TRÊN CÁNH XUÂN HỒNG


 

   Ngày Anh Chu Trầm Nguyên Minh mất : 19/2 /2014- 19/2/2018

Trên Cánh Xuân Hồng

Trong khu vườn ta mùa đông vừa chết
Xác lá vun thành nắm mộ tàn
Em đâu biết xuân đời vừa đến
Trên tay anh hồn đậu úa vàng

Giọt phúc mới mùa hoa đã rớt
Giữa cõi đời, ai khóc, ai vui
Em cũng vậy, xin đừng ngấn lệ
Cho đời nhau riêng chút ngậm ngùi

Giữa cảnh sắc, anh một lần đứng lại
Nhìn đời lên trên lá xuân hồng
Em cũng mất trong ngàn hương ngát
Như cuộc tình đến cũng như không

Ngày đã khởi cho mùa mơ ước
Nhưng riêng ta dành sẵn não nùng
Em cũng vậy, xin đừng nức nở
Cho nhau đời tựa máu rưng rưng

Lỡ đã khóc giữa trời phúc ước
Anh thu tay đếm nỗi buồn rời
Em dấu mặt rơi giòng lệ thảm
Bình minh nào sẽ thắp đêm vơi

Trong năm mới gót mềm sẽ bước
Đến với nhau chung cuộc buồn rầu
Em đâu biết đời kia cay đắng
Nên tay ôm không trọn nỗi sầu

Lúc Gởi Đến

Lúc gởi đến, chỗ đời tôi lệ ứa
trên cánh xương buồn Mẹ cất tiếng ru
giọng nỉ non ngọt cùng nước mắt
buổi đìu hiu ướp biển sa mù

lúc gởi đến, chỗ đời tôi nắng cháy
tuổi ấu thơ chưa nũng miệng cười
tuổi ấu thơ chưa nằm nôi bú sữa
tuổi ấu thơ chưa bồng bế dỗ dành
tuổi ấu thơ nằm trên đống rạ
ôm lần da vú Mẹ khô nguồn

lúc gởi đến, chỗ đời tôi lửa đỏ
nghe quanh mình tên đạn reo vui
dõi mắt Cha, mịt mù núi thẳm
trông tình Mẹ, đêm luống ngậm ngùi

lúc gởi đến, chỗ đời tôi đơn độc
mở mắt nhìn kẻ lạ quay quanh
súng nổ xóm trên, đạn rền xóm dưới
thời thiếu niên mật đắng cam đành

lúc gởi đến, chỗ đời tôi nào biết
khu vườn tôi khô lộc tự bao giờ
nên ngóng buồn trên muôn ngàn xác lá
đợi tiếng chim ngậm ngải bay về

Nguồn: Cuộc tình người, Kỷ Nguyên xuất bản 1969

Chu Trầm Nguyên Minh

đóa hoa cúc cuối cùng (truyện phóng tác)

Xin cảm ơn quí vị tiền bối
Shofu Muramatsu, tác giả truyện,
Kenji Mizoguchi 
đạo diễn phim “The Story of the last Chrysanthemum,”
và Osamu Dazai, tác giả của “The Chrysanthemum Spirit.”

 

Đang ngồi trầm ngâm với chén rượu, Kiku nghe tiếng guốc chạy lộp cộp. Cái bóng đen nhảy vụt vào bụi rậm. Một thiếu nữ chừng mười sáu mười bảy tuổi chạy đến.  Cô gái mặc kimono màu xanh ô liu cũ, guốc thô, tóc bới đơn giản, không cài trâm cách ăn mặc của đầy tớ nhà chàng. Kimono hơi bó ở đầu gối khiến cô vướng víu, suýt té.

“Có chuyện gì thế, cô bé kia?”

“Dạ, con mèo, con mèo kia… , thưa công tử.” Cô gái thở gấp, tay chỉ vào bụi rậm.

Nhìn theo, Kiku thấy con mèo của chàng đang tha một cái gì đó. Thấy chủ nhìn mình, con mèo thả chiến lợi phẩm trước mặt chàng như dâng tặng. Kiku cầm món đồ đưa trả cho cô gái. Đó là một con búp bê trai, bằng vải, dài độ hai gang tay, mặc kimono lụa có thêu hoa cúc rất tinh xảo. Đây không phải là thứ đồ chơi của một cô gái nghèo. Kiku thắc mắc:

“Ở đâu mà cô có một con búp bê đẹp như thế?”

“Dạ, đây là quà người ta tặng, nhân dịp lễ đầy tháng cho em trai của công tử. Em tên là Otoku, bảo mẫu của tiểu công tử.”

“Cô hãy cất món quà của em tôi cho tử tế nhé. Kẻo mèo cắn rách hay bị mất là cô sẽ bị phạt đấy.”

Kiku Onoe không phải là con ruột của Goro Onoe. Ông nhà giàu chủ đoàn hát Kabuki hiếm muộn, tin rằng phải nhận con nuôi thì mới có thể có con nối dòng. Sau khi bà vợ qua đời, Goro cưới người vợ kế, sinh được một bé trai.  Nổi tiếng rất yêu nghề, Goro quan niệm là nghệ sĩ phải hết lòng với nghệ thuật dù phải hy sinh hạnh phúc cá nhân. Điều phân biệt giữa nghệ thuật và tay ngang là sự hoàn hảo của tác phẩm. Kiku được dạy nghề diễn để sau này nối nghiệp ông Goro. Yêu nghề và luôn muốn học hỏi, Kiku thường hay hỏi ý kiến các diễn viên trong đoàn về cách trình diễn của mình. Kế mẫu Kiku muốn bảo đảm quyền lợi của con trai nên tìm cách gạt Kiku ra khỏi gia đình. Các nghệ sĩ trong đoàn vì muốn bảo vệ địa vị của họ nên cũng hùa theo phía mẹ kế của chàng. Sau lưng chàng họ thường chê bai nhưng trước mặt ai cũng hết lời khen tặng tài nghệ của Kiku.

Một đêm từ quán rượu ra về, chàng tình cờ gặp lại Otoku. Kiku đi trước, cô gái lẽo đẽo theo sau:

“Em thường được bà chủ mang theo mỗi khi bà xem kịch Kabuki. Bà muốn mang tiểu công tử theo để tiểu công tử có cơ hội quấn quít với ông chủ, nhưng lại không muốn bị tiểu công tử quấy rầy khi bà xem kịch. Tuy nhiên tiểu công tử rất ngoan thường ngủ suốt buổi nên em rảnh rang có thể xem công tử diễn xuất.”

“Thế à? Cô thấy tôi diễn thế nào? Có hay không? Nói thật cho tôi biết.”

Cô gái suy nghĩ một hồi rồi nói.

“Xin cho phép em nói thật, Công tử đừng giận và trách mắng em nhé.”

“Xin cô cứ nói. Tôi thật lòng muốn dâng mình cho nghệ thuật. Người ta hay ca tụng tôi nhưng tôi không biết họ có thật lòng không.”

“Diễn viên chung đoàn với công tử, được đãi đằng rượu chè, ngoài mặt thì họ ngọt ngào tâng bốc ca tụng, nhưng sau lưng thì họ chê bai không ngớt.”

“Họ nói những gì?”

“Rằng công tử kiêu ngạo, luôn nghĩ là mình hơn người. Công tử nhậu nhẹt quá độ nên không nhớ tuồng chỉ có mấy câu đối thoại cũng không thuộc, không biết vẽ mặt, không biết hát, múa càng tệ hơn. Công tử chỉ đóng được vai trộm cướp, hay công tử con nhà giàu phá của ăn chơi, chứ không đóng được vai anh hùng, và càng không diễn được nỗi bi thương.”

“Có thể vì họ ganh tị với tôi, là con của ông chủ đoàn hát. Tôi được đóng vai chính.”

“Họ nói công tử chỉ là con nuôi.Vài năm sau tiểu công tử lớn lên, sẽ thay địa vị của công tử. Công tử sẽ bị thất sủng. Mẹ kế sẽ tìm cách đuổi đi.”

“Họ nói thế nhưng ý cô thì sao? Tôi có thật sự tệ như thế không?”

“Công tử diễn được, nhưng chưa xuất sắc. Công tử chưa được giao cho một vai khó đến độ đòi hỏi hoàn toàn tâm sức của công tử. Công tử thể hiện tạm được ở những vai đàn ông, anh hùng và kẻ cướp. Nhưng vai trò đòi hỏi sự diễn xuất thượng thặng trong đoàn hát Kabuki phải là vai phụ nữ. Vai đào thương trước dành cho nữ nghệ sĩ nhưng sau này các đoàn Kabuki bị cấm ngặt thuê phụ nữ, chỉ giao cho những diễn viên nam thật sự có tài và có thể nhập vai.”

