BIÊN GIỚI , NƠI NHỮNG CƠN GIÓ NGƯNG LẠI & NHỮNG NGƯỜI ĐÀN BÀ… ( Ký sự)

vukhue

Cái nắng ở đây khá lạ! Không như cái nắng ở những vùng đất tôi qua. Xứ nắng_ Dục Mỹ, Nắng hanh giòn như cái bánh tráng nướng, vỡ vụn trong mồm khô đắng. Nha Trang, nắng chảy nhựa, hăng mùi hắc ín, ngộc hơi gió biển. Sóc trăng_ nắng hâm hấp, mờ ứ hơi nước từ những con xáng chằng chịt . Ở đây nắng vần vụ, lưu cửu. Nắng úa như tàu chuối. Cũng đúng vì qua đến đây , nắng đã ngã qua tấm lưng của người đàn bà, cong người tảo tần, như một hình chữ S.
Công trình rỗi việc, lẽ ra tôi đã về thành phố,nhưng tôi nấn ná ở lại thêm một ngày nữa. Thành phố nhỏ, không bạn bè, quanh đi quanh lại một vòng là hết. Thánh thất Cao đài đã thăm hôm qua!
Tôi cất xe, ra quán nước đầu ngõ:
_ Đây ra biên giới xa không anh?
_ Độ ba chục cây. Mà ra đó làm gì?…. Tay chủ quán người địa phương , giọng nằng nặng miệt ngoài _ Cứ đường cách mạng tháng tám thẳng xuống. Hỏi Hòa Bình người ta chỉ cho.
Đặt ly nước mía lên bàn, gã tiếp:
_ Sao không xuống Mộc Bài vui hơn. Dưới đó có siêu thị bán đồ Miên rẻ lắm. Xuống đi cho biết.
Tôi suýt phì cười trước sự nhanh nhạy của gã, ngẫm nghĩ mình cũng điên….
Nắng đến úa người được. Nắng đổ hột, đổ hòn.
“Tây Ninh nắng cháy da người
Khi đi là Việt, khi về là Miên”
……
Nhưng gì là gì cũng mặc, tôi cứ để dòng tâm tưởng của mình chạy dài trong dòng nhạc của nhạc sĩ Nguyễn văn Đông .“ Chiều mưa Biên giới anh đi về đâu…Sao còn đứng ngóng nơi giang đầu. Kìa rừng chiều âm u rét mướt. Chờ người về trong cơn giá buốt. Người về bơ vơ…” . Cũng mơ mộng một chiều mưa ướt đầm, lướt thướt . Mang hình ảnh kẻ chinh phu đứng nơi đầu rừng, ngọn phá mà tơ tưởng về phố thị…. Thử trãi nghiệm cho một tâm trạng, cảm xúc.Thấy cũng đáng để làm!

Trời bửng sáng . Núi Bà Đen như chiếc nón lá úp chụp với cái chóp nhọn còn náu mình trong lớp sương mù. Với độ cao 986 m, ngọn núi này được xem như ngọn núi cao nhất vùng Đông Nam bộ. Từ phía Đông Nam nhìn lên ,sườn núi khá dốc, một cái hàm ếch ( hyperbol), được vẽ từ 2/3 lưng núi xuống tận chân, rồi kéo dài thoai thoải về hướng Bắc. Phía Tây nam nó dính vào một ngọn núi thấp hơn , mang cái tên : núi Heo. Không rõ trong lịch sử biến động địa chất hình thành vỏ trái đất, những cơn địa chấn nào đó đã ngắt rời phần cuối cùng của dãy Trường Sơn khỏi những anh em của nó và đẩy nó vào một vị thế khá độc lập, xa tít phía nam, ….Đó cũng là một cái lạ của ngọn núi này. Vì nếu đã lên núi bạn có thể phóng tầm mắt đến tận chận trời , để thấy một xa lộ màu xanh của thực vật , mà không gặp bất kỳ một trở ngại nào. Nghe bảo ngày trước vành đai quanh chân núi hoàn toàn là rừng, nhưng hiện tại con đường mới mở , những căn nhà ghạch và những khu rừng cao su vuông vắn, xanh mướt đã xóa xổ hoàn toàn những lời đồn thổi đó và những gì tôi hình dung ngày trước trên Youtube, về những cánh rừng hoang hóa bị dập nát bởi khói lửa chiến tranh, đã không còn chỗ đứng. Thời gian đã qua hơn ½ thế kỷ. Tự nhiên với chu kỳ tái thiết của nó đã khỏa lấp mọi thứ. Không còn gì chờ đợi thậm chí những vết sẹo. Những rẫy mía, vườn mãng cầu, vuông khoai mì vào vụ, xanh um… Phần lớn dân cư tôi gặp trẻ và không nhiều người gốc bản địa.
Đường Cách mạng tháng tám dẫn dài về phía Tây, đến tận ngõ vào của thị trấn Châu Thành.
Trên con đường tôi qua, tại giáo xứ Phong Cốc một ngôi nhà thờ trang nhã được xây từ năm 1955, mới được sơn lại. Những thánh đường ở Tây Ninh dều có một màu sơn hồng nhạt, có thể để dịu mắt trong cái nắng chát chúa. Trong lúc ghé cái quán bên đường ăn tô mì lót dạ, tôi bắt gặp mấy giọng Bắc “ rặc”, chưa “ ngã màu” của một cộng đồng. “_ Ủa vậy anh gốc năm tư hay bảy lăm?” Tôi hỏi người chủ quán.
_ Tui dân năm tư, gốc Nam Định.
_ Vậy anh lên đây hồi nào, sao cái giọng nặng dzậy?
Tay chủ quán cười vui vẻ: _ “ Dân ở đây toàn nói như thế. Ông có muốn tôi nói tiếng Nam , tôi nói cho!” Anh nửa đùa, nửa thiệt. Phân vân nhưng tôi không muốn hỏi thêm…
Đường DT 781 dẫn ra Biên Giới , bắt đầu từ cái ngã tư đường vào Châu Thành và rẽ trái. Đường tỉnh lộ, loại cấp phối, rãi nhựa cơ bản, chiếc Honda nảy lên sau những cú xóc. Những dãy nhà hai bên đường xô lệch suy nghĩ về sự giàu nghèo. Môt sự nhấp nhô đáng kể, nhưng hậu cảnh phía sau, có thể đã dung hòa điều này bằng sự trù mật của những đồng lúa đang mùa chín tới, nơi mà màu vàng ruộm trãi đến chân trời của nó có thể lấn át cái nắng chói chang của nền trời. Việc đó làm thị giác dễ chịu hơn và không còn cái căng thẳng vẫn có trên phố…. Và thật may mắn luôn chạy song song với con đường chưa biết điểm đến là những cánh đồng lúa vàng đã đến mùa gặt hái.
Cầu Bến Sỏi, lí trình Km 36 + 900 băt ngang con sông có chiều ngang thật khiêm tốn , khoảng hai trăm thước. Sông Vàm Cỏ Đông . Chắc hiếm ai là không biết tên của dòng sông này. Nó thực quá tiếng tăm. Bắt đầu từ con sông Prek Kampong Spean phía Campuchia , chảy vào Việt nam , với thủy trình gần hai trăm kilomet, sau khi kết hợp với sông Vàm cỏ Tây để tạo nên sông Xoài Rệp và đi ra biển đông. Con sông gắn liền với những chiến thắng Rạch Gầm- Xoài Mút của Vua Quang Trung đánh tan hai vạn quân Xiêm, người anh hùng _ Nguyễn Trung Trực , với chiến công đốt cháy chiến thuyền L’Esperance ( Hy vọng) trên dòng Nhật Tảo và câu hát mộc mạc “ Vàm Cỏ đông, ơi hởi dòng sông. Nước xanh biêng biếc chảy mãi không ngừng. ……” .Nhưng trước mắt tôi Vàm Cỏ Đông không xanh, không trong, mang những đặc trưng của những dòng sông Nam bộ, đục lờ màu phù sa và lưu lượng của dòng chảy không cao. Những giề lục bình xanh um kết thành từng mảng từ bờ ra đến giữa dòng, kéo cả dòng nước chậm lại. Khung cảnh hai bên bờ sông khá trống trãi, làm chỗ trú chân của đám bình bát hoang lúp xúp. Mé dưới chân cầu có dăm cái chòi chăn vịt , mấy cái đó đánh cá của những người dân địa phương. Đàn vịt lội lốm đốm giữa sông. Đứng trên cầu trông ra phía hạ lưu, dòng sông như trôi lưng lửng giữa đồng lúa chín vàng, cũng thật khó phân biệt một ranh giới tự nhiên. Với cái tên cũng khá mỹ miều từ thời chúa Nguyễn như sông Khê Lăng, sông Cái Cay ( Suối tóc)…chừng như không còn trong ký ức con người và sự thật , con sông cũng không còn một nét gì để thể hiện những điều nó đã mang.
Bỗng dưng tôi lại nghĩ về những con sông. Những con sông luôn có dáng mềm mại của những người phụ nữ. Nhưng những con sông miền Trung càng kín đáo và yêu kiều chừng nào thì những con sông miền Nam lại mộc mạc, tội tình chừng ấy. Trong khi những con sông miền Trung biết làm đẹp mình bằng những bụi tre cộ xanh um , hoặc những hàng dừa ngã mình soi bóng trên mặt nước trong veo, có thể nhìn thấu tận đáy, thì những con sông Nam bộ lại oằn nặng màu phù sa đục lờ, như người đàn bà lam lũ, quanh năm suốt tháng không nhận diện được khuôn mặt mình hoặc chỉ qua tấm gương vỡ nham nhở của đám bần, bụi dừa nước….Nói ra điều này, bạn mới thấy thương những con sông miền Nam biết chừng nào…thương hết mình!
Như mọi con sông những sản vật mà nó cống hiến cho con người mới thực sự quan trọng. Một chợ cá nho nhỏ ở đầu cầu lôi kéo tôi vào đó. Cũng khó hình dung sự da dạng và khối lượng tôm cá mà con sông này cung cấp cho dân địa phương. Mấy giỏ cần xé đủ các loài cá nước ngọt như cá mè, cá chẽm, cá chạch, cá lóc….bên kia là một mớ bông súng, bông lục bình, rau nhút còn nguyên cọng. Một cái lồng to tướng và những con chuột đồng bằng bắp tay , đang lao nhao….Tôi hỏi một người đàn bà khoảng trung niên, đang rãnh tay, vừa mời chào. _ “ Buôn bán được không chị?”
_ “ Cũng qua ngày anh à!”
…Ngần ngừ một lúc như thăm dò, tôi hỏi tiếp:”_ Vậy năm bảy chín, lính Pốt nó có tràn tới đây không chị?”
Chị như ngẩn ra_ “ Hồi đó còn nhỏ, theo cha mẹ chạy lên Tây Ninh. Cũng không nhớ nữa….”
…. Qua cầu, tôi có thấy tấm bảng đề ba thứ tiếng Việt, Cam và Anh “ Khu vực biên giới”. Đã bước vào vùng đệm…

Tôi không bỏ được thói quen luôn dừng xe, đứng trước một cái chợ, nhất là chợ miền quê, để ngắm nhìn cảnh sinh hoạt thường ngày của những người đàn bà , trong một hoạt động gần như lặp đi, lặp lại …ngày này qua tháng khác ;chỉ để kiếm tìm một cái gì rất riêng tư, như một tác phẩm nghệ thuật đang định hình nhưng chưa bao giờ đi đến sự hoàn thiện, đòi hỏi khá nhiều những chi tiết từ cuộc sống thực.
Chợ Hòa Bình. Một phiên chợ nhỏ sát biên giới . Chợ tập trung gần một thánh thất Cao Đài . Cũng một phiên bản từ Thánh thất chính ở Tây Ninh sao ra. Một dạng kiến trúc tôn giáo khá độc đáo, lấy hình hộp làm form chủ đạo, gần giống chùa cổ Thái kết hợp với gô tich công giáo, có không gian cao , phần chóp mái cũng có các linh vật trang trí như rồng, lân… Luôn có hai tĩnh tháp đối xứng. Những họa tiết khá sặc sỡ, trong những gam màu chính vàng ,đỏ, trắng và xanh ve. Hàng thốt nốt cao nghệu bám đầy bụi….Chợ chạy ven bên đường. Nhỏ và cũng đỏ quạch bụi. Ngoài những thứ hàng hóa thường thấy trên thành phố, không có gì đặc biệt. Đặc sản chỉ có đường thốt nốt, thốt nốt tươi. Ngoài ra, còn có một số hải sản nước ngọt. Cá biển muối đá đã vài hôm, da nhúm lại . Tròng mắt đã chuyển sang màu đục. Muối tôm đem từ Tây Ninh xuống, đóng lọ. Rau rá địa phương. ….Những người đàn bà ở đây nói được cả hai thứ tiếng Việt lẫn Khmer. Những tiếng chào hàng lơ lớ, chẳng nghe được gì….
Tôi dừng lại trước đống thốt nốt. Những trái thốt nốt màu tím đen như màu trái măng cụt dưới xuôi, nhưng to bằng sọ trái dừa xiêm. Cô gái với chiếc khăn rằn trùm đầu, đang loay hoay bóc vỏ. Bàn tay thật khéo léo tách lớp xơ bên ngoài với con dao bản bằng thép nặng trịch. Chỉ cần vài động tác, hạt thốt nốt trắng muốt bằng ngón chân cái đã lộ ra ngoài. Một cái thau to vun ngọn, nằm sát bên cạnh.
_ Bon chần tin sa ây? ( Anh muốn mua gì không?)
_ Tê! ( Không) Tôi chọc và nhận được hàm răng trắng lóe từ nụ cười, sau cái khăn rằn che gần kín khuôn mặt. _ Việt hay Kam? Tôi hỏi lại bằng tiếng Việt.
_ Việt!…. Em lại cười. Bàn tay nhỏ nhắn, tím đen bị ăn lậm bởi mủ thốt nốt, đưa lên che miệng. Đôi mắt lay láy. Tôi muốn hỏi thêm một câu gì đó, nhưng không hiểu sao lại lặng thinh.
Đôi tay thâm nhịt bởi mủ thốt nốt ở cái chợ đường biên ám ảnh một quãng đường dài…..

