói đây là một cái hồ tự nhiên trời ban dành tặng cho tỉnh Hồ Nam để làm nơi điều hòa lưu lượng rất lớn mực nước sông Dương Tử đổ về vào mùa mưa lũ. Ngoài sông Dương Tử ra, hồ còn được bốn con sông khác đổ nước vào là Tương Giang, Tư Giang, Nguyên Giang và Lệ Thủy. Ngoài ra còn có sông Tiêu đổ vào sông Tương gần Trường Sa trước khi sông Tương đổ vào hồ vì thế khúc sông này được gọi là Tiêu Tương. Sông Tiêu, sông Tương là những con sông nổi tiếng được nói tới rất nhiều trong văn chương Trung Hoa và Đại Việt mà chàng đã từng đọc qua.
Giữa hồ Động Đình mọc lên một hòn đảo lớn gọi là Quân Sơn, tên cũ của nó là núi Động Đình hay Tương Sơn. Đảo cách thị trấn Lạc Dương khoàng 13 km, chiều rộng 1 km, trên đảo có 72 đỉnh núi, có nhiều đình quán đền chùa. Phong cảnh ở đây đi cùng với hồ thật thần Tiên như chốn bồng lai tiên cảnh dưới trần, đã nổi danh hàng ngàn năm nay. Tương truyền rằng ngày xưa có tiên xuất hiện ở đây. Cảnh sắc thay đổi theo bốn mùa. Về mùa xuân hoa cỏ muôn mầu muôn sắc. Mùa hạ, trời quang mây tạnh là lúc thấy rõ toàn cảnh mặt hồ. Mùa thu khói sương huyền ảo như chốn thiên thai. Đêm đêm văng vẳng vọng lại tiếng hát câu hò của người dân chài vang lên trong thinh lặng. Mùa đông là lúc những loài di điểu trở về… Cảnh sắc huyền ảo như trong một bức tranh sơn thủy.
Đến Động Đình Hồ mà không thăm lầu Nhạc Dương là một thiếu sót rất lớn. Lầu Nhạc Dương ở đầu thành Tây Môn, thành phố Nhạc Dương tỉnh Hồ Nam. Đứng trên lầu có thể thấy bao quát cả Hồ Động Đình với mặt nước hồ xanh thẳm, thuyền bè qua lại và đảo Quân Sơn thấp thoáng xa xa nhất là khi hoàng hôn buông xuống , mặt trời đỏ lừng lựng khuất phía sau đường chân trời và từng đàn chim lũ lượt bay về tổ ấm tạo nên một bức tranh thật rực rỡ của một ngày sắp tàn. Trên đường đi sứ, các sứ thần nước ta khi đến hồ Động Đình đều dừng chân đến ngoạn cảnh ở lầu Nhạc Dương sau đó đến Vũ Hán thăm Hoàng Hạc Lâu . Là một trong bốn danh lâu Trung Quốc nên các sứ thần Đại Việt cũng đề thơ xướng họa lưu giữ bút tích của mình.Trung Quốc có câu Động Đình thiên hạ thủy, Nhạc Dương thiên hạ lâu. Động Đình là hồ đứng đầu thiên hạ, Lầu Nhạc Dương là lầu đứng đầu thiên hạ. Nếu Hoàng Hạc Lâu nổi tiếng với bài thơ Thôi Hiệu, Đằng Vương Các nổi tiếng với bài văn Vương Bột thì Nhạc Dương Lâu nổi tiếng với bài Nhạc Dương Lâu ký của Phạm Trọng Yêm.
Quan chánh sứ Nguyễn Anh Vũ cũng không ngoại lệ, ngay sáng hôm sau chàng đã đến lầu Nhạc Dương để ngắm cảnh. Lầu Nhạc Dương nguyên là Duyệt Quân Lâu do đại tướng Đông Ngô thời Tam Quốc dựng lên dùng để thao luyện binh sĩ, kiểm duyệt thủy quân, đến đời nhà Đường mới đổi thành Nhạc Dương lâu. Anh Vũ có dịp chiêm ngưỡng bút tích, đọc thơ của các nhà thơ nổi tiếng còn lưu lại như Mạnh Hạo Nhiên, Trương Cửu Linh, Lý Bạch, Đổ Phủ, đề thơ tự vịnh. Mãi vui vãn cảnh nên trên đường trở về sứ quán Anh Vũ bước lạc vào một một làng chài nhỏ ven hồ , những mái nhà thấp lè tè cũ kỷ, thưa thớt vắng người, không khí có vẻ ảm đạm buồn tẻ. Chàng đang đứng chơ vơ chưa biết hỏi thăm ai, bỗng thấy một lão ngư đầu đội nón tơi đang đi tới, chàng hỏi nơi đây là điạ phương nào, lão bảo: Đây là làng chài Đan Phượng, dân trong làng chuyên sống bằng nghề hạ bạc nhờ nguồn lợi thủy sản trong hồ đắp đổi qua ngày. Nói đến đây bỗng lão ngư thở dài ngao ngán: Suốt cả buổi sáng quăng lưới chỉ bắt được một con cá nầy mà thôi. Hôm nay nhà lão chắc thiếu gạo thổi cơm mất thôi. Nói xong lão dợm bỏ đi. Anh Vũ ngăn lại nhìn vào giỏ cá lão đang xách trên tay, quả thật chỉ thấy một con cá chép vẩy màu vàng lấp lánh nằm vật vờ trong đó, con cá nhìn chàng chớp mắt nhiều lần, chiếc đuôi lắc qua lắc lại như có vẻ van lơn cầu khẩn xin chàng cứu mạng. Động lòng chàng trả một số tiền khá lớn cho lão ngư rồi mang giỏ cá xuống bờ hồ để phóng sinh, chàng nói:
– Cá vàng ơi! Mày hãy trở về vương quốc thủy tộc của mày đi nhé. Đừng lạc lối đến đây một lần nào nữa kẻo lại hối không kịp.
Hình như biết nghe tiếng người, dưới dòng nước trong xanh của mặt hồ, cá chép lắc lư cái đuôi của mình mấy lượt, đầu ngước lên như muốn trả lời chàng trước khi lặn sâu xuống đáy hồ mất hút.
Đêm Động Đình hồ nhuốm một màu huyền ảo, trên bờ những hàng quán treo đèn kết hoa rực rỡ, tiếng đàn tiếng sáo du dương hòa lẫn với tiếng cười nói của khách du ngoạn tạo một không khí thật tưng bừng nhộn nhịp . Dưới bến nước, thuyền của tao nhân mặc khách cũng ra vào thưởng ngoạn không khí trong lành mát lạnh của mặt hồ . Anh Vũ cho thuyền chèo ra khơi xa một chút để ngắm trăng. Ánh trăng mười sáu in trên mặt hồ lấp lánh như dát vàng trên làn sóng lăn tăn trông thật huyền ảo. Trước phong cảnh hữu tình có một không hai ấy, Anh Vũ chợt hứng khởi ngâm nga:
Để tử Tiêu Tương khứ bất hoàn
Không dư thu thảo Động Đình gian
Đạm tảo minh hồ khai ngọc kính
Đan thanh họa xuất thị Quân Sơn(1)
Chẳng biết từ đâu theo làn gió đưa về tiếng ngân nga của một bài thơ tả về cảnh đẹp của Động Đình hồ:
Hồ quang thu nguyệt lưỡng tương hòa
Đầm diện vô phong kính vị ma
Dao vọng Động Đình Sơn thủy thúy
Bạch ngân bàn lý nhất thanh loa(2)
Là người am hiểu thơ Đường, Anh Vũ biết bài thơ đó là của Lưu Vũ Tích một danh sĩ đời Đường, chàng cảm khái cao hứng vỗ tay khen hay và cho thuyền chèo đến gần chiếc thuyền có treo đèn kết hoa xem ai là người đã ngâm vịnh bài thơ hay đó. Thuyền vừa cập mạn thì trên thuyền ánh sáng rực rỡ đó, Anh Vũ nghe có một giọng nữ vang lên:
– Quan nhân đã đến rồi thưa tiểu thư.
Có tiếng một người con gái khác ở trong thuyền:
– Em mời ân nhân vào trong thuyền giùm chị nhé.
Tức thì bên kia thuyền có một miếng ván dài bắc ngang qua thuyền chàng. Anh Vũ bước qua tấm ván để vào khoang thuyền, chàng thấy bên trong thuyền được bày trí thật trang nhã, diễm lệ, màn che trướng phủ, đèn sáp lung linh chẳng khác nào cách trang trí của con nhà khuê các giàu có. Giữa thuyền bày sẳn một tiệc rượu đầy những món ngon như đang chào đón khách quý,chàng ngỡ mình đường đột đến không đúng lúc muốn quay lui, thì nàng thiếu nữ xem chừng là chủ nhân, có gương mặt cực kỳ thanh tú, tóc mây xỏa dài như suối, trâm cài lấp lánh màu hổ phách, mặc chiếc áo vàng tươi sáng dưới ánh đèn trông muôn phần diễm lệ bước tới, nụ cười như hoa hàm tiếu mới nở:
– Xin ân nhân đừng ngại. Tiệc rượu nầy thiếp bày ra để chào đón ân nhân đó thôi. Xin mời chàng ngồi xuống đây.
Được ngồi đối diện với nữ chủ nhân xinh đẹp, Anh Vũ cảm thấy bối rối không biết phải mở lời như thế nào, vừa ngỡ ngàng trước vẻ đẹp của nữ chủ nhân, chàng lại vừa ngạc nhiên khi nghe giai nhân gọi mình là ân nhân:
– Ân nhân ư? Ta với nàng có mối ân nghĩa gì sao? Ta là khách lạ từ xa vừa ghé ngang qua đây và nhớ chưa hề gặp nàng bao giờ thì làm gì có nghĩa ân trong đó.
Thiếu nữ nhìn chàng, cười:
– Chàng thật mau quên. Có phải chàng cho rằng thi ân bất cầu báo chăng? Nhưng người thọ ân không thể quên được. Đạo lý thánh hiền từ ngàn xưa đã dạy như thế. Chẳng phải sáng nay chàng đã phóng sinh một con cá vàng xuống hồ nầy sao?
Anh Vũ giật mình kinh ngạc:
– Phải! Nhưng việc đó nào có liên quan gì đến nầy,chẳng lẽ nàng là…
– Vâng! Chính thiếp. Thiếp là con cá vàng mà chàng đã phóng sinh ban sáng. Thiếp là Tiểu Long Nữ, con vua Thủy Tề cai quản vùng Động Đình hồ mênh mông rộng lớn nầy hàng nghìn năm nay. Sáng nay vì mãi mê ngắm cảnh sông nước của hồ, thiếp đã trốn vua cha hóa thành cá chép lội rong chơi khắp nơi không ngờ dính lưới của ngư ông, cũng may gặp được chàng ra tay cứu giúp nếu không chắc chẳng còn thể xác để trở về gặp phụ thân nữa rồi. Ơn đức ấy thiếp kết cỏ ngậm vành cũng chưa trả hết được, thiếp mượn lời thơ xướng họa mời chàng qua thuyền, bày tiệc mọn để tỏ lòng ơn nghĩa xin chàng chớ chối từ.
Được lời như cởi tấm lòng, Anh Vũ cùng giai nhân trò chuyện vô cùng tâm dắc, Tiểu Long Nữ tỏ ra am tường thi phú làm Anh Vũ càng thêm mến phục. Qua vài tuần rượu,trăng đã xế ngang đầu lúc nào không biết, Tiểu Long Nữ nói với chàng:
– Buổi tiệc nào rồi cũng phải tàn. Buổi gặp gỡ của chúng ta đêm nay cũng là duyên kỳ ngộ. Thiếp biết chàng đang mang trách nhiệm đi sứ, nên không dám lưu khách lại thêm nữa, nhưng đường đi sứ xa xôi sẽ gặp nhiều bất trắc khó lường xin chàng lưu ý cho.
– Ta xin lắng nghe lời khuyên của nàng.
– Chàng ơi, chàng có biết một tai họa đang sắp ập đến với chàng rồi không?
Anh Vũ giật mình kinh sợ:
– Tai họa ư? Xin nàng nói rõ hơn?
– Chẳng phải là họ Nguyễn chàng có ân oán với loài rắn sao? Chàng không nhớ vụ án thảm khốc Lệ Chi Viên năm nào?
Anh Vũ nhìn Tiểu Long Nữ trân trối. Sao nàng lại biết vụ án oan khuất khủng khiếp mà gia tộc chàng phải hứng lấy, chuyện đã xảy ra nhiều năm rồi không phải sao? chàng thảng thốt kêu lên:
– Loài rắn ư? Ta cũng nghe mẫu thân nói điều đó. Nhưng theo ta đó chỉ là truyền thuyết. Riêng ta vẫn luôn mang nghi vấn trong lòng, miệng thế gian thêu dệt, lấy chi là thực, lấy chi làm giả?
– Chàng không tin ư? Thế gian có những điều giả lại biến thành thực, thực lại thành giả. Lộng giả thành chân, chàng là người trí giả không hiểu điều đó sao?
Anh Vũ trầm ngâm, nhớ lại lời kể của mẫu thân về vụ án Lệ Chi Viên năm nàokhi chàng đã lớn, gia tộc đã được giải oan: Đó là vụ án thảm khốc mà gia tộc chàng phải gánh lấy từ cái chết vô cùng bí ẩn của vua Lê Thái Tông khi tuần du về Chí Linh. Chuyện rắn báo oán có lẽ bắt đầu từ đời tổ phụ chàng là Nguyễn Phi Khanh. Khi chưa ra làm quan cho nhà Hồ, ông mở trường dạy học, môn sinh đến thụ huấn khá đông nên ông có dự định cất thêm trường lớp. Một hôm ông dẫn các môn sinh ra phía sau nhà chỉ khu đất trống nhờ họ phát quang cỏ để cất trường. Tối hôm đó, ông nằm mộng thấy một người đàn bà mặc áo trắng đến khẩn khoản xin ông thư thả ít hôm để dọn nhà vì các con còn quá nhỏ, dù không biết là ai nhưng thấy có thể giúp được nên ông nhận lời. Sáng hôm sau ông thức muộn thì đám cỏ sau nhà đã phát xong học trò vào báo lại, trong lúc phát quang, họ đào phải một hang rắn, họ đập chết ba con rắn con, còn con rắn mẹ bị đứt đuôi nhưng đã chạy thoát. Ông mới chợt hiểu người đàn bà trong giấc mơ là con rắn trắng đội lốt, ông thở dài buồn bã thốt: “Thế là ta không cứu được họ rồi”. Mấy hôm sau trong một đêm ông ngồi đọc sách thì trên xà nhà có một con rắn bò ngang. Đuôi của nó nhỏ máu xuống trang sách ông đang xem, giọt máu rơi đúng chữ đại và thấm qua 3 trang giấy như thầm bảo sẽ trả thù mối hận nầy qua ba đời liên tiếp. Khi nhà Hồ mất tổ phụ ông bị bắt giải về Bắc Kinh cùng hai vua nhà Hồ, khi qua biên ải ông có nhắc lại chuyện ấy cho Nguyễn Trải – cha chàng nghe để đề phòng. Nhưng không ngờ chuyện rắn báo oán lại xảy ra cuối đời của cha chàng khi lui về chí sĩ ở Côn Sơn. Tương truyền cha chàng có người hầu thiếp xinh đẹp và thông minh giỏi chữ nghĩa, cuộc gặp gỡ giữa họ phải chăng là mối dây oan nghiệt tạo nên vụ án Lệ Chi Viên khốc liệt? Chàng nghe kể cha mình gặp bà Nguyễn Thị Lộ năm 26 tuổi, lúc làm quan cho nhà Hồ, gặp nàng Thị Lộ 16 tuổi ở Vũ Lăng đi bán chiếu, thấy dung nhan xinh đẹp bèn làm thơ chọc ghẹo:
Ả ở đâu mà bán chiếu gon,
Chẳng hay chiếu bán hết hay còn ?
Xuân xanh nay độ bao nhiêu tuổi ?
Đã có chồng chưa ? được mấy con ?
Không ngờ cô nàng bán chiếu xinh đẹp ứng khẩu đáp lại một cách nhanh chóng:
Tôi ở Tây Hồ bán chiếu gon .
Can chi ông hỏi hết hay còn ?
Xuân xanh vừa độ trăng tròn lẽ.
Chồng còn chưa có, có chi con !
Cảm vì sắc mến vì tài Nguyễn Trãi bèn lấy bà làm thiếp. Vì bà có học thức nên được Lê Thái Tông phong làm Lễ nghi học sĩ để dạy dỗ cho cung tần mỹ nữ và giảng sách cho vua nghe, Chính vì thế khi vua Lê Thái Tông đi duyệt võ ở Chí Linh, trên đường về ghé vào Côn Sơn thăm Nguyễn Trãi, lúc Vua rời Côn Sơn, Thị Lộ được lệnh theo vua về triều. Khi xa giá Thái Tông đến Lệ Chi viên (vườn trái vải) ở làng Đại Lai, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh, đêm ấy vua bị cảm, đến sáng thì mất, các quan hộ giá giữ kín và rước linh cữu vua về Thăng Long, rồi mới báo tang. Ngay sau đó Thị Lộ bị bắt, Nguyễn Trãi đang đi kiểm tra ở Đông Bắc, được tin Thái Tông mất, vội trở về triều cũng bị bắt và bị buộc tội đồng mưu với Thị Lộ thí vua. triều đình đã khép tội tru di 3 họ Nguyễn Trãi, gây ra một vụ án tàn khốc nhất lịch sử. Tương truyền rằng khi bị hành hình dìm xuống nước cho chết, thì bà Lộ biến thành một con rắn lớn bò xuống nước bơi đi mất. Nhân thế người ta cho rằng Thị Lộ là rắn đội lốt thành để hại con cháu Nguyễn Phi Khanh nhằm báo thù.
Gia quyến Nguyễn Trãi trước tai họa diệt vong đó cũng lưu tán khắp nơi khi biến cố Lệ Chi Viên xảy ra. Người em trai Nguyễn Trãi là Nguyễn Phi Hùng chạy về Phù Khê, huyện Từ Sơn, Bắc Ninh. Nguyễn Phù – một người con của Nguyễn Trãi – chạy lên Cao Bằng, đổi họ sang họ Bế Nguyễn. Bà vợ thứ năm của Nguyễn Trãi là Lê thị, đang mang thai, phải trốn về Phương Quất, huyện Kim Môn, Hải Dương nhưng rồi cũng không tránh khỏi sự truy sát. Đặc biệt, bà vợ thứ tư của Nguyễn Trãi là bà Phạm Thị Mẫn lúc đó cũng đang mang thai, được người học trò cũ của chồng là Lê Đạt giúp chạy trốn vào xứ Bồn Man, sau về thôn Dự Quần, huyện Ngọc Sơn, phủ Tĩnh Gia, Thanh Hóa. Tại đây, bà sinh ra Nguyễn Anh Vũ. Để tránh sự truy sát của triều đình, Nguyễn Anh Vũ đổi sang họ mẹ là Phạm Anh Vũ. Sau hơn 20 năm chịu oan khuất, vua Lê Thánh Tông đã xuống chiếu minh oan cho Nguyễn Trãi và cho tìm con cháu ông để cho tập ấm. Người ta tìm được một người con Nguyễn Trãi là Nguyễn Anh Vũ. Lúc này Anh Vũ đã đỗ Hương cống nên được Thánh Tông cho làm tri huyện và sau thăng dần chức tước được cử làm chánh sứ sang Trung Quốc.
Anh Vũ suy tư nói:
– Ta nghĩ rằng chuyện rắn báo oán đã chấm dứt sau ngày Thị Lộ bị hành hình. Hàm oan của cha ta chẳng phải đã rửa sạch rồi đó sao?
– Chàng quên rằng có truyền thuyết cho rằng khi bị dìm xuống sông chết, người ta thấy xuất hiện một con rắn trắng lội đi mất hay sao?
– Như vậy Thị Lộ tức là rắn biến thành đeo đuổi để trả thù ư?
Tiểu Long Nữ mỉm cười nhìn Anh Vũ:
– Chàng có biết chuyện Trụ Vương cuối đời nhà Thương? Ông ta là một vị vua ham mê tửu sắc hoang dâm vô độ, để làm vui lòng ái phi của mình ông ta không những giết hại trung thần, tận diệt hết loài hồ để lấy bộ lông làm áo, vì thế con cháu loài hồ quyết tâm báo thù rửa hận. Có con chồn chín đuôi thoát chết, thành tinh nhập hồn vào thân xác Đắc Kỷ xúi giục ông ta làm điều bạo ngược đến nỗi nước mất nhà tan. Thiếp cho rằng trong vụ án Lệ Chi Viên thì xác là Thị Lộ còn hồn là loài rắn báo oán thì có gì là lạ đâu. Con rắn thành tinh đó từ ấy đã về ẩn náo làm mưa làm gió ở hồ Động Đình nầy chờ cơ hội để báo thù chàng đó.
Tiểu Long Nữ trầm ngâm một lúc rồi nói tiếp:
– Đó cũng chỉ là một nghi vấn, một truyền thuyết. Nhưng có một điều nầy chàng phải lưu ý: Con đường hoạn lộ cũng là con đường chính trị hiểm ác khó lường, tai họa có thể ập đến bất cứ lúc nào. Vua Lê Thái Tông vốn là một ông vua ham sắc, có nhiều vợ, nhiều cung tần mỹ nữ hầu hạ ngày đêm. Chỉ trong 2 năm sinh liền 4 hoàng tử. Các bà vợ vua luôn tranh chấp ngôi thái tử cho con mình, dòm ngó đến ngai vàng, kéo bè kéo phái nhằm hậu thuẩn cho mình, nên trong triều thường xảy ra những hiềm khích, nghi kỵ. Vì thế trong một lúc giận dữ, vua Lê Thái Tông đã truất phế hoàng hậu Dương Thị Bí và phế lập ngôi thái tử con của bà là Lê Nghi Dân lúc ấy mới lên 2 tuổi. Thay vào đó lập bà Nguyễn Thị Anh lên làm hoàng hậu và phong cho con bà nầy là Lê Bang Cơ lên làm thái tử khi chưa đầy 1 tuổi. Cùng lúc đó có một bà vợ khác của vua là Ngô Thị Ngọc Dao cũng sắp lâm bồn. Nguyễn Thị Anh lại sợ đến lượt mẹ con mình bị phế nên tìm cách hãm hại bà Ngọc Dao. Cha chàng đã biết được âm mưu đó đã tìm cách cứu bà Ngọc Dao, đưa ra ngoài thành để nuôi giấu chờ ngày sinh nở. Chính từ môi hiềm thù, cũng có thể bà hoàng hậu cho người bí mật bỏ thuốc độc vào thức ăn để giết vua tại Lệ Chi Viên rồi vu cáo cho cha chàng và bà Nguyễn Thị Lộ cũng nên.
Anh Vũ nghe xong, ngửa mặt nhìn trời than:
– Oan oan tương báo biết bao giờ cho dứt. Nay ta đang mang trọng mệnh triều đình giao phó biết làm thế nào, chẳng lẽ bỏ mạng tại nơi nầy?
Tiểu Long Nữ vội trấn an Anh Vũ:
– Vì cảm ơn chàng đã cứu giúp, thiếp đã có cách giúp đở chàng tránh được tai họa diệt vong.
Nói xong, Tiểu Long Nữ sai người hầu vào bên trong lấy ra một thanh gươm trao cho Anh Vũ:
– Đây là thanh gươm trị thủy của vua cha mà thiếp mượn tạm, chàng cầm lấy sẽ qua hồ bình an, lúc trở về ắt có việc dùng đến. Thôi! Trời đã khuya chàng nên lui gót để sáng mai còn lên đường sớm, còn có cơ duyên chúng ta sẽ gặp lại nhau.
Sáng hôm sau, đoàn sứ bộ Đại Việt dùng thuyền vượt hồ Động Đình, thuyền đi gần giữa hồ bỗng sóng to gió lớn nổi lên dữ dội, từng cột sóng cao ngất như chụp lấy chiếc thuyền mỏng manh, một con rắn trắng lớn rượt theo,vượt ngang mặt thuyền gầm gào gọi tên Anh Vũ đòi mạng . Thuyền chòng chành, nghiêng ngã mấy phen tưởng chìm, ai nấy cũng đều sợ hải, lo âu. Nguyễn Anh Vũ biết rắn hiện hình báo oán, bình tĩnh cầm thanh gươm trị thủy bước ra trước mũi thuyền, đưa thanh gươm lên cao, dõng dạc nói lớn:
– Oan có đầu nợ có chủ, ta sẳn sàng đối diện ân oán của tiền nhân đối với nhà ngươi nhưng ngươi không được làm hại người vô tội. Nay ta đang mang trọng trách đi sứ vua Đại Việt đến Bắc Kinh nối bang giao giữa hai nước. Xin cho ta hoàn sứ mệnh lúc trở về sẽ nộp mình quyết không thất hứa.
Anh Vũ vừa dứt lời thì mặt hồ đang nổi sóng bỗng nhiên sóng yên hồ lặng như chưa hề xảy ra chuyện gì, người trong thuyền ai nấy đều ngạc nhiên. Đoàn sứ bộ qua hồ an toàn. Cuộc hành trình lại tiếp tục. Đường đến Bắc Kinh lần nầy khá vất vả, đoàn đến Vũ Hán, Hồ Bắc rồi theo đường bộ đến Võ Thắng Quang, đến Hà Nam, qua Tín Dương, Yên Thành, Hứa Xương đến Khai Phong, rồi lại theo sông Hoàng Hà đến Trường Ca, Nghiệp Thành, qua Hàm Đan vượt sông Dịch đến Bắc Kinh.(3) Đoàn ở lại Bắc Kinh khoảng 20 ngày hoàn thành công việc. Trở về đến phía bắc hồ Động Đình đã là cuối hạ đầu thu. Nước hồ vẫn xanh trong, hoa cúc nở đầy hai nên đường, sắc vàng như mật trải khắp nơi.
Thuyền lại vượt hồ, Nguyễn Anh Vũ ăn mặc gọn ghẽ, tay cầm thanh gươm trị thủy đứng hiên ngang ở đầu thuyền. Thuyền đi vào giữa hồ, nước hồ bỗng dưng sôi lên sùng sực, rồi sóng gió bắt đầu dâng lên dữ dội mãnh liệt hơn lần trước, trời xám xịt gió rít từng cơn thật ghê rợn. Rắn trắng xuất hiện, nhe năng múa vuốt, ào ào duổi theo thuyền. Anh Vũ nói lời từ biệt với mọi người, rút gươm nhảy xuống dòng nước xoáy trên mặt hồ. Nhờ có thanh gươm trị thủy mà thân pháp Anh Vũ trở nên nhẹ nhàng như đang ở trên cạn, đường gươm trở nên mạnh mẽ sắc bén khôn lường. Trên thuyền mọi người thấy Anh Vũ và con rắn trắng như quây tròn quần thảo lấy nhau trong một trận quyết chiến thật dữ dội. Nhờ có gươm báu trong tay nên đường kiếm của chàng rẽ nước loang loáng chém vào đầu rắn, Bạch xà cũng lanh lẹ không kém né đòn và cái đầu rắn miệng thè cái lưỡi đỏ lòm chực chờ phun nọc độc và tìm cách nuốt chừng lấy chàng. Ai nấy đều lo ngại cho tánh mạnh của Anh Vũ. Bỗng đâu nghe một tiếng thét lớn của Anh Vũ, mọi người chỉ thấy một đường kiếm xanh chém xuống đầu rắn nhanh như tia chớp, máu loang cả mặt hồ, tiếng quấy đạp dữ dội xen lẫn tiếng gầm rú ghê rợn kinh hồn, một lát sau mặt hồ trở lại phẳng lặng nhưng không thấy người và rắn đâu nữa, chỉ thấy máu loang cả một vùng rộng lớn, cả hai chắc đã chìm sâu xuống đáy hồ.
Người đời sau kể rằng Vua nhà Minh nghe trình tấu, cảm kích trước hành động dũng cảm tiêu diệt mãnh xà trừ hại cho bá tánh của vị chánh sứ nước Việt đã xuống chiếu sắc phong Nguyễn Anh Vũ đời đời làm thành hoàng của cả vùng Động Đình hồ bao la rộng lớn. Tuy nhiên còn một chi tiết mà người viết muốn kể thêm chắc chưa ai nhắc đến: Sau trận hỗn chiến dữ dội giữa người và rắn, kết thúc câu chuyện rắn báo oán gây nên vụ án Lệ Chi Viên đẩm máu năm xưa, Nguyễn Anh Vũ- hậu duệ cuối cùng còn sót lại của dòng họ Nguyễn – lại một lần nữa không chết, mà chàng cùng Tiểu Long Nữ – con vua Thủy Tề – sống ung dung tự tại, ngược xuôi sông hồ, chu du tứ hải, non bồng nước nhược, danh lam thắng cảnh không nơi nào không đến, thân xác phiêu diêu thoát khỏi sông mê bến tục nhiều ân oán thị phi, sống luôn tìm cách hãm hại nhau để tranh giành quyền tước địa vị, công danh đối với chàng giờ chỉ còn là bọt nước đầu ghềnh, đám vân cẩu bay cuối trời mà thôi.