Kiku lặng thinh đi trước. Otoku tưởng là vị chủ trẻ đang tức giận, nhưng chỉ một lúc sau Kiku quay lại cúi đầu tạ ơn Otoku.

“Cám ơn những lời thành thật của cô. Tôi mong cô trở thành bạn tốt của tôi. Nếu có thể được xin cô đến xem tôi diễn hằng đêm và chỉ giúp tôi những chỗ tôi cần phải luyện tập thêm.”

Otoku hiểu biết tinh tường về nghệ thuật Kabuki đến độ làm Kiku ngạc nhiên. Những khi không diễn xuất, chàng thường tìm gặp Otoku để nghe nàng nói chuyện nghệ thuật. Nàng chịu khó quan sát và khi góp ý cũng rất từ tốn nên Kiku nhận ra khuyết điểm mà không giận nàng. Hai người trở nên tâm đắc như bạn thân. Sự thân thiết giữa Kiku và Otoku khiến kế mẫu của chàng không vui. Không muốn tài năng của Kiku tiến bộ, và viện cớ không muốn có chuyện tư tình giữa chủ và đầy tớ, bà đuổi việc Otoku. Kiku hết lời đính chính, rằng quan hệ giữa hai người hoàn toàn đứng đắn. Để bảo toàn danh dự cho Otoku chàng xin phép được cưới nàng làm vợ. Bố chàng cự tuyệt chuyện kết hôn cô đầy tớ. Kiku bỏ đi, thề không nhận sự giúp đỡ của bố nuôi. Kiku lang thang theo đám hát rong, cương quyết không nhờ vào tên tuổi của bố nuôi, diễn xuất nay đầu đình mai góc chợ, ngày càng sa sút.

Vào một ngày Kiku đói rách tả tơi, hoàn toàn mất niềm tin vào tài nghệ của mình, Otoku đến tìm chàng.

“Chàng không thể trở thành nghệ sĩ Kabuki thượng thặng nếu đi hát dạo như thế này. Nếu chàng không chê em nghèo hèn, xin mời chàng về nhà em để tìm cách sinh nhai và phát huy tài năng của chàng.”

Otoku đưa chàng về một hòn đảo nhỏ cách Edo chưa đến một ngày đường. Trên đảo chỉ có gia đình của Otoku. Ngoài khu gia trang, phần lớn diện tích đảo được dùng để trồng hoa cúc. Otoku sống với em trai. Ichi khoảng chừng 15 tuổi, mảnh khảnh trắng trẻo không có vẻ gì là một nhà nông nhưng lại là một người trồng cúc rất tài.

“Chị Otoku kể, anh là diễn viên Kabuki. Anh có ngỏ ý cưới chị làm vợ và vì thế mà chị bị đuổi việc còn anh thì bỏ nhà ra đi. Cả hai chị em tôi đều yêu thích môn kịch Kabuki nhưng không thể theo đuổi. Gặp nhau đây quả là duyên. Mời anh ở tạm với chúng tôi, dưỡng sức một thời gian, rèn luyện thêm tài nghệ và sau đó sẽ tìm cơ hội diễn xuất trở lại.”

Tuy mới gặp Ichi lần đầu, nhưng Kiku thấy chàng trai này có vẻ gì rất quen thuộc, như thể chàng đã gặp thiếu niên này nhưng không nhớ gặp ở đâu. Ichi vui vẻ lịch thiệp với Kiku như là bạn lâu ngày. Tuy là người trồng cúc nhưng Ichi ăn mặc rất lịch sự. Cái áo kimono của chàng bằng lụa bóng có thêu hoa cúc cả hai mặt. Loại lụa thêu của những người giàu có sang trọng thường đến xem đoàn hát Kabuki của bố Kiku.

“Cúc chỉ nở có mùa. Từ mùa xuân đến cuối mùa thu chúng tôi bận rộn với việc trồng cúc, nhưng vào mùa đông chúng tôi có nhiều thì giờ rảnh rang. Giai đoạn vất vả nhất đã gần xong. Anh có thể giúp chúng tôi tưới hoa vào sáng sớm. Thời gian còn lại trong ngày là của anh.”

Giữa mùa thu, rừng cúc trên đảo đã đến mùa khai nở. Đây không phải là loại cúc thường thấy ở chợ. Những cây cúc cao đến đầu người. Có những nụ hoa to bằng nắm tay, được trồng trong giỏ trúc. Mỗi chậu hoa chỉ có một cây cúc. Mỗi cây cúc chỉ nở một đóa hoa, dưới nụ hoa có một vòng trúc vót thật mảnh, uốn theo hình trôn ốc để đỡ cho đóa hoa không bị gãy.

“Chúng ta ở giữa đảo như thế này, ai sẽ đến đây mua cúc?” Kiku hỏi.

“Đây là loại hoa chỉ cung cấp cho các nhà vườn thượng uyển hay các bậc trưởng giả. Một số ít sẽ được dâng cúng ở các đền thờ Shinto hay chùa Phật nổi tiếng. Một vài lái buôn sẽ đi thuyền đến đây, mang theo người của họ để vận chuyển hoa. Người vận chuyển toàn là người chuyên nghiệp để hoa không bị gãy. Người mua hoa đều muốn giữ bí mật chỗ mua hoa để vườn hoa của họ thuộc loại độc nhất. Mỗi lái buôn chỉ được mua một loại cúc.”

Trên đảo có một giếng nước rất trong, dưới là cát sỏi, chung quanh miệng giếng được viền bằng những hòn đá nhẵn thín. Giếng rộng như một cái ao. Mỗi sáng Kiku nghiêng thùng gỗ gánh nước đến tưới những chậu hoa cúc. Trang trại có ba gian nhà, mỗi người ở một gian, họ lặng lẽ làm việc, Kiku ít khi gặp Ichi hay Otoku.

Một đêm trăng sáng, Kiku bỗng nghe như có tiếng hát, tiếng samisen, và tiếng phách gõ nhịp vọng lại từ cuối đảo. Men theo con đường mòn đi một đỗi chàng thấy có ánh đèn thấp thoáng. Theo ánh đèn chàng đến một ngôi nhà vọng nguyệt, đơn sơ nhưng trang nhã. Nơi đây, Ichi trang điểm lộng lẫy đang múa hát một mình. Ichi diễn vai Sumizome, một kỹ nữ chết đi và biến thành một cây anh đào để trả thù cho người tình là lãnh chúa bị kẻ thù giết chết, nàng dùng ma thuật đánh đuổi kẻ thù, lấy lại vương ấn giao cho người em trai của người yêu.

Mãi xem Ichi diễn kịch, Kiku không để ý đến người đang đàn và gõ nhịp cho Ichi chính là Otoku. Cả hai đứng dậy cúi chào Kiku. Otoku lên tiếng:

“Em biết sẽ gặp chàng ở đây. Xin cám ơn chàng đã săn sóc tưới cúc giúp hai chúng em. Chàng nghĩ gì về cách diễn của Ichi?”

“Tôi không ngờ Ichi tài hoa như thế này. Cậu thật là đáng bậc thầy của tôi. Xin thứ lỗi nếu tôi đã vô tình mạo muội hay hống hách với nhị vị mỗi khi bàn luận về nghệ thuật Kabuki.” Nhờ còn trẻ, dáng người mảnh khảnh, giọng nói chưa vỡ tiếng, nên Ichi đóng vai phụ nữ rất hợp. Cả ba người bàn chuyện nghệ thuật đến khuya khi trăng lên đến đỉnh đầu. Otoku và Ichi mời Kiku đi xem vài đóa hoa cúc nở đầu tiên.

Ở một góc rừng có một loại cúc đại đóa. Hoa bắt đầu nở vài cánh. Otoku nói:

“Dưới ánh trăng khó thấy màu thật, nhưng đây là loại cúc màu xanh và có vân như cẩm thạch.”

Ngày còn làm bảo mẫu nuôi em trai của Kiku, Otoku mặc trang phục của gia nhân, đơn sơ nhưng nhìn cũng xinh xắn. Nhưng bây giờ trong bộ kimono lụa bóng, lớp áo lót dưới kimono phủ dưới chân cũng bằng loại tơ mềm, hài thêu, tóc cài trâm, trông nàng khá uy nghi như thuộc hàng vương giả. Kiku ngay từ khi là con nuôi của ông chủ đoàn hát Kabuki đã biết thân phận của mình. Bây giờ chàng lại là người tá túc với chị em nàng, thật không còn dám nghĩ đến chuyện cưới nàng làm vợ.

