LỜI VĨNH BIỆT

 

 

(Thương tiếc thi sĩ Tô Thùy Yên)

.

Riêng người đây một nén hương!
Tiếc chàng thi sĩ vô thường tan mau
Biếc chiều nghiêng nắ́ng ngang đầu
Chiêu hồn chuông gọi lời đau đến người!
Mắt đầy sương khói chiều rơi
Tiếng chiều đồng vọng người ơi nghìn trùng!
.
“Tam Giang” rày đã cạn cùng!
“Trường Sa chếnh choáng” “Anh Hùng Tận” ôi! [*]
.
Xin người an ngủ đi thôi!
” Ta Về” “nghe nặng đất trời từ tâm” [**’
,,,,,,,,,,
[*] Tên một số bài thơ của thi sĩ Tô Thùy Yên: Chiều trên Phá Tam Giang/ Trường Sa Hành/ Anh Hùng Tận…
[**] Nghe nặng từ tâm lượng đất trời.- Ta Về
TIỄN NGƯỜI
.
(Tiễn biệt Tô Thùy Yên)
.
Đất trời gầy cuộc ly tan
Tôi mang áo trắng khăn tang tiễn người
Nắng chiều nhuộm tím bờ vai
Lay hồn tám sải chuông hoài vọng âm
.
Người đi vào cõi hư không
Để vần thơ lại muôn năm cho đời
“Ta về”. về với đất trời
“Từ tâm vô lượng” những lời “nở hoa”
.
“Cảm ơn hoa nở vì ta”
“Mười năm ta vẫn cứ là ta” thôi!
“Một lần kể lại rồi thôi”
“Ðành không trải hết lòng” tôi với người!
.
“Vầng trăng tiếc cuộc rong chơi”
“Tiếc đời hữu hạn”. lẻ loi. “Ta về”!
…….
(” “) Một số lời thơ trong bài “Ta Về” của Tô Thùy Yên
.
Nguyên Lạc
Advertisements

RƯỢU CHIÊU HỒN

.

“Tháng Ba Gãy Súng” một thời [*]
Một cơn cuồng nộ. một trời can qua
Mấy mươi năm vẫn xót xa
Bạn bè chiến hữu lệ nhòa. máu rơi
.
Tháng Tư!
Yên ngủ đi thôi!
Này đây!
Nghiêng chén ly bôi. ta mời!
.
Sao. như còn đó tiếng cười?
Mộng đời tuổi trẻ. vá trời lấp sông
Động chiều. tám sải hồng chung
Nhắc người
Sinh. Tử. Có. Không. Vô thường
.
Chiêu hồn chiến hữu. mười phương
Vĩnh hằng. miên viễn…
Bình thường. An nhiên!
.

Nguyên Lạc
……………….
[*]. Tên sách “Tháng Ba Gãy Súng” – hồi ký Cao Xuân Huy: Ghi lại cuộc tàn sát các người lính Thủy Quân Lục Chiến (VNCH) tháng 3, 1975 tại cửa biển Thuận An – Quảng Tri (bởi chiến binh CS – VN) Đa số các TQLC còn lại bị bắt làm tù binh.
Có thể đọc truyện tại đây:
https://hung-viet.org/a3462/thang-ba-gay-sung

CẢM NHẬN VÀI BÀI THƠ CỦA “BÀ CHÚA THƠ LỤC BÁT”

.

BÀI “ĐỌC TẬP THƠ BẤT TƯƠNG PHÙNG, KHÔNG TIN…”

I. NHỮNG TRÍCH ĐOẠN
Tình cờ đọc được bài “Đọc Tập Thơ Bất Tương Phùng, Không Tin Của Phạm Hiền Mây” của nhà bình thơ Trần Trung Thuần thấy hay hay, xin được ghi ra đây vài trích đoạn “ấn tượng” của bài viết ĐỌC TẬP THƠ…[1]
[ … Ý tôi muốn mở bài viết hôm nay về thơ Phạm Hiền Mây, qua tập Bất Tương Phùng Không Tin do nhà Nhân Ảnh ở San Jose, Mỹ, xuất bản năm 2018, tôi vừa nhận được đầu năm mới, 2019, từ một người gửi ở Tiểu Bang Nevada, cũng Mỹ. Phạm Hiền Mây thì ở Việt Nam, ngay tại thành phố Hồ Chí Minh. Phạm Hiền Mây, nói theo lối của Xuân Diệu, mới đã: đây là Bà Chúa Thơ Lục Bát Nước Ta! Cả tập thơ Bất Tương Phùng Không Tin toàn thơ Lục Bát dày tới 250 trang, tổng thể là 100 bài rất dài hơi.

Cuối năm ngoái và đầu năm nay, tôi có hai cái hạnh phúc: năm ngoái, 2018, nhận tập Lục Bát Tản Thần của Nguyễn Hàn Chung gửi cho từ Texas, Mỹ, năm nay, 2019, nhận tập Bất Tương Phùng Không Tin của Phạm Hiền Mây (do ai) gửi cho từ Nevada. Trước hết là tôi Biết Ơn bạn bè luôn luôn chúc tôi có hạnh phúc, sau là Biết Ơn hai tác giả đều “chuyên khoa” làm thơ Lục Bát, theo cách định nghĩa của Nguyễn Du.
Thơ Lục Bát của Nguyễn Hàn Chung là loại thơ có tư cách Nguyễn Hàn Chung: Nói thẳng, nói thật, nói tuột luốt cái tư duy có trong đầu mình, trong bụng mình, không đụng hàng ai hết…thỉnh thoảng có giống giống chút thôi bởi không dè…người ta (Nguyễn thị Hoàng Bắc, Sơn Núi, Bùi Giáng…) lại có tư duy như Nguyễn Hàn Chung, không khéo mà thành Công Duy…(như chữ Tư Sản đã thành Công Sản vậy). Thơ Nguyễn Hàn Chung: Vui và Tuyệt Cú Mèo (dùng chữ Tuyệt Tác thì lễ phép hơn nhỉ?).
Thơ Lục Bát Phạm Hiền Mây…có thể “trùng thanh” nhiều người (toàn bậc thượng thừa) như Hồ Dzếnh, Trân Huyền Trân, Nguyễn Du, Huy Cận, Cung Trầm Tưởng…, có thể “trùng ý” nhiều người (toàn thể ai…hay yêu và hay buồn). Cái tài của Phạm Hiền Mây là làm thơ Lục Bát hay quá và đều tay quá, không chỉ một tập thơ dày cộm này, Bất Tương Phùng Không Tin! Phạm Hiền Mây có một đứa con thật mà có tới ba đứa con tinh thần, và chắc không ngừng ở số ba!

Bây giờ tới chuyện Phạm Hiền Mây, không khen là tôi đắc tội (không phải Phạm Hiền Mây đẹp). Tôi tin nếu Xuân Diệu còn sống thì Xuân Diệu cũng bái phục Phạm Hiền Mây như Xuân Diệu từng làm điều đó với Hồ Xuân Hương, Bà Chúa Thơ Nôm. Dù tôi “phát biểu”: Phạm Hiền Mây Là Bà Chúa Thơ Lục Bát, hơi hướng Xuân Diệu, nghĩ có sao đâu? Có thể có người bảo tôi “ninh tinh”, thì cứ lý lụn đi nào, coi ai lụn bại, ai thành công. Nếu “kết lụn” thua nghiêng về tôi, tôi sẽ méc Má tôi: tại Má sinh con ở Nam Bộ…phận!

Tôi không có nhận xét nào thêm để dài dòng về một thi tài độc đáo là Nữ Thi Sĩ Phạm Hiền Mây. Chuyện của Phạm Hiền Mây qua thơ (Tôi chỉ biết thơ, thú thật hổng biết Thơ Ca hay Thi Ca nghĩa là làm sao?). Tôi coi Phạm Hiền Mây như một đóa hoa mai. Nhất sinh đê thủ, rồi. Tôi coi Phạm Hiền Mây là Bà Chúa, tôi nghĩ Chúa Trịnh, Chúa Nguyễn không bắt lỗi tôi
Tôi không còn gì để nói thêm! ](Trần Trung Thuần)

II. VÀI SUY NGHĨ VỀ BÀI ĐỌC TẬP THƠ

1. Đọc lời khen của nhà bình thơ Trần Trung Thuần, tôi chợt nhớ lại bài thơ “Lời mẹ dặn” của Phùng Quán:

Lời mẹ dặn
Phùng Quán

Yêu ai cứ bảo là yêu
Ghét ai cứ bảo là ghét
Dù ai ngon ngọt nuông chiều
Cũng không nói yêu thành ghét.
Dù ai cầm dao doạ giết
Cũng không nói ghét thành yêu…

2. Đây là vài ý nghĩ của các bạn tôi khi đọc bài khen thơ trên:
– Chưa từng thấy có lời khen “tuyệt vời” như vầy
– Quảng cáo tập thơ cô thi sĩ trẻ quá siêu!

THƠ CỦA “BÀ CHÚA THƠ LỤC BÁT”

Theo lời giới thiệu: “Phạm Hiền Mây, nói theo lối của Xuân Diệu, mới đã: đây là Bà Chúa Thơ Lục Bát Nước Ta!”(Trần Trung Thuần), tôi mạo muội ghé qua “vương cung” (Facebook) của “bà chúa” để thưởng thức các bài thơ tuyệt với như lời “quảng cáo”.
Thấy gì?
— Đúng là nơi “vương giả” chỉ dành riêng cho thiểu số tót vời, giới thượng lưu.
Này nhé: – Dầy đặc trong các bài thơ những cụm từ “hàn lâm”: Hư không, vô ngôn, miên khê, miên trường, miên du, uyên nguyên, phiêu bồng, địa đàng, thiên cổ, cát bụi, nguyên sơ, phù vân, cố thổ, tà huy, tà dương và nhiều nhiều nữa.
Gặp ở đây nhiều chữ của Phật giáo, của các triết gia, đặc biệt là của thi sĩ Bùi Giáng những chữ mà ông thường dùng một cách nhuần nhuyễn.

I. Phân tích một số chữ tiêu biểu được dùng trong thơ

Xin tạm phân tích một số chữ của “bà chúa” Phạm Hiền Mây dùng trong các câu thơ. Có gì không đúng xin bà giảng dạy thêm.
– Miên trường
Tiếng Hán Việt (H) giống như tiếng Anh (E) tính từ đứng trước danh từ, ngược với tiếng Việt(V).
Thí dụ: Bạch mã (H) White horse (E) Ngựa trắng (V)
Do đó “miên trường” không phải là giấc ngủ dài, mà là dài rất dài: Trường = dài; miên = dài (miên viễn).
Áp dụng vào các câu thơ:
“thiên lý dặm miên trường mù không” ̣Phạm Hiền Mây (PHM)]
(thiên lý dặm = ngàn dặm đã dài rồi, thêm miên trường = rất dài vào, ôi!)
“mới cơn bụi cát miên trường đêm say”(PHM)
“ừ anh mật ngọt miên trường giọt môi”(PHM)]
tôi thấy chúng sao ấy, nếu không nói là vô nghĩa!
– Tà dương ̣
Tà dương ̣hay tịch dương: Mặt trời lúc sắp lặn, có nghĩa là buổi chiều gần tối.
Câu thơ: “có em chiều xuống tà dương” (PHM) dư chữ “chiều xuống”
– Vô ngôn
Vô ngôn là cụm từ của Phật giáo với nghĩa không lời. Sóng tràn thì phải động mới tràn, nghĩa là có âm thanh: Xem như có lời.
Vậy câu thơ: “sóng tràn vô ngôn” thi sĩ muốn nói về điều gì? Vô ngôn?
– Biển ngâu
Trong “mai đời dẫu khóc biển ngâu” có hai chữ “biển ngâu”
Sự tích Ngưu Lang – Chục Nữ gặp nhau ngày mùng 7 tháng 7 âm lịch, ngày mưa Ngâu (Ngưu) sụt sùi. Bắc cầu “ô thước” qua “sông” Ngâu chứ đâu có “biển” Ngâu: Biển làm sao bắc cầu. Lại nữa, dãi ngân hà giống như dòng sữa, nhìn như dòng sông chứ đâu phải khắp bầu trời mà gọi là biển?
– Miên khê
Miên khê là khe nước đứng yên (ngủ), giang đầu là đầu nguồn sông lớn… vậy câu sau đây có nghĩa là gì?
“giang đầu nguyệt bóng miên khê”
Và “nguyệt bóng” là gì tôi tìm từ điển không thấy, xin bà chúa giải thích cho biết?
Hai chữ “nguyệt bóng” này làm tôi nhớ đến “sự đảo chữ”

II. Bàn sơ lược về đảo chữ

Tôi thấy “bà chúa thơ” rất “sính” đảo chữ. Mời đọc những chữ này: Nắng vạt, hoặc nghi, phai phôi, nguyệt bóng, trùng muôn… nhiều nhiều nữa.
Thí dụ:
“hư không níu trùng muôn bớt dài”
Trùng muôn nghĩa là gì vậy nữ sĩ?

Tôi thấy đa số những cụm từ đảo trên gợi ra nhiều vấn đề. Bà chúa thích “đố chữ”?
Xin có vài ý kiến qua trích đoạn dưới đây:

[…Phép đảo chữ (đảo từ):
Đảo: Ngược, đảo ngược.
— Trong nói đảo người ta thường dùng lối chuyển đổi trật tự, vị trí các chữ trong một nhóm chữ (nhóm từ)
— Ta phận biết được ba trường hợp trong phép đảo chữ:
1. Chữ mới khi được đảo có thể xem như cùng nghĩa với chữ trước khi đảo:
Ngồi ngủ/ ngủ ngồi.
Đứng ăn/ ăn đứng
Khổ đau / đau khổ…
2. Chữ mới khi được đảo sẽ “vô nghĩa”, nghĩa là không thể nào đảo được.
Chữ mới khi được đảo sẽ “vô nghĩa”, nghĩa là không thể nào đảo được.
Độc đáo / đáo độc: Đáo độc vô nghĩa
Độc lập/ Lập độc: Lập độc vô nghĩa
Tà huy / huy tà: Huy tà vô nghĩa
– Khờ khạo / khạo khờ: Khạo khờ vô nghĩa.
– Vừa vặn / vặn vừa: Vặn vừa vô nghĩa.
Muôn trùng / trùng muôn: Trùng muôn vô nghĩa
câu thơ:
Hư không níu trùng muôn bớt dài (PHM): vô nghĩa.
Các thi sĩ nên xét lại! Nếu có nghĩa xin các thi sĩ cho biết tên từ điển Việt nào?
3. Chữ mới khi được đảo khác nghĩa với chữ trước khi đảo, nghĩa có khi trái nghịch…]
(Đảo Chữ – Nguyên Lạc)

Sẵn dây xin được ghi ra trích đoạn về ngôn ngữ thơ mà tôi tâm đắc của Lê Hữu
[… Ngôn ngữ thơ là chữ nghĩa, hình ảnh, ý tưởng … chỉ có ở trong thơ hơn là trong đời thực. Có điều, khi đọc, nghe, ta cảm thấy như là có thực, có ý nghĩa và chấp nhận được; hơn thế nữa, lại còn rung cảm vì thứ ngôn ngữ ấy. Bất kỳ cách diễn đạt nào làm cho người ta đọc ra thơ, nghe ra thơ, hiểu ra thơ muốn “nói” điều gì, đều là ngôn ngữ thơ.
Chữ nghĩa cần có sự phát minh, sáng tạo hơn là lặp lại rập khuôn người đi trước. Những vô thường, vô vi, phù vân, phù ảo, hư ảo, hư không, tà huy, miên trường… mà người làm thơ cố đưa vào bằng được trong thơ mình thường có một vẻ gì khập khiễng, gượng gạo như một kiểu tạo dáng kém tự nhiên, đôi lúc khiến câu thơ tối tăm, khó hiểu.
Thường, thơ khó hiểu thì khó hay; thơ tạo dáng thì khó tạo được cảm xúc.
[Lê Hữu: Thơ lục bát còn, tiếng Việt còn]

III. Cảm nhận hai bài thơ tiêu biểu của “bà chúa thơ lục bát”

1. Hai bài thơ tiêu biểu
Các bài này đã được phổ nhạc và được rất nhiều thi sĩ “lão thành” có tiếng khen (like), tức nhiên nó phải hay và chắc tôi không cố ý chọn lầm.