NGUYỄN AN BÌNH

__________________________________________________

(1) Bài Du Động Đình của Lý Bạch
Dịch nghĩa : Dạo trên hồ Động Đình
Nơi sông Tiêu Tương vua đi mà không về
Chỉ còn cỏ thu ở Động Đình gian
Gió nhẹ tan sương thấy mặt hồ
Nắng lên họa rõ ra là Quân Sơn.
(2) Bài Vọng Động Đình của Lưu Vũ Tích
Dịch nghĩa: Ngắm hồ Động Đình
Vẻ phong quang của hồ và ánh trăng thu hòa hợp với nhau
Mặt hồ lặng gió giống như mặt gương đồng chưa mài sáng
Từ xa ngắm màu xanh của mặt nước hồ Động Dìnhvà núi Quân
Giống như trên cái mâm bằng bạc có con ốc xanh
(3)Theo “Nguyễn Du qua hành trình đi sứ Trung Quốc” của Mạnh Hà

Vai Màu Sương Phụ…

Có gì đâu! cũng là giã biệt
Dù chẳng xao lòng chẳng thấy vui
Chim xoải cánh từ phương mỏi mệt
Nhiều khi ta thấy chỉ mây trời..

Mây đã bay về phương từ bửa
Những gió xưa duyên dáng qua mành
Ví dầu sương bay từ khe cửa
Vẫn nghe tình là những mong manh

Có gì đâu! trò chơi ly hợp!
Lũ còng con bờ cát vô biên
Từ bên trời sóng vỗ triền miên
Trên vai người lụa trần sương phụ

Ta não nùng thiếu phụ như tiên
Vai bầu trời cởi mở chim huyên
Từ vết trần ai màu thiên địa
Bờ vai sương tà áo lụa đen

Có gì đâu! bọt trắng chia tan
Vỗ vào đây bờ cát dã tràng
Người đến đi như từng sóng biển
Chút hương nào ngơ ngác bay đan..

Hoa Nguyên

bầy sẻ trở về

1.
bố cục bức tranh đã bị phá vỡ
những mảng sáng tối
chuyển động
không theo một trật tự định trước
không một lời giãi bày

2.
sự câm nín đổ vỡ
trong một bình minh ngập tràn tiếng nấc
chiếc lò xo bị nén
đã bật lên
tạo một hiệu ứng lan toả
trong chiều kích bất định

3.
những mảng màu rơi xuống
chiếc mặt nạ trắng
vằn lên những tia nhìn hằn học
từ một liên tưởng khác

4.
có một đoá hoa hồng
ai đã bỏ quên sau khung cửa hẹp
em có buồn không
khi chẳng còn ai đoái hoài
sự vô vọng hồn nhiên
còn vẳng tiếng bi ai

5.
vẫn còn kịp bước em ơi
tiếng chim sơn ca đã vang lên đâu đó
hót mừng trời xanh
bầy sẻ đi hoang
cũng đã trở về

NP phan

Trên Bàn Tay Em Hoa Hay Trăng

Trên bàn tay em hoa gì vậy?
Có phải hoa lòng ta ước mơ?
Có phải hoa rừng anh hái trộm
Ngàn năm ngàn năm ngàn năm xưa?

Có phải một câu anh muốn nói:
“Yêu em không phải chỉ bây giờ!”
Em ơi hoa nở vì em, đó
Mà cũng vì em duyên dáng Thơ!

Mà cũng vì em, hoa hóa mộng
Vì em, tằm mới nhả ra tơ!
Áo em gió thổi trăm chiều gió
Mà đẹp làm sao mỗi giọt mưa!

Em nói đêm qua mưa nửa giấc
Khi em choàng dậy thấy trăng mờ
Tự dưng hoa hiện, tay em hứng
Anh cuối trời nao ai em đưa…

Anh cuối trời nao trăng viễn xứ?
Có cù lao nào không gió mưa?
Có góc rừng mô hoa chẳng nở?
Ôi em chờ anh hành lang trưa…

Trên bàn tay em hoa sẽ tàn
Gió vào hành lang gió lang thang
Mưa năm mười bảy em nâng cốc
Hàng xóm bay bay chiếc lá vàng…