Ichi kéo tay áo Kiku:

“Xin anh hãy đi với tôi, tôi sẽ chỉ anh xem mấy loại cúc tôi ưng ý nhất.”

Đây cũng là loại cúc hiếm, mỗi cánh hoa nhỏ như cọng len và dài, nở lưa thưa, trông như một con nhện khổng lồ. Loại cúc này có nhiều lớp, xen kẻ nhau một lớp màu đỏ, một lớp màu vàng. Ở một góc rừng khác có loại cúc giống như một con công màu xanh đậm. Sau đó là một loại cúc cánh mỏng như sợi tơ; mỗi đóa cúc giống một con ong khổng lồ màu vàng có râu đen mắt đen, to như một cái mâm. Mỗi khi gió thoảng qua, cúc công xanh dường như xòe đuôi múa dưới ánh trăng. Con ong vàng chập chờn như có thể bay lên bất cứ lúc nào. Còn loại cúc trắng cánh dày nhưng lại rất mịn. Mỗi đóa cúc trông giống như một cụm mây trắng. Đặc biệt loại cúc vàng có mùi thơm như rượu, đứng gần ngửi mùi hoa có thể say. Không cần trồng nhiều hoa, chỉ cần trồng loại hoa quí này là cả hai chị em có thể sống sung túc cả đời. Nhưng tại sao Otoku lại vào làm bảo mẫu của gia đình chàng. Kiku định có lúc nào thuận tiện sẽ hỏi Otoku.

Khi thấy Kiku tập lại những vở kịch cũ, Otoku đề nghị Kiku cùng tập với Ichi một vở kịch mới do nàng soạn lại từ một vở kịch cổ của mấy trăm năm trước. Otoku xem, hướng dẫn, và phê bình. Ichi và Kiku thay phiên nhau, khi thì đóng vai nam, khi thì vai nữ. Cả Otoku và Ichi đều bắt chàng phải hứa. Khi nào còn ở trên đảo tập kịch với hai chị em nàng, thì không được uống rượu, ngoại trừ khi hai chị em nàng mời bằng chính rượu của Otoku. Otoku có ủ rượu hoa cúc, loại đặc biệt trên đảo. Mỗi khi Kiku bực dọc vì không thể nhập vào vai phụ nữ, chén rượu cúc làm chàng thấy lâng lâng, người như nhẹ nhàng hơn, tay chân bớt phần nào lóng cóng hơn. Có khi rượu làm chàng có cảm tưởng như mình biến thành đàn bà. Suốt thời gian ở đảo, Kiku không một lần cảm thấy sự thôi thúc của tình dục.

Kiku không biết mình đã trải qua mấy mùa hoa cúc. Chàng yên tâm để hết thì giờ vào việc tập kịch. Otoku và Ichi cứ thỉnh thoảng lại đưa ra thêm một vở kịch mới và bảo chàng đọc thêm thơ của các thiền sư. Otoku đôi ba lần dùng quạt gõ vào vai chàng nhắc nhở:

“Chuyện bắt chước thái độ của người phụ nữ tuy quan trọng nhưng không phải là cốt yếu. Chàng phải đặt mình vào chỗ của nhân vật, hiểu tâm lý nhân vật, lý do nào làm họ đau đớn. Cảm được nỗi đau của nhân vật thì những cái múa, cái cúi đầu, cái vung tay, che mặt của chàng sẽ biểu lộ được tâm hồn phụ nữ. Mỗi bước đi dáng đứng của người đàn bà là một điệu múa. Bây giờ em dạy chàng điệu múa, nhưng về sau chàng hãy tự nghĩ ra điệu múa để biểu lộ tình cảm trong lòng chàng.”

Vào lúc đầu một mùa xuân, Otoku mời Kiku và Ichi đến gian nhà của nàng. “Tài nghệ của hai người đã chín muồi. Xin hãy gia nhập thế cuộc để thử xem tài năng của hai người hơn xưa đến mức độ nào.” Trong nhà nàng có căn phòng nhỏ chứa rất nhiều hòm rương cũ kỹ. Bên trong rương là  rất nhiều gấm vóc lụa là và rất nhiều vật dụng như son phấn và đồ trang sức dành cho nghệ sĩ Kabuki. Otoku đưa Ichi và Kiku qua sông, thuê lừa thuê ngựa, thuê thêm tùy tùng lập thành một đoàn kịch diễn rong. Ichi nghe từ người qua lại, kể lại với Kiku:

“Đoàn Kabuki của bố anh đang diễn ở một thành phố gần đây. Chúng ta hãy đến xem họ diễn như thế nào và tạo cơ hội để phô trương tài nghệ của chúng ta.”

“Ichi. Tôi đã thề không dựa vào danh tiếng của cha tôi, cũng như không nhờ ông giúp đỡ.”

“Ai bảo với anh chúng ta sẽ cầu cạnh bố anh? Anh không tin rằng chúng ta có đủ tài để tự tỏa hương thơm sao?”

Đoàn Kabuki lưu diễn này do chú của Kiku điều động. Họ lưu diễn với mục đích tuyển mộ thêm nghệ sĩ có tài nhưng chưa nổi tiếng đồng thời quảng bá danh tiếng của đoàn. Chẳng khó khăn gì, Ichi và Kiku tìm ra ngay nơi ăn nhậu đám nghệ sĩ Kabuki. Tự giới thiệu mình là người bán rượu cúc Ichi mang rượu ra mời, nhưng tuyệt nhiên không mời Kiku cũng như không uống giọt nào. Kiku vì đã hứa với Otoku và Ichi nên không cũng giữ ý không hề nếm một giọt rượu. Chỉ vài chén rượu đám diễn viên đều gật gù say nên cả hai kiếu từ ra về. Sau đó Ichi và Kiku đến tìm trưởng đoàn kịch xin được làm diễn viên. Để thử tài hai người ông chú cho phép hai người trình diễn bất cứ vở kịch nào họ thích. Ichi chọn vở kịch Sakura Sumizome. Kiku đóng vai Sumizome khi nàng còn là kỹ nữ. Và Ichi đóng vai Sumizome khi nàng dùng ma thuật đánh kẻ thù rồi sau đó biến thành cây anh đào. Lúc Ichi biến thành cây anh đào, Kiku tưởng như mình say rượu trông gà hóa cuốc vì Ichi hóa thành khói và cây anh đào không biết bằng cách nào hiện lừng lững trên sân khấu. Ông chủ đoàn kịch hết lời khen ngợi hai người.

“Tôi sẽ dành cho hai cậu một đặc ân chưa bao giờ dành cho đoàn hát rong. Đêm nay các cậu sẽ diễn vở kịch này để đám diễn viên của tôi được nghỉ ngơi một bữa. Đoạn kịch này hơi ngắn, nên nếu hai cậu có thêm vở kịch nào nữa tôi sẽ cho diễn luôn. Nếu khán giả hài lòng, chúng tôi sẽ thu hai cậu vào làm diễn viên chính.” Ông không nói thật nhưng Kiku và Ichi đều biết là đám nghệ sĩ trong đoàn hát của ông đã say rượu, ngủ như chết cả ngày trời không ai đánh thức được. Đêm đó Kiku và Ichi diễn thêm một vở kịch mới soạn của Otoku. Vở kịch có tên là “Đóa Hoa Cúc Cuối Cùng.”

