Tay phải làm tay trái không biết

 

Thiện trở về sau bảy năm trong trại giam XM. Đại ca quyết định quên tất cả để làm lại đời. Mà còn cái chi để không làm lại thưa giang hồ? Bốn mươi lăm tuổi đời cọng bảy năm xé lịch. Già rồi, cửa ngõ giang hồ không rãnh để tiếp nhà ngươi đâu. Và vợ con? Ngươi có chạnh lòng khi mỗi năm hai đợt không vợ thì con gái lớn phải mỏi mòn trên xe khách, nuốt tám trăm cây số đường để đến trại giam? Có chạnh lòng khi đi ba thằng con chưa thằng nào được cấp hai và thằng út một tuổi? Vì sao mà tù tội vậy Thiện? Và vì sao ở cái tuổi bốn mươi lăm lại lĩnh án?

Thiện hả? Tay nầy có cái đuôi sau tên nghe như một tay chơi hoa lá cành cây cảnh. Thiện Ngọc Điễm. Ngọc Điễm là tên đời vợ trước của Thiện. Mười tám tuổi Thiện đắm đuối đến quên luôn cha mẹ chứ đường đi lối về thì khỏi nói. Nhưng cha Thiện không đồng ý. Lý do? Ông nói chửa trước không bao giờ xứng đáng là con dâu ông. Má và ba ông anh trai của Ngọc Điễm tuyên bố rằng không sính lễ thì, con gái tao dại tao có cháu ngoại tao ẳm. Đôi bên căng như dây đàn khi nghe tâu mách từ bọn vô công rỗi nghề. Đụng ngoài đường nhưng họ không nhìn thấy nhau. Vì vậy Kim đồng và Ngọc nữ quyết định tự xây tổ uyên ương. Ba ông anh của nàng sôi sục căm hờn khi thằng mắc dịch làm nhục nhã gia đình. Con gái bỏ nhà theo trai là điếm nhục cả ba họ chứ không vừa. Và đã là đàn ông thì không thể ngậm đắng nuốt cay được.

Ba anh bèn can ke kỹ càng và cùng tấn công Thiện bằng cây ba phân vuông. Sỡ dĩ phải can ke là bởi Thiện vốn là võ sĩ. Nó chơi võ từ năm tám tuổi. Thượng đài ba lần thắng cả ba. Võ sĩ Thiện nhanh như sóc và nể là anh của vợ nên nhịn và bỏ chạy về chòi. Vợ yêu quý hỏi vì sao anh bèn kể đầu đuôi và nói:

– Anh mà không nhanh là phơi thây ngoài chiến địa như Võ Đông Sơ rồi.

Nghe qua vợ yêu bèn đi một hơi về nhà gặp mẹ – ý là – má ơi tha cho con, dù gì cũng lỡ rồi, má căng quá tội nghiệp cháu ngoại má. Bà má chỉ một con gái mong uống được ly rượu quý. Ngờ đâu ra cái nước non nầy. Bà có giận nhưng biết làm sao? Có câu con dại cái mang chồng hoang vợ chịu. Phải chi ba thằng anh nghĩ như vậy thì hay quá. Khề khà chén chú chén anh nghe em gái đang trong nhà bèn tuôn về. Thằng lớn chả nói chả rằng xáng cái bốp. Tát mà nghe “bốp” là mạnh lắm, vì thế con nhỏ bụng mang dạ chửa té cái đụi. Thiện nghe vợ yêu được đưa đi cấp cứu ở đa khoa bèn ba chân bốn cẳng ù xuống viện. Bác sĩ bảo rằng đã cố gắng hết sức nhưng rất tiếc chỉ cứu được mẹ chứ con thì… Thiện vào thăm và nhận ra môi má Ngọc Điễm bị bầm. Hỏi. Bà má vợ không chính thức trả lời bị té. Nhưng con mắt võ sĩ nhìn qua là biết, nó gằn giọng:

– Một trong ba thằng bây thằng nào đánh vợ tao?

Ngọc Điễm nắm tay tình mà rằng… thôi anh ơi… em xin anh… Thương vợ quá nên Thiện cho qua. Và dân dụng sức kiếm miếng ăn khó lắm. Ngụ trong bệnh viện bọn nghèo khó sợ xanh mặt. Mới ngày thứ ba Ngọc Điễm được đưa về nhà để mẹ chăm sóc. Thiện đang một xị giải phá cơn sầu thì lại nghe tin vợ yêu có chuyện. Và rồi Ngọc Điễm ra đi trên tay Thiện bởi cô bị băng huyết. Trong cơn thất vọng đến não nùng Thiện đập cho ba thằng anh một trận rồi quay sang trách móc rằng, vì cha mà tui mất cả vợ lẫn con. Ông cha yên lặng đòng đưa trên võng. Biết nói gì bây giờ? Chả phải vì cái cố chấp mà ra tang thương đấy sao?

Buồn tình Thiện dấn thân vào chốn bụi đời. Ngó vậy chứ bụi bờ kiếm sống dễ hơn than củi, miễn gan góc và chấp nhận hiểm nguy. Ai thuê đánh thằng nọ thằng kia dằn mặt Thiện Ngọc Điễm chơi liền. Không đánh đấm thì xập xám tiến lên bài cào xì dách. Đá gà cờ tướng môn nào Thiện cũng có tên trong chốn dzô hàng. Riêng khoản cớ tướng toàn thể dân chơi trong thị trấn Thiện xô nhẹ là té. Và tất nhiên họ và tên tuổi Thiện cũng nằm trong cơ quan bài trừ tệ nạn. Nhưng thế giới của bóng tối muôn đời bí ẩn. Biết vậy nhưng bắt cho được thì khó lắm. Thế giới nầy mười thằng thông minh mưu trí tầm Chu Du hết chín và Thiện là số một.

Giang hồ còn kể rằng đại gia Minh Thước ở thị xã Q khá giỏi trong môn chiếu tướng. Ông ta giàu nên chả cần tiền. Một cuộc cờ thì chầu cà phê hay chầu nhậu là hết phép. Và thường thì Minh Thước chả bao giờ chung. Nghe danh nên Thiện Ngọc Điễm tầm đến Minh Thước thử chơi cho biết. Đại gia năm mươi tuổi nhìn oắt con hai mươi chả buồn tiếp nhưng, cái mặt câng câng kiểu, ta là một là ta là tất cả nên đại gia phải trị cho bớt thói ngông cuồng. Cờ bày ra chơi hai ván Thiện thua non đúng hai. Giang hồ đứng lên vòng tay thi lễ mà rằng:

– Đệ tử xin bái phục. Mong gặp lại sư phụ vào một ngày đẹp trời.

Hôm ấy Minh Thước đang trong bún bò Huế thì Thiện Ngọc Điễm lù lù vào:

– A… xin chào sư phụ… lâu qua không gặp. Sư phụ khỏe chứ?

– Cám ơn đã hỏi thăm. Mày sao? Cờ cuộc lên được chút nào không?

– Dạ… đánh mới biết chứ nói ai nói không được.

Nghe ôn con nói là đại gia sinh ghét. Mới một trận nho nhỏ nên nó chưa biết lễ độ là gì. Cả hai kéo ra cà phê cóc và Thiện lại tiếp tục chung vừa bún bò vừa cà phê thuốc lá. Lại thi lễ hẹn ngày tái ngộ. Đại gia nhìn theo cười ruồi nhủ thầm tao cho mày tái nạm luôn chứ làm chi có tái ngộ mà ham.

Lần thứ ba Minh Thước đang đàm đạo về thế thái nhân tình gớm chết thay cùng bè bạn trong “Trà đình Dạ thảo” – một quán – không dành cho vai u thịt bắp thì mồ hôi dầu Thiện vào, lại lâu quá không gặp lại chúc sức khỏe và lại làm ván chơi vui. Thiện lắc đầu:

– Ông chấp tui con xe thì còn dám và đánh cái gì lớn lớn chút ông già ơi – nó chuyển từ sư phụ sang ông già nghe mất dạy hết phép – ba cái nhỏ lẻ không có hứng.

– Chấp thì chấp. Mày muốn đánh sao?

Thiện móc trong túi ra cọc tiền:

– Một triệu. Ván nào chung ván đó
– Là mày muốn đó nghe.

Thiện thua liền hai ván. Nó hằn học thẩy hết cọc tiền lên bàn:
– Chơi tất tay ván cuối. Thua là tui cạch ông tới chết luôn.

Đại gia trả lại một triệu ra cái vẻ tao không ăn của chú mày. Nhưng Thiện đang thấu cáy nên nóng tiết

:- Một ván cuối. Chẳng qua nãy giờ tui thả…

– Bà cha mày… rượu mời không uống lại uống rượu phạt. Chơi thì chơi.

Ván thứ ba – mẹ cha ơi – Minh Thước thua. Hơ hỏng một chút mà bị thằng con nít cho phơi áo. Đắc chí bởi vừa được bạc vừa thắng trận Thiện ha hả cười. Đại gia là người chứ đâu phải thánh mà không điên:

– Chơi ván nữa.
– Thôi… tui về. Hẹn ông bữa khác. Hôm nay tui rút lại hai từ sư phụ nghe.

Nhìn kẻ thắng cuộc đếm tiền và là lần đầu thua bạc, chẳng là bao với đại gia nhưng đau chứ đâu có đùa. Thua kẻ không đáng thua thật là đáng hận:

– Mày thắng rồi đánh bài chuồn à? Giang hồ thế đếch gì kỳ vậy?

– Được… tiếp thì tiếp… ván nầy đánh hết bạc trong tay luôn. Một ván cuối có anh em làm chứng nghe.

– Khỏi cần ai chứng chiếc lôi thôi. Hết ván nầy tao cũng phải về.

Đại gia lại thua. Lần gặp kế tiếp Minh Thước không chấp xe nữa mà đánh đồng. Sau vài lần lâm trận đại gia nhận ra mình bị gài thế. Từ chỗ ghét Minh Thước quay qua phục tuổi trẻ tài cao. Cứ thế, hết môn nầy đến môn khác Thiện ung dung sống. Nhưng bấy nhiêu chỉ vừa để giang hồ nể. Ở chốn bụi đời nể là chưa đủ. Phải làm sao cho ba quân sợ và phục mới là cao thủ.

Ở thị trấn có một tay chơi khét tiếng chém mướn đâm thuê tên Lục. Ngọai hiệu là Lục Tào Xá. Cũng chả biết tại sao hắn có cái tên nầy. Chắc thiên hạ thuận miệng nên kêu cho vui mồm. Lục hành tẩu khắp chốn, cả cái nơi cư ngụ hắn cũng không chừa. Hắn phô phang rằng quen biết ông nầy bà nọ nên chả kiêng ai. Một tối nọ Lục và Thiện chung một mâm rượu cùng hai đệ tử. Ỷ lớn tuổi nên Lục chửi từ trái sang phải. Hắn đòi đập luôn cả Thiện. Nhịn không xiết Thiện  điểm mặt du côn và nói:

– Tao sẽ chém mày trong đêm nay.

Nói xong liền đứng lên băng mình vào bóng tối. Chủ quán nhìn Lục hàm ý rằng mày ghẹo trúng thằng nói là làm thì nguy rồi. Lục cũng sợ. Giang hồ tuy lấy bóng tối làm ánh sáng nhưng lại sợ bóng tối một phép. Nó rình rập đâu đó trên đường rồi phang cho mình một cây vô đầu là tiêu. Ma không biết quỷ không hay nói chi công quyền. Mà công quyền có truy được thì mình không xanh cỏ ắt cũng tâm thần mất rồi. Sợ quá. Sợ đến nỗi không dám về. Lục đứng trong hẻm la làng thằng Thiện đòi chém tao… bà mẹ nó thằng Thiện đòi chém tao…  bà con cô bác trong hẻm, cả ngoài đường nghe la liền mở cửa ra xem… hôm sau toàn thị trấn kháo rằng Lục Tào Xá mặt xanh như đít nhái, quỳ lạy xin tha bởi bị Thiện kề dao vô cổ. Chuyện không nói cho có là thực tiễn của cuộc đời muôn mặt.

Nhưng chuyện lấy vợ lần hai của Thiện mới làm thiên hạ kinh tâm. Nàng tên Trâm. Con nhà nghèo nhưng nhan sắc tầm hoa nhường nguyệt thẹn. Hải Đầu Bò là con trai một quan chức. Cha nó bận việc công nên việc nhà lo không trọn. Má Hải bận kinh doanh nên giao con cho học thêm học bớt. Có tiền Hải học làm dân chơi. Nó cầm đầu một băng khét lẹt cơm khê ở thị xã Q. Cũng ăn nhậu phá quán, đánh lộn đánh lạo làm nhức đầu nhức óc cả công quyền. Ông cha đau lòng lắm khi ngày nào cũng có cái sự méc của bạn có thẩm quyền bên thị xã về con trai quý. Bà mẹ vung tiền ra bồi thường những cái con bà phá và đánh người gây thương tích cũng đến mệt.

Nghe con trai đòi lấy vợ ông cha và bà má mừng húm. Nó lấy vợ thì có vợ cầm chân. Xưa nay đàn ông hư hao cách mấy vẫn bị tình nó đánh cho sụm gối. Trâm mới lớn nên lòng hơi nhẹ, với lại Hải xem tiền cứ như lá mít nên cha mẹ nàng muội luôn cả hồn lẫn xác. Lấy được thằng chồng đã giàu lại con quan chức là phúc ba đời để lại. Phúc đâu chả thấy. Cưới về được bốn tháng, khi cái bụng Trâm vun lên thì Hải tính nào tật nấy. Đúng là giang sơn dễ đổi bản tính khó dời. Trâm xin về nhà mẹ ruột để đẻ. Nàng sinh đôi một trai một gái. Tiên sư cha thằng con nhà giàu, sư luôn con mẹ nó… nhà chồng Trâm rót tiền cho cha mẹ nàng chăm cháu. Họ bận quá, con còn lo không được nói chi cả cặp cháu. Thằng chồng lâu lâu ghé qua ngó con một chút rồi đi. Trâm ngộ ta mình nhầm và cô lạnh tanh khi chồng có mặt. Đàn bà là sinh vật cao cấp đầy bí ẩn. Họ nồng cháy đó mà băng giá cũng đó luôn. Thật đau lòng cho nhan sắc khi nhặt trúng một chồng hổng chồng hông.

Một hôm kia Thiện đi qua nhà Trâm và choáng váng khi trông thấy một mặt ngọc đang tay ẳm, tay ru con. Chàng và nàng đụng mặt nhau và có cùng một cảm giác, một linh cảm thần bí rằng một nửa của mình đây rồi. Rất nhanh chóng họ là bạn. Bạn. Nhưng tha nhân nhìn vào và thấy rằng khó mà là bạn với cặp đôi nầy.

Tất nhiên mọi thứ không thể qua được mắt thần Hải Đầu Bò.

Hắn đến thăm vợ và cuộc chiến tình nổ ra:

– Thằng Thiện đến đây làm gì vậy?

– Anh hỏi làm chi?

– Mày là vợ, tao phải quan tâm mày hiểu chưa?

– Anh ấy đang là bạn của tôi. Bạn thông thường, nhưng cái kiểu tám tháng quan tâm một lần thế nầy thì trước sau tôi sẽ là bạn tình của anh ấy.

– Mày có tin là tao cho mày ăn bạt tai không? Tiền bạc má tao chu cấp nuôi cả nhà mày còn muốn gì nữa?

– Chỉ cần một bạt tai tôi sẽ bỏ anh tức khắc. Đồng bạc bố thí của gia đình anh không đủ để trả công tôi làm nô lệ tình cho anh đâu. Đừng có mà khinh miệt người khác. Anh đi đi. Ngày mai đến để ký đơn ly hôn.

– Tao không ký đâu mà ham.

– Không hả? Nên nhớ tôi có quyền đơn phương xin ly hôn đấy.

Ông cha bà má chồng con ơi con hỡi đừng ly mà tội nghiệp cho cháu của má. Trâm trả lời ai tội nghiệp tôi? Bà má chồng rằng cháu tao tao bắt, luật pháp và tòa án trong tay tao, mày cứ ly thử xem ai thiệt cho biết. Nhưng tòa án rất công minh. Họ cho ly dị sau ba lần hòa giải không thành và cả hai chia nhau hai đứa nhỏ. Trâm con gái và Hải con trai. Sau bốn tháng làm vợ và một năm làm mẹ tài sản của Trâm chỉ chừng đó.

Cô về tay ôm con gái tay chống trán buồn sầu. Và Thiện Ngọc Điễm đến với tư cách bạn. Dân thị trấn dám lên thị xã vuốt râu hùm là muốn chết. Hải cho đầu bò đầu bướu đến. Tiếc thay dân chơi phố đâu bằng giang hồ thứ thiệt. Thiện thọc direct gối lên chỏ xuống làm cả bọn tháo chạy không còn manh giáp. Anh nhắn với lũ đầu bò rằng Hải muốn gì cứ đến.

Hải đến và cả hai kéo nhau ra cà phê cóc:

– Nếu mày còn yêu con Trâm – Thiện nói – thì vẫn kịp để làm lại. Còn không thì tao nhảy vào. Chọn đi. Còn ba cái trò đánh đấm thì ngữ em út của mày không lại tao đâu.

– Tôi đã ly dị thì không trở lại. Nhưng nếu anh lấy Trâm làm vợ thì làm ơn xem con gái tôi như con.

– Vụ đó mày khỏi phải lo.

Vậy là nửa thất lạc tìm thấy nhau. Họ nên một cặp. Thiện đưa Trâm và con gái của cô rời thị trấn vào thâm sơn phá nương làm rẫy, cất nhà cho mẹ con cô sống. Nhưng cuộc đời không tha cho Thiện. Địa phương đến và khó dễ chuyện phá lâm bất hợp pháp. Trâm ngoại trừ móc tiền nộp phạt còn phải chung chi cho yên. Kẹt cái, ba ông quan nhỏ nhỏ đã có lần một thì có lần hai. Đến lần thứ ba thì Thiện nổi máu du côn đập cho quan chức con con một trận. Trước khi bỏ trốn còn tuyên bố:

– Bây mà làm khó vợ con tao thì chớ có trách.

Vậy là cứ nghiệp cũ Thiện kiếm tiền nuôi vợ con. Cái cùng cốc nơi Trâm cư ngụ ngày mỗi đông. Thiện thoắt đi thoắt về như ma trơi như quỷ dịch. Trâm đẻ cho Thiện trong tám năm những bốn đứa con trai. Đồng bạc nuôi bầy trẻ lớn lên và ăn học từ đánh mướn cờ bạc đá gà và cờ tướng. Một hôm kia Thiện bị công an liên tỉnh giả nai đánh bạc cùng Thiện. Những con na chà cho Thiện ăn những trăm triệu ngoài. Đủ để ra tòa lĩnh án. Tòa kêu ba năm tù giam nhưng sỡ dĩ bẩy năm mới về đời là bởi trong trại Thiện tổ chức vượt ngục.

***

Mấy lần đào tường khoét vách đều không thành. Có lẽ trời xanh không dung nên bị phản bội. Hận ngút trời xanh. Thiện thề sẽ báo thù khi tự do. Ăn thêm bốn năm và bị đưa vô khu vực cách ly bởi bị liệt vô hàng tù nhân nguy hiểm. Khu vực nầy rất nhàn nhã. Phạm chỉ một việc duy nhất là chăm sóc các loại cây cảnh. Từ thân cho đến rễ của lõi các loại cây khô có khắp nơi trong sân. Tươi thì có những mai chiếu thủy, mai vàng, mai trắng, khế bon-sai… Khi Thiện đến, trong cách ly chỉ có một phạm đã già. Ông ta đang trầm tư bên một tượng Bồ Đề Tổ Sư sắp thành hình. Trên tay là một ngọn dao lưỡi sáng như nước, bên dưới chân nào búa nào chàng, đục…

Thiện gác tay lên trán nằm suốt một tuần. Hận thù làm thằng tù không ngủ được. Nằm riết cũng chán Thiện vòng vòng, nghiêng ngó ngắm nhìn, nhưng không thể trèo leo chi được để trốn. Cuối cùng ghé lại nơi lão già đang gọt cắt ngó chơi cho biết. Ông ta hỏi:

– Sao vô đây mậy?

– Vượt ngục. Còn ông?

– Tao cũng vậy.

– Ông ở đây lâu chưa?

– Chục năm rồi.

– Dữ vậy? Bị gì mà những chục năm?

– Bốn năm thôi nhưng tao tự nguyện ở lại.

– Tự nguyện? Ông bị điên hả?

– Tao bình thường.

– Nhưng tại sao ông bị tù rồi tại sao tự nguyện?

– Thằng lính của tao – lão gia cười– thấy nó không nhà tao lôi về coi như em. Ngờ đâu trong lúc tao đi làm ăn nó với vợ tao thông dâm…

– À… vậy là ông vung một dao nên bị tó đúng không?

– Không. Tao có biết mẹ gì đâu. Hai đứa nó gom một gom trốn biệt. Trước khi đi còn báo cho công an bắt khi tao đang làm việc.

– Ông làm gì? Ăn cướp hả?

– Gần gần vậy.

– Là sao?

– Tao phá đoản nhập nha.

Bị kêu sáu năm cho một lốc phi vụ. Lão gia không cam tâm nên vượt ngục báo thù. Quyết định cho gian phu dâm phụ chầu địa ngục còn mình tử hình cũng ô kê. Hai lần vượt đều không lọt nên bóc thêm bốn cuốn lịch. Sau khi ra cách ly lão gia ngộ ra một điều…

– Điều chi sư phụ?

– Thằng ngươi khi bị cắm sừng bò lên đầu là lỗi tại nó chứ không phải con đàn bà. Biến cái vô dụng của mình thành hận rồi trút lên đầu kẻ khác là ngu.

– Nói vậy nghĩa là sư phụ thừa nhận mình dỡ ẹt vụ đưa tình lên thiên thai.

– Khà khà… muốn hiểu sao cũng được.

– Nhưng ông chứ tôi dứt khoát không cam tâm. Có chết tôi cũng băm chúng ra trăm mảnh.

– Sau khi băm mày làm gì?

– Băm cho hả dạ rồi tính sau.

Buổi tối lão gia ngồi xếp bằng luyện công. Thiện cũng hùng hục gối lên chỏ  xuống sợ quên đòn. Đời võ sĩ không rèn thì có mà tự sát. Luyện xong nó hỏi:

– Ông chơi môn gì vậy?

– Hiệp khí đạo phe ta gọi là khí công.

– Vậy mà tui tưởng ông ngồi thiền.

– Mày muốn thử với tao một chút không?

– Ông thì với tui không quá ba mươi giây. Nếu quá tui xin quỳ xuống bái ông là sư.

– Mày nói đó nghe.

Cả hai vòng tay thi lễ rất chi là kiếm hiệp. Sau đó lui ra và phặp phặp phặp Thiện nhào tới tấn công. Cả năm phút trôi qua mà một trung niên bốn mươi lăm tuổi không đánh trúng được lão gìa sáu mươi một đòn nào. Rồi với một đòn chân lão đã làm Thiện ngã cái bịch.

Thiện quỳ xuống tôn lão gia làm thầy xin thọ giáo Hiếp Khí Đạo. Suốt một năm vận công điều khí để sử dụng khí lực đập tan hỉ nộ trong tâm. Lão gia dạy cho Thiện thế nào là bình tâm với mọi sự. Tất cả có đó mà không đó. Thiện ngộ ra rằng cuộc đời nầy bí ẩn như âm dương và mênh mông như biển rộng. Nó cũng rất dễ hiểu và nhỏ xíu xìu xiu. Lão gia dạy rằng Tôn Ngộ Không nhảy một bước là mười ngàn tám trăm dặm nhưng cả chục bước vẫn không ra khỏi bàn tay Như Lai. Chả phải nhỏ lắm ru?

Vậy nên Thiện quên tất cả để làm lại khi mãn án. Anh về với vợ con. Trong tay là bộ đồ nghề lão gia mến tặng. Nó gồm có dao tiện, búa, đục, chàng. Có cả kéo. Đủ để Thiện hành nghề hoa lá cành kiểng khô kiểng ướt.

Nghe Thiện về thằng em rể đến thăm.

***

– Vợ chồng mày dạo này làm gì?

– Dạ em phụ hồ còn vợ em tráng bánh.

– Tao nghe chị ba nói hồi đám cươi hai đứa mầy được anh chị em đôi bên giúp nhiều lắm nay sao khổ vậy?

– Dạ… làm ăn thất bát quá anh.

– Thất bát sao?

– Dạ… chỉ vì vợ chồng em cho vay trả góp nên bị xù đến hết vốn.

– Tao có nghe chị ba nói vụ nầy. Cho vay lãi mà dồn cho một người thì vợ chồng mày ngu quá. Mày đến đây tính nhờ tao đòi giùm hả? Về đi. Tao rửa tay gác kiếm rồi. Vợ chồng mày cũng nên bỏ đi và xem như bị đánh rơi. Anh của tụi mày đã già rồi. Hiểu không?

– Dạ… em đến thăm anh thôi chứ không dám nhờ vả chi.

Thằng em rể ra về. Thiện nghĩ đến con em út đang bên cái bếp hừng hực nóng và mồ hôi ròng ròng ngồi tráng bánh. Đâu có được. Có tu hành đà đắc đạo chăng đi nữa thì cũng phải lấy công bằng làm tôn chỉ để hưóng chúng sinh vào nẽo thiện. Làm chi có chuyện vay tiền, lãi đã không vốn cùng quên luôn? Chả phải muốn có kinh thầy trò Đường Tăng phải chung cái bình bát vàng cho A Nan và Ca Diếp đấy sao? Thiện lấy cái di động gọi đến kẻ đã vay tiền của em gái:

– A lô…

– A lô… Chín Móm đây… ai gọi vậy?

– Xin lỗi nghe bạn… mình là Thiện đây.

– Thiện nào? Đừng nói là Thiện Ngọc Điễm nghe.

– Ừ… đúng rồi… Ngọc Điễm đây. Em biết anh chớ.

– Biết. Rồi sao?

– Anh mới về… nghe em gái anh nói vợ chồng em vay của nó trăm rưởi triệu nhưng đã năm năm rồi em quên mất. Giờ em tính sao?

– Chuyện cũ rồi… lãi hơn vốn rồi. Ông còn muốn gì nữa?

– Không… em chỉ trả có hai kỳ lãi và quên luôn. Em ỷ vô thế của đại K Hùng Còi nên xù. Bây giờ anh nói gọn cho dễ hiểu. Với anh Hùng Còi chả là cái đinh gì. Anh cho vợ chồng em ba ngày để gửi cho em gái anh năm mươi triệu. Rõ chưa? Nếu không anh xem như em trực tiếp đối đầu với anh.

– A lô… a lô… a lô….

***

– A lô… Thiện Ngọc Điễm nghe đây.

– À… Thiện hả? Tao, Hùng Còi đây.

– Có gì không?

– Tao vừa nghe thằng em nói mày buộc nó phải trả năm mươi triệu cho ai đó…

– Cho em gái tao. Có chi không?

– Mày mới về mà cha chú quá. Muốn vô ấp nằm lại không?

– Hùng à… mày đi đâu, làm gì, thậm chí ăn sáng ở quán nào tao đều biết. Tao nói gọn một câu rằng chuyện của tao mày đừng có xen vào. Tao có bốn thằng con trai, đem đi câu sấu ba thằng vẫn còn một. Mày chỉ có một. Muốn làm ông nội hay chỉ là ông ngoại tùy mày quyết định.

Ngày thứ ba con nợ gọi điện báo cho Thiện, đã đến nhà và trả năm mươi triệu cho cô em gái:

– Vậy là xong hả anh?

– Xong là sao? Đó là bước thứ nhất. Bây giờ ta bước tiếp nhé. Anh cho vợ chồng em trong vòng một tháng nữa trả tiếp năm mươi triệu. Rõ chưa?