Trần Vấn Lệ

GIỮA HAI MIỀN VIỄN XỨ 5

Vỡ nát giấc mơ hoài
Chương ngón áp út NGỤC TÙ
Hết ưu tư – từ giã

Có những người dễ đắm mình vào các trạng thái , trạng thái tư lự, ánh mắt nhìn xa xăm, nhìn vô định, hoặc lim dim hay nhắm mắt nhưng không ngủ… thường những người này thuộc tuýp người sống nội tâm, họ suy nghĩ nhiều, họ tập trung suy tưởng để tìm một con đường giải quyết một vấn đề nan giải nào đó, hoặc tìm con đường đi cho mình, tìm con đường đi tốt đẹp cho những ai thấy nó là tốt, họ cũng thường thuộc tuýp người sống vì cộng đồng, vì xã hội.
Nhắm mắt mà tìm con đường ư?
Ừ, phải. Con đường đó là con đường hư ảo, chứ không phải là con đường để người ta bước đi hiện hữu. Nó giống con đường mơ ước, con đường ánh sáng của Việt.
Con đường ước mơ của Việt mãi mãi sẽ là con đường mơ ước. Anh nghĩ sẽ trở lại với nó nhung không bao giờ được. Con đường ánh sáng của Việt đã bị lọt, bị cuốn vào một lỗ đen như lỗ đen vũ trụ, một lỗ đen mênh mông, thăm thẳm do chính con người tạo nên, những con người có cái gọi là người Cộng sản.
Người Cộng sản với sự khát máu cuồng điên, bằng mọi giá, bằng mọi thủ đoạn đã tràn vào thôn tính miền Nam. Họ bắt đầu thiết lập nên một xã hội có cái gọi là xã hội mới.
Tiếp theo ngay sau đó, lỗ đen được hình thành từ những cái đầu đen tối của họ. Nó là một nấm mồ tập thể chôn tinh thần xã hội họ vừa thôn tính. Với họ đây là một xã hội mang toàn những định kiến sai lầm, một xã hội Mỹ – Ngụy độc ác, tàn bạo, xấu xa, dối trá… đó là điều dĩ nhiên được áp đặt. Họ chôn sống nó tức thì, chôn không để lại một dấu vết, không để lại một tàn dư.
Sự độc ác, độc tài càng lớn thì đi kèm song song là nỗi sợ hãi cũng lớn như vậy. Nỗi sợ vô hình, nhìn đâu cũng thấy kẻ thù, nơm nớp lo sợ bị trả thù, nỗi sợ thường trực mọi lúc mọi nơi, cho nên không thể để lại một mần mống nào cho sự sanh trưởng. Phải vùi lấp nó, phải thui cháy nó thành tro tàn, chôn cả tro tàn. Họ đã hành động để có được như vậy.
Hành động chôn không khác mấy ở bầu không khí chiến trường, cũng những người lính lăm le súng ống, hơn thế nữa còn có sự tham gia của du kích, của dân quân địa phương, cũng những gương mặt đằng đằng sát khí, cũng sặc mùi oi bức, sặc mùi nghẹt thở…
Những nhát búa báng bổ vào những bức tượng, vào những đền đài mang hình di chuyển của con lắc ngược hướng, con lắc hướng lên chứ không bị trọng lực kéo xuống, khi đường đi xé gió hướng tới chạm vào tượng, vào đền đài nó phát ra tiếng chát chúa, tiếng của tinh thần hăng say ầm ầm đập phá bằng bàn tay cần lao, khi đi ngược trở lại nó kéo theo tiếng dội vào quá khứ, thinh không vang vọng không ngớt tiếng kêu gào đau xót của lịch sử.
Người Cộng sản không cần lịch sử. Họ tự tiện chặn đứng bánh xe lịch sử đang quay, dùng bất cứ thứ gì có thể được để nghiền nát bánh xe lịch sử, chôn vùi luôn lịch sử. Nhưng không thể được, vì lịch sử còn khắc ghi trên bia miệng dân gian chứ không chỉ trên bia đá, dấu tích không thể phai mờ. Không thể nghiền nát thì bóp méo hết sức có thể, báng bổ lịch sử chân thực hết sức có thể, họ viết lại lịch sử cho riêng mình.
Cũng như thế, không thể chôn xác, thể xác sống của con người trong xã hội Mỹ – Ngụy, chứ nếu có thể thì họ cũng đã thi hành.
Điều này có quá đáng chăng? Suy nghĩ của kẻ không có lòng vị tha, của kẻ đầy hận thù, áp đặt chăng?
Việt cũng đã từng nghĩ như vậy. Anh đã từng nghe kể lại khá nhiều, nhưng chưa bao giờ tin hoàn toàn.
Chuyện những người già kể từ thời Việt Minh, ở những vùng thôn quê, nhứt là những vùng xa xôi, người Quốc Gia không quản lý hết, người Việt Minh dễ dàng trà trộn vào đây. Những vùng này còn gọi là vùng “xôi đậu” theo nghĩa bóng là vùng lẫn lộn, vùng ban ngày của Quốc Gia còn ban đêm thuộc về Việt Minh, về sau là Cộng Sản. Việt Minh tuyên truyền phủ dụ ráo riết ở những nơi này.
Những người không theo Việt Minh mặc dù không theo ai cả, họ chỉ lặng lẽ theo cuộc sanh tồn, sẽ có một kết cục không thể nào tệ hơn. Họ bị bắt và sau đó được tìm thấy thi thể có thể là bị một nhát cuốc vào đầu, có thể là một cây gậy vạt nhọn đâm xuyên người, có thể là những vòng kẽm gai trói quật tay rồi thả trôi sông, có khi hai ba thi thể trôi sông dính chùm bởi những sợi kẽm gai đâm xuyên lòng bàn tay tiếp nối…
Những người có chức sắc, ở vùng quê thì dĩ nhiên là các chức sắc nhỏ bé, chức sắc làng trở thành những kẻ ác ôn, những kẻ nợ máu với nhân dân. Những người khá giả thôi đã bị quy thành địa chủ cường hào, thì những người giàu có, có người ăn kẻ ở, có tá điền mà thường được gọi là bạn, ở làng ruộng rẫy là bạn đồng, ở các làng chài là bạn thuyền,… Việt Minh không chấp nhận cách gọi này, họ cho rằng đó là những người nô bộc bị bóc lột tận xương tủy, thì không thể náo khác hơn, còn bị áp đặt những ngôn từ nguyền rủa kinh tận, những kẻ địa chủ cường hào ác bá, tham lam, phong kiến, trịnh thượng… Sự thanh trừng họ nói ra rợn tóc gáy, lạnh sống lưng, kể lại mà muốn lộn mửa, họ bị chặt đầu, cắm đầu trên cọc nhọn đem bêu giữa chợ, giữa đình…
Thời gian sau đó là lời kể của những người di cư khi đất nước bị chia cắt thành hai miền bằng vĩ tuyến 17.
Gần một triệu người đã di cư vào Nam. Họ mang theo gần cả triệu câu chuyện của riêng mình. Và những câu chuyện gần giống nhau, coi như đó là câu chuyện chung. Chuyện về cải cách ruộng đất của chánh phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Việt Minh là đứa con của Việt Cộng. Sau những lần diễn những tấn tuồng thành lập và giải tán,… thì bây giờ nó mang một cái danh khác, đảng Lao động Việt Nam. Dù có mang tên nào nó vẫn là đảng Cộng sản.
Cải tổ ruộng đất phải là duy ý chí của Việt Cộng, nó đồng nghĩa với một ý chí duy nhứt cần phải kiên định theo đuổi, cần phải tiến hành triệt để, tiến hành đồng loạt, cần phải bảo vệ tới cùng. Nó là điều đúng đắn tuyệt đối, nó tuyệt đối không thể sai, cho dù nó chưa qua một trải nghiệm nào. Cải cách ruộng đất mang hình hài bằng câu từ mỹ miều, cải cách đất đai, lấy của người giàu chia cho dân nghèo. Nó cũng đồng nghĩa bất cứ nhà giàu là xấu xa, là độc ác, là địa chủ như thời Việt Minh ở vùng “xôi đậu”. Nó không cần biết người người ta giàu bằng cách nào. Người ta giàu bằng mồ hôi nước mắt, bằng sự cần cù, người ta giàu bằng tiết kiệm, bằng chắt mót, người ta giàu bằng khối óc có suy tính… cũng mặc kệ. Mặc kệ sự ai oán, mặc kệ tất cả.
Chủ nghĩa Cộng sản không có khái niệm ai oán. Chủ nghĩa Cộng sản phải là chủ nghĩa tự tôn, tự hào. Chủ nghĩa mang lại cho những người theo nó luôn luôn vỗ ngực tinh tướng. Tinh tướng trong sự… hãnh tiến(!)
Sự trừng phạt những kẻ duy ý chí làm giàu, làm địa chủ trong mắt những con người tinh tướng làm sao tránh khỏi, và để chặt đứt sự ai oán, triệt tiêu ai oán. Hơn thế nữa, nó không còn núp bóng trong vùng tối, nó được thực thi ở ngoài áng sáng, giữa ban ngày.
Địa chủ bị lôi xoành xoạch ra giữa chợ, giữa đình, giữa bất cứ đâu có chỗ trống để có thể tập hợp được những kẻ cần lao, có chỗ căng những biểu ngữ với ngôn ngữ hận thù, lên án, mạt sát thậm tệ, có thể kê một vài cái bàn để dựng nên một phiên xét xử. Thực chất đây là phiên đấu tố với tội trạng đã rõ, đã được ghi sẵn để đọc mà thôi, những bản tội trạng được đúc ra từ một cái khuôn duy nhứt. Thậm chí không cần phiên xét xử, cứ lôi địa chủ ra giữa đàng mà đấu tố.
Tại đây, những kẻ cần lao tự do đấu tố, phải nói là được tuyên truyền, bị nhồi nhét vào đầu sự tự do đấu tố. Đấu tố càng hùng hồn, càng dữ tợn, càng đông đảo càng được vinh danh. Những kẻ cần lao nổi máu xỉ vả, nhiếc mắng không thương tiếc, được quyền tát tai, đá đít, quất roi thoải mái mà chẳng ngại gì. Không nhìn thấy tội tình gì xưa nay thì phải tìm kiếm cho được một tội mà áp đặt. Tội tình cho một số người không muốn làm những chuyện này, lương tri còn tồn tại trong họ, nhưng không thể, họ có thể bị đấu tố vì đi ngược hướng duy ý chí cách mạng, dám bao che cho “tội ác” hay sao, dám kích động nổi loạn hay sao, dám bày tỏ, dám rũ lòng thương kẻ “tội đồ” hay sao(?!)
Đấu tố xong, mọi chuyện tưởng rằng xong. Không, không có chuyện đó, đâu có dễ dàng với “tội lỗi” như vậy. Địa chủ phải chết, phải không được tồn tại trong bầu không khí của cần lao, bầu không khí của cách mạng vô sản ban cho. Họ cần phải chết theo một cách khốn khổ khốn nạn nhứt, chứ không thể có cái chết với chỉ một phát đạn, một nhát chém, chết như vậy không “xứng”. Nó không đủ răn đe, không đủ diệt đi mần móng đi ngược duy ý chí vô sản. Họ phải bị chết phanh thay, bị tùng xẻo, bị trừng trị theo phương cách từ thời cổ đại. Có những người bị chôn sống, nhưng chưa phải bị chôn sống cho chết ngay tức thì, bị chôn hết thân mình, chừa phần đầu giữa nắng cháy, giữa mưa sa, giữa những bêu rếu, nhục mạ hết sức có thể của những kẻ cần lao cùng với sự hô hào của cán bộ, sau đó họ mới giả từ trần gian trong đói, trong khát, trong nắng cháy, trong bùn lầy. Có thể nói họ đã thấy được địa ngục trần gian. Nhưng chưa phải là hết, còn tận cùng của địa ngục, cái đầu ló lên khỏi mặt đất của họ còn bị những nhát cày lấp mớ đất cho ngạt thở từ từ đi qua, bị những nhát bừa, những bàn chưn của trâu bò kéo cày kéo bừa bương qua làm tuông máu…
Khốn khổ khốn nạn tận cùng của sự đấu tố, đấu tố lẫn nhau của những người thân trong cùng một gia đình, trong cùng một dòng họ, chứ không hẳn chỉ là người dưng. Con cái hỗn hào với cha mẹ, dám đánh đập cha mẹ là điều Trời không dung đất không tha, nhưng nó vẫn xảy ra ở chốn đấu tố này. Đừng nhắc tới mối liên hệ gia phả xa hơn, anh em, ông bà cháu chắt, chú bác cô dì… có nghĩa là gì nữa đâu(!)
Trong khối óc của những con người này, bây giờ nó chỉ chất chứa một thứ duy nhứt, chất chứa duy ý chí vô sản. Nó không còn biết có cội nguồn, nó không còn biết có mối liên hệ máu mủ, ruột thịt. Nó tự cho mình có thể tử lỗ nẻ nứt lên. Nhưng có chui ra từ vết nứt của lòng đất, của những tảng đá… nó cũng chẳng cần mang ơn đất, đá. Nó cho rằng hiển nhiên mình phải có mặt trên đời, hiển nhiên mình phải thực thi những nhiệm vụ hiển nhiên. Không hiển nhiên sanh ra từ lỗ nẻ thì hiển nhiên tiến hóa từ loài khỉ, loài khỉ tiến hóa thành nhiều giống loài người, nhưng nó là loại bậc cao, được quyền thao túng hành động. Người ta chưa thấy loài khỉ “đấu tố”, người ta thấy tình mẫu tử của loài này rất mạnh mẽ.
Không còn cảnh nào rùng rợn hơn nữa. Không có tận cùng địa ngục nào khốn khổ khốn nạn hơn nữa. Nó lại ở ngay trần gian.
Việt không thể tin như vậy, không thể tin cho dù anh cũng không thể không tin lời của những người kể lại. Họ dối trá để làm gì? Anh thấy sự chân thành, sự thành thật hết mức ở họ. Họ kể trong nấc nghẹn, trong đau đớn dằn vặt. Họ kể lại chỉ một lần trong đời để cho biết vì sao phải rời bỏ quê hương, tại sao phải trốn chạy, họ không muốn nhắc lại lần thứ hai cảnh địa ngục trần gian, không muốn ai biên chép lại, không muốn gây thêm hận thù, không muốn trả thù, họ sẵn sàng tha thứ cho những tội ác kinh hoàng. Họ chỉ muốn có một cuộc sống bình yên.
Có một điều làm minh chứng, những cảnh địa ngục trần gian này được ghi lại từ những ống kính. Nhưng lạ thay, nó cũng chưa đủ thuyết phục để Việt tin vào. Khi cầm những tấm hình trên, Việt luôn săm soi, coi hoài coi mãi và tự hỏi, chúng có thiệt hay không? chúng có thiệt như thế này hay sao?
Mười mấy năm sau, sau ngày những người dân bên kia vĩ tuyến di cư mang theo câu chuyện kinh hoàng vào miền Nam, thì chính một số nơi ở miền Nam gặp những cảnh người bị chôn sống, bị đập đầu, bị chôn tập thể trong những cái hố sâu hoắm…
Đó là vào năm 1968, nhằm vào Tết Mậu Thân. Những cảnh này chàng thiếu niên Việt thấy nhiều trên báo chí. Tang hoang những vùng đất rộng lớn, những xác người, những bộ xương, những đầu sọ lăn lóc… đầy trên đây như những bãi tha ma là lúc khai quật những hố chôn khổng lồ ở Cố Đô. Những vành khăn tang trắng xóa trên đầu của người dân thành phố Huế mộng mơ ken đặc. Có thể ví như những điểm trắng của những con cò trong đàn cò đông nghịt trên cánh đồng bao la, màu trắng lấn át cả màu xanh của cánh đồng.
Ờ Sài gòn không có cảnh này, nhưng xác chết thì không thiếu. Ba của Việt kể lại, phần lớn là xác của bộ đội mặt mũi còn non choẹt, và số ít hơn là của những người lính Việt Nam Cộng hòa, cùng dân thường. Anh không được bước ra khỏi nhà, bị dúi đầu vào trong căn căn hầm ở nhà cho đến khi bên ngoài yên tĩnh và dọn dẹp sạch sẽ, nên không thể chứng kiến. Nhưng tiếng pháo kích vào sân bay thì nghe khá rõ ngay vào lúc giao thừa, kéo dài vài ngày sau, tức những ngày Tết. Tính theo đường chim bay thì làng của Việt khá gần với sân bay Tân Sơn Nhứt, nơi bị tập trung pháo kích nhiều nhứt. Ba anh cũng nói rằng, pháo kích là của Cộng quân từ hai miền Nam và Bắc. Miền Nam họ không công khai lấy tên Việt Cộng nhưng hai thực thể cũng chính là một, cùng một đầu não lãnh đạo. Họ nhân danh giải phóng, giải phóng… vùng tự do thì đó chỉ là sự lừa mị trong nhân danh. Họ nhân danh nhân dân để tấn công… đồng bào trong thời khắc thiêng liêng, thời khắc đón chào năm mới, đón Tết Nguyên Đán của dân tộc Việt. Mặc dù trước đó chính họ đưa ra thông điệp ngừng bắn trong dịp Tết. Thiệt là những hành động tráo trở.
Ở ngay nơi mình đang sống thì Việt tin, nhưng các nơi khác anh vẫn mơ hồ khả nghi. Anh hầu như không dám đọc hết các bài báo, những câu chuyện, đôi khi sự hồ nghi bảo rằng sự việc đã bị thổi phồng quá lên và người ta cũng có thể ngụy tạo thêm lắm chứ.
Và rồi cuối cùng Việt cũng phải công nhận tất cả là sự thực. Những hình ảnh gần như trên đập vào chính đôi mắt anh.
Anh đi tìm nàng Nụ Tím Gia Long, anh không gặp được nàng, nhà nàng đã khóa cửa im ỉm. Đây cũng là lần duy nhứt anh đi tìm. Bởi từ đây cuộc đời Việt đã rẽ một hướng khác, hướng chịu đựng ở trong lỗ đen.
Tìm không gặp, anh lang thang qua ngôi trường tìm chút kỷ niệm. Ngôi trường bị một bức màn đen bao phủ, nó u ám xám xịt, màu tường vôi vàng như chìm hút, như ghi lên hai chữ đã là quá khứ. Người ta đã xóa đi cái bảng tên trường, không thể có… thằng Gia Long “cõng rắn cắn gà nhà” được tồn tại. Áo dài mang màu tím bị cuốn ngược theo hai chữ quá khứ.
Tà áo dài may mắn bị cuốn thôi chứ không bị cấu xé, cắt cho te tua như những loại áo quần theo mốt.
