Miền Trung Tây Mỹ Quốc

Người Mỹ rất thích đi du lịch, phần nhiều ai cũng có một danh sách trong trí hoặc viết ra những nơi mình muốn thăm viếng trên thế giới rồi từ từ thực hiện ước mơ ấy trước khi từ giã cõi người. Danh sách này họ gọi là “bucket list”. Bucket list dài hay ngắn, đầy hay vơi là tùy theo tài chánh, sức khỏe và tánh ưa mạo hiểm của cá nhân. Người Mỹ được an hưởng hòa bình khá lâu nên hầu hết ai cũng có niềm ước mơ được viếng thăm nhiều nơi trên thế giới.
Ngày còn trẻ sống tại Việt Nam, mặc dầu tánh phiêu lưu mạo hiểm đã có trong tâm hồn nhưng cái “ bucket list” của tôi nó ngắn lắm vì còn trẻ, không có tiền lại bị ba mẹ còng chân. Niềm ước ao của tôi là được đi Sài Gòn chơi; tuy chỉ cách Nha Trang 434 km, thế mà trong cuộc đời ngắn ngủi của tôi (kể cả lần chạy giặc) tôi chỉ được ngao du thành phố “Hòn Ngọc Viễn Đông” có bốn lần; thăm Đà lạt là một giấc mơ chưa thành tựu cho đến khi tôi được về dưới danh nghĩa Việt Kiều.
Từ ngày di cư sang Mỹ, “bucket list” của tôi dài hơn, dài thêm và dài gần như bất tận. Vì rứa thành ra ngay sau khi sanh thằng con út năm 1976 được bốn tháng, hai vợ chồng tôi bắt đầu cuốn gói bế hai đứa con đi chơi. Dĩ nhiên là ngoài những ngày lễ; chúng tôi nai lưng làm việc để chờ ngày đi chơi tiếp.


Có những tiểu bang miền Trung Tây nước Mỹ chúng tôi chưa từng đến vì không phải là chốn phồn hoa đô hội. Vì thế, sau khi du ngoạn hết 40 tiểu bang khác nhau( không kể những tiểu bang chúng tôi thăm viếng nhiều lần như Hawaii, Florida, Texas, Oregon, NewYork và vùng Đông Bắc vì cảnh đẹp hoặc được bạn rủ rê), lần này, sau khi chúng tôi đi họp khóa Hải Quân Thiên Xứng 2 tại Chicago, tôi dành ra thêm 8 ngày để chu du các tiểu bang vùng Trung Tây Mỹ Quốc.
Thuê chiếc Nissan Murano tại phi trường O’ Hare, hai vợ chồng tôi và cô em gái hớn hở bắt đầu chuyến du hành.

Theo quốc lộ 80 về hướng tây, chúng tôi chạy ngang những thành phố nhỏ như Nettle Creek, Morris, Mineral, Edford, Coal Valley… hai bên đồng ruộng mênh mông, các cây bắp non mới mọc lên chừng nữa thước. Trời xanh thẩm, mây trắng bềnh bồng như bông gòn. Các trang trại ẩn hiện sau chòm cây xanh lục và các nhà kho sơn đỏ viền trắng thật xinh rải rác trên sườn đồi.

Đến một công viên bên bờ sông tên Rock River – nhánh nhỏ tách ra từ Mississipi River –dòng sông xinh đẹp và mát mẽ. Xa xa có chiếc cầu bắt ngang, công viên là một bán đảo nhỏ giữa hai nhánh sông. Trên sông, người lớn cũng như trẻ em, bơi lội, câu cá hoặc phơi nắng. Bị quyến rũ bởi bóng mát của cây cối ven bờ và những con sóng lăn tăn đập nhẹ trên cát, tôi hối hả mang máy ảnh chạy xuống sông. Lúc ấy tôi chưa cảm nhận được nhiệt độ nóng và ẩm ngoài trời. Chỉ hai phút sau, đàn muỗi đói đánh hơi người, bay đến tấn công như vũ bão. Tôi mê chụp ảnh nên nhảy nhót vung văng, vừa đuổi muỗi, vừa quyệt mồ hôi, vừa chụp hình. Chụp được mươi cái hình thì hai bàn tay đã có cả chục vết muỗi cắn. Cô em tôi và ông xã tôi thì muỗi không thèm cắn!!! Sau khi yên vị trong xe, tôi nhìn ra những người khác đang dẫn chó đi bộ, tắm nắng, câu cá; kể cả mấy đứa bé Mỹ, bụ bẩm đi chập chững bên bờ sông nghịch nước, chẳng có ai đuổi muỗi hoặc tỏ ra nóng nực chi hết???

Trên đường, chúng tôi ghé qua thành phố Daventport bên sông Mississipi. Đi dạo trong công viên Centennial chúng tôi chụp ảnh kỷ niệm bên sông, xa xa là chiếc cầu chia đôi hai tiểu bang Iowa và Illinois. Trong công viên dưới bóng cây có bầy vịt Mallard lông màu xanh chen lẫn nâu đang nằm ngủ. Trên giòng sông, một đàn chim bồ nông trắng lượn lờ vây đuổi cá. Nhìn vào con đường dẫn lên phố, hai bên treo những chậu hoa màu sắc rất dễ thương. Cạnh bờ sông có bảng hiệu tiệm phở, chúng tôi reo lên mừng rỡ nhưng nghĩ lại là mình chưa đói bụng nên đi thêm một quãng đường nữa để đến Coralville. Tối hôm đó chúng tôi được ăn phở tại “I love Phở”, do người Nhật làm chủ nhưng nấu cũng khá ngon, sau mấy ngày không được ăn thức ăn Việt, món gì có chút nước mắm là ngon rồi.

Sáng thứ hai, từ Coralville chúng tôi đi Iowa city. Thăm tòa nhà Capitol cũ nay trở thành “The University of Iowa Old Capitol Museum”. Viện bảo tàng đóng cửa ngày thứ hai trong tuần nên chúng tôi đi dạo quanh khuôn viên đại học để chụp ảnh, đuổi muỗi và lau mồ hôi. Dù vậy chúng tôi cũng thấy vui, Tuấn xách máy ảnh đi bộ loanh quanh, chụp hình các dinh thự, tôi và Dung chụp ảnh cho nhau làm kỷ niệm với tượng hình tốt nghiệp của anh chim cú khổng lồ. Trên đường đi Cedar Rapids, chúng tôi ghé thăm hồ Coralville và Hồ Macbride State Park. Đường vào hồ đẹp và thơ mộng; qua khỏi lộ chính với những căn nhà xinh xắn trên các ngọn đồi nhỏ thoai thoải, hoa cỏ xanh tươi; rẽ vào con đường nhỏ thấy có con nai vàng ngơ ngác trong sân nhà ai đó nên ngừng vài giây để chụp hình trước khi nai vàng phóng vô bụi rậm.

Cuối đường hiện ra bờ nước trong veo, quanh hồ cây cao bóng mát, có vài người chèo Kayak, xa xa có chiếc thuyền câu, ít nhất cũng năm hoặc sáu người ngồi nói chuyện và câu cá, xa quá nên tôi không nghe rõ nhưng thanh âm văng vẳng như tiếng Việt. Hai bà đầm Mỹ dẫn theo ba con chó bự, chúng nhảy tòm xuống hồ tắm rồi chạy lên rảy nước lung tung. Có một bà điều khiển cho con chó của mình lao xuống hồ để anh Tuấn chụp hình nên anh thích lắm, cười hỉ hả quên cả chuyện lái xe mệt nhọc. Cảnh hồ thơ mộng mát mẻ, tôi chụp ảnh một gia đình đi câu cá ngồi bên mô đất dẫn ra hồ, khung cảnh đầm ấm và thanh bình.


Lái thêm 15 dặm trên xa lộ 380 qua Cedar Rapids, thành phố đông dân thứ nhì của Iowa (131,000 dân) sau thành phố Des Moines. Chúng tôi ghé Czech Village để xem một thành phố có sắc thái đặc thù của người di dân. Thành phố này đang tổ chức một cuộc chạy thể thao, chúng tôi đi dạo trong làng ngắm cảnh và nhìn các lực sĩ thiểu não lê chân, mồ hôi nước mắt đầm đìa chạy qua từ bên kia cầu. Chúng tôi đứng bên đường hò hét vổ tay khuyến khích. Vào một tiệm cà phê bánh ngọt tên là Sykora Bakery, chúng tôi ăn kem vừa mát vừa ngọt trước khi cất bước lên đường.

Từ Cedar Rapids chúng tôi qua Des Moines, thủ phủ Iowa. Từ trên xa lộ, tòa nhà Capitol hiện ra với tháp vàng chạm trổ rực rỡ nên cứ nhắm hướng ấy mà chạy. Giờ này nắng gắt và nóng. Chúng tôi đậu xe đối diện khuôn viên, băng qua đường đi vào chụp ảnh. Cô Dung ngại nắng, tìm bóng cây bên đường đứng ngắm cảnh vẩn vơ. Tòa dinh thự này thật đẹp, xây năm 1871 tới 1886 mới xong. Gồm có một tòa tháp chính và bốn tháp phụ. Một phần tháp chính đang được tu sửa lại.Đây là một điện Capitol độc nhất có 5 tháp trên toàn nước Mỹ. Capitol ngự trị trên ngọn đồi thấp thoai thoải nhìn xuống thành phố Des Moines, chung quanh tòa dinh thự là bậc cấp, đường đi rộng rãi khang trang, những bồn hoa Iris, và Alium màu sắc hài hòa, tô điểm thêm cho vẻ đẹp của Capitol và thành phố.

Gần ba giờ trưa, chúng tôi đến thành phố Winterset. Winterset là một thành phố thuộc quận Madison, tiểu bang Iowa. Thành phố này là nơi tài tử John Wayne được sanh ra, có căn nhà nhỏ của cha mẹ ông, còn cả các đồ nội thất của thời ấy. Căn nhà gổ màu trắng có bậc cấp đi lên và hàng hiên bao bọc, có mấy cây hoa mẩu đơn hồng, trắng đầy hoa dựa bên thềm. Vòng qua con đường chính là viện bảo tàng John Wayne. Vì rất ái mộ tài tử gạo cội này nên anh Tuấn mua vé vào xem, trong khi tôi và Dung ngồi nghỉ ngơi trong phòng khánh tiết máy lạnh mát rượi.

Quận Madison được nổi tiếng là nhờ cuốn phim “The Covered Bridges of Madison County” do tài tử Clint Eastwood và Meryl Streep đóng vai chính. Đây là chuyện tình thơ mộng và ngắn ngủi của một nhiếp ảnh gia và một người nội trợ sống trong làng. Hậu cảnh là những chiếc cầu mái lợp của quận hạt Madison.

