CHIẾC PHONG CẦM CUẢ BỐ TÔI — MY FATHER’S ACCORDION

Thay lời tựa:

“Tôi yêu lắm cái linh hồn,Gọi là tinh thần luân lý giáo khoa thư
Vất vưởng theo bước chân người Việt Nam tị nạn

Tôi luôn tìm chỗ nương náu
Cho cái linh hồn mờ phai ấy
Trong xã hội nhiễu nhương này

Hôm qua, hôm nay, ngày mai, và nhiều ngày sau nữạ
Tôi đã bắt đầu và tiếp tục cuộc hành trình
Vào nước Mỹ thênh thang

Tôi đi,
Nương theo linh hồn luân lí giáo khoa thư của Việt Nam nhỏ bé

Đi mà nhớ mãi,
Tiếng đàn của một ông giáo,

Tiếng Phong Cầm của Bố Tôi.”

Trần Thị Như Hoài An

***

Tên tôi là Trần Thị Như Hoài An. Ở Mĩ tôi mang tên Ann Trần. Tôi là con gái một ông giáo dạy văn chương, sinh ngữ. Bố tôi là một người tị nạn Việt Nam. Ông dạy học suốt đờị Sang Mĩ từ năm 1975, bố tôi may mắn hơn nhiều bạn hữu của ông: ông được tiếp tục nghề dạy học. Người Mĩ gọi bố tôi là Dr. Tran.

Tôi không phải là một nhà giáo. Tôi là một chuyên viên kinh tài thị trường chứng khoán. Tôi có tiền bạc sung túc hơn bố tôi, vì tôi không chọn nghề dạy học, dù rằng thời thơ ấu ở Huế, tôi đã từng ôm mộng trở thành giáo sư dạy dương cầm. Năm tôi sáu tuổi, bố tôi để tôi lên yên sau chiếc xe đạp của ông, rồi ông gò người đạp xe đến trường Jeanne d’Arc, Huế. Ông phó thác tôi cho Sơ Thanh Tâm Fred Pierre. Bà là người dạy tôi đặt ngón tay lên phím trắng dương cầm lần đầu tiên.

Chiếc xe đạp, thân người mảnh khảnh, cặp kính cận của bố tiô, những vòng bánh xe quay trên con đường im vắng của thành phố Huế, và những phím trắng dương cầm, tất cả trở thành những hình ảnh mờ nhạt khi tôi mạnh dạn xách cặp da đi vào trụ sở Goldman Sachs (*) ở Nữu Ước. Từ đó, tôi quên những con đường im vắng của Huế xưa cũ, quên những phím trắng dương cầm, và quên luôn đời sống của bố mẹ tôi, nhất là của bố tôi, một nhà giáo Việt Nam lưu vong tị nạn. Trong những đêm Nữu Ước sáng rực ánh đèn, tôi ngồi trong văn phòng, đối diện cái máy vi tính, thoáng nghĩ đến bố mẹ tôi. Rồi vội vã kết luận: chắc là bố mẹ tôi vẫn bình an, sau đó lại tiếp tục dán mắt vào cái máy vi tính.

Tôi không biết bố mẹ tôi sống như thế nào, nói chi đến việc hiểu được sự mất mát của bố tôi…

cho đến ngày tôi từ giã Goldman Sachs để về miền Nam sống bên cạnh bố mẹ. Tôi trở về với bố mẹ vì đã mệt mỏi với nghề nghiệp của mình. Tôi muốn đi tìm phím trắng dương cầm của thời thơ ấụ.

Và trong khi đi tìm phím trắng dương cầm cho mình, tôi bắt gặp, từ quá khứ im lìm, những mảnh đời của bố mẹ tôi…

Suốt những năm ở Mĩ, bố tôi làm nghề viết curriculum cho một quận học chánh ở Texas. Viết xong curriculum, ông đem bài vào lớp thực nghiệm cho lũ trẻ con không nói tiếng Anh là tiếng mẹ đẻ, trong những ngôi trường thị tứ (urban) cho con nhà nghèo, rồi ông phải bênh vực bài giảng của mình soạn ra, trước những con mắt phê bình của những nhà giáo dục tiểu bang, đa số là những con người chưa từng bước chân ra khỏi vòng đai tiểu bang Texas, nói giọng eo éo theo cái lối miền Nam. Qua bao nhiêu kiểm điểm, phê bình, bài của bố tôi mới được in ra, trở thành bài học căn bản cho lũ trẻ con nói hai thứ tiếng.

Bao năm nay bố tôi sinh sống bằng nghề dạy học. Ngày lại ngày, sáng nào bố tôi cũng dậy từ năm giờ. Mẹ tôi dậy theo. Mẹ tôi để vào cái túi giấy dầu một cái bánh mì chả lụa, một trái chuối, và một lon sữa đậu nành. Đó là bữa ăn trưa của bố tôi. Sáu giờ sáng bố tôi ra khỏi nhà, cầm theo cái túi giấy dầu, và tài liệu dạy học nằm trong cái cặp da càng ngày càng cũ. (Tính bố tôi ưa sưu tầm, lưu trữ, không thích vứt bỏ cái gì cả. Ông khư khư giữ tất cả những gì ông đã sắm để rồi… tôi biết một ngày kia tất cả sẽ tan biến đi, như lần di tản 1975).

Mẹ tôi than với tôi: “Cha con chán nghề dạy học rồi. Ông chỉ mong về hưu để sang Cali với bạn bè và học trò cũ. Về hưu rồi thì tha hồ mà tán gẫu ở tòa báo Người Việt với Người Chàm, Thế Hệ Hai Mươi với Thế Kỷ Hai Mốt…”

Trong căn bếp hẹp, mẹ tôi sửa soạn túi giấy ăn trưa cho chồng. Tôi nghĩ, chắc bố tôi chán nghề dạy học thật. Khi cầm cặp với túi thức ăn đi ra cửa, mặt ông chảy dài có vẻ đau khổ, đôi mày ông cau lại.

Tôi đi làm cho Goldman Sachs có nhiều lúc cũng chán ngán như thế. Quanh đi quẩn lại, hai mươi năm trôi qua, tôi bàng hoàng nhận ra là mười ngón tay mình đã phụ bạc phím dương cầm. Nên tôi đã từ bỏ tiền lương sáu con số mà “lang thang giữa đời ối a biết đâu nguồn cội.” Tôi đi làm, bước chân vào văn phòng với chiếc ví Chanel, với nước hoa và phấn son thơm ngát, còn bố tôi bước chân ra cửa, trĩu nặng trên vai cái nếp sống đơn bạc của nghề giáo. Với tôi, chiếc ví Chanel, nước hoa và son phấn trở thành niềm an ủi, còn bố tôi lấy gì làm an ủi? Nhìn bố tôi chậm chạp trong bếp, tôi mủi lòng. Đời tôi đã có nhiều ngậm ngùi, từ công danh cho đến tình duyên. Bây giờ, trong tuổi già của bố mẹ tôi, hình như tôi phải cưu mang thêm nỗi ngậm ngùi của họ. Tôi chạy vào phòng tìm cái túi Lancôme cũ đưa cho bố tôi để ông làm túi đựng đồ ăn trưa. Tôi nói:

“Cho nó lịch sự, bền bỉ hơn một chút, bố ạ.”

Từ hôm đó, mỗi sáng bố tôi rời nhà với chiếc cặp da cũ, thêm cái túi Lancôme đựng đồ ăn rất “ốp a” của cô con gái thay thế cái túi giấy dầu. Ông nói với mẹ tôi: “Cái túi Lancôme chắc chắn không bị rách vì lon sữa đậu nành như cái túi giấy dầu.” Mặt ông nom nghiêm trọng như thể đang nói chuyện tương lai nước Việt Nam. Mẹ tôi thì chê cái túi Lancôme nom đàn bà quá.

Bố tôi dễ thương ở chỗ ông lập dị một cách vô tư lự. Thí dụ ông soi gương cắt tóc lấỵ. Có lần, tóc méo một bên không giống ai, ông vẫn tỉnh bơ, tuyên bố, “Hà tiện đồng nào hay đồng ấỵ.” Thế nhưng bố tôi lại rất hồ hởi đi mua tranh của ông họa sĩ Đinh Cường về treo trong nhà làm cảnh.

Khi ông rời nhà, mang theo cái cặp và cái túi, tôi đứng nhìn theo ông, tự hỏi trong cuộc đời nhà giáo, ông lấy gì làm an ủi, thay thế vị trí cái ví Chanel trong cuộc đời Goldman Sachs của tôi?

Nếu bố tôi không thích dạy học nữa, tại sao ông vẫn gương mẫu hơn bất cứ một công dân gương mẫu nào của Mĩ quốc nàỵ Ông phê bình chuyện tôi bỏ việc ở Goldman Sachs: “Nó trả con nhiều tiền thế, sao lại tự dưng xin thôi ?” Ông hay nhận định viec các em tôi và dâu rể có tật làm việc đi trễ về sớm theo ngôn ngữ Bắc Kì: “Chúng mày lạ quá, tao chẳng bao giờ đi làm trễ. Mĩ nó đúng giờ giấc lắm, đi trễ về sớm như chúng mày là bậy, bậy, bậy lắm” Em trai tôi cười trừ, nheo mắt, “Yes, Sir.” Em gái tôi thì nhỏ to: “Bố không muốn bê bối vì bố…sợ tụi nó! Bố mặc cảm Việt Nam quá trời!”

Như một cái đồng hồ báo thức, trong mười tám năm, cứ sáu giờ sáng là bố tôi rời nhà với cặp da túi giấỵ. Bảy giờ sáng là bố tôi đã có mặt tại trường. Trừ khi đau ốm, ông không hề nghỉ một ngàỵ. Nếu quả tình dạy học ở Mỹ là khổ thì khả năng chịu đựng của ông thuộc hạng… siêu! Ngày nào cũng như ngày ấy, sách cặp da túi giấy trong mười tám năm!

Tôi vô tâm không hiểu tại sao bố tôi đi làm với nét mặt đau khổ. Tôi cho là bố tôi đã được voi, còn muốn đòi tiên.

Cho đến một hôm…

Không còn đeo gánh nặng của Goldmans Sachs trên vai, tôi có thì giờ theo bố tôi đến lớp học một ngôi trường thị tứ…Bắt đầu bằng sự tò mò của một đứa con, tôi trở thành nhân chứng một ngày trong đời của bố tôi, để bàng hoàng nhận ra sự mất mát của thế hệ lưu vong đi trước. Bố tôi đứng, cũng phấn trắng bảng đen, ông hò hét không lại lũ trẻ con ngỗ nghịch, đen, trắng, vàng, Mễ có, Việt có, Tầu có.

Ông đứng cô độc, già nua, nhỏ bé trong cái lớp học tồi tàn.

Ngày hôm ấy tôi nhận thức được sự đau khổ của một nhà giáo Viêt Nam ở Mĩ ! Đây không phải là trường Trần Quý Cáp với những người học trò Quảng Nam tình nghĩa, tự biết cúi đầu khoanh tay, yêu thương thầy cô cho đến 30 năm sau không phai nhạt. Đây không phải là Đại học Vạn Hạnh của một xứ sở Phật giáo mà hình ảnh từ bi của Như Lai hòa nhập với con đường đi tìm kiến thức. Bố tôi không còn là ông giáo mảnh khảnh mang kính cận giảng dậy văn chương Anh cho sinh viên. Từ Merchant of Venice cho đến A Farewell to Arms. Ông không còn say sưa dạy dịch Việt-Anh thế nào cho hay, từ Dọc Đường của Thanh Tâm Tuyền đến Mai Thảo, Những Vì sao của Diệu. Ông đứng trước bảng đen lạc lõng, cầm những tấm bích chương ông viết tay, nắn nót, danh từ, tĩnh từ, theo mấy cái phương pháp lẻ tẻ của giáo dục song ngữ (billingual education). Tóc ông bắt đầu thưa. Mắt ông lờ đờ sau cặp kính. Hai má xệ xuống theo tuổi già. Ông đứng đó, nhưng cũng vẫn phấn trắng bảng đen. Phấn trắng, bảng đen đeo đuổi ông cho đến hết cuộc đời.

Có một đứa trẻ người Mễ, khoảng 14 tuổi, khi không nổi hứng thổi cái kẹo cao su vào bố tôi, chiếc bong bóng bay ngang không khí, “đậu” lại trên sân bay là cuốn sổ tay của bố tôi. Đứa trẻ la lên:

– “Dr. Tran!”

Nó ăn kẹo như vậy đâu có nghĩa nó là hiện tượng Bầy Thú Trước Bảng Đen của Duyên Anh! Nó chỉ là đứa trẻ nhà nghèo học trường thị tứ, nó thích gì là làm nấy. Theo bản năng tự nhiên. Trong môi trường thị tứ này, không có cái khuôn khổ nề nếp gọi là văn hóa giáo khoa thư ngày xưa của bố tôi. Của học trò Trần Quý Cáp, Đồng Khánh, Petrus Ký…Cái văn hóa của một lớp người biết chắp tay, “Thưa Thầy, con đi!!!”

Chắc vì nghĩ như thế nên bố tôi, cương vị của một nhà giáo dục lưu động, không có vẻ gì giận dữ. Ông quay lại cười với đứa nhỏ. Nói theo kiểu nôm na của bà nội tôi, nom ông “lành như Bụt.” Thằng bé chẳng thèm nói xin lỗi. Ông đưa tay vớt cái bong bóng trên cuốn sổ.

Tôi lặng người. Bố tôi, người giáo sư nước Việt Nam Cộng Hòa ngày xưa, của khuôn viên đại học, giờ phút này bị biến thành một nhà giữ trẻ bất đắc dĩ.

Đến giờ ra chơi, bố tôi đi vào phòng giáo sư, ngồi cạnh những đồng nghiệp nói giọng eo éo miền Nam. Ông ăn miếng bánh mì chả lụa, uống lon sữa đậu nành, nhỏ nhẹ chép miệng theo kiểu Việt Nam bốn ngàn năm văn hiến. Tôi xin cám ơn cộng đồng Việt Nam hải ngoại đã đem chả lụa với sữa đậu nành vào nước Mĩ rộng lớn dư thừa chất đạm từ hamburgers cho đến rib eye… Chả lụa với sữa đậu nành cho bữa ăn trưa của bố tôi. Trong mười tám năm, ngày nào cũng một menu đó.

Đêm hôm ấy, tôi, Trần Thị Như Hoài An tức Ann Trần, con gái đầu lòng của một ông giáo Việt Nam, trằn trọc không ngủ được. Tôi nhớ đến một vật sở hữu bố tôi đã có và đã mất.

Tôi nhớ đến chiếc phong cầm của bố tôi.

Như tôi đã nói, bố tôi có tính quen sưu tầm, lưu trữ, ít khi phế thải một vật sở hữu nào. Bằng chứng là ông vẫn giữ cái cặp da đầu tiên trong công vụ dạy học ông mua tại Sàigòn hồi cuối năm 1955 trước khi lên đường ra miền Trung dạy học, nhất là cái bộ đồ “bốn túi” kiểu “kí giả” ông mang theo từ 1975. Đó là cái “mốt” một thời của bố tôi.. Nhiều lần, lũ con phải la lối đòi tẩy chay bố để ông khỏi lôi bộ đồ cổ lỗ sĩ ra mặc.

Giữa đêm tối, tôi chợt hiểu rạ Tôi hiểu rồi, hiểu cái mất mát của bố tôi. Cái đau khổ mơ hồ của tôi hôm nay bắt đầu từ hình ảnh chiếc phong cầm thời thơ ấụ CHIẾC PHONG CẦM CỦA BỐ TÔI… Khi tôi bắt đầu có trí nhớ thì bố tôi đã có chiếc phong cầm ấỵ. Bố tôi mất nó vào năm 1963, trong những ngày Huế sôi nổi xuống đường.

Đầu năm 1963, tôi lên sáu, thì bố tôi từ Pháp về. Ông đi du học từ hồi tôi ba tuổị. Không có bố bên cạnh, tôi sống trong không khí quây quần bên họ ngoại. Ngày ông về nước, ông là một hình ảnh xa lạ.
Ông mảnh khảnh, mặt hơi tư lự. Tôi nhìn ông mà hơi sờ sợ. Những ngày ở Pháp về, ông không vui, có lẽ vì thời cuộc. Con bé Hoài An ở tuổi thơ dại đó, bèn bắt đầu một công trình nghiên cứu qui mô. Tôi quyết định nghiên cứu bố tôi. Việc đầu tiên tôi nhận xét là những câu nói của người nhà. Tỉ dụ, bà vú bảo: “Ông Tây quá,” “Tối ngày ông nghe dĩa hát.” Những tiếng hát trong vắt, ngôn ngữ xa lạ. Sau này lớn lên, qua Mĩ, tôi mới biết đó là dĩa hát nhạc kịch My Fair Lady ông mua từ Luân Đôn. Thời gian sinh sống ở Nữu Ước, tôi vẫn luôn tự hỏi biết đâu sự say mê âm nhạc và sân khấu của tôi đã bắt đầu với tiếng ca trong vắt từ cái dĩa hát của bố tôi ngày đó.

I could have sung all night
I could have sung all night
All night

Và tiếng hát vút lên, ngân dài, cao ngất:

All night…

Trong dãy phố Nguyễn Trường Tộ ở xứ Huế êm đềm, chỉ nhà tôi là có cái dĩa hát quay vòng vòng. Bố tôi cầm cái cần nhẹ nhàng đặt lên dĩa hát, rồi cái dĩa quay vòng vòng, và tiếng hát xa lạ trong vắt bay ra từ cái hộp. Tôi nghĩ theo bà vú: “Sao mà nó Tây thế!”

Ngoài cái máy hát, bà vú còn nói bố tôi mặc “áo tơi” đi trong nhà. Tôi đi theo nhìn bố tôi, thấy bà vú nói đúng. Bố tôi không mặc bà ba trắng có khuy cài như ông ngoại tôi. Bố tôi mặc cái áo thùng thình cột dây ngang lưng, tương tự như cái áo đầm dài đến chân (sau này tôi mới biết đó là cái robe de chambre). Bà vú bảo: “Tây ơi là Tây! Ôn ở lỗ mặc áo tơi đi trong nhà!” Tôi cũng muốn bắt chước bố tôi “mặc áo tơi” đi vòng vòng trong nhà như thế. Bà vú bảo: “Hoài An ơi, dị lắm. Đừng bao giờ bắt chước cha mi!”

