Chuyện đi tìm một nhánh sim rừng!

 

Cách đây vài tháng, tình cờ tôi có đọc một bài báo có tựa “Tác giả của Những đồi hoa sim chết trên những đồi sim “ của Phạm Tín An Ninh ( hiện đang sống tại hải ngoại). Bài báo có đưa lên chi tiết về thân thế, cuộc đời và cái chết của nhạc sĩ Dzũng Chinh, người đã viết nhạc phẩm “Những đồi hoa sim”_ Một trong những nhạc phẩm khá quen thuộc với những người yêu âm nhạc Việt Nam, kể cả trước và sau năm 1975…. Cũng nên lưu ý rằng trước bài viết này, cũng có khá nhiều thông tin từ các nguồn khác nhau, viết về ông. Nhưng có thể, những tin tức mà ông Phạm Tín An Ninh đưa ra, là đầy đủ và rõ ràng nhất, bởi lẽ một phần những thông tin ấy được thu thập từ chính người chị ruột của nhạc sĩ , hiện đang sống tại Hoa Kỳ.

   Nhạc sĩ Dzũng Chinh  tên thật là Nguyễn Bá Chính, quê quán tại Bình Cang, thôn Võ Cạnh , thành phố Nha Trang. Ông  sinh ngày 18-12-1941 ( Tân Tỵ) , là sĩ quan quân đội VNCH với cấp bặc chuẩn úy, mất vào ngày 12-01-1969 ( Kỷ Dậu) hưởng dương 29 tuổi. Một tài hoa của nền âm nhạc Việt ra đi quá sớm  và trong lứa tuổi còn sung sức để có những nhạc phẩm khác để lại trong lòng công chúng. Theo bài báo của tác giả Phạm Tín An Ninh, ông mất trong một trận phản phục kích tại chân núi Chà Bang (xã Phước Nam-huyện Thuận Nam- Tỉnh Ninh Thuận) cách trung tâm thành phố Phan Rang khoảng 25 Km , về hướng Đông Nam. Những di sản âm nhạc ông còn để lại nền âm nhạc Việt khá ít ỏi, nhưng hầu như tất cả đều có tính phổ quát, do dễ hát và dễ đi vào lòng người. Tuy thế vẫn có một số bài cũng khá kén chọn ca sĩ để bộc lộ đúng ý niệm của tác giả và người nghe cũng được chọn lựa cho việc thấu cảm. Điển hình một số nhạc phẩm của ông là :

Những đồi hoa sim ( Phỏng thơ Hữu Loan),

Hai màu hoa ( Dzũng Chinh- Bùi Tuấn Anh)

Tha La xóm đạo.

Đêm dài chưa muốn sáng

Lời tạ từ

Hoa trắng tình yêu

 Nhạc phẩm “ Màu tím hoa sim” được xem là nhạc phẩm thành công nhất của ông,  xuất hiện trước công chúng vào những năm 1961, 1962..được phổ tác từ thi tác “ Màu tím hoa sim” của nhà thơ Hữu Loan, một người lính Việt minh phục vụ trong đại đoàn 304 ( miền Bắc) trong cuộc kháng chiến chống Pháp,, xuất ý từ câu chuyện có thật của tác giả. Tác giả thổ lộ tình cảm của mình, một người lính tiền phương, đối với người vợ trẻ ở quê vừa mất, thông qua hình ảnh của những dãy đồi tím màu hoa sim. Một loài cây khá mộc mạc, dễ dàng tìm thấy ở bất cứ đâu trên đồng quê Việt và có hoa mang màu tím buồn man mác.

       …Những đồi hoa sim

        Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết

       Màu tím hoa sim

      Tím chiều hoang biền biệt

      Có ai ví trong từ chiều, ca dao nào xa xưa

     Áo anh sứt chỉ viền tà

     Vợ anh mất sớm, mẹ già chưa khâu….”

  Và có thể cũng chính vì vậy, nên nội thân của bài thơ đã là nơi trú ngụ sẵn có của những mãnh lực cảm xúc  vô tận, luôn chực chờ những cơ hội tương tác….khá nhiều nhạc phẩm khác sau này được lấy cảm hứng từ đó , vd như : Áo anh sứt chỉ viền tà của Phạm Duy ,  Chuyện hoa sim của nhạc sĩ Anh Bằng, Màu tím hoa sim của Duy Khánh….Nhạc phẩm “ Những đồi hoa sim” của Nhạc sĩ Dũng Chinh đã ra đời vào thời điểm những năm đầu khói lửa ở miền Nam,  không là một ngoại lệ.  Bài hát đầu tiên được trình bày trước công chúng bởi ca sĩ Phương Dung, được biết đến với biệt danh “ Con nhạn trắng Gò Công” .Và cho mãi đến giờ chắc cũng không ai vượt qua được giọng ca chân, khá cứng và sự truyền cảm của một nội lực bắt nguồn .từ xứ sở của những kênh rạch, những cánh đồng lúa nước bạt ngàn, những vườn cây ăn trái , cội rễ  những câu hò  mộc mạc. Cũng thật là một điều đáng ngạc nghiên khi một bài thơ được khai sinh từ đất Bắc, do một nhạc sĩ miền Trung phổ nhạc và cưỡng chiếm lòng người Việt bằng một ca sĩ với chất giọng và tâm hồn đặc sệt Nam bộ. Âu đó cũng là duyên trời!

  Trở lại với bài viết, tác giả Phạm Tín An Ninh cho rằng nhạc sĩ Dzũng Chinh đã ngã xuống tại chân núi Chà Bang, trong một trận phục kích vào ngày 12 tháng 1 năm 1969. Thông tin này không biết đã được kiểm chứng hay chưa và có thể tin cậy hay không, tôi không thể nói chắc. Vì khoảng thời gian đã qua quá lâu, những biến cố đầy dẫy đã xóa đi những dấu vết của một sự tồn tại và phủ lấp lên đó biết bao nhiêu thứ  dễ đánh lạc hướng và làm xiêu lòng những người mong kiếm tìm. Nhưng nếu đúng như tác giả nói, thì có lẽ tôi cũng khá may mắn khi biết được một địa danh nữa đã gắn bó trong cuộc đời ngắn ngủi của người nhạc sĩ tài hoa…..

    Núi Chà Bang, hay  được gọi là Tà Kang ( theo tiếng Chăm có nghĩa là núi hai nhánh) , nằm cách thành phố Phan Rang khoảng 25 Km về phía Đông Nam. Nhưng thực tế theo quốc lộ số 1, xuôi Nam, 11 cây số, rẽ lối vào làng Chăm Mỹ Nghiệp (nổi tiếng về nghề dệt thủ công), theo đường làng vào sâu khoảng 5 cây số , ta đã thấy dãy Chà Bang hai ngọn đứng sừng sững. Đây là khu dân cư của người Chăm theo đạo Bà la môn( thờ thần Siva) còn được gọi là Chăm Rặt ( Cham Jat hoặc Cham gốc). Thực tế còn hai nhánh Chăm nữa nhưng nhỏ hơn và phân tán rãi rác dọc ở các tỉnh miền Đông Nam Bộ như Đồng Nai, Tây Ninh hoặc dưới Sóc Trăng, Châu Đốc…hai nhánh này , một là Chăm Bàn ni và Chăm Islam. Đất thánh của người Chăm Jat là ngôi đền thờ nổi tiếng là tháp Pklong Giarai ( hay còn gọi là Tháp Chàm) nằm cách thủ phủ Phan Rang khoảng năm cây số về phía Tây. Hàng năm vào những mùa lễ hội lớn như Tết Ka té vào ngày đầu tiên của tháng bảy Cham lịch ( vào khoảng tháng 9-10 dương lịch, người Cham Jat ở các nơi cùng một số thành phần thuộc dân tộc Raklay đổ về đất thánh để làm lễ mừng năm mới. Trong một số cuộc tiếp xúc và trái ngược với cái nhìn khách quan của một người bên ngoài, chung một dòng máu chảy trong huyết quản, nhưng những nhánh cây của tàn phả hệ Chăm pa đã chịu sự chia cắt của thời gian, khoảng cách địa lý, xung khắc tôn giáo, ngôn ngữ … để trở nên xa cách và khó lòng với hy vọng hợp nhất.

   Núi Chà Bang  ( Tà Cang) nhìn từ xa là hai ngọn núi trọc ,đỉnh nhọn, sườn dốc, đầy những tảng đá lớn trơ trụi dưới ánh mặt trời. Núi có độ cao khoảng 400 met có lẽ dành cho ngọn cao hơn. Ngồi nói chuyện với một người chăm đứng tuổi, tôi biết thêm , trên núi hiện có một ngôi chùa rất nổi tiếng và hàng tháng, vẫn có những người Chăm hành hương, thăm viếng.  Trãi dài từ ngoại vi làng đến chân núi là khoảng trống cho những bụi cây dại chạy lúp xúp. Không hiểu có phải cây sim rừng hay không, nhưng cũng không thấy màu tím thường thấy của loài hoa này. Đất đai chạy thoai thoải trên một bình độ khá cao so với mặt nước biển, mắt thường nhận thấy được. Cái nóng của ánh mặt trời, sự khô cằn,  không một làn gió dù rất gần biển cho thấy sự khắc nghiệt của khí hậu nơi đây. Màu bụi đỏ ám đầy trên khung cảnh….. Nhà Jakar,( Tiếng Chăm gọi Jạr) nằm ở ngoại vi làng , sát chân núi Tà cang. Cậu là con trai của Inra Sara, một nhà thơ và lý luận phê bình người Chăm, người có công đem những giá trị của một nền văn hóa lâu đời bị chôn vùi, bóp nghẹt bởi sự xâm lăng, đồng hóa và phủ nhận  ra ngoài ánh sáng của văn minh nhân loại, hòa nhập bình đẳng với các nền văn hóa. Cậu đã tốt nghiệp đại học, nhưng hiện nay đã trở về làng, sống trong cộng đồng và mở một cơ sở du lịch quốc tế với một hình thái khá độc đáo, dựa trên hai yếu tố_ Sinh thái và cội rễ. Mục đích đưa con người hòa nhập với thế giới tự nhiên và quảng bá nền văn hóa Chăm pa. Nhà nghỉ thật đơn giản. Một ngôi nhà đơn sơ, giống với các ngôi nhà khác trong cộng đồng, thậm chí còn xập xệ hơn. Không có những tiện nghi hiện đại. Sân vườn đất trống , cây cỏ mọc từng bụi, vài con gà đất kéo nhau chạy, cửa nẻo chỉ bằng rào tre….một cái cộ bò xưa phủ đầy dây leo. Tại đây tôi gặp hai thanh niên người Đức, còn khá trẻ. Họ sống ở một thành phố miền Nam nước Đức, gần Stuttgart. Chàng thanh niên đang học một trường cao đẳng kỹ thuật, khoa cơ khí.

    _ Bạn nghĩ sao về việc đi du lịch với hình thái này?  Tôi có hỏi.

    _ Điều này thực sự hữu ích khi được gần gũi với thiên nhiên, tiếp xúc với người dân địa phương và tiìm hiểu được một nền văn hóa lớn,.

     Thật là một suy nghĩ khác thường và già dặn hơn so với lứa tuổi của cậu ta. Trong khi những người giàu có ở đất nước này đang kỳ vọng một khách sạn 4 sao, 5 sao trong kì nghỉ của họ, những thanh niên này lại tìm một lối đi mới cho chính mình. Thật đáng ngưỡng mộ!         

    Nếu có ai đó thật sự muốn tìm  về Tà Kang một lần cho biết , nên  thử một chuyến du lịch với hình thức này. Những khám phá thú vị về một dân tộc, một danh cảnh….và cũng được biết nơi nằm xuống của một tài hoa.

     

                  Núi Tà cang_ Nơi nằm xuống của nhạc sĩ Dzũng Chinh ( nhìn từ nhà Jarka) _ Ảnh tác giả.

    Sự thật đã là dân Nha trang, ai lại không biết đến Bình Cang. Một số người dân địa phương còn gọi địa danh ấy là cây số 7( do theo quốc lộ 1 từ Nha trang đi về hướng nam, tại cây số 7 là địa phận của làng Võ Cạnh). Dễ tìm hơn, có lẽ nên hỏi nhà thờ Bình Cang. Đây là ngôi nhà thờ được xây dựng từ thế kỷ 17, nhưng cách đây  chục năm nó đã được tu sửa lại. Làng Võ Cạnh còn có một di tích lịch sử khá nổi tiếng Đình Võ Cạnh được xây dựng vào năm 1815, nằm bên cạnh quốc lộ 1A. Nhưng tất cả những địa danh ấy và sự liên quan đến dấu tích của một con người gần như là không. Dẫu vậy , tôi cũng cố gắng lần tìm trong cái hy vọng gần như bằng không ấy.

Chiều đó sâm sẫm mưa….Những cơn mưa  giữa mùa hạ luôn muốn nói đến một sự toại nguyện.

    Hương lộ 46 từ Nha trang lên Bình Cang đã thay đổi. Con đường tráng nhựa và những chiếc xe hơi đã qua lại được. Những mảnh ruộng lúa hai bên đường đã biến mất, giờ dành cho xâm lấn của đô thị. Trên những mảnh đất ruộng vừa san nền đã mọc lên san sát những căn nhà. Đi qua ngã ba có đường rẽ lên Xuân Phong, cánh đây khoảng chục năm, tôi còn gặp cảnh những người đàn bà trẻ đi mót lúa….nhưng nay, mảnh ruộng ấy đã nhường chỗ cho một show room của một công ty buôn bán ô tô. Không khí của đồng quê giờ không còn. Những màu sắc của tự nhiên đã phải nhường chỗ cho những sở thích lố lăng của con người. Dù vậy, vẫn còn sót lại vài mảnh ruộng nhỏ, thật nhỏ…chưa bao giờ nhỏ hơn, đến nổi tôi tự nghĩ hoặc là nó bị bỏ rơi hoặc nó được tạo cho mục đích giải trí….Nhưng đất bây giờ là vàng , làm gì có chuyện bị bỏ rơi. Một mảnh đất như vậy kế bên đường, nơi có dăm người đàn bà đang lúi húi cắt đám rau răm. Một người đàn ông cũng khá luống tuổi cố dồn những bó rau vào cái bao tải nhựa…..

     Sau vài câu chào hỏi làm quen, tôi nói:

    _ Bình Cang giờ thấy đổi khác quá hả anh? Nhà cửa, đường xá tấp nập ghê!

     Người đàn ông có khuôn mặt đen đúa của một người nông dân. Một con mắt bên trái bị dị tật hơi hấp háy, trả lời:

  _ Ờ đất đai bây giờ có giá, nên nhiều nhà cũng khá giả…Đó cậu thấy vạt bên kia toàn nhà mới không?

 _ Dân Nha Trang đổ lên hay dân xứ khác tới vậy anh?

 _ Đủ hết trơn….dưới đó lên cũng có. Dân Bắc, dân miệt ngoài đổ vô cũng có.

_ Vậy bán đất xong họ cũng ở đây hay chuyển đi đâu hả anh?

_ Cũng đủ…. có người đi, có người ở. Nhưng bây giờ dân gốc không còn bao nhiêu!

  Nói thật , câu nói làm tôi khá thất vọng. Gần nữa thế kỷ để đi tìm một cái tên, một gia đình đã khó rồi….huống hồ, lại rơi vào một tình thế như vầy. Ngày trước, ông bà thường nói”_ Tìm người như thể tìm chim”, giờ đi tìm di tích một người với một mẫu thông tin cỏn con trên mặt báo , xem ra khó gấp vạn lần. Mảnh đất này xem ra đã bị xáo trộn. Nhưng còn nước , còn tát ….may ra!

_ Anh năm nay bao nhiêu?

_ Tui năm  nay 63….

_ Hồi trước có đi lính bên này, bên kia không anh?

Người đàn bà từ ruộng rau bước lên, tay vẫn còn cái liềm, chen ngang:

_ Ổng mắt nhắm , mắt mở  mà lính tráng gì…Nhắm thằng này, bắn thằng kia thì sao?

Mấy tiếng cười vang . Người đàn ông ngượng nghịu:

_ Hồi đó bị con mắt nên lính nó tha…..

Biết đã thua, tôi kéo câu chuyện sang chiều hướng khác:

_ Hồi chế độ trước, vùng này an ninh không anh?

_ Cũng không an ninh đâu…Mấy ổng bên Đắc Lộc, Am Chúa ..cũng về lấy thuế hoài!

_ Còn bên Việt Nam cộng hòa?

_ Việt nam công hòa thì bắt lính… Tối tới cảnh sát áo trắng, cảnh sát dã chiến nó tới từng nhà bắt quân dịch….Nhà có con trai trốn lên, trốn xuống cũng khổ chết mẹ!

    Người nông dân Việt!….Bỗng dưng tôi lại không muốn đề cập đến vấn đề đó nữa. Câu chuyện bắt đầu xoay quanh về mảnh ruộng rau răm, việc bỏ cho thương lái một ngàn, một bó….việc mấy đứa con anh đang học ở đâu?….Chia tay anh, anh có dúi mấy bó rau, nhưng nghĩ bữa cơm gia đình có gà vịt gì đâu mà lấy rau răm. Tôi định từ chối, nhưng thấy anh nài nỉ quá, nên cũng nhận hai bó. Cũng thật cảm động. Ấn tượng Bình Cang!

  Cha Nam, một người đàn ông khoảng hơn năm mươi, có khuôn mặt hiền từ, tướng người đãy đà,  nơi cổ có một vết sẹo lớn, màu đỏ thẫm, tiếp tôi trong một trạng thái khá bồn chồn. Có thể vì Cha còn bận buổi lễ chiều sắp đến.

_ Cha về giáo xứ Bình Can lâu chưa ạ?

Bằng một giọng trong trong của dân miền Trung, không phải miệt ngoài, ông trả lời:

_ Tôi cũng mới về đây… chưa tròn 5 năm.

_ Vậy ở đây luôn… hay sẽ thuyên chuyển?

_ Chỉ 5  năm thôi….rồi đi giáo xứ khác.

_ Nhà thờ mới xây dựng lại hay sao đẹp vậy Cha?

_ Ừ mới xây được khoảng chục năm….Cha khác phụ trách nên tôi không biết…

Thấy không còn thời gian, nên tôi vào chuyện luôn:

_ Con muốn tìm một nhạc sĩ. Anh này đi lính cộng hòa,. Mất vào năm sáu chín….

Giọng tôi ngập ngừng dần khi thấy ông có vẻ suy nghĩ. Sau đó ông nói:

_ Năm 69 hả? Lâu quá ….Chắc không ai biết đâu….Tôi cũng không nắm hết giáo dân…Tốt nhất anh nên hỏi mấy người phụ trách giáo dân địa phương. Họ biết rõ hơn.

Nói xong, ông chia tay tôi rồi vội vã đi chuẩn bị cho buổi lễ ban chiều.

  Tôi tựa vào cái ghế đá ngoài sân, nhìn vào thánh đường. Chiều sẫm dần, ngôi thánh đường lên đèn và cái sân rộng phía trước đã  dần xuất hiện những bóng người….

    Tối đó tôi ngồi đi, đọc lại bài viết một cách cẩn thận hơn và nhận ra một chi tiết quan trọng đã bỏ qua. Đó là trước kia ,ông được an táng tại nghĩa trang  Mã Thánh phường Phương sơn và ông cũng không phải người công giáo. Ông là một phật tử. Tôi biết nghĩa trang này. Ngày trước nó nằm trên đường Phương Sài, Nha Trang; sát bên vách núi, phía bên trái của Kim thân phật tổ. Vào khoảng 1987 đến 1990, tất cả những ngôi mộ đều bị di dời và người ta đã xây dựng một ngôi chợ trên nền đất cũ của nó. Đó là chợ Phương Sài ngày nay. Một chi tiết nữa, không kém phần quan trọng ( theo tác giả Phạm tín An Ninh) là di cốt ông hiện đang nằm tại chùa Tỉnh hội phật giáo ( bên cạnh chùa Hải Đức). Trong thâm tâm tôi nghĩ ,nên chuyển sang hướng tìm di mộ.

      Đồi Trại Thủy hiện tại thực sự có đến ba ngôi chùa tọa lạc. Chùa Tỉnh hội phật giáo là ngôi chùa nhỏ, có lối vào là những bậc tam cấp, có thể nhìn thấy từ cây xăng Mã Vòng ngó sang. Chùa Long Sơn là ngôi chùa chính, nơi có Kim thân Phật tổ tọa lạc. Chùa này được trùng tu lại vào khoảng năm 2008-2009. Cổng chùa nằm dọc theo hướng quốc lộ 1. Chùa thứ ba là cũng nhỏ, tên là Linh Phong, nằm ngay hẻm Hải Đức, ngày trước phía dưới có một hãng nước đá, nay đã dọn đâu mất. Chùa khá cao, có những thân cây me cổ thụ….Vậy chùa Hải Đức là chùa nào???

     Một vấn đề nhỏ, tưởng chừng đơn giản nhưng đi sâu vào trong là cả một mớ bòng bong. Nhưng ngẫm ra, tôi có một thuận lợi là vị trí ba ngôi chùa nằm khá gần nhau, khoảng cách xa nhất cũng khoảng 1km và trên một trục đường.

   Nha Trang, một ngày nắng đẹp. Tôi khởi hành vào lúc 8h . Gửi xe tại chùa chính Long Sơn, tôi theo con hẻm dẫn qua chùa Tỉnh hội Phật Giáo cách đó khoảng 200m. Bước lên những bậc tam cấp nhỏ, trơn trượt vì nước sinh hoạt của các hộ dân chung quanh, tôi lên đến ngôi chùa. Tôi đi nhiều, cũng gặp nhiều ngôi chùa, nhưng cũng không ngờ rằng mình phải đối diện với một quang cảnh ảm đạm và buồn bã như vầy. Xét với sự nguy nga và vị thế đầy khuếch trương của chùa Long Sơn bên cạnh, một ý nghĩ  thầm kín xuất hiện trong tôi; có lẽ đây là nơi bị Đức Phật lãng quên…. Những bậc tam cấp lâu không người viếng, bị đất đá vùi lấp và cây cỏ mọc trùm lên cả lối đi. Phía trước có tượng Phật Bà quan âm choàng tấm áo khá cũ đứng bên cạnh cây khế cỗi cằn. Một cây dừa bị đuông ăn cụt ngọn là chỗ tựa cho hàng rào lưới B.40 sét rỉ. Hai cánh cổng sắt được niêm kín với một ổ khóa khá lớn. Bên trong điện là khoảng không gian tối om với ngọn đèn trái ớt lập lòe. Cũng thật đáng buồn cho nơi an nghỉ của một nhân tài nước Việt…

   Ngó quanh một lúc, tôi nhận thấy có cánh cổng nhỏ bên hông nên theo lối đó đi vào. Sau một hồi gọi gọi sư ơi, sư hỡi…một người đàn bà vóc nhỏ bé bên trong, tất tưởi bước ra. Tôi trình bày ý định của tôi là đi tìm di cốt của một người chú đi lính, mất vào năm sáu chín, hiện đang nằm tại chùa Tỉnh hội Phật giáo Khánh Hòa. Người đàn bà vội vã xua tay:_ Vậy chú đi lộn chùa rồi! Giáo hội phật giáo khánh hòa là chùa Ông Phật trắng bên kia. Chùa này chỉ dành cho sư nữ .  Cũng không giữ kim tĩnh đâu!” . Nghe câu nói của bà, tôi cũng thoáng thấy mừng, lại vừa ngại; vậy phải đi ngược qua bên Long Sơn. Tạm biệt sư cô, tôi trả lại những bước chân mà tôi mới nhọc nhoài leo lên trước đó khoảng mười lăm phút…

     Chùa Long Sơn khá lớn, sạch và đẹp. Du khách khá đông. Việt có, Nga có, Trung hoa có, Tây âu có…nhưng có lẽ đông nhất là người Việt và người Nga với khổ người to, tóc sáng, chất giọng Slave…Tôi không theo lối vào chánh điện, bên trái chùa là khu kim tĩnh_ Một người đàn ông chỉ dẫn. Theo một nhóm người nhỏ, có lẽ là những người thăm người quá cố, tôi leo lên những bậc tam cấp khá sạch và mát mẻ, do tán lá của những hàng cây trên đầu.

_ Ở đây lưu giữ đến hai ngàn rưỡi kim tĩnh lận, anh phải cho tôi biết tên, họ, thân nhân…tôi mới tra cho anh được. Người quản lý có hàm ria đen, giọng nằng nặng ngoài Bắc nói.

_ Ảnh tên Nguyễn Bá Chính, sinh ngày 18/12/1941; mất ngày 12/01/1969; trước chôn tại nghĩa trang Phương Sài, sau đó cải táng lên đây.

_ Vậy tên họ hàng, thân nhân….?

_ Họ hàng, thân nhân…tôi chịu, vì lâu quá gia đình tứ tán hết. Bây giờ chỉ có tôi quay về tìm. Tôi phịa với hắn.

_ Không có tên thân nhân tôi cũng chịu chết. Hay anh ra khu vô danh, không có thân nhân tìm đi…Gã chỉ về một dãy tường đá phía trước…

   Khu E, F, G….rồi  E1, E2 ….Trời ! Cả ngàn hộc kim tĩnh….Mắt tôi cố lướt chầm chậm, cố tìm những chữ đầu họ Nguyễn được khắc trên tấm xi măng phía trước. Nguyễn văn…., Nguyễn trần…., Nguyễn Trung. Nguyễn vô danh…Nữ có….Nam có…Thường dân có…. lính có…..Có dung ảnh những anh lính Việt Nam cộng hòa, đội mũ nồi thiết xa, chết trận năm 1970…có cả anh Việt Cộng, chết năm 1968….nằm sát bên nhau. Người có thân nhân thắp nhang, quà bánh….người trơ lạnh, không nén hương…. Không biết từ lúc nào, tôi trãi lòng mình trên những chân dung người đã khuất hơn là một cuộc kiếm tìm có mục đích. Thời gian chắc khá lâu, mắt tôi vẫn dán trên từng dòng chữ ở những tấm bia như cố hình dung những khuôn hình kia lúc còn sống họ sinh động như thế nào???

   Người quản lý quay lại với vẻ thương hại vì thấy tôi khá nhọc công, tẩn mẩn với công việc của mình. Gã hỏi:

   _ Nãy giờ vẫn chưa tìm ra a anh? Hay thôi, tôi mách với anh này. Anh lên chỗ Kim thân Phật tổ ấy, trên đó  bên trái cũng có một khu kim tĩnh. Anh tìm thử xem….

    Tôi cám ơn hắn và thấy một khối lượng công việc khá lớn khi nhìn lại những dãy hộc mồ mà tôi đã kiếm tìm…Thôi đành vậy, biết sao! Tôi bỏ dỡ việc , kiếm vận may mới theo hướng tay quản lý chỉ.

     Kim thân Phật Tổ, sau khi trùng tu, giờ trông thật khác. Không những thế vẫn còn ngổn ngang một số công trình đang xây dở dang. Nghe bảo một số nhà đầu tư lớn có dự định mở ngay cả một trung tâm giải trí  văn hóa lớn trên này….nhưng chỉ là tin phong phanh. Không lên đây ngót hai mươi năm, dù sát bên nách, giờ tận mắt nhìn lại, mới thấy sự khởi sắc thấy rõ của Phật giáo trong thời gian gần đây. Dù cơ bản xương sống của các kiến trúc cũ vẫn còn, nhưng những công trình phụ trợ, việc tu sửa, tô điểm màu sắc làm nó trở nên sáng láng, sinh động hơn , đầy sự quảng bá….đẩy lùi sự trầm tư, tĩnh lặng của tu hành vào những vị trí thứ yếu. Nhưng mặc vậy tiếng chuông, tiếng mõ chầm chậm trong không gian cũng kéo tâm hồn du khách ra khỏi cái nhọc nhoài của cuộc sống hiện đại hàng ngày. Nhịp sinh học con người trở nên chậm hơn.

        Pho tượng ông Phật khổng lồ ngồi giữa đài sen vẫn còn đó dưới bầu trời xanh khoáng đãng, ung dung vài cụm mây trắng, trầm lặng nhìn thế sự và sự đổi thay. Một sự quan sát tinh tế đi vào ngóc ngách cuộc sống của muôn vật, muôn loài nhưng lại vô ưu, vô ngã theo giáo lý nhà phật. Bên dưới là dung tượng bán thân của các vị bồ tát đã xả thân trong sự kiện “Phật giáo phẫn nộ” vào năm 1963, dưới chính quyền ông Ngô Đình Diệm, nhằm phản đối chính sách đàn áp Phật tử. Dưới nữa….Trí nhớ tôi quay trở lại khá chậm….Tôi nhớ mang máng là những hộc kim tĩnh của các gia đình Phật tử….nhưng giờ đây nó đã dời đi mất. Thay thế vào đó là phần đế lát bằng đá hoa cương , được nâng cao , đầy góc cạnh .Hai con rồng chầu ngậm ngọc, lúc trước có sơn màu trắng, nhưng nay được tô vẽ bằng những màu sắc khá tương thích và hòa hợp với bối cảnh. Cảnh quan sạch sẽ và nhiều công trình phụ trợ mọc lên xung quanh, so với lúc tôi lên đây, cách hai mươi năm. Lúc ấy khá vắng vẻ , đầy cây bụi rậm rạp….

      Một đám du khách đứng tuổi người Nga đi qua, với vẻ nặng nề. Tỏ ra hiếu khách, tôi hỏi bằng tiếng Anh.

   _ Russian???

  _ Da…( Vâng)   Một người trong đoàn đáp.

 _ What city do you live in?

…..

 Vài cái lắc đầu. Những đôi mắt màu xanh dương, thăm thẳm bỏ tôi hướng về pho tượng đức Phật với sự vô vọng….Không biết tiếng Anh! Chịu…

   Rồi tôi cũng tìm được khu kim tĩnh mới. Nó khá gần, ngay bên tay trái của Kim thân Phật Tổ.  Kiểu bố trí cũng gần giống với khu kim tĩnh phía dưới với những bức tường đá xanh hai mặt,  xây hình vòng cung, cao cỡ đầu người, được đánh số thứ tự. Quy mô có vẻ nhỏ hơn và cũng thấy ít người đi viếng. Khách tham quan họ chỉ đi bên ngoài….Tôi lại bắt đầu công việc của mình, lần này khoa học hơn….Bắt đầu từ khu A…

     Di mộ của nhạc sĩ Nguyễn Bá Chính nằm tại dãy B1, cách lối đi vào khoảng vài mét. Không có vẻ gì đặc biệt so với những di mộ khác. Ngoài dung ảnh bán thân của nhạc sĩ lúc còn trẻ, trong bộ đồ dân sự, phía dưới có hàng chữ:

HL: Nguyễn Bá Chính

Tức : Dũng Chinh

Pháp danh: Tâm Pháp

Sinh: 18-12-1941 ( Tân Tỵ)

Chánh quán: Võ Cạnh- Vĩnh Trung- Khánh Hòa

Tạ Thế: 12-01- Kỷ Dậu (1969)

Anh: Đại Hiền lập mộ.

  Ngẫm nghĩ cũng thật may mắn và cũng không ngờ kim tĩnh nhạc sĩ lại nằm ở một vị trí dễ tìm như vậy.  Thú thật tâm trạng tôi lúc ấy, không vui cũng không buồn, chỉ thấy thanh thản và nhẹ nhàng. Tôi có tìm quanh nhưng không thấy bó nhang nào bên cạnh  để thắp cho hương hồn ông. Trong tình huống đó, tôi  chỉ biết đứng nhìn, chăm chăm vào dung ảnh người quá cố . Tôi đứng khá lâu ….và một thoáng , trong tai tôi , chợt vẳng lại nhạc phẩm “ Những đồi hoa sim” với chất giọng của ca sĩ Phương Dung “…Dù một lần đơn sơ. Để không chết người trai khói lửa, mà chết người em gái nhỏ, hậu phương tuổi xuân thì…”

…..

   Chào  người nhạc sĩ tài hoa nhưng vắn mệnh của dòng nhạc Việt một thời. Tôi bước theo dòng người du lịch xuống núi, tâm trí còn mơ hồ một màu tím man mác, lẫn khuất đâu đó trong đám cây bụi…

  Nếu ai trong số các bạn đọc bài viết này, ở Nha Trang hoặc có dịp du lịch ghé qua chùa Long sơn ( Chùa Ông Phật trắng).  Xin đừng quên viếng thăm di mộ của ông, thắp giúp tôi nén hương mà hôm trước tôi vội đi, không mang theo….Để một trưa hay một đêm hè,  giữa xóm lao động nghèo hay vùng quê có con gió hoang hoải chạy dọc cánh đồng, ta bất chợt nghe một giọng hát thấm đẫm một tâm hồn Việt, về  câu chuyện tình trong thời khói lửa không có nơi đâu, ngoài mảnh đất Việt…”_ Những đồi hoa sim, ôi những đồi hoa sim, tím chiều hoang biền biệt. Vào chuyện ngày xưa, nàng yêu hoa sim tím khi còn tóc búi vai. Mấy lúc xông pha ngoài trận tuyến, ai hẹn được ngày về. “…..

……

    Để ta biết ,trong ta còn ngập đầy thương yêu……

   Chùa Long Sơn_ Tượng Kim thân Phật tổ ngày nay ( Phía bên trái tượng là khu kim tĩnh)_ Ảnh tác giả

       Kim tĩnh nhạc sĩ Dũng Chinh (Tác giả nhạc phẩm Những đồi hoa sim nằm tại khu B1)_ Ảnh tác giả

 

Ghi chú:  Di mộ nhạc sĩ Dũng Chinh ( tên thật Nguyễn Bá Chính) , hiện đang nằm tại lô B1, khu kim tĩnh trên tượng Kim Thân Phật Tổ ( Phía tay trái), chùa Long Sơn, TP. Nha Trang. ( Tác Giả)

     

                                                                                                        Nha Trang, 5/10/2017

                                                                                                                     Vũ Khuê

HỒN VIỆT- NGƯƠI Ở ĐÂU?

– Bây giờ còn cái gì là Việt nữa ông ơi! Trung Quốc cả rồi!
– Tuổi trẻ bây giờ xài hàng Tây , hàng Tàu không! Việt Nam mình có mấy …


     Hồn Việt! Ngươi ở đâu?
   Tôi không tin hắn, tay đàn ông thấp lùn, nói giọng Bắc, chủ cái cửa hàng thực phẩm tươi sống ấy. Càng không tin lời nói vừa thoát ra từ miệng con mẹ mập ú ngồi sau cái bàn lớn, vây quanh là những tủ kính, treo đầy những bộ quần áo của những hãng thời trang lớn trên thế giới: Gucci, Burberry, Armani, Versace ….Tôi chỉ tin vào trực giác của tôi, của một người đàn ông đã sống ở đất nước này năm mươi năm. Nhất là khi tôi bước ra đường, lẫn vào dòng người đông đúc đi mua sắm, hòa nhập vào một cộng đồng đang láo nháo một ngôn ngữ chung. Thứ ngôn ngữ mà tôi quá quen thuộc.Tiếng mẹ đẻ…..Nhất định nó phải có! Nó phải hiện diện quanh đây… Nhưng ở đâu?
    Con phố chạy dài, sầm uất và hào nhoáng. Những siêu thị, cửa hàng_ Nơi hơi lạnh tỏa ra mát dịu. Những dãy đèn xanh đỏ đầy ma lực và của cả dòng người trẻ tuổi đang cuồn cuộn chen lấn. Sự náo nhiệt, tiếng bass của dàn nhạc đập thình thình.Tiếng còi ô tô ré lên; càng lúc, càng đẩy sự cô độc của tôi ra phía góc đường, chổ mấy gã xe ôm đang ngồi co ro. Một tràng cười sặc sụa từ một đám thanh niên xa lạ, đuổi theo phía sau, bết vào lưng những dấu ấn nóng bừng….

  – Quanh đây có cái gì đặc biệt không ông?
  Gã xe ôm trong trạng thái mềm oặt của cái bánh xe xịt lốp , chợt bung dậy, như vừa được tống một luồng sinh khí mạnh quá mức cần thiết. Vươn cái cổ dài ngoẵng về phía tôi, gã chờn vờn như con cú đánh hơi con mồi. Đôi mắt sáng xanh trong đêm.
   – Ông hỏi gì? Ăn nhậu hay gái gú? …. Cà phê ôm nghe anh Hai?
   – Không, cái gì truyền thống một tí.
   – Quảng trường, đường biển, chợ hoa…. hay chùa chiền… Tâm linh. Gã ướm thêm.- Dịp Tết thiện nam ,tín nữ đông lắm! Vẻ bề ngoài của tôi được chuyên gia tâm lý nắm bắt.
  Không suy nghĩ lâu la gì lắm, tôi trả lời ngay: – Tâm linh đi! 
   Gã xe ôm ngoác miệng cười, cảm thấy thích thú với cái từ “độc” mà gã đưa ra đã câu được con mồi. – Lên xe…Lên xe đi, anh Hai! Rẻ mà….
   Tôi không tiếc số tiền bị chặt đẹp bởi “ con cú” đã đưa tôi tới đây, nhưng tôi cảm thấy thất vọng về nơi mà gã đưa tôi đến. Đó không phải là nơi tôi cần tìm hay nói đúng hơn cái tôi cần tìm không có nơi đó. Đó là nơi hoặc quá tôn nghiêm hoặc quá đặc thù cho tính phổ quát. Khác đi mà nói, trong diện mạo mới mẻ, những kiến trúc tinh vi của kỹ thuật tân tiến, càng khiến nó không phải là nơi ẩn thân cho cái “linh vật” mà tôi đang tìm. Sự khôn ngoan của “ Con cú”_ Kiến thức và sự nhạy cảm cần có, để hắn có thể sống được với cái nghề của hắn, trong trường hợp này là hoàn toàn sai lầm. Nhưng đó là chuyện của hắn.

Với tôi, tôi vẫn không từ bỏ!

*****

Tôi là con người của những cái mới. Rất có thể có nhiều bạn sẽ cười mỉm khi nghe đến câu nói này. Nhất là khi biết gã vừa nói là một gã đầu đã hai thứ tóc. Với những người ở lứa tuổi tôi, khi nghe đám bằng tuổi em út của mình đang bàn tán một chuyện gì đó, về các đề tài mà thế hệ chúng đang gặp phải từ chuyện chính trị, kinh tế, xã hội, thế giới….hoặc sẽ nảy sinh những cuộc tranh luận không có chỗ cho giao thoa, giữa nền tảng của hai luồng suy nghĩ, xuất phát từ hai thế hệ khác nhau…; hoặc lẳng lặng bỏ đi nơi khác, vì cho rằng mình không có chỗ đứng trong thời đại của chúng. Nhưng với tôi lại khác, tôi thấu hiểu bọn chúng hơn ai hết. Thế!…. Bởi vì hàng ngày tôi vẫn làm việc chung với bọn nó mà! Đồng đẳng, ngang hàng, không đặc quyền, đặc lợi… và được hưởng đồng lương như nhau. Trong những cuộc tranh cãi nảy lửa đơn thuần thuộc phạm trù công việc, đầy phần không kiêng nể, phần nhiều tôi vẫn bị những cú knock-out đến tái người…và khi hồi tỉnh, tôi mới đau đớn nhận ra rằng – Chúng quá thông minh và sự sáng tạo của thế giới tự nhiên này là vô hạn! Nếu không kiêng dè vì tuổi tác hoặc tối thiểu trong đạo đức cư xử giữa con người ở xã hội văn minh, chắc tôi cũng không có cơ hội kiếm được một công việc để nuôi sống gia đình.

