NGỒI GIỮA RUỘNG NGẮM TRĂNG, NHẮP TRÀ NHỚ PHƯƠNG

 

Trăng khẽ đậu lao xao đầu mép lúa
Thu trổ vàng xao xuyến một trời quê
Bìm bịp kêu:
– gánh lúa dắt trâu về
Cây trở gió và đất trời trở giấc.
Lòng xin trải lót đôi bàn chân mật
Tiếng Phương cười rót ngọt cả thơ ngây
Ôi chao thương,
thương lạ ở nơi nầy
Guốc ai khuất mà hồn ai còn gõ.
Ô hay trăng,
ta hái trăng đầy giỏ
Mai mốt cho mình làm đèn thắp đêm đêm
Nhưng dại thức khuya mình sẽ xấu cho xem
Con gái xấu ai cũng chê dễ ghét.
Ngại người xấu e có người sẽ méc
Với Chúa là mình đà bỏ bê nhau
Chúa sẽ rầy la,
mình chắc không vui
Mây biếng chơi và trời e nhạt nắng.
A trăng mỏi ngã lưng trên dàn sắn
Khuya đà cao trà đà nguội trong bình
Ta thì say,
ôi say quá là say
Đòng đòng trổ thơm như mùi con gái.
Ôi ta say,
say,
say quá là say
Phương là tiên hay ngọc lạc trong mây
Ta vỗ chén nhắp cho say túy lúy.
Ta vỗ chén nhắp cho say túy lúy.

(Đà Nẵng 1963)

TÌM CÂY TRÂM CÀI

 

 

“Sông mê, nước đục muôn màu
Áo đừng gài nút oằn đau ngực nàng”
thơ Hạ Quốc Huy

1.
Hình như áo lụa vén ngồi
Nửa như khép nép. Nửa thôi ngại ngùng

Cuốn lên bụi nổi gió tung
Người đi như lửa cháy bùng ngọn thiêu

Người đi không mở hắt hiu
Cho em quét lá tiêu điều thảo trang

Người đi không gõ chuông vàng
Rung rinh bát nhã. Ngang tàng thơ bay

2.
Một chiều trên bến đò mây
Có người vạch cỏ
tìm cây trâm cài

Sông mê,
nước động lòng phai
Người điên một bóng. Bóng ai xa mờ

Tình nàng nhẹ giọt sương mơ
Tan. Chìm. Bụi đọng. Dật dờ về đâu

Sông mê,
nước đục muôn màu
Áo đừng gài nút oằn đau ngực nàng

3.
Nắng chiều hoang lạnh đò ngang
Người điên không nhớ thu tàn đông sang

Quạ kêu con nước lỡ làng
Chàng còn vạch cỏ khẽ khàng bên sông

4.
Lạy người tử trận má hồng
Dừng tiêu lãng tử. Đá vàng đã trôi

HẠ QUỐC HUY

GIỮA HAI MIỀN VIỄN XỨ

 

 

Tiểu thuyết
Từ những câu chuyện có thực

Nắm bàn tay năm ngón
Đếm từng ngón tay buồn
Những quyết định đau thương
Từng chương của cuộc đời

 

Chương ngón út tàn hơi
Giữa
LÊNH ĐÊNH định mệnh

 

Việt bị va vào vách cái rầm và thức giấc. Vì quá mệt mỏi cả thể xác lẫn tinh thần, đã trải qua hai ngày đói lả, không có chút thức ăn gì dù là nhỏ nhoi như những hột cơm rơi vãi, như những mẫu vụn bánh mì để bỏ vào bao tử, còn thời gian bị khủng bố đầu óc thì không nhớ nỗi bao lâu, có lẽ đã nửa tháng trời trôi qua, trong khoảng thời gian này anh cũng chỉ được ăn uống cầm hơi, Việt đã lịm người đi rồi mê man vào khoảng hai tiếng đồng hồ trước đây, nên khi mở mắt, lồm cồm ngồi dậy và dộm người định bước đi, trông anh vừa ngơ ngác vừa giống người mộng du. Nhìn lên trần, trần thấp lè tè anh không nhận ra nơi đây là nơi nào, nhà mình thì không thể, không thể có cái trần thấp sát rạt trước mặt được. Đang lơ mơ thì người anh lại bị đẩy chao đảo, cả căn phòng dịch chuyển lắc lư, tưởng tượng tựa hồ căn phòng nằm trong con lắc là trái đất đang đong đưa qua lại. Vịn vào vách cho vững người, một lúc sau Việt mới định thần lại được, dòm quanh một lượt thì sực nhớ ra rằng mình đang ở trên chiếc ghe bầu, chỉ một mình mình trên chiếc ghe bầu đang lênh đênh, dập dềnh giữa biển khơi trong từng đợt sóng chập chùng.

Trong ánh sáng nhập nhèm nhưng không có ánh lửa hắc hiu của cây đèn bão treo giữa phòng, Việt nghĩ rằng lúc này hãy còn là ban ngày. Anh cố nhích tấm thân còm cỏi chỉ còn da bọc xương ra khỏi nơi dành cho thủy thủ nghỉ ngơi trên chiếc ghe để coi tình hình bên ngoài ra sao.

Đúng hơn người ngợm của Việt lúc này là một thây ma tồi tàn, một thây ma vất vưởng đói rách mà người xưa hay kể. Thây ma Việt lộ rõ nhiều xương xẩu hằn dưới lớp da mốc xì làm dáng anh càng dài sọc, xương không chỉ hiện rõ bộ xương sườn, xương hiện diện trên toàn thân thể, xương làm hốc mắt sâu hoắm, làm gò má nhô cao, làm hai bên má teo tóp, ngay cả trên trán cũng nhô ra hai cục phía trên hàng lông mày. Thây ma Việt không thấy sự hiện diện của thịt, có lẽ chăng đồng loại đã ăn thịt đồng loại, xương và da đã nuốt mất thịt để thân thể được tồn tại hoặc thịt đã tự bị hủy hoại khi không có gì nuôi được nó(?!).

