Dạo khúc 40

nguyenquangtan

Tôi sẽ không nói với ai về nỗi buồn này
Cho dù đêm nay trầm hương đã cháy
Và linh hồn ướt đẫm rượu say…

Tôi sẽ không nói với ai
Về những gì tôi đã nhìn thấy
Sau chuyến viễn du dài
Tới miền xa khơi
Mắt xưa vời vợi
Không lời…

Tôi không để cho ai nhặt được
Bông hoa úa tàn
Kẻ nào để lại Trong lòng dĩ vãng
Dĩ vãng nào cũng đẹp như vàng…

Tôi sẽ không kể cho ai nghe
chuyện tình dị kỳ Công chúa Bạch Vân và tài hoa thi sĩ
Dù biết rằng bầy ma và lũ quỉ
Chẳng bao giờ lấy được mối tình đi

Tôi không cho ai nghe tiếng khóc lạc loài
Của con nai rất nhỏ – rất thơ ngây
Đêm qua lạc mẹ
Xa bầy…
Rừng thiên thai lửa cháy ngập trời…

Đêm nay trầm hương tan nát khói
Chén rượu này tôi uống chỉ mình tôi.

Nguyễn Quang Tấn

chiều nhân thế

nguyenminhphuc

Nghe hư ảo chìm sâu vào đáy cốc
Và đợi tình rụng xuống đáy cô liêu
Nỗi tiếc nhớ đã buồn tràn con dốc
Ngồi nghe phai từng giọt nắng lưng chiều

Ồ không phải mây ngàn kia bỏ núi
Mà sương khuya rơi tạt bóng hiên đời
Nhan sắc ấy có tàn phai buổi nọ
Cũng một lần cùng son phấn rong chơi

Qua con dốc mệt nhoài tình năm cũ
Buổi trăng về trời đất chạm chiêm bao
Tiếng chim vỡ bên trời không chỗ trú
Thì cô liêu cũng đã nát câu chào

Khi lòng rụng cõi tàn phai dâu bể
Bóng dương trần đã lạc mấy cơn mê
Tôi ngồi với cô đơn chiều nhân thế
Nghe hoang vu mời gọi khói sương về…

Nguyễn Minh Phúc

Tóc mai sợi vắn…

phamnguyen

1.

Lòng ta như một trang kinh
Ẩn trong lời Phật chữ tình rưng rưng
Lòng ta lá nhỏ trên rừng
Lao chao rớt xuống mấy từng chiêm bao
(thơ Hoàng Du Thụy)

Bài thơ đó do một người bạn văn từ Canada, gửi tặng.

Chị nói với tôi chị đang tìm nguồn vui trong thiền và lòng không còn vướng bận những nhánh đời nhân quả. Mỗi đêm về nhà, lái xe qua những hàng sơn táo, qua những vạt cỏ màu vàng như ủ bằng mật ong người đàn bà đó nghe mùa xuân trở mình và tiếng gió rít ngoài kiếng xe, lòng lãng quên hết mọi tranh chấp, muộn phiền…

Những buồn vui ngày trước từng làm tròn trịa một tình yêu cũng không còn? Như một cơn mưa bóng mây bay rớt trên góc tường hạnh ngộ, làm thiếu thốn phía bên này và khao khát phía bên kia.

Biết bao bóng thuyền muộn màng không về được bến vì giông bão giữa dòng, nhưng đàng sau những cơn bão lòng là trái tim lành lặn.

Trên điện thư trả lời, tôi cầu mong chị tìm thấy sự an tịnh thật tình và hy vọng thành phố Montreal có thêm một người đàn bà biết ủ đóa vô ưu trong lòng để giẫm lên những mù lòa dâu bể. Mọi giấc mơ đều cũ xa, đều bỡ ngỡ.

Nhưng thâm tâm tôi không tin nhiều về điều chị nói. Những câu thơ vẫn còn đó sự trăn trở rất đời. Vẫn còn bao la một nhánh sông muộn phiền lấp lánh. Hơi thở tình yêu hình như vẫn còn tươm mật trên môi run ngày nào…

Người đàn bà từ bỏ một đoạn đường và không muốn nhìn lại sau lưng, không có nghĩa là quá khứ đã đoạn lìa. Dù vẫn còn đó vạt mưa làm trắng màu thiền trên vai áo, trong khi tiếng đời vừa xao động lá sen khô.

Bài thơ bất chợt chị gởi tôi từ một đêm như vậy, trong khi tiếng gió quét mùa hạ đi qua ngôi nhà đường Heatherglen. Tôi nhớ vô cùng ngôi nhà cũ của gia đình tôi nằm dưới chân Núi Lớn Vũng Tàu. Biển thổi giạt nỗi nhớ mênh mang về hai đầu ngọn núi. Nhiều đêm tôi chong đèn ngồi học thi lúc bên ngoài trời mưa. Và những câu thơ của một mùa không ngủ được viết xuống bằng mực tím học trò. Những ngọn cỏ khát gọi mưa đêm nên nảy mầm thành lục bát.

Bao nhiêu năm rồi, tiếng mưa có khả năng làm thành cung phách bản đàn xưa và cơn mơ vội vàng như một âm thừa sót lại.

Khi người ta già, người ta sẽ nhìn lui lại bước chân mình. Những người đàn bà giống như sương mỏng, như sông xanh. Họ thà ủ hơi thở sửng sốt của mình trên vai người khác hơn là đậu xuống những trang giấy tình hồn nhiên. Những cuống lá mùa thu không biết nói lời hò hẹn, nên đêm Vũng Tàu có một người úp mặt vào đôi tay, thao thức.

Thành phố ven biển của tôi cũng giống như mọi thành phố miền Nam. Có hai mùa mưa nắng rõ rệt. Những cửa biển xưa mờ cạn nước. Những gã con trai cùng rong chơi với nhau suốt một mùa hè, trên bãi cát khô cạn mực thủy triều. Nên chúng tôi đều hiểu tánh tình của nhau tường tận. Hiểu luôn những thói quen của nhau. Như những con còng gió hiểu rõ hang động của mình.

Mười sáu, mười bảy tuổi chúng tôi không dám có người yêu. Mãi đến khi gần đi lính mới nói lên lời tỏ tình thì cổng trường đã ở sau lưng. Cái thời nông nổi nhưng nóng cháy môi hôn kia đã khép lại.

Những đứa con trai tình si và các cô gái e ấp đã đi riêng một đoạn đường, dưới những cây bàng già phai màu đỏ lá. Những nhịp thời gian như những nhịp cầu nối đôi bờ cách trở. Còn sự cách ngăn của hai người yêu nhau thì đến bao giờ?

Một vài đứa bạn dạn dĩ hơn dám nắm tay người yêu đi ngoài phố. Mặc cho những lời đàm tiếu có dịp lan xa như sóng trùng dương. Vũng Tàu quá nhỏ để che kín một dấu vết, hay một tiếng lòng hổn hển bên vai.

Mỗi ngày đi học tôi đi ngang qua con đường Lê Lợi có hàng me chụm đầu vào nhau. Tôi biết Hoàng Hoa từ thời đó. Lá me rắc trên vai áo ai làm rộn rã lòng tôi. Nhưng tôi biết nàng dửng dưng như nắng sớm.

Người con gái mang cái tên của Hoàng tộc và chứa đựng một màu hoa đã từng không biết có một đứa con trai ngưỡng mộ nhan sắc đi sau nàng.

Khi tôi bước xuống cuộc đời, tôi vẫn chưa biết rõ về nàng, ngoại trừ cái tên nghe gần gũi với một người bạn học của tôi là Hoàng Lực.

