Có những lúc…

có những lúc thèm mặt trời
trong bóng tối cuộc đời người
có những lúc chờ đợi hoài
tìm đâu thấy ánh sao rơi
nhắm đôi mắt, ngậm nụ cười
ta yên giấc dưới ngàn cây
nghe tiếng gió từ sườn đồi
lặng lẽ hôn lên đôi môi.
có những lúc thèm mặt trời
đem hơi ấm cho tim tôi
cho tôi biết nên yêu người,
tuyệt vời như người yêu tôi
có những lúc tôi hy vọng
trong những ngày không có nắng,
trong những đêm không có sao,
trong những mảnh hồn lao đao,
một giọt nắng rất ngọt ngào.
có những lúc thèm mặt trời
gom ánh sáng trên bàn tay
rồi thả nhẹ như đom đóm,
bay vào hồn ai đêm nay.
Tôn Nữ Thu Nga
Advertisements

Một chuyến lãng du

Sau hai tuần du ngoạn bằng thuyền qua Bắc Hải, chúng tôi bắt đầu chuyến đi riêng của mình: xuyên Âu Châu bằng xe lửa để đến địa điểm cuối là Paris trước khi về Mỹ.

Từ thuở nhỏ, mộng tang bồng bị gieo vào trí óc do cha tôi và những cuốn sách du ký, các cuốn báo”Thế giới tự do” ông mang về nhà cho con cái đọc. Vì thế, bây giờ có ai trách rằng tại sao tôi đi chu du thế giới mãi thì tôi đổ lỗi cho ông già. Lúc còn trẻ tuổi, tôi mơ ước một ngày nào đó, mình được đeo ba lô, nhảy xe lửa nhẩn nha trôi qua những con đường làng, những thành phố nhỏ của Châu Âu, tự do như một đám mây. Lần này, tuy không còn trẻ nữa, thế nhưng tôi cũng như một đám mây, lại phiêu bồng trong mùa xuân mới của Châu Âu.

Tallinn old town Estonia

Từ Copenhagen, tôi và Tuấn đáp xe lửa Deutsche Bahn Intercity Express về Hamburg. Xe lửa Âu Châu thoạt đầu thì có vẻ phức tạp vì trạm xe lửa tại các thành phố chính rất rộng lớn, chia ra nhiều tầng nhiều nhánh, có tầng toàn là tiệm ăn, tầng khác là các tiệm bán áo quần, mỹ phẩm, giày dép, đủ mọi thứ cho các bà ưa thích mua sắm. Ngoài những tầng khác còn dùng để đậu xe; đường rầy cũng nằm nhiều tầng khác nhau. Tuy nhiên, chỉ cần nhìn vào những chi tiết trên vé hoặc ghé lại các quầy chỉ dẫn là bạn sẽ tìm được chuyến xe của mình, toa nào mình sẽ lên và cả số ghế nếu có đặt chỗ trước. Trong trạm xe có nhiều bảng điện tử liệt kê giờ giấc khởi hành, xe chạy đúng giờ nên hành khách không phải chờ lâu. Chỉ có những du khách như chúng tôi, khi nào cũng ráng đến sớm cho chắc ăn vì dù sao mình cũng đang đi thám hiểm xứ lạ quê người. Hành khách tại vùng Bắc Âu rất lịch sự, không dành nhau hoặc chen lấn, đàn ông tôn trọng phụ nữ nên hay nhường bước cho các nàng. Trái lại, thấy ông xã tôi hai tay kéo hai cái hành lý lớn, anh lúng túng khi phải bước xuống thang cuốn; một cô gái trẻ, da nâu, tóc vàng thật xinh đã khiêng hộ anh một valise. Dễ thương quá chừng!

Trên đường qua Hamburg, cảnh đồng quê thật xanh tươi vì đang mùa xuân, những cánh đồng vàng hoa Colza (hạt dùng ép ra dầu Canola) nở rộ xen lẫn giữa màu xanh của lúa mì hoặc các loại cây xanh đang đơm chồi nẩy lộc. Những cánh đồng Canola là phong cảnh của Bắc Âu và Đức xưa nay, ai cũng thích màu vàng tươi thắm này và nhiều du khách hay chọn mùa xuân để đi thăm cảnh đồng quê Châu Âu khi hoa rộ nở, cùng lần với các loại hoa xuân khác như hoa Uất Kim Hương, hoa Anh Túc, hoa Đỗ Quyên, Hoa Sơn lựu (Rhododendron), …

Cánh đồng xuân

Vì phải xuyên qua biển, tàu lửa chui vào một chiếc phà khổng lồ, trên phà có đường rầy, ngay bên cạnh những xe hàng lớn đã đậu sẵn. Vì sự an toàn, hành khách buộc phải lên tầng trên của phà 45 phút để hóng gió, ăn uống hoặc mua sắm nếu muốn. Tới giờ, họ sẽ báo hiệu cho khách trở xuống xe lửa để chạy tiếp. Tôi vác một cái ghế xếp, ngồi ôm máy ảnh, gác chân lên lan can phà, tha hồ chụp ảnh bến tầu lúc phà khởi hành rồi ung dung nhàn hạ chụp ảnh mấy con chim biển sà thật thấp trên đầu mong kiếm thức ăn. Chả mấy chốc, tàu lửa lại chạy ngang qua các cánh đồng rực rỡ, các thành phố nhỏ có từng khu nhà xinh xắn vây quanh một tháp nhà thờ cao vun vút. Chúng tôi ghé và ở lại Hamburg 3 ngày, sau đó lại ghé Cologne chơi 2 ngày. Đó cũng là những ngày rất thích thú mà tôi phải để dành cho một bài viết khác.

Từ Cologne, chúng tôi lên tàu Thalys để về Paris, xe chạy rất nhanh 300km giờ nên chỉ ba giờ mười lăm phút là tới Gare du Nord. Ngồi trên xe tôi cố gắng chụp ảnh những làng quê, các ga nhỏ và nhất là những graffiti đầy màu sắc trên các vách đá ven theo đường rầy, chỉ khi nào xe chạy thật chậm vào ga hoặc ngừng lại vài phút đón khách tôi mới có vài tấm hình rõ ràng, ngoài ra vì xe chạy quá nhanh, dù có để tốc độ máy thật cao tôi cũng bấm máy không kịp, mà có kịp chăng nữa thì hình ảnh cũng mờ nhạt, run rẩy!!!

Sau hơn ba tuần không được đi xe hơi riêng, chỉ thong dong như chim cánh cụt, hôm nay chúng tôi được chị Bích và anh Hóa ra tận ga đón về nhà. Ngồi trên xe cảm thấy thoải mái thật sự khi anh chạy ra khỏi trung tâm thành phố Paris. Khu vực quanh ga thật là hỗn tạp; người và xe cộ lúc nhúc ồn ào. Nghĩ tới chuyện bị phá hoại, tấn công, gài mìn lại càng bi quan nhiều về tình hình chính trị và người tỵ nạn tại xứ này. Trước ngày chúng tôi đi, con gái tôi lo lắng bắt viết xuống cả lịch trình của cha mẹ cho cháu cất giữ, có rủi ro gì còn biết ngã đi tìm. Chưa khi nào lũ con lại lo lắng như vậy khi chúng tôi lặn lội bốn phương trước những năm thế giới bị khủng bố, nhất là những biến động gần đây tại Âu Châu. Tôi và Tuấn thường hay biện luận rằng: nếu mình tới số thì ở nơi nào cũng chết cả, chi bằng được chết trong lúc mình đang sung sướng vui chơi.

Anh Hóa chở chúng tôi về nhà anh chị tại Torcy,nhà anh là chốn nương thân của chúng tôi trong 5 ngày tới. Torcy là một làng nhỏ về phía đông của Paris, cách trung tâm Paris 22km. Làng này có ngôi nhà thờ nhỏ rất xinh ngay giữa phố, bên kia đường là các tiệm cà phê, bánh mì, tiệm hoa… Trong làng có ba chợ Á Đông và tiệm ăn Việt. Tuy vậy, thức ăn ngoài tiệm không ngon bằng thức ăn Việt của chị Bích nấu ở nhà.

Nhà anh chị trồng rất nhiều hoa hồng, hoa tường vi và nhiều loại hoa đẹp. Hoa xuân nở rộ khắp vườn, có những cây hoa hồng đầy cả hoa, cao hơn hiên nhà, thơm ngát hương gió. Tôi cầm máy ảnh, len lỏi ngoài vườn tìm hoa để chụp; nào là mẫu đơn, uất kim hương, hoa chuông, tử la lan, hoa lồng đèn, hoa ti gôn, hoa quỳnh, hoa giấy, hoa cẩm tú cầu và hoa diên vĩ, hoa đổ quyên, hoa lưu ly tím và còn nhiều loại hoa đẹp không kể xiết, mọc len lỏi trong vách, khe đá, bậc thềm. Phía trước nhà có cây hạt dẽ và cây anh đào, trái anh đào còn nhỏ xíu, xanh bóng như viên ngọc bích.

 

Căn nhà tại thành phố Torcy

Vì chúng tôi đã thăm nhiều danh lam thắng cảnh của nước Pháp và thành phố Paris trong những chuyến đi trước, chuyến này anh Tuấn muốn dành thời giờ để thăm viếng các anh chị họ và tiệc tùng yến ẩm với nhau để ôn chuyện ngày xưa. Tôi thì muốn đi thăm các làng của mấy ông họa sĩ lừng danh nên chúng tôi lập một thời khóa biểu cho cả hai mục đích.

