HIỆN TƯỢNG FATIMA, CỘNG SẢN, VÀ HỒI GIÁO 3

 

 

III. FATIMA VÀ HỒI GIÁO

Chủ nghĩa cộng sản cổ võ đấu tranh để tiến tới một thế giới đại đồng không còn biên giới giữa các nước, xã hội không còn giai cấp, không cần ông bà cha mẹ, không cần tôn giáo. Đó là một thế giới không tưởng. Học thuyết Hồi giáo (Muhammadism) trộn lẫn cả Do-thái giáo và Thiên Chúa giáo và giới thiệu cho thế giới ra một tôn giáo mới. Nhìn bề ngoài, đạo Hồi trông yêu chuộng hòa bình, nhưng cốt lõi là cả một đe dọa ngấm ngầm với bổn phận “thánh chiến, jihad,” dùng vũ lực và sẵn sàng hy sinh mạng sống. Một học giả Hồi nổi tiếng Ibn Khaldun (1332-1406) khẳng định, “thánh chiến” không còn là một cuộc chiến tự vệ, nhưng phải là một bổn phận thiêng liêng của tất cả các tín đồ Hồi để đạt được mục đích là Hồi hóa toàn thể nhân loại – mọi người phải quy phục Allah – qua sự thuyết phục hoặc bằng vũ lực. Nếu chủ nghĩa cộng sản phủ nhận tôn giáo thì chủ nghĩa Hồi nhìn nhận chỉ một tôn giáo Hồi duy nhất trên toàn thế giới. Vào thế kỷ trước, chủ nghĩa Phát-xít gieo đau thương cho nhân loại vì tin rằng chỉ có dòng giống Aryan duy nhất thuần chủng là đáng sống, còn những chủng tộc khác đã nhiễm bẩn, và theo luật đào thải, cần phải loại trừ. Chủ nghĩa Hồi cũng thế, các tôn giáo khác với đạo Hồi cũng cần phải bị tiêu diệt, và đó là một trong những bổn phận của tín đồ Hồi. Một khi không còn tín hữu, thì tôn giáo đó tự nhiên sẽ biến mất. Vì thế, cần tiêu diệt càng nhiều tín hữu của các tôn giáo càng tốt. Muhammad, giáo chủ Hồi, dạy bảo tín đồ, “Ta đã được lệnh Thượng đế tạo chiến tranh chống lại toàn thể nhân loại cho đến khi họ nhìn nhận rằng không có thần nào khác ngoài Allah và Muhammad là sứ giả của Thượng đế; và họ phải học thuộc kinh nguyện, và trả thuế theo luật pháp Hồi (tức là đã trở thành tín đồ Hồi). Nếu họ làm như vậy, sinh mạng và tài sản của họ sẽ được bảo vệ.” (Sahih Muslim 1:33).

Hồi giáo giống cộng sản và phát-xít ở chỗ tận dụng vũ lực để đạt được mục đích. Ở một góc nhìn nào đó, Hồi giáo nguy hiểm hơn cộng sản, vì tiềm ẩn trong chính trị là một niềm tin cực đoan của tôn giáo, dẫn đến bạo lực và xem giết người là một cách tử đạo. Bạo lực là nhân tố đặc thù của đạo Hồi cực đoan và đến đầu thế kỷ 21, cuộc “thánh chiến” của quân khủng bố gieo chết chóc gây đau thương đến tột đỉnh, và thách thức sự chịu đựng của nhân loại.

Hilaire Belloc, nhà văn kiêm sử học nổi tiếng vào đầu thế kỷ 20, nêu ra 5 dị giáo có ảnh hưởng trầm trọng và gây nguy cơ hủy diệt nền văn minh Thiên Chúa giáo. Đó là Arianism, Mohammedanism (Islam), Albigensianism, The Reformation (Thệ phản), and “The Modern Phase.” Belloc chứng minh học thuyết của Hồi giáo chỉ dựa vào Thiên Chúa giáo chính thống và biến dạng đi cho có vẻ mới lạ. Ông kết luận, Hồi giáo chỉ là dị giáo từ Thiên Chúa giáo, giống như Tin lành, Thệ phản, và Luther. Đạo Hồi bành trướng nhanh bằng chiến tranh quân sự, với tham lam chính trị của một số giáo sĩ cực đoan, và khôn khéo lợi dụng những biến động xã hội để tạo mâu thuẫn. Nếu hiểu theo đúng khảo cứu này thì chủ nghĩa Hồi giáo và chủ nghĩa cộng sản rất giống nhau ở chiến thuật, sự khích động, và bạo lực.

Sau Thế chiến I, vương quốc Ottoman ở Thổ-nhĩ-kỳ sụp đổ, vương quốc cuối cùng của đế quốc Ả-rập cáo chung, đánh dấu gần 13 thế kỷ nắm quyền lực bành trướng đạo Hồi. Trong hậu bán thế kỷ 20, thế giới bận rộn đương đầu với chủ nghĩa cộng sản và người ta nghĩ một thời quyền lực vàng son của khối Ả-rập đã qua rồi, nhưng Đức Tổng Giám mục Fulton Sheen (1895-1979) lại khuyến cáo rằng Hồi giáo sẽ trổi dậy và bành trướng trở lại rất mạnh. Tổng Giám mục Sheen là một nhà thông thái, chuyên nghiên cứu về Cộng sản và Hồi giáo. Ngài để lại một gia tài tinh thần đồ sộ cho Giáo hội gồm 66 cuốn sách biên khảo, và “The World’s First Love,” xuất bản năm 1952 rất được nhiều người biết đến; trong đó Ngài viết, “Các dị giáo khác có một khoảng thời gian phát triển mạnh mẽ, rồi rơi vào sự phân rã học thuyết khi vị giáo chủ chết, và cuối cùng tan biến như một phong trào xã hội mơ hồ. Hồi giáo, trái lại, chỉ mới là bước đầu tiên. Chưa hề có một giai đoạn nào đạo Hồi suy giảm số lượng tín đồ, hoặc tín đồ thiếu thốn lòng mộ đạo.” Lời tiên tri của Ngài vào giữa thế kỷ 20 nay đã trở thành sự thật. Đạo Hồi, đặc biệt nhóm khủng bố cực đoan, bùng nổ mạnh mẽ vào đầu thế kỷ 21.

Nếu nhân loại khốn khổ với chủ nghĩa cộng sản trong suốt thế kỷ 20 thì Hồi giáo là cơn ác mộng của nhân loại trong thế kỷ 21. Tại sao thế? Thưa vì sự tàn bạo, độc ác và dã man của nhóm người Hồi cực đoan này. Đôi khi sự dã man và tàn bạo còn rùng rợn hơn chủ nghĩa cộng sản. Trước hết, nên tìm hiểu gốc gác đạo Hồi để hiểu rõ bản chất của tôn giáo này.

  1. LỊCH SỬ VÀ SỰ PHÁT TRIỂN ĐẠO HỒI

Hồi giáo do Muhammad khai sinh vào thế kỷ VII tại bán đảo Ả-rập. Trước khi đạo Hồi được thành lập, dân chúng thờ cúng đa thần nhưng từ lúc Muhammad nổi lên như một vị tiên tri, họ chỉ còn thờ độc thần là Allah. Hiện nay bán đảo Ả-rập gồm Ả-Rập Saudi, Yemen, Bahrain, Qatar, Oman, Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất và Kuwait với khoảng 85% dân số của những nước này theo đạo Hồi.

Muhammad sinh ngày 26/4/570 Công nguyên. Do cha mẹ mất sớm nên Muhammad được ông bác Abu Talib đem về nuôi nấng và dạy dỗ. Thuở thiếu thời, Muhammad chịu ảnh hưởng Do-thái giáo và Kitô giáo nhờ theo ông bác giao tiếp buôn bán với các tín hữu của hai đạo này tại các vùng Ethiopia, Yemen, Syria, và Palestine. Muhammad nhận ra Do-thái giáo chỉ tôn thờ Yahweh (Giavê) và Kitô giáo chỉ mỗi Thiên Chúa. Ông cũng nhận thấy tục thờ đa thần của dân Ả-rập trông hỗn tạp, nên nảy ra ước muốn đem đến cho dân Ả-rập một Thượng đế duy nhất.

Theo lịch sử của đạo Hồi, năm 40 tuổi ông được thiên sứ Ga-bri-en dưới hình chim lửa truyền lệnh làm sứ giả cho Allah (Thượng đế) để rao truyền đạo Hồi. Cũng theo truyền thuyết, thiên sứ đọc cho Muhammad nghe đến thuộc lòng những lời kinh vì ông mù chữ. Ông đọc lại cho những người thân cận và cũng bắt họ học thuộc lòng. Sau khi ông chết (8/6/632), tín đồ nhớ lại và ghi chép thành quyển kinh Koran, giáo lý căn bản của đạo Hồi.

Đạo Hồi theo tiếng Ả-rập là Islam; và những người theo đạo Hồi gọi là Muslim. Các đạo sĩ hay giáo sĩ gọi là Imam. Nghĩa nguyên thủy của chữ “Islam” là “quy phục, thần phục,” (Koran 51:56). Islam được rút ra từ chữ gốc “salam” nên còn thêm một nghĩa nữa là “kiến tạo hòa bình.”

Hồi giáo chấp nhận Tân Ước của Kitô hữu và Cựu Ước của người Do Thái là công trình của Thiên Chúa. Những người theo Hồi giáo được biết đến như những người Moors, Turks và Mamluk và chỉ tin vào một Allah. Tuy vậy, Allah của đạo Hồi khác hẳn Thiên Chúa của Kitô giáo và Giavê của Do-thái giáo. Hồi giáo phủ nhận Chúa Ba Ngôi, thậm chí cho rằng tin vào Chúa Ba Ngôi là phạm thánh (Koran 4:171). “Những kẻ nào tuyên bố, ‘Allah chính là Messia, con trai của Maria’ là kẻ tà đạo.” (Koran 5:18). Đây là một Thượng đế riêng biệt của Hồi giáo, hoàn toàn khác hẳn với mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi, và học thuyết Allah trở thành trung tâm của triết lý Hồi giáo. Có lẽ vì thế mà dân Hồi luôn xem Kitô hữu, và người Do-thái là tà đạo. Qua nhiều thế kỷ, người Hồi giáo đã tham gia vào nhiều cuộc chiến tranh khốc liệt với Kitô giáo và Do Thái giáo. Kinh Koran gọi Kitô hữu và tín hữu Do Thái là Nhóm Dân của Kinh Thánh (People of the Book).

Biểu tượng của Hồi giáo là hình trăng lưỡi liềm và ngôi sao, và trở thành lá cờ Hồi phổ biến bắt đầu từ thời đế quốc Ottoman. Trăng khuyết (hay gọi là trăng thượng tuần) tượng trưng cho vầng trăng mới (Koran 2:189, 10:5, 17:12), bắt đầu một tháng âm lịch của đạo Hồi. Và ngôi sao là sự trang điểm cho thiên đàng, để xua đuổi ma quỷ, và để dẫn đường cho con người về chốn cùng đích (Koran 6:97, 67:5).

Hồi giáo, như Do thái giáo và Thiên Chúa giáo, nhìn nhận tổ phụ Áp-ra-ham, Gia-cóp, Isaắc. Tín đồ Hồi tin các tiên tri Isaiah, Gioan Tiền hô, và đặc biệt tin Đức Giêsu chỉ là tiên tri – khác với Thiên Chúa giáo tin Đức Giêsu là Con Thiên Chúa – ngang hàng với Mohammed, là sứ giả cuối cùng của nhân loại. Tập tục của Hồi giáo gần giống Do-thái giáo trong thời cựu ước (trước khi Đức Giêsu sinh ra) gồm trả thù với châm ngôn mắt đổi mắt và răng đền răng, giết bé gái sơ sinh, tục cắt da quy đầu và cắt âm vật, giết gái chửa hoang, tục ném đá tử hình công khai… các nước Hồi giáo cực đoan vẫn giữ các hủ tục này mãi đến tận bây giờ.

Năm 25 tuổi, Muhammad lấy góa phụ Khadijah đã 40 tuổi. Trong 10 năm, bà sinh cho Mohamét 6 người con, trong đó có hai người con trai: Qasim, Tayed nhưng cả hai đều chết khi còn thơ ấu, và 4 con gái: Roqayya, Um-Kulsum, Zainab, Fatima. Sau khi bà Khadija chết, Mohamét lấy thêm 11 người vợ khác, riêng Aisha chỉ mới 6 tuổi, không kể các nô tỳ chiếm được trong các cuộc giao tranh. Tuy vậy, không một ai sinh cho ông thêm một đứa con nào. Chỉ riêng bà Maryam (630-632) là tín đồ Thiên Chúa Giáo do Thống đốc Ai-cập tặng cho Mohamét làm vợ, sinh được một con trai tên là Abdullah, nhưng đứa bé chết năm 2 tuổi.

Sau khi quy tụ được một số tín đồ, Muhammad bành trướng đạo Hồi bằng cách gây chiến tranh với các bộ tộc Ả-rập chung quanh. Đây là một trong những sự kiện quan trọng nhất của lịch sử xảy ra vào đầu thế kỷ thứ bảy tại bán đảo Ả-rập. Trong vòng 200 năm, những kẻ kế vị Mohammed tiếp nối công việc bành trướng đạo Hồi, đã đánh bại và thâu tóm Iraq, Syria, Palestine, Egypt và Persia (Iran ngày nay) về một mối, tạo thành một đạo quân hùng hậu với niềm tin vào Allah mãnh liệt. Với lòng nhiệt huyết, quân Ả-rập dũng mãnh dần dần khuất phục các nước quanh vùng và bành trướng đạo Hồi đến tận Ấn độ, Mã-lai, Nam-dương, và Trung-hoa; xâm nhập Âu châu qua ngả Bắc Phi, tiến đến cửa ngõ Vienna của Áo, và cai trị bán đảo Iberia gồm Tây-ban-nha và Bồ-đào-nha trong gần 800 năm (711-1492), dẫn đến việc thành lập một trong những đế chế lớn nhất trong lịch sử nhân loại: Đế quốc Ả-rập.

 

Đế quốc Ả-rập bao gồm các giống dân Hồi như Moors từ Bắc Phi, Turks từ Thổ-nhĩ-kỳ, Mamluks từ Ai-cập. Trong suốt 13 thế kỷ (632-1923), Đế quốc Ả-rập thiết lập nhiều Vương quốc Hồi (Caliphate) tại những vùng đất xâm lăng và chiếm đoạt, bắt đầu từ năm 632 (năm Muhammad chết) và kéo dài mãi đến năm 1923 với đế chế Ottoman tại Thổ-nhĩ-kỳ. Có 6 triều đại lớn: Rashidun (632–661), Umayyad (661–750); Abbasid (750–1258), Fatimid (909–1171), Almohad (1121–1269), và Ottoman (1362–1923).

Đế quốc Ả-rập san bằng và chiếm giữ Giêrusalem trong 3 thế kỷ. Mãi đến năm 1099, Thập tự quân (Crusaders) mới đoạt lại từ tay quân Hồi, và chẳng bao lâu sau lại bị mất vào tay vị tướng Hồi lừng danh Saladin. Trong suốt nhiều thế kỷ bành trướng đạo Hồi, đạo quân Hồi gần như vô địch, chỉ khựng lại một thời gian ngắn khi đụng độ với đạo quân viễn chinh Mông cổ. Vào đầu thế kỷ 13, Thành Cát Tư Hãn thống lãnh đội quân Mông cổ xâm chiếm Vương quốc Abbasid (Iraq ngày nay). Cuộc viễn chinh kéo dài mấy mươi năm, và cuối cùng người cháu của Thành Cát Tư Hãn, Hulagu Khan đánh bại đạo quân Hồi (1258), phá hủy Baghdad (Iraq), và triều đại Abbasid sụp đổ hoàn toàn. Quân Mông tiến sâu vào Syria, vây hãm và khuất phục Damascus, tiêu diệt triều đại Ayyubid rồi thọc xuống phía nam, vó ngựa ào ạt tiến về Giêrusalem, làm cỏ Trung đông như chỗ không người. Nhưng chỉ cần 2 năm sau (1260), đạo quân Hồi (Mamluk) xuất phát từ Ai-cập phản công giết sạch 20 nghìn quân Mông cổ tại Ain Jalut (thuộc Do-thái ngày nay). Vó ngựa quân Mông cổ tung hoành từ Đông sang Tây và bách chiến bách thắng trong suốt 43 năm (1217-1260). Đây là lần thứ hai trong lịch sử giao tranh, quân Mông thảm bại. Tưởng cũng nên nhắc lại là đế quốc Nguyên-Mông nếm thất bại lần đầu tiên khi xâm chiếm lãnh thổ Đại Việt vào năm 1258 dưới thời vua Trần Thái Tông; và sau đó bị đại bại thêm 2 lần nữa dưới thời vua Trần Thánh Tông (1285) và Trần Nhân Tông (1287), dưới sự chỉ huy của vị tướng Đại Việt lừng danh Trần Hưng Đạo. Riêng lần thứ 3, hơn 500 nghìn quân Nguyên bị thảm bại nặng nề với và hơn 400 chiến thuyền bị đánh chìm trên sông Bạch Đằng.

  1. PHÂN HÓA NỘI BỘ VÀ HỒI GIÁO CỰC ĐOAN

Mặc dù đế quốc Ả-rập hùng mạnh nhưng nội bộ của Hồi giáo rạn nứt vì tranh giành quyền lực và tạo ra sự phân hóa sau khi Muhammad chết. Nhiều tín đồ Hồi Giáo ở Mecca đề cử ông Abu Bakr là một trong những cha vợ của Muhammad kế vị, nhưng một số người khác lại ủng hộ Ali là anh họ cũng là con rể của Mohammed. Kết qủa sự tranh cãi đã khiến Hồi Giáo chia làm hai phe: Sunni và Shia, và hai phe này lại còn đẻ ra nhiều nhánh khác nhau nữa. Tình trạng phân hóa trầm trọng dẫn đến sự thù hận kéo dài qua nhiều thế kỷ, và gây ra cảnh tương tàn giết hại lẫn nhau giữa các giáo phái.

Giáo hội Công giáo La mã cũng rơi vào sự phân hóa vào những thế kỷ trước. Năm 1054 đánh dấu sự phân ly giữa Giáo hội Công giáo và Chính thống giáo. Vài thế kỷ sau, chỉ vì không được phép ly dị, năm 1534 vua Henry VIII tách rời khỏi Rôma và lập ra Anh giáo. Tuy vậy, từ thế kỷ 16 đến nay, Kinh thánh và tín lý Công giáo được giải thích tường tận và rành mạch qua một hệ thống vững chắc và chặt chẽ từ trung ương là Vatican do Giáo hoàng đứng đầu nên hầu như không có các dị giáo (cult) ly khai nữa. Tin lành cũng tách ra từ Công giáo từ thế kỷ 16 nhưng lại không có người lãnh đạo từ trung ương nên mỗi người giải thích Kinh thánh theo ý của mình. Kết quả là qua hơn 4 thế kỷ, Tin lành có hơn 5000 giáo phái khác nhau, (http://www.biblicalcatholic.com/DENOMS.php).

Và kinh Koran của Hồi giáo cũng rơi vào trường hợp như Tin-lành, nghĩa là không có hệ thống chặt chẽ bắt nguồn từ trung ương nên tín lý được giải thích một cách tùy tiện, nhằm phục vụ lợi ích riêng tư của các giáo sĩ bảo thủ, ngay cả lợi ích cho một thể chế chính trị cực đoan. Hai vấn đề bàn cãi nhiều nhất là “thánh chiến, jihad” và “tà đạo, bất tín, infidel”.

Chiến tranh (al-harbu,) và được lập lại 36 lần trong kinh Koran, và “jihad” được lập lại 41 lần. Jihad thật sự không hẳn là “thánh chiến, holy war,” nhưng có nghĩa là “đấu tranh, dấn thân.” Chữ “jihad” đôi khi được hiểu là một sự chiến đấu nội tâm để vượt qua một cơn cám dỗ nào đó. Nghĩa mạnh hơn, “jihad” là đấu tranh để đạt được một mục đích nào đó. Nhưng phương tiện không nhất thiết phải là gây chiến tranh nhưng dùng bất cứ phương cách nào khả dĩ để đạt được mục đích. Nhưng các đạo sĩ Hồi cực đoan lại giải thích “jihad” là phải dùng bạo lực, khích động tín đồ gây chiến tranh bằng cách dùng gươm dáo, gài bom tự sát để giết hết những kẻ tà đạo.

Kẻ tà đạo (kuffar,) chỉ những người không chấp nhận đạo Hồi. Kinh Koran nói rất nhiều về kẻ tà đạo với lời lẽ khích động, đầy bạo lực. Đó là những kẻ thù địch với Allah, và các thiên sứ Ga-bri-en, và Mi-ca-e (Koran 2:98); những kẻ từ chối sứ điệp của Muhammad và phải đối diện với Allah (Koran 6:31); những kẻ không tin vào đời sau (Koran 16:60); kể cả những kẻ đem Muhammad và đạo Hồi ra diễu cợt (Koran 5:58). Tín đồ Hồi giáo có nhiệm vụ phải chống lại những kẻ tà đạo này, đặc biệt “nhóm dân của Kinh thánh” chỉ Do thái giáo và Thiên Chúa giáo (Koran 4:89, 2:191, 9:5).

