Biểu Tượng Heo Trong Huyền thoại, Điện ảnh, và Văn học

Người miền Nam gọi là con heo. Miền Bắc, gọi con lợn. Ở miền Nam có bánh da lợn và bánh tai heo. Không thấy ai nói bánh da heo và bánh tai lợn. Heo thì có heo nhà và heo rừng. Trong giống heo nhà có gồm chung một loại heo nhỏ, màu đen hoặc đốm đen, là heo mọi. Tiếng Anh có nhiều chữ để chỉ con heo, hoặc lợn. Mãi cho đến thế kỷ thứ mười chín, chữ “swine” là chữ được dùng thường xuyên nhất. “Pig” ban đầu được dùng để chỉ “a young swine” (một con heo còn bé). “Boar” là heo đực tuy nhiên thường được dùng để chỉ loài heo rừng. “Sow” là heo nái. “Barrow” heo đực bị thiến. “Hog” là con heo đực trưởng thành, to lớn hơn “pig,” được dùng chung cho cả hai “swine” hoặc “barrow.” “Farrow” trước kia dùng để chỉ heo con, sau dùng để chỉ đàn heo con mới sinh.
Đối với người Do Thái và người Hồi Giáo, heo là con vật bẩn thỉu vì vậy giáo dân không được phép ăn thịt. Người nào không tuân theo giới cấm sẽ bị Chúa hay Giáo Chủ trừng phạt. Tuy vậy, vẫn có những quốc gia, đưa loài heo vào hàng thần linh. Albina là một nữ thần trong huyền thoại của xứ Etruscan (thuộc về nước Ý thời cổ). Gốc gác Albina là một con heo nái màu trắng. Tương tự như huyền thoại Etruscan, huyền thoại Celtic (bao gồm các quốc gia Ireland, Scotland, Wales) có nữ thần Eridwen (cũng là con heo trắng). Babi Ngepet là một con heo quỉ trong huyền thoại Indonesia. Huyền thoại Wales có Hen Wen, vị thần heo nái đã sinh ra con mèo khổng lồ Cat Palug. Về sau còn mèo này đánh nhau với Vua Arthur. Hildisvíni là con heo đực của vị thần Freyja trong huyền thoại Norse. Gullinbursti là một con heo nọc có bộ da cứng như thép, lông bằng vàng mọc dọc theo xương sống. Bộ da này có thể chiếu sáng trong bóng tối. Gullinbursti được dùng làm quà tặng cho Frey, vị thần tượng trưng cho nắng và thời tiết tốt đẹp, bảo vệ sự sinh tồn và thịnh vượng cho loài người. Kamapua’a trong huyền thoại Hawaii là một cậu bé nửa người nửa heo, là thần tượng trưng cho khả năng sinh sản và bảo vệ của hòn đảo Maui. Moccus là một vị thần heo Celtic bảo vệ thợ săn và chiến sĩ. Trư Bát Giới trong huyền thoại Trung quốc, là một người, nửa phần trên mang hình dáng heo, đã theo Đường Tam Tạng đi thỉnh kinh. Sau khi cuộc thỉnh kinh thành công, Trư Bát Giới trở thành Bồ Tát.
Dường như, người Tây phương thời cổ vì sợ sự tàn phá của loài heo rừng khổng lồ mà đưa chúng vào huyền thoại. Heo, được tôn thờ vì sợ hãi chứ không vì kính yêu. Lưu truyền mãi đến ngày hôm nay, heo luôn luôn là biểu tượng cho sự khinh ghét vì những đặc tính dâm dục, ngu độn, và tham ăn. Phim ảnh về tình dục tục tằn (pornography) được dịch ra là “phim con heo”. Con heo cũng là biểu tượng của sự ngu xuẩn. Người Việt mình thường chê trách một người nào đó bằng thành ngữ “ngu như heo.” Người Mỹ dùng chữ “pig out” để chỉ hành động ăn tham và ăn nhiều. Tiếng Hy-lạp cổ có một thành ngữ được dùng để chỉ người ngu mà hay làm ra vẻ khôn ngoan dạy đời; đó là “a pig contending with Athena” có nghĩa là heo là dám đối đáp với Athena, vị nữ thần bảo hộ thành phố Athen. Bên cạnh hai con heo rừng của Calydon và Heracles, tôi sẽ kể bạn nghe sau đây, Hy lạp còn có con heo rừng (nái) Crommyonian sow là mẹ của con heo rừng Calydon, bị Theseus, vị thần lập nên thành phố Athen, giết chết. Câu chuyện heo Crommyonian cũng na ná như hai huyền thoại kia lại ít chi tiết ly kỳ nên tôi bỏ qua.


Cuộc săn heo rừng ở Calydon.

Calydon là một thành phố của Aetolia, vào thời Hy Lạp cổ, nằm ở bờ phía Tây của con sông Evenus cách bờ biển chừng 11 km. (Theo Wikipedia). Calydon vào thời ấy rất thịnh vượng, được nhắc nhở nhiều lần trong tác phẩm Iliad của Homer. Oeneus, vua của Calydon thường dâng hiến lễ vật cúng tế Artemis, nữ thần chúa tể ngành săn bắn, con của Zeus và là chị/em sinh đôi của thần Apollo. Có một năm, Oeneus quên kèm tên Artemis trong các món lễ dâng cúng các vị thần. Nổi giận vì cho là Oeneus khinh thường mình, Artemis thả con heo rừng khổng lồ của bà đến tàn phá tất cả ruộng vườn nhà cửa và giết hại dân chúng của Calydon. Dân chúng rút vào kinh thành cố thủ, con heo rừng lại canh ngay trước cửa thành khiến dân không thể cày cấy hay săn bắn, dần dần lâm vào nguy cơ bị chết đói. Oeneus kêu gọi anh tài cứu giúp quốc gia. Người nào giết con heo rừng khổng lồ này sẽ được thưởng bộ da và cặp nanh của nó.
Một người thì có lẽ khó mà thắng được con heo rừng của Artemis, tuy nhiên rất nhiều anh hùng xứ Calydon đã đáp ứng lời kêu gọi của Oeneus. Trông số này có Argonauts, đoàn quân đã từng đi săn con cừu thần có cánh với bộ lông bằng vàng, và hoàng tử Meleager, con vua Oeneus. Người yêu của Meleager là Atalanta, săn bắn rất tài giỏi, cũng được mời tham dự cuộc săn.
Atalanta, nguyên là con nuôi của Artemis. Thuở nhỏ đã từng được nuôi bằng sữa của Artemis. Lớn lên nàng thường được Artemis ủy quyền quán xuyến công việc. Tài năng của nàng vượt xa người thường. Hoàng tử Meleager giết chết con quái vật, tuy nhiên, phần thưởng cao quý của người chiến thắng được chàng trao cho Atalanta vì nàng là người đầu tiên bắn trọng thương con quái vật.
Đoàn quân săn bắn không đồng ý việc giải thưởng cao quý này lại được trao cho một người đàn bà (kỳ thị phụ nữ quá!). Mấy người con của Thestios, cậu của Meleager, cướp phần thưởng này, vì thế Meleager giết đám con và cả người cậu. Ngày xưa, khi Meleager mới sinh ra, có một vị thần tiên tri, nhìn mấy cây que củi đang cháy trong lò sưởi, rồi bảo rằng: “Bao giờ cây củi ấy cháy hết, Meleager sẽ chết.” Mẹ của Meleager để bảo vệ con, vội dập tắt cây củi rồi cất vào trong áo. Meleager nhờ đó thoát chết. Đang cơn giận con trai giết chết em trai và cháu, bà rút cây củi đang giấu trong áo ném vào lửa, vì thế giết chết Meleager.
Người ta bảo rằng thần Artemis sai Atalanta đi giúp đoàn người săn con heo rừng khổng lồ để chia rẽ đoàn quân sâu xa hơn, và trả thù vua Oeneus. Trong cuộc săn, người này bắn lầm người kia, các vị anh hùng đâm ra thù oán giết chóc lẫn nhau, xã hội càng thêm hỗn loạn.
Bộ da con heo rừng được thờ trong đền Athena Alea ở Tegea, Laconia; tương truyền từng được người đời nhìn thấy hồi thế kỷ thứ hai sau Công Nguyên. Bộ nanh heo rừng khổng lồ xứ Calydon, phần gốc to nhất, có chu vi gần 89 centimeters. Bài học duy nhất của cuộc săn heo lưu lại cho đời sau là sự qui tụ rất nhiều anh hùng (heroes) chung tay góp sức với nhau để cứu quốc gia đang gặp nạn.


Cuộc săn heo rừng của Heracles

Người Hy-lạp cổ biến heo rừng thành thần và đưa vào huyền thoại không phải chỉ một lần. Cuộc săn heo rừng trở thành một trong mười hai công việc khó nhọc mà Heracles phải thực hiện để chuộc tội.
Heracles (còn được biết bằng tên La-mã, Hercules) là con của Zeus. Vị chúa tể của các vị thần này có người vợ chính thức tên là Hera. Mẹ của Heracles là Alcmene, một trong những người vợ lẽ của ông. Hera vì ghen nên thường tìm cách hãm hại Heracles. Ngày chàng còn nằm nôi Hera cho hai con rắn thân tín của bà đến giết Heracles. Tuy nhiên, cậu bé Heracles đã bóp chết hai con rắn bởi vì từ khi mới sinh ra đời chàng đã có sức mạnh vô song. Hera không bỏ cuộc. Bà biến Heracles trở nên điên loạn. Trong cơn điên chàng đã giết chết vợ và các con.
Ân hận vì vợ con chết dưới tay mình, Heracles đến đền Delphi cầu xin với các nhà tiên tri lời sấm truyền chỉ cách cho chàng chuộc tội. Sấm truyền Heracles phải đến chầu vua Eurystheus, và thực hiện 12 công việc nhọc nhằn cực độ do vị vua này chọn lựa. Theo lệnh vua Eurystheus, Heracles giết con sư tử thần Nimean rơi từ trên mặt trăng xuống, con rắn chín đầu Hydra, và bắt sống con tuần lộc có bộ lông bằng vàng, thú cưng của thần Artemis. Công việc thứ Tư, Eurystheus sai Heracles đi giết một con heo rừng khổng lồ sống trên núi Erymanthos thường xuyên xuống núi giết người và phá hoại mùa màng.
Tương tự trường hợp Calydon, heo rừng Erymanthos cũng do Artemis thả xuống trần gian để trừng phạt người dân. Erymanthus, con của thần Apollo, nhìn trộm vị nữ thần Aphrodite đang tắm vì thế bị Aphrodite đánh mù mắt. Apollo trả thù cho con bằng cách sai con heo rừng (của Artemis) đi giết Adonis, người tình trẻ tuổi đẹp trai của Aphrodite. Robert Graves, một học giả chuyên nghiên cứu huyền thoại Hy-lạp, cho rằng đời sau ghi chép nhầm lẫn nên gán cho nữ thần Aphrodite, thật ra đó chính là Artemis.
Nếu tin theo giả thuyết của Robert Graves, câu truyện vừa kể bên trên trở thành, Erymanthus nhìn trộm Artemis tắm vì thế nữ thần đánh Erymanthus, cháu gọi bằng cô, đến mù mắt còn gửi cả con heo rừng đến phá hoại mùa màng trên vương quốc của cháu. Thật là một người cô hung tợn. Và Heracles phải giết con quái vật này để chuộc tội giết vợ con.
Trên đường đi giết con heo rừng Erymanthos, Heracles giải cứu Chiron, người bị xiềng trên đỉnh núi. Hằng ngày có con đại bàng đến rỉa gan của Chiron để ăn. Heracles giết chết chim đại bàng cứu Chiron, vì thế được ông ta chỉ cách để bắt giết con heo rừng khổng lồ Erymanthos. Vì đang giữa mùa đông, Heracles lùa con heo rừng vào cánh đồng tuyết thật dày khiến nó bị lún sâu không chạy được. Heracles bắt trói và khuân về để trước mặt Eurystheus. Hoảng sợ vì con thú khổng lồ và hung dữ, vua ra lệnh đem giam nó vào một cái chum khổng lồ “pithos” phân nửa chum được chôn dưới đất. Vẫn còn kinh sợ, vua Eurystheus van xin Heracles đem con quái thú đi thủ tiêu. Người đời sau, Roger Lancelyn Green, kể thêm rằng Heracles ném con quái vật ngoài biển khơi, nó bơi vào nước Ý, và nanh của nó được lưu giữ trong đền thờ Apollo ở Cumae.
Heo rừng thường thường rất dữ tợn và nguy hiểm. Nữ thần Venus đã lên tiếng cảnh cáo Adonis, không nên đi săn heo rừng, nanh của nó có chứa sức mạnh của sấm sét. Tuy vậy, phim ảnh Hoa Kỳ có một con heo rừng rất hiền lành, chỉ biết ăn sâu bọ, đó là Pumbaa, nhân vật trong “the Lion King.” Pumbaa theo tiếng Swahili, Đông Phi, có nghĩa là ngu ngốc, kỳ khôi, cẩu thả, bất cẩn. Pumbaa tuy vậy lúc cần cũng là một chiến sĩ can trường, và sẽ tức giận nếu kẻ nào không phải là bạn mà dám gọi Pumbaa là con heo. Châm ngôn của Pumbaa là “Hakuna Matata” có nghĩa là chẳng hề gì đâu, đừng lo nghĩ, hãy cứ vui mà sống.

Nhưng Pumbaa chỉ là con heo rừng trong phim hoạt họa. Thế còn có con heo nào được đóng phim không. Có chứ. Không chỉ một con mà cả ngàn con trong phim “The Pigs and the Battleships” (1961) hay “Bầy heo và Đoàn Chiến Hạm.”
“Bầy heo và Đoàn Chiến Hạm” là tên cuốn phim dựa vào tiểu thuyết của Kazu Otsuka do Shohei Imamura làm đạo diễn.
Hai nhân vật chính trong phim là Kinta và Haruko. Phim lấy bối cảnh là Yokosuka, một thành phố cạnh biển vào thập niên năm mươi, lúc chiến tranh giữa Hoa Kỳ và Nhật Bản vừa chấm dứt. Nhân danh bảo vệ Nhật Bản lúc ấy đã đầu hàng và tuyệt đối giã từ vũ khí; Hoa Kỳ mở nhiều trại lính dọc theo chiều dài của quốc gia Thái Dương Thần Nữ. Phim cho thấy quan điểm của Imamura về xã hội Nhật vào thời điểm ấy, khác hẳn nếu không nói là hoàn toàn trái ngược với quan điểm của Yasujiro Ozu. So sánh quan điểm của Imamura với Ozu mà không với đạo diễn nào khác là bởi vì Imamura đã từng là phụ tá đạo diễn cho Ozu trong rất nhiều phim. Nhiều người bảo rằng Imamura là học trò của Ozu. Với bộ phim rất thành công này, Imamura khẳng định tài năng, và được xem là người dẫn đầu khuynh hướng New Wave (Làn Sóng Mới) của Nhật Bản. Người xem nếu quen thuộc và yêu thích quan hệ cha con, vợ chồng, với những xung đột ngấm ngầm bên dưới bộ mặt lặng lẽ trầm ngâm của các nhân vật; quen thuộc và yêu thích quan niệm thẩm mỹ của vườn Thiền, trà đạo, cắm hoa, thơ haiku như trong phim Ozu; sẽ cảm thấy bực bội, hay choáng váng với cách miêu tả xã hội Nhật của Imamura.
Kinta lớn lên trong một gia đình nghèo, mẹ mất sớm, ông bố nghiện rượu làm nghề kéo xe thuê. Anh lêu lỏng, lười biếng, làm tay sai cho băng đảng Himori, chuyên tống tiền những chủ tiệm nhỏ trong vùng để kiếm tiền tiêu vặt. Haruko giúp việc cho một cái bar nhỏ, yêu Kinta, mơ một ngày nào làm đám cưới với Kinta và thoát ly gia đình. Chị của Haruko hành nghề gái bán bar, lấy tiền mang về giúp mẹ nuôi em. Mẹ Haruko đã hứa gả nàng cho một người Mỹ đứng tuổi để lấy ba chục ngàn. Và tiền đã được bà mẹ lấy trước. Haruko muốn Kinta cùng chạy trốn với nàng đến Kawasaki để tìm việc làm và bắt đầu cuộc sống tự lập.
Cứ mỗi lần một chiến hạm Hoa Kỳ cập bến, thành phố Yokosuka trở nên bát nháo với quang cảnh cờ bạc, say sưa, đĩ điếm. Khung ảnh của Imamura miêu tả những anh chàng lính Mỹ to lớn, đần độn, và dâm dục. Người Nhật thì tham lam, trộm cắp, lường gạt, và đánh mất phẩm giá.
Băng đảng Himori kiếm lợi bằng cách nuôi heo, cung cấp thịt cho các trại lính Hoa Kỳ. Kẻ cắp gặp bà già, băng đảng này bị lường gạt, ký hợp đồng với một tên bịp bợm. Họ nộp tiền trước để được mua thịt hộp phế thải của lính Mỹ và dùng thịt này để nuôi heo. Băng đảng Himori bị bịp hết tiền, thua lỗ. Haruko mang thai, phá thai, hẹn hò đi chơi với lính Mỹ say rượu, bị hiếp dâm, ăn cắp tiền của lính Mỹ, bị bắt, vào tù, được chuộc ra và phải lấy chồng Mỹ để trả nợ. Haruko bỏ trốn đến trại nuôi heo. Kinta tổ chức bắt trộm tất cả heo trong trại đem bán để lấy tiền và trốn đi với Haruko. Kế hoạch không thành, Kinta bị băng đảng đối lập cướp tất cả các xe heo, và bản thân anh ta bị bắt lên xe heo đưa vào thành phố. Kinta dùng súng uy hiếp tài xế của các xe vận tải chở heo phải thả heo ra, và trong cuộc xung đột Kinta bị bắn chết. Đàn heo tràn ngập thành phố chen chúc trong các ngõ hẻm dẫm đạp lên người ta khiến nhiều người bị chết. Haruko nhìn thấy cái chết của Kinta, một mình bỏ thành phố ra đi.
Người xem phim không khỏi nghĩ rằng Imamura đã dùng hình ảnh đàn heo tràn ngập thành phố đè chết người dân như biểu tượng của lính Mỹ dày xéo nước Nhật.
Nếu trong thời cổ đại của Hy-lạp con heo rừng khổng lồ là biểu tượng cho sức mạnh và sự hung tợn của thú vật khống chế loài người, thì trong thời hiện đại con heo của George Orwell là biểu tượng của sự độc tài, sử dụng quyền hành đàn áp và dối gạt người dân. Tuy chê bai loài heo tham lam và dâm dục, loài người, nhất là các nhà độc tài thật ra cũng chẳng khác gì loài heo. Ở phần cuối truyện “Animal Farm” Orwell viết:
“The creatures outside looked from pig to man, from man to pig, and from pig to man again; but already it was impossible to say which was which.”
Dịch là:
“Loài thú ở bên ngoài đưa mắt nhìn từ loài heo sang loài người, rồi từ loài người sang loài heo, rồi lại từ loài heo sang loài người; nhưng không thể nào phân biệt kẻ nào là heo, kẻ nào là người.”
Người Anh (và Mỹ) khi biểu lộ sự khinh bỉ một người đến tột độ, họ mắng là đồ heo. Somerset Maugham đã cho một nữ nhân vật, Sadie Thompson, Altogether [1934.] Rain, kêu lên. “You men! You filthy dirty pigs! You’re all the same, all of you. Pigs! Pigs!” Dịch là “Lũ đàn ông các anh! Bầy heo bẩn thỉu! Các anh toàn như nhau cả. Cả một lũ heo! Heo! Heo!”
Bên cạnh sự bẩn thỉu, ngu xuẩn, tham lam, tham ăn, và dâm dục, ít thông dụng hơn, con heo còn tượng trưng cho sự giận dữ tột độ. Trong vở kịch Lysistrata của Aristophanes, đám phụ nữ đồng lòng biểu tình, từ chối chăn gối với chồng và người yêu, để phản đối chiến tranh, có câu: “I will set loose my sow,” nghĩa đen là “tôi sẽ thả rong con heo nái,” nghĩa bóng là “tôi sẽ bày tỏ cơn giận dữ của tôi.”
Shakespeare đã tận dụng chi tiết, cờ hiệu của vua Richard III có hình con heo trắng. Ông vua này bị Shakespeare gọi là “Heo” thí dụ như: “the boar” (3.2.11), “elvish-marked, abortive, rooting hog” (con heo bị quỉ ám gây ra thất bại), hay con heo phá hoại của quỷ (1.3.227) và
The wretched, bloody, and usurping boar,
That spoiled your summer fields and fruitful vines,
Swills your warm blood like wash, and makes his trough
In your emboweled bosoms” (5.2.7-10)
Con heo khốn nạn, khát máu, xâm chiếm,
Phá hoại ruộng vườn và vườn nho mùa hè đang tốt tươi,
Máu của bạn tuôn chảy ra như là nước để rửa, và làm cái máng cho hắn
Bằng cái lồng ngực bị mổ toang của bạn.
Người Do Thái và Hồi Giáo chê thịt heo bẩn không ăn, nhưng với người Việt thịt heo là vật liệu để nấu thành những món ăn ngon không thể thiếu. Ngày thường ở các hàng quán bán thức ăn, thịt heo là nguyên liệu chính trong cơm sườn, gỏi cuốn, chả giò, bánh canh giò heo. Đặc biệt, với ngày Tết, bên cạnh dưa chua, củ kiệu, thịt heo nạc lưng kho với trứng là món không thể thiếu. Phổ thông đến độ, thịt heo xuất hiện cả trong hai câu đối nổi tiếng, lưu truyền từ bao năm cho đến bây giờ.
Thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ.
Cây nêu tràng pháo nổ bánh chưng xanh.
Xin chúc độc giả một năm mới ngon miệng với nồi thịt kho nước dừa thơm ngát.

Nguyễn Thị Hải Hà

Advertisements

GIÁNG SINH KHÓ QUÊN

Mới giữa tháng Mười Hai nơi tôi làm việc đã trang trí mừng lễ Giáng Sinh. Dây kim tuyến trắng bạc giăng khắp nơi. Ở góc tường chiếc xe lửa có nhiều toa màu đỏ chạy vòng quanh cây Noel gắn đèn chớp tắt màu trắng làm không khí có vẻ tưng bừng hẳn lên. Viền quanh phòng làm việc của bà Jean Đi Bộ là mấy chiếc vớ to màu đỏ và các nốt nhạc màu trắng cắt bằng những miếng nhựa xốp. Ban Công chánh ăn tiệc sớm vì đa số nhân viên nghỉ hai tuần cuối năm mừng lễ, mãi đến sau Tết Dương Lịch mới trở lại. Tôi vẫn chưa mua quà cho con tôi. Hôm nay thứ Năm là ngày lĩnh lương. Cuối tuần này tôi sẽ đưa con gái đi mua quà. Tôi đến gặp Natasha.

“Tôi cần chị đi với tôi đến cầu Moor.”

“Tại sao phải đi hôm nay? Trưa nay là tiệc Giáng sinh mà. Để tuần sau đi.” Natasha vùng vằng.

“Nếu không cần gấp thì tôi đã không làm phiền chị. Đi hôm nay trời rất ấm vì có Indian summer. Tôi hứa sẽ đưa chị về trước giờ ăn trưa để dự tiệc Giáng sinh.”

Tôi lái xe đưa Natasha đến cầu Moor. Đây là loại cầu quay, giống như một cái bàn chân, khi mở, những “ngón chân” ngóc lên, còn cái “gót chân” sà xuống gần mặt nước. Trong lúc lái xe tôi giải thích, cần phải đi ngày hôm nay vì lệnh trên đưa xuống. Tổng Giám đốc của công ty muốn áp dụng cách khóa cầu của một công ty ở tiểu bang khác vào cầu Moor. Đường hỏa xa chạy trên cầu này băng qua eo biển có nhiều thuyền qua lại. Cầu mở cho đường thủy giao thông. Khi hạ cầu xuống đường rầy trên cầu phải nối liền với đường rầy trên đất như không hề bị cắt làm đôi. Để đề phòng cầu bị tách rời khi xe hỏa đang đến, giữa hai mối cắt này là một thanh khóa rất to được điều khiển bằng máy. Máy khóa cầu của cầu Moor vẫn còn tốt nhưng thuộc loại máy cũ. Tổng Giám đốc muốn dùng máy mới điều khiển bằng điện tử. Lệnh của Tổng Giám Đốc đưa xuống, sếp tôi muốn được lòng thượng cấp, ra lệnh phải thi hành ngay trong ngày hôm nay.

“Chị biết. Tôi chỉ là lính, phải tuân lệnh cấp trên. Sếp bảo nhảy là nhảy thôi!”

“Chẳng những thế, chị phải hỏi lại là cần nhảy cao đến mức nào.” Natasha trêu tôi.

Những khi cần ra ngoài công trường tôi thường yêu cầu Natasha đi với tôi. Một để giữ an toàn, trường hợp có tai nạn thì có người gọi cấp cứu. Hai, vì cùng là đàn bà với nhau. Tôi phân công. “Chị vào trạm gác cầu báo là tôi sẽ làm việc trên giàn máy quay cầu chừng hai giờ đồng hồ. Chị có thể ở trong trạm gác cho ấm, khi nào tôi cần chị giúp trong việc đo đạc tôi sẽ gọi. Nhắc người gác cầu mở còi hụ báo cho tôi biết khi phải mở cầu cho thuyền đi qua.”

Hồ sơ của máy quay cầu đều có ở văn phòng. Hôm nay tôi đi chỉ để kiểm chứng, so sánh hiện trường với tài liệu ở văn phòng. Tôi cũng muốn xem có chỗ trống đủ để gắn bộ máy mới hay không. Đo một khoảng rộng tôi cần có người giữ một đầu của cái thước dây nhưng Natasha ở trong trạm gác cầu nên công việc hơi khó khăn hơn. Một tay tôi cầm thước đo. Một tay tôi cầm cái bảng nhôm có kẹp sắt để giữ tập giấy tôi dùng để ghi chép. Đây là loại thước bằng kim loại mỏng. Ở đầu thước có cái móc nhỏ tôi có thể móc vào những thứ tôi muốn đo. Thước có nút bấm để rút thước dây lại cuộn vào bên trong cái vỏ kim loại. Vì thước mỏng và mềm nên tôi không thể đo cái gì cao quá đầu tôi. Tuy thế tôi có thể thả thước xuống để đo một khoảng cách phía dưới chân tôi.

Ước tính khoảng cách từ dưới mặt đất đến chỗ đặt máy để có thể mang dụng cụ và đồ phụ tùng để lắp ráp bộ máy điều khiển cái khóa cầu, tôi nhìn xuống bên dưới sàn chứa máy lót bằng fiberglass màu vàng. Có một sợi dây chạy song song theo đường rầy xe lửa mà lần trước ra cầu này tôi không để ý. Đường dây này cản trở công việc của tôi. Trên cầu thường có những dây chạy tín hiệu không còn dùng nữa nhưng công nhân không muốn mất thì giờ tháo bỏ chúng. Những dây này gọi là dây chết, vì không có điện. Tôi nghĩ sợi dây này là dây chết và tôi sẽ đề nghị tháo bỏ nó. Muốn biết khoảng cách từ đường dây điện đến sàn chứa máy bao xa tôi kéo thước dây bằng thép nghiêng người thả thước dây xuống. Đo cái này xong là tôi có thể đưa Natasha về. Công việc nhanh hơn tôi dự tính. Ăn tiệc Giáng sinh xong tôi sẽ về sớm. Có lẽ tôi sẽ nhân dịp này đi mua quà cho con tôi. Con bé muốn Santa cho một con búp bê bằng vải đội hoa hướng dương.

– “Ê! Chị kia… A! STOP! Ngừng lại! Đụng…chết! Tiếng la hét xôn xao hỗn loạn phía dưới đất vọng lên, mỗi lúc một cấp bách hơn. Tôi nghe nhưng không mấy chú ý cứ cố gắng giữ cây thước thả xuống phía dưới cho thẳng để đo khoảng cách của sợ dây đến sàn của giàn máy nơi tôi đang đứng. Gió thổi cây thước của tôi nên tôi cố gắng mấy lần mà không được. Cho dù Natasha có ở trên giàn máy này cũng chẳng giúp tôi được.