Xã Thành Long, huyện Châu Thành kéo dài đến tận đường ranh biên giới. Màu xanh tươi của những đám rừng cao su hay những nương ớt với những vạt đỏ cháy lẫn giữa tàn lá xanh đậm , đã bị bỏ lại. Càng gần về phía đường biên, đất dường như cỗi cằn hơn .Có thể do cao độ và quá xa, nên nước của con sông Vàm Cỏ đã không vươn được tới đây, tưới sũng cho cơn khát vô vọng của đám thực vật. Sự bỏ hoang kéo dài bên đường với những bụi tre gai lùm xùm, những đám ruộng xơ xác, mấy vuông mì còi cọc. Đám mía mới nhú tàu xanh, chống chọi không nhượng bộ với cái nắng. Một màu xanh không đủ phủ cho nền đất. Đất chòi ra dưới nắng, bạc phếch, nghèo dinh dưỡng. Những ngôi nhà thưa thớt dần. Đám trâu bò thường thấy trong những khung ảnh thôn quê cũng dường như vắng bóng.
Nắng và cái nóng. Cái nắng hâm hấp, khó chịu. Cái nóng như cầm cố vạn vật trong sự áp đặt một chiều không có sự luân chuyển. Ngay cả sự bốc hơi cũng trở nên bị tù hãm. Dưới cái nắng mọi sinh vật bị nấu chín ngay trong cái nồi là lớp da bao bọc cơ thể mình, mồ hôi sôi lấm tấm dưới lớp da trần và không thoát ra được. Không khí quẫn lại, nghẹt thở. Những lớp mây trắng chen đầy chân trời, nhưng tuyệt nhiên lại không có một ngọn gió. Nơi đây, những cơn gió tiêu hao sinh lực của mình qua mọi miền đất Việt, đã kiệt sức, dừng lại….
Tội …Người!
Người, dưới cái nắng hanh hao. Người , trên con đường vắng, miền biên giới, nhọc nhoài quay về sau một ngày mưu sinh nơi miền đất khách. Người với chiếc xe đạp treo lỉnh kỉnh đủ thứ đồ dồng nát.. Người . đôi bàn chân đen đúa. Chiếc dép Lào, bám dầy hai thứ bụi, đất xứ người và đất quê mẹ….
_ Ủa mới bên đó về hả chị?
_ Ừ ! Người đàn bà có vẻ kiệm lời.
_ Bữa nay mua được nhiều không chị?
_ Đâu có mua anh. Qua đó xin người ta về bán thôi.
Tôi liếc nhìn cái sọt sắt sau baga, lưng lửng những lon bia Heineken màu xanh.
_ Vậy một ngày thu nhập được khoảng bao nhiêu chị?
_ Độ năm bảy chục… có ngày được trăm. Cũng tùy bữa….
_ Mà ảnh đâu, sao không làm giúp chị?
_ Ổng làm phụ hồ. … Mà ai làm nấy ăn thôi!
m thanh ken két của cái giò đạp theo vòng quay, nghiến vào không gian buổi trưa.
_ Nhà chị gần đây không?
_ Gần dưới Hòa Bình. Mà anh nhà báo hả?…Thấy đeo máy chụp hình.
_ Không! Tui dưới Sài Gòn, lên chơi thôi!…Chào chị nghe!
_ Chào anh!
Chiếc xe đạp lại nghiến ken két trên con đường. Nắng vẫn hanh hao. Thỉnh thoảng những cái ổ gà lại tung những âm thanh loảng xoảng từ chiếc giỏ sắt phía sau baga. Vạt lưng áo màu cháo lòng loang lổ một mảng mồ hôi bết sẫm. Một chiếc xe tải chạy ngang qua hất lên đám bụi đỏ ….Tôi đứng ngó theo bóng người đàn bà bán ve chai với chiếc xe đạp cũ kỹ. Sao vẫn mong một cơn gió đâu đó lạc loài tràn về, gợn trên da người, gột lên phận người…Ở nơi những người đàn bà không biết được một ngọn gió mát lành thế nào từ quê hương!

Có thể cái hình ảnh đặc trưng của vùng đất này, là hình ảnh của cây thốt nốt. Thực ra, không phải đây là nơi duy nhất nó mọc. Tôi đã từng gặp nó ở Bình Dương, Thủ Đức…cũng cao nghệu, lùm xùm chen vai với những loài cây khác. Cũng ra hoa, kết trái bình thường. Nhưng có lẽ chính trên quê hương của nó, nó mới mang vẻ đẹp riêng tư , nổi bật mà các loài cây khác không thể so sánh được. Tính mỹ học có thể được sàng lọc qua đặc điểm thân cây cao, thẳng; tàn lá , quày trái đậu hết phía trên và tạo khoảng trống cho không gian phía dưới. Với phối cảnh đồng ruộng nơi đây, nó tạo được những điểm nhấn hết sức thôn dã và đặc thù , dù được đặt ở một vị trí trọng tâm hay chỉ là phần nền trong một bức tranh. Sự hiện diện của nó như một sự cộng sinh không thể thiếu về mặt nghệ thuật và chắc cũng là sự liên tưởng đầu tiên, nếu có ai đó nhắc đến miệt đồng bằng Tây Nam bộ.
Hạt thốt nốt mềm, không có vị ngọt gắt, cắn ngập răng. Những hạt già , cùi hơi cứng, giống ruột dừa. Tôi nhai một lúc liền khoảng chục hột. Cơn khát đã đỡ và cái bụng trở nên lưng lửng.
Người lính biên phòng với khuôn mặt sạm đen, khoác khẩu AK đứng chắn ngang tôi với cái barie.
_ Ở đây không được chụp ảnh. Anh thấy cái biển ngoài kia không?
Tôi quên mất mình còn đeo máy hình.
_ Xin lỗi nghe! Tui mới ở thành phố lên chơi nên không biết. Tôi phân trần.
_ Anh không biết thì thôi. Ngưng một lát, anh nói thêm_ Đây hết địa phận Việt Nam rồi, anh quay lại đi!
Thoáng thấy mấy người dân bên kia qua lại có vẻ tự do, tôi hỏi thêm:
_ Vậy tôi qua bên kia tham quan tí được không anh?
_ Không được anh à! Anh qua đó lỡ có chuyện gì bên đó thì ai chịu trách nhiệm. Dân địa phương ở đây rành đường đi , nước bước. Họ qua lại làm ăn. Anh dân lạ, ngôn ngữ không thạo. Lỡ đi lạc…Không được đâu anh!
Thấy có vẻ không xong, tôi đành dẹp cái dự định qua phía bên Kam, chào anh lính, rồi quay ngược lại.
Đồng hồ đã chỉ bốn giờ. Nắng dịu xuống nhưng cái nóng vẫn chưa chịu buông tha. Mặt trời chuyển sang đỏ ửng , hạ xuống thấp dần, giờ ở phía sau lưng. Cái barie cùng cái dáng đi qua đi lại của anh lính biên phòng, trong gương chiếu hậu, loáng thoáng xa dần. Trên cái sân đất của ngôi nhà gần đó, mấy đứa nhỏ cỡ chín, mười tuổi đang chơi trò đuổi bắt. Những tiếng cười vô tư cất lên… Một đứa bé hơn khoảng hai, ba tuổi đang bước lẫm chẫm. Chừng như những bước đầu tiên không cần mẹ của nó thì phải. Hai bàn chân như níu vào đất….Đất bạc _ nghèo dưỡng chất và thẫm màu.

“ Đoàn quân vội đi…Đi về Biên giới, cũng từ Biên giới về…. những bầy trẻ nhỏ. Đoàn quân lặng im, nhìn đàn em bé. Từng đôi mắt đen xoe tròn, từng đôi mắt mang hình viên đạn, từng đôi mắt sáng lên, cháy lên như ngàn viên đạn. ….” Tôi tưởng lại nghe âm vọng một bài ca của những người lính quân tình nguyện năm nào, khi đứng trước tấm biển xi măng ngã nghiêng, đầy bụi đất bên đường. Những dòng chữ không được chỉn chiu cho lắm được khắc và quét lên bằng sơn vàng, với hai ngôn ngữ Việt Anh _ VÀNH ĐAI BIÊN GIỚI/ BORDER BELT. Xét về hình dạng bên ngoài, nó có vẻ như một nhân chứng lịch sử cuối cùng, mà mảnh đất này còn giữ lại, khi tất cả đã như hoàn toàn bị khuất lấp bởi cuộc sống thường nhật của con người và thảm thực vật đã tìm được chỗ đứng trong sự tái lập. Tôi đứng nhìn quanh và cũng không thể nào hình dung nổi trên con đường này cảnh dòng người chạy loạn, những người lính áo xanh hối hả ngược chiều và góc trời vần vụ những đụn khói của bom đạn….Trong bóng chiều, nơi đây chỉ còn thanh âm thực của hòa bình, tiếng cót két của mấy chiếc xe thồ, tiếng gọi vọng của bà mẹ nào đó gọi con, tiếng kêu bầy của một đàn cò từ phía Việt sau một ngày kiếm ăn hướng về đất Kam…Đôi mắt hồn nhiên của hai đứa bé tha thẩn chở đám dọc mía về cho bò. Giọng nói riu ríu đặc trưng….Quá khứ như đã lùi quá xa!
Con gái Khmer sở hữu một đôi mắt đẹp. to và buồn . Những đôi mắt lạ có màu tím than của trái thốt nốt…
Em nhìn tôi như cầu cứu vì cái xe đạp đang chở một bao phân to tướng, bị trật xích. Em đội chiếc mũ vải rộng vành. Chiếc áo khoác bên ngoài sờn rách. Đôi mắt em cứ đau đáu về phía con đường dẫn về biên giới, vẻ nóng ruột, trong khi tôi cố gắng giúp em, lắp cái xích xe. Trầy trật mãi việc cũng xong, tôi đứng dậy, kiếm cái gì đó lau bàn tay dính mỡ. Đang tìm quanh, em nhanh nhẩu rút túi chiếc khăn tay trắng muốt ra đưa. Thấy cũng phí, nên tôi xua tay, bôi đại vào bao phân buộc sau baga. Việc ấy khiến em cười xòa, thật vô tư… “_ Okun…” ( Cám ơn)!
“ Xomlia” ..( Tạm biệt). Em chào rồi hối hả đạp xe đi…. hướng về đường biên…nơi có cái barie…phía mặt trời đã xuống thấp đến nỗi trở thành một cái vành đỏ ối…nơi đường cong của những cây thốt nốt đổ xuống…. nơi đàn cò mỗi buổi chiều trong một tiếng gọi huyền bí nào đó, biết quay đầu tìm về …nơi có mảnh đất máu mủ, quen thuộc với em, dẫu sỏi đá, bạc màu ….cũng như tôi, em gọi bằng cái tên thân thương _ “Đất mẹ!” .
…” Xomlia’ em! “Xom lia” đôi mắt màu tím than của những trái thốt nốt. Có lẽ đường về còn xa. Tôi đứng nhìn theo cái bóng nhỏ bé ấy , khuất hẳn phía cuối con đường . Lòng cầu mong em đến nhà bình an, trước lúc trời trở tối!

Trên đường về , tôi có dừng lại trên cầu Bến Sỏi, trông xuống con sông Vàm cỏ Đông. Trong bóng hoàng hôn đã sậm nét, nhìn về phía hạ lưu , hình hài con sông dường như hòa lẫn trong sự mông muội của không gian. Chỉ thấy những vệt lờ mờ của mấy tàn cây thẫm màu của cánh rừng cao su. Chiếc xuồng ba lá ai đó , khỏa vội trên mặt nước, cho kịp đến nhà….Nước sông đang lên, đẩy những bè lục bình lúc sáng xuôi dòng, nay ngược về nơi chốn cũ. Với ánh sáng còn sót lại ít ỏi, những cánh hoa tím mỏng manh nhìn cứ như rưng rưng…Mấy ngôi nhà ven sông đã lên đèn. Bóng ai đó qua lại loáng thoáng.
Những tưởng sẽ tìm lại được những hình ảnh , thâm nhập được vào tâm trạng người nhạc sĩ của một nhạc phẩm nổi tiếng vào một buổi chiều mưa, nơi miền Biên giới này…nhưng hoàn toàn không. Chuyến đi lại đem đến cho tôi những cái nhìn khác hơn từ khung ảnh thực của một vùng đất khuất xa xôi. Thời gian qua đã lâu, sự đổi thay khá nhiều và chắc chắn một điều, không ai bẻ cong được những biến chuyển của tạo vật lẫn con người theo những quy luật được mặc định của tự nhiên.
Nhưng tôi cũng không cảm thấy thất vọng. Trên con đường nhựa chạy về Tây Ninh, tôi cứ nhẩn đi, nhẩn lại hoài mấy câu cuối của bài “ Chiều mưa Biên giới”.
“… Lòng trần còn tơ vương khánh tướng
Thì đường trần mưa bay, gió cuốn
Còn nhiều anh ơi! “…
Không biết có phải thế không?

VŨ KHUÊ Biên giới, mùa không mưa 03/2015

Nha trang, 24/06/2016

Năm Giờ Sáng Los Angeles

tranvanle

Năm giờ sáng thức dậy
mở cửa nhìn ra trời,
trời tối đen như mực,
lắc rắc giọt mưa rơi…

Bến xe bus có người
cầm cái ô đứng đợi.
Chiếc xe bus chạy tới,
ngừng và lại chạy đi…

Việt Nam cũng chạy đi
khi trùng dương mở lối.
Nhớ hoài một buổi tối
khi sao rơi ngoài khơi…

Chiếc xe bus chạy rồi,
cái băng đá lạnh ngắt,
tôi nghĩ và tin chắc
có ai rờ tay lên…

Người con gái để quên
một đằng sau trống vắng.
Xốc trên vai gánh nặng,
người con gái…Việt Nam!

Em phải đi kiếm cơm.
Tôi, lát nữa cũng vậy.
Mặt trời lên đốt cháy
những giọt mưa, mồ hôi…

Một Việt Nam xa xôi
có bồi hồi không nhỉ?
Có nghẹn ngào giọt lệ
thương những người đi xa…

Chiếc xe bus đi qua,
qua đại dương hy vọng.
Năm giờ sáng nhòe bóng
cái bóng vầng trăng khuya…

Cái bóng trên đường về
bao giờ thì rực rỡ,
bao giờ muôn hoa nở,
một cành cầm rưng rưng?

