Lớp ba trường làng chưa xong thì Bảy Bền đã xếp bút bi phụ mẹ lo cho hai em có cái tọng vô mồm. Bà má nói học cho nhiều cũng vậy thôi con ơi, cái mả nhà mình không phát đường chữ nghĩa. Vô rừng theo cha mày cho chắc.
Hai cha con đi lấy đặc sản rừng. Mùa nào thức nấy. Rừng miền đông trái cây thôi thì vô thiên vô lũng. Nào Xay, Cám , Bù lộp, Gùi… đến mùa măng thì bà má ngày nào cũng có mặt ở chợ bán đủ loại măng khô măng tươi. Đúng là nghề dạy nghề. Mùa chính mưa ở miền Đông dầm dề không thua chi mùa mưa ở Huế trong thơ Nguyễn Bính mà cha của Bảy Bền thừa tài để cho ra măng sấy là quá xá hay. Nghề không cao dễ chi được. Chưa kể bẫy cò ke còn cho bà má có thu nhập thêm từ thịt rừng. Ngày nào ông cha cũng khề khà vài ly ba xi đế bên một đĩa thịt tú hụ không Cheo, Chồn thì cũng Nhím, Sóc hay Gà rừng. Hai cha con còn tham gia lấy cây về bán cho những trại mộc. Ai làm nhà cần loại cây chi cứ gặp cha con Bảy Bền là xong tuốt. Nhờ chí thú nên mười lăm tuổi Bảy Bền đã có một cặp bò kéo xe chiến đấu. Trên cổ xe bò Bảy đi sâu vô những cách rừng lồ ô đem loại cây nầy về xóm nhỏ dựng nghề chẻ tăm nhang cho bà con cô bác kiếm thêm.
Với rừng, Bảy Bền tinh thông hơn cả căn nhà của mình.
Nhờ cái tinh thông nầy mà những năm khốn khó sau chiến tranh rất nhiều các ông các bà có của nương theo Bảy Bền mà ăn nên làm ra, lên luôn cả hàng tỷ phú xứ ta chứ triệu phú thì khỏi nói. Đặc biệt những năm rừng bị nghiêm cấm, ai vào rừng không giấy phép là tù không cãi cọ lôi thôi. Kẹt cái lúc đó kinh tế còn khó quá, cấm thì dân nghèo lấy chi sống? Thôi thì gỗ thì cấm triệt chứ mây tre lá ta cho qua. Cấp giấy phép cho họ và ta thu thuế nuôi rừng. Nhưng quý vị thị thành muốn biết đâu đó trong nguyên sinh có tre có mây có lá thì phải thông qua thằng chưa tốt nghiệp lớp ba là Bảy Bền, còn gọi nó là anh nầy anh nọ nữa mới là ngon hung. Bảy hoá thành thần tài cho các vị có giấy phép.
Mỗi chủ khai thác chí ít trong tay năm mươi lính lác. Họ giao hết cho Bảy. Bảy đưa thợ vào những cách rừng nơi ngự trị toàn lồ ô. Người ta đưa lồ ô cây về nhà máy để sản xuất đũa. Mỗi cây người thợ rừng hưởng bẩy trăm đồng. Zin 130 đưa về nhà máy là hai nghìn đồng. Mỗi cây chủ thầu lời một ngàn ba, cho chung chi thuế má xăng cộ hết một ngàn ta còn ba trăm. Mỗi xe sáu trăm cây ta có một trăm tám mươi nghìn lãi. Mỗi ngày ta có năm xe về nhà máy thì không tỷ phú thì là chi? Ngoại trừ lồ ô cây ta còn cho ra niền để chế biến tăm nhang, mỗi bó niền thợ rừng ăn bốn ngàn về đến chỗ bán là bốn mươi ngàn, cho chi phí tối đa ba mươi ngàn. Mỗi Kamax chở bốn trăm cục niền, ngày đi hai xe. Mẹ cha ơi vàng để đâu cho hết nói chi tiền.
Về sau một đại gia rất am tường thiên thời địa lợi và lòng nhân ái bao trùm không chừa một khoản trống nào ở vùng rừng X. Vợ của Bảy Bền nhờ ông ta mà thoát chết, cảm tạ cái ơn nầy nên Bảy kính cẩn gọi đại gia là anh Sáu và nghiêng mình dưới trướng anh trong nghiệp khai thác độc quyền mây tre lá. Anh Sáu lên Bảy cũng lên theo và anh Sáu nâng Bảy Bền như nâng trứng. Chao ôi Bảy hay lắm. Lồ ô dưới lũng sâu mới là loại nhiều năm tuổi. Muốn ra một cặp đũa không bị toè đầu phải lồ ô ba năm tuổi đi lên, cây non là bỏ. Tăm nhang cũng vậy, chẻ xong đem đánh bóng thì cây tăm non sẽ gãy, nếu may mắn còn nguyên chúng sẽ bị cong vòng khi cắm lên bát hương. Bọn nhiệm thu rút lên một nắm chỉ cần một cây bị oằn là chúng bỏ cả kiện. Hàng xuất khẩu đang nằm ở bến cảng mà bị trả là chết, nên chi bước khai thác thô phải tuyệt đối cây già. Muốn cây già thì xuống lũng. Nhưng lũng trong rừng miền Đông không thua chi dốc cao khúc khuỷu dốc thăm thẳm trong thơ ông Quang Dũng tí nào. Nhưng với Bảy Bền thì không sao. Anh ta điều trị tốt.
Thợ rừng cứ cho ra sản phẩm bất kỳ nơi đâu, đèo cao hay suối sâu. Khó khăn cỡ nào cũng không qua được Bảy. Xét cần hai ba chiếc Zin sẽ vào bốc hàng một chỗ để cùng nhau hợp lực mà qua truông qua đèo. Bảy sẽ cùng một tốp công nhân chuyên xẻ đường luôn có mặt trên từng cây số với cuốc chim và xẻng trên vai. Bọn tài xế Zin ba cầu và Zin 130 phong Bảy lên hàng kỹ sư cầu đường luôn. Còn nói vầy:
– Mấy thằng kỹ sư thời nay phải gọi Bảy Bền bằng sư phụ.
Khai thác mây tre tạm gián đoạn khi mùa Đười ươi đến. Mẹ cha ơi. Dân rừng Miền Đông lên hay không nhờ loại trái cây nầy. Tháng giêng là thợ đã xuyên rừng tìm cây và dánh dấu. Cây nào có tên là xin đừng rờ vào, thợ rừng nói chuyện với nhau bằng cú đấm là chuyện nhỏ. Dao rựa cũng nhỏ luôn. Cây tao mà mày dám tra búa vô hạ là bao nhiêu tao lấy hết. Luật rừng đã định rồi. Cây đã khắc tên ai biểu mày đụng vô? Tháng hai là túa ra đi lượm Ươi bay. Loại trái nầy trị được bách bệnh đa nghe. Nóng trong người, thiệt đó, đang xỉn rượu tối mặt mà chơi một ly hai trái ươi là nhẹ liền, cả táo bón kinh niên cũng chào thua đàn anh Ươi. Nghe đâu nó còn trị được tiểu đường và thấp khớp. Nhưng nếu chỉ vậy thì không thể trả lời cho câu hỏi vì sao Ươi đắt như vàng. Đến mùa đầu nậu thu mua để xuất khẩu. Chả ai cần biết xuất để làm chi chỉ biết nó cao giá lời nhiều là em làm cái đã tính sau.
Nhưng mà đi lượm Ươi bay thì một ngày được mấy trái? Cơn ăn cơm dỡ vô rừng mà đi lượm thì ở nhà đi móc bọc ni lông còn có ăn hơn. Quý ông thợ rừng tra búa tra rìu vô cây hạ hết. Khổ cái là rừng đang được bảo vệ. Cụm rừng anh đang khai thác lồ ô tại sao cây ươi nầy bị đốn? Chỉ một cây bị ngã là anh bị tước giấy phép ngay tức khắc nghe chưa? Dạ nghe.
Lúc nầy mới thòi ra cái thông minh của thằng chủ soái Bảy Bền. Bảy không đốn mà trèo lên cây để hái. Mẹ ơi. Cây Ươi trái nhiều phải là cây trưởng thành cả hai vòng ôm người lớn và cao tầm hai mươi mét, ông cố nội ai leo cho được thưa quý anh? Ai không được chứ Bảy Bền thì pha. Bảy chả có võ nên nào biết Bích hổ du tường là cái ba láp ba xàm chi, Bảy cũng chả tin cái vụ nhún một phát bay lên như trong phim tàu. Tôn Ngộ Không cũng xạo luôn. Bảy trèo theo kiểu của Bảy và truyền nghề cho anh em thợ chả dấu diếm chi.
Bảy ra lò rèn đặt đánh bốn mươi cây đinh. Mỗi cây dài bốn mươi phân bằng thép lò xo phuộc nhún của xe Zeep lùn còn sót lại từ thời mồ ma ông cộng hoà. Không có loại thép nầy thì phải tạm sử dụng sắt rằn Pi 12. Thêm một cây búa ba ký mà cái cán cũng được hàn bằng thép trắng. Một sợi đai lưng dùng để trèo trụ điện cao thế là xong bộ đồ trèo cây. Cứ thế Bảy trèo. Cứ lên cao năm tấc nện một cây đinh lút vô hai mươi phân, bốn mươi cây là hai mươi mét. Lên đỉnh rồi tha hồ ta hái. Lưng lửng bao là thả xuống bằng một sợi tời vẫn đeo sau lưng khi chinh phục đỉnh cao. Cái vụ trèo nầy phải gan góc cỡ Phàn Khoái thời Hán Sở tranh hùng bên tàu. Lên cao là gió ngàn lồng lộng thổi. Những ai từng trèo dừa để làm cỏ chắc biết gió ra sao khi trên cao. Nhưng trên một ngọn dừa kẻ trèo không có cảm giác ngợp bởi bên dưới là nhà và vợ con đang à ơi hát bài quê hương. Cái ngợp của màu xanh đại ngàn cực bí hiểm. Ta có cảm giác như đang một mình trên biển xanh bao la với một mảnh thuyền con. Cái ngợp ấy là niềm cô đơn của một sinh linh bé mọn trước hùng vĩ của cao thâm.
Dân sống bằng rừng tất nhiên gan dạ có thừa. Đối phó với sốt rét rừng hay hùm beo lợn rừng thậm chí cả ông Bồ cũng không sợ. Con nít mới lớn cũng coi pha. Một thợ rừng thật sự phải dám trèo lên đỉnh cao khi đi Ươi. Mỗi tốp đi Ươi thường bốn nhân mạng, hai trong bốn dám trèo là bảnh lắm, thông thường mỗi tốp chỉ một đại ca. Những đại ca nầy mệt một tí khi khi trèo và hái trái, bù lại khi gùi sản phầm về xuôi đại ca có quyền đi tay không. Về xuôi để bán không dễ đâu thưa quí anh hào. Ươi cao giá nên lắm thằng trời ơi hạ cây lấy trái, kiểu thu một lần là tận tuyệt. Vì vậy bảo vệ và kiểm lâm bắt rạt gáo bất kể anh trèo hay hạ. Thợ phải cắt rừng xuyên sơn không để hàng làm ra bị lấy lại. Lắm khi phải băng sơn cả ngày mới đến nơi.