Buổi chiều thứ nhất, anh chị dẫn chúng tôi đi bộ ra phố uống cà phê. Tôi xách theo vài máy ảnh, trong túi có thêm cái điện thoại di động để chụp hình gửi liền cho lũ con. Ai cũng phải chờ tôi vì tôi vừa đi vừa mê mải chụp ảnh các con đường cây xanh chạy song song thật xinh, công viên mát mẻ có các vòm hoa tuyết cầu dễ thương và ngôi nhà thờ cổ kính. Chị Bích thích chụp ảnh nên không nề hà, chỉ có anh Tuấn là hay nhăn nhó vì sợ mụ vợ mình làm phiền mọi người… như thường lệ vì tánh đam mê chụp ảnh. Dùng giải khát xong, chúng tôi đi bộ về, vì thấy tôi mệt, anh Hóa và Tuấn thương tình đi nhanh về trước, lấy xe ra đón hai bà vợ.

Mấy hôm nay thời tiết ở đây trở nên nóng ấm, buổi tối chúng tôi phải mở cửa sổ vì cần hơi gió, may mà không có muỗi nên không bị cắn. Sáng dậy vừa mở mắt tôi nghe tiếng ong bay vù vù, thì ra có một chú ong vừa mập vừa đen xâm nhập vào từ cửa sổ, sợ quá tôi vớ tấm khăn trãi giường trùm kín lên đầu. Sau khi bay mấy vòng do thám, chú ong thấy không có gì hấp dẫn nên bay trở ra ngoài. Mừng quá, tôi vội nhỏm dậy đi đóng cửa sổ, nhanh nhẩu quá nên lăn tòm xuống nền nhà, may mà cái giường chỉ cách mặt đất nửa thước nên tôi hạ cánh an toàn và nguyên vẹn. Đóng được cửa sổ rồi mới ngồi xuống ôm bụng cười khì.

Dùng điểm tâm bằng cà phê, bánh mì baguette, fromage, pâté và bánh ngọt chị Bích mới mua từ tiệm bánh đầu đường. Thật ra thì bên nhà tại California chúng tôi cũng thường ăn như vậy nhưng có một điểm khác là phải lái xe đi xa mới có bánh mì nóng mới ra lò, còn không thì nướng lại bánh mì đông lạnh. Cái thú khác biệt là ở Pháp hoặc Đức, mình chỉ cần tản bộ chút xíu ra phố là được ăn sướng như …Tây!

Van Gogh ngày tháng cuối

Hôm nay chúng tôi đi Auvers sur Oise (làng Auvers trên sông Oise), cách Torcy 65 cây số. Làng Auvers hướng Tây Bắc, ngoại ô Paris, cách Paris chỉ 35 cây số. Địa danh này liên hệ với một số họa sĩ nổi tiếng. Người được nổi danh và nhắc đến nhiều nhất là Vincent Van Gogh. Một họa sĩ tôi rất ngưỡng mộ , tranh ông vẽ chưng bày tại nhiều Bảo Tàng Viện khắp thế giới và có nhiều tấm giá có thể từ 80 đến 150 triệu US dollars.

Thời gian ông sống tại Auvers Sur Oise chỉ 3 tháng cuối đời, trước khi ông tự sát vì bệnh tâm thần ở tuổi 37. Trong thời gian này, ông đã vẽ 77 bức tranh.Tôi muốn tới đây để nhìn ngắm tận mắt những quang cảnh Van Gogh đã nhìn thấy quanh làng trong tháng 5 cho tới tháng 8 năm 1890. Khoảng thời gian ông đã vẽ những bức tranh linh động và màu sắc rực rỡ nhất, khi ông đang ở trong trạng thái xuất thần tột độ trước khi kết liễu cuộc đời mình bằng các viên đạn bắn vào ngực, trên cánh đồng lúa mì. Hai ngày sau ông lìa đời tại phòng trọ của mình tại Auberge Ravoux , căn nhà số 8 Rue de la Sansonne. Trước nhà trọ là tòa thị chính của Auvers, cơ sở này đã được Van Gogh vẽ lại trong một bức tranh, đến bây giờ là 127 năm vẫn không thay đổi.


Bờ Tường Vi

Từ đường Sansonne, chúng tôi rẽ vào con lộ nhỏ thoai thoải dẫn lên đồi. Tôi sung sướng ngất ngây vì cảnh đẹp, mê mải chụp hình các vách tường rêu mốc cũ xưa, dọc theo chân tường. Hoa diên vĩ tím nở hoa màu tím đậm, tím nhạt hay ngả sắc hồng; gợi nhớ bức tranh Irises (Paul Getty Museum). Tôi hình dung người họa sĩ với mái tóc đỏ hoe, ngồi sau giá vẽ, vạch lên khung vải những lằn sơn mạnh mẽ thắm tươi để lưu lại cho đời một mùa xuân miên viễn. Tôi cũng đi trên con đường theo bước chân ông, nhìn ngàn hoa đua nở trong tháng năm, nhìn những bức tường loang lỗ phủ đầy hoa hồng để nhớ luôn cả câu “bờ tường vi…” trong bài ca “Hà Nội ngày tháng cũ” của Song Ngọc. Quá khứ bao giờ cũng tuyệt diệu, thế nhưng Van Gogh càng tuyệt diệu hơn khi ghi lại được những hình ảnh của quá khứ bằng màu sắc hiện thực với tâm tư sôi động của mình. Ngợi khen nước Pháp đã bảo tồn Auvers như trăm năm trước để ngày hôm nay tôi được chiêm ngưỡng những cảnh thật trong tranh.

Nhà thờ Notre Dame tại Auvers

Nhà thờ Notre Dame của làng Auvers ngự trị trên ngọn đồi thấp, tuy vậy đứng trong sân nhà thờ có thể nhìn ra xa quang cảnh phố, mái ngói cổ kính và dòng sông Oise nước trong xanh phản chiếu màu lá cây hai bên bờ. Căn nhà thờ này cũng hiện diện trong một bức tranh, màu sắc cũng tương tự như cảnh thật. Phía bên phải của nhà thờ, tôi thấy một vạt hoa Oải Hương màu tím nhạt, thơm nhẹ trong gió, mấy con ong bay nhảy trong đám hoa, tuy sợ ong chích, tôi cũng cố gắng chụp cận cảnh ong hút mật hoa. Sau khi bước lui ra xa, tôi chợt thấy có một khung cửa gỗ bạc màu sương gió, giữa bức tường loang lổ, vôi tróc khá hoang tàn, cạnh đó là một gốc hoa hồng xum xuê những đóa hồng nhạt và một vạt oải hương tím. Tôi vội vàng chụp vài tấm, vừa dùng máy chuyên nghiệp vừa dùng máy điện thoại di động. Tấm hình trong điện thoại là tấm tôi ngắm nhìn hoài, dù vui dù buồn, đớn đau hay giận dữ, khi nhìn vào tấm ảnh ấy, lòng tôi thường dịu lại ngay tức khắc, có lẽ nhờ màu sắc nhu hòa hay sự cô quạnh và đơn giản của tấm ảnh có khả năng xoa dịu tâm hồn mình. Họa sĩ Van Gogh ngày xưa dùng sơn và cọ, bây giờ tôi dùng máy ảnh, cùng ghi lại những bức tranh hoài cảm. Nếu Van Gogh sống trong hiện tại, có thể ông cũng vác máy hình đi lang thang khắp bốn phương trời như chúng tôi.

Ra khỏi khuôn viên nhà thờ, tôi rẽ qua phía trái. Trời bắt đầu mưa lâm râm, tôi ôm máy hình che trước ngực, rảo bước trên con đường nhỏ, hai bên là rặng cây xanh. Góc đường có tấm bảng chỉ dẫn hướng đi về phía mộ của Vincent và Theo Van Gogh (Theo là em trai của Vincent, người đã cận kề săn sóc anh mình nhiều năm cho đến ngày Vincent tạ thế – Theo cũng chết trẻ vì bệnh, mới 33 tuổi, sáu tháng sau Vincent Van Gogh). Theo con đường trước mặt, chúng tôi đi bộ trong mưa, lúc mưa nặng hạt, chúng tôi kiếm được một băng đá dưới tàng cây rậm ngồi lại trú mưa, lúc bớt mưa lại chụp ảnh cho nhau trên con đường mòn, hai bên là cánh đồng lúa mì còn xanh nhưng trĩu hạt. Vào thời điểm tháng 5 , 1889, Vincent Van Gogh đã vẽ bức tranh “Green wheat Field” và “ Wheat Field with Rising Sun”  tại St. Remy. Tháng bảy, khi lúa chín vàng, lũ quạ đen kéo về kiếm ăn tại cánh đồng lúa mì của Auvers là lúc Vincent Van Gogh vẽ bức tranh “Wheatfield with crows”. Trong tranh, đường mòn uốn cong giữa hai cánh đồng, trên đường cỏ còn xanh nhưng lúa mì đã chín vàng trong bầu trời mùa hạ xanh đậm, vần vũ vài đám mây trắng, bầy quạ đen từ chân trời bay đến như hồ hởi, vồ vập trên mâm cổ, chúng dang đôi cánh, lượn lờ như đám mây đen trên cánh đồng vàng thắm. Tôi đã ngừng tại con đường mòn phía trái của bức tranh, để chụp tấm ảnh hoang tàn đầy cỏ dại trên con đường đất ấy, một con đường ngày xưa tôi thoáng thấy trong tranh.

