KHẮC KHOẢI ÂU THỊ PHỤC AN

 

 

 

“Tôi dướn người về phía trước làm như đáp trả lại nụ hôn vội vàng của Vị  nhưng thật ra để tránh cho phiến lưng bị chàng ép mãi vào vách”.

(Phục An)

Truyện ngắn đầu tay của Âu Thị Phục An có tựa “Những Ngày Không Định Trước”, do Mai Thảo chọn đăng trên giai phẩm Văn số ra ngày 19.10.1974. (Sau truyện ngắn này, tạp chí Văn liên tục đăng 3 truyện khác của chị: “Thăm Viếng”, “Màu Áo Hẹn” và “Bên Kia Mùa Hè”).

Trước đó, chị có thơ, văn đăng rải rác trên Tuổi Ngọc, nhật báo Dân Chủ và các báo văn nghệ ở Sài Gòn, nhưng phải đợi đến lần xuất hiện này, độc giả mới biết thêm một cây bút nữ còn trẻ là Âu Thị Phục An. Nói biết thêm, bởi cách viết của cô sinh viên ban Triết, Đại học Văn khoa Sài Gòn không có kiểu cách làm dáng, khô cứng thường thấy ở các cây bút mang khuynh hướng dùng ngôn ngữ “triết học tra tấn văn chương”. Văn chị cứ “tỉnh queo” đến lạnh lùng trong những tình huống mà lẽ ra là đón đợi những vồn vập, rực cháy, những háo hức nồng nàn… Đọc những truyện ngắn của chị, nhiều khi tôi nghĩ, chị như một kẻ lữ hành trên con đường vắng, không có người đồng hành để trò chuyện, đành phải dồn nén lại. Sự dồn nén đó cứ lướt thướt trôi theo dòng suy nghĩ chảy xọc vào ngòi bút, giống như một thỏi băng tan chảy.

Truyện ngắn đầu tay “Những Ngày Không Định Trước” có cấu trúc dạng nhật ký nhằm giãi bày tâm trạng của một cô gái trẻ, chính xác là một nữ sinh bậc cuối trung học đang bước vào những ngày cuối cùng của kỳ thi Tú Tài và đang đón đợi người sẽ là chồng tương lai. Lẫn lộn giữa chuyện thi cử, đậu rớt “chẳng mừng lắm” và “chẳng hề buồn hoặc toan tính…” là tâm trạng chờ đợi và chẳng chờ đợi gì về chuyến gặp mặt người yêu, ở một nơi đóng quân nào đó, sẽ đến nhà thăm gia đình nàng. Tình yêu của cô nữ sinh trung học với anh chàng quân nhân tên Thăng lơ lửng một cách lạnh lẽo. Họ gần bên nhau mà như xa cách nhau, không hề biểu lộ một tình cảm đặc biệt của những kẻ khao khát yêu, khắc khoải đợi chờ những nụ hôn cháy bỏng. Cứ giả định rằng, nếu Thăng không đến, hẳn cô gái kia cũng chẳng băn khoăn đặt những câu hỏi tại sao. Bởi có gặp hay không thì cũng như chuyện đậu và rớt Tú Tài vậy thôi trong suy nghĩ của cô trước đó.

Trong khoảng thời gian chờ đợi, quanh quẩn trong đầu óc nàng là những hoài nghi. Nàng cố gắng lý giải về mối tình đầu. Mối tình này có “tồn tại” hay không “tồn tại” trong cô. Thăng có thật là chồng tương lai? Và cô, cuối cùng chỉ còn lại mối hoài nghi cứ ngày càng trương phình lên: “Tôi chịu không biết ra sao cả cũng như nhiều lần tự hỏi tôi yêu Thăng, chúng tôi có thật yêu nhau hay mỗi đứa chỉ yêu những điều lý thú do cuộc tình này mang lại”.

Cách lý luận, suy nghĩ của cô gái hơi lạ và ngược đời khi tách tình yêu thành hai mảnh thật và không thật. Hai mảnh đó nảy sinh ra “những điều lý thú do cuộc tình này mang lại” như là mệnh đề tiên quyết để biết “có thật yêu nhau”. Như vậy, cô gái trẻ đã phân thân với những thắc mắc, những cật vấn về mối tình, mà ngay cả chính bản thân cô ta cũng không chắc chắn lắm!

Trong truyện không hề thấy có một dòng chữ nào, theo dạng “lỡ mai anh chết em có buồn không”, hay: “Mai anh về trên đôi nạng gỗ / Bại tướng về làm gã cụt chân – Linh Phương”. Các chi tiết trong truyện không đẩy lên theo kết cấu kịch. Nó cứ lặng lẽ chảy như một dòng nước nhỏ, vừa vặn cho kích thước tra hỏi. Bóng dáng vật vờ giữa yêu hay chưa yêu luôn xuất hiện trong đầu cô gái trẻ, đôi lúc như một trò chơi, có cũng được, nếu không cũng chẳng mất gì. Mà cũng đúng thôi, bởi truyện được viết xong vào tháng 7 năm 1974 tại Bạc Liêu, khi mà bối cảnh cuộc chiến miền Nam đang lúc cao trào cho những đợt tấn công, phản kích sau khi hiệp định Paris bị vất sang bên để cả hai phía bắt tay nói với nhau bằng súng đạn. Tâm trạng hoài nghi, nỗi thất vọng, mệt mỏi có dịp bùng lên ở cách sống, cách ăn nói, suy nghĩ của thanh niên thời bấy giờ. Ngay chính những tình cảm liên quan đến cuộc sống và bản thân, họ cũng không hề tin là có thật: “Thăng vẫn không thay đổi thế ngồi, thế ngồi làm chúng tôi gần như đưa lưng về nhau”.

Thế hệ trẻ thời đó đã đánh mất niềm tin chăng? Họ mệt mỏi chán ngán chăng? Họ lúng túng một cách khá vất vả khi tìm kiếm và đối mặt với những sự thật chăng? Có thể là vậy, bởi đời sống bên ngoài đã lấy đi của họ tất cả, chỉ chừa lại nỗi hoài nghi sưng tấy lên, ngày mỗi đầy trong đầu óc: “Có phải yêu nhau là tổ chức những đuổi bắt miệt mài là tìm kiếm một điều đã gặp nhưng không cho là điều tìm kiếm. Tôi chợt rùng mình sợ hãi khi chợt nhận thấy mình như một con kiến bò quanh quẩn mãi trong một vòng tròn rất rộng”.

Truyện không có gì mới, vẫn theo motif chàng là quân nhân, nàng là nữ sinh, yêu nhau. Nhưng có cái lạ là sự lạnh lùng ở cả hai nhân vật cân bằng nhau, đến độ gần như dửng dưng, tàn nhẫn. Họ có vẻ như già trước tuổi. Già ở tính cách và già cả tâm hồn! Đọc lại lần nữa, mới hay chị luôn đặt bên cạnh ngòi bút của mình những dấu hỏi to tướng, chẳng có câu trả lời: “Đậu, rớt, những tên gọi, những dấu hỏi vẽ lên không hề đem theo được một hình ảnh vui buồn nào. Lạ không?

 

Nhưng phải đợi đến 4 tháng sau, khi truyện ngắn “Thăm Viếng” đăng trên giai phẩm Văn, số đặc biệt Văn Chương Nữ Giới ra ngày 1.2.1975, cùng với các đàn chị Nguyễn Thị Vinh, Trần Thị Tuệ Mai, Hoàng Hương Trang, Trùng Dương, Nguyễn Thị Ngọc Minh, Trần Thị NgH. thì độc giả mới thực sự chú ý đến cái tên Âu Thị Phục An. Nói chú ý bởi cấu trúc và nội dung câu truyện càng lạnh hơn; lạnh như một thỏi thép bỏ vãi đâu đó sau chái nhà.

“Thăm Viếng” thuộc thể văn kể chuyện. Nhân vật chính xưng tôi (cùng em gái người yêu) đi thăm vị hôn phu đang thụ huấn tại quân trường Thủ Đức. Ngay những dòng đầu tiên của truyện, dường như chị đã báo trước cho người đọc sẽ có điều gì đó khác hẳn những cuộc thăm viếng thông thường của những cặp tình nhân với bao nỗi chờ mong, khao khát, nhớ nhung… bằng những dòng chữ tỉnh táo đến sắc lạnh: “Lần đầu tiên, cùng với Viên lên thăm Vị ở quân trường ngày chủ nhật, lúc ấy tôi đã là vợ chưa cưới của chàng rồi”. Tính cách của “tôi”, hoặc vì quá thông minh, hoặc được thụ hưởng tính cách giáo dục của một gia đình nền nếp, nên “tôi” chỉ quan sát, đứng ngoài mà quan sát, rồi để cho cảm xúc trườn qua sự quan sát ấy với một ý thức xẻ ngang giữa tỉnh táo và đông cứng, đôi khi như tách biệt, đứng hẳn ra ngoài rìa sự thăng hoa của loại tình cảm bị dồn ứ của các nhân vật phụ “tôi chỉ thấy tội nghiệp cho mọi người”, khi tận mắt nhìn thấy: “…những bóng mát tạm bợ và một vài chiếc lều được dựng vội vã nên trống trải và xiêu vẹo che giấu một cách hời hợt những cặp tình nhân nằm với nhau bên trong. Những cặp tình nhân hôn nhau, vuốt ve một cách tự nhiên như chung quanh họ là một nơi riêng biệt vậy”. Ngoại cảnh đã tạt gáo nước lạnh buốt vào tâm giới “tôi”, để nảy bật ra thứ tình cảm không mấy thân thiện. “Tôi” bị nhìn thấy về mọi sự diễn ra bên ngoài cho đến lúc “tôi” tự nhìn lại “tôi” trong một khung cảnh đầy bất ngờ không kém. Đó là lúc Vị tách “tôi” ra khỏi em gái anh ta, đưa vào một gian buồng và “tôi” đã dùng sức mạnh lý trí đến mức tối đa để làm co quắp tình cảm đang cháy bùng trong người. Bởi “tôi đủ thông minh hiểu để không hỏi han gì”. Có thể và không hẳn là mặc cảm phạm tội, nhưng trước đó “tôi” đã nhìn thấy cảnh phô diễn thứ tình cảm “nhếch nhác” rất tự nhiên ngoài khu tiếp tân khóa sinh, khiến sự liên tưởng càng trở nên mạnh mẽ hơn với chỗ hai người đang đứng: “Một căn phòng tắm lộ thiên, có thùng đựng nước, có quần áo lót của đàn bà vắt bừa bãi trên dây”. Cú chạm mặt hơi bất ngờ vào vị trí hai người sắp yêu nhau khiến “tôi” càng lúc càng rơi vào trạng thái căng cứng đến khó chịu. Ngay cả khi hai người đang hôn nhau nơi không mấy sạch sẽ và thơ mộng kia, thì sự tỉnh táo trong con người “tôi” vẫn luôn chiếm ưu thế. Những rung động thân xác khi trao đổi nhau những nụ hôn khắc khoải đợi chờ của Vị đã bị “tôi” đẩy xuống, nằm bẹp dí ở chỗ cái khóa soutien. Cảm giác đau nổi lên thật mạnh mẽ, thế chỗ cho những ngọt ngào, nồng cháy… Nó lấn át cả sự háo hức, đón đợi nơi người bạn trai để cuối cùng tạo thành mối tương quan cộng hưởng giả tạo ở động tác “dướn người”: “Vị quay lại. Chàng hôn tôi. Bỗng tôi cảm thấy đau nhói lên ở phía sau lưng vì chiếc soutien bị cấn vào vách ván. Tôi dướn người về phía trước làm như đáp trả lại nụ hôn vội vàng của Vị nhưng thật ra để tránh cho phiến lưng bị chàng ép mãi vào vách”.

Viết một cách trần trụi như thế này, nhất là một nhà văn nữ, hẳn nhiên sẽ gợi sự tò mò đối với người đọc. Nhưng để cho sự trần trụi không làm “tổn thương” đến các nhân vật trong truyện, chị đã khéo léo che giấu đi những nhục cảm khi “tôi dướn người về phía trước”. Động tác ấy không phải là sự cộng hưởng, đáp trả mà tác động bởi khóa móc soutien. Vị thì không nhận biết ở chỗ một đằng cái khoái cảm bị đè xuống, đằng kia thì cứ bốc cao lên. Một sự lừa dối ngọt ngào!

Trong quyển Văn học miền Nam, tập Tổng quan, Võ Phiến có nhắc nhiều lần cái cynique trong văn học và ông cho trâng tráo là cách viết, cách nói cực đoan của tinh thần hoài nghi, thể hiện rất rõ thông qua các nhân vật của Nguyễn Thị Hoàng, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Trần Thị NgH., Lệ Hằng… Và, đấy là hậu quả của “chiến tranh và hỗn loạn, hoàn cảnh xã hội của giai đoạn 64-75 tạo cho người ta một lối sống khác hẳn trước” (sđd, trg 292). Nhận xét này cũng có phần có cái lý của nó, khi mà tầng lớp thanh niên có học luôn tự dằn vặt về những tha nhân, thượng đế, tồn tại hay không tồn tại, những khách thể và chủ thể, sống và chết… trong bối cảnh đất nước loạn lạc, đều ít nhiều ảnh hưởng bởi trào lưu triết học hiện sinh của Pháp từ giữa thế kỷ XX.

Hiện tượng này cũng dần lấp ló nơi một Âu Thị Phục An bắt đầu bước chân vào làng văn với cái cynique đầu tiên trong truyện ngắn đầu tiên của chị, tuy có nhẹ nhàng hơn, kín đáo hơn các nhà văn nữ đi trước. Mà cũng có thể là chị biết điểm dừng, biết kềm chế, không để cho sự “nổi loạn”, cái trâng tráo của bản thân đi quá xa, khiến người đọc (thuở đó) bỗng có chút giật mình như cái kết ở truyện thứ hai này? “Thăm viếng lần nữa? Ồ, không ai đủ can đảm đưa tay đập vào vết thương của mình lần thứ hai. Không bao giờ. Căn phòng tắm lộ thiên. Cái móc soutien bị cấn và trăm ngàn nỗi cùng quẫn trong đầu… Không bao giờ. Tôi im lặng nghe Viên an ủi. Im lặng vì không biết phải phân bày như thế nào. Mà dù có phân bày chắc Viên cũng không thể nào tin được việc ấy đã xảy ra”.

Cả giới văn nghệ lẫn độc giả chờ đợi ở sự bứt phá của Phục An, như họ đã từng trông đợi sự thành công của những Túy Hồng, Trùng Dương, Nhã Ca… và gần hơn là Trần Thị NgH., Lệ Hằng. Nhưng tất cả đều đặt dấu chấm hết, kể cả người viết mới lẫn những nhà văn đã thành danh, sau ngày 30.4. Một quãng lặng khá dài, không ai cầm nổi bút, ngoại trừ một số rất ít…

Phục An cũng nằm trong số đó và chị chỉ viết trở lại chừng 5, 3 năm nay với hơn 10 truyện ngắn, nhưng phong cách thì không còn giữ được như trước 75! Tất cả các truyện ở giai đoạn này, hầu như nói về bạn bè một thời. Vị trí của họ bị thay đổi. Họ lao vào các công việc chân tay để mưu sinh; họ thất chí, rượu chè bệnh tật và cái chết (“Dù Chỉ Một Lần Cũng Không Thể”, “Trạm Cuối”), hoặc về mối tình lỡ kể chuyện người thì chồng chết vì tai nạn, kẻ thì tự ái về cách đối xử của vợ, bỏ nhà ra đi. Họ tình cờ gặp nhau, tìm đến với nhau, chia sẻ nỗi bất hạnh, cô đơn và rồi hạnh phúc bên nhau (“Mùa Thu Ẩm Ướt”)…

 

Nhưng thay vào chỗ khuyết trên, Phục An chuyển sang làm thơ, với một bút lực khá mạnh mẽ. Thơ chị xuất hiện khá đều đặn trên các trang mạng văn học. Yếu tính trong thơ chị vẫn là phận người, nỗi cô đơn chồng chất, những bất hạnh, sự bất lực và chút hạnh phúc mong manh. Đọc những dòng thơ của Âu Thị Phục An, tôi có cảm giác như đang ngồi thiu thiu nghe những khúc nhạc đồng quê theo dòng Bluegrass, bởi chị luôn lồng vào đó là những câu chuyện, đôi khi như một truyện ngắn rút gọn:

Nàng đang tắm.

Nàng đang khỏa thân trong phòng tắm.

Nàng đang ngồn ngộn sức sống trong kia.

Chàng đẩy cửa bước vô.

Nàng đang kỳ cọ liền khựng lại. Anh muốn tắm? Không, anh muốn nhìn em thôi, em cứ tắm đi. Nàng nói. Coi chừng ướt anh. Không sao mà. Nàng cười rồi vô tư tắm táp.

Bỗng dưng nàng quay lại nhìn chàng. Anh muốn… không? Chàng ngập ngừng. Nếu có thể.

Nàng chống hai tay vào tường, đưa lưng về phía chàng. Nếu anh muốn, thì có thể mà.

Chàng lả đi trên giường. Cơn mệt lại đến.

Bất lực trước cái chết, hai dòng nước mắt trào ra, ngoằn ngoèo chảy loang trên khuôn mặt hốc hác của chàng.

Nàng đã cố gắng giúp đỡ chàng thật nhiều. (Lần Cuối Cùng Trong Phòng Tắm).

Có dịp ngồi bàn về thơ Âu Thị Phục An, nhiều bạn trẻ và nhiều trung niên cho rằng chị khai thác sex đến mức tối đa. Sex như là hơi thở trong thơ chị. Tôi không nghĩ vậy. Bởi sau khi đọc những bài thơ chị đăng trên các trang mạng, sex chỉ là cái cớ để chị bày tỏ thái độ, cảm xúc của cá nhân trước những vòng xoáy thời cuộc. Vì ngay chính chị cũng phải hứng chịu cảnh ngộ cay đắng đó. Chị không sử dụng ngôn ngữ và hình ảnh sex như một thứ tình dục luôn đắt hàng (chữ dùng của Nguyễn Thị Hải Hà trên văn chương việt, rằng: “Sex Sells. Người Mỹ thường hay nói thế. Cái gì có dính líu đến chuyện chăn gối thường dễ hấp dẫn người nghe người xem người mua bán, như tôm tươi thường đắt hàng. Các nhà văn Hoa Kỳ khá dạn tay khi viết về tình dục. John Updike, Philip Roth, Paul Auster, Joyce Carol Oates đều mang tình dục vào tác phẩm”

Thơ Phục An cũng không dung tục như Vệ Tuệ trong tác phẩm “Điên Cuồng Như Vệ Tuệ” (Trung Quốc), hay sàm sỡ thô bỉ như “Sợi Xích” của Lê Kiều Như. Đó là những thứ cặn bã, rác rưởi của loại văn chương hạ cấp!

Tính dục trong thơ Phục An trong veo như giọt sương mai, chỉ để diễn đạt nội tâm, giãi bày những ẩn ức về mặt tâm lý, không hề có sự ức chế sinh lý.  Những hình ảnh chúng ta bắt gặp trong thơ, thông qua từ ngữ mang tính ẩn dụ nhiều hơn. Chị không dùng ngôn ngữ nhằm phô diễn sức nặng vốn có của hình ảnh thông thường, mà hơn hết là để chuyển tải tứ thơ. Vì, theo ông Đặng Tiến: “Nói đến lời trong thơ là nói đến từ ngữ, hình ảnh và nhịp điệu, nói đến cả khoảng im lặng bên trong câu thơ, hoặc chung quanh bài thơ…” (Đặng Tiến, Thơ, thi pháp và chân dung, trg 58, nxb Phụ Nữ, HN, 2009). Và: “Ý trong thơ, khác với ý trong văn xuôi, ở chỗ nó không có giới hạn, không có kích thước. Tạm nói là nó mông lung, bất định” (sách đd, trg 60).

Đọc nhiều lần, cảm quan của tôi về thơ Phục An vẫn là: sex phi sex. Xin dẫn một bài thơ của chị:

bám vào lềnh bềnh vỉa hè

những bộ xương người cúi xuống nâng ly

bám vào phù hoa

những bộ xương người cúi xuống nâng bi

da thịt em trắng ngần

ướp nhầy nhụa máu trinh

dâng anh một lần

toang hoác bình minh

con gái

run rẩy lột xác trên những mép giường

em trượt trên chất nhờn

cay đắng

của em

nụ cười em hóa đá

cứng đờ lút vào dung nham

cơn hứng lậm vào khuya

chờ giờ hóa thạch

em muốn bám vào cội nguồn

lần nữa tái sinh

vỉa hè ủ em

hằng đêm

và anh đẩy em

tuột trôi vào lỗ cống muộn phiền

em muốn ngậm vào em

con vật nào

có thật.

(Thả Trôi)

Cách dùng từ ngữ (langue) như lời nói (parole) để diễn đạt ý như kiểu bài thơ “Thả Trôi” trên đây rất dễ gây ngộ nhận, hiểu lầm, chỉ vì chị mượn những thực thể, những hình tượng ngoại giới tạo chất liệu cho cái tứ sâu xa bên trong, là những phiền muộn, đau đớn không cùng của một kiếp người là thân phận bị xô dạt một góc “lỗ cống” nào đó chỉ có mình chị mới bị trói chặt chân tay?

Rồi đến cái nhếch nhác ở một góc phố nhỏ trong thành phố chị đang sống có những cái “phình phịch, hổn hển, leng keng” giữa một bên là thánh thiện và bên kia là sự trần trụi đến nao lòng. Nỗi buồn cuộn lên từ ngoại cảnh “bị nhìn thấy” là con đường nhỏ Huyền Trân “tai tiếng”, dội ngược vào trí não tạo thành những sắc màu, những âm thanh:

cái đầu chó gặm mất rồi

não văng tứ phía

mạch đập ở cổ còn phình phịch

cái lưỡi tuột lại le ra

trái tim tím tái còn thở hổn hển

hai cái chuông đồng treo hai đầu vú nhỏ

đung đưa bài thánh ca trên những sợi lông tơ

núp sau gốc cây đường huyền trân công chúa

áo xống tuồng tích hoa lá cành

nghiễm nhiên kiếm sống

phố chảy cuồn cuộn ánh đèn đêm

những con rắn lửa nhảy múa dưới háng

nàng và trong miệng nàng

cỏ ướt đẫm tinh trùng

người ta vẫn thấy khoái

khi ngồi tuốt trên gác chuông

nhà thờ đức bà

làm dáng

với những hình nhân cục cựa dưới chân đèn

luôn nẩy ngược và rên

thành phố không buồn ngủ

thành phố nằm ngửa nàng lại lắc leng keng

hai cái chuông treo trên hai đầu vú

nhỏ

muộn phiền

(Lắc Chuông).

Đọc những câu thơ này, nghe ra thơ không phải là thơ, càng không phải văn xuôi. Nó là sự sắp đặt cố ý của người viết, như trong các thập niên 50, 70 của thế kỷ trước, Thanh Tâm Tuyền đã cách tân thơ bằng cách “phá vỡ cái vỏ ngữ âm của câu, hay bài thơ… tháo gỡ guồng máy ngôn ngữ ra từng bộ phận rồi lắp ghép lại thành những chức năng mới, trong văn bản mới” (Đặng Tiến, http://www.diendantheky.net/2012/03/ang-tien-thanh-tam-tuyen.html).

Không thể nói Phục An chịu hay không chịu ảnh hưởng của Thanh Tâm Tuyền, nhưng chắc chắn một điều là chị đã chọn lựa thơ tự do như là môi trường tốt nhất cho sự sáng tạo của mình, để hoàn thành chức năng “tra vấn và trả lời” như nhà văn Alain Robbe-Grillet đã từng khẳng định, rằng đó chính là thiên chức của nhà văn.

Không ai có thể ngăn cấm nhà văn: thôi đừng phẫn nộ, đừng chua chát, rời xa bi kịch đã rồi của dân tộc. Cái ngóc ngách đau đớn cùng tận kia, trước nhãn quan của nhà văn là thượng đế trên chính mảnh đất mình, được Phục An giải mã bởi những hình ảnh chồng chất nhau, níu kéo nhau, tạo thành những chuỗi âm thanh bi phẫn:

nàng xõa tóc
chạy dưới nắng tháng tư
hai cái mông tròn huyền hoặc
đung đưa
bình minh rọi những tia nắng đen
điên cuồng qua nách
cát nhảy dưới gót chân bất hạnh
máu ứa từ môi thâm
tháng tư đuổi từ sau lưng
xương rồng đâm lên vú
biển ôm nàng ngất ngư
nắng của tháng tư rơi từ một bình minh đen tối
nắng cũng rơi từ âm cung mê lối
chạy đi tìm bóng của ảo tưởng xưa xa
ngày về rất vội
về dù dòng sông quê hương chật chội…
chỉ muốn trần truồng gào khóc những điêu linh.

(Bình Minh Đen)

Và, dẫn thêm bài thơ khác để nhấn mạnh thiên chức nhà văn trong ngòi bút chị:

tôi rất buồn
khi đi trên những con đường không còn vỉa hè
khi
(…) ngồi rung đùi trong nhiều biệt thự
spa, resort, hotel năm sao, du lịch Thái Lan, Sing, Trung Quốc
những cái chợ tự phát bên lề đường không cần đóng thuế
những “gái chợ đông” ôm thúng co giò chạy khi thấy công an
những “trai giữa chốn ba quân” trơ mặt chạy xe ôm nám đen khuôn mặt

tôi rất buồn
khi đất nước tôi
chạy theo (…)
20 năm máu lửa chết chóc xảy ra.

(Năm Mới Vẫn Không Có Gì Mới)

Thế giới thơ của Phục An đa chiều, rộng nghĩa. Chị đã phá bỏ những luật lệ trong thơ cổ điển (như nhiều nhà thơ đi trước đã từng làm) để tìm kiếm cái đẹp, dẫu cho cái đẹp ấy hàm chứa bao nỗi nhục nhằn của một kiếp người. Tuy nhiên, khi đến với thế giới thơ Phục An, nếu chỉ lướt qua, một lần thì dễ bị những ẩn ngữ kia đánh lừa, bởi bề ngoài ngôn ngữ mang đầy chất phồn thực, lớp lớp những khoái cảm của tính dục là “những khắc khoải, thao thức về thân phận, khát vọng làm người của một con người” như chị đã từng tâm sự.

Đa chiều và rộng nghĩa chỉ khi nào người đọc chịu khó đào xới ở dưới tầng sâu để thấy được cái ý ẩn nấp trong lời, như một vì sao lạ giữa muôn ngàn tinh tú giữa tầng không mênh mông.

Chị là người đã miệt mài mang thơ đi tìm sự tự do tuyệt đối trong khoái cảm tính dục, vất vả lăn tới chân trời xa lạ, mà ở đó cái đẹp là những câu trả lời từ những tra vấn liên tục về phận người?

 

Nguyễn Lệ Uyên

 

 

Advertisements

BÊN LY CÀ PHÊ, LY RƯỢU… THẤP THOÁNG BÓNG LỮ QUỲNH

 

tản văn Nguyễn Lệ Uyên

 

Thế hệ chúng tôi không có tuổi trẻ và được gọi với cái tên rất mực mỹ miều nức nở: Thế-hệ-chiến-tranh. Thuật ngữ này vừa bi hùng lẫn bi hài. Và rồi chiến tranh cũng qua đi mà không có hòa bình, không cả đoàn tụ. Anh em bạn bè lưu tán tứ phương. Ngó tới ngó lui, cái thế hệ ấy cũng đã trên dưới 70! Nghĩa là đang ở lứa tuổi, nói theo ông bạn nhà thơ thiền giả Đỗ Hồng Ngọc, là bắt đầu hườm hườm, chuẩn bị chín rục. Thoắt nghe cũng gờn gợn thịt da trong vài lần chợt nghe tiếng chim rớt giữa đêm khuya khoắt.

Lòng chùng. Chân mỏi. Chẳng còn những ham muốn bay nhảy như thuở nào, rất xa qua những tờ lịch mà lại gần như một cơn mơ. Cuối cùng thì đành lui về căn nhà cổ xưa, nấp sau vườn cây rậm rạp như thể quy ẩn, đến nỗi ông bạn văn Trần Hoài Thư tận xứ người giá buốt, hạ bút vẽ nguyệch ngoạc chân dung tôi : “con sói già cô đơn giữa bãi xương rồng”! Mà cũng phải thôi, sáng sáng tự pha ly cà phê ngồi ngó trời nhìn đất; quay vào phòng vi vút với chiếc máy tính, lôi những sách báo cũ đọc và sống với cái quá khứ heo hút để gặp lại tất cả bạn bè trong đó, trên trang giấy ố vàng, qua những dòng chữ chi chít trên màn hình, mừng vui, buồn tủi hỗn độn chen lấn nhau.