– Trời ơi… vợ chồng em kẹt lắm anh ơi. Em phải…

– Em đã phải sao thì đó là chuyện của em anh không biết. Nhưng đã vay thì phải trả. Nếu không anh sẽ tính lãi trong năm năm mà em đã lỡ quên. Hiểu chưa?

Đến ngày thứ hai mươi tám Thiện gọi cho nợ không trả:

– Dạ… – nợ mà xù nói – em chạy hết ra rồi. Anh muốn chém giết gì thì tùy…

– Mày nghe Hùng Còi đối phó với tao hả? Tao biết nhà mày có xe, có đất làm vườn, có quán xá… được rồi…. đã nói vậy thì mày làm ơn mở cửa và nhìn ra đường.

– …….

– Thấy rồi chớ? Mày nhắm lính Hùng Còi cự lại không? Biết ai chớ hả? Băng Hải Đầu Bò ở thị xã Q đó.

Đợt thứ ba đối tác than rằng gần tết rồi anh Thiện ơi, anh cho em qua tết được không? Nhưng Thiện biết đối tác không hề thiếu thốn và, nghĩ đến cô em gái suốt năm năm tráng bánh bỏ mối kiếm cơm bên cái lò hừng hực lửa. Thiện từ chối lời thỉnh cầu. Và hai mươi tám tết vợ chồng cô em đi tết anh trai. Thiện đang bên bình trà trong vườn ngồi đọc Thủy Hử truyện. Thấy em gái vui cười Thiện hỏi:

– Dạo nầy làm ăn sao rồi em?

– Dạ… tết này nhà em vui lắm anh…

Chả biết cô em có biết anh trai đòi giúp nợ cho cô không nhỉ? Có thể có cũng có thể không. Nhưng chuyện ấy chả có gì quan trọng. Làm anh giúp cho em không được cái nầy thì cái khác. Tay phải làm việc nghĩa tay trái không được biết. Thánh nhân dạy vậy.

     Nguyễn Trí

Gạo trắng nước trong

Hùng Trần. Tưởng hắn họ Trần tên Hùng nên vỉa hè gọi vậy. Mới hay rằng đời sống rất nhiều điều thấy vậy mà không phải vậy. Trần ở đây là trần trụi theo đúng nghĩa đen của nó. Không có con nhưng Hùng có một cháu ngoại. Còn vợ? Tất nhiên phải có mới ra cháu ngoại chớ. Đúng không? Và cái chuyện có vợ rồi mất vợ của Hùng Trần rất ly kỳ mà ba cái phim võ hiệp kỳ tình của Hồng Kông phải ngã mũ kính chào.
Thiệt đó. Nói láo cho bà bắn. Không tin cứ về ngã tư sáu làn xe là biết liền. Đích thân chủ nhân xe bánh mì Hùng Trần sẽ kể cho nghe cuộc đời của hắn. Nhân đây xin kể sơ về xe bánh mì của Hùng. Cũng bình thường nhưng đặc biệt ở chỗ hai bên hông xe có gắn hai cây guitar thùng. Nhìn qua cứ tưởng chủ nhân chơi nhạc dạng sành điệu. Ngờ đâu Hùng Trần chỉ sơ sơ ba cái lá cải. Bù lại hắn có giọng ca – chao ôi – là sầu thảm. Mấy thằng lâm cảnh vợ đẻ con đau nhà hết gạo sầu một chứ Hùng Trần sầu cả trăm. Thiệt đó.
Từ từ để đây kể cho nghe. Đời một con người đâu phải ba cái tiếu lâm mà rẹt rẹt ba mươi giây là xong một chuyện. Đúng rồi. Cái lô đất có cái vỉa hè mà Hùng Trần đang đặt xe bánh mì và bên trong cái cổng đang ngự trị tòa biệt thự to đùng trước đây là của Hùng. Ngậm ngùi chưa? Chua chát chưa? Lô đất nầy bây giờ một chục tỷ đừng có mà mơ. Thương thay vì cứu mạng một con người Hùng đành phải bán với suy nghĩ rằng người còn thì của hãy còn. Với lại thời thế thế thời khó nói lắm. Đang đất thó hóa vàng khối thánh còn không lường được nói chi Hùng Trần. Nếu mà ruộng dâu không hóa biển xanh và lòng người không trí trá Hùng đâu có trần trụi như hôm nay. Nguyên nhân hả? Theo tha nhân ở ngã tư sáu làn xe thì do cái si tình của Hùng mà ra cả.
Hùng tha thiết lắm với một nhan sắc tên Thu. Cái dòng con gái đẹp một xíu đã chảnh mèo nói chi quá xá đẹp. Vây vo quanh Thu tuy ruộng đồng sông nước nhưng sống bằng con tôm con cá và hạt lúa như Hùng thì chớ có hòng xách dép cho nàng. Trai theo Thu toàn bọn con nhà giàu đẹp trai học dỡ. Hùng đau khổ thiếu điều nhảy sông tự tử khi Thu đem lòng say đắm một anh trai tên Hậu. May mà mối tình của trai tài gái sắc kết thúc nhanh gọn và đẹp trong vòng có ba tháng, lâu thêm chừng tháng nữa Hùng không chết vì xe tông cũng chết vì ung thư gan bởi ma men. Và nếu tờ mờ sáng hôm ấy Hùng say khướt như mọi hôm thì Thu theo hà bá rồi. Ùm một tiếng là biết có người nhảy cầu, đang trên xuồng con rái cá Hùng tức tốc lao theo. Chả phải Hùng làm phúc để lấy cái đức cho con cháu về sau. Tất cả vì tiền mà ra cả. Nhà ai đó có thất tình thua bạc nhảy cầu tự vận được cứu không cho vài đồng thì đúng là không biết sống biết chơi. Kẻ nhảy cầu hôm đó là Thu. Cô yêu thiệt thà và thiệt thà cho hết người yêu. Thằng họ Sở sau khi tỏ đường đi lối về nó quất ngựa về bến khác. Đưa kẻ chán sống lên xuồng và sau khi tỉnh lại nhờ hô hấp nhân tạo nàng đã không biết ơn thì chớ lại trách rằng ông cứu tui làm chi. Tui muốn chết. Hãy để tui chết. Hùng mới hơn thiệt đem Kiều ra khuyên rằng người còn thì của hãy còn, tìm nơi xứng đáng là con cái nhà. Xứ này dân tình mười đúng mười thuộc lòng Lục Vân Tiên và Kim Vân Kiều truyện. Không chữ nghĩa như Hùng cũng thuộc luôn mới là ác chiến.
Nàng mới vắn dài: Xin cho tiện thiếp lạy rồi sẽ thưa. Rằng thì là khi biết nàng lớn bụng thằng bồ liền bỏ chạy. Nàng là con gái rượu, hay tin con gái không chồng mà chửa, cả cha cả mẹ cả gia đình xúm vô mà Kiều: “ Gái tơ mà đã ngứa nghề sớm sao” Ông cha thì trần trụi:
– Đồ hư thúi. Mày làm nhục nhã gia đình. Đi khỏi nhà tao ngay tức khắc…
Vậy nên nàng mới nhảy cầu.
Chao ôi nghe qua đá còn chảy nước nói chi Hùng. Hắn ta mới khuyên rằng đời đẹp lắm em ơi. Phải sống để nhìn đời, để thấy kẻ bạc tình nhận hậu quả thảm thê. Hắn bỏ em vì vớ được con khác đẹp hơn và giàu có hơn. Hắn sẽ lấy cô ta làm vợ và sẽ không có một mụn con để làm thuốc. Vậy mới đúng quy luật của cái gọi là quả báo. Còn em. Em sẽ hạ sinh một thằng cu đẹp như hoàng tử. Thằng khốn sẽ quay lại và khấu đầu đến đổ máu để tạ tội. Thu nghe qua liền hồi tâm chuyển ý. Hùng tuy xấu trai đen đúa nhưng ông trời cho hắn cái miệng ngọt như mía lùi, thêm giọng hát như mật ong. Hắn hát rằng: đời ta chỉ sống có một lần thôi. Cho nên sự sống quý giá vô ngần…
Vậy là trong căn chòi rách, trên mảnh đất một sào tây cha mẹ để lại Hùng và Thu nên một cặp trời sinh. Trong căn chòi ấy một bé gái ra đời. Mười tám năm sau cô bé tên Hồng con gái của Thu đẻ thêm đứa nữa. Nó cũng nhẹ dạ như mẹ, khổ đau như mẹ. Cũng yêu cũng cho và bị đá bổng đá bỏ. Lạ thay ăn ở với nhau qua hết thì tuổi trẻ mà Hùng Thu chả có lấy một đứa con.
Đó là lý do vì sao Hùng không có con nhưng vẫn là ông ngoại.
***
Nghe đến đây thì cũng nên ghé Hùng Trần làm ổ bánh mì cho đỡ buồn miệng. Ôm đàn làm vài bài lá cải cho vui tí tha nhân ơi. Nhân tiện ta nghe đích thân Hùng Trần tâm sự đời tôi khỏi cần ai kể lại chi cho tam sao thất bổn.
Ngồi ghế xúp hai khách ra dáng rất giang hồ mỗi người một guitar. Rất nhanh chóng họ hòa tấu bài Bésame-Mucho… nghe đây em đời đâu có nghĩa chi. Yêu nhau, ta trao nhau đôi môi tươi với những nét cười… Ái chà… sành điệu dữ đa nghe. Khách qua đường sang cho chí hèn đứng lại thưởng thức ngay. Xứ nầy mới lên đời nên dễ chi có âm nhạc đường phố sang cả như ri. Chơi cả dăm bài họ phải dừng, thêm nữa dám bị trật tự đô thị mè nheo về tội gây rối nơi công cộng. Và khách qua đường thì mỗi em cũng mỗi ổ bánh mì đi cho rồi. Vừa đi họ vừa nói: “ bà mẹ nó… hai thằng nầy chơi nhạc hay ghê…”
Hùng Trần hỏi một trong hai khách:
– Bạn mày hả Trung?
– Dạ… bạn em trên Sài Gòn mới xuống. Em rủ đi ăn bánh mì của anh cho biết vậy mà.
Cũng xá xíu bơ biếc chả thịt dưa leo hành lá nước tương và ớt trái như bao nhiêu cái gọi là bánh mì thịt trên đất nước nầy. Nhưng thấy vậy mà không phải vậy đâu nghe. Sản phẩm của Hùng tuy vỉa hè nhưng dạng bất bình thường. Khách xong một ổ thêm ổ nữa là thường ngày ở huyện. Cái câu “thà điểm tâm hai ổ bánh mì của Hùng Trần hơn chơi tô phở bò ở bất kỳ quán nào trên xứ sở này” là thiệt. Nó ngon một cái cực kỳ. Để có được món ngon hè phố là không dễ đâu nghe:
– Tôi tên Hoàng – khách nói – bà mẹ ơi… bánh mì của ông nhai đã thiệt ông Hùng.
– Làm một chút Gò Đen hông bạn?
– Tôi có mang theo chai Martell nè… chơi không?
– Mạc với ít ô ra cái ôn gì… Gò Đen trứ danh hơn bạn ơi.
Rượu vào lời ra. Ra luôn cái vụ Hùng Trần ủ tờ:
– Cũng tại tao… – Hùng nói.
– Sao vậy? Kể em út nghe với.
Hùng yêu Thu lắm. Lắm lắm. Anh chăm sóc hai mẹ con hơn cả báu vật mặc cho tha nhân: Tò vò mà nuôi con nhện. Ngày sau nó lớn nó quên nhau đi. Tò vò ngồi khóc tỉ ti. Nhện ơi nhện hỡi mày đi đằng nào. Sông nước xứ nầy ai cũng biết rồi đó, nhiều tôm cá quá cho nên rẻ như cho. Để bà xã và con gái luôn có nụ cười trên môi – chả là Thu ít cười lắm, nếu có thì chỉ gượng – Hùng theo bè bạn đi làm đá chẻ. Thuở mà có nghề có vốn liếng còn bán sức thì vô nghiệp như Hùng biết bán chi? Và cái nghiệp đục đá chẻ – trời ạ – nó khổ gấp chục lần chặt củi đốt than và nguy hiểm không thua chi mấy thằng… cưa bom. Nầy nhé… nắng mưa chi ta cũng mình trần thân trãi. Tay búa tay mũi ve cóc cách suốt cả ngày. Không dễ đâu tha nhân hỡi. Đục đá là một cái nghề nên phải có bí quyết riêng. Một tảng đá to như ông Bồ xả cho ra những viên có kích thước mười, hai mươi ngang dọc và dày mười phân đâu phải chuyện chơi. Mắt phải tinh tường để nhận ra tảng đá ấy sớ của nó chạy ra sao. Để khui một tảng ta dùng mũi ve nhọn đầu đục cho ra hàng chục lỗ bằng ngón chân cái. Lỗ nầy cách lỗ kia ba mươi phân trên một mặt phẳng nằm ngang. Sau đó bịt mũi ve phá đá bằng vải ka ky hoặc vải quần Jean. Cuối cùng sử búa tạ mười lăm cân anh đánh xuống những mũi ve ấy. Bụp. Tảng đá nứt ra một đường. Cứ thế ta làm thêm đường nữa và đường nữa – sao cho – tảng đá nứt ra từ dăm đến bảy đường. Đến lúc ấy mới sử xà beng làm đòn để bẩy ra từng tảng một. Và ta cho ra thành phẩm từ những tảng nhỏ ấy. Nắng hay mưa chi cũng bằng nhau khi làm nghiệp nầy. Mưa thì không chừng ngon hơn bởi mát mẻ. Cái nguy hiểm của nghề đục đá nhiều lắm. Dăm đá bay vù xé rách thịt là chuyện nhỏ. Đã hơn chục thằng hóa độc nhãn vì bị văng vô mắt. Vài thằng hóa độc cước bởi đá đè:
– Bà mẹ nó – Hùng nói – kiếm cái ăn sao mà khó quá mày ơi.
Có rượu nên mày mi tau tớ cho nó thân mật:
– Lúc đó ai cũng vậy. Mà sao mày bị tù? – Hoàng hỏi.
– Mày sao gấp quá… để kể cho nghe vì sao tao bán miếng đất nầy trước đã.
Bé Hồng được một tuổi thì Thu oằn người vì đau bụng. Đau gấp chục lần lúc vượt cạn. Ở bệnh viện người ta phán rằng cô bị u nang buồng trứng cần phải cắt bỏ:
– Vậy là xong cái vụ sanh đẻ hả bác sĩ?
– Vợ anh chỉ bị u bên phải, vẫn còn bên trái. Yên tâm đi,
Nhưng ông trời quyết chơi Hùng sát ván. Chơi cho trụi luôn. Thu lại đau bụng tiếp sau một tháng cắt bỏ bên phải. Lần nầy là bên trái.
Đó là lý do vì sao ở với nhau suốt mười mấy năm cả hai không có mụn nào và có cần phải giải thích vì sao Hùng bán đất không?
– Nhưng bả đâu rồi anh?
– Sai lầm của tao đã khiến cô ấy ra đi.
Ở bãi đá Hùng nghe ta bà nói họ thấy Hậu đến chòi rách thăm con. Chuyện bé Hồng không phải con anh chả dấu được ai ở thành phố nầy. Bé Hồng cũng biết nó con ai, nay cha đến thăm… Miếng đất tuy bán nhưng Hùng còn để lại trăm mét vuông ở để có mà chui ra chui vô… Lời ong tiếng ve bay đến tai rằng thương con thì ít nhớ má nó thì nhiều. Tình cũ thì không rủ cũng tới Hùng ơi.
Cũng dám lắm – Hùng nghĩ.
***
Ghen tuông khiến con người ta điên loạn. Điên tình khác với điên tiền. Thiếu và tham nên thiên hạ lao vào đời để truy cho ra đồng bạc và càng nhiều luôn càng ít. Điên tình thì muôn hình vạn trạng. Khi biết mình bị phản bội – cánh tóc dài thường – xách kéo chận tình địch lại và – a lê hấp – tao cạo đầu mày. Người khác thuê giang hồ hoặc rạch mặt bằng lưỡi lam hoặc cho ăn acid, thậm chí đổ cả keo dán sắt vào chỗ kín như trong “Cánh đồng bất tận” của Nguyễn Ngọc Tư… cánh đàn ông thì nham hiểm hơn. Cựu Ước viết vua David đã cướp vợ của bầy tôi dưới trướng rồi mưu đồ tống kẻ bị cắm sừng ra trận để phơi thây ngoài chiến địa. Dân gian rằng có anh lính kia đi trận, về phép hay tin vợ có tình ngoài biên chế và, dâm phụ thường xuyên đưa gian phu về nhà để gió đưa trăng trăng đưa gió. Lính ta bèn rình rập lúc nửa đêm gà gáy, ở ngoài hè anh tận tai nghe họ nói lời yêu. Canh me người đàn bà đi ngoài anh lẽn vào phòng rút lưỡi lê cho gian phu một nhát thấu tim… sau đó trong bóng tối lính ta nhìn dâm phụ xử lý cái xác.
Hùng thì sao?
Đến cái nước nầy mới rõ cái phi lý đến tăm tối bởi ghen tuông của con người. Ừ… Hùng chua chát nghĩ – chả phải Thu đã từng yêu chết bỏ Hậu và vì hắn mà nhảy cầu đó sao? Suốt mươi lăm năm mình chăm con của cô ấy và hắn. Mình có chi nào? Chao ôi! Nếu Hùng đừng tin lời thiên hạ thì hay xiết bao. Điên loạn vì nghĩ mình bị bội phản đã khiến tâm hồn Hùng chất ngất một hờn căm cao tuýt trời xanh. Hừ… mười lăm năm, phải, mười lăm năm ấy biết bao nhiêu tình. Nếu không có anh giờ đây em là thứ thiếp của hà bá, nếu không có anh em làm sao vượt cạn và tiền đâu để giải quyết cơn đau của khối u ác nghiệt? Ai bảo thằng đàn ông từng giữa đường dẫu thấy bất bằng mà tha như Hùng không nhỏ nhoi ti tiện và kể lể như Tào Tháo qua Huê Dung Đạo. Có câu rằng đồng tiền nối liền khúc ruột vậy tình nối với gì? Không biết. Nhưng khi bị mất thì tình nối liền với nhỏ nhoi ti tiện và căm hờn.
Tao giết mày. Tao phải giết mày. Hùng tự nhủ với lòng. Mày phải chết thì cô ấy và bé Hồng mới không còn chi để tơ tưởng. Nghĩ đến con bé anh quý như ngọc mà đau lòng. Chao ôi má nó sanh anh chăm từng tí một, anh giặt đồ cử cho Thu. Bé Hồng quấy anh à ơi để nàng yên giấc… anh đạp xe đưa con bé đến trường… Đúng là khi yêu ngươi ta cao thượng và thánh thiện biết bao. Không giải quyết cho thấu đáo vụ nầy Hùng mất hết. Mất sạch. Vừa cúi đầu đục đá Hùng vừa suy mưu tính kế để loại tình địch ra khỏi cuộc chơi tình ái.
Ai đó nói suy nghĩ dẫn đến hành động quả không ngoa. Nửa đêm hôm ấy Hùng rời bãi đá khi anh em còn trong giấc điệp. Cái nghiệp nầy tàn hại sức khỏe con người ta dữ lắm. Chiều đến họ sương sương vài sợi là ngủ say sưa, ngủ đã đời, ngủ như chết. Bảy giờ sáng mới oằn oài thức dậy chào ngày mới. Ba giờ sáng Hùng đã có mặt ở bãi sau khi xong một thủ đoạn tàn độc. Chả có chi khó cả. Can ke Hậu về đến đầu hẻm nhà hắn sau một trận nhậu với bè bạn Hùng vung một cây ba phân vuông hết lực vào đầu. Không chết ắt kẻ thọ nạn cũng chấn thương sọ não. Nếu còn sống không hôn mê sâu cũng xách bao đi nhặt rác vì điên.
Hùng ngủ lúc chín giờ, thức cùng chúng bạn lúc bảy giờ. Ngoại phạm rõ ràng ràng. Ra tay vào lúc ấy thì ma không biết quỷ không hay. Công an cấp tỉnh lên tận bãi đá mời lên làm việc rồi thả về. Sao mời lên hả? Chả là thiên hạ bóng gió chứ vợ ruột của Hậu thì toạc móng heo rằng con quỷ cái quyến rủ chồng tao và bị chồng nó cho ăn cây. Hùng được thả ngoại trừ ngoại phạm còn có những cái khác đứng về phía anh. Hậu là thằng trai lơ, hắn dụ dỗ gái góa và chồng bỏ chồng chê đếm không xuể. Kẻ thù của Hậu ư? Nhiều lắm.
Vậy mà Hùng đầu thú để ra thân tù mới là đại ngu.
***
– Sao đầu thú vậy? – Hoàng hỏi sau một tợp Gò Đen
– Mày biết thế nào là cô đơn không? – Hùng hỏi lại.
– Cô đơn khỉ mẹ gì khi ta đang sống trong thế giới loài người. Tao đang ngồi bên mày và thằng Trung, chung quanh người là người và xe cộ và đủ thứ… thoát sao nỗi biến động mà cô đơn hay cô độc?
– Mày chưa hề bị mất nên nói vậy.
– Tao cũng trải dăm ba cái tình. Bị bổng bỏ không thua chi mày. Tù vài năm vì ngu. Nói chung… bị mất cái gì tao tìm lại cái đó. Tình cũng như tiền. Vui tao nhậu, buồn cũng nhậu luôn. Bận rộn nên tao không có thời gian để cô đơn.
Hùng trầm ngâm:
– Sự từng trải của mày chỉ gần tới chứ chưa tới. Tình của mày chỉ hình như là tình yêu chứ không phải là yêu. Yêu của mày chỉ để thỏa mãn nhau chuyện chiếu giường… tao chắc mày chưa biết thế nào là tình yêu.
Hùng được trả tự do bởi anh không có tội. Nhưng khi bước vào nhà nơi có người anh rất yêu Hùng hụt hẩng khi bắt gặp sự xa vắng từ đôi mắt của Thu. Đôi mắt ấy họa chăng chỉ đến chết Hùng mới kết thúc sự ám ảnh. Đôi mắt nói “em biết, biết hết… anh có thể qua mặt cả thiên hạ chứ em thì…” Một chút u ẩn hiện lên: “ Sao anh không tin em? Không có anh em chết lâu rồi… Sao anh nỡ nghi ngờ em quay lại với kẻ đã phản bội mình… Vì sao vậy anh? Sao mà ăn ở những mười lăm năm mà anh không tin em? Tại sao?
Hùng lặng lẽ bước ra cửa. Anh nhận ra sai lầm quá lớn của mình. Con gái đang chăm sóc cha ruột. Nó nghĩ gì nếu biết anh là thủ phạm? Hùng nghe tâm hồn mình rỗng không. Không chua chát, không cay đắng cũng không còn một chút hận thù nào vương vất. Niềm hãi sợ sau khi vung tay hạ thủ không dung tình với Hậu cũng mất. Hùng cảm nhận được thế nào là cô đơn. Phải. Cô đơn đến khi linh hồn ta bị mất. Một chút loạn cuồng đã khiến Hùng lâm vào mê hồn trận của niềm đơn độc. Anh mất hết rồi.
Anh thọc tay vào túi quần lang thang. Ghé vào nơi dấu cái gọi ba phân vuông dài sáu tấc tây. Thanh gỗ đã khiến một con người đang nguy cơ chết rất lớn. Hùng đến công an – nơi mà – vừa mới trả tự do bởi anh không có tội. Hùng khai rằng mười hai giờ đêm anh rời bãi đá. Sau một tiếng đi bộ anh đến chỗ phục kích. Ba giờ sáng anh lại có mặt ở bãi đá và ngủ tiếp… Lý do? Hùng yên lặng không trả lời.
– Quê hương là khi một người thân nằm lại ở miền đất nào đó trên bước phiêu lưu của một giang hồ vặt. Cô đơn là khi tâm hồn bị mất. Hiểu không?
– Sau đó thì sao?
– Tao bị kêu án năm năm vì đánh người không duyên cớ. May là thằng Hậu không chết. Người ta cưa hộp sọ rồi rút máu bầm tụ trong não. Thằng đó mạng to thiệt. Không chết thì chớ lại không điên. Con người ta chết hay điên cũng có số mày ơi…
– Ly kỳ quá. Rồi vợ mày đâu?
– Tù về hôm trước hôm sau cô ấy đi mất. Đi biệt.
– Bà ấy thăm nuôi khi mày ngồi tù chớ hả?
– Ừ…
– Vậy sao không đi tìm cha nội?
– Khi mày không thích tao thì làm cách chi cũng không thể thân tình. Nhưng thích hay không chỉ là chuyện nhỏ. Không tin nhau là một xúc phạm rất lớn trong nghĩa vợ chồng mày hiểu không?
Sau cơn địa chấn Hậu hóa thành một con người khác. Thiên hạ bất ngờ khi một trai lơ đàng điếm đa tình mặc áo nâu cạo đầu trọc vào chùa làm từ thiện. Và Hồng – con gái ruột của hắn và là đứa con Hùng chăm từ thuở lọt lòng – có lẽ vì cha ăn mặn con khát nước nên cô cũng dang dỡ một tình yêu.
– Ba trông thằng Hiếu để con đi tìm má nghe.
– Ừ… để đó ba.
Hùng gửi thằng cu vào nhà trẻ rồi tậu xe bánh mì đi bán dạo. Con bé tìm không ra mẹ nhưng vớ được một anh trai không đẹp cùng không xấu nhưng thiệt thà. Anh cũng dỡ dang một lần và cũng có một con trai. Hồng tính đưa con theo chàng nhưng Hùng nói:
– Thôi… để tao nuôi cháu… sống với bây ba bữa mắc công phát sinh cái vụ “anh ơi con em với con anh nó đánh con mình” thì tội nghiệp bây lắm.
Hùng chua chát cười. Anh nâng cây đàn và hát một bô lê rô nhưng không hề lá cải: Đường thương đau đầy ải nhân gian. Ai chưa qua chưa phải là người. Trông thói đời cười ra nước mắt…