VẼ EM…

vẽ em
bằng hết đời
sầu
anh tô lại đẹp từ đầu giấc mơ
từ đầu buổi mắt xanh thơ
còn trong veo nắng màu tơ sợi trời

**
còn chân gót hát ca lời
vẽ em
anh vẽ mưa rời rợi
đau
tay vời vợi níu tay nhau
mùa đông hoài gạt lệ dàu dàu vương

**
mùa đông hoài vắng người thương
hoài thiên lý dặm miên trường mù không
vẽ em
bằng hết chờ
trông
đợi anh tịch lặng mênh mông bóng gầy

**
trăng treo cao bóng lên đầy
tiếng khuya lả tả trắng bầy rong rêu
trắng dòng lá mục lêu bêu
vẽ em
anh vẽ vạc kêu sương
tàn

**
vẽ em
bằng nỗi vui
tràn
anh hoàng hoa xuống cội vàng cánh xương
cội hoàng hoa đóa uyên ương
mây hoàng hoa bến mộng thường vân lâu

**
yêu cho bằng hết bể dâu
sông
anh ru cọ ơ ầu
vẽ em… .

VÔ CÙNG TRĂM NĂM… .

yêu anh
cuộc
mộng nghìn trùng
dấu cô lý bến mịt mùng xa xăm
gót chân viễn xứ mù tăm
bâng khuâng bờ vắng em nằm chờ mai

**
bâng khuâng cõi vốn phôi phai
yêu anh
từ độ chia hai mây
trời
đất mơ gặp gỡ nhau đời
tạc câu huyền sử bời bời uyên ương

**
ghi rằng trời đất vấn vương
mới cơn bụi cát miên trường đêm say
yêu anh
yêu
cả gầy tay
hương thơm ngón thắp em ngày ái ân

**
hương xanh đôi thắp phù vân
thắp men tình muộn màng trần gian không
còn gì ngoài gió mùa đông
yêu anh
em
trái tim hồng cánh môi

**
yêu anh
yêu
vĩnh hằng ngôi
chỉ duy nhất một bồi hồi xưa sau
hàng mi khép lúc giọt mau
rót riêng em giấc ngủ màu bao dung

**
như nhiên đã lối về chung
em yêu anh
rất vô cùng
trăm năm…
(Phạm Hiền Mây)

2. Vài nhận xét

a. Vài ý đóng góp:
Đây là vài ý của bạn tôi đóng góp khi chúng tôi trao đổi về 2 bài thơ tiêu biểu trên:
— Người được gọi là ” Bà chúa lục bát” có giọng thơ hơi sáo rỗng:
“mùa đông hoài vắng người thương
hoài thiên lý dặm miên trường mù không
vẽ em
bằng hết chờ
trông
đợi anh tịch lặng mênh mông bóng gầy” (sic)

Các câu khác cũng vướng lỗi gần giống vậy. Ví dụ:
“còn chân gót hát ca lời
vẽ em
anh vẽ mưa rời rợi
đau
tay vời vợi níu tay nhau
mùa đông hoài gạt lệ dàu dàu vương” (sic)

— Khổ 2:
“Còn chân gót hát ca lời” là ý gì?
“Mùa đông hoài gạt lệ dàu dàu vương”: Câu này có ăn nhập gì với câu đầu (còn chân gót hát ca lời) của đoạn thơ không? Đã vậy lại vừa thừa vừa thiếu, Thừa cái kể lể, thở than; thiếu mất hình ảnh thương sầu, ly biệt.
— Khổ 3:
Câu đầu rất ổn, nhưng câu kế vừa thừa lại vừa lang bang.
“Thiên lý” là ngàn dặm rồi, vậy “Thiên lý dặm” nghĩa là gì đây?
Lại nữa, “Thiên lý” đã diễn tả được cái cách biệt, cái xa xăm nghìn trùng rồi, lại nối theo hai chữ “miên trường” (thôi thì cứ hiểu theo ý tác giả “miên trường” là đằng đẵng, là vô cùng) vậy thì cái ” thiên lý dặm miên trường” nên hiểu sao đây? (Chữ “hoài” đầu câu là phó từ, 2 chữ “mù không” phía sau là ngữ động từ mình tách ra)
— Hai bài thơ khác nhau, mỗi bài đều có 2 chữ “miên trường”
“hoài thiên lý dặm miên trường mù không”
“mới cơn bụi cát miên trường đêm say”
đúng là đặt ở hai ngữ cảnh khác nhau. Tuy nhiên xét kỹ thì hai cụm chữ:
“Miên trường mù không”
“Miên trường đêm say”
Giai địêu lập lại, cách dùng lập lại, ý tưởng không khác. Nghĩa là tác giả tự bị TRÙNG TÁC với chính thi phẩm của mình.
[Đỗ Phú]

b. Ý nghĩ riêng tôi:
— Trước hết xin có ý kiến: Rong rêu và lá mục thường xanh đậm (xanh rêu) hoặc xanh đen chứ không thể nào màu trắng. Làm gì mà “trắng bầy rong rêu”?
— Theo chủ quan của tôi, trong con người cái tôi chia ra hai phía, hay nói một cách đơn giản là có hai cái tôi nhỏ: Cái tôi lý trí và cái tôi cảm xúc:
. Cái tôi lý trí do lý trí chi phối, mang tính hơn thiệt, đúng sai, được thua.v.v.. Trong cái tôi này có chứa cái tôi sợ hãi. Biết rằng mình không thích, biết rằng dối gian… nhưng vẫn phải làm. Cái tôi sợ hãi này thì có nhiều thi sĩ, văn sĩ XHCN đã kinh qua và lên tiếng rồi. (Nếu tôi nhớ không lầm là Tô Hoài)
. Cái tôi cảm xúc: Đây là cái tôi đích thực, cái tôi nhân bản, cái tôi của thương yêu, cái tôi cảm nhận sự thua thiệt, không cần tiền tài,danh tiếng, vân vân và vân vân. Nhà thơ rất cần cái tôi này.
Một bài thơ hay khi nào “cái tôi cảm xúc” lên làm chủ, đè “cái tôi lý trí” xuống. Do đó, người ta thường nói: Tình yêu thường “mù quáng” là vậy. Nghĩa là lý trí “đi chổ khác chơi”: Thơ mà chỉ có lý trí, chỉ sắp xếp chữ, không có cảm xúc thì thơ chắc không gây một hiệu ứng nào đối với người đọc, và chắc sẽ bị quên mau .
Hình như tác giả Phạm Hiền Mây đưa cái tôi lý trí lên “đỉnh”, đè bẹp “cái tôi thực sự, cái tôi cảm xúc”.
Nói như nhà phê bình Nguyễn Hưng Quốc, đại khái: – Thơ loại này (lý trí làm chủ) “Ào ào lá đổ nhưng chẳng thấy mùa thu đâu!: Thơ thiếu vắng” hồn thơ”
Hai chữ “cảm xúc” cũng xuất hiện trong định nghĩa về thơ của William Wordsworth:
“Poetry is the spontaneous overflow of powerful feelings: it takes its origin from emotion recollected in tranquility”.[3]
“Thơ là sự tuôn trào tự phát của cảm xúc mạnh mẽ, bắt nguồn từ cảm xúc được hồi tưởng trong sự tĩnh lặng”
— Xin được ghi ra đây vài ý về “thơ mở ngõ”
[… Về thơ mở:
Thơ muốn “hay” phải là thơ mở, nghĩa là bài thơ tác giả mở ngõ, mời độc giả dự phần, đưa tâm tư của riêng mình vào. Độc giả bây giờ không còn là người bàng quan và sẽ nghĩ rằng thơ viết cho mình, nên rất thích thú, thấy bài thơ hay thêm.
– Xin giới thiệu bài thơ mở của thi sĩ Trần Phù Thế, thi sĩ mời các bạn gởi tâm sự riêng mình vào:
khóc
tuổi thơ
khóc
kiếp người
từ đâu tiếng khóc gọi mời nỗi đau?
khóc là cười chẳng được sao?
(khóc cười – Trần Phù Thế)…]
[Vài Khái Niệm Về Việc Dùng Chữ Trong Thơ – Nguyên Lạc]

Một bài thơ hay khi ta cảm thấy hình như thơ ấy viết riêng cho ta, thấy có cuộc đời riêng của ta trong đó. Thơ mở rộng cánh cửa để ta đặt cuộc đời riêng mình vào. Nếu tất cả đã được nói ra hết rồi thì độc giả bây giờ chỉ là người bàng quan và từ đó nghĩ thơ viết cho ai chứ đâu phải cho mình; do đó thơ sẽ bớt hay.
Trong các bài thơ của Phạm Hiền Mây, hình như thi sĩ đã nói lên “hết tất cả”rồi, không còn gì để độc giả đóng góp thêm được nữa. Không còn “ngõ” nào để vào “lâu đài” thơ “Bà Chúa”, chỉ đứng ngoài cửa nhìn vào. Hay nói chính xác hơn, thi sĩ Phạm Hiền Mây là ông thầy đang “giảng đạo”, độc giả chỉ biết lắng nghe và tuân theo. Hoặc như Trần Trung Thuần đã nói: Phạm Hiền Mây là “Bà Chúa thơ lục bát VN”, nên “Bà Chúa” đang ban “huấn từ” cho người dân, đã đầy đủ rồi phải tuân theo, không được ý kiến. Chữ nghĩa ơi là chữ nghĩa!
Qua trên là những cảm nhận của tôi và bạn tôi về các bài thơ tiêu biểu của “Bà Chúa thơ lục bát VN”, giờ xin thử đọc thơ của “người dân dã”.

THỬ ĐỌC VÀI BÀI LỤC BÁT CỦA “NGƯỜI DÂN DÔ

Xin thử đọc vài bài thơ mà theo tôi “cái tôi đầy cảm xúc” làm chủ: Thơ của “người dân dã”, thi sĩ Quỳnh Nga, người tôi chỉ tình cờ biết qua Facebook.
Đây là vài bài thơ với lời lẽ giản dị, đọc hiểu ngay, không “hàn lâm”, không “đố chữ”, khỏi cần chạy tìm từ điển:

CÁI ĐÊM TRĂNG MỎNG EM TỪ TÔI NGHIÊNG

Cái đêm mưa gió ướt đầm
Cái đêm tôi nhớ điếng bầm ruột đau
Cái đêm ta nợ nần nhau
Cái đêm ân ái mùa sau để dành

Cái đêm phiến nhớ long lanh
Cái đêm tơ lụa mong manh khôn cùng
Cái đêm em chạm ngại ngùng
Cái đêm tôi đợi cháy bừng đêm tôi

Cái đêm hôm ấy phải rồi
Cái đêm cánh gió gọi trời sang thu
Cái đêm em tóc hương nhu
Cái đêm trăng mỏng em từ tôi nghiêng…

GÕ CỬA THÁNG GIÊNG

Tôi về gõ cửa tháng giêng
Hỏi ai giấu tuổi hồn nhiên đâu rồi?
Tháng giêng tôi mở cửa tôi
Tìm mong gặp lại một thời chân quê

Tháng giêng tôi đón tôi về
Áo vàng hoa với đường đê hoa vàng
Nghe hồn quê rộng thênh thang
Nghe tôi về giữa nồng nàn yêu thương!
(Quỳnh Nga)

***
Đó là thơ lục bát của hai người, “bà chúa” và “người dân dã”, tự các bạn cảm nhận và phán đoán.

Nguyên Lạc
…………………
Ghi chú:
[1]. Tôi đồng ý với Trần C. Trí không dùng chữ “từ”, vì nó chính là cội rễ của tất cả những “từ” độc hại khác. Xin xem:
“từ và chữ” – Trần C. Trí
https://damau.org/archives/51321
[2] (William Wordsworth Quotes, Brainy Quote, brainyquote.com)
(https://www.brainyquote.com/quotes/william_wordsworth_390135)

TÌM LẠI

.
Khói đốt đồng chiều…
Người xưa cay mắt!
Mùa vẫn xưa!
Em có biết người về?
Tìm lại một khoảng trời
Khoảng trời ký ức
.
Ai? Đánh thức giấc mơ tôi một thời
Một thời tôi cố quên!
Một thời tôi có em
“Một thời để yêu và một thời để chết” [*]
.
Tôi đi tìm em
Chỉ thấy tôi riêng!
Chiều hấp hối bên bờ kinh nắng quái
Tiếng kêu chiều chim vịt cứa lòng quê!
.
Đã ra đi!
Sao lại về?
Để con nước xô bờ!
Để lặng lờ hoa tím!
.
Cổ độ!
Sông ráng chiều khói tỏa
Một bóng người thấy bao nỗi tàn phai!
Đời mong manh!
Tình mong manh!
Đâu đây tiếng gió thở dài
Nghe trong hồn tiếng sương rơi lạnh!
.
Tiếng bần rụng
Tiếng hò ơi
Tiếng thời gian
Tóc bạc màu ai
Tím biếc cõi lòng người lữ thứ!
.
Bến sông vắng
Tiếng kêu sương vạc khổ!
Mơ một thời!
Mờ theo sóng… trôi…trôi!
………
[*] Tên quyển tiểu thuyết của Erich Maria Remarque
.
Nguyên Lạc

VÀI KHÁI NIỆM VỀ VIỆC DÙNG CHỮ TRONG THƠ

CÁC KHÁI NIỆM
Vài khái niệm cần thiết cho việc dùng “chữ” trong thơ: [1]
1. Theo Nguyễn Anh Khiêm (Ký Ức Sơ Sài) thì tiến trình ngôn ngữ như sau: Đủ chữ/ đủ ý: Thoại –> đủ chữ/ nhiều ý: Văn –> ít chữ/ nhiều ý: Thơ.
Do vậy trong thơ càng ít chữ mà càng nhiều nghĩa thì thơ càng hay; không cần phải ầu ơ ví dầu ,”hoa lá cành” cho dài ra, làm bài thơ loãng, dễ chán.