Bạn bè chí cốt chí thân chẳng còn ai ở xứ xương rồng bàn chải này để chia sẻ. Nhưng cũng còn có chút may mắn, được hai người bạn trẻ năng lui tới, lúc ngồi cà phê, lúc trước ly rượu nhạt mà tình thì đẫm mặn như muối như gừng! Một bạn là giảng viên trường ĐH địa phương, một là chủ quán ăn, có phần hao hao giống với anh quán của cụ đồ Chiểu trong Lục Vân Tiên. Cả hai đều sính văn chương sách vở… Bữa nọ, trên bàn bia (loại bia tươi rẻ mạt), anh quán cảm khái chuyện nhân tình thế thái sao đó, cất giọng:

Tay với trời cao không thấu nổi/ Tuổi già thiếu bạn cũng mồ côi”. Anh quán ngập ngừng, nhìn về phía xa như đón đợi cái tuổi già, nay mai sẽ đến với mình. Tôi tiếp lời đọc lại  khổ thơ:

“…Thèm rượu mà ta không uống được

 Bạn thì xa tri kỷ cũng đi rồi

Tay với trời cao không thấu nổi

Tuổi già mất bạn cũng mồ côi”. Mất bạn chớ không phải thiếu bạn! Thời buổi này, chúng ta đã mất khá nhiều bạn, đủ kiểu mất: Đổ vỡ, ly tán sau 30.4, chạy theo danh vọng hão, đè cổ bạn bè để leo lên chiếc ghế được ban phát, thậm chí bán cả bạn cho bọn quỷ dữ…Có nhớ thơ của ai không? Quán trả lời, ông Lữ gì đó, thằng bạn ở Sài Gòn đọc cho nghe hồi hôm. Nó tâm trạng, anh. Là vì nó vừa chia tay vợ sau 30 năm chăn chiếu… Bài dài nhưng chỉ nhớ hai câu. Tôi nghĩ, thời buổi văn chương chữ nghĩa bị chìm lấp đằng sau bức màn kim tiền mà còn có năm ba độc giả chịu khó đọc và đồng cảm với tác giả, âu cũng là niềm hạnh phúc! Tôi nói với giọng điệu vui hẳn lên: Ờ, thơ Lữ Quỳnh, một trong những người sáng lập Gió Mai ở Huế, tiền thân của Ý Thức sau này. Anh quán nhảy chồm lên, em có đọc Lữ Quỳnh một truyện ngắn không nhớ tên, hình như một ông già chuyên gói xác, một chuẩn úy làm ở ban chung sự, và một người mẹ, một thiếu phụ đi tìm con, tìm chồng trong nhà xác… truyện đọc nghe buồn buồn, lạnh như chính người đọc đứng trong trong nhà xác thật!

Tôi nói: Có thể nội dung và tựa truyện ngắn (Mùa Xuân Hư Vô) chú không nhớ tường tận, vì đã trên 40 năm rồi còn gì, nhưng nhận xét ban đầu thì khá chính xác, bởi style của Lữ Quỳnh, từ truyện dài đến truyện ngắn… và cả thơ vẫn cứ lành lạnh như lớp sương ban mai, như tuyết tan ngoài hiên thềm. Đôi lúc, vẫn có lửa nhưng không phải loại lửa bùng cháy, hừng hực mà, là ngọn lửa chợt lóe lên, sáng một góc và tan vào lớp bụi như những cơn mưa mùa đông xứ Huế.

Cao hứng, tôi dông dài tán phét: Nếu chịu khó ngồi đếm nỗi buồn của các nhân vật (trong truyện và thơ) Lữ Quỳnh tạo ra thì có đến hàng trăm cảnh buồn khác nhau, trong một không gian và thời gian không cố định: “Nỗi u buồn như muốn thay hết ý nghĩa của cảnh vật. Làm sao để sống được phần đời còn lại của những kẻ đang nằm bất động trong các túi ni lông đó? Kiên quay trở vào đứng cạnh một chiếc quan tài. Hắn rút nắm hương thổ thổ trong lòng bàn tay, rồi châm vào ngọn nến” (Mùa Xuân Hư Vô).

Nhìn hai bạn trẻ, họ thuộc thế hệ sau, không tham gia vào cuộc chiến bẩn thỉu, nhưng chắc chắn họ đã nghe, đã thấy, đã sống…với chiến tranh; đã nhìn thấy những cái chết phi lý ngoài đời thực và qua sách báo; họ cũng phân biệt được rạch ròi hạnh phúc và đau khổ, sống và chết, tuổi trẻ và già, chiến tranh và hòa bình?

Với thế hệ chúng tôi, trong chiến tranh, tuổi trẻ bị vãi ném và bị phung phí đến nỗi nhiều nhà văn đã phẫn nộ: “Chiến tranh là cái cặc chó gì”, ThảoTrường; còn Y Uyên: “Chiến tranh cái con mẹ gì  mà lâu quá vậy?”; Phan Nhật Nam thì gọi bằng hai từ “địa ngục”. Phạm Ngọc Lư tổng kết cuộc chiến bi thảm và bẩn thỉu kia bằng: “Trong cuộc chiến tàn khốc này, đứa nào sống sót là kẻ chiến thắng”. Hai chú thấy đó, chỉ vài ba từ nhưng quá là bi thống! Cho nên, người đọc dễ nhận ra, trong hầu hết các tác phẩm của các nhà văn trẻ miền Nam, thân phận làm người luôn được đặt lên trang giấy với những câu hỏi ngắt ngoải, không lối thoát.

Với Lữ Quỳnh, thân phận làm người trong thời buổi ấy, thường đặt ở những tình huống, không gian và thời gian khác nhau như một ám ảnh nặng trĩu khi phải làm người: “Là tuổi già nên phải chết, chết trận mạc, chết tự tử, chết vì chống tham nhũng… sau nầy hắn đã sợ mưa như sợ thần chết, vì mưa không làm hắn thấy đường, không thấy đường thì làm sao mà thấy địch? Không thấy địch thì địch thấy ta. Địch thấy ta, thì ta không bao giờ còn thấy bạn bè, cha mẹ, anh em nữa” (Người Ngồi Đợi Mưa).

Trong hầu hết các tác phẩm của Lữ Quỳnh, chúng ta không tìm thấy sự phẫn nộ hiển lộ qua những câu từ, nhưng nỗi buồn thì dư thừa. Ông buồn vì mất bạn, buồn vì hoàn cảnh khắc nghiệt trên mảnh đất ngày càng lụn tàn bởi chiến tranh, buồn vì xa xứ… Có hàng chục kiểu buồn như thế. Cho nên đọc Lữ Quỳnh là soi tìm nội tâm qua câu từ. Đó là nội tâm bị băm vỡ, bị tổn thương do những tác động khách quan oan nghiệt, đè lên từng phận người trong dòng lịch sử biến động không ngừng:

Ngồi tưởng quê nhà đang có bạn

Đứa nằm hiu hắt chốn trăng sao

Đứa đang chiếc bóng đêm mờ tỏ

Thế cuộc sum vầy nay chốn nao?

Có sống trong trận “cuồng phong sử lịch” này mới cảm hết nỗi đau xót trong 4 câu thơ trên.

Bửu Ý, Ng. Dg. Quang, Đinh Cường, Lữ Quỳnh và tác giả

(ảnh chụp tại điền trang Thân Trọng Minh

nhân triển lãm tranh ĐC tại Đà Lạt năm 2014)

 

Một sáng nọ, sau những trận mưa dầm dề như cầm chĩnh mà trút liên tu bất tận nhiều ngày ròng, bất ngờ sáng sau, trời bật nắng, loại “nắng rượn” khó mô tả chính xác. Mưa đã gội rửa mọi bụi bặm, nắng phớt lên chút hồng hào, đủ để mấy con chim sẻ rung rung rỉa lông cánh. mọi thứ đều đẹp, thơm tho như “em gái Mọi tắm truồng sớm mai”. Cảnh vật đã vậy huống con người. Anh bạn giảng viên gọi qua điện thoại: Em với anh Năm quán ngồi cà phê, có cả nhân vật em gái văn nghệ. Anh chạy xuống ngồi nói dóc.

Mất 7 phút chạy xe máy. Cả ba đang ngồi nơi hiên hóng nắng. Những giọt cà phê đen nâu nhỏ chậm. Bắt tay. Ngồi xuống ghế. Ngó cô em thấy bữa nay xinh xinh, mặc dù đang níu tuổi 50, miệng tôi bật ra:

…Tôi không còn trẻ để cầm tay em nữa

Nhưng lòng luôn sẵn lửa cho em

Để sưởi em ngày đông tuyết giá

Tội nghiệp những con đường xe qua buồn bã

Không bóng người chỉ bong bóng mưa xao…

Tay tôi nắm chặt tay cô em, lòng gợn lên những con sóng lăn tăn. Tôi không biết cái gợn kia là từ bàn tay ấm áp của cô em hay từ những câu thơ của Lữ Quỳnh rung lên như một sợi dây đàn ngân nga…? Nhưng dẫu sao, giữa bàn tay người sương phụ và thơ như có một liên hệ cồn cào nơi tôi. Nói khác, mấy câu thơ dẫn trên đã làm đẹp cho buổi sáng trong vắt, tôi nghĩ vậy.

Cô em hỏi: Anh nói chưa bao giờ viết nổi một câu thơ, vậy lấy đâu ra mấy câu hay vậy để “tán” em? Hiểu lầm rồi cô em ơi, thơ bạn anh, Lữ Quỳnh. Cầm tay em và đọc thơ bạn như để chào buổi sáng vậy mà? Chiếc muỗng khuấy tròn trong ly, cô em cười cười: Các anh hay thật, trong ngoài trên dưới gì cũng nói được tất bằng thơ. Đó là sự lôi cuốn với người nghe, lắm lúc đưa thiên hạ vào mê cung. Anh quán: Nếu ông anh đưa được cô vào mê cung càng… Tôi gạt: Chớ có làm vẩn buổi sáng rất dịu dàng này!

Một buổi sáng tuyệt đẹp. Nắng rượn, hưng hửng, có bạn tri âm lại thêm người đẹp ngồi quanh nói chuyện văn chương, là điều tuyệt diệu ở tuổi 70 – cái tuổi tôi hay gọi đùa là tuổi “dậy thì 70” gờn gợn những ngọn gió heo may trong lòng, theo nhiều nghĩa khác nhau…

… Nhiều đêm không ngủ được, lôi trên kệ sách, bất kỳ của ai đọc “tứa lửa từa lưa” để dỗ giấc, từ mấy ông Tàu đời Đường chí đến ông Tây Nga La Tư, Pháp, Mỹ… nghĩa là vớ được quyển nào đọc quyển đó, đọc đến mệt nhừ con mắt.

Có trận, Lữ Quỳnh thức trắng với tôi. Tôi dằn vọc anh ta, làm tình làm tội anh ta, bỏ lên bộ não xẻ thịt thơ anh ta. Mà thật lạ, mỗi lần dàn vọc, xẻ mổ như vậy lại hiện ra một Lữ Quỳnh rất khác trong từng ấy ngôn ngữ, từng ấy bài thơ… cứ như một cánh chim lạc đàn, không hốt hoảng mà lại ung ung vỗ cánh trong bầu trời xanh thăm thẳm, thênh thang.

Ấy là những lúc anh nhớ bạn bè, viết những câu thơ về bạn, như có lần tôi đã viết: “Với những bài thơ viết về những người bạn, có lẽ tâm trạng nhất, não lòng nhất vẫn là bài Người ngồi khâu di sản. Ngôn ngữ không chắt lọc, không ẩn dụ; chúng tự do như ngôn ngữ chụp hình, nhưng ông đã chọn đúng góc sống cho bố cục, nên chỉ lia qua, người đọc đã cảm thấy ngay hình ảnh một “ông đồ già”, nhưng xót xa cay đắng gấp vạn lần ông đồ của Vũ Đình Liên năm xưa, bởi ông đồ Thư đã cố nén những giọt lệ tủi nhục, kiên nhẫn, miệt mài ngày đêm gom góp những đứa con tinh thần bị “chôn sống”, bị “hỏa thiêu” còn sót để tái hiện hình hài dòng văn học miền Nam bị bức tử một cách oan ức.

Tóc bạn trắng, trắng như mây

Tóc bạn trắng như tuyết New Jersey

Cặp kính lão dày trễ xuống

Kim đâm vào tay không biết đau

Hai mươi năm di sản mây trôi

Chỉ mình bạn ngồi khâu, khâu mãi.

(Người ngồi khâu di sản)

Hay về những giấc mơ của anh: “…luôn là lớp mây trắng trôi bềnh bồng vô định trong thơ ông. Giấc mơ gần như xuyên suốt nửa đời làm thơ của ông. Nó không hình thù nhân dạng, mờ mờ bay qua mắt ông, tâm hồn ông như một ảo giác và bay thẳng, trôi mất, không đọng lại, để sau đó, từ Samudaya, thơ ông như giọt nước đọng trên phiến lá, rớt xuống và tan biến đâu đó giữa đất trời, cây cỏ, như có như không.

Ông ghi lại những cảm giác trống rỗng, những hình ảnh trống rỗng đã chạm khẽ vào ông và bay đi không để lại dấu vết. Tất cả đều phẳng phiu như một thấu kính một chiều trong suốt, trong hơn khí trời, không thấy, không rờ chạm được.

Trong những giấc mơ

Ký ức trắng

Như tấm gương soi

Không giữ lại bóng  

Hay:

Những giấc mơ nồng nàn

Lạ lẫm…

Sáng ra không nhớ gì.

(Mây trong những giấc mơ)

Ngồi nhớ anh, thích những bài thơ đầy tâm trạng với tôi, bèn lan man tản mạn đôi dòng; nhưng mà nói thế nào, phân tích thế nào thì những trang thơ lẫn văn xuôi của Lữ luôn là những thổn thức, khao khát… cứ như ngọn lửa cháy trong đêm đông giá buốt, như Du Tử Lê đã viết: “Hôm nay, đọc lại những trang văn của Lữ Quỳnh, tôi vẫn còn nghe thoảng hương thơm của lòng nhân hậu. Hay, tính-lành của một con người không bị ô nhiễm bởi lầm than, nguy nàn, tổ quốc.

Hôm nay, đọc lại những trang văn của Lữ Quỳnh, tôi vẫn còn nghe được tiếng reo vui, hân hoan của những con chữ búng mình trên mặt sông máu / xương gập ghềnh nghiệt, oan vận nước.

Hôm nay, đọc lại những trang văn của Lữ Quỳnh, tôi vẫn còn nghe được những hồi chuông, khánh tình yêu thao thiết. Hay, những ngọn nến cháy bằng tim bấc trăm năm, giữa nghìn sao rung động, thứ nhất.

Hôm nay, đọc lại những trang văn của Lữ Quỳnh, tôi cũng còn nghe được tiếng gọi rộn rã thanh niên, đi ra từ trái tim sóng sánh nhiệt-hứng-trẻ-thơ tình bằng hữu…”

 

Tuy Hòa tháng 7/20017

 

NHỚ PHẠM NGỌC LƯ

“Trong cuộc chiến tàn khốc này, đứa nào sống sót là kẻ chiến thắng”
(Phạm Ngọc Lư)

Trong nửa thập niên 60, 70 (TK XX), bên cạnh những nhà văn nhà thơ mà tên tuổi của họ đã được khẳng định, còn có đông đảo những người viết trẻ: Họ, đa phần là những người không có tuổi thanh xuân yên ấm, lần lượt bị vãi ném vào chiến trường; số ít còn lại là công chức, sinh viên… đã có những đóng góp không nhỏ cho dòng văn học miền Nam – dòng văn học được xem là tự do sáng tạo có giá trị về mặt thẩm mỹ và nhân văn trong mỗi tác phẩm – với nhiều khuynh hướng dị biệt (viễn mơ, dấn thân, hiện sinh, hiện thực đối kháng…)
Và, mặc dù dòng văn học này đã bị bức tử sau ngày 30.4.1975 bằng mọi cố gắng “tẩy xóa” của bên “thắng cuộc” dưới nhiều dạng thức khác nhau, nhưng nó, sau hơn 40 năm vẫn âm thầm và lặng lẽ chảy; vẫn đọng lại trong tâm thức độc giả những giá trị không thể đảo ngược. Nó luôn là cái mới của hôm nay, bởi đã tiếp cận với dòng văn học phương Tây qua các trào lưu nhưng vẫn giữ được hồn cốt văn hóa Việt qua biết bao biến động lịch sử.
Những người viết thuộc thế-hệ-chiến-tranh này, có những người bỏ cuộc, nhưng không ít người đã thành danh, đã được công chúng đón nhận như một hiện tượng mới, chững chạc tiếp bước các bậc đàn anh, làm rạng rỡ cho một miền văn chương luôn bị phía bên kia dán cho nhiều nhãn mác thô thiển: Đó là Trần Thị Ngh. Nguyễn Tất Nhiên, Nguyễn Bắc Sơn, Trần Hoài Thư, Vũ Hữu Định… Mỗi nhà văn trẻ đều mang một phong cách riêng, không lẫn lộn, không là cái bóng của các nhà văn đi trước, ít nhiều làm đa dạng, sáng đẹp cho thời kỳ này. Phạm Ngọc Lư trong số đó.

(từ trái: Phạm Ngọc Lư-Trần Hoài Thư-NgLu-Phạm Văn Nhàn
ảnh chụp năm 1969)

Anh xuất hiện lần đầu với những bài viết ngắn trong mục đoản văn trên tuần báo Nghệ Thuật (Mai Thảo chủ bút, Viên Linh thư ký toà soạn) vào cuối những năm 1966, ký tên Phạm Triều Nghi. Đến năm 1969, có thơ và truyện ngắn đăng tải đều đặn trên các tạp chí văn chương miền Nam: Văn, Vấn Đề, Bách Khoa, Trình Bày, Ý Thức… và ký tên thật.
Trong lời bạt tôi viết cho tập thơ Đan Tâm của Lư, có một đoạn trích từ tập tiểu luận Vũ Trụ Thơ (1) của nhà phê bình văn học Đặng Tiến: “Yêu một tác phẩm nghệ thuật giống như yêu một người đàn bà ở điểm là mỗi lần yêu, chúng ta khám phá ở người tình một trinh tiết mới. Yêu một tác phẩm là sáng tạo một trinh tiết mới cho tác phẩm”.
Tôi “yêu” những tác phẩm của Lư bởi sức sáng tạo không ngừng trong những câu chữ lấp lánh của anh! Riêng nhà văn Cung Tích Biền thì có cái nhìn sâu hơn, phân tích kỹ hơn: “Phạm Ngọc Lư khá điềm tĩnh trong hành trình sáng tác của mình, tuy sâu trong tâm khảm, từ biển rộng tâm linh, Lư vẫn cháy bỏng với những khắc khoải, tư duy. Trong bao năm Lư không chạy theo những trào lưu, trường phái, những hào nhoáng ồn ào của thị hiếu. Không làm con thiêu thân để chết non, tàn mùa theo những cám dỗ tức thời. Thơ Lư hình thức là mẫu mực, cổ điển. Vì ta cứ đủng đỉnh cái Riêng mình. Cái bình cổ sống rất lâu. Chính ở điểm này Lư thành công. Nói được rất nhiều trong biểu hiện điều Muốn Nói. Không cầu kỳ. Không đánh bóng ồn ào mặt ngoài bởi ngôn ngữ rỗng…” (2)
Điều đáng nói, mặc dù rất thành công với những bài hành, thất ngôn, lục bát cùng những truyện ngắn phản ảnh những góc khuất của bộ mặt xã hội đương thời, một xã hội đảo điên, chiến tranh bùng vỡ ở mức độ ác liệt, để đưa vào tác phẩm với những cảm thức được chắc lọc đến từng chi tiết nhỏ, hoặc dùng điển tích để chuyển tải – và đã thành công, được độc giả thời bấy giờ (cả sau này) đánh giá cao – nhưng không bao giờ tự mãn, khoa trương mà luôn tìm đến cái mới hơn, đẹp hơn.

* Thơ như một vết cứa vào tim người
Với thơ, anh có một phong cách rất riêng, không lẫn với những người cầm bút cùng thời. Cũng vết về chiến tranh, về thân phận con người, về tình yêu, nỗi cô đơn, khao khát, về mặc cảm đọa đày, khốn cùng…nhưng không sử dụng loại ngôn ngữ sáo rỗng, thời thượng, mà vận dụng các điển điển tích, tiếng Việt-Hán để chuyển tải nội dung. Vì vậy, sau khi khép lại một bài thơ, người đọc có cảm giác đang chìm đắm trong những câu từ cổ kính, lấp lánh như những chiếc bình cổ. Nói khác, với một thủ thuật tài hoa, anh đã làm mới dòng thơ cổ điển mà không dẫm chân lên khuôn thước thơ cổ điển. Điều này cũng dễ hiểu, bởi từ nhỏ, anh đã học chữ Hán với ông nội và cha; lớn lên theo học ban Hán-Nôm Đại học Văn Khoa Huế, nên câu từ luôn được nâng niu, trau chuốt cẩn trọng.
Nhà văn Đỗ Trường đã đưa ra nhận xét: “Thơ Phạm Ngọc Lư mang đậm chất cổ thi và sử dụng nhiều điển tích cũng như từ ngữ Hán Việt. Do vậy, thơ ông cổ kính sang trọng, nhưng khi đọc lên tưởng chừng rất dễ vỡ” (3).
“Em từ tình sử bước ra
Y trang yểu điệu đôi tà mộng bay…
Chờ nhau gác gió lầu mây
Nghìn đêm giọt nến rơi đầy trang thơ
Nghìn đêm sông lạnh trăng mờ
Trương Chi bạc tóc bên bờ Tương Giang
Chiều nao nhất kiến hồng nhan
Chiều nay xác bướm rơi vàng mộ hoa
Áo xưa mộng mị đôi tà
Đành thôi xếp lại Nam Kha gối đầu” (Thuyền Quyên).
Cách đây 15 năm, từ Đà Nẵng Lư gửi thư cho tôi, có đoạn: “Theo tôi, nhà thơ=lãng mạn+cô đơn+bi thương+kiêu hãnh, trong đó “cô đơn” là thuộc tính bi thảm nhất. Chính trong cái cô đơn cùng cực, tôi thấy mình chết, ra đi và đã viết:
Tâm hồn bật một tiếng kêu
Vỡ ra lênh láng giữa chiều tang thương
Âm ba đồng vọng mười phương
Có ai thiên cổ đoạn trường hồi âm?
Tay ai nâng nhẹ phù thân?
Dìu tôi đi giữa phù trầm khổ đau
Tôi và nước mắt dìu nhau
Bơi qua bể khổ muôn màu nhấp nhô
Tôi và cát bụi ngu ngơ
Bay quanh trời đất đợi giờ tương sinh” (thư riêng đề ngày 27.10.2002).
(Nếu nói rằng: Mỗi tác phẩm của nhà văn là những dự báo cho tương lai thì những câu thơ trên như một ám thị cho cái ngày định mệnh cuộc đời anh: Tôi và cát bụi ngu ngơ/Bay quanh trời đất đợi giờ tương sinh. Đó là ngày 26.5.2017 lúc 18h45 tại Đà Nẵng, gây bao thương tiếc cho bạn bè và độc giả hằng mến mộ anh, như lời anh Cung Tích Biền ghi trong thư: “Vắng bóng đời này, lại vĩnh cửu Chốn Kia. Mong Lư đời đời an nghỉ. CTB” (thư ngày 4/6).
Cả cuộc tồn sinh của Lư, lúc nào anh cũng cảm thấy bất toàn, cô đơn, đau khổ… Chúng luôn đeo ám vào những trang thơ văn của anh. Anh loay hoay với bốn bức tường lạnh trong nhà trọ khi dạy học tại Tuy Hòa, loay hoay với đời sống vợ con sau 75. Lư than thở với tôi: “Mình bất tài, bất lực, hèn… sao?” . Đó là khoảng năm 1983 (hay 1984?), anh không chịu nổi ngày ngày phải đi bộ non 2 cây số, gánh từng gánh nước tưới những vồng khoai lang giữa bãi cát cao ngất nghểu ở HTX NN quê anh với chỉ 200grs nửa lúa nửa khoai sắn cho một ngày công (?!) sao đủ nuôi 4 miệng ăn, đành phải gạt nước mắt gửi vợ con về quê ngoại (Qui Nhơn) vào Long Khánh (Đồng Nai) đào đãi vàng, đốt than; xuống tận Hồng Ngự (Đồng Tháp) nấu rượu lậu, bán trái cây độ nhật… và “nghề” nào cũng thất bại, khiến anh đau đớn, quặn thắt hơn trong cuộc mưu sinh ở thời buổi ngăn sông cấm chợ! Thất chí chồng lên thất chí.
Tuổi tác chừng này vẫn ngây thơ
Ma xui quỷ khiến ra ngồi chợ
Bán gió rao trăng… một núi dừa

Lúc chán, rửa môi dăm chén rượu
Lau chân mắc võng nằm lơ mơ
Mây cuốn nắng thiu lòng u uẩn
Tuồng đời như cảnh chợ ngày mưa

Thôi để ta yên bên chén rượu
Uống say… thành bại cũng bằng thừa
Uống say… ném áo lên nóc quán
Hết nợ hết duyên… vĩnh biệt dừa! (Ngồi Chợ)
Cuộc mưu sinh đối với Lư trong giai đoạn này không dễ dàng chút nào. Từ biệt những ê chề miền Đông, Lư xuôi về vùng đất phương Nam. Nhưng đất phương Nam mênh mông sông nước, bạt ngàn màu xanh vờn phủ tính phóng khoáng ấy cũng chẳng dung nạp được anh trong đời thường, nói chi đến tình đồng điệu? Trong cảnh mênh mông, bạt ngàn kia, dường như khiến Lư cô đơn hơn, quặn thắt tâm can hơn khi đưa mắt trông vời phương Bắc, chốn quê nhà xa xôi:
Chân trời giang rộng mênh mông
Cố hương thăm thẳm tịnh không lối về
Giang hà im bặt thuyền ghe
Tha phương nhật mộ… não nề bèo mây (Chiều Qua Châu Thổ)
Đó là bài thơ anh viết khoảng giữa năm 1986 lúc xuôi xuống Hồng Ngự. Ở đó cũng có vài người bạn, nhưng không phải bạn thơ mà là những bạn rượu tầm cỡ Tây Môn Khánh – theo lời anh kể lại! Những bữa rượu ấy không giúp anh nguôi ngoai nỗi cô đơn như một ám ảnh phải đeo mang. Hình ảnh những nơi anh ngụ cư ám vào tâm trí như những ám thị “bệnh hoạn” liên tưởng qua hàng cây, con sông, bến nước, đất đỏ ngấm vào tâm trí rồi đặt bút “tổng kết” trên mười năm lang bạt mưu sinh trong bài Bụi Đỏ viết năm 1994 và chú thích “sau chín năm ly tán”:
Quê người nương náu kiếp lưu dân
Bụi ba dan có phải hồng trần?
Đỏ quạch mồ hôi chua cơm áo
Cơm áo bạc tình… bán hết thanh xuân