Nguyễn Trí

Vàng và tro than

Mặc dù đã biết trước sẽ xẩy ra – nhưng – khi sự thể xẩy ra thì toàn thể cư dân của ấp Tà Rua bàng hoàng đến độ sửng cả người. Thiên hạ xôn xao bàn về cái chết của vợ chồng Út Chuột và thằng cháu nội tên Mèo. Mèo phóng xe hết tốc độ đâm đầu vô trụ điện. Nghe tin báo Út Chuột ôm ngực lảo đảo rồi té cái oành. Chết trên đường đến bệnh viện bởi cao máu. Bà Út cũng một khuôn. Một ngày mà ba người chết thì chấn động luôn chứ bàng hoàng là chuyện nhỏ. Đúng không?
Sau bàng hoàng thiên hạ lại nói ra miệng rằng vậy là khốn đốn cho anh em nhà Minh Mây. Minh và Mây là con trai của vợ chồng Út Chuột. Dưới Minh và Mây còn có hai bà con gái. Hai bà nầy có chồng và nhà cửa ruộng nương đề huề nhưng ba cái vụ tranh dành tài sản thì tỷ phú còn ham nói chi dân lấm lem vì ruộng. Ủa… mà… đang chết chóc lại lấn vô tài sản và tranh dành là sao? Bộ Út Chuột giàu lắm hả?
Ừ… Tà Rua thì nhất hạng Út Chuột rồi – lão già có biệt danh Ba Cụt nâng chén rượu nói với ba quân – Thằng Út Chuột phải hỏi tao… rằng thì nó là việt kiều Kampuchia. Năm ’73 cha thằng Út bỏ Biển Hồ trên K về Việt Nam vì chịu không xiết sự truy sát của vô số các phe cánh trên xứ Ăng-co. Nào Lonnol nào đảng áo đen nào phe cách mạng… trên đường về cha má Út Chuột bị cướp giết sạch. Út thoát chết vì sợ quá nên bất tỉnh trước đó. Trong rủi có may. Út ta nằm đè lên cái chỗ ông cha dấu vàng. Bọn cướp lấy được cái ruột tượng của bà má nên không kiểm soát kỹ. Út một mình về lại mẫu quốc năm mười lăm tuổi. Nó tìm đến giáo xứ X là họ đạo từ K về hội tụ. Nghe ba má nó chết bà con trong họ thương lắm bèn trình bày với cha xứ và Út được cấp một lô đất cất nhà.
Út theo bà con cô bác vô rừng phá lâm làm nương rẫy. Vốn tính cần cù và sẵn có vàng nên Út Chuột thuê người khai hoang. Thuở ấy rừng sát bên lộ cái và bên trong rừng là quý vị nón cối mũ tai bèo. Út chơi với tất cả từ cảnh sát cộng hòa cho đến dép râu. Đến ngày thống nhất phe chiến thắng về chòi rẫy của Út tạm ngụ để chỉ huy. Nếu cứ thế mà tiến không chừng Út Chuột làm lớn chứ không đùa. Từ 1973 đến 1975 xe bò của Út đã đưa vào rừng cho mặt trận biết bao nhiêu là lương thực và thuốc men, thậm chí cả lựu đạn và đạn M16 mua được từ lính đào ngũ. Công quá lớn chứ chơi sao? Kẹt cái là ở cái năm mười chín tuổi Út Chuột sa vào lưới tình của một kiều nương thứ thiệt. Nàng tên Loan – Kim Loan – hai mươi tuổi và đẹp thôi thì khỏi nói. Từ Sài-gòn nàng cùng gia đình xuống xứ rừng nơi Út cư ngụ với tư cách kinh tế mới. Út Chuột lúc bấy giờ là một ông chủ với mười mẫu đất và một bầy bò cả hai chục chú trong tay. Kinh tế mới khốn khó nên nàng theo chúng bạn đi làm thuê cho chủ Út Chuột. Vừa gặp Kim Loan, Út đã bị tiếng sét ái tình đánh cho một phát vong mạng. Chao ôi gã trai mới lớn nào biết tình là gì, thậm chí mười chín mà đàn bà còn chưa biết thì chết phải quá.
Út Chuột ghé nhà nàng chơi cho biết. Gia đình tiếp Út rất chi trọng thị. Riêng Kim Loan thì ngồi chơi tiến lên với mấy đứa em. Cái thái độ phớt tình của nàng làm Út đuối. Là thằng từng hút cái chết và đã nằm trên vũng máu của cha má nên Út có một cái quyết tâm rất khác người. Để khắc phục nhược điểm khi đứng gần Loan thì cuống quýt vụng về, Út theo chúng bạn lên Sài Gòn chơi cho tỏ mặt đàn ông. Khi đã là đàn ông Út ta tậu một chiếc 67 đến nhà nàng cho tiện. Một đêm khuya khoắt kia Út ôm lấy nàng và ngỏ lời yêu. Nàng gật đầu cái rụp chả có cuống quýt vân vê tà áo chi ráo.
Kim Loan mê bài. Nàng biết chơi tứ sắc tiến lên cả xập xám. Chơi trong nhà cho vui thôi chứ chả ăn thua chi. Út Chuột ngồi bên nàng, bắt bài dùm nàng… sư cha cái cờ bạc. Không có gì nhanh biết và nhanh tinh thông bằng nó và khi biết thì ghiền chết bỏ. Út Chuột sa vô cờ bạc từ ngày quen biết em Loan và cái dòng cờ bạc khi chơi phải tiền nó mới thú. Tiền thì Út không thiếu. Nó cùng em Loan trên 67 hết sòng này qua sòng khác. Và sạch bách từ bò bê đến nương rẫy:
– Thiệt vậy ha Ba Cụt?
– Tao nói láo cho trời đánh sút huyết. Hồi mới đến xứ X tao làm thuê cho Út Chuột nên rành. Thằng Út bị con Kim Loan thuốc đến thân bại danh liệt. Con Loan là dân phố lớn từng trải đời lên hàng đại úy. Út Chuột chết vì con chồn cái quá oan uổng.
– Sao oan?
– Con hồ ly đưa thợ thầy của nó từ phố lớn xuống xứ nầy xẻ thịt con nai. Tao nói bây hiểu không?
– Nhưng bây giờ vẫn nứt đổ đổ vách thôi Ba Cụt ơi.
– À… đó là chuyện về sau… Út Chuột giàu như bây thấy là nhờ bãi vàng Tà Rua nổ lớn…
***
Sau khi tàn đàn xẻ nghé với Kim Loan. Than ôi, nàng vượt biên. Vụ nầy dân tình ở giáo xứ X bàn rằng con hồ ly vặt trụi lủi thằng si tình để có tiền qua trời âu mỹ. Thời may Út Chuột còn lại đúng một cổ xe và hai con bò kéo. Hắn tìm gặp Ba Cụt. Anh em lại tạc thù bên chén ba xi đế:
– Tao đi phát rẫy mướn trong Tà Rua.
– Tao theo với được không?
– Mày có xe bò vô cưa củi là ngon đa.
Vào Tà Rua, Ba Cụt xúi Út Chuột chui sâu vào rừng nguyên sinh ăn cắp be. Be là cổ thụ to cả hai mét bề hoành dài năm bảy mét. Muốn có cây phải mua cán bộ trông coi rừng tục gọi kiểm lâm hay bảo vệ. Thời ấy cán bộ rách lắm. Họ dẫn lâm tặc vào từng gốc gây rồi ngã giá. Cẩm Lai bao nhiêu Gõ bao nhiêu… chung chi rồi tối mang cưa vào hạ. Nhưng mấy ông bảo vệ rừng ma mảnh lắm. Ông nầy bán ông kia vào bắt. Hôm đó xe bò bị bắt đưa về trạm. Chán quá Út Chuột theo Ba Cụt ra quán cóc nhậu thiếu. Có ba giọt rượu Út buồn tình buồn đời ngổi khóc hu hu. Hận con đàn bà khốn nạn đã chơi mình trí mạng, Út thề rằng nếu gặp lại Kim Loan sẽ cho nàng biết thế nào là lễ độ. Ba Cụt tuy ba trời bảy búa mở miệng ra là văng tục, uống rượu bằng lỗ mũi nhưng cũng có chút chữ bèn mắng bằng thơ rằng:
– Có vấp ngã mắt mới nhìn sáng suốt. Có đau thương lòng mới cứng rắn hơn. Có thẳng căng như một sợi dây đờn. Mới tạo được những âm thanh huyền diệu”. Bị gái đả cho là may mắn chứ có chi mà khóc lóc. Lo kiếm tiền mà chuộc xe bò kìa ông cố nội.
Út chửi thề:
– Sư cha mày chứ thơ với thẩn…
Nói rồi Út giã từ bàn nhậu lang thang đúng tư cách kẻ không nhà. Từ quán nhậu ra suối Tà Rua đi ngang một đám rẫy trồng dưa hấu. Khát nước quá Út ghé vào ăn trộm trái dưa. Than ôi lúc túng cùng ngay trái dưa mà ăn cắp thì hết thuốc rồi. Vừa ngồi xuống Út nghe nhói ở ngón chân út. Nhìn xuống thì thấy một con rắn phóng vào bụi cây. Con rắn to bằng nửa cổ tay và dài khoảng bốn mươi phân. Hốt hoảng Út ngồi xuống và nhận ra hai dấu răng đang rỉ máu. Đúng lúc đó một thằng nhóc chừng bảy tuổi có mặt:
– Chú bị sao vậy?
– Tao bị rắn cắn mày ơi.
– Yên tâm… may mà ông gặp tui bằng không ông chết.
Nói xong nó bứt cọng dây rừng buộc bắp chân Út Chuột rồi dẫn ông trộm dưa vào chòi. Nó lấy lưỡi lam rạch một đường ngay vết cắn. Máu từ ngón chân ròng ròng chảy và Út nghe cơn nhức nhối dịu bớt đi:
– Ông biết rắn gì không?
– Không.
– Hổ Quạp đó.
Má tui nói – thằng cu tiếp tục – hồi năm nẳm mấy ông lính Thái Lan ở tiểu đoàn Mãng Xà Vương nuôi loại rắn này rồi thả vô rừng để giết mấy ông dziệt cộng. Rắn này độc lắm. Tui chỉ làm nhiêu đây giúp chú thôi. Lát nữa má tui về rồi tính tới. Chỉ có má tui mới biết cách trị tuyệt nọc loại rắn nầy.
Bà chủ tức má thằng cu về. Nghe nói bị rắn cắn bà nhai một miếng trầu, hớp một ngụm rượu rồi lẩm nhẩm như bị ma làm sau đó phun phèo phèo vào vết rắn cắn. Thật là thần diệu. Hết nhức nhối ngay tức khắc. Thiệt hú hồn hú vía. Và cái bà nầy sau đó là vợ Út Chuột. Thật là trong họa có phúc. Bà Út bỏ tiền ra chuộc xe bò còn ra tay thuê người phá cụm rừng sát bên suối Tà Rua làm rẫy. Út chuột không theo Ba Cụt ăn cắp cây nữa mà dùng bò kéo củi thuê cho chiến dịch khai thác trắng.
– Tao đi làm cho vợ chồng nó nên rành. – Ba Cụt nói –
– Sao cùng một thời mà ông Út vậy còn chú không có đất cắm dùi là sao?
– Bộ mày tưởng muốn là được sao? Phải có tiền chung chi mới tra được rựa vô phá rừng làm rẫy. Phải có cái tọng vô họng cho no bụng mới làm được hiểu chưa mấy ông con? Thằng Út tuy bị gái lừa nhưng còn hơn tao cổ xe bò. Tao thì tha phương cầu thực nên trên răng dưới củ từ.
Ngay lập tức Út Chuột có thằng con trai. Nó tên Minh. Năm sau bà Út đẻ thằng Mây rồi tiếp tục hai con Trinh và Trang. Một nhà đề huề hạnh phúc ấm no với hai héc ta mía và năm sào ruộng. Đời mà vậy cho đến chết thì cũng quá xá tốt rồi. Ngờ đâu “cái giàu đem đến dửng dưng, lọ là con mắt tráo trưng mới giàu”. Năm ấy rừng Tà Rua bể lớn một bãi vàng.
Ba Cụt tiếp tục:
– Cha con thằng Út trúng một cục to bằng bàn tay của tao và dày khoảng bốn phân. Cục đó nặng ba ký lô. Tức là trên dưới bảy chục cây vàng.
– Sao biết chắc vậy chú Ba?
– Tao có mặt và cầm cục vàng đó trên tay. Tao đặt nó lên cái cân đồng hồ Nhơn hòa và nó đúng ba ký.
Lúc đó con vợ thằng Minh anh thằng Mây chuyển bụng đẻ.
***
Từ Tà Rua ra cái trạm xá là năm cây số đường bộ. Ngay lập tức con Thúy – vợ thằng Minh – được cáng đi bằng võng. Cũng cần nói thêm để biết rằng những năm tháng ấy người ta đùa với tử thần riết nên quen. Bằng chứng là Út Chuột bị rắn cắn mà chữa bằng bả trầu và rượu là một minh chứng. Mấy thằng bị sốt rét uống nước rể ớt hiểm sau khi sao khô hạ thổ là minh chứng thứ hai. Tại sao đùa ư? Trả lời luôn: Chạy ăn muốn sặc gạch hơi sức đâu mà lo ba cái vặt. Đàn bà con gái bầu bì chuyện đi khám thai định kỳ là một cái gì đó xa xôi, hàng quý tộc mới dám rớ chứ bần cố nông thì kệ bà nó đi. Gia đình Út Chuột nằm ở dạng liều số một.
Nhỏ Thúy sanh xong thì chuyển tốc hành lên phố lớn vì bị băng huyết. Trước khi bãi vàng Tà Rua nổ ra thì xứ sở nông nghiệp nầy ai có chiếc 81 kim vàng giọt lệ là người người đưa mắt ngưỡng mộ mà ngắm nhìn. Chả ai có lấy một chiếc bốn bánh. Bãi vàng nổ ra quý vị bán thuốc sơn đông lưu động đến ngày một. Đoàn này đi đoàn kia đến phục vụ cho quý khách lưng đau đầu gối mỏi vì nằm sương nếm mật. Út Chuột thuê ngay một bốn bánh chuyên trị cao đơn hoàn tán đưa con dâu tức khắc lên đường. Thời may tay chủ xe thuốc rất rành đường đi nước bước của Sài Gòn hoa lệ nên sản phụ đến Từ Dũ vẫn còn bình an vô sự.
Máu được chuyền. Thuốc được tiêm. Ba-by được nuôi đặc biệt trong lồng kính. Tất cả không nghĩa địa gì vì Út Chuột bây giờ có trong tay trên dưới tám chục cây vàng. Có còn chi nữa để âu lo? Tiền lớn. Bệnh viện lớn. Bác sĩ uy tín nhất…. Chao ôi vậy mà không cứu được mới là đáng hận. Bác sĩ báo cho người thân biết rằng sản phụ vô phương cứu chữa vì bị xuất huyết:
– Lý ra – bác sĩ nói với bà Út – con của chị phải được khám thai định kỳ. Đây là một trường hợp đặc biệt. Rất đặc biệt…
Nói rồi bác sĩ mời bà Út và Minh vào phòng sản phụ. Hai tay người mẹ tội nghiệp là máu và nước biển đang chuyền. Vị bác sĩ lấy một mũi kim và châm nhẹ vào dái tai sản phụ. Ông ta đặt vào vết châm một miếng bông gòn. Chỉ một lát miếng bông đẫm ướt máu. Bà Út và Minh ngơ ngác nhìn:
– Máu không cầm. Bà hiểu không? Chuyền bao nhiêu cũng bằng không. Chúng tôi đã làm mọi cách có thể nhưng đành chịu. Ngân hàng máu thì đã cạn loại máu dành cho con bà… tôi nói mong bà hiểu.
Đến cái nước này thì kim cương còn chết nói chi vàng. Về sau khi bình tâm lại thằng Minh kể rằng mỗi khi đến kỳ vợ nó những nửa tháng mới bình thường. Đàn ông con trai mới lớn nên Minh nào có biết chi. Vợ nó cũng mới nứt mắt đã có chồng nên mù câm. Thực vậy. Thằng Minh mười bảy đã lấy vợ và con Thúy mười sáu. Tà Rua là cái xứ rừng sát bên nhà. Thúy đi làm thuê cho vợ chồng Út Chuột nên gặp Minh. Anh trai nhà có mía có ruộng có bò yêu mình. Anh lại đẹp trai ngu sao không yêu lại. Lấy anh là hết kiếp làm thuê liền – má Thúy nói vậy.
Mười chín tuổi mất vợ Minh khóc như mưa. Ông bà Út ôm cháu nội cho bú sữa ngoại. Thuở mà dân uống cà phê chủ quán phải bỏ đường vào ly có định lượng, chả quán nào dám bỏ hủ đường ra bàn vì sợ khách uống trà đường. Vậy mà thằng Mèo được bú sữa Guigoz thì quá xá là quý tộc. Không có tám chục cây vàng thì sữa ông thọ còn không có. Ông bà Út ôm cháu nội dỗ dành. Chăm trẻ không mẹ thuở lọt lòng thì chỉ ông và bà mới được chứ cô gì chú cậu thì xin thua.
Năm Mèo lên hai cha nó có vợ khác. Rồi chú rồi cô ai có gia đình riêng nấy. Ông bà Út Chuột chia đất đai đồng đều cho tất cả phòng hiểm họa về sau. Đứa nào cũng mẫu mía dăm sào ruộng cặp bò. Thằng Mèo ở với ông bà nội và được cưng đúng cái nghĩa nâng trứng hứng hoa. Ông bà có câu con hư tại mẹ cháu hư tại bà. Là do bà và mẹ cưng quá chăng? Dám vậy lắm. Đằng này thằng Mèo được cả ông và bà nội chiều thì hư hao âu cũng phải. Năm lớp tám nó đòi bỏ học nếu ông bà nội không mua cho nó cái xe máy. Có xe rồi nó bỏ học theo chúng bạn đua thâu đêm suốt sáng. Rồi ăn nhậu rồi phá quán rồi đánh nhau… ông và bà Út lo cho cháu thiếu điều sói trán. Họ lên tăng xông là điều không thể tránh. Còn cha nó đâu? Than ôi! Đàn ông thì mười thằng hết sáu đội vợ lên đầu. Con vợ nói: “ tui mới nói một tiếng cha má anh đã nạt là mày biết cái gì mà xen vô…” Thôi thì ông bà nội lo vậy.
Dân Tà Rua nhìn cảnh hai ông bà già cầm tiền đi bồi thường cơm thuốc cho người bị cháu mình gây ra mà tội nghiệp. Họ tin rằng, chắc rằng, trăm phần trăm rằng thằng Mèo mà có mệnh hệ chi là hai ông bà này đứt bóng vì lên máu. Y như rằng. Có rượu vô thằng Mèo phóng 125 phân khôi lao vô trụ điện. Hai ông bà già ra đi cùng một ngày. Thiên hạ nói:
– Ba cái vàng đào được ở Tà Rua nầy xưa kia của người Champa… nó thiêng lắm. Mười người trúng vàng thì đúng mười thân bại danh liệt… rồi đây bầy con vợ chồng Út Chuột sẽ giết nhau vì đất đai vườn tược. Thằng Minh và ba đứa em nó cùng mẹ khác cha. Khác máu tanh lòng mấy người tin tui đi…
Ba Cụt cãi rằng:
– Vàng bị ếm cái con khẹc… bọn mày đúng là mê tín ba láp ba xàm. Vàng nào chả là vàng. Tất cả đều từ đất mẹ mà ra chứ không hề trên trời rơi xuống. Nó có bổn phận giúp con người sang cả chứ không hề gây họa. Và đời sống của bọn mình ai chả mong kiếm chút ít phòng khi hữu sự. Có điều chuyện nhà Út Chuột và chuyện nhà tao y một khuôn. Nếu con cái tao không ra ôn gì trong chuyện học hành vì nghèo quá thì thằng Mèo ngược lại. Nếu vì miếng cơm manh áo không còn thời gian để kèm cặp nên con tao được khoán trắng cho nhà trường. Trường lớp thì giáo dục con em mình một ngày được mấy tiếng bây nói tao nghe coi? Tựu trưng gia đình là cốt lõi. Đã nhiều lần tao cảnh báo thằng Út Chuột cưng thằng Mèo vừa thôi. Nhưng – Ba Cụt thở dài – cái sự yêu thương con cháu đến tối mắt. Không thương sao được khi nó không cha không mẹ? Đánh không nỡ, la không đành nên con cháu ỷ thế mà hư hao…
Cũng có cái tụi mày nói đúng – Ba Cụt tiếp tục – bầy con Út Chuột đứa nào cũng không xong tiểu học. Bọn nó lớn lên trong ruộng đồng theo bản năng nhiều hơn lý trí. Anh em nó giết nhau vì tài sản Út Chuột để lại là có…
Nhân bảo như thần bảo. Ba Cụt nói linh như miểu. Ông và bà Út chuột cùng đứa cháu chưa xanh ngọn cỏ bầy con đã lục tung tủ giường bàn ghế đào cả nền nhà truy tìm vàng cất giấu. Chúng kéo nhau ra tòa đòi phân chia tài sản. Anh em thằng Mây một phe, thằng Minh một phái.
Buồn quá Ba Cụt nâng chén rượu hát rằng : “Đời phu du có nghĩa chi… những lợi danh sẽ tan thành tro…”

NGUYỄN TRÍ

            Heo tai xanh

 

Bẩy tuổi mới biết mặt ba. Thời chiến tranh nó vậy. Ba lên Xanh dẫn theo chú và anh biền biệt cho đến ngày thống nhất. Về, ba lại tiếp tục công việc đâu đó trên phố lớn. Tuy con quan, cháu quan, em quan nhưng mà quan cách mạng, vô sản gộc nên Hạnh – đi học về – cũng ống cao ống thấp phụ mẹ từ đồng áng, bếp núc… mác con quan chỉ giúp Hạnh được thầy cô ưu ái khoản trường lớp, nghĩa là học lực dù trung bình yêu yếu vẫn được cất nhắc lên hàng tiên tiến. Thời bao cấp và cấm vận quan cho chí dân ai cũng thắt lưng buộc bụng nên Hạnh mảnh như giấy là tất yếu. Mẹ còn mảnh hơn vì chồng năm thì mười một hoạ mới tạt qua nhà, dạo dạo đôi vòng là lên xe đi tiếp. Cả ông chú cũng nằm riệt đâu đó. Lâu lâu anh Tâm về. Chỉ lúc ấy Hạnh mới cảm nhận được mình có anh. Lúc đầu Hạnh có thắc mắc về ba, nhưng câu trả lời của mẹ muôn đời là ba bận việc cơ quan, bận lắm. Về sau Hạnh không hỏi, ba về cũng không quấn, ba đi Hạnh cũng ừ thì đi. Hạnh biết rõ vì sao ba không về nhà, vì sao ba nhạt.

Nếu không về giữa chừng buổi học vì cô giáo bệnh, Hạnh đã không hề biết. Vậy ra Hạnh là con của trưởng ấp Tám Phát. Nghe qua là cô bé chín tuổi lạnh sống lưng. Cứ đứng bên ngoài cửa nghe cho bằng hết chuyện người lớn. Bằng một giọng lạnh tanh có cả tiếng “hức” của một cái cười khẩy:

– Thằng Tám Phát hiếp hay bà cho chỉ bà và nó biết.

– Đã không tin thì ông đừng về làm chi. Loạn lạc, ông còn phải đi để giữ cái thân, tôi một mình làm sao giữ? Mà thôi ông đã khinh tôi thì nên bỏ chuyện đó đi. Và đã như vầy thì không nên gặp nhau để làm gì.

– …

–  Sao không bỏ nó đi hả? Thằng Tâm mới mười tuổi đã theo ông lên Xanh không một tin tức. Tôi phải giữ để có cái mà sống. Ông không hiểu sao? Và huỷ giọt máu trong bụng mình là điều tôi không thể làm. Không có nó chắc gì ông đã ở với tôi… Mà thôi, đã không thể là vợ chồng, cũng không là bạn thì xin để cho tôi yên, đừng để cho con Hạnh biết chuyện nầy, tội nghiệp nó.

Một tiếng hừ khô vang lên, cửa nhà bật thô bạo bởi cú đá. Ba bước ra, tất nhiên là cả hai nhìn thấy cô bé nhỏ nhắn. Sựng một giây, người mà Hạnh gọi ba bước ra xe. Ù ù, xe nổ máy và mất dạng.

Má ôm Hạnh vào lòng. Vậy là Hạnh biết hết rồi nghe, rằng cái ông mà toàn thể cư dân nơi Hạnh cư ngụ kính trọng không phải ba ruột. Thì cũng có sao đâu, từ nhỏ cho đến giờ Hạnh vẫn ở với má mà. Có  hay không có ba cũng chả sao trăng gì. Mà Tám Phát là cái ông bên ấp Bốn mới cãi tạo về phải không? Gì thì không chứ chuyện nầy Hạnh phải tìm cho ra lẽ mới được. Ra cái cha nội đen đen xám xám, mặt mày khắc khổ là người đã đẩy má và Hạnh vào sự ghẻ lạnh đây. Hạnh là con riêng của má nên chi, ba và cả ông chú nhạt tình với Hạnh là phải lắm.

***

Ấp Bốn của Hạnh và Ấp Một – nơi ngụ cư của nguỵ quyền cấp ấp Tám Phát – cách nhau bốn mét đường be, đủ cho hai xe bò tránh nhau. Nhà Tám Phát là nhà đúc. Nhà nầy có đâu từ thời cố lũy cô lai  rồi. Nó bề thế và rêu phong lắm, tường cao và cổng kín nên có vẻ bí ẩn. Đồn rằng cho đến đời Tám làm trưởng ấp thì dòng họ nầy là tổ sư chống cộng. Tám là trưởng ban dân vệ thời nhà Ngô, thiên hạ  kể rằng Tám ta đội mũ đen rộng vành vai khoác súng cạc-bin, tay cầm cái loa phát thanh hết làng trên đến xóm dưới, nhà nào có thân nhân nhảy núi là chết bà với Tám. Đến kì các Nguyễn từ Khánh Râu đến Tông tông Thiệu Tám là Ấp trưởng, lại tiếp tục lôi nhân dân tự vệ với Ar15 lục tìm vixi. Bà mẹ nó – Thiên hạ chửi – Việt cộng ở trong rừng chứ đâu ở nhà mẹ goá con mồ côi mà mò vô.

Lúc đầu thiên hạ tin Việt cộng không dám về cái xóm bị rào bởi kẽm xẹctinai đâu. Trên dưới ngang dọc đâu đâu cũng lính cộng hoà mò về để ngủm sao? Đùng một cái, con Hậu vợ thằng Huy lớn bụng. Thằng nầy dẫn con lên xanh đâu hồi xa lắc. Vậy là cái tin Việt cộng đã về nằm vùng đâu trong lòng… đất được thổi lên. Và Hạnh đã ra đời mà không có cha là vậy đó. Và tất nhiên sau thống nhất hùng bá một thời như Tám đi cãi tạo cũng phải thôi. Có cha, chú và anh từng nằm gai nếm mật cả mười năm trên cao xanh thì Hạnh là con, cháu và là em cách mạng gộc. Tưởng bảnh ngờ đâu không hề vậy.

Quá rõ về mình. Hanh vờ đi chơi qua ấp một, ngang qua cổng nhà Tám Phát, Hạnh thấy y đang ngồi ở xích đu. Cô bé đứng lại nhìn vào, mấy con chó nghe mùi lạ xồ ra inh ỏi. Cao cao, đen và xám pha nhau, má hóp nên gò má nhô cao, Tám Phát đi ra cổng:

– Cháu tìm ai?

– Có bạn Phương ở nhà không chú? – Hạnh nhìn vào mặt Tám Phát hỏi.

– Ai kêu con nè Phương ơi.

Từ trong nhà chạy ra Phương mở cửa và nắm tay Hạnh:

– Hạnh bạn con đó ba. Con cô Hậu bên ấp Một.

Tám Phát chăm chú nhìn. Hạnh biết cái nhìn ấy bao hàm điều gì.

Đó là lần duy nhất suốt bốn mươi năm Hạnh đối diện cùng Tám Phát.

Về muộn nên má hỏi:

– Sao về muộn vậy con?

– Con qua nhà nhỏ bạn bên ấp một.

– Nhà ai vậy?

– Nhỏ Phương con Tám Phát.

Má nhìn Hạnh. Hạnh cũng nhìn má.

Rồi thôi.

Mọi chuyện trôi như dòng suối sau nhà Hạnh vẫn chảy. Về sau suối chậm lại vì một con đập được chận lại thành hồ chứa nước. Hồ chứa nầy đưa nước phân bổ cho hai cánh đồng của hai xã liền kề. Tuy dòng chảy có chậm nhưng nó không ảnh hưởng chi đến việc chăn nuôi của những hộ sống bên con suối. Như nhà Hạnh chẳng hạn. Một năm má cô xuất chuồng đôi ba lứa heo đủ tiền sách vở và áo quần cho Hạnh hết cấp một cấp hai rồi cấp ba. Cuối mười hai Hạnh chia tay trường lớp vì cô yêu.