Vậy nên Bảy Bền kết nghĩa đệ huynh với một thợ rừng cũng gan góc không thua. Hắn tên Minh Tàn. Tay này một vợ và ba con. Lâm tặc loại chiến. Minh Tàn từng ở tù vị tội trộm gỗ quý trong rừng Cấm. Tù xong hắn nép mình dưới trướng đại gia Sáu làm lồ ô nuôi vợ con. Mùa Ươi có Tàn, Bảy Bền khoẻ re vụ trèo cây. Tàn tuy nhỏ con nhưng khoẻ như con bò, vài chục ký trên vai hắn bước cả cây số mà hơi thở không nặng. Một cục niền năm mươi ký hắn nhấc lên xe bằng hai tay như Trụ Vương bê nàng Tô Đát Kỷ trong phim Phong Thần. Chỉ mùa Ươi mới kéo Tàn và vợ con hắn ra khỏi khổ luỵ của cơm áo gạo tiền. Cho hay nghèo mà ham vui nên khổ thì ráng chịu con ơi. May cho Tàn là biết sống biết chơi nên Bảy lâu lâu cứu trợ bạn hiền vài đồng cho qua thì mưa gió. Không có Bảy e rằng vợ Tàn qua không khỏi cái đận bị hư thai đứa thứ tư. Mẹ cha ơi đêm hôm khuya khoắt mà vợ hắn than đau bụng. Bảy phải đích thân đánh Zin 130 qua mặt đại gia Sáu đưa vợ bạn lên bệnh viện Huyện. Bạn bè vậy chớ sao nữa bây giờ hả ba quân? Tốt quá thì thôi.
Nhưng có một chuyện mà Minh Tàn nhớ ơn Bảy suốt đời không thể nào quên. Ơn nặng bằng sinh thành chứ không ít. Số là mùa Ươi năm ấy Tàn bị một tai nạn hi hữu tưởng chết. Sống được thì quả là mạng lớn tầm thái sơn. Tàn trèo lên đỉnh một cây ươi hái trái sao đó không biết mà hắn bị sẩy tay rơi xuống, may thay một cánh tay của thân Ươi giữ Tàn lại bởi xóc vô áo. Áo thợ rừng bằng nilon tốt nên Tàn ta tòng teng. Nó mà toác một phát thì Tàn du địa phủ. Dưới gốc cả bọn toát mồ hôi khi nhìn Bảy Bền bò ra cành cây cứu thằng bạn. May quá cây Ươi ngó vậy mà dai. Ơn cứu mạng nầy đã khiến Tàn và thợ rừng làm mây tre cho chủ Sáu kính trọng Bảy lắm.
Nói chung về gan dạ và tinh thông rừng Bảy Bền là số một. Sống với bè bạn có tình có nghĩa cúng hết ý luôn.
Nhưng như vậy đâu đã hết cái ngon lành của Bảy với rừng. Ba cái cây ăn trái và mây tre lá chỉ là chuyện vặt, dù cái vặt nầy là sự sống của vô thiên vô lũng dân dưới đáy cuộc đời. Cái làm nên tên nên tuổi Bảy Bền là một nghiệp khác, nghiệp nầy có làm vẫn đục đi tí chút tình thân của Bảy và Minh Tàn. Tàn cho rằng trên đời nầy không có chi độc ác hơn là phá nhà cướp của nhà người. Ủa… chớ nghiệp chi mà nghe rỡn ốc vậy kìa? Xin thưa đó là nghiệp ăn Ong. Đúng rồi. Đi lấy mật ong đồng nghĩa với phá nhà cướp của chớ còn chi nữa. Nhưng nói vậy liệu có cực đoan không? Té ra câu vật phải dưỡng nhơn là sai à? Vậy thì lấy mật đâu mà… rơ lưỡi cho trẻ mới sinh?
– Nói thiệt với mày – Bảy Bền nói với Minh Tàn – Bọn nhà giàu ăn Tay Gấu, Óc khỉ, Hà nàm(1) cheo chồn nhím thỏ heo rừng có sao đâu? Nói như mày thì hạ một cái cây cũng ác vậy. Ác ác ác cái con khỉ. Tao thấy mấy thằng quyền chức khen cái rượu ngâm ong non quá chừng luôn. Nhất là Vò vẻ hay ong Lỗ.
– Mày chỉ biết cái trước mắt mà không biết cái nguy hại về sau. Con ong cái kiến hay bất cứ một sinh linh nào có sự sống là có quyền tồn tại như tao và mày. Một cái cây cũng có linh hồn của nó. Trong Truyện Kiều ông Nguyễn Du viết rằng: Cũng là phận cải trôn kim. Nghĩ là một hạt cải, một cái trôn kim bị sứt cũng có số phận của nó…
– Dẹp mày đi. Tao mới lớp ba chả biết ông Du cô Kiều nào hết. Tao làm gì kệ mẹ tao, rủ mày đi kiếm tiền không đi thì thôi đừng có dạy khôn tao.
Nói vậy chứ ăn ong đâu phải ai cũng làm được. Không có nghề ong nó đốt cho mất xác chứ chơi sao? Ong ở rừng miền Đông đâu phải như ở miệt U Minh trong Đất rừng phương nam của ông Đoàn Giỏi. Đâu đơn giản đến mùa là vào rừng canh hướng gió đặt kèo chờ ngày lấy mật. Ong mật miền Đông đóng tổ trên cổ thụ cao cả mười lăm mét là thấp. Có tổ to bằng tấm chiếu đơn, chỉ cần xin một nữa là có cả vài mươi lít tinh tuý của rừng. Phải có bí quyết mới dám đụng vô nơi ở của chúa rừng. Xưa nay ai cũng nhầm ông ba mươi là chúa sơn lâm. Xin thưa chúa của rừng xanh phải là Ong mới chính xác. Có những tổ ong đóng trên cao cả Gấu chúa cũng chờn không dám to toe. Chưa leo đến đã bị đánh cho tối mặt còn đâu nữa mà ăn? Riêng cái khoản ong Lỗ thì chúa sơn lâm phải cong đuôi chạy dài. Thậm chí chạy mà vẫn bị đuổi theo đánh cho kỳ chết mới thôi. Thiên hạ nghe đến ong Vò vẻ là đã chờn, Vò vẻ mà so với ong Lỗ thì chẳng ra chi. Đã có người bị ong Lỗ đánh đến thối thịt.
Có dữ đến mấy vào tay của Bảy Bền là xếp giáo quy hàng. Hôm đó một thợ rừng đang vác lồ ô vào đống thì bị ong Lỗ tấn công. Ba chân bốn cẳng anh ta chạy về chòi. Nghe kể, Bảy Bền liền khoác túi dết rồi thân chinh đến nơi. Chỉ một mồi lửa và một cái chi đó trong túi dết được đốt lên mà Bảy Bền dám bật nắp một tổ ong Lỗ mà vĩ chứa ong non có đường kính những năm mươi phân. Cả chục vĩ như vậy. Bảy Bền khẳng định rằng trong tất cả các loại con non các loài thì ong Lỗ và Vò vẻ là tốt nhất. Hà nàm của thú bốn chân cũng không qua. Con ong non ngâm rượu là một loại phục hồi khí lực của đàn ông tốt nhất trần đời. Cả sâm nhung quy thục bên tàu cũng không dám bì với ong non. Nhìn tổ ong Lỗ bị diệt Minh Tàn lắc đầu:
– Tổ ong nầy đâu có ghẹo mày mà mày giết nó vậy?
– Thằng Dũng Giỏi suýt bị giết mày biết không?
– Đụng đến thì nó cảnh giác vậy thôi, nó đuổi chứ có đánh đâu, nếu nó đánh thằng Dũng chạy lên trời cũng không thoát. Mày coi chừng bị trả quả cho coi.
– Nhân với chả quả. Mày yên cho tao nhờ cái coi.
Dữ như ong Lỗ mà Bảy Bền còn trị cái một thì ong Mật là nguồn thu tuyệt vời nhất mà Bảy có. Thời nào cũng vậy gian trá luôn đi kèm. Thấy một thằng chở mật trong rừng ra, mật còn nằm trong vĩ sáp hẳn hoi mà vẫn cứ là nước đường. Chỉ mật của Bảy là tuyệt đối không pha. Và nguyên chất luôn có giá của nó. Đại gia nào muốn có mật tốt cứ gặp Bảy. Ai mua mật muốn biết thiệt chơn cứ đưa cho Bảy. Ba cái vụ thử lá hành không đáng tin bằng cái lưỡi của chính chúng ta. Mật ong là tinh tuý của hương hoa đương nhiên nó phải nhẹ hơn mật của đường. Một chai mật ong bọn gian trá luôn cho mật thiệt nằm trên. Muốn thử ta rót ra chén. Mật ra trước trong lưỡi ta có vị khác mật giữa chai. Chả một thằng bán mật gian manh nào qua được Bảy.
Thiên hạ rừng X gọi Bảy là chúa không ngoa tí nào hết.
Và chúa chết vô cùng thảm khốc.
***
Ngày nay hầu hết dân X vẫn còn kể cho nhau và con cháu nghe về cái chết của Bảy Bền. Quả ông bà dạy sinh nghề tử nghiệp không ngoa tí nào hết. Ăn ong lên đến hàng sư như Bảy mà vẫn không thoát sự truy sát của thần rừng. Ai từng mục kích và tham gia chôn cất Bảy Bền đảm bảo tin rằng rừng có thần.
Mùa Ươi tàn. Dân mây tre trở lại nghiệp chính, tuy vậy vẫn còn một số kiếm cú chót trước khi mùa mưa đến. Những năm tháng ấy rừng còn nhiều nên thời tiết rất ổn định. Giữa tháng ba âm lịch dân nương rẫy đã xuống giống đón mưa, và chắc ăn là chỉ ba ngày sau khi xuống là cây mưa đầu mùa đến tức khắc.
Hôm ấy thằng Đen chạy về hào hển nói vOi Bảy Bền:
– Chú Bảy ơi… tui đi mót Ươi gặp một tổ ong Thế to lắm.
– Ở đâu?
– Nó đóng tổ trên một cây Ươi ở đồi Tượng.
– To cỡ nào?
– Bằng cả tấm chiếu chú ơi. Tui đang lượm nghe ù ù trên đầu, sợ quá chạy về báo cho chú hay
– Mày dẫn tao đi lại chỗ đó coi.
Ngay chiều hôm ấy Bảy Bền theo xe về xuôi. Hôm sau có mặt tại hiện trường thêm thằng em vợ tên Bằng và một đệ tử tên Hoà. Thường thì khi lấy Ươi có thêm Minh Tàn là đủ bộ tứ. Nhưng gì chứ ăn ong thì không có tên Minh. Theo Bảy Bền thì chẳng qua Tàn ta sợ ong đánh nên lên giọng chứ đạo đức cái con mẹ gì thằng tù đó:
– Mẹ nó – Bảy Bền nói – nó tù thì chớ còn từng làm trong lò mổ heo. Trâu mà nó con lột da sống bằng lưỡi câu nữa kìa.