Hoàng Hoa là một cô gái có đôi mắt đẹp nhất mà tôi từng thấy trong trường Trung Học Vũng Tàu những năm sáu mươi. Một đôi mắt làm nguồn cảm hứng cho lời thơ Ðinh Hùng/ mắt em là bóng dừa hoang dại, âu yếm nhìn tôi không nói năng/(mộng dưới hoa) Nó cũng là nguồn cảm hứng cho những bài thơ của tôi sau này, khi khôn lớn.

Nhà nàng nằm một góc ngã tư đường Lê Lợi và đường Duy Tân. Một phía nhìn ra hàng me và phía kia nhìn ra biển. Có thời gian ngôi nhà khang trang đó dùng làm nhà bảo sanh Hữu Phước. Từ một góc phố chạy dài từ cơ sở sản xuất Mắm Ruốc của bà Giáo Thảo, đến nhà nàng, có một vài ngôi nhà khang trang nằm lùi sâu vô trong, được những khu vườn màu sắc che chắn bên ngoài, như bối cảnh trong tranh của Renoir, nên khi nàng quẹo khuất vào đó tôi có cảm tưởng nàng đã đi vào một thế giới khác, mông lung và mơ hồ. Một thế giới của nàng tiên trong các truyện cổ tích.

Tan trường về, tôi tìm cách đi sau nàng. Thời đó, học sinh học hai buổi một ngày. Buổi trưa về nhà ăn cơm, có thể ngủ một giấc để buổi chiều đi học tiếp. Tôi dùng khoảng thì giờ ít oi đó để làm thơ tình gởi đăng báo hoạc đọc truyện chưởng Kim Dung. Tôi thích nhân vật Ðoàn Dự trong Lục Mạch Thần Kiếm và thấy mình si tình Hoàng Hoa giống như Ðoàn Dự si tình Vương Ngọc Yến.

Ít khi Hoàng Hoa đội nón. Nhờ đó từ phía sau tôi nhìn thấy mái tóc trên vai nàng chuyển động như đôi cánh một loài chim đêm. Có những ngày tháng người ta sẽ quên luôn vì thời gian chồng chất trên vai, nhưng có những ngày tháng ngừng lại vĩnh viễn. Thời gian học đệ tam là thời gian đẹp nhất của tôi trước khi tôi vào lính. Tôi muốn được yêu thầm và được đi sau lưng nàng suốt đời, mặc cho những biến động của đời sống và bom đạn chiến tranh mỗi ngày vang vọng ngoài kia. Dưới bước chân êm đềm và quanh quẩn bên tà áo dài khép nép của Hoàng Hoa, tình yêu đã che lấp mọi dấu vết tan hoang. Che lấp mọi hướng đi về tương lai. Dù tương lai của những gã học trò sinh trong thời binh lửa vàng úa ngỡ ngàng

Mối tình một chiều như vậy tưởng chừng sẽ kéo dài để cho những trang nhựt ký có cơ hội tăng trang từng ngày. Cùng những bài thơ viết từ tấm lòng thơ dại sẽ có dịp hóa thân thành cánh bướm trang điểm cho đời. Nhưng tôi lầm. Một hôm nàng bỏ trường bỏ lớp không một lời từ giã. Chúng tôi- những thằng con trai khờ khạo trước tình yêu nhưng lại dạn dĩ với bất trắc bỗng thấy vắng đi một bóng mát êm đềm. Biển trở nên cuồng nộ chói chang từ ngày đó. Những trái bàng già rụng xuống tháng giêng dọc đường ra Bãi Trước, giống như những mơ ước chưa kịp đơm bông.

(Nhiều năm sau nầy, khi gặp lại Hoàng Hoa, lúc miền Nam sụp đổ, tôi thấy nàng vẫn còn đẹp dù có già hơn chút đỉnh. Chồng của nàng là đại úy Trần Bình Lâm, hình như không phải là dân Vũng Tàu? Vừa rời khỏi một nhà tù nào đó trở về).

Biết bao nhiêu bể dâu làm khô kiệt mọi nhựa sống trên những nhánh cây đời? Những thanh niên thiếu nữ ngày xưa bây giờ đã trở thành cha thành mẹ. Có người trở thành ông nội bà ngoại nếu lập gia đình sớm hơn. Có ai một lần đi lại con đường cũ ngày xưa để cảm giác được ngậm ngùi? Có ai còn buổi chiều ngồi trên bờ đê nhìn ra mặt nước xanh để ước mơ cuộc sống bên kia bờ đại dương như tôi đã từng mơ ước? Và nơi góc sân vận động ngày nào có còn những đôi chân vẽ vời của bạn tôi, của Võ Như Lăng, của Huỳnh Văn Chừng, của Huỳnh Quốc Hải, Trần Minh Trí, Phan Phi Hùng, Huỳnh Kim Sơn? Của Trung đen, Trung trắng?… Còn những ai đã nướng cháy tương lai mình như những khoang thuyền đang cháy nắng mặt trời?. Suốt mùa ra khơi không tìm ra một mẻ lưới vinh quang trĩu đầy tôm cá?

2.

Trên bãi biển đời người có nhiều dấu vết để lại. Có những dấu vết hằn sâu còn đọng lại một vài phiến lá kỷ niệm. Có những dấu vết hời hợt bị xóa lấp khi sóng biển tràn dâng. Tình yêu cũng vậy. Khi tôi rớt Tú Tài năm Ðệ Nhị, tôi xin vào lính. Mái tóc bồng bềnh của tôi được người ta cắt ngắn còn ba phân và mỗi ngày tôi bơi trong bộ quân trang rộng thùng thình mới lãnh từ kho Quân Nhu. Tôi làm một người lính mang tấm lòng yêu nước pha trộn với sự chua xót để đến mỗi khi chiều xuống, ngồi một mình trên chiếc giường gỗ ở khu tạm cư, lòng tôi cứ chùng xuống vì nhớ nhà.

Dưới những góc cây bã đậu buổi sáng đầu ngày, tôi khom lưng chà láng từng đụn cát, theo lệnh thượng cấp, như đang chà láng mọi ước mơ của mình. Người ta nói: “thao trường đổ mồ hôi – chiến trường bớt đổ máu”. Nhưng với tôi, mồ hôi chảy ra mỗi ngày không đủ sức vá lành rách rưới của trái tim. Mà chỉ có khả năng làm tràn thêm những giọt lệ.
Khóa học quân sự đầu tiên khi vào lính của tôi là Khóa 39 Hạ Sĩ Quan Trừ Bị- (Rớt Tú Tài anh đi Trung sĩ)- Khóa học thuộc quân trường Quang Trung, nằm trong khu vực Hóc Môn, Gò Vấp.

Từ Trung Tâm 3 Tuyển Mộ Nhập Ngũ chúng tôi chuyển về Quang Trung, trại Nguyễn Huệ. Buổi chiều đứng trong trại nhìn ra ngoài con lộ chính chạy về Sài Gòn, những chuyến xe đò, xe lam xuôi ngược kéo theo đàng sau nó những bụi bặm hối hả như hoa phấn cuộc đời. Lòng người tân binh cũng vàng vọt theo vạt nắng. Cách nhau một con đường, bên ngoài là tự do phiêu bồng và muôn ngàn niềm vui đô thị. Bên trong là đời sống gò bó theo khuôn khổ và tập quen với nắng lửa mưa dầu. Người lính lúc nào cũng căng lòng ra chịu đựng mọi thử thách và cố đè nén chuyện riêng tư. Và trong một lúc nào đó, nếu họ để tình cảm vượt lên trên lý trí (không tìm thấy chính nghĩa trong cuộc chiến tranh Quốc- Cộng mất còn) sẽ dễ bị nản lòng. Tôi trưởng thành nhờ những ngày tháng quân trường không ồn ào nhưng sôi động mỗi bài học sống. Tâm hồn tôi không chờ đợi để ướt át cơn mưa đầu mùa. Vì tự trái tim đã thẩm thấu nhớ nhung và chín muồi gian khổ. Những lá thư tôi nhận từ bên ngoài, từ những địa chỉ hoa, như một niềm phục sinh đủ để làm hành trang chờ ngày ra trường. Trên chiếc giường ngủ cá nhân hoặc trên ba lô khi dừng chân ngoài bãi tập, những lời thơ tôi khôn lớn chững chạc hơn những lời thơ ngày trước, những ngày biết Hoàng Hoa. Từ khóa học này tôi gặp Dzũng Chinh- Nguyễn Bá Chính.