Việt dĩ nhiên nhận biết rõ điều này, chính anh đã thốt lên điều đó, rằng mình là một thây ma, chỉ có điều thây ma còn giữ được hồn chứ chưa để nó xuất đi. Mấy ngày trước, khi biển lặng, mặt biển như tấm gương, anh đã soi mình và khá bất ngờ vì không thể tưởng tượng được như vậy, một con người cao 1m8, một thân thể tráng kiện là cách nói khiêm tốn thay cho chữ hộ pháp đã sụt giảm theo một cách không thể nào mau lẹ hơn. Việt đã chua chát lẩm bẩm, “Còn đâu một thằng sắp sửa sẽ là lính Biệt động quân oai phong ngày nào.” – Còn đâu ơi hỡi còn đâu! Lính Biệt động quân với quân phục rằn ri hổ báo, chỉ khác màu, màu xanh và nâu để tiệp với núi rừng chứ không vàng cỏ khô của “ông ba mươi”, nay đã thay thế bằng bộ y phục rách tả tơi. Bởi vậy mới lòi thấy cả bộ xương sườn của Việt, thấy hai cánh tay thõng chẳng khác nào của đười ươi, khúc cẳng chưn và bàn chưn là của chú chàng hiu. Trên người Việt bây giờ chỉ còn có hai thứ là tốt tươi, ư mà tốt thôi chứ không tươi, đó là bộ tóc rối bời phủ che lấp hết cái ót, đó là bộ râu đâm xỉa tua tủa như bộ rễ tre. Và Việt còn cảm thấy một điều rùng rợn nữa, bên trong cơ thể mình, chánh xác hơn là lục phủ ngũ tạng đang mất dần mòn, đang bị gặm nhấm của hàng ngàn con gì đó, có thể là những con vi trùng hoặc có thể là những con giòi bọ. Hàng hàng những con này không biết được sản sanh từ đâu, chúng xuất hiện rất nhanh,nhanh phải tính bằng giây phút, sanh sôi nảy nở cũng nhanh chẳng kém gì, rồi sẽ không bao lâu chúng sẽ tiến lên tới bộ não mà thôi. Người ta cũng thường kể rằng những hồn ma đói rất thích máu người, rồi tới nội tạng và bộ óc, sau đó mới để ý tới thịt xương khi chưa đủ thỏa mãn và còn thèm thuồng. Việt ngờ ngợ rằng, cũng có thể bên trong cơ thể mình là sự hiện hiện của những hồn ma vô hình mà mình không thể nhìn thấy. Não của anh còn hoạt động là may mắn lắm rồi, đâu còn chút minh mẫn để phân biệt hay xua đuổi những ý nghĩ kỳ quặc, những ký ức từ đời thường hàng ngày xâm nhập nay trỗi dậy lấn chiếm và làm rối tung lên.

Dù vậy, Việt vẫn cố hết sức có thể để tận dụng sự may mắn còn sót lại, cố hoạt động để bộ não không bị tê liệt, anh hiểu rằng một khi não bị liệt thì ngay lập tức sẽ kéo theo sự tê liệt của thây ma. Anh điều khiển được thân thể, đã lê được người ra sàn ghe. Trời bên ngoài có khá hơn một chút, không quá nhá nhem nhưng cũng u tối. Sóng vẫn làm chiếc ghe chao đảo nhưng không mạnh, gió nhẹ thổi những đám mây xám và khá dày đi chầm chậm phía bên trên nhìn không xa lắm.

An tâm phần nào với bầu trời thì chợt Việt sững người lại khi nhìn về phía mũi ghe, có một vật gì đang nằm ở đó. Rồi anh khấp khởi mừng thầm, qua màn sương mù mờ mờ trước mặt, anh nghĩ có thể đó là một con cá lớn bị sóng đẩy bay lên ghe, có thể đó là một loài điểu biển có sải cánh thật dài nằm sóng xoài, có thể là một thùng đồ từ máy bay được thả xuống, thậm chí có thể là thức ăn của Trời, của Phật, của Chúa, của Thánh Thần ban cho, những Đấng tối cao, những Đấng thần linh đã thấu được, đã động lòng trước những lời cầu nguyện hàng giờ hàng phút của anh. Anh cầu nguyện với tất cả, làm gì có ông nào xấu xa, các ông chẳng phải là các Đấng cứu thế đó sao? với anh, vì không cùng thời chứ nếu có  thì những Đấng những Thần sẽ hòa hợp để mà cùng nhau cứu thế, cứu những sinh linh vô tội, cứu những linh hồn và thể xác bỗng dưng bị giáng tội, thậm chí cứu rỗi cả những con người đầy tội lỗi…

Bây giờ thì Việt cảm thấy người khỏe hẳn ra, không còn bị cơn đói vật vã hành hạ nữa. “Tiến lên tiến lên, nhanh lên nhanh lên nữa, dũng mãnh lên dũng mãnh lên hơn nữa…” – những lời của ông sĩ quan huấn luyện tại “Lò luyện thép” Dục Mỹ* (*Trung tâm huấn luyện Biệt động quân Dục Mỹ tọa lạc tại xã Ninh Sim, quận Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa, nay là thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa) ngày nào hiển hiện, thúc dục anh vượt qua màn sương mờ như vượt qua các chướng ngại vật, vượt qua những vũng bùn sình lầy ngập ngụa trong lúc thụ huấn tại thao trường.

Việt khoan khoái vịn mạn ghe bước tới thấy nhanh lắm nhưng kỳ thực thì làm sao nhanh nổi, kỳ thực thì làm sao anh đang lao qua màn sương hay đang bay bay lơ lửng qua màn sương. Than ôi! chẳng có màn sương nào cả, tất cả những hình ảnh ảo ảo thực thực lấp lửng trước mắt phát xuất từ sự đục dần đi của thủy tinh thể mà thôi, xa xa hơn nữa là ảo ảnh dợn sóng như hình ảnh trong bóng nắng gay gắt giữa sa mạc mông lung.

Việt không nhận ra được ảo ảnh cho tới khi nhích được tới mũi chiếc ghe bầu, chạm được vào vật tạo động lực bước đi và song song đó, luôn miên man vui sướng rằng sẽ được một buổi no nê, bù đắp những ngày đói rệu rã người.

Vẫn có vật chứ không phải là không có, nhưng là… ồ không, không phải vật, là một thứ rùng rợn hơn nhiều, một thứ mà khi bình thường bắt gặp sẽ dễ bị điếng hồn, dễ bị run lẩy bẩy, đó là một… xác chết,… nhưng là một xác chết rất quen thuộc. Quen thuộc bởi xác hết đã sống chung với anh bốn ngày nay, xác chết teo tóp giống y hệt thây ma Việt, chỉ có điều ngắn hơn, xác chết đã bắt đầu trương sình lên dù không lấy gì để phình lên được, một mớ da nhùng nhằng có phồng lên đôi chút, và xác chết bắt đầu quá trình mục ruỗng. Còn trước đó, xác chưa chết tức là còn con người thì sống chung với Việt từ lúc cả hai cùng bước lên chiếc ghe này, những ngày cuối đời của xác chết họ rất thân thiết, như một đôi tri kỷ từ rất lâu.