Nói xong ba thày trò lên đường, Đen theo luôn cho đủ bộ:
– Mày cứ ngồi yên dưới gốc coi tụi tao làm, về tao cho mày năm lít. Được chưa?
Trước khi nện đinh thép vào thân cây Bảy Bền đốt sáu cây nhang đại. Nhang đại dài tám mươi phân to bằng ngón tay cái. Bảy dắt vô dây lưng ba cây, ba cây còn lại giao cho ba đệ tử. Trước đó bầy ong nghe động đã thả rơi tự do từng tảng ong xuống đầu bộ tứ rồi bay lên nghe ù ù như tiếng máy bay. Vậy mà không biết trong mấy cây nhang Bảy pha chế cái chi mà bầy ong không dám lao xuống. Chúng chỉ bay đen ngòm và đặc sệt bên ngoài ù ù ù ù nghe vô cùng kinh rợn. Không kinh nghiệm lão luyện là đứng tim chết tại trận. Thăng Đen lần đầu nên mặt tái như chàm đổ. Không có cái tỉnh khô của Hoà và Bằng là nó bỏ của chaỵ lấy người.
Cứ thế Bảy nện đinh đến đâu lần lên đến đó bằng đai lưng trèo trụ điện. Bầy ong tuốt trên cao ù ù hâm doạ chả làm Bảy động tâm. Đóng đến cây đinh thứ ba mươi, nghĩa là độ cao áng chừng mươi lăm mét thì sự cố đến.
– Trợt chân chăng?
– Không.
– Dây thắt lưng bị đứt?
– Không. Dây cáp dù bẹ ba xịn đứt sao được.
– Vậy thì cái gì?
– Trời hại.
Đúng lúc đó mây đen kéo đến và cây mưa đầu mùa của rừng Miền Đông nhanh chóng tràn qua. Trời hại hay thần rừng lấy mạng thì cũng như nhau. Mưa đủ để tắt sạch mấy cây nhang đại – cái mà – dùng để cho tất cả các loại ong hãi sợ hoàn toàn mất tác dụng. Về sau mấy thằng chuyên ăn ong kể rằng, thông thường khi mưa đến ong sẽ lui về để bảo vệ tổ và ong chúa. Nếu vậy thì Bảy Bền đủ thời gian để tuột xuống và chạy. Nhưng không hiểu sao bầy ong ào vào Bảy và tấn công. Hàng tỷ con ong Thế. Loài ong mật dữ như gấu ngựa, con nào con nấy to bằng ngón tay út tha hồ đánh kẻ đang phá nhà mình. Ba thằng dưới gốc hãi quá ba chân bốn cẳng tuôn theo đường mòn chạy về chòi.
Sau cây mưa toàn thể thợ rừng ngồi ở chòi nghe báo cáo sự thể. Không một thằng nào dám lên hiện trường xem Bảy sống chết ra sao. Mẹ ơi có nghề có cả đồ nghề còn chết nói chi tay không. Tài xề chở lồ ồ về xưởng báo ngay cho đại gia Sáu. Sáu báo lên chỉ huy lâm trường. Ngày hôm sau các quan rừng và vợ cùng hai đứa con của Bảy có mặt. Cũng chả ai dám thâm nhập hiện trường. Lúc đó đại gia Sáu mới nhớ đến Minh Tàn.
Minh Tàn đang chăm bà xã hắn ở bệnh viện. Đại gia Sáu phải nhờ môt hộ lý chăm lo người bệnh rồi đưa Tàn lên rừng bằng Min khơ 125 phân khối. Minh đến ngay hiện trường không một chút sợ hãi. Về sau hắn nói với anh em rằng sau hai ngày một đêm cái xác đã lạnh giá. Ong là loài thanh khiết và tinh khôn. Bằng chứng là nó chỉ giết kẻ phá mình chứ tha cho ba thằng ăn theo. Chúng mà cố tình thì cu Đen, Hoà và Bằng lên trời cũng không thoát. Xác chết đã nặng mùi tử khí nên đàn ong phải ra đi.
Đưa cái xác của Bảy xuống là một kỳ công của Minh Tàn.
Và rất ngoạn mục.
Những sợi dây trên những chiếc Zin 130 dùng để cảo cứng lồ ô trước khi rời rừng được tập trung. Tàn nối một sợi dài thăm thẳm rồi theo nhưng ngọn đinh trên cây ươi cứ thế leo lên. Tất nhiên là cũng đai lưng tử tế. Đến bên Bảy Bền, Minh Tàn cột một đầu dây vào lưng anh ta. Lấy cái túi dết đựng đinh và cây búa. Minh tiếp tục nện đinh vô thân cây lên đến cái nhánh mà cái tàng ong trắng như hoa bưởi đang tại vị. Nó to bằng tấm chiếu là có thật. Minh cột sợi dây vào nhánh cây rồi lại bò xuống chỗ xác chết. Hắn ta rút trong túi dết ra một lưỡi dao, thọc mũi nhọn vào cái đai lưng của Bảy Bền. Đai lưng đứt và Bảy Bền tòng teng bởi sợi dây được cột chặt bên trên.
Thật khủng khiếp.
Một người chết đang lơ lửng trên không.
Minh Tàn lại trèo lên nhánh cây. Tháo sợi dây đưa xác chết từ từ xuống đất và Bảy Bền lên xe Jin về nhà để ra nghĩa địa.
Nguyễn Trí
như cánh hồng phai
theo chân bước, tiếng ve sầu rộn rã
trên nẻo về, trên cả những mùa xanh
cho tôi xin hoa phượng nở đầy cành
cho trên tay ngày tháng buồn đi dạo
em nhớ thắp mùa trăng ngời trên áo
bàn chân vui có thoáng chút ngập ngừng?
con sóc nào mang trọn gánh yêu thương
chút ngơ ngẩn của bao mùa xa cách?
em hãy sắp ngăn sầu trong cặp sách
ủ tình vùi trong một sớm mưa mau
tôi gửi theo về chút nắng xôn xao
lời từ giã bằng ngôn từ rất thật
xin cứ mộng lên trang đầu thứ nhất
ươm ý hương trinh nét ngọc dâng đời
đôi mùa tình xa như cánh hồng phai
trường lớp cũ ngủ vùi trong kỷ niệm
NP phan
Bài Thơ Mười Năm
Từ ngực thanh xuân
Ngày đang hối hả
Anh giấu đời mình
Vào em rất lạ
Mai này nắng lóa
Nhiệm mầu trên vai
Nghe chật bàn tay
Nỗi buồn trú ẩn
Em là cơn giận
Tạt vào hồn anh
Anh là mỏng manh
Giữa ngày đổ vỡ
Tình yêu vạt gió
Nhốt hoài vẫn bay
Bàn chân đường dài
Có người đứng lại
Ngày chẳng còn ai
Con đường nỗi nhớ
Chiếc bàn trăn trở
Vết trầy tháng năm
Em vẫn mười năm
Nụ cười lãng mạn
Từ một ngày câm
Anh về khép nép
Em như sông hẹp
Trôi qua biển buồn
Anh như đời chim
Ngủ vùi bên cỏ
Mười năm nhìn rõ
Đoạn đường mênh mông
Tình có như không
Bóng mình dọi xuống
Em ơi hãy uống
Những ngày hân hoan
Hãy để thời gian
Lau giùm ngấn lệ
Mình về sông trẻ
Tắm đời cho nhau
Đàng sau nỗi đau
Môi cười hạnh phúc
Phạm Ngũ Yên
DIỄN VĂN CỦA ÔNG OBAMA: MỘT BÀI CA HAY NHƯNG LỖI NHỊP
Dư âm chuyến viếng thăm Việt Nam của Tổng Thống Obama, được báo chí gọi là “cơn sốt Obama”, mãi đến hôm nay vẫn còn âm ỉ trong lòng người dân Việt nam và cả những đảng viên Cộng sản. Với bài diễn văn lôi cuốn đọc trước hai ngàn người tại Hà Nội, và hầu hết dân chúng Việt nam được nghe trên đài truyền hình, ông không chỉ được ái mộ như một nhà chính trị đa tài, mà còn là một nhà văn hóa lỗi lạc, làm rung động lòng người. Chuyện ăn bún chả ở một cái quán bình dân, cũng như chuyện dừng xe ở làng quê dưới cơn mưa, nói chuyện và bá vai chụp ảnh với mấy người dân lao động, mặc dù ai cũng nhận ra đó là những màn kịch, nhưng ông thực sự đã khuấy động được trái tim của hầu hết mọi người. Khi vào Sài gòn, qua cuộc tiếp xúc với những người trẻ, ông càng chứng tỏ sự hoạt bát, đa tài, bình dị và thân thiện. Rời khỏi Việt Nam, ông đã để lại cho người dân Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ hình ảnh của một người lãnh đạo lý tưởng, đáng yêu, đáng kính nhất. Từ ánh mắt, nụ cười, cái bắt tay, lời nói, nhất cử nhất động của ông dường như đều có chủ đích. Và ông đã thành công mỹ mãn.
Ông đến như một đợt sóng bất ngờ xua đi những bãi bờ hoang tàn, nhớp nhơ, cũ kỹ, như điệu nhạc huyền hoặc làm tan đi cái không khí nặng nề, u ám. Người ta đã mê ông, đã mê Mỹ như là biểu tượng của Tư Bản, của Tư Do Dân Chủ. Điều đặc biệt hơn là từ đây trong lòng người dân Việt Nam in đậm hình ảnh một nhà lãnh đạo thần tượng mà họ đã khao khát hơn 41 năm qua, từ khi chế độ Cộng Sản man rợ bao trùm trên cả nước.
Những kẻ lãnh đạo mà người dân đã bị áp đặt, không có quyền được chọn lựa, hầu hết là những người bất tài, thiếu đức, độc tài, hống hách, tham nhũng và bán nước. Họ xem những lãnh tụ bây giờ là đám tham quan tồi tệ nhất trong lịch sử dân tộc. Một đám sâu dân mọt nước.
Chỉ một ngày, sau khi Ông Obama rời khỏi Việt nam, một hình ảnh tương phản rất quái đản đã được phổ biến khắp nơi, trên mạng, facebook, cũng như trên một số báo chí trong nước. Một ông quan CS (cỡ nhỏ) từ trên xe “con” bước xuống lúc đường ngập nước, được hai đồng chí đàn em mang hai chiêc ghế đến để ông bước lên, sau đó ông quan bá cổ một tên đàn em khác để được cõng vào lề đường. Người dân vừa có một so sánh lý thú, làm đám cán bộ càng thêm nóng mặt!
