MỘT Ý KIẾN NHỎ: ĐI TÌM CÁI DỞ CỦA THƠ HAY.

Xin nói ngay từ đầu để tránh mọi ngộ nhận, tôi chỉ là người chọn lọc những bài thơ hay từ các nhà thơ gởi đến trang mạng của mình. Là một người yêu thơ nên khi chạm vào câu đầu tiên tôi đã biết đó là bài thơ hay hoặc dở! Nhưng cũng có rất nhiều bài thơ tôi cầm lên đặt xuống đầy băn khoăn nghi hoặc. Đó cũng là một trăn trở của rất nhiều nhà phê bình có tâm và có tên (tuổi). May mắn thay, tôi đọc được những lời này của Nguyên Hưng Quốc- một trong hiếm hoi những nhà phê bình tôi chọn đọc- nói thật, tôi vốn không mấy yêu thích những gì khoa học quá, cao xa quá, tiểu tiết quá, hiện đại quá, bề trên quá…nên tôi thường…bỏ qua những nhà phê bình thơ và nghĩ thầm: “giỏi thì viết một bài thơ hay ho nghe thử chớ nói thì ai nói chẳng được!”
Với người làm thơ, chỉ còn trang giấy. Không có gì ngoài trang giấy. Trên trang giấy, không phải chỉ có chữ mà còn có cả những khoảng trống chung quanh các con chữ. Từ đó, thơ có thêm một yếu tố mới: yếu tố phi từ vựng. Chữ, cuối cùng, chỉ là một loại ký hiệu. Mà ký hiệu nào cũng có một mục đích giống nhau: giao tiếp. Ngay cả khi người ta loại trừ chữ, chỉ sử dụng ký hiệu, mục đích ấy vẫn có thể được duy trì. Nghĩa là vẫn có thể có thơ được. (Nhà phê bình Nguyễn Hưng Quốc nói hay hơn, lập luận chặt chẽ hơn nhiều nhưng tôi chỉ nhớ đại khái vậy và lấy làm tâm đắc điều này lắm!)
Nhân đọc bài Bà Chúa Thơ Lục Bát của tác giả NGUYÊN LẠC gởi đến, viết về Phạm Hiền Mây ( cả hai đều là người cộng tác với Tương Tri). Thêm bài phê bình của Trần Trung Thuần- người mà ai cũng biết là nhà thơ Trần Vấn Lệ- cũng liên quan tới nhà thơ Nguyễn Hàn Chung với ” Lục Bát Tản Thần”. (Tóm lại cả bốn đều là những người tôi yêu mến.) nên tôi không thể không lên tiếng, dù tiếng nói của tôi chẳng có kí lô gam trọng lượng nào đối với ai và chắc chắn là …chìm vào hư không, nhưng kệ đi yêu ai cứ bảo là yêu/ ghét ai cứ bảo là ghét…. Còn nếu ghét thì im lặng chớ đừng nói yêu, như vậy là thỏa hiệp xấu xa! Tôi không bao giờ thỏa hiệp.( hết phần …để tránh ngộ nhận…)

