Đây là bài thơ cuối cùng được đăng trên Tuổi Hoa vào tháng 3/1975
Và cũng là cuốn Tuổi Hoa cuối cùng mình có được số 232
Ai ở SG mua được thêm cuốn 233 là chấm hết.
(Tôn Nữ Thu Dung)

Advertisements

MỘT Ý KIẾN NHỎ: ĐI TÌM CÁI DỞ CỦA THƠ HAY.

Xin nói ngay từ đầu để tránh mọi ngộ nhận, tôi chỉ là người chọn lọc những bài thơ hay từ các nhà thơ gởi đến trang mạng của mình. Là một người yêu thơ nên khi chạm vào câu đầu tiên tôi đã biết đó là bài thơ hay hoặc dở! Nhưng cũng có rất nhiều bài thơ tôi cầm lên đặt xuống đầy băn khoăn nghi hoặc. Đó cũng là một trăn trở của rất nhiều nhà phê bình có tâm và có tên (tuổi). May mắn thay, tôi đọc được những lời này của Nguyên Hưng Quốc- một trong hiếm hoi những nhà phê bình tôi chọn đọc- nói thật, tôi vốn không mấy yêu thích những gì khoa học quá, cao xa quá, tiểu tiết quá, hiện đại quá, bề trên quá…nên tôi thường…bỏ qua những nhà phê bình thơ và nghĩ thầm: “giỏi thì viết một bài thơ hay ho nghe thử chớ nói thì ai nói chẳng được!”
Với người làm thơ, chỉ còn trang giấy. Không có gì ngoài trang giấy. Trên trang giấy, không phải chỉ có chữ mà còn có cả những khoảng trống chung quanh các con chữ. Từ đó, thơ có thêm một yếu tố mới: yếu tố phi từ vựng. Chữ, cuối cùng, chỉ là một loại ký hiệu. Mà ký hiệu nào cũng có một mục đích giống nhau: giao tiếp. Ngay cả khi người ta loại trừ chữ, chỉ sử dụng ký hiệu, mục đích ấy vẫn có thể được duy trì. Nghĩa là vẫn có thể có thơ được. (Nhà phê bình Nguyễn Hưng Quốc nói hay hơn, lập luận chặt chẽ hơn nhiều nhưng tôi chỉ nhớ đại khái vậy và lấy làm tâm đắc điều này lắm!)
Nhân đọc bài Bà Chúa Thơ Lục Bát của tác giả NGUYÊN LẠC gởi đến, viết về Phạm Hiền Mây ( cả hai đều là người cộng tác với Tương Tri). Thêm bài phê bình của Trần Trung Thuần- người mà ai cũng biết là nhà thơ Trần Vấn Lệ- cũng liên quan tới nhà thơ Nguyễn Hàn Chung với ” Lục Bát Tản Thần”. (Tóm lại cả bốn đều là những người tôi yêu mến.) nên tôi không thể không lên tiếng, dù tiếng nói của tôi chẳng có kí lô gam trọng lượng nào đối với ai và chắc chắn là …chìm vào hư không, nhưng kệ đi yêu ai cứ bảo là yêu/ ghét ai cứ bảo là ghét…. Còn nếu ghét thì im lặng chớ đừng nói yêu, như vậy là thỏa hiệp xấu xa! Tôi không bao giờ thỏa hiệp.( hết phần …để tránh ngộ nhận…)