Nhiều người Việt hải ngoại cũng hết lời ca ngợi ông Obama, đánh giá rất cao sự thể hiện và tác động của ông đối với mọi tầng lớp dân chúng Việt Nam, trên nhiều lãnh vực: tư do, nhân quyền, biển Đông, và đặc biệt là phong cách lãnh đạo. Một số cho là chưa có nhân vật nào làm cho người dân Việt Nam mê Mỹ, thần tượng Mỹ như là TT Obama đã làm. (Mà mê Mỹ đồng nghĩa với mê Tự Do, Dân Chủ). Ông Obama đã “khuấy động” được trái tim của hầu hết người dân Việt Nam, kể cả những người CS. Đó là cuộc “diễn biến hòa binh” tiềm ẩn nhưng thành công nhất của một vị TT Hoa Kỳ. Một cơ hội bất ngờ để người dân trong nước bỏ phiếu giữa Tự Do và Cộng Sản. Cũng có người bất bình, trách ông sao không đề cập đến chuyện cá chết, chuyện các nhà đấu tranh bị giam giữ, tù đày, chuyện trấn áp, đánh đập những người biểu tình ôn hòa. Nhưng cũng có người thông cảm cho vai trò “quốc khách” của ông, và nghĩ rằng chuyện dỡ bỏ lệnh cấm vận vũ khí sát thương, hay Hiệp ĐịnhTPP, có thể đều kèm theo những ràng buộc nào đó và có những cái giá phải trả. Đã chính trị là phải thủ đoạn, khó mà lường trước được kết quả hay hậu quả của người nhận. Cũng có thể đã có những phản đối, đòi hỏi, trao đổi đặc biệt khác, nhưng không được công khai vì sự tế nhị của ngoại giao. Hơn nữa là một Tổng Tống Mỹ, ông chỉ làm điều gì có lợi cho chính nước Mỹ. Như trong bài diễn văn, ông đã khẳng định là “đất nước của các bạn nằm trong tay của các bạn, do chính các bạn định đoạt!” …
Riêng cá nhân tôi, khi theo dõi bài diễn văn được mọi người ca ngợi, tôi cũng ít nhiều cảm kích, cũng thầm ngợi khen cả bài diễn văn (tất nhiên không phải do ông viết) lẫn cách thể hiện của ông. Tôi thích thú khi nghe ông nói, sỡ dĩ có cuộc chiến đẫm máu trước kia là do nỗi sợ Cộng sản, và ông bùi ngùi chia sẻ những hy sinh mất mát cho cả hai bên Mỹ- Việt.
Nhưng với tôi, bài diễn văn ấy vẫn chưa đủ, chưa làm cho cá nhân tôi thấy hấp dẫn và cảm phục. Tôi nhận ra một lỗ hổng, một món nợ khác mà người Mỹ, chính phủ Mỹ còn nợ dân chúng miền Nam Việt Nam trong vai trò một đồng minh, mà nhiều vị Tổng Thống Mỹ, đại diện, đã từng long trọng cam kết sẽ bảo vệ, ngay cả khi buộc Nam Việt Nam ký vào Hiệp Định Paris ngày 29.1.1973. Một bàn hiệp định bất công, tồi tệ mà Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã cực lực phản đối!
Là người Việt Nam, tôi luôn hiểu là đất nước tôi do người Việt nam chúng tôi quyết định. Việc để mất miển Nam là do trách nhiệm của người miền Nam, đặc biệt là của chính phủ và quân đội Nam Việt Nam. Nhưng rõ ràng chính phủ Mỹ đã phản bội lời hứa, đã đồng lõa với kẻ thù để đẩy Nam Việt Nam vào bước đường cùng. Chính ông Graham Martin, vị đại sứ Mỹ cuối cùng tại Sài gòn đã công nhận và nói trước Lưỡng Viện Quốc Hội Mỹ là “chúng ta đã có lỗi với họ, đã phản bội họ. Phản bội Nam Việt Nam là vết ô nhục lớn nhất của lịch sử Hoa Kỳ.” Sau này, rất nhiều vị tướng lãnh, chính khách và nhà sử học Mỹ cũng nói lên những điều tương tự.
Hôm nay, Mỹ đã làm bạn với Việt Nam CS, Quốc Hội và Chính Phủ Mỹ đã dỡ bỏ rào cản cuối cùng để bắt tay với kẻ cựu thù, trở thành “đối tác toàn diện”, hay “đối tác chiến lược”. Trong bài diễn văn được ca ngợi là một tuyệt tác”văn hóa”, ông Obama kêu gọi “hãy quên quá khứ để hướng tới tương lai” khi trích dẫn cả lời trong bài hát của Nhạc sĩ Văn Cao, tác giả bài quốc ca CS, “ từ đây người biết thương người, từ đây người biết yêu người” (mặc dù người nhạc sĩ này đã bị chính những đồng chí của ông cầm tù, hành hạ suốt gần cả một đời), và cả bài ca Nối Vòng Tay Lớn, mà chính tác giả phản chiến (và phản bội) Trịnh Công Sơn đã hát trên đài phát thanh Sài Gòn vào trưa ngày 30.4.75, khi CS vừa cưỡng chiếm miền Nam.
Khi ông Obama được chính quyền CS đón tiếp trọng thị, được dân chúng Việt nam ngợi ca như một thần tượng của Hòa Giải, của Tự Do, thì hơn 10.000 nấm mồ của những tử sĩ miền Nam VN vẫn bị hoang phế, phá hủy, trong Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa ( đã bị thay tên), và hàng vạn thương phế binh VNCH đang sống khốn cùng ở trên chính quê hương mình. Cả tử sĩ và những người lính miền Nam tàn phế già nua ấy vẫn đang bị kẻ chiến thắng tìm mọi cách hành hạ, sĩ nhục. Và biết bao người dân miền Nam xưa giờ vẫn khốn khổ trên quê nhà. Họ đã mất gần như tất cả, nhà cửa, tiền bạc và cả tương lai con cháu bởi sự phân biệt đối xử. Ai sẽ chìa những bàn tay ra với họ, ai sẽ nói với họ “từ đây người biết yêu người?”
Cám ơn ông Obama đã thức tỉnh được đồng bào Việt Nam tôi trong nước, đã thổi vào trái tim họ một luồng sinh khí mới của Tự Do, nhưng ông vẫn còn nợ người dân miền Nam một lời xin lỗi. Và bài diễn văn của ông, được nhiều người ngợi ca, với tôi, tiếc thay đó là một bài ca hay nhưng lỗi nhịp!
Phạm Tín An Ninh
(30.5.2016)
CHÌM LÁ BUỒN ĐAU
DỤ NGÔN
dại khôn khôn dại
ngạn ngục thiên đàng
những đứa trẻ đã lâu chưa kịp lớn
có hiểu lúc nào nên giữ nên buông?
ngày qua hai buổi
nắng đi hai lòng
những con đường không kịp lối
hầm hập trời xanh không mây
tháng Tư đổ dung nham nắng
em cầm trên tay
vò nước cam lồ thời xa lắc
ngát hương đến lúc này
gió níu giọt dương cầm đã lắng
vọng về từ cao xanh
người không còn bóng
chỉ còn nỗi buồn lang thang
tháng Tư gió đi hoang
kí ức ruổi rong cát trắng
biển còn rộng đến lúc này?
hay là em hay là tôi hay là xa vắng?
gió níu lời dương cầm nhập thể
trầm hương xanh xao đêm
ngõ tối lối về sâu hút
vũng buồn có dày thêm?
ừ dại khôn khôn dại
trăm năm một chấm mơ hồ
tràn trên vách trắng
là bóng trăng lô xô
ừ dại khôn khôn dại
ngạn ngục thiên đàng
đứa trẻ trong tôi chưa kịp lớn
em đã vội vàng sang ngang.
PHƯƠNG UY
Yêu tinh
Một phụ nữ viết văn có nên yêu và kết hôn?
Tôi là phụ nữ, thỉnh thoảng có viết văn. Nhiều người khuyên tôi, yêu thì nên nhưng lấy chồng thì chớ. Trong những người ấy, có người cũng là phụ nữ và có viết văn.
Tôi chưa được yêu và chưa kết hôn không phải vì tôi là phụ nữ viết văn, mà có lẽ vì duyên chưa tới. Ngoài chuyện viết văn tôi còn dính líu vào nhiều công tác xã hội. Đàn ông thấy tôi chạy xa tám thước, họ không tin tôi có khả năng làm vợ hiền. Tôi cũng không tin mình có khả năng đó. Một cậu học trò của tôi tuyên bố với nhiều người: “Cô giáo em nhiều lắm là chỉ nấu được nước sôi.”
Tôi sống thanh thản trong bận rộn tới tuổi bốn mươi ngoài. Ở cái tuổi mà bạn bè cùng trang lứa đã có con có cháu, đôi khi tôi thấy đó là một điều may mắn. Tôi thích cuộc đời một nhà dạy toán không vợ, không nhà, gia sản chỉ là chiếc cặp đi dạy nhiều nơi trên thế giới, lấy hotel nhiều thành phố khác nhau làm nơi cư ngụ. Nhiều người bạn vẽ ra một viễn cảnh đen tối cho tôi sợ về một tuổi già hiu quạnh. Họ không ngờ tôi đã lường trước chuyện đó rồi. Nếu cuối đời làm lụng có dư, tôi mơ mình sẽ gầy nên một viện dưỡng lão tư nhân rồi chui luôn vào đó ở. Còn không dư thì càng đơn giản hơn nữa, cứ phó thác thân mình cho xã hội, như mình đã từng đi chăm sóc những người già tứ cố vô thân.
Trong tư thế độc thân lại có viết văn, tôi còn là một chuyên viên gỡ rối tơ lòng tài tử cho các chị em bạn gái bế tắc chuyện tình.
Mùa đông năm đó, tôi tình cờ lạc đến New York với một công việc ký kết trong từng ba tháng một. Tôi yêu thành phố ấy, có lẽ vì nó có nét nào đó giống Sài Gòn. Cũng người tứ xứ đổ về, cũng chả cần ai biết ai là ai để soi mói xét nét từ cách ăn bận đến hành vi; cũng là nơi bạn cảm nhận hơn đâu hết về mùi vị thông thống gió lộng của tự do. Tôi có một chỗ ở ngay trung tâm mà không phải bận tâm tiền thuê. Tôi không có ai để phục vụ cơm nước kể cả chính mình nên thường chọn một quán ăn vắng vẻ có chủ người Việt, ở China Town để ăn trưa. Đôi khi đó cũng là bữa ăn duy nhất cho cả ngày, như thế tiện cho công việc hơn. Và người yêu tôi bấy giờ là công việc.
Ròng rã mấy tháng trời, sau khi tôi ký thêm mấy đợt hợp đồng, một hôm bà chủ quán ngoắc tôi nói nhỏ.
– Cô nè, ngó cái ông ở cái góc đối diện cô kìa, thấy chưa?
– Thấy, có gì đặc biệt đâu? Như mọi thực khách khác thôi.
– Cô không thấy ông ta giống cô à?
– Mặt ông sụp sụp xuống kiểu đó, ai biết tròn méo cỡ nào.
– Tôi muốn giới thiệu hai người với nhau đó.
– Bộ ổng nói với bà ổng để ý tôi hả?
– Không!
– Trời đất, vậy sao bà gan quá vậy?