Sau đó bố tôi còn vẽ tranh, ông hay đi vẽ với họa sĩ Hiếu Đệ. Ông này hay xoa đầu tôi rất lâu. Tôi còn nhớ ông ta có cặp mắt kính rất dàỵ.Trong những tranh của bố tôi, có một tấm có cái thuyền treo ngược. Tôi không hiểu tại sao cái thuyền lại treo ngược, làm sao chèo được trong những ngày nước dâng ngập Đập Đá hoặc bão lụt ở miền Trung? Tôi hỏi mẹ tôi. Mẹ tôi cũng không hiểu bố tôi vẽ cái gì? Chỉ có bức tranh Thành Nội có rêu xanh, tường nâu là tôi thấy giống ngoài đời.

Cứ như vậy, con bé Hoài An, lên sáu, nghếch mắt nhìn người bố xa lạ, quan sát và suy tư.

Rồi bố tôi đem sách Pháp ra dạy tôi học: “C’est une chaise… C’est le chèvre de Mr. Seguin…” Sao mà chán quá! Thêm cái màn phải dậy sớm, tắm rửa, thay áo, uống sữa (một việc mà tôi rất ghét), rồi leo lên xe đạp cho bố tôi đèo đến trường Jeanne d’Arc tập đàn. Tập đàn thì cũng được đi, nhưng tôi không muốn tập theo Méthode de Rose. Tôi muốn đánh mò bài “Những Đồi Hoa Sim, ôi những đồi hoa sim tím chiều hoang biền biệt” theo kiểu Phương Dung, con nhạn trắng Gò Công. Sơ Thanh Tâm mà biết được sẽ khẻ tay tôi đau điếng. Tôi không biết thở than với ai về những cái khó chịu mà bố tôi bắt tôi phải trải qua.

Tóm lại sự có mặt của bố tôi làm cuộc đời tôi bị xáo trộn. Tôi không còn được ngủ chung giường với mẹ tôi. Tôi phải ngủ giường ngoài, loại giường gỗ dành cho con nít. Tôi van vái Trời Phật cho ông đi du học thêm một lần nữa thì đỡ quá! Van vái xong, tôi rón rén ghé tai vào cửa phòng nghe bố mẹ tôi nói chuyện. Bố tôi hay độc thoại nói “ràm ràm” Mẹ tôi ngoan ngoãn ngồi nghe như tín đồ nghe kinh. Bà vú bảo, “Giống người điên. Ôn học giỏi quá, hóa điên!”

Sau này khi lớn lên, được yêu và mong mỏi được người yêu thông hiểu, tôi mới cảm nhận được thế nào là nỗi buồn khi phải nói một mình, và khi phải nghe người khác nói vì bổn phận.. Để thương xót cho cuộc tình và hôn nhân của bố mẹ tôi. Một người nói, một người nghe. Phải chi cứ như người từ hành tinh khác đến, truyền thông bằng tư tưởng. Nhìn bằng mắt, hiểu nhau ngay. Thì tình trường đỡ đau buồn, chật vật. Và nhân duyên đỡ cay đắng, đoạn trường vì người ta không hiểu được nhau.

Thế nhưng tuổi lên sáu bé dại, tôi thấy chuyện bố tôi “đọc kinh” cho mẹ tôi nghe một chiều là điều vừa kỳ quặc, vừa hào hứng.

Có lần tôi nghe bố tôi đọc một đoạn văn cho mẹ tôi nghe, tôi thấy rất lạ lùng, và kết luận chắc là bố tôi điên đúng như bà vú nói. Tôi kể lại với bà vú, bố tôi nói gì về con lừa, về vũ trụ có đồ đạc lổn ngổn. Bà vú lè lưỡi, khuyên tôi sau lớn lo lấy chồng đừng có học giỏi làm chị. Và nhất là chớ có đi Tây. Sẽ điên giống bố tôi.

Ba mươi bốn năm sau, ngồi ở Nữu Ước, nhìn ra vòm trời đầy ánh điện, tôi đọc lại một đoạn văn của bố tôi viết ở Huế nhân dịp ông xem tranh của họa sĩ Đinh Cường. Một vài năm trước biến cố 1975, ông đem bài bình luận ấy quay ronéo cho sinh viên Văn Khoa Sài Gòn dịch ra tiếng Anh. Thời thơ ấu hiện về, tôi mới nhớ ra đó là đoạn văn tôi đã nghe lóm ngày xưa qua khung cửa phòng của bố mẹ tôi:

“Trong vũ trụ, súc vật, đồ đạc, người ngợm lổn ngổn, những võ công thức cứng ngắc, rỗng tuếch, đập bửa ra toàn chất liệu chết, ù lì, đặc sệt; những cái đầu gỗ lọc cọc múa nhảy trên đường, những trường thành góc cạnh lì lì chắn lối; những xe cộ, bàn ghế, cây khô tĩnh vật đắp ụ ngõ xóm; đất rác từng đống sát mũi cửa nhà, bịt kín công lộ. Những cái cứng ngắc, lổn ngổn, trì độn ấy làm nghệ sĩ đi một bước là đụng, là đá, là vấp chạm đủ mọi chướng vật. Ấy là cái thế giới hình thể hiện thực bủa kín nghệ sĩ, muốn bò-sát-hóa thân phận nghệ sĩ. Nó bảo: mày làm con lừa kéo gỗ đi. Nó hô: cúi đầu xuống, uốn đuôi lên. Thế giới hình thể hiện thực vong thân nghệ sĩ bằng đủ kiểu phỉnh phờ. Nó chắp cánh gỗ cho nghệ sĩ bay vào thế giới lãng mạn, trăng sao mây nước. Nó gạt nghệ sĩ vào vũ trụ ấn tượng mù, lung linh bàng bạc. Rồi, rất biện chứng, nó đá đít những tâm hồn nghệ sĩ đích thực…

Tôi không tự hỏi Đinh Cường đã đi vào trừu tượng thế nào ? Cái đó chẳng quan hệ gì đến người xem tranh, dĩ nhiên. Sự hiện hữu của trừu tượng Đinh Cường, tôi sẵn nhìn nó trong hình ảnh một bứt phá…”

Đọc đoạn văn của bố tôi viết trên ba thập niên, tôi giật mình sợ hãi. Tôi không nghĩ là bố tôi viết về tranh Đinh Cường. Mà ông viết về chính mình. Về con mắt nhìn tranh. Ông đã thay tôi viết về thân phận con ngườị Cái tính trí thức và nghệ sĩ trong một môi trường tàn bạo đòi hỏi sự bứt phá. Dường như có sự tiên tri. Đoạn văn ngắn này áp dụng được vào khung cảnh của một Sài Gòn nhân mãn quay cuồng trong kinh-tế-thị-trường-xã-hội-chủ-nghĩa ngày nay, vào ngay cả cái thành phố Nữu Ước này trước thế kỉ hai mươi mốt. Cái khoảng cách khác biệt giữa Cộng Sản và Tư Bản, Mĩ, Á, trong kỉ nguyên mới (New Age) biến mất trong đoạn văn của bố tôi. Cả hai bên đều có những con lừa kéo gỗ và sự bứt phá trong của tâm hồn nghệ sĩ đối với môi trường và sức ép chung quanh. Rồi tôi rùng mình tự hỏi, năm 1965, khi viết lên những dòng trên, bố tôi có biết chăng đứa con gái nhỏ đầu lòng của mình, trên ba mươi năm sau, cảm thấy nó là con lừa trong vòng quay tới tấp của xã hội Mĩ. Goldman Sachs đã vô hiệu hóa những ngón tay của tôi, không thả cho ngón tay tôi mềm mại về với phím trắng dương cầm. Ở tuổi gần bốn mươi, tôi mong cầm bút để thay thế phím trắng dương cầm. Tôi ngậm ngùi hiểu ra rằng trong căn bản bố con tôi giống nhau. Chúng tôi, qua hai bối cảnh, hai thời điểm khác nhau, ở tuổi trung niên đều mang tâm trạng của những con lừa kéo gỗ.

Thế nhưng trong những ngày tháng ở Huế năm 1965 khi bố tôi viết những dòng trên thì bố con tôi không nói chuyện với nhau. Bố mẹ Việt Nam thời đó không đến gần con nít, tối tối phải đọc truyện cho con nghe như bố mẹ ở Mĩ thời nay. Sự tương đồng về tâm trạng con lừa, về thân phận con người và kiếp lưu đày của tâm hồn nghệ sĩ, phải ba mươi bốn năm sau tôi mới nhận thấỵ

Tuy nhiên, tôi xin tâm sự với độc giả một chi tiết rất quan trọng trong quãng đời thơ ấu của tôi. Khoảng thời gian 1964-65, ở phố Nguyễn Trường Tộ, Huế, bố con tôi có nói chuyện với nhau. Một cuộc nói chuyện thầm lặng qua chiếc phong cầm. Tiếng đàn phong cầm của bố tôi. Công cuộc nghiên cứu về người bố của bé Hoài An có khúc này là thú vị nhất.

CHIẾC PHONG CẦM CỦA BỐ TÔI!

Tôi còn nhớ rõ mồn một. Nó đẹp vô cùng. Những phím trắng nho nhỏ màu ngà, đục mà lại sáng bóng. Màu ngà còn đẹp hơn những thẻ xâm hường điểm son của bà ngoại tôi. Những phím đen nằm thẳng đều đặn cũng sáng bóng như răng hạt huyền của người đẹp Bắc Ninh xưa. Ở giữa những phím trắng với những phím đen là một khoảng huyền bí. Những nếp xếp kéo đi kéo lại, co vào, giãn rạ, huyền hoặc và lôi cuốn!

Trong công cuộc nghiên cứu về bố tôi từ ngày ông ở Paris về nước, ngay buổi đầu tôi đã chú ý đến chiếc phong cầm. Buổi chiều khi đi học ở Jeanne d’Arc về, tôi hay bắt gặp bố tôi đứng đánh đàn bên cửa sổ trong trời mưa phùn xứ Huế. Mặt ông chăm chú không giống ai, môi chu lại một cách rất say sưa, vì ông phải tập trung tinh thần mà “thả hồn vào âm điệu.” Những ngón tay nhịp nhàng bấm phím, hai bàn tay kéo ra kéo vô, cái đàn nằm trên ngực bố tôi lắc lư theo âm điệu. Tôi thích bố tôi đánh đàn, lý do giản dị là vì ông ham đánh đàn không bắt buộc tôi học tiếng Pháp, “C’est une chaisẹ…C’est le chèvre de Mr. Seguin,” một điệp khúc vô cùng nhàm chán.

Xin lưu ý độc giả, bố tôi không phải là một nhạc sĩ. Tiếng đàn của ông có lúc rè rè, có lúc êm ái mê ly, tùy theo cái hứng nghệ sĩ của bố tôi. Ông cũng không phải là ca sĩ, dù có lúc ông hát ong ỏng theo tiếng đàn. Thế nhưng tiếng đàn tiếng hát của bố tôi đã tạo dựng nên repertoire những bản nhạc Việt đầu tiên mà tôi ưa thích mãi cho đến bây giờ. (Bài Những Đồi Hoa Sim không kể, đó là kết quả của sự tuyên truyềnn và tẩy não của bà vú tôi, vốn mang tâm hồn rất bình dân học vụ)

Thuở ấy, Trịnh Công Sơn, một thanh niên ốm o, đeo kính cận là hàng xóm của chúng tôi. Trịnh Công Sơn vừa làm xong bài Lời Buồn Thánh. Cái da diết, ủ ê của Lời Buồn Thánh cần phải được diễn tả bằng tiếng sắc-xô-phôn. Không có kèn bố tôi xài đỡ chiếc phong cầm. Tôi thuộc lòng Lời Buồn Thánh từ đó.

“Chiều Chủ Nhật buồn,
nằm trong căn gác đìu hiu
Ôi tiếng hát xanh xao của một buổi chiều
Bạn bè rời xa chăn chiếu
Ô hay mình vẫn cô liêu ….”

Mãi về sau, năm ba mươi hai tuổi, tôi bắt đầu để lại tóc dài thẳng đuột. (Trước đó, tôi uốn quăn theo kiểu Donna Summers cho thiên hạ lầm tôi là người Nam Mỹ. Tôi xin thú thực tôi cũng có tinh thần “vọng ngoại” như vài người cùng xứ sở với tôi, thích ăn bơ hơn nước mắm). Có lần, với mái tóc như thế, tôi mặc áo gypsy dấu mi-crô dưới tóc, gập người lại mà rên rỉ Lời Buồn Thánh theo kiểu jazz, kiểu blue trước đám thực khách Mỹ. Họ mải ham ăn, không ai để ý xem tôi hát cái tiếng nước non gì. Dưới ánh đèn, trong khói thuốc của một quán ăn nhỏ ở Adams Morgan, Washington, DC, tôi nhớ lại những buổi chiều mưa xứ Huế, bố tôi đứng trầm ngâm bên khung cửa mà đếm tiếng mưa, cái đàn phong cầm đeo ở ngực. Tôi, vừa mới để lại tóc dài thẳng đuột theo kiểu Việt Nam, chợt vứt cái mi-crô đi, mà hát gào cho quá khứ, cho chiếc phong cầm của bố tôi:

Chiều Chủ Nhật buồn, lặng nghe gió đi về…
Chiều Chủ Nhật buồn, lặng nghe gió đi về…

Gió đưa tôi về căn phố Nguyễn Trường Tộ, Huế, nơi mà Trịnh Công Sơn viết Lời Buồn Thánh, và bố tôi đã dùng chiếc phong cầm nói lên Lời Buồn Thánh. Hết Lời Buồn Thánh, chiếc phong cầm của bố tôi lại nỉ non điệu nhạc Phạm Dụy. Và khi khôn lớn tôi mới biết rằng trong ký ức tôi, những âm điệu này đi đôi với cặp mắt Sơn Tây của bố tôi, cặp mắt Sơn Tây của chất thơ Quang Dũng.

Ai có nghe tiếng hát hành quân xa
Mà không nhớ thương người mẹ già
Chờ con lúc đêm khuya
Người con đã ra đi vì nước
Nhớ thương con oán thù loài giặc kia
Lúc xa nhau mong chờ ngày chiến thắng
Bóng dáng người hùng anh
Về ấm lũy tre xanh

Khi khôn lớn, tôi lẩn thẩn suy nghĩ. Làm sao chiếc phong cầm Tây phương đó, xuất thân từ nước Ý, lại có thể đem tôi đến với núi rừng Việt Bắc, với con người Quang Dũng, với tiếng hát hành quân xa, nếu không có tâm hồn rung cảm của bố tôi và sự đồng điệu trong máu huyết giữa bố con tôi. Những năm đó, tôi chẳng biết gì hết, chỉ biết yêu thích cách bố tôi lắc lư, cái đàn kéo ra kéo vào, và âm điệu da diết của tiếng đàn.

Và đó là cách hai bố con tôi nói chuyện với nhau, qua chiếc phong cầm, trước khi tôi biết thế nào là thân phận con người trở thành con lừa kéo gỗ….

Chao ơi, tôi thương xót làm sao tiếng phong cầm của bố tôi!

*

Không nói ngoa với độc giả, tôi tự hào mình là con bé {“thông minh vốn sẵn tính trời…” Vì là con nhà giáo, tôi biết đọc năm lên bốn. Và ở tuổi lên sáu, tôi đã rất khoa học trong công trình nghiên cứu về bố tôi. Tôi lục lọi trong cái rương cũ, tìm thấy thông tín bạ của ông hồi ông học trường Bưởi, Hà Nội. Trang đầu thông tín bạ có những dòng chữ sau đây:

Tên họ học sinh: TRAN Quốc Ngữ
Quê quán: Sơn Tây
Tên cha/hoặc giám hộ: TRAN Quốc Nho
Nghề nghiệp: Làm ruộng

Bố tôi đó, một thiếu niên, con cụ Tổng Nho, tổ tiên lập thân từ đồng ruộng làng Bún, miền Bắc, phía tây thành Thăng Long của nước Việt Nam hình chữ S. Tổ tiên tôi từ đời Trần đã quen nghề cày ruộng lấy thóc bán nuôi con cái đi học.

Điển hình là ông nội tôi, cụ Tổng Nho, nuôi đàn con trai ăn học, dâng gạo nuôi quân cho Việt Minh đánh Pháp để rồi trở thành nạn nhân của cuộc cải cách ruộng đất bắt nguồn từ bên Tàu với ông lãnh tụ quái gở Mao Trạch Đông.

Năm 1993, Goldman Sachs, Merril Lynch, Bank of America, cùng bao nhiêu cơ quan kinh tài quốc tế khác tổ chức một cuộc du hành các nước đang phát triển ở Á Châu để nghiên cứu vấn đề thiết lập thị trường chứng khoán theo kiểu kinh tế thị trường. Tôi cũng xách cặp đi theo. Cuộc viễn du này cho tôi có dịp về thăm Hà Nội. Tôi thuê xe đi về Hà Tây, cùng với hai đồng nghiệp người Anh vì hiếu kỳ mà tình nguyện đi với tôi. Tôi đi về làng Bún, đôi mắt tròn lên, lạ lùng, bỡ ngỡ.

Tôi đứng bên bờ đê nhìn những mẫu ruộng nho nhỏ, giữa ruộng có những ngôi mộ nằm trong nước. Tôi nhìn con bò, gầy ơi là gầỵ

Con bò Việt Nam, nó gầy cũng như bố tôi gầy trong tấm hình chụp năm 1954. Rồi tôi nhìn cái xe bò, cái xe bò Việt Nam cộc kệch cuối thế kỷ hai mươi. Và tôi nhìn hai người đàn bà đứng tát nước còn gầy ốm hơn con bò. Tôi tìm ra ngôi mộ của cô tôi, chị ruột bố tôi, chết trẻ trong cuộc chiến tranh Việt Pháp. Ngôi mộ nằm giữa ruộng. Tôi nghĩ thịt xương tổ tiên tôi đã tan vào đất, từ đó mọc lên những hạt gạo “xuất khẩu” của Việt Nam. Khi ăn hạt gạo xuất khẩu, tôi có bao giờ nghĩ là đang ăn thịt xương của tổ tiên tôi? Tôi ngửa mặt lên trời tìm vừng mây trắng. Xa xa kia là sông Đà, núi Tản của Nguyễn Khắc Hiếu. Đâu đây là nét “vời vợi buồn Tây Phương” của Quang Dũng. Tôi mỏi mắt nhìn cho ra một nét quen thuộc nào đó, lắng nghe cho thấy “tiếng hát hành quân xa” và tự hỏi: nơi chốn này có yêu tôi không, hay đang nhìn tôi xoi mói, tôi con người đi về quê cha trên đôi giầy ReBox?..