Không soi mói, cứ dễ dãi mà đếm thì có hơn 100 câu kinh Koran kêu gọi tín đồ Hồi phải lấy danh nghĩa của Allah, dùng vũ khí để chống lại những kẻ tà đạo. Xin đan cử vài câu chất chứa đầy bạo lực sau đây:

– Hãy giết chúng bất cứ nơi nào các ngươi bắt được chúng… và tiếp tục chiến đấu cho đến khi không còn một kẻ bất tin nào và chúng chỉ tôn thờ Allah mà thôi, (Koran 2:191-193)

– Nếu chúng quay lưng đi, bất cứ nơi nào tìm ra chúng, hãy bắt chúng lại và giết phứt đi, (Koran 4:89)

– Đập vào đầu và từng đầu ngón tay của chúng, (Koran 8:12)

– …hãy giết phứt các tín đồ đa thần giáo ở bất cứ nơi nào các ngươi gặp chúng, (Koran 9:5)

– Tín đồ đạo Do-thái nói Erza là Con Thiên Chúa, còn tín đồ Thiên Chúa giáo lại nói Messia là Con Thiên Chúa. Đây chỉ là lời lẽ đầu môi chót lưỡi mà bắt chước từ những lời lẽ của bọn tà đạo. Chớ gì Allah tiêu diệt chúng, (Koran 9:30)

– Allah đã chuộc lại mạng sống và tài sản của các tín đồ; bằng cách đổi lại cho họ Thiên đàng. Họ đã chiến đấu cho Allah, bởi thế họ đã giết (địch) và bị (địch) giết, (Koran 9:111)

– Allah yêu thương những kẻ chiến đấu cho chính nghĩa của Ngài… (Koran 61:4)

Các đạo sĩ Hồi cực đoan (fundamentalist, extremist, radical, bigot, fanatic) dùng những câu này để kêu gọi thánh chiến và giết chết bất cứ ai không theo đạo Hồi. Họ xâm nhập bộ máy nhà nước, nắm quyền lãnh đạo toàn dân và nhập nhằng trộn lẫn giữa thần quyền và thế quyền để phục vụ lợi ích cho chính họ, hoặc cho một nhóm thiểu số nào đó. Thần quyền đứng trên hẳn thế quyền. Nhóm đạo sĩ này dùng tôn giáo để phục vụ cho mục đích chính trị, duy trì một chế độ toàn trị, độc tài, và sắt máu. Nhìn chung, chính quyền Hồi cực đoan và nhà nước cộng sản rất giống nhau ở thể chế chính trị và cách sử dụng phương tiện để duy trì quyền lực. Những kẻ cộng sản nhân danh “một thế giới đại đồng tương lai” để giải thích cho sự tàn bạo trong công cuộc đấu tranh giai cấp (class struggle), còn những giáo sĩ Hồi lại dùng kinh Koran để biện minh cho sự cực đoan, cuồng tín, và độc ác. Cả hai cũng giống nhau ở điểm tận dụng bạo lực để giết hại dân lành. Chính vì nhà nước Hồi dùng tôn giáo để khuynh loát và lấn át chính trị nên hầu như nền kinh tế của những nước này èo uột, chậm phát triển, gây ra tình trạng nghèo đói và dốt nát. Và đây là vòng lẩn quẩn, chính mảnh đất phì nhiêu của nghèo đói và dốt nát lại giúp cho hạt giống Hồi cực đoạn và chủ nghĩa cộng sản nẩy mầm và phát triển. Kết quả là rất nhiều thanh niên thiếu nữ ít học bị tẩy não dễ dàng và sẵn sàng hy sinh cho Allah bằng cách dùng bom tự sát.

Từ đó nhân loại hứng chịu cảnh đau thương chết chóc do nạn khủng bố lan tràn khắp nơi.

Bắt đầu từ năm 1980, các vụ khủng bố leo thang dưới hình thức tự sát. Các cuộc khủng bố tự sát được khởi đầu từ năm 1982 với nhóm khủng bố Hamas và Herbollah ở Palestine và Lebanon nhằm chống lại Do-thái. Các phần tử tự sát thường được tuyển mộ trong số các thanh niên trẻ tuổi và nghèo khổ sống vất vưởng trong các trại tỵ nạn. Các thiếu nữ khủng bố tự sát đầu tiên, được tuyển mộ trong số các người Kurk ở Thổ nhĩ kỳ, trong những năm từ 1996-1999 và tại Palestine vào năm 2002. Theo thống kê mới nhất, tính từ ngày bọn khủng bố phóng máy bay làm sập Tháp Đôi 9/11, các tổ chức Hồi giáo cực đoan đã gây ra hơn 32 nghìn vụ khủng bố trên toàn thế giới.

Có nhiều tổ chức khủng bố, Hamas tại Palestine, Taliban tại Afghan, Al Shabaab tại Somali, Boko Haram tại Nigeria, Jabhat al-Nusra tại Syria… nhưng nổi bật nhất là Al-Qaeda của Osama bin Laden từ Trung đông, và nguy hiểm nhất hiện nay là ISIS (Islamic State of Iraq and Syria) tại Syria và Iraq do Abu al-Baghdadi cầm đầu. Baghdadi từng tốt nghiệp đại học Baghdad, từng là một giáo sĩ hô hào thánh chiến từ thời Saddam Hussein. Nhóm khủng bố ISIS chủ trương lấy sự tàn bạo làm gốc, và mức độ phải khốc liệt, rùng rợn, kinh hoàng chưa từng thấy trong lịch sử nhân loại. Sau khi bin Laden bị giết, ISIS nổi bật do sự tàn bạo và phương cách khủng bố tinh vi gây chết chóc thảm khốc nên dễ dàng thu hút giới trẻ Hồi vốn bị tẩy não và chuộng bạo lực đầu quân ngày càng đông. ISIS rất nguy hiểm vì ngoài việc gieo rắc chết chóc rùng rợn khắp thế giới như Al Qaeda, các lãnh tụ ISIS thiết lập nhà nước Hồi giáo sau khi đánh chiếm được đất đai. Họ muốn khôi phục lại đế quốc Ả-rập, gồm đất đai rộng lớn và đông đảo tín đồ Hồi, một thời bá chủ miền Trung đông, khiến các sắc dân quanh vùng phải khiếp sợ. Hiện nay, ISIS giành quyền kiểm soát tại Iraq và Syria trên một diện tích rộng bằng nước Anh với dân số trên 10 triệu người.

Tính đến năm 2015, với con số 1,7 tỷ tín đồ Hồi giáo, chỉ đứng sau Thiên Chúa giáo với 2,3 tỷ, số dân Hồi nhiễm tư tưởng cực đoan ngày càng nhiều, gây không biết bao nhiêu đau thương tang tóc cho nhân loại. Bà Brigette Gabriel – nhà báo bảo thủ gốc Lebanon, nhà hoạt động chống Hồi – đưa ra một hình ảnh khủng khiếp thật xác đáng như sau.

Năm 2014, trong một cuộc họp báo, bà Gabriel trả lời câu hỏi của Saba Ahmed, một nữ sinh viên luật thuộc American University, cho rằng “đại đa số người Hồi giáo yêu chuộng hòa bình, nhưng thế giới ngày nay lại xem đạo Hồi là biểu tượng của xấu xa, của khủng bố…” Bà Gabriel nhận định, “hiện nay có 1,2 tỷ (con số này không đúng, ít nhất là 1,7 tỷ, chú thích của người viết) người Hồi giáo trên thế giới. Tất nhiên không phải tất cả 1,2 tỷ người đều là cực đoan mà ngược lại, đa số họ là những người yêu chuộng hòa bình, giống như nhận xét của cô. Theo tin tình báo của các nước lớn thì những người Hồi giáo cực đoan chỉ chiếm khoảng 15-25%. Điều đó có nghĩa khoảng 75% là những người ôn hòa. Nhưng nếu lấy tỷ lệ 15-25% của dân số Hồi giáo thì chúng ta thấy ngay có khoảng 180 đến 300 triệu kẻ cực đoan đang muốn hủy diệt nền văn minh phương Tây. Tại sao chúng ta phải lo lắng về sự cực đoan của 15-25%này? Thưa, tại vì họ giết người rất dã man. Họ chặt đầu và thảm sát thường dân vô tội hàng loạt. Bà nói thêm, “Lịch sử cho ta thấy những kẻ cực đoan nguy hiểm đến thế nào. Và chỉ cần một tỷ lệ nhỏ thôi, đủ để gây thảm họa. Hầu hết dân Đức đều chuộng hòa bình. Nhưng chỉ cần một nhóm Đức quốc xã nắm quyền là đủ đưa nước Đức và thế giới trở nên hoang tàn. Kết quả là 60 triệu người chết, gần 14 triệu người trong các trại tập trung, gồm 6 triệu người Do Thái. Như thế, hầu hết dân Đức yêu chuộng hòa bình chẳng là gì cả. Nhìn vào nước Nga, đa số dân Nga cũng chất phác, hiền hòa. Tuy nhiên, một nhóm cộng sản Nga lại giết chết 20 triệu người. Riêng Trung hoa thì thương tâm hơn. Hầu hết dân Trung hoa chỉ muốn sống hòa bình. Tuy vậy, cộng sản Trung hoa đã giết 70 triệu người. Hầu hết người Nhật trước Thế chiến II cũng hiếu hòa. Thế mà đám quân phiệt Nhật hoành hành khắp Đông Nam Á, giết chết 12 triệu người, chỉ bằng lưỡi lê và xẻng. Trên đất Hoa kỳ, vào thời điểm ngày 11 tháng 9, có 2,3 triệu người Hồi giáo Ả-rập yêu chuộng hòa bình. Nhưng chỉ cần 19 tên không tặc đủ gây thảm họa – phá hủy Tháp Đôi, tấn công Ngũ Giác Đài và giết chết gần 3.000 người Mỹ ngày hôm đó. Trong 2,3 triệu người yêu chuộng hòa bình, chỉ cần 19 người cực đoan đủ gây kinh hoàng cho cả nước Hoa kỳ. Tỷ lệ là bao nhiêu? Thưa chưa đến 2 phần trăm nghìn, chứ đừng nói 15 đến 25 phần trăm.”

Không ai quên được cảnh nhà báo James Foley bị xử trảm dã man được thâu hình trọn vẹn và đưa lên Youtube. Một cảnh kinh hoàng khác, bọn ISIS dẫn 30 người Iraq gồm đàn ông, phụ nữ, và trẻ con ra một cánh đồng gần ngôi làng bỏ hoang. Họ là những tín hữu không chịu bỏ Kitô giáo theo đạo Hồi. Một phụ nữ, không quá 40 tuổi, bị kéo đến trước ống kính. Gương mặt thất thần và đôi mắt tuyệt vọng nhìn bọn ISIS đang hò hét, “Allahu Akhbar! Allah vĩ đại!” như một bản đồng ca. Và chúng cắt đứt đầu phụ nữ này. Chúng không dùng gươm sắc, hoặc mã tấu, nhưng lại dùng một lưỡi dao ngắn cầm tay. Dĩ nhiên chúng phải cứa đi cứa lại nhiều lần đầu mới lìa khỏi cổ. Máu phun ra xối xả vì cắt phải động mạch. Một cái chết tệ hơn cái chết của con vật. Người phụ nữ chết trong đau đớn cùng cực vì không chịu cải đạo. Bọn ISIS giết “kẻ tà đạo” theo đúng lời kinh Koran, và sự khích động của đám đạo sĩ Hồi cực đoan. Nhưng dã man nhất vẫn là cảnh thiêu sống viên phi công người Jordan, Muath al-Kasasbeh. Trong một phi vụ bỏ bom tiêu diệt quân ISIS trên không phận Syria vào cuối năm 2014, al-Kasasbeh phải nhảy dù khỏi máy bay vì động cơ bị trục trặc. Muath bị bắt. Hơn tháng sau, bọn ISIS nhốt al-Kasasbeh trong cũi, tẩm xăng và thiêu sống. Dĩ nhiên, luôn luôn có tiếng hét, “Allah vĩ đại!” mỗi khi kết thúc cảnh giết người rùng rợn.

Bọn khủng bố ISIS tìm đủ mọi cách để giết hại dân lành, những kẻ chúng xem là “tà đạo.” Cách mới nhất là thuê xe tải rồi đâm vào đám đông.

– Tháng 7/2016, tại thành phố Nice, nước Pháp, Mohamed Bouhlel đâm chiếc xe vận tải nặng 19 tấn vào đám đông, giết chết 86 người,

– Tháng 12/2016, tại trung tâm thành phố Bá-linh, Anis Amri cũng đâm xe tải giết chết 12 người,

– Tháng 3/2017, tại Luân-đôn, trên cầu Westminster, Khalid Masood ủi xe vận tải hiệu Hyundai i40 giết 5 người,

– Tháng 4/2017, một tên Hồi giáo vô danh đâm xe vận tải vào tiệm Ahlens tại trung tâm thành phố Stockholm, giết ít nhất 3 người,

– Tháng 6/2017, trên cầu Luân-đôn, 3 tên khủng bố Hồi đâm xe tải vào đám đông, và dùng dao đâm khách bộ hành quanh khu chợ Borough, giết chết 8 người,

– Tháng 8/2017, tại Barcelona, Tây-ban-nha, bọn khủng bố Hồi đâm xe van vào khu chợ đêm, giết chết ít nhất 15 người,

– Và mới nhất, ngày 31/10/2017, tại khu vực Manhattan, Hoa kỳ, Sayfullo Saipov, thanh niên Uzbekistan 29 tuổi, thuê xe tải đâm vào làn xe dành cho người chạy xe đạp, giết chết 8 người.

Tại sao quân khủng bố Hồi lại xem thường cái chết, liều mình tử đạo dễ dàng đến thế? Câu trả lời đích xác là nhờ đức tin. Niềm tin luôn tăng thêm sức mạnh cho tín đồ, vượt qua những đau đớn về thân xác hoặc đau khổ về tinh thần. Khi hun đúc được một niềm tin mãnh liệt, họ sẵn sàng chết vì đạo. Nhưng không có một tôn giáo nào dạy tín đồ khi tử đạo phải giết theo thật nhiều người khác như Hồi giáo. Đã có hàng triệu tín đồ Thiên Chúa giáo đã chết vì đạo vì họ chỉ muốn giữ đức tin, chứ chưa hề mang gậy gộc hoặc gươm giáo giết người chỉ vì đức tin của người ta khác của họ. Họ đồng ý nhận cái chết để giữ trọn niềm tin, nhưng không hề giết người và xem đó là tử đạo. Nhưng niềm tin cũng chỉ là lý do phụ. Lý do chính đáng khiến quân khủng bố giết người không gớm tay chính là phần thưởng thiên đàng. Theo lời xúi dục của đám đạo sĩ cực đoan về một thiên đàng đầy vật chất hưởng thụ, quân khủng bố sẵn sàng chết và giết thật nhiều bọn “tà đạo” để về với Allah. Và đây là thiên đàng của Hồi giáo.

Hầu hết chương 55 của kinh Koran – từ câu 47 đến 79 – dùng để mô tả một thiên đàng của Hồi giáo cực kỳ nóng bỏng và quyến rũ, nơi có những vườn cây trái xum xuê ngon ngọt, tàn cây tỏa rộng, hai dòng sông nước trong vắt, đầy sữa và rượu nho. Đặc biệt thiên đàng của Hồi Giáo “…có những tiên nữ trinh trắng với đôi mắt thẹn thùng, chưa ai chạm đến thân thể, đẹp tựa hồng ngọc hay ngọc trai, nằm cấm cung trong các căn lều…” (Koran 55:47-59). Một khu vườn khác cũng đầy lạc thú: “…vườn rợp bóng cây xanh, và con suối chảy róc rách, cây kè và cây lựu nặng trĩu trái, nơi đó sẽ có những trinh nữ xinh đẹp và hiền hậu, những mỹ nhân với đôi mắt to lóng lánh, ẩn hiện bên trong lâu đài mà trước nay nhân gian chưa hề ai đụng đến, ngồi dựa lưng vào những chiếc gối mầu xanh trên những tấm thảm mỹ lệ.” (Koran 55:63-77). Không có một tôn giáo nào mô tả thiên đàng trần tục và hấp dẫn như Hồi Giáo. Thiên đàng là khu vườn đầy lạc thú vật chất, và những khoái lạc nhục dục tuyệt đỉnh với những cô gái đẹp tuyệt trần trẻ mãi không già. Người ta gọi thiên đàng của Hồi Giáo là phần thưởng của hoan lạc. Hầu hết các thanh niên Hồi Giáo bị tẩy não và trở nên cuồng tín, đều háo hức lên thiên đàng để được gần gũi với các trinh nữ. Riêng những đạo sĩ Hồi cực đoan, họ nhân con số lên gấp bội để dụ dỗ đám thanh niên Hồi: 72 trinh nữ. Những thanh niên nghèo đói và thất học dễ dàng bị tẩy não qua viễn ảnh hưởng thụ ái ân với 72 trinh nữ nên họ sẵn sàng chết, sẵn sàng tử đạo, sẵn sàng “làm việc phải” là phải giết thật nhiều những kẻ “tà đạo.” Con đường ngắn nhất để lên Thiên đàng hưởng lạc thú là sẵn sàng tử đạo qua các cuộc thánh chiến như kinh Koran đã hứa: “…họ được ân thưởng và đang sống bên cạnh Allah.” (Koran, 3:169)

Với phần thưởng thiên đàng hấp dẫn vượt quá sức tưởng tượng của con người, số thanh niên cực đoan sẵn sàng tử đạo ngày càng đông và nhân loại hầu như ngã quỵ trước mức độ sát nhân khủng khiếp của đám quân Hồi khủng bố.

Và hiện tượng Fatima như một phương cách thần thánh được Thiên Chúa xếp đặt từ thế kỷ 12 để cứu nhân loại khỏi ách khủng bố Hồi giáo ở thế kỷ 21. Đúng ra câu chuyện xảy ra vào ngày 24/6/1158, ngày mừng sinh nhật của Thánh Gioan Tiền hô. Và câu chuyện bắt đầu bằng một âm mưu bắt cóc và kết thúc bằng một cuộc tình khá lãng mạn.

  1. LÒNG SÙNG KÍNH MẸ MARIA TRONG HỒI GIÁO

Nhưng trước hết, hãy tìm hiểu vai trò và địa vị của Mẹ Maria đối với Hồi giáo. Theo kinh Koran, tên của Đức Trinh Nữ Maria (Maryam) được nhắc đến 38 lần. Không có tên của người phụ nữ nào khác được đề cập đến, ngay cả tên con gái út được yêu thương nhất của Mohammed là Fatimah. Trong số những người đàn ông, chỉ có Áp-bra-ham, Môi-sen và No-e mới được nhắc tới nhiều lần hơn Đức Mẹ. Kinh Koran miêu tả Đức Mẹ Maria là “Đồng Trinh, trọn đời Đồng Trinh.” Koran còn nhắc đến sự kiện Truyền Tin, lần Đức Mẹ đi thăm bà thánh I-sa-ve, và cảnh Đức Mẹ sinh Chúa Hài đồng trong máng cỏ. Hỡi Maria, Thiên Chúa đã chọn ngươi và rửa tội cho ngươi trở nên tinh tuyền, Ngài đã chọn và đặt ngươi lên trên tất cả các phụ nữ ở thế gian này (Koran 3:43). Niềm tin Hồi giáo về sự trinh khiết của Đức Maria ngược hẳn với tín lý Tin lành, khi họ phủ nhận sự trinh khiết trọn vẹn của Đức Maria. Đây là mối liên hệ rất đặc biệt giữa Đức Trinh Nữ Maria và người Hồi giáo. Và câu chuyện người con gái của Imran là Maria, nàng đã giữ lòng trinh bạch; Ta đã thổi hơi Thánh Linh vào đó, và nàng đã đem thân mình làm trọn lời Chúa phán trong Kinh thánh, nàng là người biết phục tùng, (Koran 66:12). Người Hồi biết cha của Đức Giêsu là Giuse, nhưng không bao giờ gọi ‘Giêsu, con của Giuse,’ mà là ‘Giêsu, con của Maria.’ Điều này trái với truyền thống Hồi, phải gọi là con của người cha, vì phụ nữ chỉ đóng vai trò thứ yếu trong xã hội. Ta đã ban cho Giêsu, con trai của Maria, những bằng chứng rõ rệt và luyện Người thêm cứng cỏi bằng Thánh linh.” (Koran 2:87). Điều này chứng tỏ Hồi giáo tin Đức Giêsu đầu thai trong cung lòng Mẹ Maria bởi phép Chúa Thánh thần, chứ không phải bởi thánh Giuse theo lối thường tình.

Linh mục dòng Tên Samir Khalil Samir, một học giả uyên bác về Hồi giáo, nhận xét: “tại Ai-cập, dọc theo lộ trình thánh Giuse dẫn Mẹ Maria và Hài đồng Giêsu trốn sang Ai-cập hơn 2000 năm trước người ta lập rất nhiều địa điểm hành hương. Hằng năm cứ đến lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời, ít nhất khoảng 1 triệu người Hồi hành hương khắp các đền kính Đức Mẹ.” Không những tại Ai-cập, mà còn tại Fatima, Harissa, Damascus, Samalut, Assiut, Zeitun và nhiều địa danh khác, hễ có bóng dáng Đức Trinh Nữ Maria xuất hiện là lập tức trở thành địa điểm hành hương liên tục của phụ nữ Hồi xuất phát từ Lebanon, Syria, Ai-cập, và Iran. Khách hành hương mong mỏi Mẹ Maria chữa lành về vật chất cũng như tinh thần. Họ cầu nguyện bột phát theo ý riêng mỗi người chứ không ê a đọc thuộc lòng các câu kinh như trong các buổi cầu nguyện theo truyền thống Hồi. Quân khủng bố Salafist luôn tìm cách tàn phá các địa điểm hành hương nhưng lòng sùng kính Đức Mẹ của dân Hồi vẫn trọn vẹn và ngày càng phát triển.

 

Không những thế, những gì liên quan đến Trinh nữ Maria đều được người Hồi giáo rất mực tôn kính, theo khảo cứu của linh mục Ladis J. Cizik, Giám đốc Đạo Binh Xanh. Ngài đan cử một vài trường hợp sau.

Đất Thánh Giêrusalem là bãi chiến trường giao tranh giữa Hồi giáo và Kitô giáo qua nhiều thế kỷ. Bằng chứng về điều này là rất nhiều nhà thờ và nhà nguyện được Giáo hội xây dựng, bị người Hồi giáo phá hủy, được Thập tự quân (Crusaders) xây dựng lại, rồi cũng bị tín đồ Hồi giáo san bằng, cứ liên tiếp như thế trong suốt lịch sử giao tranh giữa 2 tôn giáo. Tuy nhiên, có một ngoại lệ đáng chú ý: Nhà thờ Thánh Anna nằm ngay cổng Sư tử của đền thánh Giêrusalem.