Tiếng la hét rõ rệt hơn và người la hét không ai khác hơn là Natasha và người gác cầu. Cả hai hối hả rời trạm gác chạy về hướng tôi. Natasha vẫy tay lia lịa, tôi chẳng hiểu chuyện gì. Người gác cầu ở phía sau Natasha dường như rượt nàng. Tôi ngơ ngác nhìn, tay vẫn cầm cây thước một đầu thả đong đưa phía dưới. Người gác cầu thổi còi. Tiếng còi xé rách không khí. Đâu có chuyến xe lửa nào. Phải còn ít ra hai mươi phút mới có chuyến xe lửa kế tiếp. Tôi nhìn người gác cầu. Anh ta tréo hai cánh tay trước mặt như hình chữ X rồi dang tay ra, ba lần liên tiếp. Tôi chợt nhận ra những tiếng la hét ấy dành cho tôi với dụng ý bảo tôi ngừng tức khắc công việc tôi đang làm.

Khi người gác cầu và Natasha đến gần, ngước mặt lên quát mắng tôi.

“Sao chị ngu thế. Chị thả thước dây lòng thòng xuống nhỡ chạm vào dây điện cao thế là chết đấy.”

“Dây điện cao thế nào?” Tôi hỏi ngớ ngẩn, không tin sợi dây điện màu nâu tầm thường này dây điện cao thế.

“Tôi không chạm vào dây điện. Dây điện thì phải có bọc chất cách điện bên ngoài cây thước của tôi nhỡ có chạm vào thì cũng chẳng hề gì.” Tôi cố cãi.

Người gác cầu vừa quát, vừa khoác tay ra hiệu bảo tôi phải xuống ngay lập tức. Công việc coi như đã xong, tôi vâng lời. Anh ta và Natasha quay trở lại trạm gác cầu. Tôi xốc túi đồ nghề lên lưng. Cây thước dây bằng thép bất ngờ rơi xuống đụng vào sợi dây điện. Một ánh chớp lóe lên, một tiếng nổ lớn, tôi ngã vào hàng rào cản trên sàn chứa máy. Hình ảnh đôi mắt đen láy, mái tóc pompei, xúng xính trong bộ áo ngủ trắng có hình trái dâu tây màu đỏ của con tôi là điều cuối cùng mà tôi nhớ.

Có một dạo tôi không ưa Natasha vì Natasha cùng phe với Sue White. Nghĩ cũng lạ. Lẽ ra chúng tôi phải thân với nhau thay vì xem nhau như kẻ thù. Cả ba chúng tôi đều là di dân. Natasha là người Nga, đến Mỹ trước tôi và Sue. Tôi và Sue đều là dân da vàng, cùng là kỹ sư cơ khí. Trong ban Công chánh có mấy chục kỹ sư toàn là đàn ông, nhưng chỉ có hai chúng tôi là phụ nữ. Natasha là họa viên chuyên vẽ kỹ thuật. Sue gốc Hoa sinh ra ở Costa Rica, mười lăm tuổi di dân sang Hoa Kỳ. Lấy chồng Mỹ, Sue đổi họ Wang lấy họ White của chồng. Cô ta bảo rằng muốn bứt cho sạch cái gốc người Hoa. Sue có đôi mắt xếch, rất đẹp. Khuôn mặt trái xoan dễ nhìn tuy nhiên hàm răng khấp khểnh vì không đeo niền chỉnh răng như người Mỹ từ lúc nhỏ. Thêm vào đó Sue thuộc tạng người béo phì và bị chứng hói. Phụ nữ mà bị hói như đàn ông, đầu Sue đã mang máng lộ chỗ hói hình tròn giống như cái bánh donut.

Sue nhiều tham vọng, muốn trở thành kỹ sư trưởng nên lúc nào cũng nhắc nhở và phóng đại năng khiếu chỉ huy của mình. Chuyện này đáng lẽ chẳng phiền lòng tôi nếu Sue không dùng tôi làm đối tượng cho khả năng tự thổi phồng của Sue. Gặp ai Sue cũng giới thiệu tôi là nhân viên của Sue. Sue vào làm trước tôi hai năm, chức vụ cao hơn tôi một bậc, nhưng không phải là sếp của tôi. Tất cả chúng tôi lúc ấy đều làm việc dưới quyền một ông già Mỹ, người da trắng tên Weber.

Đôi khi tôi tự hỏi tôi không phục tùng Sue, không xem Sue là cấp trên của tôi vì bản tính tôi bướng bỉnh, bất trị bởi thời thơ ấu không ai dạy dỗ, suốt ngày chạy rong trên đồng cỏ, hay vì Sue trẻ tuổi và là đàn bà. Đàn bà thường không phục tùng đàn bà. Tôi đã nghe rất nhiều phụ nữ nói rằng họ không thích làm việc dưới quyền đàn bà vì đàn bà thiển cận, đói khát quyền lực, thiếu ý chí, không biết quyết định, và còn hằng chục lý do khác nữa. Đàn bà thường sợ người khác giỏi hơn mình vì thế hay dìm tài người khác. Phụ nữ không biết làm việc chung với nhau, không biết làm “teamplayer.” Kẻ thù của phụ nữ là một người phụ nữ khác. Phải chăng đàn bà, kể cả tôi, quá quen thuộc với nền văn hóa phụ hệ chỉ muốn tuân lệnh đàn ông? Hay vì Sue không có tài chỉ huy? Tôi ghét Sue làm tài lanh dạy dỗ tôi những chuyện chẳng liên quan gì đến công việc, thí dụ như “chị phải dạy ông chồng Việt Nam của chị cho biết cách đối xử với đàn bà.” Sue quan niệm đàn ông Á châu nào cũng chồng chúa vợ tôi, giống như bố Sue. Cô nàng hay nói lớn giọng với tôi về việc phụ nữ bị trả lương ít hơn nam giới dù công việc họ làm giống nhau. Tuy nói với tôi nhưng dụng ý của Sue là muốn ông Weber nghe. Dường như Sue muốn chứng minh Sue xứng đáng là sếp của tôi bởi vì cái gì cô cũng giỏi hơn tôi. Khi tôi khoe một môn học tôi được điểm cao. Sue bảo “tôi ghét phải van xin nịnh nọt mấy ông thầy để được điểm cao.” Biết chồng tôi là người Việt, Sue bảo phải lấy chồng Mỹ thì mới thấm nhập văn hóa Mỹ để có thể được tiếp nhận vào xã hội Mỹ. Những chuyện như thế tuy nhỏ nhặt nhưng dần dần tôi đâm ra ghét Sue. Ghét đủ đến mức thầm nguyền rủa cho cô nàng té xuống sông chết chìm khi ra công trường. Nếu hai chúng tôi có ý tưởng khác biệt trong công việc Sue thường bắt tôi phải chìu ý Sue vì cô nàng lúc nào cũng nghĩ là mình đúng. Để được lòng sếp có lần Sue sai tôi mang xe sếp ra tiệm rửa xe. Tôi chống đối yếu ớt, thường làm lơ hơn là cãi lại. Không vừa ý tôi không phản đối mà ngấm ngầm uất ức rồi trở nên cau có hay lạnh nhạt. Tuy nhiên Sue chỉ lắng nhắng với tôi chứ không làm thế với Natasha. Tôi tự hỏi có phải vì tôi nhút nhát hay vì tôi không giỏi cãi nhau bằng tiếng Anh. Hay vì Natasha là người da trắng và được lòng của cấp trên? Hay tại Natasha biết cách bày tỏ ý nghĩ mỗi khi bất đồng ý kiến với Sue?

Vì nói tiếng Anh không giỏi nên tôi tránh tranh luận với Sue. Tôi trả đũa bằng cách khác. Sue thường ví von:

“Ban Công chánh giống như là một cái sở thú. Richard là con cọp. James là con gấu. Natasha là một con thiên nga đỏm dáng. Nhìn chị ấy xem lúc nào cũng yểu điệu mượt mà. Bob là con chó sủa to mà không cắn.”

“Chị có biết chị giống con gì không?” Nhìn thẳng vào mắt tôi, Sue hỏi.

“Tôi không nghĩ là tôi giống bất cứ con vật nào.” Tôi nhìn thẳng vào mắt Sue. Có lẽ vẻ hằn học hiện rõ nên cô nàng nhìn lảng sang chỗ khác. Tôi thầm nghĩ tôi giống như con hummingbird, chăm chỉ, và có cái mỏ nhọn sẵn sàng rỉa rói tấn công. “Còn chị giống con gì?” Tôi hỏi.

“Con heo!” Sue tự chế nhạo nàng.

Tôi mỉm cười không nói gì. Và có lẽ cái cười mỉm này làm Sue không vừa ý.

“Heo là con vật khôn ngoan và rất sạch sẽ.” Cô nàng nói tiếp.

Tôi lại cười.

“Má tôi nuôi nhiều heo. Chị dâu tôi chịu không nổi mùi heo, cám heo, và phân heo đã bỏ nhà chồng chạy về nhà mẹ ruột ba ngày sau khi kết hôn.”

Buổi trưa hôm ấy Sue rủ tôi đi ăn buffet. Sau câu chuyện tự ví von với heo, tôi biết Sue mặc cảm vì cái dáng béo của nàng. Tôi ngoáy vào vết thương của Sue.

“Ôi, tôi béo lắm rồi. Đi ăn kiểu này thì tôi sẽ như con lợn mất. Tôi đang cố gắng mất vài pound đây.”

“Chị mà diet thì trước tiên là mất cả bộ óc.” Sue trả đũa giọng chua như giấm.

“Nếu nhịn ăn mà mất bộ óc thì sao cô ăn nhiều mà óc không lớn lên.” Tôi nói thầm; muốn nói thẳng với Sue nhưng e sẽ cãi nhau lớn chuyện nên tôi làm thinh, nhưng tức tối. Và ghét.

Nếu Sue như một con lợn thông minh lắm mồm thì Natasha như một con thiên nga sang trọng, đài các và yểu điệu. Sue không bao giờ nặng lời với Natasha như với tôi, dù chức vụ của Natasha thấp hơn của tôi. Có gì không đồng ý về đồ án và bản vẽ Natasha không nói với tôi mà đi nói với Sue. Không chỉ được lòng Sue, Natasha được lòng tất cả mọi người cấp trên. Mỗi khi vào họp toàn ban, người đông thiếu ghế, Natasha luôn được sếp mời ngồi trong khi đám kỹ sư, kể cả phụ nữ như tôi và Sue, phải đứng. Bình đẳng mà. Khi công ty có một cuộc chấn chỉnh nội bộ Sue rời khỏi ban công chánh. Trong công việc mới tuy Sue không được tăng lương nhưng được quyền chỉ huy chừng hai tá công nhân, thế là thỏa lòng mơ ước. Được một thời gian, có lẽ không vừa ý nên cô nàng lại chuyển qua ban khác. Vốn đã bị hói đầu, tóc của cô nàng càng rụng nhiều hơn. Thỉnh thoảng gặp Sue White trong công ty, chúng tôi giả vờ không nhìn thấy nhau.

Thoát khỏi sự kềm kẹp của Sue, tôi im lặng làm việc. Tôi tuân lệnh cấp trên tuyệt đối vì tôi biết trong cái xã hội nho nhỏ này, nó rập khuôn xã hội lớn ngoài kia, đàn ông là chúa tể. Rất ít phụ nữ có quyền thế trong công ty này, và những người phụ nữ quyền thế này chẳng đoái hoài gì đến tôi. Tôi đoán trước ý muốn của cấp trên luôn hoàn thành nhiệm vụ, và vượt qua những dự đoán của sếp. Tôi được giao nhiều đồ án có giá trị tài chánh rất cao, lên chức hai ba lần và Natasha trở thành nhân viên dưới quyền tôi. Vẫn còn căm ghét Natasha đã về phe với Sue, tôi muốn trả đũa tận tình nhưng chỉ có thể dở trò xéo xắt. Tôi không thể đối xử tệ với Natasha vì chị được cấp trên mến chuộng dù chị không chăm chỉ làm việc như tôi. Tôi vẫn thường nghe nói, nhưng không tin, là xã hội Hoa Kỳ có một thứ tự, không nói thành lời cũng không viết thành văn bản. Đó là đàn ông da trắng được xếp ở địa vị cao nhất, kế đến là đàn ông da đen, rồi phụ nữ da trắng, phụ nữ da đen, đàn ông Á châu và cuối cùng mới đến đàn bà Á châu. Cho dù tôi có học cao hơn, làm việc siêng hơn, nhưng Natasha vẫn được yêu mến hơn và kính trọng hơn.

Không hiểu tại sao tôi và Sue lại có thể ghét nhau như mèo với chó, thật ra chúng tôi rất giống nhau. Giàu tham vọng, và thích quyền hành. Sue thích chỉ huy nhưng tôi thì thích được ở vị trí của người chỉ huy mà không cần phải chỉ huy. Thỉnh thoảng họp với các hãng kỹ sư tư vấn phụ trách công việc sửa chữa cầu giúp tôi, tôi được làm chủ tọa. Tôi ngồi ở đầu bàn và hai bên là những kỹ sư sẽ làm công việc giúp tôi. Tôi có cảm tưởng tôi là lãnh đạo của những người ăn mặc nghiêm chỉnh sang trọng, ăn nói lưu loát, hiểu biết, và nhiều kinh nghiệm này. Say sưa với giấc mơ thành công, tôi làm việc tận lực. Có con đầu lòng, tôi chỉ nghỉ sáu tuần trong khi đa số phụ nữ nghỉ sáu tháng. Trời mùa đông, lạnh đến độ tất cả các bắp thịt trên mặt dường như đông cứng lại tôi vẫn ra công trường trông coi những công trình sửa chữa cầu. Trong khi tôi đang cố gắng đuổi theo một chức vị cao hơn thì má tôi qua đời. Tôi không về Việt Nam dự đám tang vì nếu người khác làm thế công việc tôi, mọi cố gắng của tôi có thể sẽ tan như bọt sóng. Chức vụ, cái biểu tượng của sự thành công, lủng lẳng trước mắt tôi, chỉ cần ráng chút nữa, vươn chút nữa, tay tôi sẽ chạm đến. Nhưng tôi không đạt được chức vụ tôi muốn. Chị tôi làm đám tang cho mẹ vắng mặt tôi. Tôi nghĩ, nếu tôi thành công má tôi sẽ vui và có lẽ bà tha tội bất hiếu cho tôi.

Khi tỉnh dậy tôi thấy đầu tôi đang gác trên đùi Natasha. Vẻ mặt Natasha đầy lo lắng.

“Tôi làm sao thế?”

“Cây thước dây chị đánh rơi đụng vào dây điện. Cây thước bốc cháy và cái biến điện gần đó bị nổ. Chị bị ngã đụng đầu ngất đi. Xe cứu thương sắp đến để chở chị vào nhà thương.” Natasha nói. “Nếu chị còn cầm cây thước trên tay thì có lẽ chị đã biến thành trái banh lửa.”

“Nổ máy biến điện à? Chắc tôi sẽ bị mất việc làm thôi. Tôi xin lỗi đã không thể giữ lời hứa đưa chị về kịp giờ để ăn tiệc Giáng sinh.”

Natasha khoác tay. Giọng Natasha ấm áp, dịu dàng.

“Chị đúng là điên. Suýt mất mạng không sợ mà lại lo mất việc. Chị bình an là mừng rồi.”

Chuyện như mới hôm qua nhưng thật ra đã xảy ra mười lăm năm về trước. Sau cái tai nạn suýt chết đó tôi nhìn Natasha bằng đôi mắt khác. Ở chị có vẻ điềm tĩnh vui vẻ với công việc và mọi người chung quanh. Chị làm việc vừa phải tránh những tranh giành ganh tị, không nói những lời chua ngoa hay lên mặt với người khác. Dù tôi nhiều khi khắc nghiệt Natasha vẫn dịu dàng với tôi. Tôi nhận ra rằng sự ganh tị và tranh giành của tôi là những chuyện vô bổ. Người ta thành công nhiều khi nhờ may mắn hơn là tài ba. Sự hung hăng và hiếu thắng của tôi biết đâu chừng lại cản trở mức độ tiến thân, bớt hung hăng có lẽ tôi có nhiều bạn bè hơn và được nhiều người hỗ trợ hơn. Thành công và sự nghiệp có thể biến thành trái banh lửa trong nháy mắt. Sau cái Giáng sinh ấy tôi có nhiều thay đổi. Tôi nhận ra rằng cuộc đời rất mong manh. Tôi có thể vĩnh viễn không về sau một ngày làm việc. Suýt tí nữa con tôi đã không có quà, mà cũng chẳng còn mẹ.

Nguyễn Thị Hải Hà

đóa hoa cúc cuối cùng (truyện phóng tác)

Xin cảm ơn quí vị tiền bối
Shofu Muramatsu, tác giả truyện,
Kenji Mizoguchi 
đạo diễn phim “The Story of the last Chrysanthemum,”
và Osamu Dazai, tác giả của “The Chrysanthemum Spirit.”

 

Đang ngồi trầm ngâm với chén rượu, Kiku nghe tiếng guốc chạy lộp cộp. Cái bóng đen nhảy vụt vào bụi rậm. Một thiếu nữ chừng mười sáu mười bảy tuổi chạy đến.  Cô gái mặc kimono màu xanh ô liu cũ, guốc thô, tóc bới đơn giản, không cài trâm cách ăn mặc của đầy tớ nhà chàng. Kimono hơi bó ở đầu gối khiến cô vướng víu, suýt té.

“Có chuyện gì thế, cô bé kia?”

“Dạ, con mèo, con mèo kia… , thưa công tử.” Cô gái thở gấp, tay chỉ vào bụi rậm.

Nhìn theo, Kiku thấy con mèo của chàng đang tha một cái gì đó. Thấy chủ nhìn mình, con mèo thả chiến lợi phẩm trước mặt chàng như dâng tặng. Kiku cầm món đồ đưa trả cho cô gái. Đó là một con búp bê trai, bằng vải, dài độ hai gang tay, mặc kimono lụa có thêu hoa cúc rất tinh xảo. Đây không phải là thứ đồ chơi của một cô gái nghèo. Kiku thắc mắc:

“Ở đâu mà cô có một con búp bê đẹp như thế?”

“Dạ, đây là quà người ta tặng, nhân dịp lễ đầy tháng cho em trai của công tử. Em tên là Otoku, bảo mẫu của tiểu công tử.”

“Cô hãy cất món quà của em tôi cho tử tế nhé. Kẻo mèo cắn rách hay bị mất là cô sẽ bị phạt đấy.”

Kiku Onoe không phải là con ruột của Goro Onoe. Ông nhà giàu chủ đoàn hát Kabuki hiếm muộn, tin rằng phải nhận con nuôi thì mới có thể có con nối dòng. Sau khi bà vợ qua đời, Goro cưới người vợ kế, sinh được một bé trai.  Nổi tiếng rất yêu nghề, Goro quan niệm là nghệ sĩ phải hết lòng với nghệ thuật dù phải hy sinh hạnh phúc cá nhân. Điều phân biệt giữa nghệ thuật và tay ngang là sự hoàn hảo của tác phẩm. Kiku được dạy nghề diễn để sau này nối nghiệp ông Goro. Yêu nghề và luôn muốn học hỏi, Kiku thường hay hỏi ý kiến các diễn viên trong đoàn về cách trình diễn của mình. Kế mẫu Kiku muốn bảo đảm quyền lợi của con trai nên tìm cách gạt Kiku ra khỏi gia đình. Các nghệ sĩ trong đoàn vì muốn bảo vệ địa vị của họ nên cũng hùa theo phía mẹ kế của chàng. Sau lưng chàng họ thường chê bai nhưng trước mặt ai cũng hết lời khen tặng tài nghệ của Kiku.

Một đêm từ quán rượu ra về, chàng tình cờ gặp lại Otoku. Kiku đi trước, cô gái lẽo đẽo theo sau:

“Em thường được bà chủ mang theo mỗi khi bà xem kịch Kabuki. Bà muốn mang tiểu công tử theo để tiểu công tử có cơ hội quấn quít với ông chủ, nhưng lại không muốn bị tiểu công tử quấy rầy khi bà xem kịch. Tuy nhiên tiểu công tử rất ngoan thường ngủ suốt buổi nên em rảnh rang có thể xem công tử diễn xuất.”

“Thế à? Cô thấy tôi diễn thế nào? Có hay không? Nói thật cho tôi biết.”

Cô gái suy nghĩ một hồi rồi nói.

“Xin cho phép em nói thật, Công tử đừng giận và trách mắng em nhé.”

“Xin cô cứ nói. Tôi thật lòng muốn dâng mình cho nghệ thuật. Người ta hay ca tụng tôi nhưng tôi không biết họ có thật lòng không.”

“Diễn viên chung đoàn với công tử, được đãi đằng rượu chè, ngoài mặt thì họ ngọt ngào tâng bốc ca tụng, nhưng sau lưng thì họ chê bai không ngớt.”

“Họ nói những gì?”

“Rằng công tử kiêu ngạo, luôn nghĩ là mình hơn người. Công tử nhậu nhẹt quá độ nên không nhớ tuồng chỉ có mấy câu đối thoại cũng không thuộc, không biết vẽ mặt, không biết hát, múa càng tệ hơn. Công tử chỉ đóng được vai trộm cướp, hay công tử con nhà giàu phá của ăn chơi, chứ không đóng được vai anh hùng, và càng không diễn được nỗi bi thương.”

“Có thể vì họ ganh tị với tôi, là con của ông chủ đoàn hát. Tôi được đóng vai chính.”

“Họ nói công tử chỉ là con nuôi.Vài năm sau tiểu công tử lớn lên, sẽ thay địa vị của công tử. Công tử sẽ bị thất sủng. Mẹ kế sẽ tìm cách đuổi đi.”

“Họ nói thế nhưng ý cô thì sao? Tôi có thật sự tệ như thế không?”

“Công tử diễn được, nhưng chưa xuất sắc. Công tử chưa được giao cho một vai khó đến độ đòi hỏi hoàn toàn tâm sức của công tử. Công tử thể hiện tạm được ở những vai đàn ông, anh hùng và kẻ cướp. Nhưng vai trò đòi hỏi sự diễn xuất thượng thặng trong đoàn hát Kabuki phải là vai phụ nữ. Vai đào thương trước dành cho nữ nghệ sĩ nhưng sau này các đoàn Kabuki bị cấm ngặt thuê phụ nữ, chỉ giao cho những diễn viên nam thật sự có tài và có thể nhập vai.”

Kiku lặng thinh đi trước. Otoku tưởng là vị chủ trẻ đang tức giận, nhưng chỉ một lúc sau Kiku quay lại cúi đầu tạ ơn Otoku.

“Cám ơn những lời thành thật của cô. Tôi mong cô trở thành bạn tốt của tôi. Nếu có thể được xin cô đến xem tôi diễn hằng đêm và chỉ giúp tôi những chỗ tôi cần phải luyện tập thêm.”

Otoku hiểu biết tinh tường về nghệ thuật Kabuki đến độ làm Kiku ngạc nhiên. Những khi không diễn xuất, chàng thường tìm gặp Otoku để nghe nàng nói chuyện nghệ thuật. Nàng chịu khó quan sát và khi góp ý cũng rất từ tốn nên Kiku nhận ra khuyết điểm mà không giận nàng. Hai người trở nên tâm đắc như bạn thân. Sự thân thiết giữa Kiku và Otoku khiến kế mẫu của chàng không vui. Không muốn tài năng của Kiku tiến bộ, và viện cớ không muốn có chuyện tư tình giữa chủ và đầy tớ, bà đuổi việc Otoku. Kiku hết lời đính chính, rằng quan hệ giữa hai người hoàn toàn đứng đắn. Để bảo toàn danh dự cho Otoku chàng xin phép được cưới nàng làm vợ. Bố chàng cự tuyệt chuyện kết hôn cô đầy tớ. Kiku bỏ đi, thề không nhận sự giúp đỡ của bố nuôi. Kiku lang thang theo đám hát rong, cương quyết không nhờ vào tên tuổi của bố nuôi, diễn xuất nay đầu đình mai góc chợ, ngày càng sa sút.

Vào một ngày Kiku đói rách tả tơi, hoàn toàn mất niềm tin vào tài nghệ của mình, Otoku đến tìm chàng.

“Chàng không thể trở thành nghệ sĩ Kabuki thượng thặng nếu đi hát dạo như thế này. Nếu chàng không chê em nghèo hèn, xin mời chàng về nhà em để tìm cách sinh nhai và phát huy tài năng của chàng.”

Otoku đưa chàng về một hòn đảo nhỏ cách Edo chưa đến một ngày đường. Trên đảo chỉ có gia đình của Otoku. Ngoài khu gia trang, phần lớn diện tích đảo được dùng để trồng hoa cúc. Otoku sống với em trai. Ichi khoảng chừng 15 tuổi, mảnh khảnh trắng trẻo không có vẻ gì là một nhà nông nhưng lại là một người trồng cúc rất tài.

“Chị Otoku kể, anh là diễn viên Kabuki. Anh có ngỏ ý cưới chị làm vợ và vì thế mà chị bị đuổi việc còn anh thì bỏ nhà ra đi. Cả hai chị em tôi đều yêu thích môn kịch Kabuki nhưng không thể theo đuổi. Gặp nhau đây quả là duyên. Mời anh ở tạm với chúng tôi, dưỡng sức một thời gian, rèn luyện thêm tài nghệ và sau đó sẽ tìm cơ hội diễn xuất trở lại.”

Tuy mới gặp Ichi lần đầu, nhưng Kiku thấy chàng trai này có vẻ gì rất quen thuộc, như thể chàng đã gặp thiếu niên này nhưng không nhớ gặp ở đâu. Ichi vui vẻ lịch thiệp với Kiku như là bạn lâu ngày. Tuy là người trồng cúc nhưng Ichi ăn mặc rất lịch sự. Cái áo kimono của chàng bằng lụa bóng có thêu hoa cúc cả hai mặt. Loại lụa thêu của những người giàu có sang trọng thường đến xem đoàn hát Kabuki của bố Kiku.

“Cúc chỉ nở có mùa. Từ mùa xuân đến cuối mùa thu chúng tôi bận rộn với việc trồng cúc, nhưng vào mùa đông chúng tôi có nhiều thì giờ rảnh rang. Giai đoạn vất vả nhất đã gần xong. Anh có thể giúp chúng tôi tưới hoa vào sáng sớm. Thời gian còn lại trong ngày là của anh.”

Giữa mùa thu, rừng cúc trên đảo đã đến mùa khai nở. Đây không phải là loại cúc thường thấy ở chợ. Những cây cúc cao đến đầu người. Có những nụ hoa to bằng nắm tay, được trồng trong giỏ trúc. Mỗi chậu hoa chỉ có một cây cúc. Mỗi cây cúc chỉ nở một đóa hoa, dưới nụ hoa có một vòng trúc vót thật mảnh, uốn theo hình trôn ốc để đỡ cho đóa hoa không bị gãy.

“Chúng ta ở giữa đảo như thế này, ai sẽ đến đây mua cúc?” Kiku hỏi.

“Đây là loại hoa chỉ cung cấp cho các nhà vườn thượng uyển hay các bậc trưởng giả. Một số ít sẽ được dâng cúng ở các đền thờ Shinto hay chùa Phật nổi tiếng. Một vài lái buôn sẽ đi thuyền đến đây, mang theo người của họ để vận chuyển hoa. Người vận chuyển toàn là người chuyên nghiệp để hoa không bị gãy. Người mua hoa đều muốn giữ bí mật chỗ mua hoa để vườn hoa của họ thuộc loại độc nhất. Mỗi lái buôn chỉ được mua một loại cúc.”

Trên đảo có một giếng nước rất trong, dưới là cát sỏi, chung quanh miệng giếng được viền bằng những hòn đá nhẵn thín. Giếng rộng như một cái ao. Mỗi sáng Kiku nghiêng thùng gỗ gánh nước đến tưới những chậu hoa cúc. Trang trại có ba gian nhà, mỗi người ở một gian, họ lặng lẽ làm việc, Kiku ít khi gặp Ichi hay Otoku.