Trần Vấn Lệ

NHỮNG CỖ QUAN TÀI CỦA TĨNH TÂM

download

Dương Như Nguyện

Tên thật Dương Như Nguyện, bút hiệu Uyên Nicole Dương, Nhung-Uyen, sinh tại Hội An Quảng Nam. Lớn lên ở Huế và Saigon.
Tháng ba năm 1975 được giải danh dự Văn chương Phụ Nữ Hai Bà Trưng của Việt Nam Cộng Hòa.
Hiện định cư tại Hoa Kỳ. tốt nghiệp cử nhân báo chí tại đại học Southern Illinois, tiến sĩ Luật tại đại học Houston, và thạc sĩ Luật tại đại học Harvard ( Harvard Law Shool, Cambridge, MA). Năm 1992, được Luật Sư Ðoàn Nước Mỹ (ABA) tuyên dương như Là nữ thẩm phán đầu tiên thuộc người thiểu số tại Hoa Kỳ, cùng với những người nữ thiểu số tiên phong khác trong ngành Luật (Từng làm việc tai Houston, Texas). Ðọc, nói và viết hai ngoại ngữ: Anh và Pháp. Viết văn và làm thơ sử dụng hai ngôn ngữ: Việt và Anh , bài đăng trên các báo Sóng Văn, Văn, Văn Học,Wordbridge, điện báo The Writers Post, Pacific Rim Law & Policy Journal, University of Pennsylvania Journal of International Economic Law, Currents, Texas Transnational Quarterly. Truyện ngắn Anh ngữ “The young woman who praticed singing” đăng trên Sóng Văn (1988, bút hiệu Nhu Nguyen Nicole) được 2 giải thưởng, một trong hai giải này là giải Stuart Miller Writing của Luật sư đoàn Hoa Thịnh Ðốn (District of Columbia Bar Association) (1988). Truyện ngắn Anh ngữ “The Ghost of HaTay,” được đề cử cho Giải Columbine, tại Moondance Fim Festival 2001.

Tác phẩm đã xuất bản:

Mùi Hương Quế (truyện ngắn, Văn Nghệ, 1999)
Chín Chữ Của Nàng (Văn Mới, 2005)
Daughters of the River Huong, (tieu thuyet, viết bằng Anh ngữ, RavensYard Publishing, Ltd., 2005).
Con Gái Sông Hương (2005)

Đau đớn thay phận đàn bà…..
Nguyễn Du

Người đàn bà đẹp đầu tiên tôi gặp trong đời là bà ngoại tôi. Khi tôi có trí khôn thì bà ngoại tôi đã ngoài sáu mươi tuổi. Ở tuổi đó, người bà vẫn thẳng, tóc dài gần chấm đất, tuy đã muối tiêu nhưng vẫn còn óng ả, lướt thướt. Bà có chiếc mũi dọc dừa, gò má cao, cặp môi mỏng và cong, rất hiếm thấy trên những khuôn mặt phụ nữ thuần túy Việt Nam.
Bà ngoại tôi pháp danh là Tĩnh Tâm. Tên thật của bà là Hương Quế. Xứ Huế đã đặt cho đàn bà những cái tên đẹp lạ lùng: Dạ Khê, Tiểu Bích, Tú Thiềm, Phiến Tuyết, vân vân.

Mọi người chung quanh cho rằng bà ngoại tôi là một người đàn bà khó tính, khắc nghiệt và lạnh lẽo Bà có một chứng bệnh không bác sĩ nào chữa được. Đó là bệnh nóng cổ. Cổ bà nóng và rát, làm bà ray rứt, khó chịu, ăn ngủ không được, người đâm bẳn gắt. Bà ngoại tôi rất chiều con cháu, nhưng hay la mắng, rầy rà gia nhân. Mẹ tôi là con độc nhất của bà. Gả mẹ tôi cho ba tôi là người Bắc, bà ngoại tôi luôn luôn mang nỗi buồn phải xa đứa con một.

Tôi chưa hề thấy bà ngoại tôi khắc nghiệt hay lạnh lẽo. Bà ngoại thích coi cải lương, say mê. Nhiều khi xúc động, khóc sụt sùi . Con người tình cảm ấy không thể nào khắc nghiệt hay lạnh lẽo. Khi bà la mắng người làm, giọng bà như độc thoại, buồn như một điệp khúc than thở, không hề có tính cách đay nghiến của một người chủ thiếu lòng nhân. Lúc về già, người độc nhất mà bà cằn nhằn là ông ngoại tôi. Nhiều khi không duyên cớ. Ông ngoại tôi người nhỏ bé, tính vui vẻ, hồn nhiên. Bà con gọi đùa là Lão Ngoan Đồng như trong truyện kiếm hiệp. Khi bà ngoại tôi càu nhàu, ông ngoại tôi chỉ phớt tỉnh, ngồi đọc báo.

Mẹ tôi kể cho tôi nghe cuộc đời bà ngoại . Bà chỉ có một người chị gái. Hai chị em con quan xứ Huế, gia đình phong lưu trưởng giả. Người chị gái, bà Ấm, lấy chồng đông con nên vất vả. Bà ngoại tôi lấy ông ngoại tôi là con quan, được đủ miếng ăn thì lại phải chịu những đau đớn khác.

Ngoài cảnh làm dâu trong chế độ gia đình phong kiến, bà ngoại tôi là một người mẹ xấu số. Đẻ ba con trai đều chết cả ba. Mẹ tôi thì èo uột, hay đau ốm. Bà ngoại phải đem cho chùa, đổi tên, cho thần thánh khỏi bắt đi. Vì không có con trai, bà phải cưới vợ hầu cho ông ngoại rất nhiều lần. Mẹ tôi kể có lần bà phải nằm giường sát phòng hợp cẩn của ông ngoại và người hầu trẻ. Ông ngoại tôi là một thứ “ông phán” phong nhã, hào hoa, có không biết bao nhiêu vợ hầu vợ lẽ. Không có con trai, bà ngoại tôi phải nuôi con nuôi, hoặc con trai của những người vợ hầu. Những người con trai này lớn lên (trừ người con út) đều phụ công nuôi dưỡng của bà ngoại tôi mà đi.

Thuở nhỏ tôi không hiểu được lòng ưu uất của người vợ lớn là bà ngoại tôi, cũng như nỗi cô đơn của bà. Ở tuổi thơ ấu, tôi không hiểu được căn bệnh nóng cổ của bà. Mẹ tôi bảo bà tưởng tượng ra bệnh. Tôi thì cho rằng bà nóng cổ vì hay hút thuốc Cẩm Lệ.

Tôi lớn lên trong lòng thương và tình quyến luyến của bà ngoại. Có lẽ tôi đã lây tính đa sầu, đa cảm, hay khóc thương phận người của bà. Tuy trí óc non nớt, tôi cũng biết bà ngoại là người hay phiền muộn. Bà thích tôi ngồi coi cải lương với bà, một điều mà bố tôi cấm đoán. Tôi tự cho mình là người bạn nhỏ của bà. Tôi tự nguyện lớn lên sẽ làm cô giáo, mua nhà ở Huế cho bà ngoại ở.

Tôi nhớ mãi có lần tôi bắt gặp bà ngoại tôi nhỏ lệ, không phải vì tuồng cải lương hay vì giận ông ngoại nước mắt bà thấm ướt mái tóc dài. Tay bà run rẩỵ Bà kể cho tôi nghe về một hình ảnh mà lâu lâu bà vẫn thấy trong một giấc mộng đã ám ảnh bà cả đời. Bà dặn dò tôi đừng kể cho ai nghe, kể cả mẹ tôi.

Trong giấc mộng ấy, bà ngoại tôi, người đàn bà đẹp xứ Huế mang tên Tĩnh Tâm, ngồi một mình bên một dòng sông tĩnh lặng. Có thể là dòng Hương Giang, có thể là con sông Bến Ngự, hoặc có thể là khúc sông chảy qua làng Cồn. Trên dòng sông, có những cỗ quan tài trôi từ từ, lặng lẽ.
Người đàn bà ngồi đợi để vớt những cỗ quan tài.

Giấc mộng chỉ đến đó thôi rồi bà ngoại tôi tỉnh dậy.
Bàn tay nhỏ bé của đứa cháu gái là tôi lau nước mắt cho bà ngoại tuổi ngoài sáu mươi. Tôi không thấy sợ, chỉ thương bà ngoại tôi nằm thấy ác mộng. Cơn ác mộng lặng lẽ và im lìm, không tiếng động.
Càng lớn, tôi càng nhớ mãi về giấc mộng của bà ngoại tôi. Có lần tôi hỏi, “Ngoại có biết trong quan tài có gì không?” Bà lắc đầu, không nói. Cái lắc đầu của bà có nghĩa gì tôi không rõ. Bà không biết trong quan tài có gì, xác của người thân, xác của người lạ? Hay là bà lắc đầu vì không muốn trả lời câu tôi hỏi.

Tôi vẫn thắc mắc mãi tại sao bà ngoại tôi nằm mộng thấy quan tài? Tại sao bà mang nhiều phiền muộn? Bà tương đối là được sung sướng vật chất và đời sống được bảo đảm. Trong khi cả nước khổ cực theo chiến tranh, theo nạn đói năm Ất Dậu, theo cuộc kháng chiến chống Pháp và những ngổn ngang của lịch sử thì bà ngoại tôi vẫn may mắn làm người thiếu phụ quý phái đất thần kinh.

Năm mười lăm tuổi, tôi đủ thông minh để phỏng đoán là những cỗ quan tài trong giấc mộng tượng trưng cho những cái chết của ba người con trai bà. Không có con trai là thảm kịch của cuộc đời bà ngoại tôi. Có thể những cỗ quan tài ấy tượng trưng cho nỗi đau khổ của bà khi phải chứng kiến những cái chết của những đứa con trai nhỏ vì bệnh sài kinh. Chung là sự hủy diệt sức sống và lẽ an vui của đời bà. Không có con trai, bà sớm mất tư thế trong gia đình. Nghe chuyện, tôi cảm thấy bất mãn cái vô lý, vô nhân của một xã hội chuyên chế đã gây nên sự đau buồn cho bà ngoại. Đồng thời, giấc mộng của bà làm tôi suy nghĩ đến cuộc đời của những phụ nữ Việt Nam khác trong dòng họ tôi.

Trái với bà ngoại tôi, bà nội tôi không có một cái tên quý phái. Bà nội tôi là con một ông cụ đồ hay chữ. Bà thấp lùn, mặt tròn trịa, phúc hậu, tính tình đơn giản, nhu mì, không bao giờ bẳn gắt. Lấy ông nội tôi là người chủ ruộng, bà nội tôi phải làm việc vất vả, quán xuyến việc đồng áng, nhà cửa. Rồi hai ông bà bỏ hết của cải, ruộng vườn di cư vào miền Nam. Lúc mới vào Sài Gòn, bà tôi phải đi gánh nước thuê, hằng ngày phải dậy từ ba giờ sáng đi bán xôi rong để nuôi gia đình cho đến khi bố tôi được bổ đi dạy. Bố tôi bảo bà nội lùn xủn vì suốt đời phải gồng gánh bưng xách. Những gồng gánh bưng xách đã hủy diệt sức lớn trong xương cốt của bà từ thuở còn là thiếu nữ.
Càng về già, bà nội tôi càng say sưa kể lể những chuyện quá khứ ở miền Bắc Việt Nam. Bà là nạn nhân của tục tảo hôn. Bà bị gả cho một cậu bé trai lên bảy. Buồn tủi, bà trốn bền nhà cha mẹ . Rồi sau, bà lấy ông nội tôi là con nhà địa chủ. Bà phải làm dâu, cũng phải để ông nội tôi lấy vợ bé, và phải tảo tần sương gió. Sinh đẻ cả hơn mười lần, chỉ nuôi được năm. Trong cuộc chiến tranh Việt Pháp, người con gái đầu lòng của bà, cô cả chị bố tôi, bị tử nạn năm hai mươi tuổi. Cô cả là người phụ nữ học thư’c, làm nghề y tá, nói tiếng Pháp thạo.

Ngày còn là học sinh ở Việt Nam, tôi vẫn suy nghĩ mãi, không hiểu tại sao trong cuộc đời bà nội tôi cũng có những cái tang đau khổ, những biến cố đánh nặng vào đầu óc, vậy mà bà nội tôi không mộng thấy quan tài. Hay là bà nội tôi cũng có nằm mộng đấy, mà không kể lể, khóc thương?

Chiếc quan tài ám ảnh tuổi thơ của tôi cùng với hình ảnh những người đàn bà khác trong họ. Tôi có người cô họ, tên Oanh, năm hai mươi hai tuổi thì chồng chết trận. Cô than khóc, vật vã, gào thét, vất vưởng, mắt lạc thần cả mấy năm sau đó. Trong họ hay bảo: cô khật khùng vì đau khổ. Tôi có người dì họ, tên Thanh, chồng chết đã lâu. Bà ngồi bán nón ở chợ Đông Ba, Huế để nuôi con. Đứa con trai của bà chết trận. Quan tài của con chở về, bà cũng khóc lóc, vật vã, khật khùng như cô Oanh. Chứng kiến nỗi đau khổ của họ, tôi vẫn tự hỏi không biết rồi họ có nằm mộng thấy những cỗ quan tài trôi lềnh bềnh trên sông như bà ngoại tôi?

Cũng năm mười lăm tuổi, tôi đọc cuốn Phái Thứ Hai (Deuxième Sexe) của nhà văn Pháp Simone de Beauvoir, tình nhân của triết gia Jean Paul Sartre. Trí óc tôi chưa đủ phát triển để hấp thụ hết cái thuyết tranh đấu cho nữ giới trong tác phẩm của de Beauvoir. Nhưng tôi đã đủ lớn không để nhận thức rằng trong tác phẩm của nhà văn nữ này, không có cái ám ảnh đau thương của những cỗ quan tài như trong giấc mộng của bà ngoại, không có những gồng gánh, bưng xách đến lùn cả người như trong đời bà nội tôi, cũng không có những cỗ quan tài bọc cờ và những cơn vật vã, khật khùng của cô Oanh và dì Thanh. Những phụ nữ Âu Mỹ tranh đấu để được quyền. Còn những phụ nữ trong gia đình tôi phấn đấu để sống còn, và sống là sống cho người chứ không phải cho mình. Tôi tự hỏi tại sao trên mặt đất này mà những mẫu người đàn bà được Simone de Beauvoir phân tích là tác phẩm của trí tuệ và ý thức, còn những người đàn bà thân yêu trong đời tôi là tác phẩm của nước mắt chảy ngược vào lòng?

Tháng tư năm bảy lăm, bố tôi mang vợ con, cha mẹ và anh em vào phi trường Tân Sơn Nhất để đợi máy bay sang Mỹ. Dĩ nhiên là ông bà ngoại tôi ở lại Sài Gòn chứ không thể nào theo con gái và gia đình con rể. Cuộc ly biệt quá ngắn ngủi, vội vã. Để tránh xu’c động, ông ngoại tôi lánh mặt con gái, con rể, và các cháu. Mẹ tôi cũng tránh vương vấn chia tay với ông bà ngoại, và tôi cũng thế. Tôi nhớ mẹ tôi gọi bà ngoại vào trao tay hòm chìa khóa thay thế lời từ biệt.
Bố tôi dùng xe hơi chở gia đình vào phi trường. Không hiểu vì sao, tôi tình nguyện lái Honda PC theo sau. Tôi nhớ mãi hình ảnh bà ngoại tôi đứng ngơ ngác bên cửa sổ sân nhà, không dám hỏi chuyện để tránh xúc động khi những người thân của bà đang tíu tít xưa xoan cho cuộc hành trình vô định. Bà đội nón lá như lúc đi chợ, tóc muối tiêu búi đàng sau, đôi mắt buồn như muốn khóc.
Đó là lần cuối cùng tôi nhìn thấy bà ngoại tôi.