Cầu thứ nhất chúng tôi đến là Hogback covered bridge. Cầu màu đỏ bắc ngang con rạch cạn, cây cối um tùm. Quang cảnh vắng lặng xanh tươi, lâu lâu mới có chiếc xe chạy ngang tung bụi đường mù mịt. Ngoài chúng tôi ra, còn thêm vài ba du khách từ miền xa tới, có một cặp lớn tuổi cũng qua thăm từ vùng bắc California. Dạo quanh vài ba phút, chụp vài tấm ảnh kỷ niệm rồi ra đi, tránh sự nóng bức của một buổi trưa uể oải. Tôi chỉ muốn tìm một bóng cây, ngồi trong yên tỉnh, ngắm cảnh tịch mịch hoang vắng quanh mình, ngắm nhìn chiếc cầu cô liêu bên giòng nước; hiện diện như một chứng tích của thời gian.
Khi đến được Cedar covered bridge thì chúng tôi hoàn toàn thất vọng, cây cầu không còn nữa mà chỉ còn những đống gổ cháy ngỗn ngang. Tìm hiểu với dân địa phương thì mới biết là cầu bị đốt cháy, can phạm đang chờ ngày truy tố và chính quyền sắp xây lại cây cầu mới. Tiếc thay cho những hành động phá hoại của những kẻ không biết tôn trọng chứng tích lịch sử. Rời Cedar Bridge chúng tôi đến Cutler Donahoe Bridge xây năm 1870. Cầu này bên cạnh công viên. Cây cỏ xanh tươi cắt tỉa gọn gàng nhưng khung cảnh không được thơ mộng, thăm viếng vài phút, chụp vài tấm ảnh xong chúng tôi vội vã ra đi.
Chúng tôi đến Holliwell Bridge dễ dàng vì dọc đường luôn có bảng chỉ dẫn, ngoài ra tôi còn theo dõi được con đường xe chạy và vị trí xe mình qua Google map để khỏi lạc đường, vậy mà có lúc hai vợ chồng cũng nổi khùng cãi nhau chí chóe.

Cầu Holliwell bắt qua giòng sông Middle River. Sông nhỏ, nước màu xanh bùn, nhưng dân quanh vùng đến đây thả thuyền Kayak. Khi chúng tôi đến đây, một nhóm thanh niên thiếu nữ đang sửa soạn ra về; người nào cũng rám nắng, bê bết bùn lầy nhưng tinh thần rất vui vẻ cởi mở. Cảnh nơi đây đẹp nên chúng tôi dừng lại lâu hơn, đi xuyên qua cầu, rảo bước trên con đường mòn, hai bên là rừng cây bóng mát. Chụp ảnh hai bên ngạn sông rồi mới ra đi. Định đi thăm cầu Imes nhưng xa quá, sợ trời tối không đi thăm được cây cầu Roseman nên tôi chuyển hướng. Cầu Roseman là cây cầu chính trong phim “The covered bridges of Madison County”. Thời tiết thông báo sắp sửa có mưa giông trong vùng càng làm tôi lo sợ. Nhưng có điều an ủi là cầu Roseman rất gần tỉnh lộ 92 về hướng Omaha, nơi chúng tôi sẽ nghỉ qua đêm. Tôi hy vọng thăm cầu Roseman xong, trời sẽ mưa và chúng tôi có thể lái xe về Omaha trong cơn mưa.


Dọc theo đường đi, tôi mãi ngắm bầu trời chiều, mây bồng bềnh vừa trắng vừa xám, thay đổi liên tiếp theo chân mưa, thỉnh thoảng mặt trời lộ diện sau mây, tỏa những tia sáng xuống cánh đồng. Tôi bảo Tuấn đó là God light, một ánh sáng được nhiếp ảnh gia Robert Kincaid (Clint Eastwood) nhắc tới trong phim. Tôi không ngờ khi du hành qua vùng này mình cũng được thấy God light (Godlight là những tia hào quang dùng làm hậu cảnh cho những tấm hình tôn giáo). Thấy tôi náo nức muốn chụp ảnh, dù thời gian gấp rút, anh Tuấn rộng lượng cho tôi 2 phút bước ra khỏi xe để chụp vài tấm ảnh.

Đến Roseman bridge vào khoảng 6pm. Trời còn sáng, có cô nhân viên thủy lâm ra hỏi chúng tôi có muốn vào thăm trung tâm bán hàng trước khi cô đóng cửa. Sợ thiếu ánh sáng và mưa sắp đến nên chúng tôi từ chối. Trong khoảng hơn hai mươi phút quanh quẩn tại đây, chúng tôi chụp hình kỷ niệm bằng máy điện thoại rồi thêm hình nghệ thuật phong cảnh bằng máy chuyên nghiệp.

Cầu Roseman cũng màu đỏ thẩm, bắt qua giòng lạch như các cây cầu khác nhưng vị trí đẹp hơn. Phía sau cầu không có đường nối dài vì cánh đồng cỏ xanh bít lối. Cuối cầu, nhìn xuống lạch nước tôi thấy một nhánh cây lớn mắc cạn gần bờ. Ánh mặt trời chiều yếu ớt chiếu xuống dòng nước tạo thành một bức tranh tuyệt vời, tôi hối hả chụp cơ hội bấm máy ảnh liên tiếp, chỉnh ánh sáng lia lịa tùy theo từng góc cạnh. Ánh chiều thường xuống thật nhanh nên khi tôi gọi anh Tuấn đến thì mặt trời đã chui mất sau mây. Thấy có ai để lại cây bút marker lớn, chúng tôi cũng bắt chước các du khách khác viết tên mình làm kỷ niệm trên tấm vách trắng hai bên cầu.

Mưa bắt đầu rơi khi chúng tôi chụp ảnh xong (như tôi dự đoán), lật đật thu vén máy móc, chúng tôi nhảy lên xe trực chỉ Omaha trong tiếng sấm đì đùng và ánh chớp chói chan trên trời quê lồng lộng.
Ngủ qua đêm tại Omaha, sáng hôm ấy chúng tôi ra bờ sông Mississipi thăm Heartland of America Park, đến khu vực Lewis & Clark Landing , chụp hình kỷ niệm tại Monument To Labor. Từ đó, chúng tôi qua cầu Bob Kerrey. Cầu này chỉ để cho bộ hành và xe đạp. Cầu bắc ngang qua sông Mississippi chia đôi tiểu bang Nebraska và Iowa. Chúng tôi đi bộ qua cầu, vừa đi dạo vừa chụp hình. Giữa cầu có bảng chia hai tiểu bang, mọi người ai cũng ngưng lại chụp ảnh, một chân bên này, một chân bên kia.

Tuy Omaha có nhiều nơi cần thăm viếng nhưng vì thời gian eo hẹp, chúng tôi chỉ lựa những địa điểm thăm viếng nhanh chóng và có ý nghĩa trong lịch sử và địa lý. Chạy xe vòng qua khu vực the Old Market cho biết thôi chứ chúng tôi không phải là những người thích mua sắm nên không dừng lại. Tìm được Pioneer Courage Sculpture Park chúng tôi đậu xe bên lề đường Capitol để vào xem. Vừa đi vài bước, có người đàn ông da đen mặc quần áo rất lịch sự, nhìn tôi hỏi:” Bạn nghĩ gì khi nhìn thấy những pho tượng này?”- Không muốn bị gài vào một cuộc tranh luận dài giòng về chính trị hoặc xã hội với người lạ, tôi trả lời:” Họ là người di dân như chúng ta và ai cũng phải trãi qua những kinh nghiệm và thời gian khó khăn lúc ban đầu để tạo lập một cuộc đời mới”. Nói xong, tôi chào ông và bước lên gần những pho tượng để chụp hình. Trên ngọn đồi thoai thoải, các tượng đồng đen mô tả hình ảnh những người tiên phong, di cư qua miền Tây bằng xe bò, xe ngựa. Các chi tiết điêu khắc tỉ mỉ và trên khuôn mặt các hình nhân, diễn tả được cảm xúc rất chính xác. Gần trưa nên nhân viên văn phòng các cơ sở quanh phố bắt đầu ra công viên đi bộ hoặc ăn trưa, các cô vừa đi bộ vừa chuyện trò vang rân, các ông chăm chú nhìn điện thoại hoặc nói chuyện trong lúc ngồi ăn trưa trên băng đá công viên.

Rời công viên, chúng tôi qua Saint Cecilia Cathedral thăm viếng một thánh đường được ghi nhận là “National Landmark” vì sự huy hoàng , đẹp đẽ trong cách kiến trúc. Nhà thờ xây gần 50 năm mới xong (1905-1955) và đến 1980 thì được chọn là “National Landmark”. Vòm nhà thờ rất cao, trang hoàng thanh nhã, tỉ mỉ nhưng không rườm rà hình ảnh như Sistine chapel bên La Mã, ánh sáng dọi vào nội điện từ các cửa sổ kính hoa trên vòm cao và ánh sáng từ khu vực bàn thờ soi rõ con đường từ cửa đi vào, nền gạch hoa bóng loáng. Sau hai bức tường gian phòng chính, trổ ra những gian phòng phụ để làm riêng từng phòng nguyện nhỏ, những lối dẫn vào nhà nguyện cũng trang hoàng thật đẹp. Tôi đi quanh quẩn tha hồ chụp ảnh, vì giờ này không có lễ. Ánh sáng huyền ảo khắp nơi làm hình ảnh rất nhu hòa. Quay ra phía trước tôi chụp hình đàn organ vĩ đại chiếm nguyên cả balcony. Tầng phía dưới là cửa vòm chính và hai cửa sổ vòm hai bên có hai bình hoa lớn trang trí. Cả ba cửa ửng màu vàng và xanh trong ánh sáng âm u, màu sắc thật tương phản.

Trên đường qua Ashland, trời đang mưa nhưng tôi chụp được ảnh con gà Tây đi bộ. Sống nơi thành thị, khi thấy con gà tây thì nó đang bị đông lạnh hoặc ngồi chểm chệ trên bàn ăn, trang hoàng rực rở cho buổi tiệc Thanksgiving. Con gà này được đi dạo nhởn nhơ trên đám cỏ xanh, cái mào đỏ chói và bộ lông đen rất đẹp.

Đến Lincoln chúng tôi vào khách sạn, nghỉ ngơi vài giờ xong chúng tôi gọi nhau đi kiếm tiệm ăn.Tìm được một khu buôn bán nhỏ nhưng khá mới tên là “Saigon Plaza”. Khu vực này có chợ Việt Nam, có tiệm làm móng tay, bảo hiểm, và tiệm “Phở Factory”. Tiệm ăn rất đẹp, sạch sẽ, trang hoàng tân tiến và nghệ thuật, nhân viên thân thiện, dễ mến. Tôi gọi một phần bánh xèo, và trố mắt nhìn khi cái bánh xèo to bằng cái mâm được dọn ra trước mặt. Sau bữa ăn, nhân viên tiệm chỉ đường cho chúng tôi chạy qua thăm khu phố chính của Lincoln.

Đến đường K và 14th, chúng tôi ngừng xe bên lề của khu vực Nebraska State Capitol. Tòa dinh thự xây trên đồi thấp thoai thoải cỏ xanh mướt, đỉnh tháp có tượng hình người rải hạt bắp gọi là “the sower”. Hình nhân cao 19 bộ, tượng trưng cho nền nông nghiệp của Nebraska và cũng dùng làm cột thu lôi cho dinh thự này. Mặt tiền của State Capitol có pho tượng lớn của Abraham Lincoln. Bên kia đường, nhà thờ công giáo Saint Mary màu trắng, hai tháp đen vươn lên trên bầu trời hoàng hôn. Buổi chiều nơi đây êm ả, đường phố vắng vẻ, thỉnh thoảng có chiếc xe chạy hoặc vài bộ hành. Trước State Capitol có một chiếc xe cảnh sát đậu, thấy vậy chúng tôi yên tâm quanh quẩn chụp ảnh trong bóng chiều dù không hiểu tình hình khu vực như thế nào.

