Ngắm Trăng Khuya

Không ai ở Mỹ ngắm trăng khuya. Tôi, nửa đêm, xong việc trở về, ngồi nép bóng cây nhìn bóng nguyệt, nhớ. Trời ơi nhớ bóng trăng quê!

Bóng trăng quê tắm trong dòng suối, phơi áo lụa vàng mỗi lá tre…Chừ, đã làm sao? Mây chắc tụ? Hay tay ai đó nỡ lòng che?

Ngồi nghĩ miên man, rồi hết nghĩ. Muôn năm không kín vết thương lòng. Nhớ xưa lán trại nhìn khe cửa, trăng khóc…người ơi! Trên núi sông!

Tôi đứng dậy đi, trăng bất động. Rồi xe lăn bánh. Bóng trăng tan. Trước tôi, thành phố, đèn giăng mắc, ai nhớ làm chi bóng nguyệt vàng?

Tôi khuấy cà phê mà tưởng khuấy / lòng tôi. Tan nát mảnh trăng khuya! Muôn năm…cơm áo, đời như bụi…mai mốt, tàn tro…gió thổi về?

Trần Vấn Lệ

những giấc mơ nhòa

có thể anh suốt một đời vô vọng
tìm em hoài như đuổi một cánh chim
tình ta nhỏ mà đất trời thì rộng
hỏi làm sao anh cứ mãi đi tìm…

em xa quá bàn tay anh không tới
núi thì cao mây trắng cũng xa mù
để nhiều lúc trong mơ nhòa anh đợi
cõi tình nào đau buốt chạm thiên thu

khi đời sống đìu hiu thì đã muộn
một mình anh treo thập giá đời mình
trái tim xưa có lẽ giờ mục ruỗng
giấc mơ buồn dang dở một làn đinh…

và em nữa trong đời anh bất hạnh
chắc một lần ngồi nhớ thuở xưa xa
may mà em không tin vào ảo ảnh
nên xa anh giấc mộng đã không nhòa…

nguyễn minh phúc

Nghĩ về thơ



(Nhân chuyện một ông nhà thơ chửi thơ mấy nhà thơ được cái giải kia quá xá, rồi bị mấy nhà thơ kia chửi lại quà xa)

Một vài nhà thơ cách tân từng phát biểu đại ý “Nếu cứ tiếp tục làm thơ ngũ ngôn, thất ngôn, lục bát… thì đọc làm gì cho mất công, cứ quay lại đọc thơ Đường, Nguyễn Du”, và được vài cây bút tập tò nhắc lại, như một “tuyên ngôn” về cách phá chữ, phá dòng, phá tiết tấu, giai điệu… trong các bài gọi là thơ của mình.

Chứng minh câu nói trên sai rất dễ. Lấy ví dụ thể lục bát. Cả Huy Cận, Nguyễn Bính, Bùi Giáng, Phạm Thiên Thư… đều xem Nguyễn Du như bậc thầy. Nhưng các thi sĩ này đều làm nhiều thơ lục bát. Nếu họ cũng nghĩ y như vậy, chúng ta sẽ không có Ngậm Ngùi ý vị của Huy Cận, Lỡ Bước Sang Ngang hồn hậu của Nguyễn Bính, lạ lùng, quyến rũ, sâu thẳm của thơ Bùi Giáng hay lãng mạn, đượm vị thiền mà vẫn ái ân như lục bát Phạm Thiên Thư.

Thơ, quan trọng với người đọc là cái đọng lại. Bất kể hình thức. Ví dụ thi sĩ Thanh Tâm Tuyền cách tân thơ từ rất sớm, mà khi ông viết trong Phục sinh:

Tôi buồn khóc như buồn nôn
ngoài phố
nắng thủy tinh
tôi gọi tên tôi cho đỡ nhớ
thanh tâm tuyền
buổi chiều – sao vỡ vào chuông giáo đường

thì chúng ta, những người đọc, như thấy hiện lên cả một không gian cụ thể mà hư vô, nhưng cái cô đơn đầy hiện sinh của con người được nhấn mạnh, đọng lại trong từng câu chữ.

Viết như thế nào, hình thức nào là chọn lựa cá nhân của thi sĩ. Nhưng nếu thơ mà chỉ chú trọng hình thức, ngoa ngôn, sử dụng ngôn ngữ cao xa mà vô nghĩa, đọc xong chẳng nhớ được gì, chỉ băng nhóm gật gù với nhau thì cũng ngang với loại thơ tầm thường, vần vè, dễ dãi.

Nguyễn Đình Bổn

VÀI KHÁI NIỆM VỀ VIỆC DÙNG CHỮ TRONG THƠ

CÁC KHÁI NIỆM
Vài khái niệm cần thiết cho việc dùng “chữ” trong thơ: [1]
1. Theo Nguyễn Anh Khiêm (Ký Ức Sơ Sài) thì tiến trình ngôn ngữ như sau: Đủ chữ/ đủ ý: Thoại –> đủ chữ/ nhiều ý: Văn –> ít chữ/ nhiều ý: Thơ.
Do vậy trong thơ càng ít chữ mà càng nhiều nghĩa thì thơ càng hay; không cần phải ầu ơ ví dầu ,”hoa lá cành” cho dài ra, làm bài thơ loãng, dễ chán.