Vở kịch này nói về cô đầy tớ tên là Otoku, vì yêu công tử con của ông bầu gánh Kabuki nàng bị đuổi việc. Nàng về quê trồng cúc. Anh công tử đi diễn kịch rong trở nên nghèo đói muốn bỏ nghề. Nàng theo làm vợ, giúp đỡ và khuyến khích chồng tiếp tục theo nghề. Lúc nào nàng cũng thương yêu hầu hạ chồng ngay cả khi chồng nàng nhậu nhẹt say sưa, có lúc đánh đập nàng. Khi chồng thành công nàng vẫn không được nhà chồng chấp nhận. Để chồng được theo đuổi nghệ thuật đến nơi đến chốn nàng ở lại quê nhà. Những năm vất vả nghèo khổ khiến nàng lâm trọng bệnh. Chồng nàng vinh qui về làng, trống nhạc huyên náo ngay dưới cửa sổ nhà nàng, vừa lúc nàng trút hơi thở cuối cùng. Otoku đã khéo léo dùng một một ít chi tiết trong đời mình rồi biến nó thành một bi kịch. Khi diễn vai Otoku, Kiku nhận ra thân phận đàn bà đã bị ngược đãi trong xã hội của chàng. Phụ nữ đứng mũi chịu sào, gồng gánh buôn bán nuôi chồng và nuôi con nhưng không được biết đến công ơn. Sự hy sinh thầm lặng của Otoku khiến chàng cảm động vì thế Kiku diễn vai này thật xuất sắc, nhất là khi nhân vật Otoku trút hơi thở cuối cùng, chung quanh nàng thật vắng lặng, ngoài sân trời bắt đầu trở lạnh trong sân chỉ còn một đóa cúc ủ rủ sắp tàn. Chàng nguyện với lòng khi trở thành chủ đoàn kịch chàng sẽ thu nhận nữ nghệ sĩ vì chàng tin là họ có thể diễn vai này tốt hơn chàng. Đó là chuyện xa vời, nhưng trước mắt chàng hy vọng mình có thể cầu hôn với Otoku sau buổi diễn thành công này.

Ông chú của Kiku vui mừng vì tiếng đồn tài nghệ của Kiku và Ichi khiến người đến xem chật cả nhà hát. Ông càng vui mừng hơn khi Kiku thú thật chàng là con nuôi của Goro Onoe, chàng trang điểm khéo quá nên ông không nhận ra. Ngày xưa Kiku giận bố bỏ nhà ra đi thề chỉ trở lại sau khi thành nghệ sĩ Kabuki thật sự.

“Nghệ thuật diễn xuất của cháu đã trở nên vượt trội, không có người nào trong đám diễn viên của chú có thể sánh kịp với cháu. Có lẽ cuộc đời với những năm tháng nổi trôi vất vả của cháu khiến cho cháu nhạy cảm hơn nên diễn tả tình cảm sâu sắc hơn. Chú tin rằng bố cháu sẽ rất hài lòng.”

Vài ngày sau, khi đoàn lưu diễn sắp sửa dọn đi nơi khác, Ichi đến gặp chàng ở phòng trọ mang theo bình rượu hoa cúc.

“Đã đến lúc chúng ta chia tay nhau.”

“Cậu không cùng đi diễn với tôi à? Nghệ thuật Kabuki sẽ bị thiệt thòi nếu thiếu một diễn viên như cậu.”

“Công việc của tôi là trồng hoa cúc. Tôi chỉ vâng lời chị Otoku theo hỗ trợ anh thôi.”

“Tôi có một vài điều thắc mắc từ lâu, nếu không có gì quá đáng xin cậu giải thích dùm tôi. Xem chừng cậu không phải là dân trồng trọt bởi vì cậu phong lưu công tử thế kia. Otoku xem chừng cũng là dòng trâm anh thế phiệt, tài nghệ và hiểu biết hơn người. Tôi thật không xứng đáng để cầu hôn với nàng. Hai chị em cậu là ai, sao lại giúp tôi hết lòng hết sức, đến nơi đến chốn như thế?”

“Anh không nhận ra tôi sao?”

“Tôi dường như đã gặp cậu ở đâu đó, ngờ ngợ mãi nhưng không nhớ ra. Tôi ngỡ là gặp cậu đến xem diễn tuồng.”

“Anh còn nhớ ngày đầu tiên, chị Otoku rượt theo con mèo để lấy lại một con búp bê nam không?”

“Có chứ. Tôi vẫn tự hỏi vì sao một người giàu có, xinh đẹp hiểu biết tường tận về nghệ thuật Kabuki như Otoku lại làm bảo mẫu trong nhà tôi.”

Otoku lấy bình rượu cúc, rót cho mỗi người một chén.

“Trước khi ra về, tôi mời anh một chén rượu đặc biệt của dòng họ tôi nhưng xin đừng uống vội, hãy để tôi kể anh nghe câu chuyện về gia đình tôi. Bà tổ của chúng tôi là Izumo no Okuni. Bà sáng chế ra một điệu vũ mới và một nhạc cụ lạ. Lúc đầu bà chỉ trình diễn ở những dòng sông đã cạn nước, dùng đáy sông làm sân khấu. Dần dần nghệ thuật của bà ăn khách, bà tổ chức thành đoàn Kabuki và chỉ thu nhận phụ nữ. Để làm mất danh tiếng của bà, người ta cài vào đoàn nghệ thuật của bà những cô gái điếm, và dùng đó để làm lý do bắt giải tán đoàn kịch của bà. Từ đó phụ nữ bị cấm tiệt không cho tham dự vào các đoàn Kabuki. Bà tôi cương quyết khôi phục địa vị diễn viên cho phụ nữ nhưng bất cứ phụ nữ nào theo bà cũng bị bỏ tù hay giết đi. Bà truyền nghề cho con cháu. Mỗi chúng tôi trước khi trưởng thành có cuộc sống riêng đều phải học cho đến khi có thể trình diễn Kabuki. Phụ nữ phải học viết kịch và phê bình kịch bản. Otoku thông minh nhất dòng họ và cũng bướng bỉnh nhất. Chị cương quyết xuống trần gian, và thề không về nếu không thành công. Vâng, chúng tôi không phải là người trần gian. Chúng tôi ở một cõi khác, không phải là thiên đàng hay địa ngục mà là ở một thời gian khác và không gian khác. Để giúp chị, tôi trốn theo Otoku. Tôi tự tin có thể giúp chị vì tôi có tài nuôi trồng cây cỏ. Bất cứ loại cây cỏ nào tôi cũng có thể biến nó thành khổng lồ hay tí hon. Tôi có thể biến cây cỏ thành chất lỏng như nước hay rượu, cũng như thành hơi. Tôi cũng có thể biến chất lỏng và chất hơi của cây cỏ thành hiện thực. Mà thôi những chuyện này chẳng liên quan với anh. Otoku chọn gia đình anh vì đó là gia đình có đoàn kịch Kabuki. Chẳng may con mèo nhà anh ngoạm phải tôi, chị tôi sợ nó xé tôi tan xác nên rượt theo. Trả ơn anh cứu mạng nên chúng tôi quyết định giúp anh thành công trong nghệ thuật Kabuki. Tôi không ở lại làm diễn viên vì tôi có thể diễn lúc nào tôi muốn theo ý của tôi mà không cần phải vâng lời một ông chủ nào cả. Nơi tôi ở, chúng tôi không theo đuổi nghệ thuật như một cách sinh sống hay để nổi danh. Nghệ thuật nơi chúng tôi ở chỉ để làm phong phú tâm hồn, một trò chơi phong lưu tao nhã thôi.

“Tại sao không phải đào hay lan mà lại trồng hoa cúc?” Kiku hỏi.

“Bởi vì duyên anh đã cứu tôi, Và Kiku, tên anh nghĩa là hoa cúc.” Ichi trả lời.

“À quên, mỗi lần muốn cậu bé em trai anh ngủ say để chị có thể xem kịch, Otoku đã cho cậu bé một vài giọt rượu. Chúng tôi yêu cầu anh không được uống rượu, vì rượu có tác động rất mạnh lên chúng tôi. Tôi bị biến thành con búp bê bằng vải cũng chỉ vì uống phải rượu của trần gian. Sắp đến lúc chia tay, xin anh đừng lo, một tí rượu cúc của Otoku làm ra không có hại cho chúng ta đâu. Bình rượu cúc này có thể giúp chúng ta gặp lại nhau, và anh có thể gặp lại Otoku. Nhớ là với bình rượu cúc này anh phải làm thế này thế này. . .”

Ichi cầm chung rượu uống phân nửa. Sau đó cậu ta nằm lăn trên đất, ngủ say sưa. Theo đúng lời dặn, Kiku đổ nốt phần còn lại lên người Ichi. Ichi biến thành một đóa cúc trắng to như cụm mây và trong như thủy tinh. Đóa cúc từ từ bốc hơi rồi biến mất. Kiku không uống chén rượu Ichi rót cho chàng, rót rượu trở lại vào bình, mang đem cất.