Chàng của Hạnh tên Hùng. Để được Hạnh, Hùng phải qua mặt cả mươi anh con nhà gia thế. Thực vậy,  gò gẩm một em con cháu nhà quan lại xinh mơ đâu phải đùa. Cỡ Hùng đừng có mà mộng hão. Đã nghèo thì chớ anh còn chẳng có tí quyền lợi chính trị chi, ngoại trừ cái xuất ngũ sau ba năm bốn tháng trong quân đội. Còn trong quân Hùng cũng chỉ là một anh hoả đầu tầm thường, thường đến độ chẳng được nấu ăn mà ở vị trí chăn nuôi và trồng trọt để cãi thiện bữa ăn cho chiến sĩ. Thuở Hùng đi lính thì chiến tranh đã tàn, Pôn pốt và Bành trường đều đã được dẹp yên. Hùng chỉ vác súng mà chơi còn chích heo là chính. Về đời thường anh sống với nghề thú y.

Cã xã duy nhất Hùng sành điệu nghiệp này, ai có heo gà chi trái gió là kêu anh. Hùng đến nhà Hạnh theo lời mời của bà Hậu. Anh chả dám mơ chi con gái nhà quan, kẹt cái mới gặp Hùng, Hạnh đã đem tâm tình con gái mới lớn mà đắm cái đẹp trai, phong thái của chàng. Vậy là cô quăng cục lơ với tất cả các anh đang đeo đuổi. Hùng đúng mèo mù vớ cá rán. Người ta yêu mình tội chi không yêu lại. Vậy là cả hai tần tấn nên duyên. Thời thắt lưng buộc bụng, con em cán bộ bự thì phải thắt đến siết để làm gương cho quần chúng. Đám cưới cả hai chỉ tiệc trà đơn sơ, thậm chí ông cha và chú vợ chỉ tạt qua dăm phút rồi lên xe dông tuốt. Kệ đi, thời nào cũng vậy đời ai nấy lo, có câu đời cua thì cua máy, đúng không?

Nhà Hùng những sáu anh chị em nên anh làm rể nhà Hạnh là phải quá. Vậy là ung dung trở thành ông chủ của lô đất tròm trèm hecta. Gia đình Hùng chuyên sản xuất giống cây trồng. Vậy là Hùng chuyển đổi ba cái màu mè hoa lá cành của nhà vợ thành khu ươm cây. Trong nghiệp chăn nuôi, Hùng chiến nhất vì văn minh hơn bà con cô bác xứ ruộng. Thêm cái thương khó của kẻ xuất thân là nông dân Hùng xây thêm chuồng, đào ao chăn cá thả vịt. Với tay nghề thú y kèm thợ hồ, Hùng cho tất cả chất thải của heo qué xuống một hầm chứa, còn gọi bao tử. Ở đó chất thải sẽ tự huỷ rồi cho ra cái gọi Bioga. Thuở mà chưa có thức ăn gia súc, bao nhiêu thừa thải của thực khách ở những quán ăn của thị trấn kề bên Hùng thầu tất và chúng được sôi lên bởi bioga… Nhìn Hùng nên và ra thiên hạ  cũng muốn lắm nhưng để làm được như anh thì còn khuya. Rất phóng khoáng, các hộ liền bên ai cần bioga Hùng sẵn sàng phân bổ mà chả cần một xu, hộ nào bi quá Hùng cho không luôn ống dẫn, xóm giềng giúp nhau vậy là quá quý.

Thiên hạ cho phân xuống suối. Hùng thì không, bao nhiêu được tống xuống hầm ngầm để tạo bioga, còn dư Hùng tập trung lại cho hoai mà chăm cho cây giống. Dư nữa anh bán cho mấy tay trồng rau… về sau bà con cũng ủ phân lại và nhờ Hùng bán giúp. Ai cũng cám ơn vợ chồng Hùng, không phải ba cái vặt vảnh đó đâu nghe, họ còn cám ơn cái khác lớn hơn nhiều.

Cái khác đó là nguồn cá ở hồ chứa nước. Hùng đã thắng trọn gói thầu toàn quyền sử dụng mặt nước  cho việc nuôi cá. Dân trong ấp ai muốn cứ việc câu. Câu thôi đừng có tung chài nghe mấy bạn, để cho em có cái thu hoạch. Lổ lã tội nghiệp lắm. Hùng nói với bà con vậy. Trời ơi, đâu có ai bỏ tiền ra thầu, bỏ cá xuống nuôi rồi mình câu mà ăn? Vậy nên ai cũng có bổn phận trông coi giúp cho Hùng. Trộm đạo nào lèng phèng vác chài lang thang trên mặt đập là có người đạp xuồng ra hỏi thăm sức khoẻ liền. Xóm giềng bảo vệ nhau cỡ vầy là hết phép.

Chỉ có cái hơi phiền một tí, một tí thôi. Đó là cái mùi đặc trưng của phân heo và ruồi. Nhưng rồi tất cả cũng quen, thời chiến người ta còn sống chung với bom đạn và kẻ thù, những thứ mùi khác, ghê gớm hơn còn chịu được nói chi ăm-mô-nhắc. Còn ruồi thì đâu mà chả có, người ta giải quyết cái sự bực bằng cách chui vô mùng ăn cơm. Biết làm sao bây giờ? Ở đây ai chả nuôi heo? Phàn nàn ai?

Đời cứ vậy mà tới cho đến kì của nền chăn nuôi công nghiệp.

***

Hùng bỏ vốn ra để tiếp cận văn minh chăn nuôi. Trước tiên là phải có giấy phép chuyển đổi hình thức sản xuất. Chuyện đó đối với một con, cháu, em rể quan thì có chi lớn? Có cả kiến trúc dạng sư tư vấn cho Hùng mô hình mới. Phải hội đủ mọi điều kiện thì mới được sự quan tâm hổ trợ vốn của nhà nước. Nghĩa là anh có quyền đưa chủ quyền đất đai để vay vốn. Vợ chồng Hùng chả cần vay ai. Nhiều năm sau thu hoạch cá từ hồ chứa nước, thêm heo xuất một năm đôi ba lứa… Cặp đôi rất ư hoàn hảo nầy dư sức làm mọi việc.

Hecta đất được vây bọc một tường gạch cao hai mét, bên trên cắm miểng chai phòng trộm đạo. Chuồng trại phân bổ cực kì khoa học. Heo được nuôi trong môi trường sạch đến không ngờ. Chất thải  được dồn về hầm chứa tạo bioga. Phân sau hoai sẽ chảy về một ao chứa khác cách xa khu vực chăn nuôi cả trăm mét. Từ ao chứa nầy những công nhân loại vai u thịt bắp sẽ kéo phân lên bằng cuốc, dồn đống, phơi khô, đóng bao để cung cấp cho các nông gia chuyên trồng rau củ quả. Nước trong hầm chứa sẽ đi vào một cống ngầm và tuôn ra suối. Nước trong dòng chảy sẽ bò ra đập, tràn vào các con mương rồi lững lờ ra cánh đồng. Chắc chắn là mầu xanh của lúa nhờ rất nhiều vào chất thải của trại chăn nuôi mà Hùng là chủ nhân.

Không phải sao? Đợt đầu tiên Hùng thả một trăm con heo giống. Mẹ ơi. Chăm chúng còn hơn chăm con mới đẻ. Công nhân phải đồng phục. Bước vào khu vực chăn phải mang giày ống đi qua một bể chứa thuốc sát trùng. Chả nấu nướng chi để phục vụ cho con cháu lão Trư. Cám gia súc được kéo về hàng xe tải, trút vào thùng, nước uống cũng vào thùng. Bầy được gọi ngu như lợn khôn trời sợ, chúng biết dùng mõm hất nắp thùng chứa để ăn và uống, lại biết thải xuống mương, phe ta chỉ việc cầm vòi xịt cho  xuống hầm. Nói thì nghe nhanh gọn và yên ả lắm, nhưng để lo cho một trăm chú trư thì năm người là bở hơi tai. Chúng còn ăn khuya nữa đó nghe. Lợn mà, chỉ biết ăn và ngủ, và đó là mục đích của bất kì kẻ chăn nuôi nào từ sơ đến cao cấp. Có vậy mới hai tháng rưởi là xuất chuồng. Vậy anh mới có lãi, bằng ba tháng heo mới đạt một tạ một em thì anh chết chắc. Đã nói ra biển lớn thì thuyền to chừng nào sóng to theo chừng đó. Thuyền trưởng không khéo là chết chìm, đã biết bao anh hùng thò tay chơi với nghiệp nầy đã bị công quyền đến thanh lý đất đai, nhà cửa bán đấu giá để trừ cái nợ đã vay. Hùng thì khác, dân thú y sành đến độ chỉ nhìn qua là biết bệnh. Hùng ung dung lái thuyền qua các cửa. Từ một trăm chú ỉn lứa đầu, lên hai trăm rồi ba trăm và hơn nữa… Rõ ràng, với kẻ có tài, biết nắm bắt thời cơ thì  thành công buộc phải đến. Hùng có tất cả. Vợ đẹp, con ngoan. Hai đứa con Hùng rất tuyệt, một trai đầu, một gái út. Chúng được ăn học ngon lành, chả phải nhờ vào uy iếc chi của ai. Giống lợn mà nuôi trong môi trường tốt còn đẹp như mơ nói chi con người. Được học với trường lớp tốt và thầy giỏi, học trò phải giỏi đó là tất yếu. Hùng dư tất cả mọi thứ. Hạnh còn sành điệu cả xế hộp, cô lái chiếc bốn bánh đưa con đi học, đi giao dịch, vợ chồng cùng đi nhà hàng vân vân và vân vân. Sự dư thừa luôn làm con người thoải mái và hạnh phúc.

Thật vậy không?

Không. Cũng có cái dư làm người ta âu lo và mệt mỏi.

Cái gì vậy?

Xin thưa, đó là phân heo.

***

Chả có cái hầm chứa nào nuốt nổi lượng chất thải lúc cao điểm. Heo mà bắt đầu từ năm mươi kí đi lên, chúng ăn, ngủ và vệ sinh thôi thì khỏi nói. Cái bao tử tạo bioga không thể nào tiếp nhận được, và cũng đừng nghĩ mở rộng nó cho tốn tiền. Phải tìm cách khác. Hùng tậu năm chiếc xe đẩy cầm tay, lượng dư thừa được tập trung vào một góc của thửa đất. Nhân công sẽ đóng vào bao khi đã được nắng làm cho khô, những mối lái rau củ quả sẽ cho chúng làm mầu mỡ đất đai của họ.

Điều kiện nầy cũng chỉ giúp vào những tháng mặt trời làm chủ. Mùa mưa đến, bên phân tươi, bên tuôn ra từ bờ tràn hầm bioga. Vấn nạn nầy khiến ông chủ phải giảm lượng heo nuôi. Từ năm trăm cho mùa nắng gió còn lại một trăm cho bão bùng. Hùng phải mở cống cho tất cả từ tươi đến hoai tuôn ra suối. Tất nhiên nước sẽ cuốn, dù chậm nhưng vẫn trôi. Nhìn phân heo lờ đờ chảy cư dân sống nhờ vào con suối mệt mỏi gấp tám lần Hùng. Cái mà ai cũng hãi không phải phân đâu nghe, nó sẽ trôi, chắc chắn vậy, nhưng có cái đứng lại, đó là ruồi và cái mùi đặc trưng của nó.

Khi hồ chứa hình thành, nước tích lại tạo một cảnh quan tạm gọi là. Mấy tay có đất kề bên hồ lợi dụng thời cơ dựng nên những quán cà phê sân vườn đẹp không thể chê. Thử hỏi ngồi trong một cái phum lợp lá, ngắm người đẹp đạp xuồng trên hồ hái rau muống thì còn chi thơ mộng hơn hỡi trời đất? Khách đến thôi thì nườm nượp, để lôi kéo, quý ông bà chủ liền trí trang cho quán mình những hòn giả sơn có róc rách nước chảy, có tiên ông chơi cờ, lại thêm vài chậu chiếu thuỷ, mai vàng cho thêm phần thanh nhã. Có vậy mới lột tiền của khách tham quan.

Đặc sản của miền hồ nước nầy là bánh tráng me.  Ngoại trừ chăn nuôi và đồng áng, nông nhàn người ta còn tráng bánh  bỏ mối kiếm thêm. Mấy cái quán bên bờ hồ còn sáng chế ra nước mắm me chua ngọt tuyệt hảo. Nam thanh nữ tú và tụi trẻ trẻ vừa nhai bánh vừa đấu láo cũng thú vị lắm. Nhưng những cái quán ấy đã không một phương kế nào kéo được khách bởi ruồi và trìu trịu mùi ămmôniắc. Tất cả đều phá sản, đành phải cho mái lá lụi tàn theo năm tháng. Và ai cũng bực bội vì cái trang trại heo công nghiệp của vợ chồng Hùng Hạnh. Bực thì bực vậy chứ ai làm gì được ai? Bởi một lẽ rất giản đơn tôi chăn nuôi thì có tội chi? Còn ruồi hay cái mùi của nó thì phải chấp nhận. Đúng không? Đúng hay không thì trại heo đã yên vị rồi, và ông chủ của nó đang nên và ra nhờ nghiệp nầy. Có ai đang hưng thịnh mà chuyển đổi sang hình thức khác không? Chắn chắn không.

 

Hùng có nghe những ta thán của xung quanh về mình không? Sinh hoạt của gia đình anh có bị ảnh hưởng như bọn dân đen không? Sao lại không. Nhưng phải biết khắc phục chứ. Ông nhà nước kéo điện cho ta làm chi vậy kìa? Hùng xây dựng căn nhà hai tấm bê tông của mình kín bưng, muốn ấm lạnh đã có máy điều hoà. Và ai cũng biết rằng những căn phòng có máy lạnh chả một mùi vị nào xen vô được nói chi ruồi. Còn thiên hạ ta thán ư? Kệ họ chứ, nói thì chả làm ai chết cả.

Và ngữ dân đen thấp cổ bé họng nghèo mướt vài mươi hộ liền kề bên trại heo chả ai không dính dấp ân oán nghĩa nhân với Hùng, không cá thì heo, mười thì hết chín đã nấu ăn bằng bioga. Thì họ cũng có ong ve đôi câu trong những quán cà phê, cũng bàn về ô nhiễm. Có thằng phê ba xi đế vô cũng văng tục chửi thề rằng:

– Nó ỷ thế cha chú anh trai là cán bộ bự… Bà cha nó…

– Thôi mày ơi… Cả cái uỷ ban xã nầy còn điếc không nghe, đui không thấy bọn mình nghĩa địa gì?

– Mấy ông xã tuốt ngoài nầy làm chi biết ruồi hay mùi kít heo?

– Mẹ… mày không biết những lúc gió mạnh hay xả chuồng, mùi của nó bay tuốt ra tận đây luôn đó con… thúi cự kì. Tao cũng không hiểu vậy rồi vợ chồng thằng Hùng có bị ảnh hưởng không? Hay là ngửi riết rồi ghiền luôn.

– Vợ chồng con cái nó trong phòng lạnh thì biết cái khỉ khô gì?

Vậy là thôi. Vậy là hết. Và tất cả cứ theo cái guồng đã có mà chạy, việc của Hùng Hùng làm, ai nói chi cứ nói. Dân đây kể cũng hiền, gặp xứ khác họ kiến nghị lên trên chứ không chơi. Đâu có thể vì quyền lợi cá nhân mà anh làm ảnh hưởng đến môi trường sống của kẻ khác được. Đúng không?

Thực ra đời chả ai hiền hậu hay dữ dằn chi. Cái gì phải thì thôi, không phải dễ gì yên. Sao lại không đơn từ và kiến nghị. Mấy tay già từng thụ ơn Hùng, không ra mặt nhưng cũng xúi bầy trẻ. Kẹt cái đơn lên tới xã là đứng lại. Bực quá đơn vượt cấp bay lên huyện, huyện đưa về cho xã giải quyết. Ba cái vặt vảnh heo qué thì có gì mà mấy anh không làm được? Xã cũng cho người vào tận trại chăn nuôi, vào rồi ra… Riết rồi mệt quá xá vụ đơn từ. Người ta con quan, cháu quan, em quan. Lại quan bự tuốt ở trển. Dân đen gật gù và cười rằng con kiến kiện củ khoai, không phải khùng mà là ngu. Ngu tợn.

Nhưng sự đời đâu đơn giản. Nếu ông cha vì nể nang ân ngãi và kém hiểu biết mà cho qua. Bầy trẻ lớn lên thì khác. Cái thời mong cơm no áo ấm qua rồi. Bây giờ ăn ngon mặc đẹp, đẹp phải thơm. Em yêu anh thiệt mà về nhà anh nghe mùi cứt heo là em ói. Ói anh luôn. Bầy trẻ có học cùng bầy ăn nên làm ra ở những công ty thời hội nhập, sành lắm văn minh tin học. Chúng lên gu gồ và biết mình phải làm chi. Vậy là đơn từ có quy cũ được ký bởi gần trăm chủ hộ được tống lên trên chỉ một yêu cầu duy nhất làm trong sạch môi trường. Cái đơn ấy – như bao lần đã qua – cũng quay về xã cũng lọt vào tay vợ chồng Hùng Hạnh, nhưng lần nầy nghiêm trọng hơn. Nếu Hùng không khắc phục thì chả một bàn tay nào che được. Khắc phục ư? Cũng có chi đâu khó. Một là Hùng phải dời trại vào thâm sơn, tách biệt hẳn với dân cư. Nhưng sơn đâu nữa mà thâm với sâu. Hai là dẹp trại.

Dẹp ư?

Hạnh đọc lá đơn rồi lên chiếc Liberty chạy đến nhà thằng chủ xị lá đơn.

Thằng kể cũng yêng hùng, nó kí và ghi rõ họ tên: Nguyễn Văn Tài.

***

Nguyễn Văn Tài là con trai út của Tám Phát. Gia đình nầy chỉ duy Tài tạm gọi có chút đỉnh hiểu biết. Nguyên nhân là cả chục năm sau thống nhất hắn mới ra đời. Tài không hề bị cái phốt cha nguỵ quyền mà ảnh hưởng. Kẹt cái học hành dỡ ẹc, kiểu lên lớp do chỉ tiêu nên đâu có tốt nghiệp nổi mười hai. Tuy nhiên với đời Tài nhanh như tép. Nếu thiên hạ lấy câu nhất thân nhì thế để lên hương thì Tài có hai chữ mánh mung để xài. Thoắt ẩn thoắt hiện như ma, Tài dư sức nuôi cha già ăn ngon mặc đẹp. Tài yêu cha lắm. Sau bẩy năm cãi tạo, thêm một năm mới lại hồn người, phải chi thôi thì bà Tám đâu có mất mạng. Sanh Tài thì bà má bị băng huyết nên đi luôn. Tám Phát và bầy con gái xúm vô cho Tài bú thép. Vậy nên Tài quý cha lắm. Ranh ma đâu với đời chứ về nhà thì Tài đúng là đệ nhất hiếu tử.

Lúc Hạnh đến. Cổng mở nên cô cho Liberty chạy một mạch vô sân. Tài cùng với một trai trẻ khác đang chén bạn bè bên một bàn trà. Thấy Hạnh, Tài hơi ngạc nhiên:

– A… Chào chị Hạnh… Ô… đúng là rồng đến nhà tôm. Mời chị ngồi.

Hạnh hỏi sau khi yên vị:

– Có chú Tám ở nhà không em?

– Có chị ạ. Ba tôi đang sau vườn. Để em gọi. Chị uống nước… Giới thiệu với chị đây là Hoàng, bạn tôi, anh ấy là phóng viên của báo X.

Tài nhấn mạnh hai từ phóng viên ra cái vẻ liệu đấy mà đối phó:

– Có chi chị nói với tôi cũng được vậy.

– Chị có chuyện riêng muốn gặp chú Tám.

Có chi khó chuyện gặp. Vậy là Hạnh được mời vào nhà. Tám Phát đích thân tiếp khách, cả hai trò chuyện đâu chừng nửa tiếng rồi với một gương mặt lành lạnh bà chủ trại heo ra về.

Việc Hạnh đến nhà Tài, đâu thoát mắt dân tình. Họ thầm thì trong cà phê cóc rằng:

– Tao biết mà… Thằng Tài mánh mung ghê lắm, nó đi thu thập chữ kí của bọn mình chẳng qua để làm tiền vợ chồng Hùng Hạnh thôi. Chắc chắn là mụ Hạnh sẽ nhét tiền vào họng cha con Tám Phát, nếu không sao lá đơn đã hai tháng mà không tăm dạng, đúng không?

Nghe qua cũng có lý lắm nghe. Nếu không tại sao mọi chuyện lại đi vào yên lặng? Rõ ràng nén bạc ném toạc tờ giấy. Xưa nay ai chẳng lấy tiền làm trọng và cha con Tám Phát đâu phải thánh mà không cần tiền. Có tiền Tám cũng chơi phòng máy lạnh xịt nước hoa chứ sợ gì ai. Và cái thằng đó – thiên hạ nói – bộ tưởng sau bảy năm cãi tạo là xong hả? Không dám đâu nó còn phải học bài dài dài. Còn dân đen như mình hả? Ráng chịu đi con, chừng nào… chết là hết thôi.

Và rồi thiên hạ thở dài khi thầy trại heo vẫn bình chân như vại.

***

Nhưng Hùng cũng thở dài không kém dân đen. Như bao lần khác anh thả vào mùa mưa lũ một trăm chú. Nhưng dịch tụ huyết trùng đã chén sạch bầy heo. Để giải quyết hàng trăm con heo một lần không phải chuyện đơn giãn, Không một loại thuốc nào ngăn chận sự lây lan của bệnh.  Hùng phải thuê một xáng cạp móc một hố sâu như địa ngục thả bọn tử vì tụ huyết rồi lấp lại sau khi đã đổ cả tấn vôi bột để sát trùng và phòng lây lan.

Mùa nắng lên Hùng lại thả cả năm trăm chú sau năm tháng cho chuồng ngơi nghĩ. Sau một tháng rưởi bầy lợn bình yên, tròn lẵn, mỗi chú tròm trèm năm mươi cân chứ không ít. Vậy mà trời không dung Hùng nữa rồi, cái đại hoạ tai xanh cũng cấp kì không kém tụ huyệt trùng. Cả bầy lây lan đến chóng mặt. Chúng ngã ra mà chết hằng loạt. Lần nầy buộc phải đốt. Đốt ở đâu?  Hùng phải vào tận trong sâu, nơi khu vự khai thác đá xây dựng, thuê một địa điểm thật xa rồi thả xuống mà đốt. Xong phải thuê máy cày lấp đất lại, và đất để lấp cũng phải mua mới có.

Hùng hoảng hốt thật sự.

Dân đen bất chiến tự nhiên thành. Ở cà phê cóc lại tiếp tục đấu láo: Cám ơn cái tụ huyết trùng và heo tai xanh, không có nó bọn mình xanh cỏ sớm.

      Nguyễn Trí

 

 

 

 

 

 

 

Trái đắng

 

 

Lộc Khiêm, mê đắm đuối con gái rượu của Nguyễn Đình. Đình trước 75 là nhà văn, thơ cũng chơi luôn. Có hai tập truyện, một tập thơ đã xuất bản. Ngoài ra Đình còn viết báo, dăm ba chục bài đã in trên các báo. Đình không lính tráng chi nhưng là cán bộ giảng huấn chính trị có cỡ. Sau 75 Đình đi học tập ba năm. Về, bán nhà ở thị xã  lên đèo ông Phật tậu mẫu đất. Lộc Khiêm là một trong nhưng gã trai thất nghiệp đến làm thuê cho Đình.

Con gái Đình là Dung. Cô sâu đậm cảm tình với Khiêm lắm. Nhưng vợ chồng Đình cực lực phản đối. Chắc chắn là do Khiêm quá nghèo lại thất học. Từng là nhà văn, con gái chữ cũng tốt ai lại chấp nhận một gã bá vơ. May thay Dung có nét và rất duyên, trai theo cả đoàn. Đình chọn lấy một anh con nhà, áp đặt Dung vào chuyện đã rồi. Thuở ấy câu áo mặc sao qua khỏi đầu vẫn còn linh lắm, vậy là Khiêm ôm mối hận tình nhìn người yêu sang thuyền khác, cũng có uống đôi ba xị rượu giải buồn. Bạn bè khuyên:
-Thôi. Bỏ đi bạn hiền, gái khối mẹ gì mà buồn với bực?

Buồn được thời gian Khiêm về Sóc Trăng thăm bà con cô bác. Cha mẹ Khiêm là người Việt gốc Khmer. Xưa ông cha bị ông Cộng hòa bắt đi lính, tống ra miền Trung xa xôi, mẹ đi theo, vậy là chị em Khiêm ra đời. Chị em Khiêm tuy ngâm ngâm đen nhưng đẹp thì khỏi chê, trai ra trai, gái ra gái đâu ra đó tuyệt lắm. Đẹp thì thời nào chả có anh xin theo xách dép. Lộc Kim Quang chị kề Khiêm được một anh tên Bình đeo đuổi. Quang cũng thích anh. Hiềm nỗi Bình là con trai ông Đình.

Nếu ông Đình e con gái vớ trúng thằng trên răng dưới củ từ, vậy ông có chê Kim Quang không? Thiên hạ tò mò lắm nên sáng nào cũng ghé quán cà phê cóc  nghe ngóng thử xem sao. Đình vốn kín và im như thóc, bà vợ cũng rứa luôn. Vậy là có màn rấp ranh, rập rình, hóng hớt xem sao. Vậy rồi chả biết  có hay không mà thiên hạ kháo rằng cha nội Đình cũng không chịu Quang là dâu:

–  Cha Đình chửi thằng Bình thiếu điều tắt bếp, văng tục không khác chi tao với mày. Chả cũng chê con Quang đen.

–   Bà mẹ … dza dzàng mũi tẹt bày đặt chê đen. Thằng Bình ra để tao nhảy vô con Quang. Nó đen tao cũng đen hề hề hề hợp gu.

Đùng một cái như bom rơi, như đất bằng dậy sóng. Cả xứ đồn rằng Kim Quang lớn bụng. Bằng chứng là đi đâu cô cũng úp cái nón lá trước bụng. Mấy bà già trầu – đàn bà lúc đó mười cũng còn có ba bà ăn trầu  nói rằng:

–  Con Quang không chửa đem đầu tao chặt đi.

Gia đình Quang tuy một thời lính tráng, bạt mạng không kém cạnh ai. Nhưng cho đến tận thời điểm nầy chả bậc làm cha mẹ nào không cúi mặt khi con gái không chồng mà chửa. Bụng Quang lum lên mà phía đối tác chả ai bắn tiếng, thậm chí cả người tình của Quang cũng thả cục lơ. Anh bị áp lực từ cha chăng? Cũng có thể lắm, vì Bình là con một, là đích tôn của cả một hệ thống đạo đức cổ truyền cực đoan pha lạc hậu. Bình cũng lơ. Mỏi mòn quá, thêm cái thiên hạ dè bỉu ông Lộc Sanh – cha của Khiêm và Quang – đành bán nhà đưa gia đình về cố quận. Quang cũng biệt luôn từ đó.

Chuyện đến đó là tạm dừng. Vợ chồng Đình dựng vợ gã chồng cho con. Trai gái đình huỳnh tưởng không còn chi đẹp hơn. Số một là Dung, chồng cô con nhà giàu đẹp trai và học giỏi, cô cũng biết đẻ lắm. Trai gái, trai gái bốn đứa đẹp như mơ. Bình thì hơn cô những hai đứa, nhưng thua cô khoản con trai. Sáu cô cháu gái nói lên sự khát thèm vô vọng của ông nội Đình. Bình cũng vậy. Chao ôi câu nhất nam viết hữu luôn làm khổ người đàn bà, họ mang nặng vì khao khát của kẻ khác.

Cũng nên thông cảm cho Đình. Xưa nay thằng người nào trên thế giới nầy chả muốn có thằng cu. Một thực tế không thể chối là con gái lấy chồng theo chồng thì trong nhà ta còn chi? Đình buồn hơn cha chết. Những mong một cu con nối dõi tông đường và hy vọng đà tiêu tan khi lần thứ sáu vượt cạn cô con dâu hết khả năng sinh. Anh  chồng tên Bình còn khát hơn ông cha, anh bay nhảy ngoài đường và yêu đương với một góa phụ. Người đàn bà nầy đẻ cho Bình một đứa, khốn thay vẫn là gái. Vậy là Bình phải dang tay ôm hai bà. Bà sau có hai con riêng. Bình khổ như một con… Con gì nhỉ? Chả biết, nhưng chó còn sướng hơn.