2. Theo tôi: Trong văn chương, dùng chữ bình thường, bình dị mà đủ nghĩa tốt hơn dùng chữ hoa mỹ mà vô nghĩa, sáo rỗng. Tuyệt nhất là dùng chữ bình thường mà tạo được nghĩa bất thường.
Đây là ý kiến của Nguyễn Thị Thảo An
[…Dùng những chữ đời thường đôi khi nghe ngô nghê, tưởng chừng như không thể là ngôn ngữ thơ, nó là ngôn ngữ trẻ con, của vỉa hè,… nhưng nếu biết đặt đúng vị trí nó sẽ trở thành những “viên ngọc” sáng lóng lánh, làm nổi bật ý nghĩa của câu thơ.
Ví dụ: “Đem thân làm gã tù lưu xứ/ Xí xóa đời ta với đất trời”. Chữ “xí xóa” là chữ của trẻ con, thế mà đặt ở câu thơ này thật tuyệt]

3. Trong văn, văn phạm phải rõ ràng và chữ thường có một nghĩa chính xác. Ngược lại trong thơ, sự chính xác văn pham đôi khi không cần thiết lắm; chữ càng nhiều nghĩa càng tốt, để người đọc suy đoán theo trãi nghiệm riêng mình. Thơ phải mở ra để độc giả dự phần vào – thơ mở – thì mới hay.
4. “Thơ khác hơn văn xuôi ở chỗ đặt cơ sở trên cảm giác về âm vận, tiết điệu. Cũng thời bao nhiêu chữ, bao nhiêu câu đó, phải lựa chỗ, lựa nơi, thêm chữ nầy, bớt chữ kia, cố sắp xếp làm sao tạo được cái cảm giác bồi hồi cho người đọc. Mỗi chữ, mỗi lời phải xôn xao, nhảy múa, linh động… Từ cái tính chất xao xuyến, chơi vơi đó, nhà thơ dẫn dắt độc giả vào cõi mông lung của cảm giác, chuyện khó như nhảy xuống nước mò trăng” (Võ Kỳ Điền – Vài nét lạ trong thơ Lưu Nguyễn)
5.Một bài thơ hay phải hội đủ ba yêu tố: Vần, nhạc và họa . Thơ hay là phải có vần điệu, nhạc diệu và hình ảnh (họa). Nhờ những điều này, thơ mới dễ đi vào hồn người; thiếu một trong ba thì không thể là thơ hay được.
6. Theo tôi, một bài thơ hay khi ta cảm thấy hình như thơ ấy viết riêng cho mình, thấy có cuộc đời riêng của mình trong đó. Thơ mở rộng cánh cửa để ta đặt cuộc đời riêng mình vào. Nó bây giờ không phải của riêng tác giả nữa, mà là của chung, hoặc nói theo cách khác, của riêng người đọc, người đồng cảm. Cùng cái HỒN THƠ đồng cảm này, người đọc có quyền nghĩ theo, dịch theo – nếu thơ tiền nhân – kinh nghiệm đặc thù riêng mình, có quyền diễn đạt theo ngôn ngữ, chữ nghĩa hiện đại riêng mình. Nếu tất cả đã được nói ra hết rồi thì độc giả bây giờ chỉ là người bàng quan và nghĩ thơ viết cho ai chứ đâu phải cho mình, do đó sẽ giảm bớt cái hay.
Xin ghi ra những điều tôi tâm đắc về thơ từ Nguyễn Hưng Quốc:
“Thơ mở ra, gợi ra man mác những nỗi niềm tâm sự chung. Thơ là một cảm xúc đi tìm một đồng cảm. Thơ là tiếng nói một người nhân danh tất cả mọi người trong hoàn cảnh ấy, số phận ấy. Nhà thơ chỉ độc quyền được cho mình một cánh cửa. Sau cánh cửa kia là của mọi người.
Trên núi Kính Đình ngày xưa chỉ một mình Lý Bạch ngồi buồn hiu hắt ngắm mây bay chim bay nhưng còn nỗi cô đơn của ông, nỗi cô đơn ấy là của chung của nhân loại. Cả ngàn năm nay, mỗi khi con người lẻ loi trước thiên nhiên thì chợt nhớ lại, đọc lại “Chúng điểu cao phi tận / Cô vân độc khứ nhàn / Tương khan lưỡng bất yếm / Duy hữu Kính Đình san”. Ngỡ như nỗi cô đơn và niềm bâng khuâng ấy là của riêng mình. [Nguyễn Hưng Quốc]
7. Là thơ Việt, người thơ phải thủ đắc một số thơ của tiền nhân, căn bản triết lý Đông Phuơng để dùng nó khám phá những hàm ẩn, “ý tại ngôn ngoại” của bài thơ. Người thơ cũng nên học hỏi thêm để biết vài thủ pháp về thơ, biết sơ lược về cách phân tách ngôn ngữ cần thiết cho thơ.
8. Xin lại được ghi ra đây những câu bàn về thơ hay mà tôi tâm đắc của ông Lê Hữu:
[… Ngôn ngữ thơ là chữ nghĩa, hình ảnh, ý tưởng … chỉ có ở trong thơ hơn là trong đời thực. Có điều, khi đọc, nghe, ta cảm thấy như là có thực, có ý nghĩa và chấp nhận được; hơn thế nữa, lại còn rung cảm vì thứ ngôn ngữ ấy. Bất kỳ cách diễn đạt nào làm cho người ta đọc ra thơ, nghe ra thơ, hiểu ra thơ muốn “nói” điều gì, đều là ngôn ngữ thơ.
Chữ nghĩa cần có sự phát minh, sáng tạo hơn là lặp lại rập khuôn người đi trước. Những vô thường, vô vi, phù vân, phù ảo, hư ảo, hư không, tà huy, miên trường… mà người làm thơ cố đưa vào bằng được trong thơ mình thường có một vẻ gì khập khiễng, gượng gạo như một kiểu tạo dáng kém tự nhiên, đôi lúc khiến câu thơ tối tăm, khó hiểu.
Thường, thơ khó hiểu thì khó hay; thơ tạo dáng thì khó tạo được cảm xúc.
— Ý tưởng
Câu thơ đẹp thường có mang theo ý thơ đẹp. Ý tưởng mờ nhạt, có mới mà không hay, hoặc có hay mà không mới, thường kém sức hấp dẫn. Ý tưởng cần sáng tạo hơn là vay mượn.
Biệt ly dù ở ga nào,
cho tôi ngồi một toa tàu lãng quên (Hôm nay, Nguyễn Tất Nhiên)
— Hình ảnh
Hình ảnh tô đậm thêm những tình ý trong thơ. Ý tưởng đẹp, minh họa bằng hình ảnh đẹp, thường đọng lại về lâu về dài trong tâm tưởng người yêu thơ.
Người lên ngựa, kẻ chia bào
Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san (Truyện Kiều, Nguyễn Du)
— Âm điệu: Thơ, nhạc và tranh
-Thơ, nhạc và tranh nhiều lúc vượt ra ngoài biên giới của ngôn ngữ. Cái làm cho thơ “không biên giới” là ý tưởng và hình ảnh (đôi lúc chữ nghĩa) hơn là âm điệu – vần điệu, nhịp điệu hay nhạc điệu. Đọc một bài thơ hay của nước ngoài ta thấy nhiều phần cái hay là hay về ý tưởng hoặc hình ảnh…]
[Lê Hữu: Thơ lục bát còn, tiếng Việt còn] [2]
9. Theo tôi: “Cảm nhận đưa tới cảm xúc -tức cảnh sinh tình- rồi cuối cùng đưa tới thơ”, do đó điều quan trọng nhất ở thơ là cảm xúc – “cảm xúc thật” của lòng. Những bài thơ sắp xếp chữ do lý trí do kinh nghiệm có thể hay, nhưng chắc chắn sẽ không có HỒN, nghĩa là sẽ không tồn tại lâu trong tâm tưởng con người.