Rồi tôi đứng nhìn con đường hẹp đầy ổ gà. Ngồi xe tôi cứ va bên này, chạm bên kia giữa hai đồng nghiệp người Anh to lớn. Tôi nhìn sang bên kia đường là “Nghĩa Trang Liệt Sĩ Xã Phụng Thượng Trong Cuộc Chiến Tranh Chống Mỹ.” Bên này đường là “Quán Thịt Chó Thơm Ngon.” Đây,Con Đường Cái Quan của Phạm Duy từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau, con đường mà bà nội tôi đã đội nón lá đi bộ dưới nắng chang chang trốn ra Hà Nội ngày ông bà nội tôi bỏ làng vô Nam để tránh thảm trạng Đấu Tố Địa Chủ.

Tôi nhắc đi nhắc lại như người mất hồn với hai đồng nghiệp:

– “Sao mà nó nhỏ thế, con đường này, đồng ruộng này, đường chân trời này!” (How come everything is so small ?)

– “Ông nội tôi bị kết tôi. địa chủ vì có chút đồng ruộng này sao ?” (My grandfather got a death sentence because of these little paddies?)

Hai người đồng nghiệp nhún vai, không nóị. Tôi không nghe tiếng linh hồn cô tôi đón chào trong gió. Quanh tôi chỉ có hai đồng nghiệp người Anh im lặng đứng nhìn.

Tất cả không giống như trí tôi tưởng tượng. Khi tôi đã quen nhìn xa lộ thênh thang của nước Mỹ, những vườn táo mênh mông ở Illinois, những vườn cam bát ngát ở Florida. Tôi cứ hỏi đi hỏi lại, ông tôi suýt nữa bị dẫn ra đình làng chịu đấu tố chỉ vì ít mẫu ruộng này ư? Trong bao nhiêu năm nghe ông bà tôi kể chuyện, không hiểu sao tôi cứ tưởng tượng ruộng đất phải bao la cò bay thẳng cánh như tiểu bang Arizona. Phải nhiều lắm, lớn lắm thì mới bị tố địa chủ chứ?

Bây giờ sau chuyến về thăm đó, tôi mới biết thế nào là sự nho nhỏ, con con, như cái nước Việt Nam trên bản đồ thế giới, như cái số phận nho nhỏ, con con của con bò, của cái xe bò, của hai người đàn bà tát nước. Ngay cả đến ruộng đất phì nhiêu đã gây nên cái án địa chủ cho ông bà nội tôi cũng nho nhỏ, con con. Cái thảm khốc của nhân loại lại nằm ở trong những gì nho nhỏ, con con?

*

Trong công trình nghiên cứu về bố tôi năm lên sáu, tôi bắt gặp tấm ảnh 4 x 6 của một cậu con trai, dán trên thông tín bạ. Cậu có hai con mắt dài, xếch như một nét mực tàu sắc sảo. Khi lớn lên, tôi mới hiểu đó là cặp mắt Sơn Tây đã làm xót xa lòng Quang Dũng. Bên nội tôi, đa số đều có cặp mắt đó. Ngay cả những đứa em họ sinh sau đẻ muộn làm công dân Mỹ, lọt lòng mẹ trong nhà thương Mỹ, cũng mang vào Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ cặp mắt Sơn Tây của núi rừng Việt Bắc và hồn thơ Quang Dũng.

Mẹ tôi kể trong thời gian học trường Bưởi, bố tôi theo học phong cầm với một ông cố đạo. Rồi mua đàn của ông. Đó là tiểu sử chiếc phong cầm của bố tôi. Nó xuất thân từ nước Ý, du nhập vào Hà Nội đầu thập niên 50.

Khi di cư vào Nam, ông bà tôi đi trước, bố tôi là người cuối cùng rời Hà Nội vào Nam. Bố tôi đáp xe lửa từ Hà Nội xuống Hải Dương, rồi đạp xe đạp từ Hải Dương xuống Hải Phòng. Bố tôi để cây đàn ghi-ta, thêm cái phong cầm lên xe đạp mà đạp. Trên đường đi, ông bán mất cái ghi-ta. Bán luôn đôi giày da. Nhưng không bán chiếc phong cầm. Bố tôi lên tàu bay vào Nam, có chiếc phong cầm mà không có đôi giày che gót. Tôi mường tượng cậu con trai có cặp mắt Sơn Tây đạp xe đạp, đèo theo chiếc phong cầm, những vòng bánh xe cũng giống như những vòng bánh xe bố tôi đạp chở tôi đi học dương cầm ở Huế.

Chiếc phong cầm theo cậu trai trẻ lên máy bay từ Hải Phòng vào Sài Gòn. Rồi vào trại sinh viên. Bố tôi sống nghèo ở miền Nam mà đi học trong kiếp di cư. Chiếc phong cầm luôn luôn đi theo ông như một tình nhân yêu kiều, chung thủỵ.

Rồi bố tôi ra Hội An, dạy trường Trần Quý Cáp, vẫn khư khư giữ cái phong cầm. Tôi ra đời trong tình yêu của bố mẹ và được tặng cho cái tên Trần Thị Như Hội An, để đánh dấu thành phố nơi bố mẹ tôi đã gặp nhau. Sau này mẹ tôi đổi thành Trần Thị Như Hoài An để tránh dấu nặng trong tên con gái. Ngày mẹ tôi ẵm tôi từ bệnh viện về nhà, chắc là cái phong cầm đứng nhìn đâu đó, mà tôi thì nhắm tít mắt như mọi trẻ sơ sinh khác.

Rồi bố tôi đi Pháp. Khư khư đem cái đàn theo. Mẹ tôi phàn nàn: “Ở bên ấy thiếu gì đàn, vậy mà cha con cũng đem nó theo cho được.” Mẹ con chúng tôi ở nhà, chứ cái đàn thì đi Pháp theo bố tôi.

Công cuộc nghiên cứu về bố tôi năm tôi lên sáu tuổi vẫn tiếp tục suốt thời gian 1964-65. Tôi kiếm thấy bức hình đen trắng bố tôi ngồi bên lan can căn phòng sinh viên ở đại học xá lầu bốn. Paris trải rộng dưới chân. Bố tôi gầy như cây tăm, ngồi ôm chiếc phong cầm, gác hai chân lên lan can màu đen, nom rất thoải mái và rất “hip.” Tôi nhìn bức hình ấy mà mơ ước sau này mình cũng đi du học Paris và cũng ngồi gác chân lên lan can nhìn xuống thành phố. (Tôi đâu ngờ rằng, sau này lớn lên tôi làm một cuộc du học trường kỳ…).

Rồi thì cái đàn theo bố tôi về nước. Và tôi gặp nó ở căn phố Nguyễn Trường Tộ, Huế. Lần này thì tôi thôi không nhắm tít mắt như một trẻ sơ sinh nữa.

Tôi nhớ mãi buổi chiều mưa phùn xứ Huế. Tôi trốn bố tôi (tôi thường hay chơi trò “trốn tìm”) sau bức màn cửa phòng khách. Bố tôi đánh đàn xong thì để nó trên ghế. Thế là tôi nhảy tỏn ra. Tôi đứng mân mê, sò mó cái đàn. Tôi bấm thử, sao đàn không ra tiếng? Tôi khệ nệ tìm cách đeo nó vào cổ. Tôi say mê, nâng niu nó. Ôi tiếng hát hành quân xa với những chiều Chủ nhật buồn không nắng trong căn nhà nóng hâm hấp lặng nghe gió đi về! Ai xui khiến cho cái đàn này làm mọc chất nghệ sĩ trong tôi! Để ba mươi bốn năm sau tôi từ bỏ Goldman Sachs? Tôi muốn ẵm nó lên để đu đưa như bố tôi. Nhưng nặng quá. Cứ thế này thì nếu tôi không té, cái đàn cũng sẽ té.

Bỗng bố tôi bước vào. Tôi sợ muốn khóc vì bị bắt quả tang, tưởng rằng sẽ bị đòn. Nhưng không, nét mặt bố tôi bình thản, đôi mắt Sơn Tây như hai vết mực tàu sắc nét. Đó là lúc ông thấy tôi bé quá không bê nổi chiếc phong cầm. Ông quyết định đem tôi đi gặp Sơ Thanh Tâm để xin học đàn dương cầm.

Từ hôm đó, sáng nào ông cũng gọi tôi dậy sớm, bắt uống sữa, thay váy đầm. Rồi chở xe đạp đưa tôi đến trường Jeanne d’Arc học đàn…

Chung qui cũng bởi tại cái phong cầm của bố tôi.

*

Bạn đọc có tin rằng cái chết không kết liễu đời người, vì phần hồn còn đi về đâu đó. Bởi thế mẹ tôi cứ cúng tổ tiên ông bà, bắt tôi thắp nhang mà lạy. Người Việt Nam chúng ta thờ linh hồn những người thân đã chết.

Năm lên sáu, tôi tự hỏi vật vô tri chết đi có còn phần hồn vất vưởng hay không. Năm 1964, chiếc phong cầm gặp tôi, rồi nó mất đi. Và tôi thắc mắc mãi phần linh hồn của nó đi đâu ? Và tôi thắp nhang cúng nó được không?

Xứ Huế không phải là xứ yên bình. Cái yên bình của Huế chỉ là yên bình giả tạo. Những năm 1963-65, Huế là một ngọn lửa cách mạng hừng hực, sẵn sàng bừng cháỵ Từ chùa Từ Đàm. Đó lần đầu tiên trong đời tôi được nghe danh từ “cách mạng.”

Tôi phải lớn hơn mới hiểu được căn bản của vấn đề. Nếu có Cách Mạng, thì làm gì có Hoài An? Mà đã có Hoài An thì không có Cách Mạng. Từ năm lên sáu, ở thành phố Huế buồn ngủ ấy, tôi chưa đủ trí tuệ để hiểu thế nào là đấu tranh, nhưng tôi đã mường tượng một điều gì ghê sợ. Rằng tôi sinh ra trong một xứ sở có nhiều vấn đề. Những vấn đề ấy ở ngoài tầm tay tôi, nhưng chúng tạo nên định mệnh của tôi, như lưới giăng, như cơn lốc kéo thốc tôi vào.

Dấu hiệu bất an đầu tiên là ngày Phật Đản. Một ngày vui mừng tôi và các em tôi mong mỏi để được xem xe hoa. Thế nhưng mẹ tôi cấm không cho chúng tôi đi xem. Xe hoa đi ngang nhà tôi, mẹ tôi không cho chúng tôi ghé đầu ra xem. Bảo nguy hiểm. Chúng tôi vẫn thấy được tượng Phật đứng trên tòa sen trắng nõn, tay chỉ lên trờị. Nom Phật bụ bẫm dễ thương. Em tôi bảo: “Sao Phật giống em bé quá!”

Chỉ một lúc sau xe hoa vừa đi khuất, bà vú đã chạy vào thì thầm, “Công an giựt sụp xe hoa rồi, Phật đổ.” Tôi cho rằng đó là chuyện kinh khủng. Cái gì đổ thì đổ, chứ Phật làm sao đổ được. Điều ghê sợ khủng khiếp nhất, một sự lật đổ nào đó ngoài tầm tay những người dân bình thường, đã bắt đầu ám ảnh tôi.

Thường thường mẹ tôi hay cho chúng tôi đi chùa Từ Đàm. Nhưng năm đó, chúng tôi không được lên chùa, mặc dù tôi thích lên chùa để được múạ: “Một hôm, một hôm mồng một đến chùa, cùng me đi lễ Phật, dâng vài hoa sen.” Bà vú thì thầm, “Hoài An ơi, lên chùa thì công an bắt!” Tôi nín bặt vì sợ.

Bên cạnh những cái điều bất an đó, bố tôi vẫn kéo phong cầm để nói chuyện với tôi qua Tiếng Hát Hành Quân Xa và Lời Buồn Thánh.
Thuở ấy, tôi không biết mặt những người bạn văn nghệ của bố tôi, từ họa sĩ Đinh Cường cho đến nhà văn Doãn Quốc Sĩ. Tôi chỉ nhớ có một ngườị. Đó là chú M., một nhạc sĩ. Tôi rất yêu chú M. Chú ấy vui tính và buồn cười lắm. Cả nhà ai cũng yêu mến chú M. Trừ bà vú:

– “Ôn nớ là nhóm cách mạng chống Cần Lao đó Hoài An ơi!. Ôn nhà ni mà cứ giao du hoài là ngày cậu Cẩn tới chặt đầu.”

Bà vú nói chi ghê quá. Tôi hỏi Cần Lao là gì? Bà vú bảo Cần Lao là cậu Cẩn đó. Tôi hỏi cậu Cẩn là ai? Có giống chú M. không? Bà vú nói: “Con ni ngu quá. Nói tầm bậy coi chừng bị chặt đầu. Hay chết kiểu Quách Thị Trang.” Tôi không dám hỏi bà vú Quách Thị Trang là ai, tôi biết đó là một người đã chết. Tôi co người lại vì sợ.

Trong những ngày tháng đó, bố tôi ít nói, ít kéo phong cầm. Cái đàn nằm cô đơn. Thỉnh thoảng chú M. vẫn ghé chơi. Hai người đóng cửa phòng nói chuyện rì rào.

Rồi một hôm, chú M. lại ghé thăm. Bố tôi mặc áo đi theo. Ông dặn mẹ tôi ông sang nhà chú M. ở phía bên kia sông Bến Ngự. Dãy phố Nguyễn Trường Tộ nằm bên này sông. Bên kia cầu là nhà thờ Phủ Cam. Bên trái nhà thờ là một dãy nhà kiểu Tây rất đẹp. Một trong những căn nhà đó là nhà chú M. ở. Bố tôi dặn gia đình là ông sẽ đi khá lâu. Ông đi theo chú M. Đã ra đến cửa, ông còn quay lại lấy chiếc phong cầm. Cái đàn đi theo ông qua nhà chú M.

Đó là lần cuối cùng tôi nhìn thấy chiếc đàn. Tôi linh cảm cái gì không hay sẽ xảy ra. Tôi chạy theo nắm áo bố tôi đòi đi theo. Tôi bíu chiếc đàn như muốn giữ nó lại.Chú M. chế giễu tôi con gái hay khóc nhè.

Tối đêm đó, tôi đang ngủ say thì có tiếng khóc than, tiếng bà ngoại tôi kêu la. Tiếng người xôn xao ngoài ngõ. Nghe dễ sợ lắm. Tôi chạy ra thảng thốt. (Từ đó lớn lên, tôi rất sợ những khi đang ngủ thì bị thức dậy vì biến cố)

Tôi vẫn còn nhớ tiếng người nói: “Nhà ai cháy? Công an đốt nhà ai?”

Tôi nghe mẹ tôi nức nở, “Trời Phật ơi, phải nhà chú M. không? Mạ ơi, anh con ở bên nhà chú M..Thôi rồi mạ ơi…”

Tôi thấy mọi người đổ xô ra cửa. Tôi cũng chạy ù ra. Mẹ tôi nắm chặt tay tôi. Bà vẫn kêu khóc.

Ông ngoại tôi điềm tĩnh hơn. Ông nói, “Đã chắc chi ông Ngữ ở bên đó. Để ba mặc áo lên chùa. Hay qua dinh cha Thục hỏi…” Mẹ tôi vẫn điên cuồng kéo tay tôi và bà ngoại xô ra đường.

Đám đông đứng đầy dọc bờ sông Bến Ngự bên hông nhà tôi. Chỉ trỏ xôn xao. Tôi nhìn qua bên kia sông. Ngọn lửa ngùn ngụt cháy. Tôi thấy bên kia bờ sông có bóng dáng những người cầm súng. Người đứng quanh tôi nhỏ to, “Công an đốt truyền đơn.” Mẹ tôi ngất xỉu. Bà ngoại tôi vật vã. Tôi kêu khóc không thành tiếng. Phía bên kia sông lửa ngùn ngụt cháy, ở đó có chú M., bố tôi, và chiếc phong cầm. Tôi nhìn thấy lần đầu tiên cái kinh khủng của cách mạng. Nói đúng hơn của bạo lực đã đốt lửa cho cách mạng.

Đó là lần đầu tiên tôi thấm hiểu trong trí óc non nớt của mình, tôi sinh ra trong một đất nước của những người dân thích làm cách mạng. Của những người dân hay mang kiếp tù đày. Lý do? Tây, Tầu, Nga, Mỹ? Cái nghèo, cái cực, cái nô lệ, cái xâm lăng? Vân vân và vân vân. Trước Chúa bác ái, trước Phật từ bi, chúng ta cầm súng giết nhau đi rồi gọi đó là cách mạng.

Ông ngoại tôi nói đúng. Một ngày sau bố tôi về. Một cơn ác mộng vừa qua.

Tôi đứng xớ rớ tìm cách lắng nghe chuyện người lớn. (Tôi là một đứa nhỏ rất thích nghe chuyện người lớn, âu đó cũng là cái nghiệp chướng của tôi. Có khi tôi nghĩ tự mình là mất tuổi thơ vì cái đầu tôi tò mò ưa suy nghĩ.) Tôi nghe ra được chú M. chạy trốn lên chùa. Nhà thì cháy tan nát. Mẹ và bà ngoại tôi đốt nhang khấn bàn thờ tạ ơn tổ tiên trời đất đã cứu bố tôi.

Tôi đứng trước cửa nhà nhìn qua bên kia sông. Ngọn lửa đã tàn. Cảnh tượng tiêu điều thảm hại. Lần đầu tiên tôi chứng kiến sự u ám của những gì còn lại sau một cuộc tàn phá.