1.Trần Trung Thuần:
ông không phải là một nhà phê bình chân chính có học vị học hàm và các loại học này kia như những nhà phê bình khác mà chỉ là một nhà thơ trữ tình, vãi chữ như vãi trấu,thơ ông hay, ngôn ngữ tự nhiên dễ dàng như kể chuyện.Ông thành công vì người đọc nào cũng tưởng ông viết cho mình. Điều này rất khó.Nếu căn cứ vào những lời ông viết để đánh giá Phạm Hiền Mây thì không đúng và thiếu công bằng với cô
2. Phạm Hiền Mây:
Phạm Hiền Mây chưa bao giờ tự xưng và tự hào cho rằng mình là Bà Chúa Thơ Lục Bát. Cô từng là một cô giáo, lỗi của cô là đẹp và làm thơ dễ thương, lỗi của cô là mỗi ngày( hoặc vài ngày) lại đưa thơ và hình của mình lên FB. Cô là một cô giáo, một người làm thơ trẻ mà tôi yêu mến, có một nhà thơ tên tuổi nói với tôi về tính cách của cô:” ở ăn thì nết cũng hay…” Vâng , cô ấy không hề làm mất lòng ai kể cả những người cô không thích!
3.Tôi:
* Không nên đánh người đẹp dù chỉ bằng một cành hoa, nhất là những …người đẹp làm thơ. Các nhà thơ rất dễ bị tổn thương. Khi tổn thương họ làm gì nhỉ? Theo tôi, họ im lặng. Và tùy theo tính cách, họ thể hiện sự im lặng với ngầm ý rằng:
-Với tính cách hiền lành cam chịu họ sẽ im lặng khuất phục và tìm chỗ nhấm nháp xoa dịu vết thương.
-Với những người bản lĩnh họ sẽ phẩy tay bỏ qua không quan tâm đến kẻ làm tổn thương họ.
* Những cách đảo chữ , trùng lặp, mượn chữ cũ chen vào câu thơ mới v.v…chỉ là cách làm mới những gì đã cũ.Thử nghĩ coi , chỉ có 24 chữ cái thôi, các nhà thơ cũ danh tiếng lẫy lừng đã xài đến cạn kiệt rồi còn đâu!
Vậy thì hãy để cho những người trẻ sáng tạo, đôi khi không hay lắm, nhưng lạ. Lạ và sáng tạo là tính cách của các nhà thơ trẻ đang đi vào trường văn trận bút. Họ không muốn và không thể dẫm lên dấu chân người đi trước.Theo thời gian, thơ họ sẽ được chấp nhận hoặc đào thải, nhưng dù sao đi nữa, họ vẫn có một chỗ đứng nhỏ bé hoặc lớn lao trong nền văn học sau 75. Chưa ‘tam bách dư niên hậu” thì chúng ta có nói gì cũng còn là quá vội!
4. Quỳnh Nga:
Cô là một người làm thơ tôi thích đọc, hồn hậu, trong trẻo, tròn vần đúng luật và bát ngát cái tâm Nam Bộ. Nếu có duyên, tôi rất hân hạnh mời cô cộng tác
5. Cuối cùng:
Tôi muốn mình thật công tâm khi nói về những cây bút tôi yêu mến nên trên đây chỉ là một ý kiến nhỏ để rộng đường dư luận.
Rất biết ơn những nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình không ngừng quan tâm, không ngừng phổ biến, không ngừng sáng tạo, không ngừng cùng nhau giữ gìn tiếng Việt.
Rất cảm ơn anh Nguyễn Hưng Quốc, Nguyên Lạc, Phạm Hiền Mây, Trần Vấn Lệ, Nguyễn Hàn Chung. Thật bất ngờ, những “cái nhà” tôi nêu tên đều từng là nhà giáo dạy Văn nên dù có nói tới nói lui, họ đều cùng một mục đích cuối cùng là…tôi yêu tiếng nước tôi!
Và, tôi cũng vây. Giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt là một trong những tôn chỉ của trang TƯƠNG TRI.

Tôn Nữ Thu Dung

Advertisements

GỌI

Gọi người từ phía hoàng hôn
nghe câu tử biệt
rợn buồn sinh ly,
Bến Vân Lâu chẳng hẹn kỳ
trùng lai nội cỏ
thầm thì hạt sương.
Gọi người từ phía tà dương
có chờ ta
cuối con đường trắng mây.
Một mai tàn cuộc
buông tay,
nghiêng vai cho gió về lay dặm buồn.
Biết còn viễn phố giăng sương.
Biết còn tan hợp mây tuôn non đoài.
Lòng ta gác xế u hoài,
Cuối trời một bóng đổ dài hoang vu…

(…Nếu xưa đừng lạc lối về
Trao yêu lơ đãng
quên thề trăm năm…)

Tôn Nữ Thu Dung

ĐÊM LƯU XỨ

Đêm khói tỏa, đêm trầm hương mê hoặc
Đêm tàn canh qua vội rất vô tình
Con dế nhỏ gọi hoài âm thưa, nhặt
Cũng như người thao thức với đêm thanh.

Bờ huyễn ngạn còn vang lời hư ảo
Đưa tôi về nồng ấm những khuya mưa
Và hoài niệm vẫn xanh màu phương thảo
Màu chiêm bao lẫn khuất bụi xa mờ.