VỀ VIỆC PHÂN TÍCH VÀ DÙNG CHỮ
Để minh họa những điều nói trên, chúng ta hãy xét sự dùng vài chữ trong các câu thơ sau đây:
Cố hương mất dấu, đoài phương ấy
Vẫn mãi trong tôi bóng nguyệt đầy!
(Nguyên Lạc tự chế để minh họa)

Tôi ở nơi này thương nhớ lắm
Xứ đoài bóng nguyệt vẫn rạng, hay?
(Nguyên Lạc tự chế để minh họa)
Trong các câu thơ này, tôi sẽ lần lượt phân tích 5 chữ: đoài, nguyệt , bóng, đầy và chữ “hay”mà tác giả dùng với chủ ý.
— Nhận xét đầu tiên: Trong các câu thơ trên, có “đoài” mà có cả vầng trăng (nguyệt) chứng nhân. Đoài là hướng tây (giải thích sau).Tây là chữ địa dư giữa bai bờ Đai Dương. Tây còn là phương thương nhớ, vùng ký ức… và còn là cõi về của Nguòi – “về cõi Tây phương” khi chết.
Giờ tôi giải thích trọn nghĩa cách xử dụng các chữ trên:
— Chữ “đoài ” : Trong “Hậu thiên bát quái” của Kinh Dịch, quẻ Đoài nằm vị trí hướng tây (Chấn hướng đông), các nhà Nho – trí thức xưa ai cũng phải nằm lòng để đi thi, nên trong văn chương, nhắc tới đoài là người ta muốn nói tới hướng tây. Hướng tây là hương mặt trời lặn, tượng trưng cho buồn bã, thương nhớ, nhớ về…cũng là hướng của nước Việt Nam nếu nhìn từ Mỹ. Do đó trong câu thơ nó cũng có thể được nghĩ là phương thương nhớ, vùng ký ức, là cõi về đối với người sống ở Mỹ như đã nhận xét trên
Đoài cũng có nghĩa đoài đoạn – “thương nhớ đoài đoạn”.
Đoài ở đây có nhiều nghĩa như vậy với điều kiện: Viết thường – danh từ chung, chứ không viết hoa – danh từ riêng như trong bài “Đôi Mắt Người Sơn Tây” của Quang Dũng.
Tôi nhớ xứ Đoài mây trắng lắm
(Đôi mắt người Sơn Tây – Quang Dũng)
(Chữ Đoài, viết hoa danh từ riêng- ở đây chỉ nhớ người (tên Đoài) hay nhớ quê (tên Đoài) thôi)
Tôi sẽ giải thích rõ điều này sau, ở phần “Viết Hoa Hay Viết Thường”
— Chữ “nguyệt”: Chữ nguyệt – viết thường, danh từ chung – tượng trưng cho trăng, chứng nhân hoặc khuông mặt, người con gái, và xa hơn nữa là khoảng trời xưa cũ, niềm nhưng nhớ.v.v…và xứ sở, quê hương. Chữ Nguyệt – viết hoa, danh từ riêng – it nghĩa hơn, chỉ là tên người con gái (Nguyệt), hoặc tượng trưng cho bóng dáng thân yêu.Có một số người ngộ nhận viết hoa thì Nguyệt mạnh nghĩa hơn, “ấn tượng” hơn; cái gì cũng muốn viết hoa vô tình làm giảm nghĩa. Như đã nói, sẽ giải thích rõ ở phần dưới
— Chữ “bóng”: Ở vị trí này trong câu thơ trên, đồng nghĩa với nó là chữ “ánh” hoặc chữ “dáng”. Tại sao tác giả chỉ chọn chữ “bóng”?
Lý do:
. Chữ “ánh” có thể là rực rỡ, vui tươi… Các câu thơ này là câu “thơ buồn”, nên chọn nó thì không hợp
. Chữ “dáng”: Nếu dùng chữ này – dáng nguyệt – thường được hiểu chỉ là người con gái, ít nghĩa không đúng với điều tác giả muốn nói. Lại nữa dáng là “trung tính”buồn vui không rõ, cảm xúc không hàm ẩn.
. Chữ “bóng”: Đây là chữ mà tác giả nhắm vào, lựa chọn để gởi gắm tâm sự, vì nó chứa nhiều nghĩa và đầy cảm xúc. Bóng nguyệt – nguyệt viết thường – là bóng dáng người con gái, bóng dáng kỷ niệm, bóng dáng quê hương như đã giải thích trên về chữ nguyệt. Bóng thường mờ ảo, buồn. Lại nữa nó liên hệ đến “bong bóng nước”, dễ vỡ nếu không cẩn trong, nâng niu. Chữ đầy cảm xúc đúng theo tác giả mong muốn
— Chữ “đầy”: Ở vị trí này của câu thơ cũng có một chữ tương nghĩa là “gầy” – nguyệt gầy – tại sao tác giả không chọn?
Giải thích:
. chữ “gầy”: “Nguyệt gầy” chỉ tượng trưng cho người con gái. Chữ “gầy” làm ít nghĩa câu thơ
. chữ “đầy”: Hợp với chữ nguyệt và tạo nhiều nghĩa hơn: “Nguyệt đầy”nghĩa người con gái, niềm thương nhớ, chứng nhân, xứ sở, quê hương…vẫn tròn đầy, rực sáng trong tâm
Đó là lí do tác giả chọn chữ “đầy”.

LIÊN HỆ THÊM VỀ NHẠC ĐIỆU, THƠ MỞ…
Sẵn đây tôi liên hệ thêm về nhạc điệu, thơ mở.
— Về nhạc điệu
thử xét các câu:
Ai rồi. như áng mây trôi
Trong tôi vẫn mãi. một thời đã xa!
(Nguyên Lạc tự chế để minh họa)
Chú ý chữ “mây trôi”. Gần giống với nó là chủ “mây trời”
– “mây trôi” tượng trưng cho người con gái, cuộc đời … bị đưa đẩy trôi đi, nhưng nó vẫn còn tồn tại.
– “mây trời” nhiều nghĩa hơn: – Nó bao gồm cả mây trôi đi, nhưng cũng có thể mây tan, không còn hiện hữu nữa… Lại nữa, “mây trời” lại có nhiều màu, tùy theo tâm trạng người đọc, do đó ẩn tàng nhiều nghĩa hơn.
– Giữa hai cụm từ nầy còn có nhạc điệu: Ta chú ý thấy “mây trời”2 chữ khác thanh nên nhạc trầm bổng hơn “mây trôi” cùng thanh. Phải liên hệ đến những chữ đứng trước và sau nó , để chọn chọn chữ nào cho nhạc điệu trầm bổng.
Và cũng nên nhớ cái nghĩa của chữ so với ý, tứ bài thơ.
Ở bài này tôi chọn “mây trôi”, ít nghĩa hơn, nhưng vì bóng hình người con gái chỉ xa khuất, vẫn tồn tại; trong khi “mây trời” nhiều nghĩa hơn nhưng không hợp, kể cả nhạc điệu khi liên hệ với những chữ trước sau nó
— Về thơ mở:
Chữ “hay?” trong câu thơ trên tác giả để mở, mời độc giả dự phần đoán: Vẫn rạng hay hết rạng.