1.Trần Trung Thuần:
ông không phải là một nhà phê bình chân chính có học vị học hàm và các loại học này kia như những nhà phê bình khác mà chỉ là một nhà thơ trữ tình, vãi chữ như vãi trấu,thơ ông hay, ngôn ngữ tự nhiên dễ dàng như kể chuyện.Ông thành công vì người đọc nào cũng tưởng ông viết cho mình. Điều này rất khó.Nếu căn cứ vào những lời ông viết để đánh giá Phạm Hiền Mây thì không đúng và thiếu công bằng với cô
2. Phạm Hiền Mây:
Phạm Hiền Mây chưa bao giờ tự xưng và tự hào cho rằng mình là Bà Chúa Thơ Lục Bát. Cô từng là một cô giáo, lỗi của cô là đẹp và làm thơ dễ thương, lỗi của cô là mỗi ngày( hoặc vài ngày) lại đưa thơ và hình của mình lên FB. Cô là một cô giáo, một người làm thơ trẻ mà tôi yêu mến, có một nhà thơ tên tuổi nói với tôi về tính cách của cô:” ở ăn thì nết cũng hay…” Vâng , cô ấy không hề làm mất lòng ai kể cả những người cô không thích!
3.Tôi:
* Không nên đánh người đẹp dù chỉ bằng một cành hoa, nhất là những …người đẹp làm thơ. Các nhà thơ rất dễ bị tổn thương. Khi tổn thương họ làm gì nhỉ? Theo tôi, họ im lặng. Và tùy theo tính cách, họ thể hiện sự im lặng với ngầm ý rằng:
-Với tính cách hiền lành cam chịu họ sẽ im lặng khuất phục và tìm chỗ nhấm nháp xoa dịu vết thương.
-Với những người bản lĩnh họ sẽ phẩy tay bỏ qua không quan tâm đến kẻ làm tổn thương họ.
* Những cách đảo chữ , trùng lặp, mượn chữ cũ chen vào câu thơ mới v.v…chỉ là cách làm mới những gì đã cũ.Thử nghĩ coi , chỉ có 24 chữ cái thôi, các nhà thơ cũ danh tiếng lẫy lừng đã xài đến cạn kiệt rồi còn đâu!
Vậy thì hãy để cho những người trẻ sáng tạo, đôi khi không hay lắm, nhưng lạ. Lạ và sáng tạo là tính cách của các nhà thơ trẻ đang đi vào trường văn trận bút. Họ không muốn và không thể dẫm lên dấu chân người đi trước.Theo thời gian, thơ họ sẽ được chấp nhận hoặc đào thải, nhưng dù sao đi nữa, họ vẫn có một chỗ đứng nhỏ bé hoặc lớn lao trong nền văn học sau 75. Chưa ‘tam bách dư niên hậu” thì chúng ta có nói gì cũng còn là quá vội!
4. Quỳnh Nga:
Cô là một người làm thơ tôi thích đọc, hồn hậu, trong trẻo, tròn vần đúng luật và bát ngát cái tâm Nam Bộ. Nếu có duyên, tôi rất hân hạnh mời cô cộng tác
5. Cuối cùng:
Tôi muốn mình thật công tâm khi nói về những cây bút tôi yêu mến nên trên đây chỉ là một ý kiến nhỏ để rộng đường dư luận.
Rất biết ơn những nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình không ngừng quan tâm, không ngừng phổ biến, không ngừng sáng tạo, không ngừng cùng nhau giữ gìn tiếng Việt.
Rất cảm ơn anh Nguyễn Hưng Quốc, Nguyên Lạc, Phạm Hiền Mây, Trần Vấn Lệ, Nguyễn Hàn Chung. Thật bất ngờ, những “cái nhà” tôi nêu tên đều từng là nhà giáo dạy Văn nên dù có nói tới nói lui, họ đều cùng một mục đích cuối cùng là…tôi yêu tiếng nước tôi!
Và, tôi cũng vây. Giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt là một trong những tôn chỉ của trang TƯƠNG TRI.