Thập tự quân xây dựng nhà thờ này để tôn vinh người mẹ của Đức Trinh Nữ Maria là bà thánh Anna. Trong căn hầm của nhà thờ Thánh Anna, một bức tượng bé gái Maria được trang trọng đặt trên một khoảnh đất mà tín hữu cho là đúng căn nhà nơi Đức Mẹ sinh ra. Năm 1187, Saladin – vị tướng Hồi lừng danh từng đánh bại Thập tự quân, chiếm giữ Giêrusalem và ra lệnh san bằng tất cả các ngôi thánh đường, nhà thờ và nhà nguyện Công giáo nhưng ông chỉ giữ lại ngôi thánh đường này vì nó mang tên Anna, mẹ của Đức Trinh nữ Maria. Ông biến thành Học viện Thần học Hồi (1192) mà ngày nay vẫn còn thấy hàng chữ Ả-rập khắc trên vòm cửa thánh đường.

Ngay cái tên Guadalupe là tước hiệu Đức Mẹ dùng khi hiện ra với Juan Diego, thổ dân Aztec, tại Mễ-tây-cơ năm 1531 có một liên quan kỳ thú giữa đế quốc Tây-ban-nha và Hồi giáo. Theo truyền thuyết, thánh sử Luca có tài điêu khắc và hội họa. Ngài đẽo khắc một bức tượng Đức Mẹ bằng gỗ, một tay bồng Chúa Hài đồng, tay kia cầm vương trượng tượng trưng uy quyền của Mẹ Thiên Chúa. Cũng theo truyền thuyết, Đức Giáo hoàng Gregory Cả (590-604) làm phép và tặng cho Đức Giám mục Leander địa phận Seville. Năm 711, quân Hồi Moors từ Bắc Phi băng qua eo biển Gibraltar xâm lăng Tây-ban-nha và các giáo hữu gom góp những vật thánh đem chôn dấu ở dãy núi Estremadura, kể cả bức tượng gỗ Đức Mẹ, luôn cả chứng từ kể rõ gốc gác. Quân Moors chiếm đóng, lập vương quốc Umayyad và trị vì bán đảo Iberia (Tây-ban-nha & Bồ-đào-nha) suốt 8 thế kỷ. Thật sự, quân Hồi suy yếu dần bắt đầu từ năm 1130, và kéo dài mãi đến năm 1492 mới hoàn toàn bị đánh bật ra khỏi Tây-ban-nha. Suốt hơn 7 thế kỷ, chẳng ai biết bức tượng gỗ lưu lạc ở đâu và hầu như rơi vào quên lãng. Theo truyền thuyết, năm 1326, Gil Cordero – một kẻ chăn chiên – sục sọi vùng núi Estremadura để tìm con bò đi lạc và thị kiến Đức Mẹ hiện ra chỉ địa điểm chôn dấu. Cordero thuyết phục các chức sắc giáo hội địa phương đào xới và tìm thấy một cửa hang. Sâu trong hang động người ta tìm thấy một hòm sắt và bức tượng gỗ trong tình trạng còn nguyên vẹn, kể cả giấy tờ nói rõ lai lịch. Vua Alphonso XI xây một nhà nguyện gần hang và đặt bức tượng làm đền thờ tôn kính Mẹ Maria. Ngôi nhà nguyện và bức tượng gỗ được gọi là Guadalupe, đặt theo tên một con sông gần đó. Nghĩa nguyên thủy của Guadalupe bắt nguồn từ nhiều thế kỷ trước, khi quân Moors còn chiếm đóng Tây-ban-nha. Vua Hồi gọi con sông là Guadalupe kết hợp giữa “guada” biến thể từ chữ Ả-rập “wadi” nghĩa là con sông hoặc thung lũng; và “lupe” biến thể từ gốc La-tinh “lupus” nghĩa là chó sói. Gộp hai chữ lại, Guadalupe nghĩa là “Con Sông của Chó Sói,” mà các nhà nghiên cứu tin rằng thời đó chó sói thường xuất hiện dọc con sông nên vua Hồi mới đặt tên con sông như thế.

Cái tên Guadalupe theo các nhà truyền giáo Tây-ban-nha đến Mễ-tây-cơ, thời thổ dân Aztec. Đức Mẹ hiện ra với thổ dân Juan Diego năm 1531. Khi được hỏi tên, Mẹ thổ lộ theo thổ ngữ Nahuatl của Aztec, “te coatlaxopeuh” (phát âm: “te quatlasupe”) nghĩa là “người đạp lên đầu con rắn.” Thời đó, thổ dân Aztec thờ thần rắn nằm uốn mình trên hình trăng lưỡi liềm, với tập tục giết người bằng cách moi tim để hiến tế thần rắn trong các dịp hội hè, cầu được mùa màng, cầu thoát thiên tai (nên xem 2 cuốn phim nói về thời truyền giáo và tục giết người tế thần, The Mission và Apocalypto.) Khi Diego nói tên “te quatlasupe” cho Giám mục Zumarraga, nghe hao hao như Guadalupe ở quê nhà và ngài đặt làm tước hiệu cho sự kiện Đức Mẹ hiện ra tại Mễ-tây-cơ: Đức Mẹ Guadalupe. Thật kỳ diệu, “te quatlasupe” như một lầm lẫn được xếp đặt theo thiên ý, vì qua cái tên, Mẹ muốn thổ dân Aztec bỏ thần rắn để thờ phượng Thiên Chúa. Đồng thời hình trăng lưỡi liềm cũng là biểu tượng của Hồi giáo, nên khi đạp lên đầu con rắn và trăng lưỡi liềm, Mẹ cũng muốn dân Hồi bỏ biểu tượng của dị giáo và nhận biết Thiên Chúa như thổ dân Aztec cách đây gần 5 thế kỷ. Và cái tên tiền định Guadalupe mang gốc gác Hồi Ả-rập cũng là một điều kỳ diệu nữa qua sự xếp đặt tài tình của Thiên Chúa.

Nhưng cái tên Fatima mới là điều lạ lùng nhất.

Muhammad có 4 người con gái với bà Khadijah. Cô gái út, Fatimah (609-632) xinh đẹp nhất và được cha yêu thương nhất. Sau khi chết, Fatimah trở thành biểu tượng của phụ nữ Hồi với những đức tính như vị tha, rộng lượng, kiên nhẫn, yêu thương chồng con. Muhammad có lần nói, “Fatimah là người được chúc phúc nhất trong tất cả phụ nữ ở thiên đàng, chỉ sau Maria.” Mộ của Fatimah nay thuộc thành phố Qum, Iran là thánh địa quan trọng của hệ phái Shia. Và Fatimah là tên được ưa chuộng nhất đặt cho các bé gái trong thế giới Hồi giáo.

Và cái tên Fatimah lưu lạc đến Bồ-đào-nha. Đó là tên của một ngôi làng nhỏ nằm trên thảo nguyên Cova de Iria, nơi Đức Mẹ hiện ra năm 1917 với tước hiệu Đức Mẹ Mân Côi, hay còn gọi là Đức Mẹ Fatima.

Giấc mơ của José Saramago – nhà văn Bồ, đoạt giải Nobel Văn chương 1998 – là ngao du khắp đất Bồ để viết lại lịch sử của quê hương dưới một góc cạnh mới lạ như kể chuyện hơn là những bài học từ chương. Saramago vượt núi, băng rừng, sải bước qua những đồng bằng và góp nhặt những chuyện kể trong dân gian từ lúc đế quốc La mã tiến quân vào vùng bán đảo Iberia cho đến thời cận đại. Ông bắt đầu khăn gói lên đường năm 1979, rồi bỏ ròng rã hơn 6 tháng viết và xuất bản cuốn, “In Pursuit of Portugal’s History and Culture” năm 1981. Trong đó, ông kể lại một câu chuyện tình rất thú vị.

Tariq ibn Ziyad thống lãnh quân Hồi Moors từ Bắc Phi tràn sang bán đảo Iberia và đặt nền móng cai trị vùng đất này suốt 8 thế kỷ (711-1492). Tuy vậy, người Hồi ở Tây-ban-nha và Bồ-đào-nha chung sống hòa bình với Kitô hữu, và người Do-thái tạo thành một nền văn minh khá đặc sắc, kết hợp hài hòa giữa 3 tôn giáo. Vương quốc Umayyad cho phép mọi người tự do giữ đạo theo niềm tin miễn đóng thuế đầy đủ cho vua Hồi. Tuy vậy, sau vài thế kỷ giáo dân Kitô tổ chức thành từng nhóm nhỏ để đánh đuổi quân Moors, bắt đầu thời kỳ Reconquista; nghĩa là “tái chiếm,” chiếm lại đất đai đã mất vào tay quân Hồi từ thế kỷ 8. Kể từ thế kỷ 12, vương quốc Hồi bắt đầu suy yếu và dân Bồ dần dần đẩy lui quân Moors ra khỏi đất nước.

Ngày 24/6/1158, đúng vào ngày sinh nhật của thánh Gioan Tiền hô, một nhóm hiệp sĩ Kitô dẫn đầu bởi Don Gonçalo Hermigues – một chàng trai khôi ngô và khỏe mạnh –  thình lình tập kích đám quân Hồi tại Alcácer do Sal, một thành phố miền nam, và bắt cóc cô con gái của một hoàng thân Hồi có thế lực. Trên đường rút lui, nét duyên dáng và sắc đẹp của cô công chúa Hồi khiến chàng hiệp sĩ ngây ngất. Trong nhiều ngày chèo thuyền rong ruổi trên sông Sado về Santarem diện kiến vua Bồ, cô gái bị tiếng sét ái tình và cũng đem lòng yêu Gonçalo Hermigues. Trước bệ rồng vua Alphonso Henriques, chàng xin cưới cô công chúa Hồi. Nhà vua đồng ý với 2 điều kiện, (1) cô gái phải đồng ý lấy Gonçalo, và (2) cô gái chịu rửa tội trở thành Kitô hữu. Vì yêu, cô gái chấp nhận cả 2 điều kiện.

Cô công chúa Hồi tên là Fátima. Trùng với tên cô gái út xinh đẹp của giáo chủ Muhammad.

Quà cưới của nhà vua ban cho đôi trẻ là ngôi làng Abdegas. Tên rửa tội của nàng là Oureana. Người ta quên tên nàng là Fatima nhưng gọi là Oureana, vì theo truyền thống tên rửa tội cũng là tên gọi. Lâu dần ngôi làng Abdegas biến đổi thành Ourém, biến dạng từ Oureana, lấy theo tên rửa tội của cô gái Hồi, và tồn tại mãi đến ngày nay. Nhưng duyên phận chẳng bền, vì chẳng bao lâu sau Oureana chết yểu. Chẳng ai nói nàng chết vì bệnh hay bị tai nạn. Người ta chỉ biết nàng chết rất trẻ, khi tình yêu vợ chồng còn nồng cháy. Quá đau khổ, Gonçalo xin vào dòng khổ tu Xitô, và dời mộ của nàng đem về chôn ở ngọn đồi gần tu viện, cách Oureana khoảng 11km. Gonçalo cho xây một nhà nguyện nhỏ để tưởng niệm và đặt tên là Fatima, tên cúng cơm gốc Hồi của nàng. Lâu dần, dân chúng tụ tập thành làng xóm quanh ngọn đồi sinh sống. Lịch sử ghi lại, người ta gọi ngôi làng này là Fatima từ năm 1188 và cái tên tồn tại mãi đến bây giờ. Ourém bắt đầu bằng một chuyện tình diễm lệ, và Fatima kết thúc cuộc tình qua cái chết của cô công chúa Hồi.

Nhưng Fatima lại hồi sinh vì Đức Mẹ đã chọn vùng đất Fatima để hiện ra và rao truyền sứ điệp vào năm 1917, sau hơn 7 thế kỷ cái tên nằm yên trong lịch sử.

Câu chuyện tình nồng nàn của chàng hiệp sĩ Gonçalo Hermigues và nàng công chúa Fátima được ghi lại qua nhiều khảo cứu văn hóa Bồ. Một chuyện tình đẹp như cổ tích, nhuốm ngang trái vì sự thù nghịch giữa hai sắc tộc, vì sự khác biệt tôn giáo. Tình yêu, một lần nữa, thật kỳ diệu. Nó vượt qua mọi chướng ngại thường tình để Fatima được rửa tội làm con Chúa, để chuyện tình lãng mạn lưu truyền mãi ngàn sau. Câu chuyện tình được viết thành văn xuôi, được soạn thành vở kịch và lưu truyền rộng rãi trong dân gian. Chính tình yêu trái ngang làm câu chuyện trở nên sống động, và bất tử. Thân xác của Gonçalo và Fatima đã tan thành cát bụi từ lâu, nhưng hình như tuổi đời của họ dừng lại ở thời điểm năm 1158, vì người ta chỉ nhớ đến cặp vợ chồng trẻ đang ngụp lặn trong hạnh phúc bỗng chia lìa vì Fatima chết sớm. Tình yêu của Mẹ Maria đối với nhân loại còn mãnh liệt hơn tình yêu của chàng hiệp sĩ và cô công chúa, nên Mẹ đã chọn Fatima, vùng đất mang tên Hồi. Sự chọn lựa vùng đất Fatima không phải ngẫu nhiên, nhưng là thiên ý đã được xếp đặt từ nhiều thế kỷ trước, mở cho nhân loại một lối thoát thần thánh. Khi chọn Fatima để hiện ra, Mẹ muốn nhắn gửi với nhân loại về 2 hiểm họa: Cộng sản và Hồi giáo. Lời hứa của Mẹ, “cuối cùng Trái Tim Mẹ sẽ thắng,” giúp chúng ta tin tưởng một ngày nào đó, qua Mẹ, dân Hồi sẽ cải đạo để trở thành Kitô hữu.

Thoạt nhìn, tín đồ Hồi cải đạo gần như là một điều không tưởng vì tín đồ Hồi đặt niềm tin mãnh liệt vào Allah, hầu như không hề suy suyển theo thời gian. Dưới nhãn quan của một tín đồ Hồi, chối bỏ Allah để cải đạo cũng giống như một giáo dân Công giáo bỏ đạo theo Do-thái giáo. Nhiều thế kỷ trước, nỗ lực truyền giáo của hai thánh Phanxicô Assisi và Y-nhã Loyola nhằm cảm hóa dân Hồi xem như thất bại. Riêng Đức Tổng Giám mục Sheen lại có một cái nhìn khác. Ngài tiên đoán vai trò quan trọng của Mẹ Maria trong việc cảm hóa tín đồ Hồi giáo. Qua sự tôn kính Mẹ Maria, tín dồ Hồi sẽ nhận biết Thiên Chúa. Ngài tin chắc rằng một ngày nào đó, Hồi giáo sẽ cải đạo, không phải do lối truyền giáo cố hữu là trực tiếp giới thiệu giáo lý Công giáo nhưng bằng cách mời gọi tín đồ Hồi đến với Mẹ Maria. Đặc biệt đối với hiện tượng Mẹ Fatima, ngài nói, “…điều này dẫn đến điểm thứ hai, đó là lý do tại sao Mẹ Maria, trong thế kỷ hai mươi này, đã tự mạc khải mình trong một ngôi làng nhỏ bé tại Fatima, để cho tất cả các thế hệ tương lai gọi là “Đức Mẹ Fatima”. Đây phải là một sự sắp xếp khéo léo của thiên ý, vì tôi tin rằng Đức Trinh Nữ chọn tên gọi “Đức Mẹ Fatima” như một lời cam kết và là dấu hiệu hy vọng cho người Hồi giáo, và như một sự bảo đảm rằng họ, những người rất tôn sùng Mẹ, một ngày nào đó sẽ chấp nhận Đức Giêsu, Con của Mẹ Maria.”

Cần nói thêm là Đức Tổng Giám mục Fulton Sheen được Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI phong lên Bậc Đáng kính vào ngày 28/6/2012, và một tiến trình phong thánh đang được tiến hành. Một cáo thỉnh viên (postulator) của ủy ban phong thánh, linh mục Andrew Apostoli nhận xét, “Đức Tổng Giám mục Sheen …nhìn thấy ý nghĩa đặc biệt về sự chọn lựa của Đức Mẹ khi hiện ra tại Fatima. Mẹ từ trời xuống đến với nhân loại tại một vùng quê mang tên Hồi không chỉ giúp nước Nga trở lại mà thôi nhưng sẽ giúp tín đồ đạo Hồi biết đến Đức Giêsu, Con Thiên Chúa và là Con Mẹ… trừ phi hàng trăm triệu tín đồ Hồi trở lại, thế giới sẽ chẳng bao giờ có hòa bình.”

Với quân khủng bố cực đoan ngày càng đông, sẵn sàng tử đạo để nhận phần thưởng thiên đàng, thế giới sẽ còn khốn đốn và con người sẽ phải chịu nhiều đau khổ như đã từng chịu trong thế kỷ 20 dưới ách cộng sản. Một lần nữa, lời nhắn nhủ của Đức Trinh Nữ Maria tại Fatima với các Kitô hữu phải luôn cầu nguyện cho hòa bình thế giới càng mang một ý nghĩa bức thiết hơn bao giờ. Trong thời đại khi bạo lực thường xuyên xảy ra dưới danh nghĩa Allah, chúng ta nên chạy đến với Mẹ Fátima. Vẫn tiếp tục tìm kiếm và xây dựng hòa bình nhưng nhờ Mẹ làm cây cầu thân thiện nối liền người Hồi giáo và Kitô hữu, và cũng cầu xin Mẹ chấm dứt hận thù – mối hận thù tưởng tượng do bọn Hồi cực đoan tạo ra –  đã gây quá nhiều đau thương cho nhân loại.

Viễn ảnh tươi sáng của một cuộc đối thoại thiêng liêng – qua Mẹ Maria – giữa Kitô hữu và người Hồi giáo mang lại nhiều hy vọng hơn là một cuộc đối thoại về văn hoá, thần học hoặc chính trị. Nhờ Mẹ Fatima, và qua Mẹ Fatima chúng ta có quyền hy vọng ngày đó sẽ đến, mang lại một nền hòa bình đích thực cho thế giới, một thế giới hết hận thù, mọi người sống bình đẳng, và được hưởng tự do trong tình yêu thương của Thiên Chúa.

  1. NIỀM HY VỌNG QUA HIỆN TƯỢNG FATIMA

Chủ nghĩa vô thần làm mưa gió suốt thế kỷ 20. Marx cổ võ một xã hội không cần tôn giáo, một cuộc sống không cần Thiên Chúa. Chủ nghĩa cộng sản lấy vô thần làm chính sách và áp đặt lên người dân buộc phải chối đạo. Với chính sách vô thần, cộng sản chủ trương tiêu diệt tất cả mọi tôn giáo, nhưng cộng sản ghét nhất Thiên Chúa giáo, và luôn đặt Thiên Chúa giáo là mục tiêu hủy diệt lên hàng đầu. Họ bắt bớ, trù dập giáo dân tàn nhẫn. Hồi giáo cũng thế, tín đồ Hồi ghét nhất Thiên Chúa giáo, với tên gọi “Nhóm Dân của Thánh Kinh.” Suốt thế kỷ 20 và kéo dài mãi đến bây giờ, trong chế độ cộng sản và chế độ cộng sản biến thái, giáo dân Thiên Chúa giáo, đặc biệt Công giáo, bị bách hại nặng nề. Giáo hội Công giáo đã trở thành giáo hội thầm lặng để sinh tồn, và giữ vững niềm tin qua suốt bao nhiêu năm. Tại các nước Hồi giáo, giáo dân Công giáo cũng bị hành hạ dã man. Từ đầu thế kỷ 21, tín đồ Hồi cực đoan giết hại “Nhóm Dân của Thánh Kinh” công khai, bằng mọi cách ghê tởm nhất, rùng rợn nhất, gây nỗi khiếp sợ lan rộng khắp nơi. Cả hai chủ nghĩa – cộng sản và Hồi giáo – đều xem Thiên Chúa giáo là kẻ thù nguy hiểm nhất và cần phải bị khống chế và tiêu diệt bằng bất cứ giá nào.

Open Doors là một hiệp hội vô vụ lợi được thành lập năm 1955 nhằm lên tiếng bênh vực và bảo vệ giáo dân Thiên Chúa giáo bị bách hại khắp nơi trên thế giới. Hằng năm, sau khi theo dõi và điều tra, hội đưa ra một danh sách – gọi là World Watch List – gồm các nước đàn áp tôn giáo và bách hại giáo dân. Năm 2017, 20 nước đứng đầu danh sách đen gồm có: Bắc Hàn, Somalia, Afghan, Pakistan, Sudan, Syria, Iraq, Iran, Yemen, Eritrea, Libya, Nigeria, Maldives, Saudi Arabia, Ấn-độ, Uzbekistan, Vietnam, Kenya, Turkmenistan, Qatar. ( https://www.opendoorsusa.org/christian-persecution/world-watch-list/ ). Trừ Bắc Hàn là một nước cộng sản chính thống, Việtnam là một nước cộng sản biến dạng, và Ấn-độ là một nước dân chủ, còn lại 17 nước kia là Hồi giáo.

Việc thánh hiến dâng nước Nga lên cho Mẹ Maria được hoàn tất năm 1984 và chủ nghĩa cộng sản chính thức cáo chung năm 1991 nhưng trên thực tế chủ thuyết vô thần vẫn còn hoành hành dưới những hình thức tinh tế hơn, khôn khéo hơn. Những quốc gia còn duy trì chủ nghĩa cộng sản như Bắc Hàn và Cuba với chính sách tiêu diệt tôn giáo cố hữu là điều dễ hiểu nhưng các nước áp dụng một loại chủ nghĩa cộng sản biến dạng để duy trì chế độ độc tài đảng trị như Trung hoa, Việt Nam, Lào thì sự bách hại các giáo dân vẫn còn, và thường ở mức độ tàn bạo hơn trước đây. Nhưng điều đáng sợ nhất là giáo dân Thiên Chúa giáo bị bách hại dã man hầu hết tại các nước Hồi giáo.

Với con số 2.2 triệu giáo dân Thiên Chúa giáo trên toàn thế giới, trung bình khoảng 200 triệu người bị đàn áp và bách hại, xảy ra dưới nhiều hình thức khác nhau. Từ mạ lỵ đến thái độ thù địch, dẫn đến hành động bạo lực. Những giáo dân tại các vùng bị cấm ngặt tự do tôn giáo trong những nước nêu trên phải trả một giá rất đắt cho niềm tin của họ. Ngoài việc tổn thương tâm lý vì bị sỉ nhục và nguyền rủa, họ bị đánh đập, hành hạ, bắt cóc, bỏ tù, cô lập, hãm hiếp, trừng phạt thể lý nặng nề, nô lệ, kỳ thị giáo dục và viêc làm, ngay cả bị nguy hiểm đến tính mạng, và thậm chí bị giết âm thầm hay công khai. Đó là những đau khổ họ phải chịu đựng mỗi ngày. Vì niềm tin.