Để minh họa rõ thêm về “thơ mở”, mời các bạn xét trường hợp sau:
Đây là 4 câu thơ:
Bất chợt nhớ một câu thơ cũ
Người ngày xưa giờ ở phương nào?
Thương đến thế đôi mình cách mặt
Lòng vẫn đầy mãi chẳng bên nhau!
(Nguyên Lạc tự chế để minh họa)

Ở câu cuối, ngay vị trí chữ “mãi”, ta cũng có thể dùng chữ “sao”. Thử xét cách dùng 2 chữ này:
— Chữ “mãi”: Tác giả muốn diễn tả nỗi đau, nỗi xót xa kéo dài không ngừng, khắc khoải không nguôi. Câu thơ xác định, xem như sự đã rồi, độc giả chỉ bàng quan: Đâu có viết cho tôi!
Có chắc là mãi không trong cuộc đời này? Biết đâu, trong khoảng thời gian tương lai nào đó, một “hạnh ngộ” nào đó thì chữ “mãi” nầy mất bóng. Lại nữa chữ “mãi” nầy trung tính hay nói đúng ra chỉ có chút cảm xúc, vì nó là câu khẳng định.
— Chữ “sao”: Khi thay thế chữ “sao” vào vị trí chữ “mãi”, câu thơ bây giờ là một câu hỏi (?). Câu hỏi này, nỗi đau này, sự xót xa này sẽ kéo dài mãi cho cuối đời người. Nghĩa là chữ “mãi” không dài và nhói đau bằng chữ “sao” .
Câu thơ gợi ra câu hỏi, mời độc giả dự phần vào, đưa tâm trạng của chính mình vào, tự trả lời theo tâm tư riêng mình. Độc giả bây giờ không còn là người bàng quan và sẽ nghĩ rằng thơ viết cho mình, nên rất thích thú, thấy bài thơ hay thêm.
Lại nữa , câu thơ là câu hỏi, là niềm bâng khuâng, day dứt nên chữ “sao” đầy cảm xúc.
Do những điều này, tác giả chọn chữ “sao”, câu thơ bây giờ như sau:
Lòng vẫn đầy sao chẳng bên nhau?
“Thơ mở” ý là vậy!

VIẾT HOA HAY VIẾT THƯỜNG?
1.
Để minh họa về phần này, tôi xin được ghi ra đây trích đoạn từ bài viết “VIẾT HOA HAY VIẾT THƯỜNG” đã đăng trên Web

[…Hãy xét bài ca dao
Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ kính cha
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con
(Công Cha Nghĩa Mẹ)
Theo tôi, hai chữ “thái sơn” phải viết thường. Thái Sơn (viết hoa) là sai.
Các bạn chắc sẽ hỏi tại sao?
Giải thích:
Vì nếu hai chữ thái sơn viết hoa, chúng ta sẽ đem hữu hạn thế cho vô hạn! Này nhé:
– “thái sơn” (viết thường, danh từ chung) là núi rất lớn, vô hạn (thái= rất bự, rất lớn; sơn = núi). Còn “THÁI SƠN” (viết hoa, danh từ riêng) là một ngọn núi bên Tàu, chỉ cao khoảng 1450 m (đo được, hữu hạn). Vậy nếu viết hoa: THÁI SƠN thì không phải là hữu hạn thay cho vô hạn sao?
– Nghĩa mẹ = “nguồn nước chảy ra vô tận, không dứt”, đối với “THÁI SƠN” (viết hoa: danh từ riêng ) đo được chỉ vài trăm hoặc ngàn mét. So sánh ra thì công cha như số không ! Sao BỘI BẠC VỚI CHA quá thế!
– Còn nếu viết “thái sơn (viết thường: danh từ chung) = lớn, bự vô hạn”, công cha sẽ gần như bằng công mẹ.
Do điều này, ta phải dùng thái sơn danh từ chung (viết thường) . Hai câu đó tôi nghĩ như vầy
Công cha như núi, …… thái sơn (to vô cùng)
Nghĩa mẹ như nước,…. trong nguồn chảy ra (luôn không dừng).
– Xin nói thêm: thái sơn, sơn hà (viết thường, danh từ chung) tượng trưng đất nước, tổ quốc; nếu chúng viết hoa (trở thành danh từ riêng) thì sẽ không còn nghĩa này nữa, mà thành tên ngọn núi Tàu, tên riêng vùng nào đó …] (VIẾT HOA HAY VIẾT THƯỜNG – Nguyen Lac)