Đêm lưu xứ nghẹn ngào men rượu đắng
Từng giọt buồn như lệ buốt thiên thu
Nghiêng ly cạn đợi một giờ Nguyên Đán
Vàng son xưa phai nhạt tự bao giờ…

Tôn Nữ Thu Dung

NHỮNG BÀI NGUYÊN ĐÁN


Nguyên Đán 1

Mùa Xuân ngại ngùng lối nhỏ
Khẽ thôi, vạt nắng lưng đồi
Cánh bướm chao vờn trước ngõ
Mơ hồ nhặt sợi tình rơi.

Mùa Xuân đi ngang vườn cỏ
Lỡ tay đánh thức hoa vàng
Mùa Xuân dịu dàng thổ lộ:
Em là ngọn gió lang thang

Mùa Xuân vẽ thêm quầng mắt
Nâu nâu màu sữa cà phê
Mùa Xuân tô hồng môi nhạt
Thơm như giọt nắng rơi về.

Mùa Xuân cầm tay nói khẽ:
Đừng quên lời đã hẹn thề
Sương -hay là mưa- như lệ
Ngàn sau buốt lạnh sơn khê…

Nguyên Đán 2

Ai rải tơ vàng trong nắng rơi
Mùa xuân hong tóc ở trên đồi
Một màu cỏ biếc thơm nguyên đán
Những hạt hoàng hoa…
lấp lánh trôi.

Ai gởi mây ngàn xanh ngắt bay
Tầm xuân hé nụ ở phương này
Có thoáng mịt mờ trong ký ức
Một trời thương nhớ khói sương say.

Ai thả giọt đàn theo gió lay
Ngũ cung lạnh tựa nét cau mày
Tôi nhặt nỗi buồn rơi trên cỏ
Và đếm giùm ai tiếng thở dài.

Ai nhón chân về trong chiêm bao
Hồn xuân lãng đãng cuối phương nào
Ai lỡ trăm năm lời hẹn cũ
Về đứng bên đời…tan tác đau…

Nguyên Đán 3

Em buộc mây trời trong vạt áo
Đồi xưa xanh mướt cỏ phiêu bồng
Gót sen lướt nhẹ qua triền nắng
Có gió đâu mà tôi bâng khuâng

Em níu hồn nhiên vầng nhật nguyệt
Đừng buông tay nhé nhỡ khuya rằm
Có vì sao lạc trong đôi mắt
Tôi biết làm sao khỏi nhớ nhung

Em xa như thể tinh cầu lạ
Tiếng cười những hạt thủy tinh rơi
Long lanh sương vỡ đêm về muộn
Lạnh quá hiên xưa vắng một người…

Nguyên Đán 4

Một chút tơ vàng trên lối mưa
Ngón tay hờ hững phím cung đùa
Có thả xuống hồn âm điệu cũ
Lãng đãng như thời hương rất xưa

Em giấu hồn nhiên trong khóe xuân
Vô tình rơi lạc những bâng khuâng
Có phải đêm vừa qua rất nhẹ
Để lại vườn tôi một đóa hồng

Em giấu tình tôi trong ngón tay
Mỗi lần buông xuống mỗi lần say
Thời gian như thể là mây khói
Em xóa giùm tôi những đắng cay…

Tôn Nữ Thu Dung

ĐÊM NGUYỆT QUẾ

Đêm Nguyệt Quế sương hay là nước mắt
Bờ cỏ xanh hoài nhớ dấu chân ai
Con dế nhỏ vì sao mà thổn thức
Giọt long lanh rơi vỡ suốt khuya dài

Khung cửa sổ ngọn đèn vàng hiu hắt
Bài du ca muôn thuở gió ru buồn
Bàn tay lạnh che ngang vầng trăng muộn
Nghe nghẹn ngào lời vọng thức mưa tuôn

Bầy dơi xám bay qua vườn lặng lẽ
Cánh rã rời tiễn biệt dấu chân đêm
Từ ký ức- suốt đời- hương Nguyệt Quế
Và một người, tôi không chắc, đã quên

Đêm Nguyệt Quế
dịu dàng
đêm Nguyệt Quế
Đêm cuối cùng rồi từ đó xa xăm…

Tôn Nữ Thu Dung

QUỲNH THÁNG CHẠP

Bất ngờ đêm tháng chạp
Đóa quỳnh hương trở mình
Hé nụ cười bạch lạp
Tặng một người… đã quên

Chỉ còn mình quỳnh thức
Khuya có thơm trăng rằm
Một vì sao chớp mắt
Sương ngậm buồn trăm năm

Mặt hồ xưa sóng vỗ
Lời thiên thu ân cần
Tiếng dương cầm rạn vỡ
Rơi nát từng thanh âm


Chỉ còn mình quỳnh thức
Thức… ru người ngủ yên.