2. Theo tôi: Trong văn chương, dùng chữ bình thường, bình dị mà đủ nghĩa tốt hơn dùng chữ hoa mỹ mà vô nghĩa, sáo rỗng. Tuyệt nhất là dùng chữ bình thường mà tạo được nghĩa bất thường.
Đây là ý kiến của Nguyễn Thị Thảo An
[…Dùng những chữ đời thường đôi khi nghe ngô nghê, tưởng chừng như không thể là ngôn ngữ thơ, nó là ngôn ngữ trẻ con, của vỉa hè,… nhưng nếu biết đặt đúng vị trí nó sẽ trở thành những “viên ngọc” sáng lóng lánh, làm nổi bật ý nghĩa của câu thơ.
Ví dụ: “Đem thân làm gã tù lưu xứ/ Xí xóa đời ta với đất trời”. Chữ “xí xóa” là chữ của trẻ con, thế mà đặt ở câu thơ này thật tuyệt]

3. Trong văn, văn phạm phải rõ ràng và chữ thường có một nghĩa chính xác. Ngược lại trong thơ, sự chính xác văn pham đôi khi không cần thiết lắm; chữ càng nhiều nghĩa càng tốt, để người đọc suy đoán theo trãi nghiệm riêng mình. Thơ phải mở ra để độc giả dự phần vào – thơ mở – thì mới hay.
4. “Thơ khác hơn văn xuôi ở chỗ đặt cơ sở trên cảm giác về âm vận, tiết điệu. Cũng thời bao nhiêu chữ, bao nhiêu câu đó, phải lựa chỗ, lựa nơi, thêm chữ nầy, bớt chữ kia, cố sắp xếp làm sao tạo được cái cảm giác bồi hồi cho người đọc. Mỗi chữ, mỗi lời phải xôn xao, nhảy múa, linh động… Từ cái tính chất xao xuyến, chơi vơi đó, nhà thơ dẫn dắt độc giả vào cõi mông lung của cảm giác, chuyện khó như nhảy xuống nước mò trăng” (Võ Kỳ Điền – Vài nét lạ trong thơ Lưu Nguyễn)
5.Một bài thơ hay phải hội đủ ba yêu tố: Vần, nhạc và họa . Thơ hay là phải có vần điệu, nhạc diệu và hình ảnh (họa). Nhờ những điều này, thơ mới dễ đi vào hồn người; thiếu một trong ba thì không thể là thơ hay được.
6. Theo tôi, một bài thơ hay khi ta cảm thấy hình như thơ ấy viết riêng cho mình, thấy có cuộc đời riêng của mình trong đó. Thơ mở rộng cánh cửa để ta đặt cuộc đời riêng mình vào. Nó bây giờ không phải của riêng tác giả nữa, mà là của chung, hoặc nói theo cách khác, của riêng người đọc, người đồng cảm. Cùng cái HỒN THƠ đồng cảm này, người đọc có quyền nghĩ theo, dịch theo – nếu thơ tiền nhân – kinh nghiệm đặc thù riêng mình, có quyền diễn đạt theo ngôn ngữ, chữ nghĩa hiện đại riêng mình. Nếu tất cả đã được nói ra hết rồi thì độc giả bây giờ chỉ là người bàng quan và nghĩ thơ viết cho ai chứ đâu phải cho mình, do đó sẽ giảm bớt cái hay.
Xin ghi ra những điều tôi tâm đắc về thơ từ Nguyễn Hưng Quốc:
“Thơ mở ra, gợi ra man mác những nỗi niềm tâm sự chung. Thơ là một cảm xúc đi tìm một đồng cảm. Thơ là tiếng nói một người nhân danh tất cả mọi người trong hoàn cảnh ấy, số phận ấy. Nhà thơ chỉ độc quyền được cho mình một cánh cửa. Sau cánh cửa kia là của mọi người.
Trên núi Kính Đình ngày xưa chỉ một mình Lý Bạch ngồi buồn hiu hắt ngắm mây bay chim bay nhưng còn nỗi cô đơn của ông, nỗi cô đơn ấy là của chung của nhân loại. Cả ngàn năm nay, mỗi khi con người lẻ loi trước thiên nhiên thì chợt nhớ lại, đọc lại “Chúng điểu cao phi tận / Cô vân độc khứ nhàn / Tương khan lưỡng bất yếm / Duy hữu Kính Đình san”. Ngỡ như nỗi cô đơn và niềm bâng khuâng ấy là của riêng mình. [Nguyễn Hưng Quốc]
7. Là thơ Việt, người thơ phải thủ đắc một số thơ của tiền nhân, căn bản triết lý Đông Phuơng để dùng nó khám phá những hàm ẩn, “ý tại ngôn ngoại” của bài thơ. Người thơ cũng nên học hỏi thêm để biết vài thủ pháp về thơ, biết sơ lược về cách phân tách ngôn ngữ cần thiết cho thơ.
8. Xin lại được ghi ra đây những câu bàn về thơ hay mà tôi tâm đắc của ông Lê Hữu:
[… Ngôn ngữ thơ là chữ nghĩa, hình ảnh, ý tưởng … chỉ có ở trong thơ hơn là trong đời thực. Có điều, khi đọc, nghe, ta cảm thấy như là có thực, có ý nghĩa và chấp nhận được; hơn thế nữa, lại còn rung cảm vì thứ ngôn ngữ ấy. Bất kỳ cách diễn đạt nào làm cho người ta đọc ra thơ, nghe ra thơ, hiểu ra thơ muốn “nói” điều gì, đều là ngôn ngữ thơ.
Chữ nghĩa cần có sự phát minh, sáng tạo hơn là lặp lại rập khuôn người đi trước. Những vô thường, vô vi, phù vân, phù ảo, hư ảo, hư không, tà huy, miên trường… mà người làm thơ cố đưa vào bằng được trong thơ mình thường có một vẻ gì khập khiễng, gượng gạo như một kiểu tạo dáng kém tự nhiên, đôi lúc khiến câu thơ tối tăm, khó hiểu.
Thường, thơ khó hiểu thì khó hay; thơ tạo dáng thì khó tạo được cảm xúc.
— Ý tưởng
Câu thơ đẹp thường có mang theo ý thơ đẹp. Ý tưởng mờ nhạt, có mới mà không hay, hoặc có hay mà không mới, thường kém sức hấp dẫn. Ý tưởng cần sáng tạo hơn là vay mượn.
Biệt ly dù ở ga nào,
cho tôi ngồi một toa tàu lãng quên (Hôm nay, Nguyễn Tất Nhiên)
— Hình ảnh
Hình ảnh tô đậm thêm những tình ý trong thơ. Ý tưởng đẹp, minh họa bằng hình ảnh đẹp, thường đọng lại về lâu về dài trong tâm tưởng người yêu thơ.
Người lên ngựa, kẻ chia bào
Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san (Truyện Kiều, Nguyễn Du)
— Âm điệu: Thơ, nhạc và tranh
-Thơ, nhạc và tranh nhiều lúc vượt ra ngoài biên giới của ngôn ngữ. Cái làm cho thơ “không biên giới” là ý tưởng và hình ảnh (đôi lúc chữ nghĩa) hơn là âm điệu – vần điệu, nhịp điệu hay nhạc điệu. Đọc một bài thơ hay của nước ngoài ta thấy nhiều phần cái hay là hay về ý tưởng hoặc hình ảnh…]
[Lê Hữu: Thơ lục bát còn, tiếng Việt còn] [2]
9. Theo tôi: “Cảm nhận đưa tới cảm xúc -tức cảnh sinh tình- rồi cuối cùng đưa tới thơ”, do đó điều quan trọng nhất ở thơ là cảm xúc – “cảm xúc thật” của lòng. Những bài thơ sắp xếp chữ do lý trí do kinh nghiệm có thể hay, nhưng chắc chắn sẽ không có HỒN, nghĩa là sẽ không tồn tại lâu trong tâm tưởng con người.

VỀ VIỆC PHÂN TÍCH VÀ DÙNG CHỮ
Để minh họa những điều nói trên, chúng ta hãy xét sự dùng vài chữ trong các câu thơ sau đây:
Cố hương mất dấu, đoài phương ấy
Vẫn mãi trong tôi bóng nguyệt đầy!
(Nguyên Lạc tự chế để minh họa)

Tôi ở nơi này thương nhớ lắm
Xứ đoài bóng nguyệt vẫn rạng, hay?
(Nguyên Lạc tự chế để minh họa)
Trong các câu thơ này, tôi sẽ lần lượt phân tích 5 chữ: đoài, nguyệt , bóng, đầy và chữ “hay”mà tác giả dùng với chủ ý.
— Nhận xét đầu tiên: Trong các câu thơ trên, có “đoài” mà có cả vầng trăng (nguyệt) chứng nhân. Đoài là hướng tây (giải thích sau).Tây là chữ địa dư giữa bai bờ Đai Dương. Tây còn là phương thương nhớ, vùng ký ức… và còn là cõi về của Nguòi – “về cõi Tây phương” khi chết.
Giờ tôi giải thích trọn nghĩa cách xử dụng các chữ trên:
— Chữ “đoài ” : Trong “Hậu thiên bát quái” của Kinh Dịch, quẻ Đoài nằm vị trí hướng tây (Chấn hướng đông), các nhà Nho – trí thức xưa ai cũng phải nằm lòng để đi thi, nên trong văn chương, nhắc tới đoài là người ta muốn nói tới hướng tây. Hướng tây là hương mặt trời lặn, tượng trưng cho buồn bã, thương nhớ, nhớ về…cũng là hướng của nước Việt Nam nếu nhìn từ Mỹ. Do đó trong câu thơ nó cũng có thể được nghĩ là phương thương nhớ, vùng ký ức, là cõi về đối với người sống ở Mỹ như đã nhận xét trên
Đoài cũng có nghĩa đoài đoạn – “thương nhớ đoài đoạn”.
Đoài ở đây có nhiều nghĩa như vậy với điều kiện: Viết thường – danh từ chung, chứ không viết hoa – danh từ riêng như trong bài “Đôi Mắt Người Sơn Tây” của Quang Dũng.
Tôi nhớ xứ Đoài mây trắng lắm
(Đôi mắt người Sơn Tây – Quang Dũng)
(Chữ Đoài, viết hoa danh từ riêng- ở đây chỉ nhớ người (tên Đoài) hay nhớ quê (tên Đoài) thôi)
Tôi sẽ giải thích rõ điều này sau, ở phần “Viết Hoa Hay Viết Thường”
— Chữ “nguyệt”: Chữ nguyệt – viết thường, danh từ chung – tượng trưng cho trăng, chứng nhân hoặc khuông mặt, người con gái, và xa hơn nữa là khoảng trời xưa cũ, niềm nhưng nhớ.v.v…và xứ sở, quê hương. Chữ Nguyệt – viết hoa, danh từ riêng – it nghĩa hơn, chỉ là tên người con gái (Nguyệt), hoặc tượng trưng cho bóng dáng thân yêu.Có một số người ngộ nhận viết hoa thì Nguyệt mạnh nghĩa hơn, “ấn tượng” hơn; cái gì cũng muốn viết hoa vô tình làm giảm nghĩa. Như đã nói, sẽ giải thích rõ ở phần dưới
— Chữ “bóng”: Ở vị trí này trong câu thơ trên, đồng nghĩa với nó là chữ “ánh” hoặc chữ “dáng”. Tại sao tác giả chỉ chọn chữ “bóng”?
Lý do:
. Chữ “ánh” có thể là rực rỡ, vui tươi… Các câu thơ này là câu “thơ buồn”, nên chọn nó thì không hợp
. Chữ “dáng”: Nếu dùng chữ này – dáng nguyệt – thường được hiểu chỉ là người con gái, ít nghĩa không đúng với điều tác giả muốn nói. Lại nữa dáng là “trung tính”buồn vui không rõ, cảm xúc không hàm ẩn.
. Chữ “bóng”: Đây là chữ mà tác giả nhắm vào, lựa chọn để gởi gắm tâm sự, vì nó chứa nhiều nghĩa và đầy cảm xúc. Bóng nguyệt – nguyệt viết thường – là bóng dáng người con gái, bóng dáng kỷ niệm, bóng dáng quê hương như đã giải thích trên về chữ nguyệt. Bóng thường mờ ảo, buồn. Lại nữa nó liên hệ đến “bong bóng nước”, dễ vỡ nếu không cẩn trong, nâng niu. Chữ đầy cảm xúc đúng theo tác giả mong muốn
— Chữ “đầy”: Ở vị trí này của câu thơ cũng có một chữ tương nghĩa là “gầy” – nguyệt gầy – tại sao tác giả không chọn?
Giải thích:
. chữ “gầy”: “Nguyệt gầy” chỉ tượng trưng cho người con gái. Chữ “gầy” làm ít nghĩa câu thơ
. chữ “đầy”: Hợp với chữ nguyệt và tạo nhiều nghĩa hơn: “Nguyệt đầy”nghĩa người con gái, niềm thương nhớ, chứng nhân, xứ sở, quê hương…vẫn tròn đầy, rực sáng trong tâm
Đó là lí do tác giả chọn chữ “đầy”.

LIÊN HỆ THÊM VỀ NHẠC ĐIỆU, THƠ MỞ…
Sẵn đây tôi liên hệ thêm về nhạc điệu, thơ mở.
— Về nhạc điệu
thử xét các câu:
Ai rồi. như áng mây trôi
Trong tôi vẫn mãi. một thời đã xa!
(Nguyên Lạc tự chế để minh họa)
Chú ý chữ “mây trôi”. Gần giống với nó là chủ “mây trời”
– “mây trôi” tượng trưng cho người con gái, cuộc đời … bị đưa đẩy trôi đi, nhưng nó vẫn còn tồn tại.
– “mây trời” nhiều nghĩa hơn: – Nó bao gồm cả mây trôi đi, nhưng cũng có thể mây tan, không còn hiện hữu nữa… Lại nữa, “mây trời” lại có nhiều màu, tùy theo tâm trạng người đọc, do đó ẩn tàng nhiều nghĩa hơn.
– Giữa hai cụm từ nầy còn có nhạc điệu: Ta chú ý thấy “mây trời”2 chữ khác thanh nên nhạc trầm bổng hơn “mây trôi” cùng thanh. Phải liên hệ đến những chữ đứng trước và sau nó , để chọn chọn chữ nào cho nhạc điệu trầm bổng.
Và cũng nên nhớ cái nghĩa của chữ so với ý, tứ bài thơ.
Ở bài này tôi chọn “mây trôi”, ít nghĩa hơn, nhưng vì bóng hình người con gái chỉ xa khuất, vẫn tồn tại; trong khi “mây trời” nhiều nghĩa hơn nhưng không hợp, kể cả nhạc điệu khi liên hệ với những chữ trước sau nó
— Về thơ mở:
Chữ “hay?” trong câu thơ trên tác giả để mở, mời độc giả dự phần đoán: Vẫn rạng hay hết rạng.