Đi giữa rừng cao su trùng điệp
Lòng đau như vết cạo còn tươi
Mủ cứ chảy bám dày tâm sự
Tâm sự đùn cao như gò mối chôn người.
…Đi lơ ngơ vừa tròn một giáp
Mười hai năm lệ tủi đời câm
Rượu Nam phương uống cùng tứ xứ
Tứ xứ ly gia dễ mủi lòng
Cũng dễ quên nhau khi hết rượu
Cái ân tình có có không không
Chốn đất khách lắm hào sảng nhưng không thiếu những “phàm phu”. Bên cạnh những “hào sĩ” những kẻ “nhân từ” là những tay “ích kỷ, lếu láo, say sưa…” khiến anh cảm thấy mệt nhoài với bến nước mười hai đục ngầu bụi đỏ; để sau đó tự hỏi và tự trả lời:
Sao không quay về bến thứ mười ba:
Bến nước trong xanh… soi bóng quê nhà!
Mười hai năm lao thân lao trí đã đủ để anh vật vã những đau đớn, buồn tủi trong “hành trình” xuôi Nam, lang thang nơi đất khách kiếm tìm sự sống kể từ lúc xã hội bị đảo lộn, đạo đức, phẩm hạnh con người bị vãi tung ra lề đường; miếng cơm manh áo ẩn nấp trong những tráo trở. Cái bầy người được mệnh danh là quần chúng nhân dân, là nền móng cho một đất nước được chăn dắt bằng những tấm tem phiếu. Cái ăn cái mặc trở thành thước đo giá trị làm người. Cuộc tìm kiếm áo cơm cũng bình thường như bao con người khác cùng thời, nhưng đến phút cuối thì: Đỏ quạch mồ hôi chua cơm áo/ Cơm áo bạc tình bán hết thanh xuân. Hai câu thơ như hai vết cứa sâu hoắm lên thịt da, phơi lộ hết những bần hàn cơ cực trong một giai đoạn đau khổ tột cùng của bản thân anh trong giai đoạn cùng khổ của đất nước này. Ngoảnh lại, cả một đời làm người của Lư là hình ảnh con ngựa già đã chấm hết những hào quang một thuở!
Ngồi thất thế như con ngựa ốm
Nhớ đường trường thè lưỡi liếm chân (Tuy Hòa Năm Năm)
Lời thơ ẩn lời than đến nao lòng, con ngựa ốm kia cũng là thân phận của người trí thức đã cùng đường, tuyệt lộ trong một xã hội bị đảo lộn mọi trật tự sau biến cố 30.4. Nhiều bài thơ trong hai tập Đan Tâm và Mây Nổi (đều do Thư Ấn Quán, HK ấn hành) của Lư, luôn thấp thoáng bóng dáng của kẻ sĩ thất thế nhưng vẫn giữ lòng tự trọng, liêm sỉ chối từ mọi danh vọng, tiền tài… lui về quê chịu cảnh sống thanh bần chứ không chịu khuất phục, quỳ gối khom lưng.
Trong đời, khi tiếp cận với văn chương, tôi rất ngưỡng mộ và kính phục nhà thơ Hữu Loan sau Nhân văn giai phẩm, một nhân cách lớn trong hành xử với đời; đến cả cái giải thưởng “danh giá” của nhà cầm quyền, ông cũng phẩy tay, bịt mũi, nhắm mắt.
Với Phạm Ngọc Lư thì khác, anh thuộc thế hệ con cháu của Phùng Cung, Hữu Loan, Lê Đạt… sống trong hoàn cảnh xã hội khác xa với “Nhóm Nhân Văn”, được thụ hưởng một nền giáo dục tử tế “nhân bản, dân tộc, khai phóng” nên khó dung hợp với xã hội mới, trong đó có thừa những lọc lừa, dối trá… phi đạo đức, phi nhân bản. Một xã hội như vậy hoàn toàn xa lạ với những con người cũ (SG) ! Nhưng xem chừng xã hội thời cải cách ruộng đất và xã hội đánh vào tư sản mại bản, cải tạo công thương nghiệp… không khác xa nhau trong cách “xử sự” với người dân!
Cuối năm 2005 là thời gian anh quay về cố hương không lâu, nhìn cảnh đời nhí-nhố-xum-xoe-lừa-lọc (chữ của Lư), anh thấy thất vọng, cay đắng hơn và đặt bút viết liền một mạch bài thơ Đề Thơ Trước Mộ Thanh Xuân (khi mà mọi bưng bít thông tin về nhà thơ Hữu Loan được công khai trên mạng). Bài thơ khá dài, bộc lộ khí chất và bóng dáng của một kẻ sĩ thời hiện đại “không thèm ăn thóc nhà Chu”:
“…Trèo lên xe trâu/ Lui về quê kiểng/ Mài răng gặm nhắm cái thanh bần!/ Lượm lặt nứa tre che căn lều nhỏ/ Phên cửa phong phanh suốt ngày no gió/ Người quen tâng bộc gọi mao lư/ Kẻ nôm na kêu đích danh nhà cỏ/ Chẳng hay ho gì cỏ với mao/ Thời bất lợi voi đành làm chó/ Phong tống thời lại giun dế hóa rồng/ … Tìm trong gia phong mấy lời răn dạy/ Hiểu đâu nhất thời/ Đâu là vạn đại/ Than ôi!/ Cái khôn mới hôm qua/ Hôm nay bổng trở thành cái dại/ Quay lưng với đời ư?/ Dòng đời cuồn cuộn/ Biển đời lợn cợn/ Bảy đục ba trong/ Quay mặt với người ư?/ Mặt người sắc nhọn/ Biển người sao mà ghê rợn/ Đua chen hôi lợi bòn danh/ Đâu dám ví mình với Đào Uyên Minh/ Tụng Quy khứ lai từ…” (4).
Có thể xem Đề Thơ Trước Mộ Thanh Xuân là những lời tự sự, bày tỏ thái độ của nhà thơ trước xã hội hiện tại, sau khi phải nếm trải mọi cay đắng mà anh đã dầm cả thân mình, lặn hụp vào lớp nát nhão sự đời đen trắng, vàng thau lẫn lộn.
…Phải ngươi ba chìm bảy nổi/ Bắt ta mười kiếp long đong/ Mây có – gió không/ tình câm – thơ điếc/ Giai nhân còn mà anh hùng hết/ Chưa mùa đông sao tóc xanh bạch tuyết/ Ngũ thập rồi, tay trắng xóa bạch vân/ Ô hô! / Thiên địa vô cùng/ Uống say mà khóc Đặng Dung – Thuật hoài/ Khóc rồi đập nát cơn say… (Túy Hoài)

Trong gần 100 bài thơ ở hai tập Đan Tâm và Mây Nổi, thì Biên Cương Hành là bài thơ gây ấn tượng mạnh cho độc giả từ ngày trước tới tận bây giờ.
Biên Cương Hành được Lư thai nghén từ khi anh đổi về dạy học tại Củng Sơn, một quận lỵ nhỏ xíu (của Phú Yên) giáp ranh Cheo Reo, bị rừng núi bao phủ bốn bề, trước mặt là sông Ba sâu hoắm; mọi liên lạc với bên ngoài đều bị đóng kín bởi những họng súng của hai bên. Anh thường gọi nơi đây là “biên khu”, vì mỗi khi muốn về thành phố phải đi nhờ trực thăng quân đội, hoặc theo đoàn xe mở đường. Với một khoảng không gian chật hẹp heo hút, chập chùng đồi núi nhấp nhô, lính đông hơn dân và ngày đêm phải nghe tiếng bom đạn gầm réo khiến anh tưởng như rằng chính mình đang có mặt ngoài trận mạc!
Tưởng cũng cần nhắc lại, một số bài viết về thơ Phạm Ngọc Lư, khi đề cập tới Biên Cương Hành, cho rằng Lư viết bài này khi anh tham gia hành quân trong chiến dịch Lam Sơn 719 vào mùa xuân 1971 của quân đội VNCH trên đất Hạ Lào và bị thất bại nặng nề. Hay như nhà thơ Viên Linh, trong bài viết “Thể hành trong thơ Việt Nam từ bài Tống biệt hành của Thâm Tâm”, đăng trên http://www.nguoiviet.com số August 21, 2013 cho rằng: “Nơi Phạm Ngọc Lư một nhà thơ trẻ thuộc lớp sau cùng của Miền Nam trước 1975, anh chiến đấu trên mặt trận Cao Nguyên miền Trung, nơi gió Lào tanh tưởi, mùa khô xào xạc, giặc nước rình mò , rừng xanh thắm máu. Người đi ở đây là lính ra trận, người theo dõi nơi quê nhà là thiếu phụ chờ mong: “Em đâu, quê nhà chong mắt đợi /Hồn theo mây trắng ra biên cương / Thôi em, yêu chi ta thêm tội / Vô duyên xui rơi lược vỡ gương / Ngày về không hẹn ngày hôn lễ / Hoặc ngày ta nhắm mắt tay buông.” (http://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/The-hanh-trong-tho-Viet-Nam-tu-bai-Tong-Biet-Hanh-cua-Tham-Tam-2849/)
Điều này không đúng. Lư chỉ học quân sự 9 tuần ở quân trường Quang Trung và sau đó được biệt phái về trường cũ, chưa từng cầm súng ngoài chiến trường bao giờ.
Lư khởi viết bài thơ này từ cuối năm 1971, sau đổi sang thể “hành” và hoàn thành vào tháng 5.1972. Sau vài lần nhuận sắc, Lư gửi bản thảo cho tạp chí Văn. Ông thư ký tòa soạn Trần Phong Giao đọc bài lai cảo và không tiếc lời khen, cho đăng ngay vào Văn số (?) tháng 10.1972. Có thể nói đây là bài thơ hay nhất trong cuộc đời làm thơ của Lư, đến độ khi đọc xong bài thơ này, nhà thơ Du Tử Lê phải thốt lên: “Biên Cương Hành của ông, đã như một trận động đất lớn: Bất ngờ. Sửng sốt. Thốn buốt tâm can thế hệ”. (5)
Thế hệ đi trong chiến tranh “giải phóng và bảo vệ tự do” là bi kịch của dân tộc. Cuộc chiến tương tàn ấy đã gieo biết bao tang tóc cho triệu triệu người người dân hai miền. Lư đã sống trong những thời khắc kinh hoàng đó, nên anh không thể dửng dưng đứng bên lề. Không cầm súng bắn nhau, cũng không có mặt trên bất kỳ chiến trường ác liệt nào, nhưng hàng ngày, anh có thể “nhìn thấy” cảnh đầu rơi, máu đổ, thịt xương nát tan, lương dân gồng gánh chạy giặc, bỏ lại làng quê mịt mù khói lửa ngút cao và; hàng ngày anh còn chứng kiến những chiếc quan tài kẽm, những người vợ trẻ bồng con trong màu trắng khăn tang… Tất cả những hình ảnh có thật đó đã xoáy động tâm can anh để, cuối cùng phải bật ra những đớn đau trên trang giấy:
Biên cương biên cương chào biên cương
Chào núi cao rừng thẳm nhiễu nhương
Máu đã nuôi rừng xanh xanh ngắt
Núi chập chùng như dãy mồ chôn
Gớm, gió Lào tanh mùi đất chết
Thổi lấp rừng già bạt núi non
Mùa khô tới theo chân thù địch
Ta về theo cho rậm chiến trường
Chiến trường ném binh như vãi đậu
Đoàn quân ma bay khắp bốn phương
Lớp lớp chồm lên đè bẹp núi
Núi mang cao điểm ngút oan hờn
Đá mang dáng dấp hình chinh phụ
Trơ vơ chóp núi đứng bồng con
Khu chiến ngày tràn lan lửa dậy
Đá Vọng Phu mọc khắp biên cương
Biên cương biên cương đi biền biệt
Chưa hết thanh xuân đã cùng đường
(Vào đường dẫn này để đọc trọn bài thơ Biên cương hành:
http://vanchuongviet.org/index.php?comp=tacpham&action=detail&id=8689 )
Biên cương hành mang tính khái quát cao cho cả một giai đoạn oan khốc của dân tộc. Những hình ảnh Lư mang vào thơ, từ núi, rừng, gió Lào, đá, người chinh phụ, núi vọng phu… đã khắc họa “một thời địa ngục của đất nước” (chữ của Du Tử Lê), không riêng cho bên này hay bên kia. Đó là xương cốt, là máu thịt của những người lính Quốc gia và Cộng sản bị hoài phí một cách oan uổng, dửng dưng máu lạnh.
Đầu năm 1972, khi viết xong Biên cương Hành, Lư đã đọc cho chúng tôi nghe bên chiếu rượu trong đêm gió Lào cuồng dại trên mái nhà, nghe đến sởn gai ốc, rờn rợn da gà, khắp người tựa hồ có hàng ngàn mũi kim nhức buốt thịt xương. Gần nửa thế kỷ, mỗi khi nhớ bài hành này lập tức nhớ nguyên giọng đọc uất nghẹn của Lư, người đã hóa thân chữ nghĩa cho định mệnh của dân tộc trong chất giọng hiu hắt nghẹn ngào, như thể đó là lời than oán của những chinh phụ, những tiếng kêu la đau đớn của những người dân vô tội, của các chiến binh hấp hối ngoài trận mạc!
Về mặt nào đó, Du Tử Lê đã chính xác khi đưa ra nhận định về bài thơ Biên cương hành của Lư: “Tôi gọi đó là “đoạn trường” bất thường của một bài thơ được sinh nở với định mệnh của một thứ cột tháp thảm họa khốc liệt. Mỗi con chữ không chỉ dính gân cốt, thịt, xương trăm ngàn đọa kiếp mà, còn cõng trên lưng cả những hồn ma oan khuất một thời địa ngục đất nước, quê hương nữa! Cho tới khi bài thơ, hội đủ những yếu tố để “đá vỡ, ngọc lộ,” ngời ngợi khí chất tư riêng, khắc họa Những hoắm, sâu thương tích phận người…” (link đã dẫn 5).
Sau Biên cương hành, Lư viết bài Trên Đèo Bình Đê vào năm 1973, lúc hiệp định Paris vừa ký kết, nhưng hòa bình đã không đến, hai bên lại tiếp tục gây ra thảm cảnh “chiến trường ném binh như vãi đậu” để giành nhau từng thước đất cắm cờ (sic). Trên đường về Huế, qua đèo Bình Đê, Lư nhìn thấy cảnh xóm làng, ruộng vườn, với Tam Quan, Bồng Sơn (Bình Định) phía nam và Sa Huỳnh (Quảng Ngãi) phía bắc đã tan nát vì binh lửa trong các trận đánh mùa Hè Đỏ Lửa năm 1972!
…Tháng tư/ Lửa bùng lên đâu chợ/ Lửa cháy quanh sông/ Lửa vây Hoài Đức/ Lửa đốt Bồng Sơn/ Người người tan xác giữa đồng/ Người người ngã gục bên dòng Lại giang/ Người người bỏ thân trên đường chạy loạn/ Đôi mắt trừng lên nỗi kinh hoàng/ Đôi mắt ngó về đâu chòng chọc/ Bốn bề khói lửa mù giăng/ Bốn bề binh đao cuồng nộ/ Bốn bề đổ nát tan hoang/ Chạy mau chạy mau người mẹ Hoài Ân/ Quang gánh trên vai chất đầy thống hận/ Máu bầm vướng víu bàn chân/ Chạy đi chạy đi người chị Hoài Nhơn/ Sao cứ nằm ôm con thơ đùm trong tay nải/ Máu khô đen khuôn mặt lạc thần/ Pháo tràn lan xối xả/ Lửa rần rật trên lưng/ Chạy về đâu ?
Lư đã đồng ý với nhận xét của tôi cách đây hơn 40 năm, trong một buổi trà dư tửu hậu rằng: Trên đèo Bình Đê, là những cảm xúc thật, về những cảnh tượng có thật đang xảy ra trước mắt. Những nát tan khói lửa ấy đã khơi dậy những cảm xúc chân thật để bật ra thơ, nhưng dẫu sao, khi đọc xong, tôi vẫn thấy nó (TĐBĐ) là cái bóng của Biên Cương Hành.
Để khép lại phần viết về thơ Phạm Ngọc Lư, xin mượn nhận định sau đây của nhà văn Đỗ Trường: “Có thể nói, Biên Cương Hành là một trong những bài thơ hay nhất viết về chiến tranh, không chỉ của thi ca miền Nam, mà cho cả nền thi ca đất Việt. Đa số những bài viết về đề tài chiến tranh, hay cổ động chiến tranh thường có giá trị nhất thời. Nhưng Biên Cương Hành lại có sức sống dẻo dai và sự lan tỏa mạnh mẽ, bởi ngoài sự thật tàn khốc của chiến tranh, nó còn chứa đựng giá trị nghệ thuật cao” (link đã dẫn 3).

Truyện là nỗi niềm thế hệ chiến tranh.
Phạm Ngọc Lư viết truyện không nhiều, khoảng gần 20 truyện, đăng trên Văn, Bách Khoa, Vấn Đề, Ý Thức, Tuổi Ngọc… Sau năm 75, anh không còn giữ được truyện nào trong tay (do sách báo bị tịch thu). Giữa năm 2016, khi Lư lâm trọng bệnh, anh em nhóm Thư Ấn Quán đã dày công sao lục trong các thư viện HK, hoặc còn lưu giữ được những số báo có đăng truyện Lư, chia nhau đánh máy và cuối cùng nhà văn Trần Hoài Thư đã ngồi “vá” lại những truyện thất lạc này thành tập truyện Sợi Khói Bay Vòng gửi về VN như một tấm lòng của anh em đối với Lư. Trong lời mở cho tập truyện, Trần Hoài Thư viết: “Lấy tựa đề truyện ngắn Sợi Khói Bay Vòng không phải nó là truyện ngắn đặc sắc hay tiêu biểu. Những truyện của Phạm Ngọc Lư đều hay, đều đẹp, đều buồn. Có truyện tình. Có truyện chiến tranh. Có truyện nói về thân phận lưu đày nơi đất trích. Nhưng Sợi Khói Bay Vòng là truyện có thể chuyên chở hết tất cả cái định mệnh của tuổi trẻ, dù nam hay dù nữ…”.
15 truyện trong Sợi Khói Bay Vòng, viết về nhiều đền tài khác nhau: tình yêu, thân phận làm người, nỗi cô đơn khắc khoải… nhưng tất cả đều lồng ghép trên tấm phông chiến tranh với nhiều gam màu ưu uất, có lúc như không tìm thấy lối thoát cho một tương lai tươi sáng với những chàng trai, cô gái thuộc thế-hệ-chiến-tranh này. Những thanh niên trên dưới 20 tưởng chừng như đang được thụ hưởng những chuỗi ngày tươi đẹp; nhưng thật ra đó chỉ là lớp vỏ che chắn bên ngoài khi những lời sấm truyền ngày càng lan rộng khắp làng quê, thành thị…: “Cả xóm người ta đồn rân: tháng Năm đổ máu, tháng Sáu hòa bình. Tháng Sáu âm lịch rồi đó cậu” . Hòa bình đâu không thấy, chỉ thấy máu tiếp tục đổ, nhà cửa ruộng vườn vẫn liên tục bị xới nát bởi bom đạn, lớp lớp thanh niên vẫn phải lao ra chiến trường: “Có thằng con chớ. Hắn bị bắt quân dịch hồi tết, nghe nói đang đánh giặc tận Cao Miên” (Cái Đuôi Sao Chổi, tạp chí Ý Thức, số 7). Và, hệ quả của nó là: “Cô gái bước lại mở hé cửa và bối rối xô Chấn lui. Nhưng anh cũng vừa kịp thấy cảnh tượng trước mắt: người đàn ông đang gục đầu trên cái rương gỗ khóc tức tưởi, bên cạnh bó nhang đang tỏa khói và mấy ngọn đèn cầy cháy leo lét, buồn thảm. Cô gái chảy dài nước mắt, nói mếu máo: Tội nghiệp anh tui phải nằm lại dọc đường đêm nay… Cái rương gỗ ấy đựng hài cốt anh tui!” (Cuối Ngày Cuối Đường, Văn số 223, 1973).
Lư là nhà giáo, hàng ngày anh phải chứng kiến hoặc nghe kể lại lắm chuyện thương tâm, tang tóc. Trong truyện Một Dòng Sông Trong Miệng Ngậm, đăng trên Văn số 148, ngày 15.2.1970, mô tả những thanh niên tuổi từ 16 đến 19 ở một làng quê tranh tối tranh sáng, có người cày ruộng, có người tham gia du kích địa phương. Họ từng chăn bò tắm sông thuở nhỏ, nhưng kể từ khi trái tim biết rung động, chủ nghĩa vu vơ chen vào, lòng thù hận được trao tay thì tình làng nghĩa xóm vụt tắt nhanh chóng. Đó là nhân vật Mộc, một du kích địa phương đã hành xử với Tương, bạn mình như một kẻ thù đúng nghĩa: “Tương bị đánh thức dậy theo hai người lạ ra khỏi nhà, “cấp trên cần gặp mặt”… Bụng Tương đụng phải vật gì cứng nhọn, chừng đưa tay nắm lấy chàng mới biết mũi súng/ -Trói nó lại! Cùng lúc Tương dợm người thối lui, kịp nhận ra giọng thằng Mộc…/ Mày bắt tao hả Mộc?/ … Mày có tội trạng rõ ràng, tự hiểu lấy…/ Tao tội gì? Có phải mầy tư thù việc con Vui không bằng lòng mầy?/ … Sự thật mầy đã phản bội. Mấy hôm nay mầy trốn lên tỉnh tiết lộ bí mật của ủy ban, tội Việt gian, rõ chưa?”.
Cuối cùng Tương bị đưa qua sông, bị bắn chết. Nhưng số phận Mộc sau đó cũng không hơn gì những người khác trong làng: “Sau này tôi mới nghe, thằng Mộc, thằng Giảng, thằng Chiêm đều bị bọn cán bộ cao cấp kết tội rồi hạ sát ngay phút đầu lính mình đổ bộ… Anh hỏi vì sao hả? Dã man thật, làm vậy cốt phòng ngừa việc mấy thằng ấy hồi chánh khai toạt những bí mật cơ sở… Những người trong làng bị chôn sống đều do tay thằng Mộc cả, bây giờ hắn chết rồi còn ai biết chỗ lấp xác mà tìm. Ghê quá anh à, hồi kháng chiến cũng có chôn tươi tụi Tây bắt được (chính mắt tui chứng kiến) nhưng đâu có tàn nhẫn ba bốn chục người một hầm bằng thời nầy…”.
Hình như không gian và thời gian mà Lư mô tả trong truyện là một làng quê nào đó ở Thừa Thiên-Huế hồi tết Mậu Thân khiến chúng ta nhớ lại thời kỳ kinh hoàng: Cách mạng văn hóa ở Trung Hoa, Cải cách ruộng đất ở VN. Cũng vẫn những đứa con nít ấy, từ ngây thơ trong trắng bị chuyển qua lòng thù hận bởi những lời ru ngọt-ngào-man-trá, giống như các nhân vật thiếu niên của Khuất Đẩu trong Người Giữ Nhà Thờ Họ, làm rung chuyển cả xóm làng, làm ông cha chồng và nàng dâu hết phen hoảng sợ này tiếp đến những thoi thóp dập dờn khác, bao trùm căn nhà lá mái luôn kín cửa như hầm mộ chôn lấp cả hai cha con trong đó. Truyện Khuất Đẩu viết sau (2004), còn MDSTMN của Lư trước đó 34 năm, nhưng hành động, thái độ thì không khác gì nhau trong cách trui luyện của Cách mạng: “Gìa như tôi sống trải qua biết bao năm giặc giã nhưng chưa có lúc nào loạn lạc bằng thời nầy. Cái bọn con nít nổi lên làm cha chú mình không” (ám chỉ những Giảng, Mộc, Chiêm… – chú thích của người viết).
Lớp thanh thiếu niên ấy, có người bên này, người bên kia do hoàn cảnh. Nhưng chắc chắn có điều rằng, không ai muốn lao vào chém giết nhau, trừ phi bị thúc ép, bị nhồi nhét. Rồi thì cũng có người tỉnh trí, nhận ra sự việc, có người mãi lú lấp vào những hào quang không thật. Và cũng có người vùng vẫy cố thoát ra khỏi vòng ám chướng vô định như lời kể nhân vật Cưu cho bạn mình nghe chuyện thật bi hài: “Tao đang bị quân cảnh truy tầm… Thằng con bác lớn tồng ngồng mà sửa khai sanh còn mười bốn tuổi. Tụi lính tóm được, lột quần nó lắc đầu chửi thề, đ.m 14 tuổi gì mà… khó coi quá. Nhưng tụi chúng không bắt nó đi quân dịch, lại nghịch ngợm bảo nó phải nhổ sạch lông mới được tha về. Thằng nhỏ cắn răng khóc ngất…” (Sợi Khói Bay Vòng (Văn, số 153 tháng 5.1970).
Truyện này Lư viết trong thời gian dạy học tại quận lỵ heo hút miền núi Củng Sơn và hoàn thành cuối năm 1969 (Sau đó Lư viết tiếp bài thơ nổi tiếng Biên Cương Hành). Có thể coi đây là truyện ngắn chắc tay nhất của Lư, phản ảnh đúng cách nhìn, suy nghĩ và cách sống của tuổi trẻ thời chiến; trong đó là những vòng tròn không lối thoát, là tình yêu bị mất mát cùng những cay đắng về cuộc đời đối với thời cuộc đảo lộn, chiến tranh lan rộng khủng khiếp. Thái độ chán chường mệt mỏi ấy của những nhân vật trong SKBV đã nói lên đúng thực trạng xã hội miền Nam thời bấy giờ. Họ tìm thấy nhan nhản những nhậu nhẹt, đĩ điếm, gái bán bar, lính Mỹ… như những vệt xám ngoét trong tâm trí trên một nửa đất nước này. Nhân vật Bồng tự dưng chán nãn, chạy trốn Cưu, chạy trốn khói thuốc từ người Cưu, nhưng lại mơ hồ nhớ đến những sợi khói ấy, sâu tận đáy lòng: “Bồng hy vọng khi lên tới bến xe sẽ thấy Cưu đứng sẵn ở đó dù nàng sợ vô cùng mùi khói thuốc ngây ngất cuốn lấy mình từng sợi dày hơn cả mảng lưới”. Và rồi một “hắn” nào đó xuất hiện cạnh Bồng trên băng ghế xe đò chạy về T. với gói thuốc đúng với loại thuốc Cưu hút khiến Bồng trở nên hoang mang. “Hắn” xuống xe ở đoạn nào đó cô gái không hay, chỉ còn trơ lại gói thuốc chỉ còn vài điếu lẻ. Cô giữ lấy như nhìn thấy bóng dáng Cưu quanh quất đâu đây. Truyện được đẩy lên thành cao trào ở đoạn cuối, khi “hắn” bất ngờ xuất hiện trong tấm áo choàng, nón nĩ, bị vải đến từ giã Bồng. Còn Bồng thì luôn có sẵn gói thuốc trong người phòng hờ khi gặp “hắn” sẽ trả lại. Hai người gặp nhau và Bồng nói: “Trả lại anh. Ngồi nói chuyện hút cho hết cả bao rồi hãy đi. Tôi thèm ngửi mùi khói này lắm” . Níu kéo chút thực tế để liên tưởng, để nhớ nhung chút khói sương ngày cũ. Nó có thật và cũng là ảo ảnh, không thể nắm bắt trong tay, như “hắn” mệt mói thốt ra với cô gái: “Phải rồi, đời tôi chỉ là một cụm khói, một sợi khói bay vòng. Chẳng tới đâu, chẳng được gì”. Chưa hết, bất ngờ trong một buổi sáng nào đó, Cưu chuẩn bị trình diện nhập ngũ thì gặp Bồng “mặc áo dưỡng thai” đang đi trên đường, coi như mối tình chấm dứt bằng những núi kéo mơ hồ: “Tôi tin rằng tôi chưa mất em dù em đã có chồng…”. Họ xa nhau có vẻ không ray rức, đau khổ mà tỉnh táo, lạnh tanh: “Cưu còn đứng lại rút tấm lệnh gọi cuốn tròn giả làm điếu thuốc giắt lên môi”.
Truyện rất kiệm lời thoại, chỉ là những suy nghĩ, những dằn vặt nội tâm đan xen vào nhau để xô đẩy tâm lý mỗi nhân vật ì ào như những lớp sóng vỗ mãi vào bờ đá… (Lối kết cấu truyện như vậy, bàng bạc đây đó trong các tác phẩm của những nhà văn trẻ trước 75. Đó là sự tỉnh táo ở Y Uyên, nức nở, bi phẫn ở Trần Hoài Thư, nhẩn nha mà dữ dội ở Hồ Minh Dũng, Phan Tấn Uẩn hay bình thản mà sâu lắng như Kinh Dương Vương.v.v. với những bối cảnh là làng quê nghèo khổ, là những người nông dân chất phác, ngơ ngác, là những thanh niên đang là lính trận, mất dần phương hướng, buông xuôi trong tình yêu và cuộc sống, cứ để cho dòng đời xô đi mà không cách gì chống chọi nổi với những cơn lốc tàn bạo của chiến tranh).
Thân phận làm người đã khó, lại làm người trong thời buổi lửa đạn ngút trời càng thê thảm hơn. Đó là truyện Tàn Đông (Bách Khoa số 344) như cuộc đời biếm trích của thầy giáo Kiền và cô bạn y tá trọ chung nhà bị giam hãm ở một quận lỵ miền núi (Củng Sơn) âm u đến ngột ngạt, chỉ có niềm mơ ước nhỏ nhoi là có ngày được về thành phố để thấy ánh đèn, những con đường nhựa, những chùm bông màu vàng… Cả hai đều có một tâm trạng như nhau. “ Chờ một ngày về lại thành phố, trốn thoát khỏi nơi rừng sâu nước độc nầy… phải có cánh mới bay vượt qua khỏi trùng lũy đồi núi chồng chất vây bủa chung quanh. Núi Cấm hiểm trở, núi Một vòi või, núi Lá rậm rì… và rừng Hòa Thán thâm u, rừng Hàm Long điệp điệp”. Sự mong ngóng có ngày được về thành phố như một ám ảnh nặng trĩu, như một hòn đá tảng đè trên vai hai người. Cô y tá: “Thì đành cười nói ra bộ thân mật với ổng một chút để tránh cảnh chầu chực đợi trực thăng cả tuần lễ không được sao?”. Còn thầy giáo Kiền, trong bức thư cho người bạn gái: “Em thử tưởng tượng da dẻ anh đang mốc meo, đóng vảy cá từng bợn dày, có thể lột ra được từng phiến mong mỏng như lớp lụa bọc ngoài củ hành củ tỏi… Em hãy gửi cho anh vài ánh mặt trời, một gói nắng, càng nhiều càng quý. Anh thèm lắm, thèm đến nỗi nhuốm bệnh…”.
Cả hai mang nỗi đều hoài nhớ, mơ ước từ ngày này sang ngày khác trong khung cảnh chật chội cùng những bất trắc có thể đổ ập đến không biết lúc nào, bởi chiến trường không xa mà sát ngay trong thị trấn: “Mé sông ngoài vòng đai chi khu, đạn nổ rát hơn. Súng cối bắn đùng đùng tới tấp, bay vèo vèo trên đầu. Vách nhà rung chuyển liên hồi…Anh lôi bạn xuống khỏi giường, nàng thất thần ngã vào người anh mềm nhũn như kẻ vừa trúng đạn chết không kịp ngáp”.
Sau trận tấn công vào quận lỵ, là quang cảnh đổ nát của ngôi trường Kiền dạy, những khuôn mặt “ngơ ngác” của đám học trò, và những xác chết “nhỏ thó, trẻ măng” ngoài bờ ruộng và kết thúc truyện: “Thằng này là học sinh mới trốn theo nẫu (6) dại dột chết uổng. Thầy nhớ nó chứ?/ Kiền nhìn khuôn mặt thâm tái dính đầy máu cục bùn đất, lắc đầu bỏ đi”.
Có người, khi đọc đến câu cuối ở truyện này đã phê phán tác giả tạo ra nhân vật thầy giáo Kiền đã đánh mất lương tâm khi nhìn thấy đứa học trò cũ bị bắn chết khi tấn công vào quận lỵ, với cái “lắc đầu bỏ đi” là thái độ dửng dưng đứng trên lương thức con người bình thường. Tôi nghĩ “Kiền nhìn khuôn mặt thâm tái dính đầy máu cục bùn đất, lắc đầu bỏ đi” không hẳn là thái độ có ý thức chính trị rạch ròi như Đỗ Trường nhận định: “…sự chối bỏ không nhận (ra) người học trò của thày giáo Kiền, là thái độ chính trị cũng như tư tưởng yêu ghét rõ ràng của tác giả. Và thông qua hình ảnh cái chết của người học sinh ấy, tác giả còn muốn gửi thông điệp đến người đọc, sự tàn nhẫn của những kẻ dụ dỗ, mua chuộc trẻ em, phụ nữ làm bia đỡ đạn, trong cuộc nội chiến thảm khốc này” (7). Hành vi “lắc đầu bỏ đi” theo tôi, không phải là chối bỏ mà, trước hết là nỗi chán ngán đến cùng cực cuộc chiến tàn khốc này. Hậu quả để lại chỉ là những cái chết oan uổng, những cái chết không đáng chết như đứa học trò kia. Anh không bày tỏ một thái độ chính trị ở đoạn này, và cũng chẳng cần đưa ra một thông điệp nào để lên án chiến tranh. Anh viết và bỏ lửng ở đó để người đọc tự tìm kiếm câu trả lời. Và điều này Lư đã thành công, bởi có nhiều ý kiến trái chiều nhau.
Chiến tranh thoáng hiện thoáng biến vô chừng trong các truyện ngắn của Phạm Ngọc Lư, nhưng bộ mặt thì không rõ rệt như một Phan Nhật Nam, Thảo Trường …hay một vài tác phẩm của Dương Nghiễm Mậu, Nhã Ca, những nhà văn đi trước Lư khá xa. Nó (CT) như một cái cớ để nói về thân phận làm người đang bị lọt thỏm vào vòng xoáy thời cuộc. Thân phận ấy là thanh niên, thầy giáo, công chức, học sinh và nhiều nhất là những người dân nông thôn, đang trong vùng tranh chấp: “Tới cầu sắt Đoan bữa kia.. Tui mới lùa bò qua giữa cầu, chút nữa chết tan xác rồi. Bò kêu rống chen nhau nhảy xuống sông…” (Xóm Ven Rừng, Văn số 170, ngày 15.1.1971).
Trong truyện ngắn Phạm Ngọc Lư, người đọc còn dễ dàng bắt gặp đây đó những lợn cợn tính dục được giấu kín đằng sau cảm giác bất chợt ập tới, nhưng nhẹ nhàng không òa vỡ, ngấu nghiến như các nhà văn trẻ cùng thời: “Cô vợ có chút ít nhan sắc, trung bình thôi, nhưng người tinh mắt ai cũng công nhận với tấm thân no tròn sinh lực ấy, với đôi vú chữ tâm(*), cặp mông no lẳng như thớt ngựa ấy cũng hứa hẹn sẽ đem lại cho ông vài đứa con…” (Xóm Ven Rừng, sđd). Có khi những dục tính được khơi gợi từ những tác động bên ngoài, như cái đêm hai bên đánh nhau trong phố: “…không chừng Cúc lường được mức độ tham lam quá đáng nơi bàn tay Huỳnh, nàng khẽ đẩy chàng ra giành lại tấm chăn cuốn quanh mình… Cúc ôm chầm lấy Huỳnh ghì đầu chàng vào ngực. Huỳnh thử lắng nghe nhịp tim Cúc đập hối hả, ngoạm lấy áo Cúc nhai kín miệng” (Nhà Hầm, Văn số 140. 1969). Và: “Bất ngờ nàng ôm chầm lấy anh lôi ngã sấp lên ngực, hơi thở nóng ran, hổn hển, dồn dập. Kiền nhúc nhích cựa nhẹ mình nhưng không dám gỡ vòng tay bạn đang quấn quýt siết chặt trên lưng” (Tàn Đông, Bách Khoa số 344). Những hành vi trên, phải chăng là tâm thức của những kẻ cô đơn, của những con người bị “lưu đày” nơi đất trích, của những số phận không có ngày mai, đang ở giữa lằn ranh sự sống và cái chết trong gang tấc?
Đôi lúc tác giả đặt lý trí lên trên để kịp dìm nhục cảm xuống và dựng nên một sự tỉnh táo thái quá trong thời khắc mà hai kẻ yêu nhau đang ở một nơi vắng vẻ, gợi tình: “Gió vẫn phơn phớt phe phẩy lá dương chạm vào mặt nhồn nhột, ve vuốt một khoái cảm không rõ tên. Tôi bò tới chỗ Nhan ngồi.
Thật tình em quá ngây thơ khi có ý ra đây Nhan à!
-Anh sắp làm gì tôi?” (Cái Đuôi Sao Chổi, sđd).
“Tôi” chẳng làm gì cả, mà “cầm lấy lon coca… uống từng hơi dài” như dằn cơn khoái cảm xuống. Vì vậy, dục tính trong truyện của Lư thường xảy ra do sự tình cờ ngẫu nhĩ, do ngoại cảnh đưa đẩy, tức quán tính trong tình thế “cuối đường”.
Trong số gần 20 truyện Lư để lại, với tôi, có lẽ Mộng Thấy Mình Đã Chết (Ý Thức số 7 ngày15.1.1971) là truyện hay nhất. Anh đan xen giữa hiện sinh và siêu hình cùng chút xa gần trong Nam Hoa Kinh của Trang Tử khiến câu chuyện hư hư thực thực. Mộng và thực ẩn hiện qua từng suy tưởng của nhân vật. Mộng Thấy Mình Đã Chết phần nào phản ảnh tâm trạng lớp thanh niên thời chiến ở miền Nam. Họ hoang mang và tuyệt vọng. Họ luôn luôn đeo mang sự chết trong từng hơi thở, giấc ngủ. Đó là những cái chết tình cờ, có thể đến bất kỳ lúc nào với bất kỳ ai, bất cứ đâu. Nó là nỗi ám ảnh thường xuyên đối với nhân vật xưng tôi. “Tôi” và Muội yêu nhau, nhưng lúc nào “tôi” cũng thấy Muội đã chết. Nàng đến với “tôi” trong cuộc sống thực mà như từ cõi mộng. Mộng và thực luôn trộn lẫn vào nhau ở hai nhân vật này: “Tôi đã chết? Con đò đưa linh hồn thả về bên kia bờ quá khứ cháy bùng lên, chìm xuống mặt biển sóng gió trùng trùng nô giỡn nhẫn tâm giữa nỗi quên lãng mông mênh ngút ngàn thiên địa tận… Anh đã chết vào sáng sớm ngày mồng 7 Tết dưới gốc cây nêu trước ngõ”.
Có lẽ, thảm cảnh Mậu Thân ở Huế, với những gì đã chứng kiến khiến tinh thần Lư bị tổn thương, tạo nên những vết nứt toang hoác trong tâm tưởng anh, kéo dài khá lâu, hằn sâu vào tâm trí để bật ra câu chữ: “Em tưởng anh đã chết trong biến cố Mậu Thân ở Huế. Anh chết vỡ ngực, máu nhuộm đỏ cả chiếc sơ mi trắng nằm trước cổng nhà với cái tay nải còn rơi vướng cạnh đó”. Một đoạn khác: “Quả thật, tôi đã cầu mong cho cả thành phố ấy nổ tung lên. Ghê thay, tôi đã chết theo. Mẹ tôi, sau những ngày chạy loạn, đói, bệnh, thiếu cơm thiếu thuốc đã đau đớn lìa đời tại nhà một người bà con ở vùng quê. Bà chưa kịp về nằm giữa căn nhà đổ nát thở hơi thở cuối cùng như lời mong mỏi trăng trối lúc lâm chung, chưa kịp biết xác tôi có được chôn lấp đàng hoàng chưa hay đã bị heo chó rỉa rói mất rồi…”.
Những gì đã xảy ra ở Huế là những vết thương đen đúa, tím bầm, cứa mãi vào con tim lịch sử dân tộc. Khép lại những dòng cuối cùng, truyện toát ra chút khắc khoải, nghèn nghẹn, như thể chính người đọc bị hóa thân cùng các nhân vật của anh.
Với truyện ngắn, sau năm 1975 Lư buông bút, không viết một dòng nào (ngoại trừ thơ). Lý do cũng đơn giản, như trong thư viết giữa năm 2002 từ Đà Nẵng gửi cho tôi: “Con đường văn chương của tôi quá ngắn ngủi, sau 75, coi như tuyệt lộ. Đáng buồn. Tiếc thay giấc mộng của một thời thanh xuân! Bất phùng thời, đành vậy…không chơi, không tham dự gì với nền văn học nghệ thuật đương đại từ đó đến nay và mãi mãi… Muốn viết văn xuôi lắm nhưng chắc phải “học” lại đã, lâu năm quá, chữ nghĩa sét gỉ hết rồi…”.
Để khép lại bài viết, chúng tôi xin dẫn nhận định sau của nhà biên khảo văn học Nguyễn Vy Khanh về những tác phẩm của Lư: “chúng tôi có cảm tưởng tác phẩm của ông có điểm khác các nhà văn trẻ cùng thời đó. Có chiến-tranh nhưng không nhất thiết là đề tài chính, có tình-yêu nhưng không xuôi chảy, trơn tru, dễ dàng, có hiện thực đời-sống đang xảy ra nhưng rốt cùng chỉ là cái cớ, có triết lý nhưng cũng không phải để thuyết phục người đọc,… vì thiển nghĩ truyện và thơ ở Phạm Ngọc Lư đã đụng đến cái lõi nhân bản qua các phác thảo, nhận định, đã là những diễn biến tâm sinh lý ông trình bày để nhân-vật tự xuất hiện. Riêng lời văn con chữ mang thi tính đặc sắc, chọn lọc…” (Nguyễn Vy Khanh, Vài Cảm Nghĩ Về Thơ và Truyện Phạm Ngọc Lư, trg 104-105, TQBT số 70, tháng 6.2016).