Khi đạt đến đỉnh cao của danh vọng, Kiku vận động với Shogun, người yêu thích tài nghệ của chàng, đổi luật phụ nữ được trình diễn. Tuyên bố bỏ nghề, Kiku tìm đường trở lại hòn đảo ngày xưa để trồng cúc. Ba gian trại trước kia chỉ còn lại ba căn chòi mục nát. Cái giếng nước ngày xưa như cái ao giờ thu nhỏ lại như một tấm gương soi mặt trên bàn trang điểm của nghệ sĩ. Một đêm trăng sáng, trong giấc ngủ Kiku mơ hồ nghe tiếng hát, tiếng đàn samíen, và tiếng phách. Đi về hướng cuối đảo không thấy gì chàng lang thang ra giếng. Vầng trăng như soi gương. Nhìn theo vầng trăng trong giếng chàng nhìn thấy một cõi không gian và thời gian khác. Và Otoku nhìn chàng mỉm cười:

“Em quay về xin lỗi bố vì nhận ra em không thể thành công một mình nếu không có sự giúp đỡ của những người đàn ông trong gia đình em. Nhờ công của chàng, em thực hiện được nguyện vọng của bà tổ, nay phụ nữ đã được phép diễn trong đoàn Kabuki. Cảm động vì tấm lòng chàng yêu mến. Em xin tặng chàng mấy chậu cúc để gây giống. Chúng sẽ không được to và đẹp như cúc do Ichi trồng, nhưng có thể tự chống bệnh và không cần nhiều nước. Giếng nước càng dùng càng có nhiều nước. Chúng ta không thể là vợ chồng vì em ở cõi khác và thời gian nơi em ở cũng khác. Tính ra em hơn chàng vài trăm hay cả ngàn tuổi.”

Quay trở lại rừng cúc, chàng nhìn thấy cây hoa cúc ngọc thạch. Nhớ lời Ichi dặn, chàng lấy bình rượu cúc rót một chút rượu tưới lên cây cúc. Cây cúc héo rũ ra sau đó bốc hơi. Còn lại dưới đáy chậu cúc là một con búp bê mặc áo lụa đắt tiền. Cho phần rượu còn lại lên con búp bê, con búp bê đổi màu trong suốt rồi dần dần lớn lên hiện thành Otoku bằng xương bằng thịt.

Nguyễn Thị Hải Hà

cạn một hồ trường

lại đây cùng ta cạn một hồ trường ( nguyễn bá trác)

 

người đi bỏ lại mùi hương tóc
năm hết ngồi đây bỗng nhớ nhà
lược gương úp mặt đêm ngà ngọc
có nhớ một thời son phấn xa

vỡ mộng đời ta đành thổn thức
nghe gió len bầm tím thịt da
hồ trường chưa cạn mà vuốt ngực
ngửa mặt mình ta ngóng tuổi già

ai uống cùng ta đêm cuối năm
mời nhau chén rượu buổi thăng trầm
đâu hay trong mắt người cố xứ
vỗ kiếm cuồng ca tiếng nguyệt cầm

hồ trường ném chén sầu trăm mảnh
cứa rách đời ta đắng cả lòng
ta về khuya cũ mà nhặt nhạnh
một mảnh tình đau trong chén không…

nguyễn minh phúc

MÙA XUÂN GỞI THỊ TRẤN HOA VÀNG

 

Dừng bên cầu hát quạnh
Nghe mưa bụi qua hồn
Mới hay xuân trở lại
Xui nhớ người yêu thương

Mùa nào hoa quỳ nở
Ta trao nhau mộng đầu
Tuổi mười lăm mười bảy
Em ngọt đời như đao

Phút đầu tiên anh đến
Em cột tóc mây trời
Cho thơ anh hò hẹn
Gương lược săm soe đời

Tháng ngày xanh đắm đuối
Ở thị trấn hoa vàng
Anh nuôi màu kỷ niệm
Em ngậm tình trong răng

Rồi mùa nào theo gió
Anh về bên trời cao
Bỏ em cùng cặp vở
Ngơ ngác mắt nai sầu

Bây giờ tết rồi nhỏ
Mình vẫn còn xa nhau
Chắc em quàng khăn nhớ
Đợi anh về xôn xao

Đừng có buồn nghe nhỏ
Ở thị trấn hoa vàng
Có hồn anh theo nhỏ
Tình vẫn nồng trăm năm…
(1974)

Trần Dzạ Lữ

TẾT TRƯỚC GIAO THỪA

43 năm, Tết xa nhà
cầm nhang đứng giữa Thanh Đa lạy trời
cúc cung tận tụy mấy đời
dây nghèo quấn riết vào lời phù vân

Cội mai nguyên quán xa dần
sắc đào phương Bắc cắm gần ngõ quê
43 năm tắt đường về
khói nhang gói lạnh hương chè nhạt phai

Người muôn năm cũ còn ai
nước non nghe Mẹ thở dài, tủi thân
đời cha chí lớn không thành
đời con quảy gánh gươm đàn lưu vong

Quay đầu ngó trận bắc phong
sững sờ, một bọc trăm con lừng khừng
giang đầu trước mặt sau lưng
mờ mờ bóng tháp, trùng trùng tượng mây

43 năm Tết hao gầy
tôi còn sống được mấy ngày đợi Xuân.

Nguyễn Tam phù Sa
Sài Gòn 03.02.2018

LẠC BƯỚC MÙA XUÂN

(Tặng vợ yêu lẻ bóng quê nhà )

Tết quê người
lạc mất cánh mai vàng
Hai bên cửa
thiếu chậu hoa vạn thọ
Không bàn thờ
bày cúng mâm ngũ quả
Rưng lạnh lòng
thèm ấm khói nhang thơm

Không bánh tét
mặn mà vị dưa món
Thiếu dưa hành
củ kiệu trộn tôm khô
Nghe thèm lắm
canh khổ qua ngọt đắng
Tết hàng năm
em luôn cúng ông bà

Xuân Mal-ta
trong rét ngoài mưa
Bên cốc rượu vang
đợi bước giao thừa
Thiếu hạt dưa rang
” thèo lèo cứt chuột
Không mứt hạt sen
lẫn ngọt mứt dừa

Nhớ tay em
ủi bộ quần áo mới
Lòng nôn nao
xa vẳng tiếng chuông chùa
Qua giao thừa
vai kề vai đi lễ
Viếng chùa Ông
cùng hái lộc đầu năm

Chắc giờ này
em tựa cửa ngóng trông
Bóng tình xa…
trái tim buồn bật khóc
Nỗi nhớ thương
bào phai màu sợi tóc
Mà anh về
chưa kịp bước xuân sang !..

CẦM CHỔI SÁNG XUÂN

Sớm xuân cầm chổi quét nhà
Bao tàn thuốc đốt đêm qua nỗi buồn
Trung du thương biển nhớ nguồn
Tình chung mấy kẻ? Tuổi xuân mấy lần?

Sớm xuân cầm chổi quét sân
Xót hoa hoá rác… bâng khuâng…thẫn thờ…
Giấy nhàu đau nửa trang thơ
Tháng ngày lịch cũ mấy tờ nhoè sương

Sớm xuân cầm chổi quét vườn
Vui nhìn lộc biếc thêm thương là vàng
Chổi ơi! Xin hãy nhẹ nhàng
Kẻo đau hồn lá – lá vàng mùa xuân

Sớm xuân cầm chổi quét đường
Sạch bao rác bụi ngày thường bẩn chân
Mong ai dẫu chỉ một lần
Bàn chân chạnh nhớ dấu chân tìm về!

Nguyễn Vân Thiên

Giá Trị Những Niềm Đau

Trong cửa hàng mỹ nghệ, người ta nhìn thấy một chiếc tách uống trà thật xinh xắn.

     Họ nói với nhau: “Chúng ta chưa bao giờ nhìn thấy một chiếc tách tuyệt mỹ đến  thế”.
Chiếc tách bỗng nói: 
“Các bạn không biết đâu, đời tôi không phải lúc nào cũng là chiếc tách trà”
 Có một thời tôi chỉ là nhúm đất sét màu đỏ. Ông chủ của tôi đã nắm tôi lên cuộn tròn và phát vào người tôi, rồi cứ thế mà nhào nặn tôi mãi. Tôi thét lên, “để tôi yên”
nhưng ông chỉ mỉm cười và nói: “chưa được”
 
“Thế rồi tôi được đặt lên một chiếc bàn xoay” Chiếc tách nói, “bỗng nhiên tôi bị xoay vòng vòng.
“Dừng lại đi!Tôi bị chóng mặt!” Tôi thét lên. Nhưng ông chủ tôi chỉ lắc đầu và nói “chưa được”
 
Thế rồi ông chủ đặt tôi vào lò nung. Tôi chưa bao giờ cảm thấy nóng đến như thế.
 Tôi tự hỏi tại sao ông lại muốn đốt cháy tôi, tôi thét lên và đập cửa. 
Tôi chỉ có thể trông thấy ông xuyên qua khe hở và chỉ có thể nhìn thấy đôi môi của ông
 khi ông gật đầu: “chưa được”
 
Cuối cùng thì cánh cửa cũng mở ra, ông chủ đặt tôi lên chiếc kệ, tôi bắt đầu
 thấy mát mẻ. “Thế, tốt hơn rồi” tôi nói. Nhưng ông chủ lại sơn khắp người tôi. 
Cái mùi sơn thật kinh khủng. Tôi tưởng chừng muốn ngạt thở. “Dừng lại, dừng lại đi” 
Tôi khóc thét. Nhưng ông chủ chỉ lắc đầu: “Chưa được”.
 
