Heo tai xanh

 

Bẩy tuổi mới biết mặt ba. Thời chiến tranh nó vậy. Ba lên Xanh dẫn theo chú và anh biền biệt cho đến ngày thống nhất. Về, ba lại tiếp tục công việc đâu đó trên phố lớn. Tuy con quan, cháu quan, em quan nhưng mà quan cách mạng, vô sản gộc nên Hạnh – đi học về – cũng ống cao ống thấp phụ mẹ từ đồng áng, bếp núc… mác con quan chỉ giúp Hạnh được thầy cô ưu ái khoản trường lớp, nghĩa là học lực dù trung bình yêu yếu vẫn được cất nhắc lên hàng tiên tiến. Thời bao cấp và cấm vận quan cho chí dân ai cũng thắt lưng buộc bụng nên Hạnh mảnh như giấy là tất yếu. Mẹ còn mảnh hơn vì chồng năm thì mười một hoạ mới tạt qua nhà, dạo dạo đôi vòng là lên xe đi tiếp. Cả ông chú cũng nằm riệt đâu đó. Lâu lâu anh Tâm về. Chỉ lúc ấy Hạnh mới cảm nhận được mình có anh. Lúc đầu Hạnh có thắc mắc về ba, nhưng câu trả lời của mẹ muôn đời là ba bận việc cơ quan, bận lắm. Về sau Hạnh không hỏi, ba về cũng không quấn, ba đi Hạnh cũng ừ thì đi. Hạnh biết rõ vì sao ba không về nhà, vì sao ba nhạt.

Nếu không về giữa chừng buổi học vì cô giáo bệnh, Hạnh đã không hề biết. Vậy ra Hạnh là con của trưởng ấp Tám Phát. Nghe qua là cô bé chín tuổi lạnh sống lưng. Cứ đứng bên ngoài cửa nghe cho bằng hết chuyện người lớn. Bằng một giọng lạnh tanh có cả tiếng “hức” của một cái cười khẩy:

– Thằng Tám Phát hiếp hay bà cho chỉ bà và nó biết.

– Đã không tin thì ông đừng về làm chi. Loạn lạc, ông còn phải đi để giữ cái thân, tôi một mình làm sao giữ? Mà thôi ông đã khinh tôi thì nên bỏ chuyện đó đi. Và đã như vầy thì không nên gặp nhau để làm gì.

– …

–  Sao không bỏ nó đi hả? Thằng Tâm mới mười tuổi đã theo ông lên Xanh không một tin tức. Tôi phải giữ để có cái mà sống. Ông không hiểu sao? Và huỷ giọt máu trong bụng mình là điều tôi không thể làm. Không có nó chắc gì ông đã ở với tôi… Mà thôi, đã không thể là vợ chồng, cũng không là bạn thì xin để cho tôi yên, đừng để cho con Hạnh biết chuyện nầy, tội nghiệp nó.

Một tiếng hừ khô vang lên, cửa nhà bật thô bạo bởi cú đá. Ba bước ra, tất nhiên là cả hai nhìn thấy cô bé nhỏ nhắn. Sựng một giây, người mà Hạnh gọi ba bước ra xe. Ù ù, xe nổ máy và mất dạng.

Má ôm Hạnh vào lòng. Vậy là Hạnh biết hết rồi nghe, rằng cái ông mà toàn thể cư dân nơi Hạnh cư ngụ kính trọng không phải ba ruột. Thì cũng có sao đâu, từ nhỏ cho đến giờ Hạnh vẫn ở với má mà. Có  hay không có ba cũng chả sao trăng gì. Mà Tám Phát là cái ông bên ấp Bốn mới cãi tạo về phải không? Gì thì không chứ chuyện nầy Hạnh phải tìm cho ra lẽ mới được. Ra cái cha nội đen đen xám xám, mặt mày khắc khổ là người đã đẩy má và Hạnh vào sự ghẻ lạnh đây. Hạnh là con riêng của má nên chi, ba và cả ông chú nhạt tình với Hạnh là phải lắm.

***

Ấp Bốn của Hạnh và Ấp Một – nơi ngụ cư của nguỵ quyền cấp ấp Tám Phát – cách nhau bốn mét đường be, đủ cho hai xe bò tránh nhau. Nhà Tám Phát là nhà đúc. Nhà nầy có đâu từ thời cố lũy cô lai  rồi. Nó bề thế và rêu phong lắm, tường cao và cổng kín nên có vẻ bí ẩn. Đồn rằng cho đến đời Tám làm trưởng ấp thì dòng họ nầy là tổ sư chống cộng. Tám là trưởng ban dân vệ thời nhà Ngô, thiên hạ  kể rằng Tám ta đội mũ đen rộng vành vai khoác súng cạc-bin, tay cầm cái loa phát thanh hết làng trên đến xóm dưới, nhà nào có thân nhân nhảy núi là chết bà với Tám. Đến kì các Nguyễn từ Khánh Râu đến Tông tông Thiệu Tám là Ấp trưởng, lại tiếp tục lôi nhân dân tự vệ với Ar15 lục tìm vixi. Bà mẹ nó – Thiên hạ chửi – Việt cộng ở trong rừng chứ đâu ở nhà mẹ goá con mồ côi mà mò vô.

Lúc đầu thiên hạ tin Việt cộng không dám về cái xóm bị rào bởi kẽm xẹctinai đâu. Trên dưới ngang dọc đâu đâu cũng lính cộng hoà mò về để ngủm sao? Đùng một cái, con Hậu vợ thằng Huy lớn bụng. Thằng nầy dẫn con lên xanh đâu hồi xa lắc. Vậy là cái tin Việt cộng đã về nằm vùng đâu trong lòng… đất được thổi lên. Và Hạnh đã ra đời mà không có cha là vậy đó. Và tất nhiên sau thống nhất hùng bá một thời như Tám đi cãi tạo cũng phải thôi. Có cha, chú và anh từng nằm gai nếm mật cả mười năm trên cao xanh thì Hạnh là con, cháu và là em cách mạng gộc. Tưởng bảnh ngờ đâu không hề vậy.

Quá rõ về mình. Hanh vờ đi chơi qua ấp một, ngang qua cổng nhà Tám Phát, Hạnh thấy y đang ngồi ở xích đu. Cô bé đứng lại nhìn vào, mấy con chó nghe mùi lạ xồ ra inh ỏi. Cao cao, đen và xám pha nhau, má hóp nên gò má nhô cao, Tám Phát đi ra cổng:

– Cháu tìm ai?

– Có bạn Phương ở nhà không chú? – Hạnh nhìn vào mặt Tám Phát hỏi.

– Ai kêu con nè Phương ơi.

Từ trong nhà chạy ra Phương mở cửa và nắm tay Hạnh:

– Hạnh bạn con đó ba. Con cô Hậu bên ấp Một.

Tám Phát chăm chú nhìn. Hạnh biết cái nhìn ấy bao hàm điều gì.

Đó là lần duy nhất suốt bốn mươi năm Hạnh đối diện cùng Tám Phát.

Về muộn nên má hỏi:

– Sao về muộn vậy con?

– Con qua nhà nhỏ bạn bên ấp một.

– Nhà ai vậy?

– Nhỏ Phương con Tám Phát.

Má nhìn Hạnh. Hạnh cũng nhìn má.

Rồi thôi.

Mọi chuyện trôi như dòng suối sau nhà Hạnh vẫn chảy. Về sau suối chậm lại vì một con đập được chận lại thành hồ chứa nước. Hồ chứa nầy đưa nước phân bổ cho hai cánh đồng của hai xã liền kề. Tuy dòng chảy có chậm nhưng nó không ảnh hưởng chi đến việc chăn nuôi của những hộ sống bên con suối. Như nhà Hạnh chẳng hạn. Một năm má cô xuất chuồng đôi ba lứa heo đủ tiền sách vở và áo quần cho Hạnh hết cấp một cấp hai rồi cấp ba. Cuối mười hai Hạnh chia tay trường lớp vì cô yêu.

Chàng của Hạnh tên Hùng. Để được Hạnh, Hùng phải qua mặt cả mươi anh con nhà gia thế. Thực vậy,  gò gẩm một em con cháu nhà quan lại xinh mơ đâu phải đùa. Cỡ Hùng đừng có mà mộng hão. Đã nghèo thì chớ anh còn chẳng có tí quyền lợi chính trị chi, ngoại trừ cái xuất ngũ sau ba năm bốn tháng trong quân đội. Còn trong quân Hùng cũng chỉ là một anh hoả đầu tầm thường, thường đến độ chẳng được nấu ăn mà ở vị trí chăn nuôi và trồng trọt để cãi thiện bữa ăn cho chiến sĩ. Thuở Hùng đi lính thì chiến tranh đã tàn, Pôn pốt và Bành trường đều đã được dẹp yên. Hùng chỉ vác súng mà chơi còn chích heo là chính. Về đời thường anh sống với nghề thú y.

Cã xã duy nhất Hùng sành điệu nghiệp này, ai có heo gà chi trái gió là kêu anh. Hùng đến nhà Hạnh theo lời mời của bà Hậu. Anh chả dám mơ chi con gái nhà quan, kẹt cái mới gặp Hùng, Hạnh đã đem tâm tình con gái mới lớn mà đắm cái đẹp trai, phong thái của chàng. Vậy là cô quăng cục lơ với tất cả các anh đang đeo đuổi. Hùng đúng mèo mù vớ cá rán. Người ta yêu mình tội chi không yêu lại. Vậy là cả hai tần tấn nên duyên. Thời thắt lưng buộc bụng, con em cán bộ bự thì phải thắt đến siết để làm gương cho quần chúng. Đám cưới cả hai chỉ tiệc trà đơn sơ, thậm chí ông cha và chú vợ chỉ tạt qua dăm phút rồi lên xe dông tuốt. Kệ đi, thời nào cũng vậy đời ai nấy lo, có câu đời cua thì cua máy, đúng không?

Nhà Hùng những sáu anh chị em nên anh làm rể nhà Hạnh là phải quá. Vậy là ung dung trở thành ông chủ của lô đất tròm trèm hecta. Gia đình Hùng chuyên sản xuất giống cây trồng. Vậy là Hùng chuyển đổi ba cái màu mè hoa lá cành của nhà vợ thành khu ươm cây. Trong nghiệp chăn nuôi, Hùng chiến nhất vì văn minh hơn bà con cô bác xứ ruộng. Thêm cái thương khó của kẻ xuất thân là nông dân Hùng xây thêm chuồng, đào ao chăn cá thả vịt. Với tay nghề thú y kèm thợ hồ, Hùng cho tất cả chất thải của heo qué xuống một hầm chứa, còn gọi bao tử. Ở đó chất thải sẽ tự huỷ rồi cho ra cái gọi Bioga. Thuở mà chưa có thức ăn gia súc, bao nhiêu thừa thải của thực khách ở những quán ăn của thị trấn kề bên Hùng thầu tất và chúng được sôi lên bởi bioga… Nhìn Hùng nên và ra thiên hạ  cũng muốn lắm nhưng để làm được như anh thì còn khuya. Rất phóng khoáng, các hộ liền bên ai cần bioga Hùng sẵn sàng phân bổ mà chả cần một xu, hộ nào bi quá Hùng cho không luôn ống dẫn, xóm giềng giúp nhau vậy là quá quý.

Thiên hạ cho phân xuống suối. Hùng thì không, bao nhiêu được tống xuống hầm ngầm để tạo bioga, còn dư Hùng tập trung lại cho hoai mà chăm cho cây giống. Dư nữa anh bán cho mấy tay trồng rau… về sau bà con cũng ủ phân lại và nhờ Hùng bán giúp. Ai cũng cám ơn vợ chồng Hùng, không phải ba cái vặt vảnh đó đâu nghe, họ còn cám ơn cái khác lớn hơn nhiều.

Cái khác đó là nguồn cá ở hồ chứa nước. Hùng đã thắng trọn gói thầu toàn quyền sử dụng mặt nước  cho việc nuôi cá. Dân trong ấp ai muốn cứ việc câu. Câu thôi đừng có tung chài nghe mấy bạn, để cho em có cái thu hoạch. Lổ lã tội nghiệp lắm. Hùng nói với bà con vậy. Trời ơi, đâu có ai bỏ tiền ra thầu, bỏ cá xuống nuôi rồi mình câu mà ăn? Vậy nên ai cũng có bổn phận trông coi giúp cho Hùng. Trộm đạo nào lèng phèng vác chài lang thang trên mặt đập là có người đạp xuồng ra hỏi thăm sức khoẻ liền. Xóm giềng bảo vệ nhau cỡ vầy là hết phép.

Chỉ có cái hơi phiền một tí, một tí thôi. Đó là cái mùi đặc trưng của phân heo và ruồi. Nhưng rồi tất cả cũng quen, thời chiến người ta còn sống chung với bom đạn và kẻ thù, những thứ mùi khác, ghê gớm hơn còn chịu được nói chi ăm-mô-nhắc. Còn ruồi thì đâu mà chả có, người ta giải quyết cái sự bực bằng cách chui vô mùng ăn cơm. Biết làm sao bây giờ? Ở đây ai chả nuôi heo? Phàn nàn ai?

Đời cứ vậy mà tới cho đến kì của nền chăn nuôi công nghiệp.

***

Hùng bỏ vốn ra để tiếp cận văn minh chăn nuôi. Trước tiên là phải có giấy phép chuyển đổi hình thức sản xuất. Chuyện đó đối với một con, cháu, em rể quan thì có chi lớn? Có cả kiến trúc dạng sư tư vấn cho Hùng mô hình mới. Phải hội đủ mọi điều kiện thì mới được sự quan tâm hổ trợ vốn của nhà nước. Nghĩa là anh có quyền đưa chủ quyền đất đai để vay vốn. Vợ chồng Hùng chả cần vay ai. Nhiều năm sau thu hoạch cá từ hồ chứa nước, thêm heo xuất một năm đôi ba lứa… Cặp đôi rất ư hoàn hảo nầy dư sức làm mọi việc.

Hecta đất được vây bọc một tường gạch cao hai mét, bên trên cắm miểng chai phòng trộm đạo. Chuồng trại phân bổ cực kì khoa học. Heo được nuôi trong môi trường sạch đến không ngờ. Chất thải  được dồn về hầm chứa tạo bioga. Phân sau hoai sẽ chảy về một ao chứa khác cách xa khu vực chăn nuôi cả trăm mét. Từ ao chứa nầy những công nhân loại vai u thịt bắp sẽ kéo phân lên bằng cuốc, dồn đống, phơi khô, đóng bao để cung cấp cho các nông gia chuyên trồng rau củ quả. Nước trong hầm chứa sẽ đi vào một cống ngầm và tuôn ra suối. Nước trong dòng chảy sẽ bò ra đập, tràn vào các con mương rồi lững lờ ra cánh đồng. Chắc chắn là mầu xanh của lúa nhờ rất nhiều vào chất thải của trại chăn nuôi mà Hùng là chủ nhân.

Không phải sao? Đợt đầu tiên Hùng thả một trăm con heo giống. Mẹ ơi. Chăm chúng còn hơn chăm con mới đẻ. Công nhân phải đồng phục. Bước vào khu vực chăn phải mang giày ống đi qua một bể chứa thuốc sát trùng. Chả nấu nướng chi để phục vụ cho con cháu lão Trư. Cám gia súc được kéo về hàng xe tải, trút vào thùng, nước uống cũng vào thùng. Bầy được gọi ngu như lợn khôn trời sợ, chúng biết dùng mõm hất nắp thùng chứa để ăn và uống, lại biết thải xuống mương, phe ta chỉ việc cầm vòi xịt cho  xuống hầm. Nói thì nghe nhanh gọn và yên ả lắm, nhưng để lo cho một trăm chú trư thì năm người là bở hơi tai. Chúng còn ăn khuya nữa đó nghe. Lợn mà, chỉ biết ăn và ngủ, và đó là mục đích của bất kì kẻ chăn nuôi nào từ sơ đến cao cấp. Có vậy mới hai tháng rưởi là xuất chuồng. Vậy anh mới có lãi, bằng ba tháng heo mới đạt một tạ một em thì anh chết chắc. Đã nói ra biển lớn thì thuyền to chừng nào sóng to theo chừng đó. Thuyền trưởng không khéo là chết chìm, đã biết bao anh hùng thò tay chơi với nghiệp nầy đã bị công quyền đến thanh lý đất đai, nhà cửa bán đấu giá để trừ cái nợ đã vay. Hùng thì khác, dân thú y sành đến độ chỉ nhìn qua là biết bệnh. Hùng ung dung lái thuyền qua các cửa. Từ một trăm chú ỉn lứa đầu, lên hai trăm rồi ba trăm và hơn nữa… Rõ ràng, với kẻ có tài, biết nắm bắt thời cơ thì  thành công buộc phải đến. Hùng có tất cả. Vợ đẹp, con ngoan. Hai đứa con Hùng rất tuyệt, một trai đầu, một gái út. Chúng được ăn học ngon lành, chả phải nhờ vào uy iếc chi của ai. Giống lợn mà nuôi trong môi trường tốt còn đẹp như mơ nói chi con người. Được học với trường lớp tốt và thầy giỏi, học trò phải giỏi đó là tất yếu. Hùng dư tất cả mọi thứ. Hạnh còn sành điệu cả xế hộp, cô lái chiếc bốn bánh đưa con đi học, đi giao dịch, vợ chồng cùng đi nhà hàng vân vân và vân vân. Sự dư thừa luôn làm con người thoải mái và hạnh phúc.

Thật vậy không?

Không. Cũng có cái dư làm người ta âu lo và mệt mỏi.

Cái gì vậy?

Xin thưa, đó là phân heo.

***

Chả có cái hầm chứa nào nuốt nổi lượng chất thải lúc cao điểm. Heo mà bắt đầu từ năm mươi kí đi lên, chúng ăn, ngủ và vệ sinh thôi thì khỏi nói. Cái bao tử tạo bioga không thể nào tiếp nhận được, và cũng đừng nghĩ mở rộng nó cho tốn tiền. Phải tìm cách khác. Hùng tậu năm chiếc xe đẩy cầm tay, lượng dư thừa được tập trung vào một góc của thửa đất. Nhân công sẽ đóng vào bao khi đã được nắng làm cho khô, những mối lái rau củ quả sẽ cho chúng làm mầu mỡ đất đai của họ.

Điều kiện nầy cũng chỉ giúp vào những tháng mặt trời làm chủ. Mùa mưa đến, bên phân tươi, bên tuôn ra từ bờ tràn hầm bioga. Vấn nạn nầy khiến ông chủ phải giảm lượng heo nuôi. Từ năm trăm cho mùa nắng gió còn lại một trăm cho bão bùng. Hùng phải mở cống cho tất cả từ tươi đến hoai tuôn ra suối. Tất nhiên nước sẽ cuốn, dù chậm nhưng vẫn trôi. Nhìn phân heo lờ đờ chảy cư dân sống nhờ vào con suối mệt mỏi gấp tám lần Hùng. Cái mà ai cũng hãi không phải phân đâu nghe, nó sẽ trôi, chắc chắn vậy, nhưng có cái đứng lại, đó là ruồi và cái mùi đặc trưng của nó.

Khi hồ chứa hình thành, nước tích lại tạo một cảnh quan tạm gọi là. Mấy tay có đất kề bên hồ lợi dụng thời cơ dựng nên những quán cà phê sân vườn đẹp không thể chê. Thử hỏi ngồi trong một cái phum lợp lá, ngắm người đẹp đạp xuồng trên hồ hái rau muống thì còn chi thơ mộng hơn hỡi trời đất? Khách đến thôi thì nườm nượp, để lôi kéo, quý ông bà chủ liền trí trang cho quán mình những hòn giả sơn có róc rách nước chảy, có tiên ông chơi cờ, lại thêm vài chậu chiếu thuỷ, mai vàng cho thêm phần thanh nhã. Có vậy mới lột tiền của khách tham quan.

Đặc sản của miền hồ nước nầy là bánh tráng me.  Ngoại trừ chăn nuôi và đồng áng, nông nhàn người ta còn tráng bánh  bỏ mối kiếm thêm. Mấy cái quán bên bờ hồ còn sáng chế ra nước mắm me chua ngọt tuyệt hảo. Nam thanh nữ tú và tụi trẻ trẻ vừa nhai bánh vừa đấu láo cũng thú vị lắm. Nhưng những cái quán ấy đã không một phương kế nào kéo được khách bởi ruồi và trìu trịu mùi ămmôniắc. Tất cả đều phá sản, đành phải cho mái lá lụi tàn theo năm tháng. Và ai cũng bực bội vì cái trang trại heo công nghiệp của vợ chồng Hùng Hạnh. Bực thì bực vậy chứ ai làm gì được ai? Bởi một lẽ rất giản đơn tôi chăn nuôi thì có tội chi? Còn ruồi hay cái mùi của nó thì phải chấp nhận. Đúng không? Đúng hay không thì trại heo đã yên vị rồi, và ông chủ của nó đang nên và ra nhờ nghiệp nầy. Có ai đang hưng thịnh mà chuyển đổi sang hình thức khác không? Chắn chắn không.

 

Hùng có nghe những ta thán của xung quanh về mình không? Sinh hoạt của gia đình anh có bị ảnh hưởng như bọn dân đen không? Sao lại không. Nhưng phải biết khắc phục chứ. Ông nhà nước kéo điện cho ta làm chi vậy kìa? Hùng xây dựng căn nhà hai tấm bê tông của mình kín bưng, muốn ấm lạnh đã có máy điều hoà. Và ai cũng biết rằng những căn phòng có máy lạnh chả một mùi vị nào xen vô được nói chi ruồi. Còn thiên hạ ta thán ư? Kệ họ chứ, nói thì chả làm ai chết cả.

Và ngữ dân đen thấp cổ bé họng nghèo mướt vài mươi hộ liền kề bên trại heo chả ai không dính dấp ân oán nghĩa nhân với Hùng, không cá thì heo, mười thì hết chín đã nấu ăn bằng bioga. Thì họ cũng có ong ve đôi câu trong những quán cà phê, cũng bàn về ô nhiễm. Có thằng phê ba xi đế vô cũng văng tục chửi thề rằng:

– Nó ỷ thế cha chú anh trai là cán bộ bự… Bà cha nó…

– Thôi mày ơi… Cả cái uỷ ban xã nầy còn điếc không nghe, đui không thấy bọn mình nghĩa địa gì?

– Mấy ông xã tuốt ngoài nầy làm chi biết ruồi hay mùi kít heo?

– Mẹ… mày không biết những lúc gió mạnh hay xả chuồng, mùi của nó bay tuốt ra tận đây luôn đó con… thúi cự kì. Tao cũng không hiểu vậy rồi vợ chồng thằng Hùng có bị ảnh hưởng không? Hay là ngửi riết rồi ghiền luôn.

– Vợ chồng con cái nó trong phòng lạnh thì biết cái khỉ khô gì?

Vậy là thôi. Vậy là hết. Và tất cả cứ theo cái guồng đã có mà chạy, việc của Hùng Hùng làm, ai nói chi cứ nói. Dân đây kể cũng hiền, gặp xứ khác họ kiến nghị lên trên chứ không chơi. Đâu có thể vì quyền lợi cá nhân mà anh làm ảnh hưởng đến môi trường sống của kẻ khác được. Đúng không?

Thực ra đời chả ai hiền hậu hay dữ dằn chi. Cái gì phải thì thôi, không phải dễ gì yên. Sao lại không đơn từ và kiến nghị. Mấy tay già từng thụ ơn Hùng, không ra mặt nhưng cũng xúi bầy trẻ. Kẹt cái đơn lên tới xã là đứng lại. Bực quá đơn vượt cấp bay lên huyện, huyện đưa về cho xã giải quyết. Ba cái vặt vảnh heo qué thì có gì mà mấy anh không làm được? Xã cũng cho người vào tận trại chăn nuôi, vào rồi ra… Riết rồi mệt quá xá vụ đơn từ. Người ta con quan, cháu quan, em quan. Lại quan bự tuốt ở trển. Dân đen gật gù và cười rằng con kiến kiện củ khoai, không phải khùng mà là ngu. Ngu tợn.

Nhưng sự đời đâu đơn giản. Nếu ông cha vì nể nang ân ngãi và kém hiểu biết mà cho qua. Bầy trẻ lớn lên thì khác. Cái thời mong cơm no áo ấm qua rồi. Bây giờ ăn ngon mặc đẹp, đẹp phải thơm. Em yêu anh thiệt mà về nhà anh nghe mùi cứt heo là em ói. Ói anh luôn. Bầy trẻ có học cùng bầy ăn nên làm ra ở những công ty thời hội nhập, sành lắm văn minh tin học. Chúng lên gu gồ và biết mình phải làm chi. Vậy là đơn từ có quy cũ được ký bởi gần trăm chủ hộ được tống lên trên chỉ một yêu cầu duy nhất làm trong sạch môi trường. Cái đơn ấy – như bao lần đã qua – cũng quay về xã cũng lọt vào tay vợ chồng Hùng Hạnh, nhưng lần nầy nghiêm trọng hơn. Nếu Hùng không khắc phục thì chả một bàn tay nào che được. Khắc phục ư? Cũng có chi đâu khó. Một là Hùng phải dời trại vào thâm sơn, tách biệt hẳn với dân cư. Nhưng sơn đâu nữa mà thâm với sâu. Hai là dẹp trại.

Dẹp ư?

Hạnh đọc lá đơn rồi lên chiếc Liberty chạy đến nhà thằng chủ xị lá đơn.

Thằng kể cũng yêng hùng, nó kí và ghi rõ họ tên: Nguyễn Văn Tài.

***

Nguyễn Văn Tài là con trai út của Tám Phát. Gia đình nầy chỉ duy Tài tạm gọi có chút đỉnh hiểu biết. Nguyên nhân là cả chục năm sau thống nhất hắn mới ra đời. Tài không hề bị cái phốt cha nguỵ quyền mà ảnh hưởng. Kẹt cái học hành dỡ ẹc, kiểu lên lớp do chỉ tiêu nên đâu có tốt nghiệp nổi mười hai. Tuy nhiên với đời Tài nhanh như tép. Nếu thiên hạ lấy câu nhất thân nhì thế để lên hương thì Tài có hai chữ mánh mung để xài. Thoắt ẩn thoắt hiện như ma, Tài dư sức nuôi cha già ăn ngon mặc đẹp. Tài yêu cha lắm. Sau bẩy năm cãi tạo, thêm một năm mới lại hồn người, phải chi thôi thì bà Tám đâu có mất mạng. Sanh Tài thì bà má bị băng huyết nên đi luôn. Tám Phát và bầy con gái xúm vô cho Tài bú thép. Vậy nên Tài quý cha lắm. Ranh ma đâu với đời chứ về nhà thì Tài đúng là đệ nhất hiếu tử.

Lúc Hạnh đến. Cổng mở nên cô cho Liberty chạy một mạch vô sân. Tài cùng với một trai trẻ khác đang chén bạn bè bên một bàn trà. Thấy Hạnh, Tài hơi ngạc nhiên:

– A… Chào chị Hạnh… Ô… đúng là rồng đến nhà tôm. Mời chị ngồi.

Hạnh hỏi sau khi yên vị:

– Có chú Tám ở nhà không em?

– Có chị ạ. Ba tôi đang sau vườn. Để em gọi. Chị uống nước… Giới thiệu với chị đây là Hoàng, bạn tôi, anh ấy là phóng viên của báo X.

Tài nhấn mạnh hai từ phóng viên ra cái vẻ liệu đấy mà đối phó:

– Có chi chị nói với tôi cũng được vậy.

– Chị có chuyện riêng muốn gặp chú Tám.

Có chi khó chuyện gặp. Vậy là Hạnh được mời vào nhà. Tám Phát đích thân tiếp khách, cả hai trò chuyện đâu chừng nửa tiếng rồi với một gương mặt lành lạnh bà chủ trại heo ra về.

Việc Hạnh đến nhà Tài, đâu thoát mắt dân tình. Họ thầm thì trong cà phê cóc rằng:

– Tao biết mà… Thằng Tài mánh mung ghê lắm, nó đi thu thập chữ kí của bọn mình chẳng qua để làm tiền vợ chồng Hùng Hạnh thôi. Chắc chắn là mụ Hạnh sẽ nhét tiền vào họng cha con Tám Phát, nếu không sao lá đơn đã hai tháng mà không tăm dạng, đúng không?

Nghe qua cũng có lý lắm nghe. Nếu không tại sao mọi chuyện lại đi vào yên lặng? Rõ ràng nén bạc ném toạc tờ giấy. Xưa nay ai chẳng lấy tiền làm trọng và cha con Tám Phát đâu phải thánh mà không cần tiền. Có tiền Tám cũng chơi phòng máy lạnh xịt nước hoa chứ sợ gì ai. Và cái thằng đó – thiên hạ nói – bộ tưởng sau bảy năm cãi tạo là xong hả? Không dám đâu nó còn phải học bài dài dài. Còn dân đen như mình hả? Ráng chịu đi con, chừng nào… chết là hết thôi.

Và rồi thiên hạ thở dài khi thầy trại heo vẫn bình chân như vại.

***

Nhưng Hùng cũng thở dài không kém dân đen. Như bao lần khác anh thả vào mùa mưa lũ một trăm chú. Nhưng dịch tụ huyết trùng đã chén sạch bầy heo. Để giải quyết hàng trăm con heo một lần không phải chuyện đơn giãn, Không một loại thuốc nào ngăn chận sự lây lan của bệnh.  Hùng phải thuê một xáng cạp móc một hố sâu như địa ngục thả bọn tử vì tụ huyết rồi lấp lại sau khi đã đổ cả tấn vôi bột để sát trùng và phòng lây lan.

Mùa nắng lên Hùng lại thả cả năm trăm chú sau năm tháng cho chuồng ngơi nghĩ. Sau một tháng rưởi bầy lợn bình yên, tròn lẵn, mỗi chú tròm trèm năm mươi cân chứ không ít. Vậy mà trời không dung Hùng nữa rồi, cái đại hoạ tai xanh cũng cấp kì không kém tụ huyệt trùng. Cả bầy lây lan đến chóng mặt. Chúng ngã ra mà chết hằng loạt. Lần nầy buộc phải đốt. Đốt ở đâu?  Hùng phải vào tận trong sâu, nơi khu vự khai thác đá xây dựng, thuê một địa điểm thật xa rồi thả xuống mà đốt. Xong phải thuê máy cày lấp đất lại, và đất để lấp cũng phải mua mới có.

Hùng hoảng hốt thật sự.

Dân đen bất chiến tự nhiên thành. Ở cà phê cóc lại tiếp tục đấu láo: Cám ơn cái tụ huyết trùng và heo tai xanh, không có nó bọn mình xanh cỏ sớm.

      Nguyễn Trí

 

 

 

 

 

 

 

Advertisements

Trái đắng

 

 

Lộc Khiêm, mê đắm đuối con gái rượu của Nguyễn Đình. Đình trước 75 là nhà văn, thơ cũng chơi luôn. Có hai tập truyện, một tập thơ đã xuất bản. Ngoài ra Đình còn viết báo, dăm ba chục bài đã in trên các báo. Đình không lính tráng chi nhưng là cán bộ giảng huấn chính trị có cỡ. Sau 75 Đình đi học tập ba năm. Về, bán nhà ở thị xã  lên đèo ông Phật tậu mẫu đất. Lộc Khiêm là một trong nhưng gã trai thất nghiệp đến làm thuê cho Đình.