(Viết những dòng này, như những lời vĩnh biệt, nhớ đến Phạm Ngọc Lư, người bạn thân của tôi, cả đời khốn khó).

Nguyễn Lệ Uyên

Tuy Hòa, tháng 6.2017

_________
(*)

Chữ Tâm viết thường – chữ Tâm cổ
Theo Phạm Ngọc Lư, vú chữ tâm (cổ) là loại vú đẹp của người con gái, giải thích của nhà văn Tô Thẩm Huy và TÂQ.

(1) Đặng Tiến, Vũ trụ thơ, NXB Giao Điểm, SG 1972
(2) https://vietbao.com/p112a268374/nghi-ve-nha-tho-pham-ngoc-lu
(3)http://webcache.googleusercontent.com/search?q=cache:http://danlambaovn.blogspot.com/2015/06/pham-ngoc-lu-nguoi-van-giu-lua-cho-nen.html
(4) Đào Tiềm (365 – 427) tự là Uyên Minh, người đời Đông Tấn, Trung Hoa. Ông làm huyện lệnh ở Bành Trạch, chán cảnh phải luồn cúi quan trên, than thở “ta đâu phải chỉ vì 3 đấu gạo ( tức lương bổng)mà phải khom lưng ư?” bèn cởi trả áo mão cho triều đình, lui về quê ẩn cư, viết bài Quy khứ lai từ để bày tỏ chí hướng.

(5) http://dutule.com/a7597/bien-cuong-hanh-dia-chan-thi-ca-pham-ngoc-lu-ky-02-
(6) Nẫu: phương ngữ Bình Định, Phú Yên, đại từ ngôi thứ 3 chỉ số nhiều. Ở đây Nẫu chỉ những người lên núi theo VC.
(7)https://sangtao.org/2016/10/06/vai-suy-nghi%CC%83-ve-ta%CC%A3p-truye%CC%A3n-so%CC%A3i-khoi-bay-vong-cu%CC%89a-pha%CC%A3m-ngo%CC%A3c-lu/

Thơ như một định mệnh oan nghiệt

THÁNG NGÀY LẦY LỘI

 

 

(…)

Tôi bị giam giữ trong căn phòng bốn ngày liền, không bị trói hai tay như trước, cũng không thấy ai kêu lên hỏi han điều gì nữa. Duy nhất có những du kích thay phiên nhau canh gát, nhưng cũng hiếm khi thấy họ lảng vảng trước cửa phòng, trừ những lần họ đưa cơm tới. Ngay cả nhu cầu vệ sinh cá nhân hàng ngày dường như họ cũng quên bẵng. Tôi cũng không buồn yêu cầu họ mang đến dụng cụ vệ sinh, cố gắng kềm chế và chỉ khi nào không thể nhịn được nữa mới phải làm công việc không mấy lịch sự như cái ngày đầu tiên tôi bị giam trong căn phòng này. Mỗi ngày tôi chỉ nhận được chén cơm nóng nguội thất thường với mẫu cá khô bốc mùi, hay cục lương khô sản xuất từ Trung quốc. Nước thì chứa trong chiếc ấm nhôm méo mó, ám đen khói. Ăn uống với tôi, bây giờ không còn là điều cần thiết, khi mà không biết được số phận của mình sẽ ra sao.

Trong căn phòng, những người bạn thân thiết, san sẻ cho nhau lúc này là bầy muỗi. Chúng tha hồ bâu bám và đốt. Những tiếng vo ve khó chịu ban đầu, giờ nghe đã quen tai. Để chống lại chúng, tôi dùng những tờ giấy báo thắt thành hình chóp chụp kín xuống tận vai, khoét hai lỗ nhỏ ở hai mắt. Hai tay và chân thọc vào những hộp giấy. Dưới lưng và trên ngực là những tấm bìa carton. Dẫu không thể nhìn thấy được chính mình, nhưng với cách thức đó hẳn tôi giống một tên robot? Những khi nằm ngửa, nhìn lên phía trên, dàn rui kèo và mái tôn dính chặt như bầu trời sà thấp, sắp ôm choàng lấy tôi.

Những lúc hoang mang, tôi thường nghĩ về Hà. Không biết giờ này nàng ở đâu, làm gì? Có thể nàng đã xuống tàu cùng gia đình. Có thể nàng cũng trong tình cảnh như tôi bây giờ, cũng nháo nhác về số phận người cha và anh Tuyên. Cha Hà là công chức cao cấp ở Bộ Thông Tin Chiêu Hồi. Trong những ngày cuối cùng ở mặt trận Thành Sơn, Phan Rang tôi về Sài Gòn gặp ông, nói: “Tình hình có vẻ đen tối quá rồi. Bác liệu tìm cách đưa gia đình…”. Không đợi hết câu, ông gạt phăng: “Tuyên còn ngoài mặt trận, không biết sống chết thế nào, bác không thể bỏ nó. Vả lại, không thể trốn chạy một cách hèn hạ như vậy được. Bác biết chúng sẽ không tha thứ cho đối phương, nhất là những người như bác. Nhưng nếu có chết thì cùng chết, ngẩng cao đầu mà chết”. Một ông già dân khu 5, từng sống và chứng kiến trọn vẹn cuộc khởi nghĩa cướp chính quyền của Việt Minh năm 45 hẳn ông sẽ biết mình cần phải làm gì hơn là lời khuyên của đứa con nít 25 năm trước chưa được sinh ra. Tôi chào ông bước ra cổng. Hà mở cửa. Trông Hà xanh xao vì mất ngủ. Tôi nói: “Em có thể đi loanh quanh đâu đó với anh một lúc không?”. Hà gật đầu. Từ bà Huyện Thanh Quan, chúng tôi đi bộ lên La Pagode. Hai ly cà phê trên bàn kính nhìn chúng tôi. Còn chúng tôi thì nhìn ra ngoài đường. Xe cộ vẫn đều đặn ngược xuôi. Chiến tranh không có mặt trong thành phố. Mọi thứ cứ bình thản trôi đi hay ít ra sự bình thản kia là vòng quay héo mòn, nẫu ruột được giấu kín bên trong không thể nhìn thấy?

“Tuyên bây giờ ở đâu?”. Hà xoay ly cà phê có bụi nước bám ngoài thành ly, buồn bã: “Thư cuối cùng ảnh gửi về là ở Nha Trang, Lần gọi điện cuối cùng về cho ba hình như ở cầu gì đó giữa Cam Ranh và Phan Rang. Em nhớ rồi cầu Du Long. Mẹ em lo quá, khóc suốt”. Tôi bóp nhẹ bàn tay mảnh mai của Hà: “Em chớ lo, anh hiểu Tuyên. Nó là đứa giỏi xoay trở trong những lúc bất trắc. Sống với nó từ nhỏ anh biết”. Hà ngước nhìn tôi với bộ mặt mệt mỏi, thất vọng: “Nhưng tình hình ngày càng đen tối. Sư đoàn nào cũng tan tác cả. Còn Liên đoàn của ảnh hết tăng viện cho chiến trường này lại tăng viện cho chiến trường khác. Ảnh mà có mênh hệ gì thì mẹ em không sống nổi”. Tôi an ủi: “Em chớ nghĩ quẩn. Tình huống xấu nhất là tù binh, mà tù binh thì không thể mang ra xử bắn được. Công ước quốc tế sẽ không buông tha cho những hành vi dã man kia đâu”. Hà bật khóc: “Cái quốc tế mà anh nói đó, lần lượt quay lưng lại với chúng ta khi quyền lợi không còn nữa. Đúng là bi thảm. Một đất nước bi thảm, một dân tộc bi thảm…”

Tiếng mở khoá lách cách cắt đứt dòng hồi tưởng. Cửa mở toang. Một chút ánh sáng yếu ớt hắt vào. Tôi bật dậy. Người du kích lùi lại vài bước, kêu lên khi nhìn thấy lớp bao giấy trên đầu, tay chân tôi:

-Cái gì vậy? Ông làm cái gì vậy?

Vừa tháo lớp giấy bao, tôi giải thích:

-Chống muỗi.

-Ngộ quá héng. Có kiểu chống muỗi thiệt ngộ! – Anh ta nói với giọng hết sức trẻ con và ngạc nhiên như chưa hề trông thấy bao giờ.

Một lát sau:

-Ông rửa mặt mũi, ăn tạm chút lương khô rồi chúng tôi đưa ông lên C.

Tôi không hiểu C là nơi nào, nhưng chắc chắn không phải là chốn bình yên ban đầu, như căn nhà trọ, như ở băng ghế giảng đường. Tôi không buồn hỏi tiếp, bước tới phía khạp nước người du kích dẫn lại, dùng chiếc lon rỉ sét múc từng lon nhỏ. Quấn áo bốc mùi. Nhưng muốn tắm thì không thể, biết vậy nên tôi dùng chiếc khăn tay nhúng nước kỳ cọ khắp người.

Người du kích khoát súng trên vai, miệng phì phèo điếu thuốc nhìn tôi không hề hối thúc. Tôi chậm rãi lau xoáy từng kẽ tay, vành tai… mát mẻ và sảng khoái đến lạ kỳ. Xong việc, tôi nói:

-Xong rồi.

-Ăn đi rồi đi cho sớm – Nói và người du kích thò tay vào túi áo lấy mẫu lương khô ném tung về phía tôi. May mà tôi chụp nắm kịp, nếu không thì khẩu phần ăn trong ngày bị rơi xuống vũng bùn đọng gần khạp nước. Tôi cắn từng miếng nhỏ, nhai mà không nghe thấy mùi vị gì nữa.

Chờ tôi ăn xong, người du kích dẫn tôi ra trước, kêu tôi đứng đợi, còn anh ta thì vào căn phòng phía bên trái, tôi có đủ thời gian để quan sát: hình như đây là một công sở địa phương. Tấm bảng trên nóc đã được sơn lại màu đỏ chót và vẽ dòng chữ Ban quân quản Thạnh Lộc, nét chữ yếu ớt vội vã. Các dãy nhà dân dọc hai bên đường cửa hé mở ngập ngừng. Người qua lại thưa thớt. Chỉ có sự ồn ồn ào từ những chiếc loa sắt treo đâu đó trên cao, nhưng giờ này cũng im bặt.

Đợi một lúc, anh ta trở ra, trên tay cầm mẫu giấy gấp làm tư, vẫy vẫy “đi”. Họ không trói tôi như mấy lần di chuyển trước, hai tay được tự do vung vẩy nên cũng dễ chịu đôi chút. Chúng tôi vòng vèo qua khu nhà dân, các hiệu buôn bán nhỏ đến con lạch có chiếc cầu khỉ. Khi đôi chân chạm lên thân dừa bắc ngang tôi mới biết mỗi một chân mang một loại dép quai nhựa khác nhau, như một nỗi sợ hãi, lúng túng đeo bám bên người.

Đi khoảng mươi phút, chúng tôi đến một bến đò, ở đó đã vài người đứng chờ sẵn: hai người phụ nữ, ba người đàn ông. Tới nơi, tôi nhận ra một trong ba người đàn ông kia là trưởng ty hành chánh ở tỉnh K. Tôi biết anh ta khi còn sinh hoạt trong nhóm du ca thời sinh viên. Anh ta dân miền Trung, hay cãi, cố gắng tận dụng mọi lý lẽ để cãi cho bằng được những vấn đề vô lý nhất. Giờ tôi chắc mẩm những người này đang cùng chung số phận với tôi. Tôi gật đầu chào anh ta. Anh ta chào lại tôi bằng cái nhếch môi nửa như cười nửa mếu, thật khôi hài.

Chúng tôi xuống khoang thuyền nhỏ có gắn đuôi tôm, chạy xuôi dòng, men theo một con sông rộng, hai bên là dừa nước và những cây bần de nhánh tận ra ngoài. Nếu bình thường thì đây có thể gọi là cuộc dã ngoại thú vị. Nắng hiu nhẹ. Gió từ mặt sông đưa hơi nước lên, mát. Tôi ngồi sát bên người phụ nữ, da ngăm đen nhưng rất có duyên nhìn từ đôi mắt, chiếc mũi thẳng và chiếc cằm chẻ, môi trái tim. Hai người du kích ôm súng, một đằng mũi, một sau lái và tiếng máy nổ xì xạch, không khó để tôi bắt chuyện:

-Tôi tên Sơn, giáo sư trung học, dạy ở T. Còn chị?

-Ty nội an. Hoa, Diệu Hoa.

-Chị biết anh bạn ngồi sau lưng bên Ty Hành chánh?

-Tôi học sau ảnh hai khoá.

-Chị mới ra trường năm trước?

-Vâng.

-Chúng tới nhà bắt chị?

-Tôi tới trình diện ở Ban Quân quản theo lệnh phát trên loa chiếc xe jeep chạy vòng vòng quanh phố. Họ giữ tôi hai ngày rồi giờ thì bị đưa đi cùng với các anh. Anh Hoà cũng bị bắt cùng một lúc.

Hoà từ phía sau lưng Diệu Hoa chồm tới:

-Cậu nhớ thằng Vinh không? Vinh ở Luật bị động viên khoá 2/69. Nó chết rồi.

-Sao, anh bảo sao?

-Nó rút súng bắn vào đầu khi ông Dương Văn Minh đọc đến câu cuối cùng lệnh đầu hàng. Câu nói nó để lại cho mọi người đứng gần đó là “quân đốn mạt, bán nước!”.

Cả người tôi lạnh toát như vừa ngâm trong nước đá. Thành chết, Vinh chết. Cả hai chọn lựa cái chết giống nhau, từ sự thúc bách không thể đội nỗi ô nhục trên đầu. Và cả hai, đều là bạn chúng tôi, mặc dù không thân nhau lắm.

Không khí nặng nề bỗng bao trùm khắp mặt sông. Âm thanh xành xạch phát ra từ chiếc máy đuôi tôm nghe như những tràng đạn dài đang lia vào đầu chúng tôi, những tên phản động, ngoan cố? Tôi tưởng tượng cảnh Vinh rút súng ra, bóp cò một cách thản nhiên. Anh ngã xuống bên vũng máu. Hình ảnh đó của Thành của Vinh trong thoáng chốc là danh dự, tổ quốc theo đúng nghĩa, nhưng có cần thiết phải như vậy trong hoàn cảnh này hay không? Chọn lựa cái chết như vậy sẽ giải quyết được gì? Một sự phản kháng tiêu cực khi những bất trắc vẫn đang lù lù ở trước mặt hay đó là hành động chứng minh cho tính chất anh hùng của mình? Mà anh hùng nỗi gì với cách chết như vậy? Những ý nghĩ lộn xộn nhảy múa trong đầu khiến tôi tưởng tượng ra cái chết của Vinh bi thảm và đau đớn không cùng hay là thanh thản nhanh chóng như Thành? Những cái chết cuối cùng hay sẽ còn tiếp diễn nữa, thật phi lý của hàng triệu con người trong cuộc tranh giành quyền lực man rợ này.

***

Tôi không ngờ mình lại được tiếp đãi khá tử tế kể từ sau ngày bị hai du kích đến bắt. Sau khi tra hỏi lý lịch lần cuối cùng ở Ban quân quản tỉnh L. họ đưa tôi đến Ty Giáo dục làm công việc ghi chép, đánh máy văn thư. Chúng tôi ở tạm thời trong thư viện Ty. Trong phòng còn có ba người khác là dân miền Bắc đi B. Trước họ cũng là giáo viên, bị động viên tập thể đưa vào Nam chuẩn bị cho ngày này. Tất cả đều còn trẻ, học xong lớp 10 thêm hai năm sư phạm thành thầy giáo? Nghe họ kể, tôi hơi ngạc nhiên đôi chút về cách đào tạo ở miền Bắc, trái với những gì tôi đọc trước đó trong quyển Mười năm xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc của linh mục Trương Bá Cần. Qua những kiến thức và cách nói năng rào trước đón sau, tôi phần nào có thể đoán ra cái xã hội mà ông Cần mô tả chỉ là vịt. Trước mắt tôi là những minh chứng trái ngược hẳn với những lời tụng ca, những câu tuyên truyền dối trá về một thiên đường, trong đó người dân sống hạnh phúc, no ấm khi, những lúc rỗi rảnh, họ nhờ tôi tìm mua cho cái đài na-ti-ôn-nan; buổi sáng dẫn họ ra phố uống cà phê lại kêu ly cà-phê-đá-chanh? Họ bảo ở miền Bắc đá sản xuất đầy, dùng không hết mang ra sân kho phơi để xuất khẩu sang các nước XHCN. Nhưng sau đó, họ lại tỏ ra ngạc nhiên với những tô hủ tíu Nam Vang, họ ngơ ngác trước những sạp vải bắt đầu hé cửa mở và những chiếc xe máy chạy trong đường phố…tất cả đều thật mới lạ đối với họ.

Điều làm tôi đau lòng nhất là buổi sáng nọ, khi còn đang nằm trong mùng, anh giáo viên có tên Khoa gọi dậy:

-Nào dậy đi đồng chí, dậy uống chè Bắc.

Tôi lồm cồm bò dậy cùng với tiếng rít xòng xọc vang trong nõ tre. Cả ba đang ngồi trên sàn, vây quanh ấm nước bốc khói và bình trà, khói thuốc lào mù mịt. Vệ sinh xong, tôi bước vào, điều kinh khủng nhất thiếu chút nữa tôi văng ra tiếng chửi thề, là bộ Encyclopédie chẳng những bị lôi ra làm đòn kê đít mà một quyển khác bị xé ra gần hết để thay củi nấu nước! Tôi choáng váng, tối sầm mặt mũi. Cả đời mơ ước chưa mua nổi bộ bách khoa toàn thư này. Vậy mà những người làm công tác giáo dục của chế độ ưu việt kia lại xé rời từng trang nhóm lửa! Tôi lảo đảo ngồi xuống, lòng thắt lại:

-Các anh không biết bộ Bách khoa toàn thư nó quý đến chừng nào sao? Tôi không nói đến giá trị là cả một đống tiền mà là cả một kho tàng tri thức, sao các anh lại nỡ đem đốt nó đi?

Tiếng nõ rít lên liên tục trong khi tôi nói, nên có vẻ như ba người không thể nghe rõ ràng, một trong số họ hỏi lại?

-Cái gì? Đồng chí vừa nói đốt cái gì?

Tôi lặp lại câu than thở khi nãy. Họ cười khẩy:

-Những thứ rác rưởi, đồi truỵ chỉ đáng ném vào sọt rác!

-Không thể như thế được. Ngay cả Tư bản luận của Karl Marx trong này chúng tôi vẫn đọc, đọc công khai, được mang ra dạy trong các giảng khoá ở Đại học Văn khoa kia mà. Chúng tôi cũng được phép vào thư viện Quốc gia đọc các tạp chí ngoài Bắc để làm luận văn tốt nghiệp kia mà. Kho tàng văn hoá, tri thức là của chung của nhân loại, chớ không riêng một cá nhân hay một quốc gia, chế độ nào.

-Những thứ sản xuất từ các nước đế quốc đều là rác rưởi, cặn bã trong thế giới tiến bộ. Nó là rào cản, cần phải đánh đổ, phải xoá sạch.

-Các anh không thể suy nghĩ và hành động một chiều như vậy. Văn minh và văn hoá của nhân loại là tài sản chung.

-Đầu óc đồng chí không tiến bộ được. Cuộc cách mạng hoàn toàn thắng lợi mang lại độc lập, tự do và chủ quyền cho cả đất nước và dân tộc này, đã đổ ra không biết bao nhiêu xương máu, thì tiếc gì những thứ văn hoá độc hại kia?

Tôi thầm nghĩ có tranh luận gì thêm chắc chắn không mở được những cái đầu đã bị nhồi nhét mớ lý thuyết càn bậy nên tôi ngồi im, lòng đau thắt.