Bầy con bà lớn dứt khoát không thừa nhận con em lạc ngõ. Chúng không trọng cha như xưa và cả sáu đứng hẳn về phía mẹ. Ông Đình héo queo như tàu lá chuối khô mùa gió Nam lào. Làm sao mà tươi tỉnh khi yên lặng khác thường phủ vào nhà từ khi Bình bị lộ chuyện phòng hai. Một yên lặng có phối mầu lạnh của hoàng hôn miền Trung mùa tháng mười giá rét. Để xua băng giá ông Đình ôm bầu rượu ngồi ngâm thơ. Tiếng ngâm của một ông già có rượu nghe như tiếng tụng kinh siêu độ cô hồn ngày rằm tháng bảy. Thiên hạ bình rằng:
-Cha Đình đang cầu siêu cho gia đình ổng kìa.

Họ nói vậy mà không chừng trúng à. Không phải sao? Nhà thơ, nhà văn, ông cán bộ giảng huấn chính trị bó tay với thằng con hai vợ. Bà mẹ nó, trong nhà sáu đứa, ngoài ngõ một đứa. Không nhận cháu, Đình có đáng là người không? Mà nhận thì ăn làm sao, nói làm sao cho thông với đứa con dâu mà ông đích thân cưới? Thiệt là rối như canh hẹ. May quá, rượu gạo dầm thuốc bắc đã giúp ông Đình liều mạng kiểu kệ. Đến đâu thì đến. Ừ vậy cho khỏe. Rượu ngâm thuốc độ cồn cao lắm, chỉ hai cốc là phê, là có quyền yêu đời và ngâm thơ.

Đùng một cái. Sau gần ba chục năm Lộc Khiêm xuất hiện.

Đi với Khiêm là một cậu trai. Khiêm giới thiệu:
– Thằng An con bà Quang, cháu kêu tao bằng cậu.

–  Lâu quá hả bạn hiền. Kim Quang dạo nầy sao? Mấy con rồi, làm ăn đỡ không?
– Chị Quang chỉ duy nhất thằng nầy. Bây nhận ra nó không?

Thiên hạ ngắm nghía trung niên tên An
– Bà nội tui ơi… giống cha Đình y tạc luôn.

Ông Đình nghe kể, giật mình. Ly rượu trên tay rơi xuống nền gạch vỡ tan tành.

***

Đình lập cập chống cây ba toong đi lên đi xuống, hoang mang chả biết cái tin kia là thực hay hư. Muốn hỏi thằng trưởng nam thì – trời ạ – chả biết nó đi đâu, mấy đứa cháu gái đừng nhờ chi mất công, chúng dạ nhưng chả có làm đâu mà hòng. Chao ôi một thời nhà văn nhà báo, lấy nhân lễ nghĩa trí tín làm đầu mà nay con cháu ra như ri thì đúng là hết thuốc. Việc nầy từ đâu mà ra nhỉ? Lỗi tại ông nhận đứa cháu ngoài luồng hay do thằng con trai có phòng hai? Hay là sau chiến cuộc kinh tế khó khăn học hành dang dỡ nên lòng người sinh bẩn chật? Dám lắm à. Chắc luôn chứ dám gì nữa. Dân dĩ thực vi tiên. Đừng nói dân, vua chúa còn lấy ăn làm trọng. Chả phải trong tứ khoái cái ăn đứng đầu đó sao? Càng thiếu thốn cái ăn càng bự. Nhà được vài sào đất rẫy. Lúa thượng một năm một vụ ông Đình đem gạo cho con nhỏ ngoài luồng hỏi ai không tức? Mà nếu cái tin kia là thực thì sao bây giờ? – Đình tự hỏi.

Chưa kịp tự trả lời thì Cửa đến. Nguyễn Cửa là bạn thân của Đình. Cả hai cùng học chung một trường. Mười lăm tuổi, đang trong lớp Cửa phì phèo thuốc lá. Giáo sư đến tận nơi xách lổ tai Cửa để thị uy. Cửa văng tục chửi thề inh ỏi rồi đe:

-Tao đi lính về là chết mẹ mày với tao.

Thuở ấy chuyện lính tráng cũng không chi khó. Cửa về nhà lấy khai sanh sửa năm sanh rồi đăng vào Thuỷ quân lục chiến cho nó kiêu hùng. Nhờ to con cao ráo nên qua mặt ban tuyển mộ cái rẹt. Sau ba tháng lăn lê bò toài ngoài thao trường Cửa được bốc ra Quảng Trị để tái chiếm cổ thành. Chưa được một tuần đã có mặt ở bệnh viện vì bị phía bên kia cho một viên Ak lủng bụng. Vậy là chưa đến bốn tháng làm lính đã hoá phế binh. Phế thì phế nhưng vẫn ngon vì ba tháng lĩnh lương một lần. Phế binh đồ hoa mũ nồi xanh uy lắm, đi đâu Cửa cũng móc bên hông trái lựu đạn phòng thân. Vào quán nhậu Cửa vỗ ngực rằng ta đây đã ôm cổ thành cho đến cuối mùa sương gió.  Lớn lối được ba năm thì kiêu hùng ôm gói đi cải tạo với Đình. Binh nhì mà đến ba năm cải tạo là vì khổ quá chịu không xiết nên Cửa trốn. May mà bị bắt lại bằng không chết mất xác trong rừng. Vậy nên cả hai tình như ruột thịt.

Cửa nói:

–  Xưa kia tui đã nói mà ông không chịu nghe. Ông chê con Quang đen, chê nó là dân Khmer. Đen thì sao?  Ông là dân có học mà quên mất chuyện cô đào điện ảnh hô-ly-gut giếc chi đó lấy cha thượng nghị sĩ da đen làm chồng. Giờ đây ông hối cũng không còn kịp nữa rồi ông  Đình ơi. Thằng An con con Quang với thằng Bình giống ông như hai giọt nước. Tui nói láo cho bà bắn.

Đình chống ba toong lại bên bình rượu múc một ly làm một hơi rồi múc một ly khác cho bạn hiền:
-Tao biết làm sao bây giờ hả Cửa?

Của nốc một hơi cạn ly rượu khà một phát. Cai dòng rượu gạo dầm thuốc bắc đã gì đâu. Nó làm cho ta minh mẫn mà ra kế sách:
-Tui gặp thằng Khiêm rồi… tui có ý như vầy…
-Nói đi.

–  Ông nên gặp nó nói chyện xem sao. Ông không thể để thằng cháu của ông không biết chi nguồn cội. Tui nói đúng không?

–  Tao còn mặt mủi nào Cửa ơi.

–  Nữa… ông lại sĩ diện. Xưa kia chê chị em nó lạc hậu kém văn minh. Thực ra ông mới là thằng lạc hậu bậc nhất. Khi là cán bộ giảng huấn chính trị ông lô loa rằng Chúa đã tạo ra con người và da trắng da đen da vàng hay da đỏ là như nhau. Ông nói vậy nhưng không nghĩ vậy. Nếu nghĩ vậy thì con Quang là vợ thằng Bình và ông đã không đổ thừa mọi bi đát ngày nay là do số phận. Đúng không? Bây giờ ông lại không dám đối diện với thực tế. Nếu là tôi, tôi sẽ gặp Lộc Khiêm. Chú cháu lâu ngày gặp lại nói dăm câu ba chuyện thì có sao?
– Rồi sau đó thì sao?

–  Nước chảy đến đâu vuốt mặt đến đó. Tôi sẽ bố trí cho ông gặp thằng Khiêm và thằng An…
– Mày giúp tao nhé.
– Ô kê… mà ông biết tại sao tôi nhúng tay vô vụ này không?
– Sao vậy?

–  Vụ này cực hấp dẫn. Hoàn cảnh của ông bây giờ rất chi bi đát. Thiên hạ xứ nầy đang ngóng diễn tiến tiếp theo của sự kiện. Họ biết ông cho đứa cháu gái con bà hai của thằng Bình lương ăn. Bây giờ đất đang đang có giá, năm sào rẫy của ông trên đèo ông Phật sẽ ra sao nếu thằng An nhận ông và thằng Bình là ông nội và cha? Ái chà chà… hậu quả của ông thật khó lường ông bạn già ạ…

Ông Đình toát mồ trán khi nghe Cửa nói. May quá, dù sao cũng có bình  rượu gạo dầm thuốc bắc. Rượu muôn đời là cứu cánh khi bế tắc. Ông một ly và bạn Cửa  một ly. Kẻ thống khoái còn người bi khoái qua một tiếng khà.

Một tuần sau Cửa đưa bạn Đình đến cà phê Suối Mơ.

***

Thị trấn nầy chả có con suối nào để mà mơ với mộng, nhưng cà phê của anh chồng tên Suối và chị vợ tên Mơ thì tuyệt vời. Thuở Cộng Hoà tại vị thì Suối Mơ lẫy lừng tăm tiếng. Chủ quán có biệt tài rang và pha chế cà phê kiểu đến một lần phải đến lần hai. Thiên hạ đồn cà phê quán này có tẩm thuốc phiện nên say lòng khách. Sau ’75 cà phê nằm trong dạng xa xí phẩm. Những địa danh như Buôn mê thuộc và Đà lạt cà đã ít thì chớ còn bị hoang hoá bởi loạn lạc, vậy nên đắt kinh hoàng. Một tạ cà phê nhân cả cây vàng. Dân chạy ăn bạt mặt, cà pháo đầy chứ phê thì có mà mơ. Nói vậy chứ cũng có những tay lên ông thành cha nhờ hôi của trong biến động và cũng còn những anh chị tuy lý lịch bần nông nhưng vàng cả thùng đại liên dấu dưới giếng. Họ vẫn đến Suối Mơ kiếm ly đen nóng nói chuyện thời cuộc. Thuở ấy tụ năm tụ ba là cải tạo chứ không đùa. Vậy nên  chủ quán bèn chia quán ra hai phần. Bên trong chứa bọn tiểu tư sản thích cà kê, bên ngoài bán nước é cho dân lao động. Nhiều năm về sau khi cán bộ cũng có quyền làm giàu và cà phê phải có thêm ôm iếc, ma tuý dân chơi chích thẳng vô tĩnh mạch thì Suối Mơ ế òm. Chỉ những tay biết cái sự ngon của cà phê mới đến. Họ yêu cái phòng kín đáo và đầy ắp kỷ niệm của một thời uống ly cà phê phải thụt thò.

Lộc Khiêm từng là khách của Suối Mơ, nhất là những tháng ngày yêu đương với em Dung con gái Nguyễn Đình. Sau khi em Dung theo chồng, Khiêm ôm quán hận tình thêm thời gian nữa rồi bán xới ra đi. Nên chi, khi quay lại đường xưa lối cũ Khiêm đến Suối Mơ để tưởng niệm một mối tình. Than ôi yêu nhau mà không lấy được nhau thì  người ta cứ nhớ hoài.

Và Nguyễn Cửa đưa Nguyễn Đình đến để gặp Khiêm và An. Về sau Cửa nói với ba quân rằng hắn đã quá sai lầm khi nhúng tay vô vụ này. Cửa không ngờ sự  kiện diễn tiến theo một chiều hướng không lường được. Thánh cũng bó tay:

–  Bây biết không? – Cửa nói với chúng sanh – ông Erich Maria Remaque nói rằng con chó no bụng rồi mà thẩy cho miếng thịt nó vẫn đớp. Vì sao? Vì ăn thịt là bản năng của loài chó. Con người ta giàu nứt đố đổ vách mà thấy cục vàng vẫn tối mắt và xúm nhau dành nói chi nghèo. Con người xét về bản chất trước tiên là một loài thú. Tao nhớ đại khái vậy và không ngờ bầy cháu cả nội cả ngoại của ông Đình lại tệ đến hết thuốc chữa.

Khi Cửa và Đình vào phòng thì mục kích cả tốp, hai thứ cháu nội và ngoại và Lộc Khiêm đang điểm mặt thằng Châu – Châu là cháu ngoại của Đình –:

–  Câm họng mày lại. Bọn mày được giáo dục từ đâu mà xem của cải nặng hơn tình vậy. Nè… chưa chi mà bây đã sợ bị mất phần rồi là sao? Tao tội nghiệp cho ông Đình quá. Thằng An không hề là cháu nội và là anh ruột của bây đâu mà lo. Về quê là bà chị tao phá cái thai hoang liền. Thằng  An giống ông Đình là ngẫu nhiên thôi…

Khiêm quay ra cửa:

–  Ô kìa… chú Đình… bầy cháu của chú hiểu lầm rồi, chúng nó nghĩ tôi đưa thằng An về đây để nhận cha và ông nội để chia mấy sào đất rẫy đang có giá của chú… ha ha ha…

Trước khi đến Suối Mơ Đình và Cửa và làm vài ly rượu gạo dầm thuốc bắc. Uống cho có khí thế mà đối diện với sai lầm vậy mà. Và tuổi già và huyết áp cao cùng cái hiện thực phủ phàng đánh Đình một cú. Ông già sáu mươi mấy tuổi ngã huỵch xuống sàn phòng:

–  Bà mẹ nó – Cửa văng tục – phải chi tao đỡ kịp thì chắc không đến nỗi bất toại như hôm nay…

Nguyễn Trí 

NHỮNG BẢN DẠO KHÚC CỦA NGUYỄN QUANG TẤN

 

Ngoài thơ thẩn, nhạc nhẽo, anh ta chẳng biết cái quái gì. Ngớ ngẩn như một đứa bé. Vì thế giang hồ gọi anh là Hoàng Tử Bé. Tấn ít nói, lại càng ít nói về Thơ. Nếu có ai hỏi thì câu trả lời của anh ta thường là: “ Tôi làm thơ là bởi vì tôi biết làm thơ, cũng như tôi cuốc đất là bởi vì tôi biết cuốc đất, chẳng có quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách gì.” Trí Khùng tôi nghe riết bực mình, muốn văng cái con củ cải. Nhưng đôi khi thấy anh ta buồn rầu, tôi cũng tán: “Tìm được một anh thủ tướng tài giỏi đã khó, kiếm được một tay đàn địch, thơ phú như anh lại còn khó hơn…” Nghe tôi nịnh, anh ta cười, khoái lắm.

Đọc thơ của Nguyễn Quang Tấn, cái đầu tiên ta thấy là: “ CHỮ ” biến đi đâu mất. Biến sạch, chỉ còn hình tượng. Tác giả hầu như không chú trọng nhiều đến ngôn từ, nhưng lại rất thích sử dụng hình tượng. Trong thơ anh rất khó để tìm thấy một từ có tính hàn lâm, kinh viện, sáng tạo, cách tân vv… nhưng hình tượng thì lại đầy ăm ắp, nhan nhản: “đêm mơ người gù lưng ghánh gồng ác mộng…” “ khi hoàng hôn chim tìm đường về, tôi vác tảng đá lên đường đi…” “ dù đường xa từng bước tật nguyền…” “ trong đôi mắt nàng, tròng đen đã rơi đâu mất, nhưng tròng trắng thì vẫn còn nguyên…” những hình ảnh này có khi lại chuyển động với không gian rất rộng: “bầy người đói lả, trong bóng chiều tà, mang vài hạt giống, đường về đất hứa bao xa…” Ngoài những hình ảnh bi thảm, rờn rợn, vẫn thấp thoáng những hình ảnh rất gợi cảm: “mầu hoa thanh tân, đêm xuân rơi trên đôi vú trần…” “ bàn chân trần nằm trên bờ đá trắng, bờ đá trắng nằm dưới bàn chân trần…” “thương đôi môi nhỏ, ngậm một nhánh cỏ úa mầu…” Hay là chỉ bằng ba câu là đã vẽ nên một bức tranh bốn mầu: “sương trắng chưa tan. cô gái môi đỏ đã hái những trái chín vàng. đặt nhẹ nhàng lên thảm cỏ xanh…”

Trong Dạo Khúc, ngoài tính Họa là tính Nhạc. Những câu dài, thướt tha nằm cạnh những câu chỉ có hai ba từ, đôi khi chỉ có một từ và những quãng lặng, ngắt dòng đã làm nên Tiết tấu:

tôi vẫn nhớ một đêm đôi mắt em nhìn tôi đăm đăm
mắt hươu nai…
mắt sông dài…
mắt như vì sao đẹp nhất bầu trời đêm nay xuống cõi đời và nói …
yêu tôi.

Hình như là tất cả những âm luật của thơ Đường, thơ Lục bát, thơ Mới, thơ Tự do, Sonnet, Ballade, Haiku vv… đều được tác giả một cách vô thức mang về xào nấu khá công phu để tạo ra những giai điệu, hòa âm cực kỳ phức tạp. Phức tạp nhưng không hỗn loạn. Có thể nhìn thấy rất rõ điều này qua Dạo khúc số 73: “phố đèn mầu…hai kẻ đui mù đang dìu dắt nhau…” Tôi không biết gì về thi pháp nên không dám lạm bàn, tôi chỉ thấy một điều mà ai cũng thấy: Trong Dạo khúc, ngoài tính Hội họa, còn có tất cả những yếu tố của Âm nhạc: Giai điệu, Tiết tấu, Hòa âm.

Ngoài tính Nhạc và Họa, còn thấy rất rõ tính Kiến trúc. Đừng nghĩ rằng Nguyễn Quang Tấn làm thơ hồn nhiên như hơi thở, thơ cứ thế tuôn ra… Lầm đấy. Anh ta như một con bạc gian lận, nhìn thì cứ tưởng là ăn may, nhưng thực ra là cả một sự tính toán, sắp đặt, cân nhắc đến từng chi tiết nhỏ nhất. Chẳng hạn: “ gió lung lay mái lều mục tử” và “gió hắt hiu mái lều mục tử”. Hai câu chỉ khác nhau hai từ. Những đảo ngữ và điệp ngữ được sử dụng khá nhuần nhuyễn, câu mở đầu cũng là câu kết thúc vv…Những chi tiết như thế nhiều, nhiều lắm.Trong một bài, nếu ta thêm vào, hay bớt đi một từ, hoặc thay từ này bằng một từ khác, thì ngay lập tức, bài thơ sẽ què quặt, sẽ méo mó, toàn bộ công trình xây dựng sẽ sụp đổ như nhà thơ Thận Nhiên nhận xét về những bài Dạo khúc: “Không thừa, không thiếu một chữ ”
Sau cùng, và cũng là quan trọng nhất: Tính Hiệu quả: Ta đang vui, Dạo khúc làm ta buồn, ta đang tỉnh, Dạo khúc làm ta say, ta đang ồn ào, nó làm ta trầm ngâm…

Có người cũng cho rằng Nguyễn Quang Tấn chỉ làm thơ tình, và thơ tình của anh mượt mà theo kiểu “nơi này thành sông thành biển, nơi này anh đã yêu em…” Không hẳn như thế. Rất nhiều bài, nhiều câu mang mầu sắc Tôn giáo:

ôm lấy trời xanh
buông ra là ngã xuống
buông ra là tan tành
dưới kia đá dựng chông chênh.

Trong cõi đời khô cứng, bạo tàn như đá dựng, con người vẫn mong mỏi tìm được nơi nương náu trong khoảng trời xanh bao dung như lòng mẹ. Trong thơ anh, tôn giáo và tình ái thường trộn lẫn với nhau:

khi chúa cứu thế làm rơi giọt máu nhân loại mong chờ
ướt đẫm trang thơ
tôi xé chiếc áo độc nhất
lau gương mặt em bụi mờ ...

Và:

tâm hồn tôi đêm nay sẽ mỉm cười nụ cười phật tổ
vô lượng từ tâm
khi khói hương mờ tỏa đóa sen hồng
nếu em về làm gốc bồ đề giải thoát
bóng đổ dài đổ suốt phương đông …

Cũng có người phê phán thơ anh là loại thơ tháp ngà, ốc đảo, quanh quẩn trong chuyện cá nhân … Nhưng đọc kỹ, ta gặp trong thơ anh những câu hỏi gắt gao mang tính Nhân Loại:

vinh dự của lưỡi gươm có phải chăng là thấm máu người
hoang vu dấu hỏi
đất đá trả lời
chuyến xe thổ mộ
đường về xương trắng phơi …
phơi.

Gươm phải thấm máu người mới là vinh dự? Người phải giết người mới là vinh quang? Những dấu hỏi hoang vu bắt gặp trên đường về đầy xương trắng. Tình yêu trong thơ Nguyễn quang Tấn không hạn hẹp trong phạm vi đàn ông với đàn bà. Nó lan tỏa, xót thương đến tận những loài côn trùng, những con thú trong bước đường cùng:

mắt thợ săn rực sáng cuối đường
con thú nhỏ
cúi đầu liếm vết thương…

Và:

hay là chúng ta thử dừng cuộc vui để khóc xem sao
may ra nước mắt
cứu được bao xác thân hèn mọn côn trùng
đêm hỏa thiêu lửa về ngun ngút
ngập trời tây
rồi ngập trời đông…

Có khi lại thấp thoáng mầu sắc chính trị:

hay là chúng ta hãy ngưng reo hò trên những chiến công
để cúi nhìn tan vỡ tận đáy lòng …

Nhiều văn nghệ sĩ tuyên bố: “Thơ là phải mang tâm thế thời đại.” Nhưng khi được hỏi tâm thế thời đại là cái gì thì họ trả lời lúng túng. Có người cho rằng phải nói về chuyện cá chết ở Vũng áng, Trung quốc thao túng Biển đông vv… Thật ra, những chuyện cá lớn nuốt cá bé, kẻ mạnh ức hiếp kẻ yếu, nước lớn thôn tính nước nhỏ là những chuyện ngày nào cũng có. Có từ khi loài người xuất hiện cho đến ngày tận thế. Đấy không phải là tâm thế của thời đại nào cả, chỉ là những chuyện thời sự. Khi những chuyện thời sự này qua rồi mà đọc lại những tác phẩm viết về nó thì giống như đọc lại một tờ báo cũ, nói về một vụ án đã xử rồi. Có vẻ như là tác giả Dạo khúc không bận tâm gì đến chuyện mình phải viết cái này hay cái kia, tâm thế thời đại hay tâm thế thời sự, mà đơn giản là: Trong lòng của mình có cái gì thì viết ra cái ấy. Một điều không cần bàn cãi là: Chỉ có một Tình Yêu rộng lớn là có thể thay đổi được Thế giới, chấm dứt được những xung đột máu xương giữa người với người, dân tộc với dân tộc

Một điều vô cùng nguy hiểm cho các văn nghệ sĩ là chạy theo những trào lưu mang tính thời thượng, đến khi trào lưu này thoái trào, lỗi thời, thì họ cũng mất tích theo. Một sự phí phạm đáng tiếc nếu các văn nghệ sĩ này có thực tài. Trong đạo quân nhà thơ đông nghìn nghịt hiện nay: Thơ thiền, thơ tranh đấu, thơ tình dục, thơ tân hình thức, thơ hiện đại, thơ hậu hiện đại, thơ lên đồng vv…không biết đặt Nguyễn quang Tấn ở trong hàng ngũ nào. Anh phải đứng một mình. Có thể là đứng hiên ngang oai hùng, nhưng cũng có thể là đứng co ro, ủ rũ, nhưng vẫn cứ là phải đứng một mình.

Như đã nói, tôi không biết gì về thi pháp, cũng không biết gì về phê bình văn học. Tôi chỉ nói theo cảm tính bình thường của một người đọc thơ bình thường, nói ra những điều bình thường ai cũng có thể nhận thấy. Sau cùng, xin trích dẫn một câu của Nguyễn Phước Nguyên:

– Đọc Dạo Khúc Đi, Bạn Sẽ Không Thất Vọng.

NGUYỄN TRÍ.

            Cáo rừng Rô Trung

 

X gọi Trung là cáo rừng. Thuở còn là lâm tặc thợ rừng cho chí bảo vệ nể Trung lắm. Bảo vệ khi truy quét để bắt gỗ khai thác lậu chưa khi nào Trung bị thộp. Hắn tinh như một con cáo. Thực ra có thành hồ ly như Đắc Kỷ một khi bảo vệ đã bắt thì có chạy lên trời. Nhưng, đã là lâm tặc thì phải biết đường mua cán bộ bằng mồi bén và rượu ngon. Lâm tặc thì chục thằng rượu đúng mười. Bảo vệ cũng chả kém cạnh chi. Thử hỏi ôm súng đi miết trong rừng ai chả buồn. Buồn thấy ông bà cố tổ luôn chứ thấy mẹ thì nghĩa địa chi. Đang đi hốt nhiên lù lù trên đường be một toán thợ săn người sắc tộc đang tạc thù bên một con gà rừng hay cheo chồn chi đó, không ghé là ta không phải đạo. Trong bàn nhậu ấy ắt phải có một hai lâm tặc người kinh. Bọn khốn nầy cù rủ người sắc tộc anh em lấy gỗ cho chúng. Chỉ cần rượu nếp cái, một ít tiền và biết nói chuyện bằng tiếng sắc tộc là xong ráo. Gì chứ vụ nầy Rô Trung số dzách. Hắn ta nói với ba quân:

  • Cứ ở với họ chừng ba tháng là sành điệu ngay.

Vậy nên ở rừng Rô Trung được anh em sắc tộc coi như con trong sóc. Trung lại lấy gỗ kiểu dã chiến chứ không xe thồ như thiên hạ. Một phách bề mặt năm mươi,  dày hai mươi phân nằm yên trong một bao tải, gùi lên vai Trung băng rừng lội suối về xuôi. Một cục vậy mà Cẩm Lai hay Gõ Đỏ thì cây vàng là ít. Rô Trung chung lại cho anh em trong Sóc cả rượu cả tiền hai chỉ vàng là hết phép. Lâm tặc mà. Họ ăn trọc rừng trọc núi thì lòng anh em sắc tộc họ ăn luôn đâu có chi lạ.

Rô Trung đúng là con cáo rừng.

Nhưng vậy thì có chi mà không bắt được? Rừng của toàn dân mà bảo vệ là đại diện. Người sắc tộc sành chứ bảo vệ không sành à? Rô Trung mua sao cho hết? Mà bảo vệ chỉ là thứ lính lác. Trên họ còn có tiểu khu phó và trưởng. Trên tiểu  khu là đủ thứ râu ria chứ đâu phải trò trẻ con. Mua ư? Còn khuya.

Lý do gì chưa khi nào Rô Trung bị thộp?

Lời tục truyền rằng… riêng cái vụ ăn tục nói phét và diễn chuyện thì – xin thưa – chả có ông nhà văn nào trên toàn thế giới nầy qua nỗi bọn lâm tặc. Không tin nghe chúng nói về Rô Trung là ngã ra kinh ngạc liền một  khi. Rằng thì là ba giờ sáng hôm đó chuồng heo nhà tiểu khu trưởng tiểu khu Y bị tanh banh vì bộc phá. Máu của hai con heo áng chừng ba mươi ký chảy thành dòng xuống con sông sau lưng nhà.

Rõ ràng vụ việc có tính toán. Nếu nổ lúc hai giờ thì tôi chết rồi – tiểu khu trưởng nói – lúc đó tôi đi tiểu. Còn nếu bốn giờ thì vợ tôi là nạn nhân vì đó là giờ cô ấy cho heo ăn. Thiên hạ xứ X đổ xô đến xem sự việc và họ lần ra một đường dây điện kéo đến tận mí và vắt qua luôn bên kia sông. Một chiếc xuống được triệu đến đưa cán bộ đi mục sở thị. Lúc về họ thu được một đường dây điện mới toanh còn có hai cái kẹp bình accu. Không khó để đoán ra kẻ khủng bố đã nhồi bộc phá cùng kíp nổ, bơi qua sông rồi treo lên chuồng heo. Sau đó bơi lại qua sông và cho “Oành”. Thiệt là đáng sợ.