Phát hiện ra điều trớ trêu, dĩ nhiên Việt thất vọng tột cùng. Chưa bao giờ có nỗi thất vọng nào như nỗi thất vọng tột đỉnh này. Anh muốn hét toáng lên thiệt lớn, muốn hét cho bể tung bầu trời ra từng mảnh vụn như tấm gương bị sức ép quá mạnh rạng nức hàng trăm đường rồi rớt xuống loảng xoảng. Anh muốn nguyền rủa tất cả, nguyền rủa Trời, nguyền rủa Phật, nguyền rủa Chúa, nguyền rủa Thánh Thần, nguyền rủa con người, nguyền rủa cả chính bản thân mình, nguyền rủa đôi mắt chẳng khác gì đôi mắt mù lòa, nguyền rủa suy nghĩ vội vàng vui sướng, nguyền rủa suy nghĩ toan tính mộng mơ sẽ bày bữa tiệc thịnh soạn giữa biển cả và bầu trời bao la như thế nào, khiêu vũ cùng với sóng biển với bầy cá heo ra sao…

Có thể, có thể lắm, có người sẽ trách chứ Việt, trách cứ một con người sao quá mau bội bạc, quá ư là dễ mất niềm tin. Cũng như những người trách cứ, Việt và hầu hết con người có nhiều vùng cảm xúc để hình thành nên bản ngã. Con người dù muốn dù không cũng phải ăn tất cả những gì tồn tại trên trái đất, tồn tại trong không gian có thể ăn được, những hình thức hấp thụ không thông qua đường miệng, những hình thức không mang lại chút năng lượng nào đó cứ hãy qui về một mối là ăn. Thì con người ăn hương hoa để tạo vùng lãng mạn, vùng mộng mơ, vùng yêu thương, ăn cỏ lá, rau củ, trái cây tạo vùng bình an, vùng bác ái, vùng thư thái, vùng nhẹ nhàng cho tâm hồn, ăn cơn gió mùa xuân tạo vùng hồn nhiên, vùng hạnh phúc, vùng vị tha, vùng tha thứ, ăn cơn gió mùa thu tạo vùng bay bỗng, vùng du ca, ăn những tia nắng mùa hè rực rỡ tạo vùng hào sảng, vùng khí khái, vùng hảo hán, ăn hơi thở của đất, hơi thở của dòng sông tạo vùng hiền hòa, vùng sám hối, vùng ăn năn, ăn không khí tạo vùng hư vô, ăn những giọt sương tinh khiết tạo vùng vô thường, ăn những vì tinh tú tạo vùng huyền ảo, vùng mầu nhiệm, ăn đám mây đen, những cơn mưa dầm dề lê thê sẽ có vùng sầu thảm, vùng xám xịt, u uất, vùng chán chường, ăn cơn bão sẽ có vùng sân si, đố kỵ, ăn thác lũ, ăn sóng dữ sẽ có vùng thù hận, vùng cuồng nộ, vùng côn đồ, ăn thịt thú dữ sẽ có vùng ai oán, vùng báo thù, vùng manh động, ăn thịt thú săn mồi chuyên rình rập có vùng gian dối lừa mị, vùng lưu manh xảo trá, ăn gai góc sẽ có vùng hằn học, vùng cay cú, vùng chai sạn, ăn nhiều điều tồi tệ sẽ có vùng vô cảm… Bản ngã của con người có một vùng trung tâm, trung tâm điều khiển, chế ngự, kiểm soát những vùng cảm xúc không hình thành từ một trật tự nào, không có một công thức, không có một một số điểm quân bình như chủ nghĩa quân bình, như toán học quân bình số… Và mỗi con người là một con số, là một ẩn số khó giải mã chứ không bao giờ có một cái khuôn đúc ra, không thể giống nhau được. Đôi khi trung tâm điều khiển không điều khiển nỗi những vùng cảm xúc bất ngờ vùng dậy mạnh mẽ, trở thành một vùng tự do bất tuân, như một chú ngựa bất kham không gì ngăn chặn nỗi. Cho nên vùng cuồng nộ của Việt lấn át lúc này không có gì là khó hiểu. Những người trách cứ cũng không kiểm soát được mình đó thôi. Muốn trách cứ cần phải hiểu rõ hoặc đặt mình vào hoàn cảnh cần trách cứ để có một bài học đúng sai.

Sự cuồng nộ của Việt lúc này không thể thốt ra thành lời, chỉ có tiếng nấc nghẹn chẹn ngang cổ họng. Anh đau đớn phủ phục người xuống bên xác chết mặc cho mũi của anh vẫn còn hửi được mùi hôi bốc ra từ xác chết. Mặc kệ, mặc kệ, và mặc kệ, một hồi sau anh bắt đầu rên rỉ được: “Tại sao lại là anh, tại sao? tại sao? tại sao lại như thế này? Tại sao lại mang đùa cợt cợt nhả, để được hả hê hay sao? Các người, các người sung sướng, các người hả hê lắm rồi phải không?…” – Đôi mắt Việt nhòe dần, nhìn thật kỹ mới thấy vai của anh rung rung nhè nhẹ và anh lại muốn lịm người.

Trong cơn mộng mơ, trên đoạn đường gian nan đến mũi tàu, Việt không cảm thất mệt, nhưng bây giờ, nỗi thất vọng tràn trề làm xúc cảm đau thương chất chứa đầy lồng ngực thì sự mệt mỏi càng tăng lên gấp bội. Người muốn lịm đi mà anh không hề muốn chống chọi lại nữa như nhiều lần đã chống chọi, cứ để lịm dần, lịm dần, và sự nghẹn ngào đã chuyển xuống hết ở trái tim, anh cảm nhận trái tim đập ngày càng chậm, thiệt chậm, đập thoi thóp, dòng máu một số chỗ bắt đầu ngừng lại không chảy nữa, thây ma bắt đầu xơ cứng, năng lượng toàn thân hội tụ lại thành một nguồn, một dải cuộn có thể mở ra như một làn khói mỏng chuẩn bị vĩnh biệt cái xác bần hàn. Việt cứ tự nhiên để nó hội tụ, anh cầu mong sao nó sẽ vút bay vào vũ trụ đầy ánh sao lung linh tuyệt đẹp, anh lại nhớ lại nơi Dục Mỹ, phía trên đó một chút là đèo Phượng Hoàng, nơi đây anh đã từng ngắm được những vì tinh tú xa xăm đẹp nhứt, lúc ngã người tựa vào gốc cây ngắm bầu trời đêm đẹp tuyệt vời anh đã cầu mong một ngày mình sẽ được chu du trong đó, nhớ lại điều này anh lại xin lỗi, xin được tha thứ từ các Đấng tối cao, các Đấng Thánh Thần… xin được bỏ qua cho khi trong cơn điên cuồng đã nguyền rủa, đã chửi mắng tứ tung, anh tiếp tục cầu nguyện, nguyện cầu dải năng lượng trong mình sẽ bay được chí ít là tới rìa của Thiên đàng. Dải năng lượng, con người còn gọi là hồn, là hồn vía, là linh hồn. Hồn của Việt đã hội tụ và chuẩn bị cất cánh.