Một vấn đề logic tiếp tục được đặt ra “ Tại sao?”….Và cũng sẽ được chính tôi trả lời- Do tôi học khá muộn! Tôi còn nhớ khi làm luận án tốt nghiệp ở lứa tuổi bốn mươi hai, ông thầy của tôi – Một vị Tiến sĩ có nói – Bằng tuổi mấy anh bây giờ, người ta đã làm trưởng phòng, giám đốc rồi! Giờ mấy anh mới tốt nghiệp đại học.”  Nghe thực chua xót! Nhưng quay nhìn ngang những gã đồng môn đứng xếp hàng bên cạnh. Những khuôn mặt già nua, chưa thoát khỏi cái trạng thái đờ đẫn như còn lạc đâu đâu trong một mớ rối nùi của kiến thức chưa tiêu hóa nổi, tôi cũng tự cảm thấy an ủi. Bọn tôi là một thành phần rơi rớt còn sót lại, do muôn ngàn lí do, trong hành trình cố gắng bắt kịp. Chúng tôi là một thứ phức hợp: Lính tráng, thanh niên xung phong, lý lịch xấu, hoàn cảnh gia đình….Một mớ tạp nham, giẻ vụn dôi ra trong buổi giao thời. Một thành phần bất trị được đẻ ra bởi thời đại cũ, mà chỉ có con đường đi học, nếu không, nó sẽ là một thứ tệ nạn khá tệ hại cho cộng đồng, khi hoà nhập với một thời đại mới. Không riêng gì bọn tôi bên này, bên kia đại dương cộng đồng nói tiếng mẹ đẻ, dù với những mục đích khác nhau, nhưng tôi biết cũng có một lực lượng tái trang bị đang cố gắng vượt qua sự khập khiễng, để hòa nhập với cuộc sống xa lạ. Trong tia hy vọng còn sót lại, Mẹ Việt đang cố khoác cho đám con râu ria, rách rưới những chiếc áo mới, để đón kỷ nguyên mới, dù chúng ở đâu, mang ý thức hệ là gì, một cách khá trễ tràng…. Biết rằng chúng phải đau đớn chấp nhận sự kỳ thị không tránh khỏi của quy luật tự nhiên. Những thế hệ đàn em đã thành đạt luôn nhận diện những chân dung già cỗi đi sau, với ánh mắt không ưu ái cho lắm!

 Đôi lúc chúng tôi cũng ưu tư, tự hỏi chính mình,  với gần nửa đời người phế hoại, liệu có ai lột xác nổi chúng tôi một cách hoàn toàn không? Mẹ Việt luôn lãng tránh những câu hỏi như thế…. Điều này lý giải cho những khoảng khắc mông lung, sự níu kéo quay về với những gì mà chúng tôi đã từng gắn bó trong một khoảng thời gian khá dài và sự xuất hiện của một nhân vật nữ, mà tôi gọi là em- Đang đại diện cho một thế hệ!

****

– “ Chợ họp ở địa phận làng Ó, xã Võ Cường, thành phố Bắc Ninh. Tương truyền ngày xưa đó là bãi chiến trận và đã có rất nhiều người chết trong các cuộc giao tranh. Là chợ đặc biệt nên chợ Âm Dương chỉ họp duy nhất mỗi năm một lần vào đêm mùng 4 rạng mùng 5 Tết Nguyên Đán (tức mùng 4, mùng 5 tháng Giêng âm Lịch).
Theo quan niệm của mọi người dân trong vùng, thì chợ họp là cơ hội hiếm có cho người chết và người sống được gặp nhau. Chợ bắt đầu họp vào lúc “lên đèn” trên một bãi đất trống, cạnh một ngôi miếu có tiếng linh thiêng trong vùng. Đây là chợ mà không có lều quán, không sử dụng đèn nến để thắp sáng. Nhiều người đi chợ thường mang theo một con gà đen được chăm sóc cẩn thận trước đó để làm vật tế thần. Tuy không có lều quán nhưng trong chợ cũng có nhiều hàng mã, hương, nến, cau, trầu…
Hàng hóa: Chợ không phải là nơi mua may bán rủi như nhiều chợ nơi khác. Trong chợ người mua không ai mặc cả, người bán không đếm lại tiền người mua trả. Trong bóng đêm chỉ thấy bóng người đi lại và tiếng thì thào to nhỏ. Người ta hầu như không quan tâm nhiều đến việc “mua may bán rủi” như ở một số chợ khác. Chợ họp là dịp để người cõi trần gặp người cõi âm. Ở đầu chợ, người ta đặt một chậu nước để thử tiền âm hay tiền dương. Sáng hôm sau, có người xem trong túi đựng tiền của mình chỉ toàn là vỏ hến, lá dong… thậm chí có cả mẩu yếm sồi.
Ý nghĩa: Những ai đi chợ đều vui vẻ, thoải mái, họ quan niệm rằng đó là dịp làm phúc, làm điều thiện với người đã chết. Cuộc sống tâm linh của họ sẽ thanh thản hơn.
  Chợ tan khi còn đêm. Sau khi tan chợ, những người đi chợ lại mời nhau uống nước ăn trầu và hát quan họ Bắc Ninh.
Đây là một hình thức sinh hoạt văn hóa mang đậm màu sắc tín ngưỡng dân gian rất đặc trưng của vùng Kinh Bắc. Người ta quan niệm rằng, có như vậy thì việc làm ăn hay mùa vụ năm đó mới được thuận lợi.” – Nguồn Wikipedia.
….
Má tôi- Một người đàn bà mà cả cuộc đời gắn bó với cái chợ, kể “- Tao ngồi ở chợ cả đời nên tao biết, chỉ có cái chợ họp vào sáng hai mươi chín Tết là linh nhứt. Tao nhớ năm 78,79 gì đó .Bữa đó tao dọn hàng sớm. Trời tối om. Mấy sạp gần bên chưa ai dọn. Có ông thương phế binh chống nạng tới hỏi mua cái mũ. Tao tưởng ăn xin, vì ổng mặc đồ rằn ri mà lúc đó giải phóng lâu rồi. Thấy tội nghiệp nên tao nên tao cho luôn cái mũ. Ổng cứ nằng nặc đòi trả tiền. Cực quá tao mới nhận. Lúc sáng rỡ, tao dỡ ra mới thấy giấy nhựt trình không ! Còn cái mũ nằm chõng chơ dưới đất. Người ở dưới ,họ cũng đi sắm Tết như mình!” Bọn tôi lúc đó còn là những đứa nhóc, tin răm rắp lời bà và cũng từ đó, hiếm đứa nào đòi theo má đi dọn hàng vào những ngày giáp Tết nữa. 
  Chừng như với cái không khí âm lạnh, sắc nhập nhoạng của âm dương hòa trộn, sự mong mỏi thống thiết và tiếng thở dài đến quặn lòng của những người đàn bà suốt đời ngồi chợ, trong một sự di truyền từ đời này qua kiếp khác, trên một đất nước luôn đau quặn vì khói lửa, đã kéo không gian quá vãng và thực tại vào một ranh giới khó phân định, nơi họ hy vọng sẽ tìm lại những gì đã đánh mất ở quá khứ, mơ tưởng được toàn vẹn nó trong thực tại ,với cái khung không gian nhỏ bé là cái chợ…….Và niềm tin ấy quá lớn lao đến thiêng liêng.
   Theo tôi nhé em!

****

 Chợ đã nhóm họp từ nửa đêm, trong cái tiết mưa xuân. Mưa đâu từ hôm qua và cũng vào đêm. Những hạt mưa nhỏ, chừng như không trọng lượng, vần vũ như bụi, bám vào bất cứ nơi đâu có thể bám- Những chiếc lá, thân cây, cánh hoa, những bàn tay đen đúa, gân guốc…. Chúng đi tìm nơi trú ngụ, kết thúc đời phiêu lưu ngắn ngủi của mình, vỡ ra như không còn vỡ được nữa, hòa nhập thành những dòng chảy nhỏ, len lỏi vào những kẽ nứt, bào mòn những vết thương sâu hoắm trên những khuôn diện lồi lõm, bị ăn thủng bởi bóng tối, trong cố gắng dung hòa, tụ lại thành những giọt lớn hơn, rỏ tong tong xuống nền đất. Đất lầy nhầy, khoét rãnh răng cưa theo dấu chân người. Con đường chao nghiêng về một phía. Ngọn đèn đường phả màu vàng của nẫu chín, của thâm kim xuống thân hình gầy gò của những người đàn bà đang bày biện quang ghánh, thúng mủng…. dát lên một dáng vẻ trì trệ_ sự níu kéo của giấc ngủ chưa đẫy, trạng thái mù lòa của ý thức, của cái gì đó còn đang được dắt díu bởi mông muội. Âm thanh lép nhép tiếng chân người, vết bánh xe, bùn … Những lời thoại thầm thì…lúc có, lúc không…lúc văng vẳng rất xa…của thực, của ảo thanh. Mùi thoáng đãng của gió xuân đâu đó tràn về, ngai ngái của lá dập, tanh tao của bùn ….mùi chiếu gối chưa loãng trên thân thể của những người đàn bà. Đậu bên kia đường là dăm gã xích lô với khuôn mặt đã hóa đá.
 Những phiến hoa tươi, những đống trái cây màu mã não trên sắc tối, những con gà trống thiến với cái cổ dài như đóng đinh, những búi rơm vàng ruộm của đồng lúa co mình, đống vỏ khoai tươm nhựa, chiếc bóng của mẹ đổ xuống vỉa hè…….và màu trắng lòa của chiếc nón lá, ai đó vô tình bỏ quên bên góc đường.
 Một cộng đồng với những hoạt động thầm lặng như bị thôi miên trong sắc tối nhòe nhòe_ Ma mị!

***

  Bỏ dép ra đi em! Tôi nhắc khẽ với người con gái. Đi chân trần và cảm nhận được bùn. Tự dưng thấy thương tà áo dài trắng lấm tấm màu bùn. Thương em, vụng về…. Thương cái màu son của gót chân trên màu thẫm của bùn. Thương cái ướm chân run rẫy, khe khẽ. Thấu cái cảm giác gây lạnh và nhơm nhớp ban đầu; cái đường đột của gan bàn chân như tê cóng lại. Bùn tràn vào khe hở những đầu ngón chân, lan đến làn da đeo quai dép. Khứa những đường rãnh tế vi trên nền da trắng….Để em biết thương bàn chân sứt sẹo của Mẹ, những dặm đường dài thời gian, mòn mỏi trên bùn; để em còn biết thương đôi bàn chân nứt nẻ của chị, nơi bùn ăn lậm như một phần cơ thể, theo suốt cuộc đời _ lặn lội chợ búa, ruộng đồng…..

  Để em biết thương người! 

……
  Lại đây em! Lại thăm người đàn bà bán trầu cau trước cổng chợ.

   Mẹ! Mẹ cười móm mém. Tay thỉnh thoảng vén ống quần đưa lên quẹt nước bã trầu đỏ tươi, trào ra trên miệng. Trên tấm nilon tạm bợ là dăm chục lá trầu, mấy buồng cau, mớ sắc vún, ống vôi tươi…Mái tóc bạc trắng, xe chỉ. Tấm lưng còng, gẫy gập của một đời tần tảo chồng con. Mẹ ngồi thu người trên cái đồ ngồi, lọt thỏm. Những ngón chân có móng chân dài, thò ra ngoài đôi dép nhựa trắng, đầy cáu ghét và….. bùn. Thời gian bám rễ, đánh những nếp gấp sâu hoắm trên phận người, trên khung diện. Một đôi mắt đục lờ- Đôi mắt của người khiếm thị. Một bức màn trắng nhờ kéo ngang đôi mắt, khuất lấp những tia nhìn yếu ớt, nhưng cũng không khó cho người đối diện nhận thấy sự từ tâm, một quá khứ mỏi mòn, đầy nước mắt …Có biết bao người mẹ Việt như thế trên đất nước này, hở em?
– Má bán thu nhập có khá không má?
Mẹ cười, nghễnh ngãng. Đôi bàn tay với những khớp xương khô cứng, khum lại, đặt lên lỗ tai để nghe rõ hơn. Khung người nghiêng về phía trước.
– Tụi bây mua trầu cau làm đám cưới hả?
– Dạ không….câu nói ngắt quãng.
Em cười, ngượng nghịu….
Đột dưng, thâm tâm khẽ bảo:

– Mẹ ta đó em… Lạy mẹ đi em!

****

    Những nải chuối sứ căng mình trong lớp vỏ màu lục bảo. Những trái đu đủ ươm vàng , còn dính những vệt đất, chắc vừa hái vội vàng từ vườn đem xuống. Đống vú sữa tròn, tím mọng…..Những cánh hồng đỏ nhưng nhức. Nụ lay ơn lơi lả, bên trong những đường gân xanh là cả một cố gắng kìm chế sự khoả bung. Góc kia những bông hoa vạn thọ hâm nhiệt cho cả không gian bằng màu vàng của nắng đọng giọt còn sót lại cuối mùa, cháy lên trong màn đêm. Những trái dưa ung nẫu thẫm màu trên nền rơm vàng…..thẫm hơn nữa trong góc tối….. 
  Những con gà trói chân, nằm sắp lớp, cái đầu lúc lắc nhìn chân người qua lại. Người đàn bà đội chiếc nón lá sùm sụp, gật gù trong mơ màng. Một con heo, eng éc bên cạnh, quẫy lộn trong cái sọt…Mùi phân lậm trong không khí, làm em thoáng cau mày….
  Chị đon đả cười. Cả mùa xuân chừng như tiềm ẩn trong nụ cười, khuôn mặt của người đàn bà bán hoa. Chính sự rạng rỡ ấy đã tạo nên một dấu ấn tin cậy ,dù rằng một phần khuôn mặt vẫn còn nằm trong cái bóng mà chiếc nón tạo ra. Thô mộc phô diễn vẻ đẹp riêng của nó!
   – Mua mai đi em! Qua lấy rẻ cho!
 Chị dắt qua những chậu mai, giới thiệu từng loài. Hoàng mai- Quân tử , Bạch mai- Chinh phụ…Chiếu thủy- Thiền sư…Những chậu cây được tạo hình mang bóng dáng của những câu chuyên cổ tích xa xôi, gợi nhớ những khoảng khắc êm đềm thuở niên thiếu. Những ngày Tết quây quần bên nồi bánh tét, nghe bà ngoại kể chuyện… Trầu cau_ câu chuyện tình bi thảm nhưng trong sáng tình vợ chồng, nghĩa anh em… Hai bà trưng _ Những liệt nữ Việt đã trầm mình dưới dòng sông Hát, trong cái vận không may của kẻ khôi phục cơ đồ, để lại cho ngàn đời sau tấm gương quật khởi của một giống nòi,…của Thạch Phụ, người phụ nữ hóa đá bồng con, mòn mỏi đứng trông chồng, làm đau đáu nỗi lòng bao thế hệ hậu sinh về thủy chung……của Kiều_ cho cái nhìn thương cảm về những cung bậc thăng trầm của người kỹ nữ…. của Bích câu, Trinh thử, của Từ Thứ_ Gã vứt áo từ quan để tìm thú vui với đời lãng tử…. Của nguồn cội? 
 Nhớ không em!

 Này em -Người con gái Giao chỉ!

****

  Với những gì nguyên sơ nhất, thô thiển nhất, đại diện cho những công cụ gắn liền với sự sinh hoạt của một cộng đồng, trên thực tế có thể đã biến mất từ lâu, ta cũng có thể tìm kiếm được nơi đây. Từ chiếc sọt tre, cái nồi đất, những dãy dài chum chõe bằng đất nung của những người Chăm bày biện dọc đường. Những sắc áo truyền thống lạ mắt của một cộng đồng anh em cùng chia sẻ mảnh đất hình chữ S -Gia tài của Mẹ để lại…đến đôi guốc gỗ mòn vẹt, dưới chân con bé bán vé số sớm, tạo nên những tiếng khua lộp cộp khi gõ xuống mặt đường, đánh động không gian của cả con hẻm. Chiếc áo bà ba nâu bó thân người đàn bà, đâu đó còn sót lại, thấp thoáng trong bóng tối. Một hàm răng nhuộm đen xứ Bắc kỳ, trong cái cười chào hàng, lẫn vào muôn khuôn mặt lòe nhòe, liêu trai. Tiếng kẽo kẹt của đôi quang gánh bằng tre mật trĩu nặng, lướt qua, phả lên da mặt sự nhọc nhoài, chát mặn vị mồ hôi. Tiếng gõ khô khốc từ hai mảnh gỗ, ba nhịp một lượt, của thằng bé bán hủ tiếu gõ- người Tiều, khuấy lên cơn đói….
    Tiếng chuông leng keng xin đường.  Một chiếc xích lô trườn qua trước mặt, câm lặng và chậm rãi….
    Anh ta đó em! Ngất ngưỡng và những cử động vụng về. Những động tác như chưa bao giờ thuần thục được suốt cả cuộc đời. Những guồng quay ruộng rã đánh dấu cho một sự vận động ngõ cụt, nơi không còn tiến hóa. Sự rơi rớt còn sót lại của những sản phẩm thô thiển trong thời đại tiền cơ khí, khi sự tiến bộ của nhân loại đã vượt qua, quá xa .Khuôn mặt trơ đá dưới quầng sáng lập lòe của điếu thuốc. Nhịp môi bất động. Cái áo lính bạc màu, vá vai cho một thời trai trẻ cống hiến. Chiếc quần túm ống trong sợi dây chun, quét những vòng tròn – Gợi quỹ tích của một đời người thua thiệt. ….Tiếng súng, những trận đánh sống mái trong quá khứ bám riết lấy cuộc sống, cho đôi mắt cái nhìn cháy rực, lac loài. Thoát ra bên ngoài, nhưng bên trong chất liệu ấy cũng vô tình đốt cháy đến nham nhở một tâm hồn. Bóng người hằn trong bóng tối, ngạo nghễ….Tâm thức mê tỉnh trong hành trình vô định để tìm lại quá khứ, trên khung chiếc xích lô xiêu vẹo. Sự bẵng quên hai bên đường, những đổi thay đã mang những khuôn diện mới mẻ, những thế hệ trẻ hơn theo quy luật tự nhiên đang giành lấy cuộc sống của chính mình.

   Bóng người khuất sau con đường, lầm lũi, cô độc. Mặt hướng về phía trước, một khối nham thạch, biến dạng. Đôi mắt cháy….đốt về một nơi, có lẽ chúng ta không hề biết đến hoặc đã vô tình lãng quên.

****

   Người đàn bà thất thiểu , đội trên đầu vòng hoa, miệng gặp ai cũng hỏi “ Sao năm nay chim én không về hả bác?”,-” Sao năm nay chim én không về vậy em?” ….Sự náo nhiệt của cái chợ trong khoảng khắc, tự dưng chùng hẳn xuống . Một dòng điện vô thức lan truyền rất nhanh, đánh quỵ cả một cộng đồng, xuất phát từ một câu hỏi trống rỗng của một người đàn bà tâm thần. Đồng loạt như nhận được một tín hiệu bí ẩn, đầy ma thuật – Tất cả những người đàn bà bỗng đóng băng trong những hoạt động của mình. Đôi tay đang gọt trái khóm của người chị dừng lại- Nửa trái khóm theo quán tính vẫn còn lăn. Sự bất động của cái vòi sen đang tưới hoa tạo một góc độ không cân xứng với thân người, như chực ngã nhào. Một sức nhấn bị tiêu tán nội lực, khiến vòng quay hụt hẫng, dẫn đến một quỹ tích rối loạn với gã xích lô…..Bất giác, mọi đôi mắt đều hướng lên trời. 
 Mà thật! Khung trời trên đầu trống vắng đến lạ lùng. Ánh đèn bên dưới hắt lên mang theo khuôn mặt vàng vọt trong cái nhìn vô vọng, để kiếm tìm những chấm nhỏ chấp chới, chao liệng báo hiệu mùa xuân.

“-Năm nay chim én không về thật rồi!”  Người đàn bà điên lẩm bẩm, bỏ đi. Những người đàn bà quay lại với công việc, nhưng thỉnh thoảng đôi mắt vẫn hướng lên trời, kiếm tìm…
 Tôi vẫn nhớ những năm chiến tranh, khu chợ thỉnh thoảng lại xuất hiện một vài người thiếu nữ, cũng tóc tai rũ rượi, những nhành hoa trắng cài trên đầu chưa úa, đôi mắt dài dại như chiếc lá chết non. Người thiếu nữ đi qua cái chợ, thật chậm, chậm như một bóng ma, cũng mang thứ sức mạnh bùa chú làm chết lặng cả một khu chợ đang nhộn nhịp…. Và khi người thiếu nữ đi qua, một khoảng thời gian lắng im khá lâu, đủ để những khuôn mặt đờ đẫn dần trở nên tỉnh táo, những người đàn bà mới quay ra thì thầm “- Tội nghiệp con nhỏ, thằng chồng mới cưới của nó chết trận đâu tuần trước!”
  Đã một thời gian khá dài, đất nước không còn tiếng súng. Nhưng những lời ca của Trịnh công Sơn “ Tôi có người yêu chết trận Ba Gia. Tôi có người yêu vừa chết đêm qua .Chết thật tình cờ, chết chẳng hẹn hò, không hận thù, nằm chết như mơ….” Hoặc của Trần Tiến “ Một ngày tiếng súng ngưng….một người lính trở về….tìm người con gái trong mùa chim én bay…” vẫn còn làm não lòng người những lúc vô tình nghe lạị.
   Xin với tôi, có lời chúc nguyện thật tâm cho những cánh én quay về, trong sự mong mỏi nhỏ nhoi của những người đàn bà, sự mãn nguyện cho một đòi hỏi từ con người đã thuộc về thế giới vô thức, số phận thiệt thòi của những người thiếu nữ Việt, trên một đất nước đã chịu quá nhiều khói lửa …. Nhớ em!

***

 …..  

   Trời sáng tỏ mặt người. Cái chợ trở nên huyên náo, rộn rịp hơn bao giờ hết. Sự hoạt động đã lên đến đỉnh điểm của nó. Dòng người đủ mọi sắc áo từ khắp nơi cuồn cuộn đổ về, lũ lượt đi mua sắm. Âm thanh thực tại át dần những suy tưởng mơ hồ. Người thiếu nữ bên cạnh đã lạc mất đâu đó trong dòng người. Tôi không đi tìm nàng. Tôi biết em cũng đủ sự trưởng thành để tìm đường về….
  Tôi bắt gặp “ Con cú” trên lề đường, trước cổng chợ. Cũng cái cười ngoác rộng, gã đon đả trước “ -Tui biết thế nào cũng gặp anh trong này. Lên xe đi anh Hai. Tui chở về nhà, không lấy tiền đâu!”
  Tôi giỡn “ – Sao ông biết! ….Tâm linh hả?”
   Hắn cười, gật gù : “ – Tâm linh…ừ tâm linh”
  Tôi nghĩ “ Gã biết! …..Ai sống trên đất nước này lại không biết!”
……..


   Trên dặm đường mưu sinh, tôi đã gặp nhiều cái chợ. Cái chợ nhỏ ven rừng cao su ở Bầu Bàng, Bình Dương; Cái chợ ở khu công nghệ cao Q.9 Thủ Đức; Náu mình giữa chốn náo nhiệt, phồn hoa Sài Gòn; Quốc lộ 22- Củ Chi; Chợ Biên giới- Tây Ninh; Trà Ôn -Cần thơ; Sóc Trăng; Long xuyên….Dù không mua gì, nhưng tôi vẫn ghé lại, chỉ để ngó. Để nhận diện khuôn mặt của những người đàn bà cả cuộc đời, với đức tính cần mẫn di truyền trong một sự gắn kết và để tìm kiếm một linh vật mà trãi qua thời gian, khói lửa, những cuộc chính biến trên đất nước này…..vẫn không phế truất được nó; bởi phần nào trong đó, là sự ẩn chứa của một bề dày lịch sử, văn hóa…. sự tử tế, lòng bao dung, tính nhân văn của một giống nòi.

Tặng những thế hệ phía sau

      Vũ Khuê                                                              

                                                                                                                                                         

NỢ NGƯỜI….. NAM PHƯƠNG!

           “ Hòa bình ơi! Hòa bình ơi! Bao giờ mi mới trở lại cho thôn quê miền Nam lấy lại vẻ mặt vui tươi, niềm nở của một dân tộc hiền hòa, hiếu khách; coi tiền tài như phấn thổ, nhơn nghĩa tự thiên kim! Miền thôn quê yêu dấu, trãi qua bao cơn biến đổi tang thương vẫn gìn giữ nguyên vẹn kho tàng đạo nghĩa của một dân tộc hết sức hiền lành; nhưng có một tinh thần thượng võ, ý chí  bất khuất , bền gan chiến đấu làm kinh tâm cả Thế giới”

  Gò Công_ Xưa và nay  ( Huỳnh  Minh)/1968                                                                                           

 

Tôi về Gò Công vào những ngày đầu mùa mưa. Tháng năm mang đến những cơn mưa chiều nặng hạt và cả Sài Gòn như thể được gột rửa_ sáng láng và tươi tỉnh hơn trong việc sửa soạn cho một ngày lao lực thường nhật. Tầm khoảng 7h 30 sáng, Quốc lộ 50 cắt ngang đại lộ Nguyễn văn Linh đông nghẹt những người. Con đường hẹp, không tốt cho lắm. Sự chen chúc làm bắn lên những mảng nước bẩn đọng lại từ các ổ gà. Những biển quảng cáo, quán hàng hai bên đường náo động.  Những màu sắc hỗn mang. Tiếng càu nhàu , chửi đổng xen lẫn tiếng động cơ xe máy, xe hơi.. …Dù  đã suy hao một phần áp lực từ trận mưa đêm hôm trước, Sài Gòn vẫn với những đặc trưng của nó tham lam lấn mãi ra tận vùng ngoại vi trong một sự cưỡng chế ưu thắng . Trong tầm mắt  tôi, không gian bên thất thủ cứ lùi dần, lùi dần…. xa ngút phía sau dòng xe cộ nườm nượp chuyển động. Tự dưng con người cảm thấy ngợp và mong mỏi một khoảng khí trời. …

Theo quốc lộ 50, qua cầu Ông Thìn bắc ngang sông Cần Giuộc đi thêm một đoạn nữa bước qua địa giới  tỉnh Long An.  Nằm nép bên trái dãy nhà quản lý khu công nghiệp Tân Kim,  là di tích lịch sử Đình Chánh , Tân Kim. Nơi đây có mộ và điền thờ Tiền hiền Mai Văn Giã, thủy tổ mai tộc xã Tân kim. Ông nguyên quán ở thôn An Quới, huyện Phù Ly, Phủ Quy Nhơn ( nay là xã An Quới, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định) . Cuối thế kỷ  XVII, ông theo dòng người Nam tiến từ miền Trung vào khai khẩn đất hoang tại khu vực ngã ba Rạch Cát Hạ ( nay là ấp Tân Phước, xã Tân Kim, huyện Cần Giuộc). Từ đó, lưu dân quy tụ ngày một đông, ra công khai khẩn biến rừng hoang thành ruộng đồng trù phú như ngày  nay. Đình được thành lập vào năm 1860 để thờ ông  và được phục dựng vào năm 2002.

Từ Bình Định vào đây khai phá

Bao gian lao vất vả chi sờn

Tân Kim là đất dừng chơn

Đời đời con cháu ghi ơn kính thờ

 

Tôi có hỏi ông Từ giữ đền về tính nguyên trạng của di tích, thì ông bảo vẫn còn y như cũ, chỉ mới xây thêm phần phía sau điện thờ. Nhưng thoáng nhìn quanh , tôi có cảm nhận có cái gì đó không được ổn . Có thể là do sự áy náy  về một định dạng quá tân thời đang tạo áp lực cho  một khối thời gian đang cần bảo tồn một cách nguyên bản, tối thiểu hóa sự xáo trộn ….và ở đây, sự phục dựng không chuyên nghiệp đã lấy đi phần hồn của một nguyên tác  đã thách thức thời gian đến gần hai thế kỷ, sau bao biến cố.

 

 

Di tích đình chánh Tân Kim _ Tân Kim/Long an ( Ảnh tác giá)

      Huyện Cần Giuộc còn hai di tích đáng lưu ý  nữa là công viên Nguyễn Thái Bình và tượng đài Nghĩa sĩ Cần Giuộc. Công viên tượng đài liệt sĩ Nguyễn Thái Bình tọa lạc tại ngã ba giữa quốc lộ 50 và đường tránh trị trấn Trí Yên. Công viên có quy mô không lớn nhưng kiến trúc khá đẹp. Nền được lát đá hoa sạch sẽ, phía trên có tượng đài người sinh viên trẻ tay cầm sách, đứng vươn trên đám lá dừa nước, mặt hướng về phía Bắc, phía thành phố. Nguyễn Thái Bình sinh ngày 14-01-1948,  tại xã Trường Bình, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long an. Ông là sinh viên du học tại trường cao đẳng Fresno ( California), tham gia phong trào sinh viên phản đối cuộc chiến của Hoa Kỳ tại Việt Nam. Ông bị bắn ngày 02/07/1972,  trên chiếc  Boeing 747 của hãng Pan America, tại phi trường  Tân Sơn Nhất, với  việc khống chế tổ lái_  đòi đáp máy bay xuống sân bay Hà Nội.

Nằm ngay giữa trung tâm hành chánh của thị trấn, Tượng đài nghĩa sĩ Cần Giuộc bằng đá hoa cương mô tả một nhóm người nông dân tay nắm những thứ vũ khí thô sơ như liềm, phảng….trong tư thế xốc tới mạnh mẽ. Hình ảnh gợi lại cuộc tập kích ngày 16/02/1861 của nông dân Cần Giuộc  dưới sự chỉ huy của Thống binh Bùi Quang Là và Bình Tây Đại nguyên soái Trương Định vào một đồn lính Pháp. Cuộc tập kích bất thành, do quân Pháp được viên trợ kịp thời. Nghĩa quân rút lui để bảo toàn lực lượng và bị thiệt hại khoảng vài trăm người  . Sự hy sinh kể trên tạo cảm hứng cho nhà nho yêu nước Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888) viết nên bài văn Tế bi hùng, được xem như một trong những áng văn chương tiêu biểu cho phong trào chống Pháp nhân dân Nam bộ vào những ngày đầu tiên nước Việt ghánh chịu thảm họa xâm lăng. Trong góc nhìn hiện đại hơn , bài văn Văn Tế Nghĩa dân chết trận Cần Giuộc (1861) đã nêu lên nguyên nhân sâu xa của một cuộc chiến được nhen nhúm, âm ỉ lắm lúc tưởng chừng đã tắt và rồi bùng lên, kéo dài trong suốt 117 năm ( 1858-1975) ở miệt Nam bộ.

Cũng là dân chú trọng lịch sử, một lần trong buổi tham quan khu bảo tàng chứng tích chiến tranh ( War Remnants Museum), tôi có làm quen với một du khách Úc ( Australia) đứng tuổi. Tôi có hỏi ông ta về nghĩ sao về nguồn gốc của cuộc chiến mà đất nước ông ta đã từng gửi quân tham gia, với tư cách là một đồng minh. Sau bốn mươi năm ngày im tiếng súng, ông ta trả lời rất ngắn gọn “_ Mọi thứ bắt đầu từ người Pháp”. Tôi nói “ Ông đúng!”…..

Trở lại với bài văn Tế của Nguyễn đình Chiểu

“   … Nhớ linh xưa

Côi cút làm ăn

Riêng lo nghèo khổ

Chưa quen cung ngựa, đưa tới trường nhung

Chỉ biết ruộng trâu ở theo làng hộ;

……

Vốn chẳng phải quân cơ, quân vệ, ở dòng lính diễn binh;

Chẳng qua là dân ấp, dân làng, mến nghĩa làm quân chiêu mộ

……..

Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo, thương vì hai chữ thiên dân

Cây hương nghĩa sĩ thắp nên thơm, cám bởi một câu vương thổ….”

….

Tôi mất một thời gian khá lâu, đứng trước ngân hàng Vietcombank, ngóng qua tượng đài  nhưng người nông dân chân đất với lòng ngùi ngùi.

***

Quốc lộ 50 được biết như ngày xưa, chỉ là tỉnh lộ lót đá dăm và khá hẹp, nhưng là con đường huyết mạch từ Gia Định đi về Gò Công, Chợ Gạo, Mỹ Tho, Bến Tre … Thời thực dân và trước nữa, nó đã hiện diện nhưng với quy mô nhỏ và sơ sài hơn. Cái tên phổ thông là đường ngựa trạm bắt nguồn từ việc chuyển công văn, thư từ …từ những nơi trú đóng xa xôi của những đồn binh địa phương tới các thành lũy trung ương thời Chúa Nguyễn . Những trạm dừng chân, thay ngựa cho những người phu trạm  được rãi dọc theo con đường  và  địa danh Chợ Trạm còn được gọi ở hiện tại , cũng nhắc cho ta về một thời xưa cũ vang bóng.  Từ Ngã tư đến cầu chợ Trạm, Cần Đước ,Long An là quãng đường khoảng  nửa cây số nhà cửa san sát, chợ búa tấp nập. Đủ loại hải sản vùng sông nước như cá lóc, cá tra, cá rô. Trái cây cũng góp phần tô thêm sắc màu cho khu chợ quê sặc sỡ hẳn lên. Màu vàng của đu đủ, chuối, khóm. Mùi thơm của mít, sầu riêng đa dạng hóa khứu giác. Những tủ kính trưng bày những chiếc điện thoại bằng bàn tay đủ màu sắc, sáng ánh kền đủ các hãng Sam sung, Oppo, Apple, Philips…như sự mỉa mai của thời đại, quấy rối suy nghĩ của tôi về hình ảnh của những người lính trạm trú đóng nơi này cách đây đã vài thế kỷ. Với một khí cụ thông tin be bé như vậy, ngày nay người ta có thể bắt liên lạc được với cả Hà Nội, Sài gòn hoặc một thành phố nào đó trên thế giới Paris, New York, Moscow….Không gian dường như không là vấn đề. Nhưng bất khả thi là vấn đề thời gian. Khoa học bị chặn lại….. Óc tưởng tượng, kiến thức, những chùm rễ liên kết manh động được phát huy. Thực ra trong khung ảnh hiện tại, cũng khó mà hình dung khuôn hình nhòa nhạt của những người lính thú ngày xưa và cuộc sống sinh hoạt chắc cũng khá hẩm hiu của họ , dù trong một khoảng khắc ngắn ngủi.  Những câu thơ tôi thuộc nằm lòng, lúc đi học, còn văng vẳng bên tai

Ngang lưng thì thắt bao vàng
Đầu đội nón dấu , vai mang súng dài
Một tay thì cắp hỏa mai
Một tay cắp giáo, quan sai xuống thuyền
Thùng thùng trống đánh ngũ liên
Bước chân xuống thuyền nước mắt như mưa

Và…..Thời gian qua lâu lắm rồi, người lính thú ơi!

Qua cầu, tôi có gặp một ông lão tóc bạc, đang gò lưng trên chiếc xe đạp: _ Đường này về Gò Công hả Bác?

_ Ừ thẳng đường, tới một ngã Ba rẽ trái. Hỏi người ta là biết!. Ông trả lời. Không hiểu ở lứa tuổi đó, sao giọng người còn trong và êm như ca một câu vọng cổ.

***

Gò Công theo tiếng Khmer Aih Amrak ( Con công), nơi này nguyên sơ là vùng đồi núi có nhiều chim công ( Wikipedia). Phía đông giáp huyện Gò công Đông. Phía Tây giáp huyện Gò công Tây. Phía Nam giáp hai huyện này. Bắc giáp Long An.  Thị xã có diện tích vào khoảng 102.358 km2. Dân số: 107.600 người. Một thị xã nhỏ , dân số khá khiêm tốn, nhưng lại có một bề dày lịch sử đáng nể và những danh nhân Việt đứng song hành tiêu biểu cho từng thời kỳ, làm mảnh đất này chừng như không phai mờ được trong dòng lịch sử cận đại đến tận gần đây. Khởi nguồn từ những lưu dân từ vùng Thuận Hóa, Quãng Ngãi theo cuộc nam tiến của Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh ( 1650-1700) vào khai khẩn đất đai, cộng với một số người Hoa tị nạn trong phong trào “Bài Thanh, Phục Minh” ( thế kỷ 17) sống một cách rãi rác. Đến năm 1862, Gò Công đã có những công trình xây cất vững chắc và sự quy hoạch đô thị sơ khởi. Là một trong những vùng đất bị người Pháp xâm chiếm đầu tiên và áp đặt quyền cai trị. Hiện tại thị xã còn lưu giữ rất nhiều công trình kiến trúc thời phong kiến và Thuộc Pháp rất độc đáo.  Bên cạnh đó Gò Công còn là tâm điểm cho những tấm gương quật khởi Võ Tánh, Trương  Định….., những văn thi nhân, nghệ sĩ tài hoa của đất nước : Hồ Biểu Chánh, , Hoàng Phương…., những người phụ nữ tài sắc, thuần hậu với một tâm hồn Việt như Thái hậu Từ Dũ, Nam Phương ….

 

Tôi đứng trước cửa ngõ vào Gò Công_ Sông Vàm Cỏ.  Sông Vàm cỏ_ tài liệu của Pháp gọi là Vaico. Vaico bắt nguồn từ tiếng Khmer ”Piăm Vaico” nghĩa là Vàm (Pi ăm) ,đánh/lùa ( Vai); bò (co). Điều này cho thấy sông Vàm cỏ Đông và Vàm cỏ Tây chính là con đường lùa bò ngày xưa của người Khmer. Sông Vàm Cỏ là ranh giới tự nhiên giữa hai tỉnh Tiền Giang và Long An. Sông chảy theo hình W, dài khoảng 35,5 cây số có đến ba tên gọi. Đoạn Vàm cỏ Đông hợp nhất với Vàm cỏ Tây cho đến khúc sông Tra, được gọi là sông Hương Xá. Đoạn chảy qua khúc phà Mỹ Lợi hay cầu Mỹ Lợi ngày nay, gọi sông Vàm Cỏ. Phía hạ lưu đổ ra sông Soài Rạp chảy ra biển, ngược lên , còn được gọi là Vàm Bao Ngược. Dân sông nước Nam Bộ thường nói _ Thứ nhất Vàm Nao , thứ nhì Bao Ngược , để nói lên tính thất thường và  nguy hiểm của đoạn sông này. Do Vàm là danh  từ dùng để chỉ nơi những nhánh sông hợp nhất lại thành một nên dòng chảy  thường xiết, nước xoáy và sâu. Ngày thường đã thế, khi thời tiết trở trời sóng to, gió cả trở thành mối đe dọa tiềm tàng cho những phương tiện đường thủy, nhất là những phương tiện thô sơ ngày trước nhe ghe bầu, xuồng , xáng….

      Cầu Mỹ Lợi Km 33+650, vừa mới hoàn thành  và đưa vào sử dụng vào năm 2015.  Cầu  có chiều dài toàn tuyến khoảng 2.691 met, phần cầu chính 1.422 met ( nguồn Wiki), nối liền Gò Công với  Cần Đước trên quốc lộ 50. Chiếc cầu rút ngắn khoảng cách từ Sài Gòn đi Gò Công ( trước kia phải đi phà), là cái gạch nối quan trọng cho thị xã không chỉ trên lĩnh vực giao thông, mà còn ở nhiều mặt khác như kinh tế, văn hóa, du lịch …với Sài Gòn và các tỉnh thành phía Bắc. Trong nhận định khách quan , có thể nói tương lai của vùng đất trước mặt phụ thuộc rất nhiều ở chiếc cầu này.