Chú M. không cháy. Bố tôi không cháy. Còn chiếc phong cầm? Phải chăng nó cháy giùm cho bố và chú M. yêu mến của tôi? Tôi òa khóc chạy vào nhà. Mẹ và bà ngoại tôi còn trong cơn mừng rỡ, còn lo nhang đèn. Không ai nghĩ đến chiếc phong cầm xấu số.

Tôi nức nở trong lòng bố tôi. Nhưng ông nghiêm mặt cấm không cho tôi khóc. (Những người bố Việt Nam, ai cũng ghét than khóc, cho đến ngày họ già. Bây giờ trong tuổi sáu mươi ngoài, bố tôi mau nước mắt. Thỉnh thoảng là tròng mắt đỏ hoe. Mắt ông hay đỏ hoe khi các con về thăm rồi lại đi, còn lại căn nhà yên vắng với hai vợ chồng thui thủi)

Bố tôi nói lên điều mà tôi đã biết:

– Cái đàn cháy trong nhà chú M.

Tôi vụt khỏi vòng tay của bố tôi. Tôi chạy ra đứng trước cửa nhà nhìn sông Bến Ngự. Tôi nghe có ngọn gió đi về. Chiều chủ nhật buồn lặng nghe gió đi về. Trên ngọn gió đi về, có chăng linh hồn chiếc phong cầm của bố tôi?

Từ đó, bạn đọc có thể đoán ra, bố tôi chẳng bao giờ kéo phong cầm nữa.

Bà vú nói, cách mạng thành công và Phật tử khỏi bị đàn áp. Tôi thôi không học trường Jeanne D’Arc nữa. Tôi đổi về trường Phú Vĩnh. Hình Ngô Tổng thống treo trên tường bị hạ xuống. Đem ra đập lìa. Cách đó không bao lâu, lũ trẻ con chúng tôi vẫn còn hát, “Toàn dân Việt Nam nhớ ơn Ngô Tổng thống…”. Sau cách mạng, Ông ngoại tôi, một công chức dưới triều Ngô, nghỉ việc về hưu sớm.

Cách mạng thành công, nhưng tương lai công danh bố tôi chẳng sáng sủa gì hơn. Có kẻ không ưa bố tôi, làm nên sự vụ lệnh đổi bố tôi vào dạy ở Quảng Trị, chốn bom đạn chiến trường. Mặt bố tôi càng khó đăm đăm hơn. Mẹ tôi dạy Đồng Khánh. Bố tôi về Quảng Trị, tức là vợ một nơi, chồng một ngả.

Sáng sớm tinh sương, thành phố Huế như có sương mù. Bà ngoại tôi lặn lội về làng đem lên những đòn chả Huế. Bà ngoại tôi, Quế Hương, pháp danh Tịnh Tâm, là người phụ nữ làm chả Huế, chả tôm ngon nhất thế giới. Tôi vẫn nhớ hình ảnh bà xương xương, đội nón bài thơ, mặc áo dài vân nhung (phụ nữ Huế của thời đại tôi biết không bước ra khỏi nhà mà không mặc áo dài.) Trời tờ mờ sáng, bà đã hiện ra ở cửa nhà tôi, tay xách cái giỏ thật lớn, đựng không biết bao nhiêu là đòn chả. Mẹ tôi lặng lẽ gói từng đòn chả để bố tôi đem đi tặng đồng nghiệp mới ở Quảng Trị.

“Ở Quảng Trị cũng có học trò,” bố tôi nói. Bố tôi đó, con người của giáo khoa thư! Ông tỉnh táo, yên phận, “lành như Bụt” đối với người đời (chỉ khó khăn với người trong nhà mà thôi), ông vui vẻ mà đi Quảng Trị nhận công vụ, không phàn nàn than thở. Theo lời mẹ tôi kể, thì ông đi nhận việc rất đúng giờ. Ông đi cùng với những đòn chả Huế mẹ tôi gói rất cẩn thận đem cho đồng nghiệp. Ông còn đem phòng thêm nhiều đòn chả nữa để cho học trò mới, có đứa nào ngoan, học giỏi thì cho nó đòn chả lấy tình. Ôi tình nghĩa giáo khoa thư!

Lần này ông đi không có chiếc phong cầm.

(Mãi về sau khi khôn lớn, tôi mới biết người đã đem bố tôi ra khỏi Quảng Trị (để bố mẹ tôi được trùng phùng) là giáo sư Trần, thời gian ông làm Tổng Trưởng Bộ Giáo Dục Đệ Nhị Cộng Hòa. Mẹ tôi nói bà vẫn luôn nhớ ơn bác Trần. (Nhớ ơn là “tiết mục” văn hóa giáo khoa thư! Chứ ở Mĩ, tôi không rõ trong số đồng nghiệp tôi, ai là kẻ nhớ ơn Goldmand Sachs…))

Từ đó, khi chiếc phong cầm đã chết, bố tôi đi Quảng Trị, thì tôi lại trở về làm đứa trẻ con quây quần bên ngoại, đứa trẻ con vắng bố.

Cuối năm 1963, con bé Hoài An lên sáu như già đi. Đầu óc non nớt đã lờ mờ hiểu thế nào là sự sụp đổ của một chế độ. Khi chế độ sụp đổ, có thể có súng ống, có lửa cháy, có tan cửa tan nhà, có người phải đi trốn chạy như chú M. đi trốn trong chùa, có ảnh, với hình, với tượng đá, với đồ treo bị đem ra đập bỏ, xé tan. Có những sự mất mát tận gốc rễ tâm hồn như cái chết của chiếc phong cầm sau ngày lửa cháy. Và tôi lờ mờ hiểu rằng, ở chế độ nào đi nữa, con người cũng có thể hại nhau…Như việc bố tôi phải từ giã gia đình đi Quảng Trị. Cái mà chúng ta phải xây dựng là một nơi chốn cho chúng ta cơ hội để đi tìm sự công bằng tương đối….

Mười hai năm sau, 1975, tất cả những điều mà tôi nhận thấy ngày lên sáu tôi vừa liệt kê cho độc giả trên đây đã xẩy ra, lập lại. Như cái cộng nghiệp của một nơi chốn, một đám đông. Cái định mệnh của tôi. Một cá nhân nhỏ bé bị cuốn trôi vào dòng lịch sử.

Tôi hiểu thấu đáo. Hiểu nhiều quá đến nỗi mắt tôi ướt và tôi nhói ở tim. Chúng tôi, tất cả chúng ta, cũng như cái phong cầm. Trôi nổi theo bàn tay bố tôi rồi chôn thân ở nhà chú M. theo lửa cháy. Người Mĩ nói là, “be in the wrong place, at the wrong time.” Chiếc phong cầm nằm sai chỗ, ở sai lúc. Đôi khi tôi phân vân tự hỏi, nếu tôi không là người Việt sinh trưởng ở miền Nam, và nếu tôi không là một trong mấy trăm ngàn người Việt di tản đầu tiên đến Mĩ, thì định mệnh của tôi thế nào? Như chiếc phong cầm, tôi là kẻ sinh sai chỗ, ở sai nơi, hay là người may mắn, ở đúng chỗ, nằm đúng nơi?

Tất cả, trong vòng quay của lịch sử, chỉ là tương đối.

*
Khoảng một tháng trước ngày Saigon sụp đổ, chú M. chạy ở Huế vào, có ghé thăm bố mẹ tôi nhưng ông bà không có nhà. Chú cháu tôi nấu ăn với nhau rất vui vẻ. Có ngờ đó là lúc chia tay.

Sau khi sang Mĩ, bố tôi vẫn nhắc người bạn cũ. Ông rất ân hận đã không gặp được chú M. trước khi di tản. Bao nhiêu năm ở Mĩ, thỉnh thoảng trong bữa ăn, bố tôi vẫn nhắc đến chú M. Ông không hề nhắc tới chiếc phong cầm.

Đến năm 1995 thì có tin chú M. qua Mĩ, sau khi đã đi tù cải tạo rồi lập lại cuộc đời. Chú ghé thăm bố mẹ tôi ở Texas, tôi không gặp vì tôi ở xa. Mẹ tôi bảo lúc nào chú cũng tự tin, yêu đời, ở hoàn cảnh nào cũng có thể thành công hết.

Khi viết những dòng này, tôi vẫn chưa gặp lại chú. Không biết chú có nhớ chuyện chiếc phong cầm của bố tôi?

Bây giờ, trong những tháng ngày về già, sắp từ giã nghề dạy học để về hưu, bố tôi có lẽ không có những người bạn như chú M. nữa.
Ông hay nhắc tới những người học trò cũ trường Trần Quý Cáp. Chắc đó là một khoảng đời đẹp trong nghề dạy học của bố tôi.

Trong những ngày đã rời Goldman Sachs, có lần tôi mang bố mẹ đi mua sắm. Gặp một thương gia chủ cửa hàng cũng là học trò cũ của bố tôi ở quận học chánh Houston. Vị thương gia tay bắt mặt mừng, bảo rằng khách thường thì lấy giá X., khách đặc biệt sẽ giảm giá tối đa, giá Z. Còn thầy học thì bớt 10 phần trăm, tức là giá Y, giá “ở giữa.” Vì bố tôi là thầy dạy, ông được hưởng giá giảm hạng vừa, hạng “ở giữa.”

Một lần khác nằm trên ghế dài, tôi thấy bố tôi ở trên lầu đi đọc cuốn sách của một nhà văn Việt Nam, ông P.X.Đ., sách viết về Hà Nội. Tôi nhắc đến tên ông. Mắt bố tôi sáng lên: “Anh ấy cũng đi tù cải tạo nhiều năm như chú M. đấỵ.” Tôi thắc mắc mãi về câu bố tôi nói, và ánh mắt sáng của ông. Tại sao mắt bố tôi không sáng lên khi gặp người thương gia Mi~ giàu sụ vì nghĩ đến thầy mà bớt giá 10 phần trăm? Tại sao ánh mắt ấy chỉ sáng lên khi nhắc tới tên một nhà văn Việt Nam? Chẳng lẽ bố tôi hẹp hòi chỉ thương học trò người Việt mà không thương học trò người Mi~? Cũng như tại sao bố tôi chán việc dạy học ở Mi~, mà vẫn làm giáo sư gương mẫu, không bỏ lớp, không trễ nải bao giờ? Ông vẫn cắm cúi soạn bài, tô kẻ chữ làm bảng hiệu cho lũ học sinh non dại. Nói theo kiểu đùa của em gái tôi, bố tôi chăm chỉ vì sợ bị Mi~ nó cười (hay so. mất việc!) Sự việc không thể giản dị như thế. Tôi thắc mắc mà không nghĩ ra được câu trả lời, bên tai vẫn nghe văng vẳng tiếng phong cầm của bố tôi.

Chao ơi! Tiếng phong cầm của bố tôi!

Tháng ba năm 1996, ông tôi mất. Cụ Tổng Nho Sơn Tây đã nằm xuống. Trước mặt con cháu, bố tôi khóc cha mà than mình không làm được gì cho đất nước.

Theo lời bố tôi, ông nội tôi đã làm đường gạch cho làng trong thời kỳ ông làm việc xã. Nhìn bố tôi đứng khóc cha, tôi rùng mình nghĩ đến một ngày nào đó, tôi cũng phải khóc cha mẹ như bố tôi đã khóc thương ông tôi. Tôi tự thôi thúc, giục giã, và biết mình phải làm gì ngay bây giờ.

Việc đầu tiên, tôi sẽ đi mua tặng bố tôi một chiếc phong cầm, cho dù ông không còn tha thiết với đàn, và bố con tôi không còn nói chuyện với nhau qua tiếng đàn như hồi tôi còn thơ ấụ.

Việc thứ nhì, tôi sẽ tìm mua cho được cuốn Quốc Văn Giáo Khoa Thư. Tôi sẽ chậm rãi mà đọc. Tôi đã khước từ nghề giáọ. Để giờ phút này, tôi hiểu rõ và tự quay về với bản chất của mình. Tôi với bố tôi trong căn bản như nhạu. Dù muốn hay không muốn, tôi vẫn là sản phẩm của quốc văn giáo khoa thự. Mà đã là quốc văn giáo khoa thư thì tôi không thể là Goldman Sachs.

Việc thứ ba, tôi ngồi xuống trước máy vi tính. Và tôi bắt đầu viết. Không xây được đường làng, tôi xin xây lòng nhân ái con người qua lời tôi viết. Tôi trí mọn tài hèn nhưng muốn những lời tôi viết làm cho độc giả tôi ngậm ngùi đủ mà nhỏ nước mắt cho nhau. Khi có giọt nước mắt thật sự, là có lòng thương mà có lòng thương là hết khoảng cách. Khi tôi cầm bút mà nhỏ nước mắt, giữa tôi với độc giả sẽ không cón khoảng cách.

Có lần được đồng bào tôi mời diễn thuyết, tôi đã từng lộng ngôn trước mặt đám đông. Tôi tuyên bố rằng thế hệ di dân của tôi giống như những con người cá, nửa người nửa cá. Nghĩ lại, tôi thấy mình rởm ơi là rởm. Chẳng có vật thể nào gọi là người cá. Đó là sự tưởng tượng của những người thủy thủ lênh đênh trên biển cả. Khi mất đầu cá, mọc lên đầu người là có sự mất mát. Khi đôi chân người biến mất đổi dạng thành đuôi cá là có sự mất mát. Phải có sự mất mát, mới nảy mầm cái mới, cho dù cái mới đôi khi chẳng giống ai. Ông tôi nằm xuống, đó là sự mất mát phải có, và thế hệ sau của chúng tôi lớn lên.

Cho nên tôi đang viết về sự mất mát. Sự thay đổi làm tê tái phần hồn. Đó là đời sống. Sau ba mươi tư năm, tôi hiểu được sự mất mát trong đời bố tôi.

Và tôi cũng xin các diễn giả đừng đãi bôi về cái gọi là khoảng cách thế hệ. Người Việt già và người Việt trẻ cứ chưởi bới nhau. Rồi đổ vào khoảng cách thế hệ.

Cho nên tôi viết về chiếc phong cầm của bố tôi. Một vật vô tri bị lôi cuốn vào dòng lịch sử. Sau ba mươi tư năm tôi hiểu được sự mất mát trong đời bố tôi, và vì mẹ tôi theo ông như một cái bóng, cho nên khi ông mất mát thì mẹ tôi chịu đựng. Khi tôi thương yêu bố mẹ, thì chẳng có vấn đề khoảng cách thế hệ khỉ khô gì nữa.

Tôi xin thanh minh với độc giả. Những lời tôi kể đây không phải là lời viết về bố tôi. Vì bố tôi chỉ là một con người, có cái yếu, có cái mạnh, một người đàn ông đào tạo bởi văn hóa và thời đại của mình, với tất cả nghi hoặc, đam mê, sâu xé của một kiếp người, như ông đã viết về con lừa kéo gỗ, về cuộc đập phá khi nghệ sĩ và môi trường cấu xé lẫn nhau. Nếu tôi viết về bố tôi, tôi phải viết về một con người, với đủ bề mặt tốt xấu của người đó.

Tôi cũng không muốn như Maxine Hong Kingston, khi viết xong cuốn tiểu thuyết là gia đình và cộng đồng từ bỏ. Cái giá của sự thật khi cầm bút có lúc nặng hơn cái chết. Và đi tìm sự thật là một trọng trách khó khăn hơn đi làm lịch sử. (Cái đau khổ của con người trước Thượng đế là đôi khi kẻ vụ lợi, xu thời, đồ tể, buôn thịt, bán xương, đều có thể làm thành lịch sử).

Tôi không có khả năng hay tham vọng bưng vác trọng trách đi tìm sự thật bằng ngòi viết. Tôi chỉ xin viết về một vật thể vô tri, tượng trưng cho cái đẹp, nếu không có bàn tay nghệ sĩ, chỉ nằm yên như một đồ vật trang sức. Nhưng khi lửa cháy ngùn ngụt, thì vật vô tri cũng quay cuồng theo định mệnh như con người. Để giết một tổng thống, chiếc phong cầm vô tên tuổi, vô tội vạ, phi chính trị của bố tôi cũng bị giết theo chỉ vì nó nằm không đúng chỗ. Tôi chỉ xin viết về cách tôi nhìn vật thể đó.

Tôi viết cho ai, hay viết cho mình, điều đó không quan hệ. Điều ao ước của tôi là ngòi bút của mình luôn luôn đi theo vẻ đẹp và vẻ sáng trong cuộc đời ảm đạm của kiếp lưu đày. Cái trắng trợn văng tục của realism, tôi xin nhường cho những người viết văn tục tĩu và dữ tợn. Sự tàn bạo của họ làm tôi kinh ngạc và kinh sợ. Trên cuộc hành trình văn chương họ đi từ điểm A tới điểm B bằng ngôn ngữ rổn rang cay độc, bằng sự phá sản tâm linh, và. đối vói những kẻ viết khơi khơi vào tình dục chỉ để mà viết cho có tiếng vang, họ dùng cả ngay thân xác phụ nữ như một công cụ câu khách hoặc để làm dáng như thể mình đang làm cách mạng choo nữ quyền, một cuộc cách mạng mà phụ nữ Tây Phương đã làm trước, đã làm cũ, đã làm trâng tráo, và đã làm thất bại và thoái hoá!

Thật tình tôi không có tham vọng đi từ điểm A tới điểm B cái kiểu như vậy, qua trò chơi kiểu cách văn chương. Đồng thời tôi không tin tâm linh có thể phá sản, ngay cả trong ngục tù, cuồng tín, và đói rách. Vì tôi là kẻ hay mơ, tôi tin rằng cái đẹp và vẻ sáng sẽ thay Thượng đế bảo vệ con người. Và tôi cũng không muốn đi đến một nơi chốn nào bằng cái vòng xe đặt trên điển hình xác thân phụ nữ, hay đem cái nhục nhã, hèn mạt của phận người ra làm dụng cụ văn chương.

Tôi viết, vì tôi muốn đi tìm lại cho chính tôi (và cho bố mẹ tôi, những nhà giáo tị nạn dạy văn chương) hình ảnh Chim Hót Trong Lồng, Những Vì Sao Của Diệu, Mối Tình Chân, Chiếc Chiếu Hoa Cạp Điều, Con Sáo Của Em Tôi, vân vân. Những cái đẹp đã mất của một thời đã qua sẽ chìm vào quên lãng.