Giáo dân Công giáo bị đối xử ngược đãi nhất, và bị bách hại nặng nề nhất. Nếu thế gian ghét anh em, anh em hãy biết rằng nó đã ghét Thầy trước… Nếu họ đã bắt bớ Thầy, họ cũng sẽ bắt bớ anh em (Gn 15:18-20). Vì danh Thầy, anh em sẽ bị mọi người thù ghét (Mt 10:22). Họ là nạn nhân của cả hai chủ nghĩa vô thần cộng sản và Hồi giáo cực đoan. Theo National Catholic Reporter, con số giáo dân Công giáo tử đạo chỉ trong hai thế kỷ 20 và 21 tính ra cao hơn số giáo dân tử đạo của 19 thế kỷ trước gộp lại. Chúng ta đang sống trong thời đại tử đạo.

Rất nhiều người tin rằng mặc dù chủ nghĩa cộng sản đã chết nhưng chủ thuyết vô thần đã lan rộng khắp thế giới chỉ vì việc dâng hiến nước Nga cho Đức Mẹ xảy ra quá chậm. Mãi đến năm 1984 mới hoàn tất thì đã quá muộn. Nước Nga đã gieo rắc chủ thuyết vô thần lầm lạc trong hơn 70 năm, và nó len lỏi vào các nước tiên tiến, kể cả các quốc gia lấy tôn giáo làm nền tảng. Chủ thuyết vô thần đã ghim vào đầu óc của các nhà trí thức, những học giả, kể cả những Kitô hữu cấp tiến (liberal Christian). Những Kitô hữu cấp tiến lược bỏ những tín lý, và lề luật mà họ cho là bất tiện trong đời sống, chỉ giữ lại những gì hợp với “lương tâm” của họ. Những kẻ này không những phủ nhận hầu hết những điểm cốt lõi trong kinh Tin Kính mà còn hết lòng nhìn nhận sự gian dâm, phá thai, và hôn nhân đồng tính. Họ là Kitô hữu nhưng suy nghĩ và hành động như một kẻ phi Kitô. Với lối sống theo “lương tâm” cấp tiến, họ sẽ dần dần chối bỏ Thiên Chúa và cổ võ chủ nghĩa vô thần. Từ “cấp tiến” đến “vô thần” chỉ là một bước ngắn, theo Giáo sư Xã hội & Triết học David Carlin. Satan sau bao nhiêu năm đánh phá Giáo hội từ ngoài vào trong không mấy thành công, và nó đã đổi chiến lược đánh từ trong ra ngoài nhờ sự trợ lực của những Kitô hữu cấp tiến này. Giữa “thù trong” và “giặc ngoài”, giữa nội thù và ngoại xâm, lịch sử đã chứng minh nội thù nguy hiểm hơn nhiều. Satan – chủ nghĩa vô thần – hiện là một hấp lực khó cưỡng đối với những kẻ hữu thần cấp tiến.

Một số nhân vật quan trọng khác lại cho rằng việc dâng hiến nước Nga chưa thật sự hoàn tất, vì “chính sách Đông phương” của Tòa thánh, không dám gọi đích danh nước Nga. Ngay cả lần dâng hiến với sự hiệp thông của các Giám mục trên toàn thế giới, Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II cũng chỉ nói chung chung, “đặc biệt những kẻ đang ở trong tình trạng khiến Mẹ động lòng thương xót.” Chị Lucia, năm 2001, nói riêng với Đức Tổng giám mục Tarcisio Bertone, bộ trưởng Tín lý và Đức tin, rằng lần Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II dâng hiến năm 1984 “đã được Thiên Chúa chấp nhận.” Tuy được “chấp nhận,” rất nhiều người tin rằng chưa thật sự “hoàn tất” theo đúng ý muốn của Mẹ Fatima. Một trong những người cho rằng việc thánh hiến chưa hoàn tất là linh mục Gabriele Amorth, người được Tòa thánh ban cho quyền trừ quỷ tại Rôma. Ngài có mặt tại Quảng trường Thánh Phêrô vào ngày thánh hiến 25/3/1984, và nhận xét: “Đức Thánh cha rất muốn thánh hiến nước Nga cho Mẹ nhưng các Giám mục lại không muốn, sợ làm phật lòng giáo hội Chính thống.” Tiến sĩ Roberto de Mattei, giáo sư chuyên về lịch sử Công giáo, đi xa hơn khi nhận định, “sự lầm lạc của chủ nghĩa cộng sản không những đã lan rộng khắp thế giới, mà còn xâm nhập vào đền thờ của Thiên Chúa, như luồng hơi độc của Satan đang muốn bóp nghẽn hơi thở Nhiệm thể của Đức Kitô.” Theo ông, chỉ vì việc thánh hiến của Đức Gioan Phaolô II vào tháng 3/1984, và của Đức Bênêdictô XVI vào tháng 5/2010 chưa được thực hiện hoàn hảo. Mới đây, ngày 13/5/2017, Hồng y Paul Josef Cordes, nguyên Chủ Tịch Hội Đồng ‘Cor Unum’ của Tòa Thánh, xác nhận việc thánh hiến của Đức Gioan Phaolô II chịu áp lực của Bộ Ngoại giao Vatican không nên kêu đích danh nước Nga, e rằng có thể sẽ dẫn đến một xung đột chính trị.

Ngoài ra, nếu hiểu lời hứa của Mẹ, “nước Nga sẽ trở lại và thế giới sẽ có hòa bình,” theo đúng nghĩa của nó thì nước Nga chưa thật sự trở lại cho dù chủ nghĩa cộng sản đã sụp đổ. Sự trở lại phải là một sự thay đổi tâm linh nghiêm trọng và phù hợp với đức tin Công giáo. Thật ra, từ ngày chế độ cộng sản sụp đổ, một nếp sống phi Kitô đang hoành hành tại nước Nga. Tính đến năm 2000, mười bốn năm sau khi được thánh hiến, tỷ lệ ly dị không kém gì Hoa kỳ, và khoảng 3.5 triệu vụ phá thai được ghi nhận (qua số liệu của chính phủ Nga) mỗi năm. Số liệu năm 2013 thì càng tệ hại hơn, cứ 10 lần sinh (live births) thì có đến 13 vụ phá thai. Một tỷ lệ rợn người, cao nhất thế giới. Riêng tỷ lệ ly dị khiến mọi người vô cùng kinh ngạc. Chỉ riêng trong 5 tháng đầu năm 2017, cứ 1000 cặp ghi danh kết hôn thì có đến 829 vụ ly dị. Năm 2016 tệ hơn, 895 vụ ly dị.

Và thế giới thật sự chưa hề có hòa bình như lời Mẹ hứa. Cuộc tàn sát chủng tộc tại Kosovo, Somalia khiến nhân loại rùng mình. Bọn khủng bố tấn công Tháp Đôi vào tháng 9/2001, dẫn đến cuộc chiến Afghan và Iraq. Rồi cuộc chiến giữa Nga và Georgia, đến nỗi Tiến sĩ Ivan Eland thuộc Học viện Độc lập (Independent Institution) phải kết luận, “Chiến tranh Lạnh chưa hề chấm dứt.” Sự sáp nhập Crimea vào Nga mới đây (2014) dẫn đến ra sự trừng phạt kinh tế, gây xao động trong vùng. Bắc Hàn có anh tổng thống trẻ măng, đang hăm dọa thế giới về chiến tranh hạt nhân. Tổng thống Putin muốn nắm quyền lãnh đạo thêm mấy nhiệm kỳ nữa, lăm le tái lập hệ thống độc tài toàn trị như thời cộng sản. Bọn cực đoan ISIS điên cuồng hơn bao giờ, giết kẻ “tà đạo” không gớm tay. Các giáo dân Thiên Chúa giáo vẫn chịu đau khổ mỗi ngày chỉ vì niềm tin.

Cả một thế giới biến động, không yên.

Và hiện tượng Fatima sau 100 năm vẫn còn là tiếng chuông vang khẩn cấp gửi đến nhân loại. Sứ điệp của Mẹ xem ra vẫn bức thiết hơn bao giờ. Sự lầm lạc mà nước Nga gieo rắc trong suốt ¾ thế kỷ đã len lỏi và thấm sâu vào nếp suy nghĩ của rất nhiều người. Việc đền tạ và tôn kính Mẹ nên chuyên cần mỗi ngày, mỗi tuần.

Giám mục Athanasius Schneider, nước Kazakhstan, trong một cuộc phỏng vấn với trang nhà Rorate Caeli, xin mọi giáo dân “cầu nguyện để Đức Giáo hoàng thánh hiến nước Nga cho Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ Maria một lần nữa, để Mẹ sẽ thắng, như Giáo hội hằng cầu nguyện từ xưa, ‘Hỡi Trinh Nữ Maria, hãy vui mừng lên, vì chỉ một mình Mẹ đã hủy diệt tất cả các dị giáo trên toàn thế giới.’ “ Tháng 5/2017 vừa qua, Hồng y Raymond Burke khẩn thiết kêu gọi nên thực hiện việc thánh hiến nước Nga cho Mẹ Maria, như lời Mẹ yêu cầu 100 năm trước. Ngài lập lại những phương cách cố hữu như Mẹ Fatima vẫn hằng kêu gọi: (1) lần hạt Mân Côi mỗi ngày, (2) treo áo Đức Bà, (3) hy sinh, hãm mình đền cho mình và cho các tội nhân, (4) giữ ngày thứ Bảy đầu tháng, (5) tận hiến đời sống nhiều hơn cho Đức Kitô, và (6) yêu cầu Đức Thánh cha, với sự hiệp thông với toàn thể Giám mục, thực hiện việc thánh hiến nước Nga cho Trái Tim Vẹn Sạch Mẹ Maria. Việc yêu cầu của Hồng y Burke lập lại lời yêu cầu của Mẹ Maria khi Mẹ hiện ra tại Fatima đúng 100 năm trước. Nếu mỗi giáo dân ý thức được sứ điệp của Mẹ Fatima và thực hiện theo như Mẹ yêu cầu thì chắc chắn thế giới sẽ hưởng một nền hòa bình đích thực. Nhất là lời kết của Mẹ khi hiện ra với ba trẻ tại Fatima vào ngày 13/7/1917. Đó là:

“Nhưng cuối cùng, Trái Tim Vô Nhiễm của Mẹ sẽ thắng.” Chúng ta vững tin như thế.

 

Tài liệu tham khảo:

  1. David McLellan, Maxism and Religion: A Description and Assessment of the Marxist Critique of Christianity (London, The MacMillan Press LTD, 1987)
  2. John de Marchi, I.M.C., The True Story of Fatima (Imprimatur 1947 and 2009)
  3. William Thomas Walsh, Our Lady of Fatima (Doubleday Dell Publishing Group, Inc. New York, 1946)
  4. Matthew J. Ouimet, The Rise and Fall of the Brezhnev Doctrine in Soviet Foreign Policy (Chaped Hill and London, The University of North Carolina Press, 2003)
  5. George Weigel, Witness To Hope (New York, PerfectBound of HarperCollins Publishers, Inc., 2005)
  6. Archie Brown, The Gorbachev Factor (New York, Oxford University Press Inc., 1996)
  7. Arcbishop Fulton Sheen, The World’s First Love (New York, McGraw-Hill Book Company Inc., 1952)
  8. Paul Kengor, The Crusader: Ronal Reagan and the Fall of Communism (New York, HarperCollins Publishers Inc., 2006)
  9. Hilaire Belloc, The Great Herresies (Charlotte, North Carolina, TAN Books, 1938)
  10. Loretta Napoleoni, The Islamic Phoenix (New York, Seven Stories Press, 2014)

Time Subscription, http://content.time.com/time/magazine/article/0,9171,974548,00.html

Time Subscription, http://content.time.com/time/magazine/article/0,9171,159069,00.html

 

 

Advertisements

HIỆN TƯỢNG FATIMA, CỘNG SẢN, VÀ HỒI GIÁO

 

(tiếp theo)

  1. LIÊN MINH THÁNH (HOLY ALLIANCE)

Trước hết tôi xin nói rõ một điều rằng cám ơn quý vị đã theo dõi bài viết này cho đến hàng chữ này. Nội dung của mục trên, phần lớn đều liên quan đến đạo Công giáo, và nếu không phải là giáo dân Công giáo, có lẽ quý vị cũng thấy lạ lẫm và tò mò đọc, và có lẽ vẫn bán tín bán nghi. Riêng phần (b) này lại hoàn toàn mang tính chất lịch sử. Nếu quý vị nghi ngờ ở phần trên, xin quý vị kiên nhẫn ở phần này để hiểu rõ thêm một sự kiện vĩ đại xảy ra vào đầu thế kỷ 20 – hiện tượng Đức Mẹ hiện ra tại Fatima. Và một sự kiện khác, xảy ra vào gần cuối thế kỷ 20, là kết quả của lời tiên báo của Đức Mẹ tại Fatima. Tôi xin giới thiệu 2 cuốn sách để quý vị tham khảo thêm:

  1. A Pope and The President, John Paul II, Ronald Reagan, and the Extraordinary Untold Story of the 20th Century, xuất bản 2017 của Giáo sư Tiến sĩ Paul Kengor.
  2. Revolution 1989, xuất bản 2009 của nhà báo và nhà sử học Victor Sebestyen.

Bây giờ mời quý vị theo dõi hiện tượng Fatima kết thúc ngoạn mục thế nào.

Triết gia Thomas Carlyle nói, “Không có người đàn ông vĩ đại nào sống vô ích. Lịch sử của thế giới chỉ là tiểu sử của những người đàn ông vĩ đại.” Thế kỷ thứ 19, thời đại ông sống, đã sản sinh nhiều nhân vật vĩ đại, và bước sang thế kỷ 20 câu nói này lại rơi đúng trường hợp của Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II, vị Giáo hòang thứ 264 của Giáo hội La mã và Tổng thống thứ 40 của Hợp chủng quốc Hoa kỳ, Ronald Reagan.

Tiến trình phong thánh cho Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II kéo dài chưa đến 10 năm (2005-2014) nhờ 2 phép lạ nhãn tiền – sơ Marie Simon Pierre và giáo dân Floribeth Mora Diaz được khỏi bệnh nan y bất ngờ – nhưng hai phép lạ này không thể so sánh với một phép lạ vĩ đại khác khi ngài còn sinh tiền: chiến thắng “đế quốc ma quỷ” và phục hồi tự do cho hàng triệu người bị cầm tù dã man sau Bức Màn Sắt, kể cả những tù nhân lương tâm trên quê hương Ba Lan của Ngài.

Ronald Reagan và Giáo hoàng Gioan Phaolô II là những người cùng thời. Reagan sinh năm 1911, và Giáo hoàng Gioan Phaolô II sinh năm 1920. Cả hai đều lớn lên trong nghèo khổ, không biết nhau, nhưng cuối cùng lại là hai người đàn ông vĩ đại nhất của thế kỷ 20. Cả hai đều có nụ cười thu phục nhân tâm và nhân cách bất khuất. Cả hai đều ghê tởm chiến tranh hạt nhân. Cả hai đều khinh ghét chủ nghĩa cộng sản và Liên bang Sôviết. Cả hai đều bị ám sát nhưng vẫn sống sót và cả hai đều tha thứ cho kẻ chủ mưu giết họ. Họ cũng là những vận động viên trung học, và cả hai đều là diễn viên trước khi trở thành những nhân vật quan trọng nhất trên diễn đàn thế giới.

Bài giảng trong thánh lễ nhậm chức giáo hoàng ngày 22/10/1978, Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã nói rõ cái nhìn dứt khoát của ngài đối với thế giới cộng sản, đặc biệt Liên bang Sôviết: “Đừng sợ! Hãy mở cửa cho Đức Giêsu, hãy mở toang cửa ra! Mở rộng biên giới các quốc gia, hệ thống kinh tế và chính trị, lãnh vực bao la của văn hoá, văn minh và phát triển – hãy mở ra cho sức mạnh cứu độ của Ngài.” (tất cả các nước cộng sản dùng chính sách đóng cửa, “bế môn tỏa cảng,” bưng bít người dân; chú thích của người viết.) Hai chữ “Đừng sợ!” như một thôi thúc, khuyến khích, cổ võ và sau này trở thành một khẩu hiệu nổi tiếng của ngài. Còn Ronald Reagan thì tất nhiên, ông chống chủ nghĩa cộng sản từ lúc chưa làm nên sự nghiệp. Đầu thập niên 60, Reagan từ bỏ điện ảnh, nhảy vào lãnh vực chính trị vì ông không thể ngồi nhìn chủ nghĩa cộng sản bành trướng khắp năm châu. Reagan thẳng thắn chỉ trích chính sách đối ngoại của Hoa kỳ dưới thời TT Richard Nixon and Gerald Ford. Theo ông, chính sách mềm dẻo này chỉ làm lợi cho cộng sản, giúp Sôviết càng siết chặt vòng kim cô quanh cổ những người dân thuộc khối Đông Âu. Tháng 3/1975, trước khi mãn nhiệm kỳ hai của thống đốc tiểu bang California, ông nói với các cử tri, “Chế độ cộng sản toàn trị là kẻ thù tuyệt đối của tự do con người.” Hai tháng sau, ông gọi cộng sản là “ma quỷ,” “tồi bại,” “một căn bệnh.” Ông nói thêm, “Nhân loại đã thoát được nhiều căn bệnh quái dị và những cơn dịch kinh hoàng, liệu có thoát được nạn dịch cộng sản hay không?” Reagan kết luận, “Chủ nghĩa cộng sản không phải là một hệ thống kinh tế hay chính trị – đó chỉ là một loại điên rồ thời đại.” Lập trường vững chắc và quan niệm đối kháng với chủ nghĩa cộng sản của Reagan một lần nữa được thể hiện trong cuộc vận động bầu cử 1980. Trên chuyến bay từ Los Angeles đến Detroit, nơi đảng Cộng hòa sẽ đề cử Reagan đại diện đảng ứng cử chức vụ tổng thống, Stuart Spencer – giám đốc ban vận động bầu cử – thắc mắc, “Ông ra tranh cử làm gì? Ron, tại sao ông muốn làm tổng thống?” Reagan trả lời ngay, không do dự, “Để chấm dứt Chiến tranh Lạnh.” Spencer ngạc nhiên hỏi gặng, “Ông làm cách nào?” Reagan điềm tĩnh, “Tôi chưa biết, nhưng chắc chắn phải có cách. Thời điểm đã chín mùi.”

Nhậm chức cách nhau hơn 2 năm, nhưng ngay từ đầu cả hai đồng ý rằng chủ nghĩa cộng sản là một mối đe dọa nhân quyền và sự ổn định toàn cầu, và cần phải đối diện dứt khoát một lần. Gioan Phaolô II và Reagan rõ ràng ghê tởm chế độ vô thần và liên kết để loại trừ chủ nghĩa cộng sản, nhưng mục tiêu chính của họ có đôi chút khác nhau; Đức Giáo hoàng mong muốn thổi luồng gió dân chủ vào quê hương Ba Lan, còn Reagan biết rõ sự rã rệu từ bên trong của Liên sô và ông sẽ tung cú đấm nốc-ao, hạ đo ván con gấu Siberia. Cùng nhau, Giáo hoàng Gioan Phaolô II và Tổng thống Reagan đã đánh bại kẻ thù khủng khiếp nhất đối với tự do và phẩm giá con người.

Reagan nhậm chức tổng thống vào ngày 20/1/1981. Tiền nhiệm của ông, Tổng thống (TT) Jimmy Carter, một người hiền lành và đạo đức. Với mục đích hòa hoãn với các nước Đông Âu nằm trong quỹ đạo Sôviết, ông giao du và ca tụng những lãnh tụ độc tài như János Kádár của Hungary, Edward Gierek của Ba Lan, và Marshal Tito của Nam tư, Nicolae Ceaucescu của Romania. Thật ra TT Carter không đủ bản lãnh để đối thoại với những lãnh tụ cộng sản vô thần, chỉ vì ông quá hiền lành, luôn nghĩ bụng người cũng giống bụng mình. Ông cổ võ hòa bình thế giới nên sẵn lòng bắt tay với Fidel Castro, Ferdinand Marcos, tướng Pakistan Zia ul-Haq, Kim Il Sung, là những kẻ độc tài khác. Trong 4 năm ông ở Nhà Trắng, cộng sản và hồi giáo lộng hành, thao túng trường quốc tế, lung lạc và lôi kéo Hoa kỳ dễ dàng như người làm xiếc. Tất cả chỉ vì chính sách quá mềm yếu của TT Carter. Ngay cả chuyện Liên sô đánh chiếm Afghanistan vào ngày lễ Noel 1979 đã làm TT Carter sững sờ, vì trước đó không lâu, tại cuộc họp thượng đỉnh Geneva ông và Brezhnev gần như ôm nhau hôn thắm thiết. Brezhnev, hay nói đúng hơn, Liên sô biết khai thác điểm yếu của TT Carter và nội các của ông. Mẫu người như TT Carter nên ở trong một dòng tu thì đúng hơn. Chính trị không phải là sở trường của ông. Steven F. Hayward – một học giả – nhận định rằng Carter là tổng thống tệ nhất (worst ex-president) trong lịch sử của Hoa kỳ.

Hoa kỳ hoàn toàn bị lép vế trong suốt nhiệm kỳ của TT Carter từ 1976-1980. Trong thời gian này, vào cuối năm 1978, bên trời Âu, Vatican buồn bã một màu tang chế. Giáo hội Công giáo để tang hai vị Giáo hoàng cách nhau vỏn vẹn chỉ có 33 ngày: Giáo hoàng Phaolô VI và Gioan Phaolô I. Hồng y Albino Luciani được chọn kế vị Giáo hoàng Phaolô VI với danh hiệu Gioan Phaolô. Hầu như vị giáo hoàng này biết trước số phận của mình. Trong thời gian tại chức Giáo hoàng, ngài nói với Hồng y Jean Villot, “Phaolô (vị Giáo hoàng tiền nhiệm) đã chọn người kế vị rồi. Đó là người ngồi ngay trước mặt tôi trong nhà nguyện Sistine.” Hồng y Villot nhớ lại lúc ngồi trong nhà nguyện Sistine để bầu ngôi Giáo hoàng và biết ngay đó là Hồng y Wojtyła, gốc Slavic Ba Lan. Ngài nói tiếp, “Wojtyła sẽ là Giáo hoàng vì tôi sẽ ra đi.” Đúng như lời tiên đoán, ngài ra đi trong giấc ngủ vì cơn động tim. Và lời tiên đoán nữa cũng trở thành sự thật, Karol Wojtyła được bầu làm giáo hoàng vào ngày 16/10/1978 với danh hiệu Gioan Phaolô II, và khẩu hiệu “Totus Tuus”, nghĩa là “Tất cả cho Mẹ”. Vị Giáo hoàng mới 58 tuổi, gốc Slavic đầu tiên được bầu làm giáo hoàng, trẻ nhất trong hơn một thế kỷ của Vatican.