Để minh họa rõ thêm về “thơ mở”, mời các bạn xét trường hợp sau:
Đây là 4 câu thơ:
Bất chợt nhớ một câu thơ cũ
Người ngày xưa giờ ở phương nào?
Thương đến thế đôi mình cách mặt
Lòng vẫn đầy mãi chẳng bên nhau!
(Nguyên Lạc tự chế để minh họa)

Ở câu cuối, ngay vị trí chữ “mãi”, ta cũng có thể dùng chữ “sao”. Thử xét cách dùng 2 chữ này:
— Chữ “mãi”: Tác giả muốn diễn tả nỗi đau, nỗi xót xa kéo dài không ngừng, khắc khoải không nguôi. Câu thơ xác định, xem như sự đã rồi, độc giả chỉ bàng quan: Đâu có viết cho tôi!
Có chắc là mãi không trong cuộc đời này? Biết đâu, trong khoảng thời gian tương lai nào đó, một “hạnh ngộ” nào đó thì chữ “mãi” nầy mất bóng. Lại nữa chữ “mãi” nầy trung tính hay nói đúng ra chỉ có chút cảm xúc, vì nó là câu khẳng định.
— Chữ “sao”: Khi thay thế chữ “sao” vào vị trí chữ “mãi”, câu thơ bây giờ là một câu hỏi (?). Câu hỏi này, nỗi đau này, sự xót xa này sẽ kéo dài mãi cho cuối đời người. Nghĩa là chữ “mãi” không dài và nhói đau bằng chữ “sao” .
Câu thơ gợi ra câu hỏi, mời độc giả dự phần vào, đưa tâm trạng của chính mình vào, tự trả lời theo tâm tư riêng mình. Độc giả bây giờ không còn là người bàng quan và sẽ nghĩ rằng thơ viết cho mình, nên rất thích thú, thấy bài thơ hay thêm.
Lại nữa , câu thơ là câu hỏi, là niềm bâng khuâng, day dứt nên chữ “sao” đầy cảm xúc.
Do những điều này, tác giả chọn chữ “sao”, câu thơ bây giờ như sau:
Lòng vẫn đầy sao chẳng bên nhau?
“Thơ mở” ý là vậy!

VIẾT HOA HAY VIẾT THƯỜNG?
1.
Để minh họa về phần này, tôi xin được ghi ra đây trích đoạn từ bài viết “VIẾT HOA HAY VIẾT THƯỜNG” đã đăng trên Web

[…Hãy xét bài ca dao
Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ kính cha
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con
(Công Cha Nghĩa Mẹ)
Theo tôi, hai chữ “thái sơn” phải viết thường. Thái Sơn (viết hoa) là sai.
Các bạn chắc sẽ hỏi tại sao?
Giải thích:
Vì nếu hai chữ thái sơn viết hoa, chúng ta sẽ đem hữu hạn thế cho vô hạn! Này nhé:
– “thái sơn” (viết thường, danh từ chung) là núi rất lớn, vô hạn (thái= rất bự, rất lớn; sơn = núi). Còn “THÁI SƠN” (viết hoa, danh từ riêng) là một ngọn núi bên Tàu, chỉ cao khoảng 1450 m (đo được, hữu hạn). Vậy nếu viết hoa: THÁI SƠN thì không phải là hữu hạn thay cho vô hạn sao?
– Nghĩa mẹ = “nguồn nước chảy ra vô tận, không dứt”, đối với “THÁI SƠN” (viết hoa: danh từ riêng ) đo được chỉ vài trăm hoặc ngàn mét. So sánh ra thì công cha như số không ! Sao BỘI BẠC VỚI CHA quá thế!
– Còn nếu viết “thái sơn (viết thường: danh từ chung) = lớn, bự vô hạn”, công cha sẽ gần như bằng công mẹ.
Do điều này, ta phải dùng thái sơn danh từ chung (viết thường) . Hai câu đó tôi nghĩ như vầy
Công cha như núi, …… thái sơn (to vô cùng)
Nghĩa mẹ như nước,…. trong nguồn chảy ra (luôn không dừng).
– Xin nói thêm: thái sơn, sơn hà (viết thường, danh từ chung) tượng trưng đất nước, tổ quốc; nếu chúng viết hoa (trở thành danh từ riêng) thì sẽ không còn nghĩa này nữa, mà thành tên ngọn núi Tàu, tên riêng vùng nào đó …] (VIẾT HOA HAY VIẾT THƯỜNG – Nguyen Lac)

2.
Thử áp dụng những điều bàn trên vào các câu thơ sau đây của nhà thơ Nguyễn X. xem sao?
Câu thơ Nguyễn X (tên hư cấu) viết như vầy:
Trưa chín HÈ, PHƯỢNG đỏ thật thương
Tiếng ve nấc nỗi niềm vương rất lạ
(Ví dụ minh họa)
Nhà thơ Nguyễn X cố tình viết chữ HÈ và PHƯỢNG hoa, chắc anh cho là nó “ấn tượng” hơn!
Theo tôi, chữ “phượng” viết thường hay hơn và nhiều nghĩa hơn. Lý do?
Giải thích:
– PHƯỢNG viết hoa là danh từ riêng chỉ chính xác một nghĩa: người con gái – tên người con gái. Viết hoa chữ PHƯỢNG, sẽ làm nó trở thành “nội gián” phá hỏng ý bài thơ. Rõ ràng là bài thơ nói về mùa hè buồn hoa phượng nở đỏ. Nếu viết hoa chữ PHƯỢNG, thành ra cô gái PHƯỢNG “đỏ mặt” – hoa phượng mất dấu ở đây – thì cón thể thống gì nữa mà liên hệ đến ve sầu câu dưới? Chữ phượng viết thường, danh từ chung bao gồm cả hoa phượng, mùa phượng, mùa bãi trường và người con gái…
Tuong tợ như vậy về chữ HÈ – viết hoa – cũng khiến người ta nghĩ đến một anh chàng tên HÈ nào đó
Rất mong nhà thơ Nguyễn X, nói rộng ra các nhà thơ trẻ chú ý đến điều này. Hãy mở lòng lắng nghe tha nhân góp ý, ai tự thỏa mãn sẽ bị dừng lại, hay đúng ra sẽ lùi so với sự tiến bộ của người khác

LỜI KẾT
Chữ Việt chúng ta tuyệt vời lắm, đừng “ngộ nhận” nó kém so với chữ nước ngoài
Nên nhớ rằng: Trong các “nghề chơi”, chơi văn chương chữ nghĩa là cao sang nhất, nhờ nó ta mới phân biệt được người thấp người cao, ai sang ai hèn, chứ không phải ở giàu nghèo.
Chơi cho lịch mới là chơi,
Chơi cho đài các, cho người biết tay.
(Cầm Kỳ Thi Tửu – Nguyễn Công Trứ)
Đọc một bài văn, bài thơ mà giống như ăn “mì ăn liền”, chỉ ăn cho no; không cần biết hương vị thơm tho của bát mì, công phu nghệ thuật của người nấu ra nó thì chỉ là “phàm phu tục tử”.

Nguyên Lạc
—————
Ghi chú:
[1] Tôi đồng ý với Trần C. Trí không dùng chữ “từ”, vì nó chính là cội rễ của tất cả những “từ” độc hại khác. Xin xem:
“từ và chữ” – Trần C. Trí
https://damau.org/archives/51321
[2] “Thơ lục bát còn, tiếng Việt còn” – Lê Hữu
http://t-van.net/?p=35489

THẮP NẾN ĐÊM TRẮNG TUYẾT

 

Thắp nến lên
đêm mùa đông
Tôi
một mình!

Tiếng thời gian
tích tắc!
tích tắc!

Điệp khúc trầm
như tiếng cầu kinh!

.

Thắp tôi lên
Đêm mùa đông
Thấy thanh xuân vỡ vụn
xuôi qua kẽ tay vèo theo áng mây bay!

.

Mây trắng vẫn bay
Màu thời gian nhuộm tóc ai!
Tích tắc
điệp khúc buồn
như khóc cho nỗi tàn phai!

.

Đem hồn ra
Sắp xếp lại phiến đời
Tôi tìm thấy tôi
Một thời mắt môi
Một thời vụng dại

.

Một thời
à ơi tiếng mái chèo khua
tiếng khàn “bìm bịp kêu
con nước lớn
buôn bán không lời chèo chống mỏi mê” [*]

.

Thắp nến lên
mong xua nỗi lạnh
ngoài song
đêm trắng
bông tuyết rực trời

.

Đêm trắng tuyết
một người ngồi thắp nến
Tìm chút ấm
trong căn phòng cóng lạnh mùa đông
Chạm tay
miền ký ức xa xăm!

.

Ai thắp nắng giùm tôi?
Đêm cô miên!
Niềm lữ thứ!

.

Nguyên Lạc

…………….

[*] Bìm bịp kêu nước lớn anh ơi
Buôn bán không lời chèo chống mỏi mê

(Ca dao)

CHIỀU

Chiều Tiễn Đưa

 

Đất trời gầy cuộc ly tan
Tôi mang áo trắng. khăn tang tiễn người
Nắng chiều. nhuộm tím bờ vai
Lay hồn. nỗi tiếc thương hoài ngàn thu!
Chiều Rơi
Chiều hanh rải nắng lên mây
Vàng pha từng sợi. chiều gầy mơ phơi
Bóng người đâu. chỉ bóng tôi?!
Muôn trùng gió gọi. rụng rơi trời hồng!
Chim buồn. mờ bóng từng không
Tiếng than gởi lại. nỗi mong nhớ người!
Sương rơi. thấm lạnh vai rồi!
Chuông khuya êm vọng. đôi lời từ tâm!
Hạnh Ngộ
Đã thương
hình như kiếp trước?
Sao tin chi những lời đau?
Quay lưng
người ơi đừng vội!
Biệt ly
rồi sẽ phương nào?
Người đi. đóa hoa chợt héo!
Mây bay. vút tận trời cao!
Chiều nay. sao lòng day dứt
triền miên
chẳng biết vì sao?
Dõi theo xa mờ. mong đợi
Hạnh ngộ chắc phải đời sau?!
Tưởng chừng. thì thầm tiếng gọi
Có không
ta sẽ kiếp nào?!
Thuyền Trăng
Hờn ai. mây vội từng không?
Đong đầy sầu đủ. nét cong trăng thuyền?
Chao nghiêng
chắc nặng ưu phiền?
Trút đi sao chẳng?
Buồn riêng phương này!
Gọi chi
lời gió đêm nay?
Bay đi
cùng với Nguyệt tôi. bóng người!
Hạt Bụi
Như là hạt bụi trăm năm
Bụi về cát bụi. tình thâm vẫn hoài
Mắt vương lệ đắng vì ai?
Tim vương tình đắng. thương hoài thiên thu!
Nguyên Lạc

QUÊ HƯƠNG

 

Ôi lịch sử những dòng đời cay nghiệt,
Những tự hào hoá giải với oan khiên.(Trần Kiêm Đoàn)

 

Quê hương có gì để nhớ
Mà sao nước mắt lưng tròng?

1.

Quê hương. chiếc đò nho nhỏ
Qua sông. kham khổ từng ngày
Thân me vai gầy. gánh khổ
Thương con. chịu nổi đắng cay

 

Quê hương còn đầy thương nhớ
Ngoại nhai tóm tém trầu cay
Mẹ mày. thằng cháu mất dạy
Rong chơi lêu lổng suốt ngày

 

Quê hương làm sao không nhớ?
Cầu tre lắt lẻo sáng mai
Đường vui. trống trường réo gọi
Cây cao. chim hót từng bầy

 

Chia nhau từng viên đạn nhỏ
Bịt mắt. kiếm  tìm. Ai đây?
Chia nhau nỗi lo thầy gọi
Nhói đau. thước khẽ bàn tay
Chia nhau trái me keo  ngọt (+)
Chia nhau từng tiếng cười đầy

 

Quê hương làm sao không nhớ?
Dòng sông tuổi trẻ mênh mang
Bần de. phóng đùng. nước mát
Lặn tìm. chân bắt. la vang
Bờ sông. chị khàn tiếng gọi
Vết roi cha đánh. tím bầm!

 

2.

Quê hương đỏ màu phượng vĩ
Hè sang.   ve sầu khóc vang!
Tạ từ. lời ca ly biệt
Buồn trao lưu bút. lệ tràn!
Biết rồi mùa sau gặp lại?
Hay rồi đôi ngã ly tan!

 

Quê hương. buồn vui gác trọ
Thả hồn. giọng Khánh Ly khàn
Chia nhau. chút đầu thuốc vụn
Khói bay. theo khúc tình tan

 

3.

Bao năm đời này vẫn nhớ
Xuân nao. thay đổi phận người!
Bể dâu. biệt ly. mong đợi!
Khổ đau thay thế nụ cười!

 

Bao năm chém tre đẵn gỗ
Bạn bè. chết không nắm mồ!
Mẹ già vượt đồi núi khổ
Thăm con. lệ cạn mắt khô!

 

Con ơi. vợ con Kiều đó
Bán thân. lo giúp cho chồng!
Chữ Trinh. thôi đành phụ bạc!
Đoạn trường. con biết hay không?!

 

4.

Bao năm đời này vẫn nhớ
Đêm thâu. xuôi mái theo dòng
Người đi. không lời từ biệt
Buồn ơi. tím biếc dòng sông!

 

Quê hương ta ơi. thôi nhé!
Buồn ơi. nước mắt lưng tròng!
Rặng cây quê hương mờ bóng
Có còn gặp lại được không?

 

5.

Quê hương hoài mong thương nhớ
Cô thân. lưu lạc phuơng người
Chiều nay. nhớ dòng sông ấy
Lục bình hoa tím hoài trôi!

 

Quê hương ta ơi …đừng nhớ!
Muộn phiền. cay đắng mà thôi!
Cố quên. sao lòng vẫn nhớ!
Quê hương nhớ lắm… ơi người!

 

Quê hương còn gì để nhớ?
Buồn ơi. nước mắt lưng tròng!

Quê hương sẽ còn để nhớ?
Quê hương đáng nhớ không người?!

 

Nguyên Lạc                 

——————————————————————————————————–

Chú thích:

(+) Me nước hay còn gọi me keo, găng tây, keo tây (danh pháp khoa học: Pithecellobium dulce) là một loài thực vật có hoa trong họ Đậu (Fabaceae).

 

VỀ BẠN TRI ÂM : THI VĂN SĨ LÊ MAI LĨNH

 

                                  

Thả tiếu: 

Nhân sinh hàm khổ lụy / Y phạn tích bại thành

Phóng thủ vạn sự tuyệt / Đắc tiếu, tiếu nhất thanh.

Hãy Cười: 

Kiếp người nhiều khổ nhọc,/ Cơm áo lắm được thua,

Buông tay muôn việc hết,/Ðùa được, thì cứ đùa! 