Tôi viết vì sau khi đã đi nửa cuộc đời, tôi mới biết mình không phải là linh hồn Goldman Sachs (*).

Tôi cũng chẳng có hân hạnh mang linh hồn Karl Marx, Engels, hay của bất cứ một danh nhân nào Tôi chỉ hy vọng mình là một chút gì sót lại của linh hồn văn hóa giáo khoa thư. Tôi sinh ra là Trần Thị Như Hội An, đổi thành Trần Thị Như Hoài An vì bà mẹ nhân từ nhưng mê tín của tôi không muốn con gái mang vào người sự đau khổ vì cái tên có dấu, tôi con gái đầu lòng nhà giáo Trần Quốc Ngữ, và cháu nội cụ Tổng Làng Bún Trần Quốc Nho. Tôi là một người đàn bà vì định mệnh mà nói tiếng Việt chen tiếng Tây Parisien, tiếng Mỹ vùng MidWest (như độc giả đã thấy ở đây), đứa con gái nhậy cảm của một nhà giáo vô danh gốc gác làm ruộng, đã từng là chủ nhân một chiếc phong cầm xấu số cũng vô danh nốt.

Tôi viết, vì tôi mãi mãi nhung nhớ, và muốn giữ mãi trong lòng, vẻ đẹp và vẻ sáng, từ chiếc phong cầm của bố tôi.

Ghi chú:
(*) Goldman Sachs là tên một cơ quan kinh tài thị trường chứng khoán lớn ở Mỹ.

Dương Như Nguyện

Trưng Vương, Nữ Thần Tự Do và Hòn Vọng Phu… Trong Lòng Người Di Tản Buồn

(Cảm ý từ thơ Lại Phương Hạnh, FB)

Tự do ơi em đứng giữa trời xanh
Em một mình và tôi cũng một mình
Em ngọn đuốc chơ vơ trên biển vắng
Tôi chân trần đã mỏi gót điêu linh
Tôi biết em cầm đuốc soi về đâu
Còn riêng tôi, vạn dặm cố hương sầu
Mùa hè xưa sau lưng tôi bỏ lại
Ngả nghiêng rồi, thành phố, tiễn đưa nhau
Và sau đó, bốn mươi năm lưu lạc
Buồn như buồn Chinh Phụ tiếng ai ngâm
Buồn như buồn Cung Oán bổng hay trầm
Ðêm tỉnh giấc Phương Tây nằm nhung nhớ
Không ôm con, cũ̉ng đầu ghềnh ̣lệ nh̉ỏ
Không xa chồng, cũng vạn thuở buồn tênh
Tôi là người di tản tṛót lênh đênh
Sau cuộc chiến, biết đâu là cố quốc?Người xa người bên đó khóc bên đây
Trắng mái đầu và trắng cả bàn tay
Ðêm khắc khoải chong đèn gương đối mặt
Xót xa gương đã lệch dung nhan này*

Ðèn soi đèn, than ôi, gương đối bóng
Nhớ ngày xưa Trưng Nữ khóc thương chồng
Khi gác kiếm, một mình trong chính điện
Có khác chi soi biển Nữ Thần mong

Buồn một mình dãi dầu trong mưa nắng
Mùa Thu vàng thương nhớ trót vây quanh
Tiếng gió đi theo buổi chiều hiu hắt
Như ru người khi mộng đã tàn canh
Thần Nữ ơi, em không buồn mất nước
Như tôi đây, lầm lũi kiếp du hành
Ðuốc sáng rực, trắng ngời thân xứ lạ
Vọng Phu hề, héo úa cả ngày xanhDƯƠNG NHƯ NGUYỆN

*“Xót xa một buổi soi gương cũ, đã lệch bao nhiêu mặt chữ điền.” – Nguyễn Bính

Màn Đêm Của Mẹ Tôi… Và Cánh Hoa Hướng Dương

 

 

Thành phố này đông người Việt cư ngụ, vì thế có đền Thánh Mẫu thờ Bà Chúa Liễu Hạnh làm tại tư gia của người “giữ đền,” để phục vụ nhu cầu tâm linh của người Việt thế hệ thứ nhất. 