Những chàng trai cô gái ăn vận mốt bị chặn ngay giữa đường, người ta xỉ vả hết lời về thói lai căng, thói học đòi theo văn hóa của thằng Tây, thằng Mỹ mũi lõ mắt xanh, một thứ văn hóa ngoại lai làm sao chấp nhận được trong xã hội mới, một xã hội cấp tiến nhứt của loài người tiến hóa từ khỉ đột chỉ cần phủ bộ lông che thân thể.
Sau màn đấu tố là màn hành động, người ta xé áo xé quần được thì xé bởi thiếu kéo để xẻ, có kẻ tận thu những cây dao của người bán hàng bên đường để cắt. Tận thu cho cách mạng, phải biết hy sinh vật chất cho cách mạng, phải biết đó là niềm vinh dự lớn lao.
Một anh chàng bị một đường xẻ từ dưới lai ót một phát lên tận lưng quần, cái quần ống loe loe bay phất phới, lộ ra bên trong cái quần lót. Mấy người cán bộ, bộ đội, du kích ngạc nhiên hết sức, họ nhíu mày suy nghĩ. Cuối cùng có một người phát hiện ra điều lạ lùng, anh ta nói lớn lên như thể vừa có phát minh:
“Ối giời ơi! Tớ phát hiện ra rồi nhá, biết rồi nhá. Cái ấy, đấy, đấy là thứ mà từ mấy hôm nay chúng ta thấy, ấy là những cái đít của những cô cậu ấy, chúng tạo ra đít có… gân ấy. Chẳng có những cái mông đít thanh niên miền Nam tự dưng có hiện tượng tự tạo ra gân gì cả đâu ấy.”
Mấy chú nhóc cười ha ha, có đứa cười lăn lộn giữa lộ, chúng bu xung quanh những cảnh này là thường tình. Những cảnh khác, chúng im lặng đứng nhìn hoặc xầm xì to nhỏ, các các bộ oai phong càng thấy mình như thần thánh. Cảnh này thì không xong rồi, cán bộ quát tháo ngay: “Im lặng nhá, im lặng cho chúng tôi thi hành công việc nhá. Công việc này là công việc quan trọng bậc nhất, công việc loại văn hóa lai căng, văn hóa đồi trụy, văn hóa phản động ra khỏi chế độ ta”.
Ngoài văn hóa lai căn của thằng Tây thằng Mỹ, còn có văn hóa của thằng Diệm, thằng Thiệu bẩn thỉu. Ông Ngô Đình Diệm và ông Nguyễn Văn Thiệu là tổng thống hai đời của Việt Nam Cộng hòa, còn gọi là Đệ nhứt và Đệ nhị Cộng hòa. Bất cứ ai của chế độ bị gọi là tay sai đều bị gọi bằng thằng, bằng mày và xưng ông xưng tao, xưng chúng tao, chúng ta…
Cái kéo là đồ nghề dễ xọc vào áo quần để xẻ cho rách nhứt, nay nó mang thêm một công năng nên không còn đủ sử dụng. Nó vào tay cán bộ văn hóa biến cán bộ thành thợ hớt tóc. Cũng như bài trừ ăn bận mốt, nó diễn ra bất cứ nơi đâu, bất cứ nơi nào có người để đầu tóc mốt, ở giữa đường, giữa phố, giữa chợ hay ở nhà họ cũng xọc vào mà: “Để bọn tao xử lý nhá”. Những mái tóc xù lông nhím của các cô gái là: “Ôi, gì mà giống như bọn Mỹ da đen nhớp nhúa quá nhẩy”, thế thì phải bị xởn đầu tiên. Rồi tới những mái tóc của các anh chàng để thiệt dài theo phong trào Híp py* (*Happy)…
Đi ngang gặp một cảnh như vậy, bất giác Việt đưa tay lên sờ mái tóc mình, anh không theo phong trào nào cả, chỉ vì ngày còn là sinh viên, Việt cũng để mái tóc dài lãng tử. May cho anh, ừ, từ ngày vào quân trường, anh đã nhẵn nhụi mày râu.
Lang thang, thang thang vô định, bởi những câu hỏi mà Việt chưa tài nào lý giải nổi, tại sao lại có những cảnh kỳ lạ như vậy? Cần nhiều suy nghĩ để giải đáp, nó dường như là phương hướng chỉ đường, cứ bước đi, bước đi tới đi tới, rồi tới một hướng sẽ có đích, sẽ có giải đáp.
Những lời đồn đoán cách đây không bao lâu hiện về. Người ta sẽ xài văn hóa rừng rú, văn hóa khỉ khọt, ai để móng tay dài, ai sơn móng tay sẽ bị rút móng đó chứ đừng có giỡn chơi… Những lời đồn đoán, Việt cũng như một số người cho rằng đó là tuyên truyền, là quấy phá, là bôi nhọ, cũng như chế độ Việt Nam Cộng hòa cũng tuyên truyền rằng Việt Cộng là những con người ốm đói, đi còn không nổi, bảy kẻ Việt Cộng đu tàu lá chuối, tàu lá chuối còn nguyên đó thôi. Những lời đồn đoán khó tin. Nhưng bây giờ Việt đã tin. Lời đồn đoán là sẽ gây nên thương tích, gây nên đau thương thì đâu ai dám để, nên nó không xảy ra. Nếu có chắc nó cũng như vậy chứ không đùa bỡn được. Xởn tóc xởn quần áo không gây thương tích thân thể nhưng nó gây thương tích tâm hồn, một vết thương tâm hồn khắc sâu vào người từ những đường kéo, đường dao…
Việt lại lang thang, lang thang vô định.
Một đám đông ồn ào đánh thức lối đi vô định trong đầu Việt. Những vụ xởn vừa xảy ra có kéo theo hiếu kỳ, có đùa giỡn, có bình phẩm… nhưng chưa bằng đám đông này. Và những đám đông kia anh cũng đã khá quen thuộc, tụ đám đông xong rồi tan, đám đông này di chuyển khắp phố phường, con nít chạy theo reo hò, hô la vô thức.
Một anh chàng tanh niên chưa biết chuyện gì xảy ra giống như Việt, anh ta hỏi:
“Dạ, chuyện gì vậy?”
Một số người biết nhưng không muốn, có lẽ là không dám trả lời. Có người nói:
“Lên trên mà coi thử chuyện gì.”
Anh chàng chạy lên, chen chưn vào coi. Anh chàng là kẻ tiếu táo. Gặp chuyện nực cười anh ta càng tiếu táo, anh ta quay trở lại vừa lắc đầu vừa cười khì khì và luôn miệng kêu “nô xì ta que, nô xì ta que…”, mà thường người ta dùng tiếng bồi, tiếng lóng này để biểu thị “không sao đâu, không có gì”, đó là do anh ta dùng nó để mượn từ nô:
“Nô xì ta que, nô xì ta que… nô hiểu, nô hiểu… người ta bắt anh chàng mê nhảy đầm đi diễn phố bêu rếu.”
“Sao biết được? cán bộ nói hả?”
“Cần gì nói, anh ta bị tròng cái bảng treo tòng tèng trước ngực kìa, đeo bảng mê nhảy đầm có kèm tên tuổi hẳn hòi kìa.”
Nhiều người lẩm bẩm theo: “Nô xì ta que…”
Mọi chuyện không qua mắt được cán bộ đứng gần đó. Một kết cục cho sự tiếu táo được biến thành tuyên truyền sai lệch với chủ trương đúng đắn cùa xã hội mới, anh ta… được diễn hành chung với anh chàng mê thiệt sự. Cái bảng anh ta có khác, “Kẻ tuyên truyền lệch lạc, tiếp tay văn hóa đồi trụy, phản động”. Các tiếng “nô xì ta que…” dĩ nhiên im bặt, xầm xì của người lớn cũng im bặt, chỉ còn tiếng con nít nháo nhào…
Việt cũng lẩm bẩm, nhưng để nó trong đầu chứ không cho thoát ra khỏi miệng, “nô xì ta que, nô xì ta que…”. “Nô xì ta que” bây giờ cũng đã trở thành không hiểu nổi trong anh, và dẫn anh tiếp tục trên những con đường vô định.
Đi rất lâu, như thể Việt không còn khái niệm thời gian. Rồi anh tưởng chừng như đêm đã buông xuống vì ánh sáng sáng lên, ánh đèn điện cùng lúc được bật chiếu sáng cho sanh hoạt thường nhựt chứ bây giờ trong đầu Việt không còn chỗ cho ý niệm luồng ánh sáng khai sáng, nhưng không phải, đó là ánh sáng của một ngọn lửa lớn, ngọn lửa bùng lên dữ dội trước một cổng trường.
Người ta tưởng đâu là cháy ở cổng trường, nháo nhào cùng chạy lại tìm cách chữa cháy. Không, không phải tai nạn bốc hỏa mà ngọn lửa từ tay con người châm nên. Những bàn tay gồng lên hết sức dù chỉ là bật lửa, châm lửa. Phải thôi, người ta còn cắn chặc môi, trừng mắt vào đống văn hóa phẩm đồi trụy nằm chình ình như thể là cái gai trong mắt. Đống văn hóa phẩm chất cao muốn lút đầu người là món mồi ngon cho ngọn lửa.
Ngọn lửa bừng bừng bốc cao, nó tỏa sức nóng làm Việt hoa mắt, mắt Việt chỉ còn thấy một làn ảo ảnh dợn dợn bay trước mặt. Anh thấy ngọn lửa cười khoái trá, đúng hơn là những gương mặt của những người đốt đống lửa in trong làn ảo ảnh này cười khoái trá, khoái trá một cách nham nhở, ngược lại thì những gương mặt thất thần, những gương mặt méo mó, sầu thảm và kìm hết mức chứ không dám biểu lộ của một số người đứng chứng kiến. Rồi Việt thấy những dòng chữ đang bò ra kêu cứu, những dòng ‘Tâm Hồn Cao Thượng’, “Học Làm Người’, ‘Quẳng Gánh Lo Âu Đi Mà Vui Sống’, hay đơn giản hơn là ‘Lịch Sử’, ‘Địa Lý’, ‘Việt Ngữ’, “Hình Học’, ‘Đại Số’, ‘Vạn Vật’… Các dòng chữ vừa kêu cứu vừa kêu gào đau đớn mỗi khi ngọn lửa thiêu bừng mạnh hơn. Thực sự thì đó là lúc những bàn tay gồng hết sức có thể để khưi cái đống mà họ coi là đống rác rưởi tanh tưởi cho cháy thiệt nhanh.
Việt không dám nhìn nữa, anh sợ mình không thể kìm được, sẽ nhảy vào cứu chúng. Và chắc chắn anh cũng sẽ bị thiêu rụi thành đống tro tàn. Việt còn ý thức được đôi chút, anh chúi mũi bỏ đi tiếp.
Không có chỗ nào bình yên.
Việt lại gặp cảnh người ta xúm xít, túm tụm lại coi một sự vụ đang diễn ra.
Lần này, đám đông có cách xa chỗ xảy ra sự vụ một chút. Bởi tiếng thình thình của những nhát búa và các mảnh vở bay tung tóe. Việt nhận ra những mảnh vỡ là từ bức tượng ông Võ Tánh trắng toát được nhà chức trách và dân chúng dựng nên tôn thờ.
Ông Võ Tánh, cùng với hai ông Đỗ Thanh Nhơn và Châu Văn Tiếp hiệp nên Gia Định tam hùng thuở xưa.
“Tam hùng à?”, “Ối giời ơi, tam với chả tứ, thằng Tánh chỉ là thằng theo phò thằng Gia Long nhá, là thằng bợt đít thằng Nguyễn Ánh nhá, sao ngu thế nhỉ, sao chả chịu theo phò người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ nhỉ? Còn hai thằng này… ư… ư… thằng Gia Long là thằng vua ta biết nhá, thằng Nguyễn Ánh là thằng nào nhể?”
Không có ai trả lời, làm gì có ai dám trả lời.
Uỳnh, uỳnh, uỳnh… những nhát búa tiếp tục.
“Ối giời ơi, mặc xác chúng nó, biết làm đéo gì, thằng nào láo thằng nào lếu, chúng ông cũng bổ cho tan xác chúng mày.”
“Ơ… ơ… này anh kia, cái anh to tướng kia, to tướng khỏe mạnh thế mà không lao động là phí lắm chứ lị. Nào, vào đây phụ bổ với chúng ông cái nào… nào…”
Việt dòm quanh, đích thị là chỉ mình rồi chứ không ai khác nữa. Anh lần lữa một chút, phân vân một chút, rồi nỗi lo sợ trỗi dậy nên định nhấc đôi chưn đi vào, nhưng ngay lúc đó Việt trấn tỉnh lại được, dù có như thế nào anh cũng không thể để đôi tay mình làm cái việc xấu xa đó, anh quay đầu, cắm cổ chạy, cắm cổ phóng, anh phóng qua có lẽ là hai pha bức tường gì đó, vài chướng ngại gì đó mà anh không nhìn rõ lắm, cắm cổ bỏ lại phía sau tiếng “réo rắc”: “Ơ… ơ… cái thằng, cái thằng chó má, cái thằng phản động, ông bắn cho bỏ bu bây chừ, đồ láo toét…”
Chạy lâu lắm, lâu lắm, có lẽ cả tiếng đồng hồ. Anh chạy có lẽ phải mười mấy cây số. Mệt nhoài, Việt tìm được một chỗ khá kín đáo và vắng vẻ để ngả lưng một tí. Rồi anh lại trở lại trạng thái dẫn dắt đi vô định.
Trạng thái này tiếp tục bị đánh thức bằng mấy tiếng đoàng, đoàng, đoàng… Mấy tiếng nổ phát ra chát chúa, ký ức về tiếng súng không thể xóa nhòa trong Việt, nghe, anh biết ngay nó là tiếng súng. Phản xạ tự nhiên, anh nhảy vào gốc cây ven đường ẩn núp, và nghĩ đâu đó có một trận đánh. Chờ khá lâu, không có tiếng súng nào nữa, anh lồm cồm bò ra khỏi, con đường trước mặt vắng tanh, không một biểu hiện gì là có đánh trận. Dáo dát dòm quanh, Việt thấy người ta tụ tập khá đông ở cuối con đường, nơi có một ngã ba, cuối con đường cũng là một bức tường chắn chạy dọc theo con đường cắt ngang.
Bước tới nơi này, trên bức tường người ta giăng mấy biểu ngữ, “Phiên tòa nhân dân”, “Kiên quyết trừng trị bọn phản động”, “Cương quyết trừng trị bọn gây tội ác với cách mạng, với nhân dân”. Và phía trước những tấm biểu ngữ là xác một người đổ gục, máu loang ra dĩ nhiên còn tươi.
Việt ớn lạnh, nhưng anh cũng ráng dừng lại, hòa vào đám đông để dò xét thực hư. Những người tụ tập bàn tán to nhỏ: “Phiên tòa nhân dân sao đâu thấy nhân nào?”, “Phiên tòa Cộng sản chứ phiên tòa nhân dân cái gì”, “Có thấy xét xử gì đâu? Có thấy cho nói gì đâu, có thấy ai bào chữa cho gì đâu ? Bịt mắt cột tay, lôi cổ ra, đọc vài câu phán tội là bắn đùng đùng ngay, vậy cũng gọi là phiên tòa được sao?”, “Ở đây còn có biểu ngữ để người ta biết, hôm qua tui chứng kiến ở cầu Ba Cẳng, chẳng có gì ráo, chỉ có cái chảng ba từ ba cây tre cắm cho đứng được trên chưn cầu, rồi họ trói người vào đó và hô bắn luôn”…. Thiệt là kinh hoàng, rùng rợn cho dù ai đó có một lá gan sắt đá đi nữa.
Không bao lâu sau đó, một người nữa bị lôi ra. Một người đứng ra đọc mấy dòng từ một tờ giấy, gồm tên tuổi và tội trạng y như trên tấm biểu ngữ, và phán tội xử bắn. Mấy người đang chống súng dưới đất nâng lên và bước đối diện với “kẻ tội đồ”…
Việt không thể chứng kiến, anh quay đầu và bước gấp gáp. Rồi anh phóng chạy, kiếm những con đường vắng mà chạy. Văng vẳng sau lưng là tiếng đoàng, đoàng, đoàng…
Bây giờ thì Việt tê liệt suy nghĩ thiệt sự, cứ vô thức chạy sâm sấp, và như ngựa quen đường cũ, đôi chưn anh đưa anh về nhà.
Việt vật nằm trong xó nhà, trong chổ u tối nhứt. Anh muốn nhờ màn đen tăm tối che khuất những gương mặt anh vừa thấy. Nhưng màn đêm không thể theo ý của Việt được. Chức năng của nó đâu phải như vậy. Nó đâu che được suy tư của con người, đâu xóa được ám ảnh dùm cho con người.
Những gương mặt được gọi là cán bộ, những bộ đội, những du kích, và cả những dân quân tự dưng Việt không thấy ghê sợ bằng những gương mặt cơ hội. Dù gì đi nữa, dù họ có hăng máu như thế nào đi nữa Việt cũng có thể thông cảm cho họ, cũng bởi họ bị nhồi nhét quá sâu, nhồi nhét từ trong trứng nước, và họ hầu hết còn khá trẻ, những sợi lông măng lún phún trên gương mặt non choẹt còn chưa sậm màu.
Những gương mặt cơ hội nham nhở nhảy múa trước mắt Việt. Đó là những gương mặt ở trường anh, ở một số trường khác mà anh biết, có cả sinh viên và có cả những ông thầy giáo, những gương mặt nghe tới câu “Tổ quốc – Danh dự – Trách nhiệm” là mặt xanh như tàu lá chuối, những gương mặt tìm mọi cách để trốn quân dịch hoặc nghe kêu gọi đi biểu tình của những người đấu tranh cách mạng công khai thì trốn chui trốn nhủi.
Những gương mặt cơ hội được ủ mầm trong xã hội tự do để rồi tiếp tay giết tự do kể cả cho mình và người khác. Trong xã hội tự do ở mức tối thỉu, người ta vẫn bị bắt bớ, tù đày, bị tra tấn đánh đập bởi đi ngược quy tắc của chánh thể đó là một chánh thể không Cộng sản, bởi nổi loạn bằng bạo lực, bằng khủng bố… nhưng con người trong xã hội đó vẫn được bày tỏ chính kiến, vẫn được tự do biểu tình ôn hòa, báo chí vẫn không bị rõ mõm, bịt miệng…
Những gương mặt cơ hội kinh tởm trở nên mạnh mẽ do đã tìm được nới ăn bám, bỗng dưng hùng hùng hổ hổ, mạnh miệng hô hào đến khản cổ cần tiêu diệt những kẻ phản động, phản đối, phá rối, chỉ có một con đường tiến lên là con đường Cộng sản.
Việt nằm ình ra đó, và xã hội mới của người Cộng sản lại ình ra trước mặt anh. Xã hội chỉ có một con đường, tất cả phải đi trên con đường này với tinh thần hăng say, tinh thần kiên cường, anh dũng, bất khuất, kể cả tinh thần đạp trên máu mà đi…
Nội tâm hay không nội tâm ư? Hồn nhiên hay không hồn nhiên ư? Mộng mơ hay còn gọi là lãng mạn, có hay không ư? Ung dung tự tại hay không ư? Mạnh mẽ sôi nổi hay không ư?… Tất cả bây giờ không còn là câu hỏi nữa, không tìm kiếm cho dù riêng tư nữa, chúng phải bị vùi chôn dưới nấm mồ vĩnh viễn.
Trớ trêu thay, tinh thần của xã hội bị chôn vùi nhưng vật chất của xã hội được gọi là ghê tởm đó thì được âm thầm chiếm lấy sử dụng. Cũng đúng thôi, đó chân lý của con đường, chân lý lấy vật chất quyết định ý thức, vật chất quyết định tất cả chứ không còn chỗ cho trái tim.