Bức tranh Wheatfield with Crows được cho rằng đó là bức tranh cuối cùng Van Gogh vẽ, trước khi tự kết liễu đời mình.

Đi được nửa cánh đồng, gió bỗng thổi mạnh , mưa ào ạt đổ xuống, ướt nhưng không lạnh. Chúng tôi chạy như ma đuổi về phía cổng nghĩa địa vì thấy có chỗ trú mưa, không phải lo cho mình mà sợ mấy cái máy ảnh bị ướt. Ha ha, ông Vincent ơi, nếu mưa làm loãng sơn thì làm sao ông vẽ được những tấm tranh với sắc màu tuyệt diệu? Ông cũng phải chạy đi tìm chỗ trú mà thôi!

 

Mưa dứt, tôi rảo quanh tìm ngôi mộ Van Gogh. Thấy hai ngôi mộ của hai anh em nằm bên nhau; mộ được phủ kín bằng dây Ivy, hai tấm bia đá giản dị có khắc tên năm sinh và năm mất. Tuy mộ không bề thế xa hoa như các ngôi mộ trong khu nghĩa địa nhỏ này, nhưng đó là địa điểm được viếng thăm nhiều nhất.Tôi đi quanh quẩn chụp hình những ngôi mộ khác, nhiều ngôi mộ phủ đầy hoa, cả giả lẫn thật, có nhiều cành hoa bằng sứ thật xinh. Có ngôi mộ thật xưa, rêu mốc đen sì nhưng lại có cây hoa hồng rũ bóng thật đẹp, những đóa hoa hồng tươi đậm làm tấm hình tôi chụp có một sự tương phản đặc biệt giữa đời sống và sự chết, giữa quá khứ và hiện tại.

Đi bộ về phố, ba người đồng hành bương bả đi kiếm tiệm ăn, tôi thủng thẳng đi sau, ngó trời ngó đất, bỗng dưng khi nhìn xuống chân, tôi thấy một cái nắp kim loại tròn, màu bạc, đường kính khoảng 1 tấc. trên có khắc chữ Vincent. Tôi bèn rút điện thoại di động, chụp cái hình để sau này tìm hiểu tại sao lại có dấu hiệu này trên đường mình đi. Khi tôi nhìn lại tấm hình thì thấy nửa bàn chân mình đang bước tới, tính xóa đi để chụp tấm khác, không hiểu sao tôi lại ngần ngừ, tấm hình cũng lạ, có cái bàn chân đi tìm dấu tích của Vincent Van Gogh. Tôi bèn chụp thêm vài tấm nữa; vì ống kính của điện thoại rất rộng nên tôi phải né ra xa mới không thấy bàn chân mình trong ấy. Sau này nhìn lại, tấm ảnh với nửa bàn chân có nhiều ý nghĩa hơn là tấm hình kỷ niệm tên ông Vincent. Chỉ có nửa bàn chân thôi, tấm ảnh kỷ niệm đơn giản ấy đã biến thành một tấm ảnh nghệ thuật.

Thăm thêm vài di tích và chụp thêm mấy tấm ảnh căn nhà trọ Ravoux Inn, tòa thị sảnh và các quán cà phê lộ thiên chúng tôi giã từ Auvers. Nài nỉ tài xế cho xuống bờ sông Oise, tôi hí hửng chạy một mạch ra tận bờ, chụp ảnh dòng sông xanh như ngọc thạch. Hai bên bờ sông, rặng cây mùa xuân mượt mà rũ tóc xanh non, trên chiếc bè gỗ, bọn trẻ con chơi đùa, nhảy bơi trong dòng nước mát. Ôi tuổi xuân trong mùa xuân, sao mà sung sướng quá! Aurevoir Mr. Van Gogh!

Dòng sông Oise

Vườn hoa mùa xuân của Monet

Hôm nay trời có mây mù, ánh sáng thiên nhiên cũng trung dung giữa hai thái cực trong thế giới ánh sáng của bình minh và hoàng hôn mà họa sĩ Monet đã tận dụng trong kỹ thuật vẽ. Vì đường đang bị sửa chữa nên chúng tôi phải đi vòng vo tam quốc một chút khi du hành tới Giverny, nơi họa sĩ Monet sống, xây dựng vườn hoa, hồ sen để vẽ tranh trong nhiều năm. Đi vòng vo thì khổ cho tài xế nhưng tôi thích lắm. Trước hết là phải đi qua một cái làng xưa cổ, có nhà thờ (dĩ nhiên) rất xinh xắn ngay giữa làng, sau đó là con đường ngoằn ngoèo xuyên qua làng, nhà trong làng phần lớn bằng đá, vách tường cũng bằng đá; hoa leo trèo khắp nơi rất duyên dáng và tôi may mắn được xuống xe 5 phút để chụp hình; lực sĩ chạy bộ trong thế vận hội chắc cũng chào thua khi thấy vận tốc vừa chạy vừa chụp của tôi. Trong lúc tôi đang chờ phút tái sinh thì xe lại chạy qua những làng xóm khác, cũng yên lặng, cây cối cũng xanh tươi nhưng không có đặc tính, tôi không còn hứng thú chụp hình nữa nên lăn quay ra ngủ.

Đến Giverny, xe đậu ngay dưới một cây hoa hồng trắng khổng lồ, tôi hớn hở nhảy ra khỏi xe ngắm nghía loại hoa đặc biệt này, hoa trồng thật nhiều và cao nên chỗ đậu xe khá im mát. Ra khỏi khu xe đậu, sau hàng rào hoa là bảo tàng viện, những sườn đồi thoai thoải quanh viện phủ đầy hoa Anh Túc màu đỏ. Trong một tấm tranh của Monet, ông vẽ đồi hoa Anh Túc có cô gái cầm dù, đi bộ với một cô bé gái chỉ cao hơn thân hoa chút xíu, đội mũ lát có dây ruban cùng màu với hoa. Ẩn hiện sau rặng cây xanh là tòa biệt thự, có lẽ hai tiểu thơ này là người trú ngụ tại căn biệt thự nọ và đang đi dạo trong cánh đồng hoa dưới bầu trời xuân xanh biếc có những cụm mây trắng lững lờ bay. Xa xa trên đồi, có hai người khác cũng đang đi ngắm hoa, quang cảnh trong tranh thật an bình (Coquelicots, La promenade). Bây giờ, tại Giverny, khu vực bảo tàng viện cũng có cánh đồng hoa poppy gần giống đồng hoa tại Argenteuil, du khách lũ lượt thay nhau chụp ảnh, kêu réo chí chóe tiếng Tiều, tiếng Quảng. Thấy vậy chúng tôi chỉ nhìn xem chút xíu qua hàng rào rồi theo bảng chỉ dẫn đi kiếm nhà cụ Monet (Monet thọ đến 86 tuổi).

Vườn hoa của họa sĩ Monet

Monet sống tại Giverny từ năm 1883, ông mua nhà và bắt đầu xây dựng một vườn hoa cùng với hồ hoa súng (Nympheas). Năm 1899 ông bắt đầu vẽ loạt tranh hoa súng và chiếc cầu Nhật Bản ông xây trên ao. Trong vòng 20 năm, ông đã vẽ rất nhiều bức tranh hoa súng trên hồ, và trở thành lừng danh vì ngày nay ai cũng nhớ tới tên ông qua những bức tranh này. Tranh ông vẽ treo khắp thế giới trong các viện bảo tàng hoặc các bộ sưu tập tư nhân, giá cả thì cũng mấy mươi triệu đô la một tấm. Ngày nay, toàn khu vực được  Foundation Monet quản trị vì cả khuôn viên được hiến cho Academie Des Beaux-Art từ năm 1966 do con trai của Monet là Michael Monet.

Nhà của họa sĩ Monet

Căn nhà được trùng tu lại rất đẹp, tường màu hồng và cửa màu xanh lá cây, trên lối đi bộ quanh nhà, có các thân dây leo, lá xanh rậm quấn quít duyên dáng trên hàng cột bên hiên. Trong nhà bạn có thể thấy phòng ông dùng để vẽ tranh, phòng ngủ của ông và thân nhân, phòng ăn, phòng bếp v.v. phòng nào cũng trang hoàng thanh nhã, màu sắc hài hòa. Trong bếp có dụng cụ nấu ăn sáng loáng treo trên tường đủ làm các nội trợ mê hồn.

Bếp nhà Monet

Toàn thể khuôn viên chia làm hai phần: vườn hoa trước nhà gọi là Clos Norman và khu vườn Nhật phía bên kia đường, xuyên qua một địa đạo để tránh con đường bên trên.

Chúng tôi tha thẩn trong khu Clos Norman chụp hình hoa đã đời, vị trí nào cũng xinh tươi đáng chụp cả nên không rời bước được. Thế nhưng khi qua bên khu vườn Nhật thì quang cảnh lại càng thích thú muôn phần. Bên này là vị trí họa sĩ Monet vẽ cảnh chiếc cầu Nhật Bản, hồ hoa súng và các bức tranh khổ lớn đang được luân phiên triển lãm tại những viện bảo tàng danh tiếng khắp thế giới. Tôi đã được ngắm ba bức tranh hoa súng khổ lớn tại MOMA (Museum of Modern Art in New York) năm 2008 và tấm ảnh chiếc cầu Nhật Bản trên hồ hoa súng tại Metropolitan Musewm of Art trong cùng thời điểm.


cầu Nhật Bản

Trong khu vực này, bạn có thể dạo quanh  hồ, lạch nước và những chiếc cầu nho nhỏ rất xinh xắn bắt qua dòng nước quanh co, bóng phản chiếu trên mặt nước, khi phẳng lặng, khi lăn tăn nhăn nhúm theo cơn gió nhẹ . Trên đường đi, có rặng tre xanh mướt, đủ loài hoa khoe sắc thắm trang điểm lối đi, có hoa Tử Đằng rủ bóng trên cầu, tha hồ mà chụp ảnh. Trên hồ, hoa súng đang nở rộ, có màu hồng đậm, nhạt, vàng hay trắng trên chùm lá tròn xanh tía trải mong manh trên nước, vài người làm vườn đứng trên thuyền nan nhỏ, dùng lưới vớt rong quanh quẩn trong hồ.