Một đêm trăng sáng, Kiku bỗng nghe như có tiếng hát, tiếng samisen, và tiếng phách gõ nhịp vọng lại từ cuối đảo. Men theo con đường mòn đi một đỗi chàng thấy có ánh đèn thấp thoáng. Theo ánh đèn chàng đến một ngôi nhà vọng nguyệt, đơn sơ nhưng trang nhã. Nơi đây, Ichi trang điểm lộng lẫy đang múa hát một mình. Ichi diễn vai Sumizome, một kỹ nữ chết đi và biến thành một cây anh đào để trả thù cho người tình là lãnh chúa bị kẻ thù giết chết, nàng dùng ma thuật đánh đuổi kẻ thù, lấy lại vương ấn giao cho người em trai của người yêu.

Mãi xem Ichi diễn kịch, Kiku không để ý đến người đang đàn và gõ nhịp cho Ichi chính là Otoku. Cả hai đứng dậy cúi chào Kiku. Otoku lên tiếng:

“Em biết sẽ gặp chàng ở đây. Xin cám ơn chàng đã săn sóc tưới cúc giúp hai chúng em. Chàng nghĩ gì về cách diễn của Ichi?”

“Tôi không ngờ Ichi tài hoa như thế này. Cậu thật là đáng bậc thầy của tôi. Xin thứ lỗi nếu tôi đã vô tình mạo muội hay hống hách với nhị vị mỗi khi bàn luận về nghệ thuật Kabuki.” Nhờ còn trẻ, dáng người mảnh khảnh, giọng nói chưa vỡ tiếng, nên Ichi đóng vai phụ nữ rất hợp. Cả ba người bàn chuyện nghệ thuật đến khuya khi trăng lên đến đỉnh đầu. Otoku và Ichi mời Kiku đi xem vài đóa hoa cúc nở đầu tiên.

Ở một góc rừng có một loại cúc đại đóa. Hoa bắt đầu nở vài cánh. Otoku nói:

“Dưới ánh trăng khó thấy màu thật, nhưng đây là loại cúc màu xanh và có vân như cẩm thạch.”

Ngày còn làm bảo mẫu nuôi em trai của Kiku, Otoku mặc trang phục của gia nhân, đơn sơ nhưng nhìn cũng xinh xắn. Nhưng bây giờ trong bộ kimono lụa bóng, lớp áo lót dưới kimono phủ dưới chân cũng bằng loại tơ mềm, hài thêu, tóc cài trâm, trông nàng khá uy nghi như thuộc hàng vương giả. Kiku ngay từ khi là con nuôi của ông chủ đoàn hát Kabuki đã biết thân phận của mình. Bây giờ chàng lại là người tá túc với chị em nàng, thật không còn dám nghĩ đến chuyện cưới nàng làm vợ.

Ichi kéo tay áo Kiku:

“Xin anh hãy đi với tôi, tôi sẽ chỉ anh xem mấy loại cúc tôi ưng ý nhất.”

Đây cũng là loại cúc hiếm, mỗi cánh hoa nhỏ như cọng len và dài, nở lưa thưa, trông như một con nhện khổng lồ. Loại cúc này có nhiều lớp, xen kẻ nhau một lớp màu đỏ, một lớp màu vàng. Ở một góc rừng khác có loại cúc giống như một con công màu xanh đậm. Sau đó là một loại cúc cánh mỏng như sợi tơ; mỗi đóa cúc giống một con ong khổng lồ màu vàng có râu đen mắt đen, to như một cái mâm. Mỗi khi gió thoảng qua, cúc công xanh dường như xòe đuôi múa dưới ánh trăng. Con ong vàng chập chờn như có thể bay lên bất cứ lúc nào. Còn loại cúc trắng cánh dày nhưng lại rất mịn. Mỗi đóa cúc trông giống như một cụm mây trắng. Đặc biệt loại cúc vàng có mùi thơm như rượu, đứng gần ngửi mùi hoa có thể say. Không cần trồng nhiều hoa, chỉ cần trồng loại hoa quí này là cả hai chị em có thể sống sung túc cả đời. Nhưng tại sao Otoku lại vào làm bảo mẫu của gia đình chàng. Kiku định có lúc nào thuận tiện sẽ hỏi Otoku.

Khi thấy Kiku tập lại những vở kịch cũ, Otoku đề nghị Kiku cùng tập với Ichi một vở kịch mới do nàng soạn lại từ một vở kịch cổ của mấy trăm năm trước. Otoku xem, hướng dẫn, và phê bình. Ichi và Kiku thay phiên nhau, khi thì đóng vai nam, khi thì vai nữ. Cả Otoku và Ichi đều bắt chàng phải hứa. Khi nào còn ở trên đảo tập kịch với hai chị em nàng, thì không được uống rượu, ngoại trừ khi hai chị em nàng mời bằng chính rượu của Otoku. Otoku có ủ rượu hoa cúc, loại đặc biệt trên đảo. Mỗi khi Kiku bực dọc vì không thể nhập vào vai phụ nữ, chén rượu cúc làm chàng thấy lâng lâng, người như nhẹ nhàng hơn, tay chân bớt phần nào lóng cóng hơn. Có khi rượu làm chàng có cảm tưởng như mình biến thành đàn bà. Suốt thời gian ở đảo, Kiku không một lần cảm thấy sự thôi thúc của tình dục.

Kiku không biết mình đã trải qua mấy mùa hoa cúc. Chàng yên tâm để hết thì giờ vào việc tập kịch. Otoku và Ichi cứ thỉnh thoảng lại đưa ra thêm một vở kịch mới và bảo chàng đọc thêm thơ của các thiền sư. Otoku đôi ba lần dùng quạt gõ vào vai chàng nhắc nhở:

“Chuyện bắt chước thái độ của người phụ nữ tuy quan trọng nhưng không phải là cốt yếu. Chàng phải đặt mình vào chỗ của nhân vật, hiểu tâm lý nhân vật, lý do nào làm họ đau đớn. Cảm được nỗi đau của nhân vật thì những cái múa, cái cúi đầu, cái vung tay, che mặt của chàng sẽ biểu lộ được tâm hồn phụ nữ. Mỗi bước đi dáng đứng của người đàn bà là một điệu múa. Bây giờ em dạy chàng điệu múa, nhưng về sau chàng hãy tự nghĩ ra điệu múa để biểu lộ tình cảm trong lòng chàng.”

Vào lúc đầu một mùa xuân, Otoku mời Kiku và Ichi đến gian nhà của nàng. “Tài nghệ của hai người đã chín muồi. Xin hãy gia nhập thế cuộc để thử xem tài năng của hai người hơn xưa đến mức độ nào.” Trong nhà nàng có căn phòng nhỏ chứa rất nhiều hòm rương cũ kỹ. Bên trong rương là  rất nhiều gấm vóc lụa là và rất nhiều vật dụng như son phấn và đồ trang sức dành cho nghệ sĩ Kabuki. Otoku đưa Ichi và Kiku qua sông, thuê lừa thuê ngựa, thuê thêm tùy tùng lập thành một đoàn kịch diễn rong. Ichi nghe từ người qua lại, kể lại với Kiku:

“Đoàn Kabuki của bố anh đang diễn ở một thành phố gần đây. Chúng ta hãy đến xem họ diễn như thế nào và tạo cơ hội để phô trương tài nghệ của chúng ta.”

“Ichi. Tôi đã thề không dựa vào danh tiếng của cha tôi, cũng như không nhờ ông giúp đỡ.”

“Ai bảo với anh chúng ta sẽ cầu cạnh bố anh? Anh không tin rằng chúng ta có đủ tài để tự tỏa hương thơm sao?”

Đoàn Kabuki lưu diễn này do chú của Kiku điều động. Họ lưu diễn với mục đích tuyển mộ thêm nghệ sĩ có tài nhưng chưa nổi tiếng đồng thời quảng bá danh tiếng của đoàn. Chẳng khó khăn gì, Ichi và Kiku tìm ra ngay nơi ăn nhậu đám nghệ sĩ Kabuki. Tự giới thiệu mình là người bán rượu cúc Ichi mang rượu ra mời, nhưng tuyệt nhiên không mời Kiku cũng như không uống giọt nào. Kiku vì đã hứa với Otoku và Ichi nên không cũng giữ ý không hề nếm một giọt rượu. Chỉ vài chén rượu đám diễn viên đều gật gù say nên cả hai kiếu từ ra về. Sau đó Ichi và Kiku đến tìm trưởng đoàn kịch xin được làm diễn viên. Để thử tài hai người ông chú cho phép hai người trình diễn bất cứ vở kịch nào họ thích. Ichi chọn vở kịch Sakura Sumizome. Kiku đóng vai Sumizome khi nàng còn là kỹ nữ. Và Ichi đóng vai Sumizome khi nàng dùng ma thuật đánh kẻ thù rồi sau đó biến thành cây anh đào. Lúc Ichi biến thành cây anh đào, Kiku tưởng như mình say rượu trông gà hóa cuốc vì Ichi hóa thành khói và cây anh đào không biết bằng cách nào hiện lừng lững trên sân khấu. Ông chủ đoàn kịch hết lời khen ngợi hai người.

“Tôi sẽ dành cho hai cậu một đặc ân chưa bao giờ dành cho đoàn hát rong. Đêm nay các cậu sẽ diễn vở kịch này để đám diễn viên của tôi được nghỉ ngơi một bữa. Đoạn kịch này hơi ngắn, nên nếu hai cậu có thêm vở kịch nào nữa tôi sẽ cho diễn luôn. Nếu khán giả hài lòng, chúng tôi sẽ thu hai cậu vào làm diễn viên chính.” Ông không nói thật nhưng Kiku và Ichi đều biết là đám nghệ sĩ trong đoàn hát của ông đã say rượu, ngủ như chết cả ngày trời không ai đánh thức được. Đêm đó Kiku và Ichi diễn thêm một vở kịch mới soạn của Otoku. Vở kịch có tên là “Đóa Hoa Cúc Cuối Cùng.”

Vở kịch này nói về cô đầy tớ tên là Otoku, vì yêu công tử con của ông bầu gánh Kabuki nàng bị đuổi việc. Nàng về quê trồng cúc. Anh công tử đi diễn kịch rong trở nên nghèo đói muốn bỏ nghề. Nàng theo làm vợ, giúp đỡ và khuyến khích chồng tiếp tục theo nghề. Lúc nào nàng cũng thương yêu hầu hạ chồng ngay cả khi chồng nàng nhậu nhẹt say sưa, có lúc đánh đập nàng. Khi chồng thành công nàng vẫn không được nhà chồng chấp nhận. Để chồng được theo đuổi nghệ thuật đến nơi đến chốn nàng ở lại quê nhà. Những năm vất vả nghèo khổ khiến nàng lâm trọng bệnh. Chồng nàng vinh qui về làng, trống nhạc huyên náo ngay dưới cửa sổ nhà nàng, vừa lúc nàng trút hơi thở cuối cùng. Otoku đã khéo léo dùng một một ít chi tiết trong đời mình rồi biến nó thành một bi kịch. Khi diễn vai Otoku, Kiku nhận ra thân phận đàn bà đã bị ngược đãi trong xã hội của chàng. Phụ nữ đứng mũi chịu sào, gồng gánh buôn bán nuôi chồng và nuôi con nhưng không được biết đến công ơn. Sự hy sinh thầm lặng của Otoku khiến chàng cảm động vì thế Kiku diễn vai này thật xuất sắc, nhất là khi nhân vật Otoku trút hơi thở cuối cùng, chung quanh nàng thật vắng lặng, ngoài sân trời bắt đầu trở lạnh trong sân chỉ còn một đóa cúc ủ rủ sắp tàn. Chàng nguyện với lòng khi trở thành chủ đoàn kịch chàng sẽ thu nhận nữ nghệ sĩ vì chàng tin là họ có thể diễn vai này tốt hơn chàng. Đó là chuyện xa vời, nhưng trước mắt chàng hy vọng mình có thể cầu hôn với Otoku sau buổi diễn thành công này.

Ông chú của Kiku vui mừng vì tiếng đồn tài nghệ của Kiku và Ichi khiến người đến xem chật cả nhà hát. Ông càng vui mừng hơn khi Kiku thú thật chàng là con nuôi của Goro Onoe, chàng trang điểm khéo quá nên ông không nhận ra. Ngày xưa Kiku giận bố bỏ nhà ra đi thề chỉ trở lại sau khi thành nghệ sĩ Kabuki thật sự.

“Nghệ thuật diễn xuất của cháu đã trở nên vượt trội, không có người nào trong đám diễn viên của chú có thể sánh kịp với cháu. Có lẽ cuộc đời với những năm tháng nổi trôi vất vả của cháu khiến cho cháu nhạy cảm hơn nên diễn tả tình cảm sâu sắc hơn. Chú tin rằng bố cháu sẽ rất hài lòng.”

Vài ngày sau, khi đoàn lưu diễn sắp sửa dọn đi nơi khác, Ichi đến gặp chàng ở phòng trọ mang theo bình rượu hoa cúc.

“Đã đến lúc chúng ta chia tay nhau.”

“Cậu không cùng đi diễn với tôi à? Nghệ thuật Kabuki sẽ bị thiệt thòi nếu thiếu một diễn viên như cậu.”

“Công việc của tôi là trồng hoa cúc. Tôi chỉ vâng lời chị Otoku theo hỗ trợ anh thôi.”

“Tôi có một vài điều thắc mắc từ lâu, nếu không có gì quá đáng xin cậu giải thích dùm tôi. Xem chừng cậu không phải là dân trồng trọt bởi vì cậu phong lưu công tử thế kia. Otoku xem chừng cũng là dòng trâm anh thế phiệt, tài nghệ và hiểu biết hơn người. Tôi thật không xứng đáng để cầu hôn với nàng. Hai chị em cậu là ai, sao lại giúp tôi hết lòng hết sức, đến nơi đến chốn như thế?”

“Anh không nhận ra tôi sao?”

“Tôi dường như đã gặp cậu ở đâu đó, ngờ ngợ mãi nhưng không nhớ ra. Tôi ngỡ là gặp cậu đến xem diễn tuồng.”

“Anh còn nhớ ngày đầu tiên, chị Otoku rượt theo con mèo để lấy lại một con búp bê nam không?”

“Có chứ. Tôi vẫn tự hỏi vì sao một người giàu có, xinh đẹp hiểu biết tường tận về nghệ thuật Kabuki như Otoku lại làm bảo mẫu trong nhà tôi.”

Otoku lấy bình rượu cúc, rót cho mỗi người một chén.

“Trước khi ra về, tôi mời anh một chén rượu đặc biệt của dòng họ tôi nhưng xin đừng uống vội, hãy để tôi kể anh nghe câu chuyện về gia đình tôi. Bà tổ của chúng tôi là Izumo no Okuni. Bà sáng chế ra một điệu vũ mới và một nhạc cụ lạ. Lúc đầu bà chỉ trình diễn ở những dòng sông đã cạn nước, dùng đáy sông làm sân khấu. Dần dần nghệ thuật của bà ăn khách, bà tổ chức thành đoàn Kabuki và chỉ thu nhận phụ nữ. Để làm mất danh tiếng của bà, người ta cài vào đoàn nghệ thuật của bà những cô gái điếm, và dùng đó để làm lý do bắt giải tán đoàn kịch của bà. Từ đó phụ nữ bị cấm tiệt không cho tham dự vào các đoàn Kabuki. Bà tôi cương quyết khôi phục địa vị diễn viên cho phụ nữ nhưng bất cứ phụ nữ nào theo bà cũng bị bỏ tù hay giết đi. Bà truyền nghề cho con cháu. Mỗi chúng tôi trước khi trưởng thành có cuộc sống riêng đều phải học cho đến khi có thể trình diễn Kabuki. Phụ nữ phải học viết kịch và phê bình kịch bản. Otoku thông minh nhất dòng họ và cũng bướng bỉnh nhất. Chị cương quyết xuống trần gian, và thề không về nếu không thành công. Vâng, chúng tôi không phải là người trần gian. Chúng tôi ở một cõi khác, không phải là thiên đàng hay địa ngục mà là ở một thời gian khác và không gian khác. Để giúp chị, tôi trốn theo Otoku. Tôi tự tin có thể giúp chị vì tôi có tài nuôi trồng cây cỏ. Bất cứ loại cây cỏ nào tôi cũng có thể biến nó thành khổng lồ hay tí hon. Tôi có thể biến cây cỏ thành chất lỏng như nước hay rượu, cũng như thành hơi. Tôi cũng có thể biến chất lỏng và chất hơi của cây cỏ thành hiện thực. Mà thôi những chuyện này chẳng liên quan với anh. Otoku chọn gia đình anh vì đó là gia đình có đoàn kịch Kabuki. Chẳng may con mèo nhà anh ngoạm phải tôi, chị tôi sợ nó xé tôi tan xác nên rượt theo. Trả ơn anh cứu mạng nên chúng tôi quyết định giúp anh thành công trong nghệ thuật Kabuki. Tôi không ở lại làm diễn viên vì tôi có thể diễn lúc nào tôi muốn theo ý của tôi mà không cần phải vâng lời một ông chủ nào cả. Nơi tôi ở, chúng tôi không theo đuổi nghệ thuật như một cách sinh sống hay để nổi danh. Nghệ thuật nơi chúng tôi ở chỉ để làm phong phú tâm hồn, một trò chơi phong lưu tao nhã thôi.

“Tại sao không phải đào hay lan mà lại trồng hoa cúc?” Kiku hỏi.

“Bởi vì duyên anh đã cứu tôi, Và Kiku, tên anh nghĩa là hoa cúc.” Ichi trả lời.

“À quên, mỗi lần muốn cậu bé em trai anh ngủ say để chị có thể xem kịch, Otoku đã cho cậu bé một vài giọt rượu. Chúng tôi yêu cầu anh không được uống rượu, vì rượu có tác động rất mạnh lên chúng tôi. Tôi bị biến thành con búp bê bằng vải cũng chỉ vì uống phải rượu của trần gian. Sắp đến lúc chia tay, xin anh đừng lo, một tí rượu cúc của Otoku làm ra không có hại cho chúng ta đâu. Bình rượu cúc này có thể giúp chúng ta gặp lại nhau, và anh có thể gặp lại Otoku. Nhớ là với bình rượu cúc này anh phải làm thế này thế này. . .”

Ichi cầm chung rượu uống phân nửa. Sau đó cậu ta nằm lăn trên đất, ngủ say sưa. Theo đúng lời dặn, Kiku đổ nốt phần còn lại lên người Ichi. Ichi biến thành một đóa cúc trắng to như cụm mây và trong như thủy tinh. Đóa cúc từ từ bốc hơi rồi biến mất. Kiku không uống chén rượu Ichi rót cho chàng, rót rượu trở lại vào bình, mang đem cất.

Khi đạt đến đỉnh cao của danh vọng, Kiku vận động với Shogun, người yêu thích tài nghệ của chàng, đổi luật phụ nữ được trình diễn. Tuyên bố bỏ nghề, Kiku tìm đường trở lại hòn đảo ngày xưa để trồng cúc. Ba gian trại trước kia chỉ còn lại ba căn chòi mục nát. Cái giếng nước ngày xưa như cái ao giờ thu nhỏ lại như một tấm gương soi mặt trên bàn trang điểm của nghệ sĩ. Một đêm trăng sáng, trong giấc ngủ Kiku mơ hồ nghe tiếng hát, tiếng đàn samíen, và tiếng phách. Đi về hướng cuối đảo không thấy gì chàng lang thang ra giếng. Vầng trăng như soi gương. Nhìn theo vầng trăng trong giếng chàng nhìn thấy một cõi không gian và thời gian khác. Và Otoku nhìn chàng mỉm cười:

“Em quay về xin lỗi bố vì nhận ra em không thể thành công một mình nếu không có sự giúp đỡ của những người đàn ông trong gia đình em. Nhờ công của chàng, em thực hiện được nguyện vọng của bà tổ, nay phụ nữ đã được phép diễn trong đoàn Kabuki. Cảm động vì tấm lòng chàng yêu mến. Em xin tặng chàng mấy chậu cúc để gây giống. Chúng sẽ không được to và đẹp như cúc do Ichi trồng, nhưng có thể tự chống bệnh và không cần nhiều nước. Giếng nước càng dùng càng có nhiều nước. Chúng ta không thể là vợ chồng vì em ở cõi khác và thời gian nơi em ở cũng khác. Tính ra em hơn chàng vài trăm hay cả ngàn tuổi.”

Quay trở lại rừng cúc, chàng nhìn thấy cây hoa cúc ngọc thạch. Nhớ lời Ichi dặn, chàng lấy bình rượu cúc rót một chút rượu tưới lên cây cúc. Cây cúc héo rũ ra sau đó bốc hơi. Còn lại dưới đáy chậu cúc là một con búp bê mặc áo lụa đắt tiền. Cho phần rượu còn lại lên con búp bê, con búp bê đổi màu trong suốt rồi dần dần lớn lên hiện thành Otoku bằng xương bằng thịt.

Nguyễn Thị Hải Hà

Nhân đọc một bài nói về thơ của Thanh Tâm Tuyền

 

Ngày còn ở Việt Nam tuy không trẻ lắm nhưng tôi không đủ kiến thức và lịch lãm để đọc thơ Thanh Tâm Tuyền.  Tôi nghe danh ông và biết một hay hai câu nổi tiếng của ông. Biết có nghĩa là nghe nhắc đến nhiều lần nhưng không hiểu, thí dụ như, tôi gọi tên tôi cho đỡ nhớ,” “buồn chết như buồn nôn,” “lệ khóc không rơi ngoài hồn.”  Có một câu trong bài hát mà tôi không biết nó có khác với nguyên văn của câu thơ hay không là “ôi những người khóc lẻ loi một mình.” Còn một câu nữa cũng giống câu này cũng từ một bài hát. “Tôi biết những người khóc lẻ loi. Sầu không nguôi.” Hình như đó là một bài hát của Cung Tiến.

Rồi được đọc một bài nói về thơ Thanh Tâm Tuyền, nhà thơ viết cho cô con gái tên Th. nhắn nhủ cô Th. nên nghe lại tấu khúc của Vivaldi phần Hạ khúc Presto và nên đọc lại bài thơ của Shakespeare,The Phoenix and the Turtle, và cả bài thơ của Samuel Beckett.

Thú thật khả năng hiểu và cảm nhận về thơ của tôi rất yếu, mà nhà thơ lại đưa ra ba cái ẩn dụ toàn là của ngoại quốc, thì tôi càng mù mịt hơn. Hôm nay không đi làm, tôi lấy ngày nghỉ phép nghỉ luôn một hơi từ hôm nay cho đến hết ngày thứ Hai là ngày lễ Độc lập của Hoa Kỳ. Chàng đi vắng, cô lớn đi chơi, cô út ở nhà một mình mà tôi cưng cô út lắm nên lấy ngày nghỉ ở nhà chơi với con, làm việc vặt trong nhà. Sáng sớm tôi nghe lại bài vĩ cầm Bốn Mùa của Vivaldi đoạn Presto.  Tôi có khoảng chục bài vĩ cầm Bốn Mùa này được trình tấu bởi nhiều người nhiều ban nhạc khác nhau.  Tôi sẽ nói về bài vĩ cầm này sau khi nói về bài thơ của Shakespeare. Nhưng trước nhất là tôi xin thắc mắc về bài thơ của Samuel Beckett. Bài thơ như thế này, bằng tiếng Pháp, mà tôi không biết tiếng Pháp! Bản dịch không phải của tôi, tôi dùng google translation.  Quý vị nào có thể dịch từ tiếng Pháp sang tiếng Anh hay tiếng Việt cho tôi thì tôi xin cám ơn nhiều.

Je voudrais que mon amour meure
Et qu’il pleuve sur le cimetière
Et sur les ruelles où je vais
Pleurant celle qui crut m’aimer

Dịch ra tiếng Anh là:

I want my love die.
And it rains on the cemetery.
And on the streets where I.
Crying one who thought love like me.

Dịch ra tiếng Việt là

Tôi muốn tình tôi chết
Và mưa trên bãi tha ma
Và trên những phố nơi tôi
Người than khóc cho những người suy nghĩ giống như yêu tôi.

Dịch đại như thế xin tha thứ bản dịch của tôi chỉ để hiểu nghĩa đen của bài mà thôi.  Ai có thể dịch bài này cứ comment cho tôi tôi xin trang trọng đưa lên blog của tôi.

Je voudrais que mon amour meure
qu’ il pleuve sur le cimetière
et les ruelles où je vais
pleuvant celle qui crut m’aimer
Samuel Beckett

Bản tiếng Anh của chính tác giả:

I would like my love to die
and the rain to be raining on the graveyard
and on me walking the streets
mourning her who thought that she loved me

Xin dịch đại để như sau:

Tôi ước gì tình tôi chết đi
và cơn mưa, mưa rơi trên nghĩa trang
và mưa trên người tôi đang đi trên phố
thương tiếc nàng, người tin rằng đã yêu tôi.

Update: Nhà văn kiêm dịch giả NQT đã gửi cho bản tiếng Anh cũng của Samuel Beckett. Xin post cho các bạn xem.

Bài thơ The Phoenix and the Turtle của Shakespeare làm tôi khốn khổ. Nhưng tôi muốn hiểu nhà thơ Thanh Tâm Tuyền muốn nhắn nhe gì với cô con gái qua bài thơ ông viết trong tù nên tôi lục lọi trên internet.  Shakespeare nổi tiếng tự bao đời nên tìm bài thơ của ông là chuyện dễ dàng nhưng tôi đọc bài thơ muốn chết luôn mà vẫn không hiểu.  Cứ vài ba câu lại có một chữ khó phải tra tự điển.  Có chữ tự điển cũng không có thí dụ như chữ precurrer. Bỏ chữ pre ra đi tìm chữ currer cũng không có.  Đọc hết bài thơ hiểu lõm bõm chỗ được chỗ mất tôi đành phải đọc Wikipedia để hiểu chung chung đại ý bài thơ nói gì. Đây là trang web tôi viếng nhiều nhất, một ngày tôi đọc nó phải vài lần vì cứ mỗi lần đọc một cái gì lạ tôi lại chạy vào đây để tham khảo. Sau đây là phần tóm lược bài thơ Phượng hoàng và chim câu. Turtle ở đây là chim turtle dove một loại chim rất xinh xắn cùng loại với bồ câu.

Đây là một bài thơ ngụ ngôn nói về cuộc hôn nhân lý tưởng. Tuy nhiên, bài thơ này cũng được xem là bài thơ nói về sự liên hệ giữa sự thật và cái đẹp, hay một thứ tình yêu thương làm người ta cảm thấy mãn nguyện.  Trong bài thơ này Shakespeare cũng nhắc đến tên của nhiều loại chim, dựa vào một bài trường thi đã được xuất bản trước của Goeffrey Chaucer có tên là Parliament of Birds hay Đàn Chim, để diễn tả cái chết của đôi tình nhân cũng giống như cái mất mát của một lý tưởng mà người ta chỉ có thể ngậm ngùi than thở.

Tác phẩm này được xem là tác phẩm bí ẩn nhất của Shakespeare do đó có nhiều thuyết diễn dịch khác nhau đến độ trái ngược nhau. Bài thơ có những câu rất đẹp mà tôi có thể hiểu nhưng không có khả năng dịch được như:

Beauty, truth, and rarity
Grace in all simplicity
Here enclos’d in cinders lie.

Xin tạm dịch như thế này:

Vẻ đẹp, sự thật, và sự hiếm quí
Vẻ trang nhã trong tất cả những điều đơn giản
Được bao kín trong than hồng 
nằm nơi đây

Chữ grace bao giờ cũng giết tôi, vì tôi không tìm thấy chữ thật sự thích hợp để dịch chữ này. Grace tùy theo ý nghĩa của bài, có khi dùng để chỉ lòng can đảm, đức độ, sự bình tĩnh chấp nhận cơn giông bão của chính trị của thời thế, hay thái độ yên lặng đương đầu với khó khăn.

Nguyễn thị Hải Hà

thư thì mỏng

truyện ngắn phóng tác

Nguyễn thị Hải Hà

Ở một thành phố nhỏ ít người Việt mỗi lần muốn đi ăn nhà hàng Việt phải lái xe có khi cả tiếng đồng hồ. Đa số người Việt ở các thành phố nhỏ này tự nấu ăn, nếu là đàn ông thì vợ nấu. Người không vợ, hay vợ không biết nấu món ăn Việt thì ráng nhịn, riết rồi quen. Một nhà hàng nhỏ nghĩ ra cách này. Họ nhận nấu cơm tháng, giá phải chăng, giao tận nhà. Câu chuyện xảy ra như thế này.