(Nguyên tác và dịch: Hạt Cát)

 

***

Thi Sĩ Lê Mai Lĩnh đă gởi tặng thi phẩm THƠ TÌNH THẾ KỶ, LƯƠNG QUYỀN – CÔ LÁNG GIỀNG và TUYỂN TẬP LÊ MAI LĨNH như món quà Xuân quí. Bỏ qua một thời gian cũng khá lâu đọc các tác phẩm, Nguyên Lạc xin được ghi ra đây CẢM NHẬN của mình thành một bài viết.  Bài này xem như lời cảm ơn trân trọng đến Thi Nhân!

Xin mạn phép được chụp ra đây, ghi vài hàng tiểu sử,  cùng vài trích đoạn tuyệt vời (riêng với Nguyên Lạc tôi) tuyển chọn trong các tác phẩm.

  1. VÀI HÀNG TIỂU SỬ

Thi sĩ Lê Mai Lĩnh tên thật là Lê Văn Chính sinh năm 1942 tai Làng Quảng Điền, xã Triều Đại, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Khởi nghiệp văn chương từ năm 16 tuổi (1958) với bút hiệu SƯƠNG BIẾN THUỲ. Từ sau ngày lưu vong sang Hoa Kỳ (1/1994) lấy bút hiệu Lê Mai Lĩnh

Lê Văn Chính là Trung Úy sĩ quan VNCH. Sau khi “Bên thắng cuộc” chiếm miền Nam, ông được Đảng “vĩ đại” ưu ái cho ghi tên vào học  trường “Đại Học Nhăn Răng” Í lộn Nhân Dân. Đại học đó có tên là “Học tập Cải Tạo” mà thi sĩ Hà Thúc Sinh đặt tên là “Đại Học Máu”. Chuyên “ngâm cú” môn: “Chém tre, đẵn gỗ trên ngàn” (*). Mặc dù học hành bê bối, vậy mà còn “bài đặt” Đề Nghị  Ngài TBT Lê Duẩn “đáng kính”, yêu cầu THAY ĐỔI ĐƯỜNG LỐI LÃNH ĐẠO, Đảng và nhà nước cũng khoan hồng cho “tốt nghiệp” sau 8 năm, rồi “đạp” ra khỏi VN, đến xứ “tư bản giãy chết” Hoa Kỳ.

Sang ở Hoa Kỳ, ông tiếp tục sự nghiệp văn chương với tên Lê Mai Lĩnh và sau này KHÙNG THI SĨ sáng tác nhiều bài thơ “trong sáng đầy ấn tượng”. Ông tặng tui một bài, đọc đã quá, tui đưa vào bài Loạn Bút về Chữ Tình của tui luôn (đăng trên trang Bạn Văn Nghệ của thi sĩ Trần Yên Hòa)(**) Đó là lý lịch trích ngang của ông. Tui không dám nói nhiều, sợ người đời nói rằng tui xạo, thấy sang bắt quàng. Thôi để tui hú ông thần khác vào nói hộ.

– Ông ơi, vào gầy sòng!  Dạ đây là ly XO, xin mời ngài uống rồi nói giúp cho vài lời!

– Ực, khà! Hảo tửu, hảo tửu!  được rồi ta nói thế cho:

Tôi chưa gặp anh dù – Chỉ một lần,

Mà quý anh ngợp trời khí phách.

Dòng đời quanh co, ai dơ, ai sạch,

Huynh vẫn trong ngần một khối tinh anh.

Núi càng cao, sông càng thác lũ,

Mới biết ai thất phu, ai đấng anh hùng.

Trời càng cao, càng gió to, bão dữ,

Mới biết đâu là chim sẻ, chim hồng!

Tay hào kiệt vươn ngoài vạn lý,

Thì có sá gì một nhúm biển khơi?

Ly cụng ly, rượu tràn tràn sĩ khí,

Thiếu tiếng gươm khua vang bóng một thời!

Huynh nửa miệng cười đời ngạo nghễ

Cổ lai hy còn “Chống gậy tìm tình”!

(Uống Rượu Với Lê Mai Lĩnh – Kha Tiệm Ly)

Thấy chưa! Thôi bây giờ tui xin phép trích ra đây vài đoạn thơ của ông thần sư phụ  tui: Thi sĩ Lê Mai Lĩnh – KHÙNG THI SĨ .

  1. VÀI CẢM NHẬN NGẮN VỀ THƠ VĂN LÊ MAI LĨNH

Đầu tiên có thể nói thơ của Lê Mai Lĩnh là thơ TÌNH, thơ TÌNH CHỊU CHƠI, Tuyệt đối với TÌNH. TÌNH cho EM và cũng TÌNH cho ĐẤT NƯỚC.

Nào mời các bạn theo ông thần này “Chống gậy tìm tình” chơi.

Tìm tình như thế tìm trầm

Rừng thăm thẳm, núi cheo leo

Vì tình chống gậy cố trèo

Tình ơi, tình ơi, tình ơi.

 

Tìm tính, chống gậy tìm tình

Một mai gậy mòn, gối mỏi

Ta lê, ta lết, ta bò

Tình ơi, tình ơi, tình ơi.

( Chống gậy tìm tình)

Kế tiếp xem  Ngài “lụy” Tình như thế nào.

Ta ướp Trăng với trái tim si

Rượu được cất giữa bếp tình nóng bỏng

Nàng thơ ơi, hãy nhấp chén rượu tình.

Hãy nhấp chén rượu tình, Trăng ơi ta muốn chết

Trong mắt, môi và giữa địa đàng Trăng

Ta muốn chết dưới Trăng vàng, giếng ngọt

Cỏ biếc , suối, khe, ta bất xá, gục đầu.

(Lê Mai Lĩnh : Thơ Của Thời Trăng Mật)

– Bái phục, bái phục! Thơ TÌNH của Ngài nghe quá đã.

– Ha ha! Chưa hết đâu, dâng lên cho ta thêm một ly XO nữa, ta sẽ chỉ bảo thêm!

– Vâng đây, ly XO, kính xin Ngài đón nhận và cho thêm lời vàng!

– À há, hảo tửu, nhà ngươi hãy nghe ta  phán thêm đây:

Cảm ơn em,

Người đàn bà ngủ muộn.

Nhờ em, anh chàng còn muốn gõ mõ, tụng kinh

Gõ mõ thì mỏi tay

Tụng kinh thì mỏi miệng

Anh sẽ vì em

Miệng, tay dùng vào việc khác.

Cảm ơn em,

Người đàn bà ngủ muộn

Nhờ em, anh đứng, quỳ, nằm, bò đúng đội hình hành quân

Như thời tân binh

Trong quân trường Thủ Đức.

Cũng tại em, do em và bởi vì em

Anh hít đất không thua gì thời bị huynh trưởng phạt

Khi ra nhà thăm nuôi mà không đi những bước khoan thai…

(Người Đàn Bà Ngủ Muộn -2 – Lê Mai Lĩnh)

– Đủ chưa?  Thôi bai (bye) ngươi, ta đi gõ mõ, tụng kinh,  rồi “bò đội hình hành quân”

 

***

Giỡn chơi cho vui, các bạn đừng phiền, chớ cái TÌNH của thi nhân cũng ẩn nỗi niềm trong đó. Buồn là chuyện muôn đời của nhân sinh, đâu ai tránh được? Giàu nghèo, sang hèn ai cũng có nỗi niềm riêng! Thử xem nỗi niềm của Thi nhân ra sao?

Này có BẮC KỲ không còn nhỏ

Cô dứt áo ra đi, vội vàng chi, để rơi lại vài hột nút

Thoạt dầu, ta cũng muốn giữ lại làm kỷ niệm cho một cuộc tình muộn, si và mê tơi

Để đôi lúc, kẹp giữa hai chân, tìm chút hơi ấm của người góa phụ đang độ xuân thì

Vậy, này cô BẮC KỲ không còn nhỏ

Hãy nhin thời gian, trở lại chút chút, để mang đi theo những hột nút nầy.

Đơm lên lại trên chiếc áo ngày xưa cô thường nhờ tôi giúp cô mở khuy

Những lúc tôi chậm tay, cô la tôi như mẹ la con

Nhưng tôi vui lắm, mỗi lần được cô la như mẹ la con.

(Hãy Trở Lại Nhặt Giùm Ta Mấy Hột Nút – Khùng Thi Sĩ LML)

Và đây là bài tôi tâm đắc nhất của Thi sĩ: TÌNH CHO ĐẤT NƯỚC.

Tôi mơ một ngày

Tôi trở lại Sài Gòn

Bắt tay và nói lời cảm ơn những người cầm bút

Tôi đã quen tên mà chưa gặp mặt:

Đỗ Trung Quân, Bùi Chát, Nguyễn Cung Thương, Bùi Chí Vinh

Tôi sẽ chào các bạn theo kiểu nhà binh

Dẫu ngày trước chúng ta không chung chiến hào

Chưa có dịp nổ súng vào đầu nhau

Nên nay vẫn còn làm thơ, vẫn còn uống rượu, vẫn còn chưởi thề, và ve gái

Vẫn còn phất phơ bay bướm, buớm bay.

Chúng tôi vinh danh người yêu như Nữ Hoàng, Nữ Chúa

Thượng Để chúng tôi không sợ, nhưng chúng tôi sợ những người tình

Người tình càng nhiều càng tốt

Chúng tôi không từ chối bao giờ, một ai

Em nào đến, chúng tôi đều nhận, vui vẻ cầm tay

Nhưng em nào muốn đi, chúng tôi sẵn sàng phóng thích

Thi sĩ, đàn bà, chúng tôi nương tựa vào nhau mà sống

Không có đàn bà, thi sĩ chết rập

Không có thi sĩ, đàn bà cũng thoi thóp

Như gà nuốt dây thun.

Chúng tôi là vậy, chúng tôi là những người làm thơ

Thi sĩ là công dân thế giới

Nhưng với bọn độc tài, chúng sợ chúng tôi như sợ cọp

 

Chúng có thể cầm tù hay hãm hại xác thân thi sĩ

Nhưng với trái tim, tâm hồn thi sĩ, chúng đừng hòng

Chúng tôi, thi sĩ, những người không chết

 

Chúng tôi, thi sĩ, quan toà của lịch sử

Nhốt chúng thiên thu trong mọi lời thơ

Cầm tù chúng muôn đời trong những bài thơ bất tử.

(Thi Sĩ, Đàn Bà và Nhà Độc Tài)

Còn nhiều nhiều nữa những bài thơ và văn rất tuyệt, các bạn hãy tìm đọc.

Sẵn đây Nguyên Lạc tôi xin trích ra đây một đoạn văn (theo tôi) tuyệt vời  của Thi Văn Sĩ LÊ MAI LĨNH.

[…Tôi cũng nhớ tới một tình huống khác của một người bạn tôi, nhà văn Trần Hoài Thư, trong truyện ngắn Vườn Mía, đăng trên tạp chí Dân Việt số này. Nguyên văn đoạn văn hay tình huống đó như sau: «Một ngày nọ đại đội chúng tôi rời Tam Quan trở lại đơn vị sau gần một tháng hành quân, khi về Bồng Sơn, đoàn xe ngừng để đám lính vào chợ mua sắm và những sĩ quan ghé quán cà phê bên đường. Chúng tôi cùng nhau đấu láo, đủ điều, đủ chuyện. Riêng tôi không ngừng liếc trộm bờ tay lông măng cùng đôi mày rậm đen của cô hàng nước. Bỗng nhiên một cái bóng nhỏ vụt chạy đến. Tôi nhận rõ thằng bé cỡ 11, 12 tuổi. Nó quăng vào quán trái lựu đạn. May mắn cho chúng tôi, lựu đạn đã không nổ. Tôi chụp súng chạy đuổi theo thằng bé. Nó chạy vào trong xóm. Rồi nó băng ra đồng. Nó chui vô vườn mía. Nhưng làm sao nó có thể chạy bằng tôi và làm sao nó qua mặt được con mắt của tôi. Tôi chạy tới vườn mía. Tôi làm bộ la lên: Tao biết mày ở đâu rồi. Ra tao tha, thằng nhỏ. Sau đó tôi lên đạn cách cách, nói lớn, tao đếm một đến năm, nếu mày không ra, thì đừng trách tao. Tôi la một, hai, chậm và chờ đợi. Đến tiếng thứ ba thì thằng bé xuất hiện. Nó bò ra khỏi vườn. Tôi nhìn nó. Hay tôi nhìn lại tôi. Hay tôi nhìn cái tuổi thơ tôi. Hay tôi nhìn cái tuổi thơ Việt Nam. Tôi bỏ súng xuống, mắt cay nồng. Tôi bảo thằng bé chạy đi. Lần sau tao bắt được, đừng trách tao.” Sau khi đọc xong truyện ngắn trên, tôi gọi phone cho Trần Hoài Thư.
– A lô, cho tôi gặp anh Trần Hoài Thư
– Tôi là Trần Hoài Thư đây
– Anh biết tôi là ai không ?
– Tôi biết rồi. Có gì nói đi người anh em
– Ông thật có tội với nhân dân và lịch sử
– Cái gì mà khiếp thế
– Tôi đọc xong Vườn Mía của ông rồi
– Mà sao ?
– Cái thằng nhỏ ném lựu đạn mà ông tha cho nó chạy, sau này chính là thằng Lê Đức Thọ, quậy nát trời ông địa trong Bộ Chính Trị Hà Nội và là thằng có nhiều tội lỗi nhất lịch sử.

Điều sau cùng tôi muốn nói là, việc giết thằng bé thì dễ quá, nhưng lựa chọn việc cho thằng bé chạy là một lựa chọn đầy tính nhân đạo. Chúng ta chiến đấu vì con người, thì trước nhất, chúng ta phải sống, phải hành xử, xứng đáng là một con người…]

NHÂN BẢN thay, và cũng tội tình thay những chàng LÍNH TRẺ miền Nam VNCH, những chàng”NGỤY QUÂN”! Chính vì nhân bản nên mới là “Bên Thua Cuộc”. Nhớ lời một ông tướng CS đã nói với tướng VNCH Lê Minh Đảo rằng:  ” Các anh có biết tại sao các anh thua không? Không phải vì Mỹ bỏ rơi hay gì, mà vì các anh không dám cầm súng bắn vô đồng bào, còn chúng tôi sẽ làm khi có lệnh”  (Tướng LÊ MINH ĐẢO)”  (***)

III. KẾT

CHỮ quan trọng lắm, có thể làm chết hoặc tiêu tan sự nghiệp và tài sản con người. Không nhớ vụ án MINH SỬ triều Thanh đã làm tiêu mạng biết bao Nho sĩ MINH mà Kim Dung đã viết trong phần nhập của bộ truyện Lộc Đỉnh Ký sao? Và hàng chữ “Kim loại màu vàng” mà các Ngài CS ghi khí kiểm kê vàng của người dân miền Nam để cướp lấy!