Linh hồn Việt cất cánh bay ra khỏi xác được gần một nửa thì bỗng dưng chựng lại. Vì sao lại có chuyện này? À, thì ra ngay cả trong linh hồn cũng đã chia rẽ và xuất hiện một cuộc nội chiến với nhau. Một nửa hồn muốn vứt bỏ tất cả để ra đi ngay lập tức, một nửa vẫn còn chần chừ, vẫn còn muốn níu kéo ở lại. Níu kéo ở lại bởi quyến luyến với thây ma chăng? Không hẳn là như vậy. Có một sự thương xót cho thây ma, hồn ra đi để lại một thây ma héo hắt đến tội nghiệp, đến là nhức nhối thì làm sao không quyến luyến cho được. Nhưng đó không phải là mấu chốt, vấn đề ở đây là có một câu hỏi vừa ập tới của một nửa hồn, rằng:  “Điều gì ở phía trước? chuyện gì sẽ xảy ở nơi mà ta không biết, không có một chỉ dẫn, không có một con đường nào để biết đích đến ở đâu, đích như thế nào cả.” – Không, có những con đường đó chứ, có biết đích đến đó chứ. Đó là những luật lệ trong cuộc sống, không phải là những văn bản luật lệ được viết tràng giang đại hải của con người để chế ngự con người, đó đơn giản là một chữ tốt trong cuộc sống, thực hiện được tốt càng nhiều thì dĩ nhiên càng tốt hoặc bình thường là không làm những điều gì xấu xa. Chỉ vậy thôi là ta biết được đích đến ở thế giới ngoài cuộc sống hiện tại, cứ thoải mái mà ra đi. Bởi vậy mới có thêm sự tự vấn cho nửa hồn: “Việt – ta đã đủ tốt chưa? Ta chưa đủ tốt, à mà ta có những lần làm điều xấu đó chứ, ta đã giương súng dù chưa gây chết chóc nhưng cũng đã hướng về phía đó, ta đã để bẵng tin tức của người yêu mình, không đoái hoài đến đi tìm, đừng đổ lỗi cho hoàn cảnh dù thậm tệ đến đâu đi nữa…” – Để rồi một nửa hồn Việt phân vân không biết điều gì sẽ đến, biết đâu đó lại là một chốn địa ngục đang chực chờ để hành hạ, ở lại thì còn có cơ hội làm lại. Một nửa hồn dứt khoát ra đi thì đinh ninh: “Mình chưa làm gì xấu xa quá đáng. Còn nếu bị cho là quá đáng thì phải chấp nhận, nhưng chắc chắn không tệ đến mức phải vào địac ngục, ở nơi chốn này chưa phải là tận cùng địa ngục hay sao?” – Sự phân vân không kéo dài, nửa hồn dứt khoát lập luận khá chắc, nên cuối cùng cả hai lại hợp thành một, bay đi là cách hay nhứt thôi.

Vừa lúc đó thì một giọng nói cất lên, lặp đi lặp lại nhiều lần:

“Không, không, anh không được chết, không được chết, không được chết. Anh phải sống, phải sống. Anh hãy cố hơn nữa, cố nữa. Xin anh đừng đề mình lịm đi, lịm đi là lịm mãi mãi. Tất cả sẽ mãi mãi bị vùi chôn dưới lòng biển sâu thẳm. Anh hãy cố cử động mắt, cố chớp mắt rồi dần sẽ mở được mắt. Anh phải giữ sự sống.”

Việt cảm thấy có một vòng tay ấm áp ôm lấy mình, rồi được vuốt ve khắp thân thể, người anh dần dần được xoa dịu, sự dễ chịu xóa bớt nỗi đau thương, nguồn năng lượng hội tụ trong anh tan dần ra hòa quyện với xương với da, với lục phủ ngũ tạng, với bộ óc đã sắp tê liệt, nhứt là hòa quyện làm trái tim nóng lên chút ít.

Trái tim Việt vốn dễ xúc động chứ không hề giống với những gì có ở bên ngoài con người anh. Bề ngoài nguyên bản của anh dễ đập vào những cặp mắt khi nhìn lướt qua hoặc dễ đập vào những cặp mắt hời hợt, rằng đây là hình ảnh một con người bặm trợn, một con người đăm đăm gỗ đá, một con người của lý trí, chỉ có những đôi mắt cảm nhận từ sâu thẳm tâm hồn mới nhận ra được sự khác biệt, sự khác biệt nằm phần nhiều ở chính biểu hiện từ đôi mắt của con người, đôi mắt Việt mang nỗi buồn man mác cho dù có lúc nó có sáng, có lúc nó long lanh.

Hai nửa hồn của Việt do bộ não và trái tim điều khiển nỗi nửa thì trái tim đã thắng, vùng xúc động đã thắng vùng lý trí. Vùng xúc động của Việt khá mạnh bắt đầu hồi sinh. Anh nhấc người lên để coi người vừa nói là ai. Việt lờ mờ nhìn thấy một người ngay sát trước mặt, đúng ra là một bóng mờ ảo trong suốt in trên nền không gian xam xám. Lần này Việt không còn tin vào mắt mình, anh đưa ta chạm vào thử, bàn tay anh tới nơi không đụng vào mà đi xuyên bóng hình, anh nắm bàn tay lại thì cũng chỉ là nắm bàn tay mình, bóng hình có thay đổi hình dạng, uốn lượn dịch chuyển khỏi tay anh. Việt có cảm nhận được một chút sức nong nóng ở bàn tay. Anh buồn rầu lẩm bẩm chứ không còn sức lực để nổi giận: “Mình lại gặp ảo ảnh. Số phận của mình là số phận mang tên bỡn cợt và cô đơn cùng tận. Bỡn cợt của mình vừa trò chuyện với nỗi cô đơn của mình mà thôi…”

“Anh không tự trò chuyện một mình. Ta vừa nói với anh đó.” – Hình bóng mấp máy môi.

“Mình lại đùa giỡn với mình chăng?” – Nhưng Việt có phần khó hiểu, anh vừa dứt câu lẩm bẩm thì nghe tức thì câu đáp mà anh định lẩm bẩm thêm câu nữa.

Bóng hình tiếp tục:

“Là ta đây, là linh hồn của cái xác nằm ngay anh đó. Ta đã rời thế giới sống với thân xác nên xưng danh là ta chứ không là tôi với anh như ngày nào.”

Việt hỏi:

“Điều gì chứng minh đây là thực?”

Bóng hình đáp:

“Anh chắc hẳn vẫn nhớ những điều mình đã trò chuyện, ta sẽ nhắc vài điều nhé.”

Việt vẫn không thể tin:

“Đây là lý trí lưu lại của mình, lý trí vẫn đánh lừa như đôi mắt tự phát ảo ảnh.”