Hôm sau, chúng tôi đi xem” The sunken garden” vì chị em tôi ai cũng ưa trồng hoa cả. Bây giờ đang cuối mùa xuân, cây lá, hoa cỏ vẫn tươi tốt mặc dù khí hậu nóng nực và ẩm ướt. Tôi rất thích những đóa hoa súng (Victorian Lilies) trắng, vàng, hồng đỏ; tha hồ chụp cận những đóa hoa xinh tươi, các pho tượng và đài phun nước.

Trên đường đi về hướng Saint Louis, vì còn sớm nên chúng tôi ghé qua Indian Cave State Park rộng 3,052 mẫu đất. Công viên này thuộc hai tiểu bang Missouri và Nebraska, chia đôi bởi giòng sông Missouri. Điểm chính để viếng thăm là hang động cổ ngay giữa công viên. Xe chạy qua nhiều di tích lịch sử nho nhỏ của làng St. Deroin, nay đã bỏ hoang, chỉ còn lại khu nghĩa trang nhỏ, vài dấu hiệu chỉ địa điểm đến phố cổ, vùi dập trong cây lá vì lụt lội phá hoàn toàn gần hết. Trời nóng và ẩm thấp, mây trắng bồng bềnh trên nền trời xanh biếc. Sau khi trèo khoảng 50 bậc thang lên xem động, chúng tôi bước ra bờ sông Missouri chụp ảnh giòng sông trong vắt phản chiếu cảnh vật tuyệt đẹp.


Sông Missouri và Indian Cave

Khi biết chúng tôi dự tính đi chơi miền Trung Tây nước Mỹ, nhiều người ngạc nhiên hỏi: Mấy vùng đó có gì để mà xem?!? Có vài lý do tại sao chúng tôi đi chơi miền này: tôi muốn nhìn những cánh đồng mênh mông, trang trại giữa cảnh bao la, trời xanh biếc có đầy mây trắng; những nhà nuôi ngựa và súc vật trên đồi cỏ; tôi muốn nhìn hoàng hôn và những đám mây vàng, cam, đỏ giăng giăng cuối chân trời. Tôi lại muốn nhìn thấy những thành phố nhỏ, không gian thanh bình như trăm năm xưa, tôi muốn nhìn những giòng sông lặng lờ trôi, đem nước nuôi dưỡng những cánh đồng vô tận. Thêm vào đó là các kiến trúc cổ, xây từ những năm đầu lập quốc và Saint Louis Gateway Arch nằm bên bờ sông Mississippi. Giòng sông chia biên giới cho hai tiểu bang Missouri và Illinois và đây cũng là những tiểu bang cuối cùng của nước Mỹ tôi cần thăm viếng để làm cho đầy cái “bucket list” của mình.

Trên đường đi Missouri, Tuấn muốn ghé thăm Topeka, thủ phủ của tiểu bang Kansas. Hôm nay là ngày lể Memorial nên State Capitol mở cửa cho thăm viếng. Nội điện lớn rộng huy hoàng, kiếm được thang máy, chúng tôi lên tầng cao nhất nhìn xuống, chóng mặt nhưng cũng ráng chụp vài tấm ảnh. Trong những tầng lầu khác có thượng viện tiểu bang, phòng thống đốc tiểu bang và nhiều văn phòng làm việc. Chung quanh các vách tường và hành lang, những bức tranh và các pho tượng chiếm nguyên từng bức tường lớn, cảnh dân, quân, xe, ngựa … thời lập quốc. Trên đỉnh tháp có pho tượng người chiến binh Kaw, thổ dân da đỏ, tay cầm cung nỏ hướng về phía sao Bắc đẩu theo câu châm ngôn “Ad astra per aspera”(To the stars through difficulty- hoặc nôm na là cố vượt mọi khó khăn để đến một phương trời cao rộng ? ). Kansas Capitol là tòa dinh thự có vòm cao hàng thứ hai trong 38 tòa Capitol trên nước Mỹ.


Chạy quanh quẩn trong phố một lúc, chúng tôi ghé lại Old Prairie Town thăm Ward-Mead Park Botanical Garden. Đây là một khu vực rộng 2.5 mẩu, gồm có các nhà xưa (1891) và căn biệt thự Ward-Meade được tu sửa và bảo tồn. Tôi đi quanh khu vực, xem các toa tàu lửa, xe ngựa, căn nhà nhỏ xíu làm trường học, nhà thờ. Trong tiệm bán thuốc Potwin Drugstore có bán nước ngọt và kem lạnh. Trên lầu là phòng mạch bác sĩ và nha sĩ…Mua kem và nước, chúng tôi ra sân, ngồi dưới bóng cây, ăn trưa trong khung cảnh tịch mịch. Tưởng tượng như mình đang hiện diện trong thế kỷ trước.

Trên đường về Saint Louis, ngang qua Kansas city chúng tôi chạy quanh xem thành phố. Phố cũng khá lớn và vui nhộn với nhiều bộ hành, vì chúng tôi đi ngang phố chính, gần đường 16th. Thành phố Kansas nằm giữa hai tiểu bang: Kansas và Missouri. Chúng tôi thuê phòng ngủ phía bên tiểu bang Kansas.


Tôi có người anh họ đang sống tại St. Charles. Anh Bảo và chị Tiên mời khi nào qua St. Louis thì đến nhà anh chị chơi. Nhân dịp qua đây, chúng tôi dành ra 3 ngày để đến thăm viếng thành phố St. Louis và ngụ tại căn nhà xinh xắn của anh chị tại St. Charles (hướng Tây Bắc, cách St. Louis 24 dặm). Anh chị có hai cô con gái, Kaitlyn đang học đại học Minnesota, Courtney đã ra trường nhưng sẽ đi qua Prague để học thêm trong một ngôi trường rất nổi tiếng về ngoại giao. Hai cô bé rất xinh và giỏi, tuy mới gặp chúng tôi lần đầu mà các cô đối xử rất thân tình. Những ngày ngụ tại nhà Bảo và Tiên, chúng tôi không muốn họ mất giờ làm việc nên đi chơi riêng. Anh Tuấn lái xe giỏi, còn tôi cũng làm hướng dẫn viên du lịch khá rành (vì đã du lịch nhiều và có thêm google map để tra cứu).
Ngày nào đi chơi về, chúng tôi cũng được ăn những buổi cơm tối thật ngon, các món ăn Ý mới lạ do Bảo nấu (Bảo nấu giỏi như một gourmet cook). Có một buổi chiều, chúng tôi cùng nhau đi ăn tại Fritanga, tiệm ăn Nicaraguan- Tôi đã đi Nicaragua mấy lần rồi nhưng khi ăn tại tiệm ăn này, tôi thấy thích hơn vì họ nấu rất ngon-nhất là vấn đề vệ sinh thì bảo đảm hơn là ăn uống tại ngoại quốc trong khi du lịch.
Tại St. Louis, chúng tôi có dịp đi chơi sở thú – miễn phí, chỉ phải trả tiền đậu xe- trời hôm ấy rất nóng bức, chúng tôi mua vé lên xe lửa, chạy vòng quanh thảo cầm viên, thăm mấy con chim hồng, penguin và polar bear rồi ra đi. Tìm được tiệm ăn Việt tên Mai Lee để ăn trưa. Thức ăn khá ngon, nhân viên phục vụ tốt, tiệm sạch sẽ nên đông thực khách.

Xế trưa, đi qua thăm St. Louis Arch, một địa danh nổi tiếng của St. Louis chúng ta thường thấy trong các quảng cáo du lịch hoặc postcard và cũng là một nơi chúng tôi muốn thấy từ lâu. Tìm được chổ đậu xe tại Laclede’s Landing, chúng tôi đi bộ xuống khu phố cổ, một di tích lịch sử bên bờ sông Mississipi, cạnh Gateway Arch. Sông Mississipi chia ranh giới cho hai tiểu bang Missouri và Illinois.

Từ Laclede’s Landing, chúng tôi đi qua Gateway Arch, vừa đi vừa chụp ảnh mấy cây cầu bắc qua giòng sông , ven sông có công ty du lịch chở khách đi ngắm cảnh bằng trực thăng.
Gateway cao 630 bộ, khó chụp ảnh khi đến quá gần nên chúng tôi đứng từ xa và phải dùng ống kính rộng để thâu ảnh. Công viên quanh Gateway rất lớn, cây cỏ xanh tươi. Dưới chân Gateway Arch có viện bảo tàng, thêm xe kéo chở lên đỉnh tháp nhưng vì mệt và nóng, tôi an phận nằm dài trên bãi cỏ, dưới hàng cây im mát, lim dim nhìn trời ngó đất, ngẫm lại cái thân phận nhỏ bé của mình, duyệt lại những giấc mơ rồi cảm thấy hân hoan sung sướng vì những giấc mộng nho nhỏ cưu mang trong đời mình được thành tựu, và cảm thấy hồn nhẹ tênh như đám mây trắng cô đọng trên đỉnh Gateway kia. Rồi như mây, tôi sẽ bay đi, tìm một nơi nào khác trên thế giới để thăm viếng tiếp.

Sáng hôm sau, trời xám xịt, mây đen vần vũ, khí hậu ẩm ướt và có mưa giông. Buổi sáng chúng tôi ở nhà, nghỉ ngơi, chuyện trò và xem Bảo nấu ăn. Tôi ôm cây tây ban cầm của Kaitlyn, ngồi bên cửa sổ dạo mấy khúc nhạc vừa mới sáng tác, nhìn vẫn vơ ra sân, nghe tiếng gió thổi lao xao qua cành cây ngọn cỏ, tạo thêm âm hưởng mới cho bản nhạc vốn đã buồn man mác của mình. Xế trưa, trời sáng hơn, những đám mây nặng trỉu đã rủ nhau bay về hướng mới, chúng tôi đi qua Old Town St. Charles ngắm cảnh. Main street market place khá lớn, du khách không nhiều có lẽ vì buổi trưa oi ả. Vòng xe ra phía bờ sông, chúng tôi vào thăm công viên Frontier cạnh bờ sông Missouri.

Công viên rộng 16 mẩu đất, có đường đi bộ, xe đạp dọc ven sông, có farmer market, và sân khấu trình diễn nhạc. Trong công viên có tượng của hai nhà thám hiểm Lewis, Clark và chú chó Seaman cao 15 bộ. Chung quanh tượng trồng hoa màu trắng và hồng. Có hai bà đầm dắt chó đi dạo trong công viên, họ có con chó giống hệt như bức tượng chó Seaman. Con chó nhảy vọt lên ngồi trên tảng đá dưới chân tượng, tôi vội vả chụp tấm ảnh ngộ nghỉnh vì hai con chó rất giống nhau.

Hôm sau từ giã gia đình Bảo, để về lại Chicago, trên đường chúng tôi đi ngang qua Springfield, thủ phủ tiểu bang Illinois. Thăm thành phố, chụp vài tấm ảnh tòa Capitol, các pho tượng, nhà thờ cổ rồi về lại Chicago trong một buổi chiều nắng vàng rực rỡ.