Con gái Đình là Dung. Cô sâu đậm cảm tình với Khiêm lắm. Nhưng vợ chồng Đình cực lực phản đối. Chắc chắn là do Khiêm quá nghèo lại thất học. Từng là nhà văn, con gái chữ cũng tốt ai lại chấp nhận một gã bá vơ. May thay Dung có nét và rất duyên, trai theo cả đoàn. Đình chọn lấy một anh con nhà, áp đặt Dung vào chuyện đã rồi. Thuở ấy câu áo mặc sao qua khỏi đầu vẫn còn linh lắm, vậy là Khiêm ôm mối hận tình nhìn người yêu sang thuyền khác, cũng có uống đôi ba xị rượu giải buồn. Bạn bè khuyên:
-Thôi. Bỏ đi bạn hiền, gái khối mẹ gì mà buồn với bực?

Buồn được thời gian Khiêm về Sóc Trăng thăm bà con cô bác. Cha mẹ Khiêm là người Việt gốc Khmer. Xưa ông cha bị ông Cộng hòa bắt đi lính, tống ra miền Trung xa xôi, mẹ đi theo, vậy là chị em Khiêm ra đời. Chị em Khiêm tuy ngâm ngâm đen nhưng đẹp thì khỏi chê, trai ra trai, gái ra gái đâu ra đó tuyệt lắm. Đẹp thì thời nào chả có anh xin theo xách dép. Lộc Kim Quang chị kề Khiêm được một anh tên Bình đeo đuổi. Quang cũng thích anh. Hiềm nỗi Bình là con trai ông Đình.

Nếu ông Đình e con gái vớ trúng thằng trên răng dưới củ từ, vậy ông có chê Kim Quang không? Thiên hạ tò mò lắm nên sáng nào cũng ghé quán cà phê cóc  nghe ngóng thử xem sao. Đình vốn kín và im như thóc, bà vợ cũng rứa luôn. Vậy là có màn rấp ranh, rập rình, hóng hớt xem sao. Vậy rồi chả biết  có hay không mà thiên hạ kháo rằng cha nội Đình cũng không chịu Quang là dâu:

–  Cha Đình chửi thằng Bình thiếu điều tắt bếp, văng tục không khác chi tao với mày. Chả cũng chê con Quang đen.

–   Bà mẹ … dza dzàng mũi tẹt bày đặt chê đen. Thằng Bình ra để tao nhảy vô con Quang. Nó đen tao cũng đen hề hề hề hợp gu.

Đùng một cái như bom rơi, như đất bằng dậy sóng. Cả xứ đồn rằng Kim Quang lớn bụng. Bằng chứng là đi đâu cô cũng úp cái nón lá trước bụng. Mấy bà già trầu – đàn bà lúc đó mười cũng còn có ba bà ăn trầu  nói rằng:

–  Con Quang không chửa đem đầu tao chặt đi.

Gia đình Quang tuy một thời lính tráng, bạt mạng không kém cạnh ai. Nhưng cho đến tận thời điểm nầy chả bậc làm cha mẹ nào không cúi mặt khi con gái không chồng mà chửa. Bụng Quang lum lên mà phía đối tác chả ai bắn tiếng, thậm chí cả người tình của Quang cũng thả cục lơ. Anh bị áp lực từ cha chăng? Cũng có thể lắm, vì Bình là con một, là đích tôn của cả một hệ thống đạo đức cổ truyền cực đoan pha lạc hậu. Bình cũng lơ. Mỏi mòn quá, thêm cái thiên hạ dè bỉu ông Lộc Sanh – cha của Khiêm và Quang – đành bán nhà đưa gia đình về cố quận. Quang cũng biệt luôn từ đó.

Chuyện đến đó là tạm dừng. Vợ chồng Đình dựng vợ gã chồng cho con. Trai gái đình huỳnh tưởng không còn chi đẹp hơn. Số một là Dung, chồng cô con nhà giàu đẹp trai và học giỏi, cô cũng biết đẻ lắm. Trai gái, trai gái bốn đứa đẹp như mơ. Bình thì hơn cô những hai đứa, nhưng thua cô khoản con trai. Sáu cô cháu gái nói lên sự khát thèm vô vọng của ông nội Đình. Bình cũng vậy. Chao ôi câu nhất nam viết hữu luôn làm khổ người đàn bà, họ mang nặng vì khao khát của kẻ khác.

Cũng nên thông cảm cho Đình. Xưa nay thằng người nào trên thế giới nầy chả muốn có thằng cu. Một thực tế không thể chối là con gái lấy chồng theo chồng thì trong nhà ta còn chi? Đình buồn hơn cha chết. Những mong một cu con nối dõi tông đường và hy vọng đà tiêu tan khi lần thứ sáu vượt cạn cô con dâu hết khả năng sinh. Anh  chồng tên Bình còn khát hơn ông cha, anh bay nhảy ngoài đường và yêu đương với một góa phụ. Người đàn bà nầy đẻ cho Bình một đứa, khốn thay vẫn là gái. Vậy là Bình phải dang tay ôm hai bà. Bà sau có hai con riêng. Bình khổ như một con… Con gì nhỉ? Chả biết, nhưng chó còn sướng hơn.

Bầy con bà lớn dứt khoát không thừa nhận con em lạc ngõ. Chúng không trọng cha như xưa và cả sáu đứng hẳn về phía mẹ. Ông Đình héo queo như tàu lá chuối khô mùa gió Nam lào. Làm sao mà tươi tỉnh khi yên lặng khác thường phủ vào nhà từ khi Bình bị lộ chuyện phòng hai. Một yên lặng có phối mầu lạnh của hoàng hôn miền Trung mùa tháng mười giá rét. Để xua băng giá ông Đình ôm bầu rượu ngồi ngâm thơ. Tiếng ngâm của một ông già có rượu nghe như tiếng tụng kinh siêu độ cô hồn ngày rằm tháng bảy. Thiên hạ bình rằng:
-Cha Đình đang cầu siêu cho gia đình ổng kìa.

Họ nói vậy mà không chừng trúng à. Không phải sao? Nhà thơ, nhà văn, ông cán bộ giảng huấn chính trị bó tay với thằng con hai vợ. Bà mẹ nó, trong nhà sáu đứa, ngoài ngõ một đứa. Không nhận cháu, Đình có đáng là người không? Mà nhận thì ăn làm sao, nói làm sao cho thông với đứa con dâu mà ông đích thân cưới? Thiệt là rối như canh hẹ. May quá, rượu gạo dầm thuốc bắc đã giúp ông Đình liều mạng kiểu kệ. Đến đâu thì đến. Ừ vậy cho khỏe. Rượu ngâm thuốc độ cồn cao lắm, chỉ hai cốc là phê, là có quyền yêu đời và ngâm thơ.

Đùng một cái. Sau gần ba chục năm Lộc Khiêm xuất hiện.

Đi với Khiêm là một cậu trai. Khiêm giới thiệu:
– Thằng An con bà Quang, cháu kêu tao bằng cậu.

–  Lâu quá hả bạn hiền. Kim Quang dạo nầy sao? Mấy con rồi, làm ăn đỡ không?
– Chị Quang chỉ duy nhất thằng nầy. Bây nhận ra nó không?

Thiên hạ ngắm nghía trung niên tên An
– Bà nội tui ơi… giống cha Đình y tạc luôn.

Ông Đình nghe kể, giật mình. Ly rượu trên tay rơi xuống nền gạch vỡ tan tành.

***

Đình lập cập chống cây ba toong đi lên đi xuống, hoang mang chả biết cái tin kia là thực hay hư. Muốn hỏi thằng trưởng nam thì – trời ạ – chả biết nó đi đâu, mấy đứa cháu gái đừng nhờ chi mất công, chúng dạ nhưng chả có làm đâu mà hòng. Chao ôi một thời nhà văn nhà báo, lấy nhân lễ nghĩa trí tín làm đầu mà nay con cháu ra như ri thì đúng là hết thuốc. Việc nầy từ đâu mà ra nhỉ? Lỗi tại ông nhận đứa cháu ngoài luồng hay do thằng con trai có phòng hai? Hay là sau chiến cuộc kinh tế khó khăn học hành dang dỡ nên lòng người sinh bẩn chật? Dám lắm à. Chắc luôn chứ dám gì nữa. Dân dĩ thực vi tiên. Đừng nói dân, vua chúa còn lấy ăn làm trọng. Chả phải trong tứ khoái cái ăn đứng đầu đó sao? Càng thiếu thốn cái ăn càng bự. Nhà được vài sào đất rẫy. Lúa thượng một năm một vụ ông Đình đem gạo cho con nhỏ ngoài luồng hỏi ai không tức? Mà nếu cái tin kia là thực thì sao bây giờ? – Đình tự hỏi.

Chưa kịp tự trả lời thì Cửa đến. Nguyễn Cửa là bạn thân của Đình. Cả hai cùng học chung một trường. Mười lăm tuổi, đang trong lớp Cửa phì phèo thuốc lá. Giáo sư đến tận nơi xách lổ tai Cửa để thị uy. Cửa văng tục chửi thề inh ỏi rồi đe:

-Tao đi lính về là chết mẹ mày với tao.

Thuở ấy chuyện lính tráng cũng không chi khó. Cửa về nhà lấy khai sanh sửa năm sanh rồi đăng vào Thuỷ quân lục chiến cho nó kiêu hùng. Nhờ to con cao ráo nên qua mặt ban tuyển mộ cái rẹt. Sau ba tháng lăn lê bò toài ngoài thao trường Cửa được bốc ra Quảng Trị để tái chiếm cổ thành. Chưa được một tuần đã có mặt ở bệnh viện vì bị phía bên kia cho một viên Ak lủng bụng. Vậy là chưa đến bốn tháng làm lính đã hoá phế binh. Phế thì phế nhưng vẫn ngon vì ba tháng lĩnh lương một lần. Phế binh đồ hoa mũ nồi xanh uy lắm, đi đâu Cửa cũng móc bên hông trái lựu đạn phòng thân. Vào quán nhậu Cửa vỗ ngực rằng ta đây đã ôm cổ thành cho đến cuối mùa sương gió.  Lớn lối được ba năm thì kiêu hùng ôm gói đi cải tạo với Đình. Binh nhì mà đến ba năm cải tạo là vì khổ quá chịu không xiết nên Cửa trốn. May mà bị bắt lại bằng không chết mất xác trong rừng. Vậy nên cả hai tình như ruột thịt.

Cửa nói:

–  Xưa kia tui đã nói mà ông không chịu nghe. Ông chê con Quang đen, chê nó là dân Khmer. Đen thì sao?  Ông là dân có học mà quên mất chuyện cô đào điện ảnh hô-ly-gut giếc chi đó lấy cha thượng nghị sĩ da đen làm chồng. Giờ đây ông hối cũng không còn kịp nữa rồi ông  Đình ơi. Thằng An con con Quang với thằng Bình giống ông như hai giọt nước. Tui nói láo cho bà bắn.

Đình chống ba toong lại bên bình rượu múc một ly làm một hơi rồi múc một ly khác cho bạn hiền:
-Tao biết làm sao bây giờ hả Cửa?

Của nốc một hơi cạn ly rượu khà một phát. Cai dòng rượu gạo dầm thuốc bắc đã gì đâu. Nó làm cho ta minh mẫn mà ra kế sách:
-Tui gặp thằng Khiêm rồi… tui có ý như vầy…
-Nói đi.

–  Ông nên gặp nó nói chyện xem sao. Ông không thể để thằng cháu của ông không biết chi nguồn cội. Tui nói đúng không?

–  Tao còn mặt mủi nào Cửa ơi.

–  Nữa… ông lại sĩ diện. Xưa kia chê chị em nó lạc hậu kém văn minh. Thực ra ông mới là thằng lạc hậu bậc nhất. Khi là cán bộ giảng huấn chính trị ông lô loa rằng Chúa đã tạo ra con người và da trắng da đen da vàng hay da đỏ là như nhau. Ông nói vậy nhưng không nghĩ vậy. Nếu nghĩ vậy thì con Quang là vợ thằng Bình và ông đã không đổ thừa mọi bi đát ngày nay là do số phận. Đúng không? Bây giờ ông lại không dám đối diện với thực tế. Nếu là tôi, tôi sẽ gặp Lộc Khiêm. Chú cháu lâu ngày gặp lại nói dăm câu ba chuyện thì có sao?
– Rồi sau đó thì sao?

–  Nước chảy đến đâu vuốt mặt đến đó. Tôi sẽ bố trí cho ông gặp thằng Khiêm và thằng An…
– Mày giúp tao nhé.
– Ô kê… mà ông biết tại sao tôi nhúng tay vô vụ này không?
– Sao vậy?

–  Vụ này cực hấp dẫn. Hoàn cảnh của ông bây giờ rất chi bi đát. Thiên hạ xứ nầy đang ngóng diễn tiến tiếp theo của sự kiện. Họ biết ông cho đứa cháu gái con bà hai của thằng Bình lương ăn. Bây giờ đất đang đang có giá, năm sào rẫy của ông trên đèo ông Phật sẽ ra sao nếu thằng An nhận ông và thằng Bình là ông nội và cha? Ái chà chà… hậu quả của ông thật khó lường ông bạn già ạ…

Ông Đình toát mồ trán khi nghe Cửa nói. May quá, dù sao cũng có bình  rượu gạo dầm thuốc bắc. Rượu muôn đời là cứu cánh khi bế tắc. Ông một ly và bạn Cửa  một ly. Kẻ thống khoái còn người bi khoái qua một tiếng khà.

Một tuần sau Cửa đưa bạn Đình đến cà phê Suối Mơ.

***

Thị trấn nầy chả có con suối nào để mà mơ với mộng, nhưng cà phê của anh chồng tên Suối và chị vợ tên Mơ thì tuyệt vời. Thuở Cộng Hoà tại vị thì Suối Mơ lẫy lừng tăm tiếng. Chủ quán có biệt tài rang và pha chế cà phê kiểu đến một lần phải đến lần hai. Thiên hạ đồn cà phê quán này có tẩm thuốc phiện nên say lòng khách. Sau ’75 cà phê nằm trong dạng xa xí phẩm. Những địa danh như Buôn mê thuộc và Đà lạt cà đã ít thì chớ còn bị hoang hoá bởi loạn lạc, vậy nên đắt kinh hoàng. Một tạ cà phê nhân cả cây vàng. Dân chạy ăn bạt mặt, cà pháo đầy chứ phê thì có mà mơ. Nói vậy chứ cũng có những tay lên ông thành cha nhờ hôi của trong biến động và cũng còn những anh chị tuy lý lịch bần nông nhưng vàng cả thùng đại liên dấu dưới giếng. Họ vẫn đến Suối Mơ kiếm ly đen nóng nói chuyện thời cuộc. Thuở ấy tụ năm tụ ba là cải tạo chứ không đùa. Vậy nên  chủ quán bèn chia quán ra hai phần. Bên trong chứa bọn tiểu tư sản thích cà kê, bên ngoài bán nước é cho dân lao động. Nhiều năm về sau khi cán bộ cũng có quyền làm giàu và cà phê phải có thêm ôm iếc, ma tuý dân chơi chích thẳng vô tĩnh mạch thì Suối Mơ ế òm. Chỉ những tay biết cái sự ngon của cà phê mới đến. Họ yêu cái phòng kín đáo và đầy ắp kỷ niệm của một thời uống ly cà phê phải thụt thò.

Lộc Khiêm từng là khách của Suối Mơ, nhất là những tháng ngày yêu đương với em Dung con gái Nguyễn Đình. Sau khi em Dung theo chồng, Khiêm ôm quán hận tình thêm thời gian nữa rồi bán xới ra đi. Nên chi, khi quay lại đường xưa lối cũ Khiêm đến Suối Mơ để tưởng niệm một mối tình. Than ôi yêu nhau mà không lấy được nhau thì  người ta cứ nhớ hoài.

Và Nguyễn Cửa đưa Nguyễn Đình đến để gặp Khiêm và An. Về sau Cửa nói với ba quân rằng hắn đã quá sai lầm khi nhúng tay vô vụ này. Cửa không ngờ sự  kiện diễn tiến theo một chiều hướng không lường được. Thánh cũng bó tay:

–  Bây biết không? – Cửa nói với chúng sanh – ông Erich Maria Remaque nói rằng con chó no bụng rồi mà thẩy cho miếng thịt nó vẫn đớp. Vì sao? Vì ăn thịt là bản năng của loài chó. Con người ta giàu nứt đố đổ vách mà thấy cục vàng vẫn tối mắt và xúm nhau dành nói chi nghèo. Con người xét về bản chất trước tiên là một loài thú. Tao nhớ đại khái vậy và không ngờ bầy cháu cả nội cả ngoại của ông Đình lại tệ đến hết thuốc chữa.

Khi Cửa và Đình vào phòng thì mục kích cả tốp, hai thứ cháu nội và ngoại và Lộc Khiêm đang điểm mặt thằng Châu – Châu là cháu ngoại của Đình –:

–  Câm họng mày lại. Bọn mày được giáo dục từ đâu mà xem của cải nặng hơn tình vậy. Nè… chưa chi mà bây đã sợ bị mất phần rồi là sao? Tao tội nghiệp cho ông Đình quá. Thằng An không hề là cháu nội và là anh ruột của bây đâu mà lo. Về quê là bà chị tao phá cái thai hoang liền. Thằng  An giống ông Đình là ngẫu nhiên thôi…

Khiêm quay ra cửa:

–  Ô kìa… chú Đình… bầy cháu của chú hiểu lầm rồi, chúng nó nghĩ tôi đưa thằng An về đây để nhận cha và ông nội để chia mấy sào đất rẫy đang có giá của chú… ha ha ha…

Trước khi đến Suối Mơ Đình và Cửa và làm vài ly rượu gạo dầm thuốc bắc. Uống cho có khí thế mà đối diện với sai lầm vậy mà. Và tuổi già và huyết áp cao cùng cái hiện thực phủ phàng đánh Đình một cú. Ông già sáu mươi mấy tuổi ngã huỵch xuống sàn phòng:

–  Bà mẹ nó – Cửa văng tục – phải chi tao đỡ kịp thì chắc không đến nỗi bất toại như hôm nay…

Nguyễn Trí 

NHỮNG BẢN DẠO KHÚC CỦA NGUYỄN QUANG TẤN

 

Ngoài thơ thẩn, nhạc nhẽo, anh ta chẳng biết cái quái gì. Ngớ ngẩn như một đứa bé. Vì thế giang hồ gọi anh là Hoàng Tử Bé. Tấn ít nói, lại càng ít nói về Thơ. Nếu có ai hỏi thì câu trả lời của anh ta thường là: “ Tôi làm thơ là bởi vì tôi biết làm thơ, cũng như tôi cuốc đất là bởi vì tôi biết cuốc đất, chẳng có quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách gì.” Trí Khùng tôi nghe riết bực mình, muốn văng cái con củ cải. Nhưng đôi khi thấy anh ta buồn rầu, tôi cũng tán: “Tìm được một anh thủ tướng tài giỏi đã khó, kiếm được một tay đàn địch, thơ phú như anh lại còn khó hơn…” Nghe tôi nịnh, anh ta cười, khoái lắm.

Đọc thơ của Nguyễn Quang Tấn, cái đầu tiên ta thấy là: “ CHỮ ” biến đi đâu mất. Biến sạch, chỉ còn hình tượng. Tác giả hầu như không chú trọng nhiều đến ngôn từ, nhưng lại rất thích sử dụng hình tượng. Trong thơ anh rất khó để tìm thấy một từ có tính hàn lâm, kinh viện, sáng tạo, cách tân vv… nhưng hình tượng thì lại đầy ăm ắp, nhan nhản: “đêm mơ người gù lưng ghánh gồng ác mộng…” “ khi hoàng hôn chim tìm đường về, tôi vác tảng đá lên đường đi…” “ dù đường xa từng bước tật nguyền…” “ trong đôi mắt nàng, tròng đen đã rơi đâu mất, nhưng tròng trắng thì vẫn còn nguyên…” những hình ảnh này có khi lại chuyển động với không gian rất rộng: “bầy người đói lả, trong bóng chiều tà, mang vài hạt giống, đường về đất hứa bao xa…” Ngoài những hình ảnh bi thảm, rờn rợn, vẫn thấp thoáng những hình ảnh rất gợi cảm: “mầu hoa thanh tân, đêm xuân rơi trên đôi vú trần…” “ bàn chân trần nằm trên bờ đá trắng, bờ đá trắng nằm dưới bàn chân trần…” “thương đôi môi nhỏ, ngậm một nhánh cỏ úa mầu…” Hay là chỉ bằng ba câu là đã vẽ nên một bức tranh bốn mầu: “sương trắng chưa tan. cô gái môi đỏ đã hái những trái chín vàng. đặt nhẹ nhàng lên thảm cỏ xanh…”

Trong Dạo Khúc, ngoài tính Họa là tính Nhạc. Những câu dài, thướt tha nằm cạnh những câu chỉ có hai ba từ, đôi khi chỉ có một từ và những quãng lặng, ngắt dòng đã làm nên Tiết tấu:

tôi vẫn nhớ một đêm đôi mắt em nhìn tôi đăm đăm
mắt hươu nai…
mắt sông dài…
mắt như vì sao đẹp nhất bầu trời đêm nay xuống cõi đời và nói …
yêu tôi.

Hình như là tất cả những âm luật của thơ Đường, thơ Lục bát, thơ Mới, thơ Tự do, Sonnet, Ballade, Haiku vv… đều được tác giả một cách vô thức mang về xào nấu khá công phu để tạo ra những giai điệu, hòa âm cực kỳ phức tạp. Phức tạp nhưng không hỗn loạn. Có thể nhìn thấy rất rõ điều này qua Dạo khúc số 73: “phố đèn mầu…hai kẻ đui mù đang dìu dắt nhau…” Tôi không biết gì về thi pháp nên không dám lạm bàn, tôi chỉ thấy một điều mà ai cũng thấy: Trong Dạo khúc, ngoài tính Hội họa, còn có tất cả những yếu tố của Âm nhạc: Giai điệu, Tiết tấu, Hòa âm.

Ngoài tính Nhạc và Họa, còn thấy rất rõ tính Kiến trúc. Đừng nghĩ rằng Nguyễn Quang Tấn làm thơ hồn nhiên như hơi thở, thơ cứ thế tuôn ra… Lầm đấy. Anh ta như một con bạc gian lận, nhìn thì cứ tưởng là ăn may, nhưng thực ra là cả một sự tính toán, sắp đặt, cân nhắc đến từng chi tiết nhỏ nhất. Chẳng hạn: “ gió lung lay mái lều mục tử” và “gió hắt hiu mái lều mục tử”. Hai câu chỉ khác nhau hai từ. Những đảo ngữ và điệp ngữ được sử dụng khá nhuần nhuyễn, câu mở đầu cũng là câu kết thúc vv…Những chi tiết như thế nhiều, nhiều lắm.Trong một bài, nếu ta thêm vào, hay bớt đi một từ, hoặc thay từ này bằng một từ khác, thì ngay lập tức, bài thơ sẽ què quặt, sẽ méo mó, toàn bộ công trình xây dựng sẽ sụp đổ như nhà thơ Thận Nhiên nhận xét về những bài Dạo khúc: “Không thừa, không thiếu một chữ ”
Sau cùng, và cũng là quan trọng nhất: Tính Hiệu quả: Ta đang vui, Dạo khúc làm ta buồn, ta đang tỉnh, Dạo khúc làm ta say, ta đang ồn ào, nó làm ta trầm ngâm…

Có người cũng cho rằng Nguyễn Quang Tấn chỉ làm thơ tình, và thơ tình của anh mượt mà theo kiểu “nơi này thành sông thành biển, nơi này anh đã yêu em…” Không hẳn như thế. Rất nhiều bài, nhiều câu mang mầu sắc Tôn giáo:

ôm lấy trời xanh
buông ra là ngã xuống
buông ra là tan tành
dưới kia đá dựng chông chênh.

Trong cõi đời khô cứng, bạo tàn như đá dựng, con người vẫn mong mỏi tìm được nơi nương náu trong khoảng trời xanh bao dung như lòng mẹ. Trong thơ anh, tôn giáo và tình ái thường trộn lẫn với nhau:

khi chúa cứu thế làm rơi giọt máu nhân loại mong chờ
ướt đẫm trang thơ
tôi xé chiếc áo độc nhất
lau gương mặt em bụi mờ ...

Và:

tâm hồn tôi đêm nay sẽ mỉm cười nụ cười phật tổ
vô lượng từ tâm
khi khói hương mờ tỏa đóa sen hồng
nếu em về làm gốc bồ đề giải thoát
bóng đổ dài đổ suốt phương đông …

Cũng có người phê phán thơ anh là loại thơ tháp ngà, ốc đảo, quanh quẩn trong chuyện cá nhân … Nhưng đọc kỹ, ta gặp trong thơ anh những câu hỏi gắt gao mang tính Nhân Loại:

vinh dự của lưỡi gươm có phải chăng là thấm máu người
hoang vu dấu hỏi
đất đá trả lời
chuyến xe thổ mộ
đường về xương trắng phơi …
phơi.

Gươm phải thấm máu người mới là vinh dự? Người phải giết người mới là vinh quang? Những dấu hỏi hoang vu bắt gặp trên đường về đầy xương trắng. Tình yêu trong thơ Nguyễn quang Tấn không hạn hẹp trong phạm vi đàn ông với đàn bà. Nó lan tỏa, xót thương đến tận những loài côn trùng, những con thú trong bước đường cùng:

mắt thợ săn rực sáng cuối đường
con thú nhỏ
cúi đầu liếm vết thương…

Và:

hay là chúng ta thử dừng cuộc vui để khóc xem sao
may ra nước mắt
cứu được bao xác thân hèn mọn côn trùng
đêm hỏa thiêu lửa về ngun ngút
ngập trời tây
rồi ngập trời đông…

Có khi lại thấp thoáng mầu sắc chính trị:

hay là chúng ta hãy ngưng reo hò trên những chiến công
để cúi nhìn tan vỡ tận đáy lòng …

Nhiều văn nghệ sĩ tuyên bố: “Thơ là phải mang tâm thế thời đại.” Nhưng khi được hỏi tâm thế thời đại là cái gì thì họ trả lời lúng túng. Có người cho rằng phải nói về chuyện cá chết ở Vũng áng, Trung quốc thao túng Biển đông vv… Thật ra, những chuyện cá lớn nuốt cá bé, kẻ mạnh ức hiếp kẻ yếu, nước lớn thôn tính nước nhỏ là những chuyện ngày nào cũng có. Có từ khi loài người xuất hiện cho đến ngày tận thế. Đấy không phải là tâm thế của thời đại nào cả, chỉ là những chuyện thời sự. Khi những chuyện thời sự này qua rồi mà đọc lại những tác phẩm viết về nó thì giống như đọc lại một tờ báo cũ, nói về một vụ án đã xử rồi. Có vẻ như là tác giả Dạo khúc không bận tâm gì đến chuyện mình phải viết cái này hay cái kia, tâm thế thời đại hay tâm thế thời sự, mà đơn giản là: Trong lòng của mình có cái gì thì viết ra cái ấy. Một điều không cần bàn cãi là: Chỉ có một Tình Yêu rộng lớn là có thể thay đổi được Thế giới, chấm dứt được những xung đột máu xương giữa người với người, dân tộc với dân tộc

Một điều vô cùng nguy hiểm cho các văn nghệ sĩ là chạy theo những trào lưu mang tính thời thượng, đến khi trào lưu này thoái trào, lỗi thời, thì họ cũng mất tích theo. Một sự phí phạm đáng tiếc nếu các văn nghệ sĩ này có thực tài. Trong đạo quân nhà thơ đông nghìn nghịt hiện nay: Thơ thiền, thơ tranh đấu, thơ tình dục, thơ tân hình thức, thơ hiện đại, thơ hậu hiện đại, thơ lên đồng vv…không biết đặt Nguyễn quang Tấn ở trong hàng ngũ nào. Anh phải đứng một mình. Có thể là đứng hiên ngang oai hùng, nhưng cũng có thể là đứng co ro, ủ rũ, nhưng vẫn cứ là phải đứng một mình.

Như đã nói, tôi không biết gì về thi pháp, cũng không biết gì về phê bình văn học. Tôi chỉ nói theo cảm tính bình thường của một người đọc thơ bình thường, nói ra những điều bình thường ai cũng có thể nhận thấy. Sau cùng, xin trích dẫn một câu của Nguyễn Phước Nguyên:

– Đọc Dạo Khúc Đi, Bạn Sẽ Không Thất Vọng.

NGUYỄN TRÍ.

            Cáo rừng Rô Trung

 

X gọi Trung là cáo rừng. Thuở còn là lâm tặc thợ rừng cho chí bảo vệ nể Trung lắm. Bảo vệ khi truy quét để bắt gỗ khai thác lậu chưa khi nào Trung bị thộp. Hắn tinh như một con cáo. Thực ra có thành hồ ly như Đắc Kỷ một khi bảo vệ đã bắt thì có chạy lên trời. Nhưng, đã là lâm tặc thì phải biết đường mua cán bộ bằng mồi bén và rượu ngon. Lâm tặc thì chục thằng rượu đúng mười. Bảo vệ cũng chả kém cạnh chi. Thử hỏi ôm súng đi miết trong rừng ai chả buồn. Buồn thấy ông bà cố tổ luôn chứ thấy mẹ thì nghĩa địa chi. Đang đi hốt nhiên lù lù trên đường be một toán thợ săn người sắc tộc đang tạc thù bên một con gà rừng hay cheo chồn chi đó, không ghé là ta không phải đạo. Trong bàn nhậu ấy ắt phải có một hai lâm tặc người kinh. Bọn khốn nầy cù rủ người sắc tộc anh em lấy gỗ cho chúng. Chỉ cần rượu nếp cái, một ít tiền và biết nói chuyện bằng tiếng sắc tộc là xong ráo. Gì chứ vụ nầy Rô Trung số dzách. Hắn ta nói với ba quân:

  • Cứ ở với họ chừng ba tháng là sành điệu ngay.

Vậy nên ở rừng Rô Trung được anh em sắc tộc coi như con trong sóc. Trung lại lấy gỗ kiểu dã chiến chứ không xe thồ như thiên hạ. Một phách bề mặt năm mươi,  dày hai mươi phân nằm yên trong một bao tải, gùi lên vai Trung băng rừng lội suối về xuôi. Một cục vậy mà Cẩm Lai hay Gõ Đỏ thì cây vàng là ít. Rô Trung chung lại cho anh em trong Sóc cả rượu cả tiền hai chỉ vàng là hết phép. Lâm tặc mà. Họ ăn trọc rừng trọc núi thì lòng anh em sắc tộc họ ăn luôn đâu có chi lạ.

Rô Trung đúng là con cáo rừng.

Nhưng vậy thì có chi mà không bắt được? Rừng của toàn dân mà bảo vệ là đại diện. Người sắc tộc sành chứ bảo vệ không sành à? Rô Trung mua sao cho hết? Mà bảo vệ chỉ là thứ lính lác. Trên họ còn có tiểu khu phó và trưởng. Trên tiểu  khu là đủ thứ râu ria chứ đâu phải trò trẻ con. Mua ư? Còn khuya.