Dạo chơi mãi lâu, thấy gần giờ đóng cửa, chúng tôi ra về, trên đường ra khu đậu xe, chị Bích ngồi chờ chúng tôi trong quán cà phê xinh xắn, chúng tôi sà xuống bàn, thở dốc, gọi thức uống và ăn mấy cái bánh beignet nhỏ xíu nhưng ngon tuyệt. Trên đường về, ba hành khách ngủ gà gật để một mình tài xế là anh Hóa lái xe chạy bon bon trên xa lộ; đôi khi tôi chợt tỉnh, nhìn ra cảnh đồng quê, nóc nhà xưa của các làng mạc nho nhỏ thật thơ mộng lướt qua nhanh như thời gian tôi lang bạt tại Âu Châu. Chuyến đi nào tôi cũng luyến tiếc, không muốn về nhà.

Có người nói chuyến đi này của tôi là một chuyến hành hương để tìm thăm các họa sĩ nổi tiếng, nhưng tôi thì cho rằng đây là một chuyến đi cho thỏa mộng giang hồ lãng tử của mình và dù có ráng đi tìm lại hồn mình thì tôi cũng chỉ tìm ra được cái hồn lãng tử mà thôi. Vì thế, tôi còn phải ra đi nhiều lần nữa!

Tôn Nữ Thu Nga    

California- San Dimas, July 21, 2017.

Chú Thích:Tài liệu từ Wikipedia and museum brochures. Ảnh tư liệu Nhiếp Ảnh Gia Tôn Nữ Thu Nga

CON GÀ TRỐNG

 

Con gà con chỉ bằng nắm tay Hảo, toàn thân bọc bằng mớ lông tơ mềm mại, óng vàng. Thằng bé con xóm dưới khum khum hai bàn tay, ấp con gà trong ấy, nó hé hé ra chút xíu cho Hảo nhìn. Chú gà kêu chiêm chiếp, vùng vẫy hai cái cánh cụt ngủn, yếu ớt.
Thằng “du thủ du thực” (bà vú gọi nó như vậy), hất hàm:
– Mười đồng thôi, có mua không?
– Mày ăn cắp con gà của ai hả? Bà vú căn vặn nó.
– bắt được, nó đi lạc ngoài đường, có muốn mua không?
Hảo níu áo vú, đôi mắt con bé long lanh… Vú nháy nháy mắt
– Mua làm gì, mấy con chó bẹc dê lủm một cái là hết!
Hảo giật giật tà áo vú, đôi môi run run, cô thương con gà quá. Nó nhỏ xíu và mềm như một nắm bông gòn.
– Vú không có tiền để mua con gà cho chó lủm đâu! Mày có năm đồng muốn mua thì mua.Thằng du thủ du thực, ngó láo liên quanh quất. Chung quanh nó là một bọn trẻ con mũi dãi chạy ra xem từ phía trại gia binh. Không có đối tượng nào khá hơn Vú già và Hảo. Nó ngần ngừ tiếc rẻ, chìa con gà về phía Hảo:
– Ừ thôi tao bán rẻ cho mày năm đồng, mà mày làm nó chết là đừng kiếm tao bắt thường nghe.
Hảo đưa hai bàn tay, đón con gà nhỏ, con gà chưa kịp nằm trọn trong tay cô, thằng du thủ du thực đã giật tờ giấy bạc năm đồng trong tay vú già rồi chạy biến mất sau ngõ hẻm.
Nâng con gà trong lòng bàn tay, con gà cựa quậy nhè nhẹ, hai chân cào vào lòng bàn tay nhột nhột, cô hí hửng theo vú già trở về nhà, để những ánh mắt thèm thuồng của bọn con nít lại sau lưng…

Vừa về đến nhà, mấy chị em Hảo chụm mấy cái đầu vào nhau trên tấm phản rộng. Lấy tờ giấy báo trải ra, đặt con gà nhỏ xuống. Bọn trẻ trầm trồ thích thú nhìn con gà bé bỏng, lững thững đi loanh quanh trong cái chu vi nho nhỏ, quây quần bằng sáu đôi mắt tròn đen nhánh và những bàn tay nho nhỏ sẵn sàng dẫn lộ cho chú gà trở về vòng đai an toàn. Ba chú chó Berger lừng khừng đi quanh phản, mũi hênh hếch đánh hơi, thấy không có gì hấp dẫn nên kéo nhau ra sân chơi đuổi bắt.

Vú già lấy cái lồng bàn lớn chụp lên trên con gà, vất vào đó nhúm gạo nát, con gà kêu chiêm chiếp, lấy chân cào cào trên tờ giấy rồi tập mổ những hạt tấm nhỏ. Bọn trẻ cười khúc khích, có khi ré lên khi chú gà phẹt ra một bãi nho nhỏ đâu đó. Chơi chán, bọn trẻ cũng lục tục bỏ đi, chạy đuổi nhau, reo hò trên sân, Hảo ngồi một mình bên con gà nhỏ của mình, lâu lâu thò ngón tay vào dưới cái vành thiếc vuốt ve bộ lông vàng mượt êm ái như nhung.
– Vú ơi, con gà ni là con trống hay con mái hả vú!
Vú lắc đầu:
– Vú không biết được con à, mình phải chờ nó trổ mã mới biết!
– Trổ mã là cái chi rứa vú?
– Là khi nó mọc lông mới, thay lông cũ đó.
– Khi mô hắn mới thay lông hả vú.
– Khi hắn lớn bằng hai cái nắm tay của vú như ri nì.
Hảo chống tay lên má, ngước nhìn vú:
– Rứa thì chắc cũng phải tới tết phải không vú?
Vú ngẫm nghĩ:
– Ừ, còn hai tháng nữa là tết chắc là nó cũng lớn bộn rồi.

Chiều hôm ấy, vú ra chợ, mua về cho Hảo một cái lồng gà, Hảo lấy hai cái lon cá hộp Maroc, đổ vào một lon nước và một lon gạo. Con gà cũng giống như con chim. Chuồng gà của Hảo cũng giống như cái lồng chim của bác Phủ bên hàng xóm.

Bây giờ bọn em lại chụm vào nhau trên tấm phản để chiêm ngưỡng cái lồng tre mới, mấy cái mông ốm nhách chổng lên trời, tay chống cằm, những đôi mắt hạt huyền long lanh với sự thích thú. Cả bọn lao nhao bàn bạc về con gà, thằng Lương nghịch ngợm thò ngón tay vào lồng để chọc con gà. Con gà hoảng hốt nhảy lên , vươn hai cái cánh tí xíu chạy lòng vòng trốn tránh. Hảo tức giận lắm, cô bé nghiêm mặt:
– Ê thằng kia, mày coi chừng nha, con gà này tao nuôi lớn lên để cúng ông nội. Mày làm nó chết ông nội về vặn cổ mày đó.

Thằng Lương sợ hãi le lưỡi, rụt tay, không phá nữa. Hắn là em thứ tư của Hảo, sáu năm qua, tưởng hắn là con út nên ba mẹ cưng chìu lắm, ai ngờ khi hắn lên sáu thì mẹ lại tròn một bụng bầu nên hắn sắp thất sũng. Hắn đi theo Hảo chơi các trò chơi con gái như buôn bán, búp bê, nhảy dây, nấu nướng. Hảo cũng thích chơi trò của con trai như thả diều, bắn cung, bắn nỏ, đạp xe nên hắn càng thích đi chơi với Hảo và bị Hảo sai bảo đủ điều.Thằng Lương là người có hiếu với cha mẹ nhất nhà, nó nhanh nhẹn và chịu khó làm việc. Mẹ trêu nó là vì nó sanh ra tại Pleiku nên da ngăm ngăm giống mấy ông Thượng.