Bóng hình gục gật:

“Cũng đúng thôi. Anh thận trọng như vậy là đúng. Nhưng đây là thực. Để ta tìm cách khác chứng thực. À, anh vừa cảm nhận hơi nóng từ ta đó. Còn vừa nãy, lúc anh định ngừng hơi thở thì anh cũng cảm nhận hơi ấm như vòng tay ôm ấp chứ gì, đó là của ta truyền qua cho anh, không chỉ mình ta còn thêm mấy linh hồn của những thân xác khác cũng quen với anh, họ truyền rồi khá mệt nên tạm nghỉ ngơi, để ta gọi họ lại nhé.”

Mấy bóng hình lần lượt xuất hiện chờn vờn trước mặt. Tuy không rõ như thân xác nhưng anh cũng nhận ra những khuôn mặt đã từng sống trên chiếc ghe bầu này. Những gương mặt giống những bức ký họa bằng màu nước mà người họa sĩ có tay nghề điêu luyện, vẽ một màu xám trắng rất trong, gần trong suốt như pha lê.

Bóng hình nói tiếp:

“Ta biết anh hãy còn nghi ngờ, nghi ngờ ảo ảnh tạo ảo ảnh. Để chắc chắn hơn, các linh hồn ta sẽ làm vài động tác nhé. Nào, cùng đứng hình yên một lúc. Nào, cùng di chuyển về các phía, về bốn hướng. Nào, cùng tiến lại với anh ta truyền thêm một tí sức nóng.”

Việt đã tin hơn. Anh cảm nhận được sức sống chạy trong thân thể mình. Bóng hình kêu dừng lại và các bòng hình vừa xuất hiện nghỉ đi, còn mình thì tiếp:

“Có vẻ anh đã không còn mù mờ ảo ảnh nữa. Ta sẽ làm động tác này nữa thì anh sẽ hiều rõ thôi. Ta xin lỗi nhé, vì lúc này không phải là lúc bỡn cợt. Ta làm vậy để có cảm nhận mà thôi.”

Việt chợt thấy lỗ tai rồi mũi nhột lắm, anh nhảy hắc xì hai cái liền, cái hắc xì như đẩy sự khó chịu, sự mệt mỏi trong người ra bớt. Anh cảm thấy đỡ hơn một chút và là cảm giác thực chứ không hư ảo. Anh đã tin chuyện đang xảy ra là thực.

Bóng hình vui mừng:

“Cảm ơn anh đã lấy lại cảm giác.”

Việt khó hiểu, bóng hình và Việt đối đáp với nhau:

“Sao cảm ơn ta?”

“Anh sẽ phục hồi và anh sẽ sống như anh đã hứa với ta.”

“Tại sao ta phải giữ lời hứa khi ta phải sống như địa ngục.”

“Đó là danh dự của người đàn ông. Đặc biệt là một người đã từng là quân nhân. Hơn nữa chỉ có anh mới đủ bản lãnh, mới đủ sức sống, anh sống anh mới giữ được những câu chuyện, chúng ta không vô ích khi thân xác bị vùi sâu dưới lòng biền như ta đã nói lúc nãy, và linh hồn chúng ta sẽ được ra đi thanh thản chứ không phải bơ vơ, là những âm binh bám mãi nơi biển cả hiu quạnh này.”

Một con sóng lớn tràn tới. Nước biển đập vào thân ghe bắn rào lên sàn làm Việt ướt sũng và anh bị đẩy vào mạn ghe. Anh than vãn:

“Khốn nạn thân ta. Ta không thể, ta quá mệt mỏi khi chống chọi lại bão táp. Bão lại đến nữa. Ta ước gì mình bị hất văng xuống biển thiệt nhanh.”

Bóng hình lắc đầu:

“Không có bão đến nữa, anh đã cùng cực cho nên dễ rùng rợn dù một một con sóng mà thôi. Nhưng có tệ hơn điều này không?”

Bóng hình phất phơ ra hiệu, một bóng hình nhỏ nhắn xuất hiện, tiến lại gần Việt và nói:

“Chú nhận ra ta chứ?”

Việt nhìn chân dung nhỏ bé dễ thương, và anh nhận ra ngay cùng với tâm trạng xúc động chực tràn như sóng biển:

“Làm sao ta không nhận ra. Ta đã ôm con vào lòng với mong mỏi con không phải trút hơi thở cuối cùng trong vòng tay ta. Sau đó, đã có lúc ta căm ghét đôi cánh tay này, căm ghét sự bất lực của ta, như thể ta tự tay giết chết một thiên thần bé nhỏ.”

Bóng hình bé nhỏ vẫy chào và biến đi. Bóng hình bạn của Việt nói tiếp:

“Đó chưa phải là nỗi khổ đau nhứt mà anh trải qua. Nhưng thôi, ta mang hình bóng bé nhỏ trở lại là quá đủ, ta không muốn xúc cảm của anh giết chết anh, ta không nhắc lại nỗi thống khổ hơn nữa. Vậy anh vẫn giữ ý định vùi chôn những câu chuyện nữa chứ.”

Việt bần thần hết cả người, anh run rẩy:

“Ta đâu là kẻ vô trách nhiệm, đâu muốn là kẻ hèn nhát. Nhưng ta đã bất lực, không còn gì để tồn tại được.”

Bóng hình gục gật:

“Ta hiểu nỗi khổ của anh cũng như khi anh hứa với ta anh sẽ sống. Chúng ta cũng không thể truyền năng lượng cho anh nhiều được, chỉ khi cấp bách mà thôi. Thế thì như ta đã hứa, ta không trách móc gì cả, ta đã chấp nhận hy sinh thân xác, anh hãy cầm con dao đó lên mà thực hành những gì chúng ta đã bàn bạc.” – Bóng hình chỉ lên mạn ghe, nơi có con dao treo lủng lẳng.

Việt đau khổ thốt lên:

“Ta không thể, ta không hứa sẽ thực hành điều này, đồng loại của ta ơi.”

Bóng hình buồn rầu:

“Những cái chết đau thương vô ích hay sao. Ta dám hy sinh sao anh không dám? Anh hãy dũng mãnh lên, hãy xòe ngón út của mình ra mà quyết định như anh đã từng nói đã xòe bốn ngón tay lần lượt cho những quyết định khó khăn vô cùng. Xòe ra đi, đừng co cứng nó nữa, đừng biến nó thành con rùa rụt cổ.”

Việt thở hắc thiệt mạnh. Bóng hình nói lời cuối:

“Ta không còn thời gian, ta không đủ sức lực. Ta phải đi đây và ta chờ quyết định từ anh đó, rất chờ đó.”