Thời điểm này, khỏang Tết Ta, là lúc mẹ tôi hay bảo tôi đưa bà đi đền Thánh Mẫu, để bà “cắt sao” cho gia đình. Thời điểm tháng 3, đầu mùa xuân, là lúc đại học có “Spring Break,” và tôi được nghỉ dạy, vì thế tôi nghiễm nhiên trở thành người con đưa mẹ đi “cắt sao.”  (Từ nhỏ đến lớn tôi vẫn giữ nhiệm vụ ch mẹ đi công việc hay thăm viếng. Ở Saigon trước 75 tôi chở mẹ bằng xe Honda PC, qua Mỹ thay thế bằng xe hơi.)
Mẹ tôi là phụ nữ có học, đã từng làm cô giáo. Nhưng trải qua bao thảm cảnh ở đời, bà đâm ra mê tín như bao mẹ già Việt Nam khác. Nếu “tuổi” các con bà có hạn sao xấu, thì bà thành khẩn vào đền cầu an và gieo quẻ, nhằm cắt bỏ ảnh hưởng những ngôi sao xấu để bảo vệ người thân.  Niềm tin ấy dựa trên một vũ trụ thiêng liêng, có sự liên đới giữa các ngôi sao với tính mạng và số kiếp con người, chỉ giải thoát được bằng sự cầu khẩn với tất cả lòng thành và tình thương bao la, nhằm thay đổi được tiền định huyền bí ấy.
Tin hay không tin, khoa học vẫn chưa cắt nghĩa được thế giới huyền bí, vì thế tôi kiên nhẫn ngồi trước bàn thờ bà chúa lên đồng để cắt sao cho gia đình như mẹ muốn.  Có lúc ngồi cả buổi tối gieo quẻ vẫn chưa cắt được hết các sao xấu. Mẹ tôi buồn rầu, thở vắn than dài. Nhưng nếu tiếp tục gieo quẻ và cầu xin thì trước sau gì quẻ cũng hiện ra (theo xác suất) để trừ khử đi những ngôi sao xấu.
Mẹ tôi không những cắt sao cho gia đình, mà bà còn nhận lời gửi gắm cắt sao luôn cho bạn bè và người quen. Bà cắt luôn cho người dưng nước lả. Đã có lần tôi phải gắt lên, vì làm sao tôi có đủ thời giờ ngồi lây lất ở đền cho bà cắt sao, hay tự tôi phải ngồi cắt sao để phụ giúp bà.
Khi tất cả các sao xấu đã bị trục xuất, mẹ tôi hỷ hả ra về thì trời đã tối đen.
Chưa hết, tôi còn phải nhận “lộc” ở đền Thánh, thường thường là xôi, chuối và các thứ hoa quả khác. Tôi lãnh nhiệm vụ đậu xe, rồi dắt mẹ đi bộ trong đêm (không khôn ngoan chút nào về an ninh ở Mỹ, nhưng mẹ tôi muốn như thế). Hai mẹ con đem thả trôi sông các “lộc Thánh” cho các cô hồn khắp thập phương ăn nhờ chút “lộc”.
Ở trung tâm thị tứ nước Mỹ làm gì có sông, cho nên mẹ tôi hướng dẫn tôi lái xe đến con rạch hệ thống thải nước của thành phố. Tôi nghe lời mẹ len lén trốn cảnh sát, đậu xe ở đầu đường, rồi trong bóng đêm, hai mẹ con tôi đứng trên cầu con rạch, thảy “lộc” xuống nước để chia xẻ cho các cô hồn không nhà không cửa, không người thờ cúng.
Đó là thủ tục cắt sao đầu năm. Sao La Hầu, Sao Kế Đô, vân vân và vân vân, những sao xấu sẽ bị cắt, cho con cháu và người quen của bà được an tòan hạnh phúc.
Quá nửa đêm trời tối mịt hai mẹ con mới về đến nhà. Sau đó tôi lại phải về nhà riêng. Công cuộc cắt sao là cả một vấn đề tốn thì giờ và lao lực.
Việc cắt sao đem đến cho mẹ tôi sự an tòan về tâm lý trước những nghịch cảnh trớ trêu.  Cho nên tôi lấy sức khỏe tinh thần của mẹ làm điều an ủi khi phải ngồi trong hương khói lên đồng, mà gieo quẻ cắt sao phụ mẹ. Rồi lại phải cúng tiền cho đền Thánh nữa chứ.
Để khỏi tức bực phải trốn cảnh sát đi đổ “lộc” xuống rạch nước cho mẹ tôi vui lòng, tôi ngước mắt nhìn bầu trời tối đen để ví von độc thoại với những vì sao lấp lánh.  Tâm hồn nghệ sĩ giàu tưởng tượng của tôi cho tôi mường tượng thấy hình ảnh mẹ tôi – một bà già yếu đuối nhỏ bé nhiều bệnh tật, xanh xao, với đôi mắt hiền từ và nụ cười thân thiện, mò mẫm trong bóng đêm giữa một vũ trụ hằng hà sa số, rón rén đến gõ cửa những ngôi sao xấu, đem lòng thương yêu mà cầu xin cho các ngôi sao đó bỏ đi không còn chiếu mạng con cháu hay người quen cmình.  Mẹ tôi là người đi tìm, đi đuổi, đi tr sao xấu trong vũ trụ của màn đêm, cùng với Bà Chúa Liễu Hạnh đã  “vượt biên” qua Mỹ trụ trì ở đền Thánh “dã chiến,” và người lên đồng là tác nhân – cái gạch nối —  giữa vụ trụ siêu hình đó với trái tim người mẹ nhân ái của tôi.  Bà Chúa Liễu Hạnh sẽ là Thánh mang những lời cầu khẩn của mẹ tôi chỉ đường chỉ lối cho mẹ tôi đến tìm sao trong cái vũ trụ huyền bí kia …
May mắn hay kém may mắn, tôi là đứa con gái đầu lòng, được đi cắt sao với mẹ lần cuối cùng. Đó là năm ngóai, khi mẹ tôi chưa gặp nạn, vẫn còn khỏe đủ để đi đứng bình thường.  Không có năm nào mẹ tôi quên đi cắt sao cho con cháu và người quen…
 Khoảng bốn tháng sau lần cắt sao cuối cùng thì mẹ tôi bị xuất huyết trong não…
 Bây gi, tôi e rằng mẹ tôi sẽ chẳng bao giờ khỏe đủ để đi cắt sao ở đền Thánh với tôi nữa.
Nước mắt tôi lưng tròng mà nghĩ về những kỷ niệm với mẹ của quá khứ. Cách đây trên 40 năm, cũng vào dịp lễ Tết,  Sài Gòn, tôi chở mẹ tôi đi xem ciné “The Sound of Music” ở rạp Rex
và sau đó là “Toute La Vie Danse” … Tiếng hát của Julie Andrew và đại sảnh của giới quý tộc thành phố Vienna nhảy luân vũ (điệu valse) lúc ấy trở thành thần tượng và mơ ướcủa tôi.  (Mãi đến năm 28 tuổi, tôi mới có đủ cơ hội học hỏi để biết rằng nếu theo nghề ca hát, thì tôi cũng leo lên được nấc thang cao nhất cuả âm thanh, độ cao âm nhạc cuối cùng cho giọng nnhư Andrew; và năm 40 tuổi, thì tôi mới có dịp đi dự cuộc nhảy valse của giới quý tộc thành phố Vienna, nhưng lại từ chối không đi.)
Tôi chưa được nói với mẹ tôi điều này: Thật ra, Andrew hát nhạc thời trang bằng giọng n trung (mezzo-soprano), thành ra nốt cao nhất cuả bà mà quần chúng biết đến thường thường là note DO, C-6 (high C), trong khi các sopranos cuả sân khấu opera có người đạt đến mc tuyệt đỉnh cuả giọng n note Fa bên phải cuả phím trắng dương cầm, mà các nhà kỹ thuật gọi là F6).  Không phải là ca sĩ chuyên nghiệp, tôi cũng đã đẩy mình đi lên đến độ cao cuả C6, nhưng ngay cả giấc mộng Hoa Kỳ (The American Dream) cũng không cho tôi cơ hội mơ tưởng đến F6.  Riêng về khung cảnh sàn nhảy luân vũ của Vienna (chỉ tổ chức một năm một lần), thì tôi cũng chẳng còn hứng thú, vì trong tầm tay hạn hẹp, tôi không tìm đâu ra đối tác.
Bốn mươi năm trôi qua ở Mỹ, tôi đã quên không nói chuyện với mẹ tôi về nhng gì đã xy ra cho mơ mộng đầu đời – điệu luân vũ của Vienna va giọng hát của Julie Andrew, mà chính mẹ tôi là người đã vun xới trong đầu óc của tôi những ngày tấm bé… Bà đã trồng cho tôi cái mầm để tôi leo dốc thang âm, đến một nơi chốn không còn thực thể — ở đó, tôi hiu ra rng giá trị tuyệt đối của cái đẹp và sự trường tồn của âm nhạc không nằm trong khung cảnh thời thượng của một buổi khiêu vũ, cho dù đó là buổi khiêu vũ bên bờ sông Danube của thành phố Vienna, trong thế giới sáng tạo của Johann Strauss…
Tôi mất đi dịp nói chuyện với bà về khám phá này.  Tôi không còn được nghe câu trả lời qua giọng nói trong trẻo của mẹ…
Và bây gi, thì hình như tt c đđã mun.
Ở thời điểm này, tôi đã bỏ nghề nghiệp, bỏ những ước mộng cao vời, để trở về với mẹ.  Chưa kịp cười nói, san xẻ với mẹ niềm vui, từ mua sắm thường tình cho đến bài hát, câu văn, thì định mệnh oái ăm và các ngôi sao xấu nào đó trong vũ trụ đã quyết định không dung tha tấm thân nhỏ bé và tâm hồn nhạy cảm của mẹ tôi.
Than ôi, số phận …
Hồi tưởng lại năm ngóai khi mẹ tôi còn khỏe, tôi giật mình nhận ra: Hình như trong những buổi cắt sao, mẹ tôi quá bận rộn nghĩ đến người mà không cắt sao cho chính mình thì phải???  Hình ảnh của mẹ tôi làm kẻ độc hành đi mò mẫm giữa màn đêm huyễn hoặc của vũ trụ bao la đầy rẫy những vì sao kia — người phụ nữ đi tìm sao để ngăn chận ảnh huởng các ngôi sao xấu chiếu mạng con cháu mình, mà chẳng thiết gì đến ngôi sao chiếu mạng chính mình, là hình ảnh tuyệt vời của kẻ cho đi mà không nhận lại, với trái tim hy sinh tuyệt đối.
Chao ơi, công việc “cắt sao”!  đêm và vũ trụ các vì sao, của mẹ tôi!
Những ngày tháng này mẹ tôi là người liệt giường liệt chiếu.  Bà không ăn được bình thường, và không đi đứng được. Tôi trở thành kẻ hầu hạ mẹ giỏi hơn người trợ tá được cấp bằng ở các viện dưỡng lão. Những giấc mộng cao vời và cuộc đời bay nhảy ngày xưa, bây giờ tôi thu hẹp lại vào đôi mắt xót xa nhìn bờ môi run run của mẹ khi bà gắng nuốt, và nỗi mừng rỡ khi bà thải được chất cặn bã ra ngòai với hệ thống tiêu hóa đã gần như kiệt quệ …
Tôi bắt đầu nằm mơ thấy bà ngọai, quay trở về đứng bên cạnh cửa để giúp đỡ tôi, cho mẹ tôi chóng lành. Bà ngọai sẽ đem đến sự nhiệm mầu của các vì sao tốt và mẹ tôi sẽ bình phục đi đứng trở lại như xưa.  (Bà ngọai tôi qua đời ở Việt Nam, trong cảnh nghèo đói thiếu ăn, trước khi Việt Nam mở cửa “đổi mới”, 37 năm trước đây.)
Khi tôi tỉnh dậy thì hình ảnh bà ngọai biến mất đi, chỉ còn mẹ tôi nằm cô độc thiêm thiếp trên chiếc giường nhỏ bé.
 Mẹ tôi vẫn hiểu, vẫn cố gắng nói, vẫn cố gắng ăn, thỉnh thỏang bà vẫn cười.  Có lần tôi viết xuống trên trang giấy: Me ráng ăn đi đ sng vi con.  (Theo phong cách của người Huế ở tỉnh thành, tôi gọi mẹ bằng “Me,” như chữ “mère”.)
 Bà viết xuống câu trả lời:!
Tóc bà bạc trắng (tôi đem cắt ngắn), nét mặt đã đổi vì sự thụt lùi của sức khỏe, nhưng nước da mịn màng và đôi mắt vẫn long lanh buổi sáng.  Bà đẹp như chưa bao giờ đẹp như thế.  Và tôi bám víu hy vọng vào các  nhân viên vật lý trị liệu cho bà cử động thân thể, dần dần biết đâu y khoa sẽ cho mẹ tôi hồi lại sức sống bình thường … Nếu không được 10 phần thì tôi xin Trời Phật cho 4, 5…
Mẹ tôi hay tát vào mặt tôi khi tôi phải bồng bế bà. Vì bà quá yếu, cái tát của bà chẳng khác chi lời mắng yêu. Tôi không đủ sức lực hay tầm vóc để bồng bế mẹ tôi lên như bế em bé cho bà khỏi phải đau đớn. Tôi chỉ có thể vòng tay kéo lê hay nhắc bà lên, theo lời y tá chỉ dẫn, cách ấy làm cho bà ê ẩm bắp thịt và xương cốt. Nhưng đành chịu vậy.
Ngôi sao xấu nào đó đã chiếu xuống bà? Tôi tự hỏi.
Bà cau mặt lại, không bằng lòng khi thấy tôi nhỏ nước mắt … Để khỏi buồn thảm, tôi giả vờ đóng vai Marilyn Monroe cho bà xem, bà lắc đầu tỏ ý không bằng lòng.
A kiss on the hand is far too sentimental
But diamonds are a girl’s best friend…
Bỏ tất cả, trở về thành phố để được gần mẹ, tôi cứ tưởng mình sẽ được đem mẹ đi mua kim cương, cho mẹ chút niềm vui vật chất ở tuổi 80, sau một đời khổ cực, làm vợ một giáo sư thanh bạch, và làm mẹ một người con gái mang hòai bão ngoài đời sống bình thường như tôi…
Diamonds are a girl’s best friend…
Các vì sao trong màn đêm huyễn hoặc, không phải cái nào cũng là viên kim cương hiền lành sáng long lanh trên bàn tay những phụ nữ nhiều may mắn hơn mẹ tôi … Có những vì sao trông thì đẹp nhưng đy  ác tính, như mảnh lụa bị đốt cháy tr thành ngn l cuồng nộ của một vũ trụ không công bằng…
Tôi lại miên man tự hỏi: Tại sao vũ trụ đã thiếu công bằng với người mẹ mang hết lòng thành đi cắt sao cho các con cháu, và cắt luôn cho tha nhân đã nhờ vả bà – Vâng, rất nhiều ngườkhông có thì gi hay…làm biếng nên đã đến nhờ vả lòng thành của bà – bà sẵn sàng cầu nguyện và cắt sao cho bất cứ ai cần tấm lòng thành của bà để họa may hóan chuyển định mệnh của tạo hóa.
Ban ngày mẹ tôi hay thiếp đi. Tôi phải cố lay bà dậy để nhân viên vật lý trị liệu tập thể dục, làm bà đau đớn. Bà lại tát vào má tôi bằng những ngón tay gầy yếu.
Tối đến, sau khi làm vệ sinh, đo áp huyết, tôi hay nằm bên cạnh bà để cho mẹ tôi khép mắt ngủ yên. Đây là những dịp hiếm hoi tôi được ôm thân thể gầy ốm của mẹ.  Tôi hay hỏi bà:
 — Me ơi, hai tay của me đâu???
 Mẹ tôi trả lời bằng sự giao động của những ngón tay …
 Mẹ tôi nhắm mắt, nhưng hai bàn tay gầy yếu của bà mò mẫm nắm giữ lấy tấm chăn.  Bà nắm giữ lấy sự yên bình êm ấm của đời sống, do tấm chăn mang đến. Thỉnh thỏang bà nắm lấy những ngón tay của tôi. Tôi tìm tay mẹ dưới tấm chăn.
 Khỏang 3 giờ sáng, mỗi đêm, tôi đều thức dậy để chăm sóc vệ sinh cho bà. (Đây là tiêu chuẩn của các viện dưỡng lão.)
 Đi về phía giường của bà, có một hôm, đột nhiên tôi rùng mình lạnh buốt …
 Tôi thảng thốt nhận ra, trong ánh đèn lờ mờ, tôi đã bắt gặp ánh mắt nhìn chăm chú của mẹ tôi.  Ánh mắt buồn rầu như muốn nói lên trăm nghìn chữ mà không nói được. Ánh mắt sâu như màđêm bên ngòai.
 Tôi run lên, đau đn suthân mình. Me tôi không ngủ được suốt đêm?  Hay bà chỉ mới vừa thức giấc?  Bà nghĩ gì?  Muốn gì?  Trong màn đêm, tâm hồn và trí nhớ của bà đã du hành những đâu?
 Đây không phải là màn đêm của những buổi tối đầu năm trong thủ tục cắt sao khi mẹ con tôi lái xe đi tìm rạch để đổ lộc Thánh cho cô hồn.
 Đây là một màđêm khác.
Tôi muốn mắt tôi xuyên thủng màn đêm ấy. Tôi muốn đi vào bóng đêm ấy để đuổi cho hết những ngôi sao xấu đã tạo nên nỗi đau thuơng của mẹ. Trời hỡi, làm sao tôi lay chuyển được, quay ngược được bánh xe của số phận? Chữ hiếu của Mục Kiền Liên ư? Nhưng mẹ tôi nào phải là người mẹ hung ác của Mục Kiền Liên?
 Ở đây, khép đời sống còn lại vào chiếc giường sắt chung quanh có “hàng rào” giống như giường bệnh viện, mẹ tôi có còn đi tìm những vì sao xấu, để tấm lòng thành đẫy rẫy thương yêu của bà tìm cách ngăn chận ảnh hưởng của những vì sao ấy, cho người chung quanh?
 Nhìn vào mắt bà, tôi thấy hết màđêm của bà, trong những ngày tháng này.
 Tôi có thấy màn đêm, mà không hiểu được màn đêm ấy chứa đựng những gì.
 Trong màn đêm của những ngày tháng này, tôi cố gắng mà không thể nào biết thật rõ, hay hiểu hết được tất cả những ước nguyện, những kỷ niệm hồi tưởng ngày xưa, hay những ý niệm của tương lai trước mắt, của mẹ tôi…
Màn đêm ấy là một vũ trụ bí mật, ngòai tầm tay vi hay tri thức của tôi.
 Mẹ tôi ở trong thế giới của riêng mình?
 Ôi, màn đêm của mẹ tôi …
 Tôi không có câu trả lời tại sao — ngôi sao nào đã quá độc ác với người mẹ hiền lành của tôi, nhưng sáu tháng vừa qua, tôi ở bên mẹ và nhìn thấy một hình ảnh màđêm khác, trong thế giới của riêng mẹ tôi, vsự thóai hóa sức khỏe và tuổi già của bà.
 Thế giới mới của mẹ tôi, thế giới chật hẹp quay chung quanh giường bệnh.
 Mới hay cũ, tôi cố nhìn màn đêm ấy trong tuyệt vọng. Tôi không còn muốn tưởng tượng, như đã tưởng tượng ra vũ trụ bao la trong đó mẹ tôi bước những bước nhẹ nhàng rón rén đi tìm sao, những lúc tôi đi đổ lộc Thánh xuống con rạch thành phố để làm vui lòng người mẹ hiền lành, học thức, sâu sắc nhưng mê tín vì bà đã chịu khổ quá nhiều trong đời, cho nên cảm thấy bất lực trước số mệnh và phải đi tìm một thế giới tâm linh ngoài phạm vi minh chứng của khoa học.
Nhưng rút cục thì tôi vẫn phải đối diện với màn đêm ấy, như chuyến tàu chuyên chở những hồi tưởng của mẹ tôi.
Bà là giáo sư Việt Văn và là người rất yêu thơ, mớm cho tôi không biết bao kiến thức văn hóa và văn học nguồn cội. Bà yêu thuơng cái đẹp của “li xưa xe nga hn thu tho” của “c cây xanh ngt mt màu xinh sao“.  Trong thế giới văn chương của bà, có hình ảnh của màn đêm. Của ánh trăng. Của thơ văn Hàn Mặc Tử một ngày “v thăm thôn V“.
 Bà xa xót cái không may của Thúy Kiều và bà chỉ nổi giận khi có ai khen tặng tôi “tài sắc.”
 Bà thích tôi ca hát như Jennette McDonald, như Thanh Nga, hơn là cãi vã lý luận trước tòa án, trong chính trường, chắc nịch, đanh đá như bà Ngô Đình Nhu.
 Mẹ tôi là người con gái mảnh mai của xứ Thần Kinh, mang theo tâm hồn giàu cảm lụy của xứ Huế và nỗi buồn ảo não của bà ngọai tôi.
 Mẹ tôi tốt với bạn hơn chính bản thân mình, cho nên ai bà cũng quen biết như “bà chủ nhật trình” hay “bà chủ nhà giây thép” (ngôn t mô tả nhng phụ n  giao tế rộng cuả x Huế, khác hẳn với tôi, rất hài lòng với bản mệnh là sao Vũ Khúc (ngôi sao chiếu  mệnh mang tính cách độc lập của những kẻ thích sống một mình).
Me tôi lấy chồng người Bắc di cư, cho nên bà đã mang luôn nỗi buồn xa xứ của bà nội tôi, khi người phụ nữ gánh gạo trên bờ đê phải rời bỏ ruộng lúa của đồng bằng sông Hồng vì bản án oan ức của thảm kịch “đấu tố” năm 1954.
Năm 1975, mẹ tôi đã phải bỏ cha mẹ ở bên kia bờ đại dương để theo chồng và các con vượt đường trường khi chiến tranh chấm dứt. Những ngày giờ của cuộc sống sau đó là những ngày giờ của nước mắt … Vậy mà mẹ tôi vẫn cố cười vui với bạn bè bà con. Trong những ngày tha huơng, bà lấy lòng thuơng yêu người mẹ chồng đức độ để tự an ủi cho sự trơ trọi của bản thân bà. Và lấy cái học của các con làm sự thôi thúc của con đường đi tới trước mặt trong xã hội Mỹ.
Khi mẹ chồng nằm xuống, mẹ tôi khóc mẹ chồng bằng bài điếu văn của đứa con dâu có nghĩa và có tài văn học.  Ai có lòng và biết gia đình tôi đều phải sa nước mắt khi đọc bài điếu văn này.  Nhng ngày m tôi lit giường lit chiếu, tôi thu dn phòng bà, và góp nht nhng t giy ri, trong đó có bài điếu văn này: mẹ tôi viết cho bà nội của tôi.  Mẹ tôi, người con dâu làm nghề dạy học, đã ghi lại thành văn nhng li bà ni tôi hay nói khi bà còn sống.  Tôi giật mình tìm thấy căn bản đạo đức cho cả một văn hóa tha hương, nằm ngay trong lời nói giản dị của người mẹ già đã từng gánh gạo trên bờ đê Việt Bắc ngày xưa, rồi mất tất cả và bà gánh nướtrên hè phố Sài Gòn để nuôi đàn con đi học, nhng ngàđu mi di cư vào Nam:
 “M ơi, lưu lc x người có bát cơđy nuôi thân là nh đc m.
Đàn cháu thành người hu dng nơi x người, là nh lc bà
 Li m dy:  “Giúp người ta, cho người ta, ko phi ti!” Vâng, nếu không giúp người,, tc là có ti vi tri.
 Li m nói v vic trông nom đàn cháu:  Có hoa mng hoa, có n mng n.”  Vâng, nuôi dy và lo cho con cháu bt k thân mình, đó là nhim v ca m già như k làm vườn: mng hoa, mng n ca trđt ban cho…”
 Khi mường tượng rng tôi gặp việc bất như ý trên đường công danh, không vui hay nản chí, mẹ tôi luôn nói:
 –Con ơi, “my k biết anh hùng khi v ng?
 Câu thơ Nguyễn Công Trứ mà bà đã giảng trong lớp học ở Việt Nam trở thành phương châm cho con gái bà. Tôi mang câu thơ ấy và lời nói dịu dàng của mẹ để tiếp tục bắt đầu trở lại sau những lần bỏ dở con đường công danh. Và tôi chua chát hiểu ra rằng, hình như anh hùng chỉ có thật  cõi đnày khi họ còn… vị ngộ!
Để tránh cho bà sự lo nghĩ và để…tiết kiệm thì giờ giải thích, tôi bắt buộc không cho phép mình tâm sự nhiều với mẹ.
Trong kiếp di dân ở Mỹ, sự xa cách giữa tôi và mẹ tôi là kết quả của con đường công danh và những thử thách mà tôi chọn lựa. Đến một lúc nào đó, mẹ tôi không hiểu và không biết tôi làm cái gì, động cơ từ đâu, như thế nào. Khi gặp tôi về thăm nhà, bà hay nói:
 –Con ơi, làm người, có số!
 Trong thế giới rất “Việt Nam hải ngọai” của bà, bà theo dõi chính trường, chọn những thế đứng rất rõ ràng về những vấn đề đạo lý.  Bà rất hay đi quyên tiền để giúp người nghèo ở Việt Nam, một công việc làm nhiều người kính phục mà cũng làm rất nhiều người khó chịu  —  đi này, ai là k thích m hu bao cho những người không quen biết chỉ vì một bà cụ già (thay vì một đoàn thể có tiếng tăm) đứng ra xin???  Dần dần thì thiên hạ hình như ai cũng biết mẹ tôi là người… dễ sai và hay đi làm việc…chùa.  Ai cũng có thể đem việc đến nhờ bà, và hình như chẳng bao giờ bà từ chối. Không nhng thế, người ta nh mphần thì m tôi vui v mà làm…mười phần. Bà lấy việc giúp người làm căn bản cuộc đời và làm niềm vui cho mỗi ngày trôi qua, dù rằng có rất nhiều ngày bà vẫn khóc vì những tâm sự riêng tư không lối thóat.
 Mẹ tôi hay khóc những ngày giỗ ông bà trước bàn thờ tổ tiên.
Khi quay trở về thăm lại quê cuối năm 1994 (năm tổng thống Clinton bỏ lệnh cấm vận của Mỹ ở Việt Nam), sau gần 20 năm, bà mới được khóc trước mồ cha mẹ.  Đó là lần đầu tiên và sẽ là lần cuối cùng.  Đó cũng là kỷ niệm hiếm có giữa mẹ con tôi.
 Y hệt như ngày mới ra trường làm cô giáo ở Hội An, mẹ tôi đã cởi áo len cho học trò nghèo, năm 1994, mẹ tôi, ở tuổi 60, trong chuyến về thăm quê, đã cởi áo ngòai, cởi đồng hồ, vòng đeo tay để cho người nghèo ở Việt Nam trên bước đường du hành.
 Bà cởi luôn đôi giày Reebox cho người bà con x Huế trước khi lên máy bay.
Về lại Mỹ, bà nhận việc đi trông coi cô giáo cũ ở Đồng Khánh  Huế bị bệnh Alzeimer’s, công việc làm khong phải vì tiền mà là vì tình nghiã. (Tôi chua xót tự hỏi:  Ngày nay, khi bà khắc khỏai trên giường bệnh, ai là kẻ ghé thăm hay trông coi bà, như bà đã chăm sóc cô giáo ca bà ngày xưa?)
Trong màn đêm, như cuốn phim, như chuyến tàu đi ngược dòng thi gian, tôi quay trở li 1975.
Đ nuôi con nuôi chồng những ngày đầu đến Mỹ, mẹ tôi đã đứng sắp hàng làm việc trong xí nghiệp, nai lưng bên cạnh với những con người xốc vác, sức khỏe như lực sĩ vượt hẳn bà trong môi trường làm việc chân tay. (Tôi vẫn nhớ hình ảnh mẹ tôi xanh xao đi bộ trên vỉa hè trong mưa tuyết của tiểu bang Bắc Mỹ, sáng sớm mỗi khi tôi đậu xe lề đường để bà vào xí nghiệp làm việc.)
Khi tôi tốt nghiệp cử nhân, thì bà không còn phải làm việc chân tay  xí nghinữa.  Tôi đi làm để bắt đầu dành dụm tiền giúp bố mẹ mua căn nhà đầu tiên, và bắt đầu theo đuổi công danh cho riêng mình, không còn sự che chở của mẹ.
Khoảng cách bắt đầu t đó, và mẹ tôi không còn nắm vai trò hướng dẫn công danh cho tôi được nữa.
Không quay trở lại nghề dạy học, mẹ tôi trở thành nhân viên Bộ Xã Hội, một nghề nghiệp rất thích hợp với bà, cho đến khi bà mang bệnh hiểm nghèo … Bà đi một mình vào nhà thuơng để làm giảo nghiệm (biopsy), rồi từ đó bác sĩ giải phẫu mang bà vào thẳng phòng mổ, một mình, không ai biết. Khi tôi biết thì mẹ tôi vẫn còn hôn mê trong phòng hồi sinh.  Tôi là người đầu tiên đứng bên giường hồi sinh khi mẹ tôi mở mắt. Hai dòng nước mắt chảy dài trên gương mặt hốc hác của bà khi bà nhận ra tôi. Đó là những ngày tôi bắt đầu học luật (và đi làm full-time, bước đầu theo đuổi công danh). Ngày đầu tiên vào giảng đường lớp Luật đầu tiên là ngày mẹ tôi rời phòng hồi sinh, và tối hôm đó, tôi gối đầu lên cuốn sách luật ngủ dưới chân giường bệnh viện của mẹ.
Sau đó là những tháng ngày đau khổ của mẹ tôi.  Bà rụng hết tóc, không còn đi đứng vững, nhưng mẹ tôi can đảm tự chăm sóc lấy mình chống trả bệnh nan y, để con gái rảnh tay đi học. Tôi là người dẫn mẹ đi mua tóc giả và các dụng cụ cần thiết cho người bệnh. Ngày hạnh phúc đầu tiên là ngày tôi dẫn mẹ đi ăn nem nướng  mtrong những tiăn Việt Nam đầu tiên của thành phố, sau một thời gian dài bà nôn mửa không ăn được …
 Suốt đời, mẹ tôi can đảm chiến đấu với bệnh tật, với những tai nạn hiểm nghèo, và mang trong tim nỗi đau đớn tinh thần, sự chịu đựng của phụ nữ Việt Nam: đi vi tôi, cuôc chiến đấu của bà còn dũng cảm hơn võ sĩ của đấu trường La Mã …
Sức khỏe èo uột, nhưng mẹ tôi rất dai sức và có óc khôi hài.  Bà nói chuyện rất văn chương, thành thật, tinh ý, và nhạy cảm.  Bà thông minh và biết xoay xở tình thế, nhưng luôn luôn nhận chịu sự thua thiệt vì bà không thể ăn thua với người chung quanh.
 Khi nói về bố tôi, có lần bà ngậm ngùi:
 –Suđi, ch còn ly cái hđ leo bước thang xã hi
Tôi n lnh toàn thân:  bà nói v chng, hay nói v đa con gáđu lòng chính là tôi, hay v nguyên c mt văn hóa nhược ticủa nguồn cội, nguyên cả một quá trình lập nghiệp và những mộng ước của s kiếp di dân?
Về những nỗi buồn tinh thần của bà, thì tôi chỉ có thể nói một câu: Mẹ tôi rất ủy mị, rất yếu ớt, nhưng cả đời, bà đã đưa tấm thân mảnh dẻ cua mình ra nhận lãnh tất cả những ngôi sao xấu cho chồng con, đến từ chồng con.
Tôi, đứa con gái hiểu cuộc đời của bà nhiều nhất, biết tất cả những niềm đau của mẹ, cũng không tránh được việc làm cho mẹ phải lo âu phiên não vì những sự chọn lựa khác thuờng của tôi. Khỏang cách giữa tôi và mẹ chính là nỗi buồn tôi đã mang vào đời mẹ, tạo thành một phần trong màđêm của mẹ.  Và mẹ tiếp tục lo lắng cho tôi: từ miếng ăn, sc khe, cho đến ngôi nhà bỏ hoang khi tôi đi vắng, cho đến tiếng bấc tiếng chì trong cộng đồng di dân.
Nỗi lo lắng tiếp tục cho đến ngày bà liệt giường liệt chiếu…
Tôi biết rằng, trước cơn hon nn cui cùng, kể từ 1975, hình như mẹ tôi mang bệnh mất ngủ và gần như uống thuốc triền miên, dù bà vẫn nói cười và hết lòng trong việc từ thiện …
 Màn đêm của mẹ tôi: hình ảnh người phụ nữ Việt Nam mang trái tim tha thiết vì tha nhân, cặm cụi đi tìm tia chiếu của những ngôi sao xấu, để mang tấm thân mình ra làm bình phong ngăn chận những tia chiếu vô cùng hung hãn ấy. Lúc nào bà cũng chịu thiệt thòi cho tha nhân được huởng phần hơn. Và bà gọi đó là tình bạn, tình người ….
Những ngày tháng mẹ tôi liệt giường liệt chiếu vẫn tiếp tục trôi qua. Những người đã chịu ơn sự giúp đỡ của bà, người Mỹ có, người Việt có, lần lượt đến thăm… Có người ghé thăm rồi thảng thốt và mủi lòng đứng khóc.  Nhưng ri, càng ngày càng thưa thớt đi, những thắm thiết và bịn rịn của  mọi ngườchung quanh.
Còn lại là màn đêm của bà, và đứa con gái đầu lòng là nhân chứng bất đắc dĩ của màn đêm ấy.
Mẹ tôi chỉ còn có 74 pounds, bà không thế gượng ngồi dậy một mình. Bà không thể xoay đổi thế nằm. Phải có người bế, có người đẩy. Nhưng khi được mang ra ngồi ở bàn ăn, mẹ tôi nắm lấy cạnh bàn để ngồi cho thẳng. Rồi bà đan hai tay vào với nhau, để ngay ngắn trên bàn —  phong cách ngồi của một cô giáo, không phải của người đầu hang trước sức khỏe èo uột, hay gục ngã trước căn bệnh trầm kha.
Tôi vẫn làm người đầy tớ trung thành cho mẹ. Vẫn chăm chú nhìn đôi môi run rẩy của mẹ hé mở đón từng muỗng cháo, từng miếng trái cây đã cắt nhỏ hoặc xay mềm. Vẫn mừng rỡ cho mẹ thải ra được chất nhơ qua hệ thống tiêu hóa.
Tôi chống đỡ với số mệnh. Tôi làm người “cắt sao” cho mẹ tuy không bước chân vào đền thánh, không còn đeo mang lộc thánh” để chia xẻ với những linh hồn côi cút trong thế giới siêu hình.
Và tôi vẫn bắt gặp, vẫn nhìn thấy ánh mắt chăm chú hết gan hết ruột của mẹ trong màn đêm, dưới ánh đèn mờ … ánh mắt thăm thẳm như cả một vũ trụ đối diện người phụ nữ vì thuơng chồng con và hết lòng với mọi người  mà lần mò trong bóng đêm để đi tìm những vì sao…
Ngày lại ngày, mẹ tôi vẫn thường mở mắt lúc nửa đêm, hay lúc trời tờ mờ sáng, những khi tôi phải thức dậy làm vệ sinh cho bà trong ánh đèn leo lét.  Đôi mắt bà nói lên cả ngàn lời mà tôi không nghe được
Bà đã thao thức từ bao giờ?  Màn đêm ấy bao phủ bà như thế nào?  Đâu là giải ngân hà bằng tâm thức?
Càng suy nghĩ về mẹ tôi, tôi càng tin tưởng rằng: Trong kiếp này, mẹ tôi đã tạo được cho chính bà một giải ngân hà kết toàn bằng những vì sao thánh thiện, sẽ che chở cho tấm thân nhỏ bé và trái tim vô cùng vị tha của bà.  Suốt cuộc đời, mẹ tôi chưa hề làm ác hay hại ai bao giờ.  Bà cho đi rất nhiều mà nhận chẳng bao nhiêu. Nếu có trách móc ai, đó chỉ là lời mẹ tôi than thở về định mệnh: số kiếp của những kẻ giàu tri thức, giàu tình cảm, nghèo vật chất, có tất cả, mất tất cả, hay cho đi tất cả, chung quy cũng chỉ là sự chịu đựng tia chiếu của các sao Địa Không, Địa Kiếp!!!
Có chăng, chỉ là câu than thân trách phận của người phụ nữ Việt Nam, khi phải một mình đi tìm cắt những vì sao…
 Rồi từ đó, từ khái niệm của màđêm thời điểm này, tự nhiên tôi bắt đầu đi tìm mua cho mẹ những món đồ dùng hàng ngày có mang theo hình ảnh hoa hướng dương: tôi chỉ có thể tìm thấy ít chén bát, khăn ăn, khăn lau mặt…
Tôi loay hoay muốn có hình ảnh của hoa hướng dương chung quanh thế giới cô đọng vào chiếc giường bệnh của bà. …Tôi không muốn đi hái hướng dương ở ngoài đồng hay mua ở tiệm, vì e rằng phấn hoa có thể làm mẹ tôi bị khó khăn hay gây ô nhiễm đường hô hấp. Tôi sẽ phải quay về với nhũng cánh hướng dương tưởng tượng trong thế giới sáng tạo của hội họa.
Tại sao lại là hoa hướng dương?
Tôi suy nghĩ mãi về màn đêm của mẹ tôi và cho rằng con đường của mẹ tôi đi tìm những vì sao ác tính để cắt bỏ chúng, bắt buộc phải có sự hướng dẫn của một nguồn ánh sáng rực rỡ, trong lành. Tôi kết luận rằng nguồn ánh sáng ấy đến từ trái tim vượt bực của mẹ tôi. Với nguồn sáng ấy, màn đêm, sự lẫn lộn giữa sao ác và sao hiền trong vũ trụ bao la dầy đặc một màu đen kia sẽ trở thành vô nghĩa lý.  Sự khác biệt hay ngăn chận giữa sao tốt, sao xấu bằng một giải ngân hà tốt đẹp sẽ không còn cần thiết nữa nếu mẹ tôi nương theo nguồn ánh sáng trong lành của mặt trời để cắt bỏ tất cả những vì sao hung hãn.
Cánh hướng dương ca m tôi nm ngay trong tâm khm ca bà: ý nicủa lòng thành tuyệt đối, đã thôi thúc bà không quản ngại đi vào vũ tr ti tăđ cầu xin sự buông tha của các vì sao xấu,  để ngăn chận những tai ương của định mệnh, tất cả cho người chứ không phải cho mình.
Ấy thế mà trong những chuỗi ngày mẹ tôi liệt giường liệt chiếu, như một định mệnh oan nghiệt tạo ra bởi những vì sao xấu – những oái oăm tôi không thể ngờ tới, những khúc quanh tôi không muốn giải nghĩa cho tha nhân —  tôi đã phải để mẹ tôi nằm một mình với màđêm của bà. Nhng vì sao đc vn còn ng tr nhưng mẹ tôi sẽ không còn hay biết nữaTôi trở thành người chống đỡ tia chiếu của những ngôi sao ác độc hướng vào bà và vào tôi – tôi biến tôi thành tấm bình phong che chở, để bà được yên bình không biết gì về những thầm kịch của cuộc đời chung quanh vẫn còn tiếp tục.  Thay vì khóc lóc, tôi chỉ còn biết đem đến để chung quanh mẹ một vài món đồ mang hình ảnh đẹp của hoa hướng dương.
Để tiếp tục bước đi, tôi phải tự cho rằng mình là kẻ độc hành, kẻ mồ côi,  không còn mẹ để chia xẻ những đau đớn trong đời, dù rằng mẹ tôi vẫn mở mắt nhìn đêm tối.
Những óai oăm, oan nghiệt của cuộc đời ấy đang tiếp tục xảy ra chung quanh cái giường sắt kiểu bệnh viện tại gia của bà.  Nếu tôi ghi tất cả vào một cuốn nhật ký, thì đó sẽ là cuốn nhật ký cần đem đi đốt, để tro bụi của những trang giấy bi thảm ấy sẽ không làm vướng bận đến giấc ngủ và trái tim mang bông hoa hướng dương của mẹ tôi.
Tôi nghĩ rằng những khắc nghiệt bất công của cuộc đời, những độc dược đến từ con người, chính là mớ tro bụi ấy. Tôi sẽ không bao gi để cho mớ tro bụi ấy vướng lụy đến chỗ nằm thánh thiện của mẹ tôi.
Và tôi vẫn tiếp tục cầu mong cho mẹ tôi lành bệnh, được chừng nào hay chừng ấy. Tôi tin vào sức sống bền bỉ của mẹ tôi (life force), tin chất mầu nhiệm của sự nhiệm mầu (the miraculous nature of miracles). Và tôi vẫn tin tưởng y khoa. Nhưng tôi cũng chấp nhận rằng,  kiếp này, chắc tôi không bao giờ còn được dịp đưa mẹ đi cắt sao buổi tối ở đền Thánh.  Tôi không còn được giúp mẹ đem thảy lộc Thánh vào con rạch giữa thành phố, trong màn đêm.
Tôi chỉ còn có thể nhớ mãi ánh mắt của mẹ tôi chăm chú nhìn tôi khi tôi thức giấc làm vệ sinh cho bà và đó sẽ là hành trang còn lại độc nhất trên con đường thiên lý tôi đi. Trên con đường ấy, tôi chỉ có thể giữ lại cho bà, và cho mình, cánh hướng dương độc nhất. Cánh hướng dương không bao giờ tàn phai, vì ánh sáng của nó là muôn thuở. Nụ hướng dương ấy nở tung trên những ngón tay gầy guộc của mẹ tôi đi tìm những ngón tay của tôi dưới nếp chăn hay níu vào thành giường những ngày mẹ tôi liệt giường liệt chiếu. Đóa hoa nở tung trên khóe mắt xúc tích của bà. Nó tạo nên nụ cười trên đôi môi của bà, những buổi sáng trên giường bệnh, bà thức dậy và nhìn thấy tôi. Nụ hoa hướng dương ấy sẽ là giải ngân hà cho chặng cuối đời bà, sáng óng ánh giữa màn đêm dày đặc.
Tôi nh mãi giây phúsau đây, trong nhng ngày tháng săn sóc m:
M quay qua bên này vi con,” tôi nói với bà một buổi sáng đứng bên cạnh giường.
I don’t know how to “qua,” bà trả lời bằng tiếng Anh, nhưng lại dùng ch “qua” tiếng Việt.  (Câu nói rất ngộ nghĩnh.  Điều này nói lên tình trạng bệnh lý của bà:  Khi một số tế bào não phia dưới, bên trái, đã mai một hay bị hư hại, trí nhớ gần (recent memory) và s điều động khả năng ngôn ngữ bị xáo trộn hay rối loạn.)
Đôi tay gầy guộc của bà di động dưới tấm chăn như những lúc tôi nằm ôm mẹ, và tay tôi đi tìm tay bà.  Rồi bà ngơ ngác nhìn tôi, đưa đôi tay gầy guộc ra trước mặt để phân bày.  Như một trẻ thơ…Và rồi đôi tay gầy guộc ấy níu lấy thành giường để giúp tôi đẩy bà, vì bà biết bà không tự xoay người được na.
 Tấm chăn và thành giường trở thành giải ngân hà cho mẹ tôi bám víu???
 Giải ngân hà ở đâu, mẹ yêu thuơng của con?
 Ở đây, ở nụ hướng dương quý báu của mẹ.
 Tôi đã có câu trả lời, cho dù tôi rơi lệ.
Nụ hướng dương bất tử, ươm mầm, đến từ trái tim sáng ngời của mẹ tôi, nở trên những ngón chân yếu đuối, những ngón tay gầy guộc, mi mắt và khóe môi nhăn nheo, trên lồng ngực mỏng manh như tờ giấy của bà.
Nụ hướng dương sẽ chẳng bao gi tàn … cánh nở tung, rồi sẽ khép, quay về, lại bắt đầu ươm nụ, và bất tử, ở khởi điếm bắt đầu hay cu cánh cui cùng, tất cả tr thành mt vòng tròn như luân hồi của đạo Phật, như giải ngân hà vòng quanh mặt đất bao bọc con đường đi của bà.
Nụ hướng dương làm rực rỡ màn đêm, vượt tất cả các vì sao. Xấu hay tốt, các vì sao sẽ nghiêng mình, lu mờ trước cành hướng dương rực rỡ.  Mẹ tôi sẽ không còn phải mò mẫm trong màn đêm của vũ trụ đảo điên để ngăn chận ánh sáng mục rửa của cái ác.
Ở đó, trên cành hướng dương, mẹ tôi tìm thấy hạnh phúc, yên bình, và sự che chở.
Nụ hướng dương bất tử ấy……
 … chính là trái tim, TÂM THIỆN,* của mẹ tôi.