Em kế Hảo là Dung, thuở nhỏ em tròn trĩnh dễ thương, trắng trẻo như con búp bê Nhật Bản; không nghịch ngợm nhiều như Hảo nên ai cũng thương mến nó. Hai chị em hay đánh nhau, dành lộn búp bê và các đồ chơi lỉnh kỉnh, ai cũng bênh nó vì nghĩ rằng Hảo là đứa ngỗ nghịch. Bình thường thì Hảo không bao giờ nghĩ rằng mình thương nó. Nó cũng giống như một cái tay hay cái chân của Hảo mà thôi. Có ai nghĩ rằng mình yêu thương hay chú ý đến cái tay hay cái chân của mình cho tới khi bị thương bị đau xương trặc khớp. Hảo nói dài dòng như vậy là vì có một hôm, trời mưa to gió lớn, mẹ thuê xích lô chở hai chị em đi học. Trên đường, vì gió lớn, người phu xích lô lại không cẩn thận nên cái mui xe bị gập vào nhau, Dung bị kẹp cánh tay giữa hai cây sắt, nghe tiếng em thét lên và thấy hai cây sắt càng thu hẹp, Hảo lạnh cả người, sợ em bị gãy tay, nó cũng thét lên và cố ghì thanh sắt cho mở rộng ra, thế nhưng Hảo cũng chỉ là một con bé tám tuổi, đâu có sức mạnh nhiều, Hảo cảm thấy đau đớn và tuyệt vọng khi hai bàn tay mình cố ghì  trên thanh sắt để cứu cánh tay bé nhỏ của em. May thay người phu xe nghe được, hắn ta dừng xe lại và kéo cái mui cho Dung lấy tay ra. Nhìn cánh tay nhỏ trầy xướt của em mình Hảo chảy nước mắt , dẫn em vào văn phòng để Soeur khám và thoa dầu. Trong lòng Hảo, một mối thù hận ghê gớm còn ăm ắp trào dâng, Hảo ghét tên phu xích lô bất cẩn và chợt thấy thương em mình vô vàn. Tuy nước mắt còn viền hai bờ mi vì đau đớn, Dung cũng chỉ lầm lì không nói chi cả.

Nhỏ hơn Dung hai tuổi là thằng Dương, hắn ta trắng trẻo, đẹp trai và là con trai trưởng, cháu đích tôn của ông nội nên được cưng nhất nhà. Hắn rất hiền lành mặc dù biết mình là chúa tể trong nhà. Dương khéo tay, thích vẽ và vẽ rất đẹp, hắn còn biết tự xây hồ cá trong vườn để nuôi mấy con cá lia thia. Đôi khi hắn ganh với Hảo vì Hảo thường được ba dẫn đi coi chiếu bóng; mỗi lần thấy Hảo ngồi trên xe với ba, hắn nằm lăn ra giữa đường không cho xe chạy. Bà vú và cô giúp việc phải chạy ra khiêng hắn vào nhà, hắn vẫy vùng la hét inh ỏi cả xóm cũng nghe. Có lần Hảo chơi đá banh với nó, đá một cú vào bụng, nó gập người xuống gần xỉu, mọi người ùa ra xem xét. Hảo sợ nó chết bèn trốn qua nhà ông Ngoại, chờ thấy tình hình yên ả mới chịu về, thế mà cũng bị ba quất mấy roi vào mông.

Chỉ có một mình bà vú thương Hảo mà thôi, Hảo nghĩ vậy. Bà vú được bà ngoại Hảo nuôi từ lúc mẹ Hảo ra đời. Khi mẹ có thai Hảo năm 28 tuổi thì bà vú lại là người nuôi nấng và săn sóc Hảo. Hảo ngủ chung với bà nhiều hơn là mẹ, vì bà thay thế cho bà ngoại Hảo đã thất lộc từ lâu.

Bà vú là quản gia của mẹ cho nên mẹ Hảo có thì giờ làm chủ cái xưởng bánh nhỏ với ba người làm bánh cho mẹ. Bánh được đem bán sỉ cho các quầy trong chợ hoặc các quán xép trong tỉnh. Nhờ tiền mẹ kiếm được cộng với dúm lương công chức của ba nên gia đình cũng có phần thoải mái hơn.

Nghe mẹ nói rằng bà vú có một người con gái, nhờ họ hàng nuôi ngoài Quảng Ngãi, nhà bà nghèo lắm nên bà phải làm việc cho Ông bà ngoại Hảo để lấy tiền gửi về quê nuôi con. Bà thương mẹ Hảo lắm vì bà cho mẹ Hảo bú từ lúc mới sinh, sau khi bà ngoại mất, bà tiếp tục ở với mẹ Hảo cho tới bây giờ. Hảo ít khi nghĩ đến chị Chanh (con bà vú) vì chị ấy chỉ là một hình ảnh bí hiểm, loáng thoáng trên môi người lớn. Hảo chỉ cần biết bà vú là của Hảo, Hảo được bà bế ẵm và nuông chiều. Hảo hay trèo lên đùi bà ngồi nghe bà nói chuyện, nghe bà kể chuyện đời xưa và chuyện ma để rồi sợ hãi không muốn đi vào chỗ tối trừ khi có bà bên cạnh, thỉnh thoảng bà cho Hảo đồng bạc để chạy ra quán xép mua cái kẹo dẻo, nhai gần gãy răng.

Sau khi có con gà, tuy bảo là con gà của Hảo nhưng bà vú giúp Hảo săn sóc con gà vì cô ham chơi cứ quên cho gà ăn. Con gà không có tên, mấy người làm, gọi nó là : “Con Gòa của chị Hẻo”.

Chỉ mấy tuần sau, cái chuồng bắt đầu chật vì con gà lớn nhanh như thổi. Vú giải thoát nó và cho nó chạy lòng vòng trong một cái chuồng tròn làm bằng lưới mắt cáo. Con gà sảng khoái chạy lung tung đào bới trên đất. Mấy con chó Berger đi vòng quanh, chúi mũi kiểm soát, thấy không làm gì được nên chán nản bỏ đi, chạy đuổi theo mấy đứa trẻ đang chơi u mọi.

Chẳng bao lâu, con gà trổ mã, hắn trở nên một chú gà trống tuyệt đẹp. Cái mào đỏ ong, lông gáy màu hung đỏ rũ dài quanh cổ, lông bụng màu xanh dương đậm gần như đen, lông đuôi cong vút như những cái lưỡi liềm màu xanh tía. Hai chân sù sì với móng vuốt nhọn hoắc. Buổi sáng nó bắt đầu tập gáy, giọng khan khan kêu  cồ cồ cồ cồ… nó ưỡn bụng đi oai vệ trong khu vườn nhỏ như mình là chúa tể càn khôn.
Vú căn dặn cả nhà: Tụi bay phải coi chừng con gà này không thôi người ta bắt trộm.

Nhà chúng tôi ở khu xóm mới, tuy có hàng rào xi măng cao quá đầu, cửa sắt, hàng rào kẻm gai nhưng lâu lâu cũng bị mất vịt, mất chó, mất radio và cả áo quần đang phơi. Mấy con chó Berger hung dữ kia cũng không thể nào giữ nhà cho an toàn cả. Bọn ăn trộm vặt quá sức tài tình.

Thế nhưng con gà trống vẫn an toàn, sống nhởn nhơ và lớn lên trong không gian êm đềm của nó dưới ánh mắt cú vọ của bà vú và một bầy trẻ con giám thị. Tiếng gáy của nó càng ngày hùng mạnh và trong trẻo. Cặp đùi chắc nịch nhấc từng bước đi vương giả. Bây giờ nó đã 5 tháng tuổi, bà vú nói:
– Con gà này sắp nấu được rồi.
Hảo nhăn mặt:
– Không cho bà nấu nó bây giờ, con đã để dành nó để cúng ông nội tháng tới.
Bà gật gù:
– Ừ tháng tới chắc nó sẽ được 3 ký, mình nấu nồi cà ri gà cúng ông.

Ông nội Hảo mất năm ngoái ngoài Huế, Hảo còn thương nhớ ông nhiều lắm. Mỗi năm  ông vào Nha Trang thăm mấy đứa cháu nội cả tháng. Ông không cưng thằng cháu đích tôn bằng Hảo và Dung. Hằng ngày ông đi bộ lên trường Thánh Tâm đón hai cháu, dẫn cháu ra biển chơi, cho uống nước dừa, mua đậu phụng luộc hoặc cho ghé tiệm bánh Hoa Hoa góc đường Nguyễn Hoàng và Huỳnh Thúc Kháng để hai cháu mua bánh tai voi, bánh hột mít, bánh lạt hoặc bánh kẹp. Ông Nội không giàu nhưng ông chìu chuộng cháu, muốn cái gì cũng được nên khi được gần ông Nội, Hảo chẳng bao giờ cần phải xin tiền mẹ và vú để mua quà.

Mỗi buổi chiều, hai ông cháu ngồi bên khung cửa sổ nhìn ra cây khế, ông hút thuốc lào và uống cà phê phin. Lọc xong lần thứ nhất, ông đổ thêm nước sôi và lọc cho con cháu bé một ly cà phê nhạt, khuấy muỗng đường rồi ngồi nhâm nhi và nói chuyện với nhau.

Gió chiều mát mẻ thổi về từ biển, ông lim dim mắt ngồi nghe con cháu nội nói chuyện trường chuyện lớp, nhiều khi mệt, Hảo gối đầu lên đùi ông say sưa ngủ.

Năm nay ông không còn nữa, hồn ông chu du trên núi Ngự Bình, ngày giỗ tới là ngày ông về thăm gia đình con cái. Hảo muốn cúng ông con gà của mình nuôi vì Hảo thương ông nhiều.

Thấm thoát ngày giỗ ông đã đến. Biết là con gà sắp bị giết thịt, Hảo xin mẹ cho Hảo ở lại buổi trưa trên trường, Mẹ hiểu ý, cho Hảo tiền mua bánh mì thịt tại Ngã Sáu gần trường để ăn trưa. Buổi chiều, Hảo nấn ná lại lớp, giúp bạn quét dọn rồi lững thững chậm chạp trở về nhà.

Chiều nay nhà Hảo rất nhộn nhịp. Bà con ruột thịt, cháu chắt và vài cặp bạn bè của ba đều có mặt. Trên bàn thờ hương trầm nghi ngút, tấm ảnh ông nội oai nghi sau làn khói, mơ hồ nhìn xuống những món ăn sơn hào hải vị do bà vú và cô Khánh nấu suốt ngày hôm nay.