Thế rồi ông lại đặt tôi vào lò nung, không giống như lần đầu tiên. 
Lần này nóng gấp đôi lần trước và lần này tôi biết mình sẽ chết ngạt. Tôi nài nỉ van xin, 
tôi kêu gào khóc lóc. Suốt thời gian đó tôi chỉ nhìn thấy ông xuyên qua khe hở 
với cái lắc đầu ra hiệu: “chưa được”
 
Khi biết rằng vô vọng, tôi không bao giờ van xin xỏ nữa. Tôi gần như buông xuôi. 
Thế nhưng cánh cửa mở ra và ông đem tôi ra ngoài và đặt lên kệ.
Một giờ sau đó ông đặt tôi trước gương và nói: “Hãy ngắm nghía mình đi. 
Ta đã xong việc”.
 
Tôi thốt lên: “Đó không phải là tôi, không thể là tôi. Đẹp quá. Tôi đẹp quá”
 
“Ta muốn con nhớ rằng, ông chủ nói,
– Ta biết sẽ làm cho con đau đớn khi nhào nặn con, 
nhưng nếu ta để mặc con thì con sẽ khô héo đi.
 
– Ta biết ta làm con chóng mặt khi đặt con lên bàn xoay, 
nhưng nếu ta dừng lại thì con sẽ vỡ vụn ra.
 
– Ta biết trong lò nung rất nóng và khó chịu, 
nhưng nếu ta không đặt con ở đó con sẽ bị gãy nát.
 
– Ta biết mùi sơn rất khó ngửi, nhưng nếu ta không tô vẽ cho con thì con sẽ 
không có một màu sắc nào trong cuộc đời. Và nếu ta không đặt con vào lò lần thứ hai 
thì con sẽ không tồn tại được lâu bởi vì không giữ được độ rắn chắc. Bây giờ con là 
một sản phẩm hoàn hảo. Con đã biết được ý định của ta rồi chứ.
 
– Cuộc đời là một trường học lớn, chúng ta thường cảm thấy khổ sở và khó nhọc khi 
đối diện với những nghịch cảnh, khổ đau, nhưng với kẻ trí, khổ đau là một loại 
”phước trá hình”, giúp cho ta ”mở mắt” tỉnh mộng, trưởng thành và vững chải hơn,
biết thương đời hơn. Ta không thể thay đổi được hướng gió nhưng có thể điều chỉnh
 được cánh buồm để yên bình trong biển sóng mênh mông…

( Được nghe kể bởi nhà phê bình Trần Trung Tá )

CƯỜI LÊN, HỠI NHỮNG THẰNG GIÀ

 

 

Ngôi nhà lá mái chữ đinh. Khu vườn um tùm cây trái. Hàng rào là những phiến đá chồng lên nhau. Tất cả đều có màu tối, nhuốm vẻ già nua, như ông bây giờ, đã 70! Tuổi xếp dãy như những phiến đá ngoài bờ rào. Sự sống sinh học, vẫn tồn tại hàng ngày, dễ thấy: Bờ rào có những lớp tảo xanh bám lên, còn ông thì màu muối tiêu lốm đốm trên tóc. Có điều quanh quẩn ra vào, chỉ mình ông. Sự cô đơn của tuổi già cứ lục bục, trầm trầm trong cổ họng, khiến tách trà nóng buổi sáng cũng lạnh ngắt. Bữa trưa kéo qua bữa chiều. Chai rượu và chiếc ly như người bạn thiết của ông lúc này. Đôi lúc dòm vào đáy không, lại thảng thốt kêu nho nhỏ “buồn như ly rượu cạn”. Rồi bổng dưng cười khan.

Không phải là ông không có bạn. Nhưng những người bạn đó hầu hết đã thay tâm đổi tính, đã lột xác để trở thành những con vật nửa cừu nửa dê hay con chó thích gặm xương, được xã hội mới thuần dưỡng. Hễ gặp nhau, đầu tiên là nói đến chuyện tiền bạc, giàu có; đến con cái thành đạt, chỗ đứng trong xã hội. Rồi thì khen nức nở đời sống người dân sung sướng hơn bốn mươi năm trước… Nghe một hồi, ông cười thật to và cảm thấy như mình lạc vào khu chợ uế tạp, đầy tiếng mặc cả, ó ré lồng trong tiếng ruồi nhặng bay vo ve.

Cực chẳng đã, ông cũng phải châm nước trà mời họ mà nhấp ngụm nhỏ nhưng sao nó lạc thếch. Những trận thăm viếng ấy, ông ngồi chịu trận, ừ hữ cho qua buổi và cầu mong sao họ đứng dậy cáo từ sớm hơn. Nhìn những con tắc kè đó, ông nhếch mép cười ruồi!

Tuy mỏi mệt với những ông bạn láng giềng ngô khoai tự mãn với cuộc sống hiện tại, nhưng họ cũng là những con người tốt bụng, hay giúp nhau những việc lặt vặt: dựng giàn bầu, cột phên cửa, sắp lại những viên đá xô lệch, chỉ cách trồng cây cà dây bí sao cho nhiều trái…

Khi bọn họ đi rồi thì ông chùi người vào phòng, thừ người trước đống sách và nghĩ bọn họ chẳng qua cũng chỉ là những con người ngây thơ, những nạn nhân khốn khổ từ những tư tưởng rất “thổ tả” của người trước trước kẻ sau cách nhau cả ngàn năm, là di họa kéo dài cho cả một khu vực dân cư rộng lớn, chẳng khác nào bầy tù khổ sai về tinh thần và thể xác. Tận thâm tâm, ông khinh bỉ lũ đầu xỏ cai trị man rợ này, khéo uốn nắn những cây tre cây trúc thành những ngọn cỏ lau rợp trên mặt đất! May mà nỗi buồn tủi ấy được bàn tay cô chủ nhỏ xoa dịu, dẫn ông trở lại trạng thái bình thường bởi những săn sóc nho nhỏ nửa em nửa tình nửa vợ nửa người dưng, chẳng ra cái giống gì, nhưng cũng làm ông khuây khỏa, vui lên, nở nụ cười, lúc tươi lúc như mếu.

Một ông bạn xa xứ, quanh quẩn trong nhà ra sân, muốn tán gẫu với bất kỳ ai cũng không có người để tán bởi tất cả mọi người thi nhau chạy từ mờ đất cho đến tối mịt, khiến ông có lúc bị trầm cảm và rồi thốt lên được câu thơ “lẫy lừng”, làm ấm lòng hiếp mắt những thằng già như ông “Thèm rượu mà ta không uống được/ Bạn thì xa tri kỷ cũng đi rồi/ Tay với trời cao không thấu nổi/ Tuổi già mất bạn cũng mồ côi”.  Đọc được mấy câu này ông sướng rơn, sướng đến lịm người tê tái, như chìm trong tri âm tri kỷ và cõng bốn câu trên lưng chạy đi khoe với cô chủ nhỏ. Cô ngước mắt nhìn ông, ấp tay ông lên ngực, chia sẻ với tất cả nỗi niềm.

Sáng nay, vừa cầm cuốc vun luống đất trồng rau, có tiếng chuông leng reng. Ông vội trật lưng quần, lôi ra chiếc điện thoại cùi bắp, áp vào tai. Tiếng lào khào: Anh làm gì đó, chạy qua em uống ly rượu.

Hả, lại rượu, mới bảnh mắt mà bia rượu nỗi gì?

9 giờ rồi, thì súc miệng đánh răng chút anh. Của thằng bạn “khúc ruột ngàn dặm” gửi em uống tết. Tết sớm đi anh. Tới nghen.

Ừ.