Ông mở hộp cơm. Trong cái hộp nhỏ để đựng đũa muỗng và gia vị, có kèm một mảnh giấy. Giấy màu vàng có kẻ hàng, loại giấy đóng thành xấp thường bán trong siêu thị.

Ngày … Tháng … Năm …

Thưa ông,

Tôi tự hỏi ông có thích món ăn tôi nấu hay không. Đây là ngày thứ ba tôi để ý thấy hộp cơm của ông hết sạch. Ông có thể cho tôi biết những món ăn hợp khẩu vị để tôi phục vụ khách hàng tốt hơn.

Đầu bếp.

TB: Ông không cần phải rửa gà mên đâu. Khách hàng chẳng ai làm thế cả. Ông là người duy nhất.

 

Ngày … Tháng … Năm …

 Thưa cô,

Tôi đoán người nấu cơm là phụ nữ nên gọi bằng cô. Gọi cầu may chứ ở Mỹ này người đầu bếp là đàn ông cũng khá nhiều. Nếu tôi sai, xin đừng chấp. Thú thật với cô tôi chưa bao giờ được ăn cơm phần ngon đến như thế. Món ăn của cô thật vừa miệng với tôi. Cách cô bới cơm cũng thật công phu tươm tất.

Tôi đoán cô là đầu bếp mới, bởi vì chỉ gần đây tôi mới thấy món ăn ngon đặc biệt. Cô là người đầu tiên đã viết thư hỏi ý kiến của tôi. Theo thể lệ của nhà hàng tôi không được đặt món ăn. Nếu tôi đặt món ăn, nhà hàng sẽ tính giá khác. Cô nấu ăn rất ngon nên món gì tôi cũng thích.

Cô cũng là người đầu tiên sau mấy mươi năm tôi ở nước ngoài gọi hộp đựng cơm là gà mên. Tôi rửa gà mên là vì tôi đã giao ước với ông chủ nhà hàng. Tôi không thích dùng muỗng nĩa nhựa cũng như hộp nhựa để đựng cơm. Người ta ăn xong là ném hộp nhựa đũa muỗng nhựa vào thùng rác. Tôi không muốn dùng đồ nhựa vì ô nhiễm môi trường nên tôi đề nghị được dùng gà mên. Chúng tôi thỏa thuận là tôi sẽ có hai cái gà mên. Người giao thức ăn mới sẽ lấy đi cái gà mên cũ. Tôi rửa gà mên sạch sẽ trước khi giao lại người giao cơm. Trân trọng cám ơn cô.

 Khách hàng trung thành của cô,

An

 TB: À, tôi xin phép được trêu cô một chút. Sao cô tài thế? Làm thế nào cô biết tôi ăn hết thức ăn trong hộp, khi tôi đã rửa gà mên sạch sẽ?

 

Ngày … Tháng … Năm …

Ông An thân mến,

Cám ơn ông đã thích món ăn tôi nấu. Nếu được nhiều khách hàng như ông tôi sẽ giữ được công việc này lâu dài. Thời buổi này tìm việc khó quá nhất là những người bị tật câm điếc, có con nhỏ còn đi học, lại không biết dùng computer như tôi.

Tôi kể ông nghe cho vui. Thật ra những món ông ăn mấy ngày hôm nay là những món đặc biệt tôi nấu cho chồng tôi. Anh ấy làm việc ca ba trong một xí nghiệp, nên giờ nghỉ giải lao ăn tối của anh ấy cũng là giờ ăn cơm tối của ông. Trong xí nghiệp có nhiều người Trung Hoa và Ấn Độ họ cũng đặt cơm tháng ở nhà hàng, món Hoa và món Ấn do người khác nấu. Tôi nhờ người giao cơm tối cho khách hàng sẵn dịp giao cơm cho chồng tôi. Đây là một việc xa xỉ, chính chồng tôi cũng nói như thế, anh có thể tự mang cơm đi, nhưng tôi muốn chăm sóc anh ấy nhiều hơn.

Tôi không thể bày tỏ bằng lời nên tôi muốn bày tỏ bằng hành động. Dường như chúng tôi không còn tình yêu của buổi ban đầu. Giữa hai chúng tôi là sự im lặng bao la. Tôi nhớ mẹ tôi thường bảo rằng nấu ăn ngon là có thể chinh phục tình yêu của đàn ông bởi vì đường vào trái tim của người đàn ông đi ngang qua cái bao tử. Tôi muốn tái chinh phục chồng tôi dù khi mới quen anh ấy, tôi chẳng phải nấu nướng nuông chìu gì cả. Tôi tìm được cuốn sổ gia chánh trong đó mẹ chồng tôi chép lại cách nấu những món ăn chồng tôi rất ưa thích. Bữa đầu tiên tôi rất hồi hộp mong chồng tôi về để xem anh ấy nói gì. Anh chẳng nói gì, còn có vẻ lầm lì hơn bình thường.

– Anh ơi, món ăn em nấu hôm nay có ăn được không?

– Được!

– Chỉ được thôi sao?

– Chứ còn sao nữa!

– Anh thích món nào nhất?

– Bông cải xào thịt bò.

Anh lẳng lặng thay đồ lên giường ngủ, quay lưng lại phía tôi. Tôi ôm cánh tay anh, anh kêu nóng và mệt. Bông cải xào thịt bò? Tôi đâu có nấu món ấy. Đến ngày thứ ba thì anh ấy mắng tôi.

– Em chỉ ở nhà nấu ăn mà chẳng làm nên chuyện. Em phải thay đổi món chứ ngày nào cũng bông cải xanh xào thịt bò anh ngán tới cổ rồi.

Tôi đoán là ông giao cơm đã giao nhầm gà mên cơm của chồng tôi cho ông. Nhưng tại sao lại bông cải xanh xào thịt bò liên tiếp ba ngày? Thật là vô ý! Nhà hàng làm việc bất cẩn như vậy sẽ mất khách hàng và tôi sẽ bị mất việc làm.

Còn ông, đã đặt cơm tháng từ bao giờ? Ông không có người nấu ăn cho ông sao? Hỏi thế nhưng ông không phải trả lời nếu cảm thấy bị xâm phạm đời tư. Chúc ông ăn ngon và ngủ cũng ngon.

Đầu bếp trung thành của ông,

Anna

 

Ngày… Tháng… Năm…

Cô Anna thân mến,

Thật đáng tiếc chuyện nhầm lẫn như thế đã xảy ra, nhưng cô cũng hiểu lỗi không phải ở tôi vì tôi chỉ là người nhận. Thật là đáng buồn khi ông nhà phải ăn bông cải xanh xào thịt bò liên tiếp ba ngày mà tôi lại được ăn ngon. Tối qua, món canh khổ qua nhồi cá thát lát thật tuyệt vời. Cái cách cô dùng lá hành để cột cho trái khổ qua đừng bị bung ra thật tỉ mỉ và đẹp mắt. Ở xứ này làm sao mà cô tìm được cá thát lát? Ở đây, người ta dùng loại cá đóng hộp không vừa dai vừa dòn như cá thát lát ở Việt Nam. Trong nước dùng lại có vài cái nấm hương đã được nấu mềm. Tôi chỉ được ăn món ngon như thế này khi mẹ tôi còn sống. Cách nấu này có lẽ đã thất truyền từ lâu, phải nói là hiếm thấy ở xứ này. Ở Hoa Kỳ một mình lâu ngày, tôi rất dễ tính trong việc ăn uống, nhưng dễ tính không có nghĩa là không “appreciate” món ăn ngon.

Còn chuyện nhà hàng xào bông cải xanh với thịt bò liên tiếp ba ngày thì tôi có thể giải thích như vầy:

Ngày thứ nhất, sau khi ăn món bún thịt nướng cô làm, tôi thích quá nên gọi điện thoại với nhà hàng khen món ăn rất ngon. Cứ tiếp tục làm như thế. Ông chủ, nhà hàng vô cùng ngạc nhiên vì có lẽ chẳng ai gọi điện thoại khen nhà hàng thức ăn ngon bao giờ. Lôi thôi họ lại tăng giá cơm tháng. Tôi ăn cơm ở nhà hàng này bao nhiêu năm đâu có bao giờ tôi khen.

Xin cô đừng trách mắng người giao cơm, và tiếp tục nấu cho tôi ăn. Tôi có thể trả giá cao hơn cho nhà hàng hoặc là góp riêng cho cô. Thú thật với cô, mấy ngày nay tôi cứ nhấp nhổm chờ ông giao cơm. Thật ra tôi chờ lá thư của cô. Tôi phải đọc thư của cô trước rồi mới có thể ăn cơm một cách chậm rãi, ăn để thưởng thức món ăn. Những dòng ngăn ngắn của cô đủ để mang cho tôi một niềm vui nhỏ trong  một buổi tối cô quạnh của tôi. Tuy nhiên, thư thì mỏng…

Đồng nghiệp của tôi thường bảo tôi là một người cô độc. Tôi không nghĩ đến sự cô độc của mình mãi cho đến lúc gần đây. Buổi tối của tôi vắng lặng và dài thăm thẳm. Chính sự vắng lặng của những buổi tối khiến tôi ngại ngần không muốn về hưu. Vâng, tôi đã đến tuổi về hưu. Thật ra tôi có thể về hưu từ hai năm trước nhưng tôi cứ chần chờ. Ban ngày tôi vui với công việc nhưng buổi tối thì… tôi thật là thèm có người trò chuyện cùng tôi.

Trò chuyện là một nghệ thuật. Người ta bảo rằng về già nên kết hôn hay kết bạn với những người biết trò chuyện. Nhưng với tôi chuyện kết hôn đã quá trễ rồi. Còn kết bạn lại càng khó khăn hơn nữa. Ở đây ít người Việt, nhưng bạn Việt hay bạn Mỹ cũng thế, chúng tôi có gặp nhau thì cũng chỉ ăn và nhậu. Chỗ làm việc lại càng ít khi tâm sự với nhau. Tôi chưa hề gặp được người nào có thể nói chuyện cho tôi nghe hay chịu khó nghe chuyện tôi nói. Có được một người có thể trò chuyện với mình, chia sẻ ý nghĩ với mình thật là quá khó. Thảo nào ông hoàng trong truyện “Một Ngàn Lẻ Một Đêm” không thể giết cô gái chăn gối với ông chỉ vì cô biết kể chuyện và nghe chuyện ông kể.

Cô hỏi tại sao tôi ăn cơm tháng. Tôi xin thưa với cô vì không có ai chịu nấu cho tôi ăn. Xưa lắm rồi, tôi có lần kết hôn với một cô gái Hoa Kỳ nhưng cuộc hôn nhân chỉ kéo dài được hai ngày. Chuyện khá phức tạp khó giải thích trong một lá thư nhưng nếu cô tiếp tục nấu ăn cho tôi thì một dịp thuận tiện nào đó tôi sẽ kể. Tôi không biết cô có tin tôi được không nhưng tôi nghiện món ăn cô nấu mất rồi. Dĩ nhiên tôi có thể ăn ngoài tiệm. Ở đây có biết bao nhiêu nhà hàng Tàu và nhà hàng Mỹ. Thức ăn bình dân thì có Ihop, McDonald, Burger King, Roy Rogers, Kentucky Fried Chicken nhưng không có ai có thể mang hương vị thức ăn VN đến tận nhà cho tôi. Cái cách nấu chỉ những bà mẹ Việt Nam thời xa xưa mới biết.

Xin được phép kể cô nghe về một cuốn phim hoạt họa, nhân vật chính là một con chuột nấu ăn ngon. Con chuột Rémy này đã chinh phục được một nhà phê bình thức ăn nổi tiếng khắc nghiệt nhất Paris; một tay ông đã làm cho bao nhiêu nhà hàng phải đóng cửa và chủ nhân nhà hàng tự tử. Cái món ăn Rémy nấu đã chinh phục được Anton lại là món ratatouille một món ăn dân dã, giống như hương vị mà bà mẹ Anton đã nấu. Như vậy chắc cô biết là tôi quí thức ăn cô nấu đến mức nào.

A! Hôm nay tôi dông dài quá mức, xin cô tha lỗi. Cô có thể cho tôi biết vì sao cô bị mất tiếng nói và không thể nghe được không? Tai nạn hay bạo bệnh? Làm thế nào cô có thể học và viết thật rành rẽ khi không thể nói và không thể nghe. Không dễ dàng để viết được như vậy. Tôi thật khâm phục cô. Thân mến.

 Khách hàng trung thành của cô,

An

 Tái bút: Tôi quên cảm ơn cô đã kèm theo miếng sương sa được đổ khuôn thành đóa hoa nhiều màu. Đẹp quá nên tôi không nỡ ăn, còn để dành trong tủ lạnh. Thời bây giờ tái chinh phục trái tim chồng của cô bằng món ăn thì không thực tế chút nào. Tôi nghĩ cô nên thay đổi cách trang điểm và trang phục, hẹn hò ông chồng và thử có thêm một đứa con để hâm nóng lại tình yêu thì thiết thực hơn.

 

 

Ngày … Tháng … Năm …

Ông An thân mến,

Con gái của Anna được sáu tuổi. Cháu thích xem phim hoạt hình. Còn Anna thì thích tất cả những gì liên quan đến thức ăn nên Anna cũng có xem phim Ratatouille cùng lúc với đứa con gái. Hai mẹ con đều rất thích phim này. Anna cảm ơn ông đã “nghiện” thức ăn Anna nấu. Hôm nay Anna trổ tài, đây là một trong những tuyệt chiêu của Anna, vịt nấu măng. Măng khô loại ngon, được ngâm cho hết chát, Anna chỉ chọn những đoạn mềm, ngọn của búp măng khi còn tươi, xào cho ngấm trước khi cho vào nước lèo. Đây là một món ăn rất nhiều công. Gỏi để ăn với bún măng có cả bắp chuối bào mỏng, toàn là những thứ nhiều công và nguyên liệu khó tìm. Nói không phải để kể công hay đòi lên giá tiền vì Anna hay kiêu ngạo nghĩ rằng tiền khách hàng trả công chẳng thể bì với tấm lòng người chăm chút món ăn.

Chồng của Anna là người sinh ra lớn lên ở Mỹ chuộng thức ăn Mỹ hơn thức ăn Việt Nam. Không hiểu tại sao mẹ chồng của Anna lại nghĩ là anh ấy thích thức ăn Việt. Hôm qua anh ấy bảo Anna nên học nấu spaghetti và các loại thức ăn Mỹ hoặc Ý. Rồi anh ấy lại bảo thôi đừng bới cơm cho người giao cơm cho anh ấy nữa vì bạn đồng nghiệp của anh chỉ ăn sandwich nên chế nhạo anh mỗi lần thấy thức ăn có muỗng đũa lỉnh kỉnh linh tinh. Lúc sau này anh về nhà rất trễ, thường khi sặc sụa mùi rượu. Và sáng nay khi anh ngủ Anna soạn quần áo đem giặt thấy quần áo anh sực nức mùi nước hoa và áo anh có vết son. Son dính bên trong lớp áo như thể người ta dở áo anh lên rồi hôn vào đó làm dấu hiệu cho Anna biết. Anna chẳng biết nói sao, làm gì cho vơi bớt nỗi buồn của mình. Có những chuyện không thể nói với người thân nhưng lại có thể giải bày với người lạ, có lẽ vì người ta chẳng biết mình là ai, lời nói hay chữ viết thả theo gió bay.

Ngày xưa anh sang Việt Nam chơi gặp Anna, đem lòng yêu đòi cưới. Anna thích lấy chồng ở ngoại quốc vì nóng lòng muốn thoát khỏi đời sống tù túng của xã hội Việt Nam. Theo anh sang Mỹ Anna có giấy tờ hợp pháp nhưng tiếng Anh vẫn chưa giỏi và không có nghề nhất định nên rất khó gia nhập xã hội Mỹ. Trước kia Anna thích nấu ăn và ở nhà nuôi con. Bây giờ thì rất nhiều khi Anna mơ được đi làm như những người phụ nữ trên tivi. Họ ăn mặc sang trọng đúng thời trang. Nếu Anna có một cái nghề được ăn mặc như thế thì Anna cũng sẽ đi làm suốt đời chứ không chịu về hưu đâu.

Sáng nay thấy trên tivi, có một người phụ nữ tự tử bằng cách lao đầu vào xe lửa. Con gái của cô ấy và con gái của Anna học chung một lớp. Mổi buổi sáng chờ xe buýt đến đón con đi học Anna thường gặp người phụ nữ này. Họ ở cùng khu chung cư nhưng ở một building khác. Đứa con bị người mẹ nắm chặt tay cố vùng vẫy khi xe lửa đến nhưng không thóat được. Nghe nói rằng gia đình cô không được hạnh phúc, quá tuyệt vọng nên cô hành động điên rồ. Anna nghĩ rằng dù tuyệt vọng, dù làm mẹ, người phụ nữ này không có quyền tước đoạt sự sống của đứa con.

Anna nghĩ ông không nên lo sợ phải về hưu. Về hưu đâu có nghĩa là ông phải ở nhà hết ngày này sang ngày khác. Ông có thể đi du lịch. Ông có thể học thêm một sở thích gì đó như chụp ảnh, đánh cờ, đọc sách, hay viết văn. À sao ông không viết văn nhỉ? Anna thấy ông có khiếu văn chương lắm đó.

Mong ông có buổi tối yên lành. Hôm nay Anna kèm thêm món chè đậu mắt đen nước dừa. Ông ăn ngon nhé.

Đầu bếp

Anna

Ông viết “thư thì mỏng…” là có ý gì? Tại sao lại bỏ lửng?

Ngày…Tháng… Năm…

Anna thân mến,

 Như thế thì cô là di dân. Di dân thường thì giàu có hơn tị nạn. Hơn ba mươi năm trước tôi bước lên đất nước này với thân phận của người dân tị nạn. Từ lúc nào tôi trở thành di dân? Có lẽ từ lúc tôi nhập quốc tịch Hoa Kỳ. Tôi có người bạn thích đi du lịch. Anh ấy thăm viếng Kyoto, cố đô của Nhật Bản nhiều lần, bảo rằng thích đời sống của thành phố ấy, có cảm giác thành phố Kyoto là của anh, và anh là dân Kyoto từ tiền kiếp.

Tôi vẫn tự hỏi mình sống bao lâu ở một thành phố thì có thể xem thành phố ấy là của mình, quốc gia ấy là quốc gia là quê hương của mình? Thời gian tôi sống ở nơi nầy đã dài hơn thời gian tôi sống ở Việt Nam, không hiểu tại sao tôi vẫn không cảm thấy nơi đây, thành phố này, là quê hương xứ sở của tôi. Và đáng buồn hơn tôi cũng không còn cảm thấy Việt Nam là quê hương của tôi nữa. Tôi có cảm giác xa lạ, thất lạc, với cả Việt Nam lẫn Hoa Kỳ. Ngôi nhà tôi đang ở là nhà của tôi. Khi đi xa tôi vẫn muốn quay về nhà. Người ta vẫn thường dùng hai chữ đi kèm, nước nhà (hay quốc gia). Tôi có nhà mà không có nước. Quê hương tôi ở không hẳn là quê hương của tôi. Còn cô, cô có nhận nơi này là quê hương?

Có lẽ cô nên cho cháu bé đến gặp counselor của trường. Có bạn qua đời trong trường hợp như thế là một chấn động tâm lý có thể tổn thương lâu dài. Tôi tự hỏi tại sao người ta dám chết mà không dám sống. Trong chuyến vượt biển của tôi, cái chết ngay trước mặt, đói khát nhiều ngày chúng tôi vẫn cứ ôm hy vọng được cứu và được sống. Chúng tôi chống chọi với cái chết trong từng cái chớp mắt, từng hơi thở gấp. Sống trong nguy ngập đến tính mệnh vẫn cứ muốn sống. Còn người phụ nữ kia sao lại bẻ một ngọn đời xanh vứt vào đầu máy xe lửa như thế. Thật đáng thương mà cũng đáng trách.

Cấp trên của tôi lại gọi tôi vào văn phòng hỏi tôi có ý định về hưu không. Tôi bảo rằng để tôi suy nghĩ. Có những buổi sáng đi làm sớm, mùa đông tôi nhìn những hàng cây trụi lá trong sương mù chạy hun hút trên con đường. Khi về hưu chắc là tôi sẽ nhớ những hình ảnh như thế. Cửa sổ phòng làm việc của tôi ngó ra một con sông. Vắt ngang sông là một chiếc cầu quay sơn màu xanh nhạt. Buổi sáng mặt trời mọc ánh sáng chiếu lên cây cầu và dòng sông, màu hồng nhạt tím nhạt màu cam màu vàng rất đẹp. Tôi nhìn cây cầu mỗi ngày và nghĩ khi về hưu tôi sẽ không còn nhìn thấy cây cầu này nữa. Thật buồn cười, tôi sẽ nhớ quang cảnh chung quanh chỗ tôi làm rất nhiều nhưng tôi sẽ không nhớ những người đồng nghiệp. Có lẽ đúng như lời người ta nói, tôi là người xa cách và lạnh lùng, không muốn làm bạn với ai. Có lẽ người vợ hai ngày của tôi không chịu nổi tính lạnh lùng của tôi. Còn tôi suốt đời sống một mình cứ tưởng không cần bạn bè bây giờ bỗng dưng thèm có người trò chuyện.

Hôm nay tôi “nói” nhiều, mà lại nói với một người tôi chưa hề biết mặt. Mong Anna tha lỗi. Và nếu cô không có thì giờ xin cứ ném thư đi. Nhưng nếu cô có lòng nuôi bao tử của tôi, xin làm ơn nuôi thêm cái trí óc cằn cỗi của tôi, và viết cho tôi vài hàng nhé. Tôi mong được đọc thư cô còn hơn mong thức ăn nữa cơ.

 Khách hàng quí của cô

An


Ngày … Tháng … Năm

Ông An thân mến,

Anna vẫn còn suy nghĩ đến người phụ nữ tự tử và đứa con. Ngày mới lập gia đình, Anna thắm đẫm trong tình yêu và hạnh phúc không hề nghĩ đến ngày mình phải bấu víu vào sự đùm bọc hay thương hại của kẻ khác. Bảy năm về trước chắc là Anna không hiểu được sự sợ hãi và tuyệt vọng của người phụ nữ đến độ tự tử và bắt đứa con phải chết theo cô ấy. Đó là một người phụ nữ có thể nói và nghe được, có học, có bạn bè, sống ngay trên xứ sở của cô ấy. Còn Anna chẳng có ai ngoại trừ chồng và đứa con. Anna mặc áo đẹp, thay áo ngủ sexy nói bằng sign language là Anna muốn được yêu, và có thêm đứa con nữa. Tuy nhiên anh ấy từ chối và sẵn dịp thú nhận đã hết yêu Anna. Anh ấy có người yêu mới, một người làm việc chung với anh.

Trước khi lấy chồng và có con, Anna rất thích du lịch. Anna thích những nơi chốn xa lạ Anna chỉ có thể tưởng tượng. Ông đã xem phim The Wind Journeys chưa? Anna thường mượn phim của thư viện địa phương, và chỉ xem được phim có caption cho người khiếm thính. Ông hãy xem phim này để thấy vẻ đẹp của những quốc gia vùng Nam Mỹ. Phim nói về cây đàn phong cầm, bên trên có chạm cái đầu của quỷ Satan. Người giữ cây phong cầm phải đem trả cây phong cầm này cho một tu sĩ trên ngọn núi cao ở một vùng núi hẻo lánh. Ông ta và người đồ đệ đã mang cây phong cầm đi qua 80 địa danh nổi tiếng đẹp về phong cảnh thiên nhiên. Anna đã nhiều lần mơ ước được ngồi trên một đỉnh cao giữa núi rừng xanh thẳm bạt ngàn, hay ngồi bên bờ suối đá nghe dân bộ lạc thổi tiêu. Anna nghĩ rằng sẽ cùng chồng nuôi con đến lớn khôn và sẽ cùng chồng đi chu du như vậy. Một trong những cái đặc biệt của du lịch là ông có thể không là ai hết, chỉ là một khuôn mặt vô danh trong muôn vàn khuôn mặt vô danh. Hay ông có thể tiêu hết cả tiền dành dụm hàng chục năm để tưởng tượng mình là một người triệu phú.

Ông có lần kể về một người bạn của ông yêu thích Kyoto đến độ muốn qua bên ấy ở luôn. Anna cũng thích Kyoto như vậy. Anna xem rất nhiều phim về Nhật Bản, về geisha, về samurai. Anna đọc hầu hết những quyển sách du hành về Nhật Bản. Ông có biết thiền sư Basho đi một vòng phía Bắc Nhật Bản, và sau này người ta có giả thuyết ông là người do thám cho một sứ quân thời bấy giờ đang muốn triệt hạ một sứ quân khác không. Nếu Anna có điều kiện Anna sẽ đi Nhật.

Anna cũng muốn viếng thăm Bhutan. Người phụ nữ đã tự tử có lần cho Anna mượn mấy quyển sách về Bhutan, một xứ sở đo lường sự giàu có của quốc gia bằng chỉ số hạnh phúc. Anna nghĩ nếu Anna đặt chân lên quốc gia này Anna sẽ xin được ở lại và nhận Bhutan làm quê hương. Nếu ông sợ đi máy bay thì không nên đến Bhutan, vì phi đạo của xứ này rất nhỏ, rất ngắn, ở một vị trí rất hiểm trở, chỉ có khoảng mười phi công đủ tài lên xuống phi đạo này. Và xin giấy nhập cảnh Bhutan nghe nói cũng nhiêu khê lắm.

Nói như vậy để ông thấy rằng, cuộc đời không chấm dứt sau khi hết đi làm việc. Mong ông vui khỏe, và hãy suy nghĩ thêm về việc về hưu. Phải nói là khi ông về hưu và đi du lịch thì Anna sẽ rất buồn vì không còn người thuê Anna nấu ăn và đọc những dòng tâm sự của Anna. Đó là chuyện tương lai, còn bây giờ Anna phải suy nghĩ và quyết định, nếu chồng Anna cương quyết ly dị thì Anna sẽ ở đâu, làm gì để nuôi con. Dĩ nhiên người chồng sẽ trợ cấp nhưng có lẽ chẳng thấm vào đâu. Và căn nhà thì anh ấy mua trước khi cưới Anna nên nếu anh ấy không cho Anna ở thì Anna sẽ phải dọn ra.

Chúc ông ngủ ngon, và hy vọng món chè chuối với bánh cuốn nhân thịt hôm nay vừa miệng ông.

Đầu bếp trung thành của ông

Anna

 

Ngày … Tháng … Năm …

 Anna thân mến,

 Nghe lời cô, tôi đã mạnh dạn xin về hưu. Tôi chỉ cần thông báo trước hai tuần hay một tháng, tuy nhiên cấp trên của tôi có vẻ đã sẵn sàng. Tôi chưa nộp giấy tờ thì đã thấy có người dự đoán sẽ thế chỗ tôi vào học việc với tôi. Tôi nghĩ nếu người ta không muốn giữ tôi nữa thì tôi cũng chẳng muốn ở lại làm việc. Việc làm chắc cũng giống như tình yêu, không thể cứ yêu một chiều mãi mãi. Phải không cô? Tôi cũng tự thấy mình mệt mỏi. Trên chuyến xe lửa về nhà buổi chiều đông người tôi phải đứng. Tôi nhìn thấy bóng tôi phản chiếu trên kính cửa sổ, lưng đã còng, tóc bạc trắng, và cặp kính trắng dày cộm làm tôi trông giống như một con cá thòi lòi. Một cậu bé đứng dậy nhường chỗ cho tôi, bảo rằng xin bác ngồi cháu còn trẻ để cháu đứng.

Tôi sẽ đi du lịch Nhật Bản, Bhutan, và Chile, để tận mắt ngắm những quốc gia này thay cô, nhưng trước khi đi tôi muốn cô giúp tôi một vài việc. Ngôi nhà tôi đang ở chẳng to lớn gì, chỉ là hai cái toa xe lửa cũ tôi mua về sửa sang thành chỗ ở. Tiền thuế đất rất thấp, điện nước cống nhà vệ sinh hẳn hoi. Đồng nghiệp của tôi thường nói bóng gió lương cao, không vợ không con, ở căn nhà bằng hai toa xe lửa, tiền chất đầy nhà băng mà không chịu về hưu.