– Ổng có biết cô là ai đâu, hôm qua tôi ngồi với ổng, tôi cũng chỉ chỏ cô, nói y như hôm nay với cô, ổng cũng hỏi y như cô, rồi cũng kêu tôi gan quá.
– Rồi bà nói sao?
– Thì bụng tôi sao tôi nói thiệt. Tôi là chủ quán, thấy có hai người khách cứ giấc trưa bước vô một mình, gằm mặt ăn hết năm nọ tháng kia, tức nhiên hai người đều độc thân. Tôi nảy ý muốn ráp hai người với nhau, mặc dù như vậy có nghĩa là tôi sẽ mất đi hai mối khách.
– Ổng nghe vậy rồi nói sao?
– Ổng nói thử coi.
– Đời tôi làm chuyện tào lao nhiều nhưng giờ phải ngã mũ trước bà.
– Giờ có gật đầu không để tôi xếp giờ cho hai bên gặp?.
Đến ngày hẹn hò của “đôi già”, tôi lượm một bộ đồ văn phòng trông cực kỳ boring cho người đàn ông đi ăn trưa một mình kia coi mắt. Anh ta cũng chẳng kém, trang phục đi gặp tôi được anh chọn ngó lùi xùi như một chú tài xế tắc xi không hề gây chút ấn tượng nào giữa New York.
Buổi nói chuyện giữa hai người diễn ra nhạt nhẽo như hai bộ đồ chúng tôi khoác vào người. Chàng cho biết đã có một đời vợ, từ Âu Châu trôi dạt sang, con đã lớn, lương giờ đủ sống. Tôi cho biết chưa đời chồng nào, nhưng có khá nhiều bạn gái bị chồng bỏ có nhu cầu bước thêm bước nữa để phụ nuôi con; nếu chàng thích tôi có thể giới thiệu cả tá cho chàng lựa. Chàng nhún vai, sợ lấy vợ lắm rồi. Tôi gật gù ra vẻ thấu hiểu, tôi chưa đời chồng nào đây mà ngó đời sống hôn nhân còn ngán, huống chi anh.
Bà chủ quán thất vọng trước tuyên ngôn ủng hộ chủ nghĩa độc thân giữa hai đứa chúng tôi. Cái quán vắng vẻ của bà vẫn còn hai người khách trung thành, thỏa mãn với những bữa ăn trưa, một mình đến và đi.
Câu chuyện nhạt nhẽo này tưởng đã ngưng rồi ở đó nếu đám thân chủ tưởng tôi là chuyên viên gỡ rối tơ lòng và làm đủ mọi cách để truy lùng tôi, cho dù tôi đang sống kiếp cày bừa xuyên lục địa.
H. ở Toronto gọi tới, T. ở New Jersey gọi lên. P. ở Norway, X. ở Úc, cứ canh nửa đêm réo điện thoại tới độ ban đêm tôi phải off phone.
Một hôm thấy trường hợp của Th. khẩn thiết quá, chồng bỏ xong, ba con nheo nhóc, chụp được anh bồ, ai ngờ vì một lý do nào đó, anh bồ biến. Tôi chợt nghĩ hay là giới thiệu cái anh tài xế mà tôi nhớ mang máng là tên bắt đầu bằng chữ Ph.
Bà chủ quán lắc đầu trước ý tưởng của tôi.
– Nè, tôi biết người này tử tế mới giới thiệu. Hạnh phước không dễ kiếm, sao lại đem cho không người khác. Con bạn nào của cô tốt số quá vậy trời.
– Làm ơn truy lùng cái ông Phước Phật hôm nọ của bà đi. Nói là có tơ duyên muốn trói.
Ngày hẹn tới, Ph. chọn một quán ăn ở Broadway, phía Tây. Th. và tôi hẹn nhau ở trạm 42 rồi cùng đón taxi tới. Là bạn của Th. lâu, tôi còn bất ngờ về trang phục của Th. hôm đó. Áo dài tím Huế yểu điệu thục nữ, tóc ngang lưng và thả rìa trước trán.
Th. tuyên bố lạnh lùng sương gió:
– Hôm nay tao sẽ chơi nổi bằng cách không nói gì hết.
Tôi lo lắng:
– Mày có muốn có bạn trai mới thật không?
– Tao cần có người đàn ông lấy tao để phụ nuôi con và cho hai thằng cũ chống mắt lên mà tiếc. Nhưng không nên để tay mới nầy thấy mình sành sỏi quá hắn sợ. Rồi mầy coi, anh nào khi lấy vợ cũng thích rước về một nàng ít nói, nhu mì.
Cả hai bước vô quán trễ vài phút. Chúng tôi ngồi đợi có đến mươi phút. Th. tiểu thư sốt ruột đòi về, miệng đang lầm bầm mắng người New York không đúng giờ bằng người New Jersey thì một người đàn ông phong thái lịch lãm tiến đến bàn chúng tôi.
Th. vừa xuýt xoa:
– Tại sao một người đẹp trai như vậy không phải là Phờ của tao?
Ph. lên tiếng ngay:
– Sorry, đến nãy giờ nhưng hôm nay cô lạ quá, tôi nhìn không ra.
Hôm nay tôi không nghĩ là ngày và người của mình nên chọn váy áo đơn giản, mặt không bôi trét. Huề nhá, tôi cũng nhìn không ra chàng taxi hôm nào.
Ph. còn cho tôi nhiều ngạc nhiên như chọn rượu khá sành. Ph. nói:
– Cô quên có thời gian dài tôi sống ở Âu Châu à? Còn cô, tôi ít gặp cô gái Việt nào uống rượu sành như cô.
– Ờ thì tiệc tùng có nghĩa là đi làm việc. Làm riết rồi quen, nghề dạy lấy nghề. Hai bạn nói chuyện với nhau thoải mái nghen, đừng để ý gì đến tôi, cho bà mai này được thưởng thức những món ngon của cái nhà hàng không xa nơi tôi ở mà mãi hôm nay tôi mới biết.
Th. đá chân tôi khi nghe tới hai chữ “bà mai”. Tôi cũng đá lại chân nó, ý nói, banh tao giao rồi, sút đi.
Th. kiên định lập trường, diễn đúng con đường nó vạch ra, như con nhện giăng cái bẫy mỏng manh chờ con ruồi sa lưới. Nói ít, dùng đũa khươi thức ăn không dám bỏ vào đĩa mình như là trong thức ăn có độc. Còn tôi, ngược lại, tôi nhấm nháp vị ngon của rượu và thức ăn.
Rượu vào, lời ra. Tôi cũng chẳng nhớ mình đã nói gì. Chỉ nhớ mỗi lần Ph. hỏi, chờ mãi mà Th. cứ như là phải uốn lưỡi đến tám lần trước khi trả lời. Tôi “đốp” ngay để còn thong dong thưởng thức hương vị của những món ăn thức uống đêm đó.
Khi chia tay, hai bên trai gái trao nhau số điện thoại và để tự liên lạc. Nhiệm vụ của bà mai coi như xong.
Cuối tuần sau, tôi nhận được tin nhắn của Ph. “Tối nay rảnh không, cô gái? Đi ăn nhé” Tôi gọi ngay cho Ph: “Sao lại nhầm số của cô gái sang bà già, từ cô dâu tương lai tới mụ mối vậy?”
Ph. trả lời, giọng có vẻ trầm trọng: “Hết giờ để nhầm rồi. Chỉ muốn đi ăn với người có số này thôi, cô gái ơi!”
Tôi cảnh giác: “Tôi nhắn Th. cho anh nhá!?”
– Này, cô kéo cái bà yểu điệu thục nữ kia đến là tôi giết cô ngay đó.
Ph. đến đón tôi trong chiếc quần jean, áo chemise trắng. Tôi cũng vậy. Chỗ làm của hai chúng tôi đều chọn ngày Thứ Sáu cuối tháng để kêu gọi nhân viên bận quần jeans để tiết kiệm tiền giặt ủi cho một công việc từ thiện.
Chúng tôi chui vào một quán của Korea. Những người chung quanh có vẻ đều là những người đang yêu nhau.Tôi nói nhận xét đó với Ph. Anh ta chỉ mong có thế để nắm tay tôi.
– Mình cũng vậy mà! Làm vợ tôi nhá, M.?
Tôi rụt tay lại ngay.
– Cầu hôn gì bất tử vậy? Muốn Th. giết tôi sao?
– Nhưng nói thật đi, M. cũng yêu tôi mà. Chúng ta không thể sống thiếu nhau.
– Trời đánh tránh bữa ăn. Ít ra anh cũng cho tôi thưởng thức những món khoái khẩu của tôi rồi sau đó muốn sến kiểu nào cũng được.
Ít ra Ph. cũng rất tôn trọng tôi nhất là chuyện ăn uống. Anh ta ngồi ngó tôi ăn mà không chịu đụng đũa.
– Nói thiệt đi, hôm nay sao không ăn, định bắt chước Th. hôm nọ sao?
– Yêu cầu không nhắc đến tên cô ta nữa.
– Anh biết sợ những người đến tiệm ăn mà không chịu ăn như “ai kia”. Sao không nghĩ rằng sau bữa gặp hôm nay tôi cũng sợ anh như vậy.
– Hôm nay tôi mới biết cảm giác ngon khi ngồi ngắm M. ăn.
– Nghĩa là, hôm nay tôi là mồi của anh. Sao không nghĩ, hôm nọ “ai kia” cũng nhìn anh với cặp mắt ngưỡng mộ?
– Chưa thấy ai cứng đầu như M. Đã yêu cầu không nhắc tới người kia nữa mà cứ tìm đủ mọi cách để nhắc.
– Anh cho ăn ngon hai bữa rất cám ơn, nhưng vẫn tức vì không giúp tôi mở hàng cái job làm mai mối. Anh chê Th. của tôi chỗ nào chớ?
– Tại sao tôi lại phải tiến tới với một bà già giả danh thiếu nữ. Trong lúc trái tim tôi lại rung động với một cô gái giả dạng ni cô. Ngó kỹ coi thần kinh của tôi có bình thường không?
Tôi ngưng ăn 10 giây để ngó lại Ph. một chút. Trời ơi, dường như đây là người đàn ông tôi tìm bao nhiêu năm bây giờ mới gặp. Một người khỏe mạnh, có ánh mắt đắm say như là sẽ theo tôi đi đến tận cùng những điên khùng thường trực sống trong tôi. Tôi đã sai lầm khi ngưng ăn 10 giây, vì sau 10 giây đó tôi không thể ăn được nữa.
Tôi nhủ thầm mình, chuẩn bị chạy nha.
Như đọc được ý tưởng của tôi, Ph. nắm tay tôi.
– Không được chạy! Nếu không ăn nữa thì đi kiếm chỗ khác ngồi với tôi.
– Chỗ nào nữa? Tôi phải đi.
– Bất cứ chỗ nào, có thể là trong một chiếc taxi, có thể là dưới subway, Central Park, Times Square, sang đảo, cầu Brooklyn, China Town..
– Rồi lúc nào anh mới thả cho tôi đi?
– Bất cứ lúc nào cô trả lời cho tôi biết, cô có nhận lời cầu hôn của tôi không?
– Tôi có thể trả lời ngay bây giờ: Không!