Brezhnev, Tổng bí thư (TBT) Sôviết, khó chịu khi nghe tin này. Ngay sau khi áp đặt chủ nghĩa vô thần trên đất Ba Lan, Liên sô luôn tìm cách triệt hạ Giáo hội Công giáo bằng mọi cách. Theo thống kê của KGB (cơ quan mật vụ Nga) năm 1982, 90% dân số Ba Lan là tín đồ công giáo với 26 nghìn linh mục, và hàng năm thanh niên thanh nữ trí thức gia nhập dòng tu để trở thành linh mục ngày càng đông. Trải qua 3 đời TBT – Stalin, Khrushchev, và Brezhnev – Ba Lan là mục tiêu hàng đầu tiêu diệt tôn giáo của Liên sô. Hình như sức mạnh tôn giáo giúp giáo dân Ba Lan vượt thoát được nỗi sợ hãi của đe dọa, trấn áp, bắt bớ, và tù đày, thậm chí cái chết. Riêng Hồng y Wojtyła, mật vụ Ba Lan – con cờ của KGB – suýt truy tố ngài vì 3 bài giảng “phản động”, đặc biệt vào những ngày 5/5/1973, 12/5/1973, và 24/11/1974 vi phạm Khoản 194 Bộ luật Hình sự của nhà nước cộng sản. Bởi vậy, khi nghe tin Hồng y Wojtyła nhậm chức Giáo hoàng, cả hai cơ quan mật vụ của Ba Lan và KGB đều cảm thấy bất an như tảng đá nghìn cân đè nặng lên vai.

Giáo hoàng Gioan Phaolô II là người thực hiện nhiều chuyến thăm viếng nhất trong các triều đại giáo hoàng, gồm 129 nước với hơn 1.1 triệu km trong gần 27 năm. Vào tháng 6/1979, Giáo hoàng Gioan Phaolô II quyết định trở về Ba Lan. Từ lúc ra đi vào tháng 10/1978 đến Vatican để bầu ngôi giáo hoàng, sau gần 8 tháng, lần đầu tiên ngài trở về quê hương.

Báo chí phương Tây trấn an về chuyến đi của Giáo hoàng Gioan Phaolô II rằng một mình vị giáo hoàng không đủ gây ảnh hưởng trên một đất nước vốn nằm trong quỹ đạo của Sôviết lâu năm. Tờ New York Times, phát hành ngày 5 tháng 6, 1979 nhận định rằng, “chuyến trở về quê hương của Giáo hoàng sẽ làm hồi sinh và khích lệ Giáo hội Công giáo Rôma tại Ba Lan rất nhiều nhưng lại không đe dọa trật tự chính trị của quốc gia này, kể cả khối Đông Âu, (The Polish Pope in Poland).” Các ký giả tầm cỡ của các tờ báo lớn trên thế giới tin chắc rằng giáo hoàng không thể về nước ngang nhiên kêu gọi lật đổ chính quyền, cho dù đó là chính quyền cộng sản vô thần đối nghịch với Vatican đi chăng nữa. Đúng, một tu sĩ không thể làm chính trị. Chiếc áo chùng thâm không thể vấy bạo lực. Nhưng George Weigel, một học giả về chính trị và xã hội, lại có một nhận định sắc bén khác hẳn, “…chuyến trở về của Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã châm ngòi một cuộc cách mạng lương tâm ở Đông-Trung Âu và giúp khai sinh phong trào Đoàn kết chỉ 14 tháng sau đó, đồng thời ngầm thúc đẩy những cuộc đối kháng dân sự tương tự bùng nổ trong khối Đông-Âu.”

Khoảng 13 triệu con dân Ba Lan nườm nượp kéo ra đường để đón tiếp người con trở về. Trong 9 ngày công du, Đức Gioan Phaolô II gửi ra nhiều thông điệp về phẩm giá con người, về nhân bản, về văn minh nhân loại… tất cả đều dựa trên Thánh kinh, “chìa khóa để hiểu được thực tế lớn lao và căn bản đó chính là con người. Vì con người không thể hiểu đầy đủ nếu không có Đức Kitô. Hay đúng hơn, con người không có khả năng tự hiểu mình một cách trọn vẹn nếu không có Đức Kitô. Con người không thể hiểu mình là ai, cũng chẳng hiểu phẩm giá thực sự của mình là gì, cũng không hiểu ơn gọi của chính mình thế nào, và cũng chẳng hiểu chung cuộc của cuộc đời ra sao. Con người không hiểu những điều đó nếu không có Đức Kitô.” Ngày Chủ nhật cuối cùng, Đức Gioan Phaolô II cử hành thánh lễ tại Krakow, thu hút 2-3 triệu người tham dự thánh lễ. Lần đầu tiên ở Ba Lan, một thánh lễ ngoài trời có nhiều giáo dân tham dự đến thế. Ngài lớn tiếng kêu gọi tự do cho giáo dân Công giáo trên quê hương, và giáo hội phải giữ một vai trò vững chắc để xây dựng tương lai cho Ba Lan. Giới trẻ – một biển người – cầm thánh giá gỗ đưa lên cao và đồng thanh la lớn, “Chúng tôi cần Thiên Chúa! Chúng tôi cần Thiên Chúa!”

Nhà cầm quyền Sôviết theo dõi cuộc hành trình 9 ngày của Đức Gioan Phaolô II và cảm thấy lo ngại thật sự. Bao nhiêu năm nhồi sọ và tẩy não về chủ thuyết vô thần, thế mà chỉ trong một vài ngày, giới trẻ Ba Lan bỗng dưng đổi chiều đặt hết niềm tin vào Thiên Chúa. Bộ trưởng Ngoại giao Andrei Gromyko lo lắng với nhận xét, “ông giáo hoàng này có ảnh hưởng trên quần chúng giống như đạo trưởng Ayatollah Khomeini với tín đồ Hồi tại Iran.” TBT đảng cộng sản Ukraine, Vladimir Shcherbitsky khẳng định, “phải đẩy mạnh tuyên truyền với phong cách mới lạ và mạnh mẽ nhằm cổ võ chủ nghĩa vô thần tại Liên Xô và các nước xã hội xã hội chủ nghĩa anh em.”

Việc đẩy mạnh tuyên truyền chỉ là thứ yếu. Đảng cộng sản vô thần Liên sô tính toán một nước cờ khác táo bạo hơn, hiểm độc hơn, và có thể làm thay đổi cục diện của cuộc chiến sống mái giữa cái Thiện và cái Ác, giữa hữu thần và vô thần, giữa duy tâm và duy vật.

Người ta bảo, trong cái rủi lại có cái may. Sư may mắn lớn lao liên quan đến vận mệnh của thế giới bắt đầu từ cái rủi. Sự rủi ro nghiêm trọng bắt đầu vào ngày 30 tháng 3, 1981, TT Reagan vừa đọc diễn văn xong, và ra khỏi Trung tâm Liên đoàn Lao động Hoa Kỳ (AFL-CIO) thì bị bắn. Sự kiện xảy ra ngay trước khách sạn Washington Hilton, chỉ cách Nhà Trắng chừng một dặm rưỡi. Viên đạn .22 (5.6mm) bình thường đã nguy hiểm, nhưng loại đạn này được nhồi thêm chất độc hại, chì và thuốc nổ, mang tên .22 Devastator vì khi va chạm viên đạn sẽ nổ tung thành từng mảnh. Sáu viên bắn đi với khoảng cách 3 mét nên dễ trúng mục tiêu, và thực tế 4 viên đã bắn trúng vào 4 người là Phát ngôn viên Nhà Trắng James Brady, nhân viên mật vụ Timothy McCarthy, viên cảnh sát Thomas Delahanty, và TT Reagan. May mắn chỉ một viên đạn Devastator nổ tung trong đầu của Brady, còn 3 viên kia thì không. May mắn nữa là viên đạn bắn vào cánh cửa rồi mới đâm qua nách (khi TT đưa tay vẫy) xuyên thủng lá phổi của TT Reagan, chỉ cách quả tim vài centimét, và nằm kẹt trong lồng ngực. Theo nhận xét của bác sĩ giải phẫu Benjamin Aaron, nếu viên đạn đi lệch một chút trúng tim thì không cách gì cứu chữa được, và TT Reagan có thể chết trên đường chở đến bệnh viện. Sinh và tử chỉ cách nhau vài centimét là thế.

John Hinckley Jr., tên sát nhân mắc bệnh tâm thần, si mê và ám ảnh cô đào Jodie Foster, nảy ra ý tưởng điên rồ bắn vị tổng thống thứ 40 của Hoa kỳ để được cô để mắt đến.

Một ý tưởng điên rồ khác, xảy ra hơn 6 tuần sau đó, vào buổi chiều ngày thứ Ba 13 tháng 5, 1981, (đúng ngày Đức Mẹ hiện ra tại Fatima 64 năm trước, 1917) khi Giáo hoàng Gioan Phaolô II đứng trên xe chạy quanh Quảng trường Thánh Phêrô để gặp gỡ dân chúng. Và Ngài cũng bị bắn.

Con chim bồ câu ngậm cành ôliu ngã gục trong tay linh mục thư ký Stanislaw Dziwisz, nét mặt đau đớn. Ngài chỉ thều thào, “Maria, Mẹ của con! Maria, Mẹ của con!” rồi ngất lịm. Máu loang áo chùng trắng. Bốn viên đạn bắn ra từ nòng súng 9-mm Browning ở một khoảng cách khá gần do tay sát thủ người Thổ, Mehmet Ali Agca, 2 trúng vào bụng, 1 vào cánh tay phải, và 1 vào ngón tay trỏ trái. Lúc đó vào khoảng 5:19 chiều.

Francesco Crucitti, bác sĩ giải phẫu trưởng bệnh viện Gemilli nằm cách Vatican 7km, tiến hành cuộc giải phẩu gần 6 tiếng để gắp viên đạn ra. Theo ông, viên đạn suýt cắt đứt động mạch ở bụng vị giáo hoàng, chỉ cách 3mm. Nếu động mạch bị đứt, vị giáo hoàng chắc chắn sẽ chết trên đường chở đến bệnh viện, vì mất máu. Giáo hoàng Gioan Phaolô II thoát chết trong đường tơ kẽ tóc.

Cuộc điều tra của chính quyền Ý tiết lộ, đầu tháng 2/1979 Mehmet Ali Agca đã thụ án sát nhân tại Thổ-nhĩ-kỳ vì bắn chết Abdi Ipekci, chủ bút tờ báo cấp tiến Milliyet. Vì lời khai nhùng nhằng nên mãi đến tháng 10/1979 tòa án Thổ mới quyết định mở phiên tòa để tuyên án. Vụ án đang kéo dài thì Agca trốn thoát vào tháng 11/1979. Hắn cải trang là lính giữ tù nên qua mặt hệ thống an ninh tối đa của nhà tù Kartal-Maltepe. Trong hơn 1 năm, Ali rong chơi nhiều nơi như Iran, Bulgaria (một nước cộng sản Đông Âu, thuộc khối Sôviết), Thụy sĩ, Đức, và Tunisia. Gia đình Agca nghèo, thế ai cung cấp tiền để Agca du lịch như một công tử nhà giàu? Agca đến Rôma vào đầu tháng 5/1981 gặp đồng bọn gồm 3 người, Oral Çelik, người Thổ, và 2 người Bulgaria để tiến hành kế hoạch mưu sát. Oral Çelik có nhiệm vụ bắn cản đường và cho nổ bom gây rối loạn để Ali tẩu thoát đến tòa đại sứ Bulgaria. Khi cuộc mưu sát không thành (ngay cả bom cũng không nổ), Oral đào thoát khỏi hiện trường và biến mất không để lại một dấu vết. Kế hoạch mưu sát nằm dưới sự điều động của Trung tá Zilo Vassilev, một tùy viên quân sự tại Ý. Agca khai Bekir Celenk, tay mafia người Thổ, ra giá 1.2 triệu Mark để ám sát Giáo hoàng Gioan Phaolô II. Bekir có liên hệ chặt chẽ với cơ quan mật vụ Bulgaria, cơ quan này lại là bản sao của cơ quan mật vụ Sô viết KGB. Vì lời khai của Ali bất nhất nên khi ra tòa, 4 công dân Thổ và 3 Bulgaria đều được tha bổng vì không đủ bằng cớ, riêng Oral Çelik thì bị xử khiếm diện.

Nhưng William J. Casey, giám đốc CIA dưới thời TT Reagan lại có đủ bằng cớ để nối các mắt xích lại với nhau, từ Ali đến cơ quan mật vụ Bulgaria, và cuối cùng là Sôviết. The Time of the Assassins, là công trình điều tra tỉ mỉ trong nhiều năm của nữ ký giả Claire Sterling xuất bản năm 1984, và bà thẳng thắn kết luận, “Mehmet Ali Agca không hành động một mình.” Casey xem xét những sự kiện trông có vẻ rời rạc nhưng dưới lăng kính điệp báo ông cảm thấy chúng có liên hệ chặt chẽ với nhau. Vì thế, ngay sau khi Giáo hoàng Gioan Phaolô II bị ám sát, Casey âm thầm mở cuộc điều tra. Vì đang lúc cao điểm của Chiến tranh Lạnh, công cuộc điều tra được giữ kín, và chỉ vài nhân vật cao cấp CIA được biết. Tháng 5/1985, bốn năm sau ngày Giáo hoàng Gioan Phaolô II bị bắn, Casey đã xác nhận riêng với TT Reagan rằng chính cục tình báo trung ương Liên sô (GRU), một cơ quan tương tự như CIA, đã đạo diễn cuộc mưu sát.

GRU tức giận nên sắp xếp cuộc mưu sát là điều dễ hiểu. Ngay từ khi Hồng y Karol Wojtyła nhậm chức giáo hoàng, Liên sô đã không ngủ yên. Lần trở về quê hương vào tháng 6/1979, Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã bơm thêm sức mạnh cho dân Ba Lan, đặc biệt đám công nhân tại xưởng đóng tàu Lenin Shipyard, tại Gdansk do Lech Walesa cầm đầu. Ngày 16/8/1980, 14 tháng sau chuyến viếng thăm lần đầu của Giáo hoàng Gioan Phaolô II, Walesa kêu gọi đình công để đòi hỏi quyền lợi và toàn thể công nhân hưởng ứng. Sau nhiều ngày thương thuyết, đảng cộng sản Ba Lan cuối cùng phải đáp ứng yêu cầu của công nhân và cho phép lập một công đoàn lấy tên Đoàn kết nhằm bảo vệ quyền lợi của các công nhân. Một điều không thể nào xảy ra trong đế quốc Sôviết.

Đây không phải là cuộc đình công đầu tiên của giới lao động xảy ra trong thế giới cộng sản. Năm 1953 xảy ra cuộc đình công bãi thị tại Đông Đức, và Liên Sô gửi 16 sư đoàn đàn áp và đè bẹp cuộc nổi dậy của đám công nhân. Năm 1956 tại Hung-gia-lợi, đảng viên cộng sản cấp tiến Imre Nagy chủ trương bãi bỏ độc đảng và hầu như được cả nước ủng hộ, Sôviết điều động quân đội và xe tăng nghiền nát ý muốn cải tổ. Năm 1968 tại Tiệp khắc, dân chúng cũng nổi dậy đòi hỏi cải cách. Hơn 200 nghìn quân đội Sôviết và các nước Đông Âu, với 5000 xe tăng đàn áp và nhanh chóng tiêu diệt cuộc nổi dậy. Đây là cuộc đàn áp dã man nhất trong thời Chiến tranh Lạnh. Cũng năm 1956 tại Ba Lan, hơn 100 nghìn công nhân diễu hành đòi hỏi cải tiến môi trường làm việc. Lập tức, Liên sô gửi 400 xe tăng và 10 nghìn binh lính tràn sang biên giới, dập tắt ngay cuộc biểu tình. Bàn tay nham nhúa của Liên sô vung ra tua tủa, xen sâu vào nội bộ của từng nước Đông Âu, và nhất là không chấp nhận bất cứ một phản kháng nào. Chủ thuyết Brezhnev bắt buộc các lãnh đạo phải báo cáo từng chi tiết về Moscow, nhất là diễn tiến của mỗi biến động xảy ra, và vai trò của ban cố vấn Liên sô – đại diện cho Brezhnev ngay tại địa phương – rất quan yếu và ảnh hưởng đến mọi quyết định liên quan đến chính trị, kinh tế, và ngay cả văn hóa. Thế mà họ để vuột mất Công đoàn Đoàn kết.

Là nhờ Walesa kêu gọi đình công bãi thị đúng thời điểm thuận lợi do tình hình trong nước và do ảnh hưởng quốc tế, và nó thành công. Chủ thuyết Brezhnev bắt đầu có dấu hiệu rạn nứt. Đây là một thắng lợi quá lớn lao và tuyệt vời của giới công nhân tại Ba Lan, vì lập công đoàn riêng là một điều không thể nào chấp nhận trong thế giới cộng sản, là điểm tối kỵ của học thuyết Mác-Lênin, như gót chân của Archilles. Đó là một “dị giáo” ly khai trong “giáo hội” Lênin.

Giáo hoàng Vatican, thủ lãnh một tôn giáo với gần 800 triệu tín đồ (1980), lại thêm Walesa thành lập Công đoàn Đoàn kết… tất cả như đổ dầu vào lửa đối với bộ chính trị Sôviết. Đối với Liên sô, chính Giáo hoàng với uy thế tại Vatican đã làm cho Ba Lan ngày càng loạn, vượt ra khỏi quỹ đạo của khối Sôviết. Vì thế, kế hoạch loại trừ Giáo hoàng Gioan Phaolô II và Lech Walesa cần phải được thi hành càng sớm càng tốt.

Vào ngày 19/1/1981, một ngày trước khi TT Reagan tuyên thệ nhậm chức, Walesa có mặt tại Rôma để gặp Giáo hoàng Gioan Phaolô. Cơ quan mật vụ Bulgaria hứa trả cho một tay sát thủ số tiền 300 nghìn để thủ tiêu Walesa. Theo kế hoạch, tay sát thủ sẽ đặt chiếc xách tay chứa bom, được điều khiển bằng vô tuyến, ngay bãi đậu xe của khách sạn nơi Walesa đang trú. Hắn đợi thời cơ, chờ Walesa ra bãi đậu xe là bấm nút cho bom nổ. Walesa hoàn toàn không hay biết gì nguy hiểm đang theo sát một bên. Ông may mắn thoát chết vì phút cuối kế hoạch bị bãi bỏ do có người ngầm báo cho cảnh sát Ý biết để bảo vệ và đề phòng. Tay sát thủ đó không ai khác chính là Mehmet Ali Agca. Cuộc điều tra của nhà chức trách Ý và ngay chính Ali sau khi bị bắt đã xác nhận cuộc ám sát hụt này.

Hụt lần đó, nhưng 4 tháng sau Ali lại thành công vào buổi chiều ngày 13/5/1981 tại Quảng trường Thánh Phêrô. Thế nhưng, như Walesa thoát chết vì kế hoạch thủ tiêu bị bãi bỏ, vị Giáo hoàng lại sống sót vì viên đạn đi lệch động mạch vài ly. Đó là điều Liên sô không thể ngờ.

Và người ta cũng không ngờ là hai vị thủ lãnh – một lãnh đạo tinh thần, một lãnh đạo khối tự do – đều sống sót trong đường tơ kẽ tóc qua cuộc mưu sát và ám sát. Cả hai đều tin tưởng có một cái gì đó huyền bí linh thiêng, nâng đỡ để họ sống sót nếu không nói là phép lạ. Sứ thần Tòa thánh tại Washington, Hồng y Pio Laghi thổ lộ, “một người bạn thân của TT Reagan nói với tôi là tổng thống có lần thốt lên, ‘Hãy nhìn quyền lực ma qủy cản đường chúng tôi và xem Chúa Quan Phòng đã can thiệp thế nào.’” Riêng Giáo hoàng Gioan Phaolô sau khi bình phục cũng phải nhìn nhận, “Bàn tay bắn viên đạn nhưng một bàn tay khác đẩy lệch sang bên.” Cả hai nhận ra một quyền lực thiêng liêng đã gìn giữ họ thoát chết trong gang tấc.

Chính tai nạn này đã khiến họ xích lại gần với nhau, và cùng nhau thực hiện một việc gần như đội đá vá trời: lật đổ thế giới vô thần cộng sản, đứng đầu là Liên bang Sôviết.

Carl Bernstein – một nhà báo chuyên điều tra – đăng một bài báo trên tạp chí Time ngày 24/2/1992, với nhan đề: “Holy Alliance: How Reagan and the Pope conspired? Liên Minh Thánh: Reagan và Giáo hoàng hợp lực thế nào?Bernstein điểm lại diễn tiến của sự kiện lạ lùng của hai nhân vật đặc biệt nhất trong hậu bán thế kỷ 20. Cái bắt tay thân thiện giữa TT Reagan và Giáo hoàng Gioan Phaolô II là khởi sự cho một kết thúc của chế độ vô thần.