Ai?

Một ngẩu nhiên là ngày hôm trước Rô Trung bị thộp cổ về tiểu khu. Chả biết gã ngang bướng chi đó bị tiểu khu trưởng cho mấy cú đấm. Vậy rồi một mất mười ngờ. Khi vụ nổ xảy ra ai cũng nghĩ Trung là thủ phạm. Tiểu khu trưởng trong lúc hoảng loạn cũng xuất kỳ bất ý nói rằng:

-Thằng Trung chứ không ai vô.

Nhưng cái gì cũng phải có bằng chứng, nói bậy là vu khống đa nghe. Không bằng chứng ai dám động đến ai? Bọn lâm tặc bên chén rượu cứ kháo với nhau về sự kiện. Chúng thêm thắt bịa đặt đủ chuyện từ có đến không… ô là là… kể từ đó ai cũng nhìn Trung với đôi mắt bất thường. Đại khái vừa nể vừa sợ. Dám cự lại tiểu khu trưởng để ăn đòn là dễ nể rồi. Dám oành là quá xá đáng sợ.

Một thằng lâm tặc có đọc sách phán rằng:

-Thằng Trung không thua con cáo sa mạc Rô-meo

-Rô- meo là thằng nào?

Rô-meo là – thằng đọc sách nói – tướng của độc tài phát xít Hitler. Ông ta chỉ huy một binh đoàn thiết giáp chuyên đánh trong sa mạc. Tướng lĩnh phe đồng minh thất điên bát đảo nên gọi ông ta là con  cáo sa mạc. Thằng Trung phải gọi là cáo rừng mới đúng. Cáo rừng Rô Trung.

Cái tên được gọi đầu đuôi như vậy đấy.

Bảo vệ rừng cũng e Rô Trung lắm. Họ không mạnh tay vì… sợ. Bắt, nó oành thêm phát nữa – mình chết – vợ thiên hạ xài con mình thiên hạ sai mệt lắm. Nhờ vậy nên Rô Trung cứ lẩm đẩm gùi gỗ về xuôi. Ăn nên lắm và làm ra lắm. Rô Trung mua đất cất nhà lấy vợ.

Trung bỏ nghề lấy gỗ và mở một hiệu tạp hoá cho vợ điều hành. Còn anh ta thì ngồi xem bóng đá qua ti vi.

Lúc ấy X chỉ được bốn cái ti vi màu. Giang hồ X là dân 39 tỉnh thành họp mặt nên khoái bóng đá lắm.

Và con cáo rừng Rô Trung dược dịp làm ăn.

***

Tứ đổ tường chắc chắn chả giang hồ nào qua được mặt lâm tặc. Cũng tình thiệt mà nói xem trời bằng vung chả ai qua họ. Trời không ra chi thì tiền bạc chả là cái cóc khô gì. Quan trọng là chơi hết mình. Mùa bóng đá từ quốc tế đến quốc nội chúng ghé Rô Trung vừa lai rai vừa hét hò cùng bóng đá. Lâm tặc tuy coi tiền không ra chi nhưng không tiền thì lấy đếch gì tồn tại. Chúng nói thế. Và bóng đá mà không độ điệc thì không vui.

– Tao bắt rớt-ma-nỳ chấp tây bán nhà nửa trái.

–  Một trái thì tao theo.

–  Một trái thì mười ăn bảy.

–  ô kê… chơi luôn.

Cả hai sẽ giao cái phần tiền cá độ cho Rô Trung giữ dùm. Tàn trận Trung sẽ có năm phần trăm lợi tức. Mẹ cha ơi. Một trận cả chục kèo cá độ thì Rô Trung ấm như cái nốp. Lúc nầy mới thấy cái khôn ngoan của con cáo rừng. Sự khôn ngoan này chẳng qua thua quá mà ra chứ chả phải bẩm sinh bẩm siếc chi. Trung biết bóng đá từ thời Espana 82. Bóng đá và độ điệc đã làm Rô Trung thất điên bát đảo. Kinh nghiệm dạy Trung rằng đừng có dại mà cá độ. Bao nhiêu tiền nhà cái ăn sạch. Tay chơi cuối cùng chỉ là con thiêu thân. Cứ trước mắt thì bao nhiêu lợi tức thuộc và quán Rô Trung. Tay chơi gọi:

-Cho dĩa mồi và ba xị bà chủ.

-Cho tô mì gói với ca trà đá bà chủ ơi.

Một giờ ba mươi sáng mà hầu hạ các anh thì giá cả phải khác à. Gấp đôi thì thắt họng chứ gấp rưởi là hợp lý. Với lâm tặc thua bạc triệu còn chưa lớn thì dăm ba xu lẽ đúng nghĩa đồ bỏ. Thắng sẽ chung cho thua độ chầu ăn khuya có đáng là bao. Quơn-cúp kép dài cả tháng không lâm tặc nào chịu xiết. Cuối cùng chừng như thằng nào cũng thua. Đồng bạc chúng làm ra từ rừng đi đâu hết vậy kìa? Càng về cuối tính hấp dẫn càng cao. Tứ kết bán kết rồi chung kết không góp mặt là không phải dân chơi. Vòng loại ta thua thì phải gỡ lại ở những vòng nầy. Đặc biệt là những trận bán kết. Năm ăn năm thua chứ không còn chấp chiếc chi nữa. Phải gỡ. Nhưng cờ bạc thì muốn chơi phải quăng tiền ra chiếu. Cả tháng bỏ rừng ôm ti vi thì tiền đâu nữa? Tiền ở đâu bây giờ hỡi bóng đá?

Thằng có tiền xúi thằng không tiền:

-Thì mày vay Rô Trung.

-Chừng nào trả? – Trung hỏi.

Thằng có tiền nói:

–  Nếu nó thắng thì nó trả còn tui thắng tui sẽ trả cho anh. Xem như nó thiếu tui chứ không thiếu anh. Nó mà không trả thì tui cho bà nội nó đi âm phủ luôn.

Đúng là dân chơi không hề sợ mưa rơi. Có tiền mà đối phương không có tao bao luôn mới gọi là hảo bằng hữu. Trận chiến tàn nếu được bạc là thằng vay sẽ phải chung Rô Trung năm phần trăm lãi. Sư cha nó. Khi con ma cờ bạc đã lậm vô người thì vợ chúng còn đợ được nói chi có kẻ cho vay. Rô Trung là cáo thành tinh. Ai mê đắm mặc kệ họ cứ cửa giữa Trung ăn năm phần trăm chứ tuyệt đối không dính vô ăn thua. Cứ tàn tàn vợ chồng Trung nhặt hoa rơi. Mùa bóng đá hoa rụng quét muốn khùng luôn chứ rơi sao được mà rơi?

Nói vậy chứ can ke cho kỹ lưỡng Rô Trung cũng làm một phát.

Đến ngày nay X vẫn còn kể về một trận chung kết mà Rô Trung thắng lớn. Hầu như bọn cá độ suốt một mùa bóng đã hai tay dâng sạch cho cáo rừng. Trận đấu giữa Brazin và chủ nhà Pháp. Cả thế giới nghiêng về xứ Samba. Ai cũng tin rằng gã răng thỏ Ronaldo sẽ theo chân đàn anh Romario giữ chiếc cup danh giá ở lại trên đất Nam mỹ. Dân X cũng vậy luôn. Không ai theo Pháp. Có điên mới theo.

Kèo đưa ra mười ăn bảy ăn sáu ăn năm. Cũng chả thằng liều nào dám rớ.

Cuối cùng là một triệu ăn hai trăm ngàn.

Ngẩm nghĩ một hồi Rô Trung quyết định:

-Tao bắt Pháp.

Thua lớn nhất là tiểu khu trưởng tiểu khu Y – người có cái chuồng heo bị tanh banh bởi bộc phá – phải công nhận là bóng đá đã níu kéo con người lại với nhau. Bao nhiêu mâu thuẫn trước đó của cả hai được hoá giải. Ngài trưởng tiểu khu quăng mười triệu. Những tưởng được hai triệu từ con cáo rừng. Ngờ đâu Brazin thua ba bàn không gỡ.

Kể từ đó X mệnh danh Rô Trung là ông trùm của cá độ. Đúng là trùm nhưng chả ông chính quyền nào sờ được gáy của Trung. Anh ta chỉ giữ giúp tiền thôi mà. Và cứ thế Trung tới luôn. Các loại giải từ C1. C2. Xuyên lục địa vân vân và vân vân các thứ.

Rô Trung nói với con trai:

–  Cờ bạc là bác thằng bần cửa nhà bán hết tra chân vào cùm. Dính vô cá độ thì chỉ có chết hiểu không?

Thằng con gật gù.

***

Cuộc đời nầy cứ thuận theo tự nhiên mà sống thì dễ vô cùng. Rô Trung nghĩ vậy. Sau thời gian năng nhặt nên cái bị của cáo rừng phình to ra. Và với cái đầu giảo hoạt Trung cho bầy con của mình vào thế giới của chữ nghĩa một cách đầy khoa học. Con trai và con gái Rô Trung vào đại học nhẹ như bông gòn bay trong gió chiều. Muốn giỏi theo Trung thì – cha mẹ – phải học cùng con cái. Ở tiểu học Rô Trung ngồi tỉ mẫn cùng con. Lên trung học Trung thuê thầy về kèm. Một khi không bị mất gốc thì cái học chả bao giờ là khô khan. Bầy con Rô Trung giỏi là nhờ vậy.

Con trai lớn Rô Trung tên Hùng. Học giỏi đẹp trai lại con nhà giàu nên sành điệu lắm. Một con nhỏ cùng một khoa đem lòng đắm đuối Hùng. Nàng tên tiếng việt là Hoàng Chi Mai ở nhà gọi là Woòng Sám Múi. Nàng dân chợ lớn. Cha là người Minh Hương sang Việt Nam làm ăn từ khi cái gọi là Phản Thanh Phục Minh bị truy cho toé khói. Mời Hùng về nhà chơi chủ yếu khoe của, nàng tin rằng ngữ các tỉnh về phố thằng cu nào cũng mơ đến chảy bỏng ruột gan được là cư dân phố bự. Giàu có và xinh xinh như Sám Múi cả chục thằng xin theo xách dép hầu hạ nhưng nàng không hề là dưa gang mà bở. Chi Mai Sám Múi thích duy nhất  một anh Hùng.

Kẹt cái anh Hùng không thích Múi. Chả là Hùng vốn xuất thân từ núi rừng. Cái nơi chôn rau cắn rốn ấy tuy cục mịch nhưng vụ xả láng sáng về sớm chỉ dành cho đàn ông. Sám Múi thì phố thị từ trong trứng nên thoáng lắm chuyện ăn chơi hoa lá cành. Trước khi chọn Hùng làm người mộng nàng đã yêu rất là thiệt thọ qua hai mối tình. Hùng thì tình yêu là một cái gì đó thiêng liêng và cao quý kiểu “chưa gặp em anh đã nghĩ rằng, có người thiếu nữ đẹp như trăng…” Sám Múi rất chi táo tợn còn gia đình nàng thì ô kê cái rụp làm Hùng hãi. Thật sự hãi. Đến nhà nàng chơi Hùng chỉ rúc xuống xưởng sản xuất đồng hồ treo tường xem chơi cho biết. Được ba lần Hùng chủ động chia tay bằng cách cặp kè với một em khác. Vậy đi cho khỏi rách việc.

Nhưng Chi Mai yêu Hùng rất chi thiệt thà. Đừng tưởng từng trãi mà con ma tình nó không vật. Chi Mai cũng thất vọng đến não nùng khi người mình yêu thân ái với nữ nhân khác. Thất vọng vì tình thì nam nhân chưa chắc qua phái yếu cái vụ uống rượu cho quên sầu. Một mình Chi Mai chơi cả nửa chai Chivas. Mười hai giờ đêm nàng phóng xe ra cầu sài gòn. Dưới chân cầu nàng  bị giao thông xỉa gậy tấp vô lề. Chạy xe quá tốc độ và có rượu nên xe bị tạm giữ. Buồn tình Chi Mai đi bộ lên cầu. Rồi trên thành cầu nàng nhảy một phát xuống dòng nước đen ngòm ngòm bên dưới.

Chi Mai không hay rằng cô đi đến đâu cũng có một thằng si tình bám theo đến đó. Gã trai này cũng là sinh viên cùng khoá với cô. Không biết nó yêu cô thiệt hay vì cô là con ba tàu chợ lớn. Thấy cô nhảy cầu tự vận thằng cu liền nhảy theo. Như con rái cá nó chụp được nàng rồi lôi vào bờ. Bị cái lạnh giá và nước sông toàn rác rưởi thối hoắc làm Chi Mai tỉnh hồn. Nàng gục đầu lên vai thằng sinh viên bạn rồi khóc như mưa.

-Vậy là chúng nó lấy nhau. – Hùng kể với cha Trung như vậy.
-Nhà con nhỏ đó sản xuất đồng hồ treo tường hả?

-Nhà mình cũng có bán nè ba. Ba biết giá vốn của nó là bao nhiêu không?

-Nhiêu?

-Chỉ tám ngàn đồng.

Rô Trung kinh ngạc:

-Tao lấy mối hai mươi bốn bán ra ba chục… mẹ cha ơi… dân chợ lớn giàu là phải quá.

-Ba biết không họ làm khung bằng gỗ thông. Ba cái hình vẽ trên nền thì thợ vẽ ăn theo cái. Có thằng vẽ ngày trăm cái luôn.

-Còn đồng hồ?

-Ba cái thứ quỷ nầy muốn bao nhiêu mà chả có. Toàn là hàng tàu nhập lậu qua biên giới ba ơi. Quan trọng là làm sao để có đầu ra. Nhà con Sám Múi bỏ hàng ra tận các tỉnh miền trung. Nhà mình mà có một mặt bằng ở Sài gòn làm mặt hàng nầy là giàu chắc luôn.

Cầu được ước thấy. Bạn gái của Hùng ở Bình Chánh. Ngoại trừ nhà còn có vườn. Cha nàng nghe Hùng nói bèn cho thằng trai có thể sẽ là rể thuê một trăm mét đất. Vậy là xưởng sản xuất đồng hồ treo tường dã chiến của Hùng ra đời. Gỗ làm khung được sản xuất từ mấy cái nhà máy cưa ở X. Chả Đà lạt lạc đà chi cho xa xôi. Có năm công đoạn để xong một cái đồng hồ. Dùng keo để dán thành khung. Vẽ một con cò hay con hạc chi đó trên tấm ván có chiều ngang hai mươi dài bốn mươi phân đã  xịt một lớp sơn. Gắn lên miếng ván ấy cái đồng hồ và một bóng điện hạt mít. Một tấm mica để làm mặt. Công nhân làm ăn theo sản phảm. Nhiều ăn nhiều ít ăn ít. Tất cả đều bình đẳng chả chủ tớ chi sất. Đầu ra đã có chú hiệu tạp hoá Rô Trung lo. Hai mươi năm trong nghiệp bán buôn Rô Trung đã dựng được cho mình một lượng khách hàng ở ngoài tỉnh không hề ít. Gì chứ  nhận hàng của Rô Trung để bán lẻ là chuyện thường thôi.

Vừa học vừa làm như Hùng là có một không hai. Xưởng sản xuất đồng hồ của nó đã tạo công ăn việc làm cho ba mươi nhân mạng. Một tháng Hùng xuất một nghìn chiếc đồng hồ. Mỗi chiếc trừ chi phí chỉ cần lãi mười nghìn. Một nghìn nhân mười nghìn thì ra bao nhiêu hả ba quân?

Nhưng.

Chuyện đời không hề đơn giản?

***

Trong sáu tháng. Vâng. Đúng sáu tháng Hùng tậu được một chiếc Dream Thái cáu cạnh những một chục cây vàng. Cơ sở sản xuất đã được xây tô mang tính chất lâu dài. Một kho chứa hàng thành phẩm và một kho khác chứa hàng thô. Những nhà máy cưa ở X chạy hết công suất vẫn không giao kịp gỗ lạt cho xưởng sản xuất. Cứ thế nầy mà tới thì Hùng trở thành ông bự trước khi xong đại học là chắc nụi.

Nhưng mối hàng các tỉnh điện cho Rô Trung rằng họ lỗ chỏng gọng khi bốn phương chung quanh chỗ họ mua bán mặt hàng nầy hạ những năm giá. Từ ba mươi nghìn giá bán lẻ chỉ còn lại hai mươi lăm. Hàng họ đang ứ. Nếu Trung không giảm giá thì em lấy mối khác – họ nói vậy -. Và Trung chấp nhận giảm. Hàng hoá tay em đang ứ Trung giảm luôn. Nhưng hôm sau lại điện báo rằng thị trường chỉ còn lại hai mươi nghìn một chiếc. Rô Trung buộc phải giảm thêm. Đến ngày thứ ba là mười lăm nghìn. Rõ ràng đang có một tay nào đó cố tình chơi Rô Trung.

Xưởng sản xuất của Hùng phải tạm dừng thi công theo lệnh của cáo rừng. Nhíu trán. Rô Trung quyết tìm cho ra kẻ phá bỉnh. Nếp nhăn trên trán chưa kịp giãn thì Hùng trở về từ phố lớn và báo cáo sự thể:

-Không lại dân Chợ Lớn rồi ba.

-Đầu đuôi sao nói tao nghe.

-Mặt hàng nầy họ có chân rết từ Nam chí Bắc. Giá cả bị họ khống chế họ từ bấy lâu nay. Mình xen vô nên bị triệt. Họ sẵn sàng giảm giá cho đến khi nào mình chịu không nổi phải buông.

-Bây giờ mày tính sao?

-Con chả biết tính sao. Hàng tồn trong kho cả chục ngàn, không tháo kịp buộc phải đốt để trả lại mặt bằng cho chủ đất. Chưa kể gỗ cưa ra đang ở tại các nhà máy cưa… phải bỏ thôi ba ơi.

Rô Trung vỗ vai con trai nửa đùa nửa thật:

-Chơi sao lại tụi chợ lớn mà không bỏ. Nếu trước đây mày lấy con Sám Múi Chi Mai thì không đến nỗi. Đúng không?

-Tao đùa thôi. Chơi với dân Minh Hương Chợ Lớn thì an nam mít như mình chỉ một đường là chấp nhận bị sai vặt. Là cu ly suốt kiếp thôi con…

Cáo rừng Rô Trung ngước mặt nhìn trời.

Biết chuyện thiên hạ ở X bình rằng: Hồ ly chín đuôi như Tô Đắc Kỷ còn chết vì gươm Lục Yểm. Cáo rừng Rô Trung thì được mấy cà ram.

         Nguyễn Trí     

Bi kịch vàng

 

 

Tôi chơi thân với Văn từ những năm đầu trung học. Thân lắm. Gia cảnh Văn tuy khó nhưng nó học giỏi cực kỳ. Tôi thì ngược lại. Cha tôi thường đem Văn ra để làm gương cho tôi soi. Ông mắng nhiều câu mà tôi xa xót lắm:

–  Mày đi mà giặt quần cho thằng Văn. Học hành như mày ba bữa chỉ có nước lên rừng chặt củi đốt than.

Mộng của cha là thằng tôi phải đậu hết các cái từ tú tài 1 cho đến 2. Đậu luôn y khoa làm anh bác sĩ để thây không phơi ngoài chiến địa. Thi xong tú tài 1 biết chắc mình trăm phần trăm trượt võ chuối tôi đi thẳng vô Đồng Đế Nha Trang, chấp nhận cái lon trung sĩ mặc kệ ông cha tội nghiệp chạy chọt để học lại. Học lại làm chi khi biết mình dỡ ẹc.

Văn tú tài ưu hạng và vào ngay sĩ quan Thủ đức. Chả phải nó yêu chi binh nghiệp mà bởi nhà Văn nghèo. Anh của một bầy em sáu đứa. Anh ruột nhưng Văn là con riêng. Ông dượng là binh nhất trong quân đội cộng hoà, cho Văn ăn học được tú tài là một nổ lực to lớn. Số là trước năm đất nước chia đôi. Bà má Văn giã từ ông chồng và thằng con trai sinh đôi tên Vũ rời Quảng Bình vào Huế để nuôi bệnh bà mẹ chồng. Thương thay bà mẹ quy tiên nơi đất khách. Ôm con đứng bên nầy bờ Hiền Lương má Văn khóc hết nước mắt thương chồng và đứa con chả biết bao giờ gặp lại. Than ôi là chiến tranh. Nó ngày càng phức tạp và chuyện thông cây cầu là không tưởng. Năm Văn lên bốn tuổi thì bà má bước thêm bước nữa. Biết làm sao giữa thời loạn lạc? Ông chồng sau là lính nên Văn cũng rày đây mai đó. Nó và gia đình định cư ở Bình Định sau khi đi qua ít cũng năm tỉnh thành. Lang bạt vậy mà cái chi Văn cũng giỏi. Tôi phải hai keo mới vào được đệ thất công lập, mà lại đậu dự khuyết mới là nhục nhã. Còn Văn ngọt như mật. Cha tôi bảo ngày sau tôi cu ly xe kéo âu cũng có lý. Tôi cũng muốn giỏi lắm chứ. Và giỏi đâu có dễ. Đúng không?

Sau sáu tháng lăn lê trên thao trường thằng tôi may mắn ơi là may mắn khi được gọi đi học một khoá y tá ở Tổng y viện cộng hoà trong Sài gòn. Vậy là tôi hoàn thành được ít cũng ba mươi phần trăm ước vọng của ông cha khó tánh. Không bác sĩ thì y tá. Bác sĩ kim tiêm cho thuốc thì y tá thua chi? Ra trường tôi chọn sư 3 bộ binh làm nơi tung hoành, đúng với tinh thần: “ thân trai chí ở bốn phương”. Nghe tôi đi Quảng Trị cha tôi tế lên đầu tôi một trận. Rằng ngu như bò, tại sao gần nhà không chọn lại chọn nơi chết để chui đầu? Đúng là một tinh thần hủ bại – tôi nghĩ vậy – ai cũng xó bếp để vinh thân phì gia thì lấy đâu ra câu đừng cười ta ngủ say ngoài chiến địa?

Khốn thay. Cái năm ’72 đỏ lửa suốt mùa hè ấy sư 3 của tôi thiếu điều xoá sổ. Tôi đang ở căn cứ Carol phải tháo chạy vì pháo kích chịu không xiết. Chạy một hơi khỏi Quảng trị vô Huế vô luôn Đà nẵng. Suốt một thời gian dài tôi không dám mò ra phố vì sự quá khích của các sắc lính khác. Họ gọi sư 3 là sư đoàn chạy làng. Và bảo vì chúng tôi nên mất Quảng Trị.  Với tư cách hạ sĩ quan quân y tôi được biệt phái về tiểu đoàn 3 thiết giáp. Lâu lâu về dưỡng quân nghiêng cái bê rê đen trên đầu ra phố uống cà phê đấu láo trông oách không thua anh mũ nồi nào. Và thật bất ngờ  tôi gặp lại Văn ở Phước Tường. Văn trong đồ hoa mũ nồi xanh thuỷ quân lục chiến với hai mai trên cầu vai. Uy phong lẫm liệt.

Mấy thằng gạc đờ co theo hầu trung uý Văn ngạc nhiên khi thấy xếp của chúng mày mi tao tớ với một trung sĩ quèn là tôi. Tôi cũng văng tục khi kể về những ngày xưa thân ái ở Bình Định. Sau đó trên Jeep lùn Văn múa vô lăng chở tôi ra Huế thăm người bà con nó ở Huế. Đây là cái gia đình mà xưa kia bà má Văn tạm ngụ để nuôi mẹ chồng bệnh tật. Ở đây tôi bị đập chết bởi một nhan sắc có cỡ, em bà con của Văn. Cô cũng có vẻ mến thằng tôi khi Văn kể về sự tử tế của cha má tôi với gia đình nó trong Bình Định. Thật may mắn khi Bạch Hoa – tên cô gái – không xem câu thà chết trên cành mai làm phương châm thăng tiến. Cô thích thằng trung sĩ quèn là tôi. Vậy là thứ bảy nào tôi cũng cố cho bằng được một cái sự vụ lệnh để ra Huế thăm người mộng. Cha má cô gái lo lắm. Vì sao? Vì lấy chồng lính tráng thì hát ngày mai đi nhận xác chồng, quay đi để thấy mình không là mình chắc trăm phần trăm.

Nhưng sự âu lo của hai ông bà già nhanh chóng được hoá giải bởi mùa xuân ’75. Sư 3 của tôi lại tiếp tục chạy. Lần nầy thì đừng đổ thừa nữa nghe. Chạy sạch từ đồ hoa mũ nồi đến ô liu nón sắt. Quăng cả súng mà chạy. Tôi tuôn vô Bình Định thì cha má tôi vô Sài gòn. Tôi ghé qua ăn cơm ké nhà Văn. Cha má Văn không di tản bởi không tiền. Ông dượng của Văn thì bảo rằng chạy đâu cũng vậy. Chính phủ nào cũng rứa. Một tuần sau cha má tôi và Văn cũng hồi cố hương vì Sài gòn giải phóng rồi. Văn gặp cha má tôi ở Xuân Lộc:
-May quá – Văn nói – không có ba má mày chắc tao đi bộ về quá.

Ai vui vì hoà bình đâu không biết chứ thằng tôi và Văn thì sốt vó bởi hai từ nguỵ quân. Tôi trung sĩ quèn chả nói làm chi chứ trung uý lại là sắc lính nằm trong dạng ác ôn mới là mệt cho Văn lắm lắm. Đời nghĩ thiệt buồn cười. Mới ngày nào đổ tú tài thiên hạ vừa tung hê vừa ghen tỵ. Mang cái hoa mai trên vai áo lắm kẻ suýt xoa. Nay thằng rớt tú tài ra anh trung sĩ như tôi thì:
-May mà mày rớt chứ đậu mà ra uý như thằng Văn thì lúa lép phen nầy.

Đang lo cho ngày mai chả biết ra sao thì Bạch Hoa từ Huế vào thăm gia đình Văn. Tất nhiên là thăm tôi luôn. Đi cùng cô là một sĩ quan bộ đội.

Anh ta tên Vũ. Anh em sinh đôi của Văn.

***

Thôi thì khỏi nói cái sự mừng của bà mẹ tội nghiệp. Nhìn bà khóc là tôi hiểu cái tình thương  dành cho đứa con vì chiến tranh nên ở lại bên kia dòng khắc nghiệt nó đậm sâu cỡ nào. Vũ thì ôm lấy bà mẹ, bắt tay Văn. Tất nhiên là hai thằng đàn ông Văn Vũ nầy khó lấy nước mắt của họ lắm. Lính tráng mà, ai chả đi qua những đớn đau và mất mát? Tâm tư có chai cứng cũng là điều dễ hiểu. Riêng tôi thì thèm được như Văn. Có thằng anh em sĩ quan trong tư thế thắng cuộc ít nhiều cũng bảo lảnh cho người thân cái cải tạo. Nhà Văn có hai ông nguỵ cuốn gói đi cả hai thì sáu đứa em và bà má tội nghiệp có mà vác bị đi ăn mày. Vậy là hết sức tình thương mến thương một bữa tiệc hội ngộ sau hai mươi năm chia cách được bày ra. Chỉ có rượu mới làm cho con người ta xích lại gần nhau mà… nhờ vả.