Bây giờ tôi đã lớn, tôi không làm cô giáo. Tôi không ở Huế và bà ngoại tôi đã chết.
Một buổi chiều mùa hạ năm bảy chín, tôi theo một người bạn trai Mỹ làm nghề phó nhòm, muốn chụp ảnh tôi để “lăng xê” tôi làm người mẫu. Tôi gọi điện thoại về nhà, thì bên kia đầu dây mẹ tôi tức tưởi: “Con ơi, bà ngoại chết rồi!”. Tự nhiên trong bụng tôi đau nhói như có mũi dao đâm. Tôi không khóc nhưng lần đầu tiên trong đời, tôi có cảm giác gọi là “đau như đứt ruột”.
Bà ngoại tôi chết trong đau đớn vì bạo bệnh mà không đủ thuốc men. Bà mất đi không một lần thấy lại đứa con gái thân yêu, con rể, và các cháu ngoại, nhất là đứa cháu đã chia sẻ những giọt nước mắt với bà.
Cái chết của bà ngoại làm tôi thấm thía thêm ý nghĩa “sinh ly tử biệt”. Lần cuối cùng nhìn bà ngoại buổi chiều tháng tư năm bảy lăm, khi bà tần ngần đứng bên cửa sổ nhìn con cháu ra đi là ý nghĩa nỗi khổ “sinh ly”. Và tin bà chết ở bên kia bờ đại dương là ý nghĩa niềm đau “tử biệt” . Tôi tự an ủi nghĩ rằng tôi không phải là người độc nhất thấm thía cái đau sinh ly tử biệt. Mà đó là cái đau chung của cả một dân tộc kém may mắn trên bản đồ thế giới. Nô lệ và chiến tranh. Một cơn lốc chính trị xoay chuyển cả nguồn gốc của một văn hóa nghèo, chậm tiến. Trong phần tư thế kỷ mà hai lần di tản cả triệu con người, vượt đường trường, vượt đại dương.

Tôi vẫn tự hỏi trong thời gian chúng tôi ở Mỹ, và bà ngoại sống thiếu thốn ở Việt Nam, không biết bà có nằm mộng thấy những cỗ quan tài trôi sông, và bà có thấy những gì bên trong cỗ quan tài đó ? Điều đó bà chưa hề hé môi chia sẻ với tôi. Hay với bất cứ ai, kể cả chồng con.

Năm một chín chín mươi, tôi có một hồi rảnh rỗi trong nghề nghiệp để đọc lại văn chương Việt Nam. Lần đầu tiên, tôi ngồi đọc hết mấy ngàn câu Chuyện Kiều, để ngẫm nghĩ về nước mắt, định mệnh, và sự phấn đấu của cô Kiều, về thân phận người đàn bà mà Nguyễn Du thương xót như thương xót chính thân phận tài hoa kẻ sĩ, và nỗi cô đơn tột độ của người thức giả:

Bất tri tam bách dư niên hậu
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như

Cũng năm đó, vô tình tôi đọc một truyện ngắn của bà Bùi Bích Hà, làm tôi nhớ giấc mộng mộng của bà ngoại. Tôi không biết là truyện có thật hay không? Nhà văn kể lại truyện của một người đàn bà Việt Nam đi vớt xác con trên đường đi vượt biển. Truyện làm tôi bàng hoàng, nhắc tôi nhớ hình ảnh người đàn bà chịu đựng, ngồi một mình chờ những cỗ quan tài lềnh bềnh trên sông. Những cỗ quan tài của Tĩnh Tâm.
Tôi đi tìm một cuốn sách tâm lý giải mộng của Tây phương. Trong cuốn sách đó, tác giả bảo nằm mộng thấy quan tài là cảm giác bất an của người bị đe dọa bởi thiên tai, đại họa, sự trừng phạt vô cớ của định mệnh, hoàn cảnh, ở ngoài khả năng và quyền hạn của con người, không đo lường được.

Cuối năm đó, có lần tôi ra đứng bên bờ Đại Tây Dương, ngắm tượng Nữ Thần Tự Do khi thành phố Nữu Ước lên đèn. Gió lành lạnh. Hình ảnh người phụ nữ cầm chiếc đuốc soi bờ đại dương sừng sững một mình tự nhiên làm tôi nhỏ nước mắt.
Tôi không biết mình nhỏ nước mắt vì ai, cho ai. Tôi đâu dám bắt chước con người tài tử Nguyễn Du khóc người ba trăm năm trước để hỏi người ba trăm năm sau. Có lẽ tôi khóc vì tôi nhớ lại cuộc di cư ngày nào. Tôi nhớ đến khuôn mặt đẹp và ánh mắt sầu muộn của bà ngoại tôi. Giấc mơ hồn nhiên của tuổi thơ, sẽ làm cô giáo nuôi bà ngoại ở Huế, tôi đã bỏ mất. Bà không còn chỉ là bà ngoại, mà là hình ảnh Tĩnh Tâm, người phụ nữ sinh trước tôi hai thế hệ. Hình ảnh bà mang tôi về tuổi thơ xứ mẹ. Hình như tôi khóc vì trong lòng tôi cũng mang hình ảnh những cỗ quan tài như trong giấc mộng của Tĩnh Tâm. Vì tôi mang nặng một nơi chốn đã đi vào tiềm thức tôi, một nơi chốn mà thân phận đàn bà là tiếng kêu rên xiết trong những tập tục và thành kiến văn hóa bóp kẹp con người, nơi chốn của một cuộc chiến tranh tức tưởi, và những hỗn loạn lịch sử vời vợi thương đau, đã gây nên sự phá sản, không phải chỉ vật chất, kinh tế, mà e còn lan sang địa hạt tinh thần.

Tôi tự hỏi có người phụ nữ Việt Nam nào nhạy cảm, là nạn nhân của xã hội chiến tranh đó, mà không mang trong lòng những cỗ quan tài của Tĩnh Tâm? Tôi may mắn sinh ra trong một thời đại không phải gồng gánh, bưng xách như bà nội tôi, không phải cưới vợ hầu cho chồng như bà ngoại tôi, không phải là nạn nhân của tục tảo hôn, không phải tủi sầu vì không có con trai. Tôi may mắn không phải đi vớt xác con, đi nhận xác chồng, xác con trai như những người bất hạnh của cố hương đầy đau khổ.

Tôi tin vào thuyết tiềm thức tập thể của nhà tâm lý học Carl Jung. Cho nên tôi đứng đó, đối diện tượng Nữ Thần Tự Do, bên bờ biển Đại Tây Dương, là một người đàn bà di dân đến từ nước Việt Nam nhỏ bé, trước ngưỡng cửa thế kỷ hai mươi mốt, nhớ đến hương hồn của bà ngoại và nghe tiếng kêu khóc của những người đàn bà Việt Nam xấu số. Tôi đến Mỹ khi còn là đứa bé gái hăm hở trước cuộc đời. Cuộc di cư đã cho tôi lối thoát và cơ hội để áp dụng sự phân tích của Simone de Beauvoir vào đời sống của chính mình. Nhưng tôi vẫn nhỏ nước mắt, hướng về Tây phương và quay lại Đông phương, thường tự hỏi mỗi nơi sẽ đem lại những gì cho tính nhạy cảm và cái tiềm thức văn hóa trong tôi. Nước mắt tôi vẫn nhỏ, cho dù bề ngoài tôi cứng rắn, vì tôi đã nghe, đã chứng, đã xót xa trong lòng về những cỗ quan tài của Tĩnh Tâm.

Dương Như Nguyện
(Mùi Hương Quế)

UỐNG RƯỢU CÙNG ĐỖ MỤC

buichivinh

Nằm mơ đối ẩm cùng Đỗ Mục
Rượu nửa phần trong, nửa phần đục
Hai người giành nhau uống một chung
Lúc cạn giành nhau ứa nước mắt

Đỗ Mục mang hài, ta chân đất
Người xưa làm quan, ta thường dân
Hẳn ngàn năm trước huynh đã khóc
Khiến ngàn năm sau đệ rưng rưng

Huynh nổi tiếng bạc tình thi sĩ
“Lạc phách giang hồ tái tửu hành”
Ta đi lính quân hàm trung sĩ
Cũng từng ở ác chốn lầu xanh

Hà tất bàn chi sang trận mạc
Rủi lát nữa tên bay, đạn lạc
Đệ chui xuống đất, huynh lên trời
Vò rượu để không buồn muốn khóc

“Đoạn tống nhất sinh duy hữu tửu”
Thà ngồi đây nói về phụ nữ
Tội nghiệp cho huynh: chàng đẹp trai
Xuống Dương Châu chỉ nhậu lai rai

Mà phụ nữ ngày xưa chắc ngộ
Đâu có cọt-xê, chỉ yếm đào
Nếu huynh ghiền gái mời ra phố
Tốn ít tiền quên hết binh đao

Thứ nữa mời huynh một điếu thuốc
“Ba số” thơm râu không chê được
Huynh xưa là thứ sử nhà Đường
Dọc tẩu gối ả đào say khướt

Riêng ta kiếp lính nên kèm lác
Tướng sang mà vẫn kiếp ngựa thồ
Trời ơi, hai gã thơ chưa khạc
Tiếng gà nỡ gáy rách cơn mơ…

BÙI CHÍ VINH

Từ Một Con Vịt

nguyenthihaiha

Chiyo, cô bé con của một dân chài nghèo rớt mồng tơi và bà mẹ bị ung thư, về sau bị bán cho trà đình rồi trở thành nàng geisha Sayuri nổi tiếng, đã tả căn nhà thời thơ ấu của mình ở trên một triền núi cheo leo, nó có vẻ ngất ngưởng lảo đảo như người say rượu. Căn nhà thời thơ ấu của tôi thì không như thế, nó giống một bức tranh ghép bằng nhiều mảnh giấy màu, như một tấm bích họa.

Má khoe, “Nhà mình ngon lành nhất xóm!” Chúng tôi phải đi bộ từ khu tạm cư đến bến đò. Ngồi trên đò Má bảo ngồi xuống nền ghe, tay giữ thành ghe kẻo ngã xuống sông. Khách đi đò, người lớn, ngồi hai bên thành ghe. Cùng đi chung chuyến đò với tôi có mấy con heo con còn đỏ hỏn, nằm trong giỏ ló mõm ra ngoài kêu eng éc, mũi hếch hếch cố tìm một mùi quen thuộc nào đó, có lẽ là của mẹ nó. Từ bến đò đi vào khu nhà mới định cư của dân nhà cháy cũng chừng hai cây số.

Tôi hơi thất vọng, vì nó không phải là căn nhà ngon lành nhất xóm như tôi tưởng tượng. Trái lại nó như một cái hộp được mặc cho cái áo vá chằng chịt. Vách nhà là những tấm vá theo chiều nằm ngang, mỗi mảnh vá dài và hẹp gồm nhiều màu từ nâu đậm đến nâu nhạt. Mái tôn thì là những tấm vá hình vuông của tôn mới và tôn cũ hơi rỉ sét. Nhà hình hộp, không cửa sổ. Sở dĩ căn nhà tôi có vẻ giống như một bức tranh bích họa dán ghép bằng những mẩu báo giấy bời rời bởi vì Má mua gỗ vụn ở một trại cưa gần đấy. Sau này, tôi mới biết là Má một thân một mình, hai tay cắp hai mảnh gỗ kéo từ trại cưa về nhà, kể cả những khi mưa dầm trên con đường đất sét. Đường đất sét trời mưa đi rất trơn. Muốn không té thì phải đi chân không, hai ngón chân cái phải bấu quặp xuống đất để không bị ngã. Có khi tôi đi học về, trường học ở mãi ngoài bến đò, từ trường về nhà bình yên, nhưng khi đến dưới cổng dàn hoa giấy, chỉ lơ đãng một giây thôi, tôi té lăn quay lấm dơ hết quần áo. Ý là tôi đi tay không, trên vai chỉ đeo cái cặp. Má không than kéo cây nặng mà chỉ than đau ở hai đầu ngón chân cái và bàn chân của Má nứt rạn khắp nơi nhất là phía sau gót. Cất xong cái nhà, ai giúp Má cất nhà tôi không biết, bà bị lao phổi, ho từng búng máu. Tuy nhiên không thể buộc tội Má nói láo, bởi vì so với những căn nhà mái lá,vách đất chung quanh, nó có vẻ rất bề thế. Bây giờ nghĩ lại tôi thấy mình may mắn, bởi vì tôi đã chẳng bao giờ mang cảm giác tủi hổ mình là con nhà nghèo.
Một hôm tôi chạy về nói với Má, “Má ơi, nhà trước mặt mới mua một bầy vịt con, dễ thương lắm.” Má thấy vậy ra chợ mua cho tôi một chục vịt con mới nở lông còn vàng óng. Tôi mê lắm. Má dạy tôi xắt rau, xắt hành lá trộn với tấm cho vịt ăn. Cái mùi vịt con trộn với mùi tấm và hành lá làm tôi mê đến phát run. Mấy con vịt con có cặp mắt như hạt cườm nhấp nháy, rỉa ngón tay tôi, rỉa cả mũi tôi khi tôi cầm một chú vịt con đưa ngang mặt. Thả ra khỏi chuồng là chúng chạy theo tôi làm như tôi là mẹ chúng vậy. Nuôi trong chuồng cho đến khi chúng lớn lông cánh mọc lơ thơ thì thả ra đồng ra kênh đào cho nó bơi lội và mò tôm ốc. Tôi chăm sóc đàn vịt kỹ lắm, chúng là bạn của tôi. Đôi khi mất một con vịt vì bị rắn bắt tôi khóc rưng rức cả ngày. Buổi chiều, để kêu vịt về tôi chỉ cần mang thau lúa đứng trên bờ kêu “kía kía,” để cái thau thấp xuống là đàn vịt bu đến ăn. Thau lúa rủ đàn vịt về chuồng, chỉ làm một lần là sẽ trở thành thông lệ. Đôi khi chúng ham ăn ốc ăn cua không chịu về, Má làm cho tôi một cần lùa vịt bằng một thanh trúc dài, có buộc một miếng giẻ ở đầu cần và tôi chỉ đứng trên bờ xua vịt về.