Ngồi im và buồn và thất vọng. Ngọn lửa bên trong kia bập bùng, quằn quại hút lấy tôi. Những tiếng cười nói vô cảm như tiếng tru của bầy sói trong cánh rừng hoang cuốn lấy, làm tôi đến khựng lại, ngộp thở. Bầy sói đồng thanh cất lên gào rống, tru tréo một bài hát gì đó, nhảy nhót quanh đống lửa. Những con sói hình người như bầy quỷ nhỏ khạc ra như âm thanh rin rít ghê rợn. Chúng vừa hát vừa thay phiên nhau ném những quyển sách vào lưỡi lửa phều phào run rẩy. Những trang sách toè ra màu máu, chới với bay vào chốn tro bụi.

 

Nhưng nếu sự việc chỉ dừng lại ở đây không thôi thì nỗi buồn và thất vọng cũng sẽ phôi phai đi ít nhiều. Đằng này, ngày hôm sau, sau khi đánh máy xong mớ công văn, chỉ thị gửi đi các huyện thì có hai người từ bên Ban quân quản tới áp giải tôi sang căn phòng bên toà hành chánh cũ, nơi mà bàn làm việc, bếp đun nước, chiếc giường xếp lẫn mùng màn chăn gối bày ra bừa bộn. Họ chỉ tôi ngồi xuống chiếc ghế đẩu có vai tựa bằng gỗ cách người đàn ông mà họ gọi là thủ trưởng một mặt bàn và thêm sải tay.

Ông thủ trưởng đang phì phèo điếu thuốc trên đôi môi thâm đen, nổi đậm trên khuôn mặt nhợt nhạt. Ông mặc bộ bà ba màu bã trầu. Tấm khăn rằng xộc xệch từ cổ rớt thòng xuống thấp, phía dưới mặt bàn. Ông ngồi yên lặng hút thuốc, làm như không có ai trong căn phòng này, và dĩ nhiên không thèm ngẩng mặt lên nhìn tôi. Còn tôi hết quan sát ông lại đưa mắt đảo quanh căn phòng không rõ là nơi làm việc hay chỗ ngủ? Hình như phong cách từ bưng biền được tất cả cán bộ mang về đặt ngay trong những nơi trước đó rất trang nghiêm, sự trang nghiêm thường thấy nơi các công sở? Tôi cảm thấy rất khó chịu, gần như bị xúc phạm khi ông ta cứ bập phà mẫu thuốc mà không một lời với người đối diện, cho dẫu là kẻ thù. Cái cách ông ngồi chống một chân lên mặt ghế đẩu, chân kia bỏ thõng xuống sàn, cặp mắt ti hí  núp dưới hàng lông mày rậm như con sâu trên khuôn mặt khô tốp và chiếc cằm nhọn, có vẻ như ngày xưa là một tay anh chị ở các bến sông.

Tôi hết quan sát lại nghĩ ngợi lung tung, đặt ra những tình huống xấu nhất và tìm câu trả lời. Hút hết điếu thuốc, ông quăng mẫu tàn xuống sàn, với tay rót bình nước trà đưa lên miệng hớp ngụm đầy, súc òng ọc như trẻ con giỡn nước trước khi nuốt vào bụng. Ông lại nhẩn nha mồi điếu khác gắn lên môi và bất ngờ quay sang tôi:

-Anh tường thuật lại tất cả những gì trong buổi sáng hôm qua.

Ông tiếp tục hút thuốc. Khói bay đầy phòng, trong khi tôi vắn tắt thuật lại việc tranh luận với ba cán bộ chi viện. Nghe xong, ông ngẩng lên, chiếc cằm nhọn chỉa về phía tôi như sẵn sàng lật tung những dề đất khô cứng trên mặt ruộng.

-Anh không thể nhận ra đó là thứ văn hoá nô dịch, đồi truỵ sao?

-Tôi không nghĩ như các ông. Một bộ Bách khoa toàn thư thì không thể gọi là đồi truỵ phản động. Nó không chứa những lý thuyết, những lời kêu gọi để chống đối ai cả. Bộ sách dày hàng ngàn trang kia không ẩn chứa điều mà các ông gọi là đồi truỵ. Rất tiếc là các ông chưa từng đọc nó.

Ông ta nhếch đôi môi mỏng dính lên một cách khó khăn:

-Đọc? Giờ thì anh lại giở giọng tâm lý chiến với chúng tôi?  Vấn đề như vậy đã rõ. Rất rõ về tư tưởng và con người anh. Đúng là một tên tâm lý chiến phản động.  Anh đợi tôi một chút.

Ông ta xô ghế đứng lên, tiến ra phía cửa nói gì đó với hai người áp giải tôi lúc nãy, rồi quay lại, phẩy tay:

-Anh có thể đi đi. Anh sẽ bị xử trị thích đáng

Tôi đứng lên, bước ra khỏi cửa phòng mà không chào ông, mang theo lời hăm doạ nặng nề.

 

Chúng tôi đi lòng vòng trong khuôn viên toà hành chánh cũ, nay được gọi là Ban Quân quản. Trên thảm cỏ xanh rờn đầy những rác rến. Ở phía sau toà nhà, người ta nối những sợi dây dừa thật dài, mắc lên các cành cây và treo la liệt đủ loại quần áo, khăn tắm cả coóc xê và xì líp phụ nữ. Một vài ba chỗ, họ còn chất những hòn gạch lên cao thành ông táo để nấu nướng, khói mịt mù một góc. Những cành cây khô vất vung vãi, vỏ bao thuốc, hộp giấy, các thứ chất thải la liệt nom như sân sau một khu chợ. Chỗ cửa ra vào toà nhà phía bắc, một phụ nữ đang ngồi chổng mông phù phù thổi bếp lửa chỉ có khói. Khuôn mặt đỏ lên, mồ hôi lấm tấm trên má, thái dương bết dính những sợi tóc như khóc.

Một trong hai người kêu tôi đứng đợi. Tôi lại tiếp tục quan sát cô gái, quan sát cách cô khó khăn làm cho ngọn lửa bùng lên. Biết có người  nhìn về phía mình, cô gái ngẩng lên, quát:

-Nhìn cái gì thế?

Giọng Bắc, nhọn hoắc.

-Trong rừng mà cô làm thế này, địch phát hiện ra mất!

-Anh là ai mà lên giọng với chúng tôi.

-Loại củi còn tươi, cô thổi ba ngày không cháy, mà có khô cũng không dễ gì cháy.

Cô gái đứng bật lên, chống nạnh.

-Giỏi nhỉ! – Giọng nói kéo dài, khiêu khích dội lên, vừa đúng lúc người áp giải lúc nãy thò đầu qua khung cửa, ra hiệu cho tôi theo anh ta.

Qua hết dãy hành lang dài, chúng tôi bước lên cầu thang cuốn và đứng trước cánh cửa khép hờ. Người dẫn đường gõ mấy tiếng vào cửa, rồi đứng nghiêm:

-Báo cáo thủ trưởng, em đưa người tới.

Giọng nói từ sâu bên trong vọng ra:

-Vào.

Anh ta đứng tránh qua bên nhường đường cho tôi. Căn phòng khá rộng. Toàn bộ đồ đạc vẫn nguyên vẹn. Những chiếc tủ đánh véc ni bóng loáng, bên trong là những cuốn sách xếp ngay ngắn. Trên tường có treo hai bức tranh vẽ thiếu nữ  và cá của hoạ sĩ Nguyễn Trung và bức Cánh đồng lúa mì của Van Gogh, đều là phiên bản, không bị tháo gỡ xuống. Không rõ căn phòng này trước là của thị trưởng hay phó thị trưởng hành chánh. Còn giờ thì người đang ngồi trước chiếc bàn rộng kia hẳn phải là người chỉ huy cao nhất của tỉnh này. Ông ta đang cúi đọc xấp tài liệu dày, tôi không nhìn rõ mặt. Tới khi nghe tiếng dép trên mặt nền, ông ta ngẩng đầu lên. Tôi sửng sốt và không thể tin vào mắt của mình. Sao lại có thể như thế được kia chứ?

Bốn năm trước Hào học Văn Khoa, ở trọ chung nhà, là một trong những thủ lĩnh đấu tranh của SVHS. Cuối năm 73 Hào đã biến mất trước khi cảnh sát đến lục tung căn gác và chỉ thu được những đồ đạc, sách vở của hắn. Tôi và Ngạc đã bị gọi lên xuống không dưới mười lần để thẩm vấn, khai về mối quan hệ cùng những hành tung của Hào. Thật ra, sống cùng nhau, thỉnh thoảng chúng tôi cũng tham gia những cuộc hội thảo, xuống đường với Hào, nhưng chỉ lán mán hắn là con người khuynh tả chứ không ngờ hắn là người của bên kia gài lại, hoạt động trong các tổ chức SVHS. Giờ thì hắn ngồi đó. Không biết thái độ của hắn khi đối mặt với bạn bè cũ thế nào, chứ trước là con người ít nói, đọc nhiều sách, coi ông Nguyễn Văn Trung với giảng khoá triết học Karl Marx là thần tượng.

Lúc ném cây bút chì xuống tập giấy, Hào ngửng lên:

-Trời, cậu! sao lại ra nông nỗi này?

Tôi ngồi xuống ghế, không đợi Hào mời:

-Cũng chẳng biết nữa – Tôi nói.

-Trong lúc sáng tối này, tốt nhất là không nên tranh biện. Không phải cán bộ nào từ khu về cũng có trình độ học vấn như cậu tưởng. Những điều cậu vấp phải với cán bộ cơ sở làm họ khó chịu vì sự thua kém biện luận, nhưng họ không chịu thua cậu về khoản chuyên chính. Tôi đã đọc đầy đủ bản báo cáo về cậu từ các nơi gửi về, nhất là chuyện tầm phào với các cán bộ bên Ty Giáo dục.

-Nhưng bộ Bách khoa toàn thư kia thì tội tình gì, phản động, đồi truỵ ở chỗ nào?

-Cậu luôn thẳng thắn một cách trẻ con như hồi còn đi học. Bao nhiêu năm ra ngoài đời cậu vẫn chưa thể sáng mắt ra được tí nào sao?

-Nghĩa là tôi phải nói dối, phải cong người, phải…

Hào phẩy tay:

-Nói sao cho cậu hiểu bây giờ. Bỏ chuyện đó qua một bên. Ở bên Ty họ giao cậu làm những gì?

-Quan tâm tới bạn bè quá nhỉ?

-Đừng tự ái.

-Đánh máy công văn, chỉ thị và những việc vặt khác, chưa đi đổ bô cho các thủ trưởng.

-Chớ có khiêu khích, chẳng ích lợi gì cả. Mọi chuyện buổi đầu đều bị rối tung lên. Những cuộc cách mạng ở bất kỳ quốc gia nào, buổi đầu vẫn thế, nhưng rồi đâu sẽ vào đó một thời gian ngắn nữa.

-Tức cậu ám chỉ tình trạng vô chính phủ hiện giờ?

-Mới tiếp quản từ tay kẻ địch, bất kỳ đất nước nào cùng rơi vào tình cảnh tương tự.

-Hay quá nhỉ? Vì vậy cho nên bao nhiêu sách quí đều bị xé đốt vì là phản…

-Cậu chớ cay cú những chuyện vừa chứng kiến. Cách mạng có lúc phải biết hy sinh. Giờ thì cậu hãy dẹp qua bên mọi chuyện và uống tách trà nóng cho tỉnh người rồi ta nói chuyện.

Hào nói và tự tay rót tách trà đẩy lên mặt bàn hướng về phía tôi. Tôi cầm lấy và không nghĩ Hào coi tôi như kẻ thù. Có thể không đồng quan điểm, nhưng ít nhất, cái còn lại là tình bạn hữu sống cạnh nhau hàng mấy năm trời. Tuy vậy tôi cũng không buồn hỏi hắn hiện tại đang giữ chức vụ gì, hay nhân cơ hội lấy lòng và xin hắn “giải phóng” cho tôi ra khỏi nơi quỉ ám này. Lòng tự trọng không cho phép tôi mở miệng làm những chuyện điên rồ kia.

Tôi uống từng ngụm nhỏ. Trà ngon. Phải nói là rất ngon. Xưa Hào không bao giờ uống trà hay cà phê. Nhưng sau thời gian biến mất, giờ trước mặt hắn là bình trà, ly tách tinh tươm, gian phòng rộng, sạch sẽ, xem ra hắn là nhân vật quan trọng ở xứ này.

-Bây giờ hãy kể lại tại sao cậu bị đưa tới đây?

Tôi vắn tắt về chuyện hai người du kích trong đó có một là học trò cũ đêm tới nhà kêu “các ông đã bị bắt” và họ đưa đi ít nhất vài ba nơi. Nơi nào cũng cùng một giọng điệu rằng, chúng tôi là những tên phản động, được giao nhiệm vụ kềm kẹp…

Hào chống tay lên cằm chăm chú nghe tôi kể, ra chiều suy nghĩ. Hắn ngồi yên một lúc trong tư thế tay chống cằm rồi mới hất mặt lên.

-Cậu cũng biết ở cơ sở có nhiều sự rối rắm. Họ thi hành lệnh như cái máy. Có nhiều chuyện đáng ra họ có thể tự giải quyết thì tống tất cả lên trên, rồi lại với sâu vào những vụ việc không phải dành cho họ giải quyết. Chúng tôi đã quán triệt cho các địa phương về vấn đề công chức chế độ cũ, đặc biệt là ngành giáo dục – hắn thở dài – vậy mà cuối cùng lại làm sai lệch đi.

-Có nghĩa là bản thân những người như tôi không có tội tình gì?

-Cơ bản là vậy. Nhưng cũng tùy theo từng trường hợp cụ thể.

-Tôi hiểu. Tôi nằm trong từng trường hợp cụ thể mà cậu nói?

– Sau khi tìm thấy hồ sơ lưu trử đầy đủ mới có thể nói chính xác.

Tôi phân vân về câu nói nửa úp nửa mở của hắn. Hồ sơ lưu trử ở đâu nhỉ? Mà ai lưu trử? Bên chính phủ Sài Gòn hay là của bọn họ thiết lập, căn cứ trên những chứng cứ cụ thể trong quá trình đào tạo và thi hành công vụ cho từng công chức? Rõ ràng rằng hắn  cũng không mấy tin vào sự thành thật của người bạn đã từng trọ học nhiều năm liền với hắn. Có một ranh giới thật rõ ràng, không nhầm lẫn.

Tôi nói:

-Vâng, tôi hiểu. Sự nghiệp cách mạng của các cậu thật vĩ đại (lúc đầu tôi định nói là ma mãnh, nhưng kịp sửa để sau đó chính tai tôi nghe câu nói của chính mình lảng xẹt, đến độ không thể ngờ nó lại thốt ra từ miệng của anh thầy giáo là tôi).

-Dường như cậu mắc phải căn bệnh mãn tính “mỉa mai”. Những ngày ở Sài Gòn cậu cũng thốt ra với những lời lẽ như vậy về chế độ Mỹ-Thiệu. Nay cách mạng mới thành công, cơ sở mới chạm vào một chút tự ái, các cậu cũng lại giở những giọng điệu khi xưa. Đúng là thứ vô chính phủ – hắn giận dữ dằn mạnh mấy chữ cuối câu – đó là căn bệnh muôn đời của trí thức tiểu tư sản. Bệnh hoài nghi luôn bám đuôi các cậu.

-Hoài nghi? – tôi nhắc lại – Hoài nghi là một tiến trình vận động tích cực thúc đẩy xã hội tiến lên phía trước. Chủ nghĩa của các cậu ấp ủ không đề ra như thế là gì?

-Giờ ta không tranh luận với nhau về phương pháp luận. Tạm thời cậu cứ về bên Ty. Chúng tôi sẽ bàn cụ thể về trường hợp cậu.

-Cải tạo, khổ sai –Tôi cáu lên.

-Rất có thể, nếu cái đầu cậu cứ ngang bướng như thế kia. Với tôi thì không vấn đề gì. Nhưng với người khác cậu nên giữ mồm giữ miệng. Với tôi, cậu là bạn nhưng tôi sẽ không chịu nổi những hành động bậy bạ và những lời nói năng gây sốc cho kẻ khác. Nó đồng nghĩa với sự phỉ báng, với hành động chống phá. Lúc đó tôi và cậu vẫn là bạn, nhưng sự nể vì thì không.

Hắn đứng lên, chìa tay ra cho tôi. Một cái bắt tay sau chừng ấy năm có vẻ gì như gượng gạo, như chiếc ốc vít đã nới lỏng ra khỏi chiếc xe đạp đã sử dụng nhiều năm.

Nguyễn Lệ Uyên

(trích từ tự truyện Sau Chiến Tranh)

 

 

NHỮNG NĂM THÁNG Ở CẦN THƠ ( hồi ức)

 

 

 

 

Sau biến cố Mậu Thân, tôi tự hiểu, rằng không thể nhởn nhơ mãi ở Văn Khoa như những anh chàng lãng du giữa mộng và thực; bởi rất có thể đến một ngày nào đó quân trường sẽ điểm tên như một số bạn bè tôi trước đó. Điều mà má tôi sẽ buồn không ít, bởi bà mẹ nào cũng sợ súng đạn, chết chóc. Và vì vậy tôi quyết định nộp đơn thi vào ĐHSP như một cách “trốn chạy” tốt nhất. Trước khi ra bến xe Pétrus Ký, tôi ghé 38 Phạm Ngũ Lão gửi cho Văn bản thảo truyện ngắn Đong Đưa Kỷ Niệm (sau đăng trên Văn số 114 ngày 15.9.1968). Ông Trần Phong Giao nói tình hình hiện nay bất ổn lắm, cậu liệu mà chọn đường đi. Tôi nói ý định của mình. Ông nói, vậy thì tốt, nếu đậu có thể hoãn dịch. Tôi chào ông, ra bến xe.

Lần đầu tiên về miền Tây, tôi thấy cái gì cũng lạ dọc theo QL4: Đồng ruộng mênh mông. Vườn trái cây xanh um. Sông rạch chằng chịt. Những chiếc phà xuôi ngược bên dòng sông Tiền, sông Hậu. Những giỏ trái cây mơn mởn hai đầu bắc Vĩnh Long, Cần Thơ… Những chiếc xe lôi đạp lạ mắt. Thành phố Cần Thơ êm đềm. Bến Ninh Kiều như một cô gái quê đằm thắm…

Lần đầu đặt chân đến vùng sông nước miền Tây, không có ai thân quen, đành tìm một khách sạn tuyềnh toàng, ăn cơm dĩa chờ ngày thi. Trong thời gian này tôi bắt xe lôi đi quanh quẩn một vài nơi. Chỗ nào cũng thấy các sắc lính lẫn vào đám “civil”. Chán, về nằm ì trong phòng, mở toang ô cửa nhỏ nhìn ra bến Ninh Kiều, nhìn ghe thuyền tấp nập. Sáng và chiều nghe tiếng đọc kinh của tín đồ Hoà Hảo bên kia sông, gieo vào lòng một cảm giác lạ.

Mấy ngày sau, tôi vào trường thi ở trung học Phan Thanh Giản. Sĩ tử tứ xứ. Tôi không hề biết ai là ai, lầm lũi ngồi vào bàn, ghi số báo danh lên giấy, chép đề. Mãi tận tới nay, tôi vẫn nhớ rõ đề thi của khoa SP ban Việt-Hán: “Anh chị hãy bàn về sự thật của nghệ thuật giữa Mai và Lộc ở đoạn cuối tác phẩm Nửa Chừng Xuân của Khái Hưng”. Tôi không nhớ mình đã viết những gì, nhưng chắc chắn những điều tôi “phịa” ra, được dẫn từ cấu trúc tiểu thuyết mới của Pháp rồi những A. R. Grillet, Camus, Clévi-Strauss … các trào lưu văn học phương tây, nhất là trường phái lãng mạn, ít nhiều ảnh hưởng đến nhóm TLVĐ cùng những nhận xét của cụ Vũ Ngọc Phan trong tập Nhà Văn Hiện Đại… choáng đầy 12 trang giấy thi trong 3 tiếng cắm cúi viết.

Chỉ có duy nhất một đề cho ban Việt-Hán! Tôi nộp quyển và không có khái niệm rõ ràng về lòng tự tin, nhẹ nhàng bước lên xe đò trở về SG, cũng như lúc ngồi xe xuống Cần Thơ, bỏ lại sau lưng những đường phố ngập bụi, bữa cơm dĩa, phòng ngủ ám mốc…

Nửa tháng sau, tôi nhận được điện tín báo đậu hạng thứ 3. Người mừng trước tiên là má tôi, mừng đến chảy nước mắt, sau đó là cha và hai em gái. Còn sự mừng của tôi là rút sâu vào đáy lòng, nhưng, trước hết tôi có thể yên ổn ba, bốn năm. Số đỏ!

Trước khi xuống Cần Thơ nhập học, tôi ghé lại 38 Phạm Ngũ Lão vừa báo tin vừa chào ông thư ký toà soạn. Ông vui ra mặt, hỏi tôi có quen ai dưới đó không? Tôi đáp không. Ông mở hộc bàn, lôi quyển sổ con hí hoáy viết cho tôi mấy địa chỉ, cả anh Viên Linh cũng cho tôi địa chỉ chị Phong Lan ở 105 Phan Đình Phùng. Tới nơi, đầu tiên tôi tìm đến nhà Lê Trúc Khanh trong con hẻm cuối đường Phan Thanh Giản. Từ đó gặp thêm Nguyễn Hoài Vọng rồi Phù Sa Lộc, Bùi Hữu Trạng… Tôi nhờ họ tìm giúp nhà trọ lâu dài. Và thật may mắn, trên căn gác gỗ số 2 cùng đường, còn bên dưới là quán cơm bình dân cho sinh viên, quân nhân, công chức… là chốn nương thân đầu tiên. Tiện lợi đủ bề.

Mọi thủ tục nhập học đều suôn sẻ, mặc dù trước đó, tôi phải ra sức “năn nỉ” cô Ngọc người phụ trách thu nhận hồ hồ sơ cho các tân sinh viên SP, bởi tôi trễ hạn đến 2 ngày. May mà nhờ có chị Yến ở Viện nói giúp, sau khi tôi lên tận phòng Khoa Trưởng ĐHSP Nguyễn Văn Vàng trình bày “sự cố”.

Chương trình năm thứ Nhất không có gì khó khăn. Có lẽ vì thế mà “máu văn nghệ” liền nổi dậy. Anh em viết văn làm thơ ở Cần Thơ thì đông đảo, nhưng một tờ báo văn nghệ kiểu các tỉnh Trung phần thì vắng bóng. Duy nhất chỉ có tờ nhật báo Tây Đô chuyên về thời sự, chính trị, xã hội… Tôi bàn với Bùi Hữu Trạng, Nguyễn Hoài Vọng và Trịnh Ngọc Thảo thực hiện chương trình Văn học Nghệ thuật trên đài Phát thanh Cần Thơ, theo cách tôi và Hoàng Đình Huy Quan đã làm ở Tuy Hoà những năm 1965-1966. Ý tưởng của tôi được anh em tán thành và ông Trưởng đài cũng dành sự dễ dãi, ưu ái. Thời lượng phát mỗi tuần một tiếng vào tối thứ Tư và tất cả đều do chúng tôi chịu trách nhiệm nội dung kể cả phát thanh viên, ca sĩ, người ngâm thơ…. Số đầu tiên có một bài “đinh” khá dao to búa lớn: Văn học Nghệ thuật và Tuổi trẻ trước thời cuộc. Nội dung chủ yếu là vai trò của VHNT phải đứng về về phía cái mới, trên căn bản nhiệt huyết tuổi trẻ, có trách nhiệm trước sự tồn vong của dân tộc, trước cuộc chiến.v.v. và .v.v. Cũng trong số đầu tiên này, chương trình cho ngâm những bài thơ của Quang Dũng, Hoàng Cầm, một số các nhà thơ trẻ cùng các ca khúc của Phạm Duy, Trịnh Công Sơn, Nguyễn Đức Quang. Đến số thứ 3, chúng tôi nhận được khá nhiều thư của thính giả: Góp ý có, khen có, chê có và rất nhiều bài vở cộng tác. Cả nhóm vừa phải học ở trường, vừa chọn lọc thư từ bài vở đưa vào chương trình, trả lời thư… Soạn chương trình thì dễ, nhưng thực hiện nó thì khó trăm bề (bởi chúng tôi là những tên “vác ngà voi hàng tổng” làm việc không công, nghĩa là không có một đồng công xá nào!): Ngày thu thì phát thanh viên bận thi, có người ngâm thơ thì không có anh thổi sáo, có người hát thì mất anh đệm đàn! Dẫu vậy, các bạn trong nhóm, nhất là Cỏ May, Thu Kiết, sau thêm chị Ngọc Mai đã rất nhiệt tình để chương trình không bị gián đoạn. Rồi Thái Khi, Nguyễn Thành Nghiệp cũng lao vào cuộc. Nhưng càng về sau thì chương trình xộc xệch hẳn đi. Xộc xệch bởi ai cũng phải lo “đèn sách”… Đến cuối năm 1968 thì tan đàn rã gánh! Mấy tháng sau, nhóm Về Nguồn của Lê Trúc Khanh “kế tục” chương trình này trên sóng đài Cần Thơ theo cách riêng của họ.

Cũng chính nhờ chương trình này, mà tôi được gặp lại những người bạn cùng xứ đang đóng quân ở Cần Thơ: Lê Đình Du, pháo binh đóng ở phi trường Trà Nóc, Lê Văn Hiệp, Không đoàn 4, Nguyễn Văn Phong, BĐQ, Lê Trọng Luật, SĐ 21… Nhưng hơn hết là được gặp gỡ các bạn văn mà trước đây chỉ “văn kỳ thinh bất kiến kỳ hình” là Hạc Thành Hoa, Hà Nghiêu Bích bên Sa Đéc, Yên Uyên Sa ở Long Xuyên, Lộc Vũ Cần Thơ, Nguyễn Bạch Dương Vĩnh Long… để bàn những chuyện “long trời lở đất” về văn chương, về một tờ báo cho những người viết trẻ…

Chấm dứt chương trình trên sóng đài Cần Thơ, Bùi Hữu Trạng, Thái Khi và tôi bàn ra một đặc san tết. Tôi chạy bài vở, Trạng và Thái Khi lo giấy má, quảng cáo và in ấn. Tôi liền viết thư đến các bạn văn xin bài, và được đáp ứng nhiệt tình kèm theo những lời khuyến khích. Tên tờ đặc san số xuân Kỷ Dậu 1969 tới giờ này không thể nhớ tên. Hỏi Bùi Hữu Trạng cũng không nhớ, nhưng bài vở thì phong phú: Võ Hồng, HĐHQ, Kinh Dương Vương, Trần Hoài Thư, Trương Cương Thanh, hạc Thành Hoa, Nguyễn Bạch Dương… và anh em trong nhóm rồi giao cho BHT, Thái Khi mang đi in ấn. Khi hai anh mang báo về, tôi vô cùng ngạc nhiên, bởi báo in trên giấy trắng láng, sang trọng, đến nỗi khi mang biếu, ông Trần Phong Giao hỏi: Các cậu tìm đâu ra giấy đẹp vậy? Tôi không biết giấy đâu ra. Ăn tết xong, hỏi lại Trạng, anh nói xin bên Usaid , tiền in thì do quảng cáo và mang in tận Vĩnh Long. Tôi nghe và chỉ biết vậy. Coi như nhóm chúng tôi đã làm được điều mình ôm ấp. Tiếc là chỉ ra được một số duy nhất!

Đầu mùa xuân 1969, Tôi có thêm nhiều bạn mới, anh Trương Cương Thanh, Nguyễn Văn Minh, Trần Văn Liêm bên Luật, Nguyễn Thành Nghiệp bên Nông Lâm… Và bàn với nhau cùng thực hiện chươg trình ca nhạc Những Tối Thứ Bảy ở giảng đường Viện ĐH Cần Thơ. Đơn xin phép viết lằng ngoằng năm ba chữ gửi lên Viện Trưởng Phạm Hoàng Hộ và được duyệt ký ngay. Có lẽ ông Viện trưởng nghĩ đây là sinh hoạt văn nghệ bổ ích cho SVHS Tây Đô. Cầm được giấy phép trong tay, mừng thì ít mà lo thì nhiều. Lo là tìm đâu ra người đàn, người hát? Rồi âm thanh, ánh sáng, phông màn? Ngồi bên quán cà phê bên hông Viện ĐH, tôi hỏi Trương Cương Thanh: Tính sao đây? Tao vẽ áp phích quảng cáo, Thanh nói. Còn micro, loa, tăng âm, dây nhợ? Tôi hỏi. Minh lo. Minh nó giỏi chuyện này. Phần mày lo các anh em ca hát và mấy tay đàn trống. Tôi lục lại trong đầu: Cỏ May, Lâm Hồng Phước, Nguyễn Thành Nghiệp và Lê Văn Hiệp. Cỏ May thì đang năm Đệ Nhị Đoàn Thị Điểm, Phước học cùng ban Việt-Hán với tôi, Nghiệp và Hiệp một Nông Nghiệp, một Luật… có thể coi như bộ xương sườn làm nòng cốt cho chương trình. Còn lại thì những người trong cuộc sẽ “phát hiện” thêm.

Chúng tôi lại bắt tay vào việc “ăn cơm nhà…vác ngà voi” lần thứ hai. Tự bỏ tiền túi ra để làm tất cả.

Trương Cương Thanh vẽ áp phích: Chương trình Thơ Nhạc Những Tối Thứ Bảy, bên dưới vẽ chân dung cô gái mỹ miều, dưới cùng là: Do nhóm SV ĐHCT thực hiện, mang treo lên ngay mặt tiền của Viện và các khoa ở Cái Răng, giảng đường lớn ở khu ĐH mới. Nhìn chân dung cô gái trong áp phích, tôi buộc miệng: Giống Nga người yêu của mày quá đỗi. Thanh cười thú nhận!