– Tôi không tin cô không yêu tôi sau khi ngồi thêm với tôi một chỗ nào khác với tiệm ăn này.
– Thôi được, tôi sẽ đi với anh, với điều kiện anh phải mua cái gì theo để ăn. Tôi muốn có sự bình đẳng giữa tôi và anh. Thật là khó chịu khi mình đã no bụng lại phải trò chuyện với một người bụng rỗng.
Ph. mua vài cái bánh chiên nhân khoai môn của Đại Hàn và mua thêm hai ly kem cho tôi, café cho anh.
Đêm đó, chúng tôi có một đêm thú vị bên nhau. Từ lúc nhận ra đúng đây là người đàn ông mình tìm, tôi cũng quyết định luôn, mình sẽ chạy trốn anh ta. Chỉ tự thưởng mình một đêm nay thôi. Cuộc sống gia đình không phải là cuộc sống của tôi. Yêu nhau mà lại bằng mười phụ nhau. Quyết định như vậy đi. Tôi cũng chẳng dại gì nói cho Ph. biết ý định thầm kín đó của mình khi cùng nhau rời quán.
Như câu thơ “Hai đứa thần tiên suốt một ngày” trong bài Áo Trắng của Huy Cận, tôi cảm như hai đứa tôi cũng đã được “thần tiên suốt một đêm”. Chúng tôi ngồi bên nhau, hết taxi đến tàu điện ngầm. Nói đủ chuyện trên trời dưới đất. Kể gần hết những mối tình của nhau cho nhau nghe. Những mối tình còn nhớ, những mối tình định quên. Giống tôi, Ph. cũng có những mối tình “độc”, cũng có những nhân vật nổi tiếng là tình nhân và suýt cưới làm vợ làm chồng. Một trong những mối tình đó kéo đến hơn mười năm với một người viết nhạc. Mười năm cầu hôn, lúc nào nàng cũng có những lý do hợp lý để dời ngày. Sau này mới biết một mình nàng có đến năm chàng, như công chúa Bạch Tuyết cần đến bảy chú lùn vây quanh; chàng thì để nàng mộng mơ sáng tác về hạnh phúc, chàng thì ký ngân phiếu cho nàng ra CD; chàng thì để nàng quằn quại nỗi thất tình rồi ướp vào giai điệu não sầu; chàng thì có phong thái người hùng cùng nàng đẹp đôi xuất hiện trước các tay săn ảnh để “liệng” lên các thông tin đại chúng; chàng thì có hấp lực thân xác để nàng cảm nhận được những va chạm.
Tôi không ngăn nổi tò mò.
– Anh là ai trong số những người đó?
Ph. không giấu giếm.
– Anh là người thứ sáu, gần như hội đủ các điều kiện của năm chàng kia; kiên trì chờ cả chục năm, mặc lời ra tiếng vào của gia tộc là cắt đứt ngay với người tình vĩnh viễn không bao giờ cưới đó để kéo dài thêm tuổi thọ mẹ già.
– Tại sao không kéo thêm năm thứ mười một, mười hai?
– Một ngày khi một nhân vật nổi tiếng qua đời, người ta điểm qua các phụ nữ đi qua đời chàng, có cả tên nàng của anh.
– Đó là người yêu đích thật của nàng? Anh dở quá, ai lại đi ghen với người đã chết.
– Anh không ghen, nhưng có một cô nhảy vào ghen giùm.
– Cô mới của anh?
– Không, của nàng. Hóa ra chỉ có cô ấy là người thật sự chiếm hết tâm hồn và thể xác nàng. Cô ấy sống trong bóng tối hơn anh đến năm năm. Sau trận đó, cô ta ra đi thật sự, và nàng của anh cũng thất tình thật sự.
– Còn anh?
– Anh chán.
– Chán người nổi tiếng?
– Chán sự giả dối. Đó là lý do anh chọn M. Sau buổi gặp vừa rồi, anh về lục gần hết những tác phẩm của M. ra đọc. Anh thấy M. viết xạo hết. Chỉ có lúc M. ngồi uống rượu và thưởng thức những món ăn của anh gọi mới là giây phút sống thật nhất của M.
Ph. không biết rằng chỉ riêng nhận xét đó cũng đủ khiến Ph. được chín điểm rưỡi trên mười của tôi.
Dưới ánh trăng và sự yên lặng hiếm có trên chiếc cù lao vắng người giữa New York, chúng tôi tung tăng đi bên nhau. Không hôn chặt. Không ôm xiết. Chỉ có lời cầu hôn chờ trả lời của một người đàn ông mới gặp mà tôi thấy yêu đến độ muốn chạy trốn vì cứ sợ mất mình.
Ph. đề nghị.
– Chuyện của anh chán chết. Kể chuyện M. đi.
– Thì đó, bày hết trong truyện, mà anh đã đọc gần hết rồi.
– Nói làm gì những chuyện bịa đặt đó.
– Sao anh biết bịa?
– Qua những gì M. viết, anh thấy M. không biết yêu, M. không biết cả khổ đau và hạnh phúc.
– Nói chung là anh chê tôi viết dở.
– M. chỉ có một chuyện xuất sắc cần phải làm thôi là yêu và nhận lời cầu hôn của anh.
– Giờ thích nghe kể chuyện tình hay cần nghe trả lời?
– Hãy làm bất cứ chuyện gì M. thích.
Chúng tôi ngồi ở trên băng ghế công cộng trên đồi cao nhìn qua New York lấp lánh bên kia dòng nước đen ngòm. Ph. choàng cái áo trên người cho tôi đỡ lạnh vì sương đêm hè. Tay tôi tìm tay Ph.
– Cho nắm một chút để có thêm tự tin mà nói thật.
– Cho cả cuộc đời đó, nắm đi, và cứ nói dối, nếu thích.
– Anh nói đúng, tôi đã không biết yêu, không biết cả khổ đau và hạnh phúc.Trong cái hiện tại này, đây là câu nói thật nhất.
– Có biết là anh đang rất thèm hôn M. không?
– Nếu sau khi hôn, tôi biến mất, anh chọn cái nào?
Ph. im lặng. Có lẽ anh biết tôi nói thật. Anh không thể chọn lựa. Nên từ lúc đó đến khi chia tay, không ai nói thêm câu nào nữa.
Chúng tôi bên nhau như vậy cho đến sáng. Có lúc tôi nằm xuống, đầu gối trên chân Ph. Nhắm mắt và an nhiên ngủ.
Trước khi đi vào giấc ngủ, bỗng trở về trong trí nhớ tôi, những câu thơ thời mới lớn của một người chết trẻ tặng tôi.
Ta tưởng tượng ra em,
Tóc bay mờ vũ trụ.
Nằm ngủ rất tự nhiên,
Giữa một bầy ác thú.
(thơ Du Mùa đông)
Ph. đưa tôi trở về nhà khi trời tờ mờ sáng. Thành phố này không ngủ; đó là sự tương đồng của New York và Sài Gòn. Sài Gòn của Ph. trước khi đi Pháp du học, Sài Gòn của tôi thỉnh thoảng từ tỉnh nhỏ vào lãnh chút nhuận bút nhưng niềm tự hào lớn vì một con bé vô danh chui vào được một tờ báo lớn. Mấy mươi năm sau, xứ lạ quê người, có người vạch mặt rằng tôi bịa hết; rằng tôi bày ra một vai trò, chui vào đó đóng, rồi nhập vai tưởng thật, rồi cứ tưởng cô đơn là phần số của mình cho tới ngày nhắm mắt xuôi tay.
Tôi hẹn Ph. cuối tuần tới sẽ trả lời câu hỏi khó khăn kia. Nếu là tôi bạn sẽ làm gì?
Một cuộc đời gần như chưa biết thế nào là yêu và sống, ngoài những giây phút tưởng là sống và yêu trong tưởng tượng của mình. Bỗng dưng như một giấc mơ đẹp, hoàng tử của mình hiện ra, trễ gần cả nửa thế kỷ. Thật ra chuyện cổ tích thì có cả thế kỷ vẫn là con số quá nhỏ, không là quan trọng. Vấn đề là như tôi đã quyết định từ đầu, tôi phải chạy thôi. Tôi không có thói quen sống với sự thật. Hơn nửa đời người tôi đã quen sống với một tôi khác. Tôi không còn một cái tôi thực như tôi là để sống một đời giản dị chân thật với người tôi yêu.
Tôi phải rời New York. điều đó khiến tôi cảm giác mất mát hơn cả chuyện phải rời xa Ph., người mà tìm mãi mới gặp, dù rằng trong tình cảnh khá trái ngang, tôi chuẩn bị tặng người mộng của mình cho bạn hữu.
Bạn phải biết tôi đã đau đớn như thế nào trước quyết định đó. Như là mình dứt một phần hồn, một phần đời của mình để lại nhân gian. Tôi đổi nghề, đổi nơi sống. Quê nhà không thể về. Quê người cũng không nương náu được. Tôi trôi về một nước thứ ba.
Thỉnh thoảng vọng tới cái hang ổ cuối cùng của tôi, nghe Th. tả về tôi như một thứ yêu tinh, mang Ph. đi giới thiệu cho bạn rồi bỗng tiếc, U-turn! Chụp lại. Kệ Th.
Để tăng chất “ hồ ly” nơi tôi, nhiều cô bạn cũ của tôi góp chuyện vô, rằng Th. không phải là nạn nhân độc nhất của tôi. Họ đồn tôi còn cướp H. của Q., cướp Ng. của Đ., cướp Ch. của S… Họ đồn nữ họa sĩ Sầu Đâu đã mời tôi uống nước để mong tôi cuộn đuôi chồn, trả lại bạn trai, nguồn cảm hứng cho cô trong các sáng tác hiện tại. Họ đồn mỹ nhân M., CEO của một trung tâm media lớn đã đổi cho tôi một cái job thơm ở nước ngoài để tôi buông chàng tài tử có khuôn mặt đàn ông nhất nước cho bà ta. Kệ Q., Đ., S… Kệ Sầu Đâu, và cả một CEO nào đó. Tôi chỉ biết mình sẽ rất hạnh phúc nếu một ngày nghe tin Ph. kiếm được một con yêu tinh khác, và cũng rọi suốt tim gan phèo phổi nó bằng cái nhìn thấu thị của anh.
Nếu Ph. hay ai đó còn quan tâm đến việc viết văn của tôi sẽ thấy những tác phẩm của tôi không còn xuất hiện nữa. Còn mơ mòng về tôi, có lẽ họ sẽ tưởng tượng tôi đang thai nghén một tác phẩm tuyệt vời nào đó.
Bây giờ việc viết hay cho phổ biến tác phẩm với tôi hoàn toàn không quan trọng nữa. Tôi chỉ băn khoăn liệu Ph. có biết rằng sau cái đêm lãng mạn cùng Ph. trên chiếc cù lao hoang vắng đó, khả năng sáng tác, hay nói đúng hơn là khả năng nói dối của tôi đã tắt nguồn cạn kiệt; như các loại Mãng Xà Nữ Vương, Hồ Ly, Hạc Trời, Rắn Xanh, Rắn Trắng… phải trở về kiếp thú, sau khi bị tê liệt khả năng ảo hóa những sự thật trần trụi bởi một cặp kính chiếu yêu.