Đó là ông bạn nhỏ hơn ông 4 tuổi, chủ quán ăn, trước cũng thầy giáo nhưng biết cách sống với cái đầu rất thực dụng và có tài điều hành, nấu nướng nên phất lên sau 10 năm khói lửa trong bếp. Phất nhưng buồn, buồn đến “thúi ruột”, nhiều lần thốt lên nghẹn ngào, khi nhìn lũ con cứ lần lượt vuột khỏi vòng lễ giáo. Cả hai đều có tâm trạng chung là sự vuột mất đạo đức của đám con cháu bây giờ như thể nhìn lên bàn thờ tổ tiên phủ đầy mạng nhện, bụi bặm, những chân nhang lỏng chỏng, những bài vị nghiêng ngã…

Cây cuốc móc chéo qua cành mận sà ngang. Đưa cần vọt kéo nước lên chà chân, vục nước rửa sơ sịa khuôn mặt cả tuần chưa cạo râu, nham nhám. Ông thả cần vọt đánh rầm, chút xíu nữa là chiếc gàu sắt tán vào mặt. Ông ngó xoáy vào chiếc gàu đung đưa, bổng nhớ bạn, nhớ Triều Nghi, nhớ Sơn Đẩu rất nhiều lần kéo nước từ cái giếng sâu xối lên người, kêu “mát quá, mát quá, đã đời…”. Mới đó thôi, Triều Nghi đã bay qua bờ bên kia, Sơn Đẩu phải cột dây vào xương cổ, đi đứng khó khăn, thỉnh thoảng ném lên không vài bài ngắn nhưng bén hơn gai mắt ó! Nhớ bạn, ông tủm tỉm cười với thềm giếng rong rêu, với chiếc gàu sét, chiếc cần vọt chuẩn bị mục, rồi vào nhà xỏ chiếc quần bạc màu, lôi chiếc xe máy mà ông gán cho cái tên bọn trẻ không hiểu ra: “con ngựa già của chúa Trịnh” ra cổng.

Già thì cái gì cũng trục trặc, từ đồ vật chí đến con người. Đạp đến chục bận mà nó vẫn không chịu nổ, chỉ khàng khạc rên như người bị cảm cúm. Mồ hôi tứa ra. Ông nhìn chiếc xe rồi nhìn xuống đôi dép nhựa ngã màu, mòn vẹt. Mày rệu đến nước này sao? Đâu có được. Á à… là do tao không chăm sóc, vô dầu mỡ. Cứ lôi xài thí mạng sắt thép nào không mục? Tiếng cười phát ra từ cổ họng dính bợn đờm không trong. Mà có phải đây cũng là liệu pháp thể dục không nhỉ? Ông chống chế cho qua chuyện với bàn chân phải lăn tăn, mỏi nhừ.

Cuối cùng máy cũng nổ, nhưng không phải từ sức đạp của ông mà là thằng cháu hàng xóm nhìn thấy ông vật lộn với chiếc xe. Nó chạy lại, cong người nhấn bàn chân lên cần đạp thật mạnh như thể người ta đạp vào mặt kẻ thù. Tiếng nổ ọc ạch, khói xịt sau đít mù mịt, khét lẹt.

Nó nhăn răng cười: Ông để lâu quá. Cái gì mà để lâu không đụng tới dễ liệt lắm ông ơi! – Nói và nhăn nhở cười, nửa giễu nửa thật.

Mà nó nói cũng đúng, lâu lâu mới sử dụng nên bị liệt là phải. Cả con người và máy móc đều một giuộc mà!

Thôi, ổn rồi, ông chạy đi.

Ờ cảm ơn cháu nghen. Lo học hành tử tế còn ra làm quan, sướng! – Nói và ông bỏ chân qua yên. Con ngựa gục gặt chở ông một cách miễn cưỡng. Nó cũng đã trên 43 rồi còn gì?

Khi xe chạy gần tới rìa làng, ông lại nghĩ đến sự nhỏ lại ở tuổi già; văn hoa một chút thì là sự biến đổi của cơ thể từ các tế bào bắt đầu già cỗi. Lần đầu tiên ông khám phá ra sự thay đổi này khi ở trong phòng tắm. Trắng xóa từng nhúm. Cứ tưởng xà phòng chưa sạch, càng vặn nước xối ào ào, màu trắng càng rõ ràng hơn. Ông bật cười, nhủ thầm “thì có sao”. Cái sự thun nhỏ của các bộ phận trong cơ thể nó từ từ hiện ra, y như những cây nấm dại mọc trên thân cây mục! Có người đã hỏi: Chú có sợ tuổi già không, tôi thì thèm được trẻ lại. Ông cười, sợ gì chú. Mọi thứ như chiếc đồng hồ vậy thôi, nó chạy hết ngày rồi tới đêm, rồi có lúc hết pin. Hết thì sạc. Sạc không vô thì ném. Tuổi tác cũng vậy. Tôi chẳng sợ mà trái lại thấy yêu nó, yêu mấy sợi tóc bạc, yêu cái mục kỉnh trễ xuống sống mũi phải nhấc lên để đọc được sách, yêu cả tiếng trẻ thơ gọi tôi nội ơi, ngoại ơi, ông ơi. Sướng lắm.

Có bữa, từ xa, ông bạn bác sĩ “tuổi hườm hườm, chín rục” gọi tới hỏi thăm sức khỏe vì nghe loáng thoáng ai đó mách ông lâm trọng bệnh. Ông cười ha hả: Bệnh hoạn gì anh? Chuyện nhỏ, trục tặc tí xíu đó mà, tuổi này ai không bị này nọ? Nhưng nghe bạn bè nói… Không có gì nghiêm trọng, anh. Tôi “rua” và bắt tay cầu hòa rồi. Hai bên sống trong hòa bình hữu nghị. Mà này, anh viết còn thiếu nghen, lẽ ra tuổi 70 trở đi, không thể gọi là hườm hườm hay sắp tới chín rục mà là “dậy thì tuổi 70”. Tiếng cười ở đầu bên kia vang lên nghe sướng lịm tai… Thật tình, thốt lên câu này với bạn, lúc ông đang ngồi trước giàn mướp say sưa nhìn chéo qua hông tường rêu ám ngoằn ngoèo, chìm đắm với hình dạng cô gái khỏa thân rong rêu, nằm chéo chân, tóc phơi dài trên nền đen, bộ ngực nhô lên, khuôn mặt ngó mông phía trước, xa xăm và liên tưởng đến vợ mình mấy mươi năm trước, đến cô chủ nhỏ hiện giờ, đến tất cả một nửa của loài người. Rong rêu cũng tạo nên cái đẹp thuần khiết đến bất ngờ, huống chi con người, đôi khi xô cái đẹp trần gian đi quá xa? …

*

Đến quán đã thấy hai ông bạn trẻ ngồi đối ẩm, trong khi mấy đứa nhỏ phụ việc còn chổng cẳng ngủ trên gác. Chủ quán í ới gọi tên từng đứa. Chúng bước xuống thang với bộ dạng ngái ngủ, nặng nhọc. Chúng nó ngủ nướng là phải, trung bình mỗi đứa chạy đến 30 cây số từ xế trưa đến gần nửa đêm để hầu các quan ngài “lưu linh” ăn nhậu từ tiền thuế của dân, chớ dân dã ai dám bán lúa non để bia bọt? Ông bạn trẻ giáo sư nhìn chúng rồi nhìn chủ quán cười ngất. Không hiểu giáo sư cười gì.

Ông kéo ghế chưa kịp đặt mông lên mặt nhựa, giáo sư nghiến răng:

Giáo sư với tiến sĩ ở xứ này đông như trấu nên bây giờ lần lượt từng ông bị tâm thần rồi. Mẹ cứt!

Ai? Tâm thần giống gì – Chủ quán hỏi.

Thì cái thằng cha gs ts đòi cải cách chữ viết đó.

Tầm phào, để bụng làm gì ba thứ lăng nhăng đó. Chẳng qua cha này muốn nổi tiếng. bèn tung ra cái đề án quái gỡ để cộng đồng ném đá chơi. U đầu mẻ trán thây kệ, miễn được nhiều người nhắc đến tên là khoái tít cung mây rồi. Được chửi để nổi tiếng. Chả bắt chước lũ mad bên Mỹ ấy mà – Quán nói và khum người ho khọt khẹt.

Xứ này, không chuyện gì là không thể xảy ra – Ông thêm – Cứ tưởng tượng như người phụ nữ góa chồng giữa đám lý trưởng, chánh tổng, ông thủ, ông biện lại, thậm chí cả thằng mõ. Cô ta trẻ trung, tươi mát, hoang dã bởi vì là gái quê; nên mỗi người, nhân có cơ hội thì véo một chút, sờ một chút. Chánh tổng giữ từ vòng ba trở xuống, lý trưởng vòng một… còn mõ với biện lại thì mút ngón tay chân, đến khi no chán chê thì cô ta không còn cọng tóc, cọng lông. Tất cả đều lép xẹp, tan nát. Nói đụng chạm chú, chớ cả mấy ông đầy bồ chữ thánh hiền cũng lén lén, lút lút. Cuối cùng ai cũng phỡn ra, bụng căng phồng, mặt mũi nhẫy bóng.