Bóng hình biến mất dần. Việt thấy bơ vơ quá đỗi. Anh lần lại chỗ treo con dao. Anh chợt thấy những dấu khắc thành hình ô vuông. Việt nhớ ra chính mình khắc nó để biết thời gian. Anh đếm và nhận ra chiếc ghe lênh đênh không chỉ nửa tháng, đã hai mươi bảy ngày trôi qua. Và Việt nhìn bàn tay mình chằm chằm, một cuộc chiến giữa xòe ngón út ra hay giữ lại, lại nổ ra. Trong lúc giằng co này thì ký ức về những lần xòe các ngón tay để quyết định như bóng hình đã nhắc nhớ như những thước phim từ từ chạy qua trước mặt…

Lê Đắc Đồng Vọng

 

 

 

 

 

 

 

CUỐI CHÂN TRỜI

người về tận cuối trời gió cuốn
buồn vui như trang giấy trắng thờ ơ
ta -vách núi tựa bóng ngày phai lãng
nắng bờ sông sao vẫn nắng như mơ

ai đốt khói góc rừng nghi ngút
mắt đồng bằng sầu bộ lạc khôn nguôi
ta -ga xép tựa vai chiều dĩ vãng
đóa hoa cười sao mấy thuở còn tươi

cũng trần ai vì ai mà lận đận
qua truông đèo viết vội một đôi câu
thả xuống giòng sông sao vẫn nắng
như mơ xanh không hề biết bể dâu

hào hoa rắc lên mưa lấm tấm
ngói cổ trầm ngâm ngóng nẻo chim bay
và câu cuối xin treo lên đỉnh tháp
phất phơ ngày tơ tóc cuối trời say

TRƯƠNG ĐÌNH TUẤN

Cuối Đời Của Người Lính Trẻ

 

 

Tôi nhủ lòng tôi:  Thôi hãy quên
nhớ thương chi nữa Nước Non mình?
tới đây ai cũng đều xưng Cựu
khi đứng chào cờ mới ngước lên!

Tới đây ai lính cũng kêu già
rồi vỗ vai cười ha hả ha!
hỏi chớ:  nước nào quân đội lão?
tòng quân toàn trẻ, mặt như hoa!

Tôi từng là lính, tôi từng nhớ
mình mới hai mươi nhập ngũ rồi
có hoãn hai lần không thể tái
bút nghiên gác bỏ, dậy đi thôi!

Thời cuộc đảo điên, quân đội nát
nước non ngó sững, rã cơ đồ!
thời gian đi tới, đời lui lại
bộ dạng ai còn dáng dấp xưa?

Là đã già nua, già đến thảm
cháu con không tiếc thuở ông cha
chúng theo ngày tháng:  đang đi tới
chúng có ngày mai dù còn xa…

Tội nghiệp ông cha chúng lạ lùng
tàn đời cứ nói chuyện non sông
bước đi một bước hai lần quỵ
về Việt Nam chơi…mặt lại hồng!

Tôi nhủ lòng tôi, thôi hãy quên
quên mình, trước hết, mình ưu tiên
bỏ vào sọt rác đời vô dụng
đứng tránh nhường đường lũ thiếu niên…

*Tôi nhủ lòng tôi, không một lần:
mình không còn nữa tuổi thanh xuân
xưa, nay, Tống Cựu là nguyên tắc
chải chuốt áo quần chẳng Lính Tân!

Người ta bảo đó Lính-Nhà-Đòn
“Trước bước!  Bước đều ra nghĩa trang!”
Điệp khúc quân hành không hát nổi
Nước nhà tan nát…tội ai mang?

 Trần Vấn Lệ

Diễn từ của nhà văn Khuất Đẩu ( vắng măt)

 Chúc Mừng Nhà Văn Khuất Đẩu Nhận Được Giải Đặc Biệt Của Văn Việt Lần 3 năm 2017

Thưa các bạn

Thật vinh hạnh khi được đứng ở nơi đây trong tiết xuân mát mẻ và trong tình thân hữu ấm áp để nói một đôi lời.

Tôi có người bạn bảo cầm bút bây giờ còn nguy hiểm hơn cả Kinh Kha cầm con dao chủy thủ đi vào đất Tần bất trắc. Vì đất Tần lúc này không chỉ có một, mà có đến những hàng trăm hàng ngàn bạo chúa còn tàn bạo hơn cả Tần Thủy hoàng.

Biết vậy, nhưng tôi vẫn phải cầm lấy bút để viết về những tháng ngày mà thế hệ chúng tôi đã sống và đã chết, trong suốt cơn mê dài của lịch sử với những cuộc bắn giết kinh hoàng, những chia ly mất mát.

Tôi gọi đó là Những tháng năm cuồng nộ.

Qua cuộc đời của một đứa bé bị thả trôi sông, tôi muốn nói đến thân phận của người nông dân Việt Nam, trong gần 100 năm qua, thời nào cũng bị lợi dụng, bị phỉnh gạt, sau cùng là bị bỏ rơi trong đói nghèo và tuyệt vọng.

Nhưng họ vẫn sống, đùm bọc nhau, nương tựa nhau mà sống.

Một cô Sáubằng tình thương, một chị Thảo bằng tình yêu, hai người đàn bà một già một trẻ đã đưa nhân vật tên Được vượt qua những đoạn đường gập ghềnh khi phải lăn theo vòng quay của bánh xe lịch sử.

Nhờ vậy mà anh ta sống đến năm 2000, năm mà Chúa bảo là tận thế, để được nghe chào cha đi con như tiếng gọi từ trong mơ hay từ một cõi trời nào đưa lại.

Dù không thoát khỏi cái bóng quá lớn của lịch sử, nhưng khi viết Những đêm trắng là tôi viết về mối tình của Nguyễn Thái Học và Nguyễn Thị Giang chứ không phải lịch sử của Việt Nam Quốc Dân đảng.

Một mối tình theo tôi là bi tráng nhất của thế kỷ 20. Ở đó, ngoài tình yêu tổ quốc còn có tình đồng chí, tình chồng vợ và tình mẫu tử. Cô Giang, sau khi chứng kiến người đảng trưởng và cũng là người chồng của mình bị chặt đầu, đã có một đêm thức trắng trên cánh đồng Thổ tang với bao trăn trở: chết theo chồng cho trọn lời thề, hay cố sống để sinh con là những phút giây vật vã đau đớn còn hơn cả Hamlet thao thức “to be or not to be”.

Truyện Những con đom đóm, một người mẹ bất đắc dĩ phải làm cái nghề đáng xấu hổ, đã quyết định từ bỏ nghề để sống sao cho xứng đáng với linh hồn trong sáng của con.

Truyện Ai đã giết A.Q, một cô gái miền Tây chỉ với 500 đô đã trở thành nạn nhân của nô lệ tình dục, còn bi thảm hơn cả cô Kiều khi rơi vào tay Mã Giám Sinh.

Những nhân vật nói trên đều có một sức chịu đựng thầm lặng vô cùng bền bỉ. Họ bị đàn áp, bị đọa đày, nhưng không hề oán than số phận, cũng không cả căm thù. Họ không muốn nổi loạn, chỉ muốn tháo bỏ chiếc gông trên cổ mình chứ không muốn chặt tay kẻ đóng gông.

