như cánh hồng phai

npphan

theo chân bước, tiếng ve sầu rộn rã
trên nẻo về, trên cả những mùa xanh
cho tôi xin hoa phượng nở đầy cành
cho trên tay ngày tháng buồn đi dạo

em nhớ thắp mùa trăng ngời trên áo
bàn chân vui có thoáng chút ngập ngừng?
con sóc nào mang trọn gánh yêu thương
chút ngơ ngẩn của bao mùa xa cách?

em hãy sắp ngăn sầu trong cặp sách
ủ tình vùi trong một sớm mưa mau
tôi gửi theo về chút nắng xôn xao
lời từ giã bằng ngôn từ rất thật

xin cứ mộng lên trang đầu thứ nhất
ươm ý hương trinh nét ngọc dâng đời
đôi mùa tình xa như cánh hồng phai
trường lớp cũ ngủ vùi trong kỷ niệm

NP phan

Bài Thơ Mười Năm

.phamnguyen

Từ ngực thanh xuân
Ngày đang hối hả
Anh giấu đời mình
Vào em rất lạ

Mai này nắng lóa
Nhiệm mầu trên vai
Nghe chật bàn tay
Nỗi buồn trú ẩn

Em là cơn giận
Tạt vào hồn anh
Anh là mỏng manh
Giữa ngày đổ vỡ

Tình yêu vạt gió
Nhốt hoài vẫn bay
Bàn chân đường dài
Có người đứng lại

Ngày chẳng còn ai
Con đường nỗi nhớ
Chiếc bàn trăn trở
Vết trầy tháng năm

Em vẫn mười năm
Nụ cười lãng mạn
Từ một ngày câm
Anh về khép nép

Em như sông hẹp
Trôi qua biển buồn
Anh như đời chim
Ngủ vùi bên cỏ

Mười năm nhìn rõ
Đoạn đường mênh mông
Tình có như không
Bóng mình dọi xuống

Em ơi hãy uống
Những ngày hân hoan
Hãy để thời gian
Lau giùm ngấn lệ

Mình về sông trẻ
Tắm đời cho nhau
Đàng sau nỗi đau
Môi cười hạnh phúc

Phạm Ngũ Yên

DIỄN VĂN CỦA ÔNG OBAMA: MỘT BÀI CA HAY NHƯNG LỖI NHỊP

phamtinanninh

Dư âm chuyến viếng thăm Việt Nam của Tổng Thống Obama, được báo chí gọi là “cơn sốt Obama”, mãi đến hôm nay vẫn còn âm ỉ trong lòng người dân Việt nam và cả những đảng viên Cộng sản. Với bài diễn văn lôi cuốn đọc trước hai ngàn người tại Hà Nội, và hầu hết dân chúng Việt nam được nghe trên đài truyền hình, ông không chỉ được ái mộ như một nhà chính trị đa tài, mà còn là một nhà văn hóa lỗi lạc, làm rung động lòng người. Chuyện ăn bún chả ở một cái quán bình dân, cũng như chuyện dừng xe ở làng quê dưới cơn mưa, nói chuyện và bá vai chụp ảnh với mấy người dân lao động, mặc dù ai cũng nhận ra đó là những màn kịch, nhưng ông thực sự đã khuấy động được trái tim của hầu hết mọi người. Khi vào Sài gòn, qua cuộc tiếp xúc với những người trẻ, ông càng chứng tỏ sự hoạt bát, đa tài, bình dị và thân thiện. Rời khỏi Việt Nam, ông đã để lại cho người dân Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ hình ảnh của một người lãnh đạo lý tưởng, đáng yêu, đáng kính nhất. Từ ánh mắt, nụ cười, cái bắt tay, lời nói, nhất cử nhất động của ông dường như đều có chủ đích. Và ông đã thành công mỹ mãn.

Ông đến như một đợt sóng bất ngờ xua đi những bãi bờ hoang tàn, nhớp nhơ, cũ kỹ, như điệu nhạc huyền hoặc làm tan đi cái không khí nặng nề, u ám. Người ta đã mê ông, đã mê Mỹ như là biểu tượng của Tư Bản, của Tư Do Dân Chủ. Điều đặc biệt hơn là từ đây trong lòng người dân Việt Nam in đậm hình ảnh một nhà lãnh đạo thần tượng mà họ đã khao khát hơn 41 năm qua, từ khi chế độ Cộng Sản man rợ bao trùm trên cả nước.
Những kẻ lãnh đạo mà người dân đã bị áp đặt, không có quyền được chọn lựa, hầu hết là những người bất tài, thiếu đức, độc tài, hống hách, tham nhũng và bán nước. Họ xem những lãnh tụ bây giờ là đám tham quan tồi tệ nhất trong lịch sử dân tộc. Một đám sâu dân mọt nước.
Chỉ một ngày, sau khi Ông Obama rời khỏi Việt nam, một hình ảnh tương phản rất quái đản đã được phổ biến khắp nơi, trên mạng, facebook, cũng như trên một số báo chí trong nước. Một ông quan CS (cỡ nhỏ) từ trên xe “con” bước xuống lúc đường ngập nước, được hai đồng chí đàn em mang hai chiêc ghế đến để ông bước lên, sau đó ông quan bá cổ một tên đàn em khác để được cõng vào lề đường. Người dân vừa có một so sánh lý thú, làm đám cán bộ càng thêm nóng mặt!
Nhiều người Việt hải ngoại cũng hết lời ca ngợi ông Obama, đánh giá rất cao sự thể hiện và tác động của ông đối với mọi tầng lớp dân chúng Việt Nam, trên nhiều lãnh vực: tư do, nhân quyền, biển Đông, và đặc biệt là phong cách lãnh đạo. Một số cho là chưa có nhân vật nào làm cho người dân Việt Nam mê Mỹ, thần tượng Mỹ như là TT Obama đã làm. (Mà mê Mỹ đồng nghĩa với mê Tự Do, Dân Chủ). Ông Obama đã “khuấy động” được trái tim của hầu hết người dân Việt Nam, kể cả những người CS. Đó là cuộc “diễn biến hòa binh” tiềm ẩn nhưng thành công nhất của một vị TT Hoa Kỳ. Một cơ hội bất ngờ để người dân trong nước bỏ phiếu giữa Tự Do và Cộng Sản. Cũng có người bất bình, trách ông sao không đề cập đến chuyện cá chết, chuyện các nhà đấu tranh bị giam giữ, tù đày, chuyện trấn áp, đánh đập những người biểu tình ôn hòa. Nhưng cũng có người thông cảm cho vai trò “quốc khách” của ông, và nghĩ rằng chuyện dỡ bỏ lệnh cấm vận vũ khí sát thương, hay Hiệp ĐịnhTPP, có thể đều kèm theo những ràng buộc nào đó và có những cái giá phải trả. Đã chính trị là phải thủ đoạn, khó mà lường trước được kết quả hay hậu quả của người nhận. Cũng có thể đã có những phản đối, đòi hỏi, trao đổi đặc biệt khác, nhưng không được công khai vì sự tế nhị của ngoại giao. Hơn nữa là một Tổng Tống Mỹ, ông chỉ làm điều gì có lợi cho chính nước Mỹ. Như trong bài diễn văn, ông đã khẳng định là “đất nước của các bạn nằm trong tay của các bạn, do chính các bạn định đoạt!” …
Riêng cá nhân tôi, khi theo dõi bài diễn văn được mọi người ca ngợi, tôi cũng ít nhiều cảm kích, cũng thầm ngợi khen cả bài diễn văn (tất nhiên không phải do ông viết) lẫn cách thể hiện của ông. Tôi thích thú khi nghe ông nói, sỡ dĩ có cuộc chiến đẫm máu trước kia là do nỗi sợ Cộng sản, và ông bùi ngùi chia sẻ những hy sinh mất mát cho cả hai bên Mỹ- Việt.
Nhưng với tôi, bài diễn văn ấy vẫn chưa đủ, chưa làm cho cá nhân tôi thấy hấp dẫn và cảm phục. Tôi nhận ra một lỗ hổng, một món nợ khác mà người Mỹ, chính phủ Mỹ còn nợ dân chúng miền Nam Việt Nam trong vai trò một đồng minh, mà nhiều vị Tổng Thống Mỹ, đại diện, đã từng long trọng cam kết sẽ bảo vệ, ngay cả khi buộc Nam Việt Nam ký vào Hiệp Định Paris ngày 29.1.1973. Một bàn hiệp định bất công, tồi tệ mà Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã cực lực phản đối!
Là người Việt Nam, tôi luôn hiểu là đất nước tôi do người Việt nam chúng tôi quyết định. Việc để mất miển Nam là do trách nhiệm của người miền Nam, đặc biệt là của chính phủ và quân đội Nam Việt Nam. Nhưng rõ ràng chính phủ Mỹ đã phản bội lời hứa, đã đồng lõa với kẻ thù để đẩy Nam Việt Nam vào bước đường cùng. Chính ông Graham Martin, vị đại sứ Mỹ cuối cùng tại Sài gòn đã công nhận và nói trước Lưỡng Viện Quốc Hội Mỹ là “chúng ta đã có lỗi với họ, đã phản bội họ. Phản bội Nam Việt Nam là vết ô nhục lớn nhất của lịch sử Hoa Kỳ.” Sau này, rất nhiều vị tướng lãnh, chính khách và nhà sử học Mỹ cũng nói lên những điều tương tự.
Hôm nay, Mỹ đã làm bạn với Việt Nam CS, Quốc Hội và Chính Phủ Mỹ đã dỡ bỏ rào cản cuối cùng để bắt tay với kẻ cựu thù, trở thành “đối tác toàn diện”, hay “đối tác chiến lược”. Trong bài diễn văn được ca ngợi là một tuyệt tác”văn hóa”, ông Obama kêu gọi “hãy quên quá khứ để hướng tới tương lai” khi trích dẫn cả lời trong bài hát của Nhạc sĩ Văn Cao, tác giả bài quốc ca CS, “ từ đây người biết thương người, từ đây người biết yêu người” (mặc dù người nhạc sĩ này đã bị chính những đồng chí của ông cầm tù, hành hạ suốt gần cả một đời), và cả bài ca Nối Vòng Tay Lớn, mà chính tác giả phản chiến (và phản bội) Trịnh Công Sơn đã hát trên đài phát thanh Sài Gòn vào trưa ngày 30.4.75, khi CS vừa cưỡng chiếm miền Nam.
Khi ông Obama được chính quyền CS đón tiếp trọng thị, được dân chúng Việt nam ngợi ca như một thần tượng của Hòa Giải, của Tự Do, thì hơn 10.000 nấm mồ của những tử sĩ miền Nam VN vẫn bị hoang phế, phá hủy, trong Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa ( đã bị thay tên), và hàng vạn thương phế binh VNCH đang sống khốn cùng ở trên chính quê hương mình. Cả tử sĩ và những người lính miền Nam tàn phế già nua ấy vẫn đang bị kẻ chiến thắng tìm mọi cách hành hạ, sĩ nhục. Và biết bao người dân miền Nam xưa giờ vẫn khốn khổ trên quê nhà. Họ đã mất gần như tất cả, nhà cửa, tiền bạc và cả tương lai con cháu bởi sự phân biệt đối xử. Ai sẽ chìa những bàn tay ra với họ, ai sẽ nói với họ “từ đây người biết yêu người?”
Cám ơn ông Obama đã thức tỉnh được đồng bào Việt Nam tôi trong nước, đã thổi vào trái tim họ một luồng sinh khí mới của Tự Do, nhưng ông vẫn còn nợ người dân miền Nam một lời xin lỗi. Và bài diễn văn của ông, được nhiều người ngợi ca, với tôi, tiếc thay đó là một bài ca hay nhưng lỗi nhịp!

Phạm Tín An Ninh
(30.5.2016)

CHÌM LÁ BUỒN ĐAU

truongdinhphuong

CHÌM

Một mình về giữa đêm côi
Phố không là biển
Hồn tôi bỗng chìm…

LÁ BUỒN

Tôi về tỉa tót hồn tôi
Hình như bớt được một đôi lá buồn!

ĐAU

Phố đau như một buổi nào
Người đi
Trút lại mưa rào
Riêng tôi…

TRƯƠNG ĐÌNH PHƯỢNG

DỤ NGÔN

phuonguy

dại khôn khôn dại
ngạn ngục thiên đàng
những đứa trẻ đã lâu chưa kịp lớn
có hiểu lúc nào nên giữ nên buông?

ngày qua hai buổi
nắng đi hai lòng
những con đường không kịp lối
hầm hập trời xanh không mây

tháng Tư đổ dung nham nắng
em cầm trên tay
vò nước cam lồ thời xa lắc
ngát hương đến lúc này
gió níu giọt dương cầm đã lắng
vọng về từ cao xanh
người không còn bóng
chỉ còn nỗi buồn lang thang

tháng Tư gió đi hoang
kí ức ruổi rong cát trắng
biển còn rộng đến lúc này?
hay là em hay là tôi hay là xa vắng?

gió níu lời dương cầm nhập thể
trầm hương xanh xao đêm
ngõ tối lối về sâu hút
vũng buồn có dày thêm?