Tôi đứng trên cầu Mỹ Lợi ngó xuống Bến phà cũ ngày xưa. Con sông Vàm Cỏ mênh mang với mặt nước đùng đục màu phù sa. Những con tàu kéo và xà lan như những chấm nhỏ  ì ạch rẽ nước, để lại phía sau những hai làn sóng dài, thật lâu mới tan. Những đám lục bình gấp gáp trong con nước với sự vô định.  Hướng lên thượng lưu, ngút tầm mắt một viền xanh lờ mờ của cây cối chạy dài như sự chuyển động tiệm tiến của bầu trời trời xuống mặt đất.  Trước mặt, chếch phía Gò Công một bình nguyên  với thảm thực vật xanh ngắt mở ra, tít tắp phía xa có thể nhìn thấy dăm ngọn núi ẩn hiện  bên Vũng Tàu.. Nghe bảo ngày trước, tất cả các phương tiện giao thông đều phải phụ thuộc vào Bắc Mỹ Lợi, gây khá nhiều trở ngại , tốn thời gian và  nhiều nguy hiểm…..

Qua dốc cầu, tôi vẫn còn loang quanh với suy nghĩ . Rồi đây những thế hệ sau chắc sẽ không còn nghe câu hò thảm của những  góa phụ ven sông, trong ánh chiều nhập nhoạng.

Anh đi ghe gạo Gò Công
Về qua Bao Ngược bị dông rách buồm
Thuyền anh cao nhưng sóng cả nhận chìm
Em trông sông bao nhiêu khúc, nỗi niềm ruột đau…

`Vàm bao ngược_ Mỹ lợi/ Gò Công ( Ảnh tác giả)

 

***

Trên con đường đến cầu Sơn Quy để vào Gò Công, tôi có đi qua làng làm tủ thờ Gò Công. Hai bên đường là những gian trưng bày những chiếc tủ thờ được chạm trổ rất công phu và tinh tế.

Tủ thờ Gò Công, xa lông Sông Bé

Chắc ai ai miệt Nam bộ này cũng đều biết tiếng……Bụng định ghé vào tham quan, nhưng thấy đường còn dài, lại thôi. Hẹn một cơ hội khác.

Chợ  Tân Trung là ngôi chợ nhỏ nép bên quốc lộ 50.  Cô gái khoảng hai mấy, đon đả chào: “_ Bánh Tét chuối Gò Công đi anh. Bánh mới nấu hồi sáng ngon lắm!” . Bụng đã đói, nhưng tôi giả tảng _” Có bánh giá thì mua, không ăn bánh tét đâu!” . Một chị sồn sồn  bán trái cây bên cạnh , vọng qua “_  Bánh giá tuốt trên Hòa Đồng chớ dưới này đâu có. Mà bánh tét cũng ngon lắm!” Tôi thêm _” Bánh giá có ca dao, bánh tét đâu có ca dao”  Người đàn bà ngẩn ra, rồi như chợt nhớ  “ _ Có…có chớ….tối nay nó về  nó làm….Mua cho nó mấy đòn đi anh”.  Hai người đàn bà quay người lại, cười ngất. Tôi cũng không nhịn được cười. Phải công nhận dân xứ Gò cũng khá hài hước và có duyên. Tôi mua hai đòn, treo lung lẳng ở đầu xe.

Bánh tét khá ngon, đáng đồng tiền. Nếp déo, mềm không pha gạo lợn cợn, cũng không dính nháp vào chân răng. Nhân quả chuối đỏ thẩm, tạo nên một sắc tương phản trên nền xanh lá  khá đẹp. Nhân ngọt đậm, lớp thịt bánh láng lẫy, chút vị mằn mặn thoang thoáng. Chỉ như hơi gió biển….trên đầu lưỡi….

Lăng Hoàng Gia nằm trong một con đường nhỏ cùng tên, nếu không để ý, dễ chạy luộc qua. Tôi cũng vậy. Phải lộn trở lại sau khi hỏi thăm đường. Lăng nằm sâu trong con hẻm, cách lộ khoảng 50m. Từ bên ngoài nhìn vào, cũng khó đoán được quy mô của nó nhưng bước vào trong mới nhận thấy khá rộng. Lăng được xây trên một địa thế cao ráo, được gọi là Giồng Sơn qui ( có nghĩa gò đất hình mai rùa). Một hồ cá bên trái , có lầu bát giác thưởng ngoạn. Mặt nước trơ lạnh, không thấy bông sen, bông súng gì. Cây cối không mang vẻ nguyên sơ, cổ thụ ,có lẽ tuổi đời trẻ hơn nhiều so với  cái di tích mà quần thể thực vật ở đây được tạo ra để tôn vinh.  Nhưng để bù vào những khiếm thuyết , màu xanh của đám cỏ mọc tràn lan, ướt sương sau cơn mưa và vòm tối do những tán cây tạo thành  cũng tạo được một cảm nhận nể nang cho những kẻ hậu sinh trước cái mình sắp phải đối diện.. Lần cổng thứ hai kiến trúc giống kiểu thành quách phong kiến nhưng kích thước khá khiêm tốn. Hai cánh cổng gỗ màu đen được chạm trổ khá công phu đầy họa tiết sinh động. Một con đường lát gạch dẫn vào nơi điện thờ. Bên trong điện thờ chia làm năm gian rõ rệt.

Bên trái có dòng chữ quốc ngữ_ Thành Thái quơn ( ngươn) niên / Kỷ sửu kiến tạo 1888

Chính giữa_  Đức quốc công từ.

Bên phải là dòng chữ: _ Khải Định lục niên/ Tân dậu trùng tu 1921.

Hai hàng câu đối bằng chữ Hán nơi gian chính  nơi có lối đi vào. Không gian thấp, tối, chật hẹp  với  những bài vị bằng tiếng Hán_ Nôm được đặt trên năm hương án ( Ngũ Đại) chia đều hai bên. Trên tường treo đầy những bài biểu bằng chữ quốc ngữ, nói về thanh thế và công lao của người được thờ tự. Khói nhang nghi ngút và hàng cột gỗ lim màu đen , thâm trầm làm lắng tụ những xáo động đời thường, khiến lòng người trong phút chốc bị lôi cuốn vào tâm niệm hoài cổ, nguồn cội…..

Lăng thờ Đức Quốc Công- Lễ Bộ thượng Thư_ Phạm Đăng Hưng. Ông sinh năm 1764 tại Giồng Sơn Quy , thôn Tân Niên Đông, xã Định tường, huyện Kiến Hòa. Ông là cha ruột của Thái Hậu Từ Dũ ( vợ vua Thiệu Trị, mẹ vua Tự Đức , nổi tiếng về lòng nhân hậu và dưỡng nhục, nhà hộ sinh tại Sài Gòn mang tên bà vẫn còn hoạt động đến ngày nay). Năm 1796 ông thi đỗ Tam Trường, được Chúa Nguyễn Phúc Ánh bổ dụng làm Lễ sinh ở phủ, sung Cống sĩ viện, rồi thăng Tham luận. Năm 1813, ông giữ chức Thượng Thư bộ lễ. Năm 1821, được sung làm phó tổng tài của Quốc Sử quán. Ông nổi tiếng là một hiền nhân và là một trung thần nhà Nguyễn.

Khu lăng mộ Hoàng gia _ Gò Công ( Ảnh tác giá)

Khuôn viên khu mộ khá rộng và bề thế. Dù đã đọc nhiều bài viết về những sai sót của việc trùng tu nhưng nó cũng tạo được một phần hồn cho cái nhìn của khách thập phương về một thời đại vàng son đã khuất bóng. Hai tấm bia đá được dựng hai bên, náu dưới mái hai kim tĩnh và những dòng chữ đã nhòa nhạt vì thời gian. Tấm bia bên trái ( hướng người viếng) có khắc hình cây thập giá  và một vài dòng chữ Pháp loáng thoáng. Nghe đồn đây là tấm bia của triều đình Huế ban tặng cho ngài, nhưng đã bị Pháp lấy, làm tấm bia cho đại úy Barbé  (Viên sĩ quan Pháp tử trận trong một cuộc phục kích của nghĩa quân Trương Định). Một sự lưu lạc kéo dài gần cả hai thế kỷ,  sau đó mới tìm lại được chủ nhân dích thực của mình. Mộ xây theo hình cánh dơi. Ba cung tròn ngoại tiếp trong một tam giác cân. Nền móng phía ngoài lát gạch tàu, phía trong không biết vật liệu gì nhưng cảm thấy khá chắc chắn. Họa tiết trang trí quá tỉ mỉ nhưng cũng quá rườm rà , nên khó lòng tìm được điểm nhấn. Giữa nấm mộ chính được xây một hình bát giác , có đỉnh là một núm tròn, trông như một cái ấn ( triện) của vua chúa ngày xưa. Tương truyền ông được chôn ngồi…. Phía trên  cây phượng cổ thụ vẻ cung khiêm như một người hầu, thả những cánh hoa màu đỏ thẩm xuống nền gạch rêu phong từng cánh…từng cánh một….làm thời gian theo suy tưởng của vãng khách dường như cũng chậm đi.

Cũng trên con đường Lăng Hoàng gia, phía sau Lăng tẩm Cụ Phạm Đăng Hưng, tôi tình cờ bắt gặp một quần thể những ngôi mộ xưa( sau này mới rõ đây là những họ hàng , thân thích họ Đặng). Một ngôi mộ được chôn phía bên tay trái con đường. Khuôn viên khá rộng rãi, chữ nhật, có tường bao bọc, nhưng lâu ngày không có bàn tay chăm sóc , nên phủ đầy xác lá. Mộ chính vun cao , hình lưng một con thú, có khắc hoa văn , đang phủ phục. Mộ còn khá nguyên vẹn. Bia đá phía trước khá to và dày . Dòng chữ Hán khắc trên bia theo thời gian đã phai lạt. Tường được xây bằng những viên gạch vồ, to hơn viên gạch bình thường, bề ngang khá lớn đến 15cm, bề dài khoảng 30cm. Trên mỗi viên gạch có một kí hiệu giống như một chữ Hán hay nôm gì đó, có thể thương hiệu của nơi sản xuất.  Những viên gạch long ra_ ẩm, đầy rêu, nhưng không thấy dấu hiệu mục nát. Thời gian đã hơn hai thế kỷ ẩn chứa trong những thứ vật liệu xây dựng thô sơ của tiền nhân, giờ lộ thiên, trơ gan dưới ánh mặt trời làm kẻ hậu sinh như tôi phải cúi đầu khâm phục….Phía bên phải con đường, chếch qua tí, cũng có một ngôi mộ lớn, nhưng đã bị hủy hoại khá nhiều. Chỉ còn lại bức tường viền hình vòng cung sụt lở. Dây leo và cây bụi phủ đầy.

Những viên gạch xưa_ Cụm khu lăng mộ Hoàng gia ( Ảnh tác giả)

Đền thờ của người anh hùng dân tộc Trương Định nằm chếch bên trái của chợ Gò Công. Quần thể này có thể mới được duy tu nên nhìn rất nổi bật và tinh khôi, thiên về suy tưởng lịch sử hơn về cơ cấu kiến trúc. Quần thể cũng được chia làm hai phần riêng biệt khu mộ phần và điện thờ. Khu mộ phần quay về hướng Bắc ( hướng thành phố) gồm một cụm những chi tiết mang tính Lễ, có trang trí hoa văn, được xây cất sắc sảo, sơn màu tiệp với với màu đá xanh . Tất cả trông sạch sẽ và rất mới. Có hai tấm bia , một trước, một sau mộ đều khắc bằng chữ hán. Một tấm có thể ghi thân thế của ông, còn tấm kia chữ khắc hai chữ, bằng màu sơn đỏ. Tôi nghĩ có thể đó là họ tên. Do sự quy tụ khá nhiều những chi tiết trên một chu vi hẹp nên thật khó nắm bắt cho trọn vẹn. Mộ ông hình mai rùa, tròn vạnh, trên có khắc hoa văn. Trước mộ có trồng hai cây sứ trắng . Một chậu sen có bông hoa trắng độc nhất, khoe mình dưới cái nắng. Bên hai cánh cổng của cửa vào có ghi hai câu đối bằng chữ quốc ngữ:

Hận nước cất cao đầu sóng bạc, chuyển rung Vàm Bao Ngược
Thương dân đành mất mạng, máu hồng tô thắm đất Gò Công.

Trước khi vào đây, tôi có gặp một chị bán vé số. Chị nói thời ông cố kể lại, sau khi ông tự sát, người Pháp  bêu xác ông giữa chợ Gò Công để thị uy. Thây  ông phơi ba ngày ba đêm , giữa trời nắng gắt mà không sình thúi cũng như không có con ruồi nào dám bâu đậu….Câu chuyện không mang tính thuyết phục điều tin hay không tin, nhưng nó nói lên, hình ảnh của con người này nằm trong sự kính trọng của những người dân địa phương bình thường ở đây, sâu sắc đến độ nào!

Đền thờ anh hùng dân tộc Trương Định _ Gò Công ( Ánh tác giả)

Ông sinh năm 1820 tại Bình Sơn, Quãng Ngãi, theo cha vào Nam, lấy vợ ở Tân An ( thời vua Tự Đức), chiêu mộ dân chúng khai hoang, khẩn hóa lập ấp trại tại Tân Hòa ( thuộc Gò Công). Ông thông binh thư, võ nghệ, thi đậu cử nhân võ, nên được phong làm quản cơ. Khi người Pháp hạ thành Gia Định (2-1859), ông đưa quân tham gia nhiều trận đánh, được phong làm Chánh quản cơ, phòng thủ đại đồn Chí Hòa ( Chợ Lớn). Sau khi đại đồn thất thủ, ông cùng số binh sĩ còn lại rút về Tân Hòa cố thủ. Trong thời gian đó, ông chỉ huy nhiều trận phục kích, làm thực dân Pháp với thiệt hại đáng kể, phải nể mặt. Với hòa ước mà triều đình Huế kí kết vào tháng 6 năm 1882, cắt ba tỉnh miền Đông cho Pháp, ông không chấp nhận. Cho rằng  triều đình phản bội nhân dân, ông tự xưng là Bình Tây Đại Nguyên soái, tiếp tục chiêu mộ nghĩa quân kháng chiến. Ông nói “_ Triều đình Huế không nhìn nhận chúng ta, nhưng chúng ta cứ bảo vệ Tổ quốc của chúng ta…” Với chiến thuật du kích chiến và phòng ngự tốt, ông đã gây không ít khó khăn cho người Pháp trong cuộc bình định vùng đất mới chiếm đóng….Mãi đến tháng 8 năm 1864, người Pháp dùng Đội Tấn ( một tướng lãnh của ông phản bội) lập mưu, vây hãm tại xã Phước Lộc. Ông bị trọng thương và rút gươm tự sát ngày 20 tháng 8 năm 1864, hưởng thọ 44 tuổi. Người Pháp bêu xác ông tại chợ để răn đe trong ba ngày đêm. Sau đó người vợ bé của ông , một đại điền chủ giàu có đất Gò Công, đã xin xác ông và an táng tại đây.

Đền thờ được xây dựng tân kỳ, không gian cao, khá thoáng đãng. Hương án và dung ảnh ông đặt giữa. Hai bên có hai  hàng giá đặt những thứ binh khí cổ. Hai bàn thờ tả, hữu  với những dòng chữ Hán Một tượng đồng bán thân được thờ phía sau, cao cỡ tầm người. Và phía sau cùng, sát vách  là chân dung của một vị võ tướng đang cưỡi con ngựa trắng. Nét vẽ lại hao hao giống chân dung của vua Quang Trung tôi đã từng thấy , hơn là ông. ( Thực ra đây là chân dung của Đại đô đốc Phạm Công Trị, người giả vua Quang Trung, đi chầu nhà Thanh_ Bức ảnh nguyên thủy do họa sĩ nhà Thanh vẽ, sau đó được phổ biến lại tại Việt Nam, gây nhiều ngộ nhận). Trong trường hợp này, nếu đó là chân dung Nguyễn Huệ, tôi cũng không hiểu tại sao  người ta lại thờ cả hai con người ở hai thời đại khác nhau, ở hai đẳng cấp khác nhau, mang những tư tưởng khác nhau để quy vào một nơi. Phải chăng có một sự nhầm lẫn nào đó?….Trên cao nơi có dung ảnh vị võ tướng có treo một biển sơn đỏ và hàng chữ  bằng chữ quốc ngữ “ Anh hùng dân tộc Trương Định”…Hai bên tường có treo những bảng  nói về cuộc đời và những câu nói nổi tiếng của ông. Đặc biệt có một bảng in bằng ronéo, bản lớn, bọc kính , trên đó có ghi “ Di tượng 30 anh hùng liệt sĩ Việt Nam thời cận đại” như Phan Thanh Giản, Tống Duy Tân, Kỳ ngoại Hầu Cường Để, …. và bên dưới là đôi  dòng giới thiệu thân thế và sự nghiệp. Những dòng chữ tuy ngắn ngủi nhưng thật đầy đủ và ấn tượng. Tôi lướt mắt qua những con chữ, nét phác họa của những bức chân dung được thu nhỏ , không dấu được lòng cảm thán. Lịch sử tranh đấu của dân tộc gan góc này trong suốt một thế kỷ  như được trãi ra trong khung hình . Bi tráng và mãnh liệt. Gương những anh hùng , chí sĩ bị bức hại như những vì sao anh khôi lóe sáng trên bầu trời đen tối kéo dài một trăm năm trong ách nô dịch thực dân.

****

Chợ Gò Công được xây dựng vào năm 1916, theo như cái năm được lưu trên mặt tiền của khu chợ chính. Vào thời điểm tôi đang đứng là năm 2017, tức là tôi đang đối diện với một công trình có tuổi đời đã lên đến một thế kỷ. Ngoài ra còn có một khu chợ mới được xây dựng, cũng trên một trục đường, nằm cách khu chợ cũ khoảng vài trăm met. Thực tế, theo một tư liệu hình ảnh của Báo Ấp Bắc điện tử, có đăng hình khu chợ Gò công cổ và chú thích, ngôi chợ này được xây dựng vào năm 1898. Lấy 1916 trừ cho 1898, tức ngôi chợ tiền thân chỉ tồn tại trong 16 năm. Điều này có vẻ hơi phi lí. Với những công trình xây dựng thời Pháp thuộc, nếu không bị những biến cố bất khả kháng như chiến tranh, hỏa hoạn, thiên tai….nó có thể tồn tại đến cả thế kỷ.  Vả lại , công trình  của chợ Gò công ( cũ) hiện tại đã có khá nhiều sự thay đổi,  nhiều hình thái kiến trúc khá hiện đại như hạ thấp chiều cao. Những đường lam trang trí. Mặt tiền từ kiến trúc gothic chuyển sang block hiện đại….Theo suy nghĩ của tôi, vậy trên trục thời gian, có đến 3 ngôi chợ trên một địa điểm. 1898 một cái. 1916 một cái. Hiện tại (2017) một cái….Thật là rối rắm!

Chợ Gò Công ngày nay ( Ảnh tác giả)

Chợ chia làm ba gian. Một gian chính và hai phụ. Có thể mới được trùng tu nước nước sơn còn khá mới. Tôi không vào chợ, chỉ chạy xe vòng quanh. Dọc bên hông chợ , người ta bày bán trái cây, tôm cá, rau củ ….nhưng thứ theo mùa vụ, không mang tính nhu yếu phẩm. Tôi tấp vào một gánh chè, do hai vợ chồng vừa bày ra. Chè được đựng trong một xoong to, còn bốc khói. Những lát mít vàng ruộm thật bắt mắt, chen với những quả táo tầu đỏ thẩm . Một điều phải công nhận ẩm thực Nam Bộ có thể không quá cầu kỳ khi nấu nướng nhưng về phần trang trí và sắc màu, nó vượt trội trên cả ba miền. Từ cái bánh bò, ly chè….cho đến những thứ đồ ăn, thức uống khác. Tôi lại gần ,hỏi người đàn bà “_ Chè này gọi chè gì vậy chị?”

“_ Chè Tàu Thưng !” Người đàn bà lúi cúi xoắn cọng dây thun cho một bịch chè, ngẩng lên trả lời.

Cái tên lạ hoắc, làm tôi phải hỏi lại lần nữa cho chắc ăn.

“_ Chè Tàu Thưng, anh à!” Lần này thì anh chồng, mặc chiếc quần cộc, đang phụ vợ ,ngồi bên trả lời.

Tôi đón lấy hai bịch chè nóng hổi, không  hỏi vặn thêm về nguồn gốc , vì thấy hai vợ chồng đang bận tay, đưa mắt tìm kiếm một chỗ khuất nằm bên kia đường. Chè Tàu Thưng, hay được gọi là chè Thưng, chè Bà Ba Nam Bộ( theo tra cứu sau này). Chè nấu bằng nếp, khoai lang, đậu phụng, đậu đỏ, có bỏ thêm trái cây là mít và táo tầu. Nước cốt dừa béo, mằn mặn như trung hòa  cái vị bùi bùi khá chìm của ngũ cốc trước khi chuyển sang vị ngọt tự nhiên, giòn giòn nổi trội của cây trái…Tôi ngạc nghiên, tự hỏi sao trong cái món ẩm thực quê mùa ( gần như vô danh) lại gợi lên những suy nghĩ mang tính học thuật khá độc đáo về bản ngã của vùng đất ruộng nước, về những sản vật mà thiên nhiên ban tặng, Chỉ đơn giản trong bịch chè, cảm tính thưởng thức của con người đã nâng đến tầm triết lý…và đặc biệt, một dư vị đậm chất quê hương. Không quên được!

Người Gò Công I Mộc mạc và chân chất. Rất gần gũi và dễ bắt chuyện. Điều này khỏi nói rồi. Ở chợ , tôi có đến trước một khay bánh bò của một chị khá đứng tuổi. Trên khay chỉ còn lại hai cái bánh cuối cùng. Thấy tôi hỏi mua bánh, chị hơi ngần ngừ , nói “ _  Bánh này từ hồi sáng rồi. Anh có lấy tôi qua bên kia lấy bánh mới cho!” .Trước chút tình người chỗ chợ búa , tôi phẩy tay: “ _ Thôi chị ơi! Phiền phức. Em lấy bánh này cũng được”. Khi trao cho tôi, chị dặn thêm “ _ Ăn đi chớ để trong bịch nilon hầm hơi. Nó thiu!”….Tại nhà Đốc Phủ hải, một căn nhà cổ của một Bá hộ giàu có, tương truyền là cháu ngoại của bà Trần Thị Sanh ( Người vợ bé nặng tình của vị thủ lĩnh nghĩa quân Trương Định). Vào tầm trưa, người bảo vệ đã  khóa cổng đi ăn cơm, nên tôi đi quanh quẩn trong khuôn viên phía trước. Ngôi nhà được xây vào cuối thế kỷ 19, trệt, lợp ngói. Mặt tiền gồm những cụm cửa hình vòm của lối kiến trúc Roman kết hợp với hai bên cánh là hai kiến trúc phụ mang hình thức Tân cổ điển_ những khối chữ nhật có tác dụng nâng chiều cao của tổng thể cấu trúc, đến một tầm mà  định nghĩa về nó hoàn toàn nằm trong phạm vi một kiến trúc sinh hoạt, vượt qua sự hà khắc tôn giáo và bên dưới tầm với một công sở. Hơn nữa, có thể chủ nhân rất tinh ý khi mang điểm nhấn là những cung tròn Á đông đặt vào trọng tâm, trong khi sự cách tân vuông vức Tây phương , dù quan trọng nhưng chỉ là tính phụ trợ. Vấn đề này giải quyết cho việc mang toàn bộ khối kiến trúc thoát khỏi sự lạc lõng với cảnh quan xung quanh, nhất là ở khung cảnh tiền đô thị An Nam vào thời kỳ đó. (Cây cau, giàn trầu, những dãy phố lụp xụp….). Những họa tiết trang trí bên ngoài hoàn toàn Âu Tây mềm mại, uyển chuyển…cầu kỳ nhưng không bị phô ( chõi). Tôi đi vòng quanh quan sát khu nhà, thì có gặp một nhóm thợ hồ đang nghỉ tay uống nước. Họ đang xây dựng căn nhà bên cạnh. Thấy tôi có vẻ là người ở xa tới, nên nhóm người cũng vui vẻ hỏi han, bắt chuyện. Câu chuyện lan man về những địa danh ở miền Trung và Nam bộ, nơi những người thợ hồ đã từng đến làm việc, chuyển sang cái nhìn về thị xã Gò Công cảnh quan, con người…. trước, sau giải phóng và tương lai…. Ngồi nghe chuyện , tôi mới nhận ra một đặc điểm khá lí thú ở những hậu duệ của văn hào họ Hồ ( Hồ Biểu Chánh) này, là khả năng nói chuyện khá lưu loát và những lời nhận xét tinh tế, đáng ghi nhận. Tỉ dụ khi nói đến ngày ba mươi tháng tư, một anh thợ hồ lớn tuổi có nói :”_ Cũng mừng là nó kết thúc để dân chúng làm ăn. Dây dưa hoài ….Sức người, sức của ….quốc gia nào chịu nổi!”. Nói thật, cũng hiếm mà tìm được một cái nhìn như anh, trong những thế hệ đi trước. Người Gò Công cũng rất có khiếu về thi ca. Với tôi đó là một khám phá thật mới mẻ và cũng thật ấn tượng ở giữa thời đại này, tại một thị xã chỉ cách Thành phố trong bán kính năm mươi cây số. Khi cơn bão của lối sống hiện đại đã tàn phá không thương tiếc đời sống tinh thần con người Việt, từ Nam chí Bắc, đến một câu nói tử tế cũng không ra hồn, thì ở đây , người ta sẵn sàng chia sẻ những bài thơ mộc mạc nói về quê hương của họ với những người lần đầu quen biết…. Trưa nắng, tôi ngồi nhấp nháp ly cà phê đắng, lắng nghe những câu lục bát từ những người phu hồ.…Thật cảm động!

Ù ơ….Mẹ mong gả thiếp về vườn
Ăn bông bí luộc, dưa hường nấu canh
Thương anh….cũng muốn theo anh
Ngặt cha với mẹ , không đành….thời sao?

Dinh tỉnh trưởng Gò Công_ Một phế tích đáng tham quan ( Ảnh tác giả)

Về nhân chủng học hình thể ( Physical anthropology) qua tiếp xúc, người Gò Công đều có một cái gì na ná giống nhau. Vóc người cao lớn hơn dân Việt bình thường ở những vùng miền khác. Khuôn mặt dài, sống mũi cao và thẳng. Cánh mũi nhỏ. Mắt không to, môi không quá dày. Vành tai dài, chảy. Khuôn mặt đầy, đẹp ….và không thực linh hoạt. Dù rất hiếu khách nhưng nụ cười cũng khá hạn chế. Lúc bình thường, nhìn kỹ, lại có nét hướng nội.

Gò Công có  những con đường nhỏ, hàng cây sò đo với những bông hoa đỏ thẫm, chạy dài, trông khá lạ mắt. Mật độ xe cộ thưa thớt. Đường phố sạch. Không khí trong lành. Dân không mấy ai ra đường mang khẩu trang kín mít như ở Sài Gòn. Một vài cảnh quan trong thị xã thấy khá vắng, thậm chí mơ màng như  Nhà thờ Chánh Tòa, Dinh tỉnh trưởng ….Những công trình kiến trúc kể trên đã có tuổi đời hơn cả thế kỷ. Một số còn trưng dụng. Số xuống cấp, đóng cửa. Thật không dễ kìm nén dòng cảm xúc khi phải đối diện với cấu trúc khổng lồ, suy kiệt sau bao năm tận tụy, phục vụ giờ nằm phủ phục, im lìm với những mảng tường nứt vỡ hoen màu gạch đỏ, những ban công bám đầy rêu và dây leo….

Điều đáng nói là các di tích ở Gò Công đều chưa có quy mô , trên thực tế chỉ để tưởng niệm, cúng bái, tham quan trên cơ sở vùng miền lân cận…chứ chưa mở rộng sang ranh giới của những địa điểm du lịch thật sự, với những vệ tinh và cơ sở hậu cần hưởng lợi đi kèm. Sự khai thác có lẽ trông chờ vào tương lai gần, vì tiềm năng sẵn có là điều không thể bàn cãi.

****

Vào khoảng thập niên 90 , trên sân khấu âm nhạc Việt, bỗng xuất hiện một vài sáng tác lạ được trình bày bởi nữ ca sĩ nổi danh hồi ấy, Bảo Yến, làm xôn xao dư luận, nhất là đối với giới trẻ. Những ca khúc như “ Chuyện tình hoa muống biển”, “ Ánh mắt quê hương”, “ Thương một người ở xa”…. cùng với  dòng nhạc Gò Công, đã làm nên tên tuổi một người nhạc sĩ xứ Gò ,có tên Hoàng Phương. Nhưng thật ra, ông là một nhạc sĩ đã thành danh với nhạc phẩm “ Hoa sứ nhà nàng” từ trước năm 1975. Nhạc sĩ Hoàng Phương tên thật là Nguyễn Kim Hoàng, sinh năm 1943, tại  xã Tân Thành huyện Gò Công. Năm 1968, khi 25 tuổi, ông lên Sài Gòn tham gia ban nhạc cùng Vinh Sử, Quốc Dũng , Lê Hựu Hà…Trong năm này, ông viết bản nhạc đầu tay “ Hoa sứ nhà nàng” . Nhạc phẩm này ngay lập tức đã khẳng định tên tuổi của ông. Sau 30 tháng 4 năm 1975, ông quay về Gò công mở tiệm sửa đồng hồ, sau đó  hành nghề thợ bạc. Năm 1986, trong chính sách đổi mới, ông cho ra đời dòng nhạc Gò Công, với các bài hát trữ tình ca ngợi tình yêu , ca ngợi quê hương, danh thắng Gò Công. Album  “ Băng nhạc Gò Công”  vừa ra đời đã được sự đón nhận nồng nhiệt của công chúng yêu âm nhạc khắp cả nước và được xem như một hiện tượng. Ông được vinh danh như “ Ông hoàng nhạc Gò Công”. Năm 1989, ông cưới người vợ hai tên Mộng Vân. Hai người xây dựng một căn nhà nhỏ trên bãi biển Tân Thành. Vào những năm cuối đời, ông trở nên suy sụp. Ông mất vào năm 2002, vì bị bệnh ung thư gan. Ông để lại cho đời  khoảng 20 tác phẩm hoàn chỉnh và một số khác còn đang viết dở dang…..

Cũng không hiểu biển Tân Thành trong suy tưởng của người nhạc sĩ ngày đó như thế nào, hoặc khoảng thời gian hai mươi năm,  con người đã làm thay đổi hoàn toàn những cảnh quan mà trước đây nó từng có. Được quảng bá khá nhiều trên các phương tiện truyền thông về một bãi biển cát đen đặc biệt, một khu du lịch khá lý tưởng….nhưng trước mắt tôi, bãi biển Tân thành ngày nay, như một minh chứng cho sự độc ác của con người ,trong hành động triệt phá đến tận cùng các nguồn lực còn sót lại của tự nhiên, mà không có sự bù đắp và sự  vô cảm tính đến lạnh lùng trong liên kết sinh hoạt đời thường giữa con người với môi trường  xung quanh. Bãi biển rách rưới , nằm rũ chết. Những công trình ngắn hạn, gãy đổ, dập vùi trong sóng biển mà thời gian và sự thô thiển của cấu trúc không đọng nổi chút giá trị của chữ phế tích. Bãi biển tràn ngập rác. Những cây phi lao mới trồi lên từ cát nay phải khó nhọc oằn mình dưới một lớp bao ni lon xanh đỏ dày cộm, quấn riết. Những vuông đất mới bị đào xới làm những vuông tôm, đất sình như vết loét nằm cận kề  bên bãi tắm… cho một khái niệm dễ lẫn lộn giữa một nông trường nuôi tôm và một khu du lịch. Những nhà hàng được cất như những cái chòi vươn ra biển, nơi khi hưởng thụ người ta thật vô tâm với những thứ mình xả ra .Phía dưới, những bè rác thải, trôi nổi, dập dềnh trong con sóng….Thực ra bãi biển , còn là nơi thu hoạch nghêu khá lớn của người dân địa phương, nhưng vào thời điểm tôi đứng, thủy triều đang lên và những con sóng mấp mé ven đường.

Bãi biển Tân Thành, Gò Công Đông_  Cảnh  tiều tụy của tự nhiên trước việc vắt kiệt của con người ( Ảnh tác giả)

 

Thất vọng  trong cố gắng tìm đến một nơi đã  trở thành nguồn cảm tác, của một nhạc sĩ nổi tiếng ,nhưng trên đường quay ra, tôi lại tìm được nguồn vui nho nhỏ ở khu chợ Gò Công Đông. Trong một quán giải khát,  tôi tình cờ ghé vào….Cô gái Gò Công Đông xinh xắn mang ra ly nước mía xanh ngắt. Những ngón tay  tay nhỏ nhắn của cô gái  xoay xoay chiếc volume của cái amply trong góc nhà và giọng ca quen thuộc  của cô  ca sĩ ngày nào, vang lên

“ …Có phải chăng cát giận, cát hờn. Chẳng muốn nhận dấu chân em làm kỉ niệm. Để cát bay , cát tạo thành hình của sóng. Để ven bờ cát mãi đùa vui…”

Tôi bị đẩy vào trong một tâm trạng thật ngổn ngang.

Chợ Gò công Đông   ( Ảnh tác giả)

****

Khác với Gò Công Đông, Gò Công Tây là một khu vực thuần túy nông nghiệp. Quốc lộ 50 chạy về thị trấn Chợ Gạo, có lẽ là xương sống của huyện lị. Trên thực tế, khi di chuyển trên quốc lộ, ta cũng khó tìm được màu xanh của ruộng lúa hay những mảnh vườn đặc trưng trồng cây ăn trái. Những dãy nhà mọc dọc theo con đường đã che chắn một phần nào tầm mắt. Chỉ để những lối rẽ, những con hẻm nhỏ, đang mong đợi một sự tìm tòi phía sau….

Anh ơi về tới Hòa Đồng
Nhớ mua bánh giá chợ Giồng tặng em.

Ngã ba Hòa Đồng có một lối rẽ như vậy. “ _ Chợ Vĩnh Bình chớ! Bây giờ đâu ai kêu chợ Giồng nữa đâu. Đi thẳng là tới!” . Theo tay anh xe ôm chỉ, tôi phóng xe trên con đường rãi nhựa nhưng khá ọp ẹp để vào trung tâm thị trấn. Xét trên các khía cạnh , vùng này có vẻ không trù mật bằng dưới Gò Công Đông. Những ngôi nhà cũ kỹ với diện tích khá hẹp, nằm chen lẫn với những ngôi nhà cao tầng, các cơ quan công sở. Một lớp bụi đỏ mờ phủ trên các cấu trúc sinh hoạt và việc nhận diện con người cũng không mấy sáng sủa. Nhưng càng vào sâu, đường xá càng dễ đi , cảnh quan có vẻ sáng láng, nhiều kiến trúc tôn giáo hơn. Qua cầu Vĩnh Binh bắc qua một con kinh nhỏ, ngôi chợ hiện ra trong tầm mắt. Chợ Vĩnh Bình , tức chợ Vĩnh Lợi hay còn gọi là chợ Giồng Ông Huê. Chợ được xây dựng vào năm 1895, do ông Trần văn Huê, một đại điền chủ , bỏ tiền xây cất. Tương truyền, ông Huê ngày trước quê tận Quãng Ngãi, theo Chúa Nguyễn di dân vào Nam , nhờ khai phá đất đai mà trở nên giàu có. Nhưng tôi không ghé vào chợ. Tôi theo đường Nguyễn văn Côn xuôi một đoạn khá xa đến một địa danh gọi là Phước Hựu. Có thể trong mắt, tôi chưa chạm đến cái mà tôi muốn tìm…

“ _ Bánh giá bây giờ hết ngon rồi. “ Má chậm rãi nói    “_ Mấy người hồi xưa làm ngon hơn! Nhưng muốn mua cũng phải đi buổi sáng , chứ giờ này đâu còn chỗ nào bán.”

Người đàn bà lại cúi xuống làm công việc của mình, sắp xếp những tệp giấy vàng bạc, rồi bó nó lại bằng những sợi dây thun.  Chiếc khăn rằn Nam Bộ  trên đầu, đôi lúc lại buông thõng một tua xuống vai gây vướng víu, nên thỉnh thoảng, bà lại ngưng việc, lấy tay nhét nó lại vào những nếp gấp. Khuôn mặt dài, sống mũi hơi khoằm, dái tai chảy dài có đeo đôi mặt cẩm thạch nhạt màu….Cái hình ảnh gợi cho tôi vài kỷ niệm về bà ngoại tôi, ngày trước…..Những nếp nhăn đánh dày trên khuôn diện như gân một chiếc lá rụng.

_ Ruộng nhà mình đây hả Má?

_Ừa …cũng được hai sào. Mỗi năm hai vụ. Nhưng bây giờ đâu có người mần. Tụi nhỏ nó đi mần xí nghiệp hết rồi!

_ Sao ít vậy Má. Mấy chỗ khác  thấy họ làm được đến ba bốn vụ ? Thắc mắc tôi hỏi.

_  Ở đây đất phèn, chỉ mần được vậy. Nhà nước cũng khuyến khích trồng xen canh như dưa , khoai, khổ qua…Nhà không có người mần, nên cho người ta mướn.

Loáng thoáng một người đàn ông lớn tuổi, đang vun đống rơm ở sau nhà, nên tôi hỏi:

_  Ba hồi trước làm gì Má?

_  Ổng đi lính….nghĩa quân, đóng loang quanh đây.

_ Đất này ông bà để lại hả Má?

_  Đâu có…ông bà hồi trước cũng chỉ tá điền thôi. Lúc tụi tui ra riêng …cũng đi mần ruộng mướn. Sau này có chính sách gì đó….Chính sách gì đó thời ông Thiệu….

Thấy bà cứ ngắc ngứ mãi, nên tôi thêm vào:

_ Người cày có ruộng….

_ Ờ…. “ Người cày có ruộng”  nên mới được mấy sào. Sau này giải phóng vô, ruộng đất sung vô Hợp tác xã hết,  nhái cũng hoàn nhái, về lại kiếp làm mướn…

_ Ủa , hợp tác xã mà làm mướn gì má?

_ Thì mầm mướn cho nhà nước, lấy công điểm. Đói sặc gạch. ..Mần ra hột lúa mà chỉ nhai khoai mì, khoai lang trừ cơm.

Bà bật cười. Tuổi tác và cái miệng móm xọm, đầy trầu  đã xua đi cái vị chua chát của câu nói,  đồng hóa nó trong cái cười của nhân tâm.

_  Sau này thấy dân đói quá…kéo nhau đi hết, nên mấy ổng mới chia lại ruộng. Giờ được hai sào non đó!

Tôi ngồi bên Má, nhìn ra vuông ruộng tít tắp, xanh ngắt của lúa đang thời con gái. Những ngọn  gió thỉnh thoảng tràn qua cánh đồng  làm gợn lên những con sóng, nổi cồn, lan mãi… chạy ruổi về phía những rặng cây ăn trái nổi lờ mờ phía chân trời. Mùi hăng hăng quen thuộc của bùn đất , mùi của hoai hóa từ con  rạch nhỏ trước nhà làm không khí đang thở đậm lại. Bên trái , mấy cái mộ cổ của mấy ông Bá hộ ngày trước, kiến trúc cầu kỳ nằm khuất trong đám lau lách, cho cái nhìn ám lại về một thời đại tối tăm địa chủ, tá điền và những thời kỳ khác đã đi qua.