***

Nằm mãi trong xó tối, người Việt muốn tê liệt.
Một buổi sớm, anh định bước ra ban công để dòm ánh sáng nơi chưn trời, trong đầu anh lúc này không còn nghĩ tới con đường ánh sáng, ý định rằng xem nó bị sụp đổ, bị phủ đen như thế nào mà thôi, nhưng chưa kịp thì nghe tiếng réo giựt ngược, tiếng gọi đanh thép nhưng người ta thường nói rằng cần phải hùng hồn, cần phải mạnh mẽ, buộc Việt phải ra nhận thông báo được mang đến từ người hàng xóm cách vài căn nhà.
Cầm thông báo trên tay Việt khá ngỡ ngàng, anh không hiểu điều gì. Thông báo gọn trong mấy dòng, phải ra trình diện của Ủy ban Quân quản Sài Gòn – Gia Định để đi học tập cải tạo, học tập tư tưởng xã hội mới. Địa điểm trình diện là một trường học.
Hai hôm sau, khi anh đến đây, cả một sân trường đã đã gần như chật cứng người. Việt được đưa vào một phòng học cũng chật người. Kiếm một chỗ để yên vị, và nghe loáng qua các trao đổi thì Việt nằm trong số phải mang theo thức ăn hoặc tiền bạc, cùng với giấy bút, và tư trang sử dụng trong một tháng. Đó là dành cho những bậc sĩ quan, hoặc các vị công chức hành chánh có chức tước.
Những người bên ngoài sân thì chỉ đem theo với số lượng 10 ngày. Đó là những người lính hoặc những nhân viên hành chánh, những người có dính liếu tới các cơ quan, công sở nhà nước, ngay như những người làm lao công ở những nơi này cũng phải ra học tập. Họ học tập tại chỗ, ngay tại sân trường. Và thực tế thi họ phải học tập từ mười ngày tới một tháng rồi được về nhà.
Việt quá sức ngỡ ngàng. Anh không hiểu vì sao một kẻ chưa được đội cái beret nâu lại nằm trong số sĩ quan. Điều này, về sau mới được rõ, Biệt động quân là lính đặc biệt, là thứ ghê gớm trong mắt những người chế độ mới cho dù là gì đi chăng nữa. Sự ghê gớm cũng có thêm phần xuất phát từ đôi mắt của người hàng xóm đưa thông báo, người hoạt động nằm vùng mà không ai biết, không ai rõ. Người không hiểu Việt đã ở đâu, nhưng anh đã bị qui kết là phần tử phản động đứng đầu. Không phải vậy sao tới tận mấy ngày sau anh mới trở về? Chỉ cần đặt ra câu hỏi đó thì ông ta được quyền minh định theo ý của mình.
Đêm, Việt bị đẩy lên chiếc Motolova. Chiếc xe bị nhồi nhét nhét đầy người ì ạch lăn bánh, nặng nề nghiêng qua ngả lại y như những cái đầu nặng chịnh chất chứa bao nhiêu điều của những người trên xe. Không biết xe đi về đâu.