Tôi không nhớ là chương trình này kéo dài trong bao lâu, nửa năm hay một năm hay hơn thế? Chỉ nhớ phong cách sống hết mình của các “nghệ sĩ sinh viên”. Họ hát và đọc thơ với cả tấm lòng, với bầu nhiệt huyết của tuổi trẻ: Giai điệu ngọt ngào của Cỏ May với ca khúc Ngọc Lan của Dương Thiệu Tước: “Ngọc lan dòng suối tơ vương mắt thu hồ dịu ánh vàng. Ngọc lan nhành liễu nghiêng nghiêng từ mấy cánh phong nắng thơm ngoài song…” , Nguyễn Thành Nghiệp say sưa với Bên Cầu Biên Giới của Phạm Duy, Lê Văn Hiệp với những bản tình ca của Từ Công Phụng, Hồng Phước sâu lắng với dòng nhạc trử tình của Đoàn Chuẩn Từ Linh… Những giọng ngâm, đọc thơ hào sảng của các bạn bên Đoàn Thị Điểm, Phan Thanh Giản và bên Khoa Học, Luật, Văn Khoa, Sư Phạm… Sân khấu duy nhất chỉ có tấm áp phích bằng giấy bồi ghép nhiều mảnh phía sau để thay thế cho tấm phông; đôi lúc “hết tiền” thì Thanh dùng phấn vẽ lên bảng đen khổ rộng.

Khán thính giả hầu hết là anh chị em SVHS, các công chức, quân nhân quanh thành phố Cần Thơ. Họ đến giảng đường rất đông, chật kín; có khi phải bám lên các bậu cửa sổ để lắng nghe; trong số đó có cả các giáo sư các trường trung học và đại học ở Cần Thơ.

Trong chương trình này, chúng tôi đã mời nhà thơ, nhạc sĩ Vũ Đức Sao Biển và các bạn (ĐHSP Sài Gòn) về Cần Thơ tổ chức đêm trình bày những ca khúc mới nhất của anh. Duy nhất một chiếc guitar gỗ, anh và bạn gái (quên tên) hát say sưa những tình khúc khói sương, phiêu du: Thu hát cho người, Thu Sài Gòn, Chiều trên đồi, Chiều Mơ… đã được khán thính giả Cần Thơ dành cho những tình cảm đặc biệt với anh chàng sinh viên nhạc sĩ. Đêm nhạc VĐSB có số lượng người đến nghe đông nhất kể từ khi chương trình này bắt đầu thực hiện.

Người luôn khuyến khích về mặt tinh thần cho chương trình không ai khác hơn là chị Nguyễn Ngọc Yến, nhân viên của Viện, sau này là “phu nhân” của nhà văn Trần Hoài Thư. Không một tối thứ Bảy nào là không có mặt chị. Những buổi khán giả đông đảo chị mừng với nỗi mừng vui của nhóm, khi vắng người chị lại chia sẻ. Chị hầu như là người chứng kiến trọn vẹn cho đến chương trình cuối cùng.

 

 

Do ảnh hưởng những việc chúng tôi thực hiện được trong những năm ở giảng đường Cần Thơ, Trần Văn Liêm “xúi” tôi đứng chung liên danh với anh để tranh cử vào Tổng hội SVCT. Từ chối thế nào cũng không xong, cuối cùng tôi gật đầu gọi là kéo gai lấp trổ, nhưng trong bụng tôi lại mong cho liên danh chúng tôi thất cử để lo việc học và nhảy múa chuyện văn nghệ. Trời có mắt. Chúng tôi thất cử với số phiếu chỉ kém 3 phiếu. Sự thất bại này là nỗi vui mừng không tả bịt kín mấy ngày liên trong lòng.

Đầu năm 1970, khoảng tháng 3, phong trào SVHS cả nước xuống đường biểu tình chống Lon Nol, Sisowath Sirik Matak đã ra lệnh “cáp duồn” Việt kiều trên đất Miên. ĐH CT qua lời kêu gọi xuống đường của Tổng Hội SVCT, anh em tập trung tại khu ĐH mới, giăng biểu ngữ hô to: “Đả đảo tên sát nhân Lon Nol, Sirik Matak!”, hát vang bài Nối vòng tay lớn… Và tất nhiên, chính quyền địa phương không để yên, huy động hàng trăm Cảnh sát dã chiến, An ninh quân đội, có cả xe vòi rồng đến bao vây. Ngay cổng ra vào, vòng rào kẽm gai bung ra, hai chiếc xe vòi rồng dàn hàng ngang hai bên. Bên ngoài cảnh sát bắc loa kêu gọi giải tán, bên trong SV vừa hô đả đảo vừa hát vang. Cảnh sát thắt chặt vòng vây. Những tấm biểu ngữ phản đối bị gỡ ném xuống đất. Một vài SV giật lại nhưng liền bị hai vòi rồng phun nước tới tấp. Trần Văn Liêm và Phạm Xuân Triển chạy tới dựng tấm bảng đen lên để chặn vòi nước, bị ngã nhào. Tôi và nhiều SV khác liền chạy tới vừa đỡ Liêm vừa dựng tấm bảng xông ra định phá vòng kẽm gai để thoát ra ngoài, kéo theo đoàn biểu tình xuống đường. Nhưng khí thế “sôi sục” ấy đã bị hai vòi nước phun mạnh đến nỗi không ai đứng lên được. Liền đó là những trái lựu đạn cay bắn vào khuôn viên trường. SV dạt vào trong, lẩn vào các phòng và giảng đường. Cảnh sát cứ thế tiến tới với vòi phun và hơi cay. SV chạy tán loạn! Tôi phóng lên lầu 1 kéo theo Lê Dung, Phạm Xuân Triển và Liêm. Bùi Hữu Trạng chìm trong đám “tàn quân”. Hơi cay nồng nặc như thể kéo ra ngoài hai lá phổi và con ngươi. Dung khuỵu xuống. Tôi đưa lưng cõng Lê Dung và từ lầu 1 nhắm mắt phóng ra cửa sổ, rơi xuống mái tôn nhà dân, phóng tiếp xuống con hẻm nhỏ, thoát vòng vây cõng chạy về nhà (nằm trên đại lộ Hoà Bình, đoạn nay là công viên Lưu Hữu Phước). Mãi tới giờ này, tôi cũng không hiểu tại sao mình có sức mạnh, liều lĩnh đến vậy?

Một tiếng sau tôi quay lại, đứng bên kia đường nhìn vào. Cảnh tượng hoang tàn như vừa trải qua trận bão lớn: Xe máy, xe đạp, giày dép, mũ nón ngổn ngang, la liệt trên sân. Những biểu ngữ lăn lóc đầy bùn đất. Cuộc biểu tình coi như thất bại cùng với vòng rào kẽm gai biến mất, xe vòi rồng biến mất, chỉ còn mươi cảnh sát nón sắt, hườm súng bên ngoài cổng. Tôi bước qua cổng trường, tìm chiếc PC của Lê Dung dắt ra và đụng mặt một CSDC. Anh ta ngó tôi cười mỉm. Tôi ngước mặt: Mấy anh đi bảo vệ cho lũ giết hại đồng bào ruột thịt, rồi đi thẳng.

Trả xe cho Lê Dung, tôi về nhà trọ. Lúc này trên đường đi, tôi mới kịp nghe mùi thối trên người, cái mùi thum thủm, tanh tanh mà tôi đoán là những xe chữa lửa kia đã hút nước từ các cầu cá công cộng, rồi ngồi xuống lề đường nôn thốc tháo theo phản xạ tự nhiên.

Hình như một tuần hay mươi ngày sau, Tổng Hội SV Cần Thơ tổ chức xuống Tịnh Biên (Châu Đốc) cứu trợ Việt kiều. 6 chiếc GMC của QĐ4 chở SV và hàng cứu trợ, xuất phát trước Viện ĐH CT, số 5 đại lộ Hoà Bình. Đoàn khởi hành từ sáng sớm, đến 10 giờ mới tới nơi. Anh chị em SV chia nhau xuống hàng, một nhóm khác phân phát. Công việc diễn ra khá nhanh. Nhưng đáng chú ý nhất là tình cảnh của đồng bào vừa thoát khỏi bàn tay dã man của đám kính Lon Nol. S. Matak, vượt qua biên giới VN. Họ không mang theo được gì ngoài bản thân. Nơi họ được địa phương đón tiếp là những tấm lều bạt tạm bợ. Đứng bên này có thể nhìn thấy nhà cửa còn nghi ngút khói bên kia. Có người ngồi ôm mặt khóc thầm: Vợ con bị giết cả! Hiếm có gia đình nào còn nguyên vẹn. Nỗi sợ hãi chừng như chưa chịu buông tha họ, bởi khi hỏi han, họ chỉ trả lời tiếng một hoặc lắc đầu hoặc bằng những giọt nước mắt lăn dài!

 

Sau khi phân phát hàng cứu trợ, uỷ lạo xong, chúng tôi chuẩn bị lên xe trở về, cũng vừa lúc nhìn thấy anh Dương Nghiễm Mậu bước tới. Anh nói là tôi đi với Tiểu khu Châu Đốc về vụ cáp duồn. Việc đã xong bây giờ thì về. Và anh lên xe cùng chúng tôi trở lại Cần Thơ, bỏ ngang sự mời mọc của Tiểu khu Châu Đốc (Năm trước đó, anh là người đầu tiên leo lên gác trọ thăm tôi, hỏi han chuyện ăn ở, học hành, người thứ hai là Lê Thị Cẩm Hoa bên VTX).

Cuối năm 1970, chúng tôi ra trường, tứ tán mỗi người một phương, hiếm khi gặp lại nhau. Sau tháng 4 đen, ít nhất 3 lần trở lại Cần Thơ và cố tìm lại những người bạn một thời bên nhau, nhưng cũng y như những gì Cần Thơ hiện khoác lên tấm áo mới. Tất cả đều xa lạ, dửng dưng. Bạn bè không tìm thấy một ai. Mãi đến năm 1993, bất ngờ gặp lại Nguyễn Thành Nghiệp ở Long An. Anh ở trong khu nhà tập thể của Chi cục BVTV tỉnh. Anh làm trưởng. Vẫn phong thái ngày xưa, lôi ra chai rượu Gò Đen và cây đàn, hát tặng tặng bài Chiều Qua Tuy Hoà của Nguyễn Đức Quang. Tôi và Nghiệp uống rượu, nhắc chuyện cũ và khóc. Hai năm sau nghe tin anh mất vì ung thư. Tôi đến Tân An đứng lặng trước tấm ảnh thờ, thắp nén nhang với tâm trạng bùi ngùi mà sao nước mắt lại ráo hoảnh chỉ thấy lòng trĩu nặng ? Ở SG, tình cờ gặp lại Lê Dung, ngồi quán cóc, mới biết một vài thông tin hiếm hoi về bạn cũ: Cỏ May làm ở Viện Văn Học bộ phận phía Nam (SG) đã nghỉ việc, La Thị Xinh đã chết, Lâm Hồng Phước có chồng ở Long Xuyên… Bùi Hữu Trạng vượt biển không biết trôi dạt xứ nào? Thái Khi thì biệt vô âm tín, cả Trần Văn Liêm và Nguyễn Văn Minh, Trương Cương Thanh?

Hơn nửa thế kỷ trôi qua nhưng trong đầu tôi vẫn luôn loá sáng hình ảnh những người bạn chân tình thuở 20. Tôi giữ những hình ảnh này với cả tấm lòng, trân trọng, như trân trọng một Cỏ May thời sương khói tình đầu và những dĩa bánh cống ở bền Ninh Kiều thơm ngát mùi bùn non, rau rừng mỗi khi con nước ròng rút xuống. Đó là mùi thơm lồng lộng của đất trời và tình người không thể nào phai.

NGUYỄN LỆ UYÊN

Ảnh trong bài :

  1. CM và ca khúc Ngọc Lan của Dương Thiệu Tước
  2. Khán giả ở giảng đường nghe chương thơ nhạc NTTB
  3. Cứu trợ Việt kiều ở Tịnh Biên, Châu Đốc, 1970

BUỔI SÁNG CUỐI NĂM

 

 

nguyenleuyen                                              

Thị trấn kéo dài từ những dãy đồi thấp, thoai thoải đổ dần ra phía bờ sông. Phố xá, cửa tiệm tập trung trên hai trục đường cắt chéo hình chữ thập. Chợ và bến xe ở cuối một rạp hát bỏ trống , chỉ còn lại mấy mảng tường bị ngã đổ từng đoạn, trơ vơ quanh đám cỏ mọc xanh um. Các tiệm ăn, quán giải khát xếp thành dãy dài phía bên này đường, đối diện các công sở là những căn nhà ngói cũ kỹ, ẩm thấp. Trên đầu thị trấn ngó xuống, những nóc nhà lô nhô nép bên những hàng cây cao dọc đường lù mù trong lớp sương đục và bầu trời đen đậm. Thị trấn lúc này giống như một bức ký họa của người họa sĩ phác thảo lúc anh ta đang chếch choáng hơi men, ẩn hiện không rõ ràng.

Những ngày giáp tết, thị trấn bổng ồn ào hơn. Thấp thoáng có chút màu sắc của bông hoa, màu sắc của áo quần trẻ con và hàng hóa chất đầy trong tiệm. Một vài căn nhà được làm mới bằng những mảng vôi quét màu sặc sỡ viền ở những đường hoa văn trước mặt tiền. Trời âm u liên miên, không thấy hé ra chút nắng khiến những phụ nữ, những người đàn ông có tuổi luôn thấy mập hơn, to và lụng thụng mỗi khi xuất hiện trên đường.

Căn nhà người thanh niên đang trú ngụ nằm ngay dưới chân vách núi đá, chỗ cao nhất trong thị trấn. Ở đây có thể nhìn bao quát khắp một vùng rộng lớn bao quanh. Mỗi sáng thức dậy, anh thường ra đứng trước khoảnh sân hẹp nhìn mặt trời từ dưới sông nhô lên rực rỡ. Anh nắng loá sáng con đường đất đỏ, ửng màu mây đỏ trên những mái ngói xuôi dọc hai bên đường; ở phía tây, tít đằng xa là nóc nhà thờ chỉ còn trông thấy tháp chuông nhấp nhô trong những đám ruộng mía xanh màu ngọc bích. Đó là con đường đất chính nối các buôn làng với thị trấn, với những chiếc gùi nhỏ xíu trên lưng những người miền núi, có thể trông thấy từ xa … Giờ đang cuối mùa mưa, nhưng bầu trời chưa lúc nào lộ nắng để anh phải khốn khổ lơ mơ, tơ tưởng một chút nắng để thấy những con đường đất đỏ, những mái nhà ẩm rêu rực rỡ những ngày trước kia bớt vẻ lạnh lẽo trong những ngày cuối năm. Cái lơ mơ đột ngột bị đẩy bay ra ngoài, khi bên tai anh nghe vang lên giọng nói rành rọt:

-Chú có bận gì không?

Người đàn ông mặc áo len màu chì nhô hẳn đầu qua khung cửa, hỏi bằng một giọng thân mật; theo sau ông là con chó rẫy có bộ lông xám màu đá núi. Ong ta là người hàng xóm, thỉnh thoảng tạt qua nói vài câu vu vơ về chuyện con cái, thời tiết, mưa nắng rồi đột ngột đứng dậy ra về, không mục đích rõ ràng.

-Không. Hình như không bận gì!

Hình như anh đang nói dối với người đàn ông đang ngồi trước mặt mình. Kỳ thực anh chẳng phải rờ đụng chân tay vào công việc nào trong lúc này, để gọi là bận. Nhưng con mắt và đầu óc anh thì bận thiệt. Vì khi người đàn ông bước chân qua cổng cũng là lúc trời hửng lên. Một chút nắng hiếm hoi kéo thành vệt dài, thình lình rớt xuống khoảnh vườn trước sân nhà làm ửng lên màu vàng rực rỡ. Cả khoảnh vườn như sáng hẳn, nổi lên những đường viền màu xanh khép nép, và bên trên, nhô lên cao lô xô là những búp vàng mượt của mấy luống vạn thọ. Hiếm khi có màu sắc tuyệt vời như thế giữa tháng Chạp âm u mưa, âm u những đụn mây đen áp sát đọt cây…

-Thằng Doãn gửi lời thăm chú.

-Dạ vâng, Doãn.

Màu nắng và những búp vạn thọ như đang thì thầm, rủ rê, giống hệt mấy đứa trẻ con nhà hàng xóm í ới hẹn hò xuống phố đứng dán mắt trước các cửa tiệm, nhìn chăm chăm những tấm áo mới đủ màu xanh đỏ…. Những đứa trẻ chạy lăng quăng có vẻ như có một liên hệ báo trước những ngày tết đang cận kề.

Bộ mặt ủ dột, lấm láp những ngày mưa sắp bắt đầu xoá nhoà dẫn sau những ngày dài làm tình làm tội những con đường đất lầy lội, những lùm cây úng vàng và cả mùi ẩm mốc bám đầy những bức tường vôi chung quanh nhà…

-Nó gửi về chai rượu quí, tôi…

-Vâng, chai rượu…

Chai rượu trong tay người đàn ông thình lình làm bầu trời đứng sựng. Nắng biến mất đột ngột. Chút nắng vàng hiếm hoi ấy biến mất, bay vụt ra khỏi tầm mắt, cũng đột ngột như khi nó thình lình rớt xuống trước sân nhà. Một tảng mây đen khổng lồ trôi qua chậm chạp, từ từ liếm sạch màu nắng vàng khiến anh có cảm giác như nó sắp sửa đè bẹp khoảnh vườn rực sáng khi nãy, đè bẹp anh và người đàn ông và Doãn và chai rượu. Anh thất vọng ngó người đàn ông, từ đỉnh đầu tới ngang bụng, phần dưới cơ thể ông ta bị chiếc bàn che khuất, như thể ông là thủ phạm bưng chút nắng quý hiếm của anh trút vào trong chai rượu, hay giấu trong bụng áo ấm lấp bên nửa bàn bên kia. Anh ngó sững vào chai màu trắng giả đá để tìm kiếm sự ấp áp hình như ông ta đang giữ trong đó. Người đàn ông nhóng lên, quơ chai rượu chực rót ra ly.

-Nó kêu Mao Đài Tửu. Nó đi Bắc Kinh về.

-Vâng Doãn đi Bắc Kinh…

Anh ngẩng mặt lên ngó chai rượu màu men sữa trắng đục. Nắng không thể bị nhốt vào trong ấy được. Vâng, có thể Doãn nào đó và cả Bắc Kinh của người đàn ông đang ngồi bên mép bàn bên kia đã mang đi chút nắng vừa mới nhìn thấy khi nãy. Anh nhìn vào chiếc chai giả đá và nghĩ không thể có giọt rượu nào để tìm kiếm chút nắng mong manh. Anh thẫn thờ đến đờ đẫn nỗi thất vọng, chán ngán. Những rạo rực ban đầu bị tắt ngấm bỡi chai rượu đang nằm gọn lỏn trong tay người đàn ông, ở phần cổ, lùn tịt.

Khoảnh vườn âm u, xám màu mây đen. Những búp vạn thọ lẻ loi, run rẩy trên những cành lá xanh, hết còn rực rỡ khiến lòng anh nguội lạnh chen lẫn nỗi hoang mang tột cùng.

-Ta chào nhau buổi sáng, chú hỉ?

Và không đợi anh trả lời, người đàn ông với tới phía trước, kéo hai chiếc ly thủy tinh màu hồng nhạt đặt trong chiếc kệ ngang với mặt bàn, về phía mình. Ông ta từ tốn rót ra ly, từ tốn đẩy một chiếc ly về phía anh rồi thong thả nâng ly lên.

-Một ngày bình yên chú hỉ?

-Dạ, một ngày bình yên – anh đáp.

-Nhưng mà điệu này kéo dài, mưa lập dập, nắng lập dập âm âm u u như kiểu trời chuẩn bị sập thì tết chẳng có bánh mà ăn. Thằng Doãn kêu tráng cho nó năm trăm để mang về trỏng, biếu xén, ăn tết. Thiệt mệt. Trời đất kiểu này biết sao được. Không có bánh tráng thì còn gì là tết? Bà vợ tôi nói không nắng thì xuống chợ mua. Nhưng mà chú ơi, bánh tráng hong lửa thì khác xa với bánh tráng phơi nắng…

-Dạ, nắng. Chỉ có nắng mới làm ấm lên mọi thứ. Tất cả mọi thứ đều trở nên đẹp – Anh nói vội vã, y như rằng trước mặt lúc này nắng ấm đang đổ xuống sân.

-Chú văn nghệ quá – người đàn ông kêu lên – Có nắng bánh tráng ngon hơn gấp bội phần!

-Dạ, đẹp và ngon cả hai đều như nhau. Hễ đẹp thì nhất định phải ngon, và ngon thì phải đẹp. nhưng mà chưa chắc… – anh bỏ lửng, sợ nói ra làm phật lòng người hàng xóm – cái gì hiếm đều trở nên quí giá cả – Anh đột nhiên hứng khởi.

Chiếc ly thủy tinh màu hồng nhạt nằm ghé trên đôi môi thâm đen của người đàn ông, hình như cũng ngạc nghiên vì những ý nghĩ bất ngờ của người thanh niên, cứ giữ nguyên vị trí như vậy một lúc lâu, trước khi ông ta dốc ngược ly vào miệng. Có tiếng “khà” kêu lên lẻ loi giữa buổi sáng lạnh giống buổi hoàng hôn, giống hệt tiếng thở dài tràn ứ nỗi thất vọng, vì không thể tìm thấy sự đồng cảm, đồng điệu mà ông mong đợi. Chiếc ly dành phần anh vẫn nằm nguyên trên mặt bàn, đầy rượu. Người đàn ông đẩy chiếc ly trống của mình tới, chạm nhẹ vào thành ly kêu đánh cốp một tiếng nhỏ khẽ khàng.

-Chú lại văn nghệ nữa rồi. Ai kêu mấy chiếc kiềng sắt, bình vôi giờ này không hiếm? Nhưng mà chú coi, có quý gì đâu?

-Dạ, có lẽ phải, đâu có gì kêu là quý.

Người đàn ông há hốc nhìn người thanh niên rồi bất ngờ ngửa cổ ra cười khà khà, một giọng cười biểu lộ chút ngạc nhiên  rất buồn cười về cách nói của anh, trong khi bàn tay phải ông ta vẫn giữ chặt chiếc cổ chai lùn tịt. Đến khi ông ngưng cười thì trên khoé mắt có chút nước ứa ra ngập ngừng. Ông đặt chiếc ly xuống bàn, dùng ngón tay trỏ quẹt chỗ nước mắt chảy ra đó, như cố giấu sự buồn cười có thể chảy ào ra lần nữa, mãnh liệt hơn.

-Chú thiệt “thắc cười”. Mới hồi nãy biểu đẹp là ngon, ngon là đẹp là quý, giờ kêu… Chú thiệt văn nghệ.

Ông lại cười hích hích trong cổ họng, cố kềm giữ sự khám phá bất ngờ của mình đối với chàng trai trẻ đang ngồi trước mặt, rồi tự rót đầy ly nữa và ngửa cổ uống ực. Tới giờ, ông mới chịu buông tay ra khỏi cổ chai rượu, chiếc ly trống nằm trên mặt bàn, cạnh chiếc ly còn đầy rượu của anh, móc túi lôi ra gói thuốc lá và chiếc bật lửa. Ông rút một điếu cắm lên môi, nhưng không quẹt lửa mồi mà tiếp tục nói. Điếu thuốc bị kẹp chặt giữa hai môi thâm đen rung lên nhè nhẹ mỗi khi ông nói. Cả hai có vẻ khổ sở như nhau. Người đàn ông cầm chiếc bật lửa, nhưng vẫn không chịu quẹt cháy.

-Nói thiệt chú đừng giận, mấy chú văn nghệ như chú không làm sao mà hiểu nổi. May mà thằng Doãn nhà tôi chữ nghĩa ít, nhảy đi buôn bán chớ không thì…

Ông kịp nhận ra hình như mình sắp lỡ lời, có vẻ như mình sắp lỡ lời thiệt nên người đàn ông kịp dừng lại, chuyển sang chuyện rượu chè. Còn điếu thuốc vẫn nhảy tưng tưng trên đôi môi thâm đen.

-Không biết chú sao, chớ tôi thì chúa ghét mấy cha rượu chè be bét, uống chi mà tới say đớ lưỡi, say quắt cần câu mà cứ kêu lai rai giải sầu? Rượu chè cũng có năm ba đường hả chú? Tôi nghe nói tiên tửu, tục tửu, ngưu tửu chi chi. Thiệt mệt. Cứ như anh em ta, lâu lâu có rượu ngon, ngồi cà kê vài ly rồi mạnh chuyện ai nấy làm. Cù nhằng, cù nhùng mất cả thì giờ. Mà chú chưa vợ con chưa biết. Nhiều khi uống, lỡ say “nhỏng phao câu”, mò về tới nhà con vợ tôi kêu trời. Say nhưng cũng biết được mình quá là sai, nên phệu phạo bào chữa “nam vô tửu như kỳ vô phong” , rồi câu gì bữa chú đọc cho tôi nghe đó. Á, à, nhớ ra rồi “mùa này thiếu rượu anh hùng nhát gan”, khiến bã nổi sùng bỏ tôi một bữa để muỗi và tôi cùng nằm say bên nhau.

Người đàn ông toan với chai rượu rót thêm một ly nữa để tự thưởng cho những lời nói ý nhị của mình, song nghĩ sao ông rụt tay về, ngó chằm chằm vào mắt anh thanh niên xa xôi ngoài khung cửa, hỏi:

-Mà tôi cũng lấy làm lạ. Chừng ấy tuổi, sao chú không chịu lấy vợ? Cỡ tuổi này, nếu có con gái đầu lòng thì đã sui gia rồi đó nhá?

Anh bật cười mà không thể nhìn thấy đó là nụ cười tròn hay méo mó dị dạng, tìm cách nói cho người đàn ông yên lòng:

-Không phải là không muốn có một cô vợ bên cạnh. Chỉ tội một điều, họ nhìn thấy đời sống tôi nhếch nhác quá nên ai cũng ngại, quay lưng bước thẳng.

-Chú nói sao ấy chớ? Thời buổi gái thừa trai thiếu. Làm vợ chú như thể làm bà hoàng ấy chớ? Đã đành chú có đời sống văn nghệ, nhưng mà văn nghệ thì có sao đâu? Tôi thấy các cô chú ngày nay sống sao sao ấy, không như chúng tôi ngày trước! Rồi lại khi không chú bỏ cái thành phố đẹp đẽ ấy để về khép kín ở chốn khỉ ho cò gáy này, thì chắc là chú phải có tâm trạng?

-Dạ không, không có tâm trạng gì đâu. Chẳng qua tôi muốn yên ổn, muốn sống trong không khí tĩnh lặng để làm việc.

-Tôi đâu thấy chú làm việc gì? – Người đàn ông ngạc nhiên.

-Dạ

-Thôi, bữa nào thằng Doãn về, tôi biểu nó mời chú làm cố vấn cho nó. Hai anh em tha hồ bay nhảy.

-Cảm ơn chú. Chuyện đó tôi càng mù tịt, chẳng biết gì đâu!

Người đàn ông phẩy tay.

-Ui, dễ ợt đó mà. Như thằng Doãn đó, có học hành con khỉ mốc gì đâu mà nó vẫn làm được.

-Dạ.

Người đàn ông chấp chới trong mớ hiểu biết lẫn lộn với niềm tự hào hỗn độn về sự thành đạt của con, bèn chỏ tay qua phía anh, cười lớn.

-Chú mà giấu nổi tôi! Chú đừng có hòng mà giấu nổi tôi nhé.

Nói và ông cười to vừa đứng dậy. Tiếng cười khậc khậc quấn quít bên những bước chân chệnh choạng khi ông bước xuống từng bậc cấp với niềm vui như vừa khám phá được chuyện lớn, thật lớn.

Anh không tiễn ông như mọi khi, chỉ thấy ông rất hài lòng với những gì ông có được quanh mình, trong buổi sáng này như ông đã từng hài lòng về chuyện vợ con, những bữa rượu lẻ cùng những tiện nghi vừa đủ để mang ra khoe với mọi người chung quanh.

Con chó đi theo người đàn ông, nãy giờ lim dim nằm ngủ dưới gậm bàn chắc là đang mơ thấy ngậm khúc xương trong miệng, nên kéo dài niềm hạnh phúc bé bỏng của loài vật, quên mất những bước chân loạng choạng của ông chủ, vội nhổm dậy, ủng ẳng chạy theo sau. Đuôi có chùm lông dài ngoắt qua ngoắt lại phía sau chân ông, y như rằng chủ tớ là những người vừa thắng trận, đang trên đường ca khúc khải hoàn.

Người đàn ông bước đi, nhưng không lôi theo bầu trời nặng trình trịch cùng cơn mưa lâm thâm và ngọn gió bấc thổi se sắc trên đọt cau nhìn rất rõ. Ông cắm cúi bước, người đổ dài dưới con dốc như sắp ngã, con chó chạy lăng quăng bên chân, bỏ lại tất cả cho anh.