ừ dại khôn khôn dại
trăm năm một chấm mơ hồ
tràn trên vách trắng
là bóng trăng lô xô

ừ dại khôn khôn dại
ngạn ngục thiên đàng
đứa trẻ trong tôi chưa kịp lớn
em đã vội vàng sang ngang.

PHƯƠNG UY

Yêu tinh

nguyenthiminhngoc

Một phụ nữ viết văn có nên yêu và kết hôn?

Tôi là phụ nữ, thỉnh thoảng có viết văn. Nhiều người khuyên tôi, yêu thì nên nhưng lấy chồng thì chớ. Trong những người ấy, có người cũng là phụ nữ và có viết văn.

Tôi chưa được yêu và chưa kết hôn không phải vì tôi là phụ nữ viết văn, mà có lẽ vì duyên chưa tới. Ngoài chuyện viết văn tôi còn dính líu vào nhiều công tác xã hội. Đàn ông thấy tôi chạy xa tám thước, họ không tin tôi có khả năng làm vợ hiền. Tôi cũng không tin mình có khả năng đó. Một cậu học trò của tôi tuyên bố với nhiều người: “Cô giáo em nhiều lắm là chỉ nấu được nước sôi.”

Tôi sống thanh thản trong bận rộn tới tuổi bốn mươi ngoài. Ở cái tuổi mà bạn bè cùng trang lứa đã có con có cháu, đôi khi tôi thấy đó là một điều may mắn. Tôi thích cuộc đời một nhà dạy toán không vợ, không nhà, gia sản chỉ là chiếc cặp đi dạy nhiều nơi trên thế giới, lấy hotel nhiều thành phố khác nhau làm nơi cư ngụ. Nhiều người bạn vẽ ra một viễn cảnh đen tối cho tôi sợ về một tuổi già hiu quạnh. Họ không ngờ tôi đã lường trước chuyện đó rồi. Nếu cuối đời làm lụng có dư, tôi mơ mình sẽ gầy nên một viện dưỡng lão tư nhân rồi chui luôn vào đó ở. Còn không dư thì càng đơn giản hơn nữa, cứ phó thác thân mình cho xã hội, như mình đã từng đi chăm sóc những người già tứ cố vô thân.

Trong tư thế độc thân lại có viết văn, tôi còn là một chuyên viên gỡ rối tơ lòng tài tử cho các chị em bạn gái bế tắc chuyện tình.

Mùa đông năm đó, tôi tình cờ lạc đến New York với một công việc ký kết trong từng ba tháng một. Tôi yêu thành phố ấy, có lẽ vì nó có nét nào đó giống Sài Gòn. Cũng người tứ xứ đổ về, cũng chả cần ai biết ai là ai để soi mói xét nét từ cách ăn bận đến hành vi; cũng là nơi bạn cảm nhận hơn đâu hết về mùi vị thông thống gió lộng của tự do. Tôi có một chỗ ở ngay trung tâm mà không phải bận tâm tiền thuê. Tôi không có ai để phục vụ cơm nước kể cả chính mình nên thường chọn một quán ăn vắng vẻ có chủ người Việt, ở China Town để ăn trưa. Đôi khi đó cũng là bữa ăn duy nhất cho cả ngày, như thế tiện cho công việc hơn. Và người yêu tôi bấy giờ là công việc.

Ròng rã mấy tháng trời, sau khi tôi ký thêm mấy đợt hợp đồng, một hôm bà chủ quán ngoắc tôi nói nhỏ.

– Cô nè, ngó cái ông ở cái góc đối diện cô kìa, thấy chưa?

– Thấy, có gì đặc biệt đâu? Như mọi thực khách khác thôi.

– Cô không thấy ông ta giống cô à?

– Mặt ông sụp sụp xuống kiểu đó, ai biết tròn méo cỡ nào.

– Tôi muốn giới thiệu hai người với nhau đó.

– Bộ ổng nói với bà ổng để ý tôi hả?

– Không!

– Trời đất, vậy sao bà gan quá vậy?

– Ổng có biết cô là ai đâu, hôm qua tôi ngồi với ổng, tôi cũng chỉ chỏ cô, nói y như hôm nay với cô, ổng cũng hỏi y như cô, rồi cũng kêu tôi gan quá.

– Rồi bà nói sao?

– Thì bụng tôi sao tôi nói thiệt. Tôi là chủ quán, thấy có hai người khách cứ giấc trưa bước vô một mình, gằm mặt ăn hết năm nọ tháng kia, tức nhiên hai người đều độc thân. Tôi nảy ý muốn ráp hai người với nhau, mặc dù như vậy có nghĩa là tôi sẽ mất đi hai mối khách.

– Ổng nghe vậy rồi nói sao?

– Ổng nói thử coi.

– Đời tôi làm chuyện tào lao nhiều nhưng giờ phải ngã mũ trước bà.

– Giờ có gật đầu không để tôi xếp giờ cho hai bên gặp?.

Đến ngày hẹn hò của “đôi già”, tôi lượm một bộ đồ văn phòng trông cực kỳ boring cho người đàn ông đi ăn trưa một mình kia coi mắt. Anh ta cũng chẳng kém, trang phục đi gặp tôi được anh chọn ngó lùi xùi như một chú tài xế tắc xi không hề gây chút ấn tượng nào giữa New York.

Buổi nói chuyện giữa hai người diễn ra nhạt nhẽo như hai bộ đồ chúng tôi khoác vào người. Chàng cho biết đã có một đời vợ, từ Âu Châu trôi dạt sang, con đã lớn, lương giờ đủ sống. Tôi cho biết chưa đời chồng nào, nhưng có khá nhiều bạn gái bị chồng bỏ có nhu cầu bước thêm bước nữa để phụ nuôi con; nếu chàng thích tôi có thể giới thiệu cả tá cho chàng lựa. Chàng nhún vai, sợ lấy vợ lắm rồi. Tôi gật gù ra vẻ thấu hiểu, tôi chưa đời chồng nào đây mà ngó đời sống hôn nhân còn ngán, huống chi anh.

Bà chủ quán thất vọng trước tuyên ngôn ủng hộ chủ nghĩa độc thân giữa hai đứa chúng tôi. Cái quán vắng vẻ của bà vẫn còn hai người khách trung thành, thỏa mãn với những bữa ăn trưa, một mình đến và đi.

Câu chuyện nhạt nhẽo này tưởng đã ngưng rồi ở đó nếu đám thân chủ tưởng tôi là chuyên viên gỡ rối tơ lòng và làm đủ mọi cách để truy lùng tôi, cho dù tôi đang sống kiếp cày bừa xuyên lục địa.

H. ở Toronto gọi tới, T. ở New Jersey gọi lên. P. ở Norway, X. ở Úc, cứ canh nửa đêm réo điện thoại tới độ ban đêm tôi phải off phone.

Một hôm thấy trường hợp của Th. khẩn thiết quá, chồng bỏ xong, ba con nheo nhóc, chụp được anh bồ, ai ngờ vì một lý do nào đó, anh bồ biến. Tôi chợt nghĩ hay là giới thiệu cái anh tài xế mà tôi nhớ mang máng là tên bắt đầu bằng chữ Ph.

Bà chủ quán lắc đầu trước ý tưởng của tôi.

– Nè, tôi biết người này tử tế mới giới thiệu. Hạnh phước không dễ kiếm, sao lại đem cho không người khác. Con bạn nào của cô tốt số quá vậy trời.

– Làm ơn truy lùng cái ông Phước Phật hôm nọ của bà đi. Nói là có tơ duyên muốn trói.

Ngày hẹn tới, Ph. chọn một quán ăn ở Broadway, phía Tây. Th. và tôi hẹn nhau ở trạm 42 rồi cùng đón taxi tới. Là bạn của Th. lâu, tôi còn bất ngờ về trang phục của Th. hôm đó. Áo dài tím Huế yểu điệu thục nữ, tóc ngang lưng và thả rìa trước trán.

Th. tuyên bố lạnh lùng sương gió:

– Hôm nay tao sẽ chơi nổi bằng cách không nói gì hết.

Tôi lo lắng:

– Mày có muốn có bạn trai mới thật không?

– Tao cần có người đàn ông lấy tao để phụ nuôi con và cho hai thằng cũ chống mắt lên mà tiếc. Nhưng không nên để tay mới nầy thấy mình sành sỏi quá hắn sợ. Rồi mầy coi, anh nào khi lấy vợ cũng thích rước về một nàng ít nói, nhu mì.

Cả hai bước vô quán trễ vài phút. Chúng tôi ngồi đợi có đến mươi phút. Th. tiểu thư sốt ruột đòi về, miệng đang lầm bầm mắng người New York không đúng giờ bằng người New Jersey thì một người đàn ông phong thái lịch lãm tiến đến bàn chúng tôi.

Th. vừa xuýt xoa:

– Tại sao một người đẹp trai như vậy không phải là Phờ của tao?

Ph. lên tiếng ngay:

– Sorry, đến nãy giờ nhưng hôm nay cô lạ quá, tôi nhìn không ra.

Hôm nay tôi không nghĩ là ngày và người của mình nên chọn váy áo đơn giản, mặt không bôi trét. Huề nhá, tôi cũng nhìn không ra chàng taxi hôm nào.

Ph. còn cho tôi nhiều ngạc nhiên như chọn rượu khá sành. Ph. nói:

– Cô quên có thời gian dài tôi sống ở Âu Châu à? Còn cô, tôi ít gặp cô gái Việt nào uống rượu sành như cô.

– Ờ thì tiệc tùng có nghĩa là đi làm việc. Làm riết rồi quen, nghề dạy lấy nghề. Hai bạn nói chuyện với nhau thoải mái nghen, đừng để ý gì đến tôi, cho bà mai này được thưởng thức những món ngon của cái nhà hàng không xa nơi tôi ở mà mãi hôm nay tôi mới biết.

Th. đá chân tôi khi nghe tới hai chữ “bà mai”. Tôi cũng đá lại chân nó, ý nói, banh tao giao rồi, sút đi.

Th. kiên định lập trường, diễn đúng con đường nó vạch ra, như con nhện giăng cái bẫy mỏng manh chờ con ruồi sa lưới. Nói ít, dùng đũa khươi thức ăn không dám bỏ vào đĩa mình như là trong thức ăn có độc. Còn tôi, ngược lại, tôi nhấm nháp vị ngon của rượu và thức ăn.

Rượu vào, lời ra. Tôi cũng chẳng nhớ mình đã nói gì. Chỉ nhớ mỗi lần Ph. hỏi, chờ mãi mà Th. cứ như là phải uốn lưỡi đến tám lần trước khi trả lời. Tôi “đốp” ngay để còn thong dong thưởng thức hương vị của những món ăn thức uống đêm đó.

Khi chia tay, hai bên trai gái trao nhau số điện thoại và để tự liên lạc. Nhiệm vụ của bà mai coi như xong.

Cuối tuần sau, tôi nhận được tin nhắn của Ph. “Tối nay rảnh không, cô gái? Đi ăn nhé” Tôi gọi ngay cho Ph: “Sao lại nhầm số của cô gái sang bà già, từ cô dâu tương lai tới mụ mối vậy?”

Ph. trả lời, giọng có vẻ trầm trọng: “Hết giờ để nhầm rồi. Chỉ muốn đi ăn với người có số này thôi, cô gái ơi!”

Tôi cảnh giác: “Tôi nhắn Th. cho anh nhá!?”

– Này, cô kéo cái bà yểu điệu thục nữ kia đến là tôi giết cô ngay đó.

Ph. đến đón tôi trong chiếc quần jean, áo chemise trắng. Tôi cũng vậy. Chỗ làm của hai chúng tôi đều chọn ngày Thứ Sáu cuối tháng để kêu gọi nhân viên bận quần jeans để tiết kiệm tiền giặt ủi cho một công việc từ thiện.

Chúng tôi chui vào một quán của Korea. Những người chung quanh có vẻ đều là những người đang yêu nhau.Tôi nói nhận xét đó với Ph. Anh ta chỉ mong có thế để nắm tay tôi.

– Mình cũng vậy mà! Làm vợ tôi nhá, M.?

Tôi rụt tay lại ngay.

– Cầu hôn gì bất tử vậy? Muốn Th. giết tôi sao?

– Nhưng nói thật đi, M. cũng yêu tôi mà. Chúng ta không thể sống thiếu nhau.

– Trời đánh tránh bữa ăn. Ít ra anh cũng cho tôi thưởng thức những món khoái khẩu của tôi rồi sau đó muốn sến kiểu nào cũng được.

Ít ra Ph. cũng rất tôn trọng tôi nhất là chuyện ăn uống. Anh ta ngồi ngó tôi ăn mà không chịu đụng đũa.