Nhưng không phải vì thế mà bảo rằng họ yếu hèn bạc nhược. Không có sự dũng cảm nào phi thường bằng sự chịu đựng, cũng không có sức mạnh nào đủ sức đánh bạt cái ác, cái xấu, bằng tình yêu thương.

Thưa các bạn,

Trước năm 2000, tôi chưa hề cầm bút. Và giờ tôi cầm bút nhưng chưa phải là nhà văn.

Tôi không có một hạt giống tư tưởng nào để gieo, không có một học thuyết nào để rao giảng. Tôi chỉ là một công dân bình thường và tầm thường, kể lại những điều đã thấy, đã nghe, nhưng không phải để mua vui một vài trống canh, cũng không phải để khóc than, mà để chứng tỏ một điều rằng, dù nghiệt ngã cay đắng đến đâu, tôi vẫn yêu cuộc sống này và trước khi giã từ tôi muốn được nói lời cảm ơn.

Trước hết, tôi xin cảm ơn Bà tôi mà hình ảnh của cô Sáu có nhiều nét giống bà, nhất là cách kể chuyện và tính tình nhân hậu.

Tôi cũng xin cảm ơn quê hương tôi, một làng quê nghèo gần thành Đồ Bàn với những Thủ ngữ Đực, những Khứ vừa có thật vừa không thật, là những con rối ngô nghê trong chín năm kháng chiến, thời mà người ta gọi là ấu trĩ cách mạng.

Xa hơn, rộng hơn, tôi đặc biệt cảm ơn trí tuệ vô tận của loài người, đã tạo ra một bầu trời mới lạ vô cùng rộng lớn, đó là Internet.

Nhờ có Internet, mà những kẻ cầm bút hôm nay không phải còng lưng ra thồ từng con chữ như Trần Dần, hay phải mòn tay viết văn lên đá như Phùng Quán.

Có thể nói cuộc cách mạng tin học đã hoàn toàn cởi trói cho chúng ta. Rất tự do, rất đường hoàng, như tháp Bút “tả thanh thiên”, chúng ta viết lên bầu trời ảo hàng tỷ trang viết, mà không một Tần Thủy hoàng nào, không một Hitler nào có thể dùng ngọn lửa phần thư mà thiêu hủy được.

Cho dù không được in ấn trên giấy trắng mực đen, không được nâng niu cầm trên tay, nhưng chúng ta biết những con chữ mang hơi thở của cuộc sống vẫn sáng lấp lánh trên màn hình của bạn đọc như những vì sao.

Sau cùng, tôi xin bày tỏ lòng kính phục đối với Ban Vận động Văn đoàn Độc lập, dù bị văn đoàn ồn ào cấp nhà nước cô lập hòng xóa sổ, vẫn dũng cảm và gan lì tập hợp những cây bút nhân bản trong nước và ngoài nước ngày càng đông đảo, hùng hậu.

Với cách nhìn đúng đắn và trân trọng về nền văn học miền Nam, Ban Vận động cũng đã bước đầu kết nối tình tự dân tộc để bắc cầu cho hai bờ tư tưởng Bắc Nam.

Xin gửi đến Ban Biên tập lòng biết ơn sâu đậm, trong suốt một năm qua đã tải lên Văn Việt những tác phẩm bé nhỏ của tôi để mỗi lần lên mạng, tôi đều xúc động vì biết rằng, dù viết trong cô đơn nhưng tôi không hề cô độc.

Xin cảm ơn các bạn có mặt trong buổi sáng hôm nay.

Xin chúc các bạn sức khỏe dồi dào để viết nhiều và viết hay hơn nữa.

KHUẤT ĐẨU

Trông theo

 

bến sông này, bến sông này
trăng xưa lạnh xuống hàng cây gục đầu
người xưa chừ biết là đâu
này trăng gió cũ này câu giã từ
lối đi vàng nhạt mùa thu
nghe lau lách động niềm u uất buồn
mắt người mang cả quê hương
lòng ta mang cả đoạn trường tháng năm

trăng chia niềm nhớ thì thầm
lệ chia niềm nhớ ướt dầm núi sông
lớn lên vì một tấm lòng
để bao nhiêu hận buộc vòng sơ sinh
bao nhiêu tuổi bấy nhiêu tình
bao nhiêu nguyện ước giận mình bấy nhiêu
nhưng thôi buồn đã ra nhiều
trong ta là mấy vạn chiều rưng rưng
trong ta là núi là rừng
là trăm tiếng hát đã từng trên môi
tiễn đưa thì tiễn đưa rồi
nhớ thương thì nhớ thương rồi người ơi
vòng tay không chặt luân hồi
xa xưa nghe nặng bóng chiều luân lưu

người đi mang cả mùa thu
ta mang theo chút tạ từ héo hon
bãi sông này gió trăng còn
mênh mông vì cả nghe buồn lay bay
tưởng chừng như chặt bàn tay
ta ôm vũ trụ tròn đầy mà mơ
nhưng khi dạ biết tình cờ
thì hai thứ tóc đã mờ giấc xưa
với trăng chia nhớ đôi bờ
với sông bến nọ chia giờ ra đi
người ơi còn lại những gì
mai sau nếu chút tình si cũng tàn

Hoài Khanh

ngồi dưới sương tan

 

khoảnh khắc đó đã chìm vào hư ảo
khói sương chìm theo giấc mộng chơi vơi
tôi lặng lẽ đứng bên chiều sương khói
hái mùa thu đang rụng giữa lưng trời

thành phố thắp một màn sương rất mỏng
và tôi đây cũng lặng lẽ như chiều
ôm mộng ước gửi cho ngày tuyệt vọng
để rồi buồn trên đỉnh dốc cô liêu

ngồi mà nhớ tháng ngày xưa sương khói
em rồi xa quên mất lối đi về
nghe vụn vỡ một góc trời mê mỏi
thôi cũng đành tan tác những cơn mê

tôi đã có một lần về phố cũ
nhìn khói sương hun hút bóng lưng đồi
mà nhớ một mối tình không chỗ trú
cứ trôi hoài trong ký ức mồ côi…

nguyễn minh phúc

 

Thơ Hồ Chí Bửu

 

HOA VÔ THƯỜNG..

Tôi rong chơi trong vô định-
múa may quay cuồng dưới phố
hét hò khản tiếng trên non
và lăn ra ngủ say trên nền đá nhiều gai nhọn

Thách thức định mệnh-
gối đầu lên sự sống
bẻ cổ niềm tin-
lạc quan trong từng sát na sinh tử
vỗ tay cười ngất
nhìn đám người đang lồm cồm đi lên

Hoa dại – hoa rừng mọc trùng điệp trên
thung lũng tình yêu-
bỗng nổi trội lên một đóa hoa hương sắc
qua nhiều cơn phong ba bão táp
đóa hoa vô thường vẫn ngẩng cao đầu vươn lên
kiêu hãnh mà từ tốn-
tỏa hương sắc cho muôn loài ong bướm
trìu mến kiếm tìm

Trong một chiều mưa to gió lớn
tôi hái đóa hoa nầy về
trân trọng cấm trong vườn tim vĩnh cữu
và từ đó loài hoa nầy lại nhả ra từng giọt thơ
ngọt ngào nhưng lạ hoắc.