Dương Như Nguyện

 * Ngày xưa ở chùa Từ Đàm, Huế, mẹ tôi cho tôi, đứa bé lên bốn, quy y nhà Phật, lấy pháp danh là TÂM THIỆN.

NHỮNG CỖ QUAN TÀI CỦA TĨNH TÂM

download

Dương Như Nguyện

Tên thật Dương Như Nguyện, bút hiệu Uyên Nicole Dương, Nhung-Uyen, sinh tại Hội An Quảng Nam. Lớn lên ở Huế và Saigon.
Tháng ba năm 1975 được giải danh dự Văn chương Phụ Nữ Hai Bà Trưng của Việt Nam Cộng Hòa.
Hiện định cư tại Hoa Kỳ. tốt nghiệp cử nhân báo chí tại đại học Southern Illinois, tiến sĩ Luật tại đại học Houston, và thạc sĩ Luật tại đại học Harvard ( Harvard Law Shool, Cambridge, MA). Năm 1992, được Luật Sư Ðoàn Nước Mỹ (ABA) tuyên dương như Là nữ thẩm phán đầu tiên thuộc người thiểu số tại Hoa Kỳ, cùng với những người nữ thiểu số tiên phong khác trong ngành Luật (Từng làm việc tai Houston, Texas). Ðọc, nói và viết hai ngoại ngữ: Anh và Pháp. Viết văn và làm thơ sử dụng hai ngôn ngữ: Việt và Anh , bài đăng trên các báo Sóng Văn, Văn, Văn Học,Wordbridge, điện báo The Writers Post, Pacific Rim Law & Policy Journal, University of Pennsylvania Journal of International Economic Law, Currents, Texas Transnational Quarterly. Truyện ngắn Anh ngữ “The young woman who praticed singing” đăng trên Sóng Văn (1988, bút hiệu Nhu Nguyen Nicole) được 2 giải thưởng, một trong hai giải này là giải Stuart Miller Writing của Luật sư đoàn Hoa Thịnh Ðốn (District of Columbia Bar Association) (1988). Truyện ngắn Anh ngữ “The Ghost of HaTay,” được đề cử cho Giải Columbine, tại Moondance Fim Festival 2001.

Tác phẩm đã xuất bản:

Mùi Hương Quế (truyện ngắn, Văn Nghệ, 1999)
Chín Chữ Của Nàng (Văn Mới, 2005)
Daughters of the River Huong, (tieu thuyet, viết bằng Anh ngữ, RavensYard Publishing, Ltd., 2005).
Con Gái Sông Hương (2005)

Đau đớn thay phận đàn bà…..
Nguyễn Du

Người đàn bà đẹp đầu tiên tôi gặp trong đời là bà ngoại tôi. Khi tôi có trí khôn thì bà ngoại tôi đã ngoài sáu mươi tuổi. Ở tuổi đó, người bà vẫn thẳng, tóc dài gần chấm đất, tuy đã muối tiêu nhưng vẫn còn óng ả, lướt thướt. Bà có chiếc mũi dọc dừa, gò má cao, cặp môi mỏng và cong, rất hiếm thấy trên những khuôn mặt phụ nữ thuần túy Việt Nam.
Bà ngoại tôi pháp danh là Tĩnh Tâm. Tên thật của bà là Hương Quế. Xứ Huế đã đặt cho đàn bà những cái tên đẹp lạ lùng: Dạ Khê, Tiểu Bích, Tú Thiềm, Phiến Tuyết, vân vân.

Mọi người chung quanh cho rằng bà ngoại tôi là một người đàn bà khó tính, khắc nghiệt và lạnh lẽo Bà có một chứng bệnh không bác sĩ nào chữa được. Đó là bệnh nóng cổ. Cổ bà nóng và rát, làm bà ray rứt, khó chịu, ăn ngủ không được, người đâm bẳn gắt. Bà ngoại tôi rất chiều con cháu, nhưng hay la mắng, rầy rà gia nhân. Mẹ tôi là con độc nhất của bà. Gả mẹ tôi cho ba tôi là người Bắc, bà ngoại tôi luôn luôn mang nỗi buồn phải xa đứa con một.

Tôi chưa hề thấy bà ngoại tôi khắc nghiệt hay lạnh lẽo. Bà ngoại thích coi cải lương, say mê. Nhiều khi xúc động, khóc sụt sùi . Con người tình cảm ấy không thể nào khắc nghiệt hay lạnh lẽo. Khi bà la mắng người làm, giọng bà như độc thoại, buồn như một điệp khúc than thở, không hề có tính cách đay nghiến của một người chủ thiếu lòng nhân. Lúc về già, người độc nhất mà bà cằn nhằn là ông ngoại tôi. Nhiều khi không duyên cớ. Ông ngoại tôi người nhỏ bé, tính vui vẻ, hồn nhiên. Bà con gọi đùa là Lão Ngoan Đồng như trong truyện kiếm hiệp. Khi bà ngoại tôi càu nhàu, ông ngoại tôi chỉ phớt tỉnh, ngồi đọc báo.

Mẹ tôi kể cho tôi nghe cuộc đời bà ngoại . Bà chỉ có một người chị gái. Hai chị em con quan xứ Huế, gia đình phong lưu trưởng giả. Người chị gái, bà Ấm, lấy chồng đông con nên vất vả. Bà ngoại tôi lấy ông ngoại tôi là con quan, được đủ miếng ăn thì lại phải chịu những đau đớn khác.