2.
Thử áp dụng những điều bàn trên vào các câu thơ sau đây của nhà thơ Nguyễn X. xem sao?
Câu thơ Nguyễn X (tên hư cấu) viết như vầy:
Trưa chín HÈ, PHƯỢNG đỏ thật thương
Tiếng ve nấc nỗi niềm vương rất lạ
(Ví dụ minh họa)
Nhà thơ Nguyễn X cố tình viết chữ HÈ và PHƯỢNG hoa, chắc anh cho là nó “ấn tượng” hơn!
Theo tôi, chữ “phượng” viết thường hay hơn và nhiều nghĩa hơn. Lý do?
Giải thích:
– PHƯỢNG viết hoa là danh từ riêng chỉ chính xác một nghĩa: người con gái – tên người con gái. Viết hoa chữ PHƯỢNG, sẽ làm nó trở thành “nội gián” phá hỏng ý bài thơ. Rõ ràng là bài thơ nói về mùa hè buồn hoa phượng nở đỏ. Nếu viết hoa chữ PHƯỢNG, thành ra cô gái PHƯỢNG “đỏ mặt” – hoa phượng mất dấu ở đây – thì cón thể thống gì nữa mà liên hệ đến ve sầu câu dưới? Chữ phượng viết thường, danh từ chung bao gồm cả hoa phượng, mùa phượng, mùa bãi trường và người con gái…
Tuong tợ như vậy về chữ HÈ – viết hoa – cũng khiến người ta nghĩ đến một anh chàng tên HÈ nào đó
Rất mong nhà thơ Nguyễn X, nói rộng ra các nhà thơ trẻ chú ý đến điều này. Hãy mở lòng lắng nghe tha nhân góp ý, ai tự thỏa mãn sẽ bị dừng lại, hay đúng ra sẽ lùi so với sự tiến bộ của người khác

LỜI KẾT
Chữ Việt chúng ta tuyệt vời lắm, đừng “ngộ nhận” nó kém so với chữ nước ngoài
Nên nhớ rằng: Trong các “nghề chơi”, chơi văn chương chữ nghĩa là cao sang nhất, nhờ nó ta mới phân biệt được người thấp người cao, ai sang ai hèn, chứ không phải ở giàu nghèo.
Chơi cho lịch mới là chơi,
Chơi cho đài các, cho người biết tay.
(Cầm Kỳ Thi Tửu – Nguyễn Công Trứ)
Đọc một bài văn, bài thơ mà giống như ăn “mì ăn liền”, chỉ ăn cho no; không cần biết hương vị thơm tho của bát mì, công phu nghệ thuật của người nấu ra nó thì chỉ là “phàm phu tục tử”.

Nguyên Lạc
—————
Ghi chú:
[1] Tôi đồng ý với Trần C. Trí không dùng chữ “từ”, vì nó chính là cội rễ của tất cả những “từ” độc hại khác. Xin xem:
“từ và chữ” – Trần C. Trí
https://damau.org/archives/51321
[2] “Thơ lục bát còn, tiếng Việt còn” – Lê Hữu
http://t-van.net/?p=35489

MỖI VÀ MỘT

Mỗi đoạn trường – Một câu thơ
Cơ man tự tại vô bờ ước mong

Mỗi hạt bụi – Một dòng sông
Hoài nghi gạn đục khơi trong lấy mình

Mỗi chồi xanh – Một hành trình
Phiêu linh hai mảnh phù sinh đất trời

Mỗi nụ hôn – Một trò đời
Chòng chành mưa nắng đứng ngồi bập bênh

Mỗi sợi tóc – Một mũi tên
Dài hơi theo gió đi quên lối về

Mỗi đồng xu – Một lời thề
Tám phương dồn hãm bốn bề trùng vây…

NGUYỄN LIÊN CHÂU

NÓI VỚI CHIẾC TIM Ở TRỌ

anh bơi qua trảng cỏ mùa xuân
gặp tuổi thơ trên nốt sương phủ giá
nghe đau chiếc tim từ bấy lâu ở trọ
lồng ngực gầy còm tai ách hiển soi

anh bơi qua vòng trời thiếu gió heo may
thiếu tiếng chuông chiều neo đơn cố thổ
nghe đau chiếc tim từ bấy lâu ở trọ
anh lạc lỏng giam mình trong chiếu mục cầm hơi

anh bơi qua lòng tóc đêm rối vùi
ngọn đèn chiều chủ nhật không đủ sáng
chỉ có nắng vàng.gió vàng chờ chạng vạng
anh chờ mồ côi trên từng nấc thang

anh bơi qua ngày cuối cùng tháng giêng
câu hò trầm tư ngày em chở nắng
ngọn thác xoả tung nghìn nghìn lau trắng
anh bì bõm một chỗ về không cánh cửa đợi mong

anh bơi qua lời tình buồn bao năm
em vẫn vẹn nguyên màu tươi xanh của cỏ
anh đau đớn chiếc tim bấy lâu rồi ở trọ
ngày tháng cứ phù du trồi sụt nhớ quên

anh bơi qua khoảng cách nới rộng thêm
tội nghiệp chiếc lá bay từ thiên đường ký ức
từ trang vở trắng tinh thuở lành hiền như đất
(dù mụ mị sân si cứ giục riết một bên)

chiều của chiều cuối thêm một lần giêng
anh đếm tuổi rồi bần thần nhìn ngắm
chiếc tim ở trọ chưa một lần đay nghiến
bỗng thêm một lần thật thà đâu khác ban sơ

chiều của chiều…buồn đến vậy…hả Thơ?

LÊ HÁT SƠN

Ngày em con gái

Ngày em con gái sởn sơ
Anh như người chẳng bao giờ đoạn tang
Vụng tay làm gãy tiếng đàn
Bao nhiêu là chuyến đò ngang xa dần.

‘’Thương người như thể …’’ ơ không ,
Anh chưa đáng mặt gánh gồng câu ca
Suốt đời thấp thoáng sân ga
Con tim nhịp bảy nhịp ba cuống cuồng.