Khoảng mười năm trước tôi là kỹ sư trưởng của một nhóm kỹ sư. Vì tôi ít nói, dễ dãi trong việc kiểm tra nhân viên, nên người phụ tá lộng hành, thuê người bổ nhiệm người một cách vô trách nhiệm. Nghe nói ông ta lạm dụng tiền quỹ sao đó. Tôi chỉ chú ý đến kỹ thuật và an toàn của thiết kế và xây dựng các đồ án. Tuy nhiên khi việc đổ bể tôi vẫn phải chịu sự trừng phạt của công ty vì tôi không làm tròn trách nhiệm quản lý. Người ta đuổi việc nhân viên của tôi, còn tôi thì chỉ bị giảm chức vụ. Nếu là người khác thì người ta đã bỏ việc về hưu sớm, tuy nhiên tôi vẫn tiếp tục làm việc. Nếu người ta để tôi đi làm không trả lương tôi cũng chịu, bởi vì ở nhà chắc tôi sẽ gục xuống chết ngày hôm sau vì nhàm chán và cô đơn.

Tuy nhiên, bây giờ cô đã thay đổi ý nghĩ của tôi. Tuy không giàu, nhưng tôi giỏi quán xuyến tiện tặn, đi chơi kiểu hà tiện tôi có thể đi vài năm không về nhà.

Tôi đi chơi xa, do đó không thể thuê cô nấu ăn, nhưng tôi muốn nhờ cô làm quản gia cho tôi. Nếu cần thiết, cô có thể mang con đến ở nhà tôi trong lúc tôi đi vắng. Tôi sẽ liên lạc với cô bằng thư từ qua địa chỉ nhà tôi. Có người ở trong nhà đề phòng hư hại hay trộm cắp. Mọi chuyện khó khăn cô cứ liên lạc với người bạn của tôi. Ông V. là bạn cũng là luật sư lâu năm của tôi. Ông có thể cố vấn cho cô nhiều vấn đề, chuyện nhỏ nhặt như thuê người sửa chữa đồ dùng trong nhà, chuyện lớn như ly dị hay giúp đỡ người có thu nhập kinh tế thấp muốn được trợ giúp về mặt pháp luật. Ở đây mấy chục năm tôi biết là người ta chỉ có thể đến với công lý hay được đối xử công bằng khi có tiền. Tôi đã yêu cầu ông giúp đỡ và hướng dẫn cô. Tôi đã mở sẵn một tài khoản ngân hàng, để trả lương cho cô. Tiền lương này, ngoài việc trông chừng nhà cho tôi, còn kèm theo tiền săn sóc con mèo (bốn chân) của tôi. Tôi nuôi nó cả chục năm nay. Nếu tôi có bao giờ yêu thương một người nào đó chắc cũng chỉ bằng với yêu thương con mèo này. Tôi ngại ngần chuyện đi du lịch cũng chỉ vì không ai săn sóc Nora. Tôi có linh tính cô là người kiên nhẫn và yêu thương thú vật. Thật tình, tôi có thể gửi con mèo cho một cơ quan nuôi thú vật, nhưng tôi muốn Nora được chăm sóc và thương yêu như một người bạn nhỏ của tôi.

Tôi có computer cô nên tìm cách học, bắt đầu ở thư viện người ta thường có lớp miễn phí. Cô cũng có thể nấu ăn cho một vài người nhưng nhiều hơn thì bếp nhà tôi không đủ sức.

Chúc cô vui khỏe và mong rằng ngày tôi trở về hoàn cảnh của cô sẽ khá hơn.

 Bạn của cô

An

 1.Có lần cô hỏi về “thư thì mỏng…” mà tôi quên trả lời. Đó là câu thơ tôi quên tên tác giả. Thơ thì mỏng như suốt đời mộng ảo. Tình thì buồn như tất cả chia ly. Những lá thư qua lại giữa chúng ta có thể chẳng đi đến đâu. Nhưng tôi muốn giữ một tình bạn giữa tôi và cô. Người ta không tin là có tình bạn giữa một người đàn ông và một người đàn bà, nhưng tôi thì tin. Tại sao không?

NGUYỄN THỊ HẢI HÀ

Dựa theo phim “The Lunchbox” của Đạo diễn Ritesh Batra

 

Tình già

Tôi đã từng bảo mình sau này nếu có viết truyện tình, tôi chỉ viết truyện tình hạnh phúc. Để viết một bài cho ngày tình nhân chúc mừng đôi lứa đang yêu, đang hạnh phúc bên nhau tôi làm một cuộc research. Xem được bốn năm phim thấy toàn là những mối tình tan vỡ. La La Land, Me Before You, Five Centimeters Per Second, Garden of Words, và The Reader. Tại sao những câu chuyện về tình yêu, nhất là những chuyện nổi tiếng, thường có kết thúc bi thảm? Có lẽ vì khi yêu nhau người ta còn trẻ, nông nổi quá. Muốn thấy những mối tình hạnh phúc có lẽ phải quan sát những mối tình già.

Tôi nói với AT, cô bạn học chung thời Trung học, hiện đang ở Texas, tôi muốn viết truyện tình của người già nhưng nghĩ không ra. Tháng Tư năm ngoái, mới đó mà đã gần một năm, tôi đi Austin gặp nàng. Và mẹ nàng. Và mối tình già của bà. Tôi nói, AT về phỏng vấn ông bà, thu băng gửi cho tôi. Nàng bảo cần gì phải phỏng vấn rườm rà, viết đi, nàng kể cho tôi viết.

Bà chắc đã hơn tám mươi nhưng còn đẹp lắm, diện lắm nữa. Móng tay vẫn tô màu đỏ môi vẫn hồng. Dáng cao, da trắng. Cho dù tôi trẻ hơn bà ít ra là hai mươi tuổi, đem tôi đến đứng cạnh bên bà, bà vẫn đẹp hơn. Ông thì trẻ hơn bà, chừng năm hay sáu tuổi. Người cao lớn. Có lẽ khi còn trẻ ông cũng điển trai, xứng đôi vừa lứa với bà. Bây giờ thì tuy ông vẫn đi đứng bình thường, nhưng mắt ông đã lòa. Bà thì cũng chẳng khỏe hơn, bệnh già mà, không chứng này thì chứng khác. Ông không phải là bố của AT, bạn tôi. Ông là cha dượng.

Người ta bảo, về già nên lấy người biết nói chuyện, thì cuộc sống sẽ thú vị hơn. Cứ trông hai ông bà là thấy tình già thật là hạnh phúc. Hai người nương tựa lẫn nhau. Sáng sớm hay nửa đêm, ở trong phòng nàng vẫn nghe ông bà thủ thỉ với nhau. Thỉnh thoảng đi ngang phòng thấy ông bà nằm ôm nhau trò chuyện. Nàng trêu :

Hai người mà có con là tui không có nuôi con giùm đâu nhé.

Họ đến với nhau lúc đã nửa đời người. Hai bên đều có vợ có chồng. Chồng Bà, bố nàng, là người nghiện rượu. Khi say quơ cả con gái đòi làm chuyện tồi bại. Ông bố nàng có tình riêng tình lẻ. Ông dượng không hạnh phúc với gia đình, bỏ đi làm ăn xa. Gặp mẹ nàng hai người sống chung với nhau trong một căn nhà kho chứa đồ của một câu lạc bộ thể thao, đâu đó ở Sài Gòn.

Rồi họ chính thức ly dị với người hôn phối và kết hôn với nhau. Nàng bảo lãnh mẹ sang Mỹ. Bà làm việc tay chân để dành tiền đủ để mua vé máy bay về thăm ông dượng. Gặp thời Clinton người ta dễ dãi chuyện cho người di dân sang Mỹ, bà và nàng bảo lãnh ông sang. Ngày hai người đi chùa làm lễ từ giả để ra nước ngoài, sư trụ trì nhìn bà dắt díu ông chồng mù, đã cảm động đến rơi nước mắt.

Người ta dễ thương yêu nhau khi còn trẻ còn nhan sắc và tiền bạc. Yêu thương nhau những lúc khốn cùng tật nguyền mới thật là tình yêu quí giá. Bạn tôi một mình nuôi ba đứa con cho đến khi các con học xong đại học. Những đêm trăn trở chắc cũng tiếc là mình không được hạnh phúc như đôi vợ chồng già đang sống chung trong nhà.

Hạnh phúc cho những ai biết rằng mối tình mình đang yêu chắc chắn là mối tình sau chót.

tìm tình giữa chợ

nguyenthihaiha

 

 

Từ xưa đến nay, chợ búa vẫn là chuyện của phụ nữ, và binh đao vẫn là chuyện của nam nhi.  Trai khôn tìm vợ chợ đông. Gái khôn tìm chồng giữa chốn ba quân. Người miền núi có những phiên chợ tình để trai gái gặp nhau. Muốn thành công trong việc lập gia đình phải tìm người yêu ở đúng chỗ. Trịnh Công Sơn viết: “Tìm tình, tìm tình trong nắng em gặp cơn mưa. Ô hay tìm tình giữa ngọ buồn lưa thưa về. Tìm tình, tìm tình trên núi em gặp mây bay. Ô hay, tìm tình giữa chợ tình phai mất rồi.” Té ra, chàng nghệ sĩ này, tài hoa nhưng lận đận, cũng phải đi tìm tình giữa chợ.

Thế tìm tình trên blog thì sao?

Bắt đầu viết blog bởi vì rình rập con mình, tôi đi lạc vào cộng đồng của những người trẻ tuổi. Một số bằng tuổi con tôi; một số người chỉ bằng nửa tuổi của tôi, và một vài người thuộc loại già trong blog thua tôi hằng chục tuổi. Tôi thấy mình già cỗi và xấu hổ mình là người già “chơi” với trẻ con. Bây giờ nghĩ lại, có lẽ cậu bé Fantasy đã không đáp lại lời khuyên can của tôi bởi vì cậu cho rằng cái bà này sao mà “creepy” quá. Cẩn thận kẻo lại gặp mẹ mìn thì chết.

Dân cư mạng luôn được nhắc nhở là trên internet có nhiều kẻ dụ dỗ trẻ em và lường gạt người lớn. Hễ có người đi lường gạt tất có người bị lường gạt. Trong chín năm “nuôi” blog tôi học được nhiều bài học, nếu không đến độ lường gạt thì cũng là chuyện dối trá.  Cả tình lẫn tiền. Nói chuyện tình trước rồi nói chuyện tiền sau.

Nhiều nhà văn nhà thơ đã khai thác khía cạnh dối trá của những cuộc tình trên mạng. Đó là những người ngồi phía sau computer tự tô vẽ hình dáng, tăng cường sự giàu sang cũng như địa vị của họ. Khi họ xuống mạng rồi mới nhận ra người kia bị sứt tai gãy gọng. Thật ra, có thể người ta thất vọng không phải vì bị lừa dối mà bởi vì hình ảnh người này không xứng đáng với sự kỳ vọng cộng thêm sức tưởng tượng của người kia.  Tôi thấy giới blogger không phải ai cũng là người dối trá. Trái lại có nhiều người giàu lòng nhân ái đến độ nhẹ dạ, cả tin. Bạn muốn biết có bao nhiêu người yêu mến bạn? Hãy thử bằng cách loan tin bạn chán đời muốn tự tử.

Sau vụ cậu bé Fantasy tôi gặp một trường hợp đòi tự tử khác, khá buồn cười. Chuông Nguyện bày tỏ tình yêu với Yến Thu (hay Xuân Oanh, Hạ Chuồn Chuồn tùy ý bạn muốn, tất cả những tên tôi dùng trong phần Blog và Tôi và trong bài này đều là do tôi phịa ra). Hai người ở hai tiểu bang khác nhau. Chuông Nguyện viết một blog bảo rằng cậu sẽ lái xe đến một nơi vắng vẻ và sẽ chết vì Yến Thu không nhận làm người yêu của cậu. Cứ mười lăm hai mươi phút cậu lại cho biết cậu đã đưa họng súng ngậm vào mồm. Ôi Giời. Cả cái xã hội mạng vừa Mỹ vừa Việt, ngay cả tôi là một người thường chỉ lặng lẽ đọc, xúm vào khuyên can. Cậu được rất nhiều lời bình trong một thời gian ngắn nên cậu được “featured” (1) lên trang nhất của nhóm blog này. Trong một hai ngày cậu được chú ý như O. J. Simson lái xe Bronco trên xa lộ và cảnh sát hú còi sắp hàng chạy sau lưng. Mọi người, trong đó có tôi phập phồng lo ngại dùm nên cứ vào blog của cậu xem cậu đã chết chưa. Blog cậu im ắng vài ngày sau đó cậu đăng ảnh của cậu trên blog và chụp chung với người yêu. Một cô khác. Sau đó cậu tuyên bố đính hôn với cô này. Không mấy lâu sau đó cậu từ hôn vì có người yêu khác. Cô gái bị từ hôn, ngày nào cũng than thở khóc lóc đến độ có người nổi nóng mắng cô là đồ ngu. “Cái thằng y tá ấy vừa mập vừa lùn; là một thằng nói phét để câu views, làm gì mà phải khóc dai đến thế? Bitch!” Chuông Nguyện về sau còn làm vài cú giật gân nhưng chẳng ai buồn chú ý đến cậu nữa.

Không phải mối tình trên blog nào cũng đi đến chỗ tan vỡ. Cùng trong nhóm blog và cùng tiểu bang với tôi có một cô bé xinh đẹp, học giỏi, nết na. Cô quen trên blog một chàng cao ráo đẹp trai. Họ gặp nhau, đi chơi chung, chụp ảnh với nhau. Đang đằm thắm bỗng dưng chàng lặng lẽ quay lưng. Cô bé buồn rầu một thời gian nhưng lại gặp một chàng khác cũng đẹp trai không kém. Chàng này ở tiểu bang lân cận, con nhà giàu, học giỏi không kém gì cô. Rồi cả hai lấy nhau, đám cưới thật to, những bạn bè trên blog đi dự đám cưới của hai người. Lấy nhau rồi cả hai đều dẹp blog. Rõ ràng, trong họa có phước. Nếu không bị anh bồ cũ guốt-bai thì chắc gì cô đã gặp anh chàng dược sĩ này để thành vợ chồng.

Qua blog tôi có dịp chứng kiến hai cuộc tình, một thành công, một thất bại. Xác suất thế là năm mươi phần trăm.  Xã hội blog là tấm gương phản chiếu của xã hội thật. Ở đâu có người là ở đó có những cuộc tìm kiếm tình yêu.  Sự dối trá lường gạt lẫn nhau là chuyện muôn đời, có trước khi internet và blog ra đời. Tìm tình trên blog thì cũng như tìm tình giữa chợ hay giữa chốn ba quân. Người ta có thể tìm cái này nhưng gặp cái khác. Như Trịnh Công Sơn tìm tình trong nắng thì gặp mưa, tìm tình giữa ban trưa thì không thấy người yêu chỉ thấy nỗi buồn lưa thưa trong hồn.

Còn tìm tiền trên blog thì chờ lúc khác. Ai muốn đọc phải trả tiền. Vì đây là cơ hội làm giàu hợp pháp ./.

 

Nguyễn thị Hải Hà

MÀU MẮT CHƯA QUÊN

nguyenthihaiha

 

Tháng Chín, tôi trở lại trường cũ ghi tên học một lớp. Buổi chiều tôi đáp xe điện ngầm đến trường. Mùa thu, năm giờ chiều trời đã nhá nhem. Bước vội về hướng lớp học tôi nghe gió lao xao trên ngọn cây, thứ gió đặc biệt của mùa thu làm lá rung mà cành không lay. Thoảng trong gió hình như có ai gọi tên tôi theo đúng kiểu Việt Nam. Tôi nhìn chung quanh chẳng thấy ai và tự nhủ mình chỉ giỏi tưởng tượng. Đã gần hai mươi năm tôi mới trở lại trường, ngay từ lúc còn đi học chẳng ai có thể gọi tên tôi bằng tiếng Việt. Chỉ có một người làm việc chung có thể gọi tên tôi như thế. Tôi đang cắm cúi bước đi chợt nhận ra có người đứng chắn ngang đường; ngẩng mặt lên tôi nhìn thấy Scott.

Anh cười tươi. Bao nhiêu năm rồi sao nụ cười và ánh mắt ấy vẫn còn rất trẻ. Trong nắng chiều chập choạng, tóc anh đã nhiều sợi bạc. “Tôi thấy em từ lúc em đi ngang Colton Hall, gọi em khản cả giọng mà em không nghe.” Tôi ngạc nhiên. “Thì ra đó chính là anh? Tôi nghe tiếng gọi nhưng chẳng thấy người. Và cũng không nghĩ là ở đây có người biết tên mình.” Chỉ có Scott là người có thể gọi tên tôi phát âm đúng cách. Có lẽ vì anh đã thực tập biết bao nhiêu lần. Lòng tôi chùng xuống.

Khi mới biết nhau, cái tên của tôi đơn giản hai chữ như vậy; mà anh, cũng như bao nhiêu người Mỹ khác, đều vất vả khó khăn trong việc phát âm. Tôi dễ dãi bảo mọi người gọi tôi bằng gì cũng được. “Cứ cười ‘Ha Ha’ thì tôi biết ngay đó chính là tôi!” Tuy thế, dần dần anh phát âm tên tôi thật chính xác và không ngần ngại sửa sai những người làm việc chung với một chút bỡn cợt. Scott hỏi: “Em đã ăn tối chưa? Tôi đang đói, em có thể dành cho tôi vài phút không? Sáu giờ lớp học mới bắt đầu. Em làm gì ở đây?” Tôi nói, “trời nhá nhem thế này mà anh cũng nhận ra tôi, hay thật!” Scott nhìn tôi: “Em chẳng khác ngày xưa bao nhiêu, vẫn mái tóc dài, vẫn dáng đi cúi đầu.” Anh trêu: “Và vẫn không cao thêm chút nào.”

Tôi ngoan ngoãn theo Scott đi ra phía sau khuôn viên của trường nơi có những quán ăn cho sinh viên. Và trong chừng ba mươi phút ngắn ngủi giữa pizza và trà Lipton, chúng tôi cố gắng ghi nhận phần đời của nhau trong mười năm không gặp, tưởng như tình đã cũ. Gió thu như nhẹ nhàng thổi bay đi lớp tro tàn, ngọn lửa của than hồng vẫn còn âm ỉ cháy.

Chúng tôi làm việc chung với nhau. Tôi có nhiệm vụ đặt thang và bậc thềm cho công nhân phụ trách công việc chăm sóc cầu quay có thể lên xuống dễ dàng. Scott có nhiệm vụ cung cấp ngân quỹ, và vượt qua những luật lệ lỗi thời áp dụng lên những chiếc cầu cổ lỗ sĩ của công ty xe lửa. Công việc không khó nhưng người ta cấm đoán và đòi hỏi đủ thứ giấy tờ phức tạp; lý do là vì đây là một trong những cây cầu đã hơn trăm tuổi. Giới bảo tồn văn hóa không muốn làm mất vẻ cổ kính của cây cầu. Nhóm kỹ sư muốn công việc dễ dàng nhanh chóng và ít tổn phí. Nếu ai đã từng làm việc cho cơ quan nhà nước của Mỹ sẽ biết là đôi khi vì bè nhóm phe phái, ai cũng muốn làm vua một cõi, người ta tha hồ gây khó khăn làm cản trở công việc của nhau. Scott gọi điện thoại yêu cầu tôi đưa anh đến chỗ cây cầu ở gần cửa biển. Tôi hẹn giờ, chỉ đường và chúng tôi gặp nhau ở bên đầu của cây cầu.

Trời đã bắt đầu xuân. Hôm ấy nắng ấm dù mới mấy ngày trước một cơn bão tuyết đã để lại cả mét tuyết. Tuyết đã được gom thành từng đống cao nghệu rải rác khắp nơi. Scott nhìn tôi trong áo thun dài tay, quần jean, nón bảo hộ, anh cười tự giới thiệu, rồi bảo thêm, “trông cô như vẫn còn là học sinh Trung học.” Tôi cười, “Tôi đã có gần mười năm kinh nghiệm lận lưng rồi đấy nhé.”

Scott cao lớn vạm vỡ như một ông thần hộ pháp. Tóc anh vàng tơ, mắt xanh như màu biển, màu trời, và màu của cây cầu ngày hôm ấy. Scott có cái vẻ đỏm dáng của dân làm việc văn phòng sống trong thành phố, đi ra cầu mà anh mặc áo trắng quần ka ki như thể đây là bộ đồ cũ nhất và xấu nhất của anh. Cái áo khoác mỏng không cài cúc dù chỉ mới mười giờ sáng. Gió biển lồng lộng làm tôi thấy lạnh. Cơn bão tuyết đã qua nhưng trời vẫn lộng gió và lạnh. Anh khen trời đẹp và mát.

Tôi dẫn Scott băng ngang cầu, nhắc chừng anh ngoái đầu trông chừng xe lửa. Tôi chỉ cho anh những chỗ trú an toàn nếu xe lửa đến giữa lúc chúng tôi đi trên cầu. Tôi nói, để chứng tỏ tôi biết rõ môi trường và công việc của tôi. “Cầu dài chừng sáu trăm mét. Thời khóa biểu cho biết là sẽ có xe lửa chạy ngang trong vòng hai mươi phút nữa nhưng chúng ta không thể ỷ y.” Đến giữa cầu chúng tôi leo xuống chân cầu. Từ chân cầu chúng tôi phải vào hầm, chỗ đặt cái trục quay bằng thép của cầu. Tôi chỉ Scott những chỗ có mỡ bò được dùng để làm trơn máy. Dặn anh đừng dựa lưng bất cứ nơi nào nếu anh không muốn ném cái áo trắng của anh vào sọt rác.

Từ trên thành cầu, Scott nhảy xuống gọn gàng và đưa tay đỡ tôi xuống hầm. Tôi đã trồng vào người bộ đồ bảo hộ lao động màu nâu mà các người làm việc chung thường bảo làm tôi giống cái bánh ginger bread. Lúc mới xuống từ ngoài sáng vào chúng tôi không nhìn thấy gì, một lúc sau định thần nhìn kỹ Scott nói: “Tôi sẽ chẳng ngạc nhiên nếu thấy ở đây có một bộ xương khô và chuột bò lúc nhúc.” Tôi cười, “nơi đây tuy tối tăm bẩn thỉu nhưng không đến nỗi mất an toàn. Người canh giữ cầu ở trên cái tháp kia.” Tôi mở túi xách lấy ra cái đèn bấm, bản vẽ, giải thích công việc của tôi. Những người thợ chăm nom và sửa chữa máy quay cầu cần có thang để công việc của họ an toàn và hữu hiệu hơn. Scott cười, “nếu có thang những người nhỏ bé như cô không cần phải có người giúp.” Tôi nói, “bình thường dưới hầm không tối như thế này, tuy nhiên trận bão tuyết mấy ngày trước đã lấp đi nhiều chỗ cho ánh sáng rọi vào. Và nếu tuyết không lấp lối, tôi có thể tự leo lên xuống dễ dàng.” Scott đưa mắt nhìn chung quanh nào là nùi giẻ rách dính dầu, tàn thuốc lá, chai đựng sô đa bằng nhựa, những cái ly đựng cà phê bằng mốp xốp: “Công việc này không khó tuy nhiên chỗ này chật hẹp khó xoay trở.” Gió thổi qua những kẽ hở của cầu nghe như tiếng hú. Tôi rùng mình vì lạnh. Qua Mỹ bao nhiêu năm tôi vẫn giữ bản chất của cô gái miền nhiệt đới, dưới hai mươi độ C là tôi thấy khó chịu.

Chúng tôi đo đạc, ghi chép, chụp ảnh xong trời đã trưa. Mây lại tụ về làm chúng tôi sợ bị mắc mưa nên thu xếp ra về. Lúc xuống dễ dàng nhưng bây giờ leo lên là chuyện khó. Scott nhảy lên bám lấy thành cầu rồi đu nhẹ nhàng lên như một lực sĩ. Còn tôi, tôi không thể tự leo lên. Tôi bám lấy một thanh ngang đưa cái túi xách có chứa bản vẽ, máy chụp hình, thước đo, của mình cho Scott mang lên trước, nhưng hai cánh tay của tôi quá yếu nên tôi không thể tự đu lên như Scott. Scott muốn kéo tôi lên nhưng thành cầu ở gần mé nước nếu sơ xuất cả hai sẽ rơi xuống nước. Cửa biển, nước chảy xiết, và ở buổi đầu xuân như thế này có lẽ nước lạnh cỡ chừng tám độ. Nếu rơi xuống chắc là khó sống. Loay hoay một hồi, thấy không có cách nào hiệu quả, Scott nhảy xuống trở lại. Scott bảo tôi, “thế này nhé, cô đứng lên đầu gối của tôi, bám tay vào vách thép của cầu, leo lên hai cánh tay của tôi và leo lên mặt ngang của thành cầu. Cẩn thận đừng để rơi xuống biển nhé.”

Tôi cởi đôi ủng, cởi cả bộ quần áo bảo hộ lao động dày cui ngăn cản tôi không thể xoay trở dễ dàng, nhưng hai cánh tay của Scott vẫn còn chông chênh quá. Cái nón bảo hộ của tôi cứ va vào hết nơi này đến nơi kia kêu côm cốp. Cuối cùng, tôi phải ngồi lên vai Scott, anh đứng lên rồi tôi đứng lên vai anh, tay anh đẩy tôi lên rồi cho đến khi tôi có thể nằm lên mặt thép của thành cầu thấp nhất. Trong lúc vất vả như thế cái nón của tôi rơi xuống trúng đầu Scott và tóc của tôi xõa đầy mặt anh. Vốn không quen việc người lạ chạm vào người tôi nghe người mình nóng hổi, tim đập thình thình, mùi kem dùng để cạo râu, hơi thở đàn ông hăng hăng của Scott làm tôi ngây ngất. Chỉ một cái quay đầu là môi sẽ chạm và thân thể sẽ bốc cháy khi những sợi thần kinh đã căng thẳng cực độ vì sợ và hoạt động mạnh. Khi lên khỏi cầu cả hai chúng tôi đều bẩn thỉu, cái áo trắng và cái quần ka ki của anh dính cả dấu giày ủng của tôi.

Trở về chỗ đậu xe, anh nói đùa về trọng lượng của tôi còn tôi chê đôi cánh tay của anh không đủ khỏe. Rồi tôi trêu trọng lượng của anh và anh trả đủa bằng cách chế nhạo đôi cánh tay yếu đuối của tôi. Scott rút khăn tay lau vài chỗ bẩn trên mặt tôi và nói “Cái nón của cô rơi làm u đầu tôi, nhưng vì tóc của cô rất thơm nên tôi tha thứ cho cô.” Tôi đỏ mặt, nhìn Scott rồi ngó ra biển và chợt nhận ra màu mắt anh thay đổi theo màu trời và màu nước biển. Tôi nói lảng. “Anh có biết là cầu dành riêng cho xe lửa, nếu băng ngang mặt nước thì phải sơn màu xanh biển còn băng ngang đất thì sơn màu xanh lá cây không?” Có những nơi tuyết đã tan tạo thành những vũng nước nhỏ Scott nắm tay giúp tôi nhảy qua những vũng tuyết này. Cái ngăn cách ban đầu giữa hai người làm việc khác phái cũng bắt đầu tan. Anh có cái ân cần săn sóc phụ nữ rất tự nhiên của đàn ông Âu Mỹ. Anh giúp tôi mở cửa xe và khi tôi ngồi vào xong anh đóng cửa lại. Tôi nhìn anh lái xe đi, sân nhà ai có những đóa hoa crocus nở tim tím vươn lên trên mặt đất còn đọng tuyết. Gió mang theo mùi hoa hyacinth làm tôi nhớ hai câu thơ “Trông theo ai đến cuối đường. Gió bay làm dậy mùi hương ngây lòng.” Dấu giày của tôi in trên quần của Scott và mùi kem cạo râu cùng với hơi thở của Scott dính đầy trên tóc tôi.