3.

Anh là tác giả bản nhạc bất hủ “Những Ðồi Hoa Sim”. Dzũng Chinh là bút hiệu khi đặt nhạc. Nguyễn Bá Chính là tên thật của chàng tân binh khóa 39 HSQ Trừ Bị của Quang Trung vào thời điểm Tháng 9 năm 1965. Vài năm, sau khi ra trường, có lẽ mặc cảm với cấp bực trung sĩ, anh xin học khóa Sĩ quan đặc biệt, và khi tôi đổi về làm việc tại Trung Tâm Truyền Tin Ðà Lạt, nghe tin Dzũng Chinh vừa chết tại Qui Nhơn. Lời ca: … “mấy lúc xông pha ngoài trận tuyến không hẹn được ngày về, và đường về… thênh thang… màu hoa tím loang dài trong bóng tối…” đã giống như định mệnh của người nhạc sĩ tài hoa không may mắn với đời. Trên những đồi cát chập chùng nắng gió Qui Nhơn, màu hoa sim của Hữu Loan miền Bắc đã thấm vào tấm lòng đôn hậu của người nhạc sĩ Dzũng Chinh miền Nam. Để làm nên bài hát từng một thời mê hoặc người yêu nhạc Sàigòn.

Khi người ta yêu, cũng giống như khi người ta chết, có một thời họ ủ đau thương trên những dòng mực làm bằng máu lệ của mình.

Một lần, nơi Trung Tâm 3 Tuyển Mộ Nhập Ngũ, chúng tôi- những tân binh vừa mới rời mái ấm gia đình để tham dự vào một trò chơi mang ít nhiều nguy hiểm là chiến tranh- ngồi vây quanh nghe Dzũng Chinh đàn cho một người khác hát. Tôi không còn nhớ tên người hát, nhưng tiếng hát của anh ta thật ấm lòng. Anh hát liên tiếp hai bài. Bài đầu tiên là Những Ðồi Hoa Sim và bài sau là Phố Vắng Em Rồi (của Mạnh Phát). Giữa bóng tối nhá nhem buổi chiều vừa xuống, dưới tàn nhánh già nua của cây bả đậu, mùa thu đang thở hơi sương trên các rào kẽm, giọng ca của người ca sĩ bềnh bồng, cuốn hút.

Không biết người ca sĩ đó có phải là đệ tử của nàng Phù Dung hay không, nhưng lời ca quả tình mang hơi hám của khói và nhựa. Nó có khả năng lôi kéo người nghe bay lên ngang tầm với khổ đau và lạc thú cùng lúc… Nó cũng làm cho trái tim dù bầm giập cũng biết rung động và biết cười khóc với đời.

Mãi khi ra hải ngoại, tôi nghe giọng hát Tuấn Vũ, tôi biết quả có điều đó. Tất cả đều im bặt và nín thở nghe anh hát. Những lời ca tưởng chừng bật ra khỏi một thanh quản rướm máu hay cuộc đời vừa rướm máu? Tôi không thể lý giải được. Chỉ biết rằng từ đôi môi khô ráp vì khói thuốc và đôi mắt nhìn xuống hai kẻ ngón tay vàng ám, nơi điếu thuốc đang cháy dở dang, tình yêu đã nở hoa như cánh bướm màu hạnh phúc…

4.

Cuộc đời đang vàng phai theo những gió mùa, hôm nay ngồi ôn lại những bước tình đầu ái ngại của mấy chục năm về trước. Tình yêu và mộng ước cũng tan theo dòng đời. Lòng tôi không còn tươi mới để rượt đuổi theo bóng sắc mượt mà. Nhưng lửa tro than vẫn còn âm ỉ.

Ba mươi mấy năm sau, bất chợt gặp lại những người con gái cũ của trường xưa. Họ vẫn phơi phóng một tấm lòng của biển. Ðường phố Bolsa có đông vui nhưng lòng ai đã quạnh hiu một góc chợ chiều. Thời gian không dừng lại. Bên ly cà phê báo hiệu một đêm mất ngủ, vài mẫu chuyện gợi lại một khung trời hương mật và màu xanh của sóng đang lao xao trong mắt.

Một lần ngồi ở Starbuck’s (góc đường Brookhurst- Edinger) nhìn ra giao lộ đèn đỏ trùng điệp những đời xe mới toanh, nghe từ cuối một hành lang vọng lên bài hát. Quán cà phê Mỹ nhưng có nhiều người Việt Nam ngồi. Tiếng nhạc từ chiếc bàn kế cận không quen thuộc, nhưng dấy động một nỗi buồn:

Ngày xưa anh đón em
Nơi gác chuông chùa nọ
Anh bây giờ qua đó
Còn thấy chữ trong chuông
Em khoác áo nâu sồng
Anh một đời biền biệt
Tên em giờ tha thiết
Theo tiếng chuông chiều đưa…
(Phạm Thiên Thư/ Dấu Chân Chim
)

Người con gái có tên Hoàng Hoa một thời tôi theo đuổi tại Vũng Tàu bây giờ đã đi tu. Tôi không biết duyên cớ nào làm nàng từ bỏ cuộc đời dung tục này để nương thân vào cửa Phật? Câu chuyện nghe có vẻ đượm mùi cải lương mang dấu ấn của Lan và Ðiệp. Nhưng tôi biết nàng vẫn từng hạnh phúc sau khi không còn đến trường. Tôi biết người chồng đẹp trai của nàng là Ðại uý Trần Bình Lâm. Sau 30 tháng 4 năm 75, nàng bươn chải bán thuốc tây ngoài chợ trời để nuôi chồng ở tù và nuôi mấy đứa con còn nhỏ. Ðôi lần tôi gặp Hoàng Hoa dắt xe đạp từ chỗ gởi xe, gần chợ chiều Vũng Tàu. Bên kia đường là biệt thự cũ bây giờ dùng làm trụ sở Phường Châu Thành. Nàng không có vẻ gì nhìn thấy tôi. Hay nhìn thấy tôi mà làm như không biết. Chiếc áo bà ba thay cho chiếc áo dài ngày thơ dại. Và đôi mắt đẹp buồn não nùng.

Mỗi cuộc đời đều giống như một dòng sông. Có khi sông vặn mình chảy xiết qua những ghềnh thác cheo leo. Có khi sông âm thầm nép kín sau những khúc quành. Sông ủ đời sông theo những ngày tháng lạnh của mưa và trong veo của nắng. Nhưng sông không bao giờ quay đầu trở lại thượng nguồn, mà chảy luôn về biển.

Mối tình một chiều của tôi, với Hoàng Hoa, giống như dòng sông vậy.

Ðêm đêm, lời kinh của nàng có làm sầu muộn thêm những đóa hoa sứ trong vườn Bồ Ðề? Ðêm đêm, tiếng gõ mõ của nàng có làm kinh động những cánh bướm mòn mõi giang hồ?