Ngày anh thấm tháp tha hương
Tóc xanh em rụng cuối đường bơ vơ
Thuyền không đỗ, bến không chờ
Bao nhiêu hạt bụi trong mơ đã lầm!

Người đi kiếm chút xa xăm
Quay về nhưng tít mù tăm không về
Bạn bè trú xứ sơn khê
Lòng đau sao nỡ bộn bề làm riêng ?

Nguyễn Hàn Chung

CHỦ NGHĨA TƯ BẢN so với CHỦ NGHĨA XàHỘI

Andy Puzder, nguyên Tổng Giám đốc (CEO) công ty mẹ của chuỗi nhà hàng Hardee’s and Carl’s Jr.
https://www.prageru.com/video/capitalism-vs-socialism/

Chủ nghĩa tư bản so với chủ nghĩa xã hội. Chúng ta có thể cô đọng mỗi hệ thống kinh tế chỉ trong một câu: Chủ nghĩa tư bản dựa trên lòng tham của con người. Chủ nghĩa xã hội dựa trên nhu cầu của con người.
Đúng? Thưa không. Mà là sai.
Sai hoàn toàn. Đúng ra chúng ta phải nói ngược lại, Chủ nghĩa tư bản dựa trên nhu cầu của con người. Chủ nghĩa xã hội dựa trên lòng tham của con người. Để tôi chứng minh cho quý độc giả hiểu rõ thêm.
Quý vị biết Amazon chứ gì? Mỗi một mặt hàng trong số hàng ngàn sản phẩm mà Amazon cung cấp là kết quả công lao của những người mà họ tin tưởng rằng đó là những mặt hàng mà khách hàng muốn hoặc cần. Nếu đúng thì họ giàu. Nếu sai thì họ vỡ nợ.
Đó là cách thị trường tự do hoạt động. Nó khuyến khích mọi người cải thiện cuộc sống của họ bằng cách đáp ứng nhu cầu của người khác. Không ai khởi sự một doanh nghiệp tạo ra thành phẩm hoặc cung cấp dịch vụ cho chính họ cả. Họ kinh doanh để làm ra những sản phẩm mà khách hàng cần hoặc cung cấp dịch vụ mà nhiều người muốn.
Và đây là kinh nghiệm cá nhân của tôi.
Khi tôi là giám đốc điều hành của công ty mẹ của chuỗi nhà hàng của Carl’s Jr. và Hardee, chúng tôi đã chi hàng triệu đô la mỗi năm để cố gắng xác định khách hàng muốn gì. Nếu khách hàng không thích một thứ gì đó, chúng tôi đổi món hàng đó lập tức – phải nhanh chóng, bởi vì nếu chậm, các công ty cạnh tranh sẽ nuốt chửng chúng tôi ngay.
Người tiêu thụ – chính là quý vị – có một quyền lực tối thượng. Trên thực tế, quý vị bỏ phiếu với mỗi đồng quý vị chi tiêu.
Trong một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, trái lại, nhà nước có quyền lực tối thượng. Chính nó quyết định những gì cần thiết cho người tiêu thụ, và từ một nguồn cung cấp hạn chế cũng do chính nó quyết định có nên tồn tại hay không.
Thay vì hàng triệu người đưa ra hàng triệu quyết định về những gì họ muốn, một vài người trong cơ quan quyền lực của nhà nước quyết định những gì người dân được cung cấp, kể cả giá thành món hàng phải trả. Chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi họ luôn có quyết định sai. Bạn có bao giờ nhận thấy rằng những thất bại xã hội chủ nghĩa luôn thiếu thốn những vật dụng thiết yếu như giấy vệ sinh?
Dĩ nhiên, một vài người có sự quen biết với nguồn cung cấp thì họ chẳng thiếu thốn gì. Hoặc giả những kẻ giảm sự tiêu dùng xuống mức tối thiểu thì vẫn có thể sống còn. Còn lại, đa số người dân không được may mắn như thế.
Venezuela, từng là quốc gia giàu nhất ở Nam Mỹ, là ví dụ điển hình về chủ nghĩa xã hội đã đạp nền kinh tế của một quốc gia thịnh vượng xuống vực sâu. Có thể quý vị nghĩ đó là một ví dụ không công bằng. Tôi lại không hiểu nổi quý vị, nhưng không sao. Cứ chấp nhận như vậy đi. Chúng ta sẽ bỏ qua thực tế là các nhà hoạt động cánh tả đã xem Venezuela như một thành công vượt bực của chủ nghĩa xã hội – cho đến khi nền kinh tế của nó kiệt quệ.