– Nói thiệt đi, hôm nay sao không ăn, định bắt chước Th. hôm nọ sao?

– Yêu cầu không nhắc đến tên cô ta nữa.

– Anh biết sợ những người đến tiệm ăn mà không chịu ăn như “ai kia”. Sao không nghĩ rằng sau bữa gặp hôm nay tôi cũng sợ anh như vậy.

– Hôm nay tôi mới biết cảm giác ngon khi ngồi ngắm M. ăn.

– Nghĩa là, hôm nay tôi là mồi của anh. Sao không nghĩ, hôm nọ “ai kia” cũng nhìn anh với cặp mắt ngưỡng mộ?

– Chưa thấy ai cứng đầu như M. Đã yêu cầu không nhắc tới người kia nữa mà cứ tìm đủ mọi cách để nhắc.

– Anh cho ăn ngon hai bữa rất cám ơn, nhưng vẫn tức vì không giúp tôi mở hàng cái job làm mai mối. Anh chê Th. của tôi chỗ nào chớ?

– Tại sao tôi lại phải tiến tới với một bà già giả danh thiếu nữ. Trong lúc trái tim tôi lại rung động với một cô gái giả dạng ni cô. Ngó kỹ coi thần kinh của tôi có bình thường không?

Tôi ngưng ăn 10 giây để ngó lại Ph. một chút. Trời ơi, dường như đây là người đàn ông tôi tìm bao nhiêu năm bây giờ mới gặp. Một người khỏe mạnh, có ánh mắt đắm say như là sẽ theo tôi đi đến tận cùng những điên khùng thường trực sống trong tôi. Tôi đã sai lầm khi ngưng ăn 10 giây, vì sau 10 giây đó tôi không thể ăn được nữa.

Tôi nhủ thầm mình, chuẩn bị chạy nha.

Như đọc được ý tưởng của tôi, Ph. nắm tay tôi.

– Không được chạy! Nếu không ăn nữa thì đi kiếm chỗ khác ngồi với tôi.

– Chỗ nào nữa? Tôi phải đi.

– Bất cứ chỗ nào, có thể là trong một chiếc taxi, có thể là dưới subway, Central Park, Times Square, sang đảo, cầu Brooklyn, China Town..

– Rồi lúc nào anh mới thả cho tôi đi?

– Bất cứ lúc nào cô trả lời cho tôi biết, cô có nhận lời cầu hôn của tôi không?

– Tôi có thể trả lời ngay bây giờ: Không!

– Tôi không tin cô không yêu tôi sau khi ngồi thêm với tôi một chỗ nào khác với tiệm ăn này.

– Thôi được, tôi sẽ đi với anh, với điều kiện anh phải mua cái gì theo để ăn. Tôi muốn có sự bình đẳng giữa tôi và anh. Thật là khó chịu khi mình đã no bụng lại phải trò chuyện với một người bụng rỗng.

Ph. mua vài cái bánh chiên nhân khoai môn của Đại Hàn và mua thêm hai ly kem cho tôi, café cho anh.

Đêm đó, chúng tôi có một đêm thú vị bên nhau. Từ lúc nhận ra đúng đây là người đàn ông mình tìm, tôi cũng quyết định luôn, mình sẽ chạy trốn anh ta. Chỉ tự thưởng mình một đêm nay thôi. Cuộc sống gia đình không phải là cuộc sống của tôi. Yêu nhau mà lại bằng mười phụ nhau. Quyết định như vậy đi. Tôi cũng chẳng dại gì nói cho Ph. biết ý định thầm kín đó của mình khi cùng nhau rời quán.

Như câu thơ “Hai đứa thần tiên suốt một ngày” trong bài Áo Trắng của Huy Cận, tôi cảm như hai đứa tôi cũng đã được “thần tiên suốt một đêm”. Chúng tôi ngồi bên nhau, hết taxi đến tàu điện ngầm. Nói đủ chuyện trên trời dưới đất. Kể gần hết những mối tình của nhau cho nhau nghe. Những mối tình còn nhớ, những mối tình định quên. Giống tôi, Ph. cũng có những mối tình “độc”, cũng có những nhân vật nổi tiếng là tình nhân và suýt cưới làm vợ làm chồng. Một trong những mối tình đó kéo đến hơn mười năm với một người viết nhạc. Mười năm cầu hôn, lúc nào nàng cũng có những lý do hợp lý để dời ngày. Sau này mới biết một mình nàng có đến năm chàng, như công chúa Bạch Tuyết cần đến bảy chú lùn vây quanh; chàng thì để nàng mộng mơ sáng tác về hạnh phúc, chàng thì ký ngân phiếu cho nàng ra CD; chàng thì để nàng quằn quại nỗi thất tình rồi ướp vào giai điệu não sầu; chàng thì có phong thái người hùng cùng nàng đẹp đôi xuất hiện trước các tay săn ảnh để “liệng” lên các thông tin đại chúng; chàng thì có hấp lực thân xác để nàng cảm nhận được những va chạm.

Tôi không ngăn nổi tò mò.

– Anh là ai trong số những người đó?

Ph. không giấu giếm.

– Anh là người thứ sáu, gần như hội đủ các điều kiện của năm chàng kia; kiên trì chờ cả chục năm, mặc lời ra tiếng vào của gia tộc là cắt đứt ngay với người tình vĩnh viễn không bao giờ cưới đó để kéo dài thêm tuổi thọ mẹ già.

– Tại sao không kéo thêm năm thứ mười một, mười hai?

– Một ngày khi một nhân vật nổi tiếng qua đời, người ta điểm qua các phụ nữ đi qua đời chàng, có cả tên nàng của anh.

– Đó là người yêu đích thật của nàng? Anh dở quá, ai lại đi ghen với người đã chết.

– Anh không ghen, nhưng có một cô nhảy vào ghen giùm.

– Cô mới của anh?

– Không, của nàng. Hóa ra chỉ có cô ấy là người thật sự chiếm hết tâm hồn và thể xác nàng. Cô ấy sống trong bóng tối hơn anh đến năm năm. Sau trận đó, cô ta ra đi thật sự, và nàng của anh cũng thất tình thật sự.

– Còn anh?

– Anh chán.

– Chán người nổi tiếng?

– Chán sự giả dối. Đó là lý do anh chọn M. Sau buổi gặp vừa rồi, anh về lục gần hết những tác phẩm của M. ra đọc. Anh thấy M. viết xạo hết. Chỉ có lúc M. ngồi uống rượu và thưởng thức những món ăn của anh gọi mới là giây phút sống thật nhất của M.

Ph. không biết rằng chỉ riêng nhận xét đó cũng đủ khiến Ph. được chín điểm rưỡi trên mười của tôi.

Dưới ánh trăng và sự yên lặng hiếm có trên chiếc cù lao vắng người giữa New York, chúng tôi tung tăng đi bên nhau. Không hôn chặt. Không ôm xiết. Chỉ có lời cầu hôn chờ trả lời của một người đàn ông mới gặp mà tôi thấy yêu đến độ muốn chạy trốn vì cứ sợ mất mình.

Ph. đề nghị.

– Chuyện của anh chán chết. Kể chuyện M. đi.

– Thì đó, bày hết trong truyện, mà anh đã đọc gần hết rồi.

– Nói làm gì những chuyện bịa đặt đó.

– Sao anh biết bịa?

– Qua những gì M. viết, anh thấy M. không biết yêu, M. không biết cả khổ đau và hạnh phúc.

– Nói chung là anh chê tôi viết dở.

– M. chỉ có một chuyện xuất sắc cần phải làm thôi là yêu và nhận lời cầu hôn của anh.

– Giờ thích nghe kể chuyện tình hay cần nghe trả lời?

– Hãy làm bất cứ chuyện gì M. thích.

Chúng tôi ngồi ở trên băng ghế công cộng trên đồi cao nhìn qua New York lấp lánh bên kia dòng nước đen ngòm. Ph. choàng cái áo trên người cho tôi đỡ lạnh vì sương đêm hè. Tay tôi tìm tay Ph.

– Cho nắm một chút để có thêm tự tin mà nói thật.

– Cho cả cuộc đời đó, nắm đi, và cứ nói dối, nếu thích.

– Anh nói đúng, tôi đã không biết yêu, không biết cả khổ đau và hạnh phúc.Trong cái hiện tại này, đây là câu nói thật nhất.

– Có biết là anh đang rất thèm hôn M. không?

– Nếu sau khi hôn, tôi biến mất, anh chọn cái nào?

Ph. im lặng. Có lẽ anh biết tôi nói thật. Anh không thể chọn lựa. Nên từ lúc đó đến khi chia tay, không ai nói thêm câu nào nữa.

Chúng tôi bên nhau như vậy cho đến sáng. Có lúc tôi nằm xuống, đầu gối trên chân Ph. Nhắm mắt và an nhiên ngủ.

Trước khi đi vào giấc ngủ, bỗng trở về trong trí nhớ tôi, những câu thơ thời mới lớn của một người chết trẻ tặng tôi.

Ta tưởng tượng ra em,
Tóc bay mờ vũ trụ.
Nằm ngủ rất tự nhiên,
Giữa một bầy ác thú.
(thơ Du Mùa đông)

Ph. đưa tôi trở về nhà khi trời tờ mờ sáng. Thành phố này không ngủ; đó là sự tương đồng của New York và Sài Gòn. Sài Gòn của Ph. trước khi đi Pháp du học, Sài Gòn của tôi thỉnh thoảng từ tỉnh nhỏ vào lãnh chút nhuận bút nhưng niềm tự hào lớn vì một con bé vô danh chui vào được một tờ báo lớn. Mấy mươi năm sau, xứ lạ quê người, có người vạch mặt rằng tôi bịa hết; rằng tôi bày ra một vai trò, chui vào đó đóng, rồi nhập vai tưởng thật, rồi cứ tưởng cô đơn là phần số của mình cho tới ngày nhắm mắt xuôi tay.

Tôi hẹn Ph. cuối tuần tới sẽ trả lời câu hỏi khó khăn kia. Nếu là tôi bạn sẽ làm gì?

Một cuộc đời gần như chưa biết thế nào là yêu và sống, ngoài những giây phút tưởng là sống và yêu trong tưởng tượng của mình. Bỗng dưng như một giấc mơ đẹp, hoàng tử của mình hiện ra, trễ gần cả nửa thế kỷ. Thật ra chuyện cổ tích thì có cả thế kỷ vẫn là con số quá nhỏ, không là quan trọng. Vấn đề là như tôi đã quyết định từ đầu, tôi phải chạy thôi. Tôi không có thói quen sống với sự thật. Hơn nửa đời người tôi đã quen sống với một tôi khác. Tôi không còn một cái tôi thực như tôi là để sống một đời giản dị chân thật với người tôi yêu.

Tôi phải rời New York. điều đó khiến tôi cảm giác mất mát hơn cả chuyện phải rời xa Ph., người mà tìm mãi mới gặp, dù rằng trong tình cảnh khá trái ngang, tôi chuẩn bị tặng người mộng của mình cho bạn hữu.

Bạn phải biết tôi đã đau đớn như thế nào trước quyết định đó. Như là mình dứt một phần hồn, một phần đời của mình để lại nhân gian. Tôi đổi nghề, đổi nơi sống. Quê nhà không thể về. Quê người cũng không nương náu được. Tôi trôi về một nước thứ ba.

Thỉnh thoảng vọng tới cái hang ổ cuối cùng của tôi, nghe Th. tả về tôi như một thứ yêu tinh, mang Ph. đi giới thiệu cho bạn rồi bỗng tiếc, U-turn! Chụp lại. Kệ Th.

Để tăng chất “ hồ ly” nơi tôi, nhiều cô bạn cũ của tôi góp chuyện vô, rằng Th. không phải là nạn nhân độc nhất của tôi. Họ đồn tôi còn cướp H. của Q., cướp Ng. của Đ., cướp Ch. của S… Họ đồn nữ họa sĩ Sầu Đâu đã mời tôi uống nước để mong tôi cuộn đuôi chồn, trả lại bạn trai, nguồn cảm hứng cho cô trong các sáng tác hiện tại. Họ đồn mỹ nhân M., CEO của một trung tâm media lớn đã đổi cho tôi một cái job thơm ở nước ngoài để tôi buông chàng tài tử có khuôn mặt đàn ông nhất nước cho bà ta. Kệ Q., Đ., S… Kệ Sầu Đâu, và cả một CEO nào đó. Tôi chỉ biết mình sẽ rất hạnh phúc nếu một ngày nghe tin Ph. kiếm được một con yêu tinh khác, và cũng rọi suốt tim gan phèo phổi nó bằng cái nhìn thấu thị của anh.

Nếu Ph. hay ai đó còn quan tâm đến việc viết văn của tôi sẽ thấy những tác phẩm của tôi không còn xuất hiện nữa. Còn mơ mòng về tôi, có lẽ họ sẽ tưởng tượng tôi đang thai nghén một tác phẩm tuyệt vời nào đó.