Vũ – anh của Văn – bà má nói vậy, lý giải rằng Văn ra trước nên vai em. Tôi ủa mà rằng sao ra trước lại là em? Bà giải thích ra sau lớn bởi nó có trước trong bụng mẹ. Dân ta tính tuổi con cái từ lúc hoài thai chứ không phải lúc nhìn thấy mặt trời. À ra thế – tôi gật gù – và cũng gọi Vũ bằng anh cho phải phép. Sau đó đề nghị Vũ kể về ngoài ấy nghe chơi. Vũ lại làm bà má sa nước mắt khi phải ra đời từ rất sớm để phụ với bà dì nuôi em. Sau một năm chia đôi đất nước ông cha bước thêm bước nữa, không bước lấy ai chăm thằng con mới bốn tuổi? Cực lắm. Khổ lắm bởi bà dì đẻ như gà. Nhưng cực khổ thì chịu riết phải quen, chỉ có niềm đau không quen được. Đau gì? Vũ kể về nhưng trận mưa bom thả xuống xứ Quảng Bình. Cả thị trấn biến mất sau một trận oanh tạc luôn chứ nhà tan cửa nát nghĩa lý chi. Vũ nói nấm mộ của cha anh là mộ gió vì xác bị mất trong một trận mưa bom… vân vân và vân vân. Nói chi cho hết hờn căm với đế quốc Mỹ và nguỵ quyền sài gòn. Tôi nghe Vũ nhấn mạnh chữ nguỵ mà lạnh gáy.

Ông Hoàng – dượng của Văn, tất nhiên là của Vũ luôn – sau khi đưa Vũ đi khai tạm trú liền qua nhà khoe với cha tôi rằng địa phương kính Vũ lắm. Một sĩ quan và là đảng viên cộng sản thì quá có thớ. Ông dượng chủ động chơi đẹp khi nghe Vũ nói về một miền quê đất cày lên sỏi đá, đông thiếu áo hè thiếu cơm:

–  Bình Định nầy làm ăn cũng được. Chú với má của con cũng có được ba sào ruộng… Nếu ngoài đó khó sống con cứ vào…

Sau bữa tiệc cha tôi nói:_
Ông Hoàng cũng mưu mô dữ.

Nhưng Văn nói với tôi:

–  Ông dượng tao chỉ binh nhứt mà nó còn không bảo lãnh nói gì tao. Thôi… cải tạo thì cải tạo… có ba giọt rượu vô nó nói nhiều câu tao đau lòng quá.

–  Nó nói gì?

–  Nó nhìn thẳng vô mặt tao rồi nói rằng: “ Ông già đã chết vì bom Mỹ. Tức là đồng đội của mày, đồng minh của mày đã giết ổng đó”. Nó nói vậy mày nghĩ tao có nên nhờ vả không?
-Ôi dào – tôi bỉu môi – cải tạo thì cải tạo. Sợ đếch gì…
-Ừ…

Sở dĩ Văn đồng tình là vì trên uỷ ban đã yêu cầu nguỵ quân nguỵ quyền tập trung để cải tạo ba ngày. Ba chục ngày còn pha chứ ba ngày nghĩa lý chi mà luỵ. Đúng không? Riêng má tôi thì mừng chi xiết kể. Bà mô phật cả thôi cả hồi về một đấng tối cao phù hộ. Má tôi rất cuồng ông Phật . Chả hiểu làm sao mà bà thuộc lòng lòng những bài kinh bằng tiếng Phạn.Tôi nghe những hắt ra đát na đa ra dạ da mà thất kinh hồn vía. Bà tin rằng tôi thoát khỏi lửa đạn cái mùa hè ’72, bình yên trong đận ’75 là nhờ vào từ bi của Phật. Gần nhà có một tịnh xá, bà buộc tôi và bầy em đêm nào cũng đến để tham gia tụng niệm.Tôi đi được vài hôm rồi giơ tay tạm biệt cửa tịnh xá khi phát giác có một sư, áo vàng đầu trọc tay lần tràng hạt mà có… vợ. Cha tôi bảo:
-Lên chùa để tâm được tĩnh. Sư mà vậy thì ở nhà còn tự tại hơn.

Hôm ra nơi tập trung để lên đường cải tạo Văn được tách riêng. Tôi và ông Hoàng chung một nơi học tập. Những ba tháng sau chúng tôi mới được phóng thích. Về được một tháng thì ông Hoàng qua đời vì bệnh. Văn thì biệt mù những năm năm sau mới hồi cố quận.

Vũ, sau khi lập gia đình. Không ở được với bà dì khó tính nên anh đưa vợ vào ở với mẹ ruột. Với cái uy đảng viên sĩ quan quân đội ngay lập tức Vũ là thành viên của chính quyền xã tôi cư ngụ. Vũ là người vận động gia đình giao ruộng và tham gia hợp tác xã nông nghiệp đầu tiên. Thiên hạ bảo rằng nhờ vào việc nầy nên Vũ được cất nhắc lên chủ tịch xã. Văn về và chắc chắn đầy tâm sự khi trong nhà có thêm người… dưng cùng máu. Nó dốc bầu với tôi:
-Chán quá. Tao không thể chung nhà với thằng này được rồi.
-Anh em cả mà. Có gì mà giận?
-Bực quá… tao mới trình diện xong là nó bảo tao làm đơn xin vô hợp tác xã nông nghiệp.
-Thì ở đây ai không vậy. Cả nhà tao ai cũng xã viên.

Lợi dụng dáng vẻ ốm o gầy mòn như một thằng nghiện sau năm năm cải tạo Văn cáo bệnh để không vào hợp tác. Vì việc nầy nên anh em Văn Vũ không thuận nhau. Một chủ tịch xã hô hào bà con hợp tác mà người nhà không vào thì nói ai thèm tin. Chủ tịch Vũ hay trò chuyện với ông ba phải là cha tôi lắm. Nghe chuyện cha tôi gật gù:
-Để chú động viên nó vào.
Tôi cũng ba phải luôn cho rồi:
-Để tôi nói với nó. Ai đời anh cán bộ mà nó vậy thì mất quan điểm quá.
Và đời không đơn giản.

***

Cái gọi là huynh đệ tương tàn tưởng chỉ trong chiến tranh, ngờ đâu trong thời bình cũng tương nhau đến tàn chứ không đùa. Cũng một ông đế quốc Mỹ mà ra cả. Nghe Văn sẽ được hiệp chủng quốc rước đi theo dạng hát ô. Ba quân thiên hạ nói vơi cha tôi:
-Con ông mà sĩ quan, năm năm cải tạo như thằng Văn thì bây giờ ngon hung.
Thật là… tái ông thất mã. Cuộc đời may mắn hay bất hạnh chả biết đâu mà luận. Bà xã tôi cũng trầm trồ:
-Ông Văn chuyến này ngon lành rồi hả anh?

Tôi gật cho qua chuyện. Nghĩ đến ba tháng khai hoang phục hoá những cánh đồng đầy  lau sậy, rắn rết thời cải tạo tôi thất sắc. Văn những năm năm. Năm năm đủ để một thuỷ quân lục chiến kiêu hùng hoá hèn. Và qua xứ cờ hoa với thân phận một bại binh có lành được một tâm hồn đã vụn vỡ không? Vậy mà lắm kẻ mơ ước được như Văn.

Chính cái khó về vật chất mà rất nhiều khi vợ tôi còn cáu kỉnh về những ly rượu chồng cô hào phóng đãi bạn. Là nông dân tôi vẫn dăm ba ly giải phá cơn sầu. Văn về, thấy nó ảm đạm quá nên tôi cụng ly với bạn cho vui. Khó khăn nên vợ tôi cáu, cũng cảm thông cho cô. Bữa ăn cho bầy trẻ mì độn gạo mà bày đặt bạn bè. Nghe Văn sẽ qua trời âu mỹ cô thay đổi ngay thái độ. Tôi hiểu lắm. Một miếng, một ly bây giờ chính tôi còn mong một ngày mai bạn có nên thì đừng quên…

Nhưng Vũ thì khác. Anh không đồng tình khi Văn quyết định ra đi.

Vũ can ke lúc tôi và Văn tạc thù liền có mặt. Rất nhanh chóng cho ra một khẩu chiến. Có hơi men Văn gằn giọng:

–  Anh có mục đích của đời anh, tôi có cái của tôi. Tôi và anh là hai con người. Ai có nghĩ suy nấy. Hiểu không?

–  Mày không nói vậy được. Năm năm mày cải tạo không có tao mày nghĩ cái nhà nầy ra gì không?

Văn cũng mày mi tau tớ:

–   Mày vì mày chứ vì ai. Xưa kia chỉ một tiếng nói của mày chắc chắn tao không có năm năm khổ như một con vật. Bây giờ sợ bị ảnh hưởng đến quyền lợi chính trị nếu có một người thân chạy theo đế quốc chứ gì? Tao với mày không cùng chung chiến tuyến. Chết cũng vậy.

Tuy chỉ vài câu nhưng lại là một cuộc chiến không khoan nhượng.

Và rồi Văn lên đường. Tôi chả biết bà Hoàng – mẹ của Văn và Vũ – vui hay buồn khi con trai ra đi. Chuyện anh em bằng mặt nhưng không bằng lòng chắc bà đau khổ lắm. Tội nghiệp bà quá. Anh em cùng một chỗ những chín tháng, ra đời cách nhau có dăm phút mà xa nhau vạn dặm, tôi còn đau lòng nói chi bà. Nhưng chuyện không ngừng lại ở đó.

Vài tháng sau khi Văn lên đường thì Vũ được đưa đi học. Nghe chuyện cha tôi nói:
-Thằng Vũ chuyến nầy ao cái chủ tịch.

Quả nhiên sau mấy tháng Vũ về thì bàn giao chủ tịch, lên huyện làm phó cho một ban ngành. Đang sai phái và ra lệnh, bây giờ bị ra lệnh. Vũ buồn. Đàn ông xưa nay luôn dụng rượu để giải buồn. Và rượu muôn đời làm người ta hư hỏng. Vũ điểm tâm sáng vài ly khi đi làm việc, chiều về có nhiều hơn tí chút để tìm giấc ngủ muộn. Tôi rõ điều nầy bởi là bạn rượu của anh. Mọi thứ đều được tăng lên vì cảm giác. Cái cảm giác quên hết sự đời khi lâng lâng đã vùi anh xuống hố. Vũ bị kỷ luật sau rất nhiều kiểm điểm vì mất tư cách phẩm chất khi làm việc. Cuối cùng bị tước cả đảng tịch.

Sự mát mát chức quyền đã làm Vũ bất đắc.  Buồn hơn chắc chắn là niềm cô độc. Một ông quan bị huyền chức nhận được ngay sự ghẻ lạnh của thần dân trước đây từng tung hô và cúi đầu xu nịnh. Họ như không thấy Vũ trên dù gặp trên đường.Tiếng thì thào rằng còn thời cưỡi ngựa bắn cung, hết thời cưỡi chó lấy dây thun bắn ruồi… tôi nghe mà đau đớn hộ cho anh.

May quá cái thời gian. Nó vùn vụt, mọi sự rồi cũng hoá bình thường. Khổ đau mất mát chi con người ta cũng chấp nhận được hết. Và nếu sự đời cứ thế mà trôi cho đến ngày tận thế thì hay quá. Hay biết là bao nhiêu. Nhưng không hề là vậy.

***

Lần đầu tiên về thăm nhà sau năm năm tôi hỏi Văn:
-Ra sao rồi?
-Nói chung là ổn.
-Vợ con sao?
-Một vợ hai con. Bà xã tao qua Mỹ hồi 75.
-Giờ muốn gì nữa không?
-Muốn khi chết được chôn trên đất này.
-Bộ xứ cờ hoa không đất chôn hả?
-Tha phương nhớ nhà lắm.

Chắc là ăn nên làm ra lắm nên những đứa em của Văn khá lên trông thấy. Ngay cả tôi đôi khi cũng được hưởng sái vài trăm đô Văn gửi về thân tặng. Và không một lần nào về nước thăm quê hương Văn chung bàn với Vũ. Tôi hỏi Văn:

-Sao mà như nước với lửa vậy?

–   Nó nói nó ra như hôm nay là bởi vì tao. Mày thấy vô lý không? Tao vừa đến nhà thắp mấy cây nhang cho bà già thì nó đã lợi dụng rượu sách nhiễu tao vụ bà già chết mà không về. Thật là bực mình.

Văn đi thì tôi tiếp tục rượu trà cùng Vũ. Cứ có ba ly vô là anh nói. Chủ yếu về một thằng em sinh đôi và đổ mọi thất bại đời mình là do nó. Tôi yên lặng lắng nghe và rất cảm thông cho anh. Nếu Văn không đi Mỹ ắt anh đã không bị loại khỏi cuộc cờ quan chức. Thuở Văn đi thì cái gọi là xét lý lịch ba đời vẫn còn mặn lắm trên đất nước nầy. Đã hơn một lần Vũ kể với tôi may mà cha và má ruột của Vũ lấy nhau không hôn thơ hôn thú. Cái thời chống Mỹ ai có người thân theo nguỵ thì chớ có mà hòng đảng hay sĩ quan. Nhưng Văn có tội chi trong cuộc thế nầy? Tôi và Văn chung một đệ nhị, đậu hay rớt, lính hay tráng hai thằng tôi đâu định được đời mình? Chao ôi… – tôi ngâm ngợi : Sao bao nhiêu năm tháng qua không từ giã cuộc đời đi làm hoà thượng để những ngày tu đắc đạo sẽ làm búa xẻ rừng làm sông chở gỗ củi đem về để ở sâu chùa mà làm lễ hoả thiêu? Sao lại sống để buồn nôn khi nhìn cuộc đời mặc cả tình yêu và đến khi nhắm mắt xuôi tay còn phảng phất u buồn trên mi mắt?(1)

Tôi. Sau khi bị vài nhát roi đời quất vô mặt nên nhủn như chi chi. Ai nói chi cũng  ậm ờ cho qua. Cũng chả chết ai. Thằng bị chửi ở tuốt bên Mỹ có nghe được chi mà ý kiến. Về. Văn ở khách sạn, tạt qua thắp nén hương cho mẹ không quá nửa tiếng đồng hồ. Cả hai chưa khi nào chung một bàn sau năm lần trong ba mươi năm Văn rời xa quê hương. Đời tôi cũng có biết vài chuyện anh em cạch mặt nhau.Thiên hạ giết nhau vì gia tài là phần lớn nhưng anh em Vũ Văn là một thứ trái khoáy nhất trần ai. Tôi nghĩ mãi vẫn không hiểu họ không nhìn nhau là bởi cái gì?

Nhưng thây kệ. Kẻ âu người á ba mươi năm mà thoáng qua được năm lần cũng chẳng hề chi đến hoà bình thế giới.

Nhưng.

Lần thứ sáu Văn về thì sự cố xẩy ra.

***

Sự cố xấy ra bên ngoài cổng nhà nhưng cũng làm tôi đến mệt. Tôi phải khai đi khai lại cả chục lần rằng Văn đến nhà tôi lúc tám giờ tối. Hai anh em có uống vài ly và tâm sự. Mười giờ Văn về lại khách sạn. Tôi đưa bạn ra cổng bắt tay tạm biệt rồi vô nhà. Nếu tôi đưa Văn ra đường thì chắc mọi chuyện đã khác. Thực ra ba cái uýt ky chính hiệu Mỹ làm tôi say tỉnh là đà, già rồi, sáu mươi tuổi mà cả năm ly rượu mạnh là quá lắm. Nếu không có tiếng cười lộng lộng trong hẻm vắng ắt tôi đi một mạch về bến mê luôn quá.

Tôi tỉnh cả hồn lẫn xác khi Văn nằm bất động và trên tay Vũ là một lưỡi dao nhọn hoắt. Anh ta đang cười. Sợ quá tôi cũng la làng lên. Bà xã và mấy đứa con chạy ra. Bên nhà Vũ đủ mặt. Công an đến và Vũ bị bắt tai trận. Giết người mười mươi luôn.

Nhưng tại sao? Công quyền hỏi. Tôi lắc đầu. Biết cái gì tôi chết liền.

Còn bạn? Bạn biết vì sao không?

 

  Nguyễn Trí

Yêng hùng

nguyentri

 

Tèo Tích khét tiếng ở tái định cư X về kỹ thuật chạy xe bốc đầu. Bằng một bánh sau nó lướt cả trăm mét mới cho bánh trước tiếp mặt đường. Bọn trẻ trâu nể lắm. Một anh, hai cũng anh – chúng gọi – ra chiều kính trọng. Nể chứ. Không luyện tập dễ chi được vậy. Thằng nào ngon bốc đầu chạy được chục mét là hết phép, trăm mét ngoài như Tích thì gọi anh là quá đúng. Dân chơi xứ ruộng mới lên đời là vậy đấy, thằng nào có tí tài vặt là lên anh. Riêng Tích trừ cái vặt chết người nầy nó còn có một vũ khí khác cũng tương đối lợi hại. Chả là – thiên hạ nói – Tèo Tích  ỷ thể là em ruột Tèo Bầu.

Tèo Bầu tên thiệt thọ là Nguyễn Văn Bầu. Phó công an xã M và tái định cư X thuộc sự quản lý của M.

Ba cái vụ nẹt ga bốc đầu cư dân tái định cư ghét lắm, họ chửi cho thiếu điều tắt bếp. Bà nội cha nó chớ. Chạy kiểu đó cũng có ngày gãy họng do chính mình gây ra. Họ chửi bọn đua xe, chửi Tèo Tích lây qua Tèo Bầu. Thiên hạ xưa nay vô lý vậy đấy. Đua xe cả nhóm biết thằng nào đầu đảng mà tội lệ cứ một Tích mà gieo? Con em thường dân họ không nhắc, cứ Tèo Bầu họ mắng mỏ. Nào là đường đường cán bộ mà em út không trị thì nói ai nghe? Họ không chịu hiểu, hay cố tình không hiểu rằng cán bộ cũng người phàm như bất kỳ ai. Cha làm thầy con đốt sách là quá thường. Anh quan chức em là ăn cướp cũng chả có chi lạ nói gì đua xe. Hơn nữa cái hộ gia đình ông Nguyễn Văn Bảo cha ruột của Tèo Tích và Tèo Bầu nó có hơi khác với tha nhân một chút.

Hai anh em tuy chung nhà chung họ và chung cha nhưng thiên hạ bảo rằng Bầu và Tích không ruột rà chi ráo. Họ kể nếu không vì một ác nghiệt của cuộc đời thì còn lâu – cô Thuý – má của Tèo Bầu mới là vợ ông Bảo. Thuở con gái Thuý đẹp như tiên sa. Bảo vừa đen vừa xấu lại nghèo mướt thì chỉ có đứng xa xa mà ngắm? Cô Thuý yêu đương với một thằng con nhà giàu. Khi bụng cô Thuý lớn lên thì trai đẹp nghe cha mẹ lấy vợ. Thằng khốn kiếp chả đoái hoài khi nghe tin cô nhảy cầu tự vận. May cho cô Thuý là khi một hai ba lao xuống sông anh Bảo đứng bên trên. Bảo cứu người mộng vô bờ rồi đưa đi bệnh viện. Cảm cái tình nầy nên nàng đồng ý nâng khăn sửa túi cho chàng. Bù lại chàng xem con nàng là con của đôi ta.

Đôi trẻ ở với nhau được năm năm thì tan hàng. Chả là cô Thuý không quên được tình xưa. Một hôm kia Bảo được bạn nhậu gài thế dẫn đi phục kích và thấy vợ cùng tình cũ trong một nhà nghỉ bình dân. Bảo ngộ ra vì sao ăn ở với nhau những năm năm mà nường không đẻ cho mình nhóc con nào để hú hí. Hận tình lên ngút trời xanh Bảo nhào vô tính cho gian phu cú đấm. Rất tiếc. Thằng khốn phi một hơi mất dạng. Thuý biệt tích mù khơi kể từ hôm đó.

Bảo ở vậy nuôi Tèo Bầu thêm năm năm nữa là mười. Một cha một con một  một hon đa ôm kể cũng tươm tất. Có người hỏi rằng vì sao cô Thuý nhẫn tâm vậy? Tại sao không phải con mình mà Bảo hết mực thương yêu trong khi kẻ rứt ruột đẻ ra thì một đi không trở lại? Xin thưa rằng cô Thuý bị nhầm. Cô tưởng tình cũ sẽ vươn tay ôm lại mẹ con cô. Ngờ đâu nó lặn luôn. Cô đâu còn mặt mũi nào về lại với Bảo. Không phải sao? Sa cơ lỡ bước có người đưa tay ra đỡ dậy và đứng lên, nay phản bội mặt nào ngó cho đang.

Một hôm kia Bảo đưa một nữ lưu về nhà giới thiệu với cô bác là vợ. Nữ lưu này đẻ cho Bảo một trai, tức Tèo Tích. Năm Tích lên bảy tuổi thì mẹ qua đời vì tai nạn giao thông. Đến đây mới thấy cái giá trị tuyệt hảo của người đàn bà. Ai đó nói  em là tất cả của đời anh là quá xá đúng. Vợ chết Bảo sa vào sầu hận. Hai đứa con. Bầu lớp mười hai Tích lớp ba không người săn sóc nên con đường học vấn đành đứt đoạn. Bầu nhờ có chút chữ nghĩa nên khi xã bắt đầu thành lập được mời làm cái long tong. Nhờ tích cực và sống lâu lên lão làng mà ra cái phó công an xã. Riêng Tích thì lê la với vĩa hè từ thuở thiếu nhi nên nó rành đua xe bốc đầu nẹt ga cũng chả có chi lạ.

Nhưng anh là cán bộ mà em như vậy thì mất quan điểm quá – một người tên Năm thường gọi Năm Lựu Đạn nói – không trị cho ra ngô ra khoai thì bầy trẻ trâu ở tái định cư thành yêng hùng xa lộ hết. Thời buổi nầy ỷ vô thế thần thì xưa rồi diễm ơi. Có khôn ngoan cách mấy thì cũng không qua được tai mắt của nhân dân đâu. Bây đua xe ở đâu? Mấy giờ? Thằng nào đầu đảng?

Nhà của già Năm Lựu Đạn gần chỗ bầy trẻ đua xe nên ông ta thò tay ra viết đơn tố cáo. Kèm với đơn tố cáo là đoạn phim quây cảnh đua xe.

Nhưng đơn chưa thảo xong thì sự cố xẩy ra.

***

 

Liên Chi là bồ ruột của Tèo Tích. Chà chà… con bé mới mười sáu tuổi ranh mà yêu đương sành điệu lắm đa nghe. Chả là – thưa quý bà con cô bác hãy thông cảm cho Chi một chút. Nó với thằng anh trai tên Thường lớn lên dưới bàn tay ông bà nội. Cha má của hai đứa bị một hung thần xe tải húc một phát nên về với ông bà hơi sớm. Ông bà nội già yếu thì chớ lại nghèo mướt nên nợ nần không thua chi chúa chổm. Giải toả xong bao nhiêu đền bù thằng Thường bị bọn mua bán ma tuý rủ rê vào đường sa đoạ. Ông con bị bài trừ tệ nạn thộp cổ đưa đi cai nghiện tập trung. Còn chút tiền hai ông bà già mua được rẻo đất bằng bụm tay có cái chòi chó ngồi còn thò cái đuôi ra ngoài. Con Chi không ai quản nên đi theo bầy đoàn đua xe âu cũng tất nhiên. Ông bà nội của Chi đi mót mủ trong lô cao su kiếm gạo nuôi cháu sống qua ngày. Chi hơi hơi đẹp gái và duyên duyên tí chút nên Tèo Tích chọn làm vưu vật của riêng mình. Chi cũng thích anh Tích khoản phóng nhanh giành đường. Đặc biệt chiêu bốc đầu.

Nghe Lựu Đạn hăm he viết đơn tố cáo nên Tèo Tích vừa lướt vừa nẹt ga qua nhà già Năm. Mặt nó nghinh nghinh rất chi lớn lối. Lưụ Đạn cũng là một thứ bán trời không văn tự. Ông ta chống nạnh đưa cắp mắt mí lót nheo nheo nhìn yêng hùng. Tích ta thị uy bằng cách đang chạy nó bốc đầu. Bị bất ngờ nên kẻ ngồi sau là con bé Chi té cái oạch xuống mặt đường nhựa bê tông nóng.

Và tai hoạ xẩy ra.

Con bé không thể ngồi dậy. Nó thét lên đầy đau đớn khi Tèo Tích kéo nó lên. Năm Lựu Đạn cũng thất sắc:

  • Gọi Taxi đưa nó đi bệnh viện gấp. Nó mà gảy cột sống là đời mày tiêu.

Năm Lựu Đạn đúng là miệng ăn mắm ăn muối uống cồn pha nước lạnh nên nói linh như miễu. Hôm sau cả khu dân cư ồn lên như cái chợ, đi đâu cũng nghe thiên hạ bàn tán về tội lệ của Tèo Tích. Năm Lựu Đạn nói với bà nội của Liên Chi rằng:

–  Bà đi lên nhà cha Bảo nói cho ra lẽ. Bắt tụi nó phải chịu trách nhiệm. Cha con nó không chịu bà cứ phát đơn kiện tui làm chứng cho.

Nhưng hai ông bà già lụm cụm biết cái gì mà kiện với tụng? Nhìn cảnh con Liên Chi về nhà trên cái băng ca ai trong trần thế không đứt ruột đứt gan kẻ đó không phải người. Con gái mới mười sáu tuổi mà như vậy thì thà chết sướng hơn. Bà nội già bỏ luôn chuyện mót mủ ở nhà chăm cháu. Một mình ông chồng già thì còn khuya mới kiếm được cái ăn qua ngày nếu không có bà con cô bác giúp cho chút lòng bác ái. Vừa giúp ba quân vừa chửi rằng:

–  Bà nội cha thằng Tèo Tích. Gây hậu quả rồi bỏ mặc là đồ thất nhơn. Ông Bảo đúng là súc vật. Con mình gây hoạ cho người ta rồi bỏ mặc. Thiệt là khốn nạn.

Thiên hạ chửi đổng chứ Năm Lựu Đạn thì không. Ông ta nói với ba quân:

– Tao hỏi thẳng mặt Tèo Bầu rằng. Mày là cán bộ. Em mày đua xe trong tái định cư chắc mày biết. Mày có biết nhưng làm ngơ là một cái sai rồi. Nay thằng Tèo Tích gây hậu quả nghiêm trọng, cha mày say xỉn hăm bốn trên hăm bốn tao chả nói làm chi, mày, đang là cán bộ không quan tâm đến gia đình con Liên Chi là quá tệ. Mày nghĩ sao mà bỏ mặc người ta? Tụi bây biết thằng Bầu nói sao không?

–  Sao?

–  Nó nói mắc mới gì tớ ông hả Năm Lựu Đạn. Thằng Tích làm té con Chi ai làm chứng. Ông hả? Giỏi thì ông kiện đi.

Tao cũng bó tay bó chưn luôn. – Năm già kết luận.

–  Chưa hết chuyện đâu ông Năm ơi. Nay mai thằng Thường cai nghiện về là mệt lắm.

–  Bọn ma tuý hả? Về chưa được một ngày là chơi lại. Mà chơi lại thì trăm thằng chết cả trăm. Thằng Thường cũng chả làm chi được đâu. Mày tin tao đi.

–  Còn mấy tháng nữa là thằng Thường về rồi. Như ông là thằng Thường ông sẽ làm gì hả Năm Lựu Đạn?

–  Tao không biết.

***

Bốn tháng sau ngày Liên Chi bị tàn phế thằng Thường về. Qua lời kể của tha nhân lắm chuyện nó đến ngay nhà Năm Lựu Đạn cho chắc. Chín người mười cuống họng chả biết tin ai. Ai cũng như đang chứng kiến nhưng khi hỏi hôm ấy Tèo Tích chạy xe gì thì kẻ nói tay ga người nói xe số. Chỉ có Lựu Đạn là rành:

–  Sáng hôm đó Tèo Tích chạy chiếc Exciter 125 phân khối của thằng Minh Anh. Nhưng sau khi em mày bị tai nạn cha má thằng Minh Anh bán cái xe đó rồi. Chả là họ sợ bị liên luỵ. Thằng Minh thì bị hốt cốt đi tù về tội buôn bán ma tuý rồi.