 

 

 

Trên bàn, một ly rượu còn đầy và một ly trống trơn không cân xứng. Anh bưng cả hai ly đặt lại chỗ cũ trên kệ. Lúc đầu anh định hắt ly rượu ra sân, nhưng nghĩ sao lại xé tờ giấy lịch, gấp làm tư và đậy lại, nom chiếc ly như cây trụ đỡ những tảng đá khổng lồ thành Babylone, thu nhỏ lại.

Bên ngoài bầu trời trở nên sáng trắng. Những đụn mây đen giờ xé vụn ra lam nham khiến trông thấy bầu trời cao hơn chút đỉnh, bớt vẻ âm u. Có tiếng chân loạt xoạt ngoài hiên thềm. Người đàn bà mặc bà ba đen, tóc búi củ hành, miệng nhai trầu nhóc nhách chà chân lạch bạch, giũ đất ở bậc cấp rồi bước hẳn vào trong.

-Uở, chú có nhà đây mà. Mạnh giỏi chú?

-Dạ, mạnh. Chào chị!

-Buổi sáng mà chịu khó ngồi nhà, không ngồi quán cà phê sao?

-Bác sĩ cấm cà phê.

Người đàn bà ngó nghiêng lên tấm lịch treo tường, cao hơn tầm mắt chị ta vừa nói:

-Cái tụi nhỏ xóm này không hiểu sao sáng nào cũng tụ tập ngoài quán. Ba đứa uống chung một ly cà phê, hút chung điếu thuốc đến chủ quán cũng phải phát buồn mà không biết nói sao!

Người đàn bà ngừng nói, miệng nhóp nhép nhai trầu chờ phản ứng của anh. Mõi khi cử động, góc môi trên vêu lên như có cái mụt nhọt nấp trong ấy. Thấy người thanh niên không nói gì, người đàn bà tiếp lời:

-Hồi hôm cũng ở quán cà phê đó, tụi nó gây gỗ, sém đánh lộn. Thanh niên bây giờ hư quá chú ơi!

Anh không mấy hào hứng khi nghe những chuyện không đâu phát ra từ miệng người đàn bà đang ngó anh vừa nhai trầu. Chị dường như cũng đoán ra ý nghĩ của người ngồi trước mặt, nên ngập ngừng chuyển sang đề tài khác, “thời sự” hơn.

-Chú tính ăn tết ở đây hay về dưới đó?

-Dạ chưa biết sao!

-Trên hóc xó này có gì mà vui chớ? Dưới đó thành phố lớn, người đông, nhộn nhịp. Mà cũng phải thôi, chú thấy không?

Người đàn bà nói và tiếp tục nhai trầu. Anh không hiểu bà ta đưa ra câu hỏi để hỏi anh hay chỉ là những nhận xét vu vơ, chờ người khác tán đồng? Chị không phải là người thường hay ghé nhà anh hỏi han chuyện này, chuyện nọ. Là hàng xóm, cùng ngụ trong con phố nhỏ của thị trấn miền núi trước sau đều quen mặt nhau, họ hay dòm qua hàng rào cây xanh thưa thơt để thăm chừng đời sống của nhau một cách thận trọng. Trong trí nhớ , người đàn bà đang ngồi phía bên kia bàn, chỗ lúc nãy người đàn ông vừa ra về, là người hay ca cẩm về mọi sự khó khăn trong đời sống. Bà ta hay vu vơ về những khoản thiếu hụt của tất cả mọi người dân ở thị trấn miền núi nhỏ hẹp này, mà đáng ra phải khác hơn, phải giàu có như những người khác dưới thành phố.

-Bữa nay hăm hai rồi. Hễ đưa ông Táo về trời là coi như tết đến nơi. Mà này, chú một mình thế thì sống làm sao nhẻ? Ai lo ăn uống, giặt giũ cho chú, rồi còn tết nhứt nữa ?

-Dạ, cũng bình thường thôi mà – Anh trả lời ngập ngừng.

Người đàn bà nheo mắt, chun mũi nhìn anh vẻ chế giễu:

-Bình thường là thế nào? Phải có bàn tay phụ nữ. Cái sự lấy vợ là rất cần thiết để bảo tồn nòi giống. Với lại ở cái xứ heo hút trong những ngày lạnh lẽo này chú không cảm thấy lạnh lẽo sao chớ? Để hôm nào tôi giới thiệu chú một cô, xinh đẹp, hiền hậu. Tết chú còn ở lại đây tôi sẽ dẫn đến thăm chơi.

Anh không biết phải lựa lời ra sao để từ chối lòng nhiệt tình của người đàn bà kia cho phải lẽ, đành nói nước đôi.

-Dạ, cảm ơn chị.

-Trời không chút nắng, lạnh thiệt. Hôm qua tôi ra chợ thấy hàng tết về nhiều quá, đẹp, rẻ ngặt cái không đủ tiền để mua sắm cho đã đời. Mấy đứa nhỏ cứ eo óc đòi mua cho bằng được những tấm áo ấm màu. Chúng đâu biết cảnh “cám tháng giêng, tiền tháng chạp”. Thiệt bực!

Anh muốn bật cười khi nghe người đàn bà buông ra lời than “thiệt bực” y như người đàn ông lúc nãy kêu “thiệt mệt” khi trời không chịu bật nắng để vợ chồng ông tự tay tráng bánh, phơi dưới ánh nắng mặt trời gửi cho thằng con. “Thiệt mệt” và “thiệt bực” của hai người có con cái gia đình đề huề coi như những lời “gầm gừ” êm ái của những người ngay thẳng phải làm bổn phận bảo bọc mọi người thân chung quanh mình, như một niềm vui chưa thật trọn vẹn.

Có lẽ do người đàn bà nói quá thật, nên anh cũng cao giọng.

-Đó, chị thấy chưa. Có gia đình, con cái nó “thiệt bực” như vậy đó?

Người đàn bà chỉ cười, không trả lời những vặn vẹo tình nghĩa của người thanh niên ngồi trước mặt, có vẻ mặt đang thực buồn. Chị đưa tay lấy cục thuốc nằm vêu trong môi trên chà qua chà lại giữa hai hàm răng ám đen, định nói gì đó nhưng cục thuốc và bã trầu trong miệng đã giữ chặt lại.

Anh ngồi nghiêng ngó ra khoảnh vườn hẹp trước sân.

Một lát sau, giọng người đàn bà ngập ngừng:

-Nói thiệt với chú, vợ chồng tui kêu bán con bò, nhưng tụi lái biết mình cần tiền sắm tết nên trả giá rẻ mạt. Tụi nhỏ thì léo nhéo đòi cả ngày. Chú cho tôi vay một ít, bán được con bò tui trả chú liền. Mình hàng xóm, sớm tối có nhau.

Câu cuối cùng, giọng bà ta chùng xuống, buồn thật buồn y như bầu trời vẫn một màu mây đen chực sà thấp. Bộ mặt bà ta dần dần trở nên căng thẳng và thảm não. Cục thuốc chà răng được nhìn thấy bằng vệt vêu trong môi trên như chịu đựng sự u uẩn vì đám thương lái bắt chẹt bà ta trước những đòi hỏi hợp lẽ của lũ con. Một chút gì đó trên toàn bộ con người đàn bà lúc này, khiến anh hơi chạnh lòng.

-Nói thiệt với chị, tôi cũng còn một ít, chị có thể cầm tạm. Tôi chắc thể nào tuần này cũng có khoản nhỏ của mấy tờ báo gửi ra. Chị yên tâm – Nói và anh lôi chiếc bóp nhàu nát móc hết khoản tiền trong ngăn, không rõ được bao nhiêu, đưa cho người đàn bà. Bà ta thôi nhai trầu, cầm lấy tiền nhét vào túi áo và cũng không đếm là được bao nhiêu. Giọng ấm lên:

-Cảm ơn chú. Tụi nó mừng lắm đây!

Người đàn bà nói vừa sững sờ nhìn chàng thanh niên với một chút ngỡ ngàng, một chút cảm thương với những băn khoăn được khoả lấp khi kịp cất mớ tiền vào túi áo bà ba đen.

Cuối cùng người đàn bà cũng đứng dậy chào anh, ra về với cái bóng đen nhỏ thó đổ dài xuống con dốc, với dáng hấp tấp của những niềm vui mới mẻ bà vừa cầm chắc trong tay.

 

Bầu trời bên ngoài vẫn xám đục. Gió  cuối năm run rẩy lạnh, kéo thành vệt trên hàng cây co ro hai bên đường, chạy từ phía đồi cao xoãi ra bờ sông. Buổi sáng rung rinh nhè nhè trên luống vạn thọ sắp bật khóc vì bầu trời đùn đen cứ lê thê kéo dài. Người thanh niên xô ghế đứng lên, cắp phích vào ổ điện định bụng pha một ly trà thật nóng, thì bên ngoài tiếng còi xe toe toe vang lên. Người bưu tá gầy, cao dựng xe trước hàng rào chè tiêu, cầm xấp thư và mấy tờ báo bước vào nhà. Ông ta hỏi:

-Không định đi đâu sao?

-Trời lạnh thế này… – Anh  trả lời.

-Ừ, trời cữ này mà có dưa hành củ kiệu và rượu ngon thì thật tuyệt.

Người thanh niên với tay qua kệ, nhấc ly rượu đưa cho người bưu tá.

-Rượu cha Doãn mang tới hồi nãy.

Ông bưu tá nhấp nhấp từng ngụm nhỏ, thong thả:

-Rượu này chắc là ai biếu chi đây. Không phải rượu thường, mùi lạ lắm, như mùi trái nhàu chín?

-Tôi cũng không rõ

-Cậu chưa uống.

-Chưa.

-Một ly thôi sao?

-Dạ, một ly. Ông cụ qua kêu tôi uống, nhưng mới sáng bảnh mắt!

-Ờ, cũng phải, nhưng giá có thêm vài ly nữa thì ấm bụng.

Ong ta có vẻ ngẩn ngơ như tiếc rẻ mùi rượu ngon quá ít, dòm vào chiếc ly không rồi đứng lên:

-Chừng nào cậu về?

-Chưa biết ngày.

-Thôi tôi đi.

Người bưu tá nổ máy, chạy đi xuống cuối con dốc rồi quành ra phía bờ sông.Cái  dáng cao khều mất hút cuối dãy nhà ngói cũ kỹ, mái lợp  âm dương.

Người thanh niên thong thả lật coi địa chỉ gửi đi của từng lá thư, theo thói quen rồi để sang bên. Cái mà anh mong đợi hiện ra, dưới bức thư của một toà báo. Nét chữ mỏng manh, gầy như bộ ngực quen thuộc của người gửi bức thư cho anh, như những ngón tay thon dài nắm chặt tay anh cùng ánh mắt xa xăm trên số nhà quen thuộc bên góc trái. Anh nghe thật gần bước chân nàng, hơi thở nàng và đôi mắt ngấn nước của nàng khi anh lầm lũi bước ngược trên con đường trước mặt nhà. Những dấu nhật ấn trên bao thư như tự nó có một hơi thở dồn dập của hai người ở một khoảng cách xa. Ngày gửi và ngày nhận chỉ cách nhau ba ngày. Ba ngày để vượt hơn sáu trăm cây số sẽ mang đến cho anh niềm vui ấm áp trong buổi sáng cuối năm này. Phích nước sôi kêu thành tiếng như lời thúc giục, khiến anh không thể để những cảm giác tha hồ bay nhảy tự do. Bao thư bóc ra. Sáu tờ giấy chi chít một kiểu chữ mỏng manh gầy ốm. Anh lôi chiếc ghế xích đu đặt ngang cửa ra vào hứng chút ánh sáng mờ đục bên ngoài, nằm ườn ra ghế và bắt đầu đọc:

 

Anh,

Sự chờ đợi quá lâu, xa như chỗ anh ở nối tới đây  bằng sợi chỉ dài, rất dài. Nhiều bữa trời đang nắng, chợt đổ mưa ầm ầm, rồi đột ngột chấm dứt, làm như không hề có chuyện gì xảy ra làm em không thể không nghĩ đến anh, liên tưởng về những hành động kỳ quặc của anh. Nhiều khi em tự hỏi, cái thành phố này có điều gì khiến anh không vui? Hay anh không vui vì em? Hay anh muốn thử thách em như một chuyện đùa bỡn? Giờ, cứ mỗi ngày qua đi, em càng ít hiểu về anh hơn. Anh như người xa lạ vậy !

Hôm kia, trong bữa cơm tối, tía má em có hỏi sao lâu không thấy nó tới chơi? Nó tức là anh đó, là một thành viên đang được chấp nhận từ từ, chậm rãi một cách e dè, dò xét. Em chống đũa tìm câu nói dối hợp lý nhất, nhưng sao nó cứ như sợi dây thun bị kéo căng để cuối cùng em nói bừa: hình như ảnh nhận thêm những công việc gì đó, bận bịu lắm. Tía má em tiếp tục dùng bữa, không hỏi gì thêm. Riêng em “những công việc gì đó” của anh giống như sự trông đợi một cách thờ ơ. Ai cũng trông nhau mà chẳng dám “liều mạng”(chữ anh nói hôm hai  đứa mình ở đầu mỏm sông, chỗ vườn mận đó, nhớ ra chưa?). Liều mạng làm sao mà trên sáu trăm cây số hun hút là dài? Thư trước anh biểu tết ra ăn tết với anh. Một ý tưởng thật vĩ đại. Còn nếu như em nói: tết anh về ăn tết với em thì anh nghĩ sao? Em đâu phải là những nhân vật của nhà văn Hector Malot, là con bé “vô gia đình” để anh ra tay cứu vớt rồi biến thành nhân vật của anh?

Thư này đến tay anh chắc là còn kịp để về đón ông Táo. Trong dân gian, ông Táo là một người không có mặt mũi rõ ràng, nhưng lại đầy ắp trong tâm thức của mọi người. Ai cũng hiểu rằng, ông Táo là người duy nhất giữ lửa, hơi ấm cho mọi gia đình sum họp. Vậy thì tại sao anh không mang chút lửa ấy về, lửa trong người anh để sưởi ấm cho em? Hoá ra, anh chỉ muốn giữ lửa cho riêng mình anh thôi sao? Còn em? Câu hỏi này cứ dằn vặt em mãi, nó loay hoay trong đầu như thể con dế hồi nhỏ em bỏ trong chiếc hộp giấy. Nó bò tới bò lui, lăng quăng tìm lối ra mà nào có ra cho được? Rồi em lại chợt nhớ đêm giao thừa ở dưới quê, ngồi thức canh nồi bánh tét, lửa nhảy nhót đỏ đít nồi; còn bên trong thì nước cứ sôi ùng ục. Bà nội ngồi gần bên nói: ông Táo đang cỡi con ngựa mang về với chúng ta kịp đón giao thừa. Tiếng ùng ục đó là vó ngựa gõ trên lớp mây. Em không thấy, nhưng tin lời bà, nghĩ ông Táo đang cỡi ngựa trở về thật và em mong làm sao để được gặp mặt ông, coi dung nhan có giống với những bức tranh vẽ thằng em em sưu tầm đâu đó dán la liệt trên vách. Em sẽ nói những điều ao ước của mình để ông hoá phép. Chờ đợi đến mỏi mòn, để hai mí mắt sụp xuống lúc nào không hay, ông Táo trở về lúc nào không hay. Mãi mãi điều ao ước không thành sự thật. Như giờ này, em ước chi anh có bên em đã không thành sự thật vậy !?

 

Mà cũng thiệt lạ, anh thích thú, say mê nỗi gì ở miền đất heo hút đó? Lúc anh mới ra, anh kêu nhà anh ở dưới chân vách núi đá. Từ đó có thể nhìn xuống thị trấn nhỏ như bàn tay xoè, phía dưới bị con sông chặn ngang, có những ngôi nhà cổ xưa cũ kỹ, có những con đường đất đỏ ngắn hơn một hơi thở dài cùng với những người dân hiền lành, nhẫn nại… Và anh nói: mỗi sáng có thể nhìn mặt trời từ lòng sông nhô lên, đỏ ối như quả cầu lửa rực rỡ. Nếu vậy, chắc quả cầu lửa đó có bà tiên anh mơ tưởng, chứ không phải trên đầu mõm sông lúc hai đứa ngó những dề lục bình trôi dập dềnh những chỏm bông tím? Những bà tiên bé bỏng xinh đẹp kia đã níu giữ chân anh rồi?

Thư này em viết trong buổi sáng thực yên tĩnh. Có một chút gió heo heo rất lạ, không ngừng thôi thúc sự nhớ nhung bâng quơ, cái xao xuyến đón đợi, ngóng trông. Chỗ anh ở có loại gió này không? Em chắc là không. Vì nếu có thì anh đã lên tàu rồi. Em biết anh còn ngóng đợi bà tiên trong quả cầu lửa rực rỡ mỗi sáng, bước ra và nhẹ nhàng đến bên anh? Còn em thì đang ở rất xa anh để không thể chia sẻ niềm hoan lạc cùng anh. Tiếc thật.

Em muốn viết thêm nữa, thiệt dài; dài bằng với đoạn đường từ ô cửa nhỏ này tới ngôi nhà bên vách núi đá, từ chiếc bàn gỗ quen thuộc này đến quả cầu rực lửa của anh… Nhưng phỏng có ích chi? Anh đâu còn mùa xuân bên em. Anh chỉ còn những buổi sáng của riêng anh  thôi.

Nói vậy, chớ em vẫn nhớ anh luôn, vẫn chờ anh.

Gửi anh nụ hôn gió xa xôi đến anh, biết anh có cảm được?

Em của anh, Nga.

 

Người thanh niên xếp lá thư, cho vào bì. Lúc này, anh không thấy khoảnh sân phía bên ngoài, không thấy thị trấn mờ đục phía dưới kia cùng chỏm tháp chuông nhà thờ nhấp nhô khuất trong những ruộng mía âm u… Anh nằm trên chiếc ghế quay vào gian thờ, chỉ thấy lờ mờ những chân đèn thau, lư bát cắm nhang và tấm nghi treo trên cao bị chuột cắn lủng vài chỗ. Những sợi chỉ lòng thòng không đủ dài để nối căn nhà dưới vách núi đến tận ô cửa trong xa kia để anh níu theo bay về phương nam ngay lập tức.

Nguyễn Lệ Uyên

 

 

 

ĐÀ LẠT

nguyenleuyen
Mỗi lần trở lại Đà Lạt, lại thấy có sự thay đổi rất bệnh hoạn. Bầu trời Đà Lạt trên đầu vẫn là bầu trời muôn thuở, vẫn mây, vẫn khói, vẫn một chút lạnh đủ để các thiếu nữ làm duyên; nhưng dưới nó, trên mặt đất lại có một Đà Lạt thoi thóp, ngắc ngoải. Bạn đồng hành than thở: “Con người đã giết chết Đà Lạt!”. Tôi lắc đầu: “Không, chính xác thì, chủ nghĩa xã hội thổ tả kia đã và đang liên tục hãm hiếp Đà Lạt”. Một Đà Lạt đẹp như nàng tiên đang ngủ trong rừng thông bị những tên bạo chúa lật ngửa, đè ra hãm hiếp đến toe máu đầm đìa. Đó là những vồng đất, gốc thông, những căn biệt thự cổ bị lật tung lên theo đủ cách khác nhau. Chúng cứ từng ngày từng giờ, biến thành phố “mộng mơ” thành khu Ngã năm chuồng chó, Ngã ba chú Ía thời đệ nhị Cộng hòa, khác chăng, một bên mưu sinh bằng xác thịt; một bên câu kết thành bè nhóm, cướp giật tài nguyên môi trường, để Đà Lạt ngày một xơ xác hơn, thành một cái xác bị chứng giang mai, lở loét cùng mình!

Cả một không gian thoáng rộng ngày trước với những tòa biệt thự, những cây thông, hồ nước nay bị lũ người khốn nạn, những tên mafia đè ngửa ra, bóp nát những bộ ngực trinh trắng: Thông đồi Cù bị chặt cho sân golf, quanh hồ Tuyền Lâm máy ủi, máy xúc cạo sạch lông những thảm cỏ, đồi thông để xây biệt thự cao cấp…

Đứng ở đầu dốc phía nhà thờ con Gà nhìn ngang, khu Hòa Bình lúc này vừa là khu ổ chuột vừa là những hộp bê tông chen chúc nhau đứng ngồi lộn xộn, cào nát không gian đẹp, khiến tôi liên tưởng ngay đến những đám đất cày mùa tháng Ba. Không, như thế vẫn còn thơ mộng. Không. Đà Lạt bây giờ giống như một bãi rác điện tử thì đúng hơn.

Lúc này, nếu như nhạc Sĩ Hoàng Nguyên (1932-1973) nhìn thấy Đà Lạt, tôi nghĩ ông sẽ buồn không ít về những gì ông đã thả hồn mình đến tận cùng trong ca khúc Ai lên xứ hoa đào năm nào, giờ vẫn giữ nguyên giá trị nhân văn, tính lãng mạn trong giai đoạn “tang thương ngẫu lục” này.

May mà Đà Lạt còn có tình người. Những người bạn muôn năm cũ vẫn cam chịu những đè nén ngột ngạt nhưng không hề thỏa hiệp, đầu hàng; họ không quay lưng lại với bè bạn xưa vì cái danh, cái lợi đã từng làm nhiều người biến thành những con sói hung dữ. Nguyễn Dương Quang và Nguyễn Sông Ba ra tận bến xe đón tôi, lại còn cho nằm nguyên một gian phòng rộng ấm áp, vốn dĩ xưa kia là phòng của hai vợ chồng trẻ Võ Hồng sau khi cưới nhau. Quang chỉ cho tôi sàn gỗ bị cháy sém một mảng lớn, nói: “Hai ông bà Võ Hồng kê ông táo nấu nướng, sức nóng làm cho sàn gỗ bị cháy áp”. Âu cũng là duyên may để hình dung thời trai trẻ của một nhà văn từng có những tháng ngày hạnh phúc trong căn phòng này, cách đây gần 60 năm.

Trước khi đi, tôi gọi điện hỏi Đỗ Hồng Ngọc, anh có lên không? Ảnh nói: “Trời ơi, các bạn ùn ùn lên Đà Lạt làm mình nôn nao quá!… Mình kẹt các buổi giao lưu về tập thơ Thư cho bé sơ sinh và tập Thiền & Sức khỏe ở Phương Nam Book và Đại học KHXH và NV… Tiếc lắm!”.
Nghe kể lại, xem những tấm ảnh và vài đoạn clip, ĐHN tiếc hùi hụi. Vắng anh, nhưng nhóm Ý Thức vẫn đông đủ, có cả vợ chồng anh KĐ.

Điều mà ĐHN tiếc hùi hụi bởi hiện tượng “các bạn ùn ùn lên Đà Lạt”, chỉ vì hai nguyên nhân: Anh Đinh Cường từ Virginia (HK) mang tranh về triển lãm tại Gallery Đào Nguyên từ 29.11 đến 3.12 với chủ đề Đà Lạt nỗi nhớ. Tôi chẳng hiểu mấy về hội họa. Song nhìn những bức tranh của Đinh Cường, Thân Trọng Minh có chút gì đó rất ấm áp giữa cảnh đời xô bồ, bợt nhạt. Nói ấm áp bởi Đà Lạt được vẽ trong trí nhớ, từ một góc trời xa thổn thức, với những thiếu nữ bên nhà thờ, những ngôi biệt thự ẩn mình bên quả đồi quả đồi xanh lơ, những con đường nhỏ, những khuôn mặt bạn bè nồng ấm thời trai trẻ…

Một chút khói sương, một chút lãng đãng pha đậm trong sắc màu trí nhớ bạc trên đầu và nhòe trong đôi mắt. Nhìn những bức tranh được treo trang trọng trên tường, nỗi niềm đầu tiên là bùi ngùi tiếc nuối một thời đã qua vừa được nối lại bởi màu sắc và đường nét. Hội hoạ dễ kéo xích gần tâm hồn con người như cái cầm tay lần đầu với cô thiếu nữ!

Trong Gallery Đào Nguyên nhỏ nhưng ấm cúng này, khách đến với các họa sĩ khá đông. Đến để thưởng ngoạn và chia sẻ. Những Bửu Ý, Nguyễn Quốc Thái (TK tạp chí Trình Bày), Khuất Đẩu, Huyền Chiêu, Dân & Elena, Lữ Quỳnh, Lê Ký Thương & Kim Qui, Châu Văn Thuận, Nguyên Minh & Lan… hầu hết tóc điểm sương, nhưng đôi mắt và tâm hồn như những chàng trai trẻ yêu đời. Bắt tay nhau, ôm chặt nhau. Không cần đại ngôn, chẳng hề có đẳng cấp kiểu đấm bốc, nhưng tình cảm thì chan hòa.

Buổi tối, tất cả đều kéo nhau đến “biệt thự” của chàng nho sĩ Lữ Kiều. Kinh khủng. Từ mặt lộ xuống nhà là một con dốc dựng đứng, đến nỗi Nguyên Minh phát sợ. Nguyễn Dương Quang giữ tay Đinh Cường, tôi một bên Lữ Quỳnh chầm chậm sên bò. Đến sân mồ hôi tứa ra vì sợ. Đúng là một nơi ở bão táp “ngàn thước lên cao ngàn thước xuống”. Chưa tới, nhưng ít lắm cũng gần 300 mét. 300 mét cho một đời thơ, hội họa, một đời văn chương tiếp nối.

Thức ăn bày biện sẵn, có cả chai Chivas Regal 18 và chai Johnnie Walker Bửu Ý mang từ Huế vào. Ăn uống thoải mái, chuyện tuôn ra như người nhà lưu lạc lâu ngày gặp nhau. Trùng phùng.

Cuối bữa, Lữ Kiều mời mọi người ra sân đốt lửa. Những cành thông khô ẩm nước bốc khói mù mịt. Tất cả vây quanh đống lửa và anh tuyên bố hôm nay là ngày sinh nhật thứ 70 của mình. Hóa ra Lữ Kiều một công hai việc, vừa triển lãm tranh, vừa tổ chức sinh nhật. Chắc sẽ là một ngày sinh nhật đáng nhớ trong đời bởi có mặt đông đủ bạn bè từ khắp nơi, trong và ngoài nước.

Vẫn còn một góc Đà Lạt như thế ẩn sâu trong lòng mỗi người. Ấm áp. Rất ấm áp.

Hôm sau đoàn xuống Bảo Lộc thăm Sơn núi (Nguyễn Đức Sơn). Tôi quay về để kịp cày cuốc. Và, giữ mãi những hình ảnh đẹp tuyệt vời này.

NGUYỄN LỆ UYÊN

BUỔI TỐI TRÊN CỒN CÁT

nguyenleuyen

Buổi Tối

-A lô, anh ăn tối chưa?

-Cảm ơn em. Rồi. Mọi chuyện đều ổn. Còn em?

-Dạ, cũng vừa xong bữa. Mà… không phải với mì tôm nữa đó chứ?

-Hẳn nhiên. Chiều nay anh tự nấu món canh chua cá lóc, sườn ram và rau muống xào tỏi theo cách vào bếp trên Google.

-Ồ, vậy thì ngon quá.

-Rất ngon, nhưng chỉ một nửa, nửa kia là dở, thậm dở.

-Anh nói sao?

-Một nửa ngon và một nửa dở.

-Em hiểu rồi. Anh đang thiếu sự chia sẻ. Nhớ ai đó đã nói “yêu một tác phẩm nghệ thuật ta muốn chia cái đẹp ấy cho nhiều người…”.  Nấu nướng cũng là nghệ thuật mà anh. Chị Diệu nói chừng nào về?

-Còn mệnh đề thứ hai sao em không nói hết? “Còn khi yêu một người ta chỉ muốn giữ người đó cho riêng mình”.

-Thôi đi. Em hỏi chị Diệu chừng nào về?

-Anh đâu rõ, khoảng trên dưới một tháng nữa, là anh đoán vậy, không hỏi. Cứ để bà ấy thoải mái. Hỏi chỉ tổ làm bồn chồn.

-Nhưng gì đi nữa, trong lúc chị đi vắng thì anh cũng phải cố gắng ăn uống tử tế, đừng có suốt tuần mì tôm với cơm hộp với bia rượu. Em chỉ nhắc chừng vậy, anh biết phải làm gì mà, phải không? Bữa lên nhà, em liếc thấy trong giỏ rác toàn vỏ mì, trong khi đồ ăn trong tủ thì chất đầy. Tự dưng em cảm thấy buồn buồn. Đàn ông các anh mười người thì có đến mười một người y như nhau khi vợ đi vắng dài ngày: Trường kỳ kháng chiến với mì tôm, lại ôm bia rượu làm bằng hữu chi giao nữa. Chẳng bổ béo gì mà thêm bệnh.

-Anh biết, đâu phải con nít. Anh chưa bỏ bữa ngày nào. Cuối tuần còn được vợ chồng cô em đánh xe lên tận nơi, chở xuống bồi dưỡng như ông hoàng ấy chứ. Em đừng lo lắng vẩn vơ, mệt trí. Anh nghĩ, em để đầu óc thanh thản sẽ tốt hơn ba cái vụ ăn uống quăn queo này.

-Xem ra anh thừa thông minh, nhưng rất kém hiểu biết về y học phổ thông trong vấn đề dinh dưỡng!

-Phải, cái gì cũng biết hết thì đi giành với thiên hạ làm thiên tài sao. Anh thấy thời đại bây giờ chẳng cần phải  biết một thứ gì, hiểu một tí gì nhưng khi được đặt lên ghế thì mọi chuyện đều trơn tru.

-Lại xiên xẹo.

-Thôi, đừng có lo lắng vớ vẩn nữa, được không?