Lý do gì chưa khi nào Rô Trung bị thộp?

Lời tục truyền rằng… riêng cái vụ ăn tục nói phét và diễn chuyện thì – xin thưa – chả có ông nhà văn nào trên toàn thế giới nầy qua nỗi bọn lâm tặc. Không tin nghe chúng nói về Rô Trung là ngã ra kinh ngạc liền một  khi. Rằng thì là ba giờ sáng hôm đó chuồng heo nhà tiểu khu trưởng tiểu khu Y bị tanh banh vì bộc phá. Máu của hai con heo áng chừng ba mươi ký chảy thành dòng xuống con sông sau lưng nhà.

Rõ ràng vụ việc có tính toán. Nếu nổ lúc hai giờ thì tôi chết rồi – tiểu khu trưởng nói – lúc đó tôi đi tiểu. Còn nếu bốn giờ thì vợ tôi là nạn nhân vì đó là giờ cô ấy cho heo ăn. Thiên hạ xứ X đổ xô đến xem sự việc và họ lần ra một đường dây điện kéo đến tận mí và vắt qua luôn bên kia sông. Một chiếc xuống được triệu đến đưa cán bộ đi mục sở thị. Lúc về họ thu được một đường dây điện mới toanh còn có hai cái kẹp bình accu. Không khó để đoán ra kẻ khủng bố đã nhồi bộc phá cùng kíp nổ, bơi qua sông rồi treo lên chuồng heo. Sau đó bơi lại qua sông và cho “Oành”. Thiệt là đáng sợ.

Ai?

Một ngẩu nhiên là ngày hôm trước Rô Trung bị thộp cổ về tiểu khu. Chả biết gã ngang bướng chi đó bị tiểu khu trưởng cho mấy cú đấm. Vậy rồi một mất mười ngờ. Khi vụ nổ xảy ra ai cũng nghĩ Trung là thủ phạm. Tiểu khu trưởng trong lúc hoảng loạn cũng xuất kỳ bất ý nói rằng:

-Thằng Trung chứ không ai vô.

Nhưng cái gì cũng phải có bằng chứng, nói bậy là vu khống đa nghe. Không bằng chứng ai dám động đến ai? Bọn lâm tặc bên chén rượu cứ kháo với nhau về sự kiện. Chúng thêm thắt bịa đặt đủ chuyện từ có đến không… ô là là… kể từ đó ai cũng nhìn Trung với đôi mắt bất thường. Đại khái vừa nể vừa sợ. Dám cự lại tiểu khu trưởng để ăn đòn là dễ nể rồi. Dám oành là quá xá đáng sợ.

Một thằng lâm tặc có đọc sách phán rằng:

-Thằng Trung không thua con cáo sa mạc Rô-meo

-Rô- meo là thằng nào?

Rô-meo là – thằng đọc sách nói – tướng của độc tài phát xít Hitler. Ông ta chỉ huy một binh đoàn thiết giáp chuyên đánh trong sa mạc. Tướng lĩnh phe đồng minh thất điên bát đảo nên gọi ông ta là con  cáo sa mạc. Thằng Trung phải gọi là cáo rừng mới đúng. Cáo rừng Rô Trung.

Cái tên được gọi đầu đuôi như vậy đấy.

Bảo vệ rừng cũng e Rô Trung lắm. Họ không mạnh tay vì… sợ. Bắt, nó oành thêm phát nữa – mình chết – vợ thiên hạ xài con mình thiên hạ sai mệt lắm. Nhờ vậy nên Rô Trung cứ lẩm đẩm gùi gỗ về xuôi. Ăn nên lắm và làm ra lắm. Rô Trung mua đất cất nhà lấy vợ.

Trung bỏ nghề lấy gỗ và mở một hiệu tạp hoá cho vợ điều hành. Còn anh ta thì ngồi xem bóng đá qua ti vi.

Lúc ấy X chỉ được bốn cái ti vi màu. Giang hồ X là dân 39 tỉnh thành họp mặt nên khoái bóng đá lắm.

Và con cáo rừng Rô Trung dược dịp làm ăn.

***

Tứ đổ tường chắc chắn chả giang hồ nào qua được mặt lâm tặc. Cũng tình thiệt mà nói xem trời bằng vung chả ai qua họ. Trời không ra chi thì tiền bạc chả là cái cóc khô gì. Quan trọng là chơi hết mình. Mùa bóng đá từ quốc tế đến quốc nội chúng ghé Rô Trung vừa lai rai vừa hét hò cùng bóng đá. Lâm tặc tuy coi tiền không ra chi nhưng không tiền thì lấy đếch gì tồn tại. Chúng nói thế. Và bóng đá mà không độ điệc thì không vui.

– Tao bắt rớt-ma-nỳ chấp tây bán nhà nửa trái.

–  Một trái thì tao theo.

–  Một trái thì mười ăn bảy.

–  ô kê… chơi luôn.

Cả hai sẽ giao cái phần tiền cá độ cho Rô Trung giữ dùm. Tàn trận Trung sẽ có năm phần trăm lợi tức. Mẹ cha ơi. Một trận cả chục kèo cá độ thì Rô Trung ấm như cái nốp. Lúc nầy mới thấy cái khôn ngoan của con cáo rừng. Sự khôn ngoan này chẳng qua thua quá mà ra chứ chả phải bẩm sinh bẩm siếc chi. Trung biết bóng đá từ thời Espana 82. Bóng đá và độ điệc đã làm Rô Trung thất điên bát đảo. Kinh nghiệm dạy Trung rằng đừng có dại mà cá độ. Bao nhiêu tiền nhà cái ăn sạch. Tay chơi cuối cùng chỉ là con thiêu thân. Cứ trước mắt thì bao nhiêu lợi tức thuộc và quán Rô Trung. Tay chơi gọi:

-Cho dĩa mồi và ba xị bà chủ.

-Cho tô mì gói với ca trà đá bà chủ ơi.

Một giờ ba mươi sáng mà hầu hạ các anh thì giá cả phải khác à. Gấp đôi thì thắt họng chứ gấp rưởi là hợp lý. Với lâm tặc thua bạc triệu còn chưa lớn thì dăm ba xu lẽ đúng nghĩa đồ bỏ. Thắng sẽ chung cho thua độ chầu ăn khuya có đáng là bao. Quơn-cúp kép dài cả tháng không lâm tặc nào chịu xiết. Cuối cùng chừng như thằng nào cũng thua. Đồng bạc chúng làm ra từ rừng đi đâu hết vậy kìa? Càng về cuối tính hấp dẫn càng cao. Tứ kết bán kết rồi chung kết không góp mặt là không phải dân chơi. Vòng loại ta thua thì phải gỡ lại ở những vòng nầy. Đặc biệt là những trận bán kết. Năm ăn năm thua chứ không còn chấp chiếc chi nữa. Phải gỡ. Nhưng cờ bạc thì muốn chơi phải quăng tiền ra chiếu. Cả tháng bỏ rừng ôm ti vi thì tiền đâu nữa? Tiền ở đâu bây giờ hỡi bóng đá?

Thằng có tiền xúi thằng không tiền:

-Thì mày vay Rô Trung.

-Chừng nào trả? – Trung hỏi.

Thằng có tiền nói:

–  Nếu nó thắng thì nó trả còn tui thắng tui sẽ trả cho anh. Xem như nó thiếu tui chứ không thiếu anh. Nó mà không trả thì tui cho bà nội nó đi âm phủ luôn.

Đúng là dân chơi không hề sợ mưa rơi. Có tiền mà đối phương không có tao bao luôn mới gọi là hảo bằng hữu. Trận chiến tàn nếu được bạc là thằng vay sẽ phải chung Rô Trung năm phần trăm lãi. Sư cha nó. Khi con ma cờ bạc đã lậm vô người thì vợ chúng còn đợ được nói chi có kẻ cho vay. Rô Trung là cáo thành tinh. Ai mê đắm mặc kệ họ cứ cửa giữa Trung ăn năm phần trăm chứ tuyệt đối không dính vô ăn thua. Cứ tàn tàn vợ chồng Trung nhặt hoa rơi. Mùa bóng đá hoa rụng quét muốn khùng luôn chứ rơi sao được mà rơi?

Nói vậy chứ can ke cho kỹ lưỡng Rô Trung cũng làm một phát.

Đến ngày nay X vẫn còn kể về một trận chung kết mà Rô Trung thắng lớn. Hầu như bọn cá độ suốt một mùa bóng đã hai tay dâng sạch cho cáo rừng. Trận đấu giữa Brazin và chủ nhà Pháp. Cả thế giới nghiêng về xứ Samba. Ai cũng tin rằng gã răng thỏ Ronaldo sẽ theo chân đàn anh Romario giữ chiếc cup danh giá ở lại trên đất Nam mỹ. Dân X cũng vậy luôn. Không ai theo Pháp. Có điên mới theo.

Kèo đưa ra mười ăn bảy ăn sáu ăn năm. Cũng chả thằng liều nào dám rớ.

Cuối cùng là một triệu ăn hai trăm ngàn.

Ngẩm nghĩ một hồi Rô Trung quyết định:

-Tao bắt Pháp.

Thua lớn nhất là tiểu khu trưởng tiểu khu Y – người có cái chuồng heo bị tanh banh bởi bộc phá – phải công nhận là bóng đá đã níu kéo con người lại với nhau. Bao nhiêu mâu thuẫn trước đó của cả hai được hoá giải. Ngài trưởng tiểu khu quăng mười triệu. Những tưởng được hai triệu từ con cáo rừng. Ngờ đâu Brazin thua ba bàn không gỡ.

Kể từ đó X mệnh danh Rô Trung là ông trùm của cá độ. Đúng là trùm nhưng chả ông chính quyền nào sờ được gáy của Trung. Anh ta chỉ giữ giúp tiền thôi mà. Và cứ thế Trung tới luôn. Các loại giải từ C1. C2. Xuyên lục địa vân vân và vân vân các thứ.

Rô Trung nói với con trai:

–  Cờ bạc là bác thằng bần cửa nhà bán hết tra chân vào cùm. Dính vô cá độ thì chỉ có chết hiểu không?

Thằng con gật gù.

***

Cuộc đời nầy cứ thuận theo tự nhiên mà sống thì dễ vô cùng. Rô Trung nghĩ vậy. Sau thời gian năng nhặt nên cái bị của cáo rừng phình to ra. Và với cái đầu giảo hoạt Trung cho bầy con của mình vào thế giới của chữ nghĩa một cách đầy khoa học. Con trai và con gái Rô Trung vào đại học nhẹ như bông gòn bay trong gió chiều. Muốn giỏi theo Trung thì – cha mẹ – phải học cùng con cái. Ở tiểu học Rô Trung ngồi tỉ mẫn cùng con. Lên trung học Trung thuê thầy về kèm. Một khi không bị mất gốc thì cái học chả bao giờ là khô khan. Bầy con Rô Trung giỏi là nhờ vậy.

Con trai lớn Rô Trung tên Hùng. Học giỏi đẹp trai lại con nhà giàu nên sành điệu lắm. Một con nhỏ cùng một khoa đem lòng đắm đuối Hùng. Nàng tên tiếng việt là Hoàng Chi Mai ở nhà gọi là Woòng Sám Múi. Nàng dân chợ lớn. Cha là người Minh Hương sang Việt Nam làm ăn từ khi cái gọi là Phản Thanh Phục Minh bị truy cho toé khói. Mời Hùng về nhà chơi chủ yếu khoe của, nàng tin rằng ngữ các tỉnh về phố thằng cu nào cũng mơ đến chảy bỏng ruột gan được là cư dân phố bự. Giàu có và xinh xinh như Sám Múi cả chục thằng xin theo xách dép hầu hạ nhưng nàng không hề là dưa gang mà bở. Chi Mai Sám Múi thích duy nhất  một anh Hùng.

Kẹt cái anh Hùng không thích Múi. Chả là Hùng vốn xuất thân từ núi rừng. Cái nơi chôn rau cắn rốn ấy tuy cục mịch nhưng vụ xả láng sáng về sớm chỉ dành cho đàn ông. Sám Múi thì phố thị từ trong trứng nên thoáng lắm chuyện ăn chơi hoa lá cành. Trước khi chọn Hùng làm người mộng nàng đã yêu rất là thiệt thọ qua hai mối tình. Hùng thì tình yêu là một cái gì đó thiêng liêng và cao quý kiểu “chưa gặp em anh đã nghĩ rằng, có người thiếu nữ đẹp như trăng…” Sám Múi rất chi táo tợn còn gia đình nàng thì ô kê cái rụp làm Hùng hãi. Thật sự hãi. Đến nhà nàng chơi Hùng chỉ rúc xuống xưởng sản xuất đồng hồ treo tường xem chơi cho biết. Được ba lần Hùng chủ động chia tay bằng cách cặp kè với một em khác. Vậy đi cho khỏi rách việc.

Nhưng Chi Mai yêu Hùng rất chi thiệt thà. Đừng tưởng từng trãi mà con ma tình nó không vật. Chi Mai cũng thất vọng đến não nùng khi người mình yêu thân ái với nữ nhân khác. Thất vọng vì tình thì nam nhân chưa chắc qua phái yếu cái vụ uống rượu cho quên sầu. Một mình Chi Mai chơi cả nửa chai Chivas. Mười hai giờ đêm nàng phóng xe ra cầu sài gòn. Dưới chân cầu nàng  bị giao thông xỉa gậy tấp vô lề. Chạy xe quá tốc độ và có rượu nên xe bị tạm giữ. Buồn tình Chi Mai đi bộ lên cầu. Rồi trên thành cầu nàng nhảy một phát xuống dòng nước đen ngòm ngòm bên dưới.

Chi Mai không hay rằng cô đi đến đâu cũng có một thằng si tình bám theo đến đó. Gã trai này cũng là sinh viên cùng khoá với cô. Không biết nó yêu cô thiệt hay vì cô là con ba tàu chợ lớn. Thấy cô nhảy cầu tự vận thằng cu liền nhảy theo. Như con rái cá nó chụp được nàng rồi lôi vào bờ. Bị cái lạnh giá và nước sông toàn rác rưởi thối hoắc làm Chi Mai tỉnh hồn. Nàng gục đầu lên vai thằng sinh viên bạn rồi khóc như mưa.

-Vậy là chúng nó lấy nhau. – Hùng kể với cha Trung như vậy.
-Nhà con nhỏ đó sản xuất đồng hồ treo tường hả?

-Nhà mình cũng có bán nè ba. Ba biết giá vốn của nó là bao nhiêu không?

-Nhiêu?

-Chỉ tám ngàn đồng.

Rô Trung kinh ngạc:

-Tao lấy mối hai mươi bốn bán ra ba chục… mẹ cha ơi… dân chợ lớn giàu là phải quá.

-Ba biết không họ làm khung bằng gỗ thông. Ba cái hình vẽ trên nền thì thợ vẽ ăn theo cái. Có thằng vẽ ngày trăm cái luôn.

-Còn đồng hồ?

-Ba cái thứ quỷ nầy muốn bao nhiêu mà chả có. Toàn là hàng tàu nhập lậu qua biên giới ba ơi. Quan trọng là làm sao để có đầu ra. Nhà con Sám Múi bỏ hàng ra tận các tỉnh miền trung. Nhà mình mà có một mặt bằng ở Sài gòn làm mặt hàng nầy là giàu chắc luôn.

Cầu được ước thấy. Bạn gái của Hùng ở Bình Chánh. Ngoại trừ nhà còn có vườn. Cha nàng nghe Hùng nói bèn cho thằng trai có thể sẽ là rể thuê một trăm mét đất. Vậy là xưởng sản xuất đồng hồ treo tường dã chiến của Hùng ra đời. Gỗ làm khung được sản xuất từ mấy cái nhà máy cưa ở X. Chả Đà lạt lạc đà chi cho xa xôi. Có năm công đoạn để xong một cái đồng hồ. Dùng keo để dán thành khung. Vẽ một con cò hay con hạc chi đó trên tấm ván có chiều ngang hai mươi dài bốn mươi phân đã  xịt một lớp sơn. Gắn lên miếng ván ấy cái đồng hồ và một bóng điện hạt mít. Một tấm mica để làm mặt. Công nhân làm ăn theo sản phảm. Nhiều ăn nhiều ít ăn ít. Tất cả đều bình đẳng chả chủ tớ chi sất. Đầu ra đã có chú hiệu tạp hoá Rô Trung lo. Hai mươi năm trong nghiệp bán buôn Rô Trung đã dựng được cho mình một lượng khách hàng ở ngoài tỉnh không hề ít. Gì chứ  nhận hàng của Rô Trung để bán lẻ là chuyện thường thôi.

Vừa học vừa làm như Hùng là có một không hai. Xưởng sản xuất đồng hồ của nó đã tạo công ăn việc làm cho ba mươi nhân mạng. Một tháng Hùng xuất một nghìn chiếc đồng hồ. Mỗi chiếc trừ chi phí chỉ cần lãi mười nghìn. Một nghìn nhân mười nghìn thì ra bao nhiêu hả ba quân?

Nhưng.

Chuyện đời không hề đơn giản?

***

Trong sáu tháng. Vâng. Đúng sáu tháng Hùng tậu được một chiếc Dream Thái cáu cạnh những một chục cây vàng. Cơ sở sản xuất đã được xây tô mang tính chất lâu dài. Một kho chứa hàng thành phẩm và một kho khác chứa hàng thô. Những nhà máy cưa ở X chạy hết công suất vẫn không giao kịp gỗ lạt cho xưởng sản xuất. Cứ thế nầy mà tới thì Hùng trở thành ông bự trước khi xong đại học là chắc nụi.

Nhưng mối hàng các tỉnh điện cho Rô Trung rằng họ lỗ chỏng gọng khi bốn phương chung quanh chỗ họ mua bán mặt hàng nầy hạ những năm giá. Từ ba mươi nghìn giá bán lẻ chỉ còn lại hai mươi lăm. Hàng họ đang ứ. Nếu Trung không giảm giá thì em lấy mối khác – họ nói vậy -. Và Trung chấp nhận giảm. Hàng hoá tay em đang ứ Trung giảm luôn. Nhưng hôm sau lại điện báo rằng thị trường chỉ còn lại hai mươi nghìn một chiếc. Rô Trung buộc phải giảm thêm. Đến ngày thứ ba là mười lăm nghìn. Rõ ràng đang có một tay nào đó cố tình chơi Rô Trung.

Xưởng sản xuất của Hùng phải tạm dừng thi công theo lệnh của cáo rừng. Nhíu trán. Rô Trung quyết tìm cho ra kẻ phá bỉnh. Nếp nhăn trên trán chưa kịp giãn thì Hùng trở về từ phố lớn và báo cáo sự thể:

-Không lại dân Chợ Lớn rồi ba.

-Đầu đuôi sao nói tao nghe.

-Mặt hàng nầy họ có chân rết từ Nam chí Bắc. Giá cả bị họ khống chế họ từ bấy lâu nay. Mình xen vô nên bị triệt. Họ sẵn sàng giảm giá cho đến khi nào mình chịu không nổi phải buông.

-Bây giờ mày tính sao?

-Con chả biết tính sao. Hàng tồn trong kho cả chục ngàn, không tháo kịp buộc phải đốt để trả lại mặt bằng cho chủ đất. Chưa kể gỗ cưa ra đang ở tại các nhà máy cưa… phải bỏ thôi ba ơi.

Rô Trung vỗ vai con trai nửa đùa nửa thật:

-Chơi sao lại tụi chợ lớn mà không bỏ. Nếu trước đây mày lấy con Sám Múi Chi Mai thì không đến nỗi. Đúng không?

-Tao đùa thôi. Chơi với dân Minh Hương Chợ Lớn thì an nam mít như mình chỉ một đường là chấp nhận bị sai vặt. Là cu ly suốt kiếp thôi con…

Cáo rừng Rô Trung ngước mặt nhìn trời.

Biết chuyện thiên hạ ở X bình rằng: Hồ ly chín đuôi như Tô Đắc Kỷ còn chết vì gươm Lục Yểm. Cáo rừng Rô Trung thì được mấy cà ram.

         Nguyễn Trí     

Bi kịch vàng

 

 

Tôi chơi thân với Văn từ những năm đầu trung học. Thân lắm. Gia cảnh Văn tuy khó nhưng nó học giỏi cực kỳ. Tôi thì ngược lại. Cha tôi thường đem Văn ra để làm gương cho tôi soi. Ông mắng nhiều câu mà tôi xa xót lắm:

–  Mày đi mà giặt quần cho thằng Văn. Học hành như mày ba bữa chỉ có nước lên rừng chặt củi đốt than.

Mộng của cha là thằng tôi phải đậu hết các cái từ tú tài 1 cho đến 2. Đậu luôn y khoa làm anh bác sĩ để thây không phơi ngoài chiến địa. Thi xong tú tài 1 biết chắc mình trăm phần trăm trượt võ chuối tôi đi thẳng vô Đồng Đế Nha Trang, chấp nhận cái lon trung sĩ mặc kệ ông cha tội nghiệp chạy chọt để học lại. Học lại làm chi khi biết mình dỡ ẹc.

Văn tú tài ưu hạng và vào ngay sĩ quan Thủ đức. Chả phải nó yêu chi binh nghiệp mà bởi nhà Văn nghèo. Anh của một bầy em sáu đứa. Anh ruột nhưng Văn là con riêng. Ông dượng là binh nhất trong quân đội cộng hoà, cho Văn ăn học được tú tài là một nổ lực to lớn. Số là trước năm đất nước chia đôi. Bà má Văn giã từ ông chồng và thằng con trai sinh đôi tên Vũ rời Quảng Bình vào Huế để nuôi bệnh bà mẹ chồng. Thương thay bà mẹ quy tiên nơi đất khách. Ôm con đứng bên nầy bờ Hiền Lương má Văn khóc hết nước mắt thương chồng và đứa con chả biết bao giờ gặp lại. Than ôi là chiến tranh. Nó ngày càng phức tạp và chuyện thông cây cầu là không tưởng. Năm Văn lên bốn tuổi thì bà má bước thêm bước nữa. Biết làm sao giữa thời loạn lạc? Ông chồng sau là lính nên Văn cũng rày đây mai đó. Nó và gia đình định cư ở Bình Định sau khi đi qua ít cũng năm tỉnh thành. Lang bạt vậy mà cái chi Văn cũng giỏi. Tôi phải hai keo mới vào được đệ thất công lập, mà lại đậu dự khuyết mới là nhục nhã. Còn Văn ngọt như mật. Cha tôi bảo ngày sau tôi cu ly xe kéo âu cũng có lý. Tôi cũng muốn giỏi lắm chứ. Và giỏi đâu có dễ. Đúng không?

Sau sáu tháng lăn lê trên thao trường thằng tôi may mắn ơi là may mắn khi được gọi đi học một khoá y tá ở Tổng y viện cộng hoà trong Sài gòn. Vậy là tôi hoàn thành được ít cũng ba mươi phần trăm ước vọng của ông cha khó tánh. Không bác sĩ thì y tá. Bác sĩ kim tiêm cho thuốc thì y tá thua chi? Ra trường tôi chọn sư 3 bộ binh làm nơi tung hoành, đúng với tinh thần: “ thân trai chí ở bốn phương”. Nghe tôi đi Quảng Trị cha tôi tế lên đầu tôi một trận. Rằng ngu như bò, tại sao gần nhà không chọn lại chọn nơi chết để chui đầu? Đúng là một tinh thần hủ bại – tôi nghĩ vậy – ai cũng xó bếp để vinh thân phì gia thì lấy đâu ra câu đừng cười ta ngủ say ngoài chiến địa?

Khốn thay. Cái năm ’72 đỏ lửa suốt mùa hè ấy sư 3 của tôi thiếu điều xoá sổ. Tôi đang ở căn cứ Carol phải tháo chạy vì pháo kích chịu không xiết. Chạy một hơi khỏi Quảng trị vô Huế vô luôn Đà nẵng. Suốt một thời gian dài tôi không dám mò ra phố vì sự quá khích của các sắc lính khác. Họ gọi sư 3 là sư đoàn chạy làng. Và bảo vì chúng tôi nên mất Quảng Trị.  Với tư cách hạ sĩ quan quân y tôi được biệt phái về tiểu đoàn 3 thiết giáp. Lâu lâu về dưỡng quân nghiêng cái bê rê đen trên đầu ra phố uống cà phê đấu láo trông oách không thua anh mũ nồi nào. Và thật bất ngờ  tôi gặp lại Văn ở Phước Tường. Văn trong đồ hoa mũ nồi xanh thuỷ quân lục chiến với hai mai trên cầu vai. Uy phong lẫm liệt.

Mấy thằng gạc đờ co theo hầu trung uý Văn ngạc nhiên khi thấy xếp của chúng mày mi tao tớ với một trung sĩ quèn là tôi. Tôi cũng văng tục khi kể về những ngày xưa thân ái ở Bình Định. Sau đó trên Jeep lùn Văn múa vô lăng chở tôi ra Huế thăm người bà con nó ở Huế. Đây là cái gia đình mà xưa kia bà má Văn tạm ngụ để nuôi mẹ chồng bệnh tật. Ở đây tôi bị đập chết bởi một nhan sắc có cỡ, em bà con của Văn. Cô cũng có vẻ mến thằng tôi khi Văn kể về sự tử tế của cha má tôi với gia đình nó trong Bình Định. Thật may mắn khi Bạch Hoa – tên cô gái – không xem câu thà chết trên cành mai làm phương châm thăng tiến. Cô thích thằng trung sĩ quèn là tôi. Vậy là thứ bảy nào tôi cũng cố cho bằng được một cái sự vụ lệnh để ra Huế thăm người mộng. Cha má cô gái lo lắm. Vì sao? Vì lấy chồng lính tráng thì hát ngày mai đi nhận xác chồng, quay đi để thấy mình không là mình chắc trăm phần trăm.

Nhưng sự âu lo của hai ông bà già nhanh chóng được hoá giải bởi mùa xuân ’75. Sư 3 của tôi lại tiếp tục chạy. Lần nầy thì đừng đổ thừa nữa nghe. Chạy sạch từ đồ hoa mũ nồi đến ô liu nón sắt. Quăng cả súng mà chạy. Tôi tuôn vô Bình Định thì cha má tôi vô Sài gòn. Tôi ghé qua ăn cơm ké nhà Văn. Cha má Văn không di tản bởi không tiền. Ông dượng của Văn thì bảo rằng chạy đâu cũng vậy. Chính phủ nào cũng rứa. Một tuần sau cha má tôi và Văn cũng hồi cố hương vì Sài gòn giải phóng rồi. Văn gặp cha má tôi ở Xuân Lộc:
-May quá – Văn nói – không có ba má mày chắc tao đi bộ về quá.

Ai vui vì hoà bình đâu không biết chứ thằng tôi và Văn thì sốt vó bởi hai từ nguỵ quân. Tôi trung sĩ quèn chả nói làm chi chứ trung uý lại là sắc lính nằm trong dạng ác ôn mới là mệt cho Văn lắm lắm. Đời nghĩ thiệt buồn cười. Mới ngày nào đổ tú tài thiên hạ vừa tung hê vừa ghen tỵ. Mang cái hoa mai trên vai áo lắm kẻ suýt xoa. Nay thằng rớt tú tài ra anh trung sĩ như tôi thì:
-May mà mày rớt chứ đậu mà ra uý như thằng Văn thì lúa lép phen nầy.

Đang lo cho ngày mai chả biết ra sao thì Bạch Hoa từ Huế vào thăm gia đình Văn. Tất nhiên là thăm tôi luôn. Đi cùng cô là một sĩ quan bộ đội.

Anh ta tên Vũ. Anh em sinh đôi của Văn.

***

Thôi thì khỏi nói cái sự mừng của bà mẹ tội nghiệp. Nhìn bà khóc là tôi hiểu cái tình thương  dành cho đứa con vì chiến tranh nên ở lại bên kia dòng khắc nghiệt nó đậm sâu cỡ nào. Vũ thì ôm lấy bà mẹ, bắt tay Văn. Tất nhiên là hai thằng đàn ông Văn Vũ nầy khó lấy nước mắt của họ lắm. Lính tráng mà, ai chả đi qua những đớn đau và mất mát? Tâm tư có chai cứng cũng là điều dễ hiểu. Riêng tôi thì thèm được như Văn. Có thằng anh em sĩ quan trong tư thế thắng cuộc ít nhiều cũng bảo lảnh cho người thân cái cải tạo. Nhà Văn có hai ông nguỵ cuốn gói đi cả hai thì sáu đứa em và bà má tội nghiệp có mà vác bị đi ăn mày. Vậy là hết sức tình thương mến thương một bữa tiệc hội ngộ sau hai mươi năm chia cách được bày ra. Chỉ có rượu mới làm cho con người ta xích lại gần nhau mà… nhờ vả.

Vũ – anh của Văn – bà má nói vậy, lý giải rằng Văn ra trước nên vai em. Tôi ủa mà rằng sao ra trước lại là em? Bà giải thích ra sau lớn bởi nó có trước trong bụng mẹ. Dân ta tính tuổi con cái từ lúc hoài thai chứ không phải lúc nhìn thấy mặt trời. À ra thế – tôi gật gù – và cũng gọi Vũ bằng anh cho phải phép. Sau đó đề nghị Vũ kể về ngoài ấy nghe chơi. Vũ lại làm bà má sa nước mắt khi phải ra đời từ rất sớm để phụ với bà dì nuôi em. Sau một năm chia đôi đất nước ông cha bước thêm bước nữa, không bước lấy ai chăm thằng con mới bốn tuổi? Cực lắm. Khổ lắm bởi bà dì đẻ như gà. Nhưng cực khổ thì chịu riết phải quen, chỉ có niềm đau không quen được. Đau gì? Vũ kể về nhưng trận mưa bom thả xuống xứ Quảng Bình. Cả thị trấn biến mất sau một trận oanh tạc luôn chứ nhà tan cửa nát nghĩa lý chi. Vũ nói nấm mộ của cha anh là mộ gió vì xác bị mất trong một trận mưa bom… vân vân và vân vân. Nói chi cho hết hờn căm với đế quốc Mỹ và nguỵ quyền sài gòn. Tôi nghe Vũ nhấn mạnh chữ nguỵ mà lạnh gáy.

Ông Hoàng – dượng của Văn, tất nhiên là của Vũ luôn – sau khi đưa Vũ đi khai tạm trú liền qua nhà khoe với cha tôi rằng địa phương kính Vũ lắm. Một sĩ quan và là đảng viên cộng sản thì quá có thớ. Ông dượng chủ động chơi đẹp khi nghe Vũ nói về một miền quê đất cày lên sỏi đá, đông thiếu áo hè thiếu cơm:

–  Bình Định nầy làm ăn cũng được. Chú với má của con cũng có được ba sào ruộng… Nếu ngoài đó khó sống con cứ vào…

Sau bữa tiệc cha tôi nói:_
Ông Hoàng cũng mưu mô dữ.

Nhưng Văn nói với tôi:

–  Ông dượng tao chỉ binh nhứt mà nó còn không bảo lãnh nói gì tao. Thôi… cải tạo thì cải tạo… có ba giọt rượu vô nó nói nhiều câu tao đau lòng quá.