Tôn Nữ Thu Dung

MƯỜI NĂM

Mười năm hoa trắng rơi vườn cũ
Tôi nhặt mùi hương thảng thốt- buồn
Mười năm áo lụa về qua ngõ
Biền biệt mùa thu ngơ ngác- vương

Mười năm chấp chới hồn mây tím
Lặng lẽ tàn đêm dáng nguyệt rằm
Mười năm con sóng xô cuồng nghiệt
Trôi dạt tình tôi tận cuối sông

Mười năm em có còn mắt biếc
Môi có còn thơm một chút trăng
Mười năm em nói lời ly biệt
Tôi vẫn hoài đau một vết thương
Mười năm tôi níu tàn phai- tiếc
Nghe gió về quanh lạnh chỗ nằm…

Tôn Nữ Thu Dung

VẾT THƯƠNG

1.
Bản Giao Hưởng về Máu, Xương, Sinh, Tử
Vẫn lang thang cuối biển rộng sông dài
Những hồn oan ngàn năm chưa yên ngủ
Bỗng trở về theo lời gọi chân mây.

2.
Và ảo vọng trượt dài trên sân diễn
Dàn Đồng Ca cúi mặt… hổ ngươi thầm
Tiếng Trumpet cứa ngang miền quá khứ
Những tượng đài chìm khuất cuối hoàng hôn.

3.
Đem thị phi treo trên đầu ngọn bút
Cuồng vọng lấm lem bôi xóa tâm hồn
Khi nhìn lại thấy cuộc đời bất ổn
Và hành trình đâu đó… rất cô đơn

4.
Thời chúng ta, khó mở lòng trắc ẩn
Mỗi con người tự ôm ấp vết thương
Lúc thấm mệt ngã bên trời… khắc khoải
Tan tác buồn, thuở cát bụi tha phương.

5.
Khi tàn cuộc những thanh âm bất lực
Bài Tụng Ca cũng rời rã vô hồn
Chiếc mặt nạ cuối cùng… rơi nước mắt
Tiếng thở dài buốt lạnh cả hư không…

Tôn Nữ Thu Dung

DOANH DOANH NGOẠI TRUYỆN

Trường Giang cuồn cuộn về đâu
Sóng xưa vùi hết anh hào mỹ nhân
Được thua thành bại chẳng cần
Thiên thu còn lại chỉ ngần này thôi
( Tư Mã Doanh Doanh)

Tôi, người chấp bút, phải nói đôi điều về Tư Mã Doanh Doanh:
Cô là cháu nhiều đời của nhà sử học Tư Mã Thiên ( dĩ nhiên trước khi bị cung hình, sử gia Tư Mã Thiên đã có con trai nối dõi), có tội với triều đình nên dòng họ này phải lưu lạc vong thân, thay tên đổi họ.
Tư Mã Doanh Doanh, mấy ngàn năm sau, thương cảm cho những nguồn lịch sử bị vo tròn bóp méo, cô ngồi vào bàn phím, gõ gõ hằng đêm, thức cùng cô là con cú mèo lim dim trên ngạch cửa, những khi xao lòng hay mệt mõi, cô nhìn vào bạn mình và tìm kiếm ở nó sự kiên nhẫn và khôn ngoan cần thiết, nó gật gù nhìn cô, mỉm cười xoa dịu: Cố lên nào , bạn ta. Cuộc đời ấy, có bao lâu để đợi chờ…
Nên, những điều cô viết có thể là chính sử hoặc chỉ là ngoại truyện, tâm niệm của cô là làm giảm nhẹ mọi uẩn khúc, mọi tranh chấp, mọi hoài nghi… để lịch sử mãi mãi là một giòng trôi của định mệnh, mà ta tìm ở đó- ngàn năm sau- một tiếng thở dài!