Abraham Lincoln nói : chúng ta có thể
phàn nàn vì trong bụi hoa hồng có gai
hoặc hãy vui mừng vì trong bụi gai có hoa hồng…

 

THÁNG GIÊNG VỀ BA TRI…

Nắng Ba Tri bay mùi muối mặn
Ta trở về Bảo Thạnh buồn hiu
Mười năm – hồ dễ mười năm chẳn
Phú Lễ – chừng như nhớ rất nhiều..

Tiệm Tôm – biển vẫn như ngày cũ
Gió về Tiên Thủy sóng xôn xao
Ai về Mỹ Chánh cho ta nhắn
Lữ khách dường như ngấn lệ trào

Phan Thanh Giản gởi thân Bảo Thạnh
Rượu độc ngày nào thành rượu tri ân
Danh tướng bây giờ nằm hiu quạnh
Lặng lẽ mà nghe nắng lịm dần..

Giồng Tre ôm ấp thân Đồ Chiểu
Một thuở vang trời Lục Vân Tiên
Gởi cho thiên hạ lời kinh diệu
Khí phách mà nghe rất đổi thiền

Trở về – là muốn lòng ấm lại
Thơm phức đâu rồi rượu Ấp Sanh
Đêm nay ta sẽ về Phú Ngãi
Thắp nén nhang thơm – Chiến Sĩ Hành…

 

ĐÊM GIÃ TỪ..

Ngày ta về – chưa kịp nhận ra em
Mới mười năm mà như là xa lắm
Mới mười năm mà nghe lòng trống vắng
Người trở về buồn chết một tình xưa

Ngày ta đi không có cuộc tiễn đưa
Ta trốn chạy quăng mình vào mưa bão
Im lặng thế – như một người lỗi đạo
Với một người từ tiền kiếp vô chung

Ta trở về mây gió cũng rưng rưng
Chiếc cầu nhỏ làm chứng nhân hò hẹn
Ta với em suốt đời tình không vẹn
Kẻ giang hồ người khuê nữ lầu son

Đã xa rồi – chỉ còn lại héo hon
Thì thôi nhé – tiếng kinh chiều đã tắt
Thì thôi nhé – giấu buồn vào đôi mắt
Đêm giã từ – tình chết một lần thôi…

 

TRĂNG THÁNG GIÊNG..

Đêm sắp tàn mà ta còn thao thức
Giấc ngủ nồng không về lại bờ mi
Sao ôm ắp những điều không có thực
Ta xa người từ độ biết phân ly

Trăng tháng giêng – trăng sáng đời phiêu bạt
Giống như ta chênh chếch bóng hiên đời
Chim hốt hoảng đâu còn cao tiếng hát
Hoa héo tàn thì hoa sẽ rơi rơi..

Đời là thế – dĩ nhiên tình là thế
Ta trợt dài theo cơn lốc tình si
Tình là thế – dĩ nhiên đời là thế
Trăng một mình – cứ phiêu hốt trăng đi…

 

GẦN MÀ XA…

Em ngưỡng mộ – yêu ta – rồi chán ta
Lão già thi sĩ mà trăng hoa
Làm thơ ca tụng tình muôn thuở
Em đã đến gần – và – đi thật xa

Ta vẫn yêu hoài một cánh hoa
Màu vàng rực rỡ mà kiêu sa
Loài hoa mọc ở vùng băng tuyết
Dù tuyết dù sương vẫn mượt mà

Ta biết em buồn nơi xứ xa
Nỗi buồn kết tụ những tình ca
Nỗi buồn vương nhẹ lên màu tóc
Hoa vẫn còn nguyên nét ngọc ngà…

 

BÂNG KHUÂNG…

Có nhiều lần ta tự hỏi ta
Sao cứ nhớ cái người dưng xa lắc
Sao hoài nghi những điều không biết chắc
Trăng có về soi bóng lẻ đêm nay ?

Trăng có về – khi men rượu nồng cay
Thơ có chảy theo chiều dài tưởng tượng
Khi tất cả ngôn từ là hoang tưởng
Trăng không về trong màu tím hoàng hôn

Ở nơi nào ta cũng thấy cô đơn
Cũng quay quắt với nỗi sầu nhân thế
Tình là vậy – yêu nhau đâu phải dễ
Kẻ chân trời – người cuối đất – nhớ nhau…

 

ĐÊM THÁNG GIÊNG 

MỘT MÌNH ĐỐI BÓNG..

Vừa cạn ly đã nghe lòng trĩu nặng
Một chút tình đâu đó ở phương xa
Đêm Tây Ninh- Tháng giêng như trầm lắng
Người chưa về – giấu biệt một lời ca

Ta chỉ thấy mùa xuân sầu ly biệt
Đêm lạnh lùng – trăng đã khuất trong mây
Vang đâu đó lời ca ai, tha thiết
Người chưa về – cho trọn một đêm say

Ta trú ngụ trên dòng tình chảy miết
Từ thượng nguồn ra biển lớn bao la
Dòng tình ta muôn đời là bất diệt
Người chưa về – nghĩa là vẫn còn xa

Ta rót tiếp cho mình ly rượu đắng
Uống mà nghe rưng rức một phương buồn
Ta uống nốt trong ly từng giọt cặn
Người chưa về – Ta đã gục đêm sương..

Hồ Chí Bửu.

dự cảm xuân



1.
chỉ là một sự vô tình
khi em đánh rơi một mảng trời xanh
vào lòng chiếc giếng cạn
để rồi từ ngẩn ngơ tiếc nuối
đã nảy mầm
một đoá hoài xuân

2.
sự thinh lặng đã nấp vào đêm
uỷ nhiệm cho một cành hoa trắng
đã không còn sắc hương
không còn hiển hiện trong trí nhớ
của bất kỳ ai
làm đại diện cho mình

3.
khoả lấp âm thanh chiều mỏng manh
trong tỉnh thức đau đáu
đã mai một dưới dấu chân buồn
là dấu tích giả tưởng
làm nên giấc mơ hồn nhiên
của mùa cũ phôi phai

4.
đôi cánh phù du
đã bay lạc vào khu vườn hoang tưởng
không còn biết lối về
chỉ còn duy nhất một niềm hy vọng nhỏ nhoi
là một bàn tay vẫy
từ trong quá khứ mù sương

NP phan