–  Nó nói gì?

–  Nó nhìn thẳng vô mặt tao rồi nói rằng: “ Ông già đã chết vì bom Mỹ. Tức là đồng đội của mày, đồng minh của mày đã giết ổng đó”. Nó nói vậy mày nghĩ tao có nên nhờ vả không?
-Ôi dào – tôi bỉu môi – cải tạo thì cải tạo. Sợ đếch gì…
-Ừ…

Sở dĩ Văn đồng tình là vì trên uỷ ban đã yêu cầu nguỵ quân nguỵ quyền tập trung để cải tạo ba ngày. Ba chục ngày còn pha chứ ba ngày nghĩa lý chi mà luỵ. Đúng không? Riêng má tôi thì mừng chi xiết kể. Bà mô phật cả thôi cả hồi về một đấng tối cao phù hộ. Má tôi rất cuồng ông Phật . Chả hiểu làm sao mà bà thuộc lòng lòng những bài kinh bằng tiếng Phạn.Tôi nghe những hắt ra đát na đa ra dạ da mà thất kinh hồn vía. Bà tin rằng tôi thoát khỏi lửa đạn cái mùa hè ’72, bình yên trong đận ’75 là nhờ vào từ bi của Phật. Gần nhà có một tịnh xá, bà buộc tôi và bầy em đêm nào cũng đến để tham gia tụng niệm.Tôi đi được vài hôm rồi giơ tay tạm biệt cửa tịnh xá khi phát giác có một sư, áo vàng đầu trọc tay lần tràng hạt mà có… vợ. Cha tôi bảo:
-Lên chùa để tâm được tĩnh. Sư mà vậy thì ở nhà còn tự tại hơn.

Hôm ra nơi tập trung để lên đường cải tạo Văn được tách riêng. Tôi và ông Hoàng chung một nơi học tập. Những ba tháng sau chúng tôi mới được phóng thích. Về được một tháng thì ông Hoàng qua đời vì bệnh. Văn thì biệt mù những năm năm sau mới hồi cố quận.

Vũ, sau khi lập gia đình. Không ở được với bà dì khó tính nên anh đưa vợ vào ở với mẹ ruột. Với cái uy đảng viên sĩ quan quân đội ngay lập tức Vũ là thành viên của chính quyền xã tôi cư ngụ. Vũ là người vận động gia đình giao ruộng và tham gia hợp tác xã nông nghiệp đầu tiên. Thiên hạ bảo rằng nhờ vào việc nầy nên Vũ được cất nhắc lên chủ tịch xã. Văn về và chắc chắn đầy tâm sự khi trong nhà có thêm người… dưng cùng máu. Nó dốc bầu với tôi:
-Chán quá. Tao không thể chung nhà với thằng này được rồi.
-Anh em cả mà. Có gì mà giận?
-Bực quá… tao mới trình diện xong là nó bảo tao làm đơn xin vô hợp tác xã nông nghiệp.
-Thì ở đây ai không vậy. Cả nhà tao ai cũng xã viên.

Lợi dụng dáng vẻ ốm o gầy mòn như một thằng nghiện sau năm năm cải tạo Văn cáo bệnh để không vào hợp tác. Vì việc nầy nên anh em Văn Vũ không thuận nhau. Một chủ tịch xã hô hào bà con hợp tác mà người nhà không vào thì nói ai thèm tin. Chủ tịch Vũ hay trò chuyện với ông ba phải là cha tôi lắm. Nghe chuyện cha tôi gật gù:
-Để chú động viên nó vào.
Tôi cũng ba phải luôn cho rồi:
-Để tôi nói với nó. Ai đời anh cán bộ mà nó vậy thì mất quan điểm quá.
Và đời không đơn giản.

***

Cái gọi là huynh đệ tương tàn tưởng chỉ trong chiến tranh, ngờ đâu trong thời bình cũng tương nhau đến tàn chứ không đùa. Cũng một ông đế quốc Mỹ mà ra cả. Nghe Văn sẽ được hiệp chủng quốc rước đi theo dạng hát ô. Ba quân thiên hạ nói vơi cha tôi:
-Con ông mà sĩ quan, năm năm cải tạo như thằng Văn thì bây giờ ngon hung.
Thật là… tái ông thất mã. Cuộc đời may mắn hay bất hạnh chả biết đâu mà luận. Bà xã tôi cũng trầm trồ:
-Ông Văn chuyến này ngon lành rồi hả anh?

Tôi gật cho qua chuyện. Nghĩ đến ba tháng khai hoang phục hoá những cánh đồng đầy  lau sậy, rắn rết thời cải tạo tôi thất sắc. Văn những năm năm. Năm năm đủ để một thuỷ quân lục chiến kiêu hùng hoá hèn. Và qua xứ cờ hoa với thân phận một bại binh có lành được một tâm hồn đã vụn vỡ không? Vậy mà lắm kẻ mơ ước được như Văn.

Chính cái khó về vật chất mà rất nhiều khi vợ tôi còn cáu kỉnh về những ly rượu chồng cô hào phóng đãi bạn. Là nông dân tôi vẫn dăm ba ly giải phá cơn sầu. Văn về, thấy nó ảm đạm quá nên tôi cụng ly với bạn cho vui. Khó khăn nên vợ tôi cáu, cũng cảm thông cho cô. Bữa ăn cho bầy trẻ mì độn gạo mà bày đặt bạn bè. Nghe Văn sẽ qua trời âu mỹ cô thay đổi ngay thái độ. Tôi hiểu lắm. Một miếng, một ly bây giờ chính tôi còn mong một ngày mai bạn có nên thì đừng quên…

Nhưng Vũ thì khác. Anh không đồng tình khi Văn quyết định ra đi.

Vũ can ke lúc tôi và Văn tạc thù liền có mặt. Rất nhanh chóng cho ra một khẩu chiến. Có hơi men Văn gằn giọng:

–  Anh có mục đích của đời anh, tôi có cái của tôi. Tôi và anh là hai con người. Ai có nghĩ suy nấy. Hiểu không?

–  Mày không nói vậy được. Năm năm mày cải tạo không có tao mày nghĩ cái nhà nầy ra gì không?

Văn cũng mày mi tau tớ:

–   Mày vì mày chứ vì ai. Xưa kia chỉ một tiếng nói của mày chắc chắn tao không có năm năm khổ như một con vật. Bây giờ sợ bị ảnh hưởng đến quyền lợi chính trị nếu có một người thân chạy theo đế quốc chứ gì? Tao với mày không cùng chung chiến tuyến. Chết cũng vậy.

Tuy chỉ vài câu nhưng lại là một cuộc chiến không khoan nhượng.

Và rồi Văn lên đường. Tôi chả biết bà Hoàng – mẹ của Văn và Vũ – vui hay buồn khi con trai ra đi. Chuyện anh em bằng mặt nhưng không bằng lòng chắc bà đau khổ lắm. Tội nghiệp bà quá. Anh em cùng một chỗ những chín tháng, ra đời cách nhau có dăm phút mà xa nhau vạn dặm, tôi còn đau lòng nói chi bà. Nhưng chuyện không ngừng lại ở đó.

Vài tháng sau khi Văn lên đường thì Vũ được đưa đi học. Nghe chuyện cha tôi nói:
-Thằng Vũ chuyến nầy ao cái chủ tịch.

Quả nhiên sau mấy tháng Vũ về thì bàn giao chủ tịch, lên huyện làm phó cho một ban ngành. Đang sai phái và ra lệnh, bây giờ bị ra lệnh. Vũ buồn. Đàn ông xưa nay luôn dụng rượu để giải buồn. Và rượu muôn đời làm người ta hư hỏng. Vũ điểm tâm sáng vài ly khi đi làm việc, chiều về có nhiều hơn tí chút để tìm giấc ngủ muộn. Tôi rõ điều nầy bởi là bạn rượu của anh. Mọi thứ đều được tăng lên vì cảm giác. Cái cảm giác quên hết sự đời khi lâng lâng đã vùi anh xuống hố. Vũ bị kỷ luật sau rất nhiều kiểm điểm vì mất tư cách phẩm chất khi làm việc. Cuối cùng bị tước cả đảng tịch.

Sự mát mát chức quyền đã làm Vũ bất đắc.  Buồn hơn chắc chắn là niềm cô độc. Một ông quan bị huyền chức nhận được ngay sự ghẻ lạnh của thần dân trước đây từng tung hô và cúi đầu xu nịnh. Họ như không thấy Vũ trên dù gặp trên đường.Tiếng thì thào rằng còn thời cưỡi ngựa bắn cung, hết thời cưỡi chó lấy dây thun bắn ruồi… tôi nghe mà đau đớn hộ cho anh.

May quá cái thời gian. Nó vùn vụt, mọi sự rồi cũng hoá bình thường. Khổ đau mất mát chi con người ta cũng chấp nhận được hết. Và nếu sự đời cứ thế mà trôi cho đến ngày tận thế thì hay quá. Hay biết là bao nhiêu. Nhưng không hề là vậy.

***

Lần đầu tiên về thăm nhà sau năm năm tôi hỏi Văn:
-Ra sao rồi?
-Nói chung là ổn.
-Vợ con sao?
-Một vợ hai con. Bà xã tao qua Mỹ hồi 75.
-Giờ muốn gì nữa không?
-Muốn khi chết được chôn trên đất này.
-Bộ xứ cờ hoa không đất chôn hả?
-Tha phương nhớ nhà lắm.

Chắc là ăn nên làm ra lắm nên những đứa em của Văn khá lên trông thấy. Ngay cả tôi đôi khi cũng được hưởng sái vài trăm đô Văn gửi về thân tặng. Và không một lần nào về nước thăm quê hương Văn chung bàn với Vũ. Tôi hỏi Văn:

-Sao mà như nước với lửa vậy?

–   Nó nói nó ra như hôm nay là bởi vì tao. Mày thấy vô lý không? Tao vừa đến nhà thắp mấy cây nhang cho bà già thì nó đã lợi dụng rượu sách nhiễu tao vụ bà già chết mà không về. Thật là bực mình.

Văn đi thì tôi tiếp tục rượu trà cùng Vũ. Cứ có ba ly vô là anh nói. Chủ yếu về một thằng em sinh đôi và đổ mọi thất bại đời mình là do nó. Tôi yên lặng lắng nghe và rất cảm thông cho anh. Nếu Văn không đi Mỹ ắt anh đã không bị loại khỏi cuộc cờ quan chức. Thuở Văn đi thì cái gọi là xét lý lịch ba đời vẫn còn mặn lắm trên đất nước nầy. Đã hơn một lần Vũ kể với tôi may mà cha và má ruột của Vũ lấy nhau không hôn thơ hôn thú. Cái thời chống Mỹ ai có người thân theo nguỵ thì chớ có mà hòng đảng hay sĩ quan. Nhưng Văn có tội chi trong cuộc thế nầy? Tôi và Văn chung một đệ nhị, đậu hay rớt, lính hay tráng hai thằng tôi đâu định được đời mình? Chao ôi… – tôi ngâm ngợi : Sao bao nhiêu năm tháng qua không từ giã cuộc đời đi làm hoà thượng để những ngày tu đắc đạo sẽ làm búa xẻ rừng làm sông chở gỗ củi đem về để ở sâu chùa mà làm lễ hoả thiêu? Sao lại sống để buồn nôn khi nhìn cuộc đời mặc cả tình yêu và đến khi nhắm mắt xuôi tay còn phảng phất u buồn trên mi mắt?(1)

Tôi. Sau khi bị vài nhát roi đời quất vô mặt nên nhủn như chi chi. Ai nói chi cũng  ậm ờ cho qua. Cũng chả chết ai. Thằng bị chửi ở tuốt bên Mỹ có nghe được chi mà ý kiến. Về. Văn ở khách sạn, tạt qua thắp nén hương cho mẹ không quá nửa tiếng đồng hồ. Cả hai chưa khi nào chung một bàn sau năm lần trong ba mươi năm Văn rời xa quê hương. Đời tôi cũng có biết vài chuyện anh em cạch mặt nhau.Thiên hạ giết nhau vì gia tài là phần lớn nhưng anh em Vũ Văn là một thứ trái khoáy nhất trần ai. Tôi nghĩ mãi vẫn không hiểu họ không nhìn nhau là bởi cái gì?

Nhưng thây kệ. Kẻ âu người á ba mươi năm mà thoáng qua được năm lần cũng chẳng hề chi đến hoà bình thế giới.

Nhưng.

Lần thứ sáu Văn về thì sự cố xẩy ra.

***

Sự cố xấy ra bên ngoài cổng nhà nhưng cũng làm tôi đến mệt. Tôi phải khai đi khai lại cả chục lần rằng Văn đến nhà tôi lúc tám giờ tối. Hai anh em có uống vài ly và tâm sự. Mười giờ Văn về lại khách sạn. Tôi đưa bạn ra cổng bắt tay tạm biệt rồi vô nhà. Nếu tôi đưa Văn ra đường thì chắc mọi chuyện đã khác. Thực ra ba cái uýt ky chính hiệu Mỹ làm tôi say tỉnh là đà, già rồi, sáu mươi tuổi mà cả năm ly rượu mạnh là quá lắm. Nếu không có tiếng cười lộng lộng trong hẻm vắng ắt tôi đi một mạch về bến mê luôn quá.

Tôi tỉnh cả hồn lẫn xác khi Văn nằm bất động và trên tay Vũ là một lưỡi dao nhọn hoắt. Anh ta đang cười. Sợ quá tôi cũng la làng lên. Bà xã và mấy đứa con chạy ra. Bên nhà Vũ đủ mặt. Công an đến và Vũ bị bắt tai trận. Giết người mười mươi luôn.

Nhưng tại sao? Công quyền hỏi. Tôi lắc đầu. Biết cái gì tôi chết liền.

Còn bạn? Bạn biết vì sao không?

 

  Nguyễn Trí

Yêng hùng

nguyentri

 

Tèo Tích khét tiếng ở tái định cư X về kỹ thuật chạy xe bốc đầu. Bằng một bánh sau nó lướt cả trăm mét mới cho bánh trước tiếp mặt đường. Bọn trẻ trâu nể lắm. Một anh, hai cũng anh – chúng gọi – ra chiều kính trọng. Nể chứ. Không luyện tập dễ chi được vậy. Thằng nào ngon bốc đầu chạy được chục mét là hết phép, trăm mét ngoài như Tích thì gọi anh là quá đúng. Dân chơi xứ ruộng mới lên đời là vậy đấy, thằng nào có tí tài vặt là lên anh. Riêng Tích trừ cái vặt chết người nầy nó còn có một vũ khí khác cũng tương đối lợi hại. Chả là – thiên hạ nói – Tèo Tích  ỷ thể là em ruột Tèo Bầu.

Tèo Bầu tên thiệt thọ là Nguyễn Văn Bầu. Phó công an xã M và tái định cư X thuộc sự quản lý của M.

Ba cái vụ nẹt ga bốc đầu cư dân tái định cư ghét lắm, họ chửi cho thiếu điều tắt bếp. Bà nội cha nó chớ. Chạy kiểu đó cũng có ngày gãy họng do chính mình gây ra. Họ chửi bọn đua xe, chửi Tèo Tích lây qua Tèo Bầu. Thiên hạ xưa nay vô lý vậy đấy. Đua xe cả nhóm biết thằng nào đầu đảng mà tội lệ cứ một Tích mà gieo? Con em thường dân họ không nhắc, cứ Tèo Bầu họ mắng mỏ. Nào là đường đường cán bộ mà em út không trị thì nói ai nghe? Họ không chịu hiểu, hay cố tình không hiểu rằng cán bộ cũng người phàm như bất kỳ ai. Cha làm thầy con đốt sách là quá thường. Anh quan chức em là ăn cướp cũng chả có chi lạ nói gì đua xe. Hơn nữa cái hộ gia đình ông Nguyễn Văn Bảo cha ruột của Tèo Tích và Tèo Bầu nó có hơi khác với tha nhân một chút.

Hai anh em tuy chung nhà chung họ và chung cha nhưng thiên hạ bảo rằng Bầu và Tích không ruột rà chi ráo. Họ kể nếu không vì một ác nghiệt của cuộc đời thì còn lâu – cô Thuý – má của Tèo Bầu mới là vợ ông Bảo. Thuở con gái Thuý đẹp như tiên sa. Bảo vừa đen vừa xấu lại nghèo mướt thì chỉ có đứng xa xa mà ngắm? Cô Thuý yêu đương với một thằng con nhà giàu. Khi bụng cô Thuý lớn lên thì trai đẹp nghe cha mẹ lấy vợ. Thằng khốn kiếp chả đoái hoài khi nghe tin cô nhảy cầu tự vận. May cho cô Thuý là khi một hai ba lao xuống sông anh Bảo đứng bên trên. Bảo cứu người mộng vô bờ rồi đưa đi bệnh viện. Cảm cái tình nầy nên nàng đồng ý nâng khăn sửa túi cho chàng. Bù lại chàng xem con nàng là con của đôi ta.

Đôi trẻ ở với nhau được năm năm thì tan hàng. Chả là cô Thuý không quên được tình xưa. Một hôm kia Bảo được bạn nhậu gài thế dẫn đi phục kích và thấy vợ cùng tình cũ trong một nhà nghỉ bình dân. Bảo ngộ ra vì sao ăn ở với nhau những năm năm mà nường không đẻ cho mình nhóc con nào để hú hí. Hận tình lên ngút trời xanh Bảo nhào vô tính cho gian phu cú đấm. Rất tiếc. Thằng khốn phi một hơi mất dạng. Thuý biệt tích mù khơi kể từ hôm đó.

Bảo ở vậy nuôi Tèo Bầu thêm năm năm nữa là mười. Một cha một con một  một hon đa ôm kể cũng tươm tất. Có người hỏi rằng vì sao cô Thuý nhẫn tâm vậy? Tại sao không phải con mình mà Bảo hết mực thương yêu trong khi kẻ rứt ruột đẻ ra thì một đi không trở lại? Xin thưa rằng cô Thuý bị nhầm. Cô tưởng tình cũ sẽ vươn tay ôm lại mẹ con cô. Ngờ đâu nó lặn luôn. Cô đâu còn mặt mũi nào về lại với Bảo. Không phải sao? Sa cơ lỡ bước có người đưa tay ra đỡ dậy và đứng lên, nay phản bội mặt nào ngó cho đang.

Một hôm kia Bảo đưa một nữ lưu về nhà giới thiệu với cô bác là vợ. Nữ lưu này đẻ cho Bảo một trai, tức Tèo Tích. Năm Tích lên bảy tuổi thì mẹ qua đời vì tai nạn giao thông. Đến đây mới thấy cái giá trị tuyệt hảo của người đàn bà. Ai đó nói  em là tất cả của đời anh là quá xá đúng. Vợ chết Bảo sa vào sầu hận. Hai đứa con. Bầu lớp mười hai Tích lớp ba không người săn sóc nên con đường học vấn đành đứt đoạn. Bầu nhờ có chút chữ nghĩa nên khi xã bắt đầu thành lập được mời làm cái long tong. Nhờ tích cực và sống lâu lên lão làng mà ra cái phó công an xã. Riêng Tích thì lê la với vĩa hè từ thuở thiếu nhi nên nó rành đua xe bốc đầu nẹt ga cũng chả có chi lạ.

Nhưng anh là cán bộ mà em như vậy thì mất quan điểm quá – một người tên Năm thường gọi Năm Lựu Đạn nói – không trị cho ra ngô ra khoai thì bầy trẻ trâu ở tái định cư thành yêng hùng xa lộ hết. Thời buổi nầy ỷ vô thế thần thì xưa rồi diễm ơi. Có khôn ngoan cách mấy thì cũng không qua được tai mắt của nhân dân đâu. Bây đua xe ở đâu? Mấy giờ? Thằng nào đầu đảng?

Nhà của già Năm Lựu Đạn gần chỗ bầy trẻ đua xe nên ông ta thò tay ra viết đơn tố cáo. Kèm với đơn tố cáo là đoạn phim quây cảnh đua xe.

Nhưng đơn chưa thảo xong thì sự cố xẩy ra.

***

 

Liên Chi là bồ ruột của Tèo Tích. Chà chà… con bé mới mười sáu tuổi ranh mà yêu đương sành điệu lắm đa nghe. Chả là – thưa quý bà con cô bác hãy thông cảm cho Chi một chút. Nó với thằng anh trai tên Thường lớn lên dưới bàn tay ông bà nội. Cha má của hai đứa bị một hung thần xe tải húc một phát nên về với ông bà hơi sớm. Ông bà nội già yếu thì chớ lại nghèo mướt nên nợ nần không thua chi chúa chổm. Giải toả xong bao nhiêu đền bù thằng Thường bị bọn mua bán ma tuý rủ rê vào đường sa đoạ. Ông con bị bài trừ tệ nạn thộp cổ đưa đi cai nghiện tập trung. Còn chút tiền hai ông bà già mua được rẻo đất bằng bụm tay có cái chòi chó ngồi còn thò cái đuôi ra ngoài. Con Chi không ai quản nên đi theo bầy đoàn đua xe âu cũng tất nhiên. Ông bà nội của Chi đi mót mủ trong lô cao su kiếm gạo nuôi cháu sống qua ngày. Chi hơi hơi đẹp gái và duyên duyên tí chút nên Tèo Tích chọn làm vưu vật của riêng mình. Chi cũng thích anh Tích khoản phóng nhanh giành đường. Đặc biệt chiêu bốc đầu.

Nghe Lựu Đạn hăm he viết đơn tố cáo nên Tèo Tích vừa lướt vừa nẹt ga qua nhà già Năm. Mặt nó nghinh nghinh rất chi lớn lối. Lưụ Đạn cũng là một thứ bán trời không văn tự. Ông ta chống nạnh đưa cắp mắt mí lót nheo nheo nhìn yêng hùng. Tích ta thị uy bằng cách đang chạy nó bốc đầu. Bị bất ngờ nên kẻ ngồi sau là con bé Chi té cái oạch xuống mặt đường nhựa bê tông nóng.

Và tai hoạ xẩy ra.

Con bé không thể ngồi dậy. Nó thét lên đầy đau đớn khi Tèo Tích kéo nó lên. Năm Lựu Đạn cũng thất sắc:

  • Gọi Taxi đưa nó đi bệnh viện gấp. Nó mà gảy cột sống là đời mày tiêu.

Năm Lựu Đạn đúng là miệng ăn mắm ăn muối uống cồn pha nước lạnh nên nói linh như miễu. Hôm sau cả khu dân cư ồn lên như cái chợ, đi đâu cũng nghe thiên hạ bàn tán về tội lệ của Tèo Tích. Năm Lựu Đạn nói với bà nội của Liên Chi rằng:

–  Bà đi lên nhà cha Bảo nói cho ra lẽ. Bắt tụi nó phải chịu trách nhiệm. Cha con nó không chịu bà cứ phát đơn kiện tui làm chứng cho.

Nhưng hai ông bà già lụm cụm biết cái gì mà kiện với tụng? Nhìn cảnh con Liên Chi về nhà trên cái băng ca ai trong trần thế không đứt ruột đứt gan kẻ đó không phải người. Con gái mới mười sáu tuổi mà như vậy thì thà chết sướng hơn. Bà nội già bỏ luôn chuyện mót mủ ở nhà chăm cháu. Một mình ông chồng già thì còn khuya mới kiếm được cái ăn qua ngày nếu không có bà con cô bác giúp cho chút lòng bác ái. Vừa giúp ba quân vừa chửi rằng:

–  Bà nội cha thằng Tèo Tích. Gây hậu quả rồi bỏ mặc là đồ thất nhơn. Ông Bảo đúng là súc vật. Con mình gây hoạ cho người ta rồi bỏ mặc. Thiệt là khốn nạn.

Thiên hạ chửi đổng chứ Năm Lựu Đạn thì không. Ông ta nói với ba quân:

– Tao hỏi thẳng mặt Tèo Bầu rằng. Mày là cán bộ. Em mày đua xe trong tái định cư chắc mày biết. Mày có biết nhưng làm ngơ là một cái sai rồi. Nay thằng Tèo Tích gây hậu quả nghiêm trọng, cha mày say xỉn hăm bốn trên hăm bốn tao chả nói làm chi, mày, đang là cán bộ không quan tâm đến gia đình con Liên Chi là quá tệ. Mày nghĩ sao mà bỏ mặc người ta? Tụi bây biết thằng Bầu nói sao không?

–  Sao?

–  Nó nói mắc mới gì tớ ông hả Năm Lựu Đạn. Thằng Tích làm té con Chi ai làm chứng. Ông hả? Giỏi thì ông kiện đi.

Tao cũng bó tay bó chưn luôn. – Năm già kết luận.

–  Chưa hết chuyện đâu ông Năm ơi. Nay mai thằng Thường cai nghiện về là mệt lắm.

–  Bọn ma tuý hả? Về chưa được một ngày là chơi lại. Mà chơi lại thì trăm thằng chết cả trăm. Thằng Thường cũng chả làm chi được đâu. Mày tin tao đi.

–  Còn mấy tháng nữa là thằng Thường về rồi. Như ông là thằng Thường ông sẽ làm gì hả Năm Lựu Đạn?

–  Tao không biết.

***

Bốn tháng sau ngày Liên Chi bị tàn phế thằng Thường về. Qua lời kể của tha nhân lắm chuyện nó đến ngay nhà Năm Lựu Đạn cho chắc. Chín người mười cuống họng chả biết tin ai. Ai cũng như đang chứng kiến nhưng khi hỏi hôm ấy Tèo Tích chạy xe gì thì kẻ nói tay ga người nói xe số. Chỉ có Lựu Đạn là rành:

–  Sáng hôm đó Tèo Tích chạy chiếc Exciter 125 phân khối của thằng Minh Anh. Nhưng sau khi em mày bị tai nạn cha má thằng Minh Anh bán cái xe đó rồi. Chả là họ sợ bị liên luỵ. Thằng Minh thì bị hốt cốt đi tù về tội buôn bán ma tuý rồi.

Thường rối như canh hẹ:

–  Giờ tui biết làm sao ông già? Kiểu nầy làm sao kiện? Một mình ông làm chứng là không ăn thua. Ít lắm cũng hai người.

–  Mày cứ phát đơn lên xã yêu cầu giải quyết. Thằng dân thường thì không sợ chứ thằng đang tại vị quan quyền như Tèo Bầu rất sợ bị kỷ luật mất chức? Tao nói mày nghe kịp không?

– Tui thấy con kiến kiện củ khoai rõ ràng ràng ông ơi. Tui thì cai nghiện mới về. Ông thì quá khứ tù về tội lâm tặc tuy cũ nhưng đâu đã phai… đơn từ gửi lên họ không xét thì bó tay chấm o rờ gờ ông Năm ơi.

– Xã không giải quyết thì phát đơn lên huyện. Huyện không quyết thì đi tỉnh. Mày quậỵ riết thì bùn sẽ ra cứt trâu liền.

– Tui sợ là cứt trâu hoá bùn đó chớ.

– Bây giờ vầy…

– Sao?

– Mày đích thân gặp Tèo Bầu và cha nội Bảo nói rõ tội trạng của thằng Tèo Tích. Yêu cầu tụi nó đóng góp trách nhiệm hậu quả đã gây ra. Tụi nó sẽ phải chung để mua cái yên lành, để mày kiện cáo lôi thôi thì con đường thăng tiến của Tèo Bầu sẽ bị vấp.

– Ô kê. Tui cũng đang tính gặp thằng Tích hỏi cái tội bạc bẽo của nó đây nè ông già.

– Chúc mày thành công. Có tiền lo cho ông bà nội và con em mày. Đừng xì ke cọc nữa con ơi. Mày thương ông bà nội mày với.

– Chuyến nầy tôi quyết không đi trại cai nghiện nữa đâu. Ông yên tâm.

Năm Lựu Đạn lắc đầu nhìn theo thằng hư hỏng. Lắc đầu là phải bởi chả có thằng nào dám quên trung tâm cai và dạy nghề. Không trở lại trại thì chỉ có nước vô nhà đá bóc lịch. Thiệt đó.

Y như rằng. Hai ngày sau đã nghe tin thằng Thường bị công an hốt cốt vì gây án. Trọng án. Chả là ông con về chưa nóng đít thì bạn bè một thời chích choác mò tới thăm bạn cũ. Bà nội cha lũ hư hỏng, chúng lôi Thường ra quán kêu ba xi đế nhậu cho đã cái đã lâu không gặp. Bọn nầy chả rượu nào làm chúng say. Máu đã có ma tuý thì ma men xin chào thua. Ngà ngà một thằng quăng ra một dọc tẩu và một túi nilon bên trong có vài viên đá trong như thuỷ tinh. Tuy mới ra trại nhưng ba cái đá đấm nầy Thường rất rành. Nói kéo liền một hơi thăm thẳm dài. Con ác quỷ ma tuý đá ngay lập tức kéo Thường bay lên chín tầng mây. Và ở trên tầng cao nhất Thường thấy em gái đang bất toại trên giường, kế bên là bà nội già nua đang vệ sinh cho con bé. Ngay lập tức hiện ra kẻ đã làm em gái nó tàn phế. Chả nói chả rằng Thường đi một hơi ra sau bếp của quán nhậu. Thấy cái búa chém dùng để chẻ củi, nó dắt vô lưng quần rồi vòng ngã sau đi một hơi đến nhà ông Bảo. Lúc đó ba cha con nhà ông Bảo đang bên mâm ăn buổi tối:

–  Ê… Tèo Tích ra nói chuyện tí coi.

– Mày muốn gì? – Tích hỏi khi đối diện với Thường.

– Mày gây tàn phế cho em tao rồi bỏ mặc là sao?

– Tao đập chết mẹ mày bây giờ. Ai nói với mày tao là thủ phạm? Năm Lựu Đạn hả? Lão già đó nói bậy.

Tèo Tích không hề biết Thường đang ngáo đá. Nếu biết nó đã không thách thức. Với lại đâu có ai ngu  mà chịu cha ăn cướp. Đúng không?

–  Mày muốn làm gì đó thì làm. Kiện thì tao đi hầu.

Cơn điên của thằng ngáo đá nổi lên. Thường bước tới rút cái búa trong lưng ra:

–  Tao chém chết cả nhà mày hôm nay.

Hoảng hốt Tích quay người bỏ chạy. Nhưng muộn mất. Một nhát búa chém trúng vai. Thêm một nhát vô sống lưng. Tích ngã xuống nền nhà nghe đánh uỵch. Thấy nguy Tèo Bầu mở cửa sau bỏ chạy. Thường lừng lửng vào nhà dứ cái búa vô mặt con ma rượu tên Bảo:

–  Ông nghĩ sao mà không cho em tui được cái xe lăn hả ông già? Chuyến nầy tui cho ông biết thế nào là lễ độ… kha kha kha  khà khà khà khả khả khả…

Thường vung cái búa lên – nhưng – chả biết may hay là không may khi thiên hạ bu vào vừa kịp lúc. Ông Bảo thoát chết trong đường tơ kẻ tóc. Tử thần cũng không gọi tên Tích nhưng thà chết sướng hơn.

Nó bất toại vì bị gãy cột sống bởi nhát chém.

Trời ơi! Vì sao thế nhỉ?

Thiên hạ ngơ ngác hỏi.