VÀO TRUYỆN:

Năm này, tháng nọ, ngày kia.
Thời Nam Bắc giao tranh, Ngô Quốc Sư là thầy dạy của mấy chục ngàn môn sinh đệ tử và được toàn thể học trò yêu kính, thuở ấy tuy ngài danh tiếng lẫy lừng nhưng có một điểm nhượt trầm trọng là quá khôi ngô lồng lộng nên dù có 5 lần 3 lượt nộp đơn xin dạy ở một trường Dòng dành cho nữ sinh đã bị ban giám hiệu gồm các nữ tu Dòng Notre Dame rất tiếc mà phải e ngại lắc đầu.(Đó chỉ là ngoại truyện chứ thật sự các Soeurs đã mấy lần tam cố thảo lư để thỉnh cho được Quốc Sư về khai tâm mở trí cho bọn đệ tử của mình)
Quốc Sư, rất khiêm tốn không bao giờ chịu tôn mình là Quốc Sư như nhân gian truyền đạt mà chỉ nhã nhặn xưng mình là Quốc Sĩ, nội điều đó đã nói lên cái tâm của một vị thầy – tâm sáng như gương, lòng khiêm cung như nước!
Ở đâu không biết, chứ ở ngôi trường Notre Dame De… Nha Trang thì mỗi giờ dạy của Quốc Sư, ngoài tiếng giảng bài trầm hùng bi thống chỉ có nghe thêm những tiếng rơi khe khẽ của những chiếc lá bàng khô. Yên tĩnh tuyệt đối đến độ ngoài sân bọn Bồ Câu cũng nhỏ nhẹ nghiến những hạt thóc, rón rén bước trên cỏ không dám gây tiếng động… ngoại trừ tiếng tằng hắng của Soeur Hiệu Trưởng khi bất chợt đi tuần qua qua lại lại bắt gặp quả tang một cô học trò nào đó đang mộng ngoài cửa lớp!
Dù Quốc Sư thông đạt thiên kinh vạn quyển nhưng vẫn dễ dàng đỏ mặt khi những cô học trò ngoan ngoãn khoanh tay dạ thưa thầy, con…( này kia khác nọ…)
Để tránh tình trạng nguy cơ vòng tay học trò, Soeur luôn bắt đệ tử xưng con với các thầy dù vẫn cho phép xưng em với các cô
Năm ấy, Quốc Sư tuổi trẻ tài cao, chừng hăm mấy tuổi đời thôi mà học trò thì có đứa đã mười tám tuổi… Nhưng trái tim Quốc Sư đã rơi vào chốn khác.
Cũng năm ấy, Tiểu Siêu( không phải Tiểu Yêu) 17 tuổi. Mặc dầu học ban B nhưng cô khá là văn hay chữ tốt, có bài vở đăng đều đều trong các tờ báo thiếu nhi và được xuất bản hẵn một cuốn truyện nhi đồng!
Tiểu Siêu hay theo dõi các tình hình diễn biến văn nghệ văn gừng liên quan đến các văn nhân thi sĩ toàn địa phương, toàn quốc lẫn toàn thế giới.
Một buổi sáng mây mù âm u khắp chốn,cô hớt hơ hớt hải đến lớp thông báo một tin quan trọng ngang ngửa với tin cô sẽ dẫn cả lớp đi ra biển ăn gỏi bò khô đu đủ và uống nước dừa khi nào nhà xuất bản Tuổi Hoa trả tiền nhuận bút tác phẩm đầu tay của cô ( Uổng thật, đến gần tháng 4/75, khi cả lớp tan tác lìa nhau rồi cô mới nhận được số tiền lớn kinh khủng này- đối với cô- nên lời hẹn bất thành)
– Nghe nè, nghe nè:
em mang mùa thu vào lớp học
phấn trắng ngỡ ngàng trên tay anh
mây trời bỗng hạ xuống thật thấp
chữ nghĩa vỗ cánh bay rất nhanh…

Cả lớp xôn xao, Tiểu Siêu đưa ra tờ tạp chí Nha Trang Nghĩa Thục có in bài thơ trên, cả lớp xúm coi và Tiểu Siêu nghe nhiều tiếng thở dài
– Thầy viết cho ai vậy Tiểu Siêu?
– cho Tiểu Long Nữ đó!
– Tiểu Long Nữ đẹp quá hèn chi…
Tiểu Siêu duyệt bài thơ của Quốc Sư, duyệt thêm Tiểu Long Nữ dù chẳng ai cần cô phê duyệt!