Nhưng còn các nước Tây Âu thì thế nào? Không phải họ đang duy trì nền kinh tế xã hội chủ nghĩa đấy sao? Người dân Tây Âu có vẻ khá hạnh phúc. Tại sao chúng ta lại không có những gì họ đang thụ hưởng như chăm sóc sức khỏe miễn phí, hệ thống đại học miễn phí, các công đoàn lớn mạnh?
Câu hỏi hay. Và câu trả lời sau đây có thể làm quý vị ngạc nhiên.
Không hề có nước xã hội chủ nghĩa ở Tây Âu. Tôi lập lại, các nước Tây Âu chưa hề theo chủ nghĩa xã hội. Hầu hết các nước là tư bản như Hoa Kỳ. Sự khác biệt duy nhất – và đây là một điểm lớn – là họ cung cấp nhiều phúc lợi cho người dân hơn so với Hoa Kỳ.
Chúng ta bàn luận về giá phải trả cho những phúc lợi này và tại một mốc điểm mà sáng kiến cá nhân bị thui chột, và chính tại mốc điểm này, hại nhiều hơn lợi. Người dân Tây Âu đã bàn cãi về những câu hỏi đó từ nhiều năm qua. Nhưng chỉ có một nền kinh tế tư bản thị trường tự do mới tạo ra sự giàu có cần thiết để duy trì tất cả những thứ “miễn phí” mà người dân Tây Âu đang thụ hưởng. Để nhận được “miễn phí”, xã hội phải tạo ra đủ của cải vật chất để thu về một doanh thuế đủ cao dùng để trả tất cả mọi thứ miễn phí cho người dân.
Nếu không có chủ nghĩa tư bản tạo ra sự giàu có, thì quốc gia của quý vị sẽ như Venezuela.
Trong một bài phát biểu năm 2015 tại Harvard, thủ tướng Đan Mạch, Lars Lokke Rasmussen, rất đau khổ khi đưa ra quan điểm này: “Tôi biết một số người ở Mỹ đồng hóa mô hình Bắc Âu với… chủ nghĩa xã hội, vì vậy tôi muốn nói rõ một lần. Nước Đan Mạch chúng tôi chẳng hề dính dáng gì đến nền kinh tế xã hội chủ nghĩa cả. Đan Mạch là nền kinh tế thị trường.”
Vì vậy, nếu ai khen Đan Mạch như một mẫu mực của chủ nghĩa xã hội, thì kẻ đó thật sự đang ca tụng chủ nghĩa tư bản.
Chủ nghĩa tư bản càng nhiều, người dân càng cần ít “chủ nghĩa xã hội”. Nhìn vào nước Mỹ từ năm 2017. Chính sách thuế khóa thấp hơn và quy chế của chính phủ ít hơn (chủ nghĩa tư bản nhiều hơn) đã dẫn đến sự mở rộng kinh tế mạnh mẽ, một điều mà không một ai tưởng tượng được chỉ vài năm trước đó. Thất nghiệp, đáng chú ý là các nhóm thiểu số thường có nguy cơ nghèo đói cao nhất, lại ở mức thấp nhất trong hai thập niên qua. Mở rộng kinh tế giúp người dân thoát khỏi hệ thống phúc lợi và có việc làm (“chủ nghĩa xã hội” ít hơn).
Để hiểu những điều trên, quý vị chẳng cần bằng cấp về kinh tế. Chỉ cần một hiểu biết thông thường quý vị cũng đủ hiểu. Cho nên thật đáng thất vọng khi thấy lớp trẻ ca ngợi chủ nghĩa xã hội và chỉ trích chủ nghĩa tư bản. Thật tệ khi thấy họ đang làm ngược lại lợi ích của chính họ – triển vọng công việc tốt hơn, tiền lương cao hơn, tự do cá nhân – nhưng tệ nhất là việc họ làm cũng đang chống lại lợi ích của cả những người kém may mắn hơn.
Chủ nghĩa tư bản dẫn đến dân chủ kinh tế. Chủ nghĩa xã hội dẫn đến chế độ độc tài kinh tế của một nhóm người. Luôn luôn. Và bất cứ nơi đâu.
Vì vậy, hãy cẩn thận những gì quý vị đòi hỏi. Quý vị có thể nhận lấy hậu quả mai sau