NGUYỄN THỊ MINH NGỌC
Khi Bài Hát Trở Về
Nếu phải xếp hạng những bài hát được sinh ra và lớn lên cùng với thăng trầm của đất nước, với thao thức của thanh niên, sinh viên, học sinh, với tâm trạng của những người lính trẻ trong cuộc chiến tranh tự vệ đầy gian khổ ở miền Nam trước đây, tôi tin, Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ của nhạc sĩ du ca Nguyễn Đức Quang sẽ là một trong những bài ca được xếp hàng đầu.
Không giống như một số hành khúc quen thuộc trong giới trẻ trước 1975 như Dậy Mà Đi của Nguyễn Xuân Tân, Tổ Quốc Ơi Ta Đã Nghe của La Hữu Vang thiết tha, mạnh mẽ nhưng chỉ giới hạn trong các phong trào sinh viên tranh đấu và ngay khi ra đời đã bị Đảng sử dụng cho mục đích tuyên truyền trong các trường đại học, các đô thị miền Nam, hay Việt Nam Việt Nam của Phạm Duy chan chứa tình dân tộc, kêu gọi người người thương mến nhau nhưng thiếu đi cái hùng khí, sôi nổi của tuổi trẻ, Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ của Nguyễn Đức Quang không dừng lại ở nỗi đau của đất nước mà còn nói lên cả những bi thương, công phẫn, thách đố của tuổi trẻ Việt Nam trước những tàn phá của chiến tranh và tham vọng của con người. Trong vườn hoa âm nhạc Việt Nam, Việt Nam quê hương ngạo nghễ nổi bật lên như một biểu tượng cho khát vọng của một dân tộc đã vượt qua bao nhiêu gian nan khốn khó để tồn tại và vươn lên cùng các dân tộc khác trên mặt đất nầy.
Ta như nước dâng dâng tràn có bao giờ tàn
Đường dài ngút ngàn chỉ một trận cười vang vang
Lê sau bàn chân gông xiềng của thời xa xăm
Đôi mắt ta rực sáng theo nhịp xích kêu loang xoang.
Lời nhạc của Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ tương đối khó nhớ nhưng nhờ cách sử dụng ngôn ngữ trẻ trung, mạnh mẽ, tượng thanh, tượng hình như “tiếng cười ngạo nghễ”, “xích kêu loang xoang”, “trên bàn chông hát cười đùa vang vang” hay “Da chân mồ hôi nhễ nhại cuộn vòng gân trời” đã làm cho Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ trở thành độc đáo, không giống như những bài ca yêu nước khác với những ý tưởng quen thuộc và lời ca phần lớn là lập lại nhau. Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ đẹp tự nhiên như một đoá lan rừng, không mang màu sắc chính trị, không nhằm cổ võ hay biện minh cho một chủ nghĩa nào, không cơ quan nhà nước nào chỉ đạo thanh niên sinh viên học sinh phải hát và bài hát cũng chẳng nhằm phục vụ lợi ích riêng của chính quyền, tôn giáo hay đảng phái chính trị nào.
Trước 1975, từ thành phố đến thôn quê, từ các trường trung học tỉnh lẻ đến đại học lớn như Huế, Sài Gòn, từ các phong trào Hướng Đạo, Du Ca đến các tổ chức trẻ của các tôn giáo như Thanh niên Công giáo, Gia đình Phật tử, từ các quân trường Đà Lạt, Thủ Đức, Quang Trung, Nha Trang đến các tổ chức, đoàn thể xã hội từ thiện đều hát Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ.
Sau 1975, bài hát theo chân hàng trăm ngàn sĩ quan và viên chức miền Nam đi vào tù. Nhiều hồi ký, bút ký kể lại Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ đã được hát lên, kín đáo hoặc cả công khai, ở nhiều trại tù khắp ba miền đất nước. Trong tận cùng của đói khát, khổ nhục, đớn đau, Việt Nam quê hương ngạo nghễ đã hoá thành những hạt cơm trắng, hạt nếp thơm nuôi sống tinh thần những người lính miền Nam sa cơ thất thế.
Những năm sau đó, bài hát, như tác giả của nó và hàng triệu người Việt khác lên đường ra biển tìm tự do. Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ lại được hát lên giữa Thái bình dương giông bão, hát lên ở các trại tị nạn Palawan, Paula Bidong, Panat Nikhom trong nỗi nhớ nhà, hát lên ở Sungai Besi, White Head trong những ngày chống cưỡng bách hồi hương, hát lên ở San Jose, Santa Ana, Boston, Paris, Oslo, Sydney trong những cuộc biểu tình cho tự do dân chủ Việt Nam, hát lên ở các trại hè, trại họp bạn Hướng Đạo, các tổng hội sinh viên Việt Nam tại hải ngoại.
Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang, trong buổi phỏng vấn dành cho chương trình Tiếng Nói Trẻ đã kể lại câu chuyện ra đời của Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ trong âm nhạc Việt Nam: “…Thế bài Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ cũng vậy, nó không phải là một bài ca tôi nghĩ là quá lớn, nhưng lúc bấy giờ khi tôi kết thúc tập Trường Ca vào năm 1965, cuối 1965 hay đầu 1966 gì đó, khoảng thời gian đó, 10 bài trường ca, những bài như Nỗi buồn nhược tiểu, Tiếng rống đàn bò, Lìa nhau, Thảm kịch khó nói v.v. những bài nói về đất nước của mình rất là khổ sở, tôi nghĩ nên kết nó bằng một bài hát có tiếng gọi hùng tráng và tha thiết hơn. Thành ra tôi viết bài Việt Nam quê hương ngạo nghễ một cách rất là dễ dàng. Tất cả những ý đó tôi đem vào hết trong bài hát đó để nó vượt qua cái khốn khó, vượt qua cái quê hương nhỏ bé, nhược tiểu mà trở thành một nước to lớn, và lòng người cực kỳ dũng mãnh.
Viết xong bài đó tôi nghĩ chỉ kết thúc tập Trường Ca mà thôi, không ngờ về sau càng ngày đi các nơi càng thấy nhiều người ưa thích bài đó, có lẽ đáp được ước vọng của nhiều người, tôi nghĩ tiếng gọi đáp ứng đúng được tiếng của nhiều người, không riêng gì giới trẻ đâu, cả người lớn tuổi ở các hội đoàn về sau này, rồi đi vào trong quân đội, đi rất nhiều nơi. Thành ra, tôi cho đó là một bài hát tự nó trưởng thành nhưng khi viết tôi chỉ đúc kết cho tập Trường Ca lúc đó mà thôi.”
Thật đơn giản và tự nhiên như thế. Không một ông bộ trưởng Bộ Chiêu Hồi nào đặt hàng hay một ông tổng ủy trưởng Dân Vận nào chỉ thị anh phải viết. Anh viết không phải để thi đua sáng tác hay mong mang về giải thưởng, huân chương. Trong tâm hồn của một nghệ sĩ chân chính, tình yêu nước bao giờ cũng là sự thôi thúc tự nguyện. Anh viết Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ để kết thúc tập trường ca của riêng anh nhưng cũng nối tiếp tập trường ca lớn hơn của đất nước.
Sau ba mươi năm, nhiều nhạc sĩ, ca sĩ đã trở về qua nhiều ngã, trong nhiều tư cách khác nhau, một số tình ca sáng tác trước 1975 đã được nghe lại trong nước, nhưng đây là lần đầu tiên một bài hát đã về lại quê hương qua ngã của trái tim, trở về trong vòng tay nồng ấm của tuổi trẻ Việt Nam.
Bất ngờ và cảm động, một buổi sáng tuần trước, khi đi dạo một vòng qua các blog Việt ngữ, tôi bắt gặp không chỉ những mẩu tin nóng viết vội vàng trên đường phố, những đoạn phim biểu tình vừa mới đưa lên YouTube, những tấm hình ghi lại cảnh xô xát giữa đồng bào, sinh viên với công an, nhưng còn được nghe lại bài hát quen thuộc Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ. Tôi cảm nhận qua lần gặp gỡ đó một niềm vui chung khi có một bản nhạc mà các em sinh viên Việt Nam ở California, Washington DC, Oslo, Paris, Hà Nội, Sài Gòn cùng hăng say hát trong những cuộc biểu tình chống Trung Quốc bành trướng bá quyền mà không cảm thấy ngần ngại, nghi ngờ, xa cách.
Ta khua xích kêu vang dậy trước mặt mọi người
Nụ cười muôn đời là một nụ cười không tươi
Nụ cười xa vời nụ cười của lòng hờn sôi
Bước tiến ta tràn tới tung xiềng vào mặt nhân gian.
Trong số một trăm em đang hát trong nước hôm nay có thể hơn chín mươi em chưa hề nghe đến tên Nguyễn Đức Quang lần nào, và nếu có nghe, có đọc qua bộ máy tuyên truyền của Đảng, cũng chỉ là một “nhạc sĩ ngụy đã theo chân đế quốc”. Biết hay không biết, nghe hay không nghe không phải là điều quan trọng. Điều quan trọng là bài hát đã đáp ứng được ước vọng về tương lai và tình yêu tổ quốc của tuổi trẻ. Tổ quốc, vâng, không có gì lớn hơn tổ quốc.
Văn hoá không phải chỉ là đời sống của một dân tộc mà còn là những gì giữ lại được sau những tàn phá, lãng quên. Việt Nam quê hương ngạo nghễ sau 30 tháng Tư 1975 hẳn đã nằm trong danh sách các tác phẩm “văn hoá đồi trụy” mà Đảng tìm mọi cách để xóa bỏ, tận diệt.
Thế nhưng, như giọt nước rỉ ra từ kẽ đá và như bông hoa mọc giữa rừng gai, bài hát đã sống sót, đã ra đi và đã trở về. Để tồn tại, một bài thơ, một bản nhạc cũng phải trải qua những gạn lọc, những cuộc bỏ phiếu công bằng không chỉ của người nghe, người đọc dưới một chế độ chính trị nào đó mà còn của cả lịch sử lâu dài. Bài hát phát xuất từ tình yêu nước trong sáng như Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ sẽ ở lại rất lâu trong lòng tuổi trẻ Việt Nam hôm nay và nhiều thế hệ mai sau.
Là một người thích tham gia các sinh hoạt văn nghệ cộng đồng, bài hát mang tôi về thời trẻ tuổi của mình. Tôi còn nhớ, mùa hè 1973, khi còn là sinh viên năm thứ nhất, Việt Nam quê hương ngạo nghễ cũng là nhạc sinh hoạt chính của trại hè sinh viên toàn quốc quy tụ đại diện sinh viên các trường đại học và cả sinh viên du học về nghỉ hè, do Bộ Giáo Dục Và Thanh Niên tổ chức lần đầu và có lẽ cũng là lần cuối tại trường Thiếu Sinh Quân, Vũng Tàu. Đêm trước ngày chia tay, chúng tôi không ai ngủ được. Ngày mai sẽ mỗi người mỗi ngả, chị về Huế, anh về Đà Lạt, em về Cần Thơ và đa số chúng tôi sẽ trở lại Sài Gòn. Cùng một thế hệ chiến tranh như nhau, khi chia tay biết bao giờ còn gặp lại. Những ngày tháng đó, cuộc chiến vẫn còn trong cao điểm.