Bây giờ việc viết hay cho phổ biến tác phẩm với tôi hoàn toàn không quan trọng nữa. Tôi chỉ băn khoăn liệu Ph. có biết rằng sau cái đêm lãng mạn cùng Ph. trên chiếc cù lao hoang vắng đó, khả năng sáng tác, hay nói đúng hơn là khả năng nói dối của tôi đã tắt nguồn cạn kiệt; như các loại Mãng Xà Nữ Vương, Hồ Ly, Hạc Trời, Rắn Xanh, Rắn Trắng… phải trở về kiếp thú, sau khi bị tê liệt khả năng ảo hóa những sự thật trần trụi bởi một cặp kính chiếu yêu.

NGUYỄN THỊ MINH NGỌC

Khi Bài Hát Trở Về

trantrungdao

Nếu phải xếp hạng những bài hát được sinh ra và lớn lên cùng với thăng trầm của đất nước, với thao thức của thanh niên, sinh viên, học sinh, với tâm trạng của những người lính trẻ trong cuộc chiến tranh tự vệ đầy gian khổ ở miền Nam trước đây, tôi tin, Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ của nhạc sĩ du ca Nguyễn Đức Quang sẽ là một trong những bài ca được xếp hàng đầu.

Không giống như một số hành khúc quen thuộc trong giới trẻ trước 1975 như Dậy Mà Đi của Nguyễn Xuân Tân, Tổ Quốc Ơi Ta Đã Nghe của La Hữu Vang thiết tha, mạnh mẽ nhưng chỉ giới hạn trong các phong trào sinh viên tranh đấu và ngay khi ra đời đã bị Đảng sử dụng cho mục đích tuyên truyền trong các trường đại học, các đô thị miền Nam, hay Việt Nam Việt Nam của Phạm Duy chan chứa tình dân tộc, kêu gọi người người thương mến nhau nhưng thiếu đi cái hùng khí, sôi nổi của tuổi trẻ, Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ của Nguyễn Đức Quang không dừng lại ở nỗi đau của đất nước mà còn nói lên cả những bi thương, công phẫn, thách đố của tuổi trẻ Việt Nam trước những tàn phá của chiến tranh và tham vọng của con người. Trong vườn hoa âm nhạc Việt Nam, Việt Nam quê hương ngạo nghễ nổi bật lên như một biểu tượng cho khát vọng của một dân tộc đã vượt qua bao nhiêu gian nan khốn khó để tồn tại và vươn lên cùng các dân tộc khác trên mặt đất nầy.

Ta như nước dâng dâng tràn có bao giờ tàn
Đường dài ngút ngàn chỉ một trận cười vang vang
Lê sau bàn chân gông xiềng của thời xa xăm
Đôi mắt ta rực sáng theo nhịp xích kêu loang xoang.

Lời nhạc của Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ tương đối khó nhớ nhưng nhờ cách sử dụng ngôn ngữ trẻ trung, mạnh mẽ, tượng thanh, tượng hình như “tiếng cười ngạo nghễ”, “xích kêu loang xoang”, “trên bàn chông hát cười đùa vang vang” hay “Da chân mồ hôi nhễ nhại cuộn vòng gân trời” đã làm cho Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ trở thành độc đáo, không giống như những bài ca yêu nước khác với những ý tưởng quen thuộc và lời ca phần lớn là lập lại nhau. Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ đẹp tự nhiên như một đoá lan rừng, không mang màu sắc chính trị, không nhằm cổ võ hay biện minh cho một chủ nghĩa nào, không cơ quan nhà nước nào chỉ đạo thanh niên sinh viên học sinh phải hát và bài hát cũng chẳng nhằm phục vụ lợi ích riêng của chính quyền, tôn giáo hay đảng phái chính trị nào.

Trước 1975, từ thành phố đến thôn quê, từ các trường trung học tỉnh lẻ đến đại học lớn như Huế, Sài Gòn, từ các phong trào Hướng Đạo, Du Ca đến các tổ chức trẻ của các tôn giáo như Thanh niên Công giáo, Gia đình Phật tử, từ các quân trường Đà Lạt, Thủ Đức, Quang Trung, Nha Trang đến các tổ chức, đoàn thể xã hội từ thiện đều hát Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ.

Sau 1975, bài hát theo chân hàng trăm ngàn sĩ quan và viên chức miền Nam đi vào tù. Nhiều hồi ký, bút ký kể lại Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ đã được hát lên, kín đáo hoặc cả công khai, ở nhiều trại tù khắp ba miền đất nước. Trong tận cùng của đói khát, khổ nhục, đớn đau, Việt Nam quê hương ngạo nghễ đã hoá thành những hạt cơm trắng, hạt nếp thơm nuôi sống tinh thần những người lính miền Nam sa cơ thất thế.

Những năm sau đó, bài hát, như tác giả của nó và hàng triệu người Việt khác lên đường ra biển tìm tự do. Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ lại được hát lên giữa Thái bình dương giông bão, hát lên ở các trại tị nạn Palawan, Paula Bidong, Panat Nikhom trong nỗi nhớ nhà, hát lên ở Sungai Besi, White Head trong những ngày chống cưỡng bách hồi hương, hát lên ở San Jose, Santa Ana, Boston, Paris, Oslo, Sydney trong những cuộc biểu tình cho tự do dân chủ Việt Nam, hát lên ở các trại hè, trại họp bạn Hướng Đạo, các tổng hội sinh viên Việt Nam tại hải ngoại.

Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang, trong buổi phỏng vấn dành cho chương trình Tiếng Nói Trẻ đã kể lại câu chuyện ra đời của Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ trong âm nhạc Việt Nam: “…Thế bài Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ cũng vậy, nó không phải là một bài ca tôi nghĩ là quá lớn, nhưng lúc bấy giờ khi tôi kết thúc tập Trường Ca vào năm 1965, cuối 1965 hay đầu 1966 gì đó, khoảng thời gian đó, 10 bài trường ca, những bài như Nỗi buồn nhược tiểu, Tiếng rống đàn bò, Lìa nhau, Thảm kịch khó nói v.v. những bài nói về đất nước của mình rất là khổ sở, tôi nghĩ nên kết nó bằng một bài hát có tiếng gọi hùng tráng và tha thiết hơn. Thành ra tôi viết bài Việt Nam quê hương ngạo nghễ một cách rất là dễ dàng. Tất cả những ý đó tôi đem vào hết trong bài hát đó để nó vượt qua cái khốn khó, vượt qua cái quê hương nhỏ bé, nhược tiểu mà trở thành một nước to lớn, và lòng người cực kỳ dũng mãnh.

Viết xong bài đó tôi nghĩ chỉ kết thúc tập Trường Ca mà thôi, không ngờ về sau càng ngày đi các nơi càng thấy nhiều người ưa thích bài đó, có lẽ đáp được ước vọng của nhiều người, tôi nghĩ tiếng gọi đáp ứng đúng được tiếng của nhiều người, không riêng gì giới trẻ đâu, cả người lớn tuổi ở các hội đoàn về sau này, rồi đi vào trong quân đội, đi rất nhiều nơi. Thành ra, tôi cho đó là một bài hát tự nó trưởng thành nhưng khi viết tôi chỉ đúc kết cho tập Trường Ca lúc đó mà thôi.”

Thật đơn giản và tự nhiên như thế. Không một ông bộ trưởng Bộ Chiêu Hồi nào đặt hàng hay một ông tổng ủy trưởng Dân Vận nào chỉ thị anh phải viết. Anh viết không phải để thi đua sáng tác hay mong mang về giải thưởng, huân chương. Trong tâm hồn của một nghệ sĩ chân chính, tình yêu nước bao giờ cũng là sự thôi thúc tự nguyện. Anh viết Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ để kết thúc tập trường ca của riêng anh nhưng cũng nối tiếp tập trường ca lớn hơn của đất nước.

Sau ba mươi năm, nhiều nhạc sĩ, ca sĩ đã trở về qua nhiều ngã, trong nhiều tư cách khác nhau, một số tình ca sáng tác trước 1975 đã được nghe lại trong nước, nhưng đây là lần đầu tiên một bài hát đã về lại quê hương qua ngã của trái tim, trở về trong vòng tay nồng ấm của tuổi trẻ Việt Nam.

Bất ngờ và cảm động, một buổi sáng tuần trước, khi đi dạo một vòng qua các blog Việt ngữ, tôi bắt gặp không chỉ những mẩu tin nóng viết vội vàng trên đường phố, những đoạn phim biểu tình vừa mới đưa lên YouTube, những tấm hình ghi lại cảnh xô xát giữa đồng bào, sinh viên với công an, nhưng còn được nghe lại bài hát quen thuộc Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ. Tôi cảm nhận qua lần gặp gỡ đó một niềm vui chung khi có một bản nhạc mà các em sinh viên Việt Nam ở California, Washington DC, Oslo, Paris, Hà Nội, Sài Gòn cùng hăng say hát trong những cuộc biểu tình chống Trung Quốc bành trướng bá quyền mà không cảm thấy ngần ngại, nghi ngờ, xa cách.

Ta khua xích kêu vang dậy trước mặt mọi người
Nụ cười muôn đời là một nụ cười không tươi
Nụ cười xa vời nụ cười của lòng hờn sôi
Bước tiến ta tràn tới tung xiềng vào mặt nhân gian.

Trong số một trăm em đang hát trong nước hôm nay có thể hơn chín mươi em chưa hề nghe đến tên Nguyễn Đức Quang lần nào, và nếu có nghe, có đọc qua bộ máy tuyên truyền của Đảng, cũng chỉ là một “nhạc sĩ ngụy đã theo chân đế quốc”. Biết hay không biết, nghe hay không nghe không phải là điều quan trọng. Điều quan trọng là bài hát đã đáp ứng được ước vọng về tương lai và tình yêu tổ quốc của tuổi trẻ. Tổ quốc, vâng, không có gì lớn hơn tổ quốc.

Văn hoá không phải chỉ là đời sống của một dân tộc mà còn là những gì giữ lại được sau những tàn phá, lãng quên. Việt Nam quê hương ngạo nghễ sau 30 tháng Tư 1975 hẳn đã nằm trong danh sách các tác phẩm “văn hoá đồi trụy” mà Đảng tìm mọi cách để xóa bỏ, tận diệt.

Thế nhưng, như giọt nước rỉ ra từ kẽ đá và như bông hoa mọc giữa rừng gai, bài hát đã sống sót, đã ra đi và đã trở về. Để tồn tại, một bài thơ, một bản nhạc cũng phải trải qua những gạn lọc, những cuộc bỏ phiếu công bằng không chỉ của người nghe, người đọc dưới một chế độ chính trị nào đó mà còn của cả lịch sử lâu dài. Bài hát phát xuất từ tình yêu nước trong sáng như Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ sẽ ở lại rất lâu trong lòng tuổi trẻ Việt Nam hôm nay và nhiều thế hệ mai sau.

Là một người thích tham gia các sinh hoạt văn nghệ cộng đồng, bài hát mang tôi về thời trẻ tuổi của mình. Tôi còn nhớ, mùa hè 1973, khi còn là sinh viên năm thứ nhất, Việt Nam quê hương ngạo nghễ cũng là nhạc sinh hoạt chính của trại hè sinh viên toàn quốc quy tụ đại diện sinh viên các trường đại học và cả sinh viên du học về nghỉ hè, do Bộ Giáo Dục Và Thanh Niên tổ chức lần đầu và có lẽ cũng là lần cuối tại trường Thiếu Sinh Quân, Vũng Tàu. Đêm trước ngày chia tay, chúng tôi không ai ngủ được. Ngày mai sẽ mỗi người mỗi ngả, chị về Huế, anh về Đà Lạt, em về Cần Thơ và đa số chúng tôi sẽ trở lại Sài Gòn. Cùng một thế hệ chiến tranh như nhau, khi chia tay biết bao giờ còn gặp lại. Những ngày tháng đó, cuộc chiến vẫn còn trong cao điểm.

Mỹ đã rút quân nên máu chảy trên ruộng đồng Việt Nam chỉ còn là máu Việt Nam. Thảm cảnh của mùa hè đỏ lửa chưa qua hết. Trên khắp miền Nam, đâu đâu cũng có đánh nhau, đâu đâu cũng có người chạy giặc. Mơ ước của tuổi trẻ chúng tôi là được thấy một ngày đất nước hoà bình, một ngày quê hương không còn nghe tiếng súng. Đêm cuối trại hè, chúng tôi ngồi quây quần thành một vòng tròn rộng quanh cột cờ trường Thiếu Sinh Quân và hát nhạc cộng đồng như để vơi đi những vương vấn, lo âu đang trĩu nặng trong lòng. Bài hát được hát nhiều nhất trong đêm đó là Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ, và khi điệp khúc cất lên cũng là khi chúng tôi hát trong nước mắt:

Máu ta từ thành Văn Lang dồn lại
Xương da thịt này cha ông miệt mài
Từng giờ qua cười ngạo nghễ đi trong đau nhức không nguôi.
Chúng ta thành một đoàn người hiên ngang
Trên bàn chông hát cười đùa vang vang
Còn Việt Nam triệu con tim này còn triệu khối kiêu hùng.