Sự khởi sự bắt đầu bằng cuộc họp riêng tại thư viện Vatican giữa hai thủ lãnh vào ngày 7 tháng 6 năm 1982, kéo dài 50 phút. Sau bao nhiêu thơ từ qua lại, sau nhiều lần chuyện trò qua điện thoại, cuối cùng Reagan và Giáo hoàng Gioan Phaolô II mặt đối mặt nhân chuyến công du Âu châu dài 11 ngày của Tổng thống Hoa kỳ. Không thông dịch, không thư ký, không trợ lý, chỉ mỗi 2 người trong thư viện vắng tanh. Trong một phòng khác, Bộ trưởng Ngoại giao Alexander Haig và Cố vấn An ninh William Clark chuyện trò với Hồng y Agostino Casaroli, Bộ trưởng Ngoại giao Vatican, và Tổng giám mục Achille Silvestrini. Cả hai bàn qua việc Do-thái xâm chiếm Lebanon rồi chú trọng vào vấn đề Ba Lan và sự thống trị Đông Âu của Sôviết. Cả hai thủ lãnh đều tin tưởng rằng nếu Ba Lan được tự do, trở thành một nước không cộng sản, theo Bernstein, “là con dao đâm thẳng vào tim đế quốc Sôviết.” Và không riêng Ba Lan, các nước Đông Âu sẽ đi theo con đường dân chủ. Chính Công đoàn Đoàn kết là hạt giống của tự do, sẽ là một nhân tố cho các nước trong khối Đông Âu vùng dậy. Rời cuộc họp, cả hai đồng ý phải nuôi dưỡng Công đoàn Đoàn kết tại Ba Lan bằng mọi giá.

Công đoàn Đoàn kết từ ngày thành lập (16/8/1980) phải trải qua nhiều cam go thử thách khủng khiếp để đứng vững. Công đoàn đã có hơn 8 triệu đoàn viên, đông gấp đôi số đảng viên cộng sản Ba Lan. Bộ chính trị Sôviết truất phế Kania vì cho rằng ông quá mềm yếu đối với Công đoàn Đoàn kết và đưa tướng Wojciech Jaruzelski lên cai trị với bàn tay sắt. Ngày 13/12/1981, Jaruzelski ban hành thiết quân luật và bắt giữ 6 nghìn công nhân, riêng những người lãnh đạo công đoàn bị giam giữ đặc biệt; Walesa bị bắt ngay từ sáng sớm. Hơn 2 nghìn cảnh sát (ZOMO) được huấn luyện để tiến hành công tác đặc biệt này. Báo Time nhận định, “Ba Lan hưởng tự do mới hơn một năm thì bị chấm dứt bi đát bằng bạo lực, đổ máu và đàn áp dã man.” Nhà cầm quyền Ba Lan cấm đình công, và đàn áp thẳng tay bất cứ một sự phản kháng nào. Mọi liên lạc với thế giới bên ngoài bị cắt đứt. Ba Lan tự cô lập hoàn toàn. Lập tức, chính quyền Reagan áp đặt lệnh cấm vận, đẩy nền kinh tế Ba Lan vốn kiệt quệ đi vào ngõ cụt. Lệnh trừng phạt kéo dài mãi đến năm 1987, khi đảng cộng sản Ba Lan cam kết mở cuộc đối thoại với Giáo hội. Nhưng trong 8 năm, 1981-1989, Công đoàn Đoàn kết vất vả chịu đựng những đòn thép của đảng cộng sản Ba Lan. Quyết không lùi bước trước bạo lực, Công đoàn Đoàn kết vẫn cố gắng tiến bước trên con đường tranh đấu cho tự do bằng cách co rút vào hoạt động ngầm, và điều quan trọng nhất Công đoàn vẫn là chỗ dựa tinh thần cho giới công nhân.

Chính quyết định giữ vững Công đoàn của TT Reagan là nguồn trợ lực dồi dào và giúp cho tổ chức này đứng thẳng, và tiến lên mạnh mẽ trở lại. Máy in, máy đánh chữ, máy truyền tin, giấy bút, sách vở trộn lẫn với hàng hóa trợ giúp nhân đạo như thực phẩm, thuốc men vận chuyển khéo léo vào Ba Lan từ những công ty ma tại Bahamas và Panama, qua ngã Thụy điển với danh nghĩa của Giáo hội Công giáo. Ban đêm, từ các căn hầm, máy in hoạt động không ngừng để in những tin tức quan trọng, những tờ truyền đơn để phân phát cho công nhân vào ngày hôm sau. Những tin tức về thế giới bên ngoài, đặc biệt giới công nhân biết được sự hổ trợ mạnh mẽ của Giáo hoàng Gioan Phaolô II, đã giúp Công đoàn Đoàn kết giữ vững tinh thần trên con đường tranh đấu cho tự do.

Song song với việc truyền sinh khí cho Công đoàn Đoàn kết, TT Reagan đề ra 5 điểm làm suy kiệt nền kinh tế Sôviết nhằm tạo ra một sự cải cách bắt buộc từ bên trong đế quốc Sôviết.

  1. Gia tăng ngân sách quốc phòng, với chủ tâm lôi kéo Sôviết vào cuộc chạy đua võ trang, nhất là hệ thống lá chắn phòng thủ chiến lược SDI (Strategic Defense Initiative) của TT Reagan, gọi tắt là Star Wars (Chiến tranh Các Vì Sao). Đây là chiến thuật vô cùng lợi hại và sắc bén của TT Reagan,
  2. Hổ trợ bí mật các phong trào tranh đấu tại các nước Đông Âu,
  3. Tài trợ cho các quốc gia thuộc Minh ước Warsaw tùy theo mức độ xiển dương nhân quyền và cải cách chính trị cũng như thị trường tự do,
  4. Cô lập kinh tế Liên bang Sôviết bằng cách từ chối đường ống dẫn khí đốt dài 3600 dặm từ Siberia sang các nước Tây Âu, ngăn chặn những kỹ thuật cao không cho vào Moscow.
  5. Gia tăng việc dùng đài Phát Thanh Tự Do, đài Tiếng Nói Hoa Kỳ, đài Âu Châu Tự Do để loan tải các thông điệp của chính quyền Hoa Kỳ đến dân chúng thuộc khối Đông Âu.

Ngay trong 4 năm đầu tiên tại Nhà Trắng, TT Reagan đã cho phép chế tạo và trải dàn 700 đầu đạn nguyên tử mới. Theo David Stockman, giám đốc điều hành ngân sách, quốc phòng đã chi tiêu 1,46 ngàn tỉ vào các phát minh vũ khí hiện đại. Chi phí này bằng ngân sách quốc phòng chi tiêu trong các thời tổng thống Nixon, Ford, và Carter cọng lại, kể cả hai cuộc chiến tranh Triều tiên và Việt nam. Đây là cái bẫy dụ Sôviết vào cuộc chạy đua vũ trang. Tình hình kinh tế của Sôviết vốn đã èo uột vì phải cung cấp tiền bạc và vũ khí cho các nước nằm trong quỹ đạo của khối cộng sản để phát động đấu tranh, nay phải dồn tiền vào ngân sách quốc phòng để theo kịp Hoa kỳ. Điều này làm nền kinh tế của Sôviết ngày càng kiệt quệ hơn.

Nhưng điều làm bộ chính trị Sôviết nhức đầu là hệ thống phòng thủ không gian, một sáng kiến của TT Reagan mà các nhà khoa học Mỹ đồng ý phát triển. Lý thuyết của hệ thống phòng thủ rất đơn giản, một khi hoả tiễn của đối phương bắn đi, lập tức hệ thống phòng thủ phát hiện, xác định tọa độ, đường bay, và dùng tia la-de bắn hạ ngay lúc vừa bay ra khỏi hạ tầng khí quyền. TT Reagan muốn các nhà khoa học tại California nghiên cứu, tìm tòi, và phát minh cho bằng được hệ thống lá chắn SDI. TT Reagan tin chắc rằng, một khi Hoa kỳ thành công SDI, ông có thể đàm phán với Liên sô để tiêu hủy toàn bộ số hỏa tiễn hủy diệt tầm xa, nhất là loại hỏa tiễn SS-20, để nhân loại thoát khỏi nỗi sợ hãi về hậu quả tàn khốc của cuộc chiến hạt nhân. Đó là cách mưu tìm hòa bình trong sức mạnh.

Một điểm đặc thù của nội các TT Reagan gồm toàn giáo dân Công giáo đạo đức như Giám đốc Cơ Quan Tình Báo William Casey, Cố vấn An ninh Richard Allen và William Clark, Bộ trưởng Ngoại giao Alexander Haig, Đại sứ lưu động Vernon Walters và William Wilson. Ông William Wilson là đại sứ đầu tiên của TT Reagan bên cạnh Tòa Thánh Vatican. Tất cả những người này xem mối liên hệ ngoại giao giữa Washington-Vatican là một Liên Minh Thánh: gồm sức mạnh tinh thần của Giáo hoàng Gioan Phaolô II và những giáo huấn của giáo hội kết hợp với tính cương quyết chống chủ nghĩa cộng sản và xiển dương khái niệm dân chủ của Hoa Kỳ. Bởi vậy, Sứ thần Tòa thánh tại Washington, Hồng y Laghi dễ dàng tiếp xúc với nội các của TT Reagan, và họ cùng bàn luận thật tương đắc về tình hình Ba Lan, về hiện tình của khối Đông Âu.

Sứ thần Laghi làm nhiệm vụ con thoi, trao đổi tin tức giữa Vatican và Washington. Ngài gặp gỡ TT Reagan ít nhất 6 lần. Mỗi khi vào Tòa Bạch Ốc để gặp Tổng thống hay ông Clark, Khâm Sứ Laghi đều đi vào cổng ở phía Tây Nam để tránh sự dòm ngó của các ký giả. Hồng y Laghi nói: ”Tuy giữ được mối liên hệ mật thiết như vậy, nhưng tôi không hề vượt qua giới hạn. Vai trò chính của tôi là dàn xếp các cuộc gặp gỡ giữa ông đại sứ Walters và Đức Thánh Cha. Đức Thánh Cha biết rõ dân tộc của Ngài. Phải nói là tình hình rất phức tạp – làm sao vẫn đòi hỏi nhân quyền, đòi hỏi tự do tôn giáo và vẫn giữ cho Công đoàn Đoàn kết sống còn mà không khích động nhà cầm quyền cộng sản hơn nữa. Tôi nói với ông Walters rằng, ‘Hãy nghe Đức Thánh Cha, chúng tôi đã có 2000 năm kinh nghiệm về những chuyện như vậy.’” Liên minh tuyệt hảo giữa đời và đạo, với đầu óc nhạy bén về tình báo của ông Casey, cùng với TT Reagan soạn thảo “Divine Plan, Kế hoạch Tuyệt diệu,” và kế hoạch này dẫn đến sự diệt vong của chủ nghĩa vô thần.

Tuy Công đoàn Đoàn kết bị khống chế hoạt động nhưng các linh mục, người chạy thư, các nhà tổ chức lao động và các điệp viên tình báo lén lút ra vào Ba Lan với yêu cầu trợ giúp và cung cấp những chi tiết hữu ích về tình hình của chính phủ và những hoạt động ngầm của Công đoàn. Chính quyền Reagan chuyển thực phẩm, quần áo và tiền bạc để trả tiền phạt cho các nhà lãnh đạo Công đoàn Đoàn Kết bị tòa án Ba Lan tuyên phạt. Bên trong Ba Lan, một mạng lưới các linh mục mang tin và chuyển tin qua lại giữa các nhà thờ, nơi ẩn náu của nhiều nhà lãnh đạo Đoàn Kết.

Chuyến thăm viếng lần thứ 2 của Giáo hoàng Gioan Phaolô II vào tháng 6/1983 trong giai đoạn gay cấn của thiết quân luật. Ngài trở về và mang đến hy vọng cho đất nước đã suy kiệt, đặc biệt cấy thêm sinh khí cho Công đoàn Đoàn kết. Trong thánh lễ với cả triệu người tham dự tại Krakow, ngài nói về “những bất công khủng khiếp của lịch sử” và khi ngài khẳng định dân Ba Lan được “mời gọi để chiến thắng” thì giáo dân hiểu ý ngài muốn nói gì.

Trong hơn 4 năm, từ 1981-1985, Liên minh Thánh hoạt động không ngừng, Công đoàn Đoàn kết vẫn là cái gai gây nhức nhối cho Sôviết, và kết quả của “Divine Plan” hiện dần dần rõ nét như nội các của TT Reagan mong đợi. Nhưng mục đích tối hậu là lật đổ chủ nghĩa cộng sản sẽ phải kéo dài lâu hơn nếu không có một nhân vật quan trọng khác xuất hiện trên diễn đàn quốc tế đúng vào thời điểm đế quốc ma quỷ kiệt quệ đến mức tận cùng.

Đó là Mikhail Gorbachev, Tân Tổng bí thư của Liên bang Sôviết.

Trong suốt 5 năm tại Nhà Trắng của TT Reagan, Liên Sô bị khủng-hoảng nội-bộ: Thủ tướng Kosygin lủng củng với Tổng bí thư (TBT) Brezhnev từ lâu, và phải từ-chức vào năm 1980 vì lý do sức khỏe và chết sau đó 2 tháng. Đến lượt Brezhnev bệnh nặng rồi chết vào tháng 11/1982. Đây là cái chết đầu tiên, bắt đầu một loạt chết liên tiếp không ai ngờ. Andropov lên thay rồi chết vào tháng 2/1984. Chernencho, một ông già lắm bệnh tật – đến nỗi một trợ lý đối ngoại so sánh như một “xác ướp biết đi” – nắm quyền được 13 tháng rồi cũng chết vào tháng 3/1985. Các Tổng bí thư Sôviết thay phiên nhau chết khiến TT Reagan phải than, “Họ cứ tiếp tục chết vì tôi; They keep dying on me.”

Thật sự Gorbachev không thể nắm quyền nếu không có sự hổ trợ đặc biệt của Andrei Gromyko, Bộ trưởng Ngoại giao kỳ cựu Sôviết. Gorbachev lọt vào bộ chính trị ở tuổi 50 là nhờ tài ăn nói, lý luận, và đặc biệt được Andropov, trùm mật vụ KGB, đỡ đầu. Lúc Andropov nắm chức TBT, con đường hoạn lộ của Gorbachev lại càng thăng tiến nhanh hơn bao giờ và tên tuổi của ông ngày càng sáng giá. Khi Chernencho gần chết, ban tham mưu gồm 18 người (toàn là giới bảo thủ lớn lên từ thời cách mạng tháng 10, tuổi đã trên 70), bàn bạc chọn người thay. Gorbachev trẻ nhất, chỉ mới 54 tuổi, cũng tham gia việc tuyển chọn.

Trước khi chết, Chernencho gửi gắm và chọn người kế vị là Viktor Grishin, 71 tuổi. Nhưng trùm KGB Chebrikov lại khinh ghét chỉ vì Grishin dính dáng đến Lavrenti Beria, một trùm mật vụ nổi tiếng khác giết hàng triệu người như ngóe theo lệnh của Stalin qua các cuộc thanh trừng đẫm máu. Sự dính dáng đó là hai gia đình Grishin và Beria có liên hệ sui gia. Phần lớn các ông già nắm quyền hành ở bộ chính trị bây giờ đều sống sót sau nhiều đợt thanh trừng dã man của Stalin. Bạn bè, đồng chí kém may mắn đều bị Beria thủ tiêu không thương xót. Bởi thế, những gì dính dáng đến Beria hầu như ai cũng tránh né chỉ vì tên trùm mật vụ này tượng trưng cho cơn ác mộng kinh hoàng nhất trong lịch sử Sôviết. Lúc Chernencho còn sống không ai dám đụng đến Grishin, nhưng bây giờ thời cơ đã chuyển hướng, nhiều đảng viên bảo thủ thẳng thắn chống Grishin.

Chỉ còn lại Andrei Gromyko, bộ trưởng ngoại giao kỳ cựu Sôviết, là người sáng giá nhất đối với dân trong nước và trên trường quốc tế nhưng ông hoàn toàn không muốn chức Tổng bí thư. Tuy vậy, ông lại đề cử một đảng viên trẻ tuổi nhất, “Gorbachev có nụ cười tươi, nhưng này các đồng chí, Mikhail lại có hàm răng sắt.” Thủ tướng Nikolai Tikhonov không đồng ý chọn Gorbachev nhưng Nikolai Ryzhkov – Thủ tướng tương lai dưới thời Gorbachev – giải thích, “Nếu chọn các đồng chí lớn tuổi, chừng vài ba năm chúng ta lại họp để chọn người kế vị.” Đúng ra đa số các đảng viên thuộc Trung ương đảng đều mến mộ Gorbachev và muốn ông thay đổi bộ mặt của Bộ chính trị, kể cả guồng máy cồng kềnh chậm chạp của nhà nước Sôviết. Anatoli Chernyaev – đảng viên cộng sản cấp tiến – một trong nhiều đảng viên muốn một cuộc cải cách lớn lao trong hệ thống chính trị nặng nề Sôviết, ghi lại trong hồi ký, “Ai ai cũng mong đợi Gorbachev lên nắm quyền từ sau ngày Andropov chết. Thời Brezhnev, nhà nước đã không ra gì. Còn thời Chernenko thì đúng là một trò hề.”

Ngày hôm sau (11/3/1985), trước sự hiện diện của khoảng nghìn đảng viên, Gromyko trân trọng giới thiệu Tân Tổng bí thư Mikhail Gorbachev. Hầu hết các đảng viên dưới 70 tuổi đều thở phào với nụ cười hớn hở. Mọi người đứng dậy chúc mừng và tiếng vỗ tay hầu như không ngớt nổ dòn cả đại sảnh.

Thật là điều kỳ diệu khi Mikhail Gorbachev ngoi lên và nắm giữ quyền lực cao nhất của Liên bang Sôviết ở lứa tuổi mới ngoài 50, và chung quanh ông gồm đa số đảng viên bảo thủ, già nua, cáu kỉnh, dối trá, ưa nịnh cấp trên và thích được nịnh. Họ có miệng trên khuôn mặt đăm đăm nhưng dùng để nịnh hót cấp trên chứ chưa hề vén môi nở một nụ cười. Chỉ riêng Gorbachev là thường nở nụ cười với các đồng chí. Có lẽ Gorbachev là cán bộ duy nhất tại điện Cẩm Linh có nét mặt vui và nụ cười tươi. Thật ra, những người tri thức và có khả năng sáng tạo không hề được hoan nghênh kết nạp vào tầng lớp của quyền lực tuyệt đối; họ bị loại trừ khỏi guồng máy vốn chỉ ưu đãi những kẻ chuyên a dua nịnh hót với khả năng tầm thường. Mikhail Gorbachev may mắn hơn, được trùm mật vụ KGB Andropov đỡ đầu và kéo ra từ vùng Stravropol xa xôi hẻo lánh, nơi ông làm bí thư đảng bộ với 3 triệu dân. Yuri Andropov khoe với các đồng chí trong bộ chính trị là Gorbachev như viên ngọc quý trong đống bùn. Và một điều mỉa mai là sự nghiệp cách mạng của viên ngọc quý Gorbachev cũng khởi sự bằng sự nịnh hót. Thưa đúng, Gorbachev khởi nghiệp bằng sự bợ đỡ đến xấu hổ nhưng theo ông, “Những năm ấy, ai mà không ‘nâng bi’ Breznhev thì đừng hòng tiến thân.”

Mikhail Gorbachev sinh ngày 2/3/1931 trong một gia đình trộn lẫn niềm tin. Ông ngoại Gopkolo đặt hết niềm tin vào đảng cộng sản, và là chủ tịch hợp tác xã nông nghiệp đầu tiên tại vùng thảo nguyên trù phú Kuban. Cùng năm đó, Stalin ra lệnh tịch thu ruộng và bắt buộc nông dân vào hợp tác xã. Chính nó đã gây ra nạn đói và giết hại cả triệu người quanh vùng nhưng vẫn không lay chuyển được lòng tin vào đảng của Gopkolo. Tuy hết lòng tận tụy với đảng, trong cuộc Đại Thanh trừng (1937) của Stalin, ông ngoại Gopkolo bị mật vụ bắt đi trong đêm vì tội “phản động xét lại.” Ông bị cầm tù và bị hành hạ dã man suốt 14 tháng. Mãi đến năm 1941, khi quân Đức tấn công Nga, ông mới được tha về. Ông nội Andrei lại hoàn toàn khác hẳn. Andrei là người mộ đạo, không ưa cộng sản, vì chống đối chính sách hợp tác xã và bị đày đến Siberia lao động khổ sai (một trại cải tạo không cần hàng rào vì là sa mạc tuyết mênh mông, nhiệt độ hầu như dưới zero quanh năm, tù ở đây thường chết đói và chết lạnh, khó sống sót trở về; chú thích của người viết). Riêng bà nội và bà ngoại, cũng như bà mẹ, lại là tín hữu Chính thống giáo thuần thành. Chính người mẹ, Maria, theo lời yêu cầu của hai người bà đã lén lút bồng Gorbachev đến nhờ một linh mục rửa tội cho con. Theo Archie Brown – giáo sư ĐH Oxford, người chuyên nghiên cứu về Gorbachev – đây là hành động hết sức liều lĩnh, có thể mất mạng vì Stalin đã cấm ngặt tất cả mọi nghi thức tôn giáo. Một nhà báo Nga, nghiên cứu và viết tiểu sử Gorbachev, kể lại chính vị linh mục rửa tội đã đặt tên cho thằng bé là Mikhail. Và Mikhail chính là Mi-ca-e, một trong 4 vị Tổng lãnh Thiên thần theo tín lý của Công giáo và Chính thống giáo. Đồng thời, Thánh Mi-ca-e cũng là quan thầy của nước Nga từ thế kỷ 14. Ngôi thánh đường Thánh Mi-ca-e nguy nga đã bị Lênin tịch thu làm kho chứa nông phẩm ngay từ thuở đầu cuộc cách mạng. Sau bao nhiêu năm, không ai muốn nhớ đến tên vị thánh bổn mạng nữa. Có lẽ vị linh mục đã linh cảm được một cái gì đó nên mới chọn tên Mikhail cho đứa bé.

Tuy đại gia đình trộn lẫn niềm tin, ông ngoại Gopkolo không hề phản đối hoặc chê bai đức tin của người vợ. Gorbachev sau này thú nhận, “Ông ngoại tôi tôn trọng đạo của bà tôi. Cho dù vào thời điểm đó, nhà nước đàn áp tôn giáo dữ dội nhưng ông ngoại chưa hề tỏ thái độ khinh dể đức tin của bà tôi.” Ông thêm, “Một phần nhờ cách đối xử của ông ngoại, tôi tin và nhìn nhận phẩm giá của mỗi người, cho dù có sự khác biệt về màu da, niềm tin, và trình độ.” Có lẽ vì thế mà lúc giữ quyền lực cao nhất của 145 triệu dân, Gorbachev muốn thay đổi cái nhìn về nhân phẩm, và vận mệnh của nước Nga do đó cũng thay đổi theo.