Chữ viết chắt lọc từ tiếng nói, văn và nhất là thơ là tình túy của CHỮ. Nên cẩn trọng với CHỮ. Hãy dùng nó cho CÁI ĐẸP, phục vụ nhân sinh. Đừng dùng nó làm công cụ hạ thấp người khác, phổ biến điều xấu xa, giả dối. Đừng “hòa quá nhiều nước lã vào mực.” (Modern poets mix too much water with their ink – Goethe) Nghĩa là phải lương thiện.

Qua những bài văn, bài thơ tôi đọc trong các tác phẩm và kể cả trong giao thiệp hàng ngày, tôi có thể kết luận là: Thi Văn Sĩ Lê Mai Lĩnh là MỘT NGƯỜI LƯƠNG THIỆN

Đây là câu văn “trên cả tuyệt vời”(theo NL), tôi xin đưa hai tay bái phục Ngài!

Con người có thbthua cuc mt giai đon nào đó vì nhng di trá, bo tàn, phi nhân, nhưng cui cùng, con người luôn luôn là kchiến thng”   (Lê Mai Lĩnh)

Cám ơn THI VĂN SĨ LÊ MAI LĨNH đã tặng cho đời những bông hoa đẹp !

 

Nguyên Lạc                         

Garland, TX 2017

——————————————————————————————————————

Về người bạn tôi quen .Văn, Thi Sĩ Phạm Hồng Ân

      

                                   

 

Chiều ngất lạnh thấu hồn luân lạc
Nâng chén sầu ta lại mời ta.
Lạnh.
buốt lạnh
động bao nỗi nhớ
Tháng tư nào khóc hận can qua!
(Chiều Nghiêng Chén – NL)

 

I.DUYÊN GẶP GỠ

Tính cờ một hôm vào trang Sáng Tạo, tôi đọc được một truyện tên Nét Xuân của tác giả Phạm Hồng Ân. Đọc xong, tôi vội đọc lại thêm lần nữa vì truyện hay quá, nhân bản quá! Tôi xin được tóm tắt như sau (xin tác giả cho phép) :

Một hôm, trên đường đi bộ, khi tới giao điểm giữa Harmony Grove và Hale, chúng tôi thấy dưới gốc khuynh diệp nhiều túi giấy đựng thức ăn nhơ nhớp, bên cạnh hàng chục chai bia và lon coca đã uống hết nước, nằm lăn lóc trên cỏ. Vợ tôi dừng lại, lấy chân đá vào chiếc lon, chợt reo lên.

– Ông ơi, mấy cái này mình lượm, đem về bán ve chai, có lý lắm nha! Nhất cử lưỡng tiện. Tích thiểu thành đa. Tăng thêm thu nhập gia đình, Ông không muốn sao?

Thế là mỗi buổi sáng, vợ tôi mang theo cái túi nhựa, phòng khi lượm được cái lon hay cái chai thì đựng vào đó. . Tôi quyết định tiến tới thùng rác, quyết định nhào vô khu plaza ở Valley Parkway, lùng sục tất cả các nơi chứa rác, đảo ngược mục tiêu ban đầu, lấy việc lượm ve chai là chính, còn chuyện đi bộ chỉ là phụ...

Vợ tôi thức dậy thật sớm, ra khỏi nhà trước tiếng chim kêu, mới hy vọng làm chủ được tất cả những vỏ lon chai trong các thùng rác ở plaza. Tờ mờ sáng, ngọn đèn ở parking lot chưa kịp tắt, vợ chồng tôi đã khăn gói ra đường. Con đường thênh thang, bụi sương còn mù mờ, chưa tan hẳn trong không gian đang trỗi sáng. Tôi đinh ninh, chỉ có vợ chồng tôi là người bộ hành đầu tiên trong ngày. Nhưng không, trước mặt tôi, cách khoảng vài chục thước, hai vợ chồng người Mỹ đang lêu khêu đi với một con chó to lớn. Vợ tôi buột miệng.

Ông có thấy hai người đi đằng trước không? Họ đang xách một túi nhựa lớn hơn túi của mình. Chắc họ cũng lượm ve chai?

Tôi dừng lại, cố gắng định thần, quan sát cho kỹ hơn.

– Họ đi mua thức ăn sáng về đó. Hai người này là người Mỹ, ăn mặc đàng hoàng, chẳng lẽ họ lượm ve chai?

Vợ tôi tấn công.

– Lượm ve chai, ai lượm không được? Ở đó mà phân biệt Mỹ hay không Mỹ?

….Nơi gốc khuynh diệp, dưới ánh mắt nhòa nhạt của tôi, vợ chồng người Mỹ khom lưng xuống cỏ, vừa lượm vừa bỏ vào túi lia lịa. Chỉ vài phút sau, cái túi nhựa căng lên thấy rõ, hai vợ chồng mới chịu kéo con chó bước đi. Lúc đó, bà vợ tôi vừa lò mò tới Harmony Grove. Bà đang đứng dưới gốc khuynh diệp, chấp hai tay sau đít, mặt bí xị chờ tôi đếm bước.

– Chắc đêm qua tụi trẻ nó tụ tập tại đây ăn nhậu. Tôi đoán, vỏ chai và vỏ lon nhiều lắm. Ái chà! hai vợ chồng thằng cha Mỹ “vớt” hết. Kỳ này, mình thua, trắng tay luôn.

Tôi dịu giọng.

– Hôm nay, bà ăn nói giống dân giang hồ thế ư? Của vào tay ai thì người đó hưởng. Ganh tỵ, tham lam làm gì cho thêm mệt…

Vợ tôi nóng nảy.

– Ngày mai ông phải thức cho sớm, sớm hơn bữa nay. Nhất định ra đường thật sớm. Ông cứ chậm như rùa thế này, thà dẹp tiệm, sướng hơn.

Sáng sau, chúng tôi thức sớm hơn nữa. Vợ chồng kéo nhau ra đường,ngoài đường, bóng đêm vẫn chờn vờn khắp nẻo, chưa có dấu hiệu nào chứng tỏ bình minh sắp trỗi dậy. Nhưng hỡi ôi, đằng trước vợ chồng tôi cũng là bóng dáng của đôi vợ chồng người Mỹ và con chó bẹc-giê to lớn. Họ âm thầm đi và càng lúc càng bỏ chúng tôi một khoảng cách rất xa. Vợ tôi nhìn theo, ấm ức, trút bực tức vào tôi.

– Ông cứ lề mề, chậm chạp mãi. Bữa nay vợ chồng hắn lại đi trước. Đi sau, còn cái gì nữa đâu mà lượm

Khoảng hai mươi phút sau, tôi đã thấy bóng dáng vợ chồng người Mỹ và con chó bên gốc khuynh diệp. Họ bê một túi nhựa nặng trĩu trên tay, vừa bước lên vỉa hè, ung dung đi thẳng về phía chúng tôi. Dưới ánh đèn sáng choang của đại lộ số 9, vợ tôi hậm hực ngó chăm bẳm vào túi nhựa của ông Mỹ. Trời ơi! Bên trong lớp nhựa trong vắt của túi, chúng tôi chỉ thấy vô số những tấm giấy lau miệng nhơ nhớp, những bịt ny-lon nhàu nát, những hộp đựng thức ăn bẩn thỉu cùng hàng đống những thứ linh tinh dơ dáy khác. Chúng tôi chẳng thấy hình thù của bất cứ vỏ lon hay vỏ chai nào nằm chung trong đó.

Không kềm nổi ngạc nhiên, tôi gượng cười, chào hai vợ chồng người Mỹ.

– Chào ông bà. Ông bà khỏe không?

– Cám ơn. Chúng tôi rất khỏe. Sáng nào cũng đi bộ một vòng. Vui lắm.

Vợ tôi lại ngó túi nhựa trên tay ông Mỹ, tò mò.

– Ông đựng cái chi mà lềnh kềnh trong túi vậy?

– Ồ, đó là rác ông bà ạ! Sáng nào chúng tôi cũng đi bộ, thuận tay lượm rác luôn.

Tôi ngỡ ngàng, ngó vợ tôi. Bà đang cúi mặt xuống đất như muốn lẩn tránh ánh mắt của tôi. Để che đậy nỗi xấu hổ, tôi cố dịu giọng, ca ngợi.

– Có ông bà tình nguyện lượm rác như thế này, thành phố chắc chắn sạch. Dân ở đây sẽ biết ơn, nghĩ đến ông bà.

Ông Mỹ lắc đầu.

– Đây là thói quen của chúng tôi, từ xưa tới giờ. Nó như một cái thú, một sở thích. Đâu cần ai phải ghi công hay biết ơn.

Nghe đến đó, tôi chợt bối rối, nắm tay bà vợ lôi đi một hơi, sau khi cố lịch sự chào từ giã ông bà M.

Trong lúc người ta tự nguyện, quên đi lợi ích cá nhân, đem sức lực và tinh thần cống hiến cho xã hội – thì hai vợ chồng tôi chỉ lo chuyện riêng tư. Đã vậy còn muốn tranh chấp, tị hiềm với người ta nữa.(Nét Xuân – Phạm Hồng Ân)(1)

Chính truyện ngắn đầy nhân bản này đã đánh động tâm, thúc hối tôi phải tìm hiểu anh thêm. Vào trang Facebook anh, tôi giật mình, sững sờ khi gặp bài “Đọc Kiều, ở rừng Xuyên Mộc” Biết bao kỷ niệm vui buồn dâng trào trong tôi! Xin được ghi ra đây bài này:

 Đọc Kiều, ở rừng Xuyên Mộc
(kỷ niệm 250 năm ngày sinh Nguyễn Du)

ngồi buồn mở sách Nguyễn Du
chuyền nhau đọc giữa hoang vu núi rừng
thương Kiều nước mắt rưng rưng
tội cho phận gái cùng chung kiếp sầu
thương thi hào gánh nỗi đau
tuổi thanh niên sớm lao đao cuộc đời
thương ta góc bể chân trời
chưa tang bồng đã nằm phơi bụng tù
thương người bộ tịch lù khù
bán linh hồn quỷ ngồi tu trong chùa
thương em dưới cội tình xưa
khóa tim ta bởi lá bùa sở khanh
thương hồng nhan số mong manh
mệnh sao thoát lưới trời xanh khéo bày?
thương loài ma quái sơ khai
từ trong tiền sử về đây làm người
thương non sông rách tơi bời
mảnh rơi khắp biển mảnh rời khắp nơi.
ngồi buồn ta bói Kiều chơi
thân tàn ma dại mơ đời lên mây
cám ơn giữa cõi lưu đày
ta ôm Kiều nhớ thiên tài Nguyễn Du.

Có những điều làm tôi sững sờ chú ý đến bài thơ là Xuyên Mộc,  Kiều và “cùng chung kiếp sầu”

. V Xuyên Mộc (*): vùng đất đỏ mà tôi từng biết khi đến Tiểu khu Bà Rịa, trong chiến dịch giành dân lấn đất năm 1973, và các bạn tôi, trong đó có Phạm Hồng Ân, đã kinh qua những thời gian khủng khiếp trong cái gọi là ” Trại Cải Tạo”, hay “Đại Học Máu” như thi sĩ Hà Thúc Sinh đã gọi. Tại tiểu khu Bà Rịa,tôi đã có những  kỷ niệm tuyệt vời với bạn bè những buổi sáng sớm, bên ly cà phê nóng, trên tay “Tương tư thảo”, thả hồn vào bài hát tuyệt vời:  “Xin cảm ơn thành phố có em / Xin cảm ơn một máy tóc mềm / Mai xa lắt trên đồn biên giới / Còn một chút gì để nhớ để quên”(2)

. Về Truyện Kiều: Truyện thơ tuyệt vời của Nguyễn Du chúng tôi đã nhớ nằm lòng trong  những năm Trung học thời niên thiếu (trước 1975) và đã từng rơi lệ theo nỗi truân chuyên của Thúy Kiều:

“Trải qua những cuộc bể dâu / Những điều trông thấy mà đau đớn lòng”

Vâng, những điều trông thấy thật sự rất đau đớn lòng cho các “Chàng Kiều” sau ngày “gãy súng, tan hàng”.

Kiều hả, những chìm nổi, truân chuyên “nhầm nhò gì” so với những “Chàng Kiều” thời đại chúng tôi:

– Nàng Kiều tan vỡ giấc mộng tình đầu, ngậm ngùi bán mình vào Thanh Lâu, còn kiếm được  vàng chuộc cha. “Chàng Kiều” tan vỡ giấc mộng bảo vệ và xây dựng một xã hội tự do, nhân bản; bị lừa ép vào “Thanh Lâu Cải Tạo” chẳng kiếm được gì ngoài xa cách cha mẹ, vợ con!

– Nàng Kiều ở Thanh lâu nhàn nhã, ăn no mặc ấm, nếu không nói ăn ngon mặc đẹp. Chàng Kiều “chém tre, đẵn gỗ trên ngàn”(**),  ăn đói, mặc rét; nếu không nói là trần truồng và ăn luôn cả thức ăn dính cứt (Hãy đọc các hồi ký về trại Cải Tạo nếu các bạn không tin)

– Nàng Kiều làm đĩ chỉ ô nhục về thể xác, Chàng Kiều “làm đĩ ” ô nhục cả tâm hồn! (Không dám nói những điều mình muốn nói, nói những điều mình không muốn nói, ca tụng những điều mình biết là sai trái, không phải là làm đĩ sao? Vì sợ, vì muốn bảo toàn sinh mạng, nên bắt buộc phải làm, nhưng dằn vặt không nguôi. Ai mà không vậy! ).  Đĩ thể xác và đĩ tâm hồn cái nào nhục hơn?!

Này nhé, các bạn thử đọc trích đoạn này:

“…Công việc chăn heo của bác già (cụ Tr/ tá nhà văn Thảo Trường trong trại Cải Tạo – NL chú thích) không được lâu vì bác phạm sai lầm nghiêm trọng. Một hôm vợ trại trưởng dắt một con lợn cái đến đội chăn nuôi xin heo nọc nhảy đực. Chuồng lợn có một con heo nọc rất lớn, thuộc giống tốt. Cô phó tiến sĩ bảo ông lão mở cửa chuồng cho con cái của trại trưởng phu nhơn vào. Hai người đàn bà cầm gậy đứng ngoài chuồng lùa con cái đến gần con nọc. Cũng chẳng cần phải đợi lâu, anh heo đực vốn đang sung sức lại thiếu cái lâu ngày, nó sấn sổ nhào tới gầm lên như cọp, hai chân trước chồm lên lưng lợn của trưởng trại phu nhơn khiến con cái ngã dúi dụi muốn bỏ chạy, hai người đàn bà dùng gậy ấn đầu con cái xuống bắt nó khuất phục, bà trại trưởng còn dịu dàng vỗ về con heo của mình:

– Ngoan đi con, chịu khó tí đi con.

Cô phó tiến sĩ thì thét người tù già:

– Anh vào hẳn trong chuồng phụ với con cái bắt nó phải quì xuống… chổng mông lên cho con đực nó dễ nhảy.