Những giọt nước mắt của tuổi sinh viên nhỏ xuống xót thương cho dân tộc mình. Tại sao có chiến tranh và tại sao chiến tranh đã xảy ra trên đất nước chúng tôi mà không phải tại một quốc gia nào khác?

Mấy tháng sau, tháng Giêng năm 1974, bài hát Việt Nam quê hương ngạo nghễ đã được hát vang trên đường phố Huế, Đà Nẵng, Sài Gòn, Cần Thơ sau khi Hoàng Sa rơi vào tay Trung Quốc. Những bản tin đánh đi từ Đà Nẵng, danh sách những người hy sinh được đọc trên các đài phát thanh làm rơi nước mắt.

Và hôm nay, ba mươi ba năm sau, trong cái lạnh mùa đông trên xứ người, những lời nhạc Việt Nam quê hương ngạo nghễ từ YouTube phát ra như xoáy vào tim. Tôi lại nghĩ đến các anh, những người đã hy sinh ở Hoàng Sa tháng Giêng năm 1974, ở Trường Sa tháng Ba năm 1988. Các anh khác nhau ở chiếc áo nhưng cùng một mái tóc đen, một màu máu đỏ, một giống da vàng, cùng ăn hạt gạo thơm, hạt muối mặn, cùng lớn lên bằng giòng sữa mẹ Việt Nam, và cùng chết dưới bàn tay hải quân Trung Quốc xâm lăng.

Việt Nam, sau ba mươi ba năm “độc lập, tự do” vẫn chưa thoát ra khỏi số phận nhược tiểu bị xâm lược, vẫn chưa tháo được cái vòng kim cô Trung Quốc trên đầu. Việt Nam có một lãnh hải dài trên ba ngàn cây số nhưng thực tế không còn có biển. Cả hành lang Đông hải rộng bao la từ Hải Nam đến Hoàng Sa và xuống tận Trường Sa đã bị Trung Quốc chiếm. Nếu vẽ một đường cung dọc theo lãnh hải đó, ngư dân Việt Nam chỉ còn có thể đi câu cá ven bờ chứ không thể đánh cá như ngư dân Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan hay các quốc gia khác trong vùng biển Đông. Phía sau tấm bảng in đậm “mười sáu chữ vàng” hữu nghị thắm thiết giữa hai Đảng Cộng sản Việt Nam và Trung Quốc là thân xác của ngư dân Việt Nam trôi bềnh bồng dọc các hải đảo của tổ tiên mình để lại.

Trong suốt dòng lịch sử, hoạ xâm lăng từ phương Bắc vẫn là mối đe doạ thường xuyên. Khác với các thời đại trước đây, cái bất hạnh của Việt Nam ngày nay không phải chỉ là mất đất nhưng mất đất mà không đòi lại được ngay. Cuộc kháng Nguyên lần thứ nhất trong hàng vương tước nhà Trần chỉ có mỗi Trần Nhật Hiệu chủ trương “Nhập Tống” và lần thứ hai chỉ có Trần Ích Tắc và đám hầu tước Trần Kiện, Trần Văn Lộng, Trần Tú Viên chủ trương “Hàng Nguyên” nhưng ngày nay, về mặt lập trường quan điểm, Việt Nam có đến 14 Trần Ích Tắc và 160 Trần Kiện. Trận đụng độ giữa Việt Nam và Trung Quốc diễn ra tại Trường Sa năm 1988 theo tác giả Daniel J. Dzurek trong biên khảo “Xung Đột Trường Sa: Ai có mặt trước?” (The Spratly Islands Dispute: Who’s on First?) chỉ kéo dài vỏn vẹn 28 phút và Việt Nam chịu đựng hầu hết thương vong. Với một giới lãnh đạo tham quyền cố vị và sự chênh lệch quá xa về kỹ thuật chiến tranh như thế, cuộc đấu tranh giành lại hai quần đảo sẽ vô cùng khó khăn.

Dù sao, tuổi trẻ Việt Nam, khác với các thế hệ Tân Trào, Pác Bó trước đây, thế hệ Hoàng Sa, Trường Sa ngày nay có nhiều cơ hội tiếp xúc, học hỏi và so sánh giữa chế độ các em đang sống với các tư tưởng tự do dân chủ, khoa học kỹ thuật tiên tiến, nhờ đó, hy vọng các em sẽ có những chọn lựa đúng cho mình và cho đất nước phù hợp với dòng chảy của văn minh nhân loại.

Trong cuộc chiến Việt Nam dài mấy mươi năm Đảng đã sản xuất ra không biết bao nhiêu bài hát, bài thơ kích động lòng yêu nước nhưng tại sao các em không đọc, không hát nữa? Như một độc giả trong nước đã trả lời, đơn giản chỉ vì chúng nhạt nhẽo. Ý thức sâu sắc đó đã được thể hiện không chỉ trong khẩu hiệu các em hô mà ngay cả trong những bài hát các em hát. Sau những “Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng”, “Dậy mà đi”, “Nối vòng tay lớn” của những ngày đầu phong trào, các bạn trẻ trong nước đã đi tìm những nhạc phẩm nói lên lòng yêu nước trong sáng, tích cực, không bị ô nhiễm, chưa từng bị lợi dụng và họ đã tìm được Việt Nam quê hương ngạo nghễ.

Ta như giống dân đi tràn trên lò lửa hồng
Mặt lạnh như đồng cùng nhìn về một xa xăm
Da chân mồ hôi nhễ nhại cuộn vòng gân trời
Ôm vết thương rỉ máu ta cười dưới ánh mặt trời.

Mỗi khi nhắc đến những khó khăn đất nước, chúng ta thường nghe đến những “bất hạnh”, “nỗi đau”, “tính tự ti mặc cảm”, vâng đó là một thực tế hôm nay, thế nhưng dân tộc Việt Nam “vốn xưng nền văn hiến đã lâu, nước non bờ cõi đã chia, phong tục Bắc Nam cũng khác” như Nguyễn Trãi khẳng định, không phải chỉ biết đau, biết tự ti mặc cảm mà thôi nhưng từ những nỗi đau đã biết lớn lên bằng tự hào và kiêu hãnh làm người Việt Nam. Chỗ dựa tinh thần của tuổi trẻ Việt Nam hôm nay không có gì khác hơn là lịch sử. Không thể làm nên lịch sử mà không cần học lịch sử. Lịch sử sẽ là vũ khí, là hành trang trong hành trình tranh đấu cho một nước Việt Nam mới, cũng như để xây dựng một Việt Nam tươi đẹp sau nầy.

Ta khuyên cháu con ta còn tiếp tục làm người
Làm người huy hoàng phải chọn làm người dân Nam
Làm người ngang tàng điểm mặt mày của trần gian
Hỡi những ai gục xuống ngồi dậy hùng cường đi lên.

Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ như giọt nước mắt bi tráng của tuổi trẻ Việt Nam ngày nào nhỏ xuống trên quê hương chiến tranh khốn khổ, đã bốc thành hơi, tụ thành mây và sau bao năm vần vũ khắp góc bể chân trời đã trở về quê hương qua ánh mắt của em, qua nụ cười của chị, qua tiếng hát của anh, hồn nhiên và trong sáng. Từ “vết thương rỉ máu” của một dân tộc đã từng bị nhiều đế quốc thay phiên bóc lột, lợi dụng và hôm nay còn đang chịu đựng trong áp bức của độc tài đảng trị, Việt Nam quê hương ngạo nghễ cất lên như một lời khuyên, hãy sống và hãy vững tin vào lịch sử, sẽ có một ngày, sẽ có một ngày.

Trần Trung Đạo

ĐÔI BỜ

nguyenanbinh

Ngày trở lại chuyến phà xưa đã vắng
Dòng nước trôi chia nỗi nhớ đôi bờ
Chỉ còn lại cầu tàu heo hút nắng
Mưa mù trời bến đợi lạnh chơ vơ.

Chiếc cầu mới vắt ngang bờ sông Hậu
Em có về ngắm tia nắng ban mai
Từng sợi dây văng sợi thương sợi nhớ
Gió theo người thả từng sợi tóc phai.

Dòng sông chảy quanh hai bờ lau trắng
Bao ánh đèn vẫn tỏa sáng đêm đêm
Soi bóng nước tìm đâu ngày mưa nắng
Mảnh trăng cong đã rớt lại bên thềm.

Ai nghiêng nắng để hồng lên đôi má
Tôi qua sông nghe sóng vỗ trong lòng.
Đời bạc tóc nên thu đi hối hả
Vàng áo xưa còn nỗi nhớ đục trong.

Nếu có được một sớm mai nào khác
Gặp lại nhau chắc cũng trắng nỗi buồn
Tình mới lớn qua bao mùa lận đận
Thương đôi bờ còn sót lại làn hương.

NGUYỄN AN BÌNH

Thủy Táng

nguyenducbatngan

sao người đành đạp giậu mồng tơi
còn nhớ chăng bèo giạt hoa trôi
theo bạo ngược xói mòn lịch sử
đã tan hoang bên lở bên bồi

đắp thương khó lên nền nhà cũ
phất phơ mây sợi vắn sợi dài
gió ngăn vách khất lời tình tự
áo nâu sồng bạc thếch trần ai

đôi dép rách trước thềm kể lể
buổi sáng anh đi buổi tối em về
cha khô khốc mẹ mòn kinh kệ
chuồn chuồn bay làng xóm buồn tê

biển xót dạ cuồng triều trở dạ
núi sông rơi
xứ sở lạc đường
căng uất ức giong buồm thảm họa
tương lai
chào
thủy táng trùng dương