Thường rối như canh hẹ:

–  Giờ tui biết làm sao ông già? Kiểu nầy làm sao kiện? Một mình ông làm chứng là không ăn thua. Ít lắm cũng hai người.

–  Mày cứ phát đơn lên xã yêu cầu giải quyết. Thằng dân thường thì không sợ chứ thằng đang tại vị quan quyền như Tèo Bầu rất sợ bị kỷ luật mất chức? Tao nói mày nghe kịp không?

– Tui thấy con kiến kiện củ khoai rõ ràng ràng ông ơi. Tui thì cai nghiện mới về. Ông thì quá khứ tù về tội lâm tặc tuy cũ nhưng đâu đã phai… đơn từ gửi lên họ không xét thì bó tay chấm o rờ gờ ông Năm ơi.

– Xã không giải quyết thì phát đơn lên huyện. Huyện không quyết thì đi tỉnh. Mày quậỵ riết thì bùn sẽ ra cứt trâu liền.

– Tui sợ là cứt trâu hoá bùn đó chớ.

– Bây giờ vầy…

– Sao?

– Mày đích thân gặp Tèo Bầu và cha nội Bảo nói rõ tội trạng của thằng Tèo Tích. Yêu cầu tụi nó đóng góp trách nhiệm hậu quả đã gây ra. Tụi nó sẽ phải chung để mua cái yên lành, để mày kiện cáo lôi thôi thì con đường thăng tiến của Tèo Bầu sẽ bị vấp.

– Ô kê. Tui cũng đang tính gặp thằng Tích hỏi cái tội bạc bẽo của nó đây nè ông già.

– Chúc mày thành công. Có tiền lo cho ông bà nội và con em mày. Đừng xì ke cọc nữa con ơi. Mày thương ông bà nội mày với.

– Chuyến nầy tôi quyết không đi trại cai nghiện nữa đâu. Ông yên tâm.

Năm Lựu Đạn lắc đầu nhìn theo thằng hư hỏng. Lắc đầu là phải bởi chả có thằng nào dám quên trung tâm cai và dạy nghề. Không trở lại trại thì chỉ có nước vô nhà đá bóc lịch. Thiệt đó.

Y như rằng. Hai ngày sau đã nghe tin thằng Thường bị công an hốt cốt vì gây án. Trọng án. Chả là ông con về chưa nóng đít thì bạn bè một thời chích choác mò tới thăm bạn cũ. Bà nội cha lũ hư hỏng, chúng lôi Thường ra quán kêu ba xi đế nhậu cho đã cái đã lâu không gặp. Bọn nầy chả rượu nào làm chúng say. Máu đã có ma tuý thì ma men xin chào thua. Ngà ngà một thằng quăng ra một dọc tẩu và một túi nilon bên trong có vài viên đá trong như thuỷ tinh. Tuy mới ra trại nhưng ba cái đá đấm nầy Thường rất rành. Nói kéo liền một hơi thăm thẳm dài. Con ác quỷ ma tuý đá ngay lập tức kéo Thường bay lên chín tầng mây. Và ở trên tầng cao nhất Thường thấy em gái đang bất toại trên giường, kế bên là bà nội già nua đang vệ sinh cho con bé. Ngay lập tức hiện ra kẻ đã làm em gái nó tàn phế. Chả nói chả rằng Thường đi một hơi ra sau bếp của quán nhậu. Thấy cái búa chém dùng để chẻ củi, nó dắt vô lưng quần rồi vòng ngã sau đi một hơi đến nhà ông Bảo. Lúc đó ba cha con nhà ông Bảo đang bên mâm ăn buổi tối:

–  Ê… Tèo Tích ra nói chuyện tí coi.

– Mày muốn gì? – Tích hỏi khi đối diện với Thường.

– Mày gây tàn phế cho em tao rồi bỏ mặc là sao?

– Tao đập chết mẹ mày bây giờ. Ai nói với mày tao là thủ phạm? Năm Lựu Đạn hả? Lão già đó nói bậy.

Tèo Tích không hề biết Thường đang ngáo đá. Nếu biết nó đã không thách thức. Với lại đâu có ai ngu  mà chịu cha ăn cướp. Đúng không?

–  Mày muốn làm gì đó thì làm. Kiện thì tao đi hầu.

Cơn điên của thằng ngáo đá nổi lên. Thường bước tới rút cái búa trong lưng ra:

–  Tao chém chết cả nhà mày hôm nay.

Hoảng hốt Tích quay người bỏ chạy. Nhưng muộn mất. Một nhát búa chém trúng vai. Thêm một nhát vô sống lưng. Tích ngã xuống nền nhà nghe đánh uỵch. Thấy nguy Tèo Bầu mở cửa sau bỏ chạy. Thường lừng lửng vào nhà dứ cái búa vô mặt con ma rượu tên Bảo:

–  Ông nghĩ sao mà không cho em tui được cái xe lăn hả ông già? Chuyến nầy tui cho ông biết thế nào là lễ độ… kha kha kha  khà khà khà khả khả khả…

Thường vung cái búa lên – nhưng – chả biết may hay là không may khi thiên hạ bu vào vừa kịp lúc. Ông Bảo thoát chết trong đường tơ kẻ tóc. Tử thần cũng không gọi tên Tích nhưng thà chết sướng hơn.

Nó bất toại vì bị gãy cột sống bởi nhát chém.

Trời ơi! Vì sao thế nhỉ?

Thiên hạ ngơ ngác hỏi.

   Nguyễn Trí

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Báo thù

nguyentri

Nguyễn Trí :" In ở đâu đẹp há. Mà có 12 cuốn, ai được ai không zậy ta ?"

 

 

 

Năm Phú một vợ và một… cháu nội. Ủa chớ con cái đâu? Để nói cho nghe vụ con của cha nội nầy. Số là những ba mươi hai tuổi Năm Phú mới lấy vợ. Cũng chả phải ham vui quá trớn mà quên vụ vợ con. Năm Phú có vợ sớm bửng hà. Mới hai mươi nheo nhẻo mà bà má thúc hối quá Phú chịu không xiết. Má Phú một mình nuôi con không phải vì am tường nho gia chi phái rằng xuất giá tòng phu phu tử tòng tử chi chi đó. Bà ta ở vậy là bị cái chứng của phụ nữ không nói được. Phú đi lính cho cộng hoà, may mà binh nhì nên học tập có ba tháng. Về là bà má thúc lấy vợ ngay.

Kinh tế  khó khăn nên Phú theo chúng bạn lên rừng chặt củi đốt than. Cô vợ – tình thiệt mà nói – cũng có chút nhan sắc. Thời cộng hoà cô mộng uý tá chứ đơ dem cùi bắp như Phú thì chớ có hòng xách dép. Quý vị uý tá thì toàn là cáo có sừng. Em đưa thì anh đẩy chứ anh có vợ rồi cho vàng cũng không dám bước thêm bước nữa em ơi. Giải phóng xong thì uý tá thăng ráo, binh nhì như Phú lấy được một em tai mắt mũi họng trên trung bình là ngon lành ra phết. Ngờ đâu em thuộc lòng câu lẳng lơ chết cũng ra ma, chính chuyên chết cũng khiêng ra ngoài đồng. Chồng kiếm ăn khó quá nên em cũng kiếm thêm bằng cách buôn cái chồng làm được. Tức là buôn than. Dễ lắm. Tập trung chừng một tấn than rồi thuê xe chở xuống vựa. Mua năm hào bán một đồng trừ xe cộ chi phí hết ba hào còn lời hai hào. Một tấn lời đứt hai trăm đồng. Phải chi được vậy cho đến cuối đời thì xe hơi nhà lầu có chắc. Kẹt cái rừng của toàn dân mà anh phá là vi phạm pháp luật, mua bán cái nhà nước cấm là tội gấp hai. Một ngày kia cô Phú bị bảo vệ rừng thộp tại trận. Than bị đưa về trạm tính sau. Cô Phú chạy đông chạy tây bốn phương tám hướng đất trời. Cuối cùng chả hiểu làm sao mà trưởng trạm cho qua vì lần đầu vi phạm. Thiên hạ bình rằng lần đầu cái mồ tổ nó chớ. Chả qua con vợ thắng Phú nó…

Nó làm sao có trời biết đất biết. Khì khì khì… lần đầu được thả… khà khà khà… Phú nghe thiên hạ cười mà điên gan. Đừng tưởng Phú binh nhì mà tầm thương nghe. Tú tài hẳn hỏi chứ không phải chơi đâu. Anh ta trốn lính vì sợ chết. Con ông cháu cha vui chơi trên phố thị bắt thằng dân đen đi trận là sao? Ngu sao đi để phơi thây? Phú trốn và bị bắt. Vậy mới ra cái binh đơ chứ đàng hoàng thì uý trăm phần trăm. Mà uý tá thì ra cái ôn chi trong thời cách mạng. Mút mùa cái vụ cải tạo chứ chạy đâu cho thoát.

Có rượu vô Phú ngâm nga một câu trong tuồng Tìm lại cuộc đời: “Con me mỹ đây rồi. Con đàn bà khốn nạn đây rồi…” Phú rình rập thử xem vợ mình làm cái chi mà thiên hạ rúc rích cười. Anh ta vờ ngu như bò đội nón. Đàn ông khi ghen lắm kẻ thâm trầm thủ đoạn lắm. Phú là một. Rình riết cũng đụng ổ. Con lăng loàn nghe chồng lên rừng liền trang điểm thiệt đẹp nói đi thăm má ở bệnh viện. Chả hiểu má Phú làm sao mà than đau bụng và ngày một võ vàng. Vợ đi Phú theo sau. Đến ngã ba nàng không đi thẳng mà rẽ trái. Đó là đường đến trạm bảo vệ dã chiến giữa rừng. Phú lọt vô lúc đôi gian phu dâm phụ đang ôm nhau ngáy khò khò. Gian phu là trưởng bảo vệ. Thời điểm nầy bảo vệ viên đã đi truy lâm tặc trong cùng cốc. Thằng bị cắm sừng cau đôi mắt mí lót và thấy một khẩu Ak đang treo trên vách chòi. Đã qua ba năm tác chiến nên Phú rất sành súng đạn. Phú lấy khẩu súng và lên đạn cái rẹt. Gian phu giật mình thức giấc  tung mình bỏ chạy. Phú làm một phát. Ông con bị trúng vô giò la như giặc dậy. Phú xỉa súng vô dâm phụ làm phát nữa. Hên thay súng hết đạn.

Phú bị hốt cốt đi một mạch những mười năm sau mới về. Bà goá phụ cũng đi luôn. Lúc nầy mới biết vì sao bà ta ở vậy nuôi con. Ung thư giai đoạn cuối nghe con bị bắt vì giết cán bộ thì chết quách cho khỏe thân. Phú về thì kẻ cho mọc sừng đã là vợ chính thức của tay bảo vệ bị gẩy giò. Đời quá xá buồn cười. Năm sau Phú có vợ. Đó là lý do vì sao những ba mươi hai tuổi Phú mới lập gia đình.

Còn sao mà sống với vợ và một cháu nội thì đặc biệt hơn.

Năm hai mươi tuổi thằng con trai dẫn về một má hồng môi đỏ giới thiệu vợ. Nhỏ này với Phú cũng không lạ. Mồ côi mẹ, cha lấy vợ khác nên nó khổ lắm. Con nhỏ đi phụ hồ trong công trường, chủ thầu sai nó bưng gạch xách hồ cho cha con Phú. Vậy là hai đứa quen nhau. Phú chưa kịp trở tay thì con nhỏ đà lớn bụng. Thôi thì về ở với ba má luôn cưới hỏi cũng vậy à con ơi. Nhà Phú vui như hội khi đứa cháu nội ra đời. Vui đó buồn cũng đó luôn. Cháu nội được hai năm tuổi thì ba má nó qua đời vì bị tai nạn giao thông. Chiều thứ bảy chủ thầu cho thợ lai rai ba sợi. Phú không lai rai mà làm hai ly vô một chỗ rồi xin phép ra về. Thằng con nhậu và con vợ ngồi chờ. Tuổi trẻ nên thị tài, tài chi không thị lại thị cái vụ rượu, thằng con uống lút ga. Về chả biết nó tông người ta hay người ta tông nó. Hai chiếc quây tàu tanh banh và bốn nhân mạng hồn du địa phủ. Chết sạch nên chả còn ai mà truy căn vụ việc. Thân nhân ai nấy đem về chôn.

Đó là lý do vì sao Năm Phú một vợ một cháu nội.

***

Cháu nội của của vợ chồng Phú ngoan và đẹp như minh tinh màn ảnh Việt Trinh trong phim Xương rồng đen vậy. Trong phim này Việt Trinh đen thùi chứ nó trắng bóc. Tóc dài, cằm chẻ môi trái tim đỏ như máu… nó bước – chao ôi – mềm như lụa và ăn nói nhỏ nhẻ nhò nhè dịu dàng hết biết luôn. Chưa hết. Con nhỏ học giỏi cực kỳ. Cái giỏi này phải nói Năm Phú góp công lớn. Đã nói Phú tú tài chứ đâu có ít. Thằng con trai duy nhất Phú kèm sát rạt, tại nó bướng bỉnh bỏ học giữa chừng đi làm thợ chứ nào thua kém chi ai. Con nhỏ thì khác nghe. Dưới sự kèm cặp của ông nội nó có chục cái giấy khen học sinh giỏi cho năm năm tiểu học. Bốn năm cấp hai thì tám cái và một bằng khen học sinh giỏi cấp huyện. Sợ chưa? Chiếc xe đạp Martin 107 nó đạp lên trường cấp ba là quà tặng chứ không phải của Năm Phú mua đâu. Cả sách vở cặp học cũng vậy luôn. Huyền – tên con nhỏ – là niềm vui là sự sống là hạnh phúc của toàn thể bà con cô bác ấp Mả Đá chứ không riêng gì của vợ chồng Năm Phú. Chưa thấy đâu trên trần gian ô trọc nầy thiên hạ khoe rằng con đó thằng kia ở xóm tao vậy vậy và vậy vậy cả. Thường thì chỉ có chê. Điều nầy chả cần lý giải chi cho mệt óc. Dân ấp Mã Đá mười nhà đúng mười nghèo mướt. Nghèo đi kèm với đông con thì tất nhiên dốt là phải quá. Nên chi bà con xem nhỏ Huyền như gương soi cho con em cũng là phải lắm.

Vậy mà đùng một phát con nhỏ lăn ra chết.

Một cái chết vô cùng khác biệt. Nó không giống với bất kỳ một cái chết nào trên trần thế nầy. Ngay cả những tay viết tiểu thuyết lừng danh cũng không thể tưởng tượng ra một cái chết như vậy để mà viết.

Lúc ấy già Năm Phú đang tòng teng trên võng:

  • A lô… Năm Phú hả… xuống Ngã Ba Lộ Mới gấp…

***

Ngã ba nơi bé Huyền tử nạn đã có từ thời cố luỹ cô lai. Vậy mà từ khi ông nhà nước cho rãi nhựa đường chả hiểu sao lại gọi Ngã ba lộ mới. Thôi kệ đi. Thiên hạ cho chết tên thì mình cũng gọi luôn cho nó vần. Cách ngã ba nầy chừng chục mét có một garage chuyên sửa vá ép các loại ô tô. Nhỏ Huyền đạp xe vừa ngang qua garage thì một tiếng nổ vang lên. Lúc đó là sáu giờ hai mươi tám phút. Vì sao lại chính xác đến từng phút là do tay hon da ôm tên Hải hỏi chủ quán cà phê cóc gàn đó mấy giờ rồi. Tiếng nổ ấy xuất phát từ cái garage. Cũng chả có chi quan trọng khi một cái bánh xe đang bơm hơi bị nổ.  Quan trọng là con Huyền bị chết tức tưởi – cực kỳ tức tưởi – sau cú nổ định mệnh.

Một cái bánh xe tải gồm có một la-răng tiếng việt gọi là mâm. Nó gồm có năm cái lỗ to chà bà lửa. Cái mâm đi kèm một vòng thép. Vá ép xong thợ sẽ cho ruột vào vỏ, lót thêm một miếng yếm cao su, sau đó mới cho tất cả vào mâm tức la-răng, cuối cùng mới cho cái vòng bằng thép vào để khoá. Trước khi bơm người thợ sẽ thọc vào một trong năm cái lỗ một thanh thép đặc ruột to bằng ngón chân cái dài một mét. Trường hợp đang bơm mà bị nổ thì cái vòng thép sẽ bị thanh thép chận lại. Nếu không chận, vòng thép sẽ gây hoạ không lường được nếu bị nổ.

Và thiên hạ đang trong quán cà phê cũng như dân cư hai bên đường tại ngã ba lộ mới chắc chắn thằng bơm xe đã không thọc thanh thép vào mâm xe. Chính vì vậy cái vòng thép bị lực đẩy tống bay lên và rơi tự dọ – lạy chúa – trúng ngay đầu con bé Huyền đang đạp xe chạy ngang. Con bé té xuống đường chết tức khắc. Cái vòng thép cả năm ký lô trên độ cao cả chục mét thì sống sao nổi cao xanh ơi? Tất cả chứng kiến cái vòng sau khi gây hoạ còn ưỡn ẹo thêm vài vòng rồi đứng lại cà rập cà rình một lúc mới hoàn toàn yên vị.

Người ta bu lại chỗ con bé nằm. Gọi điện cho công an và Năm Phú. Bà Năm đang trong chợ Mả Đá cũng bỏ chảo chả cá chiên tung người bỏ chạy. Hon-da xe đạp rùng rùng theo cho biết, Vừa chạy vừa hỏi sao? Cái gì? Con Huyền cháu nội Năm Phú hả? Nó làm sao? Và tất cả dân của Mả Đá rùng rùng rơi nước mắt khi con bé họ thương yêu chết rồi. Nó nằm kia kìa, và chết rồi. Y như nó đang ngủ trời ơi. Ông trời ơi. Ông không có con mắt. Đúng vậy. Nếu có ông không thể để vợ chồng Năm Phú vào đoạn trường. Nhìn bả kìa… khóc đi bà Phú, khóc đi bằng không bà chết vì đứt ruột cho coi. Bà Phú không khóc cũng như ông Phú không khóc. Ông ta đứng nhìn cái vòng thép định mệnh. Và rồi xe của bệnh viện tới kèm theo một đặc chủng của công an. Người ta đến lập vi bằng ăn kết ăng co, lấy lời khai nhân chứng. Có cả mấy người xác nhận rằng… rằng… rằng… vậy… vậy… vậy… Con nhỏ được đưa vào bệnh viện để khám nghiệm tử thi. Sau đó người ta kêu Năm Phú đến ký tên. Ký xong Phú quay lại thì cái vòng sắt đã bị ai đó lấy mất.

Không như bao kẻ lìa đời đang trong nhà vĩnh biệt của bệnh viện huyện. Không một trại nào trong ba trại hòm của thị trấn đoái đến cái xác của con Huyền. Cả cái trại của một đại gia trong xã nhà cũng vậy luôn. Chả là nhà ông Phú nghèo. Ngoài trừ chỗ chui ra chui vô chả có cái chi. Chừng như bọn chủ trại sống và giàu có bằng xác chết không đánh ra vị tiền trong cái chết này. Bán hòm và lo tang ma cho hộ nầy thì không chừng mất vốn như chơi. Vậy nên nhỏ Huyền về nhà bằng xe của bênh viện. Cái băng ca vừa vô nhà thì bà Phú lăn ra đất. May quá. Có bác sĩ trên cứu thương. Người ta tìm mọi cách để cấp cứu nhưng cuối cùng bà bác sĩ nói rất tiếc tôi đã cố gằng hết sức… xin thành thật chia buồn… Vậy là hội bảo thọ xã phải tay vụ hàng họ để người chết về nơi an nghĩ.

Nhưng Năm Phú từ chối ba cái hàng từ thiện. Ông ta đến tận trại hàng lớn nhất thị trấn có xe rồng đưa đón hẳn hoi, có cả sư thầy tụng đưa hồn người chết về  cực lạc. Con người ta sống cái nhà thác cái mồ. Năm yêu cầu cả mả đá hoa cương mới chịu. Chủ trại Ngũ Hành đắc co cái rụp khi Năm Phú đưa sổ đỏ cái nhà một trăm mét vuông. Xong đám tao kêu bán trả liền cho bây. Bây giờ bây và tao lên uỷ ban xã yêu cầu ký xác nhận. Ô kê chớ hả? Cái nhà tao ít cũng trăm ngoài triệu. Hai bà cháu đi rồi tao ở chi căn nhà này nữa…

Sau lễ hai mươi mốt ngày dân xóm Mả Đá vấn kế cho Phú rằng phải kiện thằng chủ garage. Buộc nó phải chịu trách nhiệm. Vụ này là hình sự luôn chứ dân sự là chuyện nhỏ. Có cả năm người chứng là họ thấy cái niền sắt rơi trúng đầu cháu nội ông. Không làm ra lẽ thì Phật tổ tụng con nhỏ cũng không siêu chứ ba thằng thầy tụng của trại hàng, thứ mà vừa tụng vừa nốc rượu thì chả ra cái ôn dịch gì:

  • Tui nói ông nghe kịp không ông Năm?

Năm cười:

–   Kiện? Kiện ai? Kiện cái vòng sắt hay kiện thằng chủ garage? Mày tưởng tao chưa đi hả? tao đến xã xã nói ngoài phạm vị kiểm soát. Biểu tao lên thị trấn, tức là nơi cháu tao chết. Trấn chỉ lên huyện. Huyện kêu về xã xác minh. Mấy thằng chứng ở đâu mày biết không? Toàn khách uống cà phê xong là đi. Mày biết chủ quán cà phê với thằng Garage là chi không? Là anh em cọc chèo. Tao nghe nói chính nó đem cái vòng sắt phi tang khi công an kêu tao đến ký giấy tờ chi đó. Mày biết thằng honda ôm Hải đang ở đâu không? Thằng Hải là cái thằng xác định cháu tao bị cái vòng sắt rớt trúng đầu lúc sáu giờ hai mươi tám phút đó. Ừ… nó đang ở bệnh viện. Chả biết ai cho nó ăn đòn. Tao lên xin nó làm chứng, nó nói tha cho tui ông Năm ơi. Tui chưa muốn chết. Tụi nó giàu có. Con kiến kiện củ khoai là không được mày ơi. Thời nào cũng vậy đa kim ngân  phá luật lệ. Tao già rồi sống nay chết mai kiện cáo làm chi nữa? Con người ta sống gửi  thác về và chết là hết. Là yên vui.

Nhưng Năm Phú không hề yên vui. Sau đám ma ông ta như một kẻ vô hồn. Cứ cái võng đằng trước nhà Phú ngồi lảm nhảm bên bình rượu hai lít. Ai đi ngang cũng biết rằng Phú tuyệt vọng. Nghĩ đi. Mười năm tù tội. Con trai con dâu mất khi tuổi đời còn quá trẻ. Cháu nội còn trẻ hơn và người đàn bà hú hí tuổi già cũng bỏ mà đi thì đời còn chi đáng sống? Nhìn Năm Phú chủ trại hàng Ngũ Hành cũng không đang tâm đòi nợ. Không mất đâu mà lo. Ông ta mà chết thì cho thêm cái đám nữa rồi lấy cái nhà cũng được. Dân tình ứa nước mắt bình rằng:

–  Chỉ có cái chết mới giúp ổng thoát khỏi cái đau lòng này. Mong ông chết cho rồi. Ai nói sự sống là trân quý chứ với ổng bây giờ là hoả ngục.

Ngồi chán Phú lếch thếch bước. Tay bình rượu vỗ bụng mà hát. Hát rằng : “Quân bất kiến Hoàng Hà chi thủy thiên thượng lai. Bôn lưu đáo hải bất phục hồi. Làm chi cho mệt một đời… Phú điên rồi. Điên thiệt rồi. Lão điên ra đến chỗ đứa cháu nội nằm chết thuở nào. Cứ thế ngồi. Riết rồi người ta phải dìu lão vô lề để đường cho xe chạy. Trong lề lão điên cứ đăm đăm nhìn  cái garage – nơi mà – đã tạo ra cái chết cho cháu nội và vợ lão.

Phú cứ nhìn miết. Ngày nào cũng nhìn, có hôm xách bình hai lít ngồi trước cửa garage. Con vợ thằng chủ ẳm con ra dúi vào tay lão điên mớ tiền. Lão thích thú cười… khì khì khì… rồi đi. Rồi đến. Ngồi. Ngồi miết. Có hôm thằng chủ bực quá chửi con vợ:

–  Dẹp cái vụ cho tiền dùm tao cái. Tại cho nên lão tới hoài biết không? Đi đi lão già. Đù má… vụ nầy tao tốn nhiểu lắm rồi à. Không đi tao xịt chó cắn chết mẹ mày bây giờ.

Nói làm làm thằng chủ garage huýt con chó. Chó giữ nhà to như con beo xồ ra ngoạm gấu quần Năm Phú. May quá con vợ thằng khốn gào lên:

–   Ông ác vừa thôi. Cháu người ta vì bất cẩn của ông mà chết đó. Vợ người ta vì vậy mà ra đi. Ông chả cho người ta một chút để tang ma. Trong khi ngày nào cũng chung chi nhậu nhẹt…

  • Câm cái họng mày lại. Tao đập chết bây giờ.
  • Đập đi. Mày đập đi. Tao thách đó. Bê tô – bê tô là tên con chó – vô nhà.

Con chó thả gấu quần và Năm Phú lại bước.

***

Sáng hôm đó đích thân thằng chủ garage chận lão điên lại:

  • Cút đi, thằng già.

Thằng già mở nắp cái can nhựa hai lít và… nhanh như chớp Năm Phú tạt vào mặt thằng vá ép ô tô, kẻ đã làm chết con bé tội nghiệp. Một tiếng rú hãi hùng vang lên, thảm khốc không thể nào tưởng được. Thằng chủ garage vừa lăn lộn vừa rên la. Hai bên đường thiên hạ xúm đông xúm đỏ vây quanh. Và ngay lập tức cợ sự được hiểu ngay tức khắc. Nạn nhân bị tạt acid. Trời ơi thảm khốc quá. Thằng chủ tiệm cà phê cọc chèo với nạn nhân nhìn Năm Phú. Nhưng gã không dám bước tới vì trên tay Phú bây giờ thêm một cái ca nhựa. Chất lõng trong ca đang là acid chắc luôn:

–   Mày bước tới – Phú nói tỉnh khô, rõ ràng ông ta đã giả dại – là đừng trách tao cho mày ăn luôn acid. Mày, đích thân mày dấu cái vòng sắt giết cháu nội tao. Nhưng tao không chấp mày. Hiểu chưa? Anh em mày là đồ độc ác. Lý ra tụi mày nên thương lượng với tao một tiếng, tao sẵn sàng cho qua và chấp nhận cháu tao chết như một tai nạn. Đằng này tụi mày bỏ tiền ra mua bình yên mà chả nghĩ đến niềm đau của tao…

Đúng lúc có tiếng hụ còi của đặc chủng và cứu thương trờ tới. Chủ vá ép ô tô được đưa đi cấp kỳ. Hai cảnh sát nhảy xuống với súng ngắn trên tay:

  • Bỏ bình acid xuống nếu không tôi bắn – Một cảnh sát ra lệnh.

Nhưng đã có chủ ý từ trước Năm Phú nhảy đến và tạt ca aid về phía viên cảnh sát. Hốt hoảng anh ta lùi lại và pằng pằng pằng, ba phát súng vang lên. Năm Phú sựng người lại. Ông ta quăng bình acid vào vệ đường.

Chết.

Ngày nay ai về ngã ba lộ mới sẽ thấy một tật nguyền không tai không mũi và mù mắt lê cây gậy vừa đi vừa la vé số, vé số đây…

       Nguyễn Trí