Đàn vịt của tôi lớn lên thì đàn vịt của bác Ba cũng lớn lên. Vịt nhà tôi được ăn lúa nên đến giờ là chạy về chuồng. Còn vịt của bác Ba thì cũng chạy theo đàn vịt của tôi để được ăn ké. Lúa thì ít mà đàn vịt của bác Ba thì cũng như đám con của bác, thường xuyên đói. Tôi khổ sở bảo vệ thức ăn cho đàn vịt của tôi. Hai tay nắm hai cổ hai con vịt, một hai ba, tôi ném. Vậy mà không có con vịt nào bị gãy cổ hay gãy chân, nghĩ cũng lạ thiệt. Dường như trời cũng thương hại những con vịt đói nên ban cho chúng một khả năng tự tồn không dễ bị bẻ gãy. Về sau khôn hơn một chút, tôi nhốt vịt vào sân đóng cổng rào rồi mới cho vịt ăn.

Rồi có một hôm đàn vịt về mà vẫn còn thiếu một con. Tôi đoán có lẽ con vịt này nhập bọn với đàn vịt của bác Ba và quên lối về. Mặt trời bắt đầu lặn, nước kênh đào dâng đầy, gió thổi hây hây, giờ này mà Má đi chợ bổ hàng bán vẫn chưa về. Tôi cần phải đi tìm con vịt này trước khi Má về.

Tôi đi dọc theo bờ kênh đào ra hướng cầu sắt. Bên trái là con kênh đào nước lớn đục ngầu, rộng gấp đôi lúc nước ròng. Bãi lát ven bờ nước ngập lên gần đến ngọn. Bên phải là những ngôi nhà vách lá đứng thành hàng thành luống, chung quanh nhà nào cũng có mương. Nước của con kênh đào chảy theo những cái cống nhỏ vào mương, nhà nào cũng cắm vài bè rau muống hay rau nhúc. Không thấy con vịt tôi đi dần đến chỗ cầu sắt và đến đây thì tôi nghe tiếng vịt kêu.

Quẹo trái tôi sẽ đi qua cây cầu sắt và con đường này sẽ đưa tôi đến trường học ở ngoài bến đò tôi vẫn đi mỗi ngày. Quẹo phải là hướng đi về ngôi chùa mới. Chùa này cũng là do những người bị cháy nhà mới xây chung nên gọi là chùa mới để phân biệt với ngôi chùa cũ ở trên đường ra bến đò và gần đó là một cái đình rất to nơi đó tôi thường ra xem cải lương. Thỉnh thoảng có gánh cải lương hát dạo về trình diễn ở đây. Trước mặt tôi là con đường mòn đầy cỏ u ru cao khỏi đầu người. Đây là một chỗ vắng vẻ, cỏ mọc bít kín lối đi. Thường xuyên khi đi đến ngã tư này tôi chỉ quẹo trái, hay quẹo phải. Tôi chưa bao giờ đi vào còn đường mòn này. Rậm rạp nên tôi sợ có rắn, tuy nhiên, tôi nghe tiếng vịt kêu nên tiếp tục đi lần về hướng đó. Con đường mòn dẫn đến một lối cụt. Cuối đường là bãi cỏ mọc cao, bên ngoài bãi cỏ là khúc quanh của con kênh đào. Tôi mon men đến gần bãi cỏ, tiếng vịt kêu rõ ràng hơn. Buổi chiều, nước lớn, tiếng vịt kêu nghe thăm thẳm buồn, cái buồn lẽ bạn. Con vịt của tôi, có cái bớt đen trên đầu, cái sẹo to ở gần mép vì có lần bị vướng lưỡi câu của bác Hai Tôn ở cách nhà tôi mấy căn, đang ở trong đám lác vừa kêu vừa rỉa nước.

Tôi gọi con vịt về. Kía kía. Nó nhấp nhỏm cái cổ có vẻ muốn theo tôi nhưng lại thôi không theo. Lúc nãy tôi quên mang theo cái cần lùa vịt. Đàn vịt đã nhốt vào chuồng rồi còn xách cần lùa vịt để làm gì. Rất là sai lầm, chứ nếu không thì giờ này có thể dùng cái cần mà xua con vịt. Túng thế, tôi lấy vài viên đá nhỏ ném chung quanh con vịt cho nó sợ mà chạy về. Con vịt hốt hoảng bơi vòng tròn chung quanh bụi lát. Tôi ném thêm vài viên đá nhỏ gần con vịt hơn thì tình cờ một viên đá trúng vào đầu con vịt. Nó quay vòng vòng rồi cắm đầu xuống nước bất động. Tôi húi húi, xuỵt xuỵt, nhưng nó vẫn cắm đầu xuống nước. Có lẽ nó đã chết. Tôi không biết làm sao nên ngồi bệt xuống đất khóc rấm rức. Khóc vì thương con vịt vì tôi mà chết và vì sợ phải trả lời với Má số phận của con vịt và sẽ gặp cái lắc đầu chán ngán thở dài của Má. Tôi chẳng làm gì nên thân.

“Con vịt của mày nó bị kẹt chân vào bụi lác. Chắc là chân nó bị dính dây nhợ gì đó nên càng vùng vẫy nó càng bị kẹt.”

Nghe tiếng nói sau lưng, tôi quay lại nhìn. Con nhỏ tóc hớt bom bê, cao bằng tôi, đầu có cái khăn màu đỏ sậm, rất cũ dính bùn đen lấm tấm. Cái khăn cột như một cái băng đô, để lộ chòm tóc phủ ngang trán.

Tôi nói qua nước mắt: “Tao lỡ tay, chọi cục đá trúng đầu con vịt chết rồi.

“Chắc là nó xỉu thôi, mày chờ một chút nó tỉnh dậy. Sao mày không lội xuống bắt con vịt về?” Con nhỏ đội khăn đỏ hỏi tôi như thế. Trời tối dần, nắng trên sông phản chiếu đủ để tôi thấy cái lúm đồng tiền nhỏ xíu gần khóe miệng của nó. Câu nó nói làm tôi yên tâm nên tôi nín khóc.

“Tao bơi chưa rành. Má tao dặn không đuợc xuống sông khi lùa vịt.” Nhìn mặt nó tôi nói thêm. “Cái đồng tiền của mày coi ngộ quá. Thường thường đồng tiền của người ta nằm ở giữa má còn đồng tiền của mày nằm ở gần mép môi.”
“Ờ, lùa vịt mà không biết bơi dễ bị chết đuối. Bữa nào mày rảnh tao chỉ mày bơi. Mày không có số chết dưới nước đâu.” Con nhỏ khăn đỏ nói.

“Nhà mày ở gần đây hả? Sao tao ít khi gặp mày?” Tôi hỏi. Nó đưa tay chỉ về hướng chùa mới rồi nói “Đằng kia.” Tôi hỏi tiếp, “Ủa, nhà mày ở gần chùa hả, sao tao với má tao đi chùa hoài mà chưa lần nào gặp mày?” Nó nhìn về hướng chùa rồi nhìn tôi, “tao ở ngay phía sau chùa.” Nó nói tiếp “mày có gì ăn không, tao đói bụng quá.” Trong túi tôi có viên kẹo dừa tôi đưa cho nó. Nó nói, “thôi mày đi về đi không thôi má mày đi kiếm đánh đòn bây giờ, để tao canh con vịt cho mày.”

Tôi thấy trời đã tối, và đói bụng. “Mày có muốn theo tao về nhà ăn cơm không? À mày tên gì?” Tôi hỏi. Nó nói, “thôi, tao ở đây, chút nữa mày có rảnh thì ra đây chơi với tao.” Tôi hỏi, “sao mày không về nhà đi?” Nó nhiếc tôi, “mày hỏi nhiều mà hỏi cái gì đâu không. Tao ở đây canh con vịt, chút nữa nó tỉnh lại tao sẽ lội xuống bắt nó dùm mày.” Con nhỏ đội khăn đỏ nói giọng chắc nịch nên tôi không nghi ngờ gì cả. Quên hỏi coi làm sao mà con nhỏ hay quá biết con vịt không chết. Quên hỏi nó là sao nó không vớt con vịt lên giùm mình bây giờ. Tuy nhiên tôi sợ Má rầy nên lật đật chạy về.

Tối hôm đó, khi theo Má đến chùa tôi lén rọc một miếng lá chuối ở cây chuối trồng bên hè rồi gói theo một ít cơm mới nấu và cá khô nướng. Khi Má bắt đầu cầu kinh tôi lẻn ra khỏi chùa chạy đến chỗ ban chiều. Tôi gọi, nhỏ ơi, nhỏ khăn đỏ ơi, nhưng không có ai trả lời. Trong bóng tối mịt mùng, tiếng gọi của tôi rơi vào con sông nước đã bắt đầu lui. Con vịt không còn ở đó, có lẽ nó đã bị nước cuốn đi. Tôi trở lại chùa ngồi đợi Má. Cái chùa này về sau trở nên thân thiết với tôi lắm. Thân thiết vì tôi đã ở đó mấy năm khi có một lúc lẫy hờn tôi ôm gói bỏ nhà đi ở chùa. Không cạo đầu đi tu, vẫn mặc áo dài đi học, nhưng khi qua khỏi cây cầu sắt thì thay vì quẹo tay mặt đi về nhà tôi đi thẳng đến chùa. Mãi khi căn bệnh lao phổi của Má trở nặng, và Má năn nỉ, tôi mới chịu về.

Buổi sáng hôm sau, trước khi đi học, tôi thả vịt ra đồng và ngạc nhiên thấy số vịt đầy đủ. Con vịt tối qua tôi tưởng đã chết và nước cuốn trôi đã về từ lúc nào và làm thế nào để vào chuồng thì tôi không biết. Ban đầu tôi ngỡ là con vịt hàng xóm lẫn lộn vào nhưng cái bớt đen trên đầu và cái sẹo gần mỏ vịt không thể nào nhầm lẫn được. Tôi định bụng sẽ đi tìm con nhỏ khăn đỏ để cảm ơn, và hỏi nó đã làm thế nào để trả con vịt lại cho tôi, chợt nhớ ra là mình không biết chỗ ở của nó.

Má đi chùa thường vào buổi tối, ngày rằm và mồng một. Khi đến chùa tôi cố ý tìm nó khắp nơi nhưng không gặp. Sau chùa có vài căn nhà tôi biết mặt gần hết mấy đứa trẻ. Bên trái của chùa là nhà con Tiền con của cô hai Đẹp. Cô ở nhà quê, chỗ nào đó còn nhà quê hơn chỗ này, có chồng theo du kích, bị bắt tra hỏi mãi nên phải trốn lên Sài gòn. Đằng sau chùa là nhà của ông bà Tư Xị có một đàn con gái tên Khai, Nở, Nhị Hoa, Hường, đúng năm cô nên được gọi là Ngũ Long Công Chúa. Công chúa gì mà nghèo rớt mồng tơi cứ phải qua chùa ăn cơm ké. Kế bên nhà con Tiền là nhà hai anh em thằng Quan thằng Quyền. Thẳng Quan hơi giống giống Ấn Độ, có đôi mắt rất to và hàng lông mi vừa rậm vừa cong. Tôi rong chơi nghịch ngợm khắp nơi mà tôi không bao giờ thấy con nhỏ khăn đỏ. Một hôm đi chùa với Má, tôi ngu dại chê ông Mười bán cơm tấm đánh trống Bát Nhã không đúng bài bản gì cả nên ông nổi giận đuổi tôi ra khỏi chùa. Mọi người bắt tôi mang hương đèn ra xin lỗi ông nhưng tôi đổ chướng, không đúng thì tôi nói không đúng chứ làm gì mà phải xin lỗi. Tôi bỏ chạy ra khỏi chùa và đến bờ sông, chỗ bụi lác mà con vịt bị mắc kẹt, ngồi khóc thút thít một hồi thì tôi nghe giọng con nhỏ sau lưng. “Sao mày ít khi đến đây mà lần nào đến đây mày cũng khóc hết vậy.” Giọng nó bất thình lình làm tôi giật mình nhưng nghe nó cười thì tôi nín khóc ngay. Thật ra tôi khóc không phải vì sợ mà vì giận. Giận là sao không ai bênh mình kể cả má của mình. Tôi kể nó nghe đầu đuôi câu chuyện. Nó nói, “Mày nín khóc đi tao kể chuyện trong chùa cho mày nghe. Cái ông Mười bán cơm tấm đó tu hành gì mà tham sân si dữ lắm. Mày xui lắm mới dám chê ổng, mà thiệt ổng không phân biệt tiếng trống nào là tiếng trống nào. Ông đánh trống bài gì nghe cũng như người ta đánh trống múa lân vậy. Ông sắp đuổi thầy Xuân ra khỏi chùa vì thầy và chị Khai có tình ý với nhau. Chị Khai người nảy nở tròn trịa, một bên mắt bị hột cườm nhưng tính rất dễ thương. Thầy Xuân có miệng móm móm có duyên hết cỡ. Trời ơi thầy chùa gì mà hát vọng cổ hay quá xá hay. Ổng đi tu từ hồi nhỏ, vì nhà ổng rất nghèo nuôi không nổi nên cho đi tu, chứ không phải đi tu kiểu trốn lính như mấy ông thầy chùa khác. Ổng nói đuổi thầy Xuân ra khỏi chùa bây giờ thì thầy sẽ phải bị đi lính.” Con nhỏ nói vanh vách cái gì cũng biết hay thật. Tôi và nó hẹn nhau cứ mỗi lần rằm hay mồng một tôi theo Má đến chùa thì chúng tôi sẽ ra bờ sông gặp nhau nói chuyện chơi.

Chúng tôi nói đủ thứ chuyện. Tôi kể nó nghe chuyện tôi đi học sáng sớm bị heo rượt. Chị Bé lớn chê ông thầy giáo dạy chị tướng đi hai hàng giống như người mắc bệnh phong tình. Nó bảo tôi học bơi muốn cho giỏi thì phải học chìm trước rồi mới học nổi và học bơi. Điều này cũng đúng khi đã hết sợ bị chìm thì tôi muốn chìm cũng không được, thân hình cứ tự động nổi lên, ngay cả khi tôi trầm minh xuống đáy sông, cấu lấy bùn để được chìm lâu lâu chút nữa. Đêm mùa hè nóng nực nó cởi quần áo nhảy tòm xuống sông và nằm thật lâu dưới mặt nước đến độ tôi sợ nó chết đuối. Dưới ánh trăng, mặt nó nhìn xuyên qua lớp nước trông giống như cười. Tôi ngạc nhiên hỏi làm sao mày cười dưới nước hay vậy. Nó dạy tôi khi bơi thì phải gối sóng theo dòng, hễ muốn giữ mạng sống thì không nên bơi ngược nước. Nó chỉ tôi ngôi sao sáng nhất trên trời xéo xéo phía dưới mặt trăng đó là sao Lớn bây giờ tôi biết đó là sao Hôm và cũng là sao Mai. Chùm sao bốn góc hình thang có một dọc ngôi sao bên trên như cái cán chổi là chùm sao bánh lái lớn và gần đó là chùm sao bánh lái nhỏ. Tôi phàn nàn tao không thích ở đây, chỗ ở gì mà kỳ cục không có cầu tiêu. Ngày mới về Má bắt lấy cái cuốc đào một lỗ nhỏ đi cầu xong lấp lại. Có lúc đi cầu cá thì nghe cá quậy mà hết hồn. Mà thôi mình nói chuyện khác đi, nói mấy chuyện này nghe mắc ói quá. Nó nói giọng người lớn, người mình lo chuyện ăn còn không xuể nên không muốn lo chuyện ỉa, rồi cười hì hì. Ngày ở ổ chuột trong thành phố dùng cầu tiêu công cộng, dòi bọ lúc nhúc, trống trước trống sau, nồng nặc hôi thúi nhưng có một chỗ để mình biết đó là cầu xí. Còn ở đây người trong xóm ra bậc tam cấp dẫn xuống sông để đi cầu dơ cả lối đi.