Nhớ đến lời căn dặn của “thằng em”, nó bảo phải chịu khó nhẫn nhục, nín thở qua sông, bác già vội vã trèo vào chuồng. Con heo nọc đang ngon trớn chợt thấy người thì nổi ghen, giận dữ kêu rống lên xông tới bác già, sợ quá người lại tháo chạy, phóng bay ra khỏi chuồng. Hú vía! Người đàn bà và cô phó tiến sĩ cười ngặt nghẽo:

– Anh thua con lợn à?

Bác già gật đầu:

– Thua! Tôi thua giống lợn!

…….

Bác già đóng cửa chuồng rồi đi xuống bếp nấu cám. Lát sau cô phó tiến sĩ xuống đưa cho bác tù già hai quả trứng gà, cô nói:

– Trứng bồi dưỡng. Anh coi “lô”, không được đi đâu nhá, tôi đi có tí việc một lát về, “ban” có tới báo cáo là tôi đi liên hệ rau lang cho lợn ở đội nông nghiệp.

Bác già báo cáo “rõ”.

Bác già thả hai quả trứng vào trong cái ca, bác chế đầy nước sôi, canh giờ cho vừa chín tròng trắng, bốc vài hạt muối, bác ăn hai trái trứng bồi dưỡng theo đúng kiến thức sách vở mà bác đã đọc xưa kia, để đạt được độ bổ béo nhất mà không có hại gì cho lá gan vốn đang rất yếu. Thiếu thốn nhiều ngày, cơ thể chứa toàn khoai sắn, vị giác lâu không được thứ gì kích thích, đưa trứng gà vào miệng, sao mà nó thơm, sao mà nó béo, sao mà nó ngậy, sao mà nó ngon? Đến thế! Cơ chứ? Hở Trời?

Công việc xong xuôi thì cán bộ về, cô đi thẳng xuống bếp:

– Anh cho lợn giống bồi dưỡng chưa?

– Báo cáo xong hết cả. Tôi phân phối cám nấu cho các chuồng như thường lệ.

– Thế còn hai quả trứng gà?

– Cám ơn cán bộ bồi dưỡng cho, tôi đã ăn…

Cô phó tiến sĩ nhảy dựng lên, hai chân cô dậm bành bạch trên nền sân đất đã quét sạch lá:

– Tôi biết ngay mà. Ra đi một lát tôi chột dạ sinh nghi, trở về không kịp, thế anh đã… nuốt vào bụng rồi à?

– Dạ, tôi tưởng cán bộ cho tôi.

Cô phó tiến sĩ nói như hét:

– Đưa anh để anh cho vào chậu cám con lợn giống, tiêu chuẩn bồi dưỡng của nó sau mỗi lần nhảy đực. Anh ăn tranh của nó là anh bóc lột nó. Các anh bóc lột nhân dân quen rồi, bây giờ lại bóc lột của lợn nữa!

Người tù binh già ngay đơ chết đứng, lắp bắp:

– Tôi tưởng cán bộ bồi dưỡng cho tôi.

Cô cán bộ lại thé thé:

– Nó nhảy, chứ anh có… làm gì đâu mà bồi dưỡng.

– Tôi… xin lỗi…

– Xin lỗi, tư sản các anh có cái trò xin lỗi, xin lỗi là xong à? Thế còn hai quả trứng? Vấn đề là hai quả trứng chứ không phải là xin lỗi.…”(Đá mục- Thảo Trường)(3)

Thấy chưa, sự ô nhục đánh đĩ của “Chàng Kiều”!

– Nàng Kiều, sau khi gặp Từ Hải, ra khỏi Thanh lâu, làm “Bà”, ân đền oán trả…cuối cùng rồi cũng đuợc tái hợp. Chàng Kiều ra khỏi “Thanh Lâu” được gì? Không phải là con người (Ngụy, không có quyền công dân), bị cô lập, nhiều khi vợ con ly tán, gia đình tan vỡ.v.v ..Ôi, biết bao cảnh sầu đời!

Cũng may nhờ “tụi Tư Bản giãy chết” đưa tay đón, nên không chết trước ngày thấy “Thiên Đường Cộng Sản”. Anh Phạm Hồng Ân là một trong những “Chàng Kiều” đã được Mỹ đón nhận cưu mang!

Bài thơ Kiều, Xuyên Mộc này, cùng truyện ngắn nhân bản trên thôi thúc tôi tìm hiểu rõ anh Phạm Hồng Ân thêm, mới vỡ lẻ tôi và anh gần như cùng quê và có nhiều điều trùng hợp.

. Về cùng chung kiếp sầu:

– Anh ở Cà Mau, tôi ở Đại Ngãi (Long Phú) rất gần nhau theo đường bờ biển. Đại Ngãi (Vàm Tấn), cũng như Cà Mau, là địa điểm nổi tiếng cho những người vượt thoát bằng đường biển. Nơi có Cù Lao Dung (dãi đất dài nổi lên giữa sông, bắt đầu từ Đại Ngãi chạy ra tận cửa biển Trần Đề, dài khoảng 20 cây số (10 – 12 miles) ngang độ 1/2 cây số ( 1/4 mile)), với “Thanh Lâu” nổi tiếng dành cho các sĩ quan “Ngụy” và những người vượt biên bị bắt. Cũng nơi này, bao người muốn vượt thoát đã bị đập đầu, chặt cổ, thây bị vùi dưới bãi bùn, do bàn tay của “chiến sĩ can cường” Công An Huyện tổ chức vượt biên giả, để lấy vàng của những người dân vô tội muốn ra đi để tìm nơi sống an lành. Đây cũng là nơi gia đình tôi “chém vè” chờ nửa đêm không trăng, lên chiếc ghe con đi sông dài khoảng 10 mét (30 ft), thả  theo giòng nước ròng trôi ra cửa biển để trốn chạy. (Nếu chạy máy, Công An biên phòng nghe tiếng động sẽ bắn xả không nương). Bảy ngày lang thang trên biển, rồi cũng tơi tả đến được đảo Bidong (Malaysia). Cũng may không đến nỗi ăn thịt người chết như những ghe đến đảo sau. Mô phật! Amen!

– Anh có người cha thân yêu đã mất, tôi cũng có người cha yêu đã mất trong ngục tù CS, qua cuộc đàn áp Tôn Giáo sau tháng 4 /1975.

– Anh có người anh Pham Hữu Nghĩa (nhà văn Hiền Giang) đã mất tích trên chiến trường Quảng Ngãi, trong những ngày cuối cùng tháng 4 /1975. Tôi có người anh, Trung úy HQ Nguyễn Văn Yên, vượt trại Cải Tạo ở Chi Lăng (Châu Đốc) mất tích tháng 01 /1976 vì không chấp nhận “Thiên Đường CS”

Đồng cảm dễ làm người gần lại với nhau. Chúng tôi đã trở thành bạn nhau.

  1. VÀI CẢM NHẬN VỀ THƠ PHẠM HỒNG ÂN

Hôm nay, tôi xin phép được ghi ra vài cảm nhận sơ sài của mình về thơ Phạm Hồng Ân.

Điều đầu tiên có thể xác định thơ anh là thơ hoài niệm, bùi ngùi nhớ về. Nhớ về gi? Quê hương với mẹ cha, anh em, với những mối tình thời trẻ… Quê hương với chiến tranh cùng với những hệ lụy của nó: Chiến Hữu, Bạn Bè, Rượu, Người Nữ…Và cuối cùng… Tù Tội, Ly Hương!

Thơ anh phản ánh chính nội tâm anh theo những thăng trầm của đời mình, của quê hương nhiễu nhương. Là nỗi cô đơn của thân phận người lưu xứ, với những đổi thay đen trắng, những buồn vui về thói đời…

Đây, chân dung tự vẽ của anh:

chân dung ta – một kẻ trôi sông
và lạc chợ từ khi thua trận
từ thuở thanh niên đã mang lận đận
mất cửa, tan nhà, vỡ mộng, bay mơ.
chân dung ta – một đứa làm thơ
lúc đi học hiền như cục bột
thơ bắt ta làm người thật tốt
lỡ yêu ai, dùng chữ để ngợi ca.
nghe theo thơ, ta hết sức thật thà
đem mộng đắp thành non thành núi
rồi có ngày mộng rơi như suối
chảy xuôi dòng ra cửa sông chơi.
ta hóa thân tên lính chọc trời
khuấy nước thách nghịch thù ngạo mạn
tánh cọc cằn nhưng vẫn còn lãng mạn
vẫn yêu thơ và cũng vẫn yêu em.

(chân dung )

 

III. THƠ PHẠM HỒNG ÂN

Trước tiên, xin cho tôi được ngõ vài lời: Tôi muốn dùng chính thơ anh để dựng lại cuộc đời của người bạn qua bao nỗi thăng trầm của cuộc thế, của quê hương buồn thảm. Đây chỉ là những cảm nhận, những đồng cảm, vì thấy hình như có cuộc đời mình trong đó, chứ không phải BÌNH THƠ,  xin các bạn hiểu cho!  Tôi không phải nhà PHÊ BÌNH và cũng không có khả năng đó.

Chúng ta bắt đầu bước vào thơ Phạm Hồng Ân. Hãy đọc bài thơ Thi Sĩ hoài niệm QUÊ HƯƠNG trong  “Tiếc Thương”:

Quê hương là điều đã mất
Là điều còn lại trong tim
Quê hương là điều rất thật
Là điều hàm súc thiêng liêng.

 

Quê hương là men rượu đắng
Cụng ly say khướt một đời
Quê hương là vành khăn trắng
Tháng tư che kín một thời.

 

Quê hương là người lính trận
Nằm đây xương cốt chưa tan
Quê hương là trang sử hận
Thiên thu thương tiếc vô vàn…

(Tiếc thương)

Anh viết về người CHA của mình trong bài thơ “Dâng hương hồn ba”. Người cha thân yêu  khoắc khoải đợi chờ đứa con trở về từ ngục tù “cải tạo”, và cuối cùng chắc chết trong vô vọng, thảm sầu, trong mong đợi con về. Khi người con về thì:

Tôi trở lại ngôi nhà xưa lặng lẽ
Nhin phù vân in bóng nước đôi bờ
Vẫn bến cũ con đò trôi quạnh quẽ
Vẫn góc trời nhàn nhạt khói bơ vơ

 

Vẫn con đường dẫn vào sân xanh cỏ
Bên hiên kia còn dăm chậu hoa tàn
Ba vĩnh viễn trở thành người thiên cổ
Bình hương tro nằm đựng xác thân tan

 

Ba để lại gốc bách tùng ngoài cổng
Cậy bao năm – tôi bao tuổi thăng trầm
Cây bao giờ cũng vươn cành hy vọng
Che đời tôi khỏi nắng dữ mưa thâm

 

Tôi trở lại ngôi nhà xưa dột nát
Bình trà thơm vỡ vụn nét hoa văn
Gốc bách tùng gục ven sân trụi lá
Dòng sông trong ô uế bụi nhân gian

(dâng hương hồn ba)

Con trở về ngôi nhà xưa dột nát
Bới tàn tro để tìm lại dư hương
Chỉ còn đây di ảnh ba nhòa nhạt
Ôi mất rồi một mái ấm yêu thương

(Trở về mái nhà xưa)

Nhà xưa dột nát, bách trụi hoa tàn, dòng sông ô uế…và buồn ơi “Bình hương tro nằm đựng xác thân tan”!

Bây giờ chúng ta hãy nghe tác giả nói về người MẸ:

Ngày xưa má dắt tôi về ngoại
Trên chuyến xe ngang mấy bến phà
Nhà ngoại lá vườn che kín mái
Đường trơn mây rắc bụi mưa qua.
Bữa cơm đạm bạc canh rau má
Mà thấy đau đau dáng ngoại còng
Ơi là rau thơm bình dị quá
Nhắc lòng tôi nghĩ tới quê hương.

Hôm nay nắng hạ trời ly xứ
Nhớ má, nấu canh rau má tươi
Ôi, lá rau người thân lữ thứ
Không làm canh ngọt vị quê tôi.

(Rau má)

Hoài niệm, bùi ngùi nhớ thương mẹ và quê hương: Rau má nơi đây cũng vẫn là rau ấy, nhưng vị sao không ngọt bằng canh rau mẹ nấu cho con!

Và đây, những lời buồn thương cho số phận chua cay của thằng EM thân mến, lâu rồi không gặp:

hằng chục năm anh không gặp mày
tưởng đời chiêu đãi kẻ hiền tài
tưởng mày đã lót tình thành tổ
nào biết giờ đây mây vẫn bay.

ôi non sông một dãy quê hương
anh đau thương đành phải tha phương
tội nghiệp mày như thân lá rụng
bám gốc mà sao lạ cội nguồn?

thương quá thằng em miền cuối Việt
dòng đời vẫn ngược chuyến trôi êm
vẫn đau giọt máu xưa oanh liệt
chảy ướt bờ môi sông núi đêm.

hằng chục năm cũng nỗi buồn này
cũng khuân quá khứ nặng lên vai
cũng nhớ thằng em môi ngậm thuốc
ngạo đời qua nét mặt chua cay.

(Gặp lại thằng em trên “phê bút”)

Thơ Phạm Hồng Ân cũng là thi ca của tình yêu. Hãy xem anh viết về những mối TÌNH:

mùa hạ cho tôi lá xanh thơ mộng
dù hiên trường thút thít cuộc chia tay
dù dáng em như một bầu rượu nóng
lãng mạn nhìn, hồn vội chợt muốn say.

 

em đứng dưới cội tình khoe áo mới
làm rụng rơi từng chiếc lá xanh xao
một chùm phượng chở thơ tôi vừa tới
ửng hồng trong tim giẫy gọi tên nhau.

(Phượng và em)

Sáu giờ chiều ta chờ em tan học
Hình thì buồn bóng thì rụng quanh đây
Ta thấy em về đường xa áo đổ
Thành phố nghiêng mưa tạt tóc bay dài.

(Lời xin lỗi những giọt nước mắt người tình)

Ối đẹp quá mối tình thời học trò, thời phượng đỏ!

thơ anh đứng bên trời mưa tầm tã
ghe em xuôi nước đổ ra sông
phù sa đó, tình anh như ngọn mạ
cắm sâu vào lòng đất, đợi đâm bông.

 

hạnh phúc là nụ hôn còn bỏ lửng
là đôi môi chưa đỏ dấu yêu thương
là đầu lưỡi tê vị tình chập chững
thèm cuồng điên mộng mị cõi thiên đường.

(Tạ ơn những mối tình)

Tình anh như ngọn mạ cắm sâu vào lòng đất… đợi đâm bông. Có ví von nào đẹp hơn?

Em về khua tiếng guốc đêm.
Dẫm trong ta triệu dấu êm tình đầu.
Chao ôi, đôi gót hồng đào.
Nghiêng nghiêng năm ngón đi vào tim ta.
Ðất nằm nhớ bước chân qua.
Nhớ con bướm lượn mù lòa đường bay.
Nhớ sao, áo lụa trang đài.
Thơm hương mật cúc, vườn ai, đầu mùa.

(Tám – Lục Bát)

“Chao ôi, đôi gót hồng đào, Nghiêng nghiêng năm ngón đi vào tim ta” Lời thơ đẹp và mượt mà biết bao nhiêu!