   Nguyễn Trí

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Báo thù

nguyentri

Nguyễn Trí :" In ở đâu đẹp há. Mà có 12 cuốn, ai được ai không zậy ta ?"

 

 

 

Năm Phú một vợ và một… cháu nội. Ủa chớ con cái đâu? Để nói cho nghe vụ con của cha nội nầy. Số là những ba mươi hai tuổi Năm Phú mới lấy vợ. Cũng chả phải ham vui quá trớn mà quên vụ vợ con. Năm Phú có vợ sớm bửng hà. Mới hai mươi nheo nhẻo mà bà má thúc hối quá Phú chịu không xiết. Má Phú một mình nuôi con không phải vì am tường nho gia chi phái rằng xuất giá tòng phu phu tử tòng tử chi chi đó. Bà ta ở vậy là bị cái chứng của phụ nữ không nói được. Phú đi lính cho cộng hoà, may mà binh nhì nên học tập có ba tháng. Về là bà má thúc lấy vợ ngay.

Kinh tế  khó khăn nên Phú theo chúng bạn lên rừng chặt củi đốt than. Cô vợ – tình thiệt mà nói – cũng có chút nhan sắc. Thời cộng hoà cô mộng uý tá chứ đơ dem cùi bắp như Phú thì chớ có hòng xách dép. Quý vị uý tá thì toàn là cáo có sừng. Em đưa thì anh đẩy chứ anh có vợ rồi cho vàng cũng không dám bước thêm bước nữa em ơi. Giải phóng xong thì uý tá thăng ráo, binh nhì như Phú lấy được một em tai mắt mũi họng trên trung bình là ngon lành ra phết. Ngờ đâu em thuộc lòng câu lẳng lơ chết cũng ra ma, chính chuyên chết cũng khiêng ra ngoài đồng. Chồng kiếm ăn khó quá nên em cũng kiếm thêm bằng cách buôn cái chồng làm được. Tức là buôn than. Dễ lắm. Tập trung chừng một tấn than rồi thuê xe chở xuống vựa. Mua năm hào bán một đồng trừ xe cộ chi phí hết ba hào còn lời hai hào. Một tấn lời đứt hai trăm đồng. Phải chi được vậy cho đến cuối đời thì xe hơi nhà lầu có chắc. Kẹt cái rừng của toàn dân mà anh phá là vi phạm pháp luật, mua bán cái nhà nước cấm là tội gấp hai. Một ngày kia cô Phú bị bảo vệ rừng thộp tại trận. Than bị đưa về trạm tính sau. Cô Phú chạy đông chạy tây bốn phương tám hướng đất trời. Cuối cùng chả hiểu làm sao mà trưởng trạm cho qua vì lần đầu vi phạm. Thiên hạ bình rằng lần đầu cái mồ tổ nó chớ. Chả qua con vợ thắng Phú nó…

Nó làm sao có trời biết đất biết. Khì khì khì… lần đầu được thả… khà khà khà… Phú nghe thiên hạ cười mà điên gan. Đừng tưởng Phú binh nhì mà tầm thương nghe. Tú tài hẳn hỏi chứ không phải chơi đâu. Anh ta trốn lính vì sợ chết. Con ông cháu cha vui chơi trên phố thị bắt thằng dân đen đi trận là sao? Ngu sao đi để phơi thây? Phú trốn và bị bắt. Vậy mới ra cái binh đơ chứ đàng hoàng thì uý trăm phần trăm. Mà uý tá thì ra cái ôn chi trong thời cách mạng. Mút mùa cái vụ cải tạo chứ chạy đâu cho thoát.

Có rượu vô Phú ngâm nga một câu trong tuồng Tìm lại cuộc đời: “Con me mỹ đây rồi. Con đàn bà khốn nạn đây rồi…” Phú rình rập thử xem vợ mình làm cái chi mà thiên hạ rúc rích cười. Anh ta vờ ngu như bò đội nón. Đàn ông khi ghen lắm kẻ thâm trầm thủ đoạn lắm. Phú là một. Rình riết cũng đụng ổ. Con lăng loàn nghe chồng lên rừng liền trang điểm thiệt đẹp nói đi thăm má ở bệnh viện. Chả hiểu má Phú làm sao mà than đau bụng và ngày một võ vàng. Vợ đi Phú theo sau. Đến ngã ba nàng không đi thẳng mà rẽ trái. Đó là đường đến trạm bảo vệ dã chiến giữa rừng. Phú lọt vô lúc đôi gian phu dâm phụ đang ôm nhau ngáy khò khò. Gian phu là trưởng bảo vệ. Thời điểm nầy bảo vệ viên đã đi truy lâm tặc trong cùng cốc. Thằng bị cắm sừng cau đôi mắt mí lót và thấy một khẩu Ak đang treo trên vách chòi. Đã qua ba năm tác chiến nên Phú rất sành súng đạn. Phú lấy khẩu súng và lên đạn cái rẹt. Gian phu giật mình thức giấc  tung mình bỏ chạy. Phú làm một phát. Ông con bị trúng vô giò la như giặc dậy. Phú xỉa súng vô dâm phụ làm phát nữa. Hên thay súng hết đạn.

Phú bị hốt cốt đi một mạch những mười năm sau mới về. Bà goá phụ cũng đi luôn. Lúc nầy mới biết vì sao bà ta ở vậy nuôi con. Ung thư giai đoạn cuối nghe con bị bắt vì giết cán bộ thì chết quách cho khỏe thân. Phú về thì kẻ cho mọc sừng đã là vợ chính thức của tay bảo vệ bị gẩy giò. Đời quá xá buồn cười. Năm sau Phú có vợ. Đó là lý do vì sao những ba mươi hai tuổi Phú mới lập gia đình.

Còn sao mà sống với vợ và một cháu nội thì đặc biệt hơn.

Năm hai mươi tuổi thằng con trai dẫn về một má hồng môi đỏ giới thiệu vợ. Nhỏ này với Phú cũng không lạ. Mồ côi mẹ, cha lấy vợ khác nên nó khổ lắm. Con nhỏ đi phụ hồ trong công trường, chủ thầu sai nó bưng gạch xách hồ cho cha con Phú. Vậy là hai đứa quen nhau. Phú chưa kịp trở tay thì con nhỏ đà lớn bụng. Thôi thì về ở với ba má luôn cưới hỏi cũng vậy à con ơi. Nhà Phú vui như hội khi đứa cháu nội ra đời. Vui đó buồn cũng đó luôn. Cháu nội được hai năm tuổi thì ba má nó qua đời vì bị tai nạn giao thông. Chiều thứ bảy chủ thầu cho thợ lai rai ba sợi. Phú không lai rai mà làm hai ly vô một chỗ rồi xin phép ra về. Thằng con nhậu và con vợ ngồi chờ. Tuổi trẻ nên thị tài, tài chi không thị lại thị cái vụ rượu, thằng con uống lút ga. Về chả biết nó tông người ta hay người ta tông nó. Hai chiếc quây tàu tanh banh và bốn nhân mạng hồn du địa phủ. Chết sạch nên chả còn ai mà truy căn vụ việc. Thân nhân ai nấy đem về chôn.

Đó là lý do vì sao Năm Phú một vợ một cháu nội.

***

Cháu nội của của vợ chồng Phú ngoan và đẹp như minh tinh màn ảnh Việt Trinh trong phim Xương rồng đen vậy. Trong phim này Việt Trinh đen thùi chứ nó trắng bóc. Tóc dài, cằm chẻ môi trái tim đỏ như máu… nó bước – chao ôi – mềm như lụa và ăn nói nhỏ nhẻ nhò nhè dịu dàng hết biết luôn. Chưa hết. Con nhỏ học giỏi cực kỳ. Cái giỏi này phải nói Năm Phú góp công lớn. Đã nói Phú tú tài chứ đâu có ít. Thằng con trai duy nhất Phú kèm sát rạt, tại nó bướng bỉnh bỏ học giữa chừng đi làm thợ chứ nào thua kém chi ai. Con nhỏ thì khác nghe. Dưới sự kèm cặp của ông nội nó có chục cái giấy khen học sinh giỏi cho năm năm tiểu học. Bốn năm cấp hai thì tám cái và một bằng khen học sinh giỏi cấp huyện. Sợ chưa? Chiếc xe đạp Martin 107 nó đạp lên trường cấp ba là quà tặng chứ không phải của Năm Phú mua đâu. Cả sách vở cặp học cũng vậy luôn. Huyền – tên con nhỏ – là niềm vui là sự sống là hạnh phúc của toàn thể bà con cô bác ấp Mả Đá chứ không riêng gì của vợ chồng Năm Phú. Chưa thấy đâu trên trần gian ô trọc nầy thiên hạ khoe rằng con đó thằng kia ở xóm tao vậy vậy và vậy vậy cả. Thường thì chỉ có chê. Điều nầy chả cần lý giải chi cho mệt óc. Dân ấp Mã Đá mười nhà đúng mười nghèo mướt. Nghèo đi kèm với đông con thì tất nhiên dốt là phải quá. Nên chi bà con xem nhỏ Huyền như gương soi cho con em cũng là phải lắm.

Vậy mà đùng một phát con nhỏ lăn ra chết.

Một cái chết vô cùng khác biệt. Nó không giống với bất kỳ một cái chết nào trên trần thế nầy. Ngay cả những tay viết tiểu thuyết lừng danh cũng không thể tưởng tượng ra một cái chết như vậy để mà viết.

Lúc ấy già Năm Phú đang tòng teng trên võng:

  • A lô… Năm Phú hả… xuống Ngã Ba Lộ Mới gấp…

***

Ngã ba nơi bé Huyền tử nạn đã có từ thời cố luỹ cô lai. Vậy mà từ khi ông nhà nước cho rãi nhựa đường chả hiểu sao lại gọi Ngã ba lộ mới. Thôi kệ đi. Thiên hạ cho chết tên thì mình cũng gọi luôn cho nó vần. Cách ngã ba nầy chừng chục mét có một garage chuyên sửa vá ép các loại ô tô. Nhỏ Huyền đạp xe vừa ngang qua garage thì một tiếng nổ vang lên. Lúc đó là sáu giờ hai mươi tám phút. Vì sao lại chính xác đến từng phút là do tay hon da ôm tên Hải hỏi chủ quán cà phê cóc gàn đó mấy giờ rồi. Tiếng nổ ấy xuất phát từ cái garage. Cũng chả có chi quan trọng khi một cái bánh xe đang bơm hơi bị nổ.  Quan trọng là con Huyền bị chết tức tưởi – cực kỳ tức tưởi – sau cú nổ định mệnh.

Một cái bánh xe tải gồm có một la-răng tiếng việt gọi là mâm. Nó gồm có năm cái lỗ to chà bà lửa. Cái mâm đi kèm một vòng thép. Vá ép xong thợ sẽ cho ruột vào vỏ, lót thêm một miếng yếm cao su, sau đó mới cho tất cả vào mâm tức la-răng, cuối cùng mới cho cái vòng bằng thép vào để khoá. Trước khi bơm người thợ sẽ thọc vào một trong năm cái lỗ một thanh thép đặc ruột to bằng ngón chân cái dài một mét. Trường hợp đang bơm mà bị nổ thì cái vòng thép sẽ bị thanh thép chận lại. Nếu không chận, vòng thép sẽ gây hoạ không lường được nếu bị nổ.

Và thiên hạ đang trong quán cà phê cũng như dân cư hai bên đường tại ngã ba lộ mới chắc chắn thằng bơm xe đã không thọc thanh thép vào mâm xe. Chính vì vậy cái vòng thép bị lực đẩy tống bay lên và rơi tự dọ – lạy chúa – trúng ngay đầu con bé Huyền đang đạp xe chạy ngang. Con bé té xuống đường chết tức khắc. Cái vòng thép cả năm ký lô trên độ cao cả chục mét thì sống sao nổi cao xanh ơi? Tất cả chứng kiến cái vòng sau khi gây hoạ còn ưỡn ẹo thêm vài vòng rồi đứng lại cà rập cà rình một lúc mới hoàn toàn yên vị.

Người ta bu lại chỗ con bé nằm. Gọi điện cho công an và Năm Phú. Bà Năm đang trong chợ Mả Đá cũng bỏ chảo chả cá chiên tung người bỏ chạy. Hon-da xe đạp rùng rùng theo cho biết, Vừa chạy vừa hỏi sao? Cái gì? Con Huyền cháu nội Năm Phú hả? Nó làm sao? Và tất cả dân của Mả Đá rùng rùng rơi nước mắt khi con bé họ thương yêu chết rồi. Nó nằm kia kìa, và chết rồi. Y như nó đang ngủ trời ơi. Ông trời ơi. Ông không có con mắt. Đúng vậy. Nếu có ông không thể để vợ chồng Năm Phú vào đoạn trường. Nhìn bả kìa… khóc đi bà Phú, khóc đi bằng không bà chết vì đứt ruột cho coi. Bà Phú không khóc cũng như ông Phú không khóc. Ông ta đứng nhìn cái vòng thép định mệnh. Và rồi xe của bệnh viện tới kèm theo một đặc chủng của công an. Người ta đến lập vi bằng ăn kết ăng co, lấy lời khai nhân chứng. Có cả mấy người xác nhận rằng… rằng… rằng… vậy… vậy… vậy… Con nhỏ được đưa vào bệnh viện để khám nghiệm tử thi. Sau đó người ta kêu Năm Phú đến ký tên. Ký xong Phú quay lại thì cái vòng sắt đã bị ai đó lấy mất.

Không như bao kẻ lìa đời đang trong nhà vĩnh biệt của bệnh viện huyện. Không một trại nào trong ba trại hòm của thị trấn đoái đến cái xác của con Huyền. Cả cái trại của một đại gia trong xã nhà cũng vậy luôn. Chả là nhà ông Phú nghèo. Ngoài trừ chỗ chui ra chui vô chả có cái chi. Chừng như bọn chủ trại sống và giàu có bằng xác chết không đánh ra vị tiền trong cái chết này. Bán hòm và lo tang ma cho hộ nầy thì không chừng mất vốn như chơi. Vậy nên nhỏ Huyền về nhà bằng xe của bênh viện. Cái băng ca vừa vô nhà thì bà Phú lăn ra đất. May quá. Có bác sĩ trên cứu thương. Người ta tìm mọi cách để cấp cứu nhưng cuối cùng bà bác sĩ nói rất tiếc tôi đã cố gằng hết sức… xin thành thật chia buồn… Vậy là hội bảo thọ xã phải tay vụ hàng họ để người chết về nơi an nghĩ.

Nhưng Năm Phú từ chối ba cái hàng từ thiện. Ông ta đến tận trại hàng lớn nhất thị trấn có xe rồng đưa đón hẳn hoi, có cả sư thầy tụng đưa hồn người chết về  cực lạc. Con người ta sống cái nhà thác cái mồ. Năm yêu cầu cả mả đá hoa cương mới chịu. Chủ trại Ngũ Hành đắc co cái rụp khi Năm Phú đưa sổ đỏ cái nhà một trăm mét vuông. Xong đám tao kêu bán trả liền cho bây. Bây giờ bây và tao lên uỷ ban xã yêu cầu ký xác nhận. Ô kê chớ hả? Cái nhà tao ít cũng trăm ngoài triệu. Hai bà cháu đi rồi tao ở chi căn nhà này nữa…

Sau lễ hai mươi mốt ngày dân xóm Mả Đá vấn kế cho Phú rằng phải kiện thằng chủ garage. Buộc nó phải chịu trách nhiệm. Vụ này là hình sự luôn chứ dân sự là chuyện nhỏ. Có cả năm người chứng là họ thấy cái niền sắt rơi trúng đầu cháu nội ông. Không làm ra lẽ thì Phật tổ tụng con nhỏ cũng không siêu chứ ba thằng thầy tụng của trại hàng, thứ mà vừa tụng vừa nốc rượu thì chả ra cái ôn dịch gì:

  • Tui nói ông nghe kịp không ông Năm?

Năm cười:

–   Kiện? Kiện ai? Kiện cái vòng sắt hay kiện thằng chủ garage? Mày tưởng tao chưa đi hả? tao đến xã xã nói ngoài phạm vị kiểm soát. Biểu tao lên thị trấn, tức là nơi cháu tao chết. Trấn chỉ lên huyện. Huyện kêu về xã xác minh. Mấy thằng chứng ở đâu mày biết không? Toàn khách uống cà phê xong là đi. Mày biết chủ quán cà phê với thằng Garage là chi không? Là anh em cọc chèo. Tao nghe nói chính nó đem cái vòng sắt phi tang khi công an kêu tao đến ký giấy tờ chi đó. Mày biết thằng honda ôm Hải đang ở đâu không? Thằng Hải là cái thằng xác định cháu tao bị cái vòng sắt rớt trúng đầu lúc sáu giờ hai mươi tám phút đó. Ừ… nó đang ở bệnh viện. Chả biết ai cho nó ăn đòn. Tao lên xin nó làm chứng, nó nói tha cho tui ông Năm ơi. Tui chưa muốn chết. Tụi nó giàu có. Con kiến kiện củ khoai là không được mày ơi. Thời nào cũng vậy đa kim ngân  phá luật lệ. Tao già rồi sống nay chết mai kiện cáo làm chi nữa? Con người ta sống gửi  thác về và chết là hết. Là yên vui.

Nhưng Năm Phú không hề yên vui. Sau đám ma ông ta như một kẻ vô hồn. Cứ cái võng đằng trước nhà Phú ngồi lảm nhảm bên bình rượu hai lít. Ai đi ngang cũng biết rằng Phú tuyệt vọng. Nghĩ đi. Mười năm tù tội. Con trai con dâu mất khi tuổi đời còn quá trẻ. Cháu nội còn trẻ hơn và người đàn bà hú hí tuổi già cũng bỏ mà đi thì đời còn chi đáng sống? Nhìn Năm Phú chủ trại hàng Ngũ Hành cũng không đang tâm đòi nợ. Không mất đâu mà lo. Ông ta mà chết thì cho thêm cái đám nữa rồi lấy cái nhà cũng được. Dân tình ứa nước mắt bình rằng:

–  Chỉ có cái chết mới giúp ổng thoát khỏi cái đau lòng này. Mong ông chết cho rồi. Ai nói sự sống là trân quý chứ với ổng bây giờ là hoả ngục.

Ngồi chán Phú lếch thếch bước. Tay bình rượu vỗ bụng mà hát. Hát rằng : “Quân bất kiến Hoàng Hà chi thủy thiên thượng lai. Bôn lưu đáo hải bất phục hồi. Làm chi cho mệt một đời… Phú điên rồi. Điên thiệt rồi. Lão điên ra đến chỗ đứa cháu nội nằm chết thuở nào. Cứ thế ngồi. Riết rồi người ta phải dìu lão vô lề để đường cho xe chạy. Trong lề lão điên cứ đăm đăm nhìn  cái garage – nơi mà – đã tạo ra cái chết cho cháu nội và vợ lão.

Phú cứ nhìn miết. Ngày nào cũng nhìn, có hôm xách bình hai lít ngồi trước cửa garage. Con vợ thằng chủ ẳm con ra dúi vào tay lão điên mớ tiền. Lão thích thú cười… khì khì khì… rồi đi. Rồi đến. Ngồi. Ngồi miết. Có hôm thằng chủ bực quá chửi con vợ:

–  Dẹp cái vụ cho tiền dùm tao cái. Tại cho nên lão tới hoài biết không? Đi đi lão già. Đù má… vụ nầy tao tốn nhiểu lắm rồi à. Không đi tao xịt chó cắn chết mẹ mày bây giờ.

Nói làm làm thằng chủ garage huýt con chó. Chó giữ nhà to như con beo xồ ra ngoạm gấu quần Năm Phú. May quá con vợ thằng khốn gào lên:

–   Ông ác vừa thôi. Cháu người ta vì bất cẩn của ông mà chết đó. Vợ người ta vì vậy mà ra đi. Ông chả cho người ta một chút để tang ma. Trong khi ngày nào cũng chung chi nhậu nhẹt…

  • Câm cái họng mày lại. Tao đập chết bây giờ.
  • Đập đi. Mày đập đi. Tao thách đó. Bê tô – bê tô là tên con chó – vô nhà.

Con chó thả gấu quần và Năm Phú lại bước.

***

Sáng hôm đó đích thân thằng chủ garage chận lão điên lại:

  • Cút đi, thằng già.

Thằng già mở nắp cái can nhựa hai lít và… nhanh như chớp Năm Phú tạt vào mặt thằng vá ép ô tô, kẻ đã làm chết con bé tội nghiệp. Một tiếng rú hãi hùng vang lên, thảm khốc không thể nào tưởng được. Thằng chủ garage vừa lăn lộn vừa rên la. Hai bên đường thiên hạ xúm đông xúm đỏ vây quanh. Và ngay lập tức cợ sự được hiểu ngay tức khắc. Nạn nhân bị tạt acid. Trời ơi thảm khốc quá. Thằng chủ tiệm cà phê cọc chèo với nạn nhân nhìn Năm Phú. Nhưng gã không dám bước tới vì trên tay Phú bây giờ thêm một cái ca nhựa. Chất lõng trong ca đang là acid chắc luôn:

–   Mày bước tới – Phú nói tỉnh khô, rõ ràng ông ta đã giả dại – là đừng trách tao cho mày ăn luôn acid. Mày, đích thân mày dấu cái vòng sắt giết cháu nội tao. Nhưng tao không chấp mày. Hiểu chưa? Anh em mày là đồ độc ác. Lý ra tụi mày nên thương lượng với tao một tiếng, tao sẵn sàng cho qua và chấp nhận cháu tao chết như một tai nạn. Đằng này tụi mày bỏ tiền ra mua bình yên mà chả nghĩ đến niềm đau của tao…

Đúng lúc có tiếng hụ còi của đặc chủng và cứu thương trờ tới. Chủ vá ép ô tô được đưa đi cấp kỳ. Hai cảnh sát nhảy xuống với súng ngắn trên tay:

  • Bỏ bình acid xuống nếu không tôi bắn – Một cảnh sát ra lệnh.

Nhưng đã có chủ ý từ trước Năm Phú nhảy đến và tạt ca aid về phía viên cảnh sát. Hốt hoảng anh ta lùi lại và pằng pằng pằng, ba phát súng vang lên. Năm Phú sựng người lại. Ông ta quăng bình acid vào vệ đường.

Chết.

Ngày nay ai về ngã ba lộ mới sẽ thấy một tật nguyền không tai không mũi và mù mắt lê cây gậy vừa đi vừa la vé số, vé số đây…

       Nguyễn Trí    

 

 

 

 

Gài thế.

nguyentri

Tiếp theo và hết của Nam mô một bồ dao găm

Chuyện chủ động gài thế và bị gài thế nó phức tạp lắm. Không dễ ai lừa được ai trên trần thế nầy. Kẻ nào có tiền và biết xài tiền đừng mơ có ai lừa được họ. Trí tôi quen với một tay trùm trong thế giới bi-a. Anh ta giả nai khỏi chê một tí ti ông cụ nào. Ai cá độ với hắn cầm bằng phải bán vợ đợ con chứ không ít. Một hôm có một tay thua quá, thua rồi mới ngộ ra mình bị dụ nai. Điên tiết anh ta đập gãy cây cơ đâm bạn tôi một phát lủng bụng. Kẻ đi nhà thương người ở tù. Nhìn chung gài và bị gài và bị đều như nhau. Thằng thắng đâu có ngon và thằng thua thì tất nhiên thúi hoắc rồi.
Năm 1986. Vâng. Vào năm nầy có sự kiện World-cup tổ chức tại Mêhicô. Đây là một mùa bóng mà Trí nhớ mãi. Ngoại trừ hai thiên tài lừng lẫy là Maradona và Platini người yêu thích bóng đá hẳn không quên những Dico, Phancao, Soccrates…. Hẳn không ai quên được vua đá phạt Dico của Braxin và Platini của Pháp sút bóng bay lên trời… Nghe đâu Côlumbia được quyền tổ chức nhưng vì một lý do nào đó lỡ cuộc và Mê hi cô được chọn. Columbia tự an ủi rằng họ đã có Macket và Trăm năm cô đơn rồi nên không có Quơn cúp cũng không sao. Trí tôi được đọc tác phẩm này vào năm 86 ấy. Cũng trong năm nầy có một sự kiện khác tuy nhỏ hơn Macket và quơn-cup nhưng cũng khá đình đám. Đó là tác phẩm văn học có tên “Fidel-Castro và tôn giáo” do đức Hồng y người Braxin tên Frei-betto cho ra đời.
Sợ dĩ Trí tôi lan man chỗ nầy là vì trong tác phẩm “Pi-đen-cat-tơ-rô và tôn giáo” (phiên âm của báo QĐND) Fiddel đã trả lời vị hồng y một câu mà Trí tôi nhớ mãi. Ông nói:
– Người Cộng sản nên học tập những nữ tu, những thầy dòng, cha xứ của Công giáo đức HY SINH và lòng BÁC ÁI. Họ cho đi mà không nhận lại cho mình một điều gì.
Câu nói quá hay. Quá chính xác. Trí tôi Phật giáo nửa mùa nên rất quý người và tôn chỉ của Thiên chúa giáo. Ngày xưa khi còn ở Kon-tum gia đình tôi ở trại gia binh trong khu Võ lâm. Trong khu rừng nầy có một bệnh viện của người Tây đức. Tôi bị bệnh và được điều trị ở đây. Nhìn những nữ tu mặc áo choàng đầu trùm khăn cổ đeo chuỗi hạt có tượng đức Giê su bị đóng đinh câu rút tôi cực ngạc nhiên. Không hiểu vì sao những người Tây mũi cao da trắng nầy lại chọn núi rừng để sống và làm từ thiện. Chỉ có đức hy sinh và lòng bác ái cao vòi vọi mới bỏ cả quê hương xứ sở để một đất nước nghèo, lạc hậu và loạn lạc để làm việc. Ai có thể làm được điều này ngoại trừ người của Thiên chúa giáo?
Lúc còn trẻ tôi có si tình một nàng công giáo. Tôi lẻo đẽo theo sau nàng mà ca cẩm rằng : “ em ngày ấy ngây thơ, hay mặc áo hoa huyền, đi dự lễ Misa, trong buổi sáng tinh sương, trong buổi lễ misa, anh nào biết kinh cầu, anh chỉ biết theo em, khi làm dấu A-men” vì nhan sắc nên tôi quyết làu thông kinh điễn để lấy lòng cha má nàng. Nên chi tôi sành điệu lắm. Về sau ý chừng cha má nàng sợ tôi ngâm câu : “ Con quỳ lạy chúa ba ngôi. Cho con được vợ con thôi nhà thờ” nên họ nhận lời cầu hôn của một anh con nhà gia thế cùng đạo. Sau đó tôi lại si tình một nàng trong Tin Lành nên khá tinh thông Kinh Thánh từ Cựu đến Tân ước. Nên chi từ Phật giáo, Thiên chúa giáo đến Tin lành tôi có biết chút chút. Và cá nhân tôi đặc biệt quý trọng tinh thần Thiên Chúa giáo.
Để mặc được chiếc áo choàng đen đức trên bục giảng lời chúa là cực kỳ gian khó. Khó và khổ nữa. Những sư huynh trong trường dòng năm bảy năm tu tập mà còn phải về đời. Các vị nầy trình độ của họ cao vòi vọi. Họ nói tiếng anh tiếng pháp như nước chảy mây trôi. Quan trọng nhất đức hy sinh và lòng bác ái của họ thì khỏi chê. Ngay ông bạn tôi. Ông trưởng ấp mà tôi đã kể cho các bạn nghe ở trên là một thí dụ điễn hình.
Thật mà nói làm ông trưởng ấp có chi đâu khó. Nhận và phát lệnh ngu và khùng như Trí cũng làm tốt. Nhưng làm ông trùm một họ đạo thì không đùa chơi. Gia đình chỉ cần con không nghe cha mẹ, vợ chồng không kính nhau như khách thì chớ có hòng. Bạn tôi có một gia đình mà ai cũng mong ước. Ông chính quyền cũng rất khôn ngoan khi đề cử anh chức danh ấp trưởng. Thật là tốt đạo đẹp đời. Tôi và anh thân lắm. Anh giúp tôi nhiều nhiều chuyện cơm áo. Quý ông nhà giàu trong xã làm từ thiện anh luôn cho gia đình tôi một phiếu hàng. Có năm tôi nhận những năm lần hàng từ thiện do năm ông nhà giàu nhờ anh phát chẩn. Anh dẫn tôi đi lên chùa xin ở ké, giới thiệu cho tôi làm tài cho Tám Ẩn. Thật là quá xá bác ái phải không?
Hôm đó tôi đang ở nhà thì một người bạn là mục sư của Tin lành tên Bằng đến nhà. Bằng quan tâm tôi lắm. Anh biết tôi có thời gian là tín hữu tin lành nên mời tôi tham gia lại đạo vì e rằng tôi đang bị quỷ satan rủ đi chơi. Bằng hỏi tôi:
– Anh nghe gì chưa?
– Anh ngồi chơi… uống ly nước… có gì không anh?
– Anh không nghe tin ông Hớn bị bắt rồi à?
Tôi giật mình:
– Ông Hớn nào? Sao bị bắt.
Bạn tôi – Hớn – bị công an huyện bắt tại khách sạn X với hành vi mua dâm trẻ vị thành niên.
Thật choáng váng.
Bằng về thì vợ và con Hớn đến. Mọi chuyện là chính xác. Việc nầy mà té bẹ ra thì còn chi danh dự dự danh. Làm sao gỡ bây giờ anh Minh ơi? Anh có kế chi giúp tôi với? Việc nầy do gia đình con quỷ ranh kia mà ra cả. Từ khi nhận được đền bù giải toả đến bây giờ ông ấy đổ đốn ra… mà không… ông ấy hư lâu rồi anh ạ. Tôi đã phải nhẫn nhịn mà cho qua vì con cái dâu rể cháu chít. Gìa hai thứ tóc mà nay bị như vầy sao sống nổi anh ơi? Con quỷ con nầy cà phê ôm bia ôm chuyên nghiệp. Ông tôi già mà hám trẻ… làm sao bây giờ hả anh.
Vì sao vợ con Hớn đến tôi mà không ai khác? Chẳng là tôi có thằng con bốn năm cai nghiện một năm tù. Tôi bị huyện mời lên vì hành vi của con trai cũng dăm bảy bận. Họ tin rằng tôi có thể làm chi đó để họ qua bước đoạn trường. Nhưng tôi biết làm chi? Thằng con tôi bây giờ thì rất nghiêm túc làm ăn nhờ cai nghiện bằng phương pháp uống Mêthađôn chứ lúc mới tù về nó đủ thứ hư hao. Nó nói:
– Để con xem bọn gài thế cỡ nào. Phải bắt tụi nó câm họng lại. Để nó kiện là chết với tội danh mua dâm vị thành niên. Ít cũng chục năm tù chưa kể bồi thường.
Tôi nói:
– Ừ… mày coi giúp ổng một chiêu coi.
Thằng con ra tay. Nó kéo theo hai thằng xâm mình rằn rện đến gặp cái gia đình có con bán cà phê ôm đưa bạn tôi vào tròng. Chả biết nó làm chi mà bọn gài thế không dám kiện. Nói vậy chứ bản thân tôi trên đời nầy không sợ cái chi ngoại trừ thế lực trong bóng tối. Anh đang đi, nó cho một cây vô đầu, một ca acid vô mặt hoặc đang đêm nhà bị một chai bom xăng biết kêu ai? Đúng không? Bạn tôi được thả sau một tuần tạm giam. Chả biết là có hao tốn chi không. Tôi e là có vì mua dâm xứ ta cũng có tội. Hớn về và – tất nhiên – ai mà cho anh làm cán bộ nữa. Vợ con coi như một người xa lạ thì người trong họ đạo coi anh ra chi? Và anh đến tôi để chén tạc thù.
Tôi không trách ông bạn tôi ly lai nào hết. Vì sao? Vì đời là thế sự đời là thế. Một số người trong chúng ta luôn bị đồng bạc làm cho thoái hoá. Nghèo khó kiếm miếng ăn chảy máu con mắt thì đồng bạc xài ra chi li từng khoản một. Khi có dư dăm ba đồng bạc thì hất mặt lên trời ra vẻ ta đây tài ta đây giỏi. Đồng bạc từ trên trời rơi xuống như đồng bạc của giải toả đền bù thì càng khác nữa. Bạn tôi thoái hoá cúng không chi lạ.
Tổng thống như ông Biêu Cờ-lanh-tông còn bị cô Lêquănsờky làm cho thân bại danh liệt. danh thủ Maradona nhiều tiền quá bị ma tuý ám cho thiếu điều mất mạng. Tưởng Platini ngon cơm lắm ngờ đâu cũng bị tiền làm cho mất hết uy danh. Trí tôi đây chạy ăn toát mồ hôi nên quý từng xu một, nếu có nhiều tiền đã chắc chi thoát khỏi bẫy đời? Nhan sắc và ăn chơi ai không thích chỉ thử một anh xem chơi. Những tay một thời lẫy lừng nầy đem so với thẳng con hư hỏng đang làm lại đời như con tôi ai hơn ai? Ít ra thằng con tôi cũng cứu được một người và một gia đình thoát khỏi cửa tử bởi bị gài thế. Đừng tưởng đồ bỏ là không xài được. Đúng không?
Vậy nên nghèo cho chắc. Đừng mơ chi trúng số.
Nhắc đến trúng số tôi mới nhớ đến một người bạn là giảng viên đại học có vợ là quản thủ một thứ viện…