Tại khách sạn Four Points gần phi trường O’hare, bước vào phòng khánh tiết, tôi và Tuấn nhìn nhau. Tuy không nói nhưng cả hai đều buồn; nhớ lại những ngày hội họp bạn bè vui vẻ mới tuần trước nay đã xa vời vợi. Bạn bè thân yêu đã bay mất về phương trời của họ, không biết sau này có còn gặp lại nhau? Hôm tiệc hội ngộ, tôi hát một bài tựa đề là “Nha Trang Kỷ Niệm” tôi viết tặng cho Hải Quân khóa 19- Thiên Xứng II. Vì tất cả các anh và nhiều chị đã từng học và sống tại NhaTrang. Câu kết của bài hát là:” Thương Nha Trang, một chiều nắng hanh vàng. Hải Âu buồn gọi bạn thiết tha hơn”. Phải chăng chúng ta đều là những con chim hải âu gọi bạn, và tiếng gọi càng thiết tha hơn trong những năm gần cuối cuộc đời?
Thế là xong một chuyến du hành nữa; sau bao nhiêu năm trả nợ áo cơm, bây giờ tôi chỉ muốn thong dong đi chu du thiên hạ, tìm những gì mình chưa biết và chưa thấy để thỏa mãn giấc mộng hải hồ. Ngày mai, về lại California, hòa nhập vào đời sống bình thường, về lại với nghiệp văn chương,ngồi trước máy vi tính, gỏ gỏ trên bàn phím, kể lại chuyện mình. Hy vọng chia sẽ cho mọi người một niềm vui nho nhỏ nếu bạn chịu khó để tâm trí mình đi theo những dấu chân lang bạt của tôi, và nhìn vào những tấm hình trên để thưởng lãm vài sắc nét đặc thù của miền trung tây Mỹ quốc.

Tôn Nữ Thu Nga – San Dimas, California- July 18, 2018

CHÚT BÂNG KHUÂNG KHI QUA THÀNH CỔ DIÊN KHÁNH

Mai có về ngang thành cổ Cửa Đông
Ngày hai buổi thơm nồng hương áo trắng
Trên dấu xưa giờ đây nghe xa vắng
Tiếng chim thanh mỗi sớm hót trong lành .

Anh vẫn nhớ tà áo vương mùi nắng
Trưa tan trường má thắm quyện hạt sương
Gót chân nhỏ bước qua nghe thầm lặng
Nhịp guốc ngân vang tận suốt con đường …

Mây xứ cũ giăng mờ trên thành cổ
Gió ngàn khơi vỗ mặt gạch rêu phong
Hồn cổ tích chợt tan thành bọt sóng
Chút âm xưa gờn gợn thoáng trong lòng .

Mai em về qua thành cổ Cửa Đông
Xin đừng bảo thời gian trôi nhanh quá
Hơn bốn mươi năm đất quê trở dạ
Cánh cò xưa thưa dấu trắng trên đồng .

Tà áo trắng rộn ràng trong tinh sớm
Vẳng tiếng hồn nhiên của những em thơ
Hàng phượng vĩ mỗi mùa hoa vẫn nở
Dòng đời trôi lặng lẽ thoáng hững hờ .

Mai em về ngang thành cổ Cửa Đông
Cổng rộng mở đón người qua mấy lượt
Đâu áo trắng gió thu đùa ve vuốt
Anh rũ buồn như cánh sáo ướt lông …


NGUYỄN VŨ SINH

CÁC VỤ ÁN MANAFORT VÀ COHEN

Tuần qua, TTDC đã mở tiệc liên hoan ăn mừng cái mà họ gọi là “thảm họa” cho TT Trump, sau khi hai cộng sự viên của ông bị kết tội.
Ông Paul Manafort, cựu giám đốc Ủy Ban Tranh Cử của ông Trump bị một bồi thẩm đoàn kết án 8 tội, trong khi ông Michael Cohen, cựu luật sư của ông Trump, thú nhận vi phạm 8 tội khác.
Ta thử xem lại câu chuyện.

Mỗi lần có tin xấu là y như rằng, TTDC hý hửng loan tin với những danh từ như “worst day”, “most terrible day”, “beginning of the end”,… Các cụ tỵ nạn hý hửng thông ngôn ngay “ngày thảm họa”, “ngày đại nạn”, “ngày tàn đã điểm”,… Nếu kẻ này nhớ không lầm thì tất cả đều đã được thấy nhan nhản trên báo Mỹ từ ngày ông Trump đọc bài diễn văn chửi di dân lậu Mễ khi ra mắt để tranh cử tổng thống mùa hè 2015, cách đây cũng ba năm hơn.
Nếu ta tin vào TTDC thì ông Trump đã đối diện với tận thế cả trăm lần. Xin liệt kê một vài thí dụ nhé:
– Ngày ông bị khui ra đã bốc phét về chuyện ‘chụp bướm’ với một nhà báo.
– Ba lần ông tranh luận với bà Hillary trên TV.
– Một ngày trước ngày bầu cử khi New York Times khẳng định bà Hillary có 98% hy vọng đắc cử.
– Ngày ông tuyên thệ nhậm chức khi nửa triệu phụ nữ xuống đồng chống.
– Ngày tướng Michael Flynn bị ép từ chức.
– Ngày ông sa thải giám đốc FBI Comey.
– Ngày công tố Mueller được bổ nhiệm.
– Ngày ông so sánh nhóm thượng tôn da trắng với nhóm Antifa.
– Ngày ông bắt tay với Putin tại Helsinki.
– Ngày cô Omarosa lên TV tố ông kỳ thị.
Còn nhiều lắm, nhưng xin quý vị tha lỗi diễn đàn này không đủ chỗ để liệt kê ra hết.
Tin bất lợi nào cũng được biến thành tin cực xấu. Tin xấu nào của Trump cũng được hóa phép thành tận thế, cho tới vài hôm sau lại một đại họa mới, rồi lại tận thế khác. Ba năm tận thế rồi mà vẫn chưa… tận thế. Các cụ tỵ nạn cứ kiên nhẫn chờ nhé.
Trở lại câu chuyện hai ông Manafort và Cohen, đây là hai vụ án hoàn toàn khác biệt, không liên hệ gì với nhau tuy cả hai đều dính dáng đến TT Trump.

VỤ MANAFORT

Mùa xuân 2016, ứng cử viên Donald Trump bất thình lình nổi lên như cồn, có triển vọng thắng cử trong cuộc chạy đua trong nội bộ đảng CH để ra tranh cử tổng thống. Ủy ban vận động của ông Trump lớn như thổi, cần có văn phòng tại cả mấy chục tiểu bang và nhất là cần sự điều động và phối hợp chặt chẽ của một chuyên gia có kinh nghiệm. Ông Trump nhìn qua nhìn lại quanh mình chẳng thấy ai hết. Chung quanh toàn là các doanh gia đầy kinh nghiệm doanh thương, nhưng về chính trị, nhất là chính trị tranh cử tổng thống trên tầm mức quốc gia thì chẳng có một người nào hết.
Qua sự giới thiệu của một ‘cố vấn’, ông tìm ra được ông Paul Manafort. Ông này là chuyên gia tổ chức sinh hoạt chính trị từ hơn 30 năm nay, đã từng hợp tác với các ủy ban vận động của các ứng cử viên CH từ thời TT Reagan. Đã vậy, lại có quan hệ rất rộng rãi với giới chính khách Hoa Thịnh Đốn, CH và cả DC, cũng như các giới ngoại giao. Ông Manafort được mời tham gia với tư cách cố vấn trong Ủy Ban Vận Động Tranh Cử cho ông Trump tháng Ba, 2016. Sau một tháng, được bổ nhiệm làm giám đốc. Chỉ vỏn vẹn có hai tháng sau, tháng Sáu, sau khi ông Trump biết được ông Manafort đã từng nhận bạc triệu đô của Ukraine, ông Trump mau mắn sa thải ông Manafort ngay, bổ nhiệm ông Steve Bannon thay thế.
Đó là ‘lịch sử’ quan hệ giữa ông Manafort và ông Trump, trong khi TTDC cố gắng tô vẽ ông Manafort như là một cận thần lâu năm, đồng lõa đủ thứ tội với ông Trump. Mục đích là cài kết hai ông vào với nhau để tố một người có tội là đương nhiên người kia cũng có tội lây. Tiếng Mỹ gọi là guilty by association.
Nhắc lại chuyện xưa, TT Clinton bị dính dáng vào cả chục vụ xì-căng-đan nhưng vẫn chẳng mất chức, dù có tới hơn 40 đàn em vào tù. TT Trump còn thua xa. Chưa ai đi tù.
Ông Manafort bị công tố Mueller chụp bắt, đưa ra tòa truy tố về 18 tội. Tất cả đều là những tội liên quan đến doanh thương hay làm việc cho khối áp lực Ukraine cách đây hơn một chục năm. Cả thế giới đều nhìn thấy rõ điều mà quan tòa xử vụ ông Manafort đã nói huỵch tẹt ra: “các ông [luật sư của ông Mueller] thật ra chẳng cần biết ông Manafort đã phạm tội gì, chỉ là cố bắt được ông Manafort để ép ông ta khai báo tội của Trump thôi”. Ngay cả trong vụ xử ông Manafort, một bà trong bồi thẩm đoàn đã nhìn nhận họ thấy rõ tính toán ‘truy lùng phù thủy’ của ông Mueller, nhưng vẫn đành phải kết tội ông Manafort vì ông này có tội thật.
Bồi thẩm đoàn của phiên xử ông Paul Manafort đã tuyên án ông này phạm 8 tội, gồm có 5 tội khai gian thuế, một tội không khai trương mục ngân hàng tại ngoại quốc (Ukraine), và hai tội chuyển tiền bất hợp pháp qua ngân hàng. Một chục tội còn lại đã không đạt được sự nhất trí của bồi thẩm đoàn nên coi như không bị kết tội.
Chưa rõ chừng nào thì quan tòa mới tuyên án. Chỉ biết việc tuyên án này sẽ giúp công tố Mueller áp lực, ép ông Manafort phải hợp tác, tố Trump chuyện gì đó, hy vọng nhẹ án hơn. Ngược lại, cũng có thể ông Manafort sẽ bất hợp tác mạnh hơn để hy vọng được TT Trump ân xá. Ai biết được họ tính toán những chuyện gì trong hậu trường? TT Trump ngay sau vụ kết án này, đã công khai ca tụng ông Manafort, khiến TTDC đoán mò TT Trump có ý định ân xá cho ông Manafort.
Tội của ông Manafort khá nặng, theo các chuyên gia, có thể bị tù tổng cộng tới 80 năm nếu chống án thất bại, hay nhẹ nhất cũng hai ba chục năm. Ông Manafort năm nay 69 tuổi, tương lai bóc lịch đến chết. Dĩ nhiên là câu chuyện chưa kết thúc. Quan tòa chưa tuyên án và ông Manafort tất nhiên sẽ kháng cáo, chưa biết tới cấp nào, biết đâu sẽ lên tới Tối Cao Pháp Viện và sẽ kéo dài cả năm trời? Hay có khi TT Trump sẽ ân xá?
Vụ án Manafort có ảnh hưởng như thế nào với TT Trump? Câu trả lời là ‘zero’! Bất kể TTDC khua phèng la cỡ nào. Tội của ông Manafort có thật, đến độ ông Trump khi vừa nghe đến đã vội vã sa thải ông này ngay. Nhưng những tội đó tuyệt đối chẳng dây dưa rễ má gì đến TT Trump hay cuộc vận động tranh cử năm 2016, hay việc thông đồng với Nga là mục tiêu thực sự của cuộc điều tra của công tố Mueller.
Thế thì tại sao TT Trump có ý định ân xá? Đó là vì TT Trump là người rất coi trọng lòng trung thành của bạn bè, đồng nghiệp và cộng sự viên. Ông Manafort từ ngày bị sa thải, qua những ngày bị công tố Mueller rượt đuổi, cho đến bây giờ bị bồi thẩm đoàn kết án, đã không hề tuyên bố bất cứ một câu nào bất lợi cho TT Trump, không hợp tác gì với ông Mueller. Đó là điều TT Trump coi rất trọng. Ân xá ông Manafort cũng là một thông điệp cho tất cả những ai khác có thể bị ông Mueller rượt bắt.