SƠN NGHỊ dịch

NÉN NHANG CHO V.H

Tôi về đuối mình sương khói
Nghe lời thơ cũ đang rơi
Nhu mì chiều lên tiếng gọi
Nhớ em duyên khóe môi cười

Lừng chừng đầu con dốc gió
Nơi chúng ta từng dìu nhau
Níu chân tôi xanh vạt cỏ
Và em Mây trắng về đâu!

Trong cánh mỏng màu hoa dại
Hình dung tình vẫn đâu đây
Ký ức mù khơi ngoảnh lại
Thỏng tôi bạc nhược hai tay

Lương trinh những ngày tuổi trẻ
Ta dắt dìu nhau trưởng thành
Lạc nhau đường đời đạn xé
Nụ tình xanh mãi khát xanh

Em xưa đã là tưởng tiếc
Thơ tôi Mây trắng màu tang
Bốn mươi năm xa và biệt
Âm ỉ vết thương thời gian

Thẫn im nhợt màu hoa dại
Trách tôi dốc gió mù sương
Bao dung nhìn từ xa ngái
Dõi theo nhau những đoạn trường

Đốt cho nhau bài thơ lạnh
Hơ lòng kính cẩn tàn tro
Em xưa đã về đất thánh
Tội đời tôi với co ro

Khói sương quạnh mù tưởng niệm
Núi đồi trầm mặc ly tan
Chữ tình kiếp Mây miên viễn
Tôi về… thắp một nén nhang…

NGUYỄN LIÊN CHÂU