Thảm hoạ của trúng số
Tám Ẩn – người thuê tôi chở ông ta đi chơi – từng trúng đặc biệt. Ẩn một tờ, vợ một tờ và bồ Ẩn năm tờ. Cần rạch ròi chỗ nầy một chút. Rằng Ẩn và bà vợ bẩy mươi tuổi chia hai căn nhà mạnh ai nấy sống. Tôi là người xây tô cái bức tường chia hai nầy. Phần của mình Ẩn làm một cà phê đèn mờ do cô bồ làm chủ. Hôm đó vé số ế ghé qua. Vợ Ẩn mua một tờ còn bao nhiêu cô bồ Ẩn ôm hết. Cô cho Ẩn một tờ và chiều đó vô nguyên xơ ri năm con và mỗi tờ trị giá một trăm hai mươi lăm triệu.
Thằng hủ tíu gõ, thằng nầy thuê cái mặt tiền của vợ Tám Ẩn làm chổ sinh nhai nói với tôi:
– Lý ra con có một tờ nhưng bồ Tám Ẩn dành hết, hứa rằng nếu trúng sẽ cho con một chiếc quây an pha.
– Rồi có cho không?
– Dạ có… thiệt là tức quá… chỉ vì tiếc năm ngàn bạc bằng không con có trăm triệu rồi chú Minh Tàn ơi.
Nghe Ẩn trúng độc đắc tôi như mở hội. Chả là khi rong ruổi trên đường tìm… gái. Ẩn có hứa tao mà vô cái lơn lớn sẽ giúp mày qua thì hoạn nạn. Nay cả đôi uyên ương nầy vô lớn quá. Bỏ cái cô già nhân ngãi ra thì Ẩn cũng lớn vậy. Tôi khoe với bà xã rằng thể nào ông Ẩn cũng giúp mình tí chút em ơi. Vợ tôi nói:
– Tám Ẩn với cái kiểu sống chê già ham trẻ có mới nới cũ thì ông đừng có mà tin. Ông già rồi, lăn lộn cũng lắm mà đi tin kẻ vì gái gú mà bỏ vợ.
Tôi trình bày nếu không nhờ tôi thì Ẩn bị ăn ít cũng năm trận đòn trên đường thiên lý. Nói vậy chứ chuyện tranh nhau một cô trẻ trẻ trong cà phê ôm là có. Có lần một thằng trẻ đòi thoi Tám. May mà đi đâu tôi cũng thủ trong người một lưỡi dao cạo mặt của thợ hớt tóc. Loại dao mà khi cùn thợ cạo thường mài xoẹt xoẹt trên một sợi dây da. Đến quán nào tôi cũng lấy một gương soi con con rồi móc dao ra giả đò xén ria mép. Mấy giang vặt thấy tôi tay hươ dao đến giải quyết sự cố là chúng e lắm. Tôi êm xuôi cho Ẩn ít cũng năm vụ. Vậy nên tôi hy vọng ông chiếu cố mình âu cũng sự thường. Lúc ấy tôi ở nhà trọ, tài sản chỉ là chiếc xe đạp mua lại, tôi ước có một chiếc quây tàu ba triệu bạc.
Ba ngày sau trúng số Ẩn lại ngay nơi tôi trọ. Móc trong túi ra và – mô phật – Ẩn đặt vào tay tôi ba chục ngàn. Ẩn kêu vợ tôi múc một ly chè đậu đen, chả là vợ tôi bán chè trước nhà trọ. Vừa ăn Ẩn vùa than vơi tôi là số Ẩn xui. Cô bồ cho trúng tờ vé số lụi. Nghĩa là chỉ được an ủi, thôi thì mày cấm mấy chục xài đỡ. Xong xuôi Ẩn đứng lên và nói mày trả tiền tao ly chè nhé. Tôi nhìn theo bạn già và lắc đầu, trong khi đó vợ tôi cười mà rằng:
– Tôi nói ông thấy linh không? Khi chưa có thì một tấc đến thiên cung. Cạn đìa mới biết lóc trê phải không Minh Tàn?
Khi vui hay cay đắng vợ tôi cũng gọi tôi là Minh Tàn.
Sỡ dĩ tôi lê thê một chút chỗ này là muốn nhấn mạnh rằng người trúng số bị rất nhiều áp lực. Tôi chả hạn. Với Tám Ẩn đâu có bà con chi mà mong ông ta hổ trợ? Ông ta còn có bà con, anh em và vô khối những hầm bà lằng khác mà có cả tỷ cũng không giải quyết hết nói chi trăm triệu bạc. Chả phải có câu nghèo khó thì chẳng ai nhìn đến khi đỗ trạng chín nghìn nhân duyên đó sao? Tám Ẩn chỉ là chuyện nhỏ. Suy cho cùng ông ta chỉ là một nông dân, trí lự nhỏ bé như Trí tôi thì sống vì bản năng âu cũng thường. Giới trí thức mới thực là đáng để quan tâm khi họ cũng không thoát cái vòng kim cô của hỉ nộ ái ố.
Hồi ở Sài gòn tôi quen thân vơi vợ chồng Kim Lệ. Chồng tên Kim vợ tên Lệ. Anh Kim là giảng viên của một trường đại học chị Lệ là quản thủ một thư viện. Họ có hai con một trai và một gái. Giáo chức vào thời đó chỉ có cái danh chứ đoi lắm. Anh Kim đến trương bằng chiếc 78 cà là mèng, chị Lệ thì cóc cách xe đạp. Hai đứa con đi học cũng xe đạp luôn. Nhà của anh chị không quá hai mươi mét vuông. Có cái gác hai đứa con chia nhau bằng một tấm ván ép làm nơi học tập. Nghèo nhưng hạnh phúc lắm. Chị Lệ làm thêm bằng cách mua giấy của bao xi măng về nhà cắt ra rồi dùng hồ dán lại thành những bao bì dựng hàng hoá cho các tiệm tạp phẩm. Sau bữa cơm chiều nhìn chồng và con vui vẻ phụ mẹ dán bao bì kể chuyện trường lớp thì còn đẹp nào hơn. Về sau tôi bị nợ nần và xã hội đen vây bủa nên bỏ Sài thành đi trốn. Nhưng tai hoạ không ngừng vây bủa. Con cái đứa chết đứa lâm vô sa đoạ nên tôi khổ vô cùng. Những tưởng là không bao giờ gặp lại vợ chồng Kim Lệ nữa
Chủ nhật ấy tôi và Bằng – anh bạn mục sư – đi thăm con ở trại cai nghiện Xuân Phú. Nói đau khổ nhưng chắc tôi không qua ông mục sư Bằng. Vợ chồng ông có hai con trai bị ma tuý hết cả hai. Một thằng vào toilet chích choác sao đó bị chết ngay trên bồn cầu. Còn một thằng thì bị bắt khi đang choác. Hai thằng tôi cùng đi thăm, tôi thì chả nói chi chứ Bằng thì mệt lắm. Anh là mục sự chủ trì một hội thánh. Chủ nhật ấy phải nhờ một Mục sư khác đến truyền đạt lời Chúa thay anh. Tám giờ sáng hai tôi đã có mặt ở một quán cà phê trước cổng trại. Đang nhâm nhi tách cà phê thì một phụ nữ đến trước mặt tôi. Bà có một mái tóc bạch kim tuyệt đẹp. Gương mặt thì tôi luận không ra bao nhiêu tuổi. Và đôi mắt thật u buồn. Bà nhìn tôi, gọi:
– Anh Minh. Minh Tàn.
Tôi nhìn bà, nhíu mày. Nhưng không nhận ra. Lâu lắm:
– Xin lỗi chị…
– Lệ nè. Kim Lệ nè. Không nhận ra sao?
Trời ơi! Tôi kêu lên. Sao mà lại có thể là Kim Lệ được hả trời? Làm sao mà một gương mặt trẻ trung lại già như ri và một mái tóc đen huyền lại như cước thế này thì tề thiên còn bó tay nói gì tôi. Tôi mời chị ngồi rồi mọi chuyện vỡ ra sau khi ba chúng tôi thăm xong những đứa con sa đoạ.
Chị kể rằng ra cớ sự con trai bị ma tuý ám và con gái đang ở phục hồi nhân phẩm là từ hai tờ độc đắc mà ra. Lúc ấy vé số hai nghìn một tờ và đặc biệt là năm mươi triệu:
– Chồng tôi – anh Minh biết rồi đó – một giảng viên hết mực đàng hoàng. Trúng hai tờ vé số chúng tôi mừng lắm. Đầu tiên anh ấy thay cái xe để đi dạy cho lịch sự. Sửa lại cái nhà. Mua cho hai đứa nhỏ chiếc đờ rim của trung quốc. Lúc ấy chiếc xe cả hai chục triệu.
Và…Có tiền nên anh Kim có đàng hoàng hơn, lịch sự và bay bướm hơn một chút. Cái dòng có tiền từ trên trời rơi xuống nó lạ lắm. Kẻ xổi thì khác xa với người giàu có gộc có nòi. Kiểu đôi khi vung tay quá trán của Kim làm một đồng nghiệp nữ trong trường kết mô đen. Trẻ và đẹp và trí tuệ hơn vợ nhà đã làm Kim nhạt lòng. Cuối cùng không thoát khỏi bẫy tình Kim cặp kè với cô kia và gia đình đổ vỡ khi cô giáo kia lớn bụng. Kim đòi ly hôn mặc kệ hai đứa con không đồng ý. Cha con chồng vợ kình cãi nhau dữ dội. Không chịu nổi nên Lệ phải thuận ly hôn. Chán nãn thằng con lớn bỏ ngang đại học sa vô rượu chè rồi ma tuý. Con gái thì… vào phục hồi nhân phẩm.
– Nếu không vì hai tờ vé số. Anh Kim không sắm xe mới xe đẹp đến trường. Không vì đồng bạc từ trên trời rơi xuống. Chúng tôi vẫn kiếm thêm bằng dán bao bì thì không ra bị kịch như hôm nay anh Minh ơi…
Chị nhìn tôi và sa nước mắt. Tôi chả biết nói chi trong hoàn cảnh nầy vì so ra tôi có chi hơn chị để khuyên một đôi lời. Ông mục sư thì khác. Ông kể chuyện Thánh Gióp trong Cựu ước và kết rằng Chúa đang thử thách chúng ta anh Minh chị Lệ ạ. Anh khuyên nên khẩn thiết cầu nguyện với Đức Chúa Trời để xin ngài ân điển. Rằng thì là mọi việc được an bài bởi đấng tối cao. Nhưng nếu chúng ta siêng năng cầu nguyện và tôn vinh Chúa thì sẽ được cứu rỗi. Tôi nhìn vào đôi mắt người đàn bà khổ luỵ. Chừng như đôi mắt chị có một câu hỏi.
Hỏi rằng: Nếu tất cả bị chi phối bởi quyền lực của tối cao nào đó thì con người ở đâu? Con người có ý nghĩa gì trong đời sống nầy?
Tôi định hỏi anh mục sư nhưng sợ sự phân tích của anh quá nên thôi.
Bạn có muốn nghe chuyện anh mục sư nầy không?

mua thánh bán thần
Tôi phải trốn chạy khỏi sài gòn vì bị bọn đen đòi trảm. Cái hoạ đầu tiên đến là chứng áp xe gan. Rượu quá nên ra vậy chứ chả có chi phải thắc mắc. Bầy con tôi phải nghỉ học bán vé số nuôi bệnh cho cha là chuyện nhỏ, bà xã phải bán luôn căn nhà ở Thanh Sơn. Không đủ nên phải ngữa tay vay đồng bạc lãi suất cao của xã hội đen. Sau bệnh làm bao nhiêu cũng không đủ cho phòng trọ và lãi mẹ lãi con. Đùng một cái con gái út bị xe đạp tống một phát gãy tay. Tôi đi phụ hồ bị một cây gỗ đóng coppa rơi bể đầu. Cuối cùng là bọn đen dằn mặt tôi một trận ngay chợ Văn Thánh về tội lâu trả nợ… Cùng đường rồi ta làm chi? Nửa đêm tôi di lý vợ và con ra bến xe miền Đông về quê cũ ở miền Trung xa thẳm làm lại cuộc đời.
Thật là chua xót cho kẻ hai mươi hai năm bỏ quê ra đi nay về với hai bàn tay trắng. Đừng nói đến tha nhân. Ngay cả người thân cũng coi anh là đồ bỏ. Khi là đồ bỏ thì phải chấp nhận sự bỉ khinh. Ở được tám tháng, tôi thì chả nói làm chi vì nhục đã từng chứ con tôi thì tội nghiệp lắm. Để giải thoát cho chúng sự cô độc tôi phải quay lại miền Đông. Cuộc đời tôi – nói thực, ai cười cũng đành chịu – từng trốn nợ bỏ xứ ra đi nhưng chưa khi nào cay đắng bằng tám tháng trở lại quê nhà của năm ấy. Tôi thấm lắm câu thơ quê hương là chùm khế ngọt. Không có quê thì làm chi biết được vị ngọt ấy? Thực vậy.
Tôi thuê phòng trọ ở trấn X. Lại vé số. Trời ơi cái vé số nó cùng cực lắm. Tôi chưa thấy nghề chi mà cam chịu và đớn hèn như nghề nầy. Năn nĩ ráo bọt mép lắm khi khách được mời phán: “đi chỗ khác cho con nhờ tí coi ba, ba dai nhách vậy?” Ai đó nói bán vé số thu nhập cao thì đúng là dốt nát. Ngày bán được trăm tờ là rài rạc cả đôi chân. Không vốn liếng thì vậy chứ biết làm chi bây giờ? Ở phòng trọ X được mười ngày thì tôi lại phải trốn tiếp vì tình cờ con tôi gặp một thằng quen ở khu phố cũ trên Sài gòn. Hai ngày sau một trong số những thằng đen tôi thiếu nợ lãng vảng ngay khu vực. Đang phụ hồ tôi phải di lý cả gia đình lần nữa xuống một nhà căn chòi hoang khác kề bên nghĩa địa. Căn chòi này của một thợ hồ nơi tôi làm việc. Anh ta lấn đất nghĩa địa nên cần người ở. Biết tôi lâm thế cùng nên cho ở vơi giá hai trăm nghìa một tháng, rẻ hơn phòng trọ một trăm. Tử tế vậy chứ sao nữa bây giờ? Ở đây tôi sống với nghiệp mót mủ cao su.
Nói cho đúng là ăn cắp mủ chứ mót cái gì. Công nhân trút xong ngữa chén đẻ hôm sau lấy tiếp anh canh me đêm vô trút mà mót là mót làm sao? Nghiệp nầy được cái không mặc cảm chi ráo bởi cả trăm người ăn cắp. Đêm trong lô ngươi đi như trẩy hội vui ơi là vui. Bốn giờ chiuef cha con tôi tập trung tại một căn nhà sát bên lô. Chủ nhà tên Thanh là một tín hữu của Tin lành giáo. Thanh và vợ con cũng là thành viên của ăn cắp mủ loại thiện chiến.
Dòng họ của Thanh ai cũng phật giáo, riêng anh cãi theo Tin lành. Chả hiểu làm sao Thanh rất cảm tình với tôi. Anh cho cha con tôi dấu mủ trong nhà. Mủ ăn cắp đẻ trong rừng cao su rát dễ bị mất bởi bảo vệ và dân cúng cánh. Anh em ăn cắp của nhau thường lắm. Một hôm kia Thanh mơi tôi ăn bánh xèo. Trước khi ăn anh cáu nguyện, rồi vợ rồi con. Ai cũng cầu nguyện. Vừa ăn anh vừa giải thích cho tôi vì sao anh bỏ phật theo chúa. Rằng thì là nặm ấy anh bị bệnh rất nặng nằm ở bênh viện huyện, sạch bách tiền mà không thuyên giảm thì được một mục sư cuat Tin lành đi làm từ thiện. Ông khuyên anh nên cấu xin đức chúa trời, là cha của chúng ta trên trời, ông sẽ ban ân điển cho con của người. Nhận quà từ thiện xong Thanh cúng cấu nguyện cho phải phép, ngờ đâu hết bệnh. Có thể là tình cờ, bệnh uống thuốc lâu phải thấm cúng không chi lạ. Nhưng có nhưng chuyenj rất linh hiển mà không tin không được. Anh như là… như là… cả chụ thì dụ cho tôi nghe. Cuối cùng anh khuyên tôi nên cấu xin vơi chúa toàn năng xin ngái cho qua cơn thống khổ:
– Anh biết không – Thanh nói – ông Lu the người sáng lập đạo Tin lành vốn là một…
Nghe anh đọc sai tên của giáo chủ Tin lành tôi bèn nổi máu ngoại ngữ mà rằng:
– Ôn ấy tên là Luther và đọc là Líu thơ…
Chả là tôi theo tôn giáo này vào năm 1973, sau khi người mộng công giáo của tôi theo chồng. Động lực đi nhà thờ tắt ngóm tôi bèn theo một tay đàn anh tên Tưởng theo tin lành:
– Mày theo tin lành với tao – Tưởng nói – đợt này ben hội thánh cho mỗi tín hữu một bộ đò Jean hộp. Đi không tao ghi tên. Tuần sau là có…
Vậy là bị bộ đồ Jean hộp quyến rũ tôi gật đầu ngay. Vào rồi, hộp hiệc đâu không thấy nhưng có cái khác cũng quyến rũ không kém, đó là sinh hoạt thanh niên nam nữ vui vô cùng. Nữ tín hữu cô nào cũng đẹp không thua người mộng công giáo của tôi. Tôi si tình một nàng, cô là con gái của ông hội trưởng. Vì nàng tôi cố làu thông Kinh Thánh từ cựu đến tân ước. Tôi lậm vào kinh điễn của Tin lành như một kẻ sinh ra đã là một tín hữu rồi vậy. Cũng chả hiểu tại sao các vị tiến sĩ của thần học như vợ chồng Mục sư Jean và bà Linda lại cảm tình đặc biệt với tôi. Tin hữu tin lành giáo cũng được phép đứng trên bục của hội thánh để giảng và vinh danh lời chúa. Tôi cũng vậy. Chả hiểu được cái ơn chi mà trên bục tôi nói hay như diễn giả. Về sau tôi được mục sư tiến sĩ Jean cho đi học một khoá ngắn ngày về cách nói chuyện trước công chúng. Nếu không có một sự cố xẩy ra chắc chắn tôi đi học Thần học và không chừng ngày nay tôi là mục sư của tin lành chứ chẳng phải chơi.
Hôm đó tôi đến nhà nàng, tức nhà ông hội trưởng của hội thánh. Nàng dẫn vô phòng khách. Tôi vô cùng ngạc nhiên khi thấy trên bàn thờ có một bộ lư hương bằng đồng và một bộ ngũ sự. Tôi hỏi thì nàng trả lời:
– Ba em hồi trước là hội phó hội phật giáo tỉnh nên có bộ đồ thờ nầy.
Thì ra ông hội trưởng từng là một phật giáo. Tôi đem chuyện kể với Tưởng. Tưởng rằng:
– Đù má… thằng cha nầy chơi không đẹp. Bị một vố bên phật giáo mà chưa tỉnh ngộ, nay của tín hữu cũng chơi luôn.
– Là sao?
– Là mấy thằng theo như mình được hội thánh trên thị xã tài trợ nhiều lắm. Bao nhiêu cha nội Hộ ăn sạch. Mấy chục bộ đồ Jean chả cũng nuốt mẹ nó rồi… hồi là hội phó phật giáo tỉnh cũng ăn quá nên bị đuổi…
Thú thật trong tôi Chúa và Phật luôn hiện hữu, nhưng quý vị đại diện – xin thưa – cho em xin. Quý vị cũng là người như thằng khùng tôi mà thôi. Nghe tôi nói về lời chúa dạy Thanh mừng lắm bèn mời sinh hoạt hội thánh cho vui. Tôi yên lặng không trả lời. Vì sao? Bà mẹ nó. Chúa dạy chớ lấy của người làm của mình mà đi ăn cắp mủ thì đi hội thánh làm chi cho nhọc?
Vậy rồi một hôm đẹp trời kia Thanh dẫn đến nhà tôi một mục sư. Anh tên Bằng. Người mà tôi đã nói.Nhà Bằng là một hội thánh với sức chứa chừng năm mươi tín hữu. Anh là con rể của ông mục sư có hội thánh lớn nhất thị trấn X. Tôi theo và sinh hoạt tại hội thánh của Bằng.Là một mục sư nên Bằng có quan hệ rất rộng. Bạn thân của anh là một chủ nhân của một trung tâm ngoại ngữ tin học tư nhân rất lớn ở thị trấn. Trung tâm nầy dậy anh pháp hoa hàn cả nhật ngữ. Ai muốn học chi có nấy. Nghe tôi khoe khoang – tính tôi vốn hay khoe – từng dạy anh văn anh bèn giới thiệu tôi tham gia giảng dạy. sau khi kiểm tra trình độ tôi được giao một lớp ba mươi học viên. May quá tôi dạy Streamlines1. Tức là vỡ lòng. Bằng đem tới tận nhà tặng tôi một bộ áo quần và một đôi giày da xịn. Tôi trả lại anh cà ra vát vì không quen. Nói chung vì cái sự dạy dỗ này tôi đi sinh hoạt hội thánh cũng đúng thôi. Nhưng được một tháng thì tôi bỏ dạy.Nguyên nhân là quý cô cậu con nhà gia thế dốt ngoại ngữ đi học cho vui, cho vừa lòng bố mẹ chứ có học gì đâu. Đến trung tâm váo lớp được mười phút thì xin ra ngoài cùng nhau tự tình trên ghế đá. Còn lại vài cô cậu thực sự học cho biết thì tẻ buồn. Học anh ngữ mà anh chị không trò chuyện tức thực tập với nhau bằng tiếng Anh thì làm sao nói? Vậy thì dạy làm chi cho mang tiếng? Tôi nghỉ dạy và quên luôn chuyện chủ nhật đi… hội thánh. Vậy là Bằng sau vài lần đến nhà… khi biết tôi đã hoàn toàn bị Satan lôi đi theo nên anh xin lại bộ áo quần và đôi giày. Hành động của Bằng làm tôi hơi buồn nhưng cũng đúng thôi. Vì lúc ấy không như bây giờ mà một trăm nghìn bạn có thể mua được một bộ áo quần nghiêm chỉnh. Mười mấy năm rồi còn gì. Hôm ấy tôi và một tay bạn là nhà văn ghé thị trấn làm cái chìa khoá xe bị mất. Tay sửa khoá làm chìa là dân trấn X chính hiệu con nai. Hắn ta từng là chủ nhân một căn nhà bốn tấm trong thị trấn. Sau phá sản vì vợ cầm cái hụi. Vợ bị tù vì thuê xã hội đen truy sát kẻ giật hụi. Tay sửa khoá rất rành Bằng:- Thằng đó hả – sửa khóa làm chìa nói – hỏi tao nè. Nó đâu dưới miệt U minh lên xứ này. Đói chết mẹ nên theo Tin Lành. Con gái ông mục sư ba mấy mà không chồng nên nó nhảy vô xin một chưn. Mà mày biết sao con nhỏ ế không Minh Tàn? Nói mày nghe nó bị xi cà que… vậy là nó lên luôn từ đó.Tay nhà văn khùng khục cười. Nói:
– Mua thánh bán thần thì bị trả giá là phải.
Tất nhiên tay nhà văn biết Bằng có hai đứa con sa đoạ.

Nhà văn và thợ sửa khoá.
Thợ tên Hùng, thường gọi Hùng Phá. Phá lắm, phá trời sợ. Nhà Hùng trong hẻm. Hẻm bề thế ông cha chứ không đùa chơi. Trong cái hẻm rộng bốn mét nầy nhà Hùng cao nhất bởi những bốn từng lầu. Lịch sừ đời tay nầy kể một cuốn tiểu thuyết dày 500 trang là không thể hết. Đảm bảo ly kỳ hấp dẫn không thua bố già của Mario Puzo. Hùng nói với tôi:
– Hồi mới giải phóng cả trấn nầy ai cũng sợ tôi. Tại sao anh biết không? – Hùng thua tôi chục tuổi nên gọi tôi bằng anh – tại tôi con nhà giàu. Bảy tám, bảy chín ai đói đâu không biết chứ nhà tôi bét lắm cũng cơm trắng hột vịt chiên. Biết sao giàu không? Bốn bà chị lấy bốn ông chồng Mỹ, định cư ở Mỹ hồi năm 73. Thời nào cũng vậy thằng có tiền nói là trời nói. Cái trấn nầy tám mươi lăm phần trăm là nguỵ tặc, nên tặc chơi với nhau. Năm đó tôi mới mười mấy tuổi biết khỉ khô gì nguỵ hay cách mạng… Anh mới về đây nên không biết chứ cái trấn nầy thằng nhà lầu nào cũng có đô la mẽo hết và không thằng nào chưa từng ở dưới trướng tôi. Biết sao không? Người thân tụi nó ở Mỹ là sau nầy. Từ vượt biên, mua con lai cho đến hát ô hô… tui ăn đô la trước tụi nó cả chục năm, giúp tụi nó biết là bao nhiêu…
Thoạt tiên tôi rất ngạc nhiên khi nghe kể. Ngon lành vậy mà sao phải ké vỉa hè để sửa khoá làm chìa? Thì ra là rất chi ngậm ngùi cho Hùng Phá. Là con trai duy nhất nên mấy bà chị ở Mỹ gửi tiền về cho em út nuôi cha mẹ già. Nhiều tiền quá nên sinh hư. Hùng ăn chơi xã láng cuộc tình. Xỉn lên đập phá rồi đền là chuyện nhỏ. Uýnh lộn rồi đền bồi cơm thuốc cũng nhỏ luôn. Có tiền thì tiên còn mua được nói chi ba thứ khác. Phá vậy mà không bị hốt đi cái tạo cũng hay đó chớ. Thì đã nói có tiền mà. Lớn thì không dám nói chứ quan chức nho nhỏ trong trấn này Hùng nói lắm kẻ nghe. Hùng nói với tôi vậy.
Chơi riết cũng chán Hùng lấy vợ. Tất nhiên rồi. Vợ của Hùng đẹp ác liệt luôn. Liền trong hai năm nàng hạ sinh hai hoàng nam đẹp như thiên thần. May mà hai đứa chứ nữa thì chắc Hùng tan như xác pháo. Nhờ đô la mỹ nên hai đứa con được đến trường ngon lành, giáo dục tốt nhứt thị trấn. Kẹt cái hai đứa nó giống cha cái khoản phá. Mơi lớp năm chúng đồng lòng bỏ học ở nhà phụ mẹ việc bán buôn. Chả là Hùng làm căn bốn tấm xong liền bổ hàng về cho vợ đứng chủ trì một cửa hiệu tạp phẩm ngon lành đệ nhứt hẻm nhựa rộng bốn mét. Đời cứ thế mà lên. Nào đô la nào tạp phẩm tiền vô như nước lũ thế kia thì con cái không học cũng chả chết thằng tây lai nào. Đúng không?
Không phải vậy đâu. Đùng một cái Hùng bị thần kinh toạ.
Hùng kể rằng cái vụ toạ nầy là hiểm ác nhứt trần ai. Nó như kim chích từ thắt lưng xuống tận chân. Nằm yên một chỗ còn chịu không nổi nói chi bước. Bao nhiêu cái bệnh viện ở sài gòn từ nhà nước đén tư nhân, tây cho đến bắc y, nam dược ai chỉ chi cũng làm. Đắt bao nhiêu cũng không ngại. Tiền ra như nước lũ mà than ôi bệnh không thuyên. Thế có chết không?
Và…- đù má – Hùng văng tục – chuyện giường chiếu tôi hoàn toàn thua cuộc nên con vợ nó có… bồ. Anh biết không – Hùng buồn rầu – đàn bà khi đã nhạt lòng là xong. Và cái thằng người bị thần kinh toạ là tôi đây sống còn không thiết nói chi đàn bà. Thằng bồ con vợ tui nó đào mỏ cực kỳ. Vợ tôi trước có khui hụi nhỏ nhỏ cho vui. Sau chơi lớn luôn mới là sạt nghiệp. Phần thì trai ăn, phần tay em hốt hụi rồi dông. Hai thằng con tôi xài tiền gấp tám lần tôi còn trẻ. Mấy bà chị từ Mỹ về thăm nhìn cảnh họ hiểu liền… Con vợ tôi ngu dại thuê xã hội đen chém tay em giật hụi, chém luôn thằng đào mỏ bạc tình. Thằng được thuê chém bị bắt khai ra người thuê…
– Giờ mày bớt đau chưa? – tôi hỏi.
– Cũng đi được để sửa khoá. Tuần nào cũng lấy thuốc, ngày nào cũng châm cứu.
– Bà xã ra sao rồi?
– Tù chớ sao.
– Còn hai thằng con đâu?
– Chơi riết quen. Lâu lâu còn ghé tui chôm tiền. Mà tui thì anh biết tháng nào cũng lo đóng lãi ngân hàng.
– Làm chi mà phải vay?
– Cất nhà xong. Vài tỷ bạc cho cái nhà chứ anh tưởng ít sao. Sau đó phải cầm sổ đỏ cho ngân hàng để lấy vốn làm ăn. Đang ngon lành thì ngã bịnh. Vậy là tiêu.
– Nợ bao nhiêu dữ vậy?
– Năm trăm triệu.
– Mẹ cha ơi… dữ vậy sao?
– Là vầy… tôi nhời bạn trong ngân hàng vay giúp. Ba cái thủ tục nầy đâu phải giỡn. Không tay trong tay ngoài làm sao vay, không chúng chi dễ gì ổn. Tôi vay ba trăm, thằng bạn vay giúp vay thêm cho nó hai trăm. Tôi phải gật vì không giúp nó nó không giúp mình. Thủ tục chung chi hết năm chục triệu một mình tôi lãnh. Cuối cúng thằng bạn bị tù vì thụt két… anh thấy có chết bà nội tôi không?
Tôi nhìn Hùng mà ngậm ngùi. Suy ra tôi c tuy bán vé sổ mà chả khổ hơn hắn bao nhiêu. Ngày nào Hùng cũng mua cho tôi nguyên xê ry 10 tờ. Mõi tờ lúc ấy 2000 đồng và đạc biệt 50 triệu:
– Nếu vô – Hùng nói – tui cho ông một tờ, ba tờ trả nợ ngoài, còn sáu trả bớt ngân hàng.
– Mày còn nợ đâu nữa?
– Búa xua a lua mua khắp thị trấn này. Tôi làm chìa sửa khoá ngày kiếm hai trăm ngoài mà không đủ để trả lãi. Chưa nói đến máy bà chị lâu lâu gửi về cho tí đỉnh vấm không đâu ra đâu. Tôi mà lấy lại sổ đỏ là bán tức khắc kiếm căn khác sinh sống.
– Sao không nhờ mấy bà chị bên Mỹ giúp cho?
– Mấy bả biết tôi thăm nuôi con vợ nên cạch tài trợ… anh nghĩ coi mình là thằng đàn ông ăn chơi đàng điếm ngoài đường. Vợ con cả lốc vấn bướm bay bay bướm. Mình nằm một đống vợ chăm lo. Nó có lên giường với người khác âu cũng thường tình. Nhu cầu sống thì anh vất đi đâu? Khi biết bị lừa nó còn dám thuê người chặt thằng kia. Mình bỏ sao được phải không?
Tôi kính phục Hùng ở cái nét rất đàn ông nầy.
Nhưng Hùng cực ghét tay nhà văn bạn tôi.
Chả là ông nhà văn, nhà thơ kiêm hoạ sĩ nầy – thật ra – tôi cũng không ưa. Nhưng vốn ba phải nên tôi vờ cho qua. Chả là tôi là mối vé số của ông ta. Này ông cũng mua cho tôi ngày được dăm tờ. Vậy nên nghe ông khoe tài năng một chút cũng chả sao? Mà lạ nghe, những nhà văn thơ nhạc hoạ khác chả biết sao chứ ông nầy thì khoe dữ lắm. Mỗi khi nói về văn thơ ông cứ hất hất cái mặt lên trời ra vẻ ta đây thấy ghét lắm. Ông hơn tôi hai mươi tuổi, tức là hơn Hùng ba mươi tuổi. Tôi gọi ông bằng bác nhưng Hùng gọi bằng ông. Ông già đó ông già kia nghe khinh mạn lắm. Ông nhà văn thơ nhạc họa tặng tôi một cuốn tiểu thuyết một tập truyện ngắn lại ký hoạ cho tôi bức chân dung. Tôi đem sách cho Hùng dọc. Hùng đọc dữ lắm. Thời gian rỗi trong nghề sửa khoá nhiều hơn thời gian thi công. Rảnh Hùng đọc báo đọc sách.
Hôm đó đọc xong cuốn tiểu thuyết Hùng nói với nhà văn thơ nhạc hoạ:
– Nè ông già… cuốn sách của ông…