VỤ COHEN

Không biết là cố tình vì thiếu lương thiện, hay vô tình vì u mê, một cụ tỵ nạn đã viết “Trump thuê luật sư Cohen để biện hộ cho ông ta”.
Trước hết, TT Trump chưa bị ai kết án bất cứ tội gì hết nên chẳng có gì để phải được biện hộ hết.
Sau đó, ông Michael Cohen đã là luật sư riêng của ông Trump từ hơn 20 năm qua, không phải mới được “thuê” để “biện hộ” cho ông Trump trong vụ công tố Mueller điều tra. Ông Cohen cũng chẳng là luật sư biện hộ bất cứ chuyện gì hết. Ông là loại luật sư cố vấn pháp luật, lo thủ tục giấy tờ cho các vụ giao dịch doanh thương của ông Trump, cũng như giúp giải quyết những tranh chấp pháp lý, đề nghị phương cách giải quyết hay đi thuê luật sư cho ông Trump. Hầu hết các đại gia Mỹ đều có loại luật sư cố vấn riêng này, không phải chỉ một luật sư mà có khi nguyên một văn phòng luật sư.
Với tư cách cố vấn pháp luật đó, ông Cohen là người biết rất rõ tất cả những giao dịch doanh thương, xã giao, chính trị, hay bất cứ gì khác của ông Trump từ mấy chục năm nay, kể cả việc trả tiền chơi gái. Đó chính là cái lý do quan trọng nhất công tố Mueller rình bắt ông Cohen.
Cái tội của ông này là ngoài việc làm cố vấn pháp luật cho ông Trump, cũng đã có rất nhiều giao dịch riêng tư với nhiều thân chủ khác. Ngoài ra, ông Cohen cũng thuộc loại ma giáo, mánh mung kiếm tiền cho mình bằng nhiều cách bất chính, đặc biệt là trốn thuế. Dù sao, những việc này cũng chẳng liên quan sơ múi gì đến ông Trump là một thân chủ như những thân chủ khác thôi. Nhưng là một thân chủ mà ông Mueller đang rình bắt.
Lấy một ví dụ dễ hiểu: quý vị có một vị bác sĩ riêng từ nhiều năm nay. Vị bác sĩ này bị bắt về tội khai gian Medicaid chẳng hạn, chuyện này chẳng liên quan gì đến quý vị hết, đúng không? Thế thì tại sao quý vị phải thắc mắc? Tại vì có người đang muốn biết quý vị có bị bệnh gì hay không và ông bác sĩ đó là người biết rõ chuyện này hơn ai hết. Thộp cổ ông bác sĩ này để bắt ông ta khai quý vị có bệnh gì hay không, đó là toàn bộ câu chuyện vụ án Cohen.
Ông Micheal Cohen bị công tố Mueller truy tố không rõ bao nhiêu tội và những tội gì. Chỉ biết ông sợ hãi đến độ điều đình và nhìn nhận đã phạm 8 tội, 6 tội trốn thuế và 2 tội vi phạm luật tài trợ bầu cử mà theo ông Cohen, ông đã làm theo chỉ thị của ông Trump. Tất cả cũng chẳng có tội nào liên quan đến chính trị, hay ‘thông đồng’ với Nga. Chấp nhận đi tù từ 3 đến 5 năm đổi lấy việc miễn tố nhiều tội khác cũng như đổi lấy việc hợp tác với công tố Mueller, ‘thành thật khai báo’ với ông Mueller tất cả những gì ông biết về ông Trump.
Việc công tố Mueller miễn tố nhiều tội lớn của ông Cohen hiển nhiên là bằng chứng cụ thể nhất ông Cohen chỉ là con mồi để ông Mueller đi bắt con tôm hùm Trump thôi. Ông Mueller cũng đã miễn tố nhiều người khác như ông chủ nhiệm báo National Enquirer, ông Giám Đốc Tài Chánh của Trump Organization,… trong cố gắng đi bắt TT Trump.
Trong hai ông Manafort và Cohen, tội của ông Manafort nặng hơn trên mặt pháp lý, có thể lãnh án tới vài chục năm tù, trong khi tội của ông Cohen nhẹ hơn, chỉ lãnh án vài năm thôi. Nhưng tội của ông Cohen có quan hệ trực tiếp đến TT Trump hơn, liên quan đến cuộc vận động tranh cử tổng thống, và đe dọa Trump nhiều hơn vì dính dáng đến chuyện ‘tiền bịp miệng’ –hush money- hai bà đào của Trump trong mùa bầu cử.
TTDC khua chiêng trống ầm ĩ đây là những tội đại hình, thậm chí có thể là tội đáng đàn hặc luôn.
Sự thật không hẳn như vậy. Chuyện trả tiền để ‘bịt miệng’ tuy nghe bá đạo nhưng chẳng có luật nào cấm hết, mặc dù TTDC tìm cách tố đây là dùng tiền vận động tranh cử bất hợp pháp. Ông Cohen trả tiền cho hai bà này, rồi ông Trump hoàn trả lại ông Cohen bằng tiền túi của mình, chẳng ai phạm tội gì hết. Nói chuyện trả tiền ăn bánh này đáng bị đàn hặc là nói chuyện bá láp. Chỉ là gây tai tiếng cho TT Trump chứ chẳng có gì là bất hợp pháp.
Trong vụ án Cohen này, cái nguy cơ lớn đối với ông Trump không phải là những tội hiện hữu của ông Cohen hay vụ trả tiền ‘bịt miệng’, mà là những chuyện gì khác chưa ai biết, mà ông Cohen và những người khác có thể sẽ khai với công tố Mueller. Nếu TT Trump đã phạm những tội chẳng hạn như trốn thuế, chuyển tiền lậu, … thì công tố Mueller sẽ không tha.
Việc ‘thông đồng’ với Nga coi như nước chẩy qua cầu rồi, không ai nhắc đến nữa. Việc cản trở công lý có thể có căn bản vững chắc hơn nên công tố Mueller vẫn tiếp tục truy lùng, nhưng chưa đi đến đâu.
Vấn đề lớn là những vụ như trốn thuế, chuyển tiền bất chính,… có nhiều triển vọng doanh gia Trump hay tổ chức Trump Organization đã vi phạm. Trốn thuế là chuyện muốn bắt là bắt được rất dễ dàng vì hầu như 90% dân Mỹ đều trốn thuế, bất kể giàu hay nghèo. Trong một tổ chức kinh doanh với hơn 500 công ty lớn nhỏ, giao dịch bạc tỷ trong mấy chục năm, có nhiều triển vọng là đã có những sơ hở, hay cũng có thể có những cố tình ‘nấu nướng sổ sách’. Đây có lẽ là lý do chính tại sao cuộc điều tra của công tố Mueller đã kéo dài quá lâu: ông này đang tra cứu sổ sách, giấy tờ giao dịch của mấy trăm công ty này từ mấy chục năm qua để đi tìm sâu bọ, sau khi thất bại không tìm được manh mối gì về ‘thông đồng’ với Nga hay cản trở công lý.
Nếu TT Trump trước đây có phạm tội trốn thuế, hay chuyển tiền bất hợp pháp, thì ông Cohen là người biết rõ hơn ai hết. Có lẽ đây mới là mối lo chính của TT Trump. Nhưng vấn đề là ông Cohen có đáng tin cậy không?
Vấn đề lớn hơn là cho dù công tố Mueller có khám phá ra được vụ phạm tội nào đó thì hậu quả sẽ ra sao?
Trên căn bản pháp lý, bộ Tư Pháp từ thời Nixon qua đến thời Clinton đã nhiều lần xác định tổng thống không thể bị bị truy tố ra tòa về bất cứ tội dân sự hay hình sự nào khi còn đương nhiệm. Trong lịch sử Mỹ, cũng chưa có một tổng thống nào bị truy tố như vậy. Nếu công tố Mueller tìm ra được chuyện phạm pháp nào đó và quyết định truy tố TT Trump, vấn đề chắc chắn là sẽ lên tới Tối Cao Pháp Viện, có thể kéo dài tới mùa bầu cử tổng thống năm 2020 không chừng và không ai biết kết quả ra sao. Và đây lại là một lý do quan trọng khiến phe DC đang tìm mọi cách cản việc phê chuẩn thẩm phán Kavanaugh vào TCPV, vì ông này chủ trương rõ rệt không thể truy tố tổng thống khi còn đương nhiệm.
Đảng DC có thể dựa trên những tội này để đàn hặc TT Trump không? Đàn hặc là một biện pháp chính trị, không phải là pháp lý. Do đó, chuyện TT Trump có tội gì hay không có tội gì chẳng bao giờ là lý do thật sự để đàn hặc hay không đàn hặc.
Quyết định đàn hặc hay không hoàn toàn là một tính toán chính trị. Đàn hặc trên nguyên tắc rất dễ dàng, chỉ cần đa số 218 phiếu tại Hạ Viện là đủ. DC hiện có 193 ghế, CH có 236 ghế và 6 ghế bỏ trống. Ở đây, ta chỉ nói chuyện đàn hặc, chưa nói chuyện truất phế là việc đòi hỏi 67 phiếu tại Thượng Viện trong khi DC hiện chỉ có 48 phiếu, cần 19 phiếu nữa, là chuyện không thể có.
Nếu DC thất bại không chiếm được đa số tại Hạ Viện trong kỳ bầu cuối năm nay, thì sẽ chẳng bao giờ có chuyện đàn hặc, trừ phi TT Trump bị bắt quả tang có bằng chứng quá lộ liễu là đã thông đồng với Nga hay cản trở công lý. Nếu DC thắng, chiếm đa số tại Hạ Viện, có nhiều triển vọng họ sẽ đàn hặc TT Trump tuy vẫn phải cân nhắc hậu quả. Năm xưa, CH chú tâm đàn hặc TT Clinton bằng mọi giá, đưa đến phản ứng ngược, TT Clinton được hai phần ba dân Mỹ ủng hộ. Bây giờ cũng không khác. Một vài dân biểu DC cực đoan hô hào đàn hặc TT Trump trong khi cấp lãnh đạo đảng DC như bà Pelosi thì xác nhận không có ý định đó, chỉ vì họ sợ tạo phản ứng ngược, khiến cử tri của ông Trump đổ xô đi bỏ phiếu cho ứng cử viên CH vào quốc hội, thì sẽ là đại họa cho đảng DC.
Một câu hỏi lớn trong vụ Cohen: chuyện ân xá. Tổng thống có quyền ân xá bất cứ ai về bất cứ tội gì, không cần lý do gì hết. Cả nước đã bàn đến chuyện TT Trump sẽ dùng quyền ân xá với những người đang bị công tố Mueller lùng bắt. Trong khi đó thì luật sư của ông Cohen, Lanny Davis, cũng là luật sư trước đây đã biện hộ cho TT Clinton trong vụ đàn hặc, đã huênh hoang tuyên bố ông Cohen sẽ hợp tác với công tố Mueller, không chấp nhận uy tín bị hoen ố qua một ân xá của tổng thống. Trong thời gian qua, ông Cohen đã hiện rõ nguyên hình là một tay luật sư ma giáo hạng nhất, bây giờ lại lớn lối vỗ ngực không thèm nhận ân xá của TT Trump vì là người “yêu nước, có tinh thần trách nhiệm”.
Sự thật là quyền ân xá của tổng thống có giới hạn, chẳng hạn như ông chỉ ân xá được những tội ở cấp liên bang thôi, không ân xá những tội tiểu bang được. Ông Cohen có thể đã bị công tố Mueller đe dọa chuyển hồ sơ cho tiểu bang New York để truy tố nhiều tội lớn ở cấp tiểu bang như trốn thuế tiểu bang, lừa đảo ngân hàng tiểu bang, chuyển tiền lậu vi phạm luật tiểu bang,… Sẽ truy tố ông này trước tòa án tiểu bang New York. Ông Cohen có thể sẽ lãnh án mấy trăm năm tù mà TT Trump không ân xá được cho dù muốn ân xá. Phạm tội tiểu bang, chỉ có thống đốc tiểu bang ân xá được, mà thống đốc New York là ông DC Andrew Cuomo, chống Trump kịch liệt. Do đó, đường binh đỡ hại nhất cho ông Cohen là phản lại ông Trump, điều đình lãnh án năm ba năm tù và hợp tác khai tội thật hay phịa tội giả của ông Trump. Chẳng có chuyện bảo vệ uy tín cá nhân không nhận ân xá của tổng thống. Bốc phét, không hơn không kém. Cụ tỵ nạn nào tin ông Cohen “yêu nước” xin giơ tay cho thiên hạ biết.