Nghĩ cho cùng chuyện bài tiết là chuyện tất nhiên nhưng không có một chỗ để bài tiết cho kín đáo cũng là một điều mà cả hai đứa bé như chúng tôi cùng hổ thẹn. Tôi kể nó nghe lúc sau này tôi không dám đến chùa không phải vì sợ ông Mười bán cơm tấm sau vụ đánh trống mà vì tôi sợ gặp thằng Quan.
“Nó làm gì mày mà sợ?”
“Tao không sợ nhưng tao mắc cở.”
“Mắc cở vụ gì?”
“Tao thấy nó có cặp mắt đẹp tao thích nhìn. Nó biết tao nhìn nên nhìn lại. Vậy thôi. Một hôm ở nhà trời nắng nóng tao muốn đi tắm. Cái lu nước đầy để tắm ở phía sau nhà. Tao cởi quần áo xong nhưng không có cái gáo múc nước vì tao bỏ cái gáo trong cái lu đằng trước nhà. Tao nghĩ giờ này không có ai ở ngoài đường, chung quanh ai cũng ngủ trưa nên tao đi ra phía trước nhà để lấy cái gáo nhưng tao làm biếng không mặc quần áo vào. Vừa đi tao vừa nghĩ nếu xui xẻo lúc này thằng Quan thấy thì chết.”
“Rồi sao nữa, kể lẹ lên, mày hay ngừng nửa chừng làm tao sốt ruột muốn chết.”
“Tao nghĩ nhưng cứ tiếp tục đi. Chỗ này không phải là chỗ thằng Quan đến. Nó không có bạn ở đây. Trường học thì ở ngoài bến đò. Tao mới nghĩ đến đó thì đã ra đến cửa. Tao chạy nhanh đến cái lu, vớt cái gáo quay lại.”
“Mày gặp thằng Quan?”
“Ờ! Không biết nó đi đâu mà đạp xe ngang, nó nhìn tao, cười, rồi quay mặt đi.”
“Nó thấy mày? Nguyên con?”
“Ờ, nguyên hình nguyên con.”
“Xấu hổ thiệt!”
Hai chúng tôi khúc khích cười. Hai đứa nằm dài ngược chiều nhau đỉnh đầu nó chạm vào đỉnh đầu tôi. Con đường ít người qua lại mưa trôi đất nên đá đỏ lổm chổm cấn lưng khá đau. Đêm không tối đen như người ta nghĩ. Dù không trăng nhưng ánh sáng từ sao từ mây vẫn đủ cho chúng tôi thấy nhau lờ mờ. Tôi thích nghe tiếng gió lướt nhẹ trên sông và xuyên qua cỏ lát. Với nó nói chuyện gì cũng vui cũng cười được. Tôi rủ nó mày về xin với ba má mày đến nhà tao ở luôn. Nó cười.
“Tao không ở nhà mày được!”
“Tại sao?”
“Nhà mày không dư cơm và má mày không cho!”
“Tao xin má tao! Má tao hiền lắm thế nào cũng chịu. Sao mày nghĩ là má tao sẽ không cho?”
“Tại vì tao là ma.”
Tôi cười khúc khích. “Vậy à, ma như mày chẳng ai sợ. Mày là ma thì tao là quỷ. Má tao kêu tao là con quỷ rồi nên ma hiền lắm thế nào Má cũng thương.” Tôi nói.
“Tại mày không sợ tao nên tao với mày mới gặp nhau. Chớ má mày mà biết mày chơi với tao là bà sẽ cấm ngay. Mày sướng mà không biết, mày có má cưng mày quá trời, thử tưởng tượng những đứa nhỏ không biết ba má nó là ai, không có một chỗ ở, suốt ngày chờ mà không có ai để chờ, có tên nhưng chẳng ai gọi nên lâu ngày như không có.”
“Ờ nói tới tên mới nhớ, mày tên gì?”
“Mày muốn kêu tao bằng cái gì cũng được, cần gì phải biết tên tao.”
“Mày sao điệu đà quá hỏi tên mà cũng không nói.”

Có một hôm nó móc trong túi một cục gì giống như kẹo màu đo đỏ nhai rồi thoa lên mu bàn tay phải của tôi, bảo là trả lại cho tôi cái gì của tôi và cũng để nhắc cho tôi nhớ nó. Lúc đó da tôi khô lại như bị thoa vôi chứ không thấy đau rát gì cả. Bẳng đi một thời gian không thấy nó tôi buồn muốn điên. Có một đêm đang ngủ, trăng sáng, mơ hồ tôi nghe có ai gọi, tôi thức giấc lén mở cửa lò dò ra bờ sông. Tôi thèm có người trò chuyện với tôi. Má ngủ tiếng ngáy khò khẹt không đều làm tôi sợ Má sẽ nín thở và chết. Ngồi ở bờ sông một hồi tôi đi về. Đang đi tôi nghe có tiếng xe đạp cán trên mặt đá đỏ lào xào phía sau. Giờ này khuya lắm rồi trăng đã lên đến đỉnh đầu. Tôi không muốn người đi xe đạp nhìn thấy tôi nên lủi vào bụi cỏ khom người chạy nhanh về nhà. Người đạp xe như có gì đó tò mò hoặc nghi ngờ, hắn chạy một đổi xa đến con đường ở phía sau nhà của tôi rồi quanh xe trở lại như để tìm tôi nhưng lúc ấy tôi đã vào nhà.

Chiều hôm sau khoảng bốn giờ có người dựng xe đạp ở giàn bông giấy và hỏi má tôi. “Thưa bác, ở đây có hai cô bé cao chừng này không?” Người thanh niên có vẻ trẻ hơn anh tôi, có lẽ chưa đến ba mươi, tay để chừng ngang ngực anh để ra dấu chiều cao các cô bé anh ta muốn hỏi. Chợt nhìn thấy tôi, anh nói cở cô bé này. Anh hỏi tôi, “đêm qua em có đi đâu ra khỏi nhà không?” Dĩ nhiên là tôi chối biến đi, vì sợ Má đánh đòn tội nửa đêm lén nhà ra sông. “Dạ không, tối em không đi đâu cả. Đi để làm gì?” Má muốn biết đầu đuôi câu chuyện nên anh kể là anh đang đạp xe về thì thấy có hai cô bé từ bờ sông đi lên. Anh đoán là hai cô bé xuống sông để đi cầu, nhưng thoáng một cái đã biến mất tiêu. Anh đoán chắc nịch một cô bé là tôi, vì tóc bom bê. Má nói xóm này chỉ có nó là con gái. Còn con nhỏ kia ra làm sao, anh nói cũng cao tương đương, nhưng có đội cái khăn.

Té ra đó là anh hàng xóm mới dọn về đây ở. Anh ta về rồi Má biết tỏng tôi nên hỏi to hỏi nhỏ vặn vẹo mãi nên cuối cùng tôi kể Má nghe về con nhỏ đó. Má dẫn tôi đến bờ sông chỗ tôi và nó thường ngồi trò chuyện với nhau nhưng chẳng tìm thấy gì. Chung quanh chỉ toàn cỏ mọc và sát mé nước cỏ che lấp hết có một cái miếu rất nhỏ chỉ bằng cái lồng chim. Trong miếu có một tấm bài vị đã phai bạc hết màu không còn nhìn thấy chữ nghĩa gì nữa. Trong chùa ở hậu liêu có một bài vị của một cô bé mười một tuổi, chết đuối. Người nào đó biết chuyện bảo rằng con nhỏ đi tìm con vịt lỡ chân té xuống sông chết chìm. Mẹ nó gửi bài vị vào chùa từ lúc chùa mới xây rồi bỏ đi mất luôn không ai biết tông tích nữa. Phía sau bài vị có ghi tên con nhỏ, ngày sanh tháng đẻ. Một sự trùng hợp lạ thường, nó cùng tên, cùng ngày tháng và năm sinh với tôi. Người ta không ghi giờ nhưng chắc là nó phải sinh vào ban đêm lúc tối tăm nhất. Má cấm từ nay không được đến góc sông này. Cấm không được chơi với con nhỏ đó. Má nghĩ là nó âm mưu bắt tôi theo. Điều đáng buồn là về sau không ai bắt mà tôi vẫn bỏ má tôi. Càng lớn lên tôi càng đi xa, càng tách rời, càng nổi loạn rồi bỏ Má đi đến tận bên kia bờ đại dương. Con nhỏ khăn đỏ có lần nói thường thì người ta sợ mất con hơn là sợ mất mẹ. Thường thì con bỏ mẹ nhiều hơn mẹ bỏ con. Chỉ những người bị bỏ mới cảm thấy cái bất hạnh này.

Lúc chuyến tàu tôi đi bị chết máy, cả tuần lênh đênh trên biển, tôi nghĩ đến lời con nhỏ bảo rằng số tôi không chết dưới nước. Thử tưởng tượng, không biết chết vì no, no vì nước tràn vào miệng đầy bao tử, tràn vào mũi ngập phổi hay chết dần mòn vì đói và khát cái nào đáng sợ hơn. Nhớ cái mặt của nó nằm dưới nước cười. Tôi tự hỏi không biết có thật nó là ma hay không hay chỉ là một sản phẩm trong óc tưởng tượng của tôi, vì thiếu bạn mà tự chế ra một đứa bạn để trò chuyện cho đỡ buồn. Tóm lại chỉ có mình tôi thấy nó, biết nó, và nói chuyện với nó. Trên mu bàn tay phải của tôi nơi con nhỏ trét vào tay tôi một chất gì như vôi vẫn còn cái bớt màu đỏ tươi. Đây có thể là một bệnh ngoài da. Nhưng tôi không giải thích được làm sao anh hàng xóm thấy trong cái đêm trăng sáng đó cùng chạy bên cạnh tôi có một con bé đội khăn. Tôi hỏi nó sao mày lúc nào cũng đội khăn. Nó nói tại cái đầu tao vừa bị méo vừa bị sẹo ghẻ xấu lắm. Má nói khi chôn người chết người ta cho đắp lên mặt cái khăn màu đỏ. Tôi và con nhỏ là hai linh hồn ở hai thế giới khác nhau, do một tình cờ của định mệnh, chỉ có thể gặp nhau trong một khoảng thời gian ngắn ngủi, trò chuyện đôi lần rồi đường ai nấy đi, đời ai nấy sống (và chết). Tôi không biết cơ duyên nào đưa chúng tôi đến với nhau nhưng từ lúc đó tôi tôi luôn luôn thèm có một người bạn như thế để chia sẻ mọi vui buồn với tôi.

Người ta nhớ về một quê hương có hoa thiên lý, lũy tre còm tả tơi, con sông đào xinh xắn, cánh diều biếc bay trên đồng. Tôi cũng nhớ quê mình, bên cạnh tất cả những cái đẹp tha thiết dịu dàng của quá khứ, còn là vùng đất nghèo nàn thiếu cả cái cầu tiêu. Gần đây đọc quyển Anh Em của Yu Hua thấy nói lu bù chuyện cầu tiêu công cộng, nhân vật trong truyện dám lội xuống hố phân mà cứu người. Rồi đọc quyển Kế thừa sự thua thiệt mất mát nhân vật trong quyển này nhớ lại lúc rời quê hương đi nước ngoài nhìn thấy dân làng của ông ta ngồi dọc theo đường rầy xe lửa mà đi cầu, tôi không khỏi liên tưởng đến câu chuyện ngày xưa tôi và con nhỏ ma than thở và hổ thẹn vì không có chỗ đi cầu kín đáo. Tôi muốn nói với nó, Nhỏ ma à, không phải chỉ có dân xứ mình chỉ quan tâm đến chuyện ăn mà không màng đến chuyện bài tiết. Dân của hai cái xứ lớn hơn xứ mình là Trung Hoa và Ấn Độ cũng cùng cảnh ngộ đó thôi. Thỉnh thoảng cái bớt đỏ trên tay tôi ran rát như nhắc nhở tôi rằng con nhỏ vẫn ở quanh đây, vẫn nghe tôi nói như ngày xưa chúng tôi đã nói chuyện với nhau bên con đường đầy cỏ cạnh khúc kênh đào vắng vẻ. Tôi không khỏi tự hỏi liệu có lúc nào chúng tôi sẽ gặp lại nhau. Và chúng tôi sẽ cùng đồng ý là bao nhiêu năm qua, vật đổi sao dời, vậy mà quê hương chúng tôi vẫn lo mỗi chuyện ăn và vẫn không quan tâm đến chỗ bài tiết.

NGUYỄN THỊ HẢI HÀ

KHI EM VỀ LÀ XỨ SỞ TA MƯA

truongdinhtuan

rồi ta cũng như sân ga xép
ngóng về đâu cũng chỉ truông đèo
loài chim lạ chỉ vui trên núi cũ
hót điều chi cho nguyệt tận xa mù

tiếng động vỡ tan nhau từ đáy vực
dốc trăm năm cỏ dại mọc không ngờ
mắt cố quận nắng gieo màu dĩ vãng
bước xa nào nghe xứ sở bơ vơ

trầm hương nọ hào hoa hoài lưu lạc
trăng diết da cười cợt dưới lưng gùi
khi chiều xuống tiều phu ngộ hạnh
thế kỷ nào nhúm lửa chút tin vui

dấu thương vết ngàn năm vách đá
tiếng còi mang theo đến cuối giang đầu
nhớ non nguyệt dã man xó núi
ga xép nằm thắp khói nơi đâu

TRƯƠNG ĐÌNH TUẤN

Hồn nhiên

nguyenminhphuc

Sao không là bóng của trời
Là mây của gió là lời của sông
Sao không là sóng bềnh bồng
Đêm ru biển hát mênh mông cõi tình

Là vàng giọt nắng thủy tinh
Thả ngàn tia ấm đợi bình minh lên
Là hoa hé nụ trên cành
Đong đưa mật ngọt biếc xanh xuân về

Sao không là cỏ bờ đê
Là con sông gửi lời thề cho trăng
Là mê đắm của đêm rằm
Là mơ màng của tình trăm nợ nần

Hay là một cõi phù vân
Người từ năm cũ về trần gian kia
Cho đời tôi hết phân lìa
Cho sông với suối cùng chia đá vàng

Nghe hồn nhiên giữa mùa sang
Ôm nhau cùng đợi khẽ khàng mây trôi…

Nguyễn Minh Phúc

BIỂN

tonnuthudung

13627113_1087059938037169_1054954526988224390_n

Tôi là con ốc nhỏ
Cuộn chặt mình vào thân
Đâu đây nghe tiếng khóc
Chú Dã Tràng lang thang

Tôi của ngày biển động
Thả tay theo sóng cuồng
Dòng hải lưu đau quặn
Rên rỉ lời bi thương

Màu lân tinh mỏi mệt
Thở dốc những hoang tàn
Vọng âm nào thê thiết
Biển của thời nát tan

Ngàn năm sau biển khác
Đợi một giờ hồi sinh
Sao những nhành tảo độc
Vẫn sáng bừng trong đêm?
Ngàn năm sau biển cạn
Buông mệnh phần… lênh đênh.