Nhà văn và thợ sửa khoá.
Tặng sách cho tôi nhưng anh nhà thơ văn nhạc hoạ nói:
– Tao biết chú mày bận, không có thời gian để đọc, nhưng tặng là bởi tao quý chú mày. Nếu có thời gian rãnh đọc cho vui. Có gì góp ý nhé.
Các loại nhà nói đúng. Tôi lết bộ từ sáng đến mười giờ đêm, có khi hơn. Đặt cái lưng xuống nền xi măng không ai kêu dậy là dám đi một mạch về âm phủ không thèm về, tỉnh dậy là vừa gặm bàn mì vừa lê thân tàn bán vé số thời gian đâu mà sách với báo? Có vậy nên tôi giao cho Hùng Phá đọc rồi kể lại tôi nghe. Có lần đọc xong tập thơ nó nói:
– Đù má… thằng già bạn của anh gian manh quá. Cái tập thơ của nó tôi đọc thấy có hình bóng của Tế Hanh, Đoàn Văn Cừ và cả Anh Thơ trong nầy nè.
Tôi cũng chả hiểu làm sao mà một thằng bước ra đời năm mười hai tuổi như Hùng lại biết nhiều đến vậy. Tôi hỏi nó:
– Là sao?
– Cha nội nầy sửa thơ của quý cụ đời xưa rồi ký tên mình ông ơi.
– Thiệt vậy không? Sao mày biết?
– Cha tôi hồi còn sống nghiền ba cái thứ nầy ghê lắm. Tui cũng nghiền luôn. Cha nội nầy không qua được tui đâu. Bữa nào anh dẫn ông ta đến đây tui cho một trận.
– Kệ người ta – tôi nói – ổng ta là mối vé số của tao. Mày xử quê ông ta nghỉ chơi vơi tao là mất mối Hùng ơi.
– Trong tất cả các loại ăn cắp – Hùng nói – ăn cắp thơ văn của người ta rồi ký tên mình là bẩn nhứt ông biết không?
Tôi đâu có rảnh để đưa ngài các loại nhà đến gặp Hùng mà bù khú. Sở dĩ có sự gặp gỡ của cả hai là do thị trấn nầy duy nhất Hùng làm nghề sửa khoá. Nó làm ăn được là nhờ thế độc quyền. Nhiều thằng lơ mơ ra hành nghề bữa trước bữa sau là con trai Hùng cho ăn cù loi ngay tức khắc. Thơ văn nhạc hoạ đến làm chìa và ra sự vụ. Tôi có mặt và nghe đấu khẩu. Hùng nói:
– Nè ông già… cuốn sách của ông…
Thấy trong tay Hùng cuốn tiểu thuyết của mình, mắt các loại nhà sáng lên:
– Ồ… làm sao anh có cuốn nầy? Anh đọc chưa? Thấy thế nào? Tôi đã viết cuốn nầy trong hai năm đó.
– Tôi đọc rồi – Hùng nói – văn của ông, nói chung cũng tàm tạm. Có điều nội dung ông viết nhiều cái vô lý quá. Vô lý đến độ hoá thành ba láp luôn.
Trong lúc các loại nhà trố mắt vì bị đạp vỗ mặt, Hùng nói về một đoạn trong cuốn sách đại loại có một cô giao liên qua suối để làm công tác chi đó, nước suối hơi cao nên cô cởi quần để lội vì sợ ướt. Cởi quần thì chả sao nhưng:
– Ông tả cô ta không có quần chíp – bà mẹ nó – bộ ông đứng đó hay sao mà biết? Ông xạo nó vừa thôi, hư cấu sạch sẽ một chút. Bộ tả cô giao liên mặc nguyên áo quần qua suối không được hay sao hả ông già? Đã vậy còn có một thằng thiểu số canh me cô gái qua rồi đè ra hiếp… trời ơi là trời… nè nếu dư tiền ông cho Minh Tàn đây làm vốn mua cái xe đạp đi bán vé số chứ in ba cuốn sách như vầy là bôi bác nền văn học lắm ông biết không?
Nghe đến dây Trí tôi lĩnh đi gấp vì sợ văng miểng. Đã vậy còn nghe vọng:
– Ông đi chỗ khác mà làm chìa. Tui không làm cho ông.
Đã nói thằng Hùng Phá nầy viết về nó cả năm trăm trang là không thể hết. Ngang đầu cứng cổ khỏi chê. Cả hai ngày sau tôi không dám gặp ông nhà văn, sợ ông trách tôi sao giao sách của ông cho một thằng quái như Hùng. Nhưng mà việc nầy đâu phải lỗi ở tôi. Đúng không? Vậy rồi nhà văn chủ động gặp tôi, trước mua vé số sau tâm sự. Cũng cấn nói thêm một chút chỗ nầy. Tôi vốn ba phải lắm, ai nói chi cũng ừ, cũng gật. Lại biết chịu khó lắng nghe. Có thể ví cái sự chịu ngồi nghe mà ông nhà văn khoái chăng? Ông nói:
– Người đọc góp ý là tốt. Có điều thằng làm chìa nầy không biết thế nào là cái khốn khó trong chiến tranh. Tao từng đi qua hai cuộc kháng chiến nên rành.
Ông rành nhưng tôi thì sợ vụ kháng nầy lắm. Mỗi khi nhập ông nói về thực dân và đế quốc đến là mệt. Ông ta có thể nói cả ngày không hết chuỵên. Nào là gặp Văn Cao ở đâu. Nguyễn Tuân ăn thịt chó như thế nào… ông ngủ vơi hoạ sĩ… mấy đêm. Nói chung ông là bạn, là học trò của hầu hết các văn nghệ sĩ trong nước thời kháng chiến. Tôi mệt ông lắm. Nhưng cũng có chiêu trò để thoát ra. Nhà văn vừa trả tiền vé số là tôi vờ… dạ dạ… em qua liền anh hai. Chả là ông nhà văn hơi nặng tai.
Chuyện dưới đây mới là tè le hột me giữa Hùng và ông nhà thơ văn nhạc hoạ. Hôm đó nhà văn đích thân đến tôi. Tôi bệnh nên nằm nhà. Hùng thì đi hốt thuốc nam chữa thần kinh toạ ở một thầy thuốc do tôi gíới thiệu. May quá, uống thuốc nầy bệnh của Hùng giảm thấy rõ nên anh ta cám ơn tôi lắm lắm. Hùng ghé tôi làm vài xị ba xi đế sương sương. Đang tì tì xị thứ hai thì nhà văn đến, dẫn theo một người bạn cũng già xấp xỉ ông. Tôi nói nhỏ với Hùng:
– Tao lạy mày nghe Hùng.
– Em biết mà. Có gì ở ngoài đường chứ đây là chỗ ở của anh. Ồn ào chủ phòng trọ nó đuổi anh thì sao.
Nhà thơ văn nhạc hoạ giới thiệu:
– Đây là anh Văn Xình. Nhà thơ nổi tiếng của… hiện là hội viên của hội… còn đây là Minh Tàn bán vé số. Chú Hùng là…
Nhà thơ Văn Xình ốm như con cò và lùn một khúc. Đầu sói sọi tóc thì dài phủ vai. Tôi nhìn ông tự nghĩ nếu ông ta cạo trọc thì hay quá. Được cái ông nầy nói như cồng kêu. Rõ ràng từng từ một. Văn Xình làm một hơi hai ly xây chừng. Rượu vào nên lời ra. Ông ta đọc thơ. Tôi vốn không thông minh mấy. Thơ muốn hiểu phải nằm mà chiêm nghiệm. Hùng khác tôi, cứ Văn Xình xong một bài thờ là nó vỗ tay gật gù ra cái vẻ hay quá, thơ hay quá đọc tiếp đi anh. Được thể Văn Xình tha hồ đọc. Nhà văn của tôi rất điệu đàng, ông mang tới một túi thịt chó luộc với mắm tôm riềng củ sả đủ bộ, thêm một chai Vokka, chả biết thiệt giả nhưng cứ rượu chai là sang cả rồi:
– Bài thơ nầy – Văn Xình nói – nghe tôi đọc xong ông Trần Đăng Khoa bảo sao hai chú em biết không?
– Sao chú? – Hùng Phá hỏi.
– Hãy gọi anh bằng anh. Vì anh là nhà thơ, mà nhà thơ thì không có tuổi.
– Dạ… thì anh. Trần Đăng Khoa nói sao anh?
– Nó nói – dám kêu một nhà thơ lớn bằng nó thì ghê thật – rằng nghe đọc bài thơ nầy Khoa nhận ra mầm mống của Nobel đang hiện hữu trong thơ anh.
– Á đù… – Hùng kêu lên.
Tôi kín đáo bấm nhẹ vào tay Hùng, sợ nó khùng bất tử lên thì hư bột hư đường hết. Nhà thơ tiếp tục:
– Hội trưởng hội nhà văn Việt nam mời anh vào hội nhưng anh không thèm
– Á đù…
Nghe tiếng á đù Hùng thốt ra lần thứ hai tôi hơi hãi. Thằng nầy mà xử quê nhà thơ thì mệt quá. Nhưng không. Hùng lịch sự và nhỏ nhẹ đến bất ngờ. Nó nhìn Văn Xình nheo nhoe mắt rồi nói:
– Anh tuy nhỏ con mà thần thái như vầy chắc giường chiếu ngon lành chứ hả?
Nhà Thơ cũng nheo mắt:
– Nói ra chắc em không tin chứ sự thật là một đêm anh từ quan đi động hoa vàng trung bình là bốn bận
– Á đù ù ù ù…. mà… – lần nầy chính tôi thốt lên,
Sau đó không nhịn được tôi khả khả khả cả một tràng dài. Trời ạ, buồn cười chết đi được. Một thằng người như con cò tóc tai sói sọi mà bố láo chưa kìa? Có rượu nên tôi không tự chủ được. Cố nén nhưng nén thì tiếng cười lại phát ra thanh âm khùng khục đến nỗi Hùng phát một phát vô đùi tôi:
– Yên coi Minh Tàn. Ông đúng là chả biết gì. Chuyện nầy có chi mà phải cười. Thần kinh toạ như tôi mà một đêm còn chừng đó bận nè.
Tôi thò tay bốc cái củ sả nhai cho qua cơn cười. Hùng tiếp tục:
– Thưa anh… nghe mấy bài thơ anh đọc em ngưỡng mộ lắm. Ngoài trừ thơ, giường chiếu anh còn chơi lĩnh vực nào nữa không ạ?
Tôi ngừng nhai cảnh giác nhìn Hùng. Thằng này mà nhỏ giọng lịch sự và có vụ thưa gửi là mới à. Có khi nào ưng lên nó phang cho đối phương cú đấm không ta? Dám có lắm. Nghĩ vậy nên tôi nhích lại gần nó một chút để có gì mà can ra. Nhà thơ nghe hỏi liền lôi từ trong túi dết để bên mình ra một lốc những tờ tạp chí và báo. Ông giơ lên một cái mề đay:
– Đây là cái huy chương của hội văn học thuật thuật X tặng anh vì sự nghiệp thi ca.
Chúng tôi chuyền tay nhau cái mề đay. Chà! Ra văn học nghệ thuật cũng có mề đay cơ đấy. Ai biết đâu? Hùng cón ướm thử lên ngực trái của mình ra cái vẻ kính cẩn nghiêng mình. Nhà thơ đeo lên ngực. Đúng là linh diệu. Mặt nhà thơ nghiêm trọng hẳn ra và không khí buổi thịt chó luộc cũng long trọng hẳn lên. Nhà thơ đưa cho Hùng một cuốn tạp chí chỉ vào một trang:
– Đây là truyện ngắn của anh.
Hùng nhìn rồi hỏi:
– Sao lại là Tần Hoái?
– À.. đó là bút danh của văn xuôi. Còn thơ là Văn Xình.
– Bút danh của anh đúng là sốc. Đàn em thật sự ngưỡng mộ ông anh. Em xin mới ông anh một ly và nếu được em xin phép…
Nhà thơ làm phát hết ly xây chừng nói:
– Xin gì em cứ nói.
– Cho phép em được đọc cái truyện ngắn nầy cho cả bàn cùng nghe.
Mẹ cha ơi. Nghe thơ đã mệt óc lắm rồi nay văn xuôi nữa có mà chết cha ông nội luôn quá. Nhưng tôi biết làm sao bây giờ? Ông văn thơ nhạc hoạ lại gật gù lấy ra một cây bút chì và một xấp giấy a4 ngồi săm soi vẽ nhà thơ. Tôi nhai thịt chó còn Hùng thì hắng giọng đọc truyện ngắn. Sư cha cái cuộc đời, đây là lần đầu tiên có một buổi nhậu đọc truyện đêm khuya. May quá. Hùng có một giọng đọc không đến nổi nào. Cũng du dương bổng trầm lên xuống không thua chi mấy tay trên đài phát thanh. Truyện viết về một đám trẻ con đi tát cá trong một cái hố bom. Đại khái có bom rơi đạn nổ người chết vân vân. Tát được mớ cá trong đó con con cá lóc bự. Bầy trẻ nướng cá xong đem đến nơi thờ những liệt sĩ để cúng. Cúng xong chúng nhào vô ăn. Hết chuyện thì văn thơ nhạc hoạ cũng hoàn tất bức ký hoạ. Tôi nhìn Văn Xình trong bức ảnh. Nhìn đi nhìn lại cả chục bận chỉ ra cái đầu không có tóc. Hùng trầm trồ:
– Giống quá ông già. Ông vẽ giống thiệt.
Nhà thơ cũng công nhận giống ông y khuông. Sao tôi lại không nhận ra vậy ta? Đúng là không có tầm nhìn nghệ thuật. Vé số mà thuật thiệt gì ở đây? Nhà thơ hỏi tôi:
– Em thấy truyện anh thế nào?
– Hay. Phải nói là quá hay.
– Còn em? – nhà thơ hỏi Hùng. Có gì cứ phê thẳng. Anh thích sự thẳng thắn.
– Nếu anh cho phép em xin nói.
– Anh cho phép – nhà thơ phán – anh không bao giờ tự ái.
– Văn của anh, nói chung có chất thơ – nhà thơ gật gù – lưu loát lắm – lại gật gù – cả hai nghìn chữ mà em đọc không vấp là biết văn anh có thần – lại gật gật – có điều – nói thật anh đừng buồn – truyện này dối trá quá. Không thực. Có vẻ nịnh hót nữa.
Tôi giật mình. Nhà thơ cũng giật đánh thót còn văn thơ nhạc hoạ thì trố mắt:
– Chi tiết cho bầy trẻ đem con cá lóc nướng trui đi cũng liệt sĩ là quá mức dối trá và nịnh hót. Chi tiết ấy làm giảm giá trị của truyện. Theo em thì cúng những người hy sinh vì đất nước cũng có ngày có giờ. Còn nhớ thì trong tâm anh ạ… xin lỗi anh… là thằng đọc sách, em có sao nói vậy người ơi. Vào thời điểm đó thằng con nít nào nhớ đến liệt sĩ anh đem đầu tôi chặt đi. Tôi nói vậy đó, anh có buồn cũng mặc kệ.
– Anh có buồn chi đâu. Đã nói là anh thích sự thẳng thắn mà. Đâu phải cứ truyện đăng báo là hay đâu em.
Toi phát giác ra thằng Hùng nầy rất khéo chửi. Tháy mặt nhà thơi hơi sượng nên tôi đánh trống lãng:
– Xin lỗi anh theo đạo nào?
– Anh hả? Anh là Phật giáo. Gia đình anh truyền thống Phật giáo
– Thưa anh – tôi lịch sự không kém Hùng – cho em hỏi thế nào là Đại thùa và Thế nào là Tiểu thừa ạ? Thế nào là tịnh xá và thế nào là tịnh độ ạ?
Văn Xình rằng thì là rà thì lằng một thôi một hồi những ê và a. Tôi nghe mà không hiểu chi sất. Hùng cũng vậy. Nó chặt ngang:
– Ông Mình Tàn nè. Ông hỏi kiểu đó thiền sư còn không trả lời nổi nói gì nhà thơ.
Nó quay sang văn thơ nhạc hoạ hỏi:
– Còn ông thì sao hả ông già?
– Tôi thì là hội viên hội nhà văn việt am nhưng bị tước danh hiệu hồi năm…
– Á đù… sao bị tước?
– Tôi là thành viên của Nhân văn giai phẩm kỳ đó…
– Mẹ cha ơi – Hùng kêu lên thảng thốt – Thiệt vậy sao ông già. Bút danh của ông là chi?
– Tôi là Cuồng Thu.
Tôi và Hùng thi nhau nhíu mày vắt óc. Tôi tuy vé số, nhưng trước khi lâm thế cùng cũng một thời sách báo. Mấy ông trong nhân văn giai phẩm tôi rành. Cuồng Thu là ai mà tôi không nhớ ra vậy kìa? Thôi kệ đi.
– Bác theo đạo gì? – Tôi hỏi.
– Tao không chúa phật chi hết. Tao qua hai cuộc kháng chiến có dược như ngày hôm nay là nhờ vào Đảng và Bác Hồ. Tao chỉ biết ơn Bác và Đảng còn không đạo chi hết.
Đúng lúc nầy bà xã và mấy dứa con đi vé số dạo về. Văn thơ nhạc hoạ mua chục tờ rồi phát cho ba thàng tôi người hai tờ. Hùng lấy một xê ry. Vợ tôi vui vẻ (bán dược ai chả vui):
– Ông Năm nè. Ông thầy An ở chùa mình…
Hùng hỏi:
– Ông Thích Giác An đó hả chị? Ổng sao rồi?
– Nghe nói bị trục xuất khỏi giáo hội.
– Sao vậy?
– Nghe đồn ổng đi chơi ở phố đèn đỏ trong khu công nghiệp bị công an bắt.
Hùng cươi khè khè:
– Đúng là Thích Giác An.
Chỉ mình tôi biết đó là Duy.