Trong thoáng trầm tư, ký ức hằn những nếp nhăn trên trán người Mẹ Việt!

 Chợ Vĩnh Binh ( Tên ngày xưa chợ Giồng)_ Gò Công Tây ( Ảnh tác giả)

…..

Nằm tựa lưng vào bờ kinh Vĩnh Bình, chợ Vĩnh Bình có cấu trúc của một khối chữ nhật, chạy dài. Chợ đã được xây dựng mới, cao ráo, sạch sẽ. Chênh chếch phía mặt tiền, còn giữ lại vài ngôi nhà cổ lợp ngói, với kiến trúc thấp, những cổng vòm được trang trí bằng phù điêu và hoa văn. Rêu mốc và sự cũ kỹ chừng như cô lập hẳn quần thể này trước những ngôi nhà cao tầng hiện đại mọc đầy xung quanh. Trong bối cảnh chung, chúng hiện diện như những chiếc bóng ma mị, đầy tự kỷ , tồn tại bằng những ký ức, biến cố vốn chất chứa quá nhiều trong chúng. Điều này lý giải, không phải tự dưng, ánh mắt tôi khi quét qua đó, đột nhiên chùng xuống.

Trời đã xế chiều, ngôi chợ không còn sự tấp nập, ồn ào. Lác đác, vài gian hàng đang dọn…

_ “ Bánh giá hả em? Giờ này đâu ai còn bán nữa….Chạy xuống cuối chợ coi sao?” Một chị phụ nữ mau mắn nói.

Buổi chợ đông , con cá đồng cũng chê lạt
Lúc chợ  chiều, con tép bạc cũng khen ngon

Có lẽ đây là hàng bánh cuối cùng và chủ sạp, một phụ nữ trẻ khuôn mặt ủ ê, đang gói mấy chiếc bánh bằng miếng lá chuối cho một người khách. Cạnh đó, một cái chảo đầy dầu chiên đang sôi sùng sục bắc trên một cái lò đun bằng củi. Một thau bột vẫn còn lưng lửng, bên kia là một cái thúng to đựng  lủng củng đủ thứ: giá sống, gan heo, tôm sống.….Cái quạt trên tay cô nàng làm việc liên tục, nhưng vẫn không xua nổi đám ruồi nhặng lì lợm, cứ chờ chực lao vào. Giả tảng như không biết gì, tôi hỏi: _ Đây chợ Giồng phải không em?

_ Chợ Vĩnh biệt anh à!…Câu trả lời làm tôi suýt phì cười _  Buôn bán ế quá, mai mốt không còn ai bán nữa, chắc phải kêu chợ Vĩnh biệt. Cô nói như trãi lòng mình…._Mua  giùm em vài cái bánh đi anh!

Thực ra thứ bánh giá nổi tiếng này, cũng gần giống món bánh xèo ở miền Trung. Bột gạo xay pha loãng với đậu nành, đổ lên một dụng cụ khá đặc biệt, giống cái khuôn đúc bánh xèo nhưng nhỏ hơn, trong này gọi bằng cái vá. Tiếp theo người ta cho giá sống, gan heo lên trên, rồi đổ một lớp bột mỏng phủ đều. Trên cùng cho hai con tôm và ít hạt đậu phụng cho bắt mắt. Hoàn tất , tất cả cho qua chảo dầu, chiên vàng. Sau đó vớt lên, để ráo dầu là có thể ăn được…. Bánh giá ăn không với nước mắm, nước tương kèm rau sống. Một số người lại thích ăn với bún.

Tôi định lấy hai cái ăn lấy thảo, nhưng khi nhìn khuôn mặt chân phác của cô bán hàng chẳng thấy vui lên tí nào, đành lấy thêm hai cái nữa.

Nhận mấy cái bánh, tôi có gửi lời chào và câu chúc buôn may, bán đắt….chỉ thấy nàng cười thẹn và câu trả lời, nho nhỏ…._ Cám ơn!

Rồi mai em gái theo chồng/ Ai đem bánh giá chợ Giồng mời anh ( Ảnh tác giả)

 

****

Tháng năm mùa của những cơn giông chiều ở mảnh đất miền Tây . Vừa thoáng thấy những đụn mây đen ùn lên ở chân trời, thoắt cái , nó đã bắt kịp tôi, khi bánh xe vừa chạm ngưỡng Gò Công. Mưa mù mịt. Hạt mưa to, nặng như những mảnh kính vỡ vung vãi , đâm nhói vào da thịt. Ướt như chuột lột, tôi đâm xe vào mái hiên của một nhà ven đường để tránh mưa. Mưa đổ  từng đợt ào ạt, xói cả mặt đường nhựa. Con phố trước mặt như ai đổ lên một lớp sơn bạc, nhòa nhạt, vắng ngắt…..

Trong lúc đợi mưa tạnh, tôi chợt nhớ cuốn sổ ghi chép để trong túi áo sơmi lúc sáng. Cái túi ướt nhẹp, nhưng cũng may, bên trong cuốn sổ vẫn khô ráo. Dưới ánh sáng lờ mờ còn sót lại của ban ngày, tôi đọc lại dòng chữ do chính tôi ghi lại, theo nguồn khảo cứu.

“ Tuy vậy, Nam Phương hoàng hậu được nhiều người đánh giá là người thiết tha với đất nước. Theo tài liệu của sử gia Pháp Jean Renaud do nhà xuất bản Guy Boussac ấn hành năm 1949:

Sau khi quân Pháp dựa vào thế lực của quân Anh quốc để gây hấn ở miền Nam với ý đồ tái chiếm thuộc địa Việt Nam. Lúc đó vua Bảo Đại đã thoái vị, bà Nam Phương đang ở tại An Định cung bên bờ sông An Cựu. Đau lòng trước thảm cảnh mà đồng bào miền Nam, quê hương của bà đang trực tiếp gánh chịu, cựu Hoàng hậu Nam Phương đã gửi một thông điệp cho bạn bè ở Á châu yêu cầu họ lên tiếng tố cáo hành động xâm lăng của thực dân Pháp với lời lẽ như sau:

“Kể từ tháng 3 năm 1945, nước Việt Nam đã thoát khỏi sự đô hộ của người Pháp nhưng vì lòng tham của một thiểu số thực dân Pháp với sự tiếp tay của quân đội Hoàng gia Anh nên hiện nay máu của nhân dân Việt Nam lại tiếp tục chảy trên mảnh đất vốn đã có quá nhiều đau khổ. Hành động này của thực dân Pháp là trái với chủ trương của Đồng Minh mà nước Pháp lại là một thành viên. Vậy tôi tha thiết yêu cầu những ai đã từng đau khổ vì chiến tranh hãy bày tỏ thái độ và hành động để giúp chúng tôi chấm dứt chiến tranh đang ngày đêm tàn phá đất nước tôi.

Thay mặt cho hàng chục triệu phụ nữ Việt Nam, tôi thỉnh cầu tất cả bạn bè của tôi và bạn bè của nước Việt Nam hãy bênh vực cho tự do. Xin các chính phủ của khối tự do sớm can thiệp để kiến tạo một nền hòa bình công minh và chân chính và xin quý vị nhận nơi đây lòng biết ơn sâu xa của tất cả đồng bào của chúng tôi”…”

……..

Biết rằng sau cơn mưa trời lại sáng, nhưng sao trên con đường về, hòa mình vào dòng người xứ Gò đang vội vã,  tôi  lại cảm thấy nặng lòng. Thời gian và bao sự thay đổi dâu bể, tất cả đâu cưỡng lại được vận trời. Cũng  xin đành nợ Người…. Nam Phương!

Sài Gòn, ngày 7 tháng 7 năm 2017

Vũ Khuê

 

 

 

 

Tài liệu tham khảo:

_ Nguồn Wilkipedia.
_  Gò công_ Xưa và nay ( Tác giả Hoàng Minh)
Và một số tư liệu khác.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

ĐẦU XUÂN, BƯỚC CHÂN QUA VÙNG “XÔI ĐẬU”…

 

( Kí sự)

“ Có ai qua vùng hỏa tuyến.
Nhắn cho tôi đôi lời….”

Có cô ca sĩ nào đó , có cái giọng lạ, hớp hồn tôi bằng một bài hát của nhạc sĩ Lê Minh Bằng. Một giọng ca thiên phú,  chỉ dành riêng cho dòng nhạc vàng_  trong trẻo và da diết. Chất giọng mềm và chân, hầu như không có sự luyến láy của học thuật bỗng dưng làm thăng hoa một cái gì đó đã quá cũ kỹ. Một thứ đã qua tay quá nhiều người, trong việc cố gắng làm sống nó , bằng khá nhiều hình thức, nhưng gần như thất bại. Em đã thành công , ít ra trong tôi, nhờ một vấn đề mà những người đi trước đã bỏ qua hoặc không chú ý đến. Sự chân chất…. và chiếc lư xỉn màu vì thời gian trên đôi tay thành tâm của người thợ đánh bóng trong những ngày giáp Tết, qua vài vòng cọ xát với lượt vải mềm, một màu đồng sáng chợt hiện ra, lóe lên, ngời ngợi …. chao lòng người!

“ _ Ai hát vậy em?” Tôi ngoái cổ lại, hỏi thăm cô chủ quán.

“ _ Ca sĩ Hồng Trúc đó anh!”

Cái tên nghe lạ!  Tôi cố gắng ngồi nán lại trong cái  quán cà phê nghèo ven sông để nghe cho hết bài hát.

****

Đi làm ở Sài Gòn khá lâu và nhiều buổi chiều, khi đi làm về , tôi thường đứng hóng mát trên cầu Sài Gòn. Tôi đứng từ chạng vạng đến lúc đỏ đèn, khoảng tiếng đồng hồ,  để nhìn dòng sông mênh mang, trãi rộng trong tầm mắt. Nghe âm thanh lạch bạch quen thuộc của những chiếc võ lãi, dõi theo  những chiếc ghe bầu cũ kỹ, ì ạch chở sản vật của từ những vùng quê lân cận mang xuống thành phố . Con sông quanh năm suốt tháng  chỉ mang một màu phù sa đùng đục  ….thứ màu  của bùn đất, của lam lũ ..xuôi qua phố thị náo nhiệt, tráng lệ. ….Đôi lúc tự hỏi có con sông nào trên thế giới,  mang những hình ảnh tương phản như phần đặc trưng của sự sống chính mình thế này hay không ?…. Đứng nhìn những xoáy nước cuộn dưới chân cầu, cũng tội những mảng riều, lục bình trăm năm cứ lẩn quẩn mãi ở một khúc sông, không ra được tới biển , theo con nước ròng vừa qua được chân cầu lại gặp con nước lớn đẩy ngược trở lại, cứ như thế, theo dòng thời gian, một sự giành giật chà xát không khoan nhượng giữa những thế lực tự nhiên mạnh mẽ hơn nhiều…

Cầu Phú Cường_ Thủ dầu Một  , mồng tám Tết Đinh Dậu ( 2017). Một thứ dây leo trùm lên thân cây tràm, cho những chùm quả đỏ mọng lạ mắt , dẫn tôi theo một con đường tôi chưa hề có ý định rẽ vào.  Bên trái là cung đường khá quen thuộc lúc tôi còn làm công trình ở Tây Ninh. Cầu Phú Cường, vắt ngang sông Sài Gòn (đoạn này có tên Sông Cái ), theo tỉnh lộ 8, lên đến trung tâm huyện Củ Chi, hòa nhập vào quốc lộ 22, sau đến Trảng Bàng rồi Gò Dầu…Còn rẽ phải, cầu Rạch Trầu, kho xăng dầu Thalexim….gì gì nữa, tôi chịu, chỉ biết nó dẫn lên vùng thượng nguồn sông Sài gòn, hồ Dầu Tiếng, chiến khu  Dương minh Châu…. Cung đường vắng vẻ, đã rãi nhựa. Bên trái, trãi ra đến mé sông, khu đô thị Chánh Mỹ  với những khu biệt thự dành  cho người nước ngoài thuê hoặc cho những đại gia người Việt đứng biệt lập, sau bức tường rào và hàng cây cao được tỉa tót cẩn thận.  Loáng thoáng màu áo xanh biển của những tay bảo vệ  và màu trắng của người phục vụ.  Gần 9 h, không gian im ắng. Một vài  công ty cở nhỏ đóng cửa im lìm, chưa hoạt động.   Đoạn qua làng Mỹ Hảo,  cư dân hai bên đường có vẻ đông đúc hơn.  Một ngôi làng đẹp, lâu đời với những con đường nhỏ láng xi măng, sạch sẽ. Cư dân theo đạo công giáo, niềm nở và tốt bụng, sẵn sàng dành thời gian để trả lời những câu hỏi cho khách qua đường . Những nụ cười đôn hậu không quên được. Cuối làng là một nghĩa trang  và một ngôi nhà thờ nhỏ…. Khu phố Mỹ Hảo 2 là những mảnh đất đã phân khu nằm trong quy hoạch, nhưng có thể thiếu kinh phí hoặc chưa có nhà đầu tư nên gần như bỏ hoang. Vài cụm dân cư, trường học nằm cô lập. Mái ngói đỏ au, những bức tường mới xây cho cảm giác đây là khu dân cư mới ….Và thú thật, cái mới không hấp dẫn tôi lắm. Như một kẻ háo chuyện tinh vi… và cái mới có gì để nói.

Qua cầu Bà  Cô….một ngã ba, rẽ tay trái… Một ngôi đền có biển cảnh báo đang sửa sang và những cây dầu cổ thụ thẳng tắp , cao ngất ngưỡng. Không gian mát mẻ hẳn lại.  Tôi hỏi người đàn bà đang bán hàng bún mì gần đó: _ “ Đền thờ ai vậy chị?”  _” Đền thờ ông Phan Thanh Giản”. Chị trả lời , quay lại với câu chuyện đang dở với bà khách   “….Trời tối mò. Đạn bay lẹt xẹt xanh lè. Mấy ông lính la hét quá trời…” . Thấy không tiện hỏi thêm, tôi đứng bên đường, ngóng vào. Cánh cửa vào đền đóng kín. Một bệ thờ cũ, án ngữ phía trước, có họa tiết, che chắn tầm nhìn. Phía trong có tượng một con cọp đang nằm vẻ phấn khích với cái đuôi  cong vểnh lên. Lạ so với nhiều con cọp tại những ngôi miếu cổ , mà tôi từng biết. Sâu hơn một mái ngói đã hư hỏng khá nhiều. Tường gạch đôi chỗ không còn nguyên vẹn….Ngôi đền trông xập xệ và thiểu não. Tôi đứng nhìn loanh quanh, những ngôi nhà bên đường không còn mới, nhưng cũng không gọi là cũ, tầm độ mười, mười lăm năm đổ về sau. Điều đáng chú ý là khá nhiều những ngôi mộ nằm trong khuôn viên nhà. Những ngôi mộ được xây bằng loại đá ong đỏ, đã sẫm màu. Một số bị thời gian bào mòn, vẹt đi. Tôi có lấy tay, khẩy khẩy vài nơi. Không một vụn đá rơi ra. Đá khá rắn và chắc chắn….Một vùng đất lâu đời, có từ thời khai thiên lập ấp của Chúa Nguyễn, nơi dừng chân một bộ phận giống nòi Giao Chỉ trong cuộc Nam tiến. ẩn mình bên mép sông Sài gòn, cách thành phố Thủ dầu Một khoảng mươi cây số về phía Tây Bắc, Sài Gòn khoảng bốn mươi cây theo đường chim bay. Phía Nam góc hợp lưu của con sông Sài gòn và Thị Tĩnh, nơi có những trận giao tranh lớn giữa quân Giải phóng và quân đội Sài gòn , vào những năm 72-74. Bên kia sông là Củ Chi, Đất Thép,  địa danh giành giật không ngưng nghỉ của hai phe vào những năm chiến tranh… Làng Tương Bình Hiệp, Bình Dương.

Tôi quay lại, hỏi người đàn bà , lúc này đã rỗi việc, đang với cái khăn lau.

“_ Chị dân đây hả chị?”

“ _ Tui dân đây lâu rồi!”

Người đàn bà cũng thật khó đoán tuổi. Dấu ấn thời gian bị trượt khá nhiều trên sự cơ cực và những biến cố tác động lên con người. Ngặt thay những tác nhân này quá đậm nét làm khuôn mặt người đàn bà trông già nua một cách đáng kể. Ẩn số cứ tiếp tục gia tăng cho đến khi một phản xạ quay ngoắt để tránh mấy con ruồi, làm tôi nhận ra, chị không lớn tuổi như tôi tưởng.

_ Vùng này trước đây an ninh không chị?

_ Đánh nhau ….

_  Chị năm nay bao nhiêu tuổi rồi?

……

Người đàn bà không trả lời tôi, cặm cụi với việc lau mấy cái tô, như không nghe. Hoặc chị không muốn nói chuyện với người lạ….hoặc câu nói của tôi là một sự vô tình đánh động một điều gì đó…” _ Trời ! Sao cách nhau chỉ một con sông mà con người khác dữ!”  . Biết không thể đứng thêm, tôi chào chị, quay đi. Nghe phía sau em ém một tiếng thở dài đánh sượt….Hỏi sau bốn mươi mấy năm dư âm một cuộc chiến có còn ẩn náu đâu đó trong lòng người ???

****

Vùng xôi đậu là một danh từ có trong thời chiến tranh. Cuộc chiến kéo dài 30 năm trên đất nước này, hàm chỉ một vùng đất nằm trong sự tranh chấp giữa hai phía, (Lúc bên này, lúc bên kia …. hoặc sáng bên này, tối bên kia)  thay nhau dành quyền kiểm soát. Trong thời gian kiểm soát dù là ngắn ngủi, các bên cũng cố gắng áp dụng những biện pháp ‘khả thi’ để củng cố chính quyền  của mình.  Ban đầu cũng khá dễ dãi nhưng về sau sự tinh vi và khắc nghiệt cũng tăng dần theo mức độ  leo thang của cuộc chiến, khi máu đã đổ và những hạt giống của thù hận bắt đầu được gieo rắc khắp mảnh đất Việt. Vào quãng cuối thập niên 50 đầu thập niên 60, má tôi lúc ấy còn là thiếu nữ khoảng mười tám đôi mươi. Ở  Nha Trang nhưng bà vẫn cùng bạn bè cùng độ tuổi đi chơi  vào tận miền Tây. Sóc trăng, Sa đec, Cần Thơ….Nhiều lần cũng ra vào vùng tạm chiếm phía bên kia. Bà kể cũng chẳng có chuyện gì xảy ra, nếu gặp Việt Minh chỉ khai đi chơi thôi, người ta cũng cho qua…. Tôi tin rằng sau hiệp định Genève ( 1954) có một giai đoạn người Việt phía bên này và người Việt phía bên kia vẫn rộng lượng với nhau, đối xử với nhau trong tình người, có thể do niềm tin  vào một nền  hòa bình quá lớn lao hiện hữu gần như trước mắt ….. Có lẽ cuộc chiến nên dừng lại ở đó. Chiến tranh nên kết thúc sứ mạng của mình trên đất nước này vào thời điểm ấy. Nhưng không cuộc chiến lại tiếp tục với cường độ cao hơn nữa, trãi rộng hơn nữa, kéo dài thêm hai mươi năm, với bàn tay can thiệp sâu hơn  của những cường quốc. Hai mươi năm cho bao sinh linh, bao tinh hoa nước Việt cả hai miền nằm xuống, bao tài nguyên bị phá hủy, bao sự lệ thuộc nặng nề, bao hệ lụy tối tăm trở thành ý thức hệ, hận thù chất đống….

Dạy cho con tiếng nói thật thà

Dạy cho con chớ quên màu da

Ôi lũ con cùng cha

Quên hận thù…..

Lời ru của Mẹ Việt như thúc thủ giữa tiếng súng đạn gào thét trên tay những đứa con say máu…

Khác những cuộc cách mạng mà khoa học ký thuật mang đến cho nhân loại,- nhằm làm thay đổi nhận thức, hành vi, cuộc sống… diễn ra một cách hiền hòa  thâm nhập một cách êm thấm  vào đời sống con người vào cuối thế kỷ 20. Đại diện như computer, internet, điện thoại di động trong truyền thông….tự động hóa  trong sản xuất, vật liệu mới cho xây dựng….Những sản phẩm đã khá tinh xảo của nền công nghiệp cơ khí  vào thập kỷ  50-60 đến với tay người nông dân Việt, vốn chỉ quen nẫu với đồng lúa, con trâu, các sản phẩm tre , gỗ …hì hụi thổi bể cùng lắm cho những lưỡi cày, cái mác….nay được ấn vào tay những công cụ cáu cạnh của hãng Colt, Kalashnikov… có khả năng phun ra 1200 hòn chì/ phút. Một cuộc cách mạng dữ dội , mạnh mẽ đến bạo tàn điều đáng tiếc những thứ ấy chỉ được gắn với mỗi một nhiệm vụ: hủy diệt và giết chóc….

Những  vùng xôi đậu mọc lên ngày càng nhiều, những con người khốn khổ còn lưu  trú ẩn trong những địa danh rặt ngôn từ Việt với ý thức bất di bất dịch là giữ lấy mảnh đất tổ tiên, bám lấy mảnh ruộng, miếng vườn của cha ông bị quăng đi, quật lại với mật độ cao hơn nhiều. Cái chết , sự hoại thương không chỉ nằm ở  những hòn chì, miểng bom của ngoại bang ….mà còn nằm ở sự hành xử nhẫn tâm giữa con người với con người chung một giống nòi.

Trong một đất nước lịch sử vốn được xây dựng bằng những cuộc nội chiến từ thời Lê Mạc (1533-1677) ,Trịnh Nguyễn phân tranh (1627-1672), (1773- 1775) Tây sơn – Chúa Nguyễn (1771-1802) tổng cộng vào khoảng 173 năm. Đối tượng cho người lính cả hai bên nhắm vào không đơn thuần là một đối phương với vũ khí, quân phục…hoặc những dấu hiệu cụ thể để nhận biết đó là địch quân  mà còn là những người dân tay không, trong vùng tranh chấp . …..Gần hai thế kỷ,  liệu có cho những người lính một kinh nghiệm tác chiến hiệu quả trong môi trường đặc trưng này không, hay chỉ cho ra đời một câu vè “ than vắn, thở dài” cho sự bế tắc.

“ Bạc như dân, bất nhân như lính”

Vị thế người dân trong vùng xôi đậu được đặt lên đỉnh một con lật đật không biết sẽ ngã nghiêng theo chiều hướng nào….

Cuộc chiến kéo dài đủ lâu để con người sống trong môi trường đó mang hai khuôn mặt riêng biệt. Một cho bên này và một cho bên kia. Một cho những người lính quân đội Sai gòn ban ngày và một cho những người Việt Cộng ban đêm. Với từng chuỗi ngày đêm, bản năng sống còn đã khoác lên những con người còn sống, những chiếc mặt nạ hóa trang kệch cỡm nhất, buồn bả nhất của người nông dân Việt vốn có tự trọng, nhưng lại “thấp cổ, bé họng” trước sự ưu thắng của những kẻ cầm vũ khí. Con người bỗng trở thành những nghệ sĩ nghèo nàn trong hoạt cảnh đầy tên bay, đạn lạc và chết chóc là có thực. Ngày nào vở tuồng ấy cũng diễn ra ….. Hai mươi năm trời dăng dẵng, nếu còn sống sót, liệu những chiếc mặt nạ có dính sâu vào trong da thịt??? Những người đã chết, liệu họ có trút bỏ được chiếc mặt nạ đang đeo????

Dân cư vùng “ Xôi đậu” thường chỉ còn lại những người đàn bà, những người già _đã quá già cho một sự tranh chấp, những đứa nhỏ còn quá nhỏ đế suy nghĩ, những người đàn ông hầu hết đều đã có con đường cho chính họ, hoặc ở bên này, hoặc ở bên kia ….Thực ra trong lứa tuổi cầm súng hoặc còn có khả năng cầm vũ khí, việc khẳng định sự trung lập trong thời buổi chiến tranh, là điều vô cùng khó khăn. Những luật lệ hoặc chẳng cần luật lệ của cả hai bên đều được áp dụng để đẩy bật những người đàn ông khỏi nơi trú ẩn của họ, hoặc chèo kéo họ về phía mình, hoặc những cuộc thanh lọc không minh bạch với mục đích loại trừ những đối tượng có khả năng gây nguy hiểm ….và những người đàn ông thường là những mục tiêu đầu tiên được nhắm đến.

Đặc tính địa phương của những vùng xôi đậu khá phức tạp và đa dạng, là những nơi xa xôi, hẻo lánh miền cao nguyên trung phần, dân cư thưa thớt, những xóm chài ven biển heo hút, những đồn điền cao su bạt ngàn miền Đông Nam bộ, hoặc  nằm rìa những vùng đất trù phú miền Nam có khả năng cung cấp lúa gạo, những vùng đệm sát nách những thành phố, thị trấn …nơi có thể tạo một sự đe dọa về mặt quân sự …Nhưng dù ở đâu đi nữa, dù được ngợi ca thế nào đi nữa, chiến tranh vẫn mang đến sự tệ hại thứ hai sau chết chóc và tàn phá là những cộng đồng tan nát, rục rã sự tin cậy lẫn nhau giữa con người và con người. Người ta luôn sống trong sự hoài nghi. Những người,  gia đình có người thân theo phe bên này nghi ngờ những gia đình có người bên nọ. Anh em một nhà có chí hướng khác nhau cũng mất đi sự tin tưởng vào nhau. Hàng xóm láng giềng  trở nên nghi kỵ. Những cuộc chiến tuyên truyền của cả hai bên là những chất xúc tác mạnh mẽ cho sự chia rẽ sâu sắc này. Có lần qua một địa phương ở miền Trung, tôi có nghe một người đàn bà, tâm sự : “ Ngồi nói chuyện một đám. Biết bả là dân bên kia nằm vùng. Nhưng không ai nói ra….” Cái từ “ Không nói ra” của người Việt không bao hàm hàm ý ủng hộ hoặc ghét bỏ, nhưng ẩn chứa thái độ dè chừng, tạo khoảng cách….Điều này không loại trừ những việc để tạo một cảm giác an toàn cho cuộc sống chính mình, cho gia đình mình….đôi lúc họ buộc phải làm những việc thật nhẫn tâm. Dù trái với cái nhìn đạo đức được nhìn nhận là truyền thống, nhưng trong chiến tranh, nó được khuyến khích bởi các thế lực…và thù hận theo sau là hệ quả khó tránh.

***

Tôi ngồi đối diện với Má trong cái quán nhỏ. Nắng xuân đậm đủ để ghim những cánh mai bên kia đường trong một sắc vàng tươi tắn, cho cảm nhận rõ rệt về sự ưu ái mà tự nhiên dành cho mọi sinh vật trong cái mùa phồn thực.  Những con gió nhẹ từ phía sông Sài gòn thỉnh thoảng tràn qua, làm chao nghiêng mấy con bướm, lật lên một sự tương phản mang tính đối kháng chẳng bao giờ đi đến đồng nhất của cái đẹp với cái đẹp. Con đường nhỏ vắt qua làng đã tráng nhựa nhưng chắc đã lâu không duy tu nên để lại những ổ gà lởm chởm. Ngôi miếu nhỏ thờ Bà chúa xứ bằng xi măng dựng ven đường không gây được sự chú ý cho lắm bởi khá thấp và sơ sài. Má  bảo có gian thờ lớn phía trong kia….

Má tên thật Nguyễn Bạch Nhạn, năm nay đã chín mươi  ( sinh năm 1927), có đến 9 người con. Cô con gái út bán bún mì cũng xấp xỉ  năm mươi ,đã có cháu ngoại. Người chồng gia nhập Việt Minh thời kháng Pháp , sau này theo Việt Cộng chết vào năm 1969 dưới Bình Thung (thị trấn Dĩ An), mói chuyển di cốt về gần được vài năm. Ở lứa tuổi như vậy nhưng đầu óc người đàn bà này vẫn còn khá minh mẫn. Tôi thật sự thán phục khi nhìn bà bán hàng. Những phép tính cộng trừ nhân chia được bà nhẩm tính một cách nhanh chóng và chính xác, nhanh hơn cả nhưng cô bé đáng tuổi chắt bà.  Điều này có lẽ mang đến sự đối lập với cái vẻ bề ngoài đã chậm chạp vì tuổi tác. Vóc người thấp nhỏ, khuôn mặt rất có nét, chắc lúc trẻ khá đẹp….nhưng đôi mắt ….Đôi mắt khá lạ! Đôi mắt xám và trơ.  Đôi mắt chẳng bao giờ nhướn lên hoặc nheo lại khi cười. Đôi mắt lành lạnh của sự đóng băng. Không hiển thị một điều gì và không điểm kết thúc khi nhìn vào nó….Nhưng khi nói chuyện,  như một đặc điểm đáng quý của những người đàn bà Nam bộ , suốt chiều dài câu chuyện là  thời điểm mà sự cả tin bị mê hoặc bởi tính chân chất và thật lòng.

Bà sinh ra và lớn lên tại làng Tương Bình Hiệp này. Gia đình cũng khá giả nên được học hành đầy đủ. Có bằng Thành Chung (Primaire), sau đó gia đình không cho học nữa, ở nhà làm ruộng, gia chánh. Năm 17 tuổi lấy chồng.  Năm 19 tuổi theo chồng ra bưng kháng chiến, xuống tận Đồng Tháp Mười, làm y tá. Được biết với cái tên Hoàng Anh Phụng ( đi Việt Minh mà tên đẹp dữ) và những giai thoại về việc cứu sống khá nhiều thương bệnh binh trong đó có việc truyền dịch bằng nước dừa…. Má kể có lần có một anh thương binh bị mày bay Pháp bắn lủng ruột, anh này còn khá trẻ khoảng 16-17. Nằm trên sạp mỗi lần tỉnh ảnh cứ nắm tay Má, kêu “ Chị ráng cứu em sống… Em còn bà già ở nhà….” Nhưng lúc đó thuốc men khan hiếm, không nước biển, cứ nước dừa mà truyền, nên vài hôm sau anh chết. Cái chết của người lính đó làm Má ray rứt một khoảng thời gian dài, vì không biết được tên tuổi, quê quán và cả gia đình ảnh sống ở đâu. Nghe phong phanh đâu Mĩ Tho, nhưng đất mênh mông biết đâu mà tìm….Sau 1954 đình chiến, người Pháp thua trận, Hiệp định Genève được kí kết, đất nước chia đôi hai miền, những người tham gia Việt Minh một phần tập kết ra Bắc , số còn lại về quê làm ăn , chờ ngày tổng tuyển cử….  Má cùng chồng với mấy đứa con nhỏ, lục tục quay về làng cũ, bắt đầu cuộc sống mới. Ở đây bà làm cô giáo dạy tiểu học, còn người chồng về làm ruộng. Những ngày hòa bình đầu tiên sau những năm dài chiến tranh và đô hộ thật yên bình, ngọt ngào. Bà kể :”_ Ở thôn quê lúc đó ngày nào cũng như ngày Tết. Dù nghèo, nhưng người ta sống chơn thiệt và nghĩa tình. Không có trộm cắp, cướp giựt. Lúa má làm ra dư dả. Vụ sáu tháng đất nghỉ sáu tháng vẫn dư ăn. Tụi con nít ngoan ngoãn, lễ phép, biết vâng lời. Chính quyền thì cũng những ông hương xã  cũ, hoặc những người mới do dân bầu lên, nhưng phần đông là những người lớn tuổi và đáng kính trọng. Không thấy bóng dáng lính tráng nhưng thật sự yên ổn…..” Kỳ vọng về một biểu tượng hòa bình lâu dài cũng rất sớm tan vỡ. Cái ngày hiệp thương kéo dài, kéo dài mãi cho đến khi nó không có một dấu hiệu nào để chứng minh nó tồn tại. Sự mong đợi trở thành nỗi thất vọng lớn lao. Tiếng súng của chính quyền trong cuộc bình định những đảng phái chống đối như Năm Cụt, Bảy Viễn, Hòa hảo, Cao Đài….khơi mào cho nỗi lo âu của những người từng tham gia Việt minh chống Pháp, Dù được xem như những người có công trong công cuộc đánh đuổi thực dân, nhưng những viễn cảnh về một cuộc sống yên lành dưới chế độ mới, cũng là một điều không dễ mường tượng. Chính quyền mới lập cơ chế quản lý hành chính mới. Những xung đột và kỳ thị lại thường xuyên xảy ra sau một thời gian vắng bóng. Sự can thiệp của lực lượng cảnh sát . Và điều quan trọng là sự móc nối  của những người Việt minh còn trụ lại trong bưng về quyết tâm tiến hành một cuộc chiến võ trang nhằm thống nhất đất nước, sau kì vọng lớn đã mất. Người chồng sau vài lần bị mời thẩm vấn, xét hỏi …ở trụ sở thôn lại trốn vào rừng. Má khóc hết nước mắt nhưng con cái tay dắt, tay bồng đành cắn răng ở lại. Sự phân cực đến hồi đỉnh điểm của Thế giới đã khởi động một guồng quay với động cơ là những bàn tay đã thọc quá sâu của những thế lực bên ngoài. Một sự chuyển động kéo dài hai mươi năm, cuốn theo số phận của bao con người, trong đó có người đàn bà Việt vóc bé nhỏ, có tám đứa con ở một cái làng sát bên dòng sông Sài Gòn, cách thị trấn Thủ Dầu Một khoảng mười mấy cây số về hướng Tây Bắc.

Tôi không mang tham vọng viết những trang viết về những hình thái nhằm quản trị những người dân nằm ở vùng giáp ranh vào thời điểm ấy. Những kiến trúc được xây dựng trên cả cơ sở chính trị lẫn thổ  nhưỡng mang tính kinh nghiệm nặng nề của những đầu óc bậc thầy trên thế giới được áp dụng trong cuộc chiến. Phần nữa  sau bốn mươi năm đã quá nhiều sách vở, tài liệu, hồi ký lịch sử ….từ nhiều phía , từ những nhân vật tiếng tăm …..được xuất bản đã mô tả khá chi tiết về những cấu trúc đã  bị lãng quên hoặc diệt vong trong thế giới đương thời….Việc của tôi là theo đuổi những số phận. Những số phận nằm bên dưới những mô hình , chính sách, hiệp định, nghị quyết và những con số thống kê mang tính khoa học, đầy chất thuyết phục hàng ngày vẫn được đưa lên những buổi thuyết trình hoặc các bản báo cáo…..Tuy chỉ là vài dòng, đứt quãng, đầy thăng trầm…đôi lúc thiếu logic.

_ Vùng này hồi trước làm ruộng hả má?

_ Ờ…Nhưng ở đây gò, đất xấu…Phải đi ghe qua Củ Chi.

_ Hồi đó ở đây có xây dựng ấp chiến lược không Má?

_ Không….Nhưng đồn lính gần đây, trên kia… Vùng này là vùng an ninh mà….. Nói thì nói vậy thôi, chớ Việt Cộng lúc đó đâu không có.

Một thoáng suy nghĩ lướt qua trong tôi. Có thể  do cùng đất này này khá lâu đời, dân cư tập trung đông và cũng gần những thủ phủ như Lái Thiêu, Thủ Dầu Một.

_ Vậy cuộc sống có dễ thở không Má?

_ Lúc trước thời ông Diệm thì khó, sáng nào cũng bắt lên tra vấn, xét hỏi chồng đi đâu, làm gì….nhưng sau này rồi cũng hết…Hỏi riết …chán….Họ cũng không đả động gì nữa…Má cười nhạt. Lần đầu tiên tôi thấy nụ cười xuất hiện trên khuôn mặt bà_  Đời sống sau này dễ thở hơn. Lúa gạo cũng dư dả. Nhất là khi gạo Mỹ vô. Gạo Mỹ hột tròn, gạo Mỹ hột dài …cả bao bố, rẻ thúi…..Mấy thứ Thần Nông của mình đâu có bao nhiêu….

_ Lúc Mỹ vô có đóng bót ở đây không?

_ Đâu bên Củ Chi, Bến Cát….Ở đây không có. Thỉnh thoảng cũng thấy tụi nó đi…nhưng cũng không đụng chạm gì…Chỉ có lính Cộng Hòa….Lính cũng có người này, người nọ…..Có người phá phách…cũng có người đàng hoàng. Sợ nhứt là bom đạn. Nhà nào hồi đó cũng có cái hầm bên hông nhà ….Bom đạn là thứ vô tình. ….

_ Rồi phía cách mạng có về không?

_ Có chớ….Đêm nào không về. bên kia sông Củ Chi lội qua….trên Bến Cát. Mỹ Phước đổ xuống….Dạo sau này  năm 67-68 trở đi, bom đạn liên miên. Ban ngày lính quốc gia, ban đêm Việt Cộng….Chiều khoảng 3-4 giờ , lính rút về đồn hết. Làng xóm chỉ con lại đàn bà, con nít, mấy ông già, bà già…Mấy ống lại vô làng, mặc quần áo đen, xách cái rổ, gõ cửa từng nhà xin gạo. Thấy ốm đói, tội nghiệp cũng cho. Sau Mậu Thân, chồng tui về …trốn cả tuần dưới hầm…rồi đi biền biệt. Sau đó mới ra con Út. Ổng mất năm 69 , dưới Dĩ An….

Một khoảng không gian lặng yên. Không những chỉ tôi mà cả bà, đều thấy cần một khoảng yên lặng tối thiểu trong thời điểm này. Ngoài sân mấy con ong bầu đen trũi nặng nề đậu trĩu cả những búi mai vàng rực làm những cánh hoa tròn xoe rơi lả tả, xoay tròn đánh những vòng trôn ốc chầm chậm cho đến khi chạm đất.

_  Lúc cho gạo không sợ bên quốc gia họ biết sao? Tôi hỏi sau thời gian yên ắng.

_  Sợ chớ… Nó biết được , nó lôi ra nó đánh….làm tình, làm tội dữ lắm….Nhưng thấy họ hốc hác, đói rách quá cũng cho….cái tình là ở con người với con người….

_ Năm 74 nghe đâu đánh lớn trên miệt Rạch Bắp, Thị Tính…Ở đây có sao không má?

Lần đầu tiên tôi cảm nhận được sự tác động của thời gian lên con người. Bà đưa ngón tay trỏ lên, day day những nếp nhăn nơi trán, như muốn gợi dậy những ký ức quá cũ kỹ ẩn náu đâu đó trong tâm thức. Ngón tay mốc thếch, ngắn cũn như trái quả chuối cau đã dậy mùi, loang lỗ vết tàn nhang.

_ Có nhưng chỉ trên Bến Thế, nhà cửa trên đó tan hoang hết…Dân chạy loạn xuống đây, xuống Thủ Dầu Một. Ở đây ít hơn chỉ thỉnh thoảng bị pháo kích, dội bom…Lúc đó suốt ngày cứ trốn trong hầm, không ra ngoài làm ăn gì được.

_ Có chết ai không?

_   Có…thỉnh thoảng cũng năm ba mạng….

_ Vậy có kiện ai không?

_   Biết ai đâu mà kiện. Thời tên bay đạn lạc….. Trời kêu ai nấy dạ…

_  Rồi năm 75????

_  Năm 75 thì yên. Lính tráng bỏ chạy hết. Giải phóng không có một tiếng súng…Chỉ có mấy ông “ Ba mươi” nó quậy thôi!

Cái từ nghe lạ! Tôi quay hỏi lại.

_  Tụi “ Ba mươi” là tụi nào Má?