***

Nhưng cũng không lâu lắm, Việt được ngắm bầu trời, ngắm sao đêm trong rạng thái lắc lư khoảng hai tiếng đồng hồ thì đoàn xe đi vào một cánh cổng rồi đổ xịch. Mọi người bị lôi cổ xuống, bị chia ra và đẩy vào các căn nhà lờ mờ ánh đèn. Cả trăm người bị dồn vào trong căn phòng dành cho khoảng mười người. Thay kệ, nhiều người mệt mỏi ngã phịch rồi ngáy khò liền ngay. Những người còn thức thì “tận hưởng” bầu không khí dày đặc bởi khói thuốc lá hòa quyện với những tiếng thở dài thườn thượt, tưởng chừng như chúng cứ lảng vảng trước mặt, chúng uốn éo khiêu khích chứ không muốn bay đi, thực sự thì chúng nặng chịch và bị bịt bùng nên khó có lối thoát. Vài người muốn nói hoặc hỏi chuyện phải xầm xì nho nhỏ, đôi lúc nghe như tiếng rên rỉ…
Buổi sáng, thông tin truyền miệng, mọi người mới biết rằng nơi đây là Suối Máu. Một con suối ngập máu, ngập xác người trong một cuộc chiến đã quá nổi tiếng để trở thành địa danh ở vùng Biên Hòa này. Nhưng, kể từ bây giờ, không một ai được nhắc tới cái tên đó, lời của cán bộ quản giáo đã răng đe như vậy, phải gọi là trại tập trung cải tạo Tân Hiệp, Biên Hòa. Địa danh cũ bị cấm tiệt nhắc tới đủ hiểu rằng máu và xác của ai. Trong thâm tâm Việt và những người bị tập trung ở đây cũng chẳng lấy làm vinh hạnh gì từ điều rùng rợn, kinh khiếp này, nên hầu như ai cũng coi sự cấm kỵ là điều nên. Việt chỉ nhắc tới nó khi cần nhắc và với những ai không biết đến Tân Hiệp. Tân Hiệp vốn cũng là một trại tù.
Và bây giờ, đối với những sĩ quan cùng lẻ loi một kẻ còn chưa được coi là hạ sĩ quan của chế độ “thối rửa” trong mắt chế độ mới, chế độ những kẻ chiến thắng tự nhận, nó đâu khác gì trại tù, nó chỉ được thay thế bằng một cái tên mỹ miều mà thôi.

***

NHÂN QUẢ SẼ NGÀY MAI… .


Đêm còn bình an ở Phan Rí Cửa?

ơi phan rí
không mưa
mà mặn ướt
đây vai tôi bạn khóc đỡ nhọc nhằn
đây vai tôi hãy khóc giữa khô cằn
rồi rạch hết vào tôi tim xé vết

**
hãy khóc thế hệt như hôm biển chết
phan rí ơi
sẻ với bạn đau này
miền trung ơi khúc ruột xác xơ gầy
hai hốc mắt chang chang màu nắng cháy

**
hai hốc mắt đăm đăm nhìn sóng nhảy
nhớ thuyền căng lưới nặng cá tôm về
phan rí ơi
giờ ngỡ
giấc mộng tề
biển phía trước mà nghìn trùng ni nớ

**
biển phía trước mà nghìn trùng nhung nhớ
nhớ tự do nhớ cơm áo trẻ mừng
khi đón ba từ phía biển thơm lừng
phan rí bây giờ
mù tràn
đêm tối

**
phan rí hôm nay
ròng tuôn
đỏ ối
lũ chúng ta ôi máu thắm da vàng
lũ chúng ta ôi bờ cõi huy hoàng
ai đã nỡ tình thâm đem đổi chác

**
ai phụ khó ham giàu ôm bội bạc
phan rí ơi
bọn bán nước
tham tàn
đem dân nam nướng lửa ngọn trên giàn
trời nổi gió thổi bừng lòng yêu nước

**
phan rí ơi
chung mối thù
ta bước
vay trả nợ đòi nhân quả sẽ ngày mai… .

LAN MAY

Trong Im Lặng Có Khi Là Đã Mất

nghìn năm trước có lần em qủi mộng
nghìn năm sau mưa Bắc ngập trời Nam
mưa nhỏ giọt dầm xuyên sâu cốt tủy
xác thân mòn tê liệt ngất buồng tim

em hãy đến đền Hùng xưa thắp nến
qùi trang nghiêm khấn vọng mộ Hai Bà
trong bài niệm đốt linh phù khấn nguyện
những âm hồn Hồng Lĩnh cháy tan chưa?

sông núi vẫn quyện mùi đau tang chế
có thanh bình gỉa tưởng, truyện thần tiên
có ngựa sắt ,thiếu vai hùng Phù Đổng?
có sông Hồng chở nặng những oan khiên

trong nghiệp báo có khi nào ứng nghiệm?
một trăm năm oan nghiệt hỏi trời cao? (1)
mười bốn năm thật dài hay qúa ngắn?
em sẽ còn tiếng nói gởi ngàn sau?

đâu ai biết Vân Đồn, Vân Phong, Phú Quốc?
đâu ai còn nhớ đất Quảng Châu xưa ?
như hải đảo, cồn hoang quanh sóng biển
(chiếc áo dài hồn Việt vẫn nên thơ)

em hãy đứng ngẩng cao đầu Triệu Ẩu
hãy bồng con, chân đạp đất quê nhà
trong im lặng có khi là đã mất
một giang sơn, thầm hổ thẹn ông cha…

Lâm Hảo Dũng
(PTT)