NGUYỄN ĐỨC BẠTNGÀN

TÂM SỰ NHẠN MÔN QUAN

nguyenmonggiac

Vách núi sừng sững như chọc thủng khoảng mây, ngăn tầm mắt người Khất Đan bên nầy và người Tống bên kia. Những cuộc nam chinh của nước Liêu từ cửa ải này xuất phát, cuồn cuộn chảy vào Trung Nguyên để nổi lửa đốt cháy nhà cửa và bật cung khơi nguồn máu chảy. Rồi nếu muốn bắc phạt để trả nợ máu, quân Tống cũng từ cửa ải này tuôn vào những sa mạc nước Liêu dậm nát không còn ngọn cỏ xanh hay một tiếng khóc tiếng cười.
Nhạn môn quan là tuyến đầu, biên giới giữa nước Liêu và nước Tống. Quân lính hai bên sẵn sàng ở thế tác chiến, đôi mắt xoi mói hoài nghi. Trừ trường hợp do nội tình, một bên bị suy yếu để bên kia thừa cơ lấn áp cướp bóc, bình thường cửa ải đóng kín, không ai được qua khỏi. Chỉ có chim hồng chim nhạn nhờ góp gió vào đôi cánh, từ ngả nhạn môn quan bay xuôi về phương nam tìm hơi ấm.
Tâm sự Nhạn môn quan là hoài bão của kẻ muốn làm kiếp chim, bay bổng lên trên, xóa hết biên giới nhỏ hẹp để sống theo tình người. Kẻ đó vẻ mặt hiên ngang, tính khí cao ngạo, to lớn hào sảng như con hùng sư 1, lớn mật mà cẩn thận, trí dũng song toàn 2, là nhân vật mà Kim Dung tha thiết đặt hết niềm tin, cố gắng thâu góp tất cả mọi đức tính lý tưởng giao cho hắn, nhờ hắn thay mình vào đời để bình thiên hạ.
Nhân vật tuyệt vời ấy là TIÊU PHONG, trong Lục Mạch Thần Kiếm. Cuộc đời của Tiêu Phong gắn liền vào cửa ải này.
Nếu Tiêu Viễn Sơn và người vợ bất hạnh không bồng con về thăm ngoại, thì Tiêu Phong vĩnh viễn là một vương tử Khất Đan, suy nghĩ theo quan niệm thuần túy Khất Đan, hành động theo quyền lợi người Khất Đan, nghĩa là ông sẽ bằng lòng với thế đứng của kẻ ở mạn bắc Nhạn môn quan.
Cuộc đời run rủi cho mọi sự bi đát mâu thuẫn có thể xảy ra, do mưu ly gián Liêu Tống của Mộ Dung Bác, quần hào trung nguyên tưởng một nhóm võ sĩ Đại Liêu âm mưu tấn công Thiếu Lâm tự để đoạt kinh, nên cùng nhau ra Nhạn môn quan phục kích. Vợ chồng Tiêu Viễn Sơn vô tình mắc nạn, mẹ Tiêu Phong bị thảm sát, cha Tiêu Phong tuyệt vọng tưởng vợ con chết hết nên ôm xác thân nhân nhảy xuống vực sâu tự vận. Nhưng như lời Trí Quang đại sư thuật lại:
“Gã người Liêu trong lúc lơ lửng chưa xuống đến đáy vực mới phát giác ra con mình chưa chết. Gã liền lập tức quăng con lên. Tâm linh gã mau lẹ đã đành, nhưng tung con đúng chỗ không sai mảy may thì võ công này ai mà không khiếp sợ. Tôi nhìn anh em chết thảm, khóc ròng một lúc rồi nhấc đứa nhỏ lên toan đập nó vào tảng đá cho chết đi. Nhưng vừa toan liệng vào; bỗng nghe nó khóc thét lên. Tôi nhìn mặt nó một cái, thấy má nó bụ bẫm đỏ hây, mắt nó đen láy và trong sáng đang nhìn tôi. Nếu tôi không trông vào mặt nó, thì đã quật chết tươi rồi, chả còn chuyện gì nữa”.
Cậu bé Tiêu Phong sống sót nhờ một cái nhìn. Trí Quang đại sư đã nhìn thẳng vào gương mặt đứa bé, để thấy trong đôi má bụ bẫm đỏ hây quyền sống thiêng liêng của một con người, trong đôi mắt đen láy chan chứa niềm vui, tình thương yêu, tình liên đới giữa người với người, không phân biệt Liêu hay Tống, già hay trẻ.
Tiêu Phong được quyền sống sót nhờ ở tình người, và dĩ nhiên lớn lên, cũng phải có nhiệm vụ phụng sự cho tình người.
THỰC TRẠNG PHÂN TRANH CỦA CÁC CHỦNG TỘC
Bọn Uông Bang chúa, Thủ lãnh đại ca, Triệu thiền tôn, Trí Quang đại sư… hối hận vì đã vô tình giết oan vợ chồng Tiêu Viễn Sơn nên không nỡ giết đứa con, đem nó qua hẳn bên này biên giới, thật xa về phía nam Nhạn môn quan, giao cho vợ chồng họ Kiều ở dưới chân núi Thiếu Thất nuôi dưỡng. Chùa Thiếu Lâm rèn luyện võ công và đạo đức, rồi Uông bang chúa hướng dẫn đào tạo cậu bé thành một người Tống hoàn toàn. Sau nhiều trắc nghiệm thử thách gay go, Tiêu Phong mới được giao cây Đả cẩu bổng cho. Quần hào trung nguyên giấu nhẹm gốc gác của Tiêu Phong, và chính ông cũng cư xử như một người Hán thuần túy. Cái nhìn Tiêu Phong giống y cái nhìn mọi người, hạn chế trong biên giới quyền lợi dân tộc, nhắm mắt tuân hành theo hệ thống huyền thoại nhằm đề cao Hán tộc và phỉ báng bọn man di chung quanh. Những huyền thoại đó là căn bản của lịch sử tất cả các nước trên thế giới, nó là chất liệu chính của mọi chặng huyền sử, là nguyên tố, mục tiêu để các sử gia sưu tập tài liệu chứng minh diễn tiến sinh tồn của dân tộc. Chúng ta thử điểm mặt các anh hùng dân tộc, sẽ thấy thành tích lớn lao nhất của họ là giết được hằng hà sa số người lân bang để bảo vệ quyền lợi chủng tộc, mở mang bờ cõi. Cho nên chúng ta sẽ không ngạc nhiên khi thấy bên này biên giới, nhân vật ấy là một tên đại ác, còn ở bên kia biên giới lại là một nhân vật lịch sử siêu việt oai hùng từng làm sáng đôi mắt ấu thơ. Cũng chính vì tinh thần dân tộc này mà người ta tự cho phép làm ngơ trước những hành động phi nhân, như nỗi vui sướng phấn khởi của một đứa trẻ da trắng Hoa kỳ khi xem trên màn ảnh cảnh quân biên phòng tàn sát không thương tiếc bọn mọi da đỏ. Tự tôn dân tộc, tự ái quốc gia là một thực tại trường cửu, cho nên dù cùng theo một chủ nghĩa, người cộng sản bên này biên giới vẫn gườm súng thủ thế với đồng chí bên kia biên giới. Hơn thế nữa, khi do một nguyên nhân riêng, những người cùng chủng tộc chém giết nhau, người ta vẫn thường trấn an lương tâm bằng cách gán cho người đồng bào là tay sai ngoại bang, nghĩa là không còn đáng được cư xử như một kẻ đồng giống nòi (một bên bị gọi là tay sai đế quốc Mỹ, một bên bị gọi là tay sai đế quốc đỏ Nga Tàu).
Lòng tự tôn quốc gia đã là một thực tại trường cửu thì biên giới quốc gia, muôn ngàn Nhạn môn quan, càng được phòng thủ cẩn mật. Sức người khó có thể xô ngã hay chui qua lọt. Họa hoằn chỉ có thể lọt qua được là những loài chim.
Tiêu Phong lớn lên, nuôi dưỡng trong truyền thống, mê hoặc bởi huyền sử, căm hận đến tận xương tuỷ bọn Khất Đan độc ác, và hãnh diện là người Hán. Ông ở xa biên giới quá, nên không thể thấy được những thực tại Nhạn môn quan.
Phải chờ đến lúc vì vấn đề chủng tộc, ông bị truất ngôi bang chúa, Tiêu Phong mới trở về Nhạn Môn quan để thấy rõ thực tại phân tranh.
Ông đã thấy gì? Trên Nhạn môn quan chất ngất, mây phủ chập chùng, không khí thanh khiết và yên tĩnh thần tiên. Ở cõi cao nhìn xuống nhân gian, chắc chắn mọi sự trở thành bé nhỏ tầm thường mà dễ thương như đồ chơi con nít: từ một khoảng vườn hẹp, một mái nhà nhỏ, một cánh đồng xanh. Nhưng Tiêu Phong về lại đây với một nỗi hận trùng trùng. Ông thắc mắc: Có phải mình là người Khất Đan không? Khất Đan có tàn ác không? Người Hán có đẹp như huyền sử không?
Thực tại đã trả lời:
“Trong lúc Tiêu Phong đang băn khoăn nghĩ ngợi, bỗng nghe thấy có tiếng trẻ con khóc. Ông giật mình như người trong giấc mơ, tự hỏi: Tại sao lại có trẻ nít khóc?
Kế đó, ông lại nghe thấy tiếng đàn bà lanh lảnh, liền thò đầu trông ra để xem cho rõ thì thấy bọn quan binh nhà Đại Tống tên nào cũng cướp đêm về một vài người đàn bà con nít. Bọn người bị bắt đều mặc quần áo Khất Đan theo kiểu chăn trâu bò. Nhiều tên quan binh nhà Đại Tống đưa tay sờ nắn vào những người đàn bà con gái Khất Đan trông rất bỉ ổi và khả ố. Người đàn bà nào kháng cự là bị quan binh đánh đập…
Đột nhiên một đứa con nít đang ngồi trong lòng mẹ khóc thét lên. Người mẹ Khất Đan hất tay tên quan binh Đại Tống ra, quay lại gọi đứa nhỏ đang khóc. Tên quân cả giận, nắm lấy đứa nhỏ quật xuống đất, rồi cho vó ngựa xéo lên mình. Lập tức ruột gan đứa nhỏ lòi ra, Người đàn bà Khất Đan sợ, mặt xám ngắt, muốn khóc mà không khóc thành tiếng. Cả bọn quan binh xúm lại cười rộ…
Lũ quan binh này đi qua rồi thì lại một toán hơn mười tên khác la ó đi tới. Toán quan binh Đại Tống này cũng đều cưỡi ngựa, tay cầm đao dài giơ lên. Đầu mũi đao đều có bêu một cái thủ cấp máu chảy đầm đìa. Khúc đuôi một con ngựa có buộc quãng dây dài trói năm người đàn ông Khất Đan. Cách ăn mặc những người Khất Đan này cũng toàn là hạng bình dân chăn trâu bò. Hai người đã già lắm, đầu tóc bạc phơ, còn ba người nữa là thiếu niên mười lăm mười sáu tuổi. Tiêu Phong hiểu ngay: Khi thấy quan binh Đại Tống đến ăn cướp, bọn tráng niên Khất Đan khỏe mạnh đều chạy thoát nên lũ quan binh chỉ cướp được những người già nua yếu đuối và đàn bà trẻ con đem về.”
Cảnh ấy khiến Tiêu Phong hết còn hãnh diện là người Tống. Ông thành thực thú nhận với A Châu trên Nhạn môn quan là ông hãnh diện được làm người Khất Đan. Tiêu Phong không giữ được lâu niềm kiêu hãnh ấy. Lần thứ nhì lên Nhạn môn quan, Tiêu Phong được mục kích một cảnh khác:
“Ông thấy đội quân binh Khất Đan ước chừng dư tám trăm người trên lưng ngựa chất đầy vải lụa cùng đồ vật, và số người bị bắt cũng đến dư tám trăm, phần đông là con gái ít tuổi, và một số trai tráng. Họ đều mặc y phục người Tống, ai nấy khóc lóc kêu gào, vẻ mặt cực kỳ buồn thảm…
Ngày trước Tiêu Phong đến ngoài ải Nhạn môn quan chính mắt ông đã trông thấy bọn quan binh nhà Đại Tống hiếp đáp nhân dân Khất Đan, lần này ông lại thấy binh Khất Đan đi bắt con dân Đại Tống. Vẻ mặt của những người bị bắt bữa nay cũng sầu khổ chẳng khác gì những người Khất Đan bị bắt ngày nọ.”
Trong những tên quân Đại Tống bỉ ổi khả ố với đàn bà Khất Đan, có thể sau này nhiều người trở thành anh hùng bảo vệ biên cương bờ cõi. Cũng như nếu một trong số 800 tên Khất Đan thảo khấu rủi ro bị chết, hắn sẽ được long trọng quốc táng, vì VỊ QUỐC VONG THÂN. Đó là bản chất của mọi huyền sử, cũng như vẻ mặt sầu khổ của những người dân Tống lẫn bọn bình dân chăn trâu bò Khất Đan là bản chất của lịch sử nhân loại. Sâu bên trong các kinh kỳ, bên trong các tuyên ngôn huấn từ, bên trong các sách sử yếu dành cho quần chúng, ý niệm quốc gia và sự duy trì niềm tự tôn chủng tộc đủ chất men khích động đám đông, để họ sẵn sàng tham dự vào tất cả mọi mưu đồ. Nhưng người đứng trên những Nhạn môn quan phải là những người sáng suốt. Cái nhìn của Tiêu Phong là cái nhìn của chim nhạn chim hồng:
” (Gần Nhạn môn quan), là một khu đồng ruộng bát ngát hoang vu, lúa má cùng cỏ dại mọc chen nhau, chỗ nào cũng đầy chông gai vì lâu ngày không người đi lại. Tiêu Phong nghĩ thầm:
– Người Tống vì sợ Khất đan đến đây cướp lương thảo nên đành bỏ hoang mấy trăm vạn khoảng ruộng tốt này. Mỗi một khoảng ruộng này đều nuôi nấng được bao nhiêu sinh linh. Họ đã tốn bao nhiêu huyết lệ mới làm thành ruộng tốt như vậy…”
Từ trên cao nhìn thấu được niềm vui nỗi buồn của một bác tiều phu người Tống, ao ước thái bình, để hằng ngày đem củi xuống chợ đổi nồi gạo trách mắm, nhìn thấu được màu xanh huyền diệu của một đọt cỏ, màu vàng ửng của trái chín, sắc vàng mênh mông của mùa. Nhìn được như vậy, Tiêu Phong mới sa vào niềm băn khoăn chưa từng có nơi mọi người Tống và mọi người Khất Đan. Thân thế đặc biệt của ông đưa ông đến một vị trí đặc biệt buộc ông nhận một thân phận đặc biệt.
NỖI BĂN KHOĂN CỦA TIÊU PHONG
Sự thức tỉnh đưa đến những hậu quả không mấy may mắn. Ông trở thành người cô đơn, xa lạ với đồng loại từ lúc ông tự hỏi:
– Làm sao đã là người cả lại còn phân chia làm người Khất Đan, người Đại Tống, rồi Nữ Chân, người Cao Ly… Bọn người bên này sang bờ cõi nước kia để kiếm lương, rồi bọn người bên kia lại qua đất bên này để giết người đốt nhà? Người bên này mắng người bên kia là CON CHÓ LIÊU, người bên kia mắng lại người bên này là CON HEO TỐNG.
Hay xa hơn nữa, từ khi ông dùng trực giác và sự tha thiết đến tình người để phân biệt phải trái, chân nguỵ trong lời kể chuyện Nhạn môn quan của Trí Quang đại sư.
Trí Quang kể lại cuộc phục kích quân Khất Đan mấy mươi năm về trước để giải thích thân thế Kiều Phong:
” Thủ lãnh đại ca thấy quân Liêu cẩu đến gần liền hú lên một tiếng dài để ra hiệu. Sau các tảng đá lớn, ám tiễn tới tấp bay ra: nào cương tiễn, nào tụ tiễn, nào phi đao, nào thiết chuỳ đều tẩm thuốc kịch độc. Bỗng nghe những tiếng oai oái vang dậy, cả bọn Liêu cẩu nhốn nháo, ngã ngựa đến quá nửa. Lúc nầy tôi đã đếm được rõ ràng bọn võ sĩ Khất Đan có mười tám tên cả thảy, mười một tên trúng ám khí, thế là chỉ còn bảy tên. Chúng tôi liền nhất tề xông ra khoa đao lên chém giết một lúc sạch cả, không còn một mống chạy thoát.
Nghe xong cuộc thắng lợi vẹn toàn này, do lòng tự ái quốc gia, nhiều người trong Cái bang hoan hô nhiệt liệt.
Bọn chó Liêu dĩ nhiên tàn ác như dã thú, giết được càng nhiều càng tốt. Vậy mà các bậc tiền bối anh hùng đã giết sạch trong chớp mắt mười tám tên chó chết. Quần chúng nhiệt liệt tán thưởng, giống như khán giả vỗ tay khi thấy quân biên phòng da trắng giết sạch cả bộ lạc da đỏ, giống như độc giả nhật báo vui mừng đọc tin thắng trận ở Sơn Mỹ: Lực lượng đồng minh Hoa Kỳ thuộc sư đoàn Americal phối hợp với không quân và pháo binh, đã tấn công vào một làng chiến đấu phòng thủ kiên cố của cộng quân sáng ngày 16-3-1968 vừa qua. Giao tranh diễn ra ác liệt suốt buổi sáng và xế trưa. Kết quả: 128 xác địch đếm được tại trận, 13 tình nghi bị bắt giữ và 3 vũ khí bị tịch thu.
Nhưng sau những vui mừng đột khởi ban đầu, một hai tháng hay một hai năm sau, phải có những hoài nghi nhân bản: Tại sao 128 tên địch bỏ xác tại trận mà quân bạn chỉ tịch thu được có 3 vũ khí? Chính câu hỏi này đã đưa đến vụ án thời danh Calley. Đoàn Dự và Tiêu Phong khi nghe Trí Quang đại sư kể chuyện, cũng có những hoài nghi tương tự. Tiêu Phong thầm hỏi: Đại sư vừa nói bọn võ sĩ Khất Đan này tất được tuyển chọn rất kỹ mà sao chỉ trong khoảnh khắc, chúng đã bị giết hết. Đó là những băn khoăn xuất phát từ lòng nhân đạo, đòi phân biệt người dân vô tội chịu đựng lịch sử và kẻ chiến đấu. Bên kia Nhạn môn quan, chưa phải là vùng oanh kích tự do, nên cả hai con người chí tình Đoàn Dự và Tiêu Phong đều tỏ vẻ hoài nghi, trong lúc quần hào vỗ tay hoan nghênh nhiệt liệt.
Tuy nhiên sự thức tỉnh chỉ mới bắt đầu, nên Tiêu Phong chưa dám có thái độ nào. Ông vẫn im lặng, nghe Trí Quang đại sư kể tiếp:
Chúng tôi đành ỷ bên mình đông người xúm lại uy hiếp, sáu bảy người nhảy xô lại tấn công gã đàn ông và bốn năm người xúm lại đánh thiếu phụ, Không ngờ thiếu phụ này chẳng biết chút võ nghệ nào. Vừa bị chém một đao, cánh tay nàng đã đứt lìa mình. Thiếu phụ bồng con té nhào xuống đất. Một người khác bồi thêm phát nữa hớt mất nửa đầu nàng. Gã đàn ông tuy võ nghệ cao cường nhưng bị bảy tám cao thủ vây đánh thì còn tài nào có thể rảnh tay giải cứu cho vợ con. Mấy chiêu đầu gã chỉ dùng thủ pháp kỳ dị cướp lấy vũ khí chúng tôi, chứ không chém giết ai. Nhưng khi thấy vợ con bị giết rồi thì mắt gã đỏ ngầu, vẻ mặt hung dữ trông mà phát khiếp. Gã người Liêu tưởng đã giết hết bọn cường địch liền chạy lại bên thi thể vợ, ôm lấy thây nàng khóc rống lên, tiếng khóc cực kỳ bi thảm. Tôi nghe tiếng khóc không khỏi mủi lòng. Thì ra tên Liêu cẩu này ác như quỷ, dữ như dã thú mà hãy còn nhân tính. Giọng khóc bi ai của gã tưởng chẳng kém gì người Hán chúng ta.
Hoá ra chính Trí Quang đại sư cũng thức tỉnh như Tiêu Phong, Đoàn Dự. Đại sư hơi có chút kinh ngạc, thú nhận tiếng khóc Khất Đan không khác mấy với tiếng khóc Đại Tống.
Triệu Thiền Tôn, một cao thủ cũng tham dự vào trận phục kích ấy nói:
– Loài dã thú còn có thâm tình giữa cha con và vợ chồng vị tất nó đã thua loài người. Thế thì người Khất Đan cũng là người, người Hán cũng là người, sao nó lại không thương xót bằng người Hán?
Mọi người nghe Triệu Thiền Tôn nói đều la ó phản đối, Triệu Thiền Tôn chỉ cười nhạt không đáp. Nụ cười khinh miệt ấy khai ngộ cho Tiêu Phong, con người bị xâu xé giữa cuộc phân tranh khốc liệt về chủng tộc. Không một chút do dự ông tự vạch cho mình một lý tưởng: cố gắng xoá bỏ hận thù giữa các quốc gia chủng tộc, nhìn con người không qua lòng tự ái tự tôn tích luỹ lâu đời do âm mưu chính trị, mà qua tình thương giữa người với người.
Con người ra đời với đôi má hây hây bụ bẩm, và đôi mắt trong sáng đen nháy, lớn lên trong tiếng nô đùa hồn nhiên, vào đời hệ luỵ với tình cha mẹ, tình vợ chồng, tình tương thân hàng xóm láng giềng, tình quê hương quyến luyến, từ một cổng làng một bụi tre, một hòn đá bên đường, một cây đa cỗi, con người nguyên vẹn niềm vui và nỗi buồn, dù phút vui phù phiếm mà buồn da diết, vẫn được quyền sống nốt cho hết khoảng thời gian thiên phú. Sự thực phân tranh, cùng với bản tính chân thực chí tình, đã giúp Tiêu Phong ngộ đạo, Từ TỰ GIÁC, ông bắt đầu GIÁC THA.
TIẾNG GẦM CỦA CON HÙNG SƯ
Không phải bằng những bài kệ. Không phải bằng những câu quát tháo phẫn nộ nơi cửa miệng các vị thiền sư. Là một cao thủ võ lâm, Tiêu Phong có một lối khai ngộ riêng của con nhà võ. Những vấn nạn khai ngộ của ông liên quan đến võ học, đã thức tỉnh từ một vị tăng Thiếu Lâm cho đến đám đông kiếm khách.
Có thể có nhiều lối khai ngộ khác. Như bài kệ Trí Quang đại sư viết cho Tiêu Phong trước khi viên tịch:
Chúng sinh đều một cuộc
Vạn vật thế bình quân
Thánh hiền hay súc loại
Thảy tới chỗ đồng nhân
Khất đan với Hán nhân
Bất luận giả hay chân
Ân oán cùng vinh nhục
Không hơn đống bụi trần
Đã thức tỉnh đầu óc những kẻ mang nặng thành kiến, oán thù, khiếp sợ trên cái thế chông chênh ở Nhạn môn quan.
Nhưng Tiêu Phong chọn một lối khai ngộ thích hợp với đối tượng: khai ngộ bằng võ học. Điều đó không có gì ngạc nhiên, vì triết lý của sự sống không hạn hẹp trong các suy niệm nghiêm túc về vũ trụ, nhân sinh, mà bàng bạc trong lời chim sớm, nụ cười trẻ thơ, trăng tròn rồi khuyết, bèo hợp rồi tan. Vậy thì tại sao lại không có thể tìm thấy một lẽ sống, một hướng đi trong cách sử một chiêu kiếm, vung một đường quyền, luyện một nội lực. Lấy võ để khai ngộ là đã vượt qua được cái chấp đầu tiên: trọng lý thuyết và các suy niệm thuần lý, xem nhẹ sinh hoạt bình thường của thực tại. Nhờ vậy, cách giác tha của Tiêu Phong đã thức dậy niềm băn khoăn trong mọi người, khiến họ xao xuyến bàng hoàng, đặt ngược vấn đề, tra hỏi về những điều lâu nay tưởng là chân lý vĩnh cửu.
Con hùng sư giữa đám quần hùng đã dùng tiếng gầm của võ công để giác tha. Trước hết, ông thức tỉnh tăm tối cho một kẻ tưởng đã xoá hết hình sắc, ý thức vô thường: nhà sư Huyền Tịch.
“Lúc này, đôi bên cùng sử dụng toàn Thái tổ trường quyền, ngoài việc so bì các võ công cao thấp, không còn chỗ nào để nhiếc móc nhau nữa. Huyền Tịch thấy Huyền Nạn chỉ trong chớp mắt là nguy hiểm đến tính mệnh, không nói nữa, phóng véo một chỉ ra, điểm huyệt tuyệt kỹ này của phái Thiếu Lâm gọi là Thiên Trúc Phật Chỉ. Tiêu Phong thấy Huyền Tịch phóng chỉ điểm ra, vừa nghe tiếng vù vù rất nhỏ nhẹ, đã nói ngay:
– Lâu nay tôi vẫn ngưỡng mộ ngón Thiên Trúc Phật Chỉ quả nhiên lợi hại. Nhưng ngón này là võ công của người Hồ bên Thiên Trúc mà đại sư đem ra để đấu với huyền phát chính tông của Đức Thái Tổ bản triều, thì dù đại sư có thắng được tôi, há chẳng mang tiếng là kẻ thông Thiên bán nước, làm nhục cho bản triều ư?
Huyền Tịch vừa nghe, bất giác rùng mình.
Hôm nay quần hùng sở dĩ đến đây vây đánh Tiêu Phong vì ông là giòng giống rợ Hồ nước Khất Đan. những môn phái võ Thiếu Lâm được truyền vào Trung Quốc từ lâu. Các môn phái ở Trung nguyên chẳng nhiều thì ít đều có liên quan đến những môn võ của phái Thiếu Lâm. Mọi người cơ hồ quên lãng mối liên quan giữa người Hồ và phái này.
Quần hùng nghe Tiêu Phong nói, ai nấy trong lòng rung động, vì trong các vị anh hùng ở đây, có nhiều nhân vật kiến thức rất rộng, không khỏi nghĩ thầm: Bọn ta đã kính cẩn Đạt Ma Lão Tổ như một vị thần minh mà sao lại căm hận người Khất Đan đến xương tuỷ? Cả người Khất Đan cho chí người Thiên Trúc đều là nói giống rợ Hồ chứ đâu có cùng chủng tộc với mình? Xét cho cùng thì hai giống người này khác nhau xa: người Thiên Trúc trước nay không tàn sát đồng bào Trung quốc, còn người Khất Đan thì tàn ác vô cùng.
Như vậy thì không phải cứ thấy người Hồ là giết, mà bên trong còn phân biệt kẻ thiện người ác. Thế thì giòng giống Khất Đan không có ai là người tốt ư?