Tôn Nữ Thu Dung

một nét hoa

10735644_826194720769236_378143114_n (1)

mặt trời chìm vào đá núi
chiều tím huyễn mộng ta rồi
bỗng thèm cơn mưa lất phất
bay qua nhúm cỏ trên đồi

mai sau cơn đau hoá thạch
tội lỗi rồi cũng chôn sâu
mà sao hiện tiền bức bách
xô ta bóng đổ nghiêng sầu

tiếng guốc gõ vào trí nhớ
ngày em mặc áo thiên thanh
em xanh em hồng em quế
tóc hương và mắt long lanh

em qua ngang ngày nguyệt thực
hồn ta phố xá không đèn
tiếng ta khua đêm lặng lẽ
bật diêm nhớ nắng bay lên

Ngô Yên Thái

Sinh nghề tử nghiệp

nguyentri

Lớp ba trường làng chưa xong thì Bảy Bền đã xếp bút bi phụ mẹ lo cho hai em có cái tọng vô mồm. Bà má nói học cho nhiều cũng vậy thôi con ơi, cái mả nhà mình không phát đường chữ nghĩa. Vô rừng theo cha mày cho chắc.
Hai cha con đi lấy đặc sản rừng. Mùa nào thức nấy. Rừng miền đông trái cây thôi thì vô thiên vô lũng. Nào Xay, Cám , Bù lộp, Gùi… đến mùa măng thì bà má ngày nào cũng có mặt ở chợ bán đủ loại măng khô măng tươi. Đúng là nghề dạy nghề. Mùa chính mưa ở miền Đông dầm dề không thua chi mùa mưa ở Huế trong thơ Nguyễn Bính mà cha của Bảy Bền thừa tài để cho ra măng sấy là quá xá hay. Nghề không cao dễ chi được. Chưa kể bẫy cò ke còn cho bà má có thu nhập thêm từ thịt rừng. Ngày nào ông cha cũng khề khà vài ly ba xi đế bên một đĩa thịt tú hụ không Cheo, Chồn thì cũng Nhím, Sóc hay Gà rừng. Hai cha con còn tham gia lấy cây về bán cho những trại mộc. Ai làm nhà cần loại cây chi cứ gặp cha con Bảy Bền là xong tuốt. Nhờ chí thú nên mười lăm tuổi Bảy Bền đã có một cặp bò kéo xe chiến đấu. Trên cổ xe bò Bảy đi sâu vô những cách rừng lồ ô đem loại cây nầy về xóm nhỏ dựng nghề chẻ tăm nhang cho bà con cô bác kiếm thêm.
Với rừng, Bảy Bền tinh thông hơn cả căn nhà của mình.
Nhờ cái tinh thông nầy mà những năm khốn khó sau chiến tranh rất nhiều các ông các bà có của nương theo Bảy Bền mà ăn nên làm ra, lên luôn cả hàng tỷ phú xứ ta chứ triệu phú thì khỏi nói. Đặc biệt những năm rừng bị nghiêm cấm, ai vào rừng không giấy phép là tù không cãi cọ lôi thôi. Kẹt cái lúc đó kinh tế còn khó quá, cấm thì dân nghèo lấy chi sống? Thôi thì gỗ thì cấm triệt chứ mây tre lá ta cho qua. Cấp giấy phép cho họ và ta thu thuế nuôi rừng. Nhưng quý vị thị thành muốn biết đâu đó trong nguyên sinh có tre có mây có lá thì phải thông qua thằng chưa tốt nghiệp lớp ba là Bảy Bền, còn gọi nó là anh nầy anh nọ nữa mới là ngon hung. Bảy hoá thành thần tài cho các vị có giấy phép.
Mỗi chủ khai thác chí ít trong tay năm mươi lính lác. Họ giao hết cho Bảy. Bảy đưa thợ vào những cách rừng nơi ngự trị toàn lồ ô. Người ta đưa lồ ô cây về nhà máy để sản xuất đũa. Mỗi cây người thợ rừng hưởng bẩy trăm đồng. Zin 130 đưa về nhà máy là hai nghìn đồng. Mỗi cây chủ thầu lời một ngàn ba, cho chung chi thuế má xăng cộ hết một ngàn ta còn ba trăm. Mỗi xe sáu trăm cây ta có một trăm tám mươi nghìn lãi. Mỗi ngày ta có năm xe về nhà máy thì không tỷ phú thì là chi? Ngoại trừ lồ ô cây ta còn cho ra niền để chế biến tăm nhang, mỗi bó niền thợ rừng ăn bốn ngàn về đến chỗ bán là bốn mươi ngàn, cho chi phí tối đa ba mươi ngàn. Mỗi Kamax chở bốn trăm cục niền, ngày đi hai xe. Mẹ cha ơi vàng để đâu cho hết nói chi tiền.
Về sau một đại gia rất am tường thiên thời địa lợi và lòng nhân ái bao trùm không chừa một khoản trống nào ở vùng rừng X. Vợ của Bảy Bền nhờ ông ta mà thoát chết, cảm tạ cái ơn nầy nên Bảy kính cẩn gọi đại gia là anh Sáu và nghiêng mình dưới trướng anh trong nghiệp khai thác độc quyền mây tre lá. Anh Sáu lên Bảy cũng lên theo và anh Sáu nâng Bảy Bền như nâng trứng. Chao ôi Bảy hay lắm. Lồ ô dưới lũng sâu mới là loại nhiều năm tuổi. Muốn ra một cặp đũa không bị toè đầu phải lồ ô ba năm tuổi đi lên, cây non là bỏ. Tăm nhang cũng vậy, chẻ xong đem đánh bóng thì cây tăm non sẽ gãy, nếu may mắn còn nguyên chúng sẽ bị cong vòng khi cắm lên bát hương. Bọn nhiệm thu rút lên một nắm chỉ cần một cây bị oằn là chúng bỏ cả kiện. Hàng xuất khẩu đang nằm ở bến cảng mà bị trả là chết, nên chi bước khai thác thô phải tuyệt đối cây già. Muốn cây già thì xuống lũng. Nhưng lũng trong rừng miền Đông không thua chi dốc cao khúc khuỷu dốc thăm thẳm trong thơ ông Quang Dũng tí nào. Nhưng với Bảy Bền thì không sao. Anh ta điều trị tốt.
Thợ rừng cứ cho ra sản phẩm bất kỳ nơi đâu, đèo cao hay suối sâu. Khó khăn cỡ nào cũng không qua được Bảy. Xét cần hai ba chiếc Zin sẽ vào bốc hàng một chỗ để cùng nhau hợp lực mà qua truông qua đèo. Bảy sẽ cùng một tốp công nhân chuyên xẻ đường luôn có mặt trên từng cây số với cuốc chim và xẻng trên vai. Bọn tài xế Zin ba cầu và Zin 130 phong Bảy lên hàng kỹ sư cầu đường luôn. Còn nói vầy:
– Mấy thằng kỹ sư thời nay phải gọi Bảy Bền bằng sư phụ.
Khai thác mây tre tạm gián đoạn khi mùa Đười ươi đến. Mẹ cha ơi. Dân rừng Miền Đông lên hay không nhờ loại trái cây nầy. Tháng giêng là thợ đã xuyên rừng tìm cây và dánh dấu. Cây nào có tên là xin đừng rờ vào, thợ rừng nói chuyện với nhau bằng cú đấm là chuyện nhỏ. Dao rựa cũng nhỏ luôn. Cây tao mà mày dám tra búa vô hạ là bao nhiêu tao lấy hết. Luật rừng đã định rồi. Cây đã khắc tên ai biểu mày đụng vô? Tháng hai là túa ra đi lượm Ươi bay. Loại trái nầy trị được bách bệnh đa nghe. Nóng trong người, thiệt đó, đang xỉn rượu tối mặt mà chơi một ly hai trái ươi là nhẹ liền, cả táo bón kinh niên cũng chào thua đàn anh Ươi. Nghe đâu nó còn trị được tiểu đường và thấp khớp. Nhưng nếu chỉ vậy thì không thể trả lời cho câu hỏi vì sao Ươi đắt như vàng. Đến mùa đầu nậu thu mua để xuất khẩu. Chả ai cần biết xuất để làm chi chỉ biết nó cao giá lời nhiều là em làm cái đã tính sau.
Nhưng mà đi lượm Ươi bay thì một ngày được mấy trái? Cơn ăn cơm dỡ vô rừng mà đi lượm thì ở nhà đi móc bọc ni lông còn có ăn hơn. Quý ông thợ rừng tra búa tra rìu vô cây hạ hết. Khổ cái là rừng đang được bảo vệ. Cụm rừng anh đang khai thác lồ ô tại sao cây ươi nầy bị đốn? Chỉ một cây bị ngã là anh bị tước giấy phép ngay tức khắc nghe chưa? Dạ nghe.
Lúc nầy mới thòi ra cái thông minh của thằng chủ soái Bảy Bền. Bảy không đốn mà trèo lên cây để hái. Mẹ ơi. Cây Ươi trái nhiều phải là cây trưởng thành cả hai vòng ôm người lớn và cao tầm hai mươi mét, ông cố nội ai leo cho được thưa quý anh? Ai không được chứ Bảy Bền thì pha. Bảy chả có võ nên nào biết Bích hổ du tường là cái ba láp ba xàm chi, Bảy cũng chả tin cái vụ nhún một phát bay lên như trong phim tàu. Tôn Ngộ Không cũng xạo luôn. Bảy trèo theo kiểu của Bảy và truyền nghề cho anh em thợ chả dấu diếm chi.
Bảy ra lò rèn đặt đánh bốn mươi cây đinh. Mỗi cây dài bốn mươi phân bằng thép lò xo phuộc nhún của xe Zeep lùn còn sót lại từ thời mồ ma ông cộng hoà. Không có loại thép nầy thì phải tạm sử dụng sắt rằn Pi 12. Thêm một cây búa ba ký mà cái cán cũng được hàn bằng thép trắng. Một sợi đai lưng dùng để trèo trụ điện cao thế là xong bộ đồ trèo cây. Cứ thế Bảy trèo. Cứ lên cao năm tấc nện một cây đinh lút vô hai mươi phân, bốn mươi cây là hai mươi mét. Lên đỉnh rồi tha hồ ta hái. Lưng lửng bao là thả xuống bằng một sợi tời vẫn đeo sau lưng khi chinh phục đỉnh cao. Cái vụ trèo nầy phải gan góc cỡ Phàn Khoái thời Hán Sở tranh hùng bên tàu. Lên cao là gió ngàn lồng lộng thổi. Những ai từng trèo dừa để làm cỏ chắc biết gió ra sao khi trên cao. Nhưng trên một ngọn dừa kẻ trèo không có cảm giác ngợp bởi bên dưới là nhà và vợ con đang à ơi hát bài quê hương. Cái ngợp của màu xanh đại ngàn cực bí hiểm. Ta có cảm giác như đang một mình trên biển xanh bao la với một mảnh thuyền con. Cái ngợp ấy là niềm cô đơn của một sinh linh bé mọn trước hùng vĩ của cao thâm.
Dân sống bằng rừng tất nhiên gan dạ có thừa. Đối phó với sốt rét rừng hay hùm beo lợn rừng thậm chí cả ông Bồ cũng không sợ. Con nít mới lớn cũng coi pha. Một thợ rừng thật sự phải dám trèo lên đỉnh cao khi đi Ươi. Mỗi tốp đi Ươi thường bốn nhân mạng, hai trong bốn dám trèo là bảnh lắm, thông thường mỗi tốp chỉ một đại ca. Những đại ca nầy mệt một tí khi khi trèo và hái trái, bù lại khi gùi sản phầm về xuôi đại ca có quyền đi tay không. Về xuôi để bán không dễ đâu thưa quí anh hào. Ươi cao giá nên lắm thằng trời ơi hạ cây lấy trái, kiểu thu một lần là tận tuyệt. Vì vậy bảo vệ và kiểm lâm bắt rạt gáo bất kể anh trèo hay hạ. Thợ phải cắt rừng xuyên sơn không để hàng làm ra bị lấy lại. Lắm khi phải băng sơn cả ngày mới đến nơi.
Vậy nên Bảy Bền kết nghĩa đệ huynh với một thợ rừng cũng gan góc không thua. Hắn tên Minh Tàn. Tay này một vợ và ba con. Lâm tặc loại chiến. Minh Tàn từng ở tù vị tội trộm gỗ quý trong rừng Cấm. Tù xong hắn nép mình dưới trướng đại gia Sáu làm lồ ô nuôi vợ con. Mùa Ươi có Tàn, Bảy Bền khoẻ re vụ trèo cây. Tàn tuy nhỏ con nhưng khoẻ như con bò, vài chục ký trên vai hắn bước cả cây số mà hơi thở không nặng. Một cục niền năm mươi ký hắn nhấc lên xe bằng hai tay như Trụ Vương bê nàng Tô Đát Kỷ trong phim Phong Thần. Chỉ mùa Ươi mới kéo Tàn và vợ con hắn ra khỏi khổ luỵ của cơm áo gạo tiền. Cho hay nghèo mà ham vui nên khổ thì ráng chịu con ơi. May cho Tàn là biết sống biết chơi nên Bảy lâu lâu cứu trợ bạn hiền vài đồng cho qua thì mưa gió. Không có Bảy e rằng vợ Tàn qua không khỏi cái đận bị hư thai đứa thứ tư. Mẹ cha ơi đêm hôm khuya khoắt mà vợ hắn than đau bụng. Bảy phải đích thân đánh Zin 130 qua mặt đại gia Sáu đưa vợ bạn lên bệnh viện Huyện. Bạn bè vậy chớ sao nữa bây giờ hả ba quân? Tốt quá thì thôi.
Nhưng có một chuyện mà Minh Tàn nhớ ơn Bảy suốt đời không thể nào quên. Ơn nặng bằng sinh thành chứ không ít. Số là mùa Ươi năm ấy Tàn bị một tai nạn hi hữu tưởng chết. Sống được thì quả là mạng lớn tầm thái sơn. Tàn trèo lên đỉnh một cây ươi hái trái sao đó không biết mà hắn bị sẩy tay rơi xuống, may thay một cánh tay của thân Ươi giữ Tàn lại bởi xóc vô áo. Áo thợ rừng bằng nilon tốt nên Tàn ta tòng teng. Nó mà toác một phát thì Tàn du địa phủ. Dưới gốc cả bọn toát mồ hôi khi nhìn Bảy Bền bò ra cành cây cứu thằng bạn. May quá cây Ươi ngó vậy mà dai. Ơn cứu mạng nầy đã khiến Tàn và thợ rừng làm mây tre cho chủ Sáu kính trọng Bảy lắm.