Tôi nghe người bạn học chung lớp của nàng từ Việt Nam trở qua kể lại. Hoàng Hoa giam mình trong một chiếc am nằm trên đường ra Ô Quắn (Au de Vent). Mỗi tuần, Trần Bình Lâm chạy Honda đem thức ăn chay cho nàng. Nàng hạnh phúc trong câu kinh tiếng mõ. Chờ đợi ngày hóa thân.

Nhớ xưa em rất dịu dàng
Hồn vang tiếng guốc mơ màng Hoàng Hoa
Em từ cõi Huế đi ra
Hương Giang bỗng mặn phù sa Vũng Tàu
Bây giờ em rất thanh cao
Áo xanh nay đổi áo bào Quan Âm
Đêm qua một đóa u trầm
Rớt trên kinh Phật tưởng lầm môi ai?

Tôi làm bài thơ ngắn có mấy câu coi như tạ lỗi hàng me đường Lê Lợi. Từ nơi đây tôi thơ dại và cũng từ nơi đây tôi khôn lớn với đời. Một đôi mắt đẹp đã sâu hút từ đêm Vũng Tàu vàng ấm mùa thi.

5.

Nơi căn phòng nhỏ nhìn ra sân mưa bên ngoài chiều nay đang ngổn ngang cành khô mà sáng ngày mai xe đổ rác sẽ đến dọn, tôi vừa biết thêm một cảm giác vội vàng khi tháng năm lao đi vùn vụt. Đâu rồi tia nhìn của lửa làm cháy bỏng đời nhau và sợi tóc còn vương lại trên chăn nệm? Những tình yêu phờ phạc cuốn hút cơn đau tuyệt vời và sau đó lìa nhau vĩnh viễn.

Có những giấc mơ chết non và bất hạnh ghim xuống lòng như một vết mực lầm lỡ. Một vài con chim đậu trên hàng dây điện như những nốt nhạc màu đen trên quá khứ buồn-(ý của nhà thơ Nguyễn Xuân Thiệp)- Người đàn bà có con mắt màu nâu và vành môi cong vút màu tulip vừa rời khỏi đời tôi hôm qua để bay theo những phù hoa. Bay theo biển dâu và nắng gió chói chang bên ngoài. Nàng đến không ồn ào và đi cũng không tiếng động.

Không ai tắm hai lần ở một dòng sông. Cũng như không ai học biết đủ một bài học. Tình yêu cũng vậy. Khi tình yêu đi qua ranh giới của thù hận và đắng cay, tình yêu tự nó sẽ chết.

Nơi căn phòng cũ trong ngôi nhà đường Heatherglen, trên chiếc bàn gỗ bên ngoài Patio đang thánh thót mưa thu, tôi vừa biết thêm một bài thơ hay của một người bạn ở Tennessee. Lời thơ không cần bia bọt hay cà phê nhưng vẫn làm ấm áp, dù thơ anh như muối xát trong lòng:

cây hồn anh, thôi lá rách cành hư
năm bảy trái tình chưa xanh đã rụng
qua thời đất chai tới mùa nước úng
tiếng chim hoài im lặng một đời cây
năm ngón thon dài hiền dịu bàn tay
ngón út cho anh đợi ngày vuốt mắt
những ngón ngoan kia lỡ cho người khác
(ôi tay em, chỉ một ngón đang buồn…)
(Hoàng Lộc)

Có chuyến xe lửa nào vừa từ một nơi chốn lạ về ngang qua công viên sau nhà. Những toa tàu kín bưng nhốt bao nhiêu tâm hồn thao thức một thềm ga?

Tôi luôn yêu mến và kính trọng những cuộc tình không tìm ra trạm xuống. Đó là những cuộc tình đẹp tay ba dù nó luôn ủ bằng nước mắt và tuyệt vọng. Từ những đôi tình nhân dù biết rằng phải lạc mất nhau nhưng không biết phải hóa giải bằng cách nào, họ vẫn cầm tay nhau đi với sự can đảm pha lẫn buồn rầu, trong khi sương mù mịt mùng phía trước…

Phạm Ngũ Yên

LỤC BÁT KHÁNH MINH

nguyenthikhanhminh

CÓ ĐÔI

Mỗi buổi sáng. Một nụ cười
Daffodil nở mặt trời của tôi
Dưới kia một dòng sông trôi
Nước đi nước chở một nôi nắng đầy
Còn ai chở cánh mây bay?

TÌNH CỜ

Giữa đường, tại một vẫy tay
Rủ rê ta ở lại, ngày rất vui…
Thì thôi nhé mộng chân trời
Ánh trăng ủ lại ngọt bùi mai sau
Xin quy y nắng nhiệm mầu

KHI KHÔNG

Tận phía bên trời, bình minh
Không còn sau trước, chỉ mình bước đi
Với những lời mang theo, vì
Còn trang nắng đợi tôi ghi nụ cười
Khi không trời bỏ mưa rơi

TÌM ĐÂU

Tìm đâu trên chữ. Những lời
Lặng thinh trang giấy im hơi chỗ nằm
Đường xa mỏi bước chân gần
Một nửa cái bóng lần khân chỗ ngồi
Thốt nhiên còn một nửa tôi…

Nguyễn thị Khánh Minh

RƠI…

vuhytrieu

chiều rơi
vài giọt nắng sầu
ngẩn ngơ con nhện
buồn rầu giăng tơ
dường như
rất đổi tình cờ
thơ tôi rụng xuống
đường tơ giăng buồn
tơ chùng
nặng nỗi niềm buông
tơ rơi…
mấy đoạn thơ buồn
rơi theo…

Vũ Hy Triệu

BÀN TAY TRONG MỘT BÀN TAY

elenapucillo

Trương Văn Dân
dịch từ nguyên tác Tiếng Ý

Chìm trong tiếng ồn của cuộc sống bon chen đô thị, phần lớn là những người trẻ, tuổi ba mươi, bốn mươi…lúc nào cũng vội vàng, hấp tấp, đi và đến bằng các phương tiện tân thời, xe hơi, bus, taxi…
Giữa những cao ốc nguy nga, tráng lệ, ánh đèn chiếu sáng những bảng hiệu, biểu tượng của sự phát triển về một thế giới hiện đại và lý tưởng, về tính hiệu quả, mang vẻ ngoài thật xinh đẹp và trẻ trung…
Bỗng có hai người già như lạc lõng, bước từng bước nhỏ đến chiếc băng gỗ quen thuộc đặt ở góc công viên. Tay trong tay, nụ cười như in trên hai khuôn mặt đã có nhiều nếp nhăn theo năm tháng. Ông lão nắm tay bà, cẩn trọng đỡ người bạn đời của mình, giúp bà ngồi xuống một cách nhẹ nhàng và thoải mái. Mỗi cử chỉ của ông đều ân cần, chậm rãi và cẩn thận như đang che chở và ve vuốt một chú chim non bằng những lời yêu thương ngọt ngào.
Ngày nào cũng thế…tôi chẳng biết bắt đầu từ lúc nào, nhưng có lẽ từ lâu lắm. Mỗi ngày mỗi mới và có vẻ như mỗi ngày tình cảm giữa hai người mỗi thiết tha mạnh mẽ. Nó tương phản hoàn toàn với thế giới xung quanh, đến nỗi giống một nghịch lý.
Trong cái vũ trụ thu hẹp của họ, giữa những vụn bánh cho vài chú chim sẻ, có những cái vuốt ve cô mèo con bị lạc hay tiếng cười rạng rỡ của một em bé tập đi đang ngã vào vòng tay người mẹ. Họ luôn mang theo mình một chiếc dù, để che nắng hay phòng ngừa sự chòng ghẹo từ những cụm mây, riêng bà thì không bao giờ quên chiếc khăn quàng khổ rộng, sau khi ngồi vững liền âu yếm quấn quanh cổ ông để che chắn những cơn gió lạnh.
Tôi tưởng đó là một bức tranh đang đặt trước mắt mình; sự thực đó đang nằm ngoài thế giới này. Chẳng biết gì về họ nhưng lâu nay tôi không thể làm gì khác là nhìn ngắm và quan sát cho đến khi nào, sau chừng một giờ, bằng những cử động ban đầu rất yếu ớt, về sau mạnh mẽ hơn, họ chống tay đứng dậy tay nắm tay bước đi cho đến khi mất hút giữa dòng người vô cảm.
Rồi sau đó thì sao? Họ sẽ làm gì trong quãng thời gian còn lại trong ngày? Tôi tưởng tượng như mình đang tò mò theo dõi, bị cuốn hút bởi thứ hào quang hạnh phúc bao quanh người họ. Một cuộc đời đơn giản. Chỉ có những cử chỉ quen thuộc nhưng thật ngọt ngào và trìu mến dành cho người thân. Dĩ nhiên tôi không thể nào tưởng tượng là họ sống trong ác mộng, trong lòng họ đang chất ngất bao điều ưu tư. Hằng ngày lo lắng và đau khổ, một nỗi đau kinh khiếp có thể cướp mất hơi thở tối cần cho cuộc sống