Tiêu Phong lấy ngay cái eo hẹp của lượng người để làm vấn nạn. Người Hán có mặc cảm tự tôn của người Hán, hãnh diện với Thái Tổ trường quyền do vị vua sáng lập ra nhà Tống sáng chế. Từ đó, quần hùng Trung nguyên xem thường bọn tây hồ, bắc địch, nam man, đông di. Bây giờ, trong lúc nguy nan, nhà sư nặng lòng dân tộc mà quên đạo pháp lại đem võ công của người Hồ ra tranh đấu với võ công bản triều, không chú ý đến sự nghịch lý trớ trêu của hành động. Nếu vì muốn thắng Hồ mà phải sử dụng võ công của rợ Hồ, thì làm sao phân biệt được phải trái, đen trắng?
Huyền Tịch bất giác rùng mình vì Tiêu Phong đã chứng tỏ cho đại sư thấy sự mê lầm, và hơn thế nữa, đánh đúng được niềm băn khoăn bấy lâu Huyền Tịch chưa tìm ra lối thoát: Làm sao giải quyết được mâu thuẫn quyền lợi dân tộc và đao pháp? Nếu tu sĩ phải đứng trước một hoàn cảnh trớ trêu, một bên là sự tồn vong tối thượng của quốc gia một bên là lý tưởng tôn giáo, thì tu sĩ phải dung hoà thế nào giữa đạo và đời? Huyền Tịch trước hết tự nhận là một đại sư xem tất cả không hơn đống bụi trần hay trước hết là một công dân Đại Tống? Nếu vì quyền lợi của Đại Tống mà mê lầm, Huyền Tịch có quyền tiếp tục mặc bộ áo cà sa. Chỉ có các nhà sư Việt Nam thời Lý Trần mới có quyết định cởi áo nâu cầm gươm giệt giặc, rồi rửa tay gác kiếm, thanh thản trở về dưới cội Bồ đề. Mà cho dù có dứt khoát được như vậy, trên toà sen, Đức Phật cũng không khỏi nhìn nhà sư ái quốc với đôi chút ngậm ngùi. Huyền Tịch bất giác rùng mình, rồi từ đó cập thuyền vào bến Giác.
Sau đó, Tiêu Phong đặt câu hỏi khai ngộ rõ ràng hơn cho đại sư Huyền Độ:
“Đột nhiên Tiêu Phong hỏi:
– Huyền Độ đại sư, gia gia tại hạ (chỉ Tiêu Viễn Sơn, người Khất Đan, cha của Tiêu Phong, bây giờ đang tu ở chùa Thiếu Lâm) ở quí tự có mạnh giỏi không?
Huyền Độ sửng sốt đáp:
– Lệnh Tôn đã quy y, vào thanh tu trong hậu viện chùa Thiếu Lâm. Lúc bần tăng đi Nam Kinh, không muốn đến chào lệnh tôn để khỏi bận lòng trần tục.
Tiêu Phong nói:
– Tại hạ muốn gặp gia gia để hỏi người một câu.
Huyền Độ hắn giọng một tiếng chưa nói gì, thì Tiêu Phong lại tiếp:
– Tại hạ muốn hỏi gia phụ: Nếu Liêu binh đến đánh chùa Thiếu Lâm, thì người xử trí ra sao?
Huyền Độ đáp ngay:
– Bần tăng nghĩ rằng dĩ nhiên cư sĩ sẽ giết địch để bảo vệ Phật pháp.
Tiêu Phong nói:
– Nhưng gia phụ là người Khất đan, chẳng lẽ lại vì người Hán mà giết người Khất đan ư?
Huyền Độ trầm ngâm một chút rồi nói:
– Bang chúa (chỉ Tiêu Phong) quả là người Khất đan mà bỏ chỗ tối để theo chỗ sáng, thật là đáng kính phục.
Tiêu Phong nói:
– Đại sư là người Hán thì nghĩ người Hán sáng mà người Khất Đan tối. Tại hạ người Khất đan cũng tưởng Đại Liêu sáng còn Đại Tống tối, Tổ tiên tại hạ bị giống người Yết tàn sát, lại bị người Tiên ti hà hiếp cực kỳ khốn khổ, chạy hết chỗ này đến chỗ khác. Đời nhà Đại Đường, người Hán võ công cực thịnh, đã giết không biết bao nhiêu là dũng sĩ, cướp bao nhiêu là phụ nữ Khất đan. Bây giờ đời Tống, võ công người Hán kém cỏi, nên lại bị người Khất Đan tàn sát. Hai bên thù oán đời đời biết bao giờ mới hết?
Huyền Độ lẳng lặng một lúc, rồi cất tiếng niệm Phật nghĩa là bất đầu nhận thức được lẽ sắc không, vượt qua những cố chấp về kỳ thị chủng tộc và tự ái quốc gia. Sự thức tỉnh của một đại sư ngộ đạo đưa tâm hồn người đến chỗ sáng suốt, nên có thể Huyền Độ đại sư lâm râm niệm kinh Kim Cương hay Viên Giác.
Nếu tất cả đều ngộ tự nhiên thiên hạ sẽ thái bình. Mọi người sẽ thành thật thương yêu nhau, tôn trọng lẽ sống và quyền tự do tối thượng, đề cao nhân phẩm. Khổ nỗi tôn giáo chỉ là cái mộc tự vệ, an ủi của kẻ yếu, khi chưa giải quyết được sự bất công. Khi chưa giải quyết được nguồn nheo nhóc trên địa hạt hữu hình cụ thể, khuynh hướng giải thích siêu hình để con người chấp nhận thực trạng khốn khó gần giống như sự làm ngơ, thoả hiệp. Chính đó là nguyên nhân sự lúng túng thụ động của Thiếu Lâm trước những vấn nạn cấp thiết đòi hỏi một giải pháp cấp thời, nhãn tiền. Nhiều lúc các đại sư lại còn hiện diện cho kẻ khác lấy cớ hành động mê muội. Quần hào Cái bang truất ngôi bang chúa của Kiều Phong, các đại sư Thiếu Lâm có mặt để đóng vai chủ toạ. Quần hào Trung nguyên tụ họp ở Tụ hiền trang, để xếp đặt kế hoạch tiêu diệt một người chỉ có mỗi cái tội làm người Khất đan, các nhà sư vẫn sẵn sàng tham dự. Với uy tín cao cả môn phái được xem là võ lâm bắc đẩu, nếu các vị sư Thiếu lâm muốn hoà giải giữa hai dân tộc Liêu Tống, muốn ngăn cản một cuộc đổ máu vô ích, muốn giác ngộ kẻ đại ác, muốn bảo vệ công lý, thì hoài bão đó có thể thực hiện được dễ dàng. Ở đây, họ không làm gì hết, chỉ nhìn mọi diễn tiến kỳ quặc của đời sống thế tục với nhãn quan siêu hình.
Cho nên Tiêu Phong đã khai ngộ cho các thiền sư, mà sự tranh chấp đố kỵ giữa hai dân tộc láng giềng vẫn không giải quyết được. Những âm mưu tranh bá đồ vương vẫn tiến hành, và tiến hành ngay dưới mái chùa Thiếu Lâm: Mộ dung Bác âm mưu phục hưng cho Đại Yên, Tiêu Viễn Sơn âm mưu thu thập tinh tuý võ học của Trung nguyên cho quyền lợi ưu thắng của Đại Liêu. Chính Mộ Dung Bác hùng hồn chứng minh rằng sở dĩ mình hùng hồn phao vu cho Tiêu Viễn Sơn, chỉ vì muốn gây hiềm khích giữa Liêu Tống. Hai nước giao tranh, họ Mộ Dung mới có thể nhân cơ hội phục hưng nhà Yên.
Ngay dưới mái chùa Thiếu Lâm, Mộ Dung Bác đề nghị với Tiêu Phong:
“- Nếu nhà Mộ Dung dựng cờ khởi nghĩa dấy quân vào cướp Sơn Đông, mà được Đại Liêu hưởng ứng, đồng thời mấy nước Thổ phồn, Đại Lý cùng Tây Hạ cũng đứng lên thì năm nước chúng ta chia cắt nhà Đại Tống không phải là chuyện khó. Nước Yên của tại hạ không dám động chạm đến một tấc đất của Đại Liêu. Nếu công cuộc phục hưng thành tựu thì chỉ lấy đất Nam triều. Vụ này rất có lợi cho Đại Liêu, sao Tiêu huynh lại không vui lòng cử sự?
Tiêu Phong nghiêm nghị nói:
– Mối đại thù giết mẹ đâu có thể đem ra làm chuyện mua bán? Báo được thù thì báo, cha con ta chịu chết nơi đây. Những chuyện tham lam hèn hạ, cha con họ Tiêu này đâu có thể làm được.
Mộ Dung Bác ngửa mặt lên trời cả cười rồi lớn tiếng nói:
– Ta thường nghe nói Tiêu Phong đại hiệp là tay anh hùng quán thế kiến thức phi thường. Dè đâu bữa nay mới thấy rõ y là kẻ không hiểu đại nghĩa mà chỉ sính cường theo cái dũng của kẻ thất phu. Ha ha! Thiệt là đáng tức cười.
Tiêu Phong biết lão dùng lời nói khích, lạnh lùng nói:
– Tiêu Phong là anh hùng hào kiệt cũng được mà là phàm phu tục tử cũng được, nhưng không thể để kẻ khác dùng làm cái bung xung cho thoả tâm nguyện của họ.
Mộ Dung Bác nói:
– Kẻ ăn lộc vua phải biết trung quân mà đại hiệp lại nghĩ đến tư cừu của cha mẹ, không đem lòng tận trung báo quốc, há chẳng bất nghĩa với Đại Liêu?
Tiêu Phong tiến lên một bước hiên ngang nói:
– Ngươi vừa mới nói ngoài biên cương hai nước Tống Liêu thù hận giết nhau gây nên thảm trạng. Ngươi đã thấy cảnh người Tống và người Liêu chia lìa vợ con nhà tan người chết rồi chớ gì? Hai nước Tống Liêu bãi cuộc binh đao mấy chục năm xâm lấn Nam triều, rồi sẽ có bao nhiêu người Tống phải phơi thây? Bao nhiêu người Liêu phải uổng mạng?
Cuộc chiến chinh thảm khốc trên thế gian này ai là người nắm chắc được phần thắng? Nhà Đại Tống binh nhiều lương đủ, chỉ cần mấy viên đại tướng hết sức chống cự thì nước Đại Liêu và nước Thổ Phồng có hợp lực chiến đấu mà thắng được cũng phải máu chảy thành sông, thây chất thành núi, để cho họ Mộ Dung nhà ngươi thừa cơ phục hưng Yên Quốc. Việc kiến công lập nghiệp cần phải giữ đất yên dân như thế sao?
Tiêu Phong nhìn con người như nhìn một sinh vật tối thượng không thể nhân danh bất cứ điều gì, đưa ra bất cứ chiêu bài nào để hành hạ huỷ diệt. Dù biên giới có là sông rộng nước chảy tràn hai bờ xa lạ hay là những ngọn núi chất ngất đi lại khó khăn, bên này Nhạn môn quan và bên kia Nhạn môn quan, Tiêu Phong chỉ thấy những người dân sống trọn vẹn liên kết với tình cha mẹ vợ chồng anh em láng giềng, hệ luỵ với đất đá cây cỏ ruộng nương. Ngược lại, Mộ Dung Bác chỉ xem con người như một phần tử của cộng đồng thuần nhất bởi nòi giống quyền lợi vì vậy chịu tất cả những áp lực của gánh nặng của áp lực tinh thần, siêu hình, kinh tế, văn hoá. Con người, theo Mộ Dung Bác chỉ xứng đáng tồn tại nếu chịu tuân theo những quy luật có lợi cho cộng đồng, thích hợp với guồng máy chung.
Những lời tâm huyết của Tiêu Phong đã thức tỉnh được phần nào Mộ Dung Bác, kẻ chỉ mới mơ ước vươn tới chiếc vương miện uy quyền. Mộ Dung Bác chưa mắc kẹt trong mê hồn trận của sức mạnh uy quyền, chưa đạt danh vọng nên có thể tha làm phúc. Nhưng Tiêu Phong đã thất bại khi muốn can gián một ông vua tại vị dấn mình vào cuộc chiến tranh để mở rộng bờ cõi: Gia Luật Hồng Cơ.
Tiêu Phong không làm gì được để ngăn cản cuộc nam chinh của hoàng đế Đại Liêu, đành liều thân uy hiếp Hồng Cơ để bắt thề độc là từ nay về sau không bao giờ có ý định xua quân vượt qua Nhạn môn quan. Sau hành động tuyệt vọng ấy, Tiêu Phong chỉ còn một ngõ cụt: cái chết.
Đối với Đại Liêu, Tiêu Phong hết còn đất sống, vì đã dám bức bách hoàng đế. Đối với Đại Tống, trước sau ông cũng chỉ là một kẻ xa lạ không thể hoà đồng vào cuộc sống chung của Hán tộc. Kẻ muốn làm kiếp chim, bay bổng lên trên, xoá hết ranh giới nhỏ hẹp để sống theo tình người, kẻ muốn Nhạn môn quan hạ thấp và nâng cao thương yêu, liên đới nhân loại, không thể nào có đất đứng giữa xã hội này.
Ông chỉ còn có cách tự vẫn, để cho vó ngựa Khất đan không vượt qua ải. Ông đã thành công một cách tuyệt vọng:
“Vó ngựa lộp cộp vang lên một lúc, hàng vạn nhân mã nước Liêu vừa đi vừa ngoảnh cổ lại nhìn thi thể Tiêu Phong nằm thẳng dưới đất ra chiều thương cảm.
Trên vòm trời, tiếng chim líu lo gọi nhau. Một đàn hồng nhạn vượt qua đầu đoàn quân Liêu từ phía bắc xuống phía nam lại vượt qua bức tường thành Nhạn môn quan rồi bay mãi đi. Quân Liêu đi mỗi lúc một xa, tiếng vó ngựa dần dần biến thành những tiếng sấm rền khe khẽ phía sau núi.
Cuối cùng, vượt qua được biên giới quốc gia, chỉ có loài chim. Loài người hai chân dính chặt vào đất bùn lầy, lòng đầy thành kiến và hận thù, hai tay với mãi không tới được dự ước, làm sao ngông cuồng bắt chước Tiêu Phong?
Lục Mạch Thần Kiếm chấm dứt với tiếng thở dài của Kim Dung và lời ríu rít líu lo chế diễu của một loài chim.

NGUYỄN MỘNG GIÁC