Tôi hỏi anh lập gia đình chưa, có con không, có hạnh phúc không? Anh cho tôi xem ảnh vợ và hai con trai. Vợ anh là người Phi Luật Tân, tóc dài, da màu mật, dáng nhỏ nhắn. Tôi ngạc nhiên. “Thế còn cô tóc vàng?” “Cô tóc vàng nào?” Tôi tả hình dáng cô gái tóc ngắn, dáng cao và thanh, đã thân mật quàng vai anh trong buổi tiệc tiễn đưa anh. Tôi có hứa đến dự nhưng không về kịp vì bận đi họp ở một cái cầu quay rất xa ở tận cái mõm bùn cuối tiểu bang. Anh bảo không nhớ ra, không biết tôi nói đến ai, có thể đó là một khách hàng, cũng có thể đó là cô em gái của anh đến gặp anh. Tôi hỏi: “Anh đến đây để làm gì?” “Tôi hiện đang làm chủ tịch hội đồng cựu sinh viên kiến trúc của trường. Tôi đến họp. Còn em?” “Lấy một lớp học cho vui.”

Do công việc chúng tôi gặp gỡ nhau thường xuyên. Tôi cung cấp tài liệu bản vẽ, ước tính tổn phí và những chuyện linh tinh. Scott cung cấp ngân quỹ và thuyết trình về dự án. Anh thuyết phục mọi người công việc này rất cần thiết. Chuyện hai chúng tôi bị kẹt dưới chân cầu là bằng chứng hiển nhiên. Nhân viên có thể bị tai nạn chết người nếu không có thang giúp thi hành công việc dễ dàng hơn. Chúng tôi sẽ cố gắng duy trì vẻ cổ kính của cây cầu. Tôi thán phục nhìn Scott làm chủ buổi thuyết trình dễ dàng bơi lội trong ao nhà. Ao nhà với anh nhưng lại là biển lạ với tôi. Nơi đây, phụ nữ và đặc biệt phụ nữ ngoại quốc, luôn luôn là người ngoại cuộc. Những lý luận Scott dùng trong buổi thuyết trình là của tôi nhưng anh nói người ta nghe còn tôi nói thì như viên đá nhỏ rơi xuống hồ không đủ khoắn thành vòng. Scott bảo nếu tôi đảm nhiệm công việc thuyết trình tôi sẽ được chú ý nhiều hơn nhưng tôi từ chối viện cớ là mình nói có giọng ngoại quốc người ta nghe không hiểu. “Em không biết, giọng nói người ngoại quốc có cái duyên của nó.” Anh nói, đôi mắt xanh cười lóng lánh.

Tôi nghe lòng mình nhiều mơ ước. Anh luôn tràn đầy trong tư tưởng tôi ngay cả khi anh không có mặt ở bên tôi. Tôi tìm đủ mọi cách để bôi xóa ý nghĩ của mình. Không khéo mình tự biến mình thành một cô Phà Ca thời đại và chế diễu mình khi tự so sánh với Tiểu Siêu. Chúng tôi ăn trưa chung với nhau một vài lần khi công việc cho phép nhưng không tiến xa hơn. Tôi vốn không thích bị lệ thuộc vào ai cả. Nương vào Scott tôi có thể vượt biên giới da màu, trở thành người nhập cuộc và nhờ đó sẽ tiến xa hơn trong lãnh vực nghề nghiệp nhưng như thế là tôi sẽ lệ thuộc vào cái bóng lớn của anh. Scott làm tôi thấy nhỏ bé và thèm được anh bảo bọc. Tôi mơ ước được che chở nâng niu và cố gắng từ bỏ niềm ao ước ấy. Đôi khi tôi nghĩ đến việc mang Scott vào cuộc đời tôi, dạy cho anh phong tục của tôi. Anh bảo rằng từ khi biết tôi anh thích ăn chả giò và phở. Tôi cười, anh cần phải biết ăn bánh cuốn và nước mắm, rồi còn mắm kho với cá bông lau rau kèn và bông súng chẻ. Và Việt Nam không chỉ có bao nhiêu đó thôi. Có lần tôi thử hát một câu tiếng Việt cho anh nghe, ngâm một câu Kiều, đọc một câu ca dao, rồi tôi bỗng nghe giọng của mình lạ lẫm, nhạt thếch. Tôi có thể bơi lội ngụp lặn trong phong tục xứ anh nhưng không thể nào giải thích cho anh hiểu sự rung cảm một câu thơ xưa trong lòng tôi “Quê hương khuất bóng hoàng hôn. Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai.” “quê nhà xa lắc xa lơ đó, ngoảnh lại tha hồ mây trắng bay.” Làm sao khi tôi gác chân ngang bụng anh, tôi có thể mang anh vào một không gian nơi đó có bóng trăng xuyên lá dừa, bát ngát hương lài, hương dạ lý ở một miền quê ngoài thành phố Sài Gòn có con kênh đào và đồng cỏ u ru. Nói thì tôi cứ nói nhưng chắc anh không bao giờ hiểu được hay thấy được những gì tôi đã thấy và vẫn còn đang thấy. Nếu giữa tôi và anh sẽ có những phút giây mê đắm của hai thể xác quyện thành một, thì những dị biệt mù mờ lẩn khuất trong ngõ ngách của tâm hồn sẽ không thể nào với tới dù ở cạnh bên nhau.

Scott không săn đuổi quá đáng dù là tôi biết lòng anh mở cửa chờ đón tôi. Tôi không tiến tới dù chưa có người đàn ông nào làm tôi cơ thể thèm muốn đến thế. Tôi nhớ cái mùi đàn ông của anh đến ngây ngất. Tim tôi vẫn đập rộn ràng khi nghĩ đến buổi sáng dưới chân cầu. Scott thích mái tóc dài, dáng dấp nhỏ nhắn, nước da màu mật của tôi. Anh không ngần ngại nói với tôi điều này và ngạc nhiên khi tôi nói thật là tôi vẫn thường mang mặc cảm xấu xí. Màu da của anh và màu da của tôi thường làm tôi liên tưởng đến cà phê sữa và kem vanilla hay con ong bầu đậu trên hoa lan trắng. Anh thường bảo, “mỗi sáng em phải soi gương và tự bảo mình là Scott thấy em rất là xinh xắn.” Tôi nói xa xôi, “quan hệ làm việc không nên để lẫn tình cảm cá nhân. Những người làm việc chung dễ ghét nhau vì tranh tài giành chức giành quyền, tình cảm riêng tư thường bị tổn thương và chết sớm.” Anh hay nói đùa là tôi là hiện thân của sắt (thành cầu) và đá (chân cầu). Anh nói nếu vợ anh làm lương cao hơn, anh tình nguyện ở nhà nấu cơm và viết văn. “Nếu em trở thành xếp của tôi, tôi sẵn sàng nâng xếp lên khỏi đầu bằng hai cánh tay tôi.” Tôi dùng một ẩn dụ của dân kỹ thuật trả lời, “thép này đã từng đổ biết bao nhiêu mồ hôi đấy nhé!” Điều mà tôi muốn nói nhưng giữ lại lời là, tôi là một phiến đá biết sầu tư!

Rồi Scott xin thuyên chuyển qua một công ty khác. Buổi tiệc đưa tiễn anh tôi bận không về kịp chỉ thấy nhìn anh từ nơi xa khi tiệc đã tàn. Anh đứng nói chuyện có vẻ thân mật với một cô tóc vàng. May là chúng ta chưa có gì trước khi có cô gái xinh đẹp này. Tôi không tranh giành nên không thể nói tôi là người thua cuộc. Anh gọi điện thoại vài lần dặn tôi gọi lại cho anh nhưng tôi không trả lời. Thỉnh thoảng tôi có dịp trở lại cây cầu cũ, bây giờ đã có những bậc thang màu vàng gắn theo thành cầu người ta dễ dàng lên xuống. Tôi đứng tần ngần chỗ ngày xưa Scott đỡ tôi lên.

“Đặt chân lên dấu chân người đã khuất.
Trồng cây hoa lên dấu chân của người.
Suối ngừng xối. Rừng thôi thay lá.
Để giấc mơ người cũ lại về.”

Tôi tự nhắc nhở vì sao tôi không tiến tới. Tôi chọn nhìn thấy những dị biệt mà làm ngơ những tương đồng. Tôi chọn cái quá khứ quen thuộc của một quê nhà xa lắc xa lơ để từ chối một hiện tại còn quá xa lạ. Tôi được quyền chọn lựa, biết điều mình muốn và cả những điều mình không muốn. Tôi yên tâm với sự chọn lựa của mình. Scott không phải của tôi, chưa bao giờ là của tôi, mà sao tôi thấy trong sự chọn lựa này có nhiều mất mát đến độ làm tôi đau đớn.

Hôm nay gặp lại người năm xưa. Dòng đời mang chúng tôi đến gần nhau rồi cuốn chúng tôi xa nhau rồi đưa chúng tôi gặp lại nhau. Lần đầu tiên gặp anh trời vào xuân, gió lạnh và hoa bắt đầu nở. Lần này gặp lại anh trời chuyển sang thu, gió vẫn lạnh và lá bắt đầu rơi. Chúng tôi trao đổi số điện thoại. Anh nhắc lại ngày chúng mình bị vướng dưới chân cầu chưa có cell phone. Anh đưa tôi đến lớp học. Tôi nhìn bóng anh khuất dần ở hành lang hun hút. Lại thêm một lần nữa tôi mang cảm giác phải ở lại. Làm người ở lại có bao giờ vui.

Đêm đó tôi lái xe về. Nhà ai đó đã treo đèn Halloween sáng rực, những con ma dễ thương màu trắng, những bà phù thủy áo tím mặt xanh, và những trái bí màu cam vàng rực. Trong tôi vọng nhẹ một câu thơ Trong hồn tôi có một chút gì cô quạnh và vườn tôi xưa vẫn một vuông rất nhỏ. Ở những con đường tối, mặt trăng sáng lấp lánh lẽo đẽo theo tôi. Trong tâm tư tôi lãng đãng màu mắt của Scott. Ánh trăng trong veo lạnh lẽo, cái lạnh như thấm cùng bóng tối trong tim tôi thành những hạt sương lăn dài vòng quanh buồng tim âm thầm nhói buốt.

Một nhân vật trong Alexis Zorba bỗng hiện về. “Rồi bạn sẽ không còn nhớ đôi mắt của chàng màu xanh hay màu đen!”

Tôi ước gì tôi có thể đồng tình với nhân vật ấy.

NGUYỄN THỊ HẢI HÀ

 

Ghen

nguyenthihaiha

Quê liếc nhìn tờ giấy đặt ở góc bàn làm việc của chồng. Đến gần hơn một chút chị nhận ra đó là tờ báo cáo hàng tháng của Visa. Quê ngạc nhiên, chồng chị không khi nào để giấy tờ liên quan đến tiền bạc lộ liễu như thế. Lấy nhau lâu năm chị không hề biết chồng làm bao nhiêu tiền, tiêu xài vào khoản nào bởi vì chồng chị giấu rất kỹ những chuyện “riêng” như thế. Có lẽ anh vội vã chuyện gì đó nên quên. Tò mò chị cầm tờ báo cáo lên xem, dịp may có một không hai mà. Trên tờ báo cáo đa số là những khoản chi tiêu bình thường như tiền chợ ở Shop Rite, đổ xăng, cái bánh sinh nhật mừng chú em rể. Tuy nhiên, có ba khoản tiền lạ, đó là tiền ăn ở nhà hàng sushi ở Highland Park vào buổi trưa một ngày thứ Tư, tiền ăn ở một tiệm sushi khác ở Edison vào chiều thứ sáu, và tiền ăn ở cái Diner Sunset cách nhà Quê hai đèn giao thông vào sáng thứ Bảy. Thứ Tư và thứ Sáu Quê đi làm. Thứ Bảy Quê đi thư viện rồi đi chợ và thật tình chị không chú ý anh ở nhà hay đi đâu. Mà anh có đi đâu loanh quanh thì cũng là chuyện bình thường. Anh em của anh sống gần chung quanh. Anh đến nhà anh em, ở ăn cơm hay giúp làm giấy tờ nếu có ai nhờ.

Chị biết tính chồng rất giản dị. Anh không thích đi ăn ở nhà hàng, viện cớ phải đóng bộ cho tươm tất, phải chờ đợi lâu lắc, thức ăn dầu mỡ không tốt cho sức khỏe. Anh lại càng không thích sushi bảo rằng ăn gỏi cuốn ngon hơn gấp mấy lần. Quê không thể nào hình dung chồng chị vào nhà hàng gọi thức ăn rồi ngồi ăn một mình bởi vì cái hình ảnh ấy quá khác biệt với người chồng chị chung sống bao nhiêu năm.

Ai? Đồng tiền nối liền khúc ruột. Đàn ông thường mở hầu bao nơi họ đặt trái tim. Ai là người khiến anh vượt qua thói quen không đi ăn nhà hàng và không thích ăn sushi? Nếu anh đi ăn với bạn bè sao chẳng nghe anh nói? Trước hôm tiệc Giáng sinh, anh đi mua sắm quần áo. Đây là chuyện lạ, ít khi anh chưng diện se sua. Có lẽ chị để lộ vẻ ngạc nhiên nên anh giải thích, “tiệm nào cũng có big sale, anh thấy rẻ quá nên mua thêm quần áo giày vớ.”

Quê vừa khen chồng, vừa đùa: “Anh diện lên trông trẻ hẳn ra. Coi chừng người ta mê là mệt nhé!”

Anh trả lời: “Anh không diện cũng có người mê!”

“Ai mê?” – Chị hỏi.

Anh cười, không trả lời.

Bạn gái của anh chỉ có Katya, cô bạn học chung trường Luật. Cô chừng hơn bốn mươi, tóc vàng, mắt xanh. Katya nói tiếng Anh có giọng Nga khá nặng. Nàng có một con trai và đã ly dị chồng. Katya có cặp mắt rất to, dường như thu hồn người. Trước khi gặp Katya, Quê không thể nào tưởng tượng được có người có cặp mắt to và sâu như thế. Quê nghĩ với đôi mắt ấy nhìn sâu vào có thể thấy được rừng cây khô sau nhà, vẽ thành tranh chắc cũng đẹp như tranh Đinh Tiến Luyện trên những bìa của báo Tuổi Ngọc. Cô không đẹp đến choáng người nhưng càng nhìn càng thấy xinh. Hôm lễ Tạ ơn, anh đột nhiên bảo Quê:

“Ngày mai Quê làm gỏi cuốn nhé.”

Quê hơi ngạc nhiên. Anh ít khi nào đặt món ăn như thế. Thậm chí chị hỏi anh thích ăn món gì anh cũng chỉ ừ à cho qua chuyện. Quê hỏi:

“Tại sao lại làm gỏi cuốn?”

“Vì ngày mai Cá Linh ở trường về, sẵn dịp đãi con bé.”

Cá Linh đang học nội trú ở Rutgers , trường đại học cách nhà chừng nửa giờ lái xe. Mãi một lúc sau, giữa những chuyện lặt vặt trong nhà anh như sực nhớ ra, nói thêm: “Ngày mai sau khi ký giấy tờ sang tên nhà của anh Tu chị Na cho đứa con trai của anh chị, anh mời Katya ở lại ăn tối.”

Anh giải thích thêm là tuy anh làm sẵn giấy tờ nhưng anh muốn Katya làm luật sư cho anh chị bởi vì anh là người trong gia đình nên không muốn ra mặt chịu trách nhiệm. Quê đoán là anh muốn giúp đỡ Katya bằng cách đưa thân chủ cho nàng. Nàng mới mở văn phòng luật, chưa có thân chủ, nợ nần tứ tung lại còn phải nuôi đứa con trai tật nguyền. Chị có cảm tưởng anh muốn đãi Katya món gỏi cuốn; nhưng tại sao lại không nói thẳng với chị? Bữa ăn ấy Quê không làm gỏi cuốn vì Cá Linh bảo muốn ăn cà-ri. Quê nghe anh giải thích với Katya, gỏi cuốn tương tự sushi và nàng nhìn Quê với đôi mắt xanh thăm thẳm bảo rằng nàng rất thích sushi nhưng chưa bao giờ được ăn gỏi cuốn. Quê cười nói với Katya: “Lần khác Quê xin được đãi bạn món này. Quê không biết chồng Quê muốn giới thiệu món gỏi cuốn với bạn. Giá mà anh ấy bảo với Quê thì Quê đã làm.”

Có thể nào là nàng không? Quê không dám nghĩ sâu xa hơn. Lâu nay chị hoàn toàn tin cậy chồng; giữa hai người nếu có vấp ngã thì chỉ có Quê là người vấp ngã. Dù gì hai người cũng quen nhau từ hồi ở Việt Nam, gặp lại nhau ở trại tị nạn, yêu nhau giúp đỡ nhau học hành suốt mười năm trời trước khi chính thức kết hôn. Tình sâu nghĩa nặng lắm mà. Ăn tối xong, Quê dọn dẹp rửa chén bát, còn anh và Katya ngồi nán lại ở bàn ăn nói chuyện thì thầm rất lâu. Ách Cơ, đứa con lớn bảo với Quê, Katya đến nhà vài lần khi mẹ không có ở nhà, mẹ có biết không? Quê tự bảo mình không nên ghen xằng nhưng bỗng dưng thấy mệt đuối. Ngày mai anh sẽ đưa Quê đi leo núi nhân dịp này chị sẽ hỏi anh cho biết đầu đuôi.

Quê soi mình trong gương thấy thương hại cái già nua xấu xí của mình. Không béo lắm nhưng đã có cằm đôi. Quê có gương mặt tròn ngày còn nhỏ thường bị mắng là mặt thịt, mặt thịt là mặt của người ngu. Nhiều khi ngẫm nghĩ Quê thấy mình thật thà quá hóa ngu. Cái eo của Quê ngày trước hình chữ V nay đã biến thành chữ U. Quê bị chứng mặc cảm tự ti rất nặng; ít khi giao du bạn bè vì Quê tin rằng người nào tiếp xúc với chị đều không thích chị vì chị không dịu dàng hay bặt thiệp. Quê đi leo núi với chồng vì anh bảo Quê cần phải vận động nhiều hơn, ngồi một chỗ nhiều dễ sinh bệnh tật, nhất là mới đây Quê bỗng bị ngất xỉu đôi lần. Biết mình cần đi khám tim nhưng Quê cứ chần chờ, dường như chị sợ khám phá trái tim của chị có chứa những điều không hay.

Địa điểm leo núi cách nhà khoảng hơn một giờ lái xe. Điểm cao nhất khoảng ba trăm năm mươi mét so với mực nước biển. Mùa Đông năm nay thời tiết ôn hòa, giữa mùa Đông mà ấm đến 45 độ F. Quê nhìn rừng núi, tuy đã rụng hết lá mà vẫn đầy vẻ rậm rạp nói với chồng:

“Mùa hè mà đến đây có lẽ sẽ bị con tick cắn hay muỗi cắn anh nhỉ?”

Chồng chị nói nhẹ nhàng: “Con tick là con bọ chét. Em có cái tật hay chêm tiếng Anh nói hoài không được.” Anh lúc nào cũng khôn hơn, giỏi hơn, cầu toàn hơn và luôn luôn chỉnh sửa Quê. Nhiều khi không vui nhưng Quê vẫn im lặng vâng lời chồng. Vợ chồng Quê ít khi cãi nhau, bạn bè người thân vẫn thường kháo nhau gia đình Quê hạnh phúc nhất. Anh nói thêm: “Bọ chét thì có thể nhưng muỗi chắc không nhiều vì ở đây không có đầm lầy.”

Tin cậy chồng, Quê lặng lẽ nối buớc. Quê không thường thắc mắc chất vấn vì biết tính chồng cẩn thận chu đáo. Đôi khi Quê có ý thích khác nhưng biết rằng khó mà lay chuyển quyết định của chồng nên thường chịu thua trước khi mở lời. Mỗi khi đi đâu anh nghiên cứu bản đồ biết rõ địa thế nơi muốn đến vì thế Quê thường để tùy anh quyết định. Lúc nãy chị thấy bảng ở bãi đậu xe cho biết đây là con đường mòn vòng quanh núi Turkey. Chị đi theo anh, quá thân thuộc nên không có gì phải nói. Bước đi của hai người đều đặn nhịp nhàng như một bản đàn quen thuộc. Anh chỉ cho chị thấy những ô vuông màu đỏ khắc trên cây.

“Cứ đi theo những ô vuông màu đỏ khắc trên cây như thế này là sẽ đi hết con đường mòn vòng quanh núi và về địa điểm khởi hành.” – Anh nói.

Rừng già, lá vàng khô rơi phủ mặt đất dày như thảm. Vài nơi, nước đóng thành băng từ dưới lòng đất trồi lên trông giống như những cây đinh to màu đá cẩm thạch trắng đục có vân đen. Đường đi mỗi lúc một cheo leo. Bên cạnh con đường mòn hẹp là hố sâu. Chỉ cần không chú ý là có thể trượt chân rơi xuống hố. “Giá mà rơi xuống có lẽ sẽ không đau đâu nhỉ, thảm lá dày trông êm ái như thế kia. Nhưng có lẽ khó mà leo lên từ hố sâu như thế.” – Quê nghĩ thầm. Một cơn mưa to những đường trũng ấy sẽ biến thành những con suối ồ ạt chảy. Chăm chú leo núi, Quê thở gấp. Đôi ba lần chị muốn hỏi về những lần đi ăn nhà hàng của anh nhưng không tiện mở lời.

Ở đỉnh núi, nhìn phía xa xa là một chục ngôi nhà dưới thung lũng. Bên tay phải là hai cái hồ, một cái rất to, một cái nhỏ hơn, nối vào nhau. Anh bảo:

“Đó là hồ Valhala. Mình đi đến đó để chụp ảnh nhé.”

Quê yêu thích cảnh đẹp. Những lần đi chơi chị đều mang theo cái máy ảnh bỏ túi để ghi lại cảnh thiên nhiên. Quê thường xa lánh những nơi nhộn nhịp, thiên nhiên là nơi tịnh dưỡng tâm hồn. Rủ đi đâu chị có thể từ chối nhưng để được ngắm cảnh đẹp Quê sẵn sàng lặn lội. Đi để có thể viết bài và có hình đăng lên blog.

Hai người leo qua những tảng đá, lội qua những con suối cạn, nước trong veo thấy những hòn đá trắng dưới đáy. Quê bảo với chồng:

“Hễ có hồ là có nước đọng và thế nào cũng có muỗi.”

Hai người bắt đầu chuyến đi hơi trễ. Ra khỏi nhà một giờ trưa. Đến nơi hơn hai giờ. Lang thang trong núi rừng vẹt lau xua cỏ tránh nhánh gai, chị mệt đuối sức và mặt trời sắp lặn. Buổi chiều sụp xuống rất nhanh, hơi núi làm chị thấy lạnh. Hai cái hồ thấy gần như vậy mà đi hoài không đến. Quê thấy lo lắng, đòi về.

“Thôi mình đi về đi anh, tối rồi, coi chừng bị lạc trong rừng.”

Chồng chị đưa cho chị bình nước anh đeo trong ba-lô. Mấy tiếng đồng hồ mà bình nước trà có pha chút cà phê vẫn còn ấm áp.

“Em ăn thêm chút phô-mai cho đỡ mệt.”

Quê nhìn quanh, những cây chung quanh Quê không còn ô vuông đỏ nào cả. Quê nói với chồng: “Mình đi lạc rồi anh.”

Chồng chị nói giọng vẫn đầm ấm tỉnh táo:

“Mình chỉ cần đi lên chút nữa đến gần hồ sẽ bắt vào con đường mòn khác và sẽ trở ra đường lớn chỗ để xe.”

Bóng cây với những cành khô có vẻ gì dọa nạt, trông giống như những bàn tay xương xẩu móng nhọn níu xước áo chị. Quê thấy sợ hãi, tim đập mạnh khó thở choáng váng. Anh đi trước, nhẹ nhàng, nhanh nhẹn tay bật đèn pin. Cây gậy dùng để giữ thăng bằng khi leo núi vung vẩy trên tay. Quê nghĩ chồng giống Hiệp Khách Hành. Trên đồi cao trông anh dường như cao lớn hơn. Quê càng lúc càng bị tuột lại sau lưng. Quê có cảm tưởng suốt đời mình cứ phải cố gắng để đi theo kịp chồng trong gia đình cũng như ngoài xã hội. Một cố gắng lâu dài đôi khi Quê thấy mình mỏi mệt như kiệt sức. Anh đi nhanh quá, khỏe quá, hăng say quá không ngó lại sau lưng. Thoáng một cái anh khuất sau những bụi cây tảng đá rồi mất dạng. Quê cố gắng ngóng cổ tìm bỗng trượt chân, bổ nhào hai ba bước. Quê thấy mình rơi, quơ níu hụt hẫng. Và tất cả chỉ còn lại bóng tối.

Khi tỉnh lại, Quê thấy vầng trăng đã lên. Hai chân Quê mềm èo nằm quặt dưới thân người Quê như hai sợi dây thừng. Quê không thấy đau, chỉ thấy tê dại. Trăng trên núi thật lạ, gần như ở sát mặt của Quê. Ở giữa mặt trăng là một đường rạn nứt thật to. Một bên trăng màu nâu đỏ trông giống như một miếng kẹo có đường phơn phớt, bên kia màu xanh lá cây thật nhạt có thủng nhiều lỗ tròn trông ngon như một miếng Swiss cheese. Nghiêng đầu, Quê nhìn thấy phía dưới chỗ mình đang nằm là những vệt trắng đang chuyển động. Nhìn kỹ, Quê thấy đó là những con mèo, chó, chim cú, ếch nhái, ốc sên đủ loại đủ cỡ màu đất sét nung đang di động như đang sống trong cái xã hội nho nhỏ của chúng. Con chó to như con voi trong khi con bò thì lại bé cở nắm tay và ếch nhái giống như những cái cúc áo. Quê nghĩ, mình đang nằm mơ chăng? Đám thú vật màu đất sét nung di chuyển nhưng cứng ngắc như những pho tượng bị giới hạn trong một dòng chảy chậm từ từ trôi đi đều đặn liên tục. Quê thấy có cái gì vừa nhám vừa ấm trên má. Con mèo Nora đang liếm mặt Quê. Nó mang mắt kính đen, mặc váy, đi hai chân như trong phim hoạt họa.

“Nora đấy à? Sao Nora lại ở đây? Anh đâu?” – Quê hỏi.

“Anh đi tìm người đem chị về. Lâu lắm anh mới quay lại.” -Nora trả lời.

“Quê bị ngã?” – Nora không trả lời.

Đầu óc Quê bỗng dưng không còn mụ mị nữa. Quê nhận ra ý định của chồng. Quê bảo Nora. “Đây là âm mưu của anh!”

Nora lặng thinh. Chị nhớ một lần anh đòi lái xe bắt đầu từ lúc mười giờ khuya đưa Quê vào hồ Tahoe, chung quanh là núi đèo cao bảy tám ngàn feet. Quê sợ không dám đi bảo rằng đi như thế rất nguy hiểm. Quê không muốn chết. Anh nổi giận gắt to, đi với anh làm sao mà chết được. Lần đầu tiên Quê nghe theo linh tính và chống lại quyết định của chồng đưa đến chỗ hai vợ chồng to tiếng với nhau ở một nơi công cộng, cây xăng. Anh bảo Quê thuộc loại đàn bà bossy. Lần khác anh nhất định chọn con đường lạ băng rừng trong khi xe đã hết xăng. Mỗi lần sợ hãi là Quê choáng váng khó thở muốn ngất đi. Tai nạn chết người dễ dàng xảy ra với người bị ngất xỉu, chóng mặt rơi xuống hồ chết đuối, nứt sọ, hay gãy cổ. Gia đình của Quê nổi tiếng là hạnh phúc, sẽ không ai nghi ngờ nếu tai nạn xảy ra. Một lần đang ngủ thức giấc Quê thấy chồng đang dùng ngón tay ấn chặt mạch máu cổ của Quê như muốn chắn đường không cho máu chạy lên óc. Quê cố xua đuổi những nghi ngờ của mình. Tính anh vẫn dịu dàng ngọt ngào như ban đầu khi mới quen nhau.