Nói chung về gan dạ và tinh thông rừng Bảy Bền là số một. Sống với bè bạn có tình có nghĩa cúng hết ý luôn.
Nhưng như vậy đâu đã hết cái ngon lành của Bảy với rừng. Ba cái cây ăn trái và mây tre lá chỉ là chuyện vặt, dù cái vặt nầy là sự sống của vô thiên vô lũng dân dưới đáy cuộc đời. Cái làm nên tên nên tuổi Bảy Bền là một nghiệp khác, nghiệp nầy có làm vẫn đục đi tí chút tình thân của Bảy và Minh Tàn. Tàn cho rằng trên đời nầy không có chi độc ác hơn là phá nhà cướp của nhà người. Ủa… chớ nghiệp chi mà nghe rỡn ốc vậy kìa? Xin thưa đó là nghiệp ăn Ong. Đúng rồi. Đi lấy mật ong đồng nghĩa với phá nhà cướp của chớ còn chi nữa. Nhưng nói vậy liệu có cực đoan không? Té ra câu vật phải dưỡng nhơn là sai à? Vậy thì lấy mật đâu mà… rơ lưỡi cho trẻ mới sinh?
– Nói thiệt với mày – Bảy Bền nói với Minh Tàn – Bọn nhà giàu ăn Tay Gấu, Óc khỉ, Hà nàm(1) cheo chồn nhím thỏ heo rừng có sao đâu? Nói như mày thì hạ một cái cây cũng ác vậy. Ác ác ác cái con khỉ. Tao thấy mấy thằng quyền chức khen cái rượu ngâm ong non quá chừng luôn. Nhất là Vò vẻ hay ong Lỗ.
– Mày chỉ biết cái trước mắt mà không biết cái nguy hại về sau. Con ong cái kiến hay bất cứ một sinh linh nào có sự sống là có quyền tồn tại như tao và mày. Một cái cây cũng có linh hồn của nó. Trong Truyện Kiều ông Nguyễn Du viết rằng: Cũng là phận cải trôn kim. Nghĩ là một hạt cải, một cái trôn kim bị sứt cũng có số phận của nó…
– Dẹp mày đi. Tao mới lớp ba chả biết ông Du cô Kiều nào hết. Tao làm gì kệ mẹ tao, rủ mày đi kiếm tiền không đi thì thôi đừng có dạy khôn tao.
Nói vậy chứ ăn ong đâu phải ai cũng làm được. Không có nghề ong nó đốt cho mất xác chứ chơi sao? Ong ở rừng miền Đông đâu phải như ở miệt U Minh trong Đất rừng phương nam của ông Đoàn Giỏi. Đâu đơn giản đến mùa là vào rừng canh hướng gió đặt kèo chờ ngày lấy mật. Ong mật miền Đông đóng tổ trên cổ thụ cao cả mười lăm mét là thấp. Có tổ to bằng tấm chiếu đơn, chỉ cần xin một nữa là có cả vài mươi lít tinh tuý của rừng. Phải có bí quyết mới dám đụng vô nơi ở của chúa rừng. Xưa nay ai cũng nhầm ông ba mươi là chúa sơn lâm. Xin thưa chúa của rừng xanh phải là Ong mới chính xác. Có những tổ ong đóng trên cao cả Gấu chúa cũng chờn không dám to toe. Chưa leo đến đã bị đánh cho tối mặt còn đâu nữa mà ăn? Riêng cái khoản ong Lỗ thì chúa sơn lâm phải cong đuôi chạy dài. Thậm chí chạy mà vẫn bị đuổi theo đánh cho kỳ chết mới thôi. Thiên hạ nghe đến ong Vò vẻ là đã chờn, Vò vẻ mà so với ong Lỗ thì chẳng ra chi. Đã có người bị ong Lỗ đánh đến thối thịt.
Có dữ đến mấy vào tay của Bảy Bền là xếp giáo quy hàng. Hôm đó một thợ rừng đang vác lồ ô vào đống thì bị ong Lỗ tấn công. Ba chân bốn cẳng anh ta chạy về chòi. Nghe kể, Bảy Bền liền khoác túi dết rồi thân chinh đến nơi. Chỉ một mồi lửa và một cái chi đó trong túi dết được đốt lên mà Bảy Bền dám bật nắp một tổ ong Lỗ mà vĩ chứa ong non có đường kính những năm mươi phân. Cả chục vĩ như vậy. Bảy Bền khẳng định rằng trong tất cả các loại con non các loài thì ong Lỗ và Vò vẻ là tốt nhất. Hà nàm của thú bốn chân cũng không qua. Con ong non ngâm rượu là một loại phục hồi khí lực của đàn ông tốt nhất trần đời. Cả sâm nhung quy thục bên tàu cũng không dám bì với ong non. Nhìn tổ ong Lỗ bị diệt Minh Tàn lắc đầu:
– Tổ ong nầy đâu có ghẹo mày mà mày giết nó vậy?
– Thằng Dũng Giỏi suýt bị giết mày biết không?
– Đụng đến thì nó cảnh giác vậy thôi, nó đuổi chứ có đánh đâu, nếu nó đánh thằng Dũng chạy lên trời cũng không thoát. Mày coi chừng bị trả quả cho coi.
– Nhân với chả quả. Mày yên cho tao nhờ cái coi.
Dữ như ong Lỗ mà Bảy Bền còn trị cái một thì ong Mật là nguồn thu tuyệt vời nhất mà Bảy có. Thời nào cũng vậy gian trá luôn đi kèm. Thấy một thằng chở mật trong rừng ra, mật còn nằm trong vĩ sáp hẳn hoi mà vẫn cứ là nước đường. Chỉ mật của Bảy là tuyệt đối không pha. Và nguyên chất luôn có giá của nó. Đại gia nào muốn có mật tốt cứ gặp Bảy. Ai mua mật muốn biết thiệt chơn cứ đưa cho Bảy. Ba cái vụ thử lá hành không đáng tin bằng cái lưỡi của chính chúng ta. Mật ong là tinh tuý của hương hoa đương nhiên nó phải nhẹ hơn mật của đường. Một chai mật ong bọn gian trá luôn cho mật thiệt nằm trên. Muốn thử ta rót ra chén. Mật ra trước trong lưỡi ta có vị khác mật giữa chai. Chả một thằng bán mật gian manh nào qua được Bảy.
Thiên hạ rừng X gọi Bảy là chúa không ngoa tí nào hết.
Và chúa chết vô cùng thảm khốc.
***
Ngày nay hầu hết dân X vẫn còn kể cho nhau và con cháu nghe về cái chết của Bảy Bền. Quả ông bà dạy sinh nghề tử nghiệp không ngoa tí nào hết. Ăn ong lên đến hàng sư như Bảy mà vẫn không thoát sự truy sát của thần rừng. Ai từng mục kích và tham gia chôn cất Bảy Bền đảm bảo tin rằng rừng có thần.
Mùa Ươi tàn. Dân mây tre trở lại nghiệp chính, tuy vậy vẫn còn một số kiếm cú chót trước khi mùa mưa đến. Những năm tháng ấy rừng còn nhiều nên thời tiết rất ổn định. Giữa tháng ba âm lịch dân nương rẫy đã xuống giống đón mưa, và chắc ăn là chỉ ba ngày sau khi xuống là cây mưa đầu mùa đến tức khắc.
Hôm ấy thằng Đen chạy về hào hển nói vOi Bảy Bền:
– Chú Bảy ơi… tui đi mót Ươi gặp một tổ ong Thế to lắm.
– Ở đâu?
– Nó đóng tổ trên một cây Ươi ở đồi Tượng.
– To cỡ nào?
– Bằng cả tấm chiếu chú ơi. Tui đang lượm nghe ù ù trên đầu, sợ quá chạy về báo cho chú hay
– Mày dẫn tao đi lại chỗ đó coi.
Ngay chiều hôm ấy Bảy Bền theo xe về xuôi. Hôm sau có mặt tại hiện trường thêm thằng em vợ tên Bằng và một đệ tử tên Hoà. Thường thì khi lấy Ươi có thêm Minh Tàn là đủ bộ tứ. Nhưng gì chứ ăn ong thì không có tên Minh. Theo Bảy Bền thì chẳng qua Tàn ta sợ ong đánh nên lên giọng chứ đạo đức cái con mẹ gì thằng tù đó:
– Mẹ nó – Bảy Bền nói – nó tù thì chớ còn từng làm trong lò mổ heo. Trâu mà nó con lột da sống bằng lưỡi câu nữa kìa.
Nói xong ba thày trò lên đường, Đen theo luôn cho đủ bộ:
– Mày cứ ngồi yên dưới gốc coi tụi tao làm, về tao cho mày năm lít. Được chưa?
Trước khi nện đinh thép vào thân cây Bảy Bền đốt sáu cây nhang đại. Nhang đại dài tám mươi phân to bằng ngón tay cái. Bảy dắt vô dây lưng ba cây, ba cây còn lại giao cho ba đệ tử. Trước đó bầy ong nghe động đã thả rơi tự do từng tảng ong xuống đầu bộ tứ rồi bay lên nghe ù ù như tiếng máy bay. Vậy mà không biết trong mấy cây nhang Bảy pha chế cái chi mà bầy ong không dám lao xuống. Chúng chỉ bay đen ngòm và đặc sệt bên ngoài ù ù ù ù nghe vô cùng kinh rợn. Không kinh nghiệm lão luyện là đứng tim chết tại trận. Thăng Đen lần đầu nên mặt tái như chàm đổ. Không có cái tỉnh khô của Hoà và Bằng là nó bỏ của chaỵ lấy người.
Cứ thế Bảy nện đinh đến đâu lần lên đến đó bằng đai lưng trèo trụ điện. Bầy ong tuốt trên cao ù ù hâm doạ chả làm Bảy động tâm. Đóng đến cây đinh thứ ba mươi, nghĩa là độ cao áng chừng mươi lăm mét thì sự cố đến.
– Trợt chân chăng?
– Không.
– Dây thắt lưng bị đứt?
– Không. Dây cáp dù bẹ ba xịn đứt sao được.
– Vậy thì cái gì?
– Trời hại.
Đúng lúc đó mây đen kéo đến và cây mưa đầu mùa của rừng Miền Đông nhanh chóng tràn qua. Trời hại hay thần rừng lấy mạng thì cũng như nhau. Mưa đủ để tắt sạch mấy cây nhang đại – cái mà – dùng để cho tất cả các loại ong hãi sợ hoàn toàn mất tác dụng. Về sau mấy thằng chuyên ăn ong kể rằng, thông thường khi mưa đến ong sẽ lui về để bảo vệ tổ và ong chúa. Nếu vậy thì Bảy Bền đủ thời gian để tuột xuống và chạy. Nhưng không hiểu sao bầy ong ào vào Bảy và tấn công. Hàng tỷ con ong Thế. Loài ong mật dữ như gấu ngựa, con nào con nấy to bằng ngón tay út tha hồ đánh kẻ đang phá nhà mình. Ba thằng dưới gốc hãi quá ba chân bốn cẳng tuôn theo đường mòn chạy về chòi.
Sau cây mưa toàn thể thợ rừng ngồi ở chòi nghe báo cáo sự thể. Không một thằng nào dám lên hiện trường xem Bảy sống chết ra sao. Mẹ ơi có nghề có cả đồ nghề còn chết nói chi tay không. Tài xề chở lồ ồ về xưởng báo ngay cho đại gia Sáu. Sáu báo lên chỉ huy lâm trường. Ngày hôm sau các quan rừng và vợ cùng hai đứa con của Bảy có mặt. Cũng chả ai dám thâm nhập hiện trường. Lúc đó đại gia Sáu mới nhớ đến Minh Tàn.
Minh Tàn đang chăm bà xã hắn ở bệnh viện. Đại gia Sáu phải nhờ môt hộ lý chăm lo người bệnh rồi đưa Tàn lên rừng bằng Min khơ 125 phân khối. Minh đến ngay hiện trường không một chút sợ hãi. Về sau hắn nói với anh em rằng sau hai ngày một đêm cái xác đã lạnh giá. Ong là loài thanh khiết và tinh khôn. Bằng chứng là nó chỉ giết kẻ phá mình chứ tha cho ba thằng ăn theo. Chúng mà cố tình thì cu Đen, Hoà và Bằng lên trời cũng không thoát. Xác chết đã nặng mùi tử khí nên đàn ong phải ra đi.
Đưa cái xác của Bảy xuống là một kỳ công của Minh Tàn.
Và rất ngoạn mục.
Những sợi dây trên những chiếc Zin 130 dùng để cảo cứng lồ ô trước khi rời rừng được tập trung. Tàn nối một sợi dài thăm thẳm rồi theo nhưng ngọn đinh trên cây ươi cứ thế leo lên. Tất nhiên là cũng đai lưng tử tế. Đến bên Bảy Bền, Minh Tàn cột một đầu dây vào lưng anh ta. Lấy cái túi dết đựng đinh và cây búa. Minh tiếp tục nện đinh vô thân cây lên đến cái nhánh mà cái tàng ong trắng như hoa bưởi đang tại vị. Nó to bằng tấm chiếu là có thật. Minh cột sợi dây vào nhánh cây rồi lại bò xuống chỗ xác chết. Hắn ta rút trong túi dết ra một lưỡi dao, thọc mũi nhọn vào cái đai lưng của Bảy Bền. Đai lưng đứt và Bảy Bền tòng teng bởi sợi dây được cột chặt bên trên.
Thật khủng khiếp.
Một người chết đang lơ lửng trên không.
Minh Tàn lại trèo lên nhánh cây. Tháo sợi dây đưa xác chết từ từ xuống đất và Bảy Bền lên xe Jin về nhà để ra nghĩa địa.
Nguyễn Trí