RỒNG ĐÁ THÀNH NHÀ HỒ

Ánh trăng hạ huyền đã lên cao từ lâu và đang chếch về phía tây như một cái
móc câu vàng vành vạch treo trên vòm trời thàng tám, mùa thu với tiếng gió thổi vi vu nhè nhẹ xen lẩn với tiếng rên rỉ của côn trùng càng làm cho không gian chìm đắm trong thê lương tĩnh mịch. Đêm đã về khuya, trời càng thêm lạnh, ngọn gió phất phơ lay động những tấm rèm nhung treo trên lầu vọng nguyệt, ngọn đèn trong phòng hắt dáng một bóng một người đang đứng yên hình gần như bất động. Hồ Quý Ly đứng yên như thế đã lâu, nhiều đêm ông vẫn đứng lặng im như pho tượng, thao thức không ngủ được, tâm trạng rối bời trước tình thế của đất nước. Ông nhìn vào đêm đen, trầm tư. Tin tức cấp báo từ phương bắc qua những hỏa hiệu được bắn lên từ các phong hỏa đài đặt từ biên cương Cao Bằng, Lạng Sơn kéo dài đến thànhTây Đô cho thấy tình hình chiến sự đã cấp bách lắm rồi. Các thám mã cũng lần lượt phi nhanh báo tin về sự chuyển động của quân địch. Kẻ thù phương Bắc đã bộc lộ ý đồ xâm lược rõ rệt, đã chuyển quân sát tận biên giới với danh nghĩa phù Trần diệt Hồ thế mạnh như nước vỡ bờ.
Thật ra Hồ Quý Ly cũng dự đoán trước diễn biến tình hình sự việc nhưng không ngờ chiến sự lại diễn ra nhanh như thế. Các vì vua cuối đời nhà Trần chỉ biết ăn chơi hưởng lạc, phế mặc triều chính, còn quan lại, con cháu nhà Trần cũng chỉ mong giữ lấy quyền cao chức trọng tận hưởng phú qui sợ gian khổ nên những đề xuất cải cách mạnh mẽ của ông về chính trị, quân sự thường bị quan lại cựu triều dèm pha phản đối, chính vì thế nhiều lần những đề xuất cải cách ấy không thực hiện được. Biên cương phía nam thì Chiêm Thành dưới sự chỉ huy của Chế Bồng nga nhiều lần đánh tới Thanh Hóa, thậm chí đem quân ra tới Thăng Long để quấy nhiễu, cướp nhiều tài vật làm cho cuộc sống của người dân bao lần khốn đốn, phương bắc thì triều Minh chờ cơ hội nước ta suy yếu để xâm lược. Là người có tầm nhìn xa trông rộng ông thấy rõ được điều đó nên càng nung nấu quyết tâm thực hiện hành động cải cách của mình.
Chính vì thế ông đã hối thúc vua Trần Thuận Tông dời đô về Tây Đô để khi có biến dễ bề chống đở, tránh áp lực nặng nề của giặc khi đánh vào Thăng Long nhưng cũng đồng thời mưu tính một kế sách lâu dài: nếu triều Trần không còn phù hợp nữa thì phải thay thế đi để xây dựng một vương triều hùng mạnh khác mới có thể chống đở thế lưỡng đầu thọ địch được. Kế sách dời đô của ông lần nầy cũng vấp phải phản ứng dữ dội của bọn quan lại triều Trần nhưng thế lực của ông lúc nầy đã đủ mạnh để xoay chuyển tình hình. Thế là một cuộc thanh trừng đẩm máu xảy ra, những người không theo ý hướng của ông đều nhận lấy những hậu quả khủng khiếp: kẻ thì chết người bị tù đày, gia sản bị tịch biên. Ngay cả các quan chỉ vì can gián Hồ Quý Ly không nên dời đô gây xáo trộn tình hình mà nên ở lại Thăng Long, nơi có núi cao, sông sâu án ngữ, Họ còn cho rằng”Cốt ở đức, không cốt ở hiểm” nhưng Hồ Quý Ly gạt ngang: : Ý ta đã quyết, không được can gián nữa nếu không muốn lãnh lấy cái chết”. Thế là tất cả phải im lặng nếu không muốn chọn lấy cái chết.
Để xây thành Tây Đô, Hồ Quý Ly phải huy động toàn bộ sức người sức của rất lớn, phu phen tạp dịch rất nặng nề. Người già, đàn bà, trẻ em đều phải tham gia phục vụ công trình. Ngày ngày, tháng tháng, dân phu binh lính mệt mõi vào các dãy Tượng Sơn, Hang Ma, Đồi Cốc, Dọc Khoai chặt cây, đốn củi về đốt lò nung vôi, Lò nung vôi, nung gạch mọc lên nhiều vô kể cũng không đáp ứng đủ vật liệu để xây thành. Dân công phải bạt đồi, xẻ núi lấy đá phục vụ công trình, những phiến đá to lớn nặng hàng tấn được khai thác chuyển về xây thành, công việc vô cùng nặng nhọc, nguy hiểm. Các thợ kỹ thuật, nghệ nhân cũng phải làm việc suốt ngày đêm, lương thực cung cấp không đủ, đói ăn, ốm đau, lại nửa vùng đất xây thành nước tù đọng quanh năm nên bệnh dịch tràn lan làm phu phen chết dần, chết mòn không kể xiết. Đặc biệt là việc chế tác đôi rồng đá đòi hỏi những nghệ nhân lành nghề trong chạm khắc. Có người đã phải chết vì lỡ chạm sai một chi tiết không vừa ý với nhãn quan của họ Hồ. Hồ Quí ly đã tuyển chọn từ các nghệ nhân có tiếng tăm khắp các vùng về để chạm khắc. Tượng rồng được tạc bằng đá xanh. nguyên khối, khi tạc xong có chiều dài 3 thước 8. Thân rồng thon nhỏ dài về phía đuôi, uốn bảy khúc, vẩy phủ kín cả thân. Rồng có 4 chi, mỗi chi có 3 móng ẩn hiện trong các vân mây mềm mại trông rất huyền ảo, sống động vô cùng. Các khoảng trống dưới bụng và các ô tam giác ghép thành các bậc đều được chạm những đóa hoa cúc và móc hoa lại thật lượn mềm, tỉ mỉ đến từng chi tiết một. Đôi rồng khi chế tác xong được đặt nằm song song hai bên đường ngay trung tâm của tòa thành từ cổng nam đi sang cổng phía bắc của thành Tây Đô tạo một cảnh quan thật trang nghiêm, hùng tráng. Cứ thế tòa thành xây ròng rã suốt hơn 3 tháng trời mới hoàn thành(1).
Thành xây xong, việc dời đô đã ổ định, dưới sự ủng hộ của các quan Trần Thiếu Đế là cháu ngoại của ông phải thoái vị và ra chiếu nhường ngôi cho ông, Hồ Quí Ly yên tâm có thời gian hoạch định kế sách lâu dài cải cách đất nước theo ý định mình đã vạch ra từ trước, ông thực hiện một loạt những cải cách có lợi cho đất nước như: Phát hành tiền giấy “Thông bảo hội sao” thay thế tiền đồng thuận tiện cho việc cất giữ thông thương mua bán, quan tâm đến giáo dục, sửa chữa chế độ thi cử cho phù hợp, đưa toán học vào thi cử để tìm người tài. Về quân sự, Hồ Quý Ly ý thức rất rõ ý đồ xâm lược của nhà Minh phương bắc, ông càng ra sức tập trung xây dựng lực lượng quân sự hùng mạnh, chú trọng cải tiến kỹ thuật vũ khí, mở xưởng đúc vũ khí, tuyển thợ giỏi vào làm việc trong các công xưởng quân sự, Hồ Nguyên Trừng đã chế được loại súng thần cơ có sức công phá mạnh mẽ, thủy binh cũng được trang bị những chiến thuyến lớn hơn. Bên cạnh đó, ông chủ tr¬ương xây dựng các hệ thống phòng tuyến trên mặt đất để phòng thủ quốc gia như thành Tây Đô, thành Đa Bang và cả một hệ thống công trình phòng thủ có quy mô lớn, dài gần 400 km kéo dài từ núi Tản Viên, men theo sông Đà, sông Hồng, sông Luộc đến cửa sông Thái Bình. Nhưng những điều thực hiện được chỉ là bước ban đầu, thời gian còn quá ngắn, công việc không phải lúc nào cũng xuôi chèo mát mái theo ý Hồ Quý Ly, lòng dân còn bất ổn chưa nguôi hướng về triều cũ, tướng tài lác đác như lá rụng mùa thu, quân lính tập luyện chưa thuần thục, quân lương còn thiếu thốn nhiều liệu có thể chống đở thế giặc hùng mạnh được chăng, bao nhiêu mối lo như hằn sâu lên nét mặt của thái thượng hoàng Hồ Quý Ly. Trong không gian im vắng của đêm khuya như thế, bỗng ông nghe đâu đây có tiếng đàn tỳ bà vang lên lúc khoan lúc nhặt, lúc xa lúc gần đưa đẩy theo chiều gió như mang một nỗi sầu vạn cổ, lông mày ông chợt nhíu lại tỏ vẻ không vui. Từ chổ khó chịu ông lại ngạc nhiên tự hỏi: Tiếng đàn phát ra từ đâu vậy, sao tiếng đàn như mang một nổi u hoài uất hận khôn nguôi như thế. Ông cố gắng lắng nghe, hình như tiếng vang lên từ vườn thượng uyển thì phải. Tò mò Hồ Quý Ly khẻ bước xuống lẩu, chậm rải chân bước theo tiếng đàn đang bay trong gió. Dưới liềm trăng vàng treo trên ngọn liễu, ông thấy thấp thoáng bóng dáng một thiếu phụ với y phục trắng tinh đang ngồi trên băng đá cạnh khóm bông hải đường, người thiếu phụ có mái tóc đen mượt mà óng ả dưới ánh trăng chảy dài xuống bờ vai thon nhỏ, bàn tay mềm mại đang lướt nhẹ trên từng phím đàn. Dưới bàn tay tài hoa ấy, cây đàn vang lên những âm thanh trầm bổng, dìu dặt lúc thì trầm mặc u buồn, lúc thì như thở than ai oán thê lương vô cùng.
Trong không gian khuya khoắt tĩnh mịch làm cho Hồ Quý Ly như lạc vào một nơi đầy ma mị, liêu trai. Ông tự hỏi mình đang ở đâu đây và bất giác chợt rùng mình, cái lạnh như len vào từng đốt sống lưng. Người thiếu phụ nầy là ai? Ma quỷ, tiên nương hay là hồ ly? sao lại xuất hiện trong đêm hôm khuya khoắt như thế nầy, ngay trong vườn thượng uyển của ta? Tuy có phần sợ hải nhưng không kiềm chế nổi sự tò mò, Hồ Quý Ly bước tới gần thêm một chút nữa để nhìn cho rõ mặt người đàn bà. Dưới vòm trăng hạ huyền, gương mặt thiếu phụ hiện lên thật vô cùng diễm lệ mà hình như trong đời ông chưa từng thấy vẻ đẹp tự nhiên nhưng lại lôi cuốn như thế. Trên nét mặt yêu kiều đó lại thoảng lên nét buồn muôn thuở. Ông thử lục tìm trong trí nhớ xem thiếu phụ nầy có phải người ở trong cung không nhưng không tài nào nhớ được. Hồ Quý Ly lên tiếng:
– Nàng là ai? Tại sao đêm hôm khuya khoắt lại đàn một khúc cầm nghe buồn thảm thế? Ta nhớ như chưa từng gặp nàng trong cung của ta lần nào thì phải?
Người thiếu phụ đang chìm đắm trong cung đàn, thả hồn mình vào những phím tơ lòng, không biết có người bên cạnh đang lắng nghe tiếng đàn của mình tự nảy giờ. Nàng chợt giật mình thoát khỏi trạng thái mơ hồ lãng đãng như khói sương ấy, nhẹ nhàng đặt chiếc đàn lên chiếc bàn cẩm thạch kề bên, đứng lên vòng tay cúi đầu đáp:
– Tiện thiếp xin ra mắt thượng hoàng.
Hồ Quý Ly ngạc nhiên:
– Nàng biết ta ư?
– Ngài là đấng quân vương, cả đất nước nầy đều biết chẳng lẽ thiếp lại không biết người ư?
– Nàng chưa trả lời câu hỏi của ta.
– Thiếp không phải là người trong cung. Nhà thiếp ở dưới chân thành đông của tòa thành nầy.
Hồ Quý Ly lại càng ngạc nhiên:
– Dưới chân thành đông ư? Nàng làm sao vào đây được?
– Không có nơi nào thiếp không thể đến được thưa thượng hoàng.
Không để cho Hồ Quý Ly hết ngạc nhiên, người thiếu phụ tiếp lời:
– Tên thiếp là Bình Khương, là vợ của chàng cống sinh Trần Công Sỹ được thượng hoàng tin tưởng giao việc giám sát, đốc thúc phu phen xây bức tường thành phía đông.
Hồ Quý Ly nhíu mày suy nghĩ trong giây lát, chợt ông nhớ ra điều gì đó. Thì ra người thiếu phụ đứng trước mắt mình là vợ của Trần Công Sỹ người được ông giao phó xây dựng đoạn thành phía đông. Ông nhớ lại tất cả rồi. Để gấp rút dời đô từ Thăng Long về Tây Đô, Hồ Quý Ly đã huy động một số lượng lớn dân quân ngày đêm xây thành, đắp lũy, phu phen làm việc cực nhọc vô cùng, ngày đêm không nghỉ để đảm bảo tiến độ nội trong 3 tháng phải hoàn thành “kinh đô bất khả chiến bại”, Trong tình thế dầu sôi lửa bỏng lúc ấy, các tường thanh các mặt khác tới kỳ đã từng bước hoàn thiện công trình thì đoạn thành phía đông do Trần Công Sỹ phụ trách xây vừa xong lại đổ sập xuống không rõ nguyên nhân khiến cho Hồ Quý Ly vô cùng tức giận. Ông nghi ngờ Trần Công Sỹ có ý đồ phản nghịch nên cố ý làm chậm trể công việc xây thành làm lỡ việc lớn. Trong cơn giận dữ, Hồ Quý Ly đã ra lịnh cho quân sĩ chôn sống chàng vào vị trí bức tường thành vừa bị đổ để làm gương răn đe tất cả những ai bất tuân thượng lệnh và giao phó trọng trách xây tường thành tiếp tục lại cho viên quan khác. Sau nầy ông còn nghe quần thần kể lại, vợ Trần Cống Sỹ tên là Bình Khương nghe tin đã chạy đến ngự sử đài than khóc kêu oan cho chồng, nhưng ai nấy đều sợ uy của Hồ Quý Ly không dám vào bẩm báo lại. Vì quá tức giận, nàng chạy đến nơi chồng bị chôn sống, dùng toàn bộ sức lực để xô ngả bức tường dầy định mệnh ấy mong tìm thấy xác của chồng trong đó nhưng bức tường không hề lay chuyển. Vô cùng tuyệt vọng, nàng liều mạng đập đầu vào bức tường thành để tự vẫn theo chồng. Phiến đá nơi nàng tuẩn tiết in sâu dấu vết đầu người và đôi bàn tay cào cấu của nàng. Cảm thương trước tấm lòng chung thủy sắt son của người thiếu phụ, người dân nơi đây đã lập đền thờ nàng ở sát vách tường cửa phia đông thành Tây Đô. Sự việc xảy ra đã lâu Hồ Quý Ly hầu như không còn nhớ nếu người thiếu phụ không nhắc đến tên chồng mình. Hồ Quý ly nghĩ đến đây đã thấy rờn rợn vì biết người đang đối diện với mình chỉ là hồn ma bóng quế mà thôi, chẳng lẽ nàng ta hiện hình về đòi đền mạng ta chăng?(2)
Hồ Quý Ly cố giữ bình tĩnh, nhưng câu hỏi có vẻ hơi gượng gạo::
– Ta nghe người báo là nàng đã tự vẫn chết rồi kia mà.
Nàng Bình Khương nhìn nhà vua, giọng nói u buồn xen lẫn oán trách:
– Người nói không sai. Thiếp đã không còn sống trên cõi đời nầy, thân xác vùi chôn dưới ba tất đất từ lâu, mồ chắc đã xanh cỏ, nhưng linh hồn còn mang nhiều nỗi u uất, phảng phất trên trần gian chưa thể siêu thoát được.
Hồ Quý Ly có vẻ giận dữ, gằn giọng:
– Điều gì làm cho linh hồn nàng không tan? Chẳng lẽ với cái tội làm hỏng việc lớn của ta chồng nàng bị giết oan khuất lắm sao?
– Thưa thượng hoàng , đối với người cái chết của một chàng cống sỹ chẳng qua chỉ là con giun cái kiến mà thôi. Hơn nữa trong cơn thịnh nộ quyết định tàn bạo ấy cũng để thỏa mãn quyền uy tối thượng của mình mà thôi thì còn suy xét làm gì nỗi oan khuất của người dân chứ. Thượng hoàng có biết tường thành phía đông nơi chồng thiếp phụ trách xây dựng trên một nền đất yếu, phía dưới có mạch nước ngầm ăn thông ra Lỗi Giang nên không thể chịu đựng sức nặng hàng ngàn tấn của tường thành được, đổ sập là điều không thể tránh khỏi được. Thiếp đã đến ngự sử đài kêu oan nhưng không ai chú ý nghe lời giải trình của thiếp.
Hồ Quý Ly tỏ vẻ nghi ngờ:
– Làm sao nàng biết tường thành xây trên đất yếu? Phải chăng nàng nói để chạy tội khi quân của Trần Công Sỹ chăng?
Bình Khương có vẻ không vui:
– Người trần không thể biết được điều bí mật nằm trong lòng đất thưa thượng hoàng. Hình như trong xử lý công việc người chưa bao giờ tin tưởng một ai. Thiếp biết thượng hoàng là người có chí lớn, người dời đô về đất nầy để mưu đồ đại sự, xây dựng một vương triều hùng mạng để lưu danh muôn đời. Nhưng dục tốc bất đạt, xây thành một công trình to lớn như thế chỉ trong vòng 3 tháng chỉ bằng sức lao động tay chân cua con người là một việc làm kinh khiềp chẳng khác gì việc dời non lầp biển, đã làm tài nguyên đất nước kiệt quệ, sinh linh dân đen bị nướng vào lửa đỏ. Làm vua chỉ muốn người ta phục tùng mệnh lệnh, chỉ xem chung quanh mình thấy ai cũng có thể đồ phản nghịch, nghi ngờ tất cả mọi thứ dù sự thật hiện ra trước mắt và luôn dùng quyền uy để bức hại người khác thì không thể là một đấng minh quân được.
Nếu như bình thường, chắc chắn Hồ Quý Ly sẽ nổi cơn lôi đình thịnh nộ, người dám nói ra câu phạm thượng đó thế nào cũng thịt nát xương tan, nhưng biết Bình Khương là người đàn bà khác thường, chỉ là hồn ma bóng quế, vất vưỡng trên đầu cây ngọn cỏ thì cơn giận cũng nguôi đi, giận dữ cũng chẳng có ích gì, Hồ Quý Ly kìm nén cơn giận trong lòng nói:
– Ta tạm tin lời nàng vậy nhưng nàng nói ta dùng bạo quyền để cai trị dân chẳng phải quá đáng sao?
– Đây không phải là lời nói của thiếp mà đó là lời truyền tụng trong dân gian. Người ở trong cung cấm cách ly với đời thường, mắt không được thấy tai không được nghe, làm sao hoàng thượng có thể thấu hiểu được nỗi khổ của dân đen kia chứ? Bài đồng dao mà bọn trẻ con nghêu ngao hát khắp kẻ chợ ai mà không hay không biết.
Hồ Quý Ly lộ vẻ ngạc nhiên:
– Bài hát đồng dao ư? Bài hát nói điều gì thế?
– Thiếp xin đọc hầu hoàng thượng xin trước hết xin người không được giận dữ
Hồ Quý Ly gật đầu:
– Được. Ta hứa. Nàng đọc ta đi
Bình Khương bắt đầu đọc:
Bạt núi để xây thành
Phu phen nhiều lao khổ
Vợ con lìa cha anh
Thành xây xong lại sập
Xương chất đầy kè đá
Hào sâu đỏ máu dân
Thân gầy còm đói rách
Ai oán thấu trời xanh.
Những tưởng lục thập ký
Nào ngờ chỉ sáu năm
Thành cao dù muôn trượng
Không lớn bằng lòng dân.
Dứt lời, Bình Khương nói như nói chính mình:
– Long xà ẩm thủy lục niên ký chủ. Số trời đã định không thể cải mệnh được. Tiếc thay tích củi ba năm đốt cháy một giờ. Chỉ tội cho muôn dân vô tội một lần nữa lại nướng mình trong lửa đỏ hung tàn của giặc ngoại xâm.
Hồ Quý Ly nghe những lời nói của Bình Khương như từ cỏi âm vọng về. Ông chợt biến sắc không hiểu vì sao người thiếu phụ nầy lại biết điều bí mật mà chỉ hai cha con ông biết mà thôi. Trong đầu ông miên man suy nghĩ về điều nàng ta vừa nói. Mưu đồ xây kinh đô mới để thừa dịp truất ngôi nhà Trần đã manh nha từ lâu trong đầu của Hồ Quý Ly, mặc dù nắm giữ quyền cao chức trọng, dưới một người trên vạn người, nhưng Hồ Quý Ly nhận thấy các ông vua nhà Trần đã quá bạc nhược, u mê nên muốn tự mình thành lập một vương triều mới. Ông tin rằng với tài năng của mình sẽ xây dựng một đất nước hùng mạnh, phía nam có thể đè bẹp Chiêm Thành, phía bắc có thể dựa vào thành cao hào rộng thế núi hiểm trở có thể chống lại kẻ thù phương Bắc. Để thực hiện việc dời đô, xây dựng một vương triều vững mạnh cho riêng mình, Hồ Quý Ly đã bí mật cùng một vài cận thần tâm phúc của mình đi tìm thế đất tốt để xây thành. Khi thuyền xuôi dọc theo sông Mã đến động An Tôn ông thấy nơi đây thế núi hiểm trở, đất đai trù phú, hình thù như hình quả ấn của trời, sông Mã như long mạch dài hàng ngàn dặm, xung quanh còn có nhiều phụ lưu bắt nguồn từ Trường Sơn như sông Luồng, sông Âm, sông Chu, sông Bưởi giống như những chi long mạch chầu vào long mạch chủ ông rất vừa lòng, ưng ý.
Đứng trên núi cao, có thể ngắm nhìn kỷ lưỡng địa thế xung quanh vùng động An Tôn. Cảnh quan thật hùng vĩ, địa thế vô cùng hiểm trở. Phía đông nam có núi Đốn làm tiền án, tây bắc có núi Song Tượng. Một con voi chầu về hướng bắc, một con khác lại quay đầu về hướng nam canh giữ núi Mâm Xôi. Phía Tây Nam có 5 ngọn núi đá vôi: 3 ngọn gọi là Kim Ngọ(ngựa vàng), 2 ngọn khác gọi là Kim Ngưu(trâu vàng). Đây là một mỏ đá vô cùng to lớn có thể sử dụng để xây thành vững chắc. Thời bình với đồng ruộng phì nhiêu có thể cày cấy tích lũy lương thực, thời chiến có thể dựa vào thế núi hiểm trở tự nhiên, với thành cao hào sâu cự địch được.
Bên ngoài có nhiều dãy núi vòng cung bao bọc vây kín bốn phương tám hướng. Vòng trong là sông Mã, sông Bưởi lượn tròn như những chiến hào tự nhiên vây quanh. Ở trong cùng, một khu đất nổi lên như một cái ấn của trời, Bên trên là vòm trời xanh như chiếc lọng che cho cái ấn thật huyền ảo. Từ ngã ba Bông nối vài ngã ba Đầu là một nhánh chảy vào đền Hàn, Châu Tử xuống bến Lèn ra cửa Lạch Trường. Một nhánh qua đất Hàm Rồng đổ ra cửa Hới tạo thành thể lưỡng long chầu nguyệt. Thành xây trên động An Tôn nên gọi là thành An Tôn, còn gọi là thành Tây Đô(3)
Là người am hiểu phong thủy, Hồ Quý Ly khi chọn thế đất nầy để xây thành ông rất lấy làm tâm đắc, nói với các con mình: Đất nầy là đất Thạch bàn long xà lục thập niên ký(có nghĩa thế đất như rồng chầu rắn cuốn nầy vững như bàn thạch có thể trụ được ít nhất 60 năm) nhưng Hồ Hán Thương, người con trai thứ của Hồ Quý Ly, am hiểu phong thủy sau khi xem kỷ thế đất đã nói với ông: “Con lấy làm lạ, như phụ hoàng nói: đất nầy đúng là đất rồng chầu rắn cuốn có thể phát tích đế vương nhưng con xem đi xem lại có lúc lại giống thế Long xà ẩm thủy lục niên ký chủ, chỉ phát được 6 năm thôi. Hồ Quý Ly cho rằng kiến thức phong thủy của Hồ Hán Thương chưa tinh tường nên cũng không chú ý lắm vào nhận định của con.
Câu chuyện phong thủy nầy chỉ có cha con ông biết mà thôi, tại sao dân gian lại biết được mà truyền tụng qua bài đồng dao nầy? Có thật không chuyên gì cũng không thể qua mắt thế gian chăng? Bài hát đồng dao thật sự làm cho ông bối rối, lo ngại. Hồ Quý Ly cũng biết những hành động quyết liệt của mình tranh đoạt ngôi vị nhà Trần cũng là một điều mà nhiều người không phục, nên khi đã cũng cố được ngôi vị, chỉ sau 7 tháng làm vua ông đã nhường ngôi lại cho Hồ Hán Thương để làm thái thượng hoàng cũng nằm trong mưu tình của ông. Lẽ ra theo lễ tục, ông phải nhường ngôi cho người con cả là Hồ Nguyên Trừng. Hồ Nguyên Trừng là một người rất giỏi võ nghệ, lại là người có tài thiết kế vũ khí lợi hại rất xứng đáng được ông truyền ngôi nhưmg lại là con của người vợ cả, không có quan hệ huyết thống với dòng tộc họ Trần , nếu lập Trừng lên làm vua, chẳng khác gì như đổ thêm dầu vào lửa, khiêu khích sự chống đối của đám quan lại, giới sĩ phu và một bộ phận lớn nhân dân trong nước, đồng thời cũng tạo thêm lí do cho giặc Minh dễ bề thực hiện ý đồ xâm lược nước ta với chiêu bài “phù Trần diệt Hồ”, vì thế Hồ Quý Ly quyết định chọn người con thứ là Hồ Hán Thương lên giữ ngôi vua, Một điều dêc hiểu Hồ Hán Thương là con của công chúa Huy Ninh, vợ lẽ của Hồ Quý Ly, đồng thời cũng là con ruột của Thượng hoàng Trần Nghệ Tông, Hán Thương gọi Nghệ Tông bằng bác, gọi vua Thuận Tông(con Nghệ Tông) bằng anh và gọi vua Kiến Tân(con Thuận Tông) bằng cháu, nên việc lập Hồ Hán Thương làm vua cũng nằm trong tính toán, trù liệu của Hồ Quý Ly cả nhằm lôi kéo những người còn lưu luyến với triều đại cũ.
Như đoán được sự băn khoăn trong lòng Hồ Quý Ly, Bình Khương nói nhẹ nhàng:
– Câu chuyện đối đáp giữa người và thế tử Hán Thương về long mạch, cũng như việc lập thế tử Hán Thương lên làm vua thay vì Nguyên Trừng thượng hoàng có thể giấu giếm được dân đen con đỏ chứ làm sao che mắt được trời phật thánh thần ma quỷ, xin người chớ lấy làm ngạc nhiên như thế.
Hồ Quý Ly nghe nàng nói hình như tỉnh ngộ. Thì ra những mưu tính của ông dù ngấm ngầm bí mật hay công khai cũng không qua khỏi thiên cơ. Có điều mưu sự tại nhân, thành sự tài thiên mà thôi. Chẳng lẽ bao công sức ông đổ ra với hy vọng tạo dựng một vương triều hùng mạnh với những cải cách lớn lao, lưu danh cho muôn đời sau lại thất bại thế nầy ư?
Hồ Quý Ly thở hắt một hơi dài buồn bã, ngước nhìn bầu trời đêm, những ngôi sao lấp lánh, xa tít trên bầu trời kia có hiểu được tâm trạng ngổn ngang của ông lúc nầy không? Ông đang suy nghĩ gì trong đầu không ai có thể đoán được. Vài tiếng chim đêm đập cánh bay đi để lại tiếng kêu nghe não nuột, mấy cành liễu lay động tạo thành những bóng đen lăn quăn trên mặt đất như mấy con rắn đang trườn mình quăng tới tìm mồi, vài chiếc lá rơi, tiếng gió thổi lạo xạo cũng không làm cho ông thoát khỏi nỗi trầm tư, muộn phiền. Ánh trăng hạ huyền đã dần dấn mờ nhạt. Phía chân trời bắt đầu xuất hiện một quầng sáng báo hiệu một ngày mới bắt đầu. Một ngôi sao lẻ loi, muộn màng băng ngang qua vườn thượng uyển mất hút về phìa bầu trời xa xôi đầy bí ẩn. Trong thời khắc ấy, tiếng Bình Khương hình như thoảng bay đi trong gió:
– Âm đức của hoàng thượng không dầy, chính chính sách hà khắc, coi sinh mạng dân đen như ngọn cỏ, bao nhiêu xương máu người dân vô tội đã đổ xuống để xây thành đắp lũy, tiếng than oán ngút trời cao đã làm cho long mạch bị đứt đoạn không phát triển được. Thời cuộc sẽ có nhiều biến chuyển khôn lường, lòng người lại đang ly tán, không thể quy về một mối. Chỉ mong hoàng thượng sáng suốt mới mong tình thế thay đổi phần nào, cục diện may ra sáng sủa hơn. Không một triều đại nào có thể thống trị thiên hạ bằng bạo quyền được, muôn đời phải biết lấy dân làm gốc thiên hạ mới thái bình, đất nước mới không rơi vào ách thống trị của ngoại bang. Người đã tạo ra được một cái cớ có một không hai để kẻ thù xâm lăng nước ta với danh nghĩa phù Trần diệt Hồ, rồi sau đó đất nước sẽ ra sao chắc người cũng đoán được. Mấy lời khẩn thiết tự đáy lòng xin hoàng thượng nhớ lấy.
Khi Hồ Quý Ly ngước lên muốn hỏi Bình Khương điều gì đó thì không thấy nàng đâu nữa, xa xa chỉ thấy một bóng trắng lướt qua hàng cây rồi mờ dần mất hẳn. Hồ Quý Ly nhìn theo, lẩm bẩm như nói với chính mình:
– Nàng đã theo ngọn gió bay đi rồi về nơi mà nàng cần đến, phải chi ta nghe được những lời nói của nàng sớm hơn, có lẽ cuộc đời ta mắc nợ với nàng, với chồng nàng với cả dân tộc nầy. Cuộc đời ta chấm hết ta không hề hối tiếc, chỉ tiếc sự nghiệp lớn chưa hoàn thành, người đời sau có hiểu được chí lớn của ta chăng?
Lần đầu tiên trong cuộc đời mình, Hồ Quý Ly không còn tin vào những quyết đoán táo bạo của mình nữa, chắc ta đã già rồi. Ông chợt thở dài buồn bã.