Tổng kết toàn bộ câu chuyện hai vụ án trên như thế nào? Kinh khủng tới mức nào? Lại tận thế?
Tối Thứ Ba qua, ngay sau khi tin hai vụ án nổ ra sau khi thị trường chứng khoán đã đóng cửa, TTDC la hoảng ngày mai Thứ Tư, thị trường sẽ xụp đổ mạnh, rớt giá nặng. Qua ngày sau, Dow Jones rớt vài chục điểm, NASDAQ tăng vài chục điểm. Nghĩa là theo giới kinh tế tài chánh, hai vụ lùm xùm này vẫn chẳng có ảnh hưởng gì đến việc ông Trump vẫn ngồi trong Tòa Bạch Ốc. Ít nhất cho đến khi có biến cố tận thế mới nữa.
Nếu cuộc điều tra của công tố Mueller được giới hạn trong đúng mục tiêu điều tra thông đồng với Nga hay cản trở công lý, thì phúc trình của công tố Mueller sẽ là tờ giấy trắng. Nếu cuộc điều tra lân la qua quá trình kinh doanh hơn nửa thế kỷ của TT Trump thì không ai biết sẽ có gì trong đó. Trong trường hợp này, không ai tin TT Trump sẽ khoanh tay ngồi đợi phúc trình. Sẽ có ‘đại chiến’.

Vũ Linh

TRONG MÀU KHÓI LẠNH

Một ngày có nắng về truy điệu
Mưa rải cô hồn xuống đáy sân
Gió lạnh co ro trong góc miễu
Khói nhang nằm đợi những sanh phần

Xác giấy trên sông cuồn cuộn nổi
Phóng sinh dùm nhé! Những cơn đau!
Trời nghiêng đất lệch, bao nhiêu tội?
Có tiếng thở nào không bể dâu?!

Non đã mờ hoen màu khói ám
Nước chừ ô trọc, sóng điêu linh
Bóng hoàng hôn buốt niềm thương hận
Rũ chết trong chiều không chiến tranh

Mẹ khóc bao năm. Dòng lệ ướt
Đã thành đá cuội dưới trùng khơi
Môi câm, máu bật lời non nước
Chạm tiếng ru xưa, rợn kiếp người

Khói nhang ai đốt chiều nay chắc
Không chịu lên trời, lảng vảng đây
Chao ôi! Âm khí bao giờ tắt?
Cho nắng lên xanh biếc chốn này?

Nguyễn Lãm Thắng

PHÍA ĐÀNG SAU CỦA HÔM QUA

1.

sáng qua còn nhớ
mình đã cúi lượm giấc mơ ai làm rớt
kịp bỏ túi
ai ngờ chiều lại
giấc mơ gọi đúng tên mình
luận tội
buộc phải trả nợ hết cả một đờ

2.

phố cũ rùng mình
như ai đang lạnh co ro
người đàn bà bên kia đường không ngừng nói
nước mắt đã đầm đìa
lúc ngước lên
bỗng thấy bóng mình lặng lờ nhẹ trôi
qua bờ tường rêu
nặng nhọc
như chiếc xe than thời bao cấp
đang cố lên hết con dốc thấp.

3.

đã đến giờ
người đàn bà nguyện
như hạnh nguyện trọn một đời
nhất định chỉ yêu người ở xa
dù tóc đã rối nùi
và dù ngày ngày vẫn đang buộc dần
cố tật đa mang đâu từ thời con gái
ai biết được
ở chỗ vết thương chưa tấy những nốt sần
bỗng như rạn nên lời sám hối.

4.

vẫn từng nốt lặng ấy
nàng âm thầm
và gió cũng không còn thấy cất tiếng
như ai vẫn hát trên đồng
hay đã hát nửa vời bên gối mộng ?
phía đàng sau của hôm qua
một đôi khi
tôi và cả nàng
vẫn mơ…

Chu Thụy Nguyên.

Chặng Đường Cuối Cùng Của Đời Chiến Bại

Em là con nhà giàu / mặc cái quần rách nát. Hỏi, sợ em hờn mát, tôi nhìn thôi. Em đi…

Tôi thật có đôi khi / tự hỏi sao kỳ nhỉ, đất nước mình đẹp thế…mà người dân xấu xa?

Tôi thật không mặn mà / nhìn ai mặc rách rưới…hay người dân còn đợi / một tương lai tốt hơn?

Tôi thật có buồn buồn / trước Việt Nam tơi tả. Bốn thập niên nhiều quá / vết thương chưa liền da?

Tôi nhìn em đi qua / qua ruộng cà hoa tím / qua đời tôi kỷ niệm / bài ca dao thái bình!

Lá tầm xuân vẫn xanh. Hoa tầm xuân vẫn nở. Hình như hoa mắc cỡ / trong lòng tôi đang bung?

Tôi đang chặng cuối cùng / một đời người chiến bại / hết tuổi để tôi hái / một cành hoa như thơ…

Dĩ nhiên tôi biết thừa / dân tôi đang theo mốt / dân tôi đang khoe dốt / làm theo lời Lênin!

Ai chẳng biết nhiệt tình / cộng thêm sự ngu dốt / là phá hoại tuốt luốt / một cẩm tú giang sơn (*)…

Chuyến về thăm Cố Hương: nhà cao tầng chất ngất, đường xe cộ tất bật, người mặc quần te tua…

Tôi nghĩ mình có mơ / chuyện gì, thôi cũng uổng. Nâng tách cà phê, uống…Cái tách là Tách Ly?

Bao giờ nữa tôi về / uống rượu rót bằng chung / em áo bà ba hồng / quần lãnh đen láng mướt…

Trần Vấn Lệ

(*) Câu nói của Lênin: “Nhiệt Tình cộng Ngu Dốt là Phá Hoại”

Giọt Lệ Treo Đầu Lưỡi

Vài Năm Qua

Dẫu bào mòn chuốt nhẵn vẫn còn gai
Lại nhói tim khi chạm vào đúng góc
Bịt cả hai tai âm thanh vồ buốt óc
Không lẽ che luôn đôi mắt nhạt nhòa

Vài năm qua…vài chục năm qua
Những ngọn đuốc chưa đầu hàng bóng tối
Đuốc mở đường đuốc còn soi lối
Mặc đêm dài lởn vởn bờ mi

Những chị những em tiếp tục lỡ thì
Những giấc mơ bỏ nhà biệt xứ
Ruộng cằn cỗi há mồm nhai nỗi nhớ
Tiếng hót phỉnh phờ ngất nghểu trên cây

Bùn vô minh hút cạn khí trời
Vẫn ngạo nghễ khoảng hồ sen trinh bạch
Đất đã rách đất truyền đời đã rách
Xác nhấp nhô hồn có bám được lề

Buồn lên men ủ mãi góc trời quê
Chén rượu nhạt không mong gì bằng hữu
Con đường cũ thương dần thành bạn cũ
Từng bước chân đếm nhịp tim về

Vén sương mù chưa tan hết cơn mê…

Giọt Lệ Treo Đầu Lưỡi

Mặc hoàng hôn ăn từng chén tro tàn
Mẹ lam lũ ẵm bình minh theo gót chân trầy xước
Kiệt sức dưỡng nuôi khí hùng thiêng đất nước
Cuồng nộ thời gian hóa giọt lệ vô hình

Ta ủ lòng dưới một đường cong
Bệnh vô lương di căn buồn héo rũ
Mong bóng người hiện ra giữa màu son phấn cũ
Gõ cửa bốn mùa, vái lạy cô liêu

Hơn một lần cường điệu với tình yêu
Trên dải đất mỏi mòn trôi ra biển
Khi sông núi gồng mình ôm thảm nạn
Khi hữu hình hữu hạn trước vô minh

Quay quắt ta chỉ nửa mảnh tình
Bẽn lẽn em cầm nửa kia e ngại
Đất nước phập phồng dưới mưa cuồng nắng quái
Đến bao giờ được rước vào tim?

Ơi những người lỗi hẹn với niềm tin
Những não trạng ẩm ương đang từng giờ phân hủy
Khi giọt lệ còn treo đầu lưỡi
Đời nhấp nhô trên từng đợt sóng gầm…

Lưu Xông Pha

PHÁP TRƯỜNG XƯA

“Tôi đi trong gió sương lay
Bước chân sạn đạo vai gầy hoa vương”.(Hạ Quốc Huy)

1
Tôi về trên pháp trường xưa
Không nàng đao phủ lệ vừa ăn năn
Vết thương còn dấu dao hằn
Dưới tầng đá nát
trăm năm lỡ làng

2
Tôi về
mê lộ nghiệt oan
Cầm dao nhân nghĩa ánh ngàn trượng xa
Rung chuông bồ tát di đà
Bẻ gươm – Đồng thiếp – quấn tà huy bay

3
Tôi đi
trong gió sương lay
Bước chân sạn đạo vai gầy hoa vương

Hỏi thăm bụi cỏ ven đường
Tìm bông hoa nhỏ mười phương chia lìa…

4
Tôi đi không mão không hia
Nhớ tên quên tuổi, tạc bia dựng đời

Thân tôi gió bạt muôn nơi
Thổi qua biệt tích trên môi em cười

5
Tôi về chiu chắt huyết tươi
Thương hoa khóc ngọc, tặng lời sắc không

Quạ kêu tàn cuộc, hừng đông
Giáp xưa thầm lặng, máu nồng rỉ loang

Năm xưa, lòng đã dặn lòng
Một đao. Một ngựa. Dẫu trong hoang tàn

6
Thơ buồn như bụi hồng hoang
Vẫn đao. Vẫn mã. Ngang tàng tôi đi.

HẠ QUỐC HUY

Vẽ Với Bóng Mình

Dường như có dường như không
Ra.. ai hát giữa mênh mông không ngờ
Dẫu quanh đây rất ơ thờ
Nghe con sóng vỗ bơ vơ muôn trùng..