Tôn Nữ Thu Dung

GỌI

Gọi người từ phía hoàng hôn
nghe câu tử biệt
rợn buồn sinh ly,
Bến Vân Lâu chẳng hẹn kỳ
trùng lai nội cỏ
thầm thì hạt sương.
Gọi người từ phía tà dương
có chờ ta
cuối con đường trắng mây.
Một mai tàn cuộc
buông tay,
nghiêng vai cho gió về lay dặm buồn.
Biết còn viễn phố giăng sương.
Biết còn tan hợp mây tuôn non đoài.
Lòng ta gác xế u hoài,
Cuối trời một bóng đổ dài hoang vu…

(…Nếu xưa đừng lạc lối về
Trao yêu lơ đãng
quên thề trăm năm…)

Tôn Nữ Thu Dung

ĐÊM LƯU XỨ

Đêm khói tỏa, đêm trầm hương mê hoặc
Đêm tàn canh qua vội rất vô tình
Con dế nhỏ gọi hoài âm thưa, nhặt
Cũng như người thao thức với đêm thanh.

Bờ huyễn ngạn còn vang lời hư ảo
Đưa tôi về nồng ấm những khuya mưa
Và hoài niệm vẫn xanh màu phương thảo
Màu chiêm bao lẫn khuất bụi xa mờ.

Đêm lưu xứ nghẹn ngào men rượu đắng
Từng giọt buồn như lệ buốt thiên thu
Nghiêng ly cạn đợi một giờ Nguyên Đán
Vàng son xưa phai nhạt tự bao giờ…

Tôn Nữ Thu Dung

NHỮNG BÀI NGUYÊN ĐÁN


Nguyên Đán 1

Mùa Xuân ngại ngùng lối nhỏ
Khẽ thôi, vạt nắng lưng đồi
Cánh bướm chao vờn trước ngõ
Mơ hồ nhặt sợi tình rơi.

Mùa Xuân đi ngang vườn cỏ
Lỡ tay đánh thức hoa vàng
Mùa Xuân dịu dàng thổ lộ:
Em là ngọn gió lang thang

Mùa Xuân vẽ thêm quầng mắt
Nâu nâu màu sữa cà phê
Mùa Xuân tô hồng môi nhạt
Thơm như giọt nắng rơi về.

Mùa Xuân cầm tay nói khẽ:
Đừng quên lời đã hẹn thề
Sương -hay là mưa- như lệ
Ngàn sau buốt lạnh sơn khê…

Nguyên Đán 2

Ai rải tơ vàng trong nắng rơi
Mùa xuân hong tóc ở trên đồi
Một màu cỏ biếc thơm nguyên đán
Những hạt hoàng hoa…
lấp lánh trôi.

Ai gởi mây ngàn xanh ngắt bay
Tầm xuân hé nụ ở phương này
Có thoáng mịt mờ trong ký ức
Một trời thương nhớ khói sương say.

Ai thả giọt đàn theo gió lay
Ngũ cung lạnh tựa nét cau mày
Tôi nhặt nỗi buồn rơi trên cỏ
Và đếm giùm ai tiếng thở dài.

Ai nhón chân về trong chiêm bao
Hồn xuân lãng đãng cuối phương nào
Ai lỡ trăm năm lời hẹn cũ
Về đứng bên đời…tan tác đau…

Nguyên Đán 3

Em buộc mây trời trong vạt áo
Đồi xưa xanh mướt cỏ phiêu bồng
Gót sen lướt nhẹ qua triền nắng
Có gió đâu mà tôi bâng khuâng

Em níu hồn nhiên vầng nhật nguyệt
Đừng buông tay nhé nhỡ khuya rằm
Có vì sao lạc trong đôi mắt
Tôi biết làm sao khỏi nhớ nhung

Em xa như thể tinh cầu lạ
Tiếng cười những hạt thủy tinh rơi
Long lanh sương vỡ đêm về muộn
Lạnh quá hiên xưa vắng một người…

Nguyên Đán 4

Một chút tơ vàng trên lối mưa
Ngón tay hờ hững phím cung đùa
Có thả xuống hồn âm điệu cũ
Lãng đãng như thời hương rất xưa

Em giấu hồn nhiên trong khóe xuân
Vô tình rơi lạc những bâng khuâng
Có phải đêm vừa qua rất nhẹ
Để lại vườn tôi một đóa hồng