NGUYỄN TRÍ

Nam mô một bồ dao găm

nguyentri

Ngày xưa cách đây chừng khoảng 25 năm. Thằng khùng tôi có thân với hai anh em nhà Đạt Duy. Đạt là anh có vợ trước nhưng không ở riêng vì không vốn liếng ra riêng cho chết à? Cả hai vợ chồng và thằng em tên Duy cùng nương nhờ dưới bóng bà mẹ làm nghề bói toán. Phải công nhận càng nghèo người ta càng tin vô bá láp. Cỡ Trí tôi mà đôi khi còn xoè tay nhờ con mụ ba trợn coi cho một quẻ nói chi dân ngu khu đen.
Đùng một cái thằng Duy quy y của phật. Chả là gần nơi tôi tạm ngụ có một cái chùa, tuy nhỏ nhưng linh lắm, bá tánh vẫn thường đến ngôi tự nầy để xin ơn trên phù hộ cho… trúng số. Ở chùa được ba tháng Duy về thăm mẹ già với cái đầu trọc và mặc một bộ áo nâu. Anh em gặp lại mừng thôi thì hết lớn. Trí tôi mới hỏi bạn rằng:
– Mày có bị khùng không mà xuống tóc đi tu? Bộ có ông Phật nào độ mày hả?
Duy lắc cái đầu trọc lóc:
– Ở nhà khổ quá tao vô chùa cho phẻ. Nói vậy chớ vô chùa có đồng ra đồng vô hơn ở nhà.
Tôi kinh ngạc;
– Làm đếch gì mà ở trỏng có tiền.
Thông cảm cho. Trí tôi vốn bụi đời nên ăn nói có hơi báng bổ.
Duy kể rằng trong chùa bá tánh công quả nhiều lắm, lâu lâu Duy chôm trong thùng công đức nên có chút đỉnh. Sau đó Duy đưa tiền cho anh là Đạt đi mua bia lên cơn về uống. Hồi đó có bia Vitamen là quý hoá lắm. Tôi hỏi:
– Làm sao chôm?
Duy trả lời:
– Tao vót một thanh tre mõng thiệt mõng rồi bôi mủ mít lên đầu thanh tre, thọc vô kẻ hở rồi lôi lên. Nhưng phải chôm lúc hai giờ sáng chứ ban ngày sư ông biết là chết mồ tổ liền.
Có bia lên cơn nên Duy khai tiếp:
– Trong chùa có ni Tâm là ngon cơm nhứt.
– Ngon làm sao?
– Cứ lễ lớn là sư trụ trì làm một cây lộc. Trên đó gắn cả ngàn cái phong bì đựng câu sấm. Ai hái lộc xong là nhờ ni Tâm giải . Giải là cho tiền. Hiểu không?
Nghe qua thằng khùng tôi buồn cười tợn. Nhưng tợn nhất là Duy nhờ tôi dẫn đi khu bả đậu. Khu bả đậu là khu để đàn ông mua còn đàn bà bán tình. Chỉ có thứ đồi truỵ mới đến khu nầy. Tôi nói:
– Tu hành kiểu mày chắc xuống địa ngục a tỳ sớm quá Duy ơi.
Duy nói:
– Kệ mẹ tao. Mày không biết ông trụ trì của chùa tao ở đâu. Ổng còn quá cha ông nội tao nữa.
– Sao?
– Ổng ba đứa con hai bà vợ luôn đó mày.
– Trời đất ơi…
Có vitamen bia lên cơn nên Duy cười khùng khục:
– Mày nghĩ coi. Thầy chùa không có vợ thì làm sao có phật con? Mà thôi. Có đi khu bả đậu không?
Trí tôi phải dẫn ông con đi chớ biết sao giờ? Lâu lâu bạn bè nhờ không giúp đâu có được. Với lại bia bọt uống rồi. Xôi chùa ăn là ngọng miệng. Đúng không?
Tất nhiên là Duy phải thay nâu sồng bằng một bộ xi vin. Ai lại mặc đồ tu vào khu bả đậu? Hai mươi lăm năm trước, tức là sau thống nhất mười lăm năm, chả hiểu làm sao tàn dư của chế độ cũ – báo chí gọi vậy – vẫn không chịu già. Họ vẫn trẻ như tuổi đời họ khai: “Em mới mười tám hai mươi hà…” e là chế độ cũ đã bào chế thành công thuốc trường sinh bất lão rồi quá. Và. Chắc ai cũng biết, vào lúc mà chúng ta đang sống đây, một cô gái chạy hoả hoạn từ một karaôkê che mồm bằng áo chip đã bị chửi cho tắt bếp nói gì đến mua bán tình. Nhất là hai mươi lăm năm về trước thì chết chứ chẳng chơi.
Trong phim “ tôi vào đời” diễn viên Y Phụng đóng vai bán hoa và bán ở bờ sông Sài gòn. Truy quét đến là chạy như ngựa tế. Xã hội ta. Đất nước ta luôn tôn vinh phụ nữ. Chỉ có bọn tư bản phương tây mới đồi truỵ còn ta thì không. Mua bán tình là phạm tội. Kẻ mua người bán nhỡ bị hốt cốt thì vong mạng. Nên chi muốn mua phải tinh thông ngõ ngách chợ tình. Sỡ dĩ Duy nhờ tôi mà không nhờ ai khác là vì tôi – trí khùng – vốn là thằng ăn nhờ ở đậu ở bến tắm ngựa đến tinh như quỷ sứ. Nhưng quỷ cỡ nào rồi cũng bị phản đòn. Vụ phản nầy do Duy mà ra.
Duy cho tôi một suất mua tình – tất nhiên rồi – đời ai chả cho không ai cái gì cả đúng không? Nhưng tôi thề tôi không mua. Nói láo cho bà bắn chết không kịp ngáp. Có hai lý do. Một là tôi sợ. Sợ cái gì xin nói sau. Hai là lúc ấy Trí tôi vợ con rồi. Nhà đói lắm. Thèm cơm nhiều hơn thèm đường phèn. Trí nhét túi đồng bạc của mình để mua gạo cho vợ con. Thiệt là vậy. Xin thề lần nữa. Biết rằng có thề nghìn lần cũng chả ai tin. Vì suy cho cùng đàn ông ai thấy lạ và nõn nường lại không ham?
Một thằng dẫn mối đưa Duy vào một khu hoang hoá và đen hơn bóng tối. Nơi sinh sống của muỗi mòng và bẩn thỉu. Tôi ngồi ngoài quán cóc uống ly trà đá chờ bạn. Mụ nội cha ơi. Đùng một phát – trong bóng tối của khu hành sự đèn pin của truy quét tệ nạn loang loáng trong tiếng chửi thề hậm hực. Đứng lại. Đứng lại… tôi đứng lên nhìn từng cặp nam nữ bị điệu ra. Thằng Duy – trời ạ – một tay bị cột chung với một nữ lưu. Chuyến nầy có mà chết cả nút. Tại Duy mà ra. Nó đòi tôi đi xa xa chứ gần nhà sợ thiên hạ biết. Tôi phải dùng xe đạp thồ đưa ông con ra tận nơi nầy. Vậy mà vẫn bị dính chấu, biết làm sao đây trời hỡi?
Ngộ biến phải tùng quyền. Mọi cách phải giải cứu thằng nầy ra khỏi chốn a tỳ, bằng không chuyến nầy nó chết. Tôi lân la đến bên một anh có súng, móc trong túi ra điếu thuốc mời anh. Dăm câu ba chuyện một hồi tôi trổ giọng hối lộ như thời kỳ đi rừng mua bảo vệ. May quá anh chịu ăn. Ở đời cái gì ăn được ta cứ ăn phải không? Anh đòi tôi chung bằng bốn lần Trí tôi có trong túi. Và vậy là thằng khùng tôi hoàn toàn thua cuộc. Móc hết ra trí năn nĩ:
– Em còn có nhiêu đây. Anh tha cho thằng bạn em một lần.
– Nó làm gì mà cạo trọc? Chống chế độ hả?
– Dạ đâu có. Nó mới sốt dậy nên trọc đầu.
– Sốt mà còn gái gú.
Anh nhìn mớ tiền trên tay Trí rồi nói:
– Nhiêu đây thì thua đi đại k.
– Em năn nĩ anh giúp cho một lần. Em cũng biết sống biết chơi. Thề là không quên ơn anh.
Anh ngẩm nghĩ một hồi rồi gọi:
– Ê… Dũng… lại nói nghe nè…
Người tên Dũng bước tới. Anh ta ngó tôi một hồi rồi reo lên:
– Trời đất… Minh Tàn… mày làm cái đếch gì ở đây?
Đúng là trời cao bất phụ hảo nhân tâm. Để kể cho quý bạn nghe về tay Dũng này. Nhân đây nói luôn chuyện sợ. Chính tay Dũng nầy khiến Trí tôi sợ chuyện mua tình. Trước đây Dũng là bảo vệ rừng. Suốt kiếp trong rừng nên lâu lâu về phố gã ngu lắm. Lèo quèo sao đó để bị nổ ống khói nên hắn gặp tôi nhờ cứu độ. Tình thiệt mà nói tôi vốn rất bố láo. Có ba giọt rượu cũng hay pháo rằng ba cái giang mai mồng gà hoa khế hột xoài với tao là chuyện nhỏ. Nổ rằng:
– Tụi mày biết không? Giang mai hay sùi mào gà ngó vậy nhưng không nguy bằng hột xoài. Không biết cách trị cho dứt điểm thì vi khuẩn sẽ nằm yên trong dương vật chờ ngày bột phát. Lúc nầy thuật ngữ y học gọi là KIS. Đến khi ta già trên bảo dưới không nghe thì vi khuẩn sẽ sống lại làm bộ phận sinh dục cứng như đá và đau đớn kinh khủng. Lúc ấy phải cắt bỏ và lúc nầy thuật ngữ gọi là KOS. Thằng nào lỡ bị cái nầy thì gặp tao.
Dũng bị ngay bon và gặp tôi. Tôi bảo nó sử dụng trụ sinh từ Pini đến Lincocin đều không thuyên giảm. Thì ra ông con bị lây cấp tá trở lên chứ không là cấp uý. Vậy là phải sử dụng Plageltin mới dứt điểm. Đây là loại trụ sinh thế hệ thứ ba, một hộp bốn viên đắt bằng ba tháng lương của Dũng. Nhìn Dũng đau khổ vì hoa liễu tôi sợ lắm. Dũng thề rằng có dịp sẽ trả ơn tôi. Nên đây cũng là dịp. May cho tôi là không móc tí tiền còm để chung chi cho giải cứu. Duy thì sao các bạn biết không? Trái đất tròn và hẹp té. Bảy năm trước đây tôi gặp lại Duy.
Tôi vốn là một tín đồ phật giáo bán chính thống. Cần phải nói cho rõ vụ chính và bán nầy để khỏi gây hiểu lầm cho quý chư liệt vị. Để hiểu biết về Phật giáo cho cặn kẽ thì Trí tôi không có cửa. Ít học thì đừng có mơ mà hiểu được nền triết lý cao thâm của tôn giáo này. Những có không không có. Có đó mà không đó hoặc hãy buông bỏ anh sẽ ngộ ra đời không là gì cả, hoặc là tỉnh động động tỉnh khó hiểu chết bà. Đọc trong một cuốn sách nào đó kể rằng: Có hai sãi áo nâu đang quét dọn sân chùa. Một cơn gió đi qua làm lay một cánh hoa trong chậu. Một sãi nói: – Hoa động. Sãi kia cãi: – Hoa không động, gió động. Inh củ tỏi một hồi sư ông đi đến khỏ đầu hai sãi mà rằng: – Hoa không động. Gió không động tâm hai ngươi động. Nghe xong hai sãi liền đốn ngộ. Là sao? Hiểu thằng khùng tôi chết liền.
Là tín đồ bán chính thống sức hiểu về phật giáo của tôi là niệm phật. Nghe rằng niệm phật một lần là phúc đẳng hà sa. Trí tôi cũng thuộc được vài thời kinh nữa đó. Những Chú Đại Bi. Liên Hoa. Bát Nhã tôi nằm lòng. Đêm đêm thắp hương lên bàn thờ phật và gia tiên Trí tôi thường tụng lắm. Tụng xong là cầu xin ơn trên phù hộ cho cả nhà bình an may mắn. Mấy đứa con đi làm công ty đừng bị chủ quản nó đì là con cảm tạ vân vân… vậy gọi bán chính thống là quá xá đúng. Và cái không hiểu, cái bán chính thống thường đưa con người ta tin vào hảo huyền. Tức là tin vào cái tượng đất thó chứ không tin vào chính mình. Thậm chí tin đến cuồng. Tục gọi cuồng tín.
Tám năm trước Trí tôi ngoại trừ bần cùng còn bị tai hoạ bủa vây. Con trai lớn lâm vô sa đoạ và bị bắt đi cai nghiện cưỡng bức. Tâm tư người cha có đứa con lâm cảnh tội tù xa xót lắm tha nhân hỡi. Được vài tháng đến đứa con gái bị giết. Chao ôi là đau đớn. Đoạn trường ai có qua cầu mới hay. Trí tôi ôm niềm đau nằm trên võng tì tì nốc rượu cho quên sầu nhân thế. Nói thiệt nghe. Về rượu dám nói một câu chỉ Kiều Phong trong Thiên long bát bộ và Lệnh Hồ Xung trong Tiếu ngạo giang hồ mới dám ngồi chung bàn với thằng khùng tôi. Đứa con gái chết vào tháng tám trời mưa trời mưa không dứt. Xe đưa áo quan ra huyệt phải có năm thằng thanh niên vai u thịt bắp luân phiên cật lực tát nước mới đưa được áo quan về đất mẹ. Tôi ngồi giữa nghĩa địa nốc bao nhiêu rượu cũng không say. Chợt nghĩ đến những bà mẹ của hai miền nam bắc trong chiến tranh có người mất cả chục đứa con. Mình thằng đàn ông buồn đã có rượu chia lửa còn họ thì sao?
Đêm nào Trí tôi cũng bên bàn thờ tụng cầu siêu cho con gái. Hết siêu đến an cho thằng con trong trại. Cuồng đến độ tin rằng tụng càng nhiều thì con gái sẽ sớm đầu thai, con trai sẽ mau chóng bị con ma tên tuý từ bỏ. Con gái chả biết có siêu không chứ thằng con thì chịu. Bằng chứng là sau hai mươi bốn tháng cai nghiện về được bốn tháng mười hai ngày nó bị hốt đi lần thứ hai. Trí tôi lòng lòng những Đại Bi, Bát Nhã, Liên Hoa là vì vậy. Cả văn tế thập loại chúng sinh cũng làu luôn mới là hay ác.
Có ông bạn người công giáo trùm một họ đạo lại là tổ trưởng an ninh nhân dân kề bên nhà vẫn tạc thù với Trí khuyên rằng:
– Anh phật giáo thì nên lên chùa nhờ trụ trì đích thân cầu siêu cho cháu mau siêu thoát.
Nhìn cái nhà của Trí như cái chuồng heo anh cám cảnh:
– Tôi quen thân với sư trụ trì. Ổng có cái nhà bỏ không. Mai anh đi với tôi lên nói với ổng một tiếng xin ở nhờ, luôn tiện coi ngó dùm ổng luôn.
Còn gì quý hoá hơn. Hôm sau tôi lê thân tàn đi theo cán bộ. Anh dẫn tôi vô chùa. Vô hẳn phòng riêng của sư trụ trì và trình bày vấn đề. Nghe xong sư nói:
– Chuyện cầu siêu của thí chủ thì để thầy nói với các sư đến tụng nhân 49 ngày của cháu. Còn cái nhà thì không được…
Trầm ngâm một hồi sư tiếp:
– Thí chủ đừng nghĩ thầy ích kỹ mà tội lắm. Chẳng là cái nhà nầy một người bà con của thầy nhờ mua hộ. Nhưng có đơn tố lên trên thầy dùng tiền công quả để mua nhà riêng… mô phật… vậy nên xã đang quản lý. Căn nhà nầy không được cho ai ở trong khi chờ giải quyết.
Nghe xong anh bạn cán bộ gật gù rồi cáo biệt thầy ra về. Tôi nấn ná:
– Anh về trước nhé, tôi về sau.
– Tôi nhìn sư thầy một hồi. Thực mà nói. Khi nhìn một sư ông áo vàng chả biết chư liệt vị ra sao chứ tôi ít để ý lắm. Cứ như cái áo nó ám đến mụ mị con mắt mình vậy. Nhất là quý sư thường như nhau. Mặt thịt hay xương chi đầu trọc tếu bằng nhau khiến cho ai cũng như ai. Vị trụ trì nầy tôi ngờ ngợ. Chừng như tôi đã gặp đâu đó trên đời. Nhìn một chặp tôi thốt lên:
– Trời ơi… Duy. Nhớ tao không?
– Cái mặt tôi – nói thiệt – bạn bè cách xa nhau nhưng bốn chục năm gặp là họ nhận ra tôi liền. Bơi tôi có gương mặt rất là du côn. Vậy mà sư ông không nhận ra mới lạ chứ. Sư nói:
– Mô phật… thì chủ nhầm tôi với ai rồi.
Tôi suýt cái chửi thề:
– Cái sẹo trên màng tang của mày tao quên sao được. Mày nhớ vụ bị bắt ở xóm bả đậu không?
Thầy nhìn tôi rồi hấp háy mắt:
– Ủa… Minh Tàn hả… lâu quá mình nhận không ra…
Trên đường về, thoạt tiên tôi có trách. Nhưng ngẫm một hồi và tự đặt mình vào hoàn cảnh của Duy nếu là tôi liệu dám nhận lại bạn cũ không? Rất biết sống biết chơi từ đó tôi cạch luôn cái chùa – nơi mà – thàng bả đậu đang trụ trì. Việc gì tha nhân không muốn ta chớ có nên làm. Có ngày ăn mã tấu vong mạng. Hồi mới bước chân ra đời kiếm sống tôi bị nắng gió miền trung thiêu cho đen như cột nhà cháy. Một hôm có thằng bạn gọi: Ê Minh Hắc. Cái giọng của nó vừa kỳ thị vừa bỉ khinh làm tôi nóng mủi. Tôi không ư hử. Nói gọi tiếp lần nữa. Tôi nói hắc một tiếng nữa là tao đập đó. Nó nói:
– Mày đen tao nói hắc chứ có nói bạch đâu mà tự ái.
Vậy là một cú đấm vô mặt nó liền. Ừ. Cái gì xấu hoặc không hay không phải của tha nhân chớ dại mà lôi ra làm trò. Tôi không chùa nhưng bà xã thì thường xuyên, thậm chí ngày sinh nhựt của thầy trụ trì cô vẫn lên bếp chùa làm công quả, gọi là xin chút ít phúc đức cho con cháu về sau. Cũng đúng thôi. Ngày công phụ hồ bét dem cũng hai trăm nghìn nay phụ không công cũng có cái ân điễn trị giá chừng đó chứ. Đúng không? Tôi bán chính thống phật giáo thì nghĩ vậy. Có hôm chùa về vợ tôi khoe:
– Ông Năm nè…. Hôm nay sinh nhựt thấy ông biết riêng cái khoản tiền nếp nấu xôi hết bao nhiêu không?
– Nhiêu?
– Bảy triệu.
– Mấy? Trăm hay triệu?
– Triệu.
– Bà nội cha ơi…
Tôi suýt thốt lên với vợ là bà biết tay trụ trì là ai không? Làm sao bà xã tôi biết được Duy đang là chưởng môn nhân cái chùa nầy? Thì ngay tôi còn không nhận ra nói gì cô ấy. Ngày xưa mười bốn ký nay tạ tư là hiểu rồi. May mà tôi kìm được.
Nhưng đời không bao giờ đơn giản. Có những cái ta không muốn nhưng sự đời cứ mặc nhiên đưa lại buộc phải nghe phải thấy phải biết. Ông bạn an ninh nhân dân trùm một họ đạo bò lên được cái trưởng ấp giới thiệu tôi với một lão gia kính cận tám độ. Ông này là nhân vật còn sót lại từ thời di cư ‘54. Bẩy mươi ba tuổi tên Tám Ẩn. Ông có một chiếc rim tàu mua được từ tiền trúng số đề. Già, mắt kém nên không dám chạy. Cần một người có tuổi, chạy xe cẩn thận để đưa ông đi chơi. Ngày năm chục ngàn xăng ông ta chịu. Lúc ấy công thợ hồ là năm chục. Chạy xe chở đi chơi cơm chủ bao thì hết sức là vô mánh. Tám Ẩn tuy già nhưng sành sỏi chiêu thức Trâu già khoái gặm cỏ non. Tôi có bổn phận dọc theo lộ mà rề rề. Nơi tốp lại là những quán cà phê mái lá. Ở đó rất nhiều nữ tú đang chơi tiến lên hoặc tứ sắc. Có khách là một cô chạy ra hỏi uống gì anh. Đem thức uống ra cô hỏi tiếp mát xa không anh? Các cô không gọi Ẩn mà gọi Ẩu. Bữa nay Tám Ẩu đến kìa. Hỏi sao gọi vậy các cô nói:
– Thì đụng đâu bốc hốt đó nên gọi Ẩu.
Kể ra vậy cũng vui.
– Hôm đó chạy đâu chừng năm mươi cây số Tám Ẩu ra hiệu cho tôi ngừng lại một quán lá. Quán nầy mới nên chả em nào biết Ẩu là ai. Một cô ngồi chung võng với tôi thăn thỉ thư giản đi cưng, từ sáng giờ ế quá không có đồng nào hết cưng ơi. Tôi nói chú chỉ là thằng tài chạy thuê cho ông già đó thôi cháu ơi. Nghe vậy cô dợm chân đứng lên thì tôi vội ôm cô ta lại và vùi mặt vào tóc cô. Cô ta tưởng tôi muốn mát xa nhưng làm bộ.
Từ trong cánh cửa một hộ pháp bước ra.
Tôi phải vùi mặt để tránh vì đó là Duy.
– Thực ra đời sống nầy chả có gì đáng phải buồn hết. Suy cho cùng bản năng sống của chúng ta là gì? Ông Bùi Hữu Nghĩa đã diễn tả tứ khoái của loài người qua bốn câu: Cơm phiếu mẫu, chiếu bồ đoàn, ngữa nghiêng loan phụng, nhẹ nhàng nương long. Ăn, ngủ, làm tình, đi ngoài là bốn cái không thể thiếu của loài người. Nén lại một cái dứt khoát nó nổ cái ầm. Cái buồn nhất đây là nam mô một bồ dao găm. Anh lợi dụng niềm tin bá tánh để mưu lợi riêng cho mình là nguy hại lắm. Giá trả không ít đâu.
Tôi ở Thanh Sơn Định Quán Đồng nai từ khi chưa thành lập xã. Khi tôi bỏ xứ này ra đi chưa có cái chùa nào hết. Vừa qua đọc trên báo nghe có một trụ trì của chùa chi đó mơi xây dựng bị bắt về tội quan hệ với một vị thành niên. Tôi hỏi. Một vài học trò của tôi nói ông sư này bị gài thầy ơi. Nhỏ nầy mới mười bốn nhưng cà phê ôm bia ôm hơn năm rồi. Chuyện bị gài thế để kiếm tiền của một số kẻ táng tận lương tâm là có. Nhưng anh là ai, là gì mà để bị gài? Thầy tu cả trăm ông đang khất thực trên đường chả ông nào không có cái ai phôn tàu đẻ xem phim… đồi truỵ? Đừng nói quý vị ngây thơ. Ông sư ở Thanh sơn khi bị bắt mới thòi ra ông bị giáo hội trục xuất vì rất nhiều bá láp từ khuya rồi. Vậy, nhưng anh vẫn qua mặt được chính quyền sở tại để trụ trì mà ngây thơ sao?
Làm sao nói bị gài? Tôi không tin. Chuyện của Duy đến đây tôi dừng, kể nhiều e mệt trí bạn đọc. Ngày mai tôi sẽ kể cho quý chư liệt vị chuyện bị gài đến thân bại danh liệt, vợ con không ngó của bạn tôi. Tay tổ trưởng an ninh nhân dân, tay trưởng ấp, trùm một họ đạo…
Tát nhiên là nếu các bạn còn muốn đọc.

NGUYỄN TRÍ

Cao su rụng lá

nguyentri

Bông đùa như một diễn viên đang tấu hài mua vui cho bà con cô bác. Năm Kép trả lời câu hỏi vì sao lớn nhứt nhà mà lại năm chứ không là hai như bao gia đình khác ở xứ nầy:
– Biết sao không? Tại trước tao còn có ba bà chị. Bà hai bà ba bà tư rời khỏi trần gian ô trọc nầy khi vừa mới ra đời. Vậy nên tao thứ năm. Còn Kép là bà nội tao đặt chứ ông bà già không có tí quyền gì trong chuyện đặt tên con cái trong nhà. Bà nội tao là một Lý Phi Nương thứ thiệt, má tao kể vậy…
– Lý Phi Nương là ai?
– Là bà má chồng ác nghiệt trong tuồng cải lương Lâm Sanh Xuân Nương…
Từ cái thuở xa xưa nào đó bà nội goá chồng của Kép hứa hẹn sẽ xuôi gia với một bà bạn cũng goá chồng khi cha Kép còn cởi truồng tắm mưa. Lớn lên ông cha phải lòng một nhan sắc tầm chim sa cá lặn là bà Loan – người Kép gọi bằng má:
– Tụi mày thấy tao năm mươi rồi mà còn đẹp trai không? – Kép hỏi bạn nhậu.
– Quá đẹp luôn. Mày mà ăn học đến nơi đến chốn không chừng bây giờ là dziễn dziên.
– Tao đẹp dzầy em tao đẹp cỡ đó thì má tao nhứt sóc nên ông già tao mê là quá xá đúng. Kẹt cái bà nội Lý Phi Nương không ưa bà già tao. Đó là lý do tại sao tao ra đời ở trong rừng.
Những tưởng đẻ xong là má chồng sẽ đổi thái độ với một đứa con dâu không cưới hỏi. Ngờ đâu ra đời được một ngày là thiên thần về trời không rõ nguyên nhân. Ba năm liền ba đứa. Bà má chồng mê tín thuộc loại trời thần đất lỡ cho rằng con trai đã lấy nhầm một loại chúa của hồ ly nên đẻ ra con ranh con lộn. Nhưng không sao, ông bà có câu chồng ghét thì ra mụ gia ghét thì vào. Chồng thương vợ quá nên rất dịu dàng nói với mẹ rằng:
– Bà mà khó quá là tui ra ở riêng à.
Khì khì khì – Năm Kép tiếp tục – ông già tao là bất hiếu loại chúa. Ông bà nội tao cho đi học bây biết ổng học ở đâu không? Ở ngoài sông cái chớ đâu. Ông nội tao ra sông thì ổng dông tuốt vô rừng. Về sau ông nội tao bắt theo xe bò vô rừng kéo be luôn. Để ở nhà thiên hạ đến mắng vốn ngày cũng mười tám giác. Biết tính con trai nói là làm nên bà già không thèm mè nheo mà im như người câm. Trong nhà con dâu hỏi mà mẹ chồng không ư hử thì có mà chết cho rồi. Vậy nên bà Loan xin chồng theo vào rừng cho vui. Chồng hiểu nên ô kê cái rụp liền.
Nói về sự ra đời của mình Năm Kép rành như anh ta đích thân cắt rún cho mình vậy. Đang kéo một lóng cây cả một kíp rưởi thì bà Loan đau bụng. Rất bình tĩnh vì vụ đỡ đẻ bởi ông cha rành không thua bất kỳ ai làm nghiệp nầy. Chả là bà nội của Năm Kép là bà mụ chính danh, trang lứa Năm Kép ai cũng được bà móc miếng vỗ mông. Ba bà chị vắn số cha Kép phụ mẹ nên rất rành:
– Nói thiệt với tụi bây tao sanh non nên như dzầy chớ đủ ngày đủ tháng không chừng giờ tao là ông nầy bà nọ.
– Mày sanh thiếu tháng hả?
– Không. Thiếu ngày… thiếu mười ngày.
Cả bọn đang khề khà chén rượu lăn ra cười vì cái hài hước của Kép. Đã nói Kép rất có duyên chọc cười thiên hạ bởi cái giọng tưng tửng và bộ mặt tỉnh khô.
– Sư cha mày. Sao biết thiếu mười ngày? Mẹ… thiên hạ sanh thiếu hai ba tháng là thường thôi ông con?
Ông cha cắt rốn cho Kép bằng lạt giang. Quấn lại bằng cái áo trận đẩm và hôi rình mùi mồ hôi của dân cật lực với rừng. Lóng be được tháo xuống và sản phụ nằm ôm con trên cái sạp bằng cây rừng ung dung về nhà. Bà má chồng thấy dâu đẻ cháu trai mừng đến sa nước mắt. Bà thắp một bó nhang to đùng cầu xin với đất trời thiện địa, có bao nhiêu ông thánh bà thần trên đời bà dập đầu xin đừng có ăn cắp cháu của bà đi nữa. Lời cầu xin ứng nghiệm. Kép mạnh khù, nhanh như con sóc rừng và vô cùng hiếu động. Sau đó bà má đẻ tiếp:
– Biết sao tao tên Kép mà thằng em tao tên Nhứt không?
– Sao?
– Là bà nội tao mê lắm cái cải lương tuồng. Tao chưa thấy ai thuộc cải lương và nước mắt ròng ròng khi nghe tuồng chứ đừng nói coi. Bả chửi bà Tào Thị với bà Lý Phi Nương thiếu điều tắt bếp. Vậy mà bả cũng không thua. Tên anh em tao bả đặt hết. Đã kép thì phải nhứt. Kế là con Đào cuối cùng là thằng Nhì. Kép Nhứt Đào Nhì tụi mày thấy vần không? May mà ông già tao chết sớm bằng không anh em tao cả trung đội chứ không ít.
– Sư mày… cha chết mà may. Ông già mày sao chết?
– Ông già tao là bộ đội địa phương. Xứ mình năm đó cộng hoà phối hợp với lính mỹ đi càn dữ lắm. Bên càn bên tập kích ông già tao bị một phát ép tay( m16) vậy là lên bàn thờ ngồi.
Sau thống nhất đất nước. Nhà Kép cũng liệt sĩ như ai, kẹt cái lúc đó cán bộ đương chức đương thời còn hẻo. Cả bà mẹ anh hùng còn hát câu trong đời nay thanh bình mẹ chìm dưới cơn mưa nói chi ai. Cái năm bo bo độn mì, ai ngủ thức dậy cũng bị hai cục ghèn nặng cả ký ngồi gỡ thiếu điều sứt hết lông mi riêng anh em nhà kép no như cưỡng. Chả là Kép là sư thúc tổ kiếm lộc từ rừng. Thiên hạ khai thác lâm sản bị hốt cả người lẫn dụng cụ riêng anh em Kép thì không, chả phải nhờ cái uy liệt sĩ chi ráo. Kép là tổ sư trèo cây hái trái. Đảm bảo nguyên cả vùng miền đông nam bộ không ai sành rừng cho bằng Kép. Nhìn cái lá Kép biết ngay cây gì. Đã nói dân ra đời trong rừng chứ đâu phải giỡn chơi. Thiên hạ muốn có trái cây rừng đem bán thì hì hụi hạ cây. Kép nhoáng một cái là đã lên đến ngọn. Nào chôm chôm rừng, bù lộp, vú heo, xay, gùi, vò viên… ngày nào con em gái tên Đào cũng có thức đem bán ở chợ. Trái cây rừng một thời gian dài nuôi hai đứa Đào và Nhì ăn học. Riêng Kép và Nhứt thì chưa tốt nghiệp lớp bốn là nghỉ luôn. Không có cái bỏ vô miệng ở đó mà học với hành.
Nhưng rừng miền đông bị tàn phá cấp kỳ. Các nơi đổ xô vào ra tay tàn phá kiếm nương rẫy cho qua thì đói rách. Kế là ông nhà nước đưa dân đi lập kinh tế mới. Cuối cùng là cả vạn hecta rừng ra đi nhường chỗ cho những nông trường cao su. Vùng rừng Kép nương nhờ nhanh chóng biến khỏi trần ai. Nhưng không sao. Không còn rừng nguyên sinh thì ta có rừng con người sinh. Kép bò vô rừng cao su cổ thụ từ thời Pháp còn xâm lược xứ ta kiếm ăn. Cao su ở những vùng nầy có cây lớn hơn một vòng ôm người lớn. Cành khô trên loại này rất nhiều. Dân lấy củi khô chủ yếu bằng câu liêm. Kép thì không. Anh ta trèo lên cây rồi dùng rựa chơi luôn cho nó nhanh. Cao su là tài sản quốc gia, vàng trắng chứ không đùa. Ai vào phá phách là tù như chơi, nhất là ăn trộm mủ. Kép không trộm, không phá. Vả lại cành khô là kẻ thù của dân cạo mủ, đang cạo hoặc trút mủ mà một cành nổi ưng nhè cái đầu rơi xuống là mệt lắm. Có đội mủ bảo hộ thì cái đầu cũng vênh vang. Nên chi dân kiếm củi được vào. Nhưng trèo lên dùng rựa thì chỉ một Kép. Chả là thằng Nhứt qua thì khốn khó xin vô làm bảo vệ nông trường cao su. Con liệt sĩ thì bảo vệ là hết sức có lý. Thiên hạ một quan là cả họ nhờ. Đằng nầy Kép nhờ thằng em bảo vệ có cành củi khô cũng chả gì là không có lý.
Thuở mà dầu hoả chỉ sử dụng cho đèn hột vịt, mới tám giờ nhà nào cũng phủi chân lên giường chuyện trò trong bóng tối thì củi đuốc lên ngôi. Dân thất nghiệp ở phố mua củi về nhà chẻ ra và bó lại bằng dây thun đi bán khắp hang cùng ngõ hẹp thì ba cái lò bún lò phở ở xứ ruộng chịu lắm cái anh củi cao su. Dân ruộng năm làm một vụ nên nông nhàn cũng vào lô kiếm thêm. Cành trên cây cao su đâu có mà khô hoài. Thiếu đói khiến con người ta sử dụng thủ đoạn sao cho mình có cái ăn thì thôi. Một trong những chiêu trò là chặt rể cao su. Bộ rể mất, một cây gió ào qua là cao su ngã cái oành, kéo thêm vài cây khác ngã theo lúc ấy ta tha hồ mót. Chiêu nầy rất mau bị phá sản. Bảo vệ đánh ra mùi phá hoại dương súng lên và a lê hấp biến ngay. Rừng cao su là tài sản quốc gia. Đã cấm mà còn dám vào thì què chân ráng chịu.
Chỉ duy một Kép là được vào với tư cách trèo lên lấy cành như làm vệ sinh cho cây vậy. Thậm chí bảo vệ lô còn đến tận nhà rằng Kép ơi ở lô 2 có mấy cây cành khô dữ lắm mày vô tỉa dùm cái. Vậy nên ngày nào Kép cũng có một xe đạp củi đầy ặp, đừng nói kiếm cơm, Kép kiếm cả vàng để cưới vợ nhờ vô vụ nầy luôn đó.
Nhưng quan trọng là – thiên hạ tự hỏi – Ở đâu mà ngày nào nó cũng có cành khô vậy kìa? Lại cành to nữa mới là kỳ quái. Hỏi. Kép nói tụi bây vô mà hỏi cây cao su chứ sao hỏi tao, còn chuyện tao được vào mà tụi mày không là bởi tao không chặt rể phá hoại. Và nhờ thằng Nhứt là bảo vệ nên tao ưu tiên. Với lại tao có cái bằng liệt sĩ thì tụi bây tị nạnh chi cho mệt người. Khà khà khà…
Cứ thế Kép bám vô rừng hết nguyên sinh đến người sinh mà qua hết các thì. Nhờ cành cao su mà bầy con Kép học hành đến đầu đến đũa chứ không chơi. Nói cho công bằng là nhờ bà xã Kép phần hơn. Kép lấy trúng một em , đẹp thì chớ còn tháo vát bậc nhất. Nghĩa là tháo xong rồi vác đi chứ không để đó như thiên hạ. Tiền củi đưa về bà xã nhân lên bằng cách ra chợ ngồi. Thời mà kẻ nào buôn bán, cả buôn thúng bán bưng đều bị liệt hàng tư sản mại bản. Cà chớn là quý ông du kích tịch thu tất. Lúc nầy cái liệt sĩ mới phát huy chức năng. Bà má liệt sĩ tên Loan mắng vô mặt quý anh du kích con con rằng;
– Bà nội cha tụi bây. Cha bây không nhờ tao là cộng hoà nó cho lên bàn thờ ngồi rồi chớ bây nghĩa gì mà láu cá. Biết thằng Thâm chủ tịch huyện nầy không? Trước là lính của cha thằng Kép đó.
Vậy là bà xã kép tha hồ bán với buôn
Thời xăng dầu không còn quý như máu và thiên hạ bớt coi xe như con. Điện đóm tuy tràn khắp chợ thì quê nhưng mấy cái lò phở lò bún vẫn xài củi. Thời mủ cao su có giá dân đi mót một đêm kiếm vài ba trăm ngàn Kép vẫn cứ củi mà tới. Kép không đụng vô mủ vì đó là ăn cắp chứ mót con khỉ chi?
Công nhân cao su đang lên cao thiệt cao bởi giá cao su ngút ngút tận trời xanh, cả dân mót còn nghe ngọt như mật ong rừng. Giá mủ ba mươi nghìn một ký. Mót khơi khơi một đêm chục ký là thường. Dân cạo chính thống sắm chiếc tay ga dễ hơn cán bộ thời bao cấp mua chiếc xe đạp Phụng hoàng. Ngon lành vậy bổng nhiên giá tuột dốc thảm hại. Thảm chưa từng có bởi nghe đâu bên đối tác không thèm thu nữa mới là chết ông bà cố nội luôn. Bên trên bắt đầu thanh lý hằng loạt hằng loạt để xây dựng nhà máy với công ty.
Ai chết kệ ai Kép vẫn tồn tại với cành khô cao su.
***
Bây giờ cả dân cạo cũng muốn rửa tay gác thùng gác dao nói chi dân mót. Có cho họ cũng không thèm bởi chả còn ai dính dấp vô mua bán mủ lậu nữa. Bên chén rượu Kép trả lời câu hỏi vì sao cành cao su khô luôn có cho Kép lấy:
– Nói thiệt với tụi bây. Tao giờ cũng có tuổi rồi dấu làm cái khỉ khô chi nữa, nói ra bây cũng không thể bắt chước mà làm được, có được chăng nữa cũng hết cơ hội rồi. Cao su xứ mình đang bị triệt để cho nước ngoài thuê mướn làm công ty. Sỡ dĩ cánh cao su bị khô là do tao.
– Mày trèo lên gọt võ thân cây hả?
– Ừ… cứ cành nào tương đối lớn tao cạo quanh cho sạch cả lớp lụa thì cành đó phải chết thôi. Nhờ vậy nên tao có củi bán hoài.
– Tụi bảo vệ không biết à?
– Mày còn đoán trúng phóc nói chi bảo vệ lô. Nhưng tao là thằng biết sống biết chơi, biết cả mánh khoé kiếm ăn của bọn nó và giúp tụi nó kiếm ăn ngon nên nương nhau mà tiến tới. Hiểu không?
– Không. Hiểu chết tức khắc. Mày giúp cho tụi nó cái đếch gì?
– Khì khì khì… tụi mày biết lúc cao su có giá dân mót một đêm bị bảo vệ lô bắt cả tấn mủ chứ đâu có ít. Họ chỉ giao nộp cho nông trường một nửa thôi. Còn một nửa quăng cho mấy thằng buôn mủ lậu để kiếm chác để nâng cao đời sống. Nương vô cái lương ba cọc ba đồng lấy đâu đi hát karaôkê ôm. Tao nói tụi mày nghe kịp không?
– Kịp, nhưng giúp cái gì mà tụi nó để yên cho mày cạo vỏ cành cao su?
– Tao dẫn bọn mua mủ lậu vô cân mủ bị bắt. Chỉ đường cho tụi nó tránh bảo vệ nông trường.
– Là sao?
– Là bảo vệ lô bán mủ. Bảo vệ nông trường canh me bắt chớ sao. Khì khì khì… sau đó tao lại kêu lái khác vô mua lại mủ mà bảo vệ nông trường bắt. Bảo nào tao cũng chơi vệ nào tao cũng biết. Anh em có qua có lại. Môi tao mà hở ra là răng tụi nó lạnh liền. Để yên cho tao cạo vỏ cành cây cũng đâu có chết chóc chi ai. Tao nói tụi mày hiểu không?
Đến nước nầy mà không hiểu thì cái đầu toàn bả đậu chắc luôn.
Nguyễn Trí