“Quê cho anh đầy đủ tự do, nếu không muốn ở với nhau nữa thì cứ chia tay tại sao lại âm mưu giết Quê? Tại sao?” – Quê hỏi Nora. “Nora ở nhà, thấy hết, biết hết. Nói cho Quê biết đi. Vì tiền phải không?”

Nora gỡ cặp mắt kính đen. Ánh trăng rọi vào mắt nó một bên có màu xanh biếc còn bên kia đỏ như lửa cháy. Và đôi mắt của nó bỗng nở to ra sâu thăm thẳm như đôi mắt Katya. Nó nói thong thả, nghe như tiếng gù gù trong cổ nó mỗi lần nó nằm trên lòng Quê lúc chị viết blog.

“Tiền là một trong những lý do. Chị không giàu lắm nhưng có thể nói là khá nhiều tiền. Nếu ly dị tiền của phải chia hai. Nếu chị chết tiền gom về người thừa kế.”

Quê và chồng tuy chính thức kết hôn nhưng mỗi người có ngân hàng riêng. Đời sống và văn hóa ở đây cho phép như thế. Lúc mới lấy nhau tiền bạc thường là lý do cãi vã của hai người. Giữ tiền riêng nhưng cùng góp chung vào những chi phí trong gia đình giữ được hòa khí của hai người.

“Tuy nhiên tiền không phải là lý do duy nhất.” – Nora bảo.

Quê suy nghĩ. Chồng chị biết, chị không bao giờ van xin hay khóc lóc nếu anh muốn chia tay. Nora cười, nhe mấy cái răng nhọn hoắc. Con mèo này kỳ cục, đáng lẽ nó phải mếu vì thương xót chị chứ. Chẳng lẽ nó chẳng thương mến Quê? Suốt ngày nó quấn quít với Quê thế mà… ừ, phải đến lúc ngặt nghèo thì mới biết được ai là người thương yêu mình. Nora hỏi:

“Chị có nhớ chuyện năm năm về trước không? Lúc chị …”

Quê vội ngắt lời Nora vì không muốn nghe thêm. “Nhớ chứ. Nhưng sau đó anh đồng ý quên quá khứ, bắt đầu lại từ đầu và xây lại hạnh phúc với Quê.”

“Nhưng anh không thật sự quên. Anh vẫn nghi ngờ, theo dõi và bắt đầu lập mưu kể từ khi anh thấy chị mở blog và bắt đầu viết trở lại.” – Nora nói một cách đầy hiểu biết.

Từ lâu Quê nhìn thấy vết rạn nứt trong lòng mình nhưng không thể nói với ai. Không ai hiểu được vì sao Quê không thấy hạnh phúc. Dường như có chồng tốt, không cờ bạc, không đĩ điếm, không hoang đàng lãng phí vẫn không làm người ta thấy hạnh phúc khi không thể bù lấp khoảng cách giữa hai tâm hồn. Anh đòi hỏi một sự toàn hảo từ nhan sắc đến tâm hồn mà Quê không thể nào có được. Quê mê văn chương. Vì phải kiếm sống, nuôi con, trong môi trường ngôn ngữ xa lạ, Quê chỉ có thể viết blog cho đỡ nhớ tiếng Việt. Đàn bà mà, khi mê say một cái gì quá, cũng bị người ta cho là lố bịch. Anh chỉ trích, Quê viết toàn những chuyện nhảm nhí. Thời buổi này, Quê có viết cũng chẳng ai đọc. Quê nói như phản đối dù rằng phản đối với con mèo thì chẳng ăn nhằm gì. “Quê chỉ viết thôi. Còn anh thì ôm cái computer tủm tỉm cười một mình đến cả hai ba giờ sáng. Quê không bao giờ gặng hỏi anh làm gì, trò chuyện với ai. Quê để cho anh tự do.”

“Chính vì thế anh mới nghi ngờ chị. Chị chỉ chúi đầu vào cái computer không đếm xỉa gì đến người chung quanh. Rồi chị viết những chuyện tình ướt át. Chị yêu thương, khóc cười, dịu dàng, đam mê với nhân vật trong khi chị nguội lạnh với anh. Những nhân vật ấy là ai? Liên hệ như thế nào với chị? Phải có thật thì viết mới giống thật như thế. Chị phải có người nào nên chị mới chẳng quan tâm đến chuyện mất chồng.” – Nora giải thích. Quê muốn khóc nhưng không khóc được; chợt thấy một nửa mặt trăng rơi những hạt nước mắt màu xanh. Nửa mặt trăng màu nâu đỏ thoát ra tiếng dồn dập như tiếng trống, như nhịp tim đập nhanh, rối loạn, nhức nhối. Ước gì được nghe những khúc sáo và vĩ cầm trong phim Chocolate nhỉ? Khúc nhạc này có thể ru ngủ. Quê nghĩ nếu ngủ được lúc này mình sẽ dễ chịu biết mấy. Cái cảm giác có một khối nặng đè trên ngực càng lúc càng tăng.

“Thế Nora có thể giúp Quê thoát ra khỏi nơi này không?” -Quê dịu giọng với con mèo.

“Nora có nhiệm vụ rước chị rời nơi này vì chị chỉ có Nora là bạn. Chị có thể nghiêng người và lăn xuống cái dòng chảy có những con thú màu đất sét nung, rồi chị cũng biến thành màu đất nung như thế. Hay chị có thể đi theo Nora.” Con mèo lấy đôi kính đen đeo lên mắt. Trông nó có vẻ sang trọng, bệ vệ. Nora không phải là một cô bé mười lăm tuổi như Quê vẫn tưởng. Trông Nora như một người phụ nữ chín chắn ở tuổi bốn mươi. Không. Quê không muốn đi theo Nora nữa. Quê sẽ đi một mình. Mặt trăng sà xuống gần mặt Quê. Quê rướn người vói lấy mặt trăng để đứng dậy. Mặt trăng vỡ làm đôi, và Quê lại rơi. Rơi cho đến khi Quê nghe tiếng kêu “Mẹ! Mẹ!”

Cá Linh đang lay vai Quê thật mạnh. “Mẹ! Mẹ! Nước tràn ra ngoài lâu rồi.”
Quê đang đứng rửa chén mãi suy nghĩ không ngờ nước tràn mà không hay.

“Mẹ đang lo nghĩ chuyện gì?” – Con gái út của Quê nhìn mẹ dò hỏi.
Quê nói với Cá Linh: “Mẹ có một thắc mắc mấy hôm nay mẹ suy nghĩ mãi và nghi ngờ bố. Bố không thích ăn ngoài, cũng không thích sushi thế mà mẹ thấy bố dùng thẻ tín dụng trả tiền nhà hàng sushi ở Highland Park trưa ngày thứ Tư tháng trước.”
“À! Cái đó của con. Con và các bạn đi ăn.” Cá Linh nói.
“Bố cũng đi ăn sushi ở Edison .” – Quê nói.
“Cái đó cũng của con luôn.” – Cá Linh nói.
“Thế còn cái bữa ăn sáng ở Diner Sunset?” – Chị hỏi.
“Cái đó cũng của con. Mẹ không nhớ con đã kể với mẹ à. Con ở chơi qua đêm nhà bạn Rohini, buổi sáng tụi con đi ăn trước khi chia tay.” – Cá Linh nói.
“Nhưng tại sao lại trên thẻ của bố?”
“Bố đưa thẻ của bố cho con dùng, chỉ dặn con là đừng tiêu quá mức.” Quê nhận ra Highland Park và Edison đều gần trường Rutgers .
Quê hỏi Cá Linh: “Nora đâu rồi?”
“Nora đang ngủ trên giường của con.” – Cá Linh nhìn Quê lạ lẫm. Quê thấy cục nghẹn trong ngực mình đã biến mất tự bao giờ. “May mà mình không đặt vấn đề với anh nếu không đã để lộ tính ghen bậy.” – Quê tự nhủ.

Một tuần sau báo địa phương đăng tin có một cặp vợ chồng người Việt Nam trên đường leo núi để chụp ảnh, người vợ bị ngã. Lý do chết là vì mệt quá sức. Người vợ dường như biết cái chết sẽ đến với mình nên đã viết một bài rất chi tiết đăng trên facebook. Cảnh sát phỏng vấn, người chồng không biết vợ anh có trang facebook. Anh chỉ biết trang blog của chị thôi.

Nguyễn thị Hải Hà

Quyến rũ nhà sư ( Courting a monk)

nguyenthihaiha

Tác giả: Katherine Min.
Người dịch: Nguyễn thị Hải Hà.

Đây là một truyện ngắn rất hay. Sau khi dịch cho đến bây giờ tôi chưa đọc được một truyện ngắn nào về người di dân, tình yêu dị chủng, sự khác biệt giữa hai nền văn hóa Đông Tây ảnh hưởng tới nề nếp giáo dục trong gia đình, tình cha và con gái, và sự cố gắng để thành công của người di dân sống ở hải ngoại, hay hơn truyện này. Truyện này trích trong quyển Literature for Composition, 8th Edition, do Sylvan Barnet, William Burto, và William E. Cain biên soạn.
Katherine Min có nhiều truyện đăng trên một số tạp chí danh tiếng như Tri-Quaterly và Ploughshares. Min được National Endowment for the Arts và New Hampshire State Arts Council tài trợ và hai lần bà được mời đến cư ngụ ở trại sáng tác MacDowell Colony.

Tôi gặp chồng tương lai của tôi lần đầu tiên khi anh ấy đang ngồi kiết già ở dưới một gốc cây trên vuông sân trường. Tóc anh húi rất ngắn và mịn như những sợi lông tơ trên quả đào, đôi mắt to màu xanh lơ ngước nhìn lên trời, miệng cười ngoác ra nhưng lại không cười với ai nên trông anh có vẻ hơi ngố. Tôi “bay” thoáng qua thoáng lại gần chỗ anh ngồi, cứ một hai phút lại xáp đến gần, khi thì tranh giành, khi thì rượt đuổi (cái đĩa frisbee). Qua khóe mắt tôi thấy anh ngắm tôi và mỉm cười. Điều làm tôi chú ý đến anh là cái khả năng phi thường anh giữ cho mình yên tĩnh đến bất động. Hai bàn tay đặt trên đầu gối, bất động như tĩnh vật trong tranh; cái dáng ngồi thật thẳng của anh không thể nào chê được. Anh có vẻ như mọc rễ từ chỗ ấy, như một cái nấm kỳ lạ, độc đáo và vui vẻ, làm tôi cảm thấy ngượng ngùng vì đã cố gắng gợi sự chú ý của anh. Mồ hôi chảy vào chỗ trũng dọc theo xương sống của tôi, lạnh và dính rít khi tôi ngưng chạy, tay chống lên đầu gối, cố lấy lại hơi thở. Tôi cố gắng ngừng há hốc mồm để thở, sửa lại túm tóc đuôi gà và lau tay lên phần vải mềm phía trước cái ống quần thể thao.
Anh vẫn còn ngồi đó sau hai hiệp chơi và đội của tôi bị giảm đi một người. Sully chận bắt, rồi ném sang Graham. Graham ném lại cho tôi, rất mạnh, như quả bom bay bổng thành vòng cung rất rộng. Tôi lao theo cái đĩa Frisbee và có một khoảnh khắc tôi bay song song – bềnh bồng, bay bổng, rướn người – trước khi rơi đánh ụych! Trên mặt đất. Tôi rên rỉ. Phần dưới ức của tôi bị chạm vào rễ cây trên mặt đất đau đến độ làm tôi nín thở. Tôi nằm đó, mùi vị lá khô lẫn vào trong mồm.
“Xin lỗi, Gina. Tôi ném Frisbee tồi quá,” Graham nói và tiến đến gần. “Em có sao không?” “Không sao,” tôi thở gấp, chỉ ngón tay vào cạnh sườn của mình. “Để em ngồi nghỉ một tí.”
Tôi ngồi xuống đống lá khô, thở cẩn thận và nhìn các bạn tiếp tục chơi. Trời tối dần và rất khó nhìn thấy cái đĩa Frisbee. Mọi người đều đã mỏi mệt, chơi một cách uể oải, ném Frisbee không trúng đích, bắt hụt, và thậm chí chẳng thèm bắt. Bên cạnh tôi, trên bãi cỏ, anh chàng ngồi dưới gốc cây rón rén đến gần. Tôi đã quên bẵng anh ta. Anh ngồi phục xuống cạnh tôi vẻ thẹn thùa, lá khô lào xào dưới chân anh, và, khi tôi nhìn lên, anh thì thầm, “Em thật là tuyệt vời,” rồi bỏ đi miệng tủm tỉm cười.
Hôm sau, tôi thấy anh trong phòng ăn dành cho những người ăn chay. Tôi đi ngang phòng ăn, tay bưng cái khay trên là món thịt bê cuộn thịt heo muối và phó mát, thấy anh ngồi một mình cạnh cửa sổ. Anh lấy đôi đũa cất trong túi áo trên ngực và hờ hững xâm đũa vào miếng đậu hủ nấu với mấy hạt đậu xanh teo tóp. Tôi ngồi đối diện với anh và đòi anh kể cho tôi nghe chuyện đời của anh. Anh muốn trở thành một tu sĩ. Không phải loại tu sĩ kiêm thi sĩ thời Trung cổ, đầu hói bụng béo, áo thụng mũ trùm, nói tục như quỷ và uống rượu như hũ chìm. Tôn giáo mà anh muốn theo – Phật giáo, càng khó hiểu hơn. Anh mới vừa trở về sau một khóa học bốn tháng ở Nepal, sống trong một tu viện trên dãy núi Himalayas. Tóc anh vừa mới mọc trở lại như những sợi gai mềm trên đầu và anh có thái độ thăm dò – không phải vì cẩn thận mà có vẻ tiếp thu và chờ đợi.
Anh sinh ra và lớn lên ở King of Prussia, hơi chếch con đường hỏa xa Main của thành phố Philadelphia, và chính điều này làm tôi nghi ngờ chiều sâu đức tin của anh. Tôi phát hiện ra là sự chú ý đến nền văn hóa Đông phương thường là bước đầu của sự tán tỉnh, tiếp theo là câu nói “Tôi thấy các cô gái phương Đông rất xinh đẹp,” và cuối cùng, cái bám chặt, như gọng kềm, lên phía trên của cặp đùi. Nhưng Micah không giống như vậy. Anh hiểu tôi không có ấn tượng tốt với đức tin của anh và anh cũng chẳng cố ý gây ấn tượng tốt với tôi.
“Bố tôi theo đạo Phật,” tôi nói với anh. “Nhưng bây giờ ông là khoa học gia.” “Ô,” Micah nói. “Thế là ông không chú trọng đến tâm linh.” “Linh hồn không phải là điều cụ thể,” tôi nói. “Bố tôi không thể cầm nắm những thứ vô hình.” “Cô không thể cầm nắm những hạt nguyên tử,” Micah vạch ra. “À,” tôi nói với nụ cười, “nhưng anh có thể đếm chúng.”
Tôi nói với Micah, bố tôi là nhà khoa học, và điều này là sự thật. Ông cũng là người im lặng. Không như Micah, cái im lặng của anh có vẻ bình an, không bị quấy nhiễu, như một hồ ánh sáng trên mặt nước tĩnh mịch, cái im lặng của bố tôi như cái nắp đậy nồi áp suất, niêm kín hơi nước sôi sục ở bên trong.
Chữ nghĩa không phải là phương tiện truyền thông của bố tôi. “Ngôn ngữ,” bố tôi thường nói, “là một dụng cụ không chính xác.” (Tuy ông ít lời, nhưng nếu gặp một câu ông thích là ông dùng nhiều lần.) Bố tôi yêu thích chữ Hy Lạp và những con số được sắp xếp bên cạnh nhau trong các phương trình phức tạp, tượng trưng cho một thứ luật vật lý hay những giả thuyết thực nghiệm. Ông viết đầy những trang giấy màu vàng khổ dài bằng nét chữ thẳng cứng, ghi chép những cái đẹp này xuống trang giấy bằng cây bút đầu nỉ mềm mực đen. Tôi nghĩ có lẽ ông bực mình ghê gớm khi ông không thể giao tiếp với người chung quanh một cách có nề nếp trật tự và ông cũng không thể đặt cái dấu bằng ở phía sau câu ông vừa nói, để có thể giải phương trình tìm ra ẩn số x và y.
Cái tiếng Anh không lưu loát của bố tôi chỉ là một phần. Bình thường ông không phải là người hay nói, kể cả nói bằng tiếng Hàn trong vòng thân quyến hay với mẹ tôi. Và với cả tôi, con gái duy nhất của ông – đứa con gái không biết dùng cả hai ngôn ngữ mà ông bố yêu thích, Hàn ngữ và khoa học – bố tôi, thật lạ lùng, hầu như chẳng có gì để nói. “Dọn dẹp chỗ bừa bãi này đi,” ông bảo tôi, buổi chiều lúc ông đi làm về. “Bài làm xong chưa?” ông hỏi, nhướng một bên mày phía trên bát cơm khi tôi ăn xong và xin phép đi xem ti vi.
Ông tự giới hạn trong uy quyền, trong giang sơn của ra lệnh và chỉ huy; của những lời tuyên bố không cần nghe câu trả lời, không chừa chỗ cho thảo luận hay biện hộ. Cách giao tiếp này, với bố tôi đó là hình thức của ngôn ngữ tương đương với những phương trình toán học gọn gàng, như được niêm phong bằng bùa chữ nghĩa, kể cả không khí cũng không thể thoát ra hay nhập vào.
Khi tôi vào đại học, lời từ biệt của bố tôi là bài diễn văn dài nhất mà tôi nghe ông phát biểu. Bị những chiếc xe loại khá lớn bao vây chung quanh, trong xe chất đầy hành lý, những thùng sách và đèn học, giữa những bàn tán hứng thú và tiếng sinh viên í ới gọi nhau, giữa những cặp mắt lo lắng của cha mẹ soi mói chung quanh, bố tôi nghiêng người về phía trước đầy ngượng ngập, hai tay cho vào trong túi, nhìn tôi chăm chú. Ông nói, “Học cho chăm nhé. Đi ngủ sớm. Đừng ham chơi. Và đừng để bọn con trai Mỹ lợi dụng.”

Đây cũng là đại học của bố tôi; ông nhập học từ hai mươi năm về trước, khi ông là cựu quân nhân chiến tranh Hàn quốc chỉ có năm mươi đô la trong túi và cũng chỉ chừng ấy từ ngữ tiếng Anh. Những mẩu chuyện về thời sinh viên của ông trở nên huyền thoại của gia đình, lớn lên, tôi nghe nhiều đến độ chúng trở nên sống động và mơ màng như chính là ký ức của tôi. Bố tôi vào phòng vệ sinh của ký túc xá cố gắng một cách tuyệt vọng nấu cho chín quả trứng bằng cách cho nước nóng chảy qua quả trứng; ông chiến thắng vẻ vang trong phòng thí nghiệm vật lý vì nơi đó khả năng dùng ngôn ngữ mới của ông không cản trở ông, và đó cũng là nơi tuổi đời cùng với bộ óc khoa học tinh tế của ông đã giúp ông đạt số điểm cao nhất đưa đến giải thưởng vật lý tối ưu trong năm cuối đại học – đó là những sự kiện mà tôi có cảm tưởng đã được chứng kiến, như thể tôi là một bóng ma lẩn khuất chung quanh đầy lòng đố kị.
Trong cái bóng thành công của bố tôi, trong cùng đại học nơi ông cúi người lần đầu tiên nhìn vào kính hiển vi và đắm mình trong giấc mơ toán học đầy bụi phấn, tôi theo đuổi văn chương, Anh ngữ. Tôi quyết tâm trau dồi văn chương. Tôi học Shakespeare và Eliot, Hardy và Conrad, Joyce và Lawrence và Hemingway và Fitzgerald. Biết cho đúng rất là quan trọng, từng chữ, từng nghĩa ngầm, để lấp cho đầy cái hố im lặng di dân của bố tôi, những lỗ trống ông để lại cho tôi.
Còn những lỗ trống khác nữa ông đã bỏ lại. Thức khuya và học rất ít, tôi làm những chuyện động trời bố tôi sẽ bị chấn động đến độ nếu bảo là ông không tán thành thì chẳng thấm vào đâu. Thí dụ như chuyện giao thiệp với đàn ông Mỹ, tôi vâng lời bố tôi không để cho họ lợi dụng tôi. Trái lại, tôi lợi dụng họ, lợi dụng sự ở gần với họ, vẻ đẹp trai, cái vẻ dễ thương sẵn sàng lên giường với mình chỉ cần vài lời khuyến khích. Tôi thích cái cách họ chuyển động một cách tự hào về thân thể của họ, cái cảm giác nham nhám của những cái má chưa cạo râu, bờ vai và bộ ngực trần nhẵn nhụi của họ, đường cong bờ lưng họ như là gỗ được đánh bóng. Tôi thích ở chỗ tôi có thể ngắm họ từ dưới lên trên, hay từ trên xuống dưới, cảm nhận được cái rùng mình khoái cảm của họ như cảm nhận được cơn động đất ở một nơi nào đó rất xa xôi; tôi có thể làm cho “nó tới,” chuyển động như những vòng tròn của sóng, từ phía trên hay phía dưới, ngắm nhìn họ, ôm ấp họ, làm cho họ thấy hạnh phúc. Tôi sưu tập bạn trai như đồ chơi, như những đồ vật không đắt giá người ta cất phía trong của ngăn kéo. Cái cách trao đổi thân thể thật vui vẻ của họ là cái mà tôi thích. Tất cả họ đều là những chàng trai trẻ người da trắng.
Micah từ chối không chịu làm tình với tôi. Chuyện này trở thành một cuộc đấu trí giữa chúng tôi. “Tình dục làm cho hao mòn lý trí,” anh nói.
“Không nhất thiết phải như thế,” tôi cãi lại, “chỉ là cách chọn đi một con đường khác mà thôi.”
“Có những cách kết hợp cao quý hơn,” anh nói.
“Không thể có nếu anh không mặc áo quần,” tôi trả lời.
“Gina,” anh nói, nhìn tôi đầy nhân hậu, một sự quan tâm làm cho tôi đỏ mặt vì giận dữ. “Em có cái nhu cầu gì thiếu thốn đến độ cần phải dùng tình dục để lấp đầy?”
“Im mồm đi, Micah,” Tôi nói. “Anh hãy làm nhà sư, đừng làm nhà trị bệnh tâm lý.”
Anh cười phá lên. Tiếng cười của anh luôn làm tôi ngạc nhiên, như thể đó là một sự rối loạn nho nhỏ trong vũ trụ. Tôi muốn quyến rũ anh, thật đấy. Tôi xem Micah là sự thử thách khó khăn nhất trong một lãnh vực rất dễ dàng. Nhưng quan trọng hơn cả sự quyến rũ, tôi muốn làm cho anh bị rúng động, muốn xuyên thấu đến tận bên dưới cái cảm giác yên tĩnh, cái hài lòng hướng nội ấy. Không có ai ở lứa tuổi của tôi, tôi nại ra lý do, có quyền sở hữu bản thân toàn vẹn như thế.
Chúng tôi đi dạo vườn nuôi chim, bước lào xào dọc theo con đường mòn, vừa đi vừa thong thả thảo luận về Emily Dickinson, hay là nghệ thuật lấy mật của cây phong, nhưng tôi luôn luôn trở về chủ đề cũ.
“Thật là lãng phí cuộc đời,” có lần tôi nói. “Một sự hưởng thụ như thế là lãng phí. Tất cả những dâng hiến trong đời tu sĩ và cố gắng đạt đến mức tĩnh tâm. Làm như quan trọng lắm vậy. Đó là một sự ích kỷ. Không những chỉ ích kỷ, mà còn là lẩn tránh. Một sự chạy trốn. Trốn cuộc đời và những rối rắm của thế gian.”
Micah lắng nghe, môi hé cười, lắc đầu tiếc nuối. “Em có những đam mê rất tuyệt vời, Gina, thật sống động và hoàn toàn nhập thế. Tôi tiếc là không thể làm em nhận ra điều này. Có thể đây là một sự lẩn trốn như em nhận xét, nhưng Phật giáo không phân biệt thế giới bên ngoài và thế giới bên trong tu viện. Dựa vào lịch sử, giới tăng sĩ đã từng tham gia đấu tranh chính trị và bị cầm tù. Cứ nhìn Tibet là biết thôi.
“Em nghĩ đến, ahem, những chuyện căn bản hơn,” tôi nói.
Micah cười to. “Dĩ nhiên,” anh nói. “Dường như em không hiểu, Gina, Phật Giáo chủ trương từ bỏ thèm muốn.”
Tôi hừ bằng lỗ mũi. “Thèm muốn thì có gì sai chứ? Không có thèm muốn, có khác gì mình không sống đâu.”
Sự thật là tôi bị hấp dẫn với cái ý tưởng này: sự từ bỏ thèm muốn. Cuộc đời của tôi được thúc đẩy bởi thèm muốn, bởi những mơ ước to lớn và hào nhoáng; một nỗ lực cố vươn lên để vói lấy những thứ mà tôi không có, và có lẽ, không có cả hy vọng có được. Tôi có thể mù mờ tưởng tượng ở một đầu, ở một nơi nào đó đã vượt qua khỏi mức độ thèm muốn, là đến chỗ của sự thỏa mãn, nhưng tôi không thể hiểu thấu được chuyện từ bỏ thèm muốn, bỏ đi trong lúc còn thèm muốn tràn đầy.
“Cái thèm muốn từ bỏ sự thèm muốn,” tôi nói, “thì vẫn là sự thèm muốn, đúng không?” Micah cho tay vào trong túi và mỉm cười. “Không,” anh nói, và vượt lên đi trước tôi. “Đó là một chọn lựa có ý thức.”
Chúng tôi đến một cái hồ, mặt trời thấp thoáng ở một chỗ trống trải, cây bạch dương và cây phong vây quanh, màu lá đỏ cháy rực giữa mùa thu. Một vài chiếc lá rơi, đáp xuống mặt nước nhẹ nhàng như thể chúng được cầm đặt lên đấy. Hồ xanh màu lá cây đậm; ánh sáng lấp lánh trên mặt hồ. Có tiếng hót đầy giai điệu của những con chim bồ câu, tiếng rỉ rả của côn trùng. Micah tận hưởng phong cảnh đẹp này. Tôi không biết sự tận hưởng này có liên quan gì với Phật giáo hay không, nhưng ngắm nhìn anh đứng ở cạnh hồ, đầu ngẩng cao hơi ngã về phía sau, mắt anh hăng hái tiếp nhận ánh sáng. Tôi cảm thấy sự yên tĩnh của anh và sự thưởng thức của anh. Anh đứng bất động rất lâu.
Tôi nhổ mấy cây dương xỉ, dệt những chiếc lá hẹp thành những hình thù không giống nhau, đánh bím những sợi dây leo, trong khi Micah ngồi trên tảng đá rộng, lấy đôi đũa từ trong túi áo trên ngực, bắt đầu gõ hai chiếc đũa vào nhau nhẹ nhàng với một nhịp điệu rất nghiêm trang. “Mỗi buổi sáng ở chủng viện,” anh nói, “bọn anh thức giấc trong tiếng mõ cầu kinh. Bốn giờ sáng và bầu trời vẫn còn tối, người ta có thể nghe tiếng gõ lên một món đồ bằng gỗ rỗng bên trong – cốp, cốp, cốp – kêu gọi mọi người thiền định.” Anh cười vẻ mơ màng. Tiếng gõ của đôi đũa có vẻ kém hiệu lực, nghe như tiếng ta-ta-ta. Tôi tưởng tượng mặt trời lên, băng qua thung lũng của Himalaya – một mảng mây mỏng nhuộm hồng vào một buổi sáng lạnh lẽo và hình ảnh cái tịnh thất thanh đạm của một nhà sư.
Micah nhắm mắt, mặt hướng về mặt trời. Anh tiếp tục gõ hai chiếc đũa vào nhau chầm chậm. Anh có vẻ đơn độc và mới mẻ, ngồi trên tảng đá ấy, như một anh hướng đạo tìm kiếm con đường dẫn đến một bộ lạc nào đó, với mái tóc mới mọc và vẻ tĩnh lặng, và cái cách thân hình anh chăm chú hướng đến thiên nhiên chung quanh anh.
Tôi nghĩ, đó là lúc tôi bắt đầu yêu anh, hay, đó là lúc ý muốn chiếm hữu anh trở nên thật mãnh liệt đến độ nó không chỉ là một thèm muốn nhất thời. Tôi cần có sự đáp ứng của anh. Tôi bắt đầu hiểu thèm muốn là gì, sự khuấy động trong khoảnh khắc toàn hảo trong lúc chờ đợi sự khuấy động của một khoảnh khắc khác. “Thức giấc đi,” tôi nói. Tôi lột phăng cái áo cổ lọ và áo ấm một cách khéo léo rồi ném chúng xuống dưới chân của Micah. Micah mở mắt. Tôi cởi quần, cởi cả quần lót và đứng đấy trần truồng. “Cốc cốc, (tiếng gõ cửa), có ai ở nhà không?”
Micah không quay đi. Anh nhìn tôi, đôi đũa ngừng giữa thinh không. Anh giơ một chiếc đũa về hướng tôi và giữ nguyên tư thế, như thể anh là một họa sĩ với chiếc cọ đưa lên ngắm để đo lường kích thước, hay là một trưởng ban nhạc đang chuẩn bị điều khiển ban hòa tấu. Anh giơ chiếc đũa lơ lửng giữa khoảng cách của hai chúng tôi, như là tôi không thể di chuyển khi nào anh còn giơ chiếc đũa. Đôi mắt anh xanh thăm thẳm như không đáy. Núm vú tôi teo lại vì lạnh. Chung quanh chúng tôi lá rơi, trong ánh sáng chập chờn, dịu dàng xuống mặt hồ, tạo nên tiếng lào xào như tiếng cọ xát vào vải thô. Anh bỏ tay xuống và tôi như được thả ra. Tôi quay người nhảy vào trong nước.
Vài đêm sau, tôi mua chai rượu vang rẻ tiền và dụ Micah uống rượu với tôi. Chúng tôi bắt đầu uống ở bậc thềm của thư viện sau khi thư viện đóng cửa, và uống từng ngụm vụng về từ chai rượu dấu trong bao giấy nâu. Ánh sáng từ rặng núi Holyoke nhấp nháy từ xa, vượt qua màu tối như nhung đen của khu sinh viên năm thứ nhất. Từ chỗ này chúng tôi bắt đầu lang thang trong đại học, các sân quần vợt trải rộng, cố chịu cơn gió lạnh cóng từ khu đồi cao ở trung tâm khoa học, và mê muội lăn xuống Đồi Tưởng Niệm (Memorial Hill) như hai cuộn cỏ khô.
“Em có biết koan (công án thiền) là cái gì không?” anh hỏi tôi, khi chúng tôi ngồi trên băng ghế phía sau sân banh. Chúng tôi đi hơi lảo đảo nhưng muốn xuống con đường dốc rất cao phía sau sân banh.
“Cái đó có giống như là kem không?” tôi hỏi. “Không phải, ko-an. Trong Phật giáo.”
“Không biết.”
“Đó là một câu hỏi không có câu trả lời, như là một câu đố. Em biết không, thí dụ như ‘Tiếng vỗ của một bàn tay thì như thế nào?’ Hay là ‘Mặt anh ra làm sao trước khi anh được sinh ra?’”
“Cái mặt anh giống thế nào trước khi anh sinh ra? Hỏi vô lý.”
“Đúng như thế. Em phải cố nghĩ về câu koan cho đến khi em “ngộ” ra được câu trả lời.”
“Trả lời về cái gì?”
“Về đời sống, về ý nghĩa cuộc đời.”
“Ô, Ok.,” tôi nói, “em hiểu rồi.” Tôi ngoảnh mặt ra phía sau lưng, chai rượu gói trong bao nằm trong hai bàn tay tôi. “Thử cái này nhé, ‘Tiếng đánh rắm của một cái gò má’ ra làm sao?” Anh cười ngặt nghẽo hồi lâu, rồi ọe nôn ra bên cạnh băng ghế. Tôi đưa anh về, đưa anh vào giường; trán anh nóng sốt, mắt anh mất thần vì cơn ốm. “Xin lỗi,” tôi nói. “Em đúng là ảnh hưởng xấu cho anh.” Tôi hôn anh, môi anh nóng hổi và anh không đáp ứng. “Đừng bận tâm,” anh lẩm bẩm, nửa chìm vào giấc ngủ.
Đêm sau, chúng tôi ngủ chung giường với nhau lần đầu tiên. Anh mặc quần lót và tay anh để ngay ngắn khép chặt vào bên cạnh người, như Gandhi nằm giữa những nàng trinh nữ. Tôi quyết tâm gây khó khăn cho anh. Tôi cứ áp thân hình trần truồng của tôi vào cạnh anh, gác chân lên người anh, ngón tay tôi mân mê xoa bộ ngực gầy của anh. Anh vùng vẩy và đẩy tôi ra, giả bộ ngủ. Khi tôi thức giấc buổi sáng, anh đã đi mất và bản nhạc Ode to Joy đang phát ra ầm ĩ trên máy của tôi.
Graham nói nhớ tôi. Chúng tôi đã ngủ với nhau một vài lần trước khi tôi gặp Micah, hưởng thụ cái ấm áp lành mạnh sau khi chạy hay chơi Ultimate, tắm hơi nước và ngã lên giường. Graham đẹp trai, tóc đen, vai rộng, hai cánh tay khỏe mạnh và bộ ngực rắn chắc. Hắn làm tình với đàn bà như hắn đang tập thể dục, luôn nghiêm nghị nhắm đến một kết quả và phải đến đúng lúc. Khó mà tưởng tượng làm tình như thế có sức hấp dẫn người ta. Tôi bảo hắn tôi đang yêu người khác.
“Không phải cái gã tóc húi cua chứ?” hắn nói. “Cái gã trông giống như một con hải cẩu nho nhỏ?” Tôi rùn vai. Graham nhìn tôi vẻ ngờ vực. “Trông hắn không thuộc mẫu người thích hợp với em.”
“Không thích hợp thật.” Tôi đồng ý. “Nhưng ít ra hắn cũng không thuộc về anh.”
Đồng thời tôi tăng cường mức độ tấn công Micah. Tôi hỏi không dứt những câu hỏi về giáo lý Phật giáo. Micah nói về dukkha, hay khổ đế, về tứ đế, ngũ uẩn, về Bát chính đạo đưa đến giác ngộ. Tôi lắng nghe chăm chỉ, sẵn sàng đồng ý tất cả những điều này nghe rất hay, và cái mục đích giác ngộ và tĩnh lặng rất là đáng đạt đến. Trong khi anh nói, tôi duỗi bàn chân cho đến khi ngón chân tôi chạm vào đùi anh. Tôi thò tay vuốt lưng anh; hay cúi người thật thấp để anh có thể nhìn thấy bên dưới lớp áo rộng, tháo tung vài cúc áo của tôi.
“Rất tiếc là anh không theo phái Tantra,” tôi nói. Tôi cũng đã nghiên cứu Phật giáo một ít.
Micah khiển trách tôi. “Đó là Phật giáo kiểu Hollywood,” anh nói. “Thở mạnh và đầy tính cách trình diễn.”
“Họ không cấm cản chuyện thèm muốn xác thịt,” Tôi nói. “Họ cho phép làm tình.”
“Phật không cấm những thèm muốn của thể xác,” Micah nói. “Nhưng đó là chuyện vô thường, thế thôi. Có một cái gì đó vượt qua những chuyện vô thường.”
“Để vượt qua chuyện ấy, “ tôi nói với vẻ dằn dỗi, “anh phải làm chuyện ấy.” Micah thở dài.
“Gina,” anh nói, “em rất xinh đẹp, nhưng tôi không thể làm chuyện này. Sẽ có rất nhiều người sẵn sàng làm.”
“Bây giờ cũng có nhiều người sẵn sàng làm.”
Anh cười hơi buồn, “Thế thì…”
Tôi cúi xuống tháo dây giày của anh. Tôi cột chúng lại vào nhau thắt gút hai lần. “Nhưng em muốn anh,” tôi nói.