Em giấu tình tôi trong ngón tay
Mỗi lần buông xuống mỗi lần say
Thời gian như thể là mây khói
Em xóa giùm tôi những đắng cay…

Tôn Nữ Thu Dung

ĐÊM NGUYỆT QUẾ

Đêm Nguyệt Quế sương hay là nước mắt
Bờ cỏ xanh hoài nhớ dấu chân ai
Con dế nhỏ vì sao mà thổn thức
Giọt long lanh rơi vỡ suốt khuya dài

Khung cửa sổ ngọn đèn vàng hiu hắt
Bài du ca muôn thuở gió ru buồn
Bàn tay lạnh che ngang vầng trăng muộn
Nghe nghẹn ngào lời vọng thức mưa tuôn

Bầy dơi xám bay qua vườn lặng lẽ
Cánh rã rời tiễn biệt dấu chân đêm
Từ ký ức- suốt đời- hương Nguyệt Quế
Và một người, tôi không chắc, đã quên

Đêm Nguyệt Quế
dịu dàng
đêm Nguyệt Quế
Đêm cuối cùng rồi từ đó xa xăm…

Tôn Nữ Thu Dung

QUỲNH THÁNG CHẠP

Bất ngờ đêm tháng chạp
Đóa quỳnh hương trở mình
Hé nụ cười bạch lạp
Tặng một người… đã quên

Chỉ còn mình quỳnh thức
Khuya có thơm trăng rằm
Một vì sao chớp mắt
Sương ngậm buồn trăm năm

Mặt hồ xưa sóng vỗ
Lời thiên thu ân cần
Tiếng dương cầm rạn vỡ
Rơi nát từng thanh âm


Chỉ còn mình quỳnh thức
Thức… ru người ngủ yên.

Tôn Nữ Thu Dung

MƯỜI NĂM

Mười năm hoa trắng rơi vườn cũ
Tôi nhặt mùi hương thảng thốt- buồn
Mười năm áo lụa về qua ngõ
Biền biệt mùa thu ngơ ngác- vương

Mười năm chấp chới hồn mây tím
Lặng lẽ tàn đêm dáng nguyệt rằm
Mười năm con sóng xô cuồng nghiệt
Trôi dạt tình tôi tận cuối sông

Mười năm em có còn mắt biếc
Môi có còn thơm một chút trăng
Mười năm em nói lời ly biệt
Tôi vẫn hoài đau một vết thương
Mười năm tôi níu tàn phai- tiếc
Nghe gió về quanh lạnh chỗ nằm…

Tôn Nữ Thu Dung

VẾT THƯƠNG

1.
Bản Giao Hưởng về Máu, Xương, Sinh, Tử
Vẫn lang thang cuối biển rộng sông dài
Những hồn oan ngàn năm chưa yên ngủ
Bỗng trở về theo lời gọi chân mây.

2.
Và ảo vọng trượt dài trên sân diễn
Dàn Đồng Ca cúi mặt… hổ ngươi thầm
Tiếng Trumpet cứa ngang miền quá khứ
Những tượng đài chìm khuất cuối hoàng hôn.

3.
Đem thị phi treo trên đầu ngọn bút
Cuồng vọng lấm lem bôi xóa tâm hồn
Khi nhìn lại thấy cuộc đời bất ổn
Và hành trình đâu đó… rất cô đơn

4.
Thời chúng ta, khó mở lòng trắc ẩn
Mỗi con người tự ôm ấp vết thương
Lúc thấm mệt ngã bên trời… khắc khoải
Tan tác buồn, thuở cát bụi tha phương.

5.
Khi tàn cuộc những thanh âm bất lực
Bài Tụng Ca cũng rời rã vô hồn
Chiếc mặt nạ cuối cùng… rơi nước mắt
Tiếng thở dài buốt lạnh cả hư không…

Tôn Nữ Thu Dung