Mỹ đã rút quân nên máu chảy trên ruộng đồng Việt Nam chỉ còn là máu Việt Nam. Thảm cảnh của mùa hè đỏ lửa chưa qua hết. Trên khắp miền Nam, đâu đâu cũng có đánh nhau, đâu đâu cũng có người chạy giặc. Mơ ước của tuổi trẻ chúng tôi là được thấy một ngày đất nước hoà bình, một ngày quê hương không còn nghe tiếng súng. Đêm cuối trại hè, chúng tôi ngồi quây quần thành một vòng tròn rộng quanh cột cờ trường Thiếu Sinh Quân và hát nhạc cộng đồng như để vơi đi những vương vấn, lo âu đang trĩu nặng trong lòng. Bài hát được hát nhiều nhất trong đêm đó là Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ, và khi điệp khúc cất lên cũng là khi chúng tôi hát trong nước mắt:
Máu ta từ thành Văn Lang dồn lại
Xương da thịt này cha ông miệt mài
Từng giờ qua cười ngạo nghễ đi trong đau nhức không nguôi.
Chúng ta thành một đoàn người hiên ngang
Trên bàn chông hát cười đùa vang vang
Còn Việt Nam triệu con tim này còn triệu khối kiêu hùng.
Những giọt nước mắt của tuổi sinh viên nhỏ xuống xót thương cho dân tộc mình. Tại sao có chiến tranh và tại sao chiến tranh đã xảy ra trên đất nước chúng tôi mà không phải tại một quốc gia nào khác?
Mấy tháng sau, tháng Giêng năm 1974, bài hát Việt Nam quê hương ngạo nghễ đã được hát vang trên đường phố Huế, Đà Nẵng, Sài Gòn, Cần Thơ sau khi Hoàng Sa rơi vào tay Trung Quốc. Những bản tin đánh đi từ Đà Nẵng, danh sách những người hy sinh được đọc trên các đài phát thanh làm rơi nước mắt.
Và hôm nay, ba mươi ba năm sau, trong cái lạnh mùa đông trên xứ người, những lời nhạc Việt Nam quê hương ngạo nghễ từ YouTube phát ra như xoáy vào tim. Tôi lại nghĩ đến các anh, những người đã hy sinh ở Hoàng Sa tháng Giêng năm 1974, ở Trường Sa tháng Ba năm 1988. Các anh khác nhau ở chiếc áo nhưng cùng một mái tóc đen, một màu máu đỏ, một giống da vàng, cùng ăn hạt gạo thơm, hạt muối mặn, cùng lớn lên bằng giòng sữa mẹ Việt Nam, và cùng chết dưới bàn tay hải quân Trung Quốc xâm lăng.
Việt Nam, sau ba mươi ba năm “độc lập, tự do” vẫn chưa thoát ra khỏi số phận nhược tiểu bị xâm lược, vẫn chưa tháo được cái vòng kim cô Trung Quốc trên đầu. Việt Nam có một lãnh hải dài trên ba ngàn cây số nhưng thực tế không còn có biển. Cả hành lang Đông hải rộng bao la từ Hải Nam đến Hoàng Sa và xuống tận Trường Sa đã bị Trung Quốc chiếm. Nếu vẽ một đường cung dọc theo lãnh hải đó, ngư dân Việt Nam chỉ còn có thể đi câu cá ven bờ chứ không thể đánh cá như ngư dân Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan hay các quốc gia khác trong vùng biển Đông. Phía sau tấm bảng in đậm “mười sáu chữ vàng” hữu nghị thắm thiết giữa hai Đảng Cộng sản Việt Nam và Trung Quốc là thân xác của ngư dân Việt Nam trôi bềnh bồng dọc các hải đảo của tổ tiên mình để lại.
Trong suốt dòng lịch sử, hoạ xâm lăng từ phương Bắc vẫn là mối đe doạ thường xuyên. Khác với các thời đại trước đây, cái bất hạnh của Việt Nam ngày nay không phải chỉ là mất đất nhưng mất đất mà không đòi lại được ngay. Cuộc kháng Nguyên lần thứ nhất trong hàng vương tước nhà Trần chỉ có mỗi Trần Nhật Hiệu chủ trương “Nhập Tống” và lần thứ hai chỉ có Trần Ích Tắc và đám hầu tước Trần Kiện, Trần Văn Lộng, Trần Tú Viên chủ trương “Hàng Nguyên” nhưng ngày nay, về mặt lập trường quan điểm, Việt Nam có đến 14 Trần Ích Tắc và 160 Trần Kiện. Trận đụng độ giữa Việt Nam và Trung Quốc diễn ra tại Trường Sa năm 1988 theo tác giả Daniel J. Dzurek trong biên khảo “Xung Đột Trường Sa: Ai có mặt trước?” (The Spratly Islands Dispute: Who’s on First?) chỉ kéo dài vỏn vẹn 28 phút và Việt Nam chịu đựng hầu hết thương vong. Với một giới lãnh đạo tham quyền cố vị và sự chênh lệch quá xa về kỹ thuật chiến tranh như thế, cuộc đấu tranh giành lại hai quần đảo sẽ vô cùng khó khăn.
Dù sao, tuổi trẻ Việt Nam, khác với các thế hệ Tân Trào, Pác Bó trước đây, thế hệ Hoàng Sa, Trường Sa ngày nay có nhiều cơ hội tiếp xúc, học hỏi và so sánh giữa chế độ các em đang sống với các tư tưởng tự do dân chủ, khoa học kỹ thuật tiên tiến, nhờ đó, hy vọng các em sẽ có những chọn lựa đúng cho mình và cho đất nước phù hợp với dòng chảy của văn minh nhân loại.
Trong cuộc chiến Việt Nam dài mấy mươi năm Đảng đã sản xuất ra không biết bao nhiêu bài hát, bài thơ kích động lòng yêu nước nhưng tại sao các em không đọc, không hát nữa? Như một độc giả trong nước đã trả lời, đơn giản chỉ vì chúng nhạt nhẽo. Ý thức sâu sắc đó đã được thể hiện không chỉ trong khẩu hiệu các em hô mà ngay cả trong những bài hát các em hát. Sau những “Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng”, “Dậy mà đi”, “Nối vòng tay lớn” của những ngày đầu phong trào, các bạn trẻ trong nước đã đi tìm những nhạc phẩm nói lên lòng yêu nước trong sáng, tích cực, không bị ô nhiễm, chưa từng bị lợi dụng và họ đã tìm được Việt Nam quê hương ngạo nghễ.
Ta như giống dân đi tràn trên lò lửa hồng
Mặt lạnh như đồng cùng nhìn về một xa xăm
Da chân mồ hôi nhễ nhại cuộn vòng gân trời
Ôm vết thương rỉ máu ta cười dưới ánh mặt trời.
Mỗi khi nhắc đến những khó khăn đất nước, chúng ta thường nghe đến những “bất hạnh”, “nỗi đau”, “tính tự ti mặc cảm”, vâng đó là một thực tế hôm nay, thế nhưng dân tộc Việt Nam “vốn xưng nền văn hiến đã lâu, nước non bờ cõi đã chia, phong tục Bắc Nam cũng khác” như Nguyễn Trãi khẳng định, không phải chỉ biết đau, biết tự ti mặc cảm mà thôi nhưng từ những nỗi đau đã biết lớn lên bằng tự hào và kiêu hãnh làm người Việt Nam. Chỗ dựa tinh thần của tuổi trẻ Việt Nam hôm nay không có gì khác hơn là lịch sử. Không thể làm nên lịch sử mà không cần học lịch sử. Lịch sử sẽ là vũ khí, là hành trang trong hành trình tranh đấu cho một nước Việt Nam mới, cũng như để xây dựng một Việt Nam tươi đẹp sau nầy.
Ta khuyên cháu con ta còn tiếp tục làm người
Làm người huy hoàng phải chọn làm người dân Nam
Làm người ngang tàng điểm mặt mày của trần gian
Hỡi những ai gục xuống ngồi dậy hùng cường đi lên.
Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ như giọt nước mắt bi tráng của tuổi trẻ Việt Nam ngày nào nhỏ xuống trên quê hương chiến tranh khốn khổ, đã bốc thành hơi, tụ thành mây và sau bao năm vần vũ khắp góc bể chân trời đã trở về quê hương qua ánh mắt của em, qua nụ cười của chị, qua tiếng hát của anh, hồn nhiên và trong sáng. Từ “vết thương rỉ máu” của một dân tộc đã từng bị nhiều đế quốc thay phiên bóc lột, lợi dụng và hôm nay còn đang chịu đựng trong áp bức của độc tài đảng trị, Việt Nam quê hương ngạo nghễ cất lên như một lời khuyên, hãy sống và hãy vững tin vào lịch sử, sẽ có một ngày, sẽ có một ngày.
Trần Trung Đạo
ĐÔI BỜ
Ngày trở lại chuyến phà xưa đã vắng
Dòng nước trôi chia nỗi nhớ đôi bờ
Chỉ còn lại cầu tàu heo hút nắng
Mưa mù trời bến đợi lạnh chơ vơ.
Chiếc cầu mới vắt ngang bờ sông Hậu
Em có về ngắm tia nắng ban mai
Từng sợi dây văng sợi thương sợi nhớ
Gió theo người thả từng sợi tóc phai.
Dòng sông chảy quanh hai bờ lau trắng
Bao ánh đèn vẫn tỏa sáng đêm đêm
Soi bóng nước tìm đâu ngày mưa nắng
Mảnh trăng cong đã rớt lại bên thềm.
Ai nghiêng nắng để hồng lên đôi má
Tôi qua sông nghe sóng vỗ trong lòng.
Đời bạc tóc nên thu đi hối hả
Vàng áo xưa còn nỗi nhớ đục trong.
Nếu có được một sớm mai nào khác
Gặp lại nhau chắc cũng trắng nỗi buồn
Tình mới lớn qua bao mùa lận đận
Thương đôi bờ còn sót lại làn hương.
NGUYỄN AN BÌNH
Thủy Táng
sao người đành đạp giậu mồng tơi
còn nhớ chăng bèo giạt hoa trôi
theo bạo ngược xói mòn lịch sử
đã tan hoang bên lở bên bồi
đắp thương khó lên nền nhà cũ
phất phơ mây sợi vắn sợi dài
gió ngăn vách khất lời tình tự
áo nâu sồng bạc thếch trần ai
đôi dép rách trước thềm kể lể
buổi sáng anh đi buổi tối em về
cha khô khốc mẹ mòn kinh kệ
chuồn chuồn bay làng xóm buồn tê
biển xót dạ cuồng triều trở dạ
núi sông rơi
xứ sở lạc đường
căng uất ức giong buồm thảm họa
tương lai
chào
thủy táng trùng dương
NGUYỄN ĐỨC BẠTNGÀN