Sau biến cố 4/75, Quốc Sư cùng nhiều đệ tử ra đi tìm đường cứu nhân độ thế… Tiểu Siêu gặp lại Thầy ở một nơi bình yên chim hót, thung lũng hoa vàng mấy độ. Thầy, với micro cầm tay, head phone đeo tai, hùng hồn biện thuyết vào mỗi chiều thứ ba, năm, bảy cho chương trình radio Tiếng Nước Tôi
Quốc Sư,vẫn phong độ như thuở nào dù đã là ông nội.
Tiểu Siêu , vẫn là cô học trò nghịch ngợm dù đã là bà ngoại, vẫn luôn luôn lễ phép kính trọng Thầy. Nhất tự vi sư, bán tự vi sư… huống chi Quốc Sư đã dạy dỗ Tiểu Siêu từ triết đông tới triết tây lẫn một phong cách sống thật khiêm cung mà cũng thật ngấm ngầm kiêu hãnh. Phong cách sống của các bậc hiền nhân quân tử mà Tiểu Siêu dù cố gắng cách mấy cũng chỉ được chưa tới nửa phần…


Thầy và các học trò Thánh Tâm ở Nam CALI

Năm này, Tháng nọ, Ngày Kia.
Có một chàng chiến binh thi sĩ, chán cảnh chiến tranh, chàng bèn làm thơ phản chiến:

Dăm thằng đánh trận. Dăm thằng chết
Chỉ sót mình ta cứ sống nhăn
Đù má nhiều khi buồn hết biết
Lo mãi sau này cụt mất chân

(Còn tiếp)

LỄ TƯỞNG NIỆM (Thông báo này thay thư mời)

Năm nay, lễ tưởng niệm nhà văn NGUYỄN TRƯỜNG SƠN (1918-2015) của GIA ĐÌNH TUỔI HOA được tổ chức muộn hơn một chút. Buổi lễ lần này được mở rộng để tưởng niệm cả những cây bút Tuổi Hoa đã khuất bóng, như các tác giả MINH QUÂN, TRINH CHÍ, ĐỖ TƯ LONG (Trần Miên Trường), VŨ CHINH v.v…, và mới đây nhất là HOÀNG ĐĂNG CẤP.
Ngoài ra, trong buổi lễ này chúng ta cũng tưởng nhớ đến: Ông NGUYỄN HÙNG TRƯƠNG – chủ nhà sách KHAI TRÍ, đồng thời là CHỦ NHIỆM tuần báo THIẾU NHI. Ông NGUYỄN VỸ – CHỦ NHIỆM tuần báo THẰNG BỜM. Nhà văn DUYÊN ANH (Vũ Mộng Long) – chủ nhiệm tuần báo TUỔI NGỌC và một số vị có công trong việc gây dựng phong trào sách báo thiếu nhi – thiếu niên miền Nam Việt Nam trước 1975.

@ THỜI GIAN:
Khai mạc lúc 5:00 PM (5 giờ chiều) thứ Bảy ngày 23 tháng 6 năm 2018

@ ĐỊA ĐIỂM:
Hội trường Hội Việt Nam Tương Tế (sức chứa từ 70 đến 100 người)
Số 7621 Westminster Blvd., Westminster, CA 92683,

@ CHƯƠNG TRÌNH:
1- Khai mạc
2- Niệm hương
3- Trao đổi, chia sẻ (có thể hát, đọc thơ, kể lại kỷ niệm, chia sẻ cảm xúc, v.v…)
4- Dùng bữa ăn nhẹ.

Thân mời các bạn tham dự (nếu có điều kiện) và có thể mời thân hữu cùng tham dự. Xin báo trước số người để BAN TỔ CHỨC thuận tiện trong việc sắp xếp chỗ ngồi.

Mọi liên lạc xin gửi về e-mail: tuongtri@yahoo.com (chỉ cần cho biết tên người tham dự chính và tổng số người tham gia). Hạn chót là ngày 20 tháng 6 năm 2018.

Rất mong được gặp gỡ các anh chị và các bạn.

* Lễ tưởng niệm tại Việt Nam sẽ được tổ chức sau