Thì anh cứ nói mẹ nó ra đất nước này nát hơn tương bần vì lũ khốn nạn đó – Chủ quán nhăn nhó.

Thôi, sáng súc miệng, chớ nói thêm những điều khó nghe.

Mà sao lâu nay không thấy anh viết gì – chú giáo sư hỏi.

Viết gì nữa chú! Thứ nhất bệnh, bác sĩ cấm thức đêm, suy nghĩ. Thứ nữa, thời buổi này đụng vào không khéo bị mời lên hỏi xuống, có khi ăn cơm chảo bóc lịch nữa ấy chứ. Thằng cha bạn “Đĩ Thúi” của tôi bị hành xách đến độ tóc rụng sạch, còn vài cọng thì bạc trắng!

Viết rồi nhét vào đáy thùng carton cho mối nó đọc – Chủ quán đùa.

Có xứ sở nào mà khi viết phải lén lén lút lút, lại phân vân lằn ranh lề phải với lề trái! – Ông than – Thà về nhà ôm mông vợ để có bữa cơm, đỡ nhục hơn.

Nay còn đẻ ra đám 47!

Ông ngửa cổ uống hớp rượu. Nó không làm ông tỉnh ra mà gần như mụ mị hẳn đi. Nghe con số 47, đầu ông ong ong như tiếng chuông gõ chan chát. 47, bạn ông đã phục vụ ở Trung đoàn này sau khi thi rớt Tú Tài, bị vỡ xương chậu trong trận đánh ở ngôi làng ven thị xã, thành phế nhân. C         àng buồn hơn khi nghe tin cô vợ một thời là hoa khôi của tỉnh ngày ngày thấy ông chồng Trung úy què chột như hiện thân của cái xấu vật chất, tương phản với nhan sắc trời cho, cuốn gói dông mất. Sự thay đổi mặn đắng đó khiến ông buồn cả tháng trời.

Ông quay qua ông giáo sư hỏi: Năm nay chú 40 tuổi đảng rồi. Như vậy chú đứng trong hàng ngũ từ hồi 14 tuổi, chú cảm mỏi mệt chưa?

Ông giáo sư nhăn nhó: Anh truy xét cứ như đám hình sự, khiếp. Đó, cái ông M. Djilas, một tay lý luận gạo cội của Nam Tư, cuối đời không thốt lên đại loại 20 tuổi không theo CS là người không có trái tim, 40 tuổi vẫn còn ở trong đảng CS là con người không có cái đầu.

Chủ quán: Đúng chú có cái đầu lệch, chàng hảng hai chân.

Ông thêm: Xét cho cùng, nói chú đừng giận, trí thức thời nào cũng hèn. Bọn lưu manh chính trị nắm được cái thóp đó, ban phát chút bổng lộc thì trở thành trí nô, sử nô, văn nô… các loại. Chán.

Ông giáo sư chống chế: Thời buổi này biết làm sao đây?

Chủ quán: Làm sao cũng chẳng làm sao. Dẫu có thế nào cũng chẳng làm chi. Làm chi thì chẳng làm chi. Dẫu có làm gì cũng chẳng làm sao. Đọc mấy câu cũ rích của cụ Phan Khôi, quán cười khà khà, nâng ly một vòng – Nào, uống và cười lên đi hỡi quê hương tan nát!

Ông nhỏ giọng: Hỏi chú câu này, không phải chú bỏ qua, chớ để bụng; rằng, hồi chiến tranh, chính nghĩa của các chú cao hơn Thái Sơn, nhưng sao tôi thấy, hễ súng đạn hai bên nổ ầm ầm thì y như rằng tất cả mọi người dân già trẻ lớn bé, trai gái cũng đều gánh gồng, bồng bế chạy theo “ thằng Mỹ-Thiệu” mà không chạy ngược trở lên, ở đó có tự do độc lập hạnh phúc? Rồi tới giữa 75, có người còn liều mạng đu càng máy bay để mong thoát cái tự do độc lập đó?

Ông giáo sư: Thì cái sự mọi người chạy xuôi đã nói lên mọi điều rồi còn gì? Cái ông nhà văn trên rừng (*) đã thổ lộ đại khái, “phải chi đừng có đại hội Tours diễn ra vào năm 1920…”

Chủ quán: Cứt, cứ nói toẹt ra là chạy ngược chẳng khác nào đi đến thiên đường chết… đem thân vào lò hỏa thiêu! Va…a…à…

Ông kêu lên: Hai chú thôi đi, đừng đi quá đà – Nói và ông tự mỉa rằng mình mới là người đi quá đà trước tiên.

Buổi sáng mới thật gớm. Tiếng cười trộn lẫn trong nỗi buồn uất. Tất cả đều tê điếng, nhoi nhói như cảm giác khi đạp phải dề gai xương rồng bàn chải trên bãi cát khô cháy. Con người ở xứ này cũng vậy, giống như đám xương rồng bàn chải, cố mà chịu những đụn cát rang nóng để sống.

Ông dòm vào chai Martell Cordon Bleu lưng đáy, cảm thấy gờn gợn sống lưng. Ở xứ sở, ở thế hệ bị ném vào lửa, bị bỏ rơi này hình như rượu là người yêu sau vợ con. Rượu để giấu nỗi buồn, để khơi gợi tiếng cười, để nhấn lút mọi cảm giác cay đắng lẫn những hạnh phúc hân hoan lóe lên như đốm lửa trong đêm tối. Rượu vui, rượu buồn, rượu đám đông và rượu một mình. Nó là liều thuốc an thần vừa kích thích, làm tiêu tan và tăng cường độ cảm xúc. Xem ra con người mới chính là những kẻ yếu đuối nhất trần gian chứ không phải cỏ lau như ông triết gia phương Tây từng nói.

Chủ quán bổng hỏi: Cô chủ nhỏ của ông anh sao rồi?

Sao là sao?

Là gắn chặt hơn hay lỏng lẻo?

Lỏng – Ông trả lời gọn lỏn.

Uổng – Quán thêm – Cô em xinh đẹp, bao nhiêu người nhỏ dãi còn ông anh thì dứt tình đoạn nghĩa ngang xương!

Chú cứ tưởng tượng khi trái tim chứa quá đầy máu sẽ bị vỡ, là nói về bệnh lý. Tôi chẳng sợ vỡ, nhưng suy cho cùng chẳng tới đâu. Tình tang sương khói thì có vẻ trẻ con, còn nghiêm túc thì không thể. Sự ấm áp trong vòng tay nhau rồi sẽ lạnh ngắt khi mỗi người mỗi nơi, bởi biết là không thể đi xa hơn.

Ông anh nói cứ như trong thánh thi  – Giáo sư chêm.

Chú nhầm. Tôi cũng phàm phu trong vụ này.

Ha ha… Ông anh phỡn bụng rồi… – Chú quán cười rung cả bàn.

Rồi cả ba cùng cười to như thể vừa khám phá ra điều gì ghê gớm, đổi thay cả thế giới.

Già đó. Lung tung đủ chuyện chẳng đâu vào đâu. Rồi buồn chút xíu. Cười lên chút xíu. Ở ngoài nhìn vào thấy rất trẻ con, đâu có già, đâu có bệnh tật gì.

Nguyễn Lệ Uyên

(viết đầu năm 2018 trên giường…)

____________

(*) Nguyên Ngọc

 Lời hoang vu

 

em còn ở lại bên đời
ta làm cuộc lữ cuối trời trăng phai
sương khuya lạnh buốt hai vai
bao giơ sinh tử hoài thai phận người
*
từ chim qua hướng mặt trời
thanh xuân chiết cánh rã rời bão giông
còn đâu lá biếc mây hồng
đời gian nan xoáy giữa vòng đa đoan
*
lỡ làng một kiếp nhân gian
chừ làm thân ốc bên ngàn biển khơi
mang mang dạ khúc ru hời
muôn trùng khói sóng vẽ lời hoang vu
*
sơn khê chiều phủ sa mù
trường giang gợn gió bên bờ cô liêu
đồi nương leo lắt buồn thiu
giấc hồ còn đọng bóng liêu trai sầu .

Hư Vô