Các bà lớn tuổi mặc áo dài, các chú bác mặc áo the lương, ông ngoại Hảo cũng có mặt. Ông ngồi trầm ngâm trên bộ trường kỷ ngắm nhìn cảnh vật chung quanh, dường như ông cũng nhớ đến ông sui gia vừa quá cố.

Cúng xong, thức ăn được bày la liệt trên mấy cái bàn dài, vừa trong phòng khách vừa ở ngoài sân. Bọn trẻ chúng tôi ngồi chung bàn với nhau. Sau mấy cái bánh nậm, bánh bột lọc khai vị, bà vú bưng ra một khay bánh mì xắt lát và một tô cà ri gà. Hảo nhìn vào tô, tay chân Hảo bỗng nhiên bủn rủn. Thấy Hảo không ăn, bà vú gắp một miếng thịt gà lớn và mấy miếng khoai tây vào chén Hảo. Hảo đưa tay bụm miệng ụa mấy tiếng, Hảo nhảy ra khỏi ghế, hai hàng nước mắt chảy dài xuống má xuống môi mằn mặn. Vú chạy theo ôm Hảo vào lòng, Hảo thổn thức:
– Con gà… con gà của con, con không ăn nó được.
Vú lau nước mắt cho Hảo, bà nắm tay Hảo:
– Vậy hả con? Thôi con đừng buồn, theo vú ra đây vú cho con cái này hay lắm.

Hảo thẩn thờ đi theo vú vào nhà kho, vú bật công tắc điện, trước mặt Hảo, con gà trống của Hảo nhấp nháy đôi mắt, vươn cánh gọi o o vì tưởng trời đã sáng. Hảo nhào tới, ôm nó vào lòng, vuốt ve, nước mắt Hảo lăn trên đám lông mượt.
Vú nhìn Hảo mắng yêu:
– Ai mà nỡ làm thịt con gà quý hóa của mi chơ! Tau phải đi mua con gà khác tới năm trăm đồng, mi xin ba mi tiền trả lại cho bà nghe chưa?
– Bà đừng lo, cái bùng binh của con có tới bảy trăm lận. Mai con đập ra trả cho bà…
Vú mỉm cười nháy mắt:
– Thôi con theo vú lên ăn kẻo Cà ri nguội mất.

Tôn Nữ Thu Nga
(San Dimas, April 18-2017)

Năm tháng ngậm ngùi.

Sau khi tốt nghiệp trường Thánh Tâm năm 1972, như nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã viết, bạn bè tôi bắt đầu lìa nhau như từng viên đá cuội rớt vào lòng biển khơi. Còn lại quanh tôi là một nhóm nhỏ, luyến tiếc Nha Thành, đăng tên vào Đại Học Cộng Đồng Duyên Hải năm đầu tiên khi trường mới thành lập. Tôi có cảm nghĩ rằng, thầy cũng như trò, ai cũng có một vai trò sáng tạo và phát triển cho trường, xây đắp học trình như ghép nối những mảnh vụn vào nhau.

Tôi học ngành Pháp Văn cùng một số bạn cũ từ Thánh Tâm  hoặc từ trường Pháp. Tôi sống những ngày thật vui tại Nha Trang, không lo lắng, không buồn  rầu vì dù có con, tôi vẫn được đi học, đi chơi rất thoải mái. Tuy nhiên, những ngày vui mong manh ấy cũng qua thật nhanh, đó là ngày tôi phải đối diện với đời sống mới của một cô giáo mới ra trường.

Đầu năm 1975 tôi bắt đầu đi dạy học tại trường trung học Sông Cầu,  tỉnh Phú Yên,  cách thị xã Nha Trang 180km bằng Quốc Lộ 1. Thuở ấy, 180km là một khoảng đường xa vời vợi. Nhất là khi nơi mình rời xa là một vùng trời yêu thương, có đứa con gái nhỏ giao cho bà nội giữ, có cha mẹ anh em và bạn hữu, cùng họ hàng ruột thịt, người chồng đang công tác trên chiến hạm và phải xa rời vùng biển xanh lớn rộng ôm ấp bãi cát vàng lộng lẫy tuổi ngây thơ.

Cứ vài tuần, tôi lại về Nha Trang thăm nhà, lần nào đi ngang đèo Cả cũng sợ tái người, không phải sợ đèo cao nguy hiểm mà vì sợ việt cộng gài mìn. May thay, chuyến xe đò vẫn đưa tôi đi về bình an trong suốt mấy tháng đầu đời làm nghề dạy học.

Tôi sống vì lý tưởng mà hy sinh tất cả, bây giờ nghĩ lại, tôi thấy mình quá đổi dại khờ. An ủi rằng những sự khờ dại trong tuổi thanh xuân là những kinh nghiệm làm cho trí óc mình thêm khởi sắc, nhưng đôi lúc cũng cảm thấy buồn buồn.

Con gái nhỏ của tôi lúc ấy mới tròn một tuổi, có cô giữ trẻ săn sóc  dưới sự kiểm soát của bà nội hoặc bà ngoại, bé được chơi đùa với các cô, dì và cậu nhưng rất ít khi thấy mẹ, cho nên trong những năm tháng dài trong đời, tôi cứ trách mình vì ham chơi, ham học mà không biết thương con.

Tại Sông Cầu, tôi thuê một căn nhà gần chợ, ở chung với chị Bê và chị Hảo, hai cô giáo độc thân dạy chung trường. Đây là hai cô gái tuyệt vời và hiền thục. Các chị dạy cho tôi cách sống tự lập của một người đàn bà độc thân tại chổ: từ cách tắm giếng, cách nấu ăn, cách đối xử với các giáo sư cùng trường cũng như cách im lặng lắng nghe những thị phi trong thiên hạ, những lời châm biếm, và dòm ngó của những kẻ thiển cận trong thị xã.

Học trò rất mến tôi dù tôi chỉ dạy chúng trong một thời gian ngắn. Dưới mắt các em, tôi là cô giáo trẻ, tinh thần cởi mở, ý kiến tự do, đại diện cho một trào lưu mới. Các em hay đến chơi nhà tôi để hỏi bài vở và chuyện trò. Nhờ có chút kiến thức về y học truyền qua từ mẹ tôi, tôi săn sóc những bàn tay ghẻ lở, những vết nứt chảy máu bàn chân, những đôi mắt đỏ, tôi cho em viên thuốc cảm tôi mang theo  hoặc những viên kẹo ngọt hiếm hoi. Vì thế cho tới ngày tôi lìa bỏ Sông Cầu, chạy giặc về Nha Trang tôi vẫn có học trò cũ lặn lội kiếm tìm.

Buổi chiều Sông Cầu thật buồn, chợ chiều vắng lặng, những quầy hàng trống rỗng, trơ vơ các vách phên, gió thổi nhè nhẹ đong đưa các cọng rơm bên mái tranh lất phất. Nhìn qua con đê nhỏ, từng đoàn học trò đạp xe nối đuôi nhau về từ các làng xóm xa xôi. Đó là những em học sinh lớn, về lại thị trấn để ngủ qua đêm dưới sự bảo vệ của lính Cộng Hòa. Nếu ở tại làng mình vào ban đêm, việt cộng hay bắt các em lên rừng học tập ba bốn hôm mới thả. Cho nên vào buổi chiều, tôi hay ngồi trước hiên nhà, ngó qua bờ đê, mong chờ bóng dáng các em đạp xe xuống phố như một đàn chim quay về tổ ấm.

Buổi chiều là khoảng thời gian tôi hay buồn chảy nước mắt: Tai nghe tiếng bầy chim sáo kêu ríu rít trên tàn lá dừa sau vườn, trong tiếng gió thổi, tiếng chim não nùng; dưới ánh đèn dầu leo lét, tôi ngồi âm thầm soạn bài, âm thầm viết những lá thư đầy thương nhớ và nhỏ những giọt lệ xót xa.

Cuối tháng 3, 1975. Tình hình càng ngày càng biến động, chị Bê và chị Hảo bàn tính chạy giặc, vì các chị ở Sài Gòn nên không mang theo nhiều hành lý. Hai cô phải  lặng lẽ ra đi để tránh những đôi mắt tò mò có thể tạo nên nhiều bất trắc trong chuyến di tản. Gia đình tôi ở Nha Trang ai cũng mong ngóng tôi về.

Ông ngoại tôi mãn phần sau một thời gian bị bệnh vào cuối tháng 3, tôi xin phép ông hiệu trưởng về nhà thọ tang, thế là tôi danh chánh ngôn thuận ra đi. Biết rằng khi ra đi tôi sẽ không bao giờ trở lại.

 

Đám tang ông ngoại xong, tôi về ở lại với gia đình chồng đường Duy Tân, Căn biệt thự có khoảng sân rộng mênh mông, trồng nhiều dừa và mấy cây me khổng lồ. Cô Mai, em chồng tôi rất giỏi leo trèo, cô trèo lên cây me, rung cành cho những trái me chín rơi đầy xuống gốc, bọn trẻ thi nhau lượm cả rổ me đầy.

Trong khu biệt thự này, chúng tôi đã trãi qua một tình yêu nồng nàn và thơ mộng bên cát vàng, sóng xanh; trong bình minh cùng đi tắm biển hoặc hoàng hôn ngồi bên nhau trên bãi cát, uống nước dừa, nghe sóng biển và ngắm nhìn những ánh đèn ngư phủ nhấp nháy bờ xa… và không bao giờ có ý tưởng là sẽ rời bỏ nó.