_  Tụi “ Ba mươi” là mấy ông nhỏ 15-16 , tay băng đỏ, cầm súng, ngồi xe zíp đó!

….

Cô con gái mới về. Dáng người chắc, đậm của những người phụ nữ miền quê choáng hết lối đi. Chị chào tôi, vứt cái nón vào góc nhà, quay ra nói chuyện với bà. Để hai mẹ con nói chuyện, tôi bước tới cửa, châm điếu thuốc hút. Trời đã vào trưa. Nắng sẫm vàng. Tôi dưa mắt cố tìm chung quanh những vật chứng có thể liên kết với câu chuyện của bà, nhưng thấy bất khả. Đã hơn 40 năm những vết tích dù nhỏ nhặt của cuộc chiến cũng không còn. Bóng dáng của những cộng đồng nhỏ bé thúc thủ, thu mình trong những công cụ phòng vệ quân sự chừng như đã tuyệt diệt hoàn toàn. Mấy cây dừa ngất ngưỡng trước nhà , thân trơn bóng chứng tỏ cũng mới trồng chừng chục năm đổ lại. Nông thôn ngày nay đã thật sự thay đổi. Những ngôi nhà hình hộp hiện đại cũng mọc rãi rác. Con người cũng xóa được cái lằn ranh tự kỉ giữa phố thị và thôn quê tồn tại trước đây. Những con hẻm đổ bê tông sạch sẽ. Mấy luống hoa đủ màu sắc dọc bên đường cũng làm dịu cái nhìn trong sự phản xạ gay gắt của ánh nắng….Tuy vậy bên cạnh đó  vẫn còn những mái nhà tiều tụy, chắp vá của cái nghèo níu kéo.

Cô con gái có vẻ vồn vả khi thấy tôi quay lại:

_ Anh dưới thành phố lên định đi mua đất hả? Có mấy lô đẹp lắm, sát đường…tui dẫn cho mà coi!

Tôi cũng ngớ người trước cái từ khá “ hot” dưới thành phố lại lọt tuốt lên đây. Tự hỏi sao bây giờ ở đâu người ta cũng dùng cái từ trở nên khá thời thượng này. Chừng như khắp đất nước.

Tôi chống chế:

_  Không… Tôi chỉ đi chơi cho biết thôi. Mua bán gì đâu….

­ _ Ảnh ở miền Trung vô chơi…Hỏi thăm cuộc sống, làm ăn chổ mình….Má ngồi bên kia, nói giúp qua.

Chị con gái bắt chuyện cũng nhanh:

_ Giờ làm ăn gì nữa anh ơi! Ruộng đất bán quy hoạch thành khu công nghiệp rồi. Còn mấy lô đất nhà để lại, xẻ bán dần thôi.

_ Ủa chị bây giờ làm gì?

_ Giờ sáng bán bún mì, hủ tiếu, đồ ăn sáng cho công nhân đi làm. Ngày kiếm được khoảng trăm, trăm rưỡi . Già…. quá tuổi công nhân , người ta đâu có nhận.

_ Vậy còn ông xã ?

_ Ổng chạy xe ôm, lúc phụ hồ….Thu nhập bấp bênh lắm!

Câu nói của chị khiến tôi nhận thấy một thực trạng nhức nhối trong cuộc sống của những người nông dân vùng ven_  Những vùng đang bị cơn lốc công nghiệp hóa, đô thị hóa cuốn vào. Những con người hiện tại không còn đất đai canh tác, ruộng đất được đền bù theo giá đất nông nghiệp giỏi lắm chỉ xây được căn nhà khang trang, trong khi tay nghề hoặc lứa tuổi không đủ sức đáp ứng tiêu chuẩn của các nhà máy, xí nghiệp mới mọc lên trên mảnh đất vốn trước đây của họ. Một lực lượng lao động dôi ra đáng kể…. Liên đới với báo giới  khoảng thời gian gần đây về tình trạng tăng vọt của lực lượng bán vé số, đó là chưa tính đến những thành phần lao động tự do khác như: xe ôm, buôn bán nhỏ, hậu cần linh tinh cho những quần thể công nghiệp và cả một nguồn lao động trôi nổi từ vùng quê  di cư vào các thành phố lớn theo mùa hoặc thời vụ…… Tôi nghĩ, phần nhiều trong số những con người đó đang là hệ quả của vấn đề được nêu lên ở trên. Vậy hỏi họ sẽ làm gì để tiếp tục cuộc sống còn với hiện tại và tương lai trước mắt?????

….

Tiếng xe máy phân khối lớn rú lên, phá không gian vốn yên ả của ngày Tết. Mấy con bồ câu nghe động bay vù lên. Tiếng đập cánh sàn sạt qua cửa sổ. Hai cái đầu vàng hoe gói trong chiếc mũ bảo hiểm thò vào, dáo dác. Chị con gái nhanh nhẩu đứng dậy, te te bước ra bên ngoài. Mấy câu đối thoại nửa Tây, nửa ta…rồi tiếng xe máy lại gào lên, lao đi.

_ Tây ba lô….Chị xuất hiện ở khung cửa, nhoẻn cười , nói. Tụi nó mua nước suối.

_  Bọn nó lên đây thường xuyên không Chị?

_  Đầy, ngày nào không có….Chị lại cười, chỉ tay vào Má_ Hỏi bà già trước Tết bị tụi nó lừa làm sao nè?

Tôi quay sang Má, thấy bà cười đôn hậu. Một niềm vui thật sự xuất hiện trên khuôn mặt bà khiến các nếp nhăn giãn ra. Điểm trơ trong đôi mắt nhòa đi, khỏa lấp trong  sự từ tâm. Một cái gì của tâm hồn Việt hiếm hoi, còn sót lại, giữa thời này.

_ Mồ tổ nó….Hết người lừa nó lừa bà già….Một triệu tám chớ ít ỏi gì……Mồ tổ cha hai thằng Mỹ đen, Tây mặt ghạch….

Nghe bà chửi lẩy, tôi cũng thấy không nhịn được cười. Không gian bỗng có cái gì đó khá gần gũi. Tự dưng tôi lại có niềm vui lây từ câu chuyện rất đời của hai má con. Dù bụng muốn ra về, tôi cố ngồi hóng hớt cho hết câu  chuyện…

_ Sau này nghe nói tụi nó bị công an bắt đâu bên Củ Chi, cũng cái trò ảo thuật tráo tiền. _ Chị con gái nói.

_ Vậy có lấy lại được tiền không?  Tôi chăm chú hỏi.

_ Không , trong túi tụi nó chỉ còn vài trăm ngàn.

_ Mất luôn à?

_ Mất luôn! Chị con gái trả lời gọn lỏn.

_ Thôi cho nó cho rồi…Nhắc hoài làm gì. Của đi thay người mà…. Đầu kia Má nhỏ giọng.

Ôi chao cái câu, nghe mà nghèn nghẹn! Câu nói mà dường như tôi đã thuộc lòng từ thời ở với bà ngoại đến khi về bên nhà Má ruột. Cũng câu nói  đầy hỷ xả của muôn bà má tôi đã gặp và ngồi trò chuyện. Từ những làng chài của dãi đất hẹp miền Trung cháy bỏng cát, nắng, phi lao… đến những vuông đất ngậm nước, ướt loáng màu thép, cò bay thẳng cánh của đồng bằng miền Tây nam bộ….và giờ thì ở đây, nơi nền đất nện thẫm màu đỏ bazan, lợn cợn đá ong quá lửa của những xóm thôn miền đông này. Sao đâu cũng vậy!

_ Vậy sau giải phóng cuộc sống ở đây thế nào má?  Tôi hỏi khi không gian đã nhàn nhạt.

Câu hỏi của tôi chạm phải sự im lặng. Cả hai người đàn bà như hóa đá, ngồi miên man đến nỗi tôi không biết phải làm gì. Lát sau, cô Út nói:

_ Anh hỏi thời kỳ sau 75 hả? ….Nhiều chuyện để nói lắm anh ơi…

_ Vùng này có thuộc diện đi kinh tế mới không Chị?

_ Không chiến tranh xác xơ hết rồi đi gì nữa…Dựng làng xóm như cũ đã thấy ông bà ông vãi rồi!

_  Rồi cuộc sống có đỡ không ? Tôi bám theo câu chuyện

_  Đỡ gì đâu anh ơi! Ruộng đất vô hợp tác xã. Lúa gạo thì chia phần đâu đủ ăn. Hỏi Má coi, ngày nào Má cũng nấu nồi khoai to tổ bố cho mấy đứa con trong nhà….. Xuồng anh Ba đi chở lúa từ Củ Chi về, qua trạm kiểm soát, chưa kịp dừng lại. Nó xả cả băng đạn. Chìm mất cả xuồng lúa. Người chưa chết là may…Có lít gạo giấu trong người mang từ đây xuống Thủ Dầu Một, tụi “ Ba mươi” chặn lại. Nó lấy cây xăm,  xăm nát mình, nát mẩy……Gạo lộn với máu chảy xuống mặt đường….

Tôi lặng người , sau đó ngước nhìn má, cố tìm xem phản ứng của người đàn bà trước những sự kiện trần trụi được khơi lại một cách vô tình này.  Đôi mắt trở lại trạng thái vốn có của nó _trơ và xám lạnh. Tròng mắt tĩnh và sâu….Ở trạng thái mà mọi tác động bên ngoài như  bị hóa giải và khó làm rối được một tâm trạng  khó hiểu che giấu đâu đó  phía trong,

Sau tiếng thở dài, bà nói:

_  Bây giờ mặc kệ ai làm gì đó thì làm…..

Thực tình trong tôi, tôi cũng không thể nào chấp chứa cùng lúc hai hình ảnh đối lập,  kịch tính,  mang đầy mâu thuẫn đến vậy . Hình ảnh của những con người trong bộ đồ ba ba đen , tay cắp cái rổ, đến gõ cửa từng ngôi nhà tranh xin từng nắm gạo và cũng chính những con người đó, sau đó vài năm, với họng súng trong tay, lại đi lục soát, xăm nát thân thể của những nông dân từng nuôi giấu họ, để tìm ít gạo giấu trong người…. Mặt đất vốn đỏ thẫm nay lại loang lỗ gạo lẫn máu.

_ Còn bây giờ thì sao hả chị? Tôi hỏi tiếp.

Cũng chị con gái trả lời: _ Giờ thì đỡ rồi . Tụi sau này có học hành nên làm việc đàng hoàng hơn. Cái đám lúc trước đã “ về vườn “ ….. Dân còn ghét lắm. Đi qua nhà, họ còn hắt nước cơm, chửi trước mặt “_ Cơm tao thà cho chó ăn, còn hơn mày ăn”…..

Không gian im lặng . Tôi cũng không nén được một làn hơi sườn sượt.

Thấy trời đứng bóng, tôi quay ra chào Má và chị con gái để chuẩn bị ra về. Đang nói câu từ biệt, bỗng khuôn mặt rất dễ thương của một thiếu nữ, khoảng đôi mươi, lấp ló phía cửa. Đôi mắt to chững lại nơi tôi như dò hỏi. Chị con gái nhanh miệng:

_ Con Út tui . Chào Bác đi con. Nó học Đại học tài chính dưới Thủ Dầu. Năm nay năm cuối!

Thiếu nữ chào tôi, dắt chiếc xe đi vào trong hẻm trong cái dõi theo của hai người đàn bà.

…..

Tôi nắm bàn tay thô kệch, với những ngón tay ngắn, loang mốc. Lòng bày tay lạnh, lớp da chai và dày đến nỗi không cảm nhận được nguồn nhiệt phía sau. Chia tay Má, không hiểu sao tôi không dám nhìn  thẳng vào đôi mắt của bà.

Con đường mới _ Theo tay hai người đàn chỉ, ra khỏi làng không dài. Con đường chạy qua một ngôi trường tiểu học hay trung học gì đó mới xây khá đẹp, mang tên Tương Bình Hiệp. Tôi có đứng trước cổng ngó vào trong sân một lúc. Dưới những tán hoa bằng lăng  biêng biếc là những tà áo dài trắng lướt thướt qua lại.  Tiếng cười đùa vô tư của một thế hệ mới lớn át cả tiếng xe cộ ầm ào từ quốc lộ 13 gần đó, vọng vào.

Cái tên “Vùng xôi đậu” đã phai lãng từ lâu lắm rồi trong tâm thức con người ở đất nước này , cả những người từng kinh qua chiến tranh_ cũng như cuộc chiến ngày càng trở nên là một cái bóng mờ  trong quá khứ……nhưng trên mảnh đất bazan đã lành lặn vết thương, dưới tán lá cao su xanh um mới trồng từ chục năm đổ lại, vẫn còn lẫn khuất đâu đó là đôi mắt lạnh, ráo hoảnh của những người đàn bà và cái nhìn thật sự khó hiểu.

Dù chỉ đơn thuần là người chuyển tải những thông tin đến những nơi cần đến, tôi cũng cảm thấy đang nợ họ một điều gì.

Và bạn, nếu thật sự quan tâm….. bạn có nghĩ thế không?

Sài Gòn, 15/04/2017

Vũ Khuê

KHÓI NHANG GIỮA HƯ VÔ….

vukhue

 

Ăn sâu vào tiềm thức dân Việt, tạo nên một sự di truyền trong giống nòi Giao Chỉ, trong không khí những ngày đầu năm , bên cạnh niềm vui của sự đoàn tụ, niềm hạnh phúc được quây quần trong mái ấm gia đình, sự sum vầy của các thế hệ quây quần chúc Tết, nhận lộc….còn có một mãnh lực thiêng liêng luôn lôi kéo suy nghĩ mỗi con người chúng ta hướng về . Mãnh lực ấy cấu nên những khuôn mặt thành kính, những bàn tay run rẩy khi cắm nén nhang lên bàn thờ, kiến tạo những dòng người dằng dặc đủ mọi sắc áo, trên những phương tiện sẵn có, từ đủ mọi phía đổ về những nơi mà sâu trong tâm linh họ được mách bảo như một lời hiệu triệu .Và nơi ấy chính là nguồn cội, tổ tiên, …, những người đã khuất!

****

Không tiếng tăm và gần như vô danh, nghĩa trang Quân đội Việt Nam Cộng Hòa Đồng Đế nằm ngay cạnh con đường dẫn vào khu tắm bùn nổi tiếng, như một địa điểm thu hút khá nhiều khách du lịch trong và ngoài nước, kể cả những Việt Kiều trong những chuyến về thăm quê hương (MUD BATH and i Resort). Từ chợ Vĩnh Hải, thành phố Nha trang đi lên qua nhà thương da liễu, đến cổng gác dan của đường ray xe lửa, ngược lên khoảng 100 mét về phía khu du lịch nhìn về phía tay phải, ta bắt gặp ngay cổng nghĩa trang. Địa danh là nơi giáp ranh giữa phường Vĩnh Phước và xã Vĩnh Ngọc.

Trên ngã rẽ vào, cổng chính nghĩa trang chỉ còn một cái trụ xi măng cũ kĩ, sứt mẻ đứng vô hồn, phía sau là những bụi cây um tùm hoang hóa. Một dạt những mái nhà che tạm, lúp xúp của những người dân trôi dạt của đủ mọi vùng miền. Rác rưởi và bờ bụi. Những ngôn từ lỗ mãng. Đám thanh niên tụ tập đánh bài, những đôi mắt không có vẻ thân thiện…. Cảnh tượng có phần nào làm nản lòng cả những người mang sự thành tâm huống hồ gì khách thập phương với một chút hiếu kỳ ghé qua.

Anh Nguyễn văn Chúng, năm nay 65 tuổi, đã làm nghề gác nghĩa trang được 20 năm cho biết_ “ Khu vực nghĩa trang hiện tại chỉ còn lại khoảng 400 ngôi mộ. Trong đó còn khoảng 135 ngôi mộ còn bia, tên tuổi và có thân nhân. Số còn lại gần như vô danh. Số mộ phần được chôn vào năm 69, 70, 71,75 gần như đã được bốc hết. Hiện giờ ranh giới của nghĩa trang chỉ còn tới chỗ kia” Theo tay anh chỉ, không vượt khỏi đám bụi cây che khuất,  thấy thấp thoáng mấy trụ dây kẽm gai dăng ngang , cách nơi tôi đứng khoảng 50-60 met.

Thắc mắc , tôi có hỏi “_ Vậy ai bốc vậy anh?” Anh trả lời “ _ Bên Công ty TNHH S17 ( tức sở hữu chủ của khu du lịch Mud bath and i resort). Họ mua miếng đất này để mở rộng khu du lịch.

“ _ Việc đền bù cho gia đình, người thân có thỏa đáng không anh?”

_ Đối với mộ có người thân, Cty cũng cấp kinh phí cải táng cho gia đình. Những mộ vô thừa nhận, Cty họ cải táng rồi đưa qua phần đất của họ, đâu bên Hòn Nghê, làm một nghĩa trang riêng bên đó. …Đó mộ rìa rìa con đường là mộ lính cuối năm 74 đầu năm 75, họ di dời hết rồi đó” Anh lại chỉ về phía đường.

_ Bốc lên còn gì không anh?

_ Còn . Lính 69 đến 72 có hòm kẽm, bọc nylon. Xương cốt vẫn còn nguyên. Có người còn nguyên đồ trận. Lính sau này không có.

Có thể thấy tôi cứ đứng ngây người, giữa trưa, như đang định thần một cái gì. Anh hỏi lại _” Mà ông tìm mộ tên gì, tử trận năm mấy để qua chỉ cho!”  Tôi ngắc ngứ, cố phịa ra một cái tên lạ hoắc, năm tháng cũng hư vô luôn. Cũng tội người đàn ông chân chất. Anh nhiệt tình, để chai rượu với đòn bánh tét xuống tấm đan bê tông của một ngôi mộ vô danh, vạch đám cây bụi tìm tòi. Việc này cho tôi biết còn khá nhiều ngôi mộ còn nguyên bị khuất lấp bởi những bụi cây um tùm , đan xen….

Cảm thấy sự vô tâm của mình làm khổ một con người, tôi bảo “ _ Thôi đi anh,lâu rồi, không tìm được đâu. Để tôi thắp nhang cắm quanh đây cũng được!”

Cũng từ bỏ việc đang làm, anh quay lại với chai rượu và đòn bánh tét: “ Ờ thắp nhang rồi khấn giữa không trung đó!”

Câu nói của người đàn ông tự dưng tạo nên một khoảng lặng….Tôi nhìn theo người đàn ông khốn khổ, gầy nhom , vẻ bệnh tật đang vạch lùm hướng về căn nhà tồi tàn của mình, lòng cũng tự hỏi “ _ Phải chả nói không hay ai nói vậy ta????”…

***

Tôi không rõ nghĩa trang này được thành lập vào năm nào. Nhưng đã có những ngôi mộ từ năm 1969 theo lời A. Chúng, chắc vào khoảng thời gian đó. Những người lính tử trận và được chôn nơi đây trên một số bia mộ còn lại, hầu như trực thuộc quân khu 2, sư đoàn 22/ 23, trung đoàn 44/45, địa bàn Tây Nguyên( Qua một số cuộc nói chuyện tôi biết dường như mỗi sư đoàn lúc đó đều có nghĩa trang riêng???) . Những người lính quân dịch….Những người nông dân cầm súng bất  đắc dĩ …trong một cuộc cách mạng gần như tất yếu và biết rằng trong cơn xoay vần của vũ trụ thân phận con người thật mong manh ….

_ SM 511-B2

Nguyễn văn Thể

TĐ: 53

TT: 1/11/73

_  SM: 517-B2

Vũ Huỳnh Đại

Đơn vị: Không đọc được

TT: 12/11/1973

_SM: 518- B3

Thô Thể

Đơn vị: Không đọc được

TT: 15/05/73

_ Thượng sĩ nhất

Nguyễn ngọc Thịnh

Anh dũng bội tinh với ngôi sao bạc

TT: 09/02/1974 tại Quảng Đức.

_ SM:621- B2

Võ Nở

Đơn vị: TĐ 22: DB

TT: 17/08/74

_ SM: 559-B2

Lê văn Sơn

Đơn vị: TĐ2/45

TT: 28/02/74

……

 

Và còn nhiều , còn nữa…Không thể đếm hết. Một số ngôi mộ đã mất hẳn bia, chỉ còn lại một tấm dal bê tông phía trên. Một số bị sụp hẳn xuống, tấm bê tông gãy đôi… số hoàn toàn mất dấu…Tuy hầu hết trên những tấm bia không ghi ngày tháng năm sinh, thậm chí quê quán, chỉ vài dòng cho ngày tử trận nhưng tôi hiểu rằng, những sinh thể đầy nhựa sống này bị cuộc chiến lấy đi lúc còn rất trẻ…Có thể vào tuổi mười mấy, đôi mươi, cùng lắm là ba mươi!

“ Em hỏi anh, em hỏi anh bao giờ trở lại????

Xin trả lời, xin trả lời mai mốt anh về….”

Chắc rằng  những con người nằm dưới những nấm mồ kia đã một lần trả lời câu hỏi ấy. Không phải chỉ riêng cho một cô gái mà  cho cả người Mẹ, những đứa em trước lúc ra đi. Những người lính bước chân vào vùng khỏi lửa và nằm lại …với một lần thất hứa nặng lòng.

Tôi đốt nén nhang, quay đầu khấn giữa không trung như lời người đàn ông gác mộ bảo.  Cũng chẳng có gì cho cá nhân, chỉ mỗi lời cầu chúc cho những anh linh được siêu thoát. Đã hơn 40 năm ngày im tiếng súng. Nước mắt của Mẹ đã khô cạn, những người con gái chờ đợi đã đủ mỏi mòn , những đứa em thơ cũng đã trưởng thành và quê hương cũng đã có những đổi khác. Mong những  người nằm xuống an ngoại….

***

Khác với Nghĩa trang quân đội Biên Hòa, đền tử sĩ ở đây có quy mô nhỏ hơn. Kiến trúc cũng gần như vậy. Việc duy tu đã che lấp những hoa văn, họa tiết vốn có,( như lần trước tôi có dịp mục kích) nhưng bù lại nó mang đến một dáng dấp sạch sẽ, khang trang, có chứng tích của bàn tay chăm sóc và  bảo tồn. Bốn mặt đền được quây lưới B.40. Bên trong chất đầy những hộp gỗ đã đóng sẵn, dành cho việc cải táng. Một hương án chỉn chiu, tuy đơn giản nhưng cũng đầy đủ những thứ cần thiết. Mâm ngũ quả đủ sắc màu. Một lư hương đã đầy vun những chân nhang của những người đã đến viếng trước.

Người đàn bà trông đậm người, trong bộ áo bà ba hoa đã cũ tiếp chuyện với tôi. Chị tên Nguyễn thị Lan , năm nay 60 tuổi, làm việc trong nghĩa trang đã hai mươi năm. Chị cho tôi biết đền tử sĩ đã được được Ô. Ngô Công Ích ( Giám đốc Cty TNHH S17 cũng như Giám đốc khu lịch MUD BATH and i resort) tu sửa lại cách đây 3 năm. Chị còn cho biết thêm mọi việc cải táng mộ tử sĩ trong nghĩa trang được ông Ích ủy thác cho chị làm.

_ “ Vậy có thông báo cho thân nhân, chủ mộ biết điều này không chị?”

_ “ Có ” Chị nói .” Có cấp tiền cho gia đình cải táng….”

Thấy cũng không đi sâu vào vấn đề tiền bạc làm gì, nên tôi không hỏi tiếp.

Chị rầu rầu thêm: “ Năm nay mưa lụt nhiều, làm ăn khó khăn nên gia đình thân nhân tảo mộ cũng ít, nên cây cối mới mọc um tùm như vậy. Tôi nhận chăm sóc gần trăm ngôi mộ quen mà năm nay chỉ thấy vài người đến thăm…”

_” Thân nhân, dân ở đâu vậy chị?”

_ “ Đủ hết. Tuy Hòa, Ban Mê Thuộc, Đaklak…”

Tôi an ủi người đàn bà. Xiết đôi bàn tay chai sần, to quá khổ của người đàn bà luống tuổi trong một sự đồng cảm. Cảm nhận một tín hiệu be bé của niềm vui ánh lên trong đôi mắt sau một lời chúc Tết.

Những dự định sẽ gặp ông Ngô công Ích để hỏi thêm một số vấn đề về tương lai của nghĩa trang và cách giải quyết những vấn đề phát sinh trong việc giải tỏa, nhưng chợt nhớ hôm nay chỉ mới mồng hai Tết. Các cơ quan không làm việc. Mọi người có lẽ đang quây quần với nhau trong niềm vui sum họp gia đình. Có thể nên để trong một dịp sau này.

***

Ra khỏi cổng nghĩa trang, tôi có nhìn lại, cố hình dung trong tương lai, một khu du lịch  sẽ mọc lên sang trọng và đầy đủ tiện nghi. Chắc có ai biết đâu trước đây, nó là nơi nằm lại của những con người cung hiến một cách bất đắc dĩ cho một cuộc cách mạng, theo quy luật vũ trụ.

“ Hữu sinh, hữu diệt…”

Nắng xuân ấm áp. Bầu trời cao và trong. Len mình giữa đám lùm bụi, những làn khói nhang mỏng manh, loãng dần…tan giữa hư vô.

 

 

VŨ KHUÊ

 

BIÊN GIỚI , NƠI NHỮNG CƠN GIÓ NGƯNG LẠI & NHỮNG NGƯỜI ĐÀN BÀ… ( Ký sự)

vukhue

Cái nắng ở đây khá lạ! Không như cái nắng ở những vùng đất tôi qua. Xứ nắng_ Dục Mỹ, Nắng hanh giòn như cái bánh tráng nướng, vỡ vụn trong mồm khô đắng. Nha Trang, nắng chảy nhựa, hăng mùi hắc ín, ngộc hơi gió biển. Sóc trăng_ nắng hâm hấp, mờ ứ hơi nước từ những con xáng chằng chịt . Ở đây nắng vần vụ, lưu cửu. Nắng úa như tàu chuối. Cũng đúng vì qua đến đây , nắng đã ngã qua tấm lưng của người đàn bà, cong người tảo tần, như một hình chữ S.
Công trình rỗi việc, lẽ ra tôi đã về thành phố,nhưng tôi nấn ná ở lại thêm một ngày nữa. Thành phố nhỏ, không bạn bè, quanh đi quanh lại một vòng là hết. Thánh thất Cao đài đã thăm hôm qua!
Tôi cất xe, ra quán nước đầu ngõ:
_ Đây ra biên giới xa không anh?
_ Độ ba chục cây. Mà ra đó làm gì?…. Tay chủ quán người địa phương , giọng nằng nặng miệt ngoài _ Cứ đường cách mạng tháng tám thẳng xuống. Hỏi Hòa Bình người ta chỉ cho.
Đặt ly nước mía lên bàn, gã tiếp:
_ Sao không xuống Mộc Bài vui hơn. Dưới đó có siêu thị bán đồ Miên rẻ lắm. Xuống đi cho biết.
Tôi suýt phì cười trước sự nhanh nhạy của gã, ngẫm nghĩ mình cũng điên….
Nắng đến úa người được. Nắng đổ hột, đổ hòn.
“Tây Ninh nắng cháy da người
Khi đi là Việt, khi về là Miên”
……
Nhưng gì là gì cũng mặc, tôi cứ để dòng tâm tưởng của mình chạy dài trong dòng nhạc của nhạc sĩ Nguyễn văn Đông .“ Chiều mưa Biên giới anh đi về đâu…Sao còn đứng ngóng nơi giang đầu. Kìa rừng chiều âm u rét mướt. Chờ người về trong cơn giá buốt. Người về bơ vơ…” . Cũng mơ mộng một chiều mưa ướt đầm, lướt thướt . Mang hình ảnh kẻ chinh phu đứng nơi đầu rừng, ngọn phá mà tơ tưởng về phố thị…. Thử trãi nghiệm cho một tâm trạng, cảm xúc.Thấy cũng đáng để làm!

Trời bửng sáng . Núi Bà Đen như chiếc nón lá úp chụp với cái chóp nhọn còn náu mình trong lớp sương mù. Với độ cao 986 m, ngọn núi này được xem như ngọn núi cao nhất vùng Đông Nam bộ. Từ phía Đông Nam nhìn lên ,sườn núi khá dốc, một cái hàm ếch ( hyperbol), được vẽ từ 2/3 lưng núi xuống tận chân, rồi kéo dài thoai thoải về hướng Bắc. Phía Tây nam nó dính vào một ngọn núi thấp hơn , mang cái tên : núi Heo. Không rõ trong lịch sử biến động địa chất hình thành vỏ trái đất, những cơn địa chấn nào đó đã ngắt rời phần cuối cùng của dãy Trường Sơn khỏi những anh em của nó và đẩy nó vào một vị thế khá độc lập, xa tít phía nam, ….Đó cũng là một cái lạ của ngọn núi này. Vì nếu đã lên núi bạn có thể phóng tầm mắt đến tận chận trời , để thấy một xa lộ màu xanh của thực vật , mà không gặp bất kỳ một trở ngại nào. Nghe bảo ngày trước vành đai quanh chân núi hoàn toàn là rừng, nhưng hiện tại con đường mới mở , những căn nhà ghạch và những khu rừng cao su vuông vắn, xanh mướt đã xóa xổ hoàn toàn những lời đồn thổi đó và những gì tôi hình dung ngày trước trên Youtube, về những cánh rừng hoang hóa bị dập nát bởi khói lửa chiến tranh, đã không còn chỗ đứng. Thời gian đã qua hơn ½ thế kỷ. Tự nhiên với chu kỳ tái thiết của nó đã khỏa lấp mọi thứ. Không còn gì chờ đợi thậm chí những vết sẹo. Những rẫy mía, vườn mãng cầu, vuông khoai mì vào vụ, xanh um… Phần lớn dân cư tôi gặp trẻ và không nhiều người gốc bản địa.
Đường Cách mạng tháng tám dẫn dài về phía Tây, đến tận ngõ vào của thị trấn Châu Thành.
Trên con đường tôi qua, tại giáo xứ Phong Cốc một ngôi nhà thờ trang nhã được xây từ năm 1955, mới được sơn lại. Những thánh đường ở Tây Ninh dều có một màu sơn hồng nhạt, có thể để dịu mắt trong cái nắng chát chúa. Trong lúc ghé cái quán bên đường ăn tô mì lót dạ, tôi bắt gặp mấy giọng Bắc “ rặc”, chưa “ ngã màu” của một cộng đồng. “_ Ủa vậy anh gốc năm tư hay bảy lăm?” Tôi hỏi người chủ quán.
_ Tui dân năm tư, gốc Nam Định.
_ Vậy anh lên đây hồi nào, sao cái giọng nặng dzậy?
Tay chủ quán cười vui vẻ: _ “ Dân ở đây toàn nói như thế. Ông có muốn tôi nói tiếng Nam , tôi nói cho!” Anh nửa đùa, nửa thiệt. Phân vân nhưng tôi không muốn hỏi thêm…
Đường DT 781 dẫn ra Biên Giới , bắt đầu từ cái ngã tư đường vào Châu Thành và rẽ trái. Đường tỉnh lộ, loại cấp phối, rãi nhựa cơ bản, chiếc Honda nảy lên sau những cú xóc. Những dãy nhà hai bên đường xô lệch suy nghĩ về sự giàu nghèo. Môt sự nhấp nhô đáng kể, nhưng hậu cảnh phía sau, có thể đã dung hòa điều này bằng sự trù mật của những đồng lúa đang mùa chín tới, nơi mà màu vàng ruộm trãi đến chân trời của nó có thể lấn át cái nắng chói chang của nền trời. Việc đó làm thị giác dễ chịu hơn và không còn cái căng thẳng vẫn có trên phố…. Và thật may mắn luôn chạy song song với con đường chưa biết điểm đến là những cánh đồng lúa vàng đã đến mùa gặt hái.
Cầu Bến Sỏi, lí trình Km 36 + 900 băt ngang con sông có chiều ngang thật khiêm tốn , khoảng hai trăm thước. Sông Vàm Cỏ Đông . Chắc hiếm ai là không biết tên của dòng sông này. Nó thực quá tiếng tăm. Bắt đầu từ con sông Prek Kampong Spean phía Campuchia , chảy vào Việt nam , với thủy trình gần hai trăm kilomet, sau khi kết hợp với sông Vàm cỏ Tây để tạo nên sông Xoài Rệp và đi ra biển đông. Con sông gắn liền với những chiến thắng Rạch Gầm- Xoài Mút của Vua Quang Trung đánh tan hai vạn quân Xiêm, người anh hùng _ Nguyễn Trung Trực , với chiến công đốt cháy chiến thuyền L’Esperance ( Hy vọng) trên dòng Nhật Tảo và câu hát mộc mạc “ Vàm Cỏ đông, ơi hởi dòng sông. Nước xanh biêng biếc chảy mãi không ngừng. ……” .Nhưng trước mắt tôi Vàm Cỏ Đông không xanh, không trong, mang những đặc trưng của những dòng sông Nam bộ, đục lờ màu phù sa và lưu lượng của dòng chảy không cao. Những giề lục bình xanh um kết thành từng mảng từ bờ ra đến giữa dòng, kéo cả dòng nước chậm lại. Khung cảnh hai bên bờ sông khá trống trãi, làm chỗ trú chân của đám bình bát hoang lúp xúp. Mé dưới chân cầu có dăm cái chòi chăn vịt , mấy cái đó đánh cá của những người dân địa phương. Đàn vịt lội lốm đốm giữa sông. Đứng trên cầu trông ra phía hạ lưu, dòng sông như trôi lưng lửng giữa đồng lúa chín vàng, cũng thật khó phân biệt một ranh giới tự nhiên. Với cái tên cũng khá mỹ miều từ thời chúa Nguyễn như sông Khê Lăng, sông Cái Cay ( Suối tóc)…chừng như không còn trong ký ức con người và sự thật , con sông cũng không còn một nét gì để thể hiện những điều nó đã mang.
Bỗng dưng tôi lại nghĩ về những con sông. Những con sông luôn có dáng mềm mại của những người phụ nữ. Nhưng những con sông miền Trung càng kín đáo và yêu kiều chừng nào thì những con sông miền Nam lại mộc mạc, tội tình chừng ấy. Trong khi những con sông miền Trung biết làm đẹp mình bằng những bụi tre cộ xanh um , hoặc những hàng dừa ngã mình soi bóng trên mặt nước trong veo, có thể nhìn thấu tận đáy, thì những con sông Nam bộ lại oằn nặng màu phù sa đục lờ, như người đàn bà lam lũ, quanh năm suốt tháng không nhận diện được khuôn mặt mình hoặc chỉ qua tấm gương vỡ nham nhở của đám bần, bụi dừa nước….Nói ra điều này, bạn mới thấy thương những con sông miền Nam biết chừng nào…thương hết mình!
Như mọi con sông những sản vật mà nó cống hiến cho con người mới thực sự quan trọng. Một chợ cá nho nhỏ ở đầu cầu lôi kéo tôi vào đó. Cũng khó hình dung sự da dạng và khối lượng tôm cá mà con sông này cung cấp cho dân địa phương. Mấy giỏ cần xé đủ các loài cá nước ngọt như cá mè, cá chẽm, cá chạch, cá lóc….bên kia là một mớ bông súng, bông lục bình, rau nhút còn nguyên cọng. Một cái lồng to tướng và những con chuột đồng bằng bắp tay , đang lao nhao….Tôi hỏi một người đàn bà khoảng trung niên, đang rãnh tay, vừa mời chào. _ “ Buôn bán được không chị?”
_ “ Cũng qua ngày anh à!”
…Ngần ngừ một lúc như thăm dò, tôi hỏi tiếp:”_ Vậy năm bảy chín, lính Pốt nó có tràn tới đây không chị?”
Chị như ngẩn ra_ “ Hồi đó còn nhỏ, theo cha mẹ chạy lên Tây Ninh. Cũng không nhớ nữa….”
…. Qua cầu, tôi có thấy tấm bảng đề ba thứ tiếng Việt, Cam và Anh “ Khu vực biên giới”. Đã bước vào vùng đệm…

Tôi không bỏ được thói quen luôn dừng xe, đứng trước một cái chợ, nhất là chợ miền quê, để ngắm nhìn cảnh sinh hoạt thường ngày của những người đàn bà , trong một hoạt động gần như lặp đi, lặp lại …ngày này qua tháng khác ;chỉ để kiếm tìm một cái gì rất riêng tư, như một tác phẩm nghệ thuật đang định hình nhưng chưa bao giờ đi đến sự hoàn thiện, đòi hỏi khá nhiều những chi tiết từ cuộc sống thực.
Chợ Hòa Bình. Một phiên chợ nhỏ sát biên giới . Chợ tập trung gần một thánh thất Cao Đài . Cũng một phiên bản từ Thánh thất chính ở Tây Ninh sao ra. Một dạng kiến trúc tôn giáo khá độc đáo, lấy hình hộp làm form chủ đạo, gần giống chùa cổ Thái kết hợp với gô tich công giáo, có không gian cao , phần chóp mái cũng có các linh vật trang trí như rồng, lân… Luôn có hai tĩnh tháp đối xứng. Những họa tiết khá sặc sỡ, trong những gam màu chính vàng ,đỏ, trắng và xanh ve. Hàng thốt nốt cao nghệu bám đầy bụi….Chợ chạy ven bên đường. Nhỏ và cũng đỏ quạch bụi. Ngoài những thứ hàng hóa thường thấy trên thành phố, không có gì đặc biệt. Đặc sản chỉ có đường thốt nốt, thốt nốt tươi. Ngoài ra, còn có một số hải sản nước ngọt. Cá biển muối đá đã vài hôm, da nhúm lại . Tròng mắt đã chuyển sang màu đục. Muối tôm đem từ Tây Ninh xuống, đóng lọ. Rau rá địa phương. ….Những người đàn bà ở đây nói được cả hai thứ tiếng Việt lẫn Khmer. Những tiếng chào hàng lơ lớ, chẳng nghe được gì….
Tôi dừng lại trước đống thốt nốt. Những trái thốt nốt màu tím đen như màu trái măng cụt dưới xuôi, nhưng to bằng sọ trái dừa xiêm. Cô gái với chiếc khăn rằn trùm đầu, đang loay hoay bóc vỏ. Bàn tay thật khéo léo tách lớp xơ bên ngoài với con dao bản bằng thép nặng trịch. Chỉ cần vài động tác, hạt thốt nốt trắng muốt bằng ngón chân cái đã lộ ra ngoài. Một cái thau to vun ngọn, nằm sát bên cạnh.
_ Bon chần tin sa ây? ( Anh muốn mua gì không?)
_ Tê! ( Không) Tôi chọc và nhận được hàm răng trắng lóe từ nụ cười, sau cái khăn rằn che gần kín khuôn mặt. _ Việt hay Kam? Tôi hỏi lại bằng tiếng Việt.
_ Việt!…. Em lại cười. Bàn tay nhỏ nhắn, tím đen bị ăn lậm bởi mủ thốt nốt, đưa lên che miệng. Đôi mắt lay láy. Tôi muốn hỏi thêm một câu gì đó, nhưng không hiểu sao lại lặng thinh.
Đôi tay thâm nhịt bởi mủ thốt nốt ở cái chợ đường biên ám ảnh một quãng đường dài…..