Bố mẹ tôi ở cách trường chừng ba mươi dặm và mẹ tôi thường gọi tôi về nhà ăn cơm tối. Tôi về chỉ một lần trong năm ấy, cùng với Micah. Bố mẹ tôi không phải là người thích ứng dễ dàng với người lạ. Họ là những người khá cách biệt, không giao thiệp nhiều hay thường đi chơi hay ăn tối ở ngoài – hay nói cho đúng, bố tôi như thế và mẹ tôi cố gắng thay đổi sao cho phù hợp với ý thích của bố tôi.
Mẹ tôi đã dọn bàn và trải khăn màu xanh trong phòng ăn. Có ly pha lê để uống rượu vang, và muỗng nĩa bằng bạc có chạm hoa. Mẹ tôi đã nướng một ít thịt gà hơi khô vì quá lửa, đậu và cà rốt nấu hơi nhừ – những món ăn mẹ dành để đãi khách Mỹ khi mời họ dùng cơm chiều. Nói về món ăn Hàn, mẹ tôi là đầu bếp thượng thặng. Cái món sườn ướp và miến xào thịt bò với rau cải của mẹ, bánh bột nhồi thịt heo, tôm chiên và kim chi mẹ tôi tự tay làm chứa trong vại rất tuyệt vời. Nhưng món ăn Mỹ thì mẹ tôi nấu không khéo, và bà không thích chúng. Tôi nghĩ, bà cho rằng các món ăn Mỹ nấu cho đúng kiểu phải tẻ nhạt như thế.
“Mẹ chỉ cần nấu thức ăn Hàn,” Tôi giục mẹ qua điện thoại. “Anh ấy sẽ thích lắm.”
Mẹ tôi nghi ngờ. “Cay lắm,” mẹ tôi nói. “Mẹ biết người Mỹ thích ăn gì.”
“Mẹ đừng nấu món gà nhé,” tôi năn nỉ. “Anh ấy ăn chay.”
“Để xem.” mẹ tôi nói, không thú nhận cũng chẳng hé lộ gì cả.
Micah nhìn đĩa thức ăn của anh chằm chặp. Mẹ tôi cười với vẻ thanh thản. Micah gật đầu. Anh dùng nĩa xúc đầy rau cải, cắn một miếng bánh mì. Cái xương nhọn ở cổ của anh có vẻ như làm việc liên tục. Bố tôi cũng bận rộn nhai thức ăn, xương cổ của ông cũng chạy lên chạy xuống như bánh cóc trong cái con đội được dùng để thay bánh xe. Không ai nói lời nào kể từ lúc bố tôi khui chai Chardonnay và đọc cho chúng tôi nghe một đoạn, trong quyển sách bìa mềm có nhiều nếp gấp, hướng dẫn cách chọn rượu vang của New York Times.
Tiếng muỗng nĩa chạm vào đồ sứ nghe dường như to hơn vang vọng hơn. Tôi để ý thấy tôi nhai lâu hơn. Bố tôi hắng giọng. Mẹ tôi nhìn bố tôi chờ đợi. Ông ho khan.
“Micah đang nghiên cứu về Phật giáo ở Nepal,” Tôi nói để đánh tan sự im lặng.
“Ồ!” mẹ tôi kêu lên. Bà cười khúc khích. Bố tôi tiếp tục ăn. Ông nuốt đánh ực và nhìn lên.
“Thế à?” ông nói, có vẻ chú ý. Micah gật đầu.
“Cháu ở đó chỉ có bốn tháng,” anh nói. “Gina nói với cháu là bác theo Phật giáo từ khi còn bé.”
Bố tôi ậm ừ. “Đó là chuyện dĩ nhiên,” ông nói. “Ở Hàn quốc bấy giờ, tất cả mọi người đều theo Phật giáo. Nhưng bây giờ, tôi không xem mình là Phật tử.”
Micah và tôi nhìn nhau.
“Theo Phật giáo bây giờ rất hợp thời trang, tôi nghĩ thế,” bố tôi nói tiếp. “Với các anh chị sinh viên Mỹ. Phật giáo là một thứ tôn giáo thời thượng.”
Tôi nhìn thấy Micah nhăn mặt. “Tôi nghĩ đây là điều rất hay, Hi Joon,” mẹ tôi đỡ lời, “giúp người Mỹ hiểu biết về tôn giáo và triết học Á châu. Tôi học Triết ở đại học, Micah. Tôi nghiên cứu Whitehead[1], chủ nghĩa thực dụng của người Mỹ. ”
Bố tôi tựa lưng vào ghế, quan sát, vẻ không hài lòng, trong khi mẹ tôi và Micah trò chuyện. Dường như ông đang phân tích Micah, không phải cách phân tích của một Bác sĩ chuyên trị thần kinh – bố tôi không ưa các nhà tâm lý học – mà là cách phân tích của một nhà hóa học, tách rời anh ấy ra thành những phân tử căn bản, một công thức hóa học đơn giản để có thể định nghĩa cách cấu tạo của anh ấy.
Micah đang nói về ngũ uẩn, cảm xúc, nhận thức, hình thành tư tưởng, và ý thức kết thành hữu thể trong giáo lý Phật giáo. “Đó là một quan niệm về bản ngã rất khác biệt với Thiên chúa giáo,” anh giải thích, mắt nhìn mẹ tôi.
“Vô lý,” bố tôi ngắt lời. “Trong học luận Phật giáo không có bản ngã. . . .”
Tôi và mẹ tôi bất lực nhìn họ bắt đầu tranh luận. Tôi ngạc nhiên khi thấy bố tôi hiểu biết rất nhiều về chủ đề này, và ngạc nhiên vì cung cách ông biểu lộ sự hiểu biết này. Tôi cũng ngạc nhiên khi thấy Micah luôn nhường nhịn. Dường như anh đánh mất vẻ chắc chắn, và cùng những bức tường bảo vệ niềm tin của anh. Anh gật đầu liên tục và rút lui trước những luận điểm của cha tôi, cũng là luận điểm mà anh đã cương quyết bảo vệ khi tranh luận với tôi. “Cháu nghĩ là cháu không biết rõ vấn đề này,” anh nói nhiều lần, và “Vâng, cháu hiểu ý Bác”đôi lần, với một vẻ khiêm nhường yếu đuối.
Tôi quay nhìn từ đôi mắt sáng lấp lánh và vẻ thông minh không nhượng bộ của bố tôi đến vẻ kính trọng, thái độ rụt rè của Micah và cảm thấy cơn bực dọc tăng lên mà tôi không biết là do bởi thái độ hiếu chiến của bố tôi, hay cái chịu thua của Micah, hay do cái động cơ quái lạ của tôi vì đã dàn xếp cho hai người gặp nhau. Có thật sự là tôi mong muốn là họ sẽ hợp tính nhau không? Tuy nhiên bố tôi đã tập trung sự chú ý vào Micah với một mức độ rất mãnh liệt – như thế anh là một đối thủ – bố tôi chưa bao giờ chú ý đến tôi nhiều như thế.
Khi cuộc trò chuyện tạm ngưng, và sau khi chúng tôi đã ăn rất nhiều thức ăn chúng tôi gọi là thức ăn lịch sự để đãi khách, mẹ tôi dọn bớt bát đĩa và mang vào một bát cơm với kimchi cho bố tôi. Mắt Micah sáng lên. “Cho cháu một ít thức ăn đó có được không, Bác Kim?”
Mẹ tôi nhìn với vẻ nghi ngờ. “Cay lắm đấy,” mẹ tôi nói.
“Ồ, cháu rất thích thức ăn cay,” Micah trấn an.
Mẹ tôi đi lấy bát cho Micah. “Cháu có dùng đũa được không?” mẹ tôi hỏi, khi Micah bắt đầu ăn.
“Mẹ à, đừng chú ý đến anh ấy nhiều quá,” tôi nói.
Bố tôi ngước nhìn lên từ cái bát của ông. Bố mẹ tôi cùng nhìn Micah lúc anh ấy ăn một miếng bắp cải làm kim chi to.
“Ha!” bố tôi nói, thình lình nở nụ cười. “Gina không thích kimchi,” ông nói. Bố nhìn tôi.
“Gina,” ông nói. “Chú bé này mang bản tính người Hàn quốc hơn con.”
“Chẳng có gì hay ho.” Tôi nói.
Bố tôi không thèm chú ý đến tôi. “Gina luôn luôn muốn làm người Mỹ,” ông bảo Micah. “Kể từ khi nó còn bé, nó muốn có mắt xanh, tóc vàng.” Ông trỏ chiếc đũa về phía mặt của Micah, “như mắt và tóc của cháu đấy.”
“Giá như mà cháu có tóc” Micah nói, cười toe, bàn tay anh vò đầu.
Bố tôi nhìn đăm đăm vào chén cơm. “Nó không muốn làm con gái Hàn. Nó nghĩ nó có thể là con gái Mỹ trăm phần trăm, nhưng không được. Nó có dòng máu Hàn, trăm phần trăm. Nơi nào nó trưởng thành không phải là vấn đề – huyết thống mới quan trọng.” Ông nhìn Micah một cách nghiêm trang. “Cháu nghĩ cháu có thể thành một tu sĩ Phật giáo. Tương tự. Nhưng tư tưởng Phật giáo không nằm trong huyết quản của cháu. Cháu không thể hiểu chân lý của Phật giáo. Cháu nên nghiên cứu Thánh kinh.
“Trời ơi, Bố!” Tôi nói. “Bố nói như là một người Phát xít vậy!”
“Gina!” Mẹ tôi nhắc nhở. “Bố làm con hổ thẹn quá,” Tôi nói. “Bố thất lễ với bạn của con. Bố nói về con như thể con không có mặt ở đây. Bố có thể nói bất cứ điều gì bố thích. Con là người Mỹ cho dù bố có thích hay không. Dòng máu dân tộc chẳng có nghĩa lý gì, quan trọng là cái ở trong này. Tôi gõ nhẹ ngón tay lên thái dương.
“Nói thế không phải là Phát xít.” Bố tôi nói. “Đó là sự thật! Cái mà con có ở trong này,” ông chỉ ngón tay lên trán, “là huyết thống, di truyền. Con thừa hưởng từ bố!”
“Xin Chúa giúp giùm con,” Tôi nói.
“Gina!” mẹ tôi van nài.
“Bác Kim” – Micah bắt đầu.
“Mày chỉ giống con gái Mỹ ở một điều,” bố tôi hét lên, “Mày không biết kính trọng bố. Ở Hàn quốc, con gái không được phép trả lời với cha mẹ, đây thật là một điều nhục nhã.”
“Ở Hàn quốc, con gái phải nhẫn nhịn chịu đựng như những tấm thảm chùi chân cho bố họ dẫm lên!” Tôi hét trả lại.
“Mày biết gì về Hàn quốc chứ? Mầy chỉ đến đó có một lần khi mày sáu tuổi.”
“Cái hiểu biết này nằm trong máu của con.” Tôi nói, và đứng dậy. “Con không ở đây để nghe những chuyện như thế này. Thôi chúng mình đi, Micah.”
Micah nhìn tôi dụ dự, rồi quay sang bố tôi. Bố tôi lại tiếp tục ăn, từ từ dùng đũa và cơm vào mồm. Ông ngừng. “Nó luôn luôn như thế,” ông nói, dường như với cái bàn. “Luôn luôn giận dữ như thế này. Ngay cả khi nó còn bé.”
“Bác Kim,” Micah nói. “Um, cám ơn hai bác rất nhiều. Chúng cháu. . . Cháu nghĩ là tụi cháu ra về bây giờ.”
Bố tôi nhai đi nhai lại. “Đáng lẽ tôi không nên rời Hàn quốc,” ông nói nhỏ, hoàn toàn quả quyết.
“Gina,” mẹ tôi nói. “Ngồi xuống đi. Hi Joon, thôi mà!”
“Micah,” tôi nói. “Anh có đi không?” Chúng tôi bỏ bố tôi ngồi một mình ở bàn ăn.
“Đáng lẽ tao nên gửi cho mày sống với cô Soo!” Bố tôi nói vọng theo. Mẹ tôi theo chúng tôi ra sân mang theo hộp thịt gà mà Micah không ăn.
Trên đường về chúng tôi ngừng lại mua kem. Koan, tôi hỏi Micah. “Kem chocolate hạnh nhân khi tan chảy thì âm thanh của nó ra làm sao?” Tôi hỏi anh. “Trước khi vanilla hiện diện trên cõi đời thì nó là cái gì?”
Bên trong tiệm bán kem ánh sáng thật chói chang, một thứ ánh sáng huỳnh quang như tẩy rửa biến mọi thứ thành một màu trắng hếu như màu của xương. Micah cúi người quan sát những hộp kem nằm trong tủ nhựa. Anh có vẻ khô héo, lặng lẽ. Anh bảo lấy cho anh một thìa kem chocolate bạc hà và một thìa kem anh đào đen cho lên trên vỏ bánh kem. Anh ăn một cách chậm rãi, liếm láp đầy tiếc rẻ như một đứa trẻ đã dùng đến đồng xu cuối cùng. Có vẻ gì sầu muộn trong cử chỉ của anh, như một lời xin lỗi. Anh đánh mất vẻ trầm lặng của một nhà sư và thình lình anh có vẻ như một người mất phương hướng. Kem lạnh làm tôi cảm thấy nhức đầu, tất cả những mạch máu trên thái dương của tôi dường như căng thẳng. Tôi run rẩy và lạnh; dường như cơn giận cùng với khí lạnh đã lan tỏa ra khắp người tôi. Micah chà xát lưng tôi.
“Em khó tính với bố của em quá,” anh nói. “Ông không phải là người xấu.”
“Thôi đừng nhắc đến chuyện này nữa,” Tôi nói. “Chúng mình về đi.”
Chúng tôi đi bộ về ký túc xá băng qua sân đậu xe trong im lặng. Có ánh đèn từ bên kia vuông sân và nhạc trào ra khung cửa sổ lan vào trong trời lạnh. Một vài ngôi sao lẻ loi xem chừng quá xa để có thể phát ra ánh sáng đều đặn. Về đến phòng, tôi mở nhạc the Rolling Stones thật to. Giọng hát của Mick Jagger đầy vẻ châm chọc và độc ác. Tôi tắt đèn và thắp một ngọn nến đỏ.
“OK. chuyện này cần phải chấm dứt.” Tôi nói. Tôi cảm thấy run rẩy. Tôi đẩy Micah trở lại giường. Tôi đang giận dữ cực độ. Anh ấy đã phá hủy dùm tôi, cái thoáng nhẹ, cái cuộc đời đã được thanh lọc của tôi. Tất cả mọi thứ đến với tôi dường như dễ dàng, với đám trai trẻ, những lời chót lưỡi đầu môi và những cảm xúc ngắn ngủi mau tàn, những mê đắm đơn giản và những lạc thú bề ngoài. Nó như là cái cảm giác đang bay, nhảy lên để vói lấy cái Frisbee lướt lên không trung. Trong một khoảnh khắc, bạn cảm thấy như mất trọng lực, mất ý thức về chính mình hay một giống loài nào đó không phải là con người. Trong cái khoảnh khắc ngắn ngủi ấy bạn cảm thấy hoàn toàn tự do.
Tôi bắt đầu nhảy múa, rất nhanh, đong đưa, lắc lư ngay trước cái giường của tôi. Tôi nhắm mắt và xoay tít, va dội vào tường như một quả banh, loạng choạng suýt ngã vì chính đôi tất của tôi. Tôi nhảy múa cuồng nhiệt đến độ làm rung rinh cái máy stereo khiến âm thanh đứt khúc, giọng hát của Jagger trở nên lắp bắp trong cổ họng với những âm thanh đơn điệu, nuốt hối hả những lời lập lại. Tôi xoay tròn và chạy theo vòng tròn, đầu ngả về hướng này đến hướng kia cho đến khi tôi nghe máu chạy trong người rần rật, tôi vén tóc tôi ra khỏi gáy và túm tóc bằng hai tay.
Micah nhìn tôi nhảy múa. Thân hình anh như một chữ S nằm trên giường tôi, tay chỏi đầu trên cánh tay. Vẻ mặt của anh trông giống như lúc anh nói chuyện với bố tôi, cái vẻ nhường nhịn, đôi mắt nai hiền lành chịu thua. Nhưng tôi có thể nhìn thấy một cái vẻ khác còn đang ẩn chìm phía dưới.
Với những ngón tay gần như tê dại, tôi tháo cúc áo ấm bên ngoài, giật phăng áo sơ mi bên trong và lột áo ra khỏi đầu. Tôi uốn éo cho đến khi váy và đồ lót rơi khỏi người, đá tất cả quần áo vào trong góc nhà, cho đến khi người tôi ướt đẫm và cháy bỏng – rồi tôi nhào tới đè lên người anh.
Như được nếm mùi vị của thức ăn sau một ngày nhịn đói – rất mạnh mẽ và tràn trề. Micah đáp lại cơn giận dữ điên cuồng của tôi với cái đam mê đầy bí ẩn của anh; như thể đó là một cơn ấu đả, một cuộc cãi nhau, cái gì đó rất quan trọng đang bị thử thách mà cả hai chúng tôi đều không muốn chịu thua. Sau đó chúng tôi ngồi trên giường và nghe bài hát Ode to Joy trong khi Micah, có rất nhiều đôi đũa bỏ vương vãi trong phòng, đã dùng đũa để giả vờ làm nhà điều khiển giàn nhạc Leonard Bernstein. Sau đó chúng tôi đi ra tiệm All-Star Dairy mua thức ăn và Micah thú nhận với tôi là anh đã yêu tôi.

Bố tôi từ chối không chịu tham dự lễ cưới. Ông thích Micah, nhưng ông không muốn tôi lấy chồng người da trắng. Câu chuyện trở thành chuyện khôi hài tôi kể mọi người nghe. Theo phong tục Hàn, tôi nói, cô dâu bị đem cho bốn tháng trước lễ cưới.
Micah trở nên giáo viên dạy Sinh vật học ở trường Trung học. Tôi là một người phó giám học của đại học địa phương. Chúng tôi có hai con. Khi Micah kể lại câu chuyện thời bắt đầu yêu của chúng tôi, anh kể với một vẻ nhún nhường và khôi hài. Anh nói như thể anh là một kẻ hết sức điên rồ khi nghĩ đến chuyện trở thành nhà sư. “Thử tưởng tượng chuyện ấy,” anh nói với các con. “Bố của chúng mày lại có thể như thế.”
Gần đây, tôi có cơ hội đọc thêm sách về Phật giáo. Siddharta Gotama chỉ có ba mươi lăm tuổi khi ngài ngồi dưới cội Bồ đề trên bờ sông Neranjara và trở nên giác ngộ. Đôi khi, khi tôi thấy chồng tôi nhìn tôi bên kia bàn ăn điểm tâm, hay đi về phía tôi từ bên kia phòng, tôi nhìn thấy một vẻ thắc mắc khó hiểu trên mặt anh, một cái vẻ bấn loạn thoáng qua, có vẻ như anh không thể nhớ ra tôi là ai. Tôi bắt gặp vẻ mặt này một vài lần, trong một ngày Chủ nhật khi anh biến mất ra khỏi nhà, anh ngồi trên băng ghế với tờ báo đặt trên lòng, mắt nhìn ra khu phố, chìm đắm trong tư tưởng đến độ anh không lay động khi tôi gọi tên anh.
Tôi nhớ lần đầu tôi gặp anh, cái vẻ yên tĩnh bao la trong anh, vẻ hài hòa trên mặt. Tôi nhớ cách anh nhìn những hòn đá bên cạnh hồ như nhà thám hiểm một miền đất lạ và tôi tự hỏi không biết anh có hối tiếc, như tôi đang hối tiếc, về việc đã đánh mất cái niềm tin không thiết thực của anh. Anh có nhớ tiếng mõ cầu kinh, tiếng gọi của cuộc sống nội tâm không có sự thèm muốn trần tục? Tôi nghĩ đến bố tôi, khi luộc trứng bằng cách cho nước nóng chảy lên quả trứng gói trong cái bí tất trong lúc ông ở xa gia đình hằng ngàn dặm, nhưng không biết là trong tương lai ông sẽ phải nuôi một đứa con gái, cũng cùng một sự hy vọng đầy tràn với tất cả cố gắng để thành công, nhưng đưa đến một kết quả không như ý muốn. Tôi nhớ cái cách tôi hay đùa nghịch với koan và tôi tự hỏi.
“Cái âm thanh của một cuộc đời, không được sống, nó như thế nào?”