Trong bóng tối của buổi chiều tàn, bà vợ mắt nhắm nghiền, nằm bất động trên chiếc giường đôi. Hai bàn tay bà đặt trên ngực, những ngón tay nắm chặt chuỗi tràng hạt. Trên chiếc ghế đẩu đặt cạnh giường, ông chồng ngồi gục đầu, kiệt sức sau một cơn khóc tuyệt vọng. Ông liên tục lau mặt bằng chiếc khăn giấy ướt rã vì nước mắt. Rồi, bất thình lình, trong tay ông loé lên ánh thép lạnh lẽo của một khẩu súng. Ông đăm đăm nhìn họng súng, những giọt nước mắt vẫn tiếp tục rơi, làm ướt chiếc nòng lạnh giá. Ông thì thầm vài lời gì đó, rồi bằng một cử chỉ thật nhanh đưa họng súng chỉa vào màng tang mình. Chỉ trong tích tắc.
Bàn tay rớt xuống! Chẳng có tiếng nổ nào xảy ra.
Giống như trong phút chót sự can đảm đã biến mất…
Cuối cùng ông dợm đứng lên, lấy lại tự chủ, rồi đặt khẩu súng trong ngăn kéo của chiếc bàn đêm.
Bây giờ tới phiên ông.
Ông nằm bất động trên chiếc giường đôi, mắt nhắm nghiền và cũng với chuỗi tràng hạt trên tay. Bà vợ, thận trọng và run rẩy đặt một bàn tay lên trên quyển sách nằm trên ngực chồng. Đó là quyển sách mà ông đã viết và nó sẽ theo ông làm bạn trong thế giới bên kia. Một vài giọt nước mắt ứa ra, rớt xuống trang bìa làm ướt những ngón tay khẳng khiu, gầy yếu…Rồi bà lão như kiệt sức, ngã gục xuống chiếc ghế đặt bên cạnh giường. Những ngón tay bà cố gượng vuốt ve lên thân thể thân thương. Bà vuốt đôi mắt, vành môi, khi vuốt đến ngực những ngón tay bà ngập ngừng dừng lại, như thể còn muốn vuốt ve cả trái tim ông…Cuối cùng bà áp tay mình lên bàn tay ông, bàn tay đã từng nâng đỡ và che chở bà suốt một cuộc đời. Nước mắt vẫn tiếp tục lăn xuống nhưng bà chẳng có chiếc khăn nào để ngăn. Sau những tiếng rên rỉ, bà thì thầm bên tai ông những lời ngọt ngào như xưa nay bà đã từng làm. Rồi gượng đứng lên, bà áp môi mình lên môi ông, đặt thêm một lần nữa chiếc hôn cuối cùng.
Run run, bà với tay lấy khẩu súng đặt trên chiếc bàn đêm. Một tay bà nắm chặt tay chồng, còn tay kia, rất tự tin, bà đưa họng súng chỉa vào màng tang mình. Chỉ một tích tắc. Rồi bà ngã xuống trên xác chồng, như muốn ôm lấy ông một lần cuối.
Cứ thế, từ hai tháng nay mỗi buổi tối cảnh đó luôn được lập lại như đang trình diễn trong rạp hát.
Mọi chuyện bắt đầu từ sau hôm đi khám bác sĩ. Trước đó bà thường thấy mệt, nhiều lúc thở rất khó khăn, như bị ngạt, tưởng như có một khối đá đè lên lồng ngực trong những chuyến cùng chồng đi dạo. Tay trong tay, trong nước mắt, họ lắng nghe phán quyết của người thầy thuốc.
“Tôi rất lấy làm tiếc nhưng trái tim của bà nhà rất yếu…một cuộc giải phẩu là điều không thể thực hiện…Rất tiếc là tôi không biết phải làm gì để có thể giúp bà…Nguy cấp lắm rồi…bà yếu quá…” rồi sau câu hỏi thầm lặng từ đôi mắt đau đớn và khẩn cầu của họ là câu trả lời ngập ngừng nhưng thành thật và xúc động của bác sĩ:
“Rất tiếc…điều đó có thể xảy ra bất cứ lúc nào…”
Sau đó thì hai người già vẫn tiếp tục sống cuộc đời họ như đã từng, nhưng mỗi ngày đều rất đau đớn vì ý nghĩ là bà sẽ đột ngột ra đi, bỏ ông lại một mình; Bà, người chưa bao giờ rời xa, chưa bao giờ phản bội ông.
Bởi, suốt một đời họ đã luôn sống bên nhau. Trong một thoáng bà hồi tưởng thời hai người còn trẻ, những cử chỉ ngập ngừng và vụng về trong mối tình đầu, trái tim bà chỉ đập khi chờ đợi ông, chỉ vì ông, người đàn ông duy nhất có thể lấp đầy cái khoảng trống trong tâm hồn bà; cũng như chỉ ánh nhìn nhân ái của ông mới có thể xoa dịu đi nỗi đau hay mang lại cho bà niềm hạnh phúc. Cứ thế, họ đã sát cánh bên nhau đi qua cuộc đời này. Rồi họ cùng nổi tiếng với tất cả các nhà hát kịch trên thế giới. Trên tường nhà họ hiện vẫn còn treo đầy các biểu ngữ giới thiệu các vở kịch: Shakespeare, Mann, Eliot, Racine, Molière, Pinter…. có tấm in khuôn mặt, miệng mỉm cười của họ, có tấm chụp họ đang mặc đồ diễn trên sân khấu, đứng giữa những bạn diễn thân thiết mà đến nay tên tuổi vẫn còn sáng chói. Hình như hào quang hạnh phúc đã bao quanh họ từng ngày. Và họ luôn ở bên nhau.
Có lẽ trong cuộc sống hạnh phúc và bình an đó, chỉ có một nỗi đau trong trái tim bà, đó là sự thiếu vắng một đứa con…điều duy nhất của riêng họ, chỉ của họ mà thôi. Nhưng mỗi lần bà vật vã, chỉ cần những lời ngọt ngào của chồng “ Em yêu ơi, xin em đừng tuyệt vọng. Không có con chúng ta sẽ yêu nhau nhiều hơn…” là có thể làm dịu nỗi đớn đau, để nó trốn ngay đi, dù chưa hoàn toàn xoá mất.
Rồi cuộc sống đổi thay. Thăng trầm. Chìm nổi. Có lần họ cũng rơi vào cảnh nghèo túng vì từ chối các vai diễn không phù hợp hay không chịu ký hợp đồng với những công ty ca kịch không hoạt động vì nghệ thuật…và cuối cùng, với tuổi tác, họ bình thản từ giã ánh đèn sân khấu, chấp nhận cuộc sống giản đơn, bùi ngùi nhìn lại những kỷ niệm sáng ngời trong quá khứ. Nhưng họ luôn ở bên nhau, luôn luôn hạnh phúc vì người này chỉ sống cho người kia. Và ngược lại.