Hẹn lòng nước cuốn tao phùng
Hẹn ngày lửa đó khói đùn thác mây
Cây phiền muộn rũ nghiêng đài
Vàng trong cỏ úa rụng vài xác xơ

Chừng nao qua tới bến bờ
Trên dòng mực kẻ bất ngờ chuông kinh
Nghĩa trong tử cõi phù sinh
Về đây vẽ với bóng mình khói sương..

Câu kinh sám hối nỗi buồn..
Thắp lên như khói bình hương tạ từ
Bay bay một cõi mơ hồ
Hồn ta tro bụi đến bờ viễn du

Thôi ta ngựa cúi vó mù
Màu thời gian chết ngục tù ngày kia
Đi về đâu buổi chia lìa
Đường mây bóng ngã chừng khuya mất rồi

Trần ai nào dễ cuộc chơi
Nghe ra thoáng đã bời bời bước chân
Với tay chào cuối con đường
Con sông đã chảy vô thường phù vân

Còn đây một chút tình gần
Tìm trong hạt bụi bao phần trùng lai

Hoa Nguyên

Người Cha

Bên trời. Ai đã gọi bên trời, lời thất thanh, đêm bật rách ròng ròng lệ đỏ. Ai đã gọi bên trời, ngựa đã nản chân bon, hí lên tiếng hí cuối cùng, và mây ngũ võng đưa ngựa già về miền tịch lặng. Bên trời, thời đại này, người có thể thấy mặt nhau từ xa vạn dậm, địa cầu gần gũi vô cùng, thư từ đến với nhau trong tích tắc, nhưng cũng có tín hiệu đến quá chậm quá tức tửi, quá đau. Tuần qua. Lúc con ở bên này ung dung lái xe trên xa lộ, ngày 8 tiếng trong hãng miệt mài, đêm ngủ yên lành trên nệm dày, trong chăn dạ, thì bên kia Ba lại bỏ đi Ba nhắm mắt. Ba không còn đợi thằng con, đứa cháu trở về. Và chấm hết.

Bên trời. Buổi sáng đến sở. Ngồi yên. Ba ơi, chưa bao giờ con lại cảm thấy cô đơn như bây giờ. Muốn bỏ mà đi. Muốn thèm một lần mếu máo. Muốn gọi một tiếng ba từ lâu chưa một lần được gọi Đi đâu bây giờ để khỏi đập đầu, khỏi đau quặn lồng ngực, để khỏi cắn miệng, cắn môi, mà nuốt dòng lệ mặn. Thì ra, bây giờ con mới hiểu thế nào là một nỗi mất mát của một đời ngườị Cái mất mát sẽ chẳng bao giờ được đền bù hay có thể được tìm trở lạị Dù là một hạt bụi đi nữa. Dù là một sợi tóc đi nữạ Cái mất mát mà ai cũng có một lần chấp nhận. Nhưng mà thưa ba, chiến tranh giờ đã tàn lụi, đâu còn nỗi mất mát nào như những nỗi mất mát như ngày xưa. Người chết giờ đây, dù sao cũng còn được an ủi. Có nghĩa là, trước khi nhắm mắt vẫn còn nhìn lại một lần những người thân yêu. Trừ ba. Thưa ba, bài này, con viết cho ba.

Trang giấy này con khóc cho ba. Một hai ngày, hay trăm ngàn ngày, con sẽ nói với ba, thầm thì với ba, kể lể với ba. Cái đau này con xin giữ lấy, cho riêng con. Không ai trong nhóm biết cái mất mát này. Con sẽ dấu, như chẳng bao giờ xin cái ngày phép tang chế thường lệ. Bởi vì, với con, ba không chết. Ba sống mãi. Ở mãi trong đời con.

Từ Quảng Bình, mồ mả ông bà ba bỏ lại. Bỏ lại, như lần đầu theo con tàu sắt ra khơi xuôi về Nam. Ba đã lựa chọn đời sống và tương lai cho con cháu. Nhưng vào ngày ấy, ba vẫn còn có một chỗ để mà đến. Dù những ngày đầu tiên lam lũ. Dù chiếc áo lương đen của ba càng lúc càng mờ phai giữa một thành nội đóng cửa Dù nghề thầy thuốc của ba càng lúc càng khó khăn tội tình giữa một thế giới Tây y. Ba đã chọn lựạ Đau đớn mà chọn lựa. Bỏ Quảng Bình, bỏ Đồng Hới, bỏ mồ mả ông bà, ba lạy ba lạỵ Bỏ cơ nghiệp, nhưng cơ nghiệp có gì ở cõi này, trừ tiếng gọi thầm lặng của một kiếp đời: Tự do yêu và ghét. Ngày ấy con còn quá nhỏ để hiểu tại sao người ta dám bỏ cả một phần đời quí báu nhất của con ngườị Tại sao người ta lại dám chấp nhận đến một nơi vô định, chấp nhận một phần đất lạ lẫm của miền xa. Tại sao người ta lại dám phủi tay, bỏ sạch của cải mồ hôi nước mắt, công lao mà mình đã cố tạo dựng, và cả một nơi chốn yêu dấu nhất của một con người gọi quê hương. Đêm nay, mấy mươi năm trở lại một thời gian, một không gian cũ, để lại càng hiểu hơn về nỗi đau bầm của một người bỏ quê nhà. Ba chưa một ngày dính líu với bộ máy. Ba cũng chưa một ngày tung hô đả đảo. Ba đứng bên lề: giản dị như chiếc áo lương đen ba mặc suốt năm suốt tháng. Cao quí như nghề thầy thuốc mà ba đã giúp đời, giúp bà con, lâng láng. Và khổ hạnh như một nhà tu. Và ung dung như một vị đồ nho. Và cô độc như người còn lại cuối cùng của một thế giới. Như vậy tại sao ba lại mang thân gà trống tục tục bầy con xuống con tàu hả mồm. Thì ra, ba đã tiên tri được sự thật. Một sự thật mà ngay cả thế hệ của con sau này cũng chẳng bao giờ biết nổi. Và chao ơi, đến khi biết được thì đã quá muộn màng.

Những ngày đầu tiên ở Huế, thì quá lam lũ. Huế có những ngày mưa dầm, có những buổi trời lạnh căm căm, và gió thì cắt bầm da thịt. Và ba đã đứng ở giữa Huế, đi ở giữa Huế, chống đỡ cùng đời sống ở Huế. Vẫn chiếc áo lương đen bạc màu. Vẫn chiếc áo tơi nylon màu sậm rêu đã rách. Và vẫn chiếc dù đen. Ba đã không những chống cự cùng cơm áo mà còn chống cự cùng cái nền văn minh đang mỗi ngày một lấn áp xã hội. Nhưng nếu cơm áo đã làm ba lao đao lận đận, thì cái nền văn minh kia đã làm ba cô độc hàng vạn lần. Ở đâu người ta cũng quay mặt. Ở đâu, khói bụi, và sản phẩm của những luồng gió từ phương Tây vẫn cuốn lốc, vẫn vần vũ. Ba đã đi tìm lại những người thân chủ cũ. Mong đợi họ để ba bấm tay xem lại kinh mạch, để ba kê toa thuốc, và cuối cùng là ít tiền công. Ba cũng đã đi qua những phòng mạch bác sĩ chen chúc người. Ba nhìn người ta đang bị đầu độc bởi khói xe, dầu mỡ, nước đá, trụ sinh. Và càng đau hơn nữa, ba phải nhìn những trang giấy kinh điển, những giòng chữ hiền nhân, những suy nghĩ vạn đại từ từ bay cuốn hay vùi dập dưới bước chân người không thương tiếc. Khi ấy ba chỉ biết cúi đầu, lưng khom xuống, và lượm và nhặt. Khi ấy ba buồn bã nhìn về phía Đại Nội, trường Quốc Tử Giám, nơi mà ngày xưa ba đã từng học những giòng chữ của thánh hiền. Huế vào những ngày đầu tiên, mây thì màu chì, và sũng nước. Những con quạ đen in bóng trên thành quách cũ, từ Thượng Tứ qua Đông Ba Huế vào những ngày đầu tiên, đêm thấp thoáng những ngọn đèn lu mờ giữa dòng sông Hương, và tiếng hò Nam Ai thỉnh thoảng cất lên ủ dột. Huế, học trò Đồng Khánh, Quốc Học, bãi học qua cầu như cả một đàn bướm. Huế có đài phát thanh bên cầu, còn nghe âm vang tiếng đôi song ca Ngọc Cẩm và Nguyễn hữu Thiết. Huế có tiếng rao hàng rong não nuột trong bóng tối âm u từ đường Trương Định về Hàng Đoát. Và Huế có một mình ba, đứng lại, còn lại một mình.

Nhưng ba không bao giờ chịu làm kẻ thua cuộc. Ba vẫn mặc chiếc áo lương đen, mang chiếc dù đen, chiếc áo tơi màu rêu sậm, và đi bộ, đi mãi, đi miết. Từ Morin về Đập Đá. Từ Morin lên Phủ Cam. Từ Morin qua cầu Trường Tiền, qua Đông Ba, Thượng Tứ, vào Hồ Tịnh Tâm, ngược lên Bến Ngự. Dáng ba nhỏ, gầy. Hai chân ba khẳng khiu, vai hơi khom xuống. Đôi khi một chiếc xe phóng qua vũng nước, và cả người ba bị nước bắn tung tóe. Đôi khi những con chó hung dữ sẵn sàng nhảy bổ vào người ba, nếu không nhờ cây dù bên người, chắc ba sẽ phải bỏ cuộc. Rồi ba trở về cùng con. Mái nhà tôn nào bên đường Trương Định, nền nhà đất thịt, chiếc giường tre nương tựa cơ hàn. Những đêm mùa đông năm ấy, Huế trở trời, lạnh căm căm da thịt. Vì lạ lẫm, và vì hơi lạnh buốt bốc lên từ nền đất, thấm qua tấm chiếu, qua cả chiếc mền dạ nhà binh, khiến con không thể nào ngủ được. Và ba cũng vậy, nằm bên con, mắt mở. Chúng ta đã không thể tưởng tượng có một ngày chúng ta phải nương thân tại nhà của một người khác, trong khi ở quê nhà, chúng ta có cả ngôi nhà gạch khang trang, có nền xi măng, giường rộng, chiếu hoa. Chúng ta không thể tưởng tượng một ngày ba dẫn con đi tìm quán ăn nghèo nàn bên chợ đông ba, để nghe mệ chủ quán bĩu môi nói trắng trợn: Quán tôi dơ bẩn, ông nên tìm chỗ khác, chỉ vì ba cẩn thận lấy tờ giấy mang trong mình lau đôi đũa, cái chén. Mắt ba đã mở trong đêm, nhìn lên chiếc mùng, hay đang trở về cùng quá khứ. Với ba, con biết, lệ thầm ấy là quá khứ. Và với con, lệ thầm ấy là mền không đủ ấm, là khoảng đêm dày dặc, là gió bên ngoài hú từng cơn, đập vào mái tôn kêu âm ỉ, là cả thân thể co rúm lại trước cái lạnh bốc xuống từ mái tôn, bốc lên từ đất…Phải, với ba, lệ thầm ấy là quá khứ. Con người ba đã nặng trĩu quá khứ. Ngay ở hiện tại này, ba cũng là ngọn đèn của quá khứ. Ngày xưa, mỗi lần ba ngủ không được, ba vẫn trở dậy pha trà và đọc sách thánh hiền, hay ngâm những vần thơ cổ. Bây giờ không ai cho phép ba trở dậy, để ngồi độc ẩm cùng bóng đêm. Người ta đang ngủ. Nếu có thức chăng là những hồn ma từ những thành quách rêu rong.