Xã Thành Long, huyện Châu Thành kéo dài đến tận đường ranh biên giới. Màu xanh tươi của những đám rừng cao su hay những nương ớt với những vạt đỏ cháy lẫn giữa tàn lá xanh đậm , đã bị bỏ lại. Càng gần về phía đường biên, đất dường như cỗi cằn hơn .Có thể do cao độ và quá xa, nên nước của con sông Vàm Cỏ đã không vươn được tới đây, tưới sũng cho cơn khát vô vọng của đám thực vật. Sự bỏ hoang kéo dài bên đường với những bụi tre gai lùm xùm, những đám ruộng xơ xác, mấy vuông mì còi cọc. Đám mía mới nhú tàu xanh, chống chọi không nhượng bộ với cái nắng. Một màu xanh không đủ phủ cho nền đất. Đất chòi ra dưới nắng, bạc phếch, nghèo dinh dưỡng. Những ngôi nhà thưa thớt dần. Đám trâu bò thường thấy trong những khung ảnh thôn quê cũng dường như vắng bóng.
Nắng và cái nóng. Cái nắng hâm hấp, khó chịu. Cái nóng như cầm cố vạn vật trong sự áp đặt một chiều không có sự luân chuyển. Ngay cả sự bốc hơi cũng trở nên bị tù hãm. Dưới cái nắng mọi sinh vật bị nấu chín ngay trong cái nồi là lớp da bao bọc cơ thể mình, mồ hôi sôi lấm tấm dưới lớp da trần và không thoát ra được. Không khí quẫn lại, nghẹt thở. Những lớp mây trắng chen đầy chân trời, nhưng tuyệt nhiên lại không có một ngọn gió. Nơi đây, những cơn gió tiêu hao sinh lực của mình qua mọi miền đất Việt, đã kiệt sức, dừng lại….
Tội …Người!
Người, dưới cái nắng hanh hao. Người , trên con đường vắng, miền biên giới, nhọc nhoài quay về sau một ngày mưu sinh nơi miền đất khách. Người với chiếc xe đạp treo lỉnh kỉnh đủ thứ đồ dồng nát.. Người . đôi bàn chân đen đúa. Chiếc dép Lào, bám dầy hai thứ bụi, đất xứ người và đất quê mẹ….
_ Ủa mới bên đó về hả chị?
_ Ừ ! Người đàn bà có vẻ kiệm lời.
_ Bữa nay mua được nhiều không chị?
_ Đâu có mua anh. Qua đó xin người ta về bán thôi.
Tôi liếc nhìn cái sọt sắt sau baga, lưng lửng những lon bia Heineken màu xanh.
_ Vậy một ngày thu nhập được khoảng bao nhiêu chị?
_ Độ năm bảy chục… có ngày được trăm. Cũng tùy bữa….
_ Mà ảnh đâu, sao không làm giúp chị?
_ Ổng làm phụ hồ. … Mà ai làm nấy ăn thôi!
m thanh ken két của cái giò đạp theo vòng quay, nghiến vào không gian buổi trưa.
_ Nhà chị gần đây không?
_ Gần dưới Hòa Bình. Mà anh nhà báo hả?…Thấy đeo máy chụp hình.
_ Không! Tui dưới Sài Gòn, lên chơi thôi!…Chào chị nghe!
_ Chào anh!
Chiếc xe đạp lại nghiến ken két trên con đường. Nắng vẫn hanh hao. Thỉnh thoảng những cái ổ gà lại tung những âm thanh loảng xoảng từ chiếc giỏ sắt phía sau baga. Vạt lưng áo màu cháo lòng loang lổ một mảng mồ hôi bết sẫm. Một chiếc xe tải chạy ngang qua hất lên đám bụi đỏ ….Tôi đứng ngó theo bóng người đàn bà bán ve chai với chiếc xe đạp cũ kỹ. Sao vẫn mong một cơn gió đâu đó lạc loài tràn về, gợn trên da người, gột lên phận người…Ở nơi những người đàn bà không biết được một ngọn gió mát lành thế nào từ quê hương!

Có thể cái hình ảnh đặc trưng của vùng đất này, là hình ảnh của cây thốt nốt. Thực ra, không phải đây là nơi duy nhất nó mọc. Tôi đã từng gặp nó ở Bình Dương, Thủ Đức…cũng cao nghệu, lùm xùm chen vai với những loài cây khác. Cũng ra hoa, kết trái bình thường. Nhưng có lẽ chính trên quê hương của nó, nó mới mang vẻ đẹp riêng tư , nổi bật mà các loài cây khác không thể so sánh được. Tính mỹ học có thể được sàng lọc qua đặc điểm thân cây cao, thẳng; tàn lá , quày trái đậu hết phía trên và tạo khoảng trống cho không gian phía dưới. Với phối cảnh đồng ruộng nơi đây, nó tạo được những điểm nhấn hết sức thôn dã và đặc thù , dù được đặt ở một vị trí trọng tâm hay chỉ là phần nền trong một bức tranh. Sự hiện diện của nó như một sự cộng sinh không thể thiếu về mặt nghệ thuật và chắc cũng là sự liên tưởng đầu tiên, nếu có ai đó nhắc đến miệt đồng bằng Tây Nam bộ.
Hạt thốt nốt mềm, không có vị ngọt gắt, cắn ngập răng. Những hạt già , cùi hơi cứng, giống ruột dừa. Tôi nhai một lúc liền khoảng chục hột. Cơn khát đã đỡ và cái bụng trở nên lưng lửng.
Người lính biên phòng với khuôn mặt sạm đen, khoác khẩu AK đứng chắn ngang tôi với cái barie.
_ Ở đây không được chụp ảnh. Anh thấy cái biển ngoài kia không?
Tôi quên mất mình còn đeo máy hình.
_ Xin lỗi nghe! Tui mới ở thành phố lên chơi nên không biết. Tôi phân trần.
_ Anh không biết thì thôi. Ngưng một lát, anh nói thêm_ Đây hết địa phận Việt Nam rồi, anh quay lại đi!
Thoáng thấy mấy người dân bên kia qua lại có vẻ tự do, tôi hỏi thêm:
_ Vậy tôi qua bên kia tham quan tí được không anh?
_ Không được anh à! Anh qua đó lỡ có chuyện gì bên đó thì ai chịu trách nhiệm. Dân địa phương ở đây rành đường đi , nước bước. Họ qua lại làm ăn. Anh dân lạ, ngôn ngữ không thạo. Lỡ đi lạc…Không được đâu anh!
Thấy có vẻ không xong, tôi đành dẹp cái dự định qua phía bên Kam, chào anh lính, rồi quay ngược lại.
Đồng hồ đã chỉ bốn giờ. Nắng dịu xuống nhưng cái nóng vẫn chưa chịu buông tha. Mặt trời chuyển sang đỏ ửng , hạ xuống thấp dần, giờ ở phía sau lưng. Cái barie cùng cái dáng đi qua đi lại của anh lính biên phòng, trong gương chiếu hậu, loáng thoáng xa dần. Trên cái sân đất của ngôi nhà gần đó, mấy đứa nhỏ cỡ chín, mười tuổi đang chơi trò đuổi bắt. Những tiếng cười vô tư cất lên… Một đứa bé hơn khoảng hai, ba tuổi đang bước lẫm chẫm. Chừng như những bước đầu tiên không cần mẹ của nó thì phải. Hai bàn chân như níu vào đất….Đất bạc _ nghèo dưỡng chất và thẫm màu.

“ Đoàn quân vội đi…Đi về Biên giới, cũng từ Biên giới về…. những bầy trẻ nhỏ. Đoàn quân lặng im, nhìn đàn em bé. Từng đôi mắt đen xoe tròn, từng đôi mắt mang hình viên đạn, từng đôi mắt sáng lên, cháy lên như ngàn viên đạn. ….” Tôi tưởng lại nghe âm vọng một bài ca của những người lính quân tình nguyện năm nào, khi đứng trước tấm biển xi măng ngã nghiêng, đầy bụi đất bên đường. Những dòng chữ không được chỉn chiu cho lắm được khắc và quét lên bằng sơn vàng, với hai ngôn ngữ Việt Anh _ VÀNH ĐAI BIÊN GIỚI/ BORDER BELT. Xét về hình dạng bên ngoài, nó có vẻ như một nhân chứng lịch sử cuối cùng, mà mảnh đất này còn giữ lại, khi tất cả đã như hoàn toàn bị khuất lấp bởi cuộc sống thường nhật của con người và thảm thực vật đã tìm được chỗ đứng trong sự tái lập. Tôi đứng nhìn quanh và cũng không thể nào hình dung nổi trên con đường này cảnh dòng người chạy loạn, những người lính áo xanh hối hả ngược chiều và góc trời vần vụ những đụn khói của bom đạn….Trong bóng chiều, nơi đây chỉ còn thanh âm thực của hòa bình, tiếng cót két của mấy chiếc xe thồ, tiếng gọi vọng của bà mẹ nào đó gọi con, tiếng kêu bầy của một đàn cò từ phía Việt sau một ngày kiếm ăn hướng về đất Kam…Đôi mắt hồn nhiên của hai đứa bé tha thẩn chở đám dọc mía về cho bò. Giọng nói riu ríu đặc trưng….Quá khứ như đã lùi quá xa!
Con gái Khmer sở hữu một đôi mắt đẹp. to và buồn . Những đôi mắt lạ có màu tím than của trái thốt nốt…
Em nhìn tôi như cầu cứu vì cái xe đạp đang chở một bao phân to tướng, bị trật xích. Em đội chiếc mũ vải rộng vành. Chiếc áo khoác bên ngoài sờn rách. Đôi mắt em cứ đau đáu về phía con đường dẫn về biên giới, vẻ nóng ruột, trong khi tôi cố gắng giúp em, lắp cái xích xe. Trầy trật mãi việc cũng xong, tôi đứng dậy, kiếm cái gì đó lau bàn tay dính mỡ. Đang tìm quanh, em nhanh nhẩu rút túi chiếc khăn tay trắng muốt ra đưa. Thấy cũng phí, nên tôi xua tay, bôi đại vào bao phân buộc sau baga. Việc ấy khiến em cười xòa, thật vô tư… “_ Okun…” ( Cám ơn)!
“ Xomlia” ..( Tạm biệt). Em chào rồi hối hả đạp xe đi…. hướng về đường biên…nơi có cái barie…phía mặt trời đã xuống thấp đến nỗi trở thành một cái vành đỏ ối…nơi đường cong của những cây thốt nốt đổ xuống…. nơi đàn cò mỗi buổi chiều trong một tiếng gọi huyền bí nào đó, biết quay đầu tìm về …nơi có mảnh đất máu mủ, quen thuộc với em, dẫu sỏi đá, bạc màu ….cũng như tôi, em gọi bằng cái tên thân thương _ “Đất mẹ!” .
…” Xomlia’ em! “Xom lia” đôi mắt màu tím than của những trái thốt nốt. Có lẽ đường về còn xa. Tôi đứng nhìn theo cái bóng nhỏ bé ấy , khuất hẳn phía cuối con đường . Lòng cầu mong em đến nhà bình an, trước lúc trời trở tối!

Trên đường về , tôi có dừng lại trên cầu Bến Sỏi, trông xuống con sông Vàm cỏ Đông. Trong bóng hoàng hôn đã sậm nét, nhìn về phía hạ lưu , hình hài con sông dường như hòa lẫn trong sự mông muội của không gian. Chỉ thấy những vệt lờ mờ của mấy tàn cây thẫm màu của cánh rừng cao su. Chiếc xuồng ba lá ai đó , khỏa vội trên mặt nước, cho kịp đến nhà….Nước sông đang lên, đẩy những bè lục bình lúc sáng xuôi dòng, nay ngược về nơi chốn cũ. Với ánh sáng còn sót lại ít ỏi, những cánh hoa tím mỏng manh nhìn cứ như rưng rưng…Mấy ngôi nhà ven sông đã lên đèn. Bóng ai đó qua lại loáng thoáng.
Những tưởng sẽ tìm lại được những hình ảnh , thâm nhập được vào tâm trạng người nhạc sĩ của một nhạc phẩm nổi tiếng vào một buổi chiều mưa, nơi miền Biên giới này…nhưng hoàn toàn không. Chuyến đi lại đem đến cho tôi những cái nhìn khác hơn từ khung ảnh thực của một vùng đất khuất xa xôi. Thời gian qua đã lâu, sự đổi thay khá nhiều và chắc chắn một điều, không ai bẻ cong được những biến chuyển của tạo vật lẫn con người theo những quy luật được mặc định của tự nhiên.
Nhưng tôi cũng không cảm thấy thất vọng. Trên con đường nhựa chạy về Tây Ninh, tôi cứ nhẩn đi, nhẩn lại hoài mấy câu cuối của bài “ Chiều mưa Biên giới”.
“… Lòng trần còn tơ vương khánh tướng
Thì đường trần mưa bay, gió cuốn
Còn nhiều anh ơi! “…
Không biết có phải thế không?

VŨ KHUÊ Biên giới, mùa không mưa 03/2015

Nha trang, 24/06/2016

Lời trần tình của một nòi giống

vukhue

“ Cụ thể là tuyệt đại đa số các loài sinh vật nhân sơ, vẫn tạo nên ½ sinh khối của thế giới, bất chấp kích thước nhỏ bé của chúng” Tiến hóa_ Wikipedia

Tôi là một trong số đó….
Tôi cố guồng các đôi chân, nhưng thật lạ ,nó cứ mềm oặt đi như bún. Người tôi lật ngửa, trần trụi dưới cái nắng chát chúa , bốc khói. Một cái gì như luồng điện, đi xuyên qua cơ thể. Phía sau nó, tôi cảm nhận sự lịm đi của các tế bào li ti. Từng mảng, từng mảng cơ bị bục vữa , hủy hoại. Những dây thần kinh dần co quắp, thít chặt đến tê dại những gì nó còn bấu víu được…..Thời gian được đong đếm từng khắc , nóng hôi hổi, dài nhoằng. Lưng tôi nước nhờn vãi đầy… Nỗi sợ!…. Nỗi sợ là sự đông cứng, sự hóa than, tình trạng tuyệt vọng của một phản xạ…
Cái lưng chổi hất đi, hất lại …ném văng tôi vào góc tường. Một cú đập chí mạng khiến tôi đau đến lịm người. Tôi không còn sức kháng cự. Một cái chân đứt lìa. Một cái râu gãy gập. Người tôi lật úp lại. Ánh nắng đang chiếu trên lưng, không mang sự khắc nghiệt lúc nãy, nó ấm áp và dễ chịu. Mọi vật chỉ còn là những bóng đen lờ mờ. Tôi đã buông xuôi ….Một tiếng gọi đâu đó âm âm phía sau. Cái chổi đang trên đà đi xuống , bỗng ngưng lại, chuyển hướng, gây ra những tiếng động lẹt xẹt chết chóc. Dừng lại một lúc, sau đó nó được kéo lê tạo những đường vô thức, xa dần. Thanh âm của xương lá dừa khô cứa trên mặt bê tông như muốn cắt nát sự sống của bất kỳ giống sinh vật nhỏ bé nào…
Tôi là một con gián. Loại sinh vật có độ cao trung bình chỉ khoảng 1.5cm so với mặt đất. Chiều dài vào khoảng 5 cm. Cũng là một dạng sự sống trong muôn vàn dạng sự sống đang có mặt trên hành tinh vào thời điểm này. Tổ tiên chúng tôi đã xuất hiện rất lâu, trước rất nhiều chủng loài, với con số thời gian rất đáng nể, hai trăm triêu năm ( với con người là hai triệu năm). Trong thời gian ấy, với một sự cộng sinh để tồn tại, có thể bọn tôi đã có những đóng góp không nhỏ, trong việc cân bằng sinh thái, để tạo nên một thế giới đa dạng chủng loại sinh vật như hiện nay. Và chúng tôi cũng là những chứng nhân mục kích sự tuyệt diệt cũng như sự xuất hiện những giống loài mới trên hành tinh này. Chúng tôi tồn tại một cách thần kỳ qua những biến cố vĩ đại của môi trường và được đánh giá là một trong những loài duy nhất có thể sống sót qua được qua thảm họa hạt nhân…
Những đặc tính của tiến hóa_ Thích nghi và đột biến????
Đây là hai khái niệm có phạm trù riêng biệt. Chúng là những đại diện tiêu biểu cho quá trình tiến hóa, cho sự có mặt của chúng tôi bây giờ. Nhưng cái nào là hệ quả của cái nào , hoặc hai cái đều xuất hiện cùng một thời điểm, để thúc đẩy quá trình trên, là một câu hỏi mà chính người tìm ra học thuyết này cũng chưa có một định nghĩa rõ ràng.
Xuất thân từ môi trường có đầy đủ ánh sáng, qua thời gian và sự thay đổi của môi trường sống, chúng tôi buộc phải ẩn mình trong bóng tối. Ăn, ngủ, sinh sản, suy tư và chết đi , rồi thế hệ khác tiếp nối. Hoặc chúng tôi là hậu duệ của một số cá thể nào đó nay đã đột biến, để trở thành những sinh vật của bóng tối và được trao quyền tồn tại, trong khi đa phần đồng loại kém may mắn phơi mình dưới ánh nắng đã bị thảm sát hoàn toàn, hoặc tổ tiên chúng tôi , những kẻ hèn nhát chạy trốn khỏi một cuộc tranh đấu cho sự tồn vong , đã tìm thấy một nửa phần của thế giới , nơi bị nguyền rủa, trù yếm, lãnh địa của hắc ám, ma thuật , nơi tối tăm và sự đen đúa ngự trị….làm nơi ẩn náu lý tưởng cho bản thân và dòng giống tương lai…Và rồi trong môi trường đó, chúng tôi buộc phải thích nghi và có những đột biến để tồn tại, tôi không biết nữa…Nhưng tôi hiện hữu ở thời điểm này và sở hữu một số công cụ để tồn tại… trong bóng tối.
Thú thật, bóng đêm đem lại một sự dễ chịu. Đó là một cái trường mà mọi giác quan của tôi được trợ giúp một cách tối đa để hoạt động. Đôi râu của tôi trở nên linh hoạt. Bất chấp một cái bị gãy, nó vẫn vung vẫy về phía trước, để phân tích những thứ hiện diện trước mặt, cái mà mắt tôi đã nhận dạng, nhưng vẫn chưa biết thứ gì…và liệu có ăn được không?…Khét lẹt_ Cọng dây cao su; Không mùi vị, dai nhách_ tấm thảm chùi chân; nhớp nháp, lộn mửa _ lớp kem thừa phết trên chiếc bánh ngọt ăn dỡ….Đành rằng chúng tôi có thể nuốt tất tần tật mọi thứ trong cơn đói, nhưng tội gì phải làm cái việc ấy, khi quá nhiều sự lựa chọn. Đêm khá yên lặng.! Kinh nghiệm mách cho tôi biết không có nhiều kẻ thù. Lão chó già đã ngủ và con mèo chắc hẳn đang ve vãn con bồ mới của nó, ở nhà bên cạnh. Tiếng cưa gái ư ử của gã, thỉnh thoảng từ mái nhà vọng xuống. Tôi kễnh chân lên, người nhô cao thêm khoảng một phân so với bình thường . Ở vị trí này, tôi cảm thấy thoải mái hơn nhiều so với cái dáng điệu lom khom, mỗi lúc buộc phải gập mình, luồn lách dưới ánh sáng. Từ một động tác, nó cho tôi một ý thức mới mẻ hơn về thứ gì đó, cái mà tôi cảm nhận được trong sự trở lại từ một mất mát…Thật khó mà diễn tả….Phải dùng ngôn từ của những sinh vật bậc cao _ Tự do thì phải?….
Tôi chúi đầu vào mấy hạt cơm rơi vãi, thứ thức ăn quen thuộc và khoái khẩu. Đầu kia cũng có một gã cùng cỡ tuổi đang cắm cúi. Gã tới nãy giờ và chắc hẳn đã lửng bụng. Cái điệu bộ nhẩn nha trông thật khó ưa! Vẻ giống một tay tư sản với ý nghĩ khu vực này là sự sở hữu của riêng gã. Gã đổi hướng liên tục, tạo thành một vòng tròn, dồn mấy hạt cơm vào trong. Lúc thì đôi râu của gả chọc luôn vào mặt tôi, lúc thì nguyên cả cái mông với hai cái lông đuôi hôi hám…Tôi cố gắng giữ khoảng cách và tránh những xung đột không đáng. Tôi dùng đôi hàm kéo hạt cơm gặm dỡ ra xa hơn . Và sự việc đó bất ngờ cứu tôi. Một tiếng đánh “ Bạch”. Chiếc dép tông như cái container khổng lồ bay vèo tới, chạm vào sàn xi măng, nơi có gã đồng loại kém may mắn đang đứng, rồi dội ngược lên nóc cái tủ lạnh. Một loạt tiếng loảng xoảng kéo theo….Không kịp nghĩ ngợi, tôi vắt chân lên cổ, phóng về cái khe hở dưới đống chai lọ. Hình ảnh cuối cùng , mà tôi ghi nhận được là một đống bầy nhầy, gan ruột lẫn lộn, mấy cái chân vẫn còn giần giật. Cái chết không còn nguyên vẹn hình hài của một con gián xấu số.
” Tiến hóa” – một lộ trình chết chóc:
Đối với những sinh vật nhỏ bé như tôi, cái chết luôn hiện diện một cách thường nhật. Bóng dáng của nó ám ảnh trong từng bối cảnh không gian, trong những đơn vị thời gian nhỏ nhoi nhất. Ngay cả trong giấc ngủ chập chờn, nó cũng kéo theo những ác mộng đen đúa. Chúng tôi chui rúc dưới một cống thoát nước, nép vào nhau trong sự tối tăm. Thở hắt trong hôi hám. Những đôi râu sờ soạng, truyền cho nhau những tín hiệu run rẩy, sợ hãi. Những tín hiệu tưởng chừng nhỏ nhoi này, tạo nên những dao động, rồi lan truyền thành những con sóng bao trùm lên chúng tôi, khi chúng tôi nhận được những dự báo nguy hiểm. Chúng tôi không phải là một cộng đồng, như người ta vẫn nghĩ. Chúng tôi là một đám những cá thể rời rạc, với một màu đỏ bầm đe dọa, đầy mỉa mai, không có sức mạnh của một sự đoàn kết bảo bọc, không có sự lãnh đạo của một cá thể mạnh mẽ kết khối; không có những kinh nghiệm truyền đạt từ những thế hệ chi sơ… Và khi nơi trú ẩn bị lật lên, chúng tôi túa ra dưới ánh mặt trời, mạnh đứa nào đứa nấy chạy, vỡ ra từng mảng, ghánh chịu sự tàn sát không khoan dung ….
Rồi buổi chiều đến, chúng tôi lại tụ tập nơi cái cống. Một số con gián lớn tuổi hơn tỏ ra bức xúc. Chừng như sự tái lập của sự tàn sát và tần suất của nó, đã bắt họ phải chịu một áp lực quá lớn. Nó dồn nén, khiến họ có những hành động không còn tỉnh táo. Những điều ấy thật dễ dàng nhận ra qua biểu hiện bên ngoài. Đôi râu luôn dựng lên căng thẳng. Thân người nhón cao hơn bình thường. Đôi mắt kép bung lớn, tưởng nổ tung, điên dại. Không còn vẻ lầm lì, họ như bị kích động, chạy qua, chạy lại. Cáu bẳn và cục súc…Một cái gì đó không bình thường đối với lũ gián. Tôi linh cảm thấy điều tồi tệ…..Một đêm trôi qua ….và, chúng tôi lại mục kích những cái xác co quắp, đủ mọi tư thế, nằm rãi rác. Họ chết vì nhiều tác nhân. Có gã thương tích bên ngoài nhưng có gã lành lặn, chả thấy vết thương gì. Chỉ thấy thân hình vặn vẹo, đầu tréo cả phía sau….một cái gì bên trong đã vặn xoắn họ, giết chết họ. Đám này chiếm đa phần!
Người ta nói về sự tiến hóa như tối ưu về thích nghi để tồn tại, nhưng đối với chúng tôi, đó dường như là sự một mặc cả và trả giá đầy thua thiệt.
Bản chất cuộc sống?
Cũng như mọi thứ hữu hiện trong thế giới sống này, dù ở phương diện ưu thắng hay yếm thế, tất cả đều đòi hỏi một câu trả lời cho sự hiện diện và tương lai của chính mình, của giống nòi mình. Và chúng tôi cũng không loại trừ…Phút giây trầm tư, sau những cuộc thanh trừng hoặc vừa mới thoát nạn, chứng kiến cái chết của đồng loại, chúng tôi thường đặt ra câu hỏi cho chính chúng tôi . Vậy sống để làm gì? Để duy trì sự hiện diện nòi giống chúng tôi trong thế giới (Hão huyền)… Sự tồn tại của chúng tôi là một mắc xích liên kết các mắt xích khác trong chuỗi liên kết sống ( Vô nghĩa)….. Minh chứng cho cái đúng của một học thuyết….( lố bịch)….
Với chúng tôi, thực ra cuộc sống từ lâu đã không còn ý nghĩa . Chúng tôi là thứ sinh ra để bị giết, để chết, để thoái hóa… Chúng tôi không được trang bị bất cứ cái gì tự vệ bên ngoài. Điều đó dẫn đến lí do chúng tôi chỉ còn một giải pháp duy nhất_ Trốn chạy. Gia tăng với thời gian sống, tỷ lệ thuận với kinh nghiệm sống, nỗi sợ hãi trong chúng tôi được nuôi dưỡng trong môi trường tốt nhất có thể. Chúng tôi không phải là những sinh vật vô nhiễm như người ta vẫn nghĩ. Bọn tôi mang đầy một lũ kí sinh , Bên trong chúng tôi, sợ hãi phát triển dường như không có điểm dừng. Không phải với từng cá thể, nó lây lan như căn bệnh truyền nhiễm làm tàn tạ cả một tập thể. Chúng tôi sợ hãi ánh sáng, sợ hãi những âm thanh, nghi ngờ tất cả những loại thức ăn mà trước kia, chúng tôi cho rằng chúng hợp khẩu vị nhất. Chúng tôi đi đứng rón rén, thậm thụt ngay cả trong môi trường sống . Chúng tôi tự kỷ hèn kém đến nỗi, mỗi lúc đi kiếm ăn về, chúng tôi chỉ còn biết thu lu trong cái lỗ của mình và điều này làm tuyệt diệt thứ ngôn ngữ giao tiếp. Sự sợ hãi kéo giãn những bó dây thần kinh, căng cơ thể chúng tôi đến độ nhức nhối trong việc cảnh giác; những xung đột nội tại _ nguyên nhân của triệu chứng điên loạn. Và những thứ này, chúng giết chết chúng tôi còn nhiều hơn sự biến đổi của môi trường hay những loài thiên địch mà chúng tôi từng biết.
Trong sinh sản để duy trì, nó trở thành một loại gien di truyền chủ đạo tạo nên những thế hệ mới . Nhìn những con gián con trong suốt với những bộ phận vận động chưa hoàn hảo nhưng bên trong đã ám đầy nỗi sợ. Chỉ cần một tiếng dậm chân khe khẽ là chúng đã chạy tứ tán…..Việc đó lại khiến chúng tôi suy nghĩ. Liệu ai còn chút hứng thú để tạo ra một sự kế tục lặp lại và cũng bi thảm như số phận chúng tôi vậy?????

Có thể thuyết tiến hóa cũng đúng một phần nào đó, trong việc chỉ ra những đặc điểm tối ưu cho một cơ thể tồn tại được trong môi trường đào thoát, một đôi râu như cặp ăng ten linh động, việc đổi hướng tháo chạy mười lần/ giây, cơ thể được trang bị những hạch thần kinh nhạy cảm, một bộ máy duy trì sự sống khá đơn giản, việc có thể tự làm lành những vết thương của mình, …… nhưng chúng tôi cũng đang bị giết dần bởi chính thứ con đẻ của nó, giống nòi chúng tôi đang bị suy vi cũng bởi những thứ lớn dần phía trong mà chúng tôi không kiểm soát nổi. Và cứ thế ,chúng tạo ra một vòng tròn lẩn quẩn không thể thoát ra được. Không lẽ đây lại là bản chất???
…….
.. Một ngày,bọn gián lớn tuổi hơn tự dưng bỗng dồn về một phía. Sự dồn khối này khiến những gã trẻ hơn như bọn tôi lần đầu tiên, phải đứng nhìn với con mắt trọng thị. Đó là dấu hiệu đầy ý nghĩa của cái việc mà chúng tôi đang dò xét, vì họ tồn tại lâu hơn chúng tôi, lẫn tránh nhiều cái chết hơn chúng tôi, chịu đựng được qua những cơn điên chết chóc….Họ cố gắng sống, chừng như chỉ để đến thời điểm này. Họ nằm im, không ăn uống đến mấy ngày. Cặp râu lim dim như mơ ngủ, như chìm vào một trạng thái bị mê hoặc…. Bọn tôi đi lại, rón rén, khẽ khàng, tránh làm kinh động họ. Vào đêm thứ hai bức trời, lúc bọn tôi thiêm thiếp. Bọn họ biến đi. Biến mất không quay lại. Cái cống như vợi hẳn. “ Khốn nạn!” Đó là lần đầu tôi thấy những con gián xung thiên…. Nhưng không lâu, khi quay lại cuộc sống thường nhật với nỗi sợ lấp choáng, chúng tôi tiếp tục chết.
Một thứ gì bí ẩn, không lộ diện, nhưng nó khuyến khích mọi nổ lực để vượt qua cái chết , để theo đuổi …
Nhưng với chúng tôi, mặc là cái gì ….thì hãy đến mau, nhanh giùm đi!
Kết cục bất ngờ:
Những cơn mưa trái mùa mang lại chút hơi ẩm, giải tỏa sự hầm hập cho cái cống bé nhỏ, hôi thối này. Nhưng nó cũng báo hiệu cho chúng tôi biết, sau nó là một chuỗi ngày dài nóng bức đang chờ đợi phía trước. Chúng tôi đã học được một ít kinh nghiệm. Chúng tôi bắt đầu chuyển nơi trú ngụ xịch dần lên phía trên, dành chỗ cho những thế hệ mới. Bọn nó cần những nơi tốt hơn, thích hợp hơn. Do không có thứ ngôn ngữ giao tiếp, nhưng bọn tôi cũng ngấm ngầm theo dõi bọn nó, điểm đi, điểm lại quân số chúng nó lúc ra ngoài kiếm ăn hay mỗi sáng, chúng nó quay về. Bức rức khi thiếu hụt một vài mạng….dù với giống loài chúng tôi, chuyện đó hay xảy ra và khá bình thường….
Chúng tôi không thường ra ngoài kiếm ăn nũa. Có thể do chúng tôi thường nằm im một chỗ và sự trao đổi chất ở bên trong cơ thể chậm lại. Đôi râu trở nên biếng nhọc. Chúng tôi trở nên trầm tư, chiêm nghiệm… chúng tôi thường gặp lại những hình ảnh của quá khứ.Từ những điều tưởng chừng rời rạc, khuyết tật, nhớp nháp ….trong dòng suy tưởng, chúng tôi cố tạo dựng, biến hóa nó thành những thứ tốt đẹp hơn, sáng sủa hơn. Không trao đổi với nhau, chúng tôi tự ôm lấy những ảo ảnh dễ vỡ ấy, coi như khối tài sản riêng của mình. Mà cũng đúng, thực tế chúng tôi có gì gọi là tài sản …Không dừng lại ở đó, sự mơ mộng càng lúc càng đi xa hơn, Đó cũng không hẳn gọi là mơ mộng, đó là những khát vọng của chúng tôi được chắp thêm đôi cánh. Trong chúng tôi xuất hiện những tiếng thầm thì. Lúc đầu nhỏ, sau lớn dần, đến một lúc nó át cả những thanh âm của môi trường bên ngoài. Những âm thanh dịu dàng nhất mà suốt cuộc đời của một con gián với sự trốn chui, trốn lủi được nghe. Những thanh âm không khuấy động nỗi sợ hãi, thúc giục phản xạ trốn chạy, chết chóc… nó mang đến lời an ủi, tình thương, sự công bằng và cảm giác được bảo vệ. Đó là tiếng nói chung của tất cả các sinh vật đang sống và hiện diện trên hành tinh này một cách hòa bình, trong đó có cả thanh âm của tổ tiên chúng tôi…Những hình ảnh chưa bao giờ có trong ký ức, từ một khối gien di truyền nào đó, đến giờ phút phát tác, lôi kéo chúng tôi vào sự huyễn hoặc: Màu sắc ánh sáng, bầu trời xanh ngắt, mặt đất phẳng lì, tít tắp…. màn đêm và những vì sao lấp lánh mời gọi ….làm chúng tôi chìm ngập, say ngất ngư như nhá phải lá bồ đà…
Đêm_ Một trong những đêm nóng rãy nhất trong những cái đêm. Không ai bảo ai, chúng tôi ghim mình trong sự chờ đợi ; một thời khắc đã được ấn định từ khi thân thể chúng tôi mới định hình và ngấm ngầm dấu kín trong cả cuộc đời. Chúng tôi trong trạng thái khó tả, những cái râu dựng ngược, những cái chân ngọ nguậy không ngừng. Lồng ngực chúng tôi như mở phanh ra trong hơi thở gấp gáp. Những cái đầu lắc lư, xốn xang.Thời gian trôi chầm chậm và chúng tôi như nghiến vỡ cả đôi quai hàm của chính mình….Rồi thời khắc đó cũng đến… Chúng tôi tràn lên, từ những xó xỉnh tối tăm, những miệng cống nhớp nhúa. Chúng tôi hàng đàn, hàng lũ . Một sức mạnh màu đỏ bầm, tràn ngập, rối rít dưới sự thúc đẩy của một mãnh lực từ tự nhiên…Chúng tôi bỏ lại phía sau những lời nguyền rủa, sự sợ hãi, một học thuyết như lao tù của số phận. Chúng tôi bổ nháo nhào vào cả những mâm cơm, chết đuối trong bát canh, đâm vào đôi chân người đang dẫm bành bạch, đeo bám vào lưng con chó già khiến nó vừa nhảy, vừa rú lên oăng oẳng…Chúng tôi bẹp xác dưới sức nặng của con người. Mất đầu, nát lưng , phòi ruột …dưới những cú quất chết người của cái sống chổi. Những cú xịt thuốc có thể làm ngã quỵ đến năm , ba mạng…nhưng những cái đó không ngăn được chúng tôi lại.. Những cái xác tan tác, không còn nguyên vẹn, những thân thể co quắp… nằm đầy rẫy trên sàn nhà…Chúng tôi cố bám , leo lên những bức tường . Đôi cánh trên lưng tưởng chừng vô dụng trong cả cuộc đời, thực ra chỉ dành cho giây phút này . Và chúng tôi tung mình lên … trong chuyến bay đầu tiên, cũng là chuyến bay cuối cùng trong cuộc đời một con gián …Dưới lớp áo lụa mà gió lồng lên căng phồng , chúng tôi như được lột xác hoàn toàn. Chúng tôi không còn là những sinh vật lê lết cái bụng dưới sàn nhà bẩn thỉu, nhặt nhãnh thứ thức ăn thừa và nỗi sợ bị đè bẹp. Chúng tôi là những sinh vật hoàn toàn làm chủ cuộc sống, làm chủ chính bản thân mình. Chúng tôi chao lượn trong không trung, hiên ngang và thưởng thức mùi vị thoáng đãng của tự do.
Chúng tôi bay về phía có ánh sáng_ Nơi có những cái bóng đèn dài, đèn tròn trong nhà; những bóng đèn cao áp nơi nhà hàng, công viên…nhưng đông hơn cả , chúng tôi hướng về những ngôi sao lấp lánh của nền trời sâu thẳm. …

VŨ KHUÊ
Nha trang, ngày 05 tháng 06 năm 2016

CON ĐĨ.

vukhue

Giọng thằng Chương ngân nga “Ở đời người ta lấy đĩ làm vợ, chứ ai lấy vợ làm đĩ”
Xin đặt sự biết ơn và vinh danh những người phụ nữ miền Nam ở thời hậu chiến (75-85)

Vùng sáng ấy bất chợt lóe lên, trong bóng tối. Mịn màng , vàng ngọc… không mang tố chất của những sản phẩm nhân tạo mà ta vẫn động chạm đến hàng ngày. Sự tinh xảo bởi đôi tay những người thợ thủ công, của kỹ thuật hiện đại đều bị bỏ rơi. Dù rằng ở thời điểm này, người ta đã ghi nhận những nỗ lực vượt bậc của con người trong việc với tới. Nhưng vẫn còn xa… rất xa!
Con bé và cái vai trần. Một bông hồng nhỏ, màu thẫm, được xăm trổ công phu, phía trên xương vai – như cái hẻm rẽ vào một quá khứ bí ẩn và tối tăm. Nàng chỉ độ mười mấy. Quá trẻ với nột quá khứ nặng nề có khả năng bẻ ngoặt một đời người.
Một động tác xoay mình khá nhanh, gần như một sự di hình. Và bóng tối nuốt trọn nàng….
Sao lại luôn là bóng tối!…Sao lại luôn là nơi không tường tỏ mặt người???