Ngoài cảnh làm dâu trong chế độ gia đình phong kiến, bà ngoại tôi là một người mẹ xấu số. Đẻ ba con trai đều chết cả ba. Mẹ tôi thì èo uột, hay đau ốm. Bà ngoại phải đem cho chùa, đổi tên, cho thần thánh khỏi bắt đi. Vì không có con trai, bà phải cưới vợ hầu cho ông ngoại rất nhiều lần. Mẹ tôi kể có lần bà phải nằm giường sát phòng hợp cẩn của ông ngoại và người hầu trẻ. Ông ngoại tôi là một thứ “ông phán” phong nhã, hào hoa, có không biết bao nhiêu vợ hầu vợ lẽ. Không có con trai, bà ngoại tôi phải nuôi con nuôi, hoặc con trai của những người vợ hầu. Những người con trai này lớn lên (trừ người con út) đều phụ công nuôi dưỡng của bà ngoại tôi mà đi.

Thuở nhỏ tôi không hiểu được lòng ưu uất của người vợ lớn là bà ngoại tôi, cũng như nỗi cô đơn của bà. Ở tuổi thơ ấu, tôi không hiểu được căn bệnh nóng cổ của bà. Mẹ tôi bảo bà tưởng tượng ra bệnh. Tôi thì cho rằng bà nóng cổ vì hay hút thuốc Cẩm Lệ.

Tôi lớn lên trong lòng thương và tình quyến luyến của bà ngoại. Có lẽ tôi đã lây tính đa sầu, đa cảm, hay khóc thương phận người của bà. Tuy trí óc non nớt, tôi cũng biết bà ngoại là người hay phiền muộn. Bà thích tôi ngồi coi cải lương với bà, một điều mà bố tôi cấm đoán. Tôi tự cho mình là người bạn nhỏ của bà. Tôi tự nguyện lớn lên sẽ làm cô giáo, mua nhà ở Huế cho bà ngoại ở.

Tôi nhớ mãi có lần tôi bắt gặp bà ngoại tôi nhỏ lệ, không phải vì tuồng cải lương hay vì giận ông ngoại nước mắt bà thấm ướt mái tóc dài. Tay bà run rẩỵ Bà kể cho tôi nghe về một hình ảnh mà lâu lâu bà vẫn thấy trong một giấc mộng đã ám ảnh bà cả đời. Bà dặn dò tôi đừng kể cho ai nghe, kể cả mẹ tôi.

Trong giấc mộng ấy, bà ngoại tôi, người đàn bà đẹp xứ Huế mang tên Tĩnh Tâm, ngồi một mình bên một dòng sông tĩnh lặng. Có thể là dòng Hương Giang, có thể là con sông Bến Ngự, hoặc có thể là khúc sông chảy qua làng Cồn. Trên dòng sông, có những cỗ quan tài trôi từ từ, lặng lẽ.
Người đàn bà ngồi đợi để vớt những cỗ quan tài.

Giấc mộng chỉ đến đó thôi rồi bà ngoại tôi tỉnh dậy.
Bàn tay nhỏ bé của đứa cháu gái là tôi lau nước mắt cho bà ngoại tuổi ngoài sáu mươi. Tôi không thấy sợ, chỉ thương bà ngoại tôi nằm thấy ác mộng. Cơn ác mộng lặng lẽ và im lìm, không tiếng động.
Càng lớn, tôi càng nhớ mãi về giấc mộng của bà ngoại tôi. Có lần tôi hỏi, “Ngoại có biết trong quan tài có gì không?” Bà lắc đầu, không nói. Cái lắc đầu của bà có nghĩa gì tôi không rõ. Bà không biết trong quan tài có gì, xác của người thân, xác của người lạ? Hay là bà lắc đầu vì không muốn trả lời câu tôi hỏi.

Tôi vẫn thắc mắc mãi tại sao bà ngoại tôi nằm mộng thấy quan tài? Tại sao bà mang nhiều phiền muộn? Bà tương đối là được sung sướng vật chất và đời sống được bảo đảm. Trong khi cả nước khổ cực theo chiến tranh, theo nạn đói năm Ất Dậu, theo cuộc kháng chiến chống Pháp và những ngổn ngang của lịch sử thì bà ngoại tôi vẫn may mắn làm người thiếu phụ quý phái đất thần kinh.

Năm mười lăm tuổi, tôi đủ thông minh để phỏng đoán là những cỗ quan tài trong giấc mộng tượng trưng cho những cái chết của ba người con trai bà. Không có con trai là thảm kịch của cuộc đời bà ngoại tôi. Có thể những cỗ quan tài ấy tượng trưng cho nỗi đau khổ của bà khi phải chứng kiến những cái chết của những đứa con trai nhỏ vì bệnh sài kinh. Chung là sự hủy diệt sức sống và lẽ an vui của đời bà. Không có con trai, bà sớm mất tư thế trong gia đình. Nghe chuyện, tôi cảm thấy bất mãn cái vô lý, vô nhân của một xã hội chuyên chế đã gây nên sự đau buồn cho bà ngoại. Đồng thời, giấc mộng của bà làm tôi suy nghĩ đến cuộc đời của những phụ nữ Việt Nam khác trong dòng họ tôi.

Trái với bà ngoại tôi, bà nội tôi không có một cái tên quý phái. Bà nội tôi là con một ông cụ đồ hay chữ. Bà thấp lùn, mặt tròn trịa, phúc hậu, tính tình đơn giản, nhu mì, không bao giờ bẳn gắt. Lấy ông nội tôi là người chủ ruộng, bà nội tôi phải làm việc vất vả, quán xuyến việc đồng áng, nhà cửa. Rồi hai ông bà bỏ hết của cải, ruộng vườn di cư vào miền Nam. Lúc mới vào Sài Gòn, bà tôi phải đi gánh nước thuê, hằng ngày phải dậy từ ba giờ sáng đi bán xôi rong để nuôi gia đình cho đến khi bố tôi được bổ đi dạy. Bố tôi bảo bà nội lùn xủn vì suốt đời phải gồng gánh bưng xách. Những gồng gánh bưng xách đã hủy diệt sức lớn trong xương cốt của bà từ thuở còn là thiếu nữ.
Càng về già, bà nội tôi càng say sưa kể lể những chuyện quá khứ ở miền Bắc Việt Nam. Bà là nạn nhân của tục tảo hôn. Bà bị gả cho một cậu bé trai lên bảy. Buồn tủi, bà trốn bền nhà cha mẹ . Rồi sau, bà lấy ông nội tôi là con nhà địa chủ. Bà phải làm dâu, cũng phải để ông nội tôi lấy vợ bé, và phải tảo tần sương gió. Sinh đẻ cả hơn mười lần, chỉ nuôi được năm. Trong cuộc chiến tranh Việt Pháp, người con gái đầu lòng của bà, cô cả chị bố tôi, bị tử nạn năm hai mươi tuổi. Cô cả là người phụ nữ học thư’c, làm nghề y tá, nói tiếng Pháp thạo.

Ngày còn là học sinh ở Việt Nam, tôi vẫn suy nghĩ mãi, không hiểu tại sao trong cuộc đời bà nội tôi cũng có những cái tang đau khổ, những biến cố đánh nặng vào đầu óc, vậy mà bà nội tôi không mộng thấy quan tài. Hay là bà nội tôi cũng có nằm mộng đấy, mà không kể lể, khóc thương?

Chiếc quan tài ám ảnh tuổi thơ của tôi cùng với hình ảnh những người đàn bà khác trong họ. Tôi có người cô họ, tên Oanh, năm hai mươi hai tuổi thì chồng chết trận. Cô than khóc, vật vã, gào thét, vất vưởng, mắt lạc thần cả mấy năm sau đó. Trong họ hay bảo: cô khật khùng vì đau khổ. Tôi có người dì họ, tên Thanh, chồng chết đã lâu. Bà ngồi bán nón ở chợ Đông Ba, Huế để nuôi con. Đứa con trai của bà chết trận. Quan tài của con chở về, bà cũng khóc lóc, vật vã, khật khùng như cô Oanh. Chứng kiến nỗi đau khổ của họ, tôi vẫn tự hỏi không biết rồi họ có nằm mộng thấy những cỗ quan tài trôi lềnh bềnh trên sông như bà ngoại tôi?

Cũng năm mười lăm tuổi, tôi đọc cuốn Phái Thứ Hai (Deuxième Sexe) của nhà văn Pháp Simone de Beauvoir, tình nhân của triết gia Jean Paul Sartre. Trí óc tôi chưa đủ phát triển để hấp thụ hết cái thuyết tranh đấu cho nữ giới trong tác phẩm của de Beauvoir. Nhưng tôi đã đủ lớn không để nhận thức rằng trong tác phẩm của nhà văn nữ này, không có cái ám ảnh đau thương của những cỗ quan tài như trong giấc mộng của bà ngoại, không có những gồng gánh, bưng xách đến lùn cả người như trong đời bà nội tôi, cũng không có những cỗ quan tài bọc cờ và những cơn vật vã, khật khùng của cô Oanh và dì Thanh. Những phụ nữ Âu Mỹ tranh đấu để được quyền. Còn những phụ nữ trong gia đình tôi phấn đấu để sống còn, và sống là sống cho người chứ không phải cho mình. Tôi tự hỏi tại sao trên mặt đất này mà những mẫu người đàn bà được Simone de Beauvoir phân tích là tác phẩm của trí tuệ và ý thức, còn những người đàn bà thân yêu trong đời tôi là tác phẩm của nước mắt chảy ngược vào lòng?

Tháng tư năm bảy lăm, bố tôi mang vợ con, cha mẹ và anh em vào phi trường Tân Sơn Nhất để đợi máy bay sang Mỹ. Dĩ nhiên là ông bà ngoại tôi ở lại Sài Gòn chứ không thể nào theo con gái và gia đình con rể. Cuộc ly biệt quá ngắn ngủi, vội vã. Để tránh xu’c động, ông ngoại tôi lánh mặt con gái, con rể, và các cháu. Mẹ tôi cũng tránh vương vấn chia tay với ông bà ngoại, và tôi cũng thế. Tôi nhớ mẹ tôi gọi bà ngoại vào trao tay hòm chìa khóa thay thế lời từ biệt.
Bố tôi dùng xe hơi chở gia đình vào phi trường. Không hiểu vì sao, tôi tình nguyện lái Honda PC theo sau. Tôi nhớ mãi hình ảnh bà ngoại tôi đứng ngơ ngác bên cửa sổ sân nhà, không dám hỏi chuyện để tránh xúc động khi những người thân của bà đang tíu tít xưa xoan cho cuộc hành trình vô định. Bà đội nón lá như lúc đi chợ, tóc muối tiêu búi đàng sau, đôi mắt buồn như muốn khóc.
Đó là lần cuối cùng tôi nhìn thấy bà ngoại tôi.

Bây giờ tôi đã lớn, tôi không làm cô giáo. Tôi không ở Huế và bà ngoại tôi đã chết.
Một buổi chiều mùa hạ năm bảy chín, tôi theo một người bạn trai Mỹ làm nghề phó nhòm, muốn chụp ảnh tôi để “lăng xê” tôi làm người mẫu. Tôi gọi điện thoại về nhà, thì bên kia đầu dây mẹ tôi tức tưởi: “Con ơi, bà ngoại chết rồi!”. Tự nhiên trong bụng tôi đau nhói như có mũi dao đâm. Tôi không khóc nhưng lần đầu tiên trong đời, tôi có cảm giác gọi là “đau như đứt ruột”.
Bà ngoại tôi chết trong đau đớn vì bạo bệnh mà không đủ thuốc men. Bà mất đi không một lần thấy lại đứa con gái thân yêu, con rể, và các cháu ngoại, nhất là đứa cháu đã chia sẻ những giọt nước mắt với bà.
Cái chết của bà ngoại làm tôi thấm thía thêm ý nghĩa “sinh ly tử biệt”. Lần cuối cùng nhìn bà ngoại buổi chiều tháng tư năm bảy lăm, khi bà tần ngần đứng bên cửa sổ nhìn con cháu ra đi là ý nghĩa nỗi khổ “sinh ly”. Và tin bà chết ở bên kia bờ đại dương là ý nghĩa niềm đau “tử biệt” . Tôi tự an ủi nghĩ rằng tôi không phải là người độc nhất thấm thía cái đau sinh ly tử biệt. Mà đó là cái đau chung của cả một dân tộc kém may mắn trên bản đồ thế giới. Nô lệ và chiến tranh. Một cơn lốc chính trị xoay chuyển cả nguồn gốc của một văn hóa nghèo, chậm tiến. Trong phần tư thế kỷ mà hai lần di tản cả triệu con người, vượt đường trường, vượt đại dương.

Tôi vẫn tự hỏi trong thời gian chúng tôi ở Mỹ, và bà ngoại sống thiếu thốn ở Việt Nam, không biết bà có nằm mộng thấy những cỗ quan tài trôi sông, và bà có thấy những gì bên trong cỗ quan tài đó ? Điều đó bà chưa hề hé môi chia sẻ với tôi. Hay với bất cứ ai, kể cả chồng con.

Năm một chín chín mươi, tôi có một hồi rảnh rỗi trong nghề nghiệp để đọc lại văn chương Việt Nam. Lần đầu tiên, tôi ngồi đọc hết mấy ngàn câu Chuyện Kiều, để ngẫm nghĩ về nước mắt, định mệnh, và sự phấn đấu của cô Kiều, về thân phận người đàn bà mà Nguyễn Du thương xót như thương xót chính thân phận tài hoa kẻ sĩ, và nỗi cô đơn tột độ của người thức giả:

Bất tri tam bách dư niên hậu
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như

Cũng năm đó, vô tình tôi đọc một truyện ngắn của bà Bùi Bích Hà, làm tôi nhớ giấc mộng mộng của bà ngoại. Tôi không biết là truyện có thật hay không? Nhà văn kể lại truyện của một người đàn bà Việt Nam đi vớt xác con trên đường đi vượt biển. Truyện làm tôi bàng hoàng, nhắc tôi nhớ hình ảnh người đàn bà chịu đựng, ngồi một mình chờ những cỗ quan tài lềnh bềnh trên sông. Những cỗ quan tài của Tĩnh Tâm.
Tôi đi tìm một cuốn sách tâm lý giải mộng của Tây phương. Trong cuốn sách đó, tác giả bảo nằm mộng thấy quan tài là cảm giác bất an của người bị đe dọa bởi thiên tai, đại họa, sự trừng phạt vô cớ của định mệnh, hoàn cảnh, ở ngoài khả năng và quyền hạn của con người, không đo lường được.

Cuối năm đó, có lần tôi ra đứng bên bờ Đại Tây Dương, ngắm tượng Nữ Thần Tự Do khi thành phố Nữu Ước lên đèn. Gió lành lạnh. Hình ảnh người phụ nữ cầm chiếc đuốc soi bờ đại dương sừng sững một mình tự nhiên làm tôi nhỏ nước mắt.
Tôi không biết mình nhỏ nước mắt vì ai, cho ai. Tôi đâu dám bắt chước con người tài tử Nguyễn Du khóc người ba trăm năm trước để hỏi người ba trăm năm sau. Có lẽ tôi khóc vì tôi nhớ lại cuộc di cư ngày nào. Tôi nhớ đến khuôn mặt đẹp và ánh mắt sầu muộn của bà ngoại tôi. Giấc mơ hồn nhiên của tuổi thơ, sẽ làm cô giáo nuôi bà ngoại ở Huế, tôi đã bỏ mất. Bà không còn chỉ là bà ngoại, mà là hình ảnh Tĩnh Tâm, người phụ nữ sinh trước tôi hai thế hệ. Hình ảnh bà mang tôi về tuổi thơ xứ mẹ. Hình như tôi khóc vì trong lòng tôi cũng mang hình ảnh những cỗ quan tài như trong giấc mộng của Tĩnh Tâm. Vì tôi mang nặng một nơi chốn đã đi vào tiềm thức tôi, một nơi chốn mà thân phận đàn bà là tiếng kêu rên xiết trong những tập tục và thành kiến văn hóa bóp kẹp con người, nơi chốn của một cuộc chiến tranh tức tưởi, và những hỗn loạn lịch sử vời vợi thương đau, đã gây nên sự phá sản, không phải chỉ vật chất, kinh tế, mà e còn lan sang địa hạt tinh thần.

Tôi tự hỏi có người phụ nữ Việt Nam nào nhạy cảm, là nạn nhân của xã hội chiến tranh đó, mà không mang trong lòng những cỗ quan tài của Tĩnh Tâm? Tôi may mắn sinh ra trong một thời đại không phải gồng gánh, bưng xách như bà nội tôi, không phải cưới vợ hầu cho chồng như bà ngoại tôi, không phải là nạn nhân của tục tảo hôn, không phải tủi sầu vì không có con trai. Tôi may mắn không phải đi vớt xác con, đi nhận xác chồng, xác con trai như những người bất hạnh của cố hương đầy đau khổ.

Tôi tin vào thuyết tiềm thức tập thể của nhà tâm lý học Carl Jung. Cho nên tôi đứng đó, đối diện tượng Nữ Thần Tự Do, bên bờ biển Đại Tây Dương, là một người đàn bà di dân đến từ nước Việt Nam nhỏ bé, trước ngưỡng cửa thế kỷ hai mươi mốt, nhớ đến hương hồn của bà ngoại và nghe tiếng kêu khóc của những người đàn bà Việt Nam xấu số. Tôi đến Mỹ khi còn là đứa bé gái hăm hở trước cuộc đời. Cuộc di cư đã cho tôi lối thoát và cơ hội để áp dụng sự phân tích của Simone de Beauvoir vào đời sống của chính mình. Nhưng tôi vẫn nhỏ nước mắt, hướng về Tây phương và quay lại Đông phương, thường tự hỏi mỗi nơi sẽ đem lại những gì cho tính nhạy cảm và cái tiềm thức văn hóa trong tôi. Nước mắt tôi vẫn nhỏ, cho dù bề ngoài tôi cứng rắn, vì tôi đã nghe, đã chứng, đã xót xa trong lòng về những cỗ quan tài của Tĩnh Tâm.

Dương Như Nguyện
(Mùi Hương Quế)