*
Quả đúng như lời nàng Bình Khương nói, Tháng 9 năm 1406 quân Minh phát động chiến tranh xâm lược nước ta với chiêu bài phù Trần diệt Hồ, mặc dù đã tích cực phòng bị, xây dựng thành lũy kiên cố và huy động quân binh cao nhất, đặt quân phòng ngự giữ những nơi hiểm yếu quan trọng nhất nhưng quân nhà Hồ liên tiếp thua nhiều trận liền. Đúng như lời Hồ Nguyên Trừng (con trai Hồ Quý Ly) từng nói với cha mình “thần không sợ đánh, chỉ sợ lòng dân không theo”. Cuộc chiến tranh đã thu hút được một số lực lượng lớn người dân trong nước đứng lên chống lại nhà Hồ, ngay cả trong quân binh nhà Hồ cũng có nhiều người quay đầu chống lệnh. Chiến tranh giữa hai bên nhanh chóng ngã ngũ, quân binh nhà Hồ liên tiếp thua các trận đánh lớn ở thành Đa Bang, Hàm Tử. Tháng 4/1407 quân Minh đánh tới thànhTây Đô. Cầm cự chẳng bao lâu thì thành vỡ, cha con Hồ Quý Ly kéo tàn binh chạy về cửa biển Kỳ La-Hà Tỉnh thì quân Minh đuổi theo rất gấp. Đến ngày 11,12 thì lần lượt Hồ Quý Ly, Hồ Nguyên Trừng và Hồ Hán Thương đều bị giặc bắt. Nếu tính từ năm 1400, khi Hồ Quý Ly truất ngôi nhà Trần, tự lập làm vua, đóng đô ở Tây Đô cho đến tháng 4 năm1407 khi cha con Hồ Quý Ly bỏ thành chạy về Kỳ La lánh nạn và bị giặc bắt thời gian chỉ hơn 6 năm, phải chăng ứng với lời tiên đoàn nhà Hồ chỉ tồn tại được 6 năm của Hồ Hán Thương hay là ý trời trong bài đồng dao mà nàng Bình Khương đã đợc cho Hồ Quý Ly nghe?
Có một điều cần phải nói thêm với bạn đọc, cùng thời gian khi cha con Hồ Quý Ly bị giặc bắt giải về Tàu, Thành Tây Đô cũng xảy ra một câu chuyện lạ lùng: Trời đất đang quang đãng, trong vắt bỗng sấm chớp từ đâu nổi lên đùng đùng, từng trận mưa lớn đổ xuống như trút nước, lũ từ thượng nguồn sông Mã, sông Bưởi, sông Chu kéo về ồ ạt như một trận đại hồng thủy. Trời tối mịt mùng, sấm chớp rền vang khắp nơi, nước sôi réo ùng ục như thiên binh vạn mã rầm rập từ đâu kéo về, lẫn trong tiếng gió hú, tiếng sấm vang như còn có tiếng những oan hồn uổng tử cất lên tiếng kêu bi thương, ai oán như đòi mạng, nhà nào nhà nấy đều hoảng sợ xanh cả mặt mày, ôm chặt lấy nhau mà khóc, người bình tĩnh hơn cuốn vội vài vật dụng cần thiết rồi bồng bế nhau kéo lên đồi cao, núi sâu lánh nạn. Mãi đến ba bốn hôm sau trời mới quang, mưa mới tạnh, mọi người mới lũ lượt nhau kéo về quê cũ. Trong thành Tây Đô thật tiêu điều xơ xác, một phần bị giặc Minh cướp bóc tàn phá, một phần do tác hại khủng khiếp của cơn lũ vừa tràn qua. Rác rến, bùn xình, xác súc vật chết vương vãi khắp nơi, điều đặc biệt đôi rồng đá được chế tác tuyệt mỹ, tượng trưng cho sức mạnh vương triều nhà Hồ tự nhiên biến mất không còn để lại một chút dấu vết nào, không ai hiểu vì sao?(4)

Tháng 1/2018
NGUYỄN AN BÌNH
______________________________________________________________
(1) Theo truyền thuyết: Thành Tây Đô được xây trong 3 tháng thì xong nhưng xét về khối lượng công trình có người cho rằng xây trong 3 năm hay nhiều năm mới xong.
(2) Hiện nay đền thờ nàng Bình Khương vẫn còn tồn tại sau hơn 600 năm với nhiều lần trùng tu. Ngôi đền tọa lạc dưới chân bờ thành phía đông thuộc làng Đông Môn, xã Vĩnh long huyên Vĩnh lộc tỉnh Thanh Hóa. Trong đền còn lưu giữ một phiến đá kỳ lạ có in hình giống như đôi bàn tay và chiếc đầu người phụ nữ, người dân cho rằng đó là vết tích đập đầu tự tử kêu oan cho chồng của nàng Bình Khương.
(3) Theo sách “Thành nhà Hồ và những câu chuyện xây thành” của tác giả Phạm Văn Chấy
(4) Theo ông Nguyễn Xuân Toán, Phó giám đốc Trung tâm Bảo tồn di sản thành nhà Hồ thì đôi rồng đá trên được người Pháp phát hiện lại vào năm 1938 khi họ làm một con đường nội địa trong thành nhưng cả hai đều bị mất đầu. nguyên nhân của việc đôi rồng mất cả đầu có nhiều giả thuyết được đặt ra, nhưng chưa giả thuyết nào thuyết phục vì chưa trưng ra được những chứng cứ rõ ràng có thể chấp nhận được.

Tác Giả Tác Phẩm : PHẾ TÍCH CỦA ẢO ẢNH(Trịnh Y Thư)

Thơ là sự tràn đầy tự phát của những cảm xúc mãnh liệt(William Wordworth 1770- 1850)

Tương Tri xin trân trọng giới thiệu cùng các độc giả.

Vài nét về tác giả:
Trịnh Y Thư tên thật là Trịnh Ngọc Minh, sinh năm 1952 tại Hà Nội, lớn lên ở Sài Gòn và du học tại Hoa Kỳ từ năm mười tám tuổi. Nguyên Chủ bút tạp chí Văn Học (California).

Tác phẩm dịch đã xuất bản:
— Đời nhẹ khôn kham (The Unbearable Lightness of Being), tiểu thuyết của nhà văn Pháp gốc Tiệp Milan Kundera, tạp chí Văn Hoc, 2002.
— Căn phòng riêng (A Room for One’s Own), tiểu luận văn học của nữ sĩ Virginia Woolf, Tri Thức, ấn bản thứ nhất 2009, ấn bản thứ hai 2016.
— Jane Eyre, tiểu thuyết của nữ sĩ Charlotte Bronte, Nhã Nam, 2016.

Sáng tác đã xuất bản:
— Người đàn bà khác, tập truyện, Thế Giới, 2010.
— Chỉ là đồ chơi, tạp bút, tạp chí Hợp Lưu, 2012.
— Phế tích của ảo ảnh, VĂN HỌC Press, 2017.

Đặc biệt, nhà thơ Trịnh Y Thư cho biết rằng vào một ngày sau Tết Nguyên Đán, anh sẽ họp báo để nói về Nhà xuất bản VĂN HỌC với 3 ấn phẩm đầu tiên, và rồi sẽ in đều đặn các tuyển tập văn học của nhiều tác giả từ Văn Học, hay từ Da Màu, hay từ các tạp chí khác. Trịnh Y Thư nói, trong các ẩn phẩm dự kiến xuất bản trong năm 2018 sẽ tái bản “Ngựa nản chân bon” của nhà văn quá cố Nguyễn Mộng Giác.

Độc giả có thể tìm mua “Phế tích của ảo ảnh” hoặc liên lạc trực tiếp tới tác giả: trinhythu2000@yahoo.com .

Hoặc vào Amazon.com và tìm: “phe tich cua ao anh” hay “trinh y thu” sẽ thấy tập thơ.