Là những diễn viên tài hoa nên mỗi buổi tối họ đều chuẩn bị cho chính mình vai diễn, cố thể hiện thật xuất sắc vở kịch cuối cùng.
“ Cái chết của chúng mình. Sự chia lìa sẽ bất ngờ là điều không thể tránh khỏi. Nhưng người nào đi trước sẽ không phải hứng chịu nỗi cô đơn ở thế giới bên kia”.
Ông thường đi lập lại rất nhiều lần:“ Ước muốn lớn nhất là chúng ta có thể chết cùng một lúc, nhưng dễ gì Chúa ban cho ta ân sủng này!”
Nhưng, ông đã lầm…
Vài tháng trôi qua. Và chỉ có vài hàng trên một tờ báo.
Trong lúc ngủ trái tim mệt mỏi của bà đã vĩnh viễn ngừng đập. Và ông, bất thình lình thức giấc, tin là còn có thể cứu bà, ông lao tới chụp ống điện thoại để gọi xe cấp cứu…nhưng đã không kịp nữa. Trái tim của ông cũng ngừng đập vì đau đớn, nó chỉ cho ông một tích tắc thời gian để đưa cánh tay nắm lấy tay bà.
Sự việc chỉ xảy ra trong tích tắc.

Elena Pucillo Truong

VÔ DINH 1 – NGHE TIẾNG LĂN TRẦM

maiviet

Còn đâu đó thăng trầm dưới chân đồi thông lạnh
Ngày hoàng kim in đậm dấu sơn hà
Chiều tĩnh lặng hai hàng tràm thân trắng
Dinh 1 ngậm ngùi triều đại cũ đã xa

Tôi bước lên bậc thềm hoa cương đen bóng
Như bước vào trầm mặc gót trăm năm
Ngọn gió hoàng cung hắt hiu hành lang vắng
Nắng ngoài kia đâu xua hết âm thầm

Hồn bỗng lung linh ánh đèn phòng Nam Phương một thuở
Hương tóc vương quyền còn quyện dưới gối hoa
Giấc ngủ chập chờn dài đêm trăn trở
Xã tắc, kinh thành đè nặng xuống âu lo

Kỷ vật còn đây màu triện son còn đỏ
Đường phượng đâu chiếc song mã lạc loài
Tiếng đại ngàn rót qua Hoàng Triều Cương Thổ
Nhớ thương nào còn vương vấn mãi cuộc chơi

Xiêm áo long bào xếp vô lòng tiếc nuối
Dạ yến trăng tàn soi đáy cốc chơ vơ
Còn đâu sóng Hương Giang ngày xuân phân đô hội
Đóa sen hồng ai thả về nơi mô!

Con hầm tối tưởng dẫn vào lăng miếu cũ
Sương khói bụi trần rêu lạnh mái tây hiên
Đêm bóng cả phất phơ màn phướn rủ
Tiếng vạc buồn thảng thốt cõi tịch viên

Sáng nay – nắng vàng hong cỏ xanh Dinh thự
Có một màu hoa e ấp khẽ khàng
Qua mỗi gian phòng quân vương lặng lẽ
Tôi chợt cúi đầu nghe vọng một tiếng than.

Mai Việt

PHƯƠNG NỘI

nguyenducbatngan

Từng buổi chiều anh đi qua dòng sông
Em thì đã không bao giờ trở về
Anh buông thỏng hai tay
Em bỗng mưa trùng trùng giữa ngày hạn hán
Bằng trí nhớ thô sơ anh thu lại từng nhân dáng đã trôi qua cuộc đời mình
em, không một lần gõ cửa

Còn chút thân yêu rụng hờ trên sông
Đã một thời trong em hiền hòa như thân tầm gửi
Anh hát lên trên mưu vọng mình
Hơi ấm quay-lăn-quay-lăn theo từng đỉnh nhọn

Một cõi nào em còn nghe anh ùa về trên tóc mai
Như âm vang thì thào thấm mệt
Em hãy thân ngoan trong bước chân người
Em hãy ấu thơ như dòng nước cạn

Vẫn còn hoài như linh thiêng đầu năm
Hồn cũng gọi nhau về trong khói hương ngút mắt
Biết tặng gì cho em
Ngoài long đong anh sẵn sàng tan vỡ

Em hãy hôn con theo những nụ cười
Hãy mượn thinh không hát dùm trong môi ngậm
Sóng vẫn như em bắc ngang thân cầu
Thì một chút rêu có còn là thơ ấu

Từng buổi chiều anh theo trên hành-lang-anh
Sao rất nhiều khung cửa mở
Anh biết nơi chốn nào là hạnh phước đời mình
Nên mải cười vang trong bao lần hội ngộ

Gió nổ dòn trên đầu anh mênh mang
Có em theo anh buồn hơn sự sống
Có ta theo nhau như đuổi bắt bóng mình
Có thinh không cất cao lời hét lộng

Bây giờ vẫn là nhịp cầu
Vẫn còn con đường của thời đôi ta lang thang
Vẫn còn đượm hương giữa đời yêu dấu
Trong làn mắt ôm cả ngần ngại buổi đầu

Em không còn mở cửa
Nỗi niềm nào đã biệt tăm
Anh chọn con đường đi về sự chết
Sao vẫn nồng nàn hơn ánh mắt trong
Phủ trên lưng nghìn lần tha thiết

Hãy cho nhau từ âm thầm
Một chút xót xa trong ngần thuở cũ
Còn tim anh
Mừng
Rộn ràng em
Là chim vàng khuyên thơm lành dấu mổ

Có còn một lần đi
Có còn lại nhau dù chỉ là chiếc bóng
Hãy tròn phận nghe em ở phía trước mắt người
Bởi vì biết còn gì đâu để chúc mừng sự sống.

NGUYỄN ĐỨC BẠT NGÀN

KHẮC KHOẢI TIẾNG CHIM ĐÊM

lesa

Mây hôm nay hay mây của ngàn năm trước, đi đâu về đâu. Có chăng cho bến bờ neo đậu.
Tôi đưa mắt nhìn lên khoảng trời khuya huyễn hoặc, nơi ấy chỉ có những vì sao hiu hắt. Tôi cố tìm ba vì sao riêng lẻ để thầm đoán định cho một thân phận,cho mỗi một đời người… Ngôi nào cho anh Nghiễm tôi, ngôi nào của Ngọc Hà em tôi, và ngôi nào cho tôi sở hữu,. Khốn nạn! cả bầu trời bao la kia cũng chỉ là những con mắt hấp háy tật nguyền cứ nhìn xuống tôi nhạt nhoà khi mờ khi tỏ, giấc mơ tôi cứ trôi đi dập dềnh trên bọt sóng mơ hồ xa tắp. Tôi đưa tay níu lấy vầng trăng sự hào phóng của đất trời ban phát.Nhưng kìa! trăng cũng chỉ là chút ánh vàng ngoắc ngoãi thả trôi dật dờ theo sông chiều ngáp ngũ.