Dạo ấy vào năm 1983. Tôi là thằng con trai lộc ngộc mới tốt nghiệp mười hai xong, chẳng có một dự định gì lớn lao. Sức học làng nhàng khiến cái mục tiêu mà bọn học sinh đồng niên mơ ước vươn tới là cổng trường đại học, với tôi quá ư xa vợi! Cộng thêm cái lí lịch không được mấy trong sạch từ ba tôi, cũng cố thêm cái niềm tin rằng tôi không thể đi xa hơn nữa trong việc học hành. Sau chuyến đi thi với thằng bạn nối khố, thực chất là chuyến đi chơi Sài gòn cho biết, tôi quay trở về Nha Trang và xin được công việc trong một hợp tác xã đóng ghe đánh cá. Dượng Chín tôi _ Người giới thiệu tôi vào làm, có đóng góp cổ phần trong đó.
Bỏ qua những năm dài giấy bút, những trò nghịch ngợm và lãng mạn của cuộc đời học trò, tôi đối diện với cuộc sống thật….
Cái nghề này trong vài ba năm gần đây bỗng dưng trở thành nghề kiếm ăn được. Có thể do nó bắt nguồn từ việc cung cấp một số lượng ghe thuyền cho những gia đình Hoa kiều trong việc hồi hương hoặc đến một đất nước khác một cách khá dễ dãi, gần như trong sự cho phép của chính quyền. Dưới áp lực kinh tế, việc làm ăn ngày càng khó khăn và những vấn đề xung đột chính trị, từ trước và sau cuộc chiến Biên giới vào năm 1979, đã đẩy phần đông số người Việt gốc Hoa_ những người gắn bó số phận mình biết bao đời trên mảnh đất này, cùng chịu đựng những mất mát, thương đau do chiến tranh gây ra với dân tộc này, đành rời bỏ cái xứ sở, nơi niềm tin và tình thương đã biến mất theo quá khứ, hiện tại là sự đố kỵ và tương lai là một chuỗi thù hận khó lường, ra đi. Một vài đứa bạn thân trong giai đoạn cấp hai, gốc Tàu như thằng A Tỷ, A Mùi ….khăn gói theo gia đình , cũng lục tục hồi hương…Tôi còn nhớ đôi mắt ti hí của nó ướt nhèm và mấy hột xí muội nó dúi vô tay….Lạy trời! Mai mốt không cầm súng bắn mày!
Vượt biên! Cái danh từ này bỗng dưng khá thịnh hành vào thời kỳ đó. Bọn nhóc tì cải biên bài hát “ Ngày mai anh lên đường “ của nhạc sĩ Trần Tiến , hát rân đường “ Vượt biên sang Hoa kỳ, là tương lai huy hoàng….”. Sáng ra thấy dăm ba cái nhà trống hoác trong dãy phố. Những khuôn mặt quen thuộc biến mất. Đám người chạy ra , chạy vô hôi của trước khi các vị chức trách phường khóm tới dán giấy niêm phong….Xóm dưới đồn dấy lên “ Ghe nhà ông Bê mới đi tối qua…” Ngoài bãi biển , một vùng cát bị khuấy lên , dép guốc, mì gói, quần áo quẳng lại ….Có đêm có tới năm ba chiếc ghe đón người ra đi. Cuộc sống bế tắc đã đẩy hàng trăm, hàng ngàn gia đình đánh đổi mạng sống của mình, mạo hiểm để tìm một vùng đất khác sinh sống. Đêm hòa bình nhưng thỉnh thoảng lại có tiếng súng nổ lẹt đẹt ở đồn biên phòng. Những chiếc ghe chở đầy người biến mất trong đêm. Tin tức quay về có khi dăm tháng, một tháng … được tàu nước ngoài vớt, đang ở trại tị nạn Philipine. Cũng có chiếc rất lâu, lâu đến nỗi gia đình thân nhân lo lắng, khóc khô nước mắt và rồi quên lãng….vẫn không có chút tin tức. Những người trong gia đình bèn lấy ngày ra đi của họ làm ngày đám giỗ. Có chiếc rất nhanh …vài ngày…ngoài biển người ta vớt lên những xác người. Đám đông đổ xô hiếu kỳ đi coi, đi nhận dạng thân nhân. Những người chết đuối có cái chết rất lạ. Những tư thế rất khó hiểu. Những thi thể cúng đờ, sự chống chọi đến tuyệt vọng…. và nước nhầy bịt kín hốc mũi. Da lạnh, trơn tuột như loài cá. Mi mắt không bao giờ nhắm kín, chỉ khép hờ hờ….Những mảnh ván thuyền vỡ nát, dạt vào bờ cát, chõng chơ như bộ xương …Đám nhặng xanh đậu kín!….
Mai lại có người vào văn phòng đặt làm chiếc ghe mới!…

Cơ sở đặt trên một miếng đất bồi, tả ngạn con sông Cái, lưng tựa vào núi Sạn. Một vùng đất đẹp, còn hoang sơ, với cánh đồng lác chạy dài và hàng dừa rũ mình , che chắn cái nắng cho con đường nhỏ. Xóm đạo với hơn vài chục căn nhà đứng dựa vào chân núi. Một dãy những túp chòi tạm bợ , được dựng bằng những thứ phế liệu chiến tranh kéo dài đến tận rìa sông, chấp chứa những mảnh đời trôi dạt, đầy thương tích, rã rời sau cuộc chiến. Một ngôi nhà thờ đá, với cây thập giá cổ kính, phảng phất nét buồn mỗi buổi chiều, lúc ánh sáng trở nên quá mong manh và nhạy cảm. Và khi va phải thanh âm đục trầm của những tiếng chuông . Chúng vỡ ra như kim tuyến, lan truyền như sóng, lay động vạn vật, khiến cái lô cốt sứt sẹo, đầy vết đạn, đứng ở đầu con đường đất cũng không còn vẻ chai sạn và tự kỷ vẫn có. Trong những khoảng khắc hiếm hoi của ngày, nó mang dáng dấp đáng thương của một người tàn phế,,,,,
Sau mấy tháng làm việc nơi đây, nàng là tâm điểm cho sự chú ý không chỉ riêng tôi, mà còn những thằng trai trẻ cùng tuổi trong cái tổ bốc vác_ bốn mạng này.
_ Con nhỏ dễ thương ghê mậy! Thắng _ gã tóc xoăn, da đen , lai Mỹ, trầm trồ. Nó lớn hơn tôi một tuổi, vóc to cao, lanh lợi.
_ Nhỏ gì , đáng tuổi chị Hai mày à! Thằng Chương chen vào. Gã đẹp trai. Cặp mắt to, sống mũi cao, chỉ tội lúc trước bị tai nạn gì đó phải mổ chân, nên đi cà nhắc. _ Nhưng phải công nhận có cái dáng đẹp. Nó chép miệng, đứng chống tay , ngó cái bóng xa xa, miệng nhênh nhếch, khó ưa.
Thấy không gian im lặng, tôi liếc qua thằng Liêm tổ phó, thấy hắn ngồi ngây mặt ra. Tròng mắt trắng cứng đơ như mắt con cá nục suông. Cục yết hầu nơi cần cổ chạy lên, chạy xuống liên tục. Mấy sợi cơ nhỏ trên má giật giật. Người hắn căng cứng như cái cây khô nỏ, như thể đợi chờ một tiếng đánh tách khe khẽ là thấy hắn gãy gập, gục xuống…..
Anh Tư, tổ trưởng_ Tay bộ đội K phục viên, hai lần đi vượt biên không lọt, nãy giờ cũng đăm về phía con đường, quay người lại. Tấm lưng trần có vết sẹo AK trổ ra to bằng miệng cái ly, đỏ sẩm, hằn học trên lớp da cháy sạm. Phun bãi nước bọt xuống đám cỏ gấu dưới chân, anh có vẻ trãi đời:
_ Con đĩ!…Bày đặt ra vẻ. Loại này tao thử cả trăm con rồi!
Con mắt của ba thằng bọn tôi như đứng tròng. Nhũng con ngươi dội ngược lên đỉnh…..

Từ “ Đĩ” nói về một hạng người phụ nữ.
Tôi nhớ mấy câu thơ trong Kim Vân Kiều của thi hào Nguyễn Du:
Tiếc thay một đoa trà mi
Con ong đã tỏ đường đi lối về
Một cơn mưa gió nặng nề
Thương gì đến ngọc, tiếc gì đến hương….
Trong “ Khải hoàn môn” của Erich Maria Remarque, qua bản dịch của dịch giả Cao Xuân Hạo.
“….Bà Rolande vẫy tay ra hiệu cho hai cô đến săn sóc ông khách đang ngủ gà, ngủ gật trên chiếc ghế dài. Mấy người ban nãy đều ồn ào. Bây giờ trong phòng không còn ông khách nào nữa. Mấy cô gái rỗi rãi đều xong ra chơi trò trượt trên sàn đánh bóng như trẻ con đùa nghịch trên sân băng. Hai cô phi nước đại cầm tay một cô thứ ba ngồi xổm lôi cô ta trượt suốt chiều dài căn phòng. Tóc họ xổ tung ra, vú họ phơi trần trong gió, vai họ bóng lộn lên và những bộ trang phục bằng lụa may rất ngắn không còn che được chút gì trên thân thể họ nữa. Họ reo lên vì vui thích, và đột nhiên, tiệm Orisis, dường như đã biến thành một hình ảnh cổ điển của cảnh điền viên tươi vui và trong trắng….”
…..
Sự ẩm mốc, mùi mồ hôi chua loét của căn phòng không lôi được tôi ra ngoài sự háo hức. Gã ma cô, tóc tai bờm xờm trong bộ đồ trận của lính chế độ trước, ngồi dưới ngọn đèn vàng rít thuốc liên tục, Nãy giờ gã không nói tiếng nào. Ba gã đã “xong việc” đang đứng túm tụm phía ngoài, hút thuốc và tán chuyện, thỉnh thoảng lại có một tràng cười khả ố và mấy tiếng tục tĩu. Bên trong, tiếng càu nhàu và ken két của mấy miếng ván sàn, thể hiện sự “ xông trận” khá mãnh liệt của thằng Liêm. Thằng “ đánh’ lâu gớm! Đúng ‘ cơ điên”! Gần nửa gói thuốc, tôi nhũn chí và có ý định bỏ về. Nhưng rồi những thanh âm im bặt và bóng người xuất hiện nơi cửa. Người hắn loang loáng mồ hôi. Cái cười méo xẹo, thỏa mãn một cách đau khổ. “ Tới phiên mày đó!” Giọng nó như bị rút lưỡi.
Tối mịt và một khối gì đó nhão nhoẹt. Không hình thù gì rõ rệt! Một vệt xỉ mũi trăng trắng vắt qua một đống giẻ rối nùi. Vệt xỉ mũi bất động với hình hài con người. Cả trăm loại mùi mồ hôi. Mùi mồ hôi mới chồng lên mùi mồ hôi cũ, được tưới lên bằng mùi dầu khuynh diệp cho đến khi nó sền sệt, bùn lầy, phì phọp trong hơi thở. Nơi tận cùng của thế giới .Tôi đứng trân trối, nhìn vào cái thân người nằm úp mặt vào vách, sức trẻ tiêu tán. …
Rồi cái vệt trăng trắng ấy chợt ngồi dậy, giọng nói có chút mệt mỏi” Cởi đồ ra đi anh! À … Còn thuốc không cho tui một điếu!” . Tôi làm theo lời nàng và ngồi bên cạnh đợi nàng hút thuốc. Nàng hít những hơi dài, ém thật sâu như gã nghiện, rồi phả mạnh vào vùng tối trước mặt. Không gian đầy ứ những thứ lưu cửu như bức tường chắn vô hình làm khói thuốc bật lại vào cả mặt tôi. Chúng tôi ngồi cạnh nhau, hít được hơi thở của nhau, da thịt cọ vào nhau, nhưng lạnh ngắt, chẳng có một thứ cảm giác gì. “ Anh bao nhiêu rồi?” _” Mười tám” Tôi thành thật. “_ Biết ngay mà!” Một làn khói chậm, như hơi thở dài, trì trệ …”_ Thôi nằm xuống đi” .Nàng dúi điếu thuốc hút dở xuống sàn gỗ, rồi đẩy ngửa người tôi ra sau…Thú thật trong đám bốn thằng, tôi là thằng thanh niên to khỏe nhất . Tôi tự tin đến mức cứ nằm đó mặc cho nàng làm gì thì làm. Tôi không nghĩ là cái thân hình gầy nhom với cặp vú thõng, nhọn hoắc, thoắt qua , thoắt lại; thỉnh thoảng lại chọc vào mắt một cách đau điếng…lại tiềm ẩn một sức mạnh kinh ngạc như vậy. Nàng vừa qua tay 3 thằng rồi mà !…..Nhưng đó không phải là nhục dục, đó là sự điên khùng. Đó không phải là sự ngọt ngào, giây phút lãng mạn, sự run rẩy tận hưởng như tôi tưởng tượng, đó là sự chiếm đoạt và thù hận. Nàng cào cấu, ghì xiết tôi như thể giết được tôi bằng chuyện đó…Rồi việc cũng xong, nàng gần như xỉu đi, thiêm thiếp. Tơi tả và bầm dập, ngạc nhiên nhiều hơn, nàng cướp mất sự hiểu biết ngây thơ của tôi về đàn bà, biến tôi thành một gã đàn ông trong sự cuồng phẫn và thịnh nộ của mình…..
Anh Tư nhăn răng cười, đón tôi ở ngoài cửa:
_ Sao lần đầu vui không chú mầy?
Tôi cũng vờ chửi đổng cho qua chuyện:
_ Má…Con nhỏ nó làm chuyện đó như thù ai….
Mà nàng thù hận cái gì cơ chứ?????

. Sự việc để lại một ấn tượng khó phai và đen tối, nhưng tôi xem đó như một tai nạn, một thứ đường quá lửa, để biến thành thứ nước làm màu kho cá, đắng nghét. và cố nhiên, nó cũng chẳng dễ dàng ngay lập tức biến tôi thành một gã đàn ông cục súc , có cái nhìn tật nguyền với cuộc sống. Bởi nó không đủ khả năng .Có thể, tôi quá trẻ. Quá trẻ để lướt qua tất cả và thách thức với những trãi nghiệm còn ở phía trước.
Chiều lãng đãng và nắng đã úa. Những con gió từ phía biển thổi lên làm mặt sông gợn nước lăn tăn, hắt những tia sáng vàng ruộm lên bãi lác xanh ngút ngàn, trãi dài bên bờ. Một khoảng khắc thiên nhiên vung vãi một cách hoang phí tất cả tài sản chúng dành dụm được trong ngày cho mỗi một việc là làm đẹp cho mình, làm đẹp cho đồng loại. Những tia ánh xạ bắt dính vào những hình hài gãy khúc của đám thực vật đen đúa quá quen thuộc thường ngày, nhúng nó trong những phông màu khó tưởng tượng là nó sẽ có ,để làm nổi bật lên những đường nét của nghệ thuật , gợi dậy những xúc cảm , đầy quyến rũ và mơ màng. Chuông nhà thờ đổ từng tiếng một lay động không gian và những con sóng màu xanh của đồng lác lại gợn lên, thi nhau đổ cuộn về một nơi nào đó phía chân trời vô định. Trên con đường đất nhỏ, nơi cái lô cốt sứt sẹo đứng án ngữ, lại xuất hiện bóng người. Dáng người gầy, chiếc nón cũ , bộ đồ vải hoa bạc màu. Mái tóc cắt ngắn, lòa xòa. Cái màu trắng lẻ loi, thấp thoáng giữa ngọn sóng trùng ngộp của đám lá liễu và cái lô cốt già nua đứng nơi đỉnh dốc đem đến những suy tưởng không còn giá trị với thực tại. Nếu cái hình ảnh này xuất hiện khoảng chục năm về trước, chắc cuộc chiến đã xoay theo một chiều hướng khác. Và những gã đang rình rập chực để giết nhau ở cả hai bên , hẳn đã phải buông súng để ngắm nhìn và tư lự, tự hỏi về cái điều mà mình đang dấn thân vào….. Cái hình ảnh lãng mạn quá, hòa bình quá!
Nhưng trong một kết cuộc phân định và sau gần chục năm, một khoảng thời gian đủ cho một thế hệ như bọn con nít chúng tôi trưởng thành, đứng chiêm nghiệm một tác phẩm như khát vọng những thế hệ đi trước như buộc phải đứng một tòa án mà lương tâm bị chất vấn liên tục, sự hối phẩn thổi bùng, một dư vị chua chát bao trùm và đối đầu với một nghịch lý dường như không có câu trả lời.
Tôi không đủ can đảm đứng nhìn cái hình ảnh ấy thêm lần nào nữa. Tôi thở dài, ngao ngán quay đi…..

Nàng hơn tôi khoảng tám tuổi. Tầm hai lăm, hai sáu. Vào khoảng tuổi đó, lúc chiến tranh chấm dứt nàng cũng tầm mười tám. Lấy chồng sớm. Chồng nàng, tay thương phế binh cụt một giò, mỗi tối , vẫn đứng gác bên ngoài. Nghe nói đâu trước đây, trung úy, biệt động quân thì phải. Hai vợ chồng quê gốc đâu miệt ngoài, trôi dạt theo con sóng tản cư và tấp vào đây, cuối cái xóm đạo này. Không thấy con cái gì cả. Chẳng gốc, chẳng gác. Chẳng có mối quan hệ anh Bảy, Chị Tám nào,,,, Cái áo cũ rũ một cái còn ra cái này cái nọ. Không con chí, con rận, cũng còn hơi người….Đây tuyệt nhiên không có gì.
_ Con nhỏ thiệt gặp trúng thằng chồng khốn nạn! Trong phút nghỉ tay, một thằng nào đó trong nhóm, buột miệng. Gặp như tao, tao giết mẹ thằng chồng cho rồi.
Thằng Chương cười ruồi, ngâm nga”_ Ở đời người ta lấy đĩ làm vợ, ai lấy vợ cho vợ làm đĩ …
Những cái đầu đâm ra nghĩ ngợi….
Đến lượt anh Tư, lãnh tụ của cả nhóm:
_ Vậy người ta sống bằng cái gì tụi mầy. Tụi mầy còn tay, còn chân, còn kiếm được công ăn việc làm. Gia đình nó như vậy , thằng chồng thương phế binh cụt què, con vợ bệnh hoạn….Lần sau có đi, tránh giùm chỗ đó ra! Má… mà nghĩ cũng khốn nạn….
Tự dưng, tôi lại nghĩ về gia đình tôi. Cũng như những gia đình miền nam ở những năm đầu 80. Sự khó khăn về cái ăn , cái mặc bắt đầu lần mò vào từng ngôi nhà, vơ vét chút mảnh tài sản cuối cùng mà gia đình còn có được. Cái xe Honda là cái tài sản cuối cùng của cả nhà vừa mới được bán hôm qua. Cái nhà gần như trống hoác, công cuộc vô sản hóa đã thành công , …. Tôi cám thấy ân hận trong cuộc tranh cãi quá đà với ba tôi về đề tài đồ Mỹ tốt hơn hay đồ Liên Xô tốt hơn. Ba tôi cứ khăng khăng là đồ Mỹ tốt nhất, nhưng khi tôi vặn lại, tốt vậy tại sao thua, thì ông không trả lời được…Câu chuyện đã đến chỗ gay gắt, đến nỗi ông tức mình, quát tôi _ “ Đồ mất dạy!”…Sáng nay ông không nhìn mặt tôi, khi tôi đi làm. Nhưng khi thấy ông lầm lũi , vác cái cuốc ra miếng đất trồng khoai mì trước nhà, tôi mới thấy hối lỗi…Ông như một người thua cuộc, Không hẳn thua cuộc do một cuộc chiến, ông đã đóng góp gần nữa đời người, mà cuộc sống hiện tại còn truất phế những đặc quyền của một người đàn ông gia trưởng, chặt đứt sự ăn sâu của một nền giáo dục phong kiến kéo dài…Lòng tự trọng đã giết ông một phần , phần còn lại là do những thứ trước đây tưởng chừng vụn vặt như miếng cơm, manh áo nay biến thành những thứ quá căn bản, mà sự chu cấp của ông gần như bất lực , với 5 miệng ăn. Vị thế của ông trong gia đình đã biến mất, và được thay bằng hình ảnh của người phụ nữ, má tôi. Một thể chế mẫu hệ lên ngôi, ít nhất là trong từng gia đình nhỏ, ở miền nam, thời hậu chiến. Những người đàn bà tiếp quản vai trò của người đàn ông, giờ trong vị trí yếm thế, một cách bản năng và khá độc đoán…
Nhưng trong thực tế, khi nhìn hình ảnh của những bà chỉ thạo nội trợ, những phu nhân quần là, áo lượt ngày trước …giờ phải tất bật chạy tới, chạy lui khuân từng bao hàng, né bọn quản lý thị trường rượt chạy như vịt hoặc cặp kè cái túi xách, miệng liên tục hỏi những anh lính đi K mới về.”_ Có gì bán không anh?” kiếm từng đồng bạc về nuôi đàn con nheo nhóc và ông chồng hoặc đang cải tạo hoặc vất va, vất vưởng không công ăn việc làm… Dưới cái nắng ngập ngụa, những giọt mồ hôi ròng ròng, thân hình tơ tướp bị nhồi lên, nhồi xuống từ chuyến xe lửa đông nghẹt ….cũng gợi lên một xúc cảm và một thứ tình cảm để bấu víu, cái dành những người mẹ, người chị…..Cố nhiên kéo theo cùng với nó cũng có khá nhiều bi kịch và đổ vỡ…..

…. Tôi lôi hắn dậy bằng một tay, tay kia quai ra sau, chuẩn bị cho một cú đấm nữa. Đôi mắt hắn đã lạc đi, miệng méo xệch…Một người nào đó giằng tay tôi ra “ _ Mày đánh chết nó sao mậy?” . Tôi dúi hắn chúi luôn vào một bụi cây. Cây nạng gỗ theo quán tính văng vào con mương gần đó. Tiếng mấy người đàn bà lao xao “ _ Coi con nhỏ có bị sao không?”; “ _ Thằng ác nhơn, nó đập con nhỏ quá trời!” Đám người túm tụm lại xem càng lúc càng đông…. Tôi quay qua tìm nàng. Nàng ngồi thu lu trong bụi, nhỏ thó như con thú bị thương. Đôi mắt dáo dác, hoảng loạn, Khuôn mặt đầy những vết sưng vù, tím bầm. Tôi đưa tay kéo nàng ra ngoài, nhưng vừa chực đứng dậy, nàng đã khuỵu xuống. Khuôn mặt nhăn nhó vì đau. Chắc cái chân bị sao rồi! “ Kiếm chiếc xich lô đưa đi bệnh viện đi.” Một người nào đó nói. _” Ở ngoài xóm…” Tôi bế xốc nàng lên. Người nàng gọn bân và nhẹ tênh. Mắt nhắm nghiền. Những sợi tóc lòa xòa bết lại trên trán. Mùi dầu khuynh diệp phảng phất và sự tiếp xúc da thịt, thứ mà tôi cảm nhận được suốt quãng đường là một làn da lạnh ngắt….làn da của một cái chết tự đâu lâu lắm rồi!…..
Tôi quay trở lại tìm hắn. Khó mà nói, tôi cảm thấy căm hận hắn như thế nào. Tôi nhặt lấy một khúc cây ven đường, nhưng rồi lại quẳng nó đi. Tôi nghĩ tự tôi có thể giết được hắn với đôi tay trần thế này. Bàn tay tôi bóp chặt lại, gồng cứng trong hai nắm đấm với tất cả sức trẻ và tôi tưởng tượng ra cái cổ họng dài ngoẵng, nhớp nhúa của hắn, nằm gọn trong ấy. Cả cặp mắt hắn lồi ra, trắng dã, trợn ngược…
Đám đông đã tản. Chiếc xe đạp cà tàng ai đó đã tử tế dựng lại bên vệ đường, cùng cái chân gỗ chõng chơ gác bên trên. Tôi đưa mắt tìm hắn và đỗi lâu mới tìm ra. Tôi đi về phía hắn, những bước chân chắc nịch. Hắn ngồi đó, rũ xuống trên mố cây cầu, mặt quay về cánh đồng lác. Trông già xọm và yếu đuối. Tôi nắm cổ áo hắn , rít lên_ “ Đ, má , sao loại như mày khốn nạn dữ vậy mày?” Hắn không phản ứng gì, Cái áo rằn ri trật xuống một bên, để lộ nửa tấm lưng trần, chi chít những vết sẹo to nhỏ. Khốn nạn! Tôi chưa bao giờ thấy một thân người mang đầy những thương tích như vậy. Những vết sẹo như những con rết màu đỏ thẩm, dài ngoằng, với hàng trăm cái chân, móc chặt trên sự sống mong manh là tấm da người này. Cái này chồng lên cái kia, xoắn vào nhau, rối nùi. Chúng xiết vào nhau khiến cả tấm lưng vẹo vọ, một cách khốn khổ mỗi khi có một cử động nho nhỏ nào đó. Khuôn mặt hắn đẫm nước mắt. Những giọt nước mắt liên tục trào ra, đánh thành một dòng chảy ri rỉ giữa dám bụi đất bám trên gò má, tưới đẫm cả đám râu ria xồm xoàm, đọng giọt nhiễu nhão. Hắn đang khóc. …Cái dòng chữ “ Xa quê, nhớ mẹ” xăm bằng mực tàu, đập vào mắt tôi, khi hắn đưa mu bàn tay lên chùi nước mắt.
Khó mà nói được cảm xúc trong tôi thế nào. Một sự trống rỗng đến lạ lùng! Sự căm hận mới bùng phát lúc nãy, bỗng tan biến. Tôi bước đến ngồi xuống bên hắn. Chỉ thấy một sự đồng cảm dâng ngập, làm sống mũi cay cay…. Mặc hắn cứ khóc, tôi ngồi đó đăm mắt vào bức màn sẫm của hoàng hôn đang phủ xuống. Phía ấy, những con sóng của cánh đồng lác bạt ngàn cái này nối tiếp cái kia, xuất hiện, ruổi nhau chạy như không dứt và rồi tan vỡ . Ở những thế hệ khác nhau nhưng chừng như chúng tôi cùng mệt mỏi như nhau và không mong tìm kiếm cái gì hơn….

Bẵng đi một thời gian, câu chuyện cũng bị quên lãng. Thỉnh thoảng tôi vẫn thấy gã thương phế binh chở nàng đi về trên chiếc xe đạp cà tàng, nhưng tôi luôn tránh mặt. Những câu mẫu chuyện với bọn thanh niên trong tổ, mỗi lúc liên quan đến hai con người ấy, đều bị tôi phá bĩnh hoặc tìm cách lái câu chuyện sang hướng khác. Có lần, tôi có vào một quán giải khát gần đó, để uống nước. Vừa kéo ghế định ngồi xuống, thì nghe mấy người đàn bà ngồi trước tán chuyện_ Một câu chuyện loáng thoáng dính dáng đến nàng…Không đợi người đàn bà nói đến câu thứ hai, tôi tức tốc bật dậy, trả luôn tiền nước, bước ra ngoài với vẻ hằn học, mà con nhỏ bán quán cũng sững người, ngạc nhiên…Tôi có cảm giác như đang chạy trốn một cái gì .
Hắn đi phía trước tôi và tôi nhận ra ngay . Không quá xa để không thể không thấy cái tấm lưng xiêu vẹo, cái áo trận lệch hẳn một bên về phía cái chân còn lành lặn và cũng gần đủ để nghe tiếng gãy khúc cộc cộc của cái pédal , khi nó bắt đầu mất dần lực nhấn và chuyển sang nửa cung tròn của quán tính. Tôi định bụng giữ nguyên khoảng cách, hết quãng đường này, đến chỗ cái lô cốt, là ai đi đường nấy. Những con tính đơn giản nảy sẵn trong đầu!
….Nhưng tôi đối diện với hắn. Gần đến nỗi hai khuôn mặt gần chạm vào nhau. Hoặc hắn đã đợi tôi trước vì tôi thấy khuôn mặt hắn ráo hoảnh, đôi mắt tự tin đến lạ lùng. Tôi bối rối và cũng không ngờ một thân thể tàn tật như hắn lại làm một góc cua 180 độ trên chiếc xe đạp một cách khéo léo và xuất hiện đột ngột trước mặt như một con ma. Thoáng tái người đi qua khá nhanh, tôi ghìm cái cơ thể cứng ngắc của gã bốc vác trong sự chờ đợi.
_ Qua cám ơn em! Hắn chỉ nói độc mỗi câu, rồi quay xe đi.
Ơn trời tôi chỉ cần câu nói đơn giản như vậy…
….
Bận sau này, tôi không còn gặp hắn và nàng . Người ta bảo hắn đã vượt biên hay đi Mỹ trong diện HO rồi. Thời gian đi qua, bọn thanh niên trong tổ chẳng còn ai nhớ đến chuyện ấy. Anh Tư cưới vợ, đi làm chỗ khác. Thằng Thắng đi Mỹ diện con lai. Hôm chia tay nó nhắc đến chuyện “ Con đĩ”, nhưng chẳng có đứa nào còn hào hứng. Còn tôi, thỉnh thoảng một mình trong ánh nhập nhoạng của hoàng hôn, đối diện với cánh đồng lác bạt ngàn tôi lại nhớ đến nàng và gã. Cầu mong cho gia đình họ ở một phương trời nào đó, có một cuộc sống an vui, sung túc và lãng quên đi quá khứ …hoặc mạnh mẽ dẫm lên nó, để sống, như hành động mà gã đã làm trong lần sau này gặp tôi.
Ở một nút giao nghiệt ngã, nơi người ta gọi là hoàn cảnh, tại một thời điểm nhất định có những số phận được chặt vào nhau một cách ngẫu nghiên dưới những tác động cũng hoàn toàn ngẫu nhiên và khi bước qua thời điểm đó, đôi lúc cái hệ quả duy nhất ta có chỉ là cái nhìn chín chắn hơn về những thứ đã xảy ra. Có thể, nàng đã biến tôi thành một người đàn ông, trên quan điểm ấy!

NhaTrang, 25 tháng 5 năm 2016
VŨ KHUÊ

Thập tự chinh

vukhue

(Viết cho những số phận di trú quanh vành đai Sài gòn trong thời đại công nghệ hóa)

Nhân loại thập tự chinh trên đường chiếm hữu hạnh phúc.
Charles Chaplin

Trong đoàn quân rầm rập bước đi có ạnh, nàng và những người bạn đồng hành…
Buổi sáng.Thời đại này luôn bắt đầu bằng những buổi sáng như vậy. Chính xác và dung sai lẩn quẩn không đến con số 10 sau dấu phẩy của giờ.
5h30AM. Cái đồng hồ báo thức kêu inh ỏi. Anh choàng dậy. Phía trong cái cô nhân viên pha hóa chất cho một Cty Nhật Bản _ vốn sản xuất dây đồng ,vẫn còn bất động, nát nhàu, sau một đêm vận động hết mình cho chuyến hành trình tìm về bản năng sinh vật. Mấy sợi tóc bết lại trên vầng trán cao. Cặp vú nhọn hoắt, xô về một bên, thõng thượt trong cái dáng nằm. Trên cái vũng bụng phẳng , một con ruồi lạc lõng như con quái vật nhỏ bé còn sót lại của thời tiền sử đang chạy lên, chạy xuống khoái trá hút lấy cái chất dịch trăng trắng đọng vũng, trước khi nó biến thái thành những thứ giống những mẫu vụn của chiếc túi nylon nham nhở, ram ráp…
6h 00AM. Hiếm khi nào còn thấy được bầu trời trên đỉnh đầu là một thực thể của tự nhiên với màu xanh trong trẻo. Nó luôn hiện diện như một tấm màn nhăn nhúm với thứ nước màu cũ xì của một tay họa sĩ tồi, thuộc trường phái ấn tượng . Trông tệ hơn nhiều với những tấm biển quảng cáo tả thực treo bên ngoài.
Cửa sổ của căn phòng nhỏ dưới tấm bản quảng cáo đã mở. Gã nhà văn đã làm việc từ sớm. Gã đưa cây bút lên miệng cắn cắn, đôi mắt thẫn ra như phê thuốc, sau đó cúi xuống, cắm đầu ngoáy lia , ngoáy lịa trên tập giấy trước mặt. Động tác của gã lặp đi, lặp lại trông từ xa như con lật đật bằng gỗ được bày bán ngoài quầy đồ chơi trẻ con. Dưới sân , cặp vợ chồng anh Sáu Hủ tiếu đang chuẩn bị đồ để bán hàng ăn sáng. Trái ngược với cái dáng rề rề mất sinh khí của anh, chị vợ to béo có vẻ linh lợi hơn nhiều. Cái mồm luôn phát ra những tiếng càu nhàu đi đôi với tay chân khua khoắng liên tục. Lúc cái nắp vung, lúc cái vá …Cái mông thô lỗ xỉa xói vào mắt _ mỗi lúc khối thịt đó cúi lên, cúi xuống. Bên kia , gã cò nhà đất đang làm mấy động tác thể dục. Cái bụng phục phịch, hai tay chống nạng ; gã quay tới, quay lui nhưng đôi mắt lại bị kéo về một phía. Nơi có bãi đất hoang xa xa nằm trong diện quy hoạch của thành phố mới. Sự toan tính không nghỉ ngơi của hắn đang định vị một phi vụ đầy hứa hẹn làm hắn bật nụ cười vu vơ….
6h15 AM Tiếng nhạc cất lên phía sau, lần này từ cái di động.! Anh lật đật quay lại. Bên trong, nàng đã dậy , quơ tay tìm bộ đồ lót. Căn phòng nhỏ bỗng náo hoạt chứa đầy tiếng động cuống quýt của hai con người . Súc răng, rửa mặt, vệ sinh… Cái áo treo trên móc đã bốc mùi hôi nhưng bị át ngay bởi mấy giọt nước hoa rẻ tiền. Mấy bãi nước bọt phun phẹt phẹt , tấm vải chùi chân lăn đi lăn lại mấy vòng khiến đôi giày bám bụi trở nên sáng bóng, cao thượng…
6h30 AM . Anh xuất hiện nơi cửa với bộ đồ chỉnh tề. Nàng cũng vậy. Chỉn chiu với cái váy ngắn, áo semi ….Tươi tắn trong nụ cười của con búp bê. Nụ cười thời đại mang nhiều ý nghĩa, để người đối diện có thể chọn lấy một và cho đó là cái dành riêng cho mình .Anh lấy phần của mình và nhận một nụ hôn của son phấn, ma mị. Mùi khói xăng của chiếc xe Wave như phả vào mặt….
6h45 AM chiếc xe tay ga của gã cò đất cũng rời khỏi nhà, khi anh còn ngoạm miếng cuối cùng của ổ bánh mì. Khi lướt ngang qua anh gã còn nhả một nụ cười….
Con Dream khốn hôm nay lại dở chứng. Phải mất bốn ,năm bận mới chịu nổ máy . Khi phóng đi, anh còn thấy gã nhà văn đứng tựa cửa lơ đễnh ngó qua. Ngoài hẻm ồn ả tiếng cãi vã của chị Sáu hủ tiếu và người đàn bà mua đồ. Một chuyện nho nhỏ. Thối lộn tờ mười ngàn….
6h45 đến 7h30 AM,dòng chảy của xe cộ ồ ạt trên đường . Không thấy người. Chỉ là những hình nhân dửng dưng, mặt mày trùm kín. Vô thức trong tín hiệu xanh đỏ được lập trình sẵn của ngọn đèn giao thông. Vòng qua mọi trở ngại, hộc tốc. Nhân loại trên đường thập tự chinh để chiếm hữu hạnh phúc, kể cả những kẻ muộn màng….

*****
Chân dung và lời huấn thị
Thường vào buổi tối , sau bữa cơm con người mới có thời gian ngồi xâu chuỗi những sự kiện xảy ra chung quanh mình. Nàng chưa về. Nàng còn đi học thêm tới khuya. Mâm cơm đã nguội và cũng độc một người….
Anh là một kẻ muộn màng. Một sự muộn màng mang tính thời cuộc. Ba bảy, ba tám tuổi mới lấy được tấm bằng đại học để kiếm một công việc tàm tạm ổn định. Nhưng nhìn lại, anh lại thấy ngậm ngùi cho bao đứa bạn bè khác cùng lứa đã phải nằm lại dọc đường với đủ mọi công việc vất vưởng mưu sinh . Vào những năm ấy một lý lịch đen tối của gia đình là người cha , người anh sĩ quan chế độ cũ như anh . Cánh cổng tối đã đóng kín đường vào tương lai của một thế hệ. Nhưng sai lầm trong định kiến của một thể chế là đâu thể bắt dòng chảy của tạo hóa ngưng lại. Dòng thời gian vẫn trôi. Con người vẫn trưởng thành theo từng cột mốc sẵn có trong bản năng sống của sinh vật. Rồi một gia đình vợ con nheo nhóc sẽ trói chặt trách nhiệm của một người chồng, người cha vào nồi bánh phở của chiếc xe hủ tiếu gõ, hoặc vòng quay lờ đờ của gã xích lô thở khói chờ khách,… triệt buộc, chôn vùi những giấc mơ. Với gánh nặng cuộc sống, một ngày nào đó thân phận ấy gục xuống, tan rã…. Ai còn biết đến những giấc mơ ?..Bước chân hành tiến của một dân tộc từ thời đại này chuyển qua một thời đại khác , lực ly tâm qua bước ngoặt, làm rơi rớt bao số phận vô tội dọc đường.
Anh cũng vậy. Một gia đình có ông anh cấp úy phi công, tỵ nạn bên Mỹ năm 75. Cánh cổng tương lai đã đóng. Nghĩa vụ quân sự chê vì sức khỏe A3. Lăng nhăng đủ thứ nghề kiếm sống. Thợ đóng ghe, cầu đường, xích lô, đứng máy dệt….Việc học hành như đóng băng lại trong một thời gian dài. Thậm chí anh không biết việc lý lịch trong học đường được cởi trói từ lúc nào. Bọn bạn bè dần đã bỏ cuộc chơi, riêng anh vẫn lầm lũi … Rồi một ngày, anh tình cờ đi ngang một trung tâm luyện thi.Một trường đại học đang chiêu sinh một khoá tại chức. Anh tò mò đứng xem. Năm năm học. Năm năm dài đâu phải dễ dàng cho một kẻ vừa kiếm tiền nuôi miệng, vừa phải đi học để kiếm mớ kiến thức. Còn học phí, còn phải sắp xếp thời gian để đến lớp trong khi vẫn đi làm. Những con toán vớ vẩn khiến cái đầu trở nên mờ mịt, dễ dàng đánh gục kẻ chưa có gia đình, huống hồ những gã lóc nhóc vợ con với cuộc mưu sinh bữa đói,bữa no… Thủ tục hành chính khá đơn giản, lý lịch không săm soi nhưng phải thi đầu vào. Kiến thức gần hai mươi năm rớt tất tật, nằm đâu đâu ở những địa danh không tên, xa lạ; ở những công việc tạm bợ mang tính bào mòn …. Những phương trình bậc hai, những đồ thị, những công thức hóa chất… nhìn thật ngớ ngẩn. Để sắp xếp nó một cách logic trong cái đầu u nần những khối cơ thật khó . Nhưng không lẽ cứ lang bạt như thế này!Và anh quyết định _ ngày làm quần quật, tối đi ôn thi…
Kỳ thi đó anh đậu, nhưng do không đủ người nên trường không mở lớp . Tức đến phát khóc.Tất cả công cốc. Đù má! Đừng trêu ngươi nữa nghe định mệnh!…Con nhỏ bán càphê như trố mắt trước vẻ điên khùng của gã phụ hồ đã trọng tuổi.
Hai năm nữa trôi qua , với mấy trường đại học. Cái không phù hợp với thời gian, cái lúc rơi vào giai đoạn túng quẫn, túi không có một đồng cắc…Cho đến một ngày, anh nhận được cái giấy báo đậu. Niềm vui sau khoảng khắc ngắn ngủi lại đi đôi với những lo toan mới xuất hiện trước mặt… và nó cũng là sự lý giải cho cái vấn đề lớp học 120 người ban đầu nhưng sau khi tốt nghiệp chỉ còn 20 mạng.
Cầm tấm bằng tốt nghiệp trên tay, chưa thấy niềm vui, đã phải đối mặt với những định kiến mới ban ra .Cơ quan , xí nghiệp nhà nước chỉ tuyển dụng đại học chính quy và dưới 30 tuổi. Bọn con ông cháu cha khỏi bàn. Bọn trẻ trẻ bỏ qua. Nó còn khối thời gian trước mặt, chờ đợi những sự thay đổi. Đám cán bộ Cty đưa đi học đã yên vị với cái ghế đã sắp sẵn của nó. Chỉ mấy thằng đứng tuổi không nơi nương tựa đứng nhìn nhau , tiền nong cạn kiệt, tương lai mù hơn đít chị Dậu, chẳng biết số phận ra sao?
Rồi lại chia tay sau ly cà phê , mỗi thằng một con đường lại phải kiếm sống. Anh vô miền Nam . Lúc ngược lên Bình Dương, lúc quay về Sài Gòn theo chân mấy Cty nước ngoài đầu tư. Cuối cùng thì dừng chân nơi đây. Bọn nước ngoài đầu óc khá thoáng, chẳng quan tâm đến lý lịch, tuổi tác, bằng cấp chính quy hay tại chức . Mèo trắng cũng như mèo đen, miễn là bắt được chuột. Trong Cty cũng đủ thằng Philipin, Mã lai , da đen, da đỏ _ cũng dân đi làm thuê kiếm sống đó sao. Bọn Việt cũng nhiều thành phần nhưng đa phần trẻ. Có thể bọn trẻ sau này nhiều cơ hội học hành hơn và cũng có thể bọn già già đã có chỗ ngồi chắc chắn trong những cơ quan nhà nước, không dám thử vận.
Trong công việc, nhiều lúc anh cũng vấp phải cái nhìn ái ngại của thằng xếp tuổi vốn đàn em, hay ánh mắt khinh khi của những thằng đồng đồng nghiệp nhỏ hơn anh đến hai con giáp, anh cũng cảm thấy có một thứ mặc cảm. Nhưng nói ra với ai và phân trần điều gì. Bởi thế hệ họ có thể không biết những điều đã lẫn trong bóng tối, nằm sâu trong dĩ vãng của một đất nước hoặc dường như họ đã quên, hoặc cũng không cần quan tâm. Những kẻ sống, còn sống. Những kẻ chết, họ đã chết!… Gần bốn mươi tuổi anh học cách nhìn cuộc sống của bọn nó. Thực dụng và biết quên những thứ không cần thiết. Không quá khứ . chỉ thực tại và tương lai. Không lan man vào những vấn đề mơ hồ, tránh nó càng xa như có thể và cố gắng kiếm tiền để sống . Chính bọn trẻ đang làm một cuộc cách mạng về ý thức, thực tế hơn nhiều những điều họ được dạy và cả một đống quá khứ u tối của anh….