-Không. Không lo cho ai cả, nhưng vẫn phải dòm chừng.

-Là em nói ra đó nhé, không tin thì chạy xe lên kiểm tra ngay coi anh nói có đúng không?

-Đừng giỡn anh, tới vào giờ này để thiên hạ xé xác em sao?

-Anh không xé em thì ai dám vào xé cơ chứ?

-Đừng đùa dai, mà bạn anh tới chơi nhà hay sao nghe nói chuyện như bắp nổ vậy?

-Mấy người ngồi trên truyền hình nói chuyện gì đó, anh không rõ, đâu có nghe họ nói gì!

-Thôi, anh xem TV đi, em đi tắm đây.

-Bonne nuit!

-Au revoir!

Màn hình điện thoại sáng lên màu mây trắng, trôi bềnh bồng vài giây rồi tắt ngấm. Anh bỏ máy xuống bàn, ngẩn ngơ về cuộc nói chuyện vừa chấm dứt, có vẻ như một màn kịch ngắn đang tới hồi cao trào thì bị sự cố mất điện. Và, rồi trong đầu anh lập tức vòng vèo tưởng tượng dài ngắn: Bắt đầu là cô em mở nụ cười đắc thắng, đủng đỉnh bước vào phòng tắm, cửa khóa trái, tiếng nước chảy ào ào, mát mẻ. Anh tự cười với bản mặt hụt trân của mình. Đúng rồi, nước sẽ xoa mềm và xối trôi tất cả, anh tự nhủ thầm khi quay ra, bỏ mặc kệ đám người bé xíu đang lao xao trên màn hình, vác ghế ra sân ngồi nhìn vườn cây nhập nhoạng trong ánh điện, cao thấp, vung vẩy cành lá theo cơn gió nhẹ mỗi khi tràn tới. Bóng tối và ánh sáng trộn lẫn khiến những lùm bụi như những hình nhân đang chạy nhảy lẫn cẫn, duỗi dài trên mặt đất.

Điện thoại lại reo. Chùng chình một lúc mới đứng dậy, bước lên bậc cấp, bụng dạ hoang mang. Anh không mong Phương đã tắm xong và lại nhớ tới chuyện mì tôm, bia rượu để tra gạn lần cuối trước khi ngồi vào bàn trang điểm.

Đúng. Không phải cô em mà là Diệu.

-Anh nghe đây.

-Anh ăn tối chưa?

-Xong tám hoánh rồi. Em khỏe không? Chuyến đi vui vẻ chứ?

-Rất vui và rất khỏe. Chuyến đi thú vị lắm, về em kể cho nghe. Ủa đang nhậu hay sao mà em nghe tiếng ồn?

-Khổ. Một đám trên TV xí xô xí xào gì đó. Nhậu nhẹt gì đâu.

-Anh dùng hết thực phẩm trong tủ chưa? Để em gọi Nhi nó mua mang về.

-Cũng sắp hết, đừng gọi. Để coi thích món gì anh bảo nó mua. Có những món anh không biết phải nấu thế nào. Mà đoàn của em lên chùa gì đó trên núi Tà Cú chưa?

-Chưa anh. Đang ở khách sạn. Mấy bà bạn đang dạo phố, dòm coi sông Cà Ty có đẹp như trong thơ anh Hoài Khanh không. Em định bụng qua thắp nhang cho anh Tư Đình.

-Phải đấy. Gọi xe sang thắp cho anh ấy cây nhang. Dẫu gì cũng chỗ bạn bè thân thiết một thời.

– Dạ, em đi ngay. Mà này, đoàn sẽ đi miền Tây khoảng một tuần. Lượt về Sài Gòn, em ghé nhà các con chơi với chúng chừng nửa tháng, sau đó ra Vũng Tàu với con Trang bạn em. Anh biết nó mà, Trang dạy Vạn Vật ở Đồng Sơn đấy. Dễ chừng gần hai chục năm không gặp nhau. Chắc cũng mất một tuần nữa nó mới thả ra, rồi quay về Mỹ Tho thăm nhà, coi phụ với mấy anh làm mộ cho ba má. Hồi sáng Út Hiền kêu chị Năm phải lên nhà nó chơi một tháng, chị em ruột thịt gì mà ba bốn năm trời không thấy mặt nhau… Anh thấy đó, không đi thì thôi, hễ bước chân ra khỏi nhà thì chỗ này ới, chỗ kia gọi, sao bỏ được, anh!

-Ừ, em cứ thoái mái đi. Nhưng đừng có kiểu: “… Nghe tiếng cơm sôi chợt nhớ nhà” đó nghe. Anh nhắc lại, cứ rong chơi thoải mái, đừng bận tâm về anh.

-Nhưng em lo.

-Lo với lắng, anh đâu phải trẻ con để trông chừng vấp ngã.

-Anh sẽ vấp cái khác. Mà mấy tuần nay Phương có lên không. Em gửi anh cho nó nhắc chừng chuyện sinh hoạt đó.

-Cảm ơn bà vợ tốt bụng. Anh đi tắm đây.

Anh tự động tắt máy. Quanh đi quẩn lại cũng ngần ấy chuyện. Đúng là đàn bà – anh lẩm bẩm và ngồi phịch xuống ghế đẩu và chợt nhớ đến mấy câu thơ của Sơn khùng: Đàn bà người nào cũng như người nấy/ Nên dặn lòng thôi hãy cố quên Em/ Nhưng đàn bà đâu phải người nào cũng như người nấy/ Nên suốt đười cứ nhớ nhớ quên quên. Diệu đã đi hết một quãng đường dài sướng khổ với anh. Rồi bây giờ lại Phương. Hai người hai thế hệ. Nhưng xem ra họ rất giống nhau. Bởi cả hai đều là đàn bà!

 

Ngó qua phía hòn non bộ, anh giật thót người khi thấy đôi đũa gát ngang miệng tô còn nằm trơ khấc trên thành bể khiến anh suýt nẩy bật lên kiểu điện giật, vì chứng cứ nói dối ngọt lừ vừa rồi vẫn đang phơi ì ra đấy, trần truồng. Xét về mối quan hệ thì giữa tô mì đã sạch nhẵn, thêm đôi đũa gát ngang vẻ thỏa mãn, đắc chí một cách đáng ghét… là hiện thực chua lòm so với canh chua cá lóc, sườn ram, rau xào do những bày đặt từ ngóc ngách sâu hoắm của sự tưởng tượng “phong phú”… Giữa chúng, hình như không họ hàng thân thích gì với nhau trong đời sống, chí ít là trước và sau khi có cú điện thoại tra vấn của cô em, nhưng rồi cái không tồn tại vẫn thắng cái đang “ngồi” thù lù ở thành bể kia, mà từ một khoảng cách xa, không có sự kiểm chứng thì nó giống như tên tội phạm đã thoát khỏi lưới luật pháp. Nó lại còn ngang nhiên có mặt trong lời thoại như sự che giấu cho tội phạm một cách quang minh. Cuộc nói dối trơn chùi đã làm cho Phương và ngay đến Diệu cũng tin rằng anh là người rất thật thà, ngay thẳng

Trên cồn cát

Quán Romance nằm cuối con đường dẫn từ đầu thành phố xuống giáp biển, trên một cồn cát cao, dân địa phương vẫn quen gọi quán Cồn Cát thay cho Romance. Phía trước mặt là một rừng dương xanh ngút, chắn những đụn cát cao chỉ chực có cơ hội là sóng biển xô bổ vào.

Anh và Diệu và Phương thích ngồi ở cái quán này, không phải thức ăn rẻ và ngon gì cho cam. Đơn giản là quán có những phòng ăn nhỏ vừa cho sáu người trên tầng ba. Mọi người vừa ăn vừa có thể nhìn ra màu biển xanh mênh mông ở dưới kia. Diệu chỉ thỉnh thoảng tham gia. Nhưng với Phương thì thường hơn. Bởi cô em cũng tâm trạng, cũng thích ngắm biển xanh và yên lặng lắng nghe tiếng lá dương reo vi vu hòa với sóng đập lao xao lên kè đá.

Tôi đề nghị:

-Tối nay mình đi ăn ở Cồn Cát, em nhé. 7 giờ được không?

-Sớm một chút, 6 giờ đi.

-D`accord! Em sửa soạn, anh tới trước. Nhớ mặc áo màu lá cây. Anh thích.

-Còn nhiều chiếc đẹp hơn.

-Anh thích chiếc này, chiếc lai cua màu lá cây ấy. Nó để lộ vẻ thanh thoát của em từ viền cổ, từ cánh tay trần. Nó sang trọng một cách dân dã như thể em đang ngồi quay tơ vậy. Cánh tay trắng muốt, chiếc cổ trắng muốt, những búp tay thon nổi lên giữa cuộn tơ vàng óng và, chiếc áo xanh làm nền. Nếu em biến chiếc áo ấy như một chiếc yếm thì em sẽ đẹp gấp bội trong mắt anh.

-Khéo tưởng tượng… Bày vẽ.

Quán thưa khách. Còn nhiều dãy bàn trống. Khi dượm chân bước lên cầu thang, chủ quán từ bếp lên chào và nói bữa nay có món cua lột. Tôi nói vâng cua lột. Ba người ăn chứ, chủ quán hỏi. Không, hai. Nhưng để người ta tới đã, coi có thích không. Chủ quán gục gật chiếc mũ trắng trên đầu cùng với câu nói, chúc vui vẻ, ngon miệng. Tôi nói cảm ơn và giơ tay vẫy vẫy.

Căn phòng chúng tôi thích ngồi, may chưa có người. Tôi mở toang các cửa lớn nhỏ. Phụ bàn giúp bật đèn và mở quạt rồi quay sang đặt quyển thực đơn dày cộp lên bàn. Chú đi một mình, phụ bàn hỏi. Không, hai, tôi trả lời, cháu chờ chút xíu nhé, chú sẽ gọi khi bạn đến. Cô bé dạ và quay ra.

Gió từ biển thổi vào, mát rười rợi. Tôi đứng lên tắt quạt và nhìn ra phía biển bắt đầu thẫm lại. Sóng vỗ rì rào và lá dương reo. Có vẻ như Phương có lý khi đưa ra nhận xét, rằng ngồi ở căn phòng này giống như ngồi trên ô riêng, ở nhà hát lớn, dành cho các quý ông quý bà nghe hòa nhạc giao hưởng. Cô nàng thêm, có những lúc em nghe như đó là bản giao hưởng số 5 cung Đô thứ Định Mệnh, đôi khi lại là khúc số 7 cung La trưởng Niềm vui hay các khúc Sonata. Em cảm ơn ông Beethoven thiên tài. Tôi hỏi, có khi nào em nghe giống như khúc Appasionata không? Nàng cười, để lộ chiếc răng khểnh cao ngạo giữa hai hàm răng trắng đều.

Phương bước vào. Nàng đúng là cô Tấm đã tìm thấy chiếc giày. Tôi đứng lên ôm nàng trong giây lát thay lời chào. Phương áp chặt. Cơ hồ như tôi nghe các thớ thịt, mạch máu, chân lông đều nhổm lên chực chảy ra ngoài.

Phương đẩy tôi ra và ngồi xuống, đẩy lọ hoa hồng ra đầu bàn.

-Mình ăn gì, em? – Tôi nói và đẩy quyển thực đơn về phía nàng – Ông chủ kêu có ghẹ, cua lột gì đó, quảng cáo rất ngon.

Phương xoáy vào mắt tôi.

-Anh quên hôm nay là ngày gì rồi sao. Rằm tháng bảy, lễ Vu Lan.

-A, xin lỗi – Tôi kêu lên – Vậy thì rau củ quả cho nó chay tịnh. Nhưng em phải cho anh một ly rượu. Vang Đà Lạt thôi. Đúng một ly.

-Được, một ly thôi nghe.

Khi cô bé phụ bàn bước ra, tôi cầm tay nàng nói bữa nay em đẹp quá. Nàng ngó cành hồng vàng nói, nịnh. Thiệt mà, tôi nói khẽ..

Chúng tôi nhẩn nha ngồi ăn, nói những chuyện không ăn nhập vào đâu, bởi ai cũng chăm chăm về hướng biển, như thể nơi đó đang lưu giữ những riêng tư của mỗi người. Thực tế lúc này. biển sẫm đen. Những cột đèn dọc bãi cát không đủ sáng để nhìn rõ mép nước và bờ cát. Tít tận ngoài xa những ánh đèn câu, giăng kín một khoảng không gian rộng. Hình như mọi chiếc thuyền đều đứng nguyên tại chỗ. Ánh đèn đứng nguyên tại chỗ.

-Em có bao giờ ngồi thuyền ra biển chưa?

-Chưa, em sợ say sóng.

-Em chỉ yêu mỗi dư âm của sóng biển, phải không?

-Cứ mỗi lần ngồi đây, nghe tiếng sóng, tiếng lá dương reo trong khoảng nhập nhoạng sáng tối là em nghĩ ngay đến những khúc giao hưởng cổ điển dành cho dương cầm. Ước gì giũ bỏ hết mọi phiền lụy trần gian và đến một nơi nào đó thật khuất vắng, thanh tịnh…

-Ước mơ bao giờ cũng đẹp và thực tế thì xù xì. Ta chỉ nên tận hưởng mỗi khi có dịp…

-Dạ, thực tế xù xì… – Nàng nói với nụ cười thật buồn bã, với đôi mắt u uẩn xa xăm khiến tôi nhớ ngay mấy câu của Bùi Giáng:

Em có nụ cười buồn buồn môi mọng

Em có làn mi khép lá cây rung

Em có đôi mắt như sầu xanh soi bóng

Hồ gương ơi! Sao sóng lạc vô chừng.

Tiếng lá dương, tiếng sóng trộn lẫn mơ hồ vọng lại. Chúng tôi yên lặng tiếp tục nhìn ra biển. Những quầng sáng nổi bật lên giữa màu đen thẫm. Tất cả đều đứng nguyên, không chuyển động. Đột ngột Phương quay sang tôi.

-Anh biết không, em yêu chị Diệu vô cùng, bởi chị đối xử với em như ruột thịt. Khi nào em bằng tuổi chị ấy, chắc chắn em sẽ đi theo con đường chị đang đi. Em thấy chị thanh thản, cởi bỏ. Ước chi lúc này em được phần mười của chị.

Tôi loay hoay, lúng túng không biết phải trả lời sao. Nhưng thực tế, chí ít là trong khoảng thời gian dài, cả ba chúng tôi đã gắn chặt vào nhau như kiếp tiền định. Những khi chúng tôi ngồi chung bàn ở căn phòng này, hình như ai cũng đọc được những ý nghĩ của người kia, bởi chúng tôi đều có những bất hạnh riêng. Cả ba đều hiểu nhau và cùng chia sẻ… Tận đáy lòng họ cũng run rẩy leng keng niềm hy vọng, lục cục nỗi thất vọng ê hề của số phận…

Trong ánh mắt của Diệu khi nhìn tôi và Phương, nàng như muốn nói: Anh đau khổ và mệt mỏi quá nhiều bởi những kỳ vọng dành cho thằng út đã sụp đổ, cộng với xã hội bên ngoài làm anh ray rức, tuyệt vọng. Em là vợ, nhưng không giúp được gì cho anh, bởi cả em và anh cùng bất lực, cùng đau đớn đến tột cùng về một niềm tin duy nhất bị đánh mất. Em biết ơn anh đã hiểu em, cho em đến với kinh pháp và đã được gội rửa. Còn anh, cả đời bi lụy vì chữ nghĩa, anh bay bổng với những giấc mơ đẹp, rồi bị xô đẩy, rơi đùng xuống đáy vực. Và rồi Phương là chiếc phao, là chiếc thang dây đã kéo anh lên khỏi vũng tối. Em cảm ơn Phương đã thay em làm được điều em không thể, dù cố gắng biết bao. Em tin anh. Đừng làm gì cho Phương buồn, bởi em nó cũng đang mang nỗi đau không kém cựa gì ai…

Phương thì, anh và chị Diệu đã xoa dịu vết nứt trong em như bàn tay êm ái của một bà mẹ yêu thương con hết mực, đồng cảm và chia sẻ cùng em, vực em đứng lên…

Còn tôi khi nhìn vào đáy mắt hai người, những người phụ nữ bao dung, mở lòng… tôi nghĩ nếu có kiếp khác, tôi cũng sẽ đi cùng trời cuối đất để tìm cho ra Diệu, và trái tim tôi sẽ vẫn dành một ngăn lớn cho Phương dẫu biết rằng “tôi không còn trẻ để cầm tay em nữa…”.

-Thôi về anh. Em về coi chừng mấy nhóc học bài.

Tôi đứng lên. Chúng tôi cùng nhìn về phía biển một lúc rồi hôn nhau. Nụ hôn mang theo mùi rau củ quả trong bữa ăn. Nó ngọt ngào và chay tịnh đến vô cùng vô tận.

NGUYỄN LỆ UYÊN

 

 

GIẤC MƠ

nguyenleuyen

Ba bức thư điện tử cách nhau ba ngày, cùng một nội dung là những lời thăm hỏi vu vơ không khiến ông phải bận tâm. Nhưng đến thư thứ tư cách thư trước khoảng một tuần thì nội dung giống chiếc đuôi con thằn lằn ngoay ngoáy trên vách tường rình mồi. Cái đuôi ấy lúc cong lên lúc lắc qua lắc lại, vừa xa mà cũng vừa như tóm được con mồi trong chiếc lưỡi dài: “Chào ông, ông có nghĩ rằng thời gian sẽ đẩy con người tới chốn âm u để quên đi tất cả. Trí nhớ sẽ không còn nhạy bén như hồi trẻ. Đi đứng khó khăn. Một vài thứ bệnh xuất hiện… Hẳn nhiên người ta sẽ phải loay hoay với những thứ đó, bận rộn suốt ngày với nó để không còn thời gian mà nhớ…?”.

Ông phì cười. Có lẽ cô nàng nào đó đã nhầm ông với một người nào khác. Rõ ràng cái địa chỉ này ông chưa hề quen, chưa một lần tiếp xúc qua bàn phím, nói chi đến chuyện nhớ quên? Nhưng mười ngày sau, trong inbox lại xuất hiện cái địa chỉ xa lạ kia. Cố nén bực bội nhưng cũng vừa tò mò, ông mở ra: “In life, there are moments when you miss someone so much that you feel like you could only fulfill your dreams by holding that person tight in your arms. Ngộ chưa? Nhớ đến ai, tương tư ai đến nỗi phải ôm chặt người ta trong giấc mơ? Một mối tình tan vỡ chăng? Hay là hoài nhớ lại những ngày xuân xanh? Ông muốn gõ vài chữ trả lời rằng, xin lỗi cô (bà) đã nhầm địa chỉ, nhưng ông không đụng vào ô reply, nghĩ bụng một cô bé theo kiểu nhân vật trong các feuilletons trước kia thì cứ để mặc cho cô chìm đắm trong những giấc mơ đẹp, không mất gì! Ông bỏ qua, mở các thư khác và trả lời, và không còn nhớ gì đến những giấc mơ của cô hay bà nào đó. Những giấc mơ bay mờ dần, tan dần trước màn hình kín đặc những con chữ màu đen.

Ông lại chúi mũi vào công việc. Bàn phím lại lóc cóc vang lên những âm thanh quen thuộc. Viết được nửa trang thứ ba có chuông điện thoại reo. Lại ngưng công việc, lại phải nhấc ống nghe áp lên lỗ tai:

-Tôi là Bằng, xin nghe.

-Thưa ông tôi muốn nói chuyện với ông một chút, có phiền lắm không ạ?

-Vâng, chị cứ nói, tôi nghe.

-Tôi là Mai, Ngọc Mai, ông còn nhớ không ạ?

-Mai thì rất nhiều, nhưng Ngọc Mai thì cũng có vài người thân sơ. Chị có thể nói rõ hơn chút được không? – Ông lúng túng với trí nhớ bắt đầu lãng đãng của mình.

Đầu dây bên kia ngập ngừng một lát rồi nhỏ nhẹ vang lên. Chất giọng mềm mượt tựa thảm cỏ tỉa tót cẩn thận trước sân vườn nhà ông.

-Đáng lẽ ra không nên làm ông bận rộn vì một việc không đâu, nhưng hôm qua, trong bữa họp mặt đồng hương, có người nhắc đến tên thầy làm em nhớ những ngày còn ở trường Lê Ngọc Hân.

Ông giật mình. Trong số các nữ giáo sư cùng trường thời xưa, hình như chỉ có Thanh Mai và Lê Thị Mai một dạy pháp văn, một dạy triết. Ngoài ra không còn Mai nào khác. Ông cố lục tung mọi ngõ ngách trong đầu. Một loạt các đồng nghiệp cũ hiện ra, nhưng cái tên Ngọc Mai thì chịu. Chẳng lẽ ông bắt đầu bước vào vũng còm cõi đến vậy sao. Hay cô ta dạy ở trường tư thục nào đó cùng thành phố. Mà tư thục thì có đến năm sáu trường, ông có quen ai đâu.

Ông nói với giọng không mấy tin tưởng:

-Tôi dạy ở Lê Ngọc Hân chỉ có hai năm, sau đó chuyển đi trường khác. Không rõ cô có dạy cùng thời gian với tôi ở đó không?

-Không thầy ơi. Em là học trò thầy lớp 11B3, phòng học ở cuối dãy hành lang lầu 1, xế hành lang có cây bằng lăng vượt cao hơn balcon. Giờ ra chơi tụi em hay vói tay níu hái những búp hoa tím, có lần bị thầy bắt gặp và nhắc nhở một câu nhớ đời: “Hoa thì đẹp đấy. Nhưng các em thì còn đẹp hơn gấp ngàn lần. Từ balcon tới mặt đất có đến 4 mét. Phía dưới không êm ái như tấm nệm trong phòng ngủ có máy điều hoà đâu”. Thầy chỉ nói có vậy rồi bỏ đi không thèm ngoái nhìn lại coi coi lũ học trò có thôi đi trò nghịch ngợm nguy hiểm kia không hay vẫn tiếp tục vói tay ra tận những cành xa. Hôm qua chị bạn nhắc lại, chị Lan làm thơ hay nhất lớp đấy, chắc thầy nhớ?

-Vâng, tôi nhớ cô Lan, tôi nhớ những năm Lan và các bạn say mê làm tờ đặc san cuối năm cho trường.

-Dạ, giờ chị Lan không thành nhà thơ mà là một doanh nhân tầm cỡ trong cộng đồng ở nơi đất khách quê người này.

-Tôi cầu mong tất cả mọi người đều thành đạt. Niềm hạnh phúc riêng tư của mỗi người là nắm giữ được những mơ ước có thật trong tay.

-Thầy có khoẻ không và hiện đang làm gì?

-Cảm ơn, có lúc khoẻ lúc không bởi tuổi già cứ rập rình ngoài khung cửa, giống như khạp nước bị nứt. Bữa nay nước rỉ ra một chút, mai một chút cho tới khi cạn đáy coi như chấm dứt mọi món nợ trần gian.

-Thầy luôn có lối ví von gây sự chú ý. Tụi em nhớ thầy chính vì điểm này. Thầy luôn có sự khác biệt đối với những thầy khác, khó nói, khó tả chính xác. Xin lỗi thầy, giờ em có hẹn, em sẽ gặp lại thầy. Chúc thầy…

Ông gác máy, ngã người ra thành ghế, nhắm mắt làm một cuộc thanh lọc và tái hiện lần hồi, bắt đầu từ buổi sáng cầm sự vụ lệnh đến trình diện với bà hiệu trưởng. Giờ phút đầu tiên cầm viên phấn và đám nữ sinh xì xào bên dưới… Một khối trắng bềnh bồng trôi trong phòng học, không phải là những con thiên nga giang đôi cánh trên trời cao mà là những chùm bông gòn kết dính, rối nùi bay lả tả trong không gian hẹp đến khó chịu. Sự khó chịu kia có lần ông buộc miệng với bà hiệu trưởng: “Tôi không thể nào hiểu nổi ai đó ở bộ Giáo dục lại đưa ra ý tưởng lập một trường trung học toàn nữ. Sự mất thăng bằng về giới tính trong nhà trường dễ dẫn đến những hậu quả tai hại về học tập, sinh hoạt về vấn đề tâm sinh lý…”. Câu tổng kết kinh nghiệm mới mẻ kia được phát đi từ miệng anh thầy giáo non choẹt mặt mũi, non choẹt tuổi nghề, được đón nhận bằng những ánh mắt trái ngược nhau và đều có ngầm ý cho rằng ông đang nói trên vị trí của anh đồ gàn của nhiều thế kỷ trước còn sót lại. Nhưng với ông, lúc đó hoàn toàn chính xác đến từng ly mét. Một thầy giáo mới ra trường, tuổi tác so với học trò chỉ cách nhau năm ba tuổi, có thể gọi là cùng thế hệ đã dẫn tới nhiều hệ luỵ rất trẻ con.

Chất trẻ con đầu tiên ông đụng mặt là những câu tấn công tình cảm vu vơ trên bảng, đánh lừa người khác bằng cách viết tay trái. Thỉnh thoảng lại nhìn thấy một cánh hoa dại bứt vội đâu đó trên đường tới trường đặt trên bàn kèm theo mảnh giấy “gửi đến thầy với trái tim tan nát”, một tờ giấy pelure màu hồng sực nức nước hoa và những vệt nước nhoè trên mặt giấy mà ông đoán chắc là những giọt nước từ chiếc vòi ngoài sân cỏ. Nhưng khủng khiếp hơn cả là khi ông giảng về phong trào thơ mới ở Việt Nam. Hàng chục cánh tay giơ lên, nhao nhao tranh luận, đặt những câu hỏi phản biện như đùa như thật:

-Thưa thầy, tại sao yêu là chết trong lòng một ít? Vô lý, không yêu nhau thì thôi chớ chết chi cho uổng? Sao ông Phan Khôi tự dưng đặt tên bài thơ là tình già, tình già khác tình trẻ chỗ nào, thầy? Lại còn liếc nhau con mắt còn có đuôi, bộ như đuôi chim đuôi gà hay kiểu tóc đuôi ngựa tụi con gái thời nay? Ông Nguyễn Bính so sánh khập khiễng: Nắng mưa là bệnh của trời/tương tư là bệnh của tôi yêu nàng. Dạ, cứ cho là bệnh đi, nhưng so sánh với mưa nắng thì nhà thơ dở ẹt… Dạ, thưa… có bao giờ thầy tương tư, thầy chê…ết… chưa ạ? Tiếng cười ồ đồng loạt nổi lên. Tôi lúng túng thật sự. Lúc đó tôi không còn là ông thầy nghiêm trang nữa, mà quay lại đúng vị trí anh thanh niên vừa tròn 23 tuổi mụ, đang bị bao vây bởi một bầy thiên nga lông trắng, nhao nhao bên dưới. Rất khó khăn tôi mới lập lại được trật tự. Và, cũng chừng ấy khó khăn, tôi bình tĩnh giải thích, cắt nghĩa rành rẽ về cấu trúc ngôn ngữ thơ ca, về tứ trong một bài thơ… đến khi chấm dứt giờ học, thay vì những tiếng cười ồ trước đây là những tiếng vỗ tay bôm bốp, kèm theo: “Ôi, thật tuyệt vời, thầy đáng yêu quá… Chúng em yêu thầy…”.

Chuông đổ, tôi thu gom tài liệu trên bàn, vụt ra cửa như một chiến binh bị địch truy đuổi phía sau. Những tiếng la í ới, tiếng đập bàn như thể những phát đạn bắn với theo.

Bầy thiên nga lông trắng ngày xưa với giấc mơ lỏng lẻo từ trời cao rớt xuống, cách một đại dương mênh mông, nếu dừng lại ở đấy thôi cũng đủ làm ông nhồn nhột, huống chi ba ngày sau cuộc nói chuyện bất ngờ trên điện thoại, lại có một bức thư khác ở một địa chỉ e-mail khác, viết rằng: Thầy có biết thầy là người vô tình không? Con Mai yêu thầy đến phát cuồng. Nó yêu thầy ngay từ ngày đầu thầy nhận lớp. Đã chồng con đề huề, nhưng mỗi khi nhắc trường xưa bạn cũ nó lại khóc ròng nói nhớ thầy. Nếu hồi đó mà thầy biết sự tình, giờ này chắc tròn trịa. Thầy có tưởng tượng ra nó chưa? Con Mai đẹp nhất trường, kiêu kỳ nhất, đa cảm nhất… và yêu thầy nhất… Ông tắt cả hộp thư, shut down máy. Đầu óc váng vất, mệt muốn đứt hơi với mớ chữ vừa đọc.

Ông xô ghế, rót cốc nước lọc, uống từng hớp nhỏ. Thần kinh dịu xuống đôi chút. Lúc sau ông thừ người ngồi nhìn chiếc laptop mỏng dính im lìm trên bàn: lẻ loi, cô độc bởi ông không đụng đến nó; im lìm như người có lỗi bị xua đuổi. Trong đầu bổng dưng lóe lên một ý nghĩ không mấy bình thường: nếu như ông biết sự thể kia, nếu như ông chấp nhận mối tình của cô bé học trò, nếu như hai người lấy nhau… thì giờ này ra sao nhỉ?

Những chữ “nếu” kéo dài và dính cục lại, bồng bềnh như cánh những con chim thiên ngay lông trắng muốt trên trời cao vẫy những giấc mơ đẹp bay theo. Ông nhắm mắt lại và ngỡ như mình đang bay đuổi theo những cánh thiên nga trắng muốt kia.

NGUYỄN LỆ UYÊN