Hai mươi năm rồi còn gì. Hai mươi năm tưởng xa mà gần, tưởng gần mà xa. Ôi… cuộc đánh tráo ngoạn mục trên dòng nước xiết. Một tiếng chim đêm vừa rúc lên đâu đó ở góc trời xa. Tôi vốn sợ tiếng chim kêu lẻ. Sao không là đàn chim thiên di kia. Trên đôi cánh mõi mòn u oãi, chúng cắt qua biển rộng, cắt qua sông dài gió chướng cho cuộc trú đông dặm ngàn lữ thứ. Mỗi năm chỉ một lần như thế, một lần thôi, rồi cũng phải gọi nhau quay về chốn cũ ? ! . Quay về để viết tiếp bản tình ca loài giống. Bản tình ca ấy , lệ tộc ấy được viết lên bằng cả máu, còn tôi thì sao ? … Ngày tôi bỏ quê, bỏ làng bỏ dòng sông bờ duối ra đi, tôi trốn ai đây tôi tìm gì đây. Phải chăng tôi trốn tôi hay trốn cái bóng của chính mình, cái bóng của ngoại, cái bóng của mẹ, những cái bóng ấy chã lẻ cứ
hắt mãi xuống trăm năm. Sao tôi phải ghì giữ làm gì giấc chiêm bao khi mình đang thức. Nhiều đêm tôi đã tự hỏi thầm mình như thế, để rồi chỉ biết đưa tay bấu chặc lấy tóc mình cầm lấy tay mình mà cười lên ràn rụa.
Đêm tháng tư vô cảm. Anh Nghiễm nhìn tôi, tôi nhìn ra dòng sông bèo bọt ánh vàng trăng.

Có thể cụ cố tôi sai lầm, ngoại tôi sai lầm, mẹ tôi sai lầm. Và cuối cùng là ba anh em chúng tôi sai lầm ! ? . Mẹ nắm cái bóng của ông ngoại một cụ đồ nho mẫn thế, để rồi ba anh em chúng tôi lại ràn rịt nắm chặt cái bóng của mẹ.Chỉ có cậu Sĩ là quá khôn ngoan, đứng ngoài tất cả những cái bóng ấy mà thành công chăng? Thành công cả những điều vặt vạnh tép tôm.

Năm 54 đất nước tạm cắt đôi. Cậu Sĩ có mặt trong đoàn quân cuối cùng xuống tàu tập kết ra bắc.Trên một cơ thể sống có hai nguồn máu, một đen một đỏ vẫn cứ luân lưu hoài chảy để biết bao người mẹ phải mõi mòn đợi con, chị thấp thỏm ngong ngóng tin em về. Hai mươi năm đoạn đành chia cắt tình nhau. Ngày miền nam hoàn toàn giải phóng. Đùng một hôm cậu Sĩ trở về, cậu về trong chan hoà lệ chắc, cậu về với chiếc bị  nãi bạt màu cứt ngựa trên vai.Mẹ ôm cậu khóc, Hà em tôi cũng khóc. Cậu cười vỗ vai mẹ:

– Thôi chị… ổn rồi, đừng khóc nữa thống nhất rồi độc lập rồi, công bằng văn    minh rồi, không ai chia lìa được chị em mình nữa đâu.

Lời nói nghe ngọt ngào khôn xiết.

Suốt ngày mẹ líu ríu bên cậu bên mợ, không đoái hoài về chuyện ruộng nương. Cậu Sĩ hết trầm trồ khen thèm đàn gà nun núc béo mập sau vườn, lại nhìn lũ chép mang vàng quẫy trừng trên mặt nước ao sâu, cậu luôn miệng soa tay ao ước. Trong khi bà mợ theo cậu giới thiệu với mẹ- Mợ là người rặt dòng chính phái danh gia đạo hạnh mười đời gốc Hải Dương. Mợ  thường đứng hàng giờ chép miệng, chặc lưỡi, vuốt ve thao thiết bộ ngủ sáng óng bằng đồng nguyên, đang đặt thờ trước di ảnh ông bà ngoại. Hôm cậu mợ về lại bắc, mẹ đóng cẩn thận cả bộ ngủ vào chiếc thùng to tướng cho cậu. Mẹ nói:

– Thôi cậu cứ mang về ngoài ấy mà làm quà.

Mợ vui quá chừng cậu vui quá chừng:

– Lần này vợ chồng em chỉ về phép thôi. Cụ thể xem nhà mình ai còn ai  mất. Lần sau về chúng em ở hẳn bên chị.
Mẹ xoắn lấy vạt áo cậu cuống cuồng hải sợ. Mẹ sợ một lần nữa hạt máu thiêng  của ngoại không khéo lại rơi vãi đâu đó bên góc đường bám bụi.

Cậu đi rồi. Ở đây mẹ tính từng ngày mong ngóng. May cho mẹ thực. Chưa đủ mười ngày cậu đã quầy quã quay về. Lần này cậu quay về như thể cuộc dời đô, với đầy đủ bầu đoàn thê tử. Mẹ có cảm tưởng ngôi nhà rường trăm năm của ngoại giờ đây chim chóc đang rủ nhau bay về đông hơn, ríu ríc lót tổ trong các ống ghè nóc ngói.
Ma Nương quê tôi. Nét chơn chất thiệt thà cố cựu như bao làng quê khácnằm kề bên phố thị, chơn chất như nhũng cánh chuồn nâu chao vẽ trên mặt nước sông chiều, báo hiệu cho những hạt mưa thơm đang chuyển về. Một hôm cậu Sĩ thỏ thẻ nói với mẹ tôi:

– Chị à! Đất nước ta đổi mới. Mình phải thực tế chị ạ

– Là sao hở cậu?. mẹ tôi hỏi

– Sân trước nhà Từ đường mình đây rộng lắm, vườn cây đẹp lắm. Chị cho  chúng em mở cái quán sân vườn. Đôi khi cháu Hà… lại có thêm thu nhập mà học hành đến nơi đến chốn.

Vợ cậu Sĩ chế vào gọn trơn:

– Phải đấy chị. Dân quê mùa mà con bé cũng đẹp đáo để nhẽ.

Nghe cậu nói thế mẹ vui mẹ mừng. Nhưng thãn hoặc, có một cái gì đó như đang rình rập mẹ, các con mẹ.

Đêm chủ nhật. Ngọc Hà em tôi đang ngồi học bài ngoài hiên sau, nơi ấy trước đây vốn là kho chứa lúa của ngoại, năm 68 bom napal đánh sạt đi một góc tường. Trông cậu sĩ nhớn nhác như con gà mắc đẻ giữa trưa. Cậu thở hùn hục dúi vào tay em tôi năm ba tờ giấy bạc, hổn ha hổn hển giục:

– Này cháu… Cháu mau mau ra giúp cậu với. Có khách sộp ở phố về xe con. Ông ta là thủ trưởng của cậu của mợ đấy. Ông ta chỉ ham tiếp viên trẻ trẻ như cháu thôi hà.