Ngay từ nhỏ, Gorbachev học hành sáng dạ và có tài lý luận. Ông được đảng bộ địa phương gửi đến Moscow để học luật. Đây là trường luật nổi tiếng và là ước mơ được theo học của bao nhiêu thanh niên thanh nữ trong khối cộng sản để trở thành nhà lý luận sắc bén của chủ nghĩa Mác-Lê. Sau khi tốt nghiệp, Gorbachev quay trở về quê quán vùng Stravropol hẻo lánh bắt đầu sự nghiệp chính trị. Trước sau, Gorbachev là một nhà mácxít chân chính, hoàn toàn đặt hết niềm tin vào học thuyết cộng sản, mặc dù hai người ông đều là nạn nhân của chế độ. Tháng 2/1956, niềm tin của ông bị lung lay sau khi nghe bài “diễn văn bí mật” của Nikita Khrushchev, tố cáo tội ác tầy trời của Stalin đối với các đồng chí và dân chúng Nga. Đối với ông, thần tượng Stalin chỉ đứng sau thượng đế. Lần đầu tiên, ông mường tượng một áng mây đen trong bầu trời chủ nghĩa cộng sản.

Ngoài sức trai trẻ năng động, và đầy năng lực, Gorbachev còn nổi tiếng là một cán bộ trong sạch trong guồng máy nhà nước vốn đầy dẫy ăn bẩn và hối lộ. Cứ thế, con thuyền sự nghiệp của Gorbachev thuận buồm xuôi gió và ông leo dần lên chức bí thư năm 1967. Ở chức vụ này, Gorbachev biết chiều chuộng và tìm mọi cách chiêu đãi làm vui lòng các cán bộ từ trung ương về vùng thảo nguyên Kuban nghỉ mát. Đặc biệt 2 người, Yuri Andropov (trùm mật vụ KGB) and Mikhail Suslov (Đệ nhị Bí thư đảng Cộng sản Sôviết) rất mến mộ tài năng của ông và tìm cách đưa Gorbachev về làm việc tại trung ương.

Như trong bất cứ một chế độ độc tài nào, nịnh bợ là một nhân tố quan trọng trong hệ thống nhà nước cộng sản. Nịnh bợ như một đòn bẩy dùng để tiến thân. Thời phong kiến, triều đình không thiếu nịnh thần, và đặc biệt trong những nước cộng sản cũng không hề thiếu những văn nô, văn thi chuyên sáng tác những bài viết và thơ phú để ca tụng lãnh tụ. Và bước ngoặt cuộc đời chính trị của Gorbachev chính là bài viết nịnh bợ (đến ngượng đỏ cả mặt) cuốn sách “Đất Nhỏ, Little Land” do các văn nô viết theo lệnh của Brezhnev. Một cuốn sách nghèo nàn về nội dung, toàn sáo ngữ của Brezhnev tạo ra để tự ca ngợi chính mình, cổ võ sùng bái cá nhân, thế mà Gorbachev lại múa bút một cách tài tình, “Khối lượng công việc hàng ngày của ông nhằm củng cố sức mạnh của đất nước, nâng cao phúc lợi cho đời sống công nhân, tăng cường hòa bình và an ninh giữa các nước… trên các trang giấy trong cuốn ‘Đất Nhỏ’ tuyệt vời của đồng chí Brezhnev… những anh hùng huyền thoại của cuộc chiến ở vùng Bắc Caucasus được miêu tả bằng những dòng chữ mạ vàng… Số trang của ‘Đất Nhỏ’ không nhiều, nhưng với chiều sâu thăm thẳm của nội dung ý thức hệ, và theo chiều rộng mênh mang của quan điểm tác giả, nó đã trở thành một sự kiện lớn trong đời sống quần chúng. Nó đã tạo được tiếng vang nồng ấm trong trái tim nhân dân Sôviết… Những người cộng sản và tất cả mọi công nhân tại Stavropol đều vô cùng biết ơn Leonid Ilyich Brezhnev qua tác phẩm văn học mang nặng tinh thần Đảng này…” Andropov giới thiệu bài viết “nâng bi” cho TBT Brezhnev, và chỉ cần 6 tháng sau, Gorbachev được triệu về Moscow để giữ những công việc quan trọng của điện Cẩm Linh. Chẳng biết sau này khi Gorbachev đọc lại bài viết mang nặng tính văn nô có ngượng với chính mình không? Nhưng vào thời điểm đó, bài viết như đôi hia bảy dặm giúp ông chỉ cần một bước từ vùng Stravropol hẻo lánh cách xa Moscow hàng nghìn cây số thênh thang đặt chân vào chốn cung đình của quyền lực tuyệt đối.

Lúc đó là cuối năm 1978. Chẳng bao lâu, Gorbachev được thăng chức Bộ trưởng Nông nghiệp Sôviết, sau cái chết đột ngột của Fyodor Kulakov, một thủ lãnh cung đình nhiều quyền lực và cũng là người đỡ đầu của Gorbachev. Và chỉ cần 7 năm sau, Gorbachev đứng sừng sững ở ngôi vị cao nhất của điện Cẩm Linh, của thế giới cộng sản gồm Liên bang Sôviết và các nước chư hầu chiếm 1.5 tỷ người (hơn 1/3 dân số) trên hành tinh mang tên trái đất.

Nắm chức Tổng bí thư Sôviết với số tuổi chưa đến 60 là một điều hy hữu, và để chuẩn bị cho con đường sự nghiệp, Gorbachev đã bắt tay được một số đồng chí cùng chí hướng như: Anatoli Gromyko (con của Andrei Gromyko), Alexander Yakovlev, cựu đại sứ Liên sô tại Canada, và bổ nhiệm Eduard Shevardnadze làm Bộ trưởng Ngoại giao. Tất cả đều muốn thay đổi bộ máy cồng kềnh lạc hậu của nhà nước, luôn cả cung cách làm việc của đám cán bộ quan liêu lười biếng, ăn bám, thiếu sáng tạo và nhất là thay đổi bộ mặt của đảng để các nước thuộc khối tự do nhìn thấy một Liên bang Sôviết hòa hoãn hơn, biết yêu chuộng hòa bình.

Gorbachev lên nắm quyền với quá nhiều lỗi lầm của những kẻ tiền nhiệm. Tệ nạn xã hội cũng là một gánh nặng. Chiến dịch đầu tiên, ông quyết tâm bài trừ là bệnh ghiền rượu. Thật sự rượu là một tệ nạn xã hội đã có từ thế kỷ trước như Pushin, Dostoyevsky và Tolstoy thường nói đến trong các tác phẩm nổi tiếng của họ và đến cuối thế kỷ thì ghiền rượu trở thành một căn bệnh hầu như không còn thuốc chữa. Trước khi khối Sôviết tan rã, thống kê cho thấy có khoảng 40 triệu người ghiền volka trên 270 triệu dân. Bệnh ghiền rượu chiếm 15%, gần gấp đôi so với các nước Tây phương. Gorbachev tăng giá vodka gấp 3 lần và chỉ thị giảm sức sản xuất bia và rượu vang xuống gần ¾. Khi Vladimir Dementsev, Bộ trưởng Tài chánh, lên tiếng cảnh báo ngân sách sẽ thiếu hụt 15 tỉ rúp trong vòng 5 năm tới vì mức tiêu thụ rượu giảm, ông nói, “…không lẽ ông muốn tôi xây dựng chủ nghĩa cộng sản bằng vodka?”

Một điểm quan trọng nữa, Gorbachev nhận thấy là chi phí quốc phòng của Sôviết chiếm 40% ngân sách quốc gia. Một khi nền kinh tế đang đâm đầu xuống dốc không phanh thì đây là sự phí phạm khủng khiếp tài nguyên quốc gia. Trong khi đó, Hoa kỳ lại giương bẫy chạy đua vũ trang nên Liên bang Sôviết ngày thêm kiệt quệ. Đầu thập niên 1980, Thống chế Nikolai Ogarkov, người đứng đầu Bộ Tổng Tham mưu Sôviết, đã lên tiếng rằng chi phí quốc phòng có quá nhiều phí phạm, hiệu quả yếu kém, chỉ biết chạy theo số lượng trong khi phẩm chất tồi tệ và quá nhiều dự án gây lãng phí trầm trọng. Ông nói rằng cứ mù quáng đuổi theo Mỹ trong cuộc chạy đua vũ trang chính là “tự sát.” Đã túng lại càng mau khánh kiệt vì Liên sô còn phải tài trợ cho các nước chư hầu, nhất là các nước Đông Âu nên nền kinh tế như lửa gặp rơm càng mau cháy rụi. Chỉ riêng chi phí vào cuộc chiến và duy trì thể chế xã hội chủ nghĩa tại Afghan đã ngốn một khoản tiền khá lớn trong ngân sách quốc gia.

Lập tức, Gorbachev báo cho các nước chư hầu Liên sô sẽ cắt giảm các khoản tiền viện trợ. Các lãnh tụ Honecker (Đông Đức), Zhivkov (Bulgaria), Husák (Tiệp), Ceauescu (Romania), Kádár (Hung) và Jaruzelski (Ba Lan) được triệu về Moscow gặp TBT Gorbachev. Ông nói thẳng, “…các ông phải nhận lấy trách nhiệm lo cho dân nước các ông.” Gorbachev nói thêm Sôviết sắp có những thay đổi lớn lao về kinh tế và sự trao đổi hàng hóa giữa các nước trong khối Sôviết phải cân bằng, hai bên phải có lợi đồng đều. Điều đó có nghĩa là Nga sẽ không chịu thiệt thòi như trước đây, vì sự sai biệt thường biếu không cho các nước chư hầu. Nếu ngưng viện trợ, các nhà kinh tế điện Cẩm Linh phỏng đoán Liên sô sẽ tiết kiệm được khoảng 30 tỉ đô la hàng năm. Một con số chi tiêu không nhỏ so với một nền kinh tế đang trì trệ, với chi phí quốc phòng đã chiếm 40% tổng sản lượng quốc gia. Thời Brezhnev, bộ chính trị Liên sô siết gọng kềm với các nước chư hầu. Nhất cử nhất động đều phải báo cho mẫu quốc để xin chỉ thị. Nếu không nghe lời, Brezhnev sẵn sàng gửi quân đội và xe tăng đến tận nơi để dạy dỗ, và dẹp loạn. Nhưng nếu ngoan ngoãn, Liên sô sẽ viện trợ hàng năm. Chính Gorbachev là người khai tử chủ thuyết Brezhnev. Móng vuốt con gấu vùng Siberia đã nới lỏng, để các nước chư hầu tự do lo lấy bản thân. Hậu quả là khi không còn nhận viện trợ, các nước chư hầu dần dần thoát khỏi quỹ đạo của Sôviết. Ba Lan lợi dụng tình huống thả lỏng của Gorbachev, không còn lệ thuộc vào Liên sô, đã tổ chức bầu cử và tuyên bố thiết lập nền dân chủ tự do.

Một cục xương mắc nơi yết hầu của Liên sô từ năm 1980 là cuộc chiến tại Afghanistan. Sôviết xua quân chiếm Afghan vào cuối năm 1979, và tiếp tục đổ tiền vào để xây dựng nền móng xã hội chủ nghĩa. Đã có lúc 100 nghìn lính Nga tràn ngập Afghan để giữ an ninh cho làng mạc và thành phố, nhất là thủ đô Kabul. Gần 8 nghìn nhân mạng đã chết trong cuộc chiến chỉ mới 5 năm. Theo thống kê của hai Tiến sĩ Anton Minkov và Gregory Smolynec thuộc Học viện Quốc phòng Canada thì lúc Gorbachev nắm quyền (1985) Sôviết đã chi một khoản tiền 1.88 tỉ rúp. Suốt cuộc chiến kéo dài 10 năm, tổn phí lên đến 9 tỉ rúp. Trong khi cả nước đói meo vì khan hiếm thực phẩm, tiền đổ vào để duy trì chủ nghĩa cộng sản tại vùng rừng núi và sa mạc thì quả thật lãng phí.

Các nhà quân sự ví cuộc chiến Afghan của Liên sô như cuộc chiến Việt nam của Hoa kỳ. Thánh chiến quân (Mujahideen) dùng đồi núi hiểm trở để chiến đấu chống lại quân Liên sô như chiến thuật du kích của cộng sản bắc việt dùng trong chiến tranh Việt nam. Nếu Hoa kỳ nhường Việt nam lại cho Tàu sau khi bắt tay được với Mao (VN như món quà cho cuộc ‘lương duyên’ giữa Tàu & Mỹ; chú thích của người viết) để chống Liên sô thì Nga lại không thể nào thắng được tại mặt trận Afghan. Gorbachev giao cho tướng Anatoli Zaitsev, một trong những vị tướng tài ba nhất Bộ Tư lệnh Liên sô, một trọng trách tuyệt mật là phái ông đến Kabul để tìm ra đáp số trung thực nhất cho bài toán: Liệu Liên Xô có thể thắng cuộc chiến Afghanistan không? Tướng Zaitsev trở về với câu trả lời, “Không thể thắng.” Cuộc chiến dai dẳng như cục gân gà của Tào Tháo thuở nào. Nhả thì tiếc nhưng nuốt không trôi. Cuối cùng, Gorbachev quyết định nhả (1985).

Moscow bổ nhiệm bác sĩ Najibullah Ahmadzai làm Tổng thống Afghan năm 1986, thay thế Babrak Karmal là một ông già nát rượu, suốt ngày say xỉn. Gorbachev ký hiệp ước Genève đồng ý rút hết quân vào ngày 15/2/1989. Vào những tháng cuối cùng, TT Najibullah chạy chọt riêng đến Bộ trưởng Ngoại giao Shevardnadze và trùm mật vụ KGB Kryuchkov xin hoãn việc rút quân. Najibullah nói thêm, nếu rút quân thì xin tiếp tục oanh tạc vùng đồi núi để cầm chân quân Mujahideen. Najibullah biết rất rõ thực lực của quân đội Afghan, nếu không có lính Nga hậu thuẫn, thánh chiến quân sẽ chiếm trọn thủ đô trong vài ngày. Gorbachev nổi giận khi nghe Shevardnadze và Kryuchkov khuyên giúp TT Najibullah thả bom để cầm chân thánh chiến quân. Ông kiên quyết phải rút toàn bộ quân đội về nước để cứu lấy nền kinh tế Sôviết trước, còn Afghan chỉ là lỗi lầm của những vị tiền nhiệm.

Tưởng nhớ vài tháng trước ngày 30/4/1975, TT Thiệu cũng xin Hoa kỳ viện trợ súng đạn để giữ miền Nam. Hoa kỳ nhẫn tâm quay lưng, và chỉ cần vài tháng sau đó, quân bắc việt tràn ngập thủ đô Sàigòn. Âu cũng là một bài học cho các nước nhược tiểu, nếu chỉ biết cậy nhờ vào các nước lớn, một ngày nào đó vì quyền lợi riêng tư, họ sẽ bỏ rơi không thương tiếc. Số phận của Najibullah lại không may mắn, ông bị thánh chiến quân Taliban treo cổ và bêu xác giữa phố xá, ngay tại thủ đô Kabul.

Hai tháng sau khi nhậm chức, Gorbachev đưa ra 2 biện pháp để cứu nguy nền kinh tế xã hội chủ nghĩa Sôviết. Đó là Perestroika (tái cấu trúc) và Glasnost (cởi mở).

Cần nói rõ mục đích của Perestroika và Glasnost. Khi xiển dương chính sách “Tái cấu trúc” và “Cởi mở”, TBT Gorbachev không hề có ý định xóa bỏ đảng cộng sản, nhưng trái lại, ông muốn cứu Sôviết bằng cách làm cho nó tinh tuyền theo đúng nghĩa nguyên thủy của chủ thuyết cộng sản. Gorbachev vẫn tin tưởng vào đường lối cộng sản đề ra của Lênin, và chê trách Stalin đã áp dụng sai, đi lệch đường. Đây cũng là ảo tưởng mãnh liệt của rất nhiều người cộng sản chân chính. Họ tin rằng họ sẽ xây dựng thành công chủ nghĩa cộng sản nếu áp dụng chính sách và đường lối theo đúng kinh điển.

Với “Tái cấu trúc,” ông áp dụng một loạt các biện pháp năng động, khuyến khích các xí nghiệp đưa thêm sáng kiến, và đưa ra một số thay đổi nhỏ về kinh tế về cách phân phối hàng hóa trong nước cho hiệu quả hơn. Nhưng điều ông làm mất lòng một số quan chức cung đình là sa thải hàng loạt những cán bộ thân cận được Brezhnev che chở qua nhiều năm nhưng thực tế cho thấy họ chỉ biết ngồi tiêu xài và chẳng làm lợi gì cho nền kinh tế đất nước. Ông cho phép mật vụ KGB tấn công vào hệ thống quyền thế của những đám lãnh đạo tham nhũng tại các nước cộng hòa Trung Á. Gorbachev chỉ trích tệ nạn quan liêu cửa quyền trong hàng ngũ Đảng ở Ukraine và các vùng khác. Ông vẫn chủ trương trung ương tập quyền, duy trì độc đảng, nhưng lại cho phép người dân được chọn cán bộ vào một số chức vụ nhất định.

Với “Cởi mở,” đồng nghĩa với “công khai hóa.” Gorbachev kêu gọi sự minh bạch trong guồng máy nhà nước. Ông muốn dân chúng biết những hoạt động của nhà nước, càng biết rõ càng tốt. Thực tế là ông giảm thiểu vai trò kiểm duyệt truyền thông của nhà nước, đồng nghĩa với vai trò của báo chí tăng triển, cho phép tự do ngôn luận, cải thiện nhân quyền. Nhiều tác phẩm nổi tiếng của Alexander Solzhenitsyn – nhà văn Nga bị lưu đày vì chống Stalin – được in và phát hành với số lượng khổng lồ vì quá nhiều dân Nga thèm khát đọc. Tác phẩm Bác sĩ Zhivago của Boris Pasternak được in lại và cũng được dân chúng nồng nhiệt đón nhận. Glasnost còn phép báo chí có quyền theo dõi và chỉ trích việc làm của chính quyền Sôviết. Gorbachev nói thẳng với giới báo chí rằng họ tự do viết, nhưng phải viết đúng sự thật. Ông khuyên nên tự do phơi bày nạn tham nhũng ở cấp cao, kể cả những thất bại của guồng máy nhà nước, và nên tìm hiểu về một số sai lầm kinh hoàng trong lịch sử Sôviết. Nhờ đó mà hồ sơ tội ác tày trời của Stalin gồm những trại gulags giam giữ tù nhân rùng rợn, những cuộc thanh trừng giết hàng triệu người… được bạch hóa và người dân thấy được mặt trái của một chế độ dã man được che dấu và bưng bít qua nhiều thập niên. Báo chí tiếp tục phanh phui những chung cư chật hẹp chen chúc đông người, điều kiện vệ sinh thiếu thốn, chứng nghiện rượu, hút sách, ô nhiễm không khí, những xí nghiệp quá lỗi thời, kể cả guồng máy nhà nước quan liêu, chậm chạp. Dân chúng càng sững sờ khi biết mức sống ở Hoa kỳ và các nước Tây Âu cao thế nào, và người dân tại những nước này hưởng thụ một cuộc sống đầy đủ tiện nghi ra sao, cao gấp mấy lần mức sống tại Liên sô. Dân chúng giờ đây thấy cả một quá trình dài gần 70 năm xây dựng chủ nghĩa thất bại, và rất nhiều người dân thất vọng, mất niềm tin vào chủ thuyết cộng sản, và dần dần vỡ mộng về một hệ thống cồng kềnh và hủ lậu của nhà nước Sôviết.

Ngày 26/4/1986, lò nguyên tử Chernobyl tại Ukraine phát nổ vào lúc 1 giờ 30 sáng. Nguyên nhân do hệ thống bơm nước làm nguội lõi của lò phản ứng xây từ năm 1950 hư hỏng. Thêm một nguyên nhân nữa là nhân viên bảo trì lò hạt nhân không được huấn luyện kỹ càng. Hơn 300 gram chất đốt hạt nhân trong 1.661 thỏi thép nén đã bị nung nóng quá độ. Áp suất tăng cao độ khiến lò phát nổ và phóng ra ít nhất 5% lõi hạt nhân vào bầu khí quyển. Lượng phóng xạ thải vào không khí ước đoán mạnh gấp 10 lần quả bom nguyên tử nổ ở Hiroshima. Khoảng 4 giây sau, thêm lò phản ứng số 4 phát nổ gây ra một cột lửa khổng lồ cao 1200m chứa đầy các hạt than chì phóng xạ. Máy đo phóng xạ Geiger lại nằm trong kho, không có sẵn tại hiện trường nên mức độ phóng xạ tác hại bao nhiêu cũng chỉ phỏng đoán. Đội cứu hỏa địa phương ập đến lại không có dụng cụ thích ứng để dập tắt lửa và khống chế chất phóng xạ. Nhìn chung, qua tai nạn chết người này mới thấy hệ thống điều hành và cách giải quyết của nhà nước Sôviết tệ hại đến chừng nào.

Với bản chất dối trá cố hữu, bộ chính trị Sôviết muốn ém nhẹm vụ nổ vì sợ mất mặt đối với quốc tế. Sự dối trá bắt đầu từ ban giám đốc điều hành lò hạt nhân Chernobyl. Họ báo về trung ương là vụ nổ đã được khống chế với một vài thiệt hại nhỏ. Viktor Bryukhanov, được bổ nhiệm chức giám đốc nhà máy điện hạt nhân lúc mới 35 tuổi, là kỹ sư nhưng không phải là kỹ sư điện hạt nhân. Ông ra lệnh cắt đứt mọi đường dây điện thoại quanh vùng Chernobyl, quyết không cho tin tức vụ nổ lọt ra ngoài. Quyết định của Nguyên soái Sergei Akhromeyev, Tham mưu trưởng quân đội, cấm không cho dân chúng di tản sợ gây hoang mang. Bụi phóng xạ bay đầy trời thế mà nhà nước vẫn cứ tìm cách che dấu một tai nạn chết người khủng khiếp. Dân chúng ở thị trấn Pripyat gồm 45.000 người, nằm cách Chernobyl chỉ 3 cây số, vẫn sống thản nhiên, vẫn sinh hoạt bình thường, ngay cả hôm đó vẫn có 16 cặp làm đám cưới.