Nhất là những bài thơ viết về CHIẾN TRANH, về NGƯỜI LÍNH, và hệ lụy của nó đương nhiên là RƯỢU  và ĐÀN BÀ, TÌNH CHIẾN HỮU, chuyện trước sau, mất còn…phải không các bạn?

Bắt chước người xưa…quân mạc tiếu
Vui cười quên tuốt bóng chim bay
Đánh trận xong rồi về động liễu
Tìm nàng tiên dắt cõi thiên thai

(Tháng Tư Giữa Chiến Trường Long – Khốt)

Ngủ ở Hòn Thơm ta lụy mãi
Mùi khô ngai ngái vịnh Dương Đông
Có cô giáo đảo tay mềm mại
Rót rượu đưa ta đến cõi hồng

(Từ sông ra biển)

Buổi sáng buồn tình ta uống rượu
Hình như có nắng ở trên cao
Bạn bè ngồi ghế chưa đông đủ
Không lẽ mời em thế chỗ sao?

(uống rượu với duyến ở thạnh-phú-đông)

ĐÀN BÀ và RƯỢU hòa trộn nhau trong cuộc đời của LÍNH. Tửu Sắc mà (Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi / Dục ẩm tì bà mã thượng thôi / Tuý ngoạ sa trường quân mạc tiếu / Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi –  Vương Hàn)

Đêm ngửa nghiêng con sóng bạc đầu
Gõ bầu rượu hát suốt canh thâu|
Bởi em như nhạc rơi trên đảo
Làm nhói tim ta buổi tiễn nhau

 

Rượu đầy ly nhấp nửa phương trời
Một nửa chờ em uống chung môi
Độc ẩm tang bồng hề đọc ẩm
Bến cũ say mèm giấc mộng trôi

(Độc ấm trên đảo)

CHIẾN HỮU càng đậm tình thêm qua chén RƯỢU

Gặp mi giữa chiến trường Long – Khốt
Bụi bám đầy râu, lộ nụ cười
Khói súng khét hơi người, mặc kệ
Khề khà ta vội cụng ly chơi.
Tàu ủi bãi nằm im kích giặc
Gò cao rải lính phục từng khoanh
Yên chí ngồi nhìn mưa trút thác
Rượu dư ta cạn suốt đêm tàn.

(Tháng Tư Giữa Chiến Trường Long – Khốt)

Tưởng đâu mày nát biển tan sông
Hồn đã bay theo men rượu đế
Tưởng đâu mày ngã ngựa rơi cương
Chân bước một hơi xa nghìn dặm.

Mày hãy ngồi đây chơi rượu đế
Nền đất, chiếu rơm, trời sáng trăng
Không ai ca sĩ, ta hò hét
Ðời vui đâu thể thiếu âm thanh.

(Mừng bạn)

Và cũng chính RƯỢU mới có thể làm vơi đi được nỗi buồn mất mát!

Hôm nay nhận được tin mi ngã
Trên đỉnh Cô -Tô nắng chói chang
Đù má, quân thù chơi xỏ lá
Rình mi bắn lén lúc dừng quân.
Tau ở đầu sông ôm vết nhức
Ực bình toong rượu khóc hu hu

(Tháng Tư Giữa Chiến Trường Long – Khốt)

Tôi đồng ý với thi sĩ Lê Mai Lĩnh: “Một điểm giống nhau giữa thi sĩ người lính NGUYỄN BẮC SƠN và người lính thi sĩ PHẠM HỒNG ÂN: Đó là những tiếng CHƯỞI THỀ RẤT LÍNH, RẤT LÃNG MẠN, RẤT DỄ THƯƠNG. Tiếng chưởi không làm ai giận, ghét, mà nó toát ra vẽ THẬT THÀ, CHÂN CHẤT, CỤC MỊCH”:

Đù má, quân thù chơi xỏ lá
Rình mi bắn lén lúc hành quân

(Tháng Tư Giữa Chiến Trường Long – Khốt)

Chinh chiến tạm quên đi thằng bạn
Mềm môi đù má cuộc đời chơi

(Uống rượu với duyến ở thạnh-phú-đông)

Vâng, tiếng CHƯỞI THỀ của người lính miền Nam rất độc đáo, rất dễ thương và…rất nhân bản, nhân hậu! Và cũng chính vì nhân bản nên mới là “Bên Thua Cuộc”. Nhớ lời một ông tướng CS đã nói với tướng VNCH Lê Minh Đảo rằng:  “Các ông thua, một phần, bởi vì các ông không dám bắn vào nhân dân”  (4)

Ba mươi tháng tư với bao đau thương đổ ập xuống với bao tan vỡ, chia lìa, mất mát…

Tháng tư chiến trường vang dội
Bão tố mờ mịt đất trời
Ta như bèo bọt rã rời
Lạc nhau giữa dòng nước chảy
Giặc về đồng khô cỏ cháy
Mẹ nằm còi cọc trơ xương
Em đành bán phấn buôn hương
Nuôi cha rừng sâu tù rạc
Tháng tư hoa trôi bèo giạt
Gặp nhau bên rào trại giam
Một vạt nắng rớt vội vàng
Trên mắt em hoe hoe đỏ
“Ái phi” ngày xưa còn đó
Trơ vơ tấm thân đã tàn

Tháng tư như lưỡi dao sắc
Bạo tàn cắt nát tim ta…

(Nhật ký tháng tư)

Xé tờ lịch cũ, tháng tư
Dường như lòng chợt nát nhừ dấu dao
Dường như sông nước ba đào
Từ âm hư bỗng ào ào bão giông
Xé tờ lịch cũ, khóc ròng
Nổi trôi vận nước triệu dòng lệ tang
Xé tờ lịch cũ tan hoang
Tháng tư, lịch sử bàng hoàng sang trang.

(Tháng tư, xé tờ lịch cũ)

Về cảnh đày đọa lao tù thì tôi đã nói ở phần trên qua bài thơ “Đọc Kiều, ở rừng Xuyên Mộc”, tôi chỉ xin ghi thêm vài hàng thơ anh ở đây.

Sáu năm tù ứ hự
Tau thành kẻ bất tri
Hàn nhân phong vị thú
Giận đời, tiếu hi hi!

Mười năm thề bỏ rượu
Gặp bạn bỗng hóa cuồng
Rượu như dòng nước lũ
Trào dâng – lệ tuôn tuôn.

(Sáu năm rồi cố xứ)

Thơ anh cũng phản ánh nỗi cô đơn của chính anh qua thân phận người lưu xứ, với bao đổi thay đen trắng, bao buồn vui về thói đời…

Ðêm Cali nhớ Sài Thành
Rượu Sài Thành nhớ bài hành phương xa
Hành phương xa nhớ trăng tà
Ôi, thân viễn xứ còn ta nhớ người
Xin nhau một chút môi cười
Ðể đưa vui giữa cuộc đời lao đao.

(Hai-Lục bát tình)

“Xin nhau một chút môi cười, Ðể đưa vui giữa cuộc đời “…lưu lạc! Được không khi lòng người đã đổi thay vì đồng tiền, vì danh vọng?

Những Dũng, những Hoàn, những Lê, những Cửu
Mỗi đứa một phương trôi nổi như mây
Từ lúc lui quan, tau thề bỏ rượu
Bỏ rượu…mới hay tau thất lạc bây.

Nhớ thời chiến tranh gặp nhau Mộc Hóa
Tan trận về kinh bữa mắm bữa chao
Uống ngụm nước sông chợt cười khoái trá
Hút hơi thuốc “chùa” để thấy thơm râu.

Nhớ bậu sang sông bậu về bến lạ
Một đứa thất tình, cả bọn như điên
Lít đế cưa đều chửi thề tá lả
Hận kẻ bạc tình: đứa ngã đứa nghiêng.

Nhớ lát mì khô trại giam Xuyên Mộc
Nuôi vạn tù binh phá núi trồng rau
Nhân phẩm thua xa cục đường tán mốc
Thằng đói nuôi thằng lỡ vận ốm đau.

Nhớ lúc ra tù đời lăn đời lóc
Ðứa bán cà rem, đứa đạp xe ôm
Gặp nhau đói meo choàng vai bật khóc
Nắm tay nhắc thầm: giữ chút danh thơm.

Bây giờ tụi bây cửa rộng nhà cao
Quên mất một thời quá khứ thương đau
Vỗ ngực xưng danh anh hùng mã thượng
Tửu hậu trà dư thóa mạ lẫn nhau.

(Tau thất lạc bây)

“Bây giờ tụi bây cửa rộng nhà cao Quên mất một thời quá khứ thương đau” và rồi “Tửu hậu trà dư thóa mạ lẫn nhau”. Ối thói đời, Thi sĩ cô đơn là cái chắc!

Cái sự đời chẳng khác cuộc chơi
Thằng mạt rệp như tau lại khơi khơi qua Mỹ
Nhớ bạn bè tìm tri âm tri kỷ
Đốt đuốc mười năm vẫn chỉ mình ta
Tau biết bây giờ tụi bây đỏ thịt thắm da
Uống sữa riết thân hóa thành kẻ lạ
Thằng nào cũng muốn làm cha thiên hạ
Nên kéo đời tư nhục mạ lẫn nhau
Tụi bây quên năm tháng thương đau
Quên đồng đội nằm chưa yên mồ mả
Một lần nữa…ta thêm lần quỵ ngã
Giống như lần thất trận ngày xưa.

(Thất trận)

Thôi thì “Rót ly sảng khoái. Ta cười với ta”. Ta lại mời ta!

Rượu dư. Ghế trống. Ðêm dài.
Bạn vơi. Tình cạn. Ðời đầy vết đau.
Ðếm mưa. Giọt trước. Giọt sau
Ðếm ta. Chợt nhớ bạc đầu sáu mươi.
Ừ thì…Mừng tiếp cuộc chơi
Rót ly sảng khoái. Ta cười với ta.
Rượu dư. Ghế đợi bạn già
Tình ngao du
Cõi ta bà nào xa?
Ở đây. Trơ trọi mình ta
Xuân sau. Xuân trước. Vẫn là xuân ta…

(lục tuần xuân)

Và cuối cùng “thắng cuộc / thua cuộc”. Được gì?!

Thắng chỉ để làm thằng nô bộc
Còn thua thì…lạc mất quê hương.

 

III. KẾT

Để kết bài “cảm nhận” này, tôi xin được dẫn ra đây lời tâm sự của chính Thì Sĩ Phạm Hồng Ân:

“Goethe viết : ” Những thi nhân cận đại đã hòa quá nhiều nước lã vào mực.” (Modern poets mix too much water with their ink.).Tôi không đến đỗi kiêu căng đổ nước lã vào ngòi bút, làm nhợt nhạt đi nét đẹp của thi ca. Tôi làm thơ với tất cả tấm lòng, trái tim. Chữ nghĩa đẫm ướt từ máu, từ nước mắt của nỗi đau nhân thế, và của chính mình. Hãy để thơ tôi tự do, bay bổng theo ý thích ngôn ngữ

Có ai làm thơ mà không có một lần cô đơn bao giờ? Có ai lên đỉnh cao, dù đỉnh “hy vọng” hay “tuyệt vọng” mà không cảm thấy lẻ loi bao giờ? Tôi ở trạng thái đó trong thời làm thơ với bạn học, trong thời quá vãng của cuộc chiến, trong thời bị bỏ rơi, bị hành hạ nơi lao tù…

Trong “cái cô đơn” còn có “cái mạo hiểm” gắn bó. Thời Tản Đà, ông đã từng thốt “Văn chương hạ giới rẻ như bèo”. Biết vậy, gần năm mươi năm qua, tôi vẫn lì lợm nhào lộn trong thế giới văn chương rẻ rúng đó. Thê thảm hơn, THƠ là loại văn chương ít người đọc nhất, cũng không phải là một nghề mưu sinh, thế mà nó vận vào thân như mệnh số trong gần suốt một đời người. Như vậy, có phải mạo hiểm chăng? Trong “chốn hạ giới” này, TRI KỶ TRI ÂM dễ có mấy ai? Tôi cứ lì lợm nhào lộn trong thế giới chữ nghĩa của mình.

Thơ là ngôn ngữ tuyệt đỉnh của văn chương. Nó chuyên chở tình yêu. Bộc trực, hào khí. Thử thách sự thủy chung. Ngạo nghễ trong ngục tù. Nó xót đau niềm vong quốc. Dày vò kiếp tha hương, Nó tiếp cái hùng tráng thiên cổ…ngậm ngùi cho tới nghìn sau.

Tôi muốn viết về những điều này, hơn mấy chục năm qua, nhưng… khi viết lên, lại chẳng phô bày được điều gì. Thơ tôi chỉ là những mảnh vụn của sỏi đá, là giọt nước của ao tù, là tia nắng mỏng manh cuối ngày, là viên đạn lép trong nông súng đã ri, là thư ngôn ngữ bất lực của một thế hệ chịu lắm đọa đày.

Trong nỗi tột cùng thất vọng đó, may mắn thay, tôi còn ghi lại được dăm kỷ niệm ngọc ngà, vài hình ảnh vàng son đã qua…bằng một rung cảm chân thật của thi ca,

Xin bạn hãy thân tình xem tập thơ này là một thứ tiêu khiển trong giây phút nhàn nhã, tựa như bạn nhấp một chén trà hay chiêu một cóc rượu cùng bằng hữu cố trí ” (PHẠM HỒNG ÂN)

Sau cùng, xin được vài lời cùng Thi Sĩ: Thi hào Nguyễn Du trong Độc Tiểu Thanh ký có hai câu cuối:

Bất tri tam bách dư niên hậu,
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?

Chẳng hiểu rồi ba trăm năm nữa,
Thiên hạ còn ai khóc Tố Như ?(Nguyễn Ngọc Bích dịch)

Ba trăm năm sau (thiên cổ) ai là người hiểu , khóc cho Nguyễn Du.

Phạm Hồng Ăn có một thi tập “Thiên Cổ Bùi Ngùi”, thơ hoài niệm, bùi ngùi thương về chuyện xưa , chuyện quê hương của thời “dâu bể”. Ý của tác giả chắc cũng mong cho người sau này, khi đọc lại, sẽ bùi ngùi khóc thương. Khóc thương gì?

Khóc thương theo những áng thơ và… cũng khóc thương cho AI làm ra nó!

Chẳng hiểu rồi ba trăm năm nữa,
Thiên hạ còn AI khóc AI đây?

Phải không Thi Sĩ?

 

Nguyên Lạc        (4/ 2017)

—————————————————————————————————————–

Ghi chú:

(*): Xuyên Mộc là một huyện có diện tích lớn nhất tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, khoảng 642,18 km², phía đông giáp huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận; phía tây giáp huyện Châu Đức và Đất Đỏ; phía nam giáp biển Đông, phía bắc giáp huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai.(Wikipedia)

(**) Chém tre, đẵn gỗ trên ngàn

Hữu thân, hữu khổ phàn nàn cùng ai!

Miệng ăn măng trúc, măng mai