Chúng thức để mà khóc cho một thời đại. Nhưng dù sao, chúng vẫn là hồn ma. Còn ba, ba lại là con người thật. So với chúng, ai khổ hơn aỉ

Vâng, ai khổ hơn ai. Dù sao những hồn ma kia cũng vẫn còn bầu bạn. Còn ba, một người còn sót lại cuối cùng, quá chừng lẽ loi, và cô độc. Nếu có bạn chăng là con quạ đen trên nhánh cây phượng gầy bên Thành Nội hay tiếng dế khóc than dưới mấy tầng gạch cổ. Từ một xóm nghèo bên Morin, ba lại dẫn con đi nương nhờ tại Đập Đá, rồi qua Bến Ngự, rồi về Phủ Cam, rồi qua Thành Nội… Cơm áo cuối cùng cũng xong. Những bà chủ nhà nghiệt ngã cuối cùng cũng xong. Những dốc lên dốc xuống cuối cùng cũng xong. Những ngày hừng hực nóng và những đêm buốt tận xương tủy cuối cùng cũng xong. Dòng sông Hương vẫn xanh lơ. Đêm Nam Ai, Nam Bình vẫn bềnh bồng trên những chuyến đò côi cút. Người di cư bắt đầu hòa nhập vào cuộc sống mới. Ông Bá đã trở thành một người thân tín của chế độ, và được giao một nhiệm vụ cao cấp của đảng chính quyền. Anh Trinh được lên Trung sĩ nhất. Bác Cấn được phong trung sĩ nhất hậu cần. Ông Phán lên làm Phó Tỉnh trưởng hành chánh. Bây giờ những người di cư mới tìm lại ba như ngày xưa họ đã tìm đến. Thân chủ của ba đã không còn bao gồm trong thành phố Huế mà đã được bung ra đến Đà Nẵng, Hội An. Người ta cuối cùng đã tìm đến một vị thầy sau bao năm ngoảnh mặt. Và trong lòng chiếc xe hàng Phi Long, Tiến Lực màu vàng da cam ấy, ba vượt đèo Hải Vân, xuống bến xe, và lại đi bộ, đi hoài đi mãi. Áo lương đen, chiếc mũ dạ, chiếc dù đen. Và cái túi áo mỗi lúc mỗi đầy những trang giấy thánh hiền. Phố lầu cao che mái ra bờ lề, bóng ba lẽ loi giữa chợ người. Ngày mưa cũng như ngày nắng. Ngày lạnh căm căm cũng như ngày lửa oi nồng, một mình đông tay nam bắc, bước tới, đi tới. Để làm gì. Hai trăm đồng học phí một tháng cho lớp Đệ Ngũ của trường Việt Hương. Ba trăm đồng học phí cho lớp Đệ Tứ của trường Bán Công, để con tiếp tục đến trường. Và đêm đêm, ba ngồi viết hàng trăm verbe qui tắc hay bất qui tắc, những demander à hay demander pour, thành ngữ, văn phạm trên cuốn sổ tay bìa đỏ. Ba hãnh diện nhắc lại ngày ba cứu dân làng thoát khỏi lần bố ráp của Tây bởi vì ba là người nói và viết được tiếng Pháp. “Ông quan ba đọc xong thơ của ba, bèn kêu ba tới và bắt tay kêu ba là monsieur”. Ba nói về cuốn tự điển Larousse dày cả ngàn trang mà ba thuộc lòng. Người ta thường nói về một người mẹ như một hình ảnh yêu quí nhất, tôn thờ nhất, dịu hiền nhất, nhưng với ba, cho con được ngừng lại một giây, một phút, để cho nước mắt cứ tuôn, để đôi mắt con mờ nhạt, để hiểu rằng con được tự hào có một người cha còn tuyệt vời hơn cả một người mẹ nữa. Có lần con thấy con gà trống dẫn đàn con đi kiếm mồi, con vật sao cô dơn quá. Nó có mồng, cựa, bộ lông sặc sở, uy dũng hiên ngang làm sao, thế mà cứ mỗi lần tìm được mồi, nó lại kêu tục tục, gọi đàn con đến… Cũng như ba. Tục tục hoài. Hết tay này quạt lại đến tay kia quạt trong những đêm mùa hè dưới mái nhà tôn. Chiếc mền đắp lại trên người con, trong đêm giá buốt. Và đôi khi, giữa đêm, con còn nghe tiếng ba nằm mớ. Ú ớ. Một ác mộng cũng nên. Tại sao ba không bao giờ kể cho con nghe về cái ác mộng ấy để con hiểu thế nào là lịch sử, những biến cố của đất nước hay cái thảm kịch của chính ba ? Phải, ba đã dấu con. Ba đã dấu về một người đàn bà mà ba đã cưới về làm vợ, về một người nào mà lẽ ra con còn được gọi cái tiếng mẹ như mọi người. Ba đã dấu, chẳng bao giờ nhắc nhở, hờn giận. Nhưng ba không thể dấu nỗi những tiếng mớ u uẩn trong đêm. Rằng, nỗi buồn câm nín mà ba mang theo trên hai vai gầy guộc của một ông đồ, một người đàn ông, một người cha hẩm hiu đã trở thành tiếng ú ớ buồn thảm.

Cuối cùng, ba vẫn là người để người ta tìm đến, sau khi bệnh tình của họ, và người thân, bác sĩ đã bó tay. Vợ họ hiếm muộn con cái. Con trai họ mộng tinh di tinh trầm trọng. Có người bị mất ngủ kinh niên. Và mỗi lần kê toa thuốc xong, ba không bao giờ quên một câu dặn dò: Nhớ là đừng bao giờ dùng nước đá. Nước đá hàn, uống vào sẽ hại không ít thì nhiều. Ba đã dặn bệnh nhân của ba như vậy là vì lương tâm của vị thầy thuốc hay là vì cái nền văn minh kỹ thuật đang cuốc lốc mọi thứ cổ truyền mà ba tìm cách chối bỏ? Với con, cả hai. Ba vui mừng khi thấy con bệnh mà ba chữa trị đã bình phục, nhưng ba đau khổ không ít khi nhìn cốc nước đá lạnh mà người ta đã mời ba. Ba đã cố giải thích với họ về một nền văn minh chết người, đang tìm cách làm hủy diệt loài người. Tại sao những người xưa sống lâu cả trăm tuổi ? Tại sao người ta mắc bệnh tâm thần ngày càng nhiều ? Thuốc trụ sinh là gì chẳng qua là nấm? Và cả bao nhiêu loại thuốc men khác cũng bắt nguồn từ cây cỏ? Đôi khi gặp một vài người tri kỷ, ba lại nói về cái độc hại và phá sản của một nền văn hóa ngoại lai. Nó làm băng hoại gia đình và xã hội. Ba trách thế hệ trẻ tuổi sa đọa, quên hết cội nguồn, thương mây khóc gió, không còn biết trọng thánh hiền. Nhưng ba không biết, con đang ở trong thế hệ trẻ tuổi mà ba đã kết án. Ba không biết tuổi trẻ của con đang nổi loạn. Tuổi trẻ của con đầy những xâu xé, giành giựt, bị hành hạ bởi ý thức. Qua sách vở con đọc, qua lịch sử mà con đã sống và lớn lên để thừa hưởng, qua xứ Huế mà con đã cô đơn, qua cha mẹ phân ly, qua tình yêu mà con đã vấp phải, qua mấy bức tường thành mà con bị giam hãm. Ý thức đẩy con xa ba, và càng xa, ba càng buồn vì con hơn ai hết. Ba muốn con lập thân, có nghĩa là đậu bằng cấp, có chức vụ để người đời trọng nể. Nhưng con thì lại khác, ngồi trong thư viện, đọc trang sách của Sartre mà lạc loài, mà hư vô, mà nôn mửa. Đời là gì. Chiến tranh ở đâu đó, trên những trang nhật báo mỗi ngày. Con đọc Tội ác và Hình Phạt mà tìm hình bóng con qua người trẻ tuổi. Tại sao ? Đầu óc con muốn nổ bùng. Con lê dép Nhật, để tóc dài, như thách đố cùng Huế, cùng xã hội. Con bỏ lại sách vở, bằng cấp ở phía sau, để coi đời là áng mây trắng. Con đuổi theo áng mây ảo tưởng. Con coi đời là cuộc chơi. Chẳng cần thắc mắc. Khi người ta bắn con, viên đạn phá toạc da thịt con, những mảnh lựu đạn cắm sâu trong thịt con, con vẫn nhìn lên bầu trời, không oán trách, giận hờn hay đổ tộị Rồi ở đâu, trong cõi này, những áng mây sẽ dịu dàng đậu lại, nương nhờ nhau, che chở nhaụ Rồi ở đâu, cũng có ngày người Nam ôm kẻ Bắc, người Bắc ôm kẻ Nam…Nhưng cuối cùng, con đã hiểu Người thật thà không thể sống chung với ma quỉ.

Thôi thì đành ra đi Ở Việt Nam đâu còn gì nữa để mà nói về con người, về tình tự, về mây trắng. Nhưng khi bỏ đi, thì phải bỏ những gì yêu dấu nhất trong đờị Bao nhiêu năm trong nước con cứ hẹn lần hồi một ngày về phép thăm ba, thăm Huế, để nói với ba rằng con vẫn còn bình an, và để nhìn lên lư nhang đầy ngập tro và trăm ngàn que nhang tàn chen chúc, nhưng cuối cùng chỉ là một lời vỗ về hoang tưởng. Cháu nội của ba vẫn chưa được thấy mặt nộị Giấc mơ nào về quê, để ba nhìn cháu nội đã vỡ vụn tan tành. Và giờ đây, con lại xa ba thêm một nửa vòng trái đất. Lại còn phải thêm một lần nếm mùi bỏ xứ ra đị Lại thêm một lần, bóp còi cho tiếng còi lạc vào chốn mịt mùng. Lại thêm một lần, những bánh xe cứ lăn hoài không biết ngày nào trở về cố hương. Ba thì lại xa Nói gì về một lời tiên tri cũ để chợt giật mình. Thì ra tóc con cũng đã nhuốm bạc rồị Tin nhà cuối cùng cũng phải đến như qui luật của vũ trụ nhân sinh. Con đang nhắm mắt đây, bởi vì, con biết Đất Trời Tiên Phật đang bao bọc ba, dìu dẫn ba, và chưa chắc, ba đang có mặt tại chốn nàỵ Con nhắm mắt, giòng lệ nóng tuôn trào, không ai biết, mà chẳng cần ai biết. Bởi vì chỉ có ba biết con và con biết ba là đủ. Con biết có một người can đảm nhất trên đời, đạo hạnh nhất trên đời, và cũng buồn bã nhất trên đờị Tháng ba hay tháng chạp, năm này hay năm khác, đêm xứ Mỹ hay ngày xứ Mỹ, qua thị trấn này hay về thị trấn khác, những con đường hun hút mênh mông rồi cũng cuối cùng về lại một điểm. Cái điểm đó, có ba mái tóc bạc phơ, bộ áo lụa trắng, đôi mắt mù lòa, hun hút trong dòng thiên cổ.

Trần Hoài Thư