Hà em tôi. Nó đủ khôn đủ hiểu để đoán điều nghiệt dữ, một ngày nào đó rồi cũng sẽ đổ ập lên đầu em. Thế nên, em luôn thủ sẳn cho mình một tư thế đối mặt, một thứ vũ khí bản năng. Bản năng của con thú tật nguyền một khi bị dồn vào góc chết. Hà, em tôi thét lên đứng phắt dậy, chộp vội nắm bạc vo vụn ném thẳng vào mặt cậu Sĩ. Em chạy băng qua hàng rào dâm bụt, chạy băng băng qua cánh đồng làng thơm dâng mùa ngặm hạt. Em chạy và chạy như một kẻ mộng du, hai tay cứ đưa lên chấp chới xiêu xiểng như một cánh chim tật nguyền. Tiếng thét em cứ u u lan mãi lan mãi, cứa vào lòng mẹ tôi vào trái tim hổn hển của anh Nghiễm tôi và tôi. Tiếng thét em vón lại đông cứng, se thành những hạt máu bay lả chã rồi chợt bừng sáng lên rực rỡ cùng khắp trong ngôi nhà trăm năm của ngoại. Trong khi mắt cậu Sĩ cũng kịp lồi ra hai viên máu. Viên máu đỏ lòm lòm như hai viên đạn pháo chực bắn ra khỏi nòng đại bác.

Nhớ lại thời thơ ấu. Trên chiếc tràng kỷ gỗ gụ ngoại ngồi đọc sách, tôi thằng bé lên năm thích lạ gạ chơi đùa quanh ngoại, ngoại nắm tay tôi chỉ lên tấm kính giữa nhà, bên trong lồng tấm lụa vàng. Ngoại bảo:

– Chữ Nhân đấy, chữ Tâm đấy con ạ.

Tôi lắc đầu cải lại ngoại.

– Không phải chữ đâu. Con chuồn chuồn trụi cánh, con cuốn chiếu lại gãy lưng, ngoại vẽ không giống chút nào.

Ngoại vuốt râu cười:

– Ừa, tranh cũng là chữ, chữ cũng là tranh đó mà.

Ngoại thường doạ Hà mỗi lần em khóc nhè:

– Đứa nào ham khóc lòi rún ráng chịu, qua cầu dễ bị gió xô.

Hà ơi! Đó chỉ là chiếc cầu thứ nhất em vừa bước qua  thôi mà. Hãy cười lên đi em, sao em lại khóc. Em hkông nhớ lời ngoại dặn sao em.

Sau nhát chém nghiệt dữ cậu Sĩ sả xuống đầu em tôi. Một hôm mẹ quỳ dưới chân cậu Sĩ vừa khóc vừa lạy:

– Tôi xin lạy cậu. Kể từ nay xin cậu… tha cho mẹ con tui. Nay cậu về. Nhà từ đường này là của cậu, thờ cúng cha mẹ thế nào là tuỳ cậu. Riêng mẹ con tui…cái xẽo đất nhỏ ngoài bìa ranh kia, trước đây là chuồng trâu của cha, cậu cho mẹ con tui xin… xin ra che chắn ở đó. Mai tôi chết, chúng nó cũng còn có chỗ mà thờ phụng cha nó.
Cậu Sĩ nhếch môi cười rìn rịn:

– Tuỳ chị. Ừ, cũng được thôi. Bốn mẹ con chị cứ tự nhiên vác cục vàng ròng có tên là Sĩ là Diện ra ngồi lếch ở đầu chợ phố kia mà rao mà bán đặng kịp đong gạo cho chúng…Còn cái thằng con trưởng của chị kìa, điên chả ra điên, ngộ chả ra ngộ. Ngụy tất, cả một bày ngụy tất.

Cậu Sĩ chĩa tay vào mặt anh Nghiễm nghiến răng:

– Chính mày… chính thằng ngụy quan ô uế, thằng lính thuỷ đánh bộ này đây. Cha mày chết ở xó rừng là… là chính đạn của mày xối ra đấy. Phải không, liệu hồn.

Anh nghiễm mĩm cười. cái cười vô cãm trẻ thơ.

Cậu dịu giọng với mẹ:

– Chị nhìn em đây. Ngày xưa ông cụ bắt em học nháo nhào, thuộc nhứ nhừ cám heo, nào là Tam Tự kinh này, Tứ Tự kinh này, Minh Tâm Bửu Giám này, Ấu học tầm Nguyên này, cả Tề vặt luận nữa chứ… Suốt hai mươi năm qua em có dùng nó đâu. Em vẫn sống, vẫn đứng vững mà trở về đây mà phải không. Ăn thua là ta biết tuỳ thời ứng thế chị nhé.

Cậu Sĩ đọc một hơi dài, mẹ lắc đầu không hiểu. Cậu nhét vào cổ họng mẹ tôi những cục than hồng cháy đỏ, mẹ sặc sụa, mẹ rác bỏng, mẹ run rảy cúi lạy cậu Sĩ thêm ba lạy nữa, chân mẹ lũi xũi dứng dậy bước đi.

Căn nhà mái tole của mẹ tôi cũng không đến đổi tệ lắm từ số tiền chắc cóp qua bao tháng ngày mõi mòn lam lủ kể từ lúc cha đi. Cha đi và mãi mãi mất hút sau rặng núi mờ xa, không bao giờ trở lại

Vâng. Chính căn nhà ấy đêm nay. Tôi thằng con lưu lạc trở về, ngồi tựa lưng mình vào lưng anh tôi người anh nữa mê nữa tỉnh.

Chiếc cối đá cụ cội của ngoại bỏ nằm hoang hoãi dưới bờ ao cỏ lấp thuở nào. Anh Nghiễm cùng Hà em tôi hì hục lăn về. Hai anh em, một mê một tỉnh đêm đêm cười vui theo nhịp chày giã gạo – Cứ 4 giạ lúa nhận được nữa ký gạo 8 giạ lúa nhận được 1 ký gạo. Vậy mà vui.

Đời sống nông thôn giờ đã khác. Máy xay máy xát chạy rù rù suốt ngày thôi. Anh Nghiễm không còn được xây thuê giã mướn nữa. Nhớ chừng, cứ mỗi chiều chiều anh lại đờ đẩn ngồi thừ trên đầu cối, vốc từng nắm cát vụn bỏ lên sàng, sàng qua sàng lại rồi đổ đi. Không ai dại gì đi tìm cho mình sự cô đơn đến vậy phải không anh Nghiễm? vẫn biết. Nỗi cô đơn nào cũng có bóng dáng của hào hoa và sáng tạo. là khúc biến tấu được vuốt lên từ phím tơ chùng ai oán mời gọi. Mời gọi thánh thần, mời gọi lòng yêu thương đại ngộ… Tôi nhích lại gần anh Nghiễm, tựa lưng mình vào lưng anh, đưa mắt chới với nhìn ra dòng sông trước mặt. Dòng sông bèo bọt ánh vàng đưa.

Không là một con. Mà có đến hằng ngàn hằng vạn con… Những con chuồn chuồn nâu trụi cánh, cứ chấp chới cứ căng võng bay mãi bay hoài, bay suốt qua đầu tôi rã rượi… Ngộ thiệt./.

Lê Sa

(Từ tâm. Một ngày bên chén rượu quê cùng Tư Rết).

NƯỚC BIẾC NON XANH KHẮP THẾ GIAN

tranthoainguyen
Tặng Hà Hùng

Tôi đã quên tôi giữa cuộc đời
Giữa mùa hư huyễn bóng tàn rơi
Vỡ từng hạt bụi tôi tan biến
Như khói sương bay mù tăm hơi.

Tôi buông xả hết tâm trống không
Không yêu không nhớ tưởng trong lòng
Không mơ mộng hão, không cầu khiến
Gió thoảng mây bay lòng biển sông…

Tôi ngu ngơ quá không phân biệt
Giọt nắng giọt sương cả đất trời
Mờ sáng hoàng hôn lồng khói biếc
Con thuyền trăng sáng nhẹ dòng xuôi.

Thỏng tay dạo phố chợ phù trang
Lòng reo theo tiếng suối mây ngàn
Hồn trong veo thể không tư lự
Nước biếc non xanh khắp thế gian!

TRẦN THOẠI NGUYÊN