******
Cuộc sống vốn dĩ không công bằng và ta phải biết chấp nhận nó để tiếp tục tồn tại.

Và đó dường như là sự an ủi chung của hàng vạn con người trong đoàn quân thập tự. Nhũng con người với cuộc trường chinh hàng ngàn cây số từ khắp nơi trên đất nước đổ về đây_ nơi tập trung những khu công nghiệp mọc lên quanh thành phố . Đủ các tầng lớp, mọi hạng người; đa phần là những người nghèo khổ, những kẻ bất hạnh, kẻ đi tìm chút cơ may. Từ anh thợ làm đồng xe đến thằng nhóc đầu nhuộm xanh đỏ mới học hết lớp 7 lớp 8 phổ thông . Từ những thiếu nữ mười tám đôi mươi thơ ngây đến những người đàn bà hai, ba lần lỡ bước. Những gã giang hồ gác kiếm đến những những người có bằng đại học…Trong đó có cả những nạn nhân bị ruồng rẫy ngay trên chính quê hương của mình, bị hắt hủi bởi chính bàn tay đồng bào của mình. không kế sinh nhai, bị triệt hạ con đường sống bởi những định kiến , buộc phải tha phương cầu thực ở mảnh đất xa lạ . Tất cả , tất cả quy tụ tại đây với một mục đích duy nhất_ Kiếm sống và mưu cầu hạnh phúc.

*****
Một ngày ám muội.
7h 00 AM đến bãi xe. Thằng bảo vệ ôm cái bụng nhăn nhó “_ Anh coi giùm em chút!” rồi phóng thẳng vô toilet , không kịp trả một tiếng.
7h010AM . cuối hành lang, gã Hàn quốc mặt non choẹt đã chực sẵn đâu xồ ra chộp lấy con mồi. Cái giọng nữa Anh, nữa Việt ngòng ngọng_ “ Mr. Nam đi ..trẽ!” Anh nở nụ cười cầu tài “ Traffic jam!”. Hắn lắc đầu chỉ tay vào phòng tổ chức bên cạnh…
7h 20AM. Anh bước ra cầm theo tờ warning.1/4 tháng lương bay mất. Ngó qua, ngó lại. Không có ai. Anh đá vô bức tường, miệng rủa bằng tiếng mẹ đẻ. “Đù má!”…..
7h30 AM Cánh cửa phòng đóng kín. Bốn bức tường xám nhạt biệt giam những kẻ hạnh phúc lẫn kẻ bất hạnh luôn ngồi ngó xuống cái mũi giày đã há mõm của mình, mặc cái màn hình vi tính đang hiện lên những dòng mã khó hiểu….

*****
Quê hương.
Cuộc sống tạm bợ. Dẫu vậy vệt xanh to bản của tàu lá chuối, hay tiếng khụt khịt ủi chuồng của lũ heo đói, mùi phân heo theo cơn gió lộng.. . Thỉnh thoảng gợi về cái từ quê hương, nguồn cội. Nghe như tiếng gọi từ đâu đó xa lắc. Một cái gì đó bỗng quặn lên trong ruột ,khiến con mắt gã xa quê đâm ra dáo dác. Gã lục lọi mọi thứ trong đầu về một hình ảnh… Gã lao vào phòng, như một thằng điên lên cơn, xới tung tất cả những tài sản mà gã có, để tìm tòi một cái gì đó. Một cái gì đó có dấu ấn… Nhưng bất lực, gã lại ra ngoài bờ cống, ngồi chồm hỗm, chăm chăm hàng giờ vào mấy tán chuối, cái chuồng heo có mấy con heo vô tri; đi qua ,đi lại. Miệng rít thuốc liên tục…Ánh mắt gã héo lại ,chua chát!
Nơi lưu trú của quân đoàn thập tự là những cái hẻm sâu hun hút, chằng chịt đường ngang , lối tắt nằm ở ngoại ô thành phố. Bên hông những khu công nghiệp lớn. Nơi đang là sự đấu tranh không khoan hượng về chỗ đứng giữa những ống khói nhà máy và những cánh đồng lúa còn sót lại, của sự bán hoang dã của nông thôn và xâm thực ồ ạt của con người. Nơi các chuẩn mực về đạo đức được thẩm định lại và sẵn sàng bị đào thải. Nơi đủ loại màu sắc văn hóa của các vùng miền đang bị đồng hóa, kể cả những người dân bản địa… Những con đường nhỏ như mạng lưới rối rắm, cái đã tráng nhựa, cái còn trơ màu đất đỏ quánh đổ về một nơi Nơi tập trung các nhà máy, xưởng may, xí nghiệp làm đồ điện tử. Những con đường tím dại đầy cây mắc cỡ nhưng cũng đẫy những đống rác túi ny lon xanh đỏ. Cái cống nước chảy đen sì do nước thải sinh hoạt dưới tán xanh rậm rì của lá khoai môn. Đâu đâu ta cũng thấy những dãy nhà cùng chung một kiểu, gần giống như doanh trại quân đội. Những dãy nhà được xây ngang 4, dài 6 đến 8 m , trên có cái gác lửng bằng gỗ. Thường hai dãy , mỗi dãy khoảng 10 đến 20 phòng , châu đầu vào nhau. Giữa là cái hành lang tráng xi măng để hưởng ánh mặt trời , dùng làm nơi để xe, phơi đồ. Nằm sau hành lang là bức tường. Và chỉ độc một cánh cổng để người chủ phòng trọ dễ kiểm soát những kẻ lạ mặt xâm nhập. Phía bên kia bức tường , nằm cuối khu nhà thường là khoảng trống có thể nhìn thấy ruộng lúa hoặc những khoảng đất người ta đang lấp sang nền. Chủ của những dãy nhà trọ cũng là những người dân địa phương.
Những người dân địa phương giờ trở thành lực lượng hậu cần đông đảo cho đội quân thập tự này. Những cái chợ nho nhỏ mọc lên , chen chúc những hàng quán cung cấp thực phẩm, quần áo, những thứ hầm bà lằng cho nhu cầu cuộc sống. Mang những đặc tính tương tác có lợi, đội quân viễn xứ đã đem lại một nguồn thu nhập khá đáng kể trong sự chuyển mình cho xứ sở bản địa ,đồng thời cũng mang lại cái nhìn mới cho những người nông dân không còn ruộng đất, trước đây vốn già nẫu với thửa ruộng và con trâu….
Tùy theo mức độ thu nhập của chủ nhân , những căn phòng trọ cũng mang những số phận khác nhau. Nhưng người ta cũng cố hết mức để tạo cho nó được khoác một vẻ nào đó tối ưu nhất của không gian sống. Cho dù nó trống hoác đến nỗi con chuột đồng bên ngoài chạy lộn vào phòng dễ bị dính một nhát dép chết tươi hay ngổn ngang những vật dụng gia đình . Ta cũng dễ dàng nhận thấy một sắc thái riêng của một vùng miền nào đó trên đất nước chữ S này. Kể cả người đàn ông quê từ Cà Mau lên làm vệ sĩ thuê cho một công ty nào đó hay mấy cô thiếu nữ thợ may gốc đâu tận Thanh Hóa , Nghệ An. Trong lời giới thiệu dù ngập ngừng, ngượng miệng, họ vẫn cho ta liên tưởng tới một căn nhà (cho rằng thực chất đó chỉ là phòng trọ). Quê hương với họ cũng có thể một câu cải lương đặc sệt giọng Nam bộ, hoặc một bài ca bài chòi xứ nẫu đột ngột cất lên từ một căn phòng giũa trưa để ru hời những đứa trẻ. là cái khái niệm mơ hồ của hàng người sau giờ cơm tối hay trước lúc đi ngủ thường thơ thẩn như người mất hồn trước cái đường luồng , mắt vọng về một nơi, miệng lẩm bẩm điều gì đó mà chỉ bản thân người đó mới hiểu. Về phía Bắc, phía Nam, phía Đông, phía Tây… đủ cả.
Và trên mảnh đất chứa chấp những mảnh đời trôi dạt, nơi những người lính thập tự chấp nhận là quê hương thứ hai ấy, thu gọn trên cái nền xi măng của căn phòng nhỏ nhoi đó là nơi họ ăn, ngủ, làm tình… nhớ lại và lãng quên, sau một ngày vất vả với chuyện mưu sinh.

*****

Hạnh phúc nhỏ nhoi.
Nàng dân Quỳnh Lưu, Nghệ An. Gia đình nàng có đến chín người con. Nàng áp út.Trước đây có học một trường trung cấp hóa trên huyện. Ông bố và bà mẹ làm nông.Vài cú gõ bàn phím trên máy vi tính. Anh có thể truy cập tới cái làng và cả căn nhà nơi sinh của nàng trên Google map. Nhưng để tìm về quá khứ của một con người bằng cái phương tiện ấy là điều không thể…
Ngoài ba mươi tuổi, cũng như anh ,nàng không mang theo quá khứ đến đây! Một thứ cây lông chông lăn tròn trên đồi cát, trong hành trình vô định kiếm tìm, quãng đường đã qua cũng dăng dẵng bằng quãng đường trước mặt và cũng khó ai ôm hết một lúc cả hai khái niệm.Thỉnh thoảng có bị hỏi vặn, nàng cũng thổ lộ với anh một vài điều, nhưng thực chất đó chỉ là những nét vẽ bằng bột màu trên nền tối của một bức tranh. Sau vài cơn mưa , nó sẽ biến mất. Anh luôn biết như vậy.
… Nhưng ở thực tại, ta đòi hỏi gì hơn khi có một người đàn bà bên cạnh biết yêu thương ta, biết lo cho ta từng bữa cơm, giặt cho ta từng bộ quần áo,chăm sóc ta lúc ta đau bệnh, an ủi ta những lúc cuộc sống gặp khó khăn, tâm sự với ta về những bí ẩn của nữa bên kia của một thế giới, mà khi sinh thành tạo hóa đã phân định rạch ròi….Nàng như một tấm gương phản ánh những tâm trạng của cuộc đời, khi anh soi mình vào đó và nhận ra mình _ Biết cười khi cảm nhận niềm hạnh phúc, biết lặng người trước những nỗi đau đồng loại , biết khóc khi nhận ra ta méo mó, sứt mẻ, đã vỡ trong khuôn diện một hình nhân…
Cách đây vài tháng nàng hiện diện trong cuộc sống của anh như định mệnh….
Đêm! Những đêm hoang trãi. Đêm trãi tấm chăn đầy đủ và trọn vẹn lên nơi trú chân của đoàn quân thập tự. Sự hoàn hảo nhất trong những điều có thể có đối với những số phận thiếu thốn. Sự vắng lặng đến nỗi có thể nghe thấy tiếng sột soạt của những tàu lá chuối đầu đường, tiếng giày vội rảo bước, tiếng động cơ xe máy rú lên ngoài lộ xa xăm rồi tan dần.. Những cơn gió nhẹ thỉnh thoảng lượn qua lượn lại trên những mái nhà tôn lụp xụp như mang sứ mạng của nhân loại gõ động vào bản năng u tối của con người. Những cánh cửa địa ngục mở toang, lũ quỷ dục vọng dị hình nhốn nháo tìm về những linh hồn khát ruỗng, bị đày đọa , cỗi cằn nhất làm nơi nương náu. Lũ quỷ vẫn biết đêm không dài…Những âm thanh khe khẽ của sự hổn hển, rên rỉ bắt đầu vang lên. Từ phòng bên cạnh của gã thợ mộc xứ bắc, đến phòng kế tiếp của con bé thợ may dân Bến Tre mới lấy chồng. Như những cung nhạc trầm của một bản hòa tấu. Ẩn giấu một sức mạnh câm lặng, đầy nội lực. Nhưng đồng thời cũng là sự ghìm nén , như sợ sự nút vỡ từ bóng đêm mong manh. Từ phòng này qua phòng khác xuyên qua lớp tường gạch,nghe rõ mồm một. Những âm thanh háo hức chạy suốt khu nhà, quện lại trong rối rắm, cuốn thành nùi ở con đường luồng, trước khi thoát ra thăng hoa, đọng lại thành những dãi màu trắng nhợt nhạt như sương mù ,dăng mắc ở những cây ăng ten hay sợi dây điện thoại, chờ đợi đủ độ chín mùi, trĩu xuống… rơi sóng soài thành những tiếng thở dài sườn sượt.
Và có anh. Thân người anh cũng bị cuốn đi trong những cơn sóng ngầm đang cuộn lên, vỗ dồn dập vào thân cát trắng nhờ bên dưới cho đến khi kiệt sức, bục vỡ. Những khoảng khắc khiến anh quên đi tiếng tích tắc của cây kim giây trên chiếc đồng hồ, thứ công cụ tra tấn khắc nghiệt nhất mà thời đại công nghệ áp đặt lên số phận con người, nỗi nhọc nhoài của một ngày vật vờ, tan biến…chỉ biết bị hút đi, hút mãi vào cái hố đen sâu thẳm của vũ trụ, không gian bốn bề u tối và nơi đó không có mặt của thời gian….Trước khi rũ xuống , anh nhận thấy khuôn mặt nàng như mỉn cười. Nụ cười bao hàm trong sự âu yếm. Đi cùng với nó, một thứ nhận thức đau đớn từ tư duy chợt trở về, là hình ảnh của hai thân phận đang công kênh , cùng rướn lên, vươn tới…để chỉ mỗi người phía trên là chạm được bàn tay vào hạnh phúc… Ý nghĩ ấy, thôi thúc môi anh tìm lấy môi nàng và khẽ khàng đặt lên đó một sự tri ân….

******
Kẻ bỏ cuộc.
Hắn đã chết. Cái gã cò nhà ở căn phòng chênh chếch đối diện. Mới tuần trước hắn còn nói với anh về miếng đất bán rẻ dưới khu công nghiệp Sóng thần, nhưng anh lắc đầu, bảo không có tiền. Cách đây mấy hôm, lại có một nhóm dao búa đến tìm gã để đòi nợ nhưng hắn trốn đâu mất, chỉ còn chị vợ và hai đứa con gái ở nhà. Sau khi đập phá mấy cái nồi niêu, xoong chảo, đám đầu gấu ra đi, còn dọa sẽ quay lại tìm. Hắn làm ăn thua lỗ, nợ người ta một món tiền lớn.
Mới sáng nghe tay thợ mộc nhà bên bảo hắn tự tử bằng thuốc rầy hồi đêm, lúc vợ con ngủ hết. Trước khi đi, hắn có để lại một lá thư… Trong phòng bên này, anh có thể nghe được tiếng khóc than của chị vợ và hai đứa nhỏ.Thật xót lòng. Trước khi đi làm, nàng có đưa anh cái phong bì, bảo đưa cho vợ hắn. Anh gọi điện xin nghỉ một ngày, lo việc ma chay cho người đồng hành xấu số.
Căn phòng nhỏ nồng mùi thuốc sâu mà khói nhang không khỏa lấp được. Người đàn bà và hai đứa nhỏ vật vã trước cái xác câm lặng mà mới hôm qua nó còn gọi là ba. Hắn nằm trên chiếc chiếu để giữa nhà, vẻ thanh thản. Đầu tóc thẳng thớm. Vẫn mặc bộ đồ thường thấy khi đi qua nhà với cái áo semi dài tay sọc xám và quần dài màu đen. Đôi tay chắp lại để trước bụng. Dường như hắn chuẩn bị kỹ cho mình trước khi đi. Đôi môi mím lại làm hàm râu trên như chảy sệ xuống. Đôi mắt ai đó vuốt chưa kỹ, hé lộ một ít lòng đen như sự nuối tiếc về một ước mơ dang dỡ…
Do căn phòng trọ quá bé, nên mọi việc hậu sự đều phải làm ngoài con đường luồng. Hàng xóm quyên góp mỗi người một ít. Đám thanh niên người một tay, một chân lo việc tẩm liệm. Chiều đó anh theo gia đình hắn đưa cái quan tài đi hỏa táng theo ước nguyện cuối cùng của hắn . Cùng đi có gã nhà văn…
Cái chết của hắn làm dãy nhà trọ xôn xao những lời bàn tán. Người bảo hắn quá tham, người bảo hắn dại, chết bỏ lại vợ con…Sau đó mấy hôm, vợ hắn dắt hai đứa nhỏ qua phòng nói lời từ biệt. Họ quay về Tuy Hòa, sống nhờ phía ngoại mấy đứa nhỏ….Căn phòng để trống một vài ngày. Sau đó lại có người thuê. Mấy cô gái quê Cao lãnh lên làm công nhân cho một Cty giày Đài Loan.
Đôi lúc nhìn qua căn phòng, anh lại nhớ tới hắn. Dù cuộc sống bên ngoài có làm thay đổi con người như thế nào, nhưng trong thâm tâm . anh vẫn biết hắn là người có lòng tự trọng. Hắn đã không trốn chạy. Hắn không chấp nhận là kẻ đào ngũ , khi vẫn có khả năng và hắn đã chọn lấy cái chết cho mình, chính tại nơi đây chứ không là quê hương… Ở mảnh đất xa lạ này! Nơi hắn đã chọn lựa cho sự trả giá và cũng chính là nơi hắn gầy dựng cho mình những ước mơ quá xa… trượt khỏi tầm với. Chỉ tội cho người đàn bà cùng hai đứa nhỏ, thân bơ vơ.
Mỗi tối anh thường ra trước nhà thắp cho hắn vài cây nhang, bụng cầu mong linh hồn hắn sớm siêu thoát. Một người lính sớm bỏ cuộc….

*****
Những người bước tiếp.
Buổi sáng, vừa dắt xe ra, anh gặp tay nhà văn giữa hẻm. Gã khoe vừa có cuốn sách sắp xuất bản. Không chú tâm lắm, anh bâng quơ “_ Vậy nó viết gì vậy anh?”. gã cười _” Viết về mọi chuyện trong xóm này.” Khi chia tay , gã còn hứa tặng anh một cuốn…
Đến đầu đường, anh dừng lại châm điếu thuốc, mắt nhìn mặt đồng hồ. 6h 45 .Ngoài kia ,dòng người ồ ạt chảy trên con lộ. Đủ mọi sắc áo, đủ mọi phương tiện . Vẫn những hình nhân trong sự dửng dưng, mặt mày trùm kín, hộc tốc xuôi ngược…
Và ta mong tìm thấy gì ở những con người này? Anh tự hỏi _Nếu ta không đặt cái nhìn sâu thẳm vào tận đáy mắt của họ, băm bổ những nhát cuốc hoăm hoắm vào tâm hồn họ…Trong một sự liên tưởng, anh nghĩ _ Chắc cuốn truyện sắp xuất bản của gã nhà văn cũng sẽ nói lên những điều như vậy.
Như một người lính tận tụy, anh cung cúc nhập vào dòng người ồn ả đổ về, bị chặn bởi lại bởi ngọn đèn giao thông. Tiếng máy xe, gầm gừ. Nôn nóng…
Nhân loại đang thập tự chinh trong sự chiếm hữu hạnh phúc!

VŨ KHUÊ

 

HẠ PHƯỢNG.

vukhue

Người thiếu phụ trong chiếc áo dài màu tím sẫm đang bước vào chợ. Trạc khoảng tứ tuần, nhưng thoạt trông, nàng có lẽ trẻ hơn. Trên khuôn mặt không trang điểm gì nhiều, vẫn toát lên một vẻ đẹp tự nhiên cho dù hơi buồn. Mái tóc dài ,óng dày, đọng lưng chừng ngang lưng. Và đôi mắt! Đôi mắt đẹp chừng như được thấy sau lớp sương thoáng phớt, áng đọng lại trong tâm thị người đối diện vẻ đẹp thánh thiện, vô phàm….
Hạ Phượng! Lẽ nào lại là nàng…. Cũng không hẳn? Nhưng đúng là nàng. Làm sao tôi có thể quên được người con gái có đôi mắt thật lạ ấy. Thời gian đã bao lâu rồi nhỉ? Lâu rồi. Đủ lâu để hoai rữa một dung ảnh, thay đổi một hình hài, dung mạo, cuộc sống của một con người như tôi. Nhưng với nàng vẫn vậy. Vẫn mái tóc này, đôi mắt ấy, vẫn hiện thân của khung ảnh hoàng hôn đầy sắc tím của mùa hạ và dư âm câu nói của nàng vẫn văng vẳng bên tai. “ Nguyên cũng đừng trách tại đâu Hạ buồn. Hạ buồn vì có nhũng buổi hoàng hôn đầy sắc tím và trong bốn mùa chừng chỉ có mùa hạ mới có điều đó !” Câu nói ấy đã gặm nhấm tâm hồn tôi suốt một quãng đời, bởi lẽ tôi chưa từng hiểu nó, ngay cả lúc tôi mất nàng.
Nhưng nàng tìm gì ở đây. Một phiên chợ chiều gần vãng….
Những bước chân vô tâm một thời đã từng là tiếng gõ nhịp con tim tôi , trên con đường dẫn đến ngôi trường tỉnh lẻ, giờ nó lại vô tình dắt những dòng hồi niệm từ chân trời xa xôi nào đó của ký ức chợt ùa về làm lòng tôi trở nên xốn xang.
Bên kia đường, những cánh phượng đỏ thẫm bị cơn gió thổi tung, va đập vào đôi mắt , tựa những đốm lửa còn cháy âm ỉ trong lò than dĩ vãng tựa đã lụi tàn.

****
Đó là một mùa hạ! Những mùa hạ luôn đến thật bất chợt, không lới báo hiệu. Đôi khi không giọng ngân nga của con ve sầu_ Gã tu sĩ thường niệm hoài để ru mùa hạ vào những cơn mê buồn nhọc nhoài. Một sớm tôi tỉnh dậy , bỗng dưng nhận thấy hàng phượng trước ngõ đã điểm sắc đỏ tự bao giờ. Hạ đến đột ngột thật! Hạ như trỗi dậy từ sự rũ tàn của mùa xuân. Thời gian chừng như thay áo, khoác màu đỏ rực của những cánh phượng dạo chơi đó đây. Đôi lúc , tôi thoáng nhận diện nàng với dáng trầm tư, trên ghế đá công viên hay trên bãi biển vắng người. Có lẽ thưở ấy, tôi là gã thiếu niên khờ khạo hay hoang tưởng. Tôi thường lang thang trên những con đường vắng, nơi có hàng phượng cỗi vươn những cánh tay sần sùi, dáng chai lì như sự thách đố với thời gian. Thân cây đứng đây, bao mùa hạ đã qua. Đã bao lần thân cây hiến tế những cánh hoa đỏ rực của mình cho cội đất, cho ánh mặt trời gắt gỏng mùa hạ, cơn gió nồm vô tình, đám học trò ngỗ nghịch bọn tôi và cả những tâm hồn mơ mộng như nàng.
… “ Em đứng lên gọi tên mùa hạ…’ Người con gái có cái giọng hơi giống Khánh Ly, có đôi mắt thật buồn trong tối văn nghệ hôm nay, đang ngồi cạnh tôi. Có lẽ nàng sẽ không gây cho tôi bất kỳ sự chú ý nào, nếu không có nhạc phẩm “ Gọi tên bốn mùa” mà nàng vừa ca. Thú thực, tôi là thằng mê nhạc Trịnh hơn mê gái. Những dòng nhạc trong điệu Slow hoặc Boston , với tôi, có lẽ dễ gần gũi hơn nhiều so với những thực thể “ Nắng sớm, mưa chiều” trời cho đó!
Nhưng bây giờ , nàng ngồi đó bên cạnh. Tà áo dài trắng. mái tóc dài che một nữa khuôn mặt. những ngón tay gầy vô tâm , xoay xoay một cánh phượng thẫm. Dưới ánh nến chập chờn, nàng như hiện lên từ một bức tranh chì tuyệt tác . hay đúng hơn , cái thực thể lặng lẽ ấy, như vừa thoát thai khỏi một dòng nhạc, đang miên man gọi nắng về của Trịnh…. Rất vô tình, tiếng trumpet đang chơi bên ngoài chợt chững lại, làm hồn người vướng giữa cõi hư thực.
“ _ Làm quen đi Nguyên. Đây Hạ Phượng!” Sau lời giới thiệu của thằng bạn. Tôi mim cười, gật đầu chào nàng. Gần như ở đầu bên kia của một khoảng không gian thật xa, nàng cũng mỉm cười gật đầu. Đôi lúc nghĩ lại, tôi có cảm tưởng âm thanh đó có mang tố chất của định mệnh thì phải. Những sợi tơ vô hình chăng bẫy hai linh hồn, sau khúc ngoặt, dẫn dụ họ về một cửa ngục.
“ Lúc nãy nghe Phượng hát hay thật! Chừng như Phượng thích nhạc Trịnh lắm thì phải?” Tàm tạm với câu hỏi không đến nhạt nhẽo. Tôi đưa mắt sang nàng tìm câu trả lời.
_ Mỗi bài hát đều mang tâm rạng riêng của nhạc sĩ, khi nó trùng với tâm trạng mình thì hát sẽ hay thôi, đúng không anh?
_ Nhưng đâu phủ nhận được tài năng người diễn xuất!
Phải nói trước giờ chưa bao giờ tôi nhả được một câu hay đến vậy. Chắc nhờ mấy cuốn tiểu thuyết tình cảm, mà thằng bạn cho mượn mấy hôm trước.
Nhưng nàng không trả lời, chỉ im lặng. Một nụ cười sẽ thoáng qua vành môi. Nụ cười không hẳn dành cho tôi, mà cho một dòng suy nghĩ lạc lõng nào đó, ẩn trong đôi mắt và niềm vui nhỏ làm nó ánh lên như trăm nghìn mảnh vỡ bị đập nát của chiếc gương phiền muộn, phản chiếu thứ ánh sáng lấp lánh, trên các mặt đa diện của chúng­ _ Thứ ánh sáng lưu tinh trong vũ trụ bí ẩn và thẳm sâu…

****
Đêm ấy, tôi là người được cái diễm phúc đưa nàng về nhà, trước những cặp mắt đầy ngạc nhiên của đám bạn trai.
Nhà nàng , một ngôi biệt thự nhỏ, nằm lùi sâu trong một con hẻm vắng người. những ngọn đèn đường chừng đã mệt nhoài với thời gian, giờ ủ rũ, hắt xuống chúng tôi những quầng sáng yếu ớt. Đêm trong vắt. Những ngôi sao uể oải trong một đêm oi bức, giương con mắt mất ngủ, thao láo ngó xuống cõi trần. Tôi thả bước cạnh nàng, im lặng. Không gian xao động trong sự im lặng chất chứa những suy nghĩ mông lung từ hai con người.
Rồi bỗng nàng chỉ về một ngôi sao đang rơi:
_ Anh Nguyên! Xem sao rơi kìa.
Một vệt sáng lóe lên , vắt ngang nền trời, rồi chìm khuất, tắt lịm khi rơi vào vùng bóng tối sâu thẳm phía đường chân trời.
_ Ngôi sao của mùa hạ đó! Tôi đùa.
_ Sao anh biết? Nàng lại hỏi lần nữa.
_ Chỉ có ngôi sao của mùa hạ mới mang sắc tím thế kia.
_ Nhưng nó sẽ rơi về đâu vậy anh?
Tôi im lặng. câu hỏi vô tình của nàng bỗng khơi trong tôi một ý niệm. những ngôi sao sẽ rơi về đâu Phượng nhỉ. Chắc nó cũng có con đường của nó…nhưng để nàng vui, tôi bèn nói:
_ Chắc đêm nay nó sẽ rơi vào mắt một cô gái! Ung thành một giấc mơ đẹp!…
Đi bên chẳng hiểu nàng có suy nghĩ gì về câu nói ấy không, chỉ thấy, nàng thả cái nhìn bâng quơ. Bước chân đánh lạc hẳn sang một bên.

****
Tiếng trống tan trường vừa điểm. Tiếng trống cuối cùng của đời học trò vang lên nặng nề, rời rạc. Thật ra nó cũng không gây ra trong tâm hồn bọn học sinh ngỗ ngược chúng tôi tí xúc cảm nào cả. Mười mấy năm khoác màu áo trắng, ghánh cái trách nhiệm nặng nề với những con số tính toán nhức đầu, những bài học dăng dẳng, hôm nay bỗng biến mất một cách màu nhiệm. Thậm chí nhìn mặt những đứa bạn, tôi còn thấy chúng trẻ trung hơn là đằng khác. Đã qua thời những ông cụ non không thuộc bài, ngồi khép nép ở một góc lớp học. Thàng Sơn ngồi cạnh tôi, đang vơ sách vở bỏ vào cặp miệng nhắc:
_ Mau lên mày! Bữa nay đá banh thả cửa nghe!
Ngồi cạnh , tôi đang đưa mắt ngó theo mấy cái bóng hồng bên ngoài, nghe nó nói, cũng tức cười “ Rồi ở đó cho mày đá banh suốt kiếp!”. Nghĩ vậy, nhưng tôi cũng vờ uể oải.
_ Trưa nay tao mắc việc. Tụi mày vui vẻ nghe!
_ Ái chà! Biết tỏng bạn rồi. Lại bận đưa em vào hạ chứ gì? Tao thấy mấy lần. Cảnh cáo lần đầu, lần sau tao hê!
Nói dứt câu, nó vội vã xáh cặp táp nhảy ra ngoài, chạy theo bọn nam sinh trong lớp. Lớp học vắng ngắt. Những đứa con gái cuối cùng cũng đã ra về. Chỉ còn mỗi mình, tôi đưa mắt ngóng ra ngoài, nới có hàng phượng vĩ chạy dọc theo sân bóng chuyền. Hàng phượng đứng im lìm trong nắng. Tứng tán phượng nở bung như lõa sắc đỏ thẫm, lộ mình giữa cái nắng hừng hực của buổi trưa. Ươm chút khoái cảm cho trưa hạ thêm thi vị. Có lẽ một đời phượng chỉ thế! Một khoảng thời gian ngắn ngủi, non nửa buổi trưa hè nắng gắt. Rồi màn chiều nhập nhoạng buông, một khi làn gió vô tình ngoài biển thổi vào. Thổi về đâu không rõ, mang theo những xác phượng thẫm màu, để lại trên khoảng sân này, một khoảng trống vắng, một nỗi buồn mênh mang của hạ.

****
Nàng sinh hạ trong một gia đình khá giả, nhưng chẳng mấy đầm ấm. Tôi có thể tìm thấy ở Hạ Phượng, hai con người khác biệt. Một sống động vui tươi bên tôi và một lặng lẽ có chiều sâu nội tâm, trong gia đình. Nàng không bao giờ nói điều đó, nhưng qua bạn bè và những lần đến chơi, tôi cũng nhận thấy phần nào. Cha nàng_ Một ông già luôn cáu gắt, ít giao tế. Con bệnh nảy sinh từ những thất bạn liên tiếp trên thương trường, dẫn đến sự suy sụp của một thương nhân cao ngạo.Mẹ nàng, một người luật sư có tiếng, đã mất khi nàng còn nhỏ. Người mẹ kế cũng rất đẹp. Một người đàn bà nhẫn nhục, với mọt cuộc đời bị đày đọa trong chứng tâm thần. Nàng có một đứa em gái. Đứa em cùng cha khác mẹ mà nàng rất mực thương yêu. Nhưng rồi cách đây vài năm, cô em gái bị mất trong một tai nạn xe cộ. Sau cái tang ấy, bầu không khí gia đình chừng như bao trùm bởi một sự lãnh cảm nặng nề. Công việc làm ăn thất bại. tài sản tiêu tán. Nàng sống như một chiếc bóng trong sự hiện diện của hai chiếc bóng, dưới không gian của một hầm mộ. Có lẽ niềm vui duy nhất trong gia đình còn rơi rớt lại trên khuôn mặt của người vú già. Nhưng nó chỉ là ngọn nến tàn leo loét. Không đủ thắp sáng một chân dung.
Nàng ra đời trong một mùa hạ, để rồi những mùa hạ lại nối tiếp nhau ra đi, bước qua đời nàng, để lại những nỗi buồn trong tâm hồn người con gái đa cảm ấy.
…” Trẻ thơ ơi! Trẻ thơ ơi! Tin buồn từ ngày mẹ cho em mang nặng kiếp người!” Dòng nhạc Trịnh vọng lại từ đâu đó xa xăm. Lời hát của nàng trong đêm văn nghệ tối nao, cũng hẳn đã diễn tả nỗi đau âm thầm của một sắc hoa ….
****
Bẵng đi một thời gian khá lâu, tôi không gặp lại nàng. Rồi cái tin nàng đi lấy chồng, đến với tôi vào một trong những chuỗi ngày tàn rơi rớt cuối hạ. Chồng nàng, một người đàn ông đã khá luống tuổi, có một đời vợ. Một thương gia khá lớn ở một thành phố. Người ta đồn nàng thất tình nên phẫn đời. Người lại bảo, gia đình nàng mắc món nợ lớn nên ép nàng gán nợ. Mấy đứa bạn nói, tại tính nàng ngạo mạn, tự cao… Với tôi chỉ biết, đó là chuỗi ngày buồn nhất trong đời. Có thứ tình yêu đến khá muộn màng. Nó cố đoái tới những gì mà hôm nay đã là ký ức và sự hiện diện của nó, chỉ nhắc ta với về những khung hình của hoài niệm mà thôi.
Ít lâu sau, ngôi biệt thự được sang lại cho người khác. Gia đình nàng cũng người chồng mới cưới dọn về thành phố. Thời gian trôi dần. Thời gian không già bao giờ, nhưng mỗi con người lại tìm thấy sự già cỗi chính mình khi nhìn lại những cột mốc quá khứ. Cũng vậy. không tránh khỏi những quy luật, những khoảng thời gian tím sẫm sắc chiều của hạ cũng xa dần , xa dần khuất hẳn ngoài tầm hồi niệm. Đời người còn bươn chải về phái trước…

****
Đã hơn tiếng đồng hồ đi qua, từ lúc tôi bước chân vào cái quán nhỏ này. Cốc cafe trên bàn đã cạn. Trên cái gạt tàn nằm gần đó, nằm chỏng chơ gần chục mẫu tàn. Thời gian trôi thật chậm , mệt nhoài nhưng không gột mất vẻ háo hức của một kẻ trong tâm trạng mong ngóng. Tôi đợi một người!
Chiều nào nàng cũng qua đây. nhà nàng là căn hộ hai tầng nằm cuối con đường. Đôi lúc nhìn lên tôi thoáng thấy sự có mặt của hai đứa nhỏ, có lẽ con nàng! Trưỡ nhà có một cây phượng cỗi, xác phượng thẫm rơi đầy trên sân. Sắc phượng hôm nay gợi lóe một tia hy vọng. Chẳng biết là gì nhưng sao vẫn có!
… Hai đứa nhỏ bước vào quán. Chúng ngôi ở hàng ghế phái trước, trông ra đường. Nhìn chúng khỏng 16-17, có lẽ học sinh. Lúc đầu tôi không để ý đến chúng, nhưng cuộc nói chuyện bỗng lôi tôi vào sự quan tâm. Chuyện về một người đàn bà!
“_ Hạ à! Mình luôn ước có một người mẹ như mẹ Hạ. Vừa giỏi giang, vừa đẹp, lại vừa thương con. Mẹ mình ở nhà không được vậy đâu!”
Con nhoe cắt tóc ngắn cũn nói với con nhỏ tóc dài.” _ Nhưng sao thấy mặt mẹ hạ buồn buồn. Không hiểu có vấn đề chi?”
Nhỏ tóc dài trầm ngâm, giọng Huế rặt”_ Mình không biết nữa nhưng mình rất thương mẹ Thu à! Không phải ở nhà chỉ mỗi mình là con gái, nên mẹ mới thương mình như vậy. Đời mẹ mình không trơn tru như người ta tưởng đâu.”
_ Vậy sao? Con nhỏ tóc ngắn thốt lên, ngạc nghiên.
_ Ừ có lẽ vậy! Chẳng ai hiểu nổi nội tâm bà cả, kể cả ba mình. Có thời bà chỉ sống trong thế giới của bà mà thôi. Nhưng từ lúc có tụi mình, cái thế giới đó mất đi, nhường chỗ cho trách nhiệm làm mẹ. Điều này mình cảm nhận, nói ra thế thôi!”
_ Vậy chuyện hôn nhân của ba mẹ Hạ có vấn đề hả? Nó lại hỏi. Kể mình nghe với! Mình hứa không nói với ai đâu.
_ Hứa với mình nghe. tại mình sợ mẹ buồn!
Rồi nó nói tiếp:
_ Sự thật bà không có thời con gái. Cuộc đời bà chỉ tuổi thơ rồi đàn bà. Lúc đi học, bà biết ông ngoại mắc mộ món nợ khá lớn, nên chấp nhận lời cầu hôn với người gia ân, tức ba mình. Thu nghĩ coi, ở lứa tuổi học trò như mình , ai không đau khổ khi mang tâm trạng đó chứ. Nhưng bà vẫn chấp nhận để cưu mang gia đình . Ngày đó mẹ thường trách do số phận. Một khoảng thời gian khá lâu, bà vẫn sống trong thế giới lập dị của riêng mình. Tất nhiên phần nội tâm , còn bên ngoài bà vẫn cố gắng hoàn thành trách nhiệm của người vợ trong gia đình. Từ khi sinh mình, bà mới bù đắp được được sự trống trãi của tình cảm bằng tình mẫu tử_ Bà nói, bà sợ sinh con gái vì e cuộc dờ nó, sẽ giống bà.
Con nhỏ tóc dài dứt lời, ngồi lặng thinh.
_ Vậy mẹ Hạ chưa yêu ai trong đời à?
_ Có một người. Mình nhớ có đoạn thư bà viết ..Nguyên cũng đừng trách, tại đâu hạ buồn, hạ buồn vì có những buổi hoàng hôn đẫy sắc tím. Trong bốn mùa chỉ có hoàng hôn của Hạ mới mang sắc tím thôi!
Tim tôi như nhói lên. Cái nhói đau bất thần lan nhanh. Những mạch máu như ngừng đập. Trên tay mẫu tàn thuốc đốt rộp ngón tay lúc nào không biết. Cái dung ảnh duy nhất mà tôi bắt gặp là khuôn mặt của con nhỏ tóc dài quay lại. Một đôi mắt! Đôi mắt hệt như mắt nàng. Đôi mắt Hạ Phượng!

****
_ Ông có bị sao Không? Giọng nói vẳng lại.
Tôi mở mắt ra. Cái quán vắng ngắt. Hai đứa nhỏ bỏ đi rồi.
_ Không ! Không sao! Tôi đứng dậy , trả tiền nước, bước ra trong cặp mắt ái ngại của ông chủ quán.
Bên ngoài, màn chiều đã buông. Không khí dễ chịu hơn với ngọn gió man mác. Hôm nay trong sự khẽ khàng hiếm thẫy, chúng chỉ gây một sự lay động trên những cánh phượng thẫm, rơi đầy trên đường. Hoàng hôn hôm nay không tím. Có lẽ không có những cụm mây tối màu nơi phía góc trời. Hoàng hôn đỏ lựng một màu xác phượng….

VŨ KHUÊ