Nhiệm sở mới của Tuấn là Chiến Hạm HQ14, thế nhưng anh được đưa về lại Nha Trang một thời gian ngắn để tu nghiệp ngành chuyên môn. Tình hình đất nước càng ngày càng nghiêm trọng, anh rất lo lắng, khi tôi về lại được Nha Trang thì anh yên tâm đôi chút nhưng gia đình ba mẹ anh lại được lệnh phải di tản của tòa Lãnh Sự Mỹ để vào Sài Gòn. Anh muốn tôi đem con gái đi theo cha mẹ anh, nhưng tôi và con tôi không có tên trong danh sách nên không được tháp tùng. Sáng hôm sau, khi gửi vợ con lên phi trường, ba anh nói với ông xếp Mỹ là nếu con dâu và cháu nội tôi không đi được thì ông cũng không đi. Ông xếp không muốn ba ở lại nên lật đật làm giấy cho mẹ con tôi đi theo ngày hôm sau.

Tâm trạng tôi lúc ấy như tơ vò, không biết gì nữa cả. Gia đình tôi còn ở lại, ba ruột tôi là một công chức; lúc này ông thường dấu kín cảm nghĩ và thôi không phát biểu nhiều ý kiến nữa, chắc ông đang suy nghĩ nhiều về hiện tình đất nước cũng như sự an toàn cho gia đình và bản thân của mình. Trước khi ra đi một ngày, hai ông nội, ngoại gặp nhau tại nhà ngoại ở Lê Đại Hành, hai ông nói chuyện rất lâu, tôi không biết hai ông đã nói những gì nhưng cuối cùng thấy tôi đến gần, ba tôi nói lớn:” Tuy nó là con tôi nhưng bây giờ đã là dâu của ông, được ông bảo bọc cho mẹ con nó thì tôi rất yên lòng,”

Đó là câu nói cuối cùng của ba tôi mà tôi còn nhớ. Vì khi tôi chào ba để ra đi thì tôi không nghe ông nói câu nào nữa mà chỉ lẵng lặng quay đi.

Đó cũng là lần cuối cùng tôi nhìn thấy ba tôi.

Anh Tuấn bảo : Em phải đưa con theo ba mẹ để anh rảnh tay đối phó với công việc và lo cho gia đình, nếu em ở lại, anh sẽ vướng bận nhiều mà không giúp chi được cho gia đình em cả.

Nghe như vậy, tôi cắn răng bồng con theo Nội. Những ngày cuồng điên trước đó, mỗi lúc chiều về, bầu trời Nha Trang mây như màu lửa, gió mạnh điên cuồng làm rớt những tàn dừa đầy sân. Tôi cũng cuồng điên chạy xe từ Duy Tân qua Lê Đại Hành, chạy qua chạy lại mãi, trái tim đau nhức, lòng dạ ủ ê, mà cho đến bây giờ tôi cũng chưa nhớ ra là tại sao mình làm như vậy!

Vào Sài Gòn, tạm trú tại nhà anh chị Toàn, bạn thân của người em rễ trên đường Phan Thanh Giản. Đại gia đình trải chiếu ngủ ngoài phòng khách. Tôi cũng trôi lơ mơ trong dòng đời mới; ba ngày sau nghe tin Nha Trang mất, tôi cảm thấy như đất trời sụp đổ, ngồi ôm con khóc sưng mặt mũi vì tôi biết rằng tôi đã mất hết tất cả những người tôi rất mực thương yêu. Có một điều an ủi là tôi được anh Hà Tĩnh, thư ký tòa soạn báo Tuổi Hoa ghé đến thăm, anh mang đến cho bé Nai một hộp bánh lớn. Đó là lần đầu và cũng là lần cuối tôi đươc gặp anh.

Sau cuộc vượt thoát rất khó khăn từ Cầu Đá, chồng tôi đưa được anh Thanh ( anh cả) và người bạn là chị Ann lên chiếc thương thuyền quen để về lại Sai Gòn. Thành phố Sài Gòn lúc ấy đã bị ngăn cấm nhập cư nhưng nhờ may mắn, các anh chị được một tài xế xe tải giúp ba người vô được trung tâm thành phố.

Anh Tuấn về bộ tư lệnh Hải Quân trình diện và trở lại nhiệm sở là chiến hạm HQ14, chiếc tàu anh biệt phái ra miền trung, bảo vệ miền duyên hải Phan Rang, Phan Thiết. Sau đó tàu HQ14 và HQ17 được phái ra bảo vệ quần đảo Trường Sa và các quân nhân đang đóng trên đảo. Đến ngày 28 tháng 4, hai chiến hạm được lệnh đón bộ binh về Vũng Tàu. Ngày 30 tháng 4, tàu anh hải hành ra Côn Sơn rồi cùng hạm đội, chở người di tản qua Philippines. Tôi hoàn toàn không biết công việc anh làm hay nghe tin tức của anh từ cuối tháng 3 cho tới ngày gặp lại nhau bất ngờ trong Camp Pendleton.

Ngày 26 tháng 4, 1975  sau khi đợi chờ qua đêm tại Tân Sơn Nhất, gia đình ông bà nội và tôi được lên máy bay. Tôi đi theo mọi người như cái xác không hồn với đứa con thơ trên tay và hai đô la trong túi. Tôi không biết mình sẽ đi đâu, sẽ làm gì nhưng trong tim tôi, tôi biết một điều và luôn luôn nhớ một điều là: Từ nay, tôi phải quên đi tất cả những mất mác đau thương, dù mai sau sống ở nơi nào, tôi phải tự túc, tự cường để dựng xây một tương lai mới cho đứa con bé nhỏ của tôi và Tuấn.

Sau 42 năm sống trên đất Mỹ, anh chị em tôi cũng đã qua sống gần tôi. Các cụ thân sinh bây giờ không còn ai nữa, thế nhưng vào những ngày Giổ , Tết; chúng tôi luôn luôn tìm về bên nhau, gặp nhau để cười, để khóc, để cảm tạ những mối yêu thương và hồng ân nhận lãnh trong đời.

 

Tôn Nữ Thu Nga

San Dimas, California (April 13, 2017)

 

Xuân Quá Khứ

 
Ngủ quên đời mộng tưởng
Hồn ta chim én bay
Vì em là xuân sớm
vừa hôn nhẹ gió mây
Trên đồi hoa quỳ vàng
Em nhìn hoa chớm nở
Ước làm mây lang thang
Qua đồng hoa rực rỡ
Trên đồi hoa quỳ thơm
tình đầu ta bở ngỡ
áo em làn gió xanh
cành non chim rộn rã
một phút ta quên đời
nhánh rong thân phiêu lãng
một phút môi ngậm cười
nhớ xuân nào đã vắng.
Tôn Nữ Thu Nga

Giao Thừa

Vượt qua Đại Tây Dương

tonnuthunga

Buổi sáng, ngồi nhặt lại những mảnh vụn của cơn mơ. Nỗi buồn như còn đó, khuôn mặt người đã khuất, giọng cười nói trẻ thơ, giành chơi những viên sỏi nhỏ, vấn vương một giọng ầu ơ.
Buổi sáng mặt trời đi vắng, trùng dương sóng cũng bạc đầu, thẩn thờ nhìn ta tóc trắng , gương soi một cuộc bể dâu.
Buổi sáng nhớ lại cơn mơ, trái tim dường như khô héo.
Buổi trưa ngồi ngắm trời mây, tan tác theo từng cơn gió, quanh mình biển rộng bao la, dập dồn triệu con sóng vỗ.
Không một bóng chim tăm cá, tại sao ta đến nơi này? Tam giác Bermuda huyền bí, hồn mình đi mất không hay.
Buổi tối bàn chân lướt nhẹ, trên sàn nhảy ngã nghiêng chơi, sóng lấy mất đi một nhịp, cha cha rộn rã tiếng cười.
Đèn màu quay cuồng điên đảo, giúp quên đi một quãng đời. Đêm về vùi đầu trên gối, cố tìm giấc mộng tả tơi.

Tôn Nữ Thu Nga
Atlantic 10/30/16

Ngọc Lan Hương.

tonnuthunga

Dạ Hương thoang thoảng bên song,
Ngọc Lan nở dưới trăng rằm.
Dạ Hương ôm lòng huyệt tối
Ngọc Lan tàn giữa mùa đông.
Chơi vơi trong đời ảo mộng
Tan như một chút bụi hồng.

Ngọc Lan của ngày tháng cũ
Tóc huyền bạt gió ngàn khơi.
Dạ Hương xưa còn ngào ngạt
Cho ta quyến luyến một đời.

Mong manh Ngọc Lan mình hạc
Dạ Hương một cánh xương mai.
Nắm tay đi về sương khói
Tóc bay lồng lộng trên vai.

Tôn Nữ Thu Nga

Tháng 8- ngày con thỏ chết.

tonnuthunga

Tháng tám kéo dài như bất tận,
Ngày qua, ngày tới quá mơ hồ!
Ngọn lá, cành cây không chuyển động,
Chân buồn theo lối nắng ngây ngô.

Tháng tám ngồi nhìn con thỏ chết,
Lòng buồn ray rứt mãi không nguôi
Tháng tám đàn chim không thấy tới,
Chiều hoang chầm chậm phủ quanh đời.

Tháng tám trời hồng, cây bén lửa
Núi đồi khói tím trở thành mây
Có phải quanh ta là địa ngục?
U minh từ chốn thế gian này.

Tháng tám mùa hè trôi uể oải,
Đêm nằm chong mắt ngó trời cao.
Mưa sao băng rơi ngoài vũ trụ
Thầm xin cho mấy trận mưa rào.

Tháng tám, đêm có mưa sao băng.
Buồn ơi, sao cứ giữ trong lòng?

Tôn Nữ Thu Nga
San Dimas

Bueno Aires – Ngồi bên ngọn cây du

tonnuthunga

Buổi sáng, tiếng động cơ cần trục đang xây dựng nhà cửa thức tôi dậy. Nắng đã chan hòa trên thành phố.Thời tiết ở đây gợi nhớ Sài Gòn, một buổi sáng nhiệt đới năm xưa, tôi cũng thức giấc với những tiếng động tương tự lẫn với tiếng còi xe inh ỏi trên con đường Lê Thánh Tôn. Buenos Aires không nhiều xe gắn máy, phần lớn là ô tô và họ chạy thong thả trong các đường phố rợp bóng cây xanh. Không ai bấm còi để phá vỡ sự yên tỉnh của không gian êm đềm cả. Bây giờ đang mùa hạ, nhiệt độ không tệ lắm vào buổi sáng, trời trong xanh lờ lững vài cụm mây trắng mỏng, trôi thật nhanh theo cơn gió hiu hiu. Độ ẩm khá cao nhưng chưa làm tôi đổ những hạt mồ hôi – những hạt mồ hôi hiếm hoi- ngày còn tại Cali, tôi phải tập thể dục cả giờ hoặc đạp xe mấy chục dặm mới có được.
Hôm qua, vừa xuống khỏi máy bay, tôi cũng đã được hưởng cái khí hậu ẩm ướt và oi ả, những cảm giác tôi ít khi nhớ đến. Chổ ngồi mới của tôi trên lan can lầu bốn, căn nhà nho nhỏ tại Palermo, thành phố Bueno Aires, bên ngọn cây du. Cành lá cây du xanh tươi, run nhè nhẹ, xao xác êm êm dưới chân các chú chim sẻ. Nắng vàng lung linh xuyên qua cành cây xanh, tự dưng lòng man mác, thật sự không hiểu được mình đang buồn hay vui.
Thành phố này có rất nhiều cây, trên lề đường, những đốm nắng roi qua cành lá; “vạt nắng bên thềm” nhà nào cũng có, và cũng không ít nam nhân dựa tường phì phèo điếu thuốc, nhìn người đẹp đi nhanh như gió, vui vẻ cười nói líu lo bằng tiếng Tây Ban Nha với nhau. Dù ít hiểu tiếng Anh, họ rất thân thiện và luôn luôn cố gắng đàm thoại với bạn khi được hỏi thăm. Vì thế dù chỉ biết nói lỏm bỏm các danh từ phổ thông, tôi vẫn được nhiều người khen và rất vui vẻ giúp tôi học thêm từ ngữ mới.
Mấy hôm nay hưởng lại khí hậu nóng, trái lại với mấy ngày lạnh lẻo lúc tôi rời Los Angeles. Qua ngày thứ ba trời bổng đổ mưa, sấm chớp đì đùng, gió mưa dữ dằn như những cơn bảo nhiệt đới ngày xưa. Tôi nằm quấn chăn, nghe cây du vẩy vùng gào khóc, nghe tiếng sấm như tiếng đại bác thâu đêm và các tia chớp như hỏa châu bùng cháy. Đêm ấy, giấc ngủ tôi triền miên ác mộng, những lần thức giấc cố nhớ nơi mình đang ở, thế rồi lại thiếp đi trong tiếng mưa rơi. Sáng dậy, nắng lại chan hòa, lá cây du xanh hơn và long lanh những giọt mưa, những chú chim sẻ mập nhảy sột soạt làm rơi những giọt mưa trên đầu bộ hành hoặc lộp bộp trên cánh dù rộng mở. Khí hậu mát hẳn như những ngày hè đã chào tạm biệt vì mùa thu vừa mới đến. Các chuyến mạo hiểm của chúng tôi cũng dể chịu hơn và đường xá cũng sạch sẽ, bớt bụi bậm.
Nơi chúng tôi trú ngụ là căn nhà của Carlo thuở anh còn độc thân. Anh có một bộ ghế bành cũ bằng da, rất êm ái. Lúc rảnh rổi hoặc khi đi chơi rong về, hai đứa tôi duỗi dài trong lòng ghế, uống một ly đá lạnh, lim dim nhìn tượng ông Phúc đứng giữa bàn hoặc mông lung nhìn ra ngoài balcony. Cây du vươn những cành lá xanh, long lanh giọt nắng, thỉnh thoảng giao động dưới những bàn chân của lũ chim sẻ, chuyền cành và líu lo nói chuyện với nhau. Không biết chim có ngôn ngữ không? Chúng nói tiếng Tây Ban Nha như dân địa phương hay vì bay từ chổ này qua chổ nọ nên chúng dùng Esperanto? Theo ý của Carlo thì mọi người ở đây nói tiếng Argentinien.
Carlo rất tự hào và yêu thương quê hương của mình. Anh cũng thích Á Châu vì anh có làm việc bên Tàu và Nhật mấy năm, nhờ thế anh bưng được cô Ngọc Anh về làm vợ và dắt díu nhau về sống tại Bueno Aires.
Ngọc Anh có một studio dạy các môn thể dục, khiêu vũ, múa cột, múa lụa. Mổi lần xem cô biểu diễn, cứ như là đi xem hát xiếc. Có nhiều đêm sau khi đi chơi và ăn tối về, chúng tôi xuống phòng tập học nhảy Tango Argentino. Tôi không được “sáng dạ” lắm trong nghệ thuật khiêu vũ nên không nhớ bước phải, bước trái, bước xéo, bước ngang chi cả, cứ bị thầy bắt tập đi tập lại hoài. Carlo tập cho chúng tôi nghe tiếng nhạc, phải để hết tâm hồn vào tiếng nhạc, và anh bảo rằng: tango là những bước chân không bao giờ dứt ?!?, nếu không có đủ chổ trống trên sàn nhảy, người ta chỉ cần ôm nhau mà nhúc nhích những bước nho nhỏ cũng được. Vì chưa thấm được cái tư tưởng cao siêu đó, tôi chép miệng than thầm: Nếu biết điều này thì thôi tôi ở lại nhà, ôm ông xã mà nhảy “ xì lô mông cổ” cho khỏi phải nhọc công bay ngàn dặm xuống Argentine.
Thế nhưng sau năm ngày chơi, ngủ, tập nhảy đầm tôi cũng vượt qua nỗi thống khổ của người vốn có “hai chân trái”. Carlo và Ngọc Anh an ủi tôi mãi mỗi khi tôi đi những bước sai lầm và hôm cuối cùng thì họ dẫn chúng tôi đi ra phòng trà ca nhạc để tập nhảy. Hôm ấy, chúng tôi phải mặc quần áo đẹp, đến nhà Carlos và Ngọc Anh ăn thịt nướng do chính tay chủ nhân làm, trước khi đi.
Vũ trường rộng, khách đến thật đông, sàn nhảy ở giữa, chung quanh là bàn ghế. Có nhiều người độc thân đến đây mời nhau nhảy. Họ có những ám hiệu thông thường để mời mặc dù ngồi rất xa nhau. Phần đông là khách lớn tuổi, đàn ông ăn mặc đàng hoàng sạch sẽ, các bà thì diêm dúa hơn và ai cũng mang giày gót cao nhọn hoắc. Những đôi giày ấy làm tôi rất sợ, cứ tưởng tượng bị người ta giẫm lên chân, thế nhưng sau buổi nhảy, tôi thoát nạn, không bị ai giẫm nát chân mình cả. Có nhiều lần chúng tôi bị vài mụ già đanh đá la vì cản đường đi của họ. Ngọc Anh bảo đó là mấy mụ du khách, nhảy không rành, không biết tránh kẻ khác; người dân Argentina rất chiêu đãi, nếu thấy mình mới tập nhảy lúc nào họ cũng khuyến khích chứ không sừng sộ như mấy người du khách nọ. Sàn nhảy rất đông người, tôi vừa đi theo nhạc vừa dòm chừng Ngọc Anh và Carlo, không nghe quở trách gì cả mà lại được khuyến khích ra sàn nhảy mãi nên tôi cũng hơi yên chí khi bước những bước tầm bậy tầm bạ. Thường thì ban nhạc chơi năm bản nhạc, khách phải khiêu vũ hết năm bản mới được về lại ghế. Đôi khi thấy quá đông người, chúng tôi chỉ đi vài ba bản rồi bỏ cuộc chạy về bàn ngồi xoa đầu gối. Sau nữa đêm, chúng tôi thuê taxi về nhà, rón rén, nhẹ nhàng về phòng sợ làm ồn láng giềng, ai ngờ láng giềng đang có tiệc khuya, mùi bánh nướng trong lò thơm cả hành lang.
Những ngày Bueno Aires của chúng tôi thật vui, tôi cảm thấy căn hộ độc thân của Carlo từ từ biến thành tổ ấm của mình. Chúng tôi như những con chim sẻ, chọn cây du làm tổ ấm của chúng. Ngồi trên ban công lầu bốn, bên ngọn cây du, tôi nghe đời trôi nhẹ nhàng như đám mây trắng lơ lững trong bầu trời xanh thẳm của Bueno Aires.

Bueno Aires (3/22/2016- 3/29/2016)
Tôn Nữ Thu Nga