TBT Gorbachev gửi ngay một ủy ban do Thủ tướng Ryzkhov dẫn đầu đến tận nơi để điều tra và gửi báo cáo về điện Cẩm Linh. Họ đến nơi vào chiều thứ bảy. Mãi đến gần trưa ngày hôm sau, tức là gần 1 ngày rưỡi từ khi chất phóng xạ bắn vào không khí, chính quyền địa phương mới quyết định di tản toàn bộ dân chúng ra khỏi thị trấn Pripyat. Đến lúc đó thì đã quá trễ. Gần một ngày rưỡi bụi phóng xạ thấm vào da. Hơn một ngày hít thở chất phóng xạ. Một ngày mùa xuân kinh hoàng đó đeo đuổi dân chúng vùng Chernobyl mãi mấy mươi năm sau với các chứng bệnh ung thư, hoại huyết, và chứng tuyến giáp trạng do nhiễm độc phóng xạ. Một nguyên tắc bất di bất dịch mà những người chưa hề sống dưới chế độ cộng sản cần phải biết là: sinh mạng con người dưới chế độ cộng sản chẳng là gì, miễn giữ cho bộ mặt của đảng và nhà nước đầy son phấn là được.

Khi bụi phóng xạ bay đầy trời Ba Lan, vùng Baltic và Scandinavia nhà nước Sôviết vẫn bình thản. Ngay cả lúc phòng thí nghiệm năng lượng Studsvik trên bờ biển Baltic thuộc Thụy Điển, và nhà máy điện nguyên tử Forsmark lên tiếng báo động mức độ phóng xạ cao hơn 150 lần bình thường nhà nước cộng sản vẫn giữ im lặng. Họ không thông báo cho chính phủ các nước đang bị nhiễm xạ, cũng chẳng nói gì với dân chúng tại Ukraine, Nga và Belarus. Họ cũng chẳng thông báo cho các đồng chí trong “khối thịnh vượng chung xã hội chủ nghĩa”. Sự thật là, 4 ngày sau vụ nổ, một báo cáo mật gửi về Kremlin cho biết 1.882 người đang được điều trị tại bệnh viện, và 204 người (trong số có 64 trẻ em) đang nguy kịch vì nhiễm độc phóng xạ nồng độ cao. Mãi đến khi Thụy Điển xác định chất phóng xạ phải xuất phát từ Liên sô, nhà nước mới lên tiếng thừa nhận một cách yếu ớt.

Phản ứng của bất cứ nhà nước cộng sản nào từ năm 1917 đến nay đều giống nhau: trước phớt lờ, sau là chối. Truyền thống dối trá này chẳng lạ gì, nhưng lại là một dịp thử lửa chính sách glasnost (cởi mở) của Gorbachev. Chính khẩu hiệu của glasnost là chính quyền trong sạch, nhà nước minh bạch. Bộ chính trị phải công khai hóa vụ nổ, phải nhận lỗi lầm quản lý và điều hành, phải nhận trách nhiệm đã gây tai họa nghiêm trọng. Quy định của chính sách glasnost đã nói rõ như thế.

Nhưng Gorbachev thua đậm trên mặt trận glasnost.

Gorbachev thua vì các quan chức bảo thủ trong quân đội. Từ thống chế đến đại tướng, từ tham mưu trưởng đến đề đốc, tất cả đồng ý phải dứt khoát giữ im lặng, và nếu cần chỉ loan tin vắn tắt, tuyệt đối không “vạch áo cho người xem lưng” thảm họa Chernobyl. Họ nói, đây là bí mật quốc gia (sic), không được tiết lộ ra ngoài. Phần lớn đám quan chức này lớn lên trong thời kỳ cách mạng, đầu óc họ đông cứng toàn một mớ giáo điều, não trạng của họ hầu như không thể nào thay đổi. Hóa ra chính sách “glasnost” không thể nào cởi mở chính vì những quan chức thủ cựu trong quân đội.

Qua thảm họa lò hạt nhân, Gorbachev nhận ra được 2 bài học. (1) hệ thống nhà nước Sôviết đã quá lỗi thời, lối làm việc hoàn toàn máy móc, không một chút năng động, thiếu hẳn sáng tạo. (2) có quá nhiều cán bộ chỉ biết nghĩ đến nồi cơm, sẵn sàng dối trá để giữ ghế ngồi, bất chấp nguy hại đến sinh mạng người dân; (giám đốc nhà máy Bryukhanov, phó giám đốc Dyatlov, và kỹ sư trưởng Nikolai Fomin bị kết án 10 năm tù). Và cũng từ 2 bài học này, ông quyết tâm phải thực hiện cho bằng được 2 điều. (1) Đẩy mạnh cải tổ nhanh hơn nữa. (2) Hạn chế vũ khí hủy diệt. Thảm họa Chernobyl khiến ông ghê tởm vũ khí hạt nhân, dẫn đến ngày lịch sử 8/12/1987. Hoa kỳ và Liên bang Sôviết ký hiệp ước hạn chế vũ khí hủy diệt tầm ngắn, và tầm trung. Văn bản thống nhất rằng trong 3 năm, 1752 hỏa tiễn Sôviết và 859 hỏa tiễn Hoa kỳ có tầm xa từ 300 đến 3400 dặm sẽ được gỡ bỏ, kể cả các đầu đạn nguyên tử đi kèm.

Từ ngày nắm chức Tổng bí thư, Gorbachev thay thế dần những cán bộ ngồi ù lì ôm chặt chức từ thời Brezhnev bằng những người đồng chí hướng. Tuy vậy, số đồng chí bảo thủ vẫn còn khá nhiều trong điện Cẩm Linh. Một lý do phũ phàng là Gorbachev vẫn không dám đẩy mạnh cải cách sợ phật lòng các quan chức thủ cựu vì họ đang giữ các chức vụ then chốt trong quân đội. Những đồng chí già nua này vẫn muốn chạy đua sản xuất vũ khí với Hoa kỳ bất kể nền kinh tế trì trệ, vẫn muốn đóng quân ở Afghan, vẫn muốn giữ các nước Đông Âu trong gọng kềm Liên sô. Vụ nổ Chernobyl là một ví dụ điển hình, họ vẫn sẵn sàng dối trá để trốn tránh trách nhiệm. Sự dối trá đã ăn sâu vào từng thớ thịt, chạy trong máu, hầu như không thể nào tẩy rửa được. Cuộc cách mạng tháng 10 đã tạo nên những kẻ giáo điều, đầu óc sơ cứng, luôn đặt tự ái và sĩ diện lên trên cả lợi ích đất nước. Nếu không thay đổi được não trạng, thì chỉ còn cách thay đổi con người; nghĩa là cách chức hay sa thải. Gorbachev chờ đợi thời cơ để ra tay.

Và thời cơ đưa đến như một phép mầu. Sự kiện xảy ra vào ngày 28/5/1987 đã làm đảo lộn cán cân cải cách và bảo thủ trong điện Cẩm Linh. Đó là sự mạo hiểm chết người của Matthias Rust.

Rust, một thanh niên Tây Đức 19 tuổi, thuê chiếc máy bay dân dụng Cessna 172-B tại Hamburg và bắt đầu chuyến phi hành đến các nước Bắc Âu. Khởi hành đúng vào ngày 13/5/1987, Rust bay đến Na Uy, Phần Lan, Băng đảo, rồi Helsinki. Mỗi nơi Rust rong chơi đôi ngày. Chặng đường cuối, Rust cất cánh lúc 12:21 giờ trưa ngày 28/5 từ Helsinki và bay thẳng đến Moscow. Đúng ra, Rust báo cho đài kiểm không sẽ bay đến Stockholm, nhưng mới bay khoảng 20 phút, Rust quay ngược chiều bay về hướng Moscow. Vừa vượt qua không phận Estonia ở độ cao 1800 bộ, hệ thống radar của quân đội Liên sô phát hiện ngay và cho chiếc phản lực MIG-23 phóng lên theo dõi. Phi công MIG-23 báo cho biết là chỉ máy bay dân sự hạng nhẹ, rồi để vuột (sic). Một luồng radar khác cũng bắt được tín hiệu chiếc Cessna, nhưng lại tưởng là khinh khí cầu dùng để thăm dò thời tiết. Khi một hệ thống phòng không khác phát hiện, các sĩ quan trực lại nghĩ dấu hiệu của một đàn chim, không chừng là bầy ngỗng. Khi cách thủ đô Moscow 20 phút đường bay, hàng rào phòng thủ cuối cùng bảo vệ thủ đô lại tắt ngóm, chỉ vì máy móc phải tắt để bảo trì. Cuối cùng, Rust hạ cánh an toàn xuống Công trường Đỏ nằm ngoài bức tường của điện Cẩm Linh. Chỗ Rust hạ cánh chỉ cách văn phòng làm việc của TBT Gorbachev chừng 300m.

Đang thời kỳ Chiến tranh Lạnh, cuộc chiến một mất một còn giữa độc tài và tự do, giữa cộng sản và tư bản, với một cường quốc về quân sự như Sôviết, thế mà một chiếc máy bay lạ, xâm nhập không phận Liên sô, bay suốt hai tiếng rưỡi với quãng đường dài 600 cây số và hạ cánh an toàn ngay giữa Công trường Đỏ, sát điện Cẩm Linh, nơi tập trung tất cả quyền lực tuyệt đối của Liên bang Sôviết, mà không một ai hay, không một lời cảnh cáo, không còi báo động, và cũng không có một biện pháp an ninh thích ứng. Nghe cứ tưởng như chuyện đùa. Thế mà nó lại xảy ra mới thật lạ. Đúng ra chiếc Cessa phải bị bắn hạ hoặc bị ép hạ cánh lúc tiến vào không phận Estonia, 20 phút đầu tiên của chặng bay cuối cùng của Matthias.

So với vụ nổ nhà máy hạt nhân Chernobyl đã mất mặt với thế giới, vụ chiếc Cessna ngang nhiên đậu ngay giữa Công trường Đỏ là một điều sỉ nhục không thể nào chấp nhận được. Ở vị thế quân sự với máy móc tối tân, với vũ khí hiện đại, với hỏa tiển hủy diệt tầm xa, thế mà hệ thống phòng thủ không thể cản nổi một chiếc máy bay dân dụng Cessna. Thống chế Sergei Akhromeyev, Tổng Tham mưu trưởng quân đội Liên Xô, kinh hãi khi nghe tin dữ và tưởng tượng đến cơn thịnh nộ của Gorbachev khi biết chuyện.

Đúng như Akhromeyev tiên đoán, Gorbachev đang dự hội nghị thượng đỉnh tại Bá Linh với các lãnh tụ Đông Âu, vội vã cắt ngắn thời gian, quay về Moscow để hạch tội. “Đây là quốc nhục, nhục quốc thể… nhục… nhục không thua vụ Chernobyl,” Gorbachev phẫn nộ nói với các tùy viên, và cho rằng các tướng lãnh vì không đồng ý với ông về hạn chế vũ khí và cắt giảm ngân sách quốc phòng nên cố tình để chiếc Cessna đáp xuống Công trường Đỏ để làm ông mất mặt với thế giới. Hôm sau, Gorbachev triệu tập các tướng lãnh chịu trách nhiệm phòng thủ, và hơn một tiếng đồng hồ, ông “lên lớp” về an ninh, hạch sách đủ điều kèm theo lời mỉa mai cay độc. Tướng Pyotr Lushev, vị tư lệnh quân đội chịu trách nhiệm phòng thủ Moscow, và Thống chế Sergei Akhromeyev may mắn thoạt nạn. Nhưng Bộ trưởng Quốc phòng, Thống chế Sergei Sokolov, vị tướng tư lệnh chiến trường Afghan, từ chức ngay trước mặt Gorbachev. Riêng tướng Alexander Koldunov, một phi công xuất sắc trong Thế chiến II, tư lệnh lực lượng phòng không Liên sô, bị sa thải ngay tại chỗ.

Gorbachev đã lợi dụng vụ chiếc máy bay Cessna để thanh trừng quân đội tận gốc, loại trừ những kẻ cản đường cải cách. Hơn 150 sĩ quan, những kẻ tỏ ý phản kháng chính sách “tái cấu trúc” và “cởi mở,” bị sa thải; một số khác phải ra toà án quân sự và lãnh án. Trong vòng 1 năm kể từ sự kiện Rust, toàn bộ giới lãnh đạo chóp bu tại Bộ Quốc phòng, tại Bộ Tổng tham mưu, trong hàng ngũ tư lệnh khối Warsaw và tư lệnh các quân khu đều bị thay đổi. Vào thời điểm này, Gorbachev đã có lợi thế. Những người cản đường “cởi mở,” những kẻ bất bình “tái cấu trúc,” đã bị loại trừ. Từ 1988 trở đi, Gorbachev trả tự do nhiều hơn cho báo chí, và các phương tiện truyền thông, kể cả thả lỏng các nước Đông Âu.

Điểm trớ trêu là các lãnh tụ Đông Âu phải mất một thời gian mới hiểu được ý nghĩa cải cách của Gorbachev. Họ là những kẻ được Liên sô dựng lên, bất chấp ý nguyện của người dân. Vì thế, họ luôn cậy nhờ vào sức mạnh quân đội, xe tăng, và tiền viện trợ của Liên sô để cai trị dân chúng. Sau mỗi biến động xảy ra và cuộc trấn áp thành công, Liên sô lại đổ tiền vào để giữ an ninh, gọi là thưởng công. Trợ lý Andrei Grachev cho biết, “Liên sô mua chuộc lòng trung thành và sự lệ thuộc chính trị của các lãnh tụ Đông Âu bằng tiền viện trợ. Số tiền bao cấp này ngày càng cao, vượt hơn chi phí bao cấp cho chính người dân Liên sô.” Đối với Gorbachev, đó là điều phi lý và phải chấm dứt. Làm sao lại lấy tiền của dân Nga để lo cho dân Đông Âu? Sự phi lý này kéo dài mấy chục năm, và thất thoát biết bao nhiêu tiền của. Sự can thiệp vào nội bộ của các nước Đông Âu giảm dần, các cố vấn Nga vẫn còn có mặt nhưng họ được lệnh không đóng góp ý kiến gì, để tự những lãnh tụ này quyết định mọi công việc điều hành quốc gia. Các lãnh tụ Đông Âu dần dần hiểu được ý nghĩa của “cởi mở” và “tái cấu trúc”, bao gồm việc họ phải tự lo cho người dân trong nước, và đừng trông chờ vào sự viện trợ của Liên sô nữa, lúc đó họ ngơ ngác không biết xoay xở thế nào để sinh tồn.

Đất nước Ba Lan ngày càng lâm vào cảnh bi đát vì lệnh cấm vận của Hoa kỳ từ năm 1981. TBT Jaruzelski không biết xoay xở để cứu nguy nền kinh tế. Bang giao với Liên sô vẫn còn, nhưng mối liên hệ tài chánh ngày càng nhạt dần. Cuối cùng đảng cộng sản Ba Lan đành chịu nhượng bộ trước áp lực luân lý, kinh tế và chính trị do Giáo hoàng Gioan Phaolô và TT Reagan áp đặt. Các nhà tù trở nên trống rỗng, phiên tòa xử ông Walesa về tội vu khống giới chức chính quyền nhà nước bị huỷ bỏ.

Sự nhượng bộ đầu tiên là Jaruzelski cam kết mở cuộc đối thoại với Giáo Hội vào ngày 19 tháng 2 năm 1987 qua hội nghị Bàn Tròn. Trong cuộc hội nghị này, hai bên đàm phán gay cấn về quyền lợi của Công đoàn, và vai trò của Giáo hội trong việc xây dựng đất nước Ba Lan. Đây là bước khai phá then chốt trong tiến trình dân chủ. Lập tức, TT Reagan bãi bỏ toàn bộ lệnh trừng phạt, kèm theo lời khuyến cáo Hoa kỳ sẽ giám sát trong thời gian tới bảo đảm sự hòa hợp giữa Công đoàn và nhà nước, nhất là các thỏa thuận hai bên từ trước đến nay vẫn phải được tôn trọng. Vào thời điểm này, nền kinh tế Ba Lan đã tổn thất khoảng 15 tỷ, gồm 2 tỷ nợ tín dụng của Hoa kỳ. Bốn tháng sau, tháng 6/1987, vị Giáo Hoàng 67 tuổi trở về quê hương lần thứ ba trong chuyến công du 7 ngày. Hàng triệu dân chúng nô nức nghênh đón ngài. Giáo hoàng Gioan Phaolô đi khắp Ba Lan lên tiếng đòi hỏi nhân quyền và khen ngợi những thành quả của Công Đoàn Đoàn Kết. Trong buổi cầu nguyện cùng với 1 triệu rưỡi dân chúng tại Gdansk, Giáo hoàng Gioan Phaolô an ủi các giáo dân, “…cuộc hành trình cam go của lịch sử Ba Lan có thể ví như cuộc khổ nạn của Đức Kitô… chịu đau đớn và vỡ nát, nhưng sẽ chỗi dậy.” Cùng một thời điểm, ở cách xa Ba Lan chừng vài trăm dặm, TT Reagan ghé thăm Bá linh và đọc một bài diễn văn hùng hồn tại cổng Brandenburg của Bức tường Ô nhục trước cử tọa chừng 10 nghìn người. Tổng thống chỉ thẳng vào bức tường và dõng dạc, “Ông Gorbachev, hãy mở cổng ra! Ông Gorbachev, hãy phá sập bức tường này!” Bức tường ngăn chia Đông và Tây Đức, biểu tượng quyền lực của Sôviết tại Âu châu, và cũng là biểu tượng của cuộc Chiến tranh Lạnh giữa cộng sản và tự do, được xây cấp tốc trong 2 ngày vào tháng 6/1961 theo lệnh của Khrushchev.

Đến tháng 7 năm 1988, TBT Gorbachev thăm viếng Warsaw. Ông chính thức lên tiếng thừa nhận Công đoàn Đoàn kết và khuyên TBT Jaruzelski nên hợp tác với Giáo hội Công giáo Ba Lan. Vào ngày 5 tháng 4/1989 hai bên (Cộng sản và Giáo hội Công giáo Ba Lan) ký thỏa ước hợp thức hóa – một lần nữa – Công đoàn Đoàn kết, và vào tháng 6 mở cuộc tuyển cử vào lưỡng viện quốc hội, sau gần nửa thế kỷ người dân chỉ biết bầu cho những đảng viên của điện Cẩm Linh.

Ba Lan là nước Đông Âu đầu tiên trong thời Chiến tranh Lạnh tổ chức bầu cử tự do. Và kết quả cuộc bầu cử như một cái tát vào mặt đảng cộng sản Ba Lan. Công đoàn Đoàn kết chiếm 33 trên 35 ghế Hạ viện, và 99 trên 100 ghế Thượng viện. Trước ngày bầu cử, Jaruzelski và những kẻ thân cận vẫn tin rằng đảng cộng sản sẽ nắm đa số ghế tại lưỡng viện. Bộ chính trị Ba Lan ngây thơ như một đứa trẻ mới lớn. Họ không biết rằng quyền lực họ đang nắm trong tay là nhờ vào hậu thuẫn của Moscow. Dân chúng chưa hề ủng hộ họ trong từng ấy năm. Một khi dân Ba Lan biết Liên sô sẽ không đưa quân đội và xe tăng tràn sang biên giới để đàn áp nữa thì họ sẽ không còn gì phải sợ. Họ dồn uất ức trong 40 năm vào lá phiếu và chỉ bầu cho các ứng cử viên thuộc Công đoàn Đoàn kết. Sự thật như Alexander Kwasniewski, người trẻ nhất và khôn ngoan nhất trong hàng ngũ lãnh đạo Ba Lan, nói: “Rất nhiều đảng viên cộng sản gạch bỏ tên của cả những ứng cử viên cộng sản!” Khi chính người cộng sản chán ghét cộng sản thì không còn gì để nói nữa.

Tuy Công đoàn thắng lớn nhưng Walesa thận trọng. Ông nghĩ một khi bộ Nội vụ và bộ Quốc phòng còn nằm trong tay đảng cộng sản thì không nên dồn Jaruzelski vào chân tường. Sau khi bàn bạc kỹ lưỡng với ban lãnh đạo, ông đề nghị Tadeusz Mazowiecki, một trong những người thành lập Công đoàn, đứng ra nhận chức vụ Thủ tướng vào tháng 8/1989. Riêng Jaruzelski đắc cử “vẻ vang” – được đúng 1 phiếu – vào chức vụ tổng thống của nước Cộng hòa Ba Lan (không còn hai chữ Nhân dân nữa). Ông đắc cử vì lẽ chỉ mỗi mình ông tranh cử. Ở ghế tổng thống, ông chỉ có danh nhưng không có quyền. Mọi việc điều hành quốc gia Ba Lan đều nằm trong tay Thủ tướng Mazowiecki. Mãi đến tháng 12/1990, Jaruzelski từ chức, và Lech Walesa đắc cử thật vẻ vang vào chức vụ Tổng thống Ba Lan. Walesa thắng vinh dự vì cả nước dồn phiếu cho ông. Lần đầu tiên trong lịch sử Ba Lan sau Thế chiến II, toàn bộ nội các của chính phủ không còn một đảng viên cộng sản nào.

Đúng như TT Reagan và Giáo hoàng Gioan Phaolô tiên đoán, cuộc bầu cử tự do tại Ba Lan“là con dao đâm thẳng vào tim đế quốc Sôviết,” mở đầu cho một luồng gió dân chủ thổi vào các nước Đông Âu. Chịu ảnh hưởng làn gió mát dân chủ từ Ba Lan là Hungary (gọi tắt là Hung) và Đông Đức. Từ năm 1988, sau khi lên nắm quyền, Miklós Németh, Thủ tướng Hung, hoan nghênh cải cách và nồng nhiệt ủng hộ sự bầu cử tự do. Đảng cộng sản Hungary cho phép dân chúng đi lại tự do, kể cả du lịch sang các nước láng giềng. Tháng 5/1989, với áp lực của dân chúng và “đèn xanh” của Sôviết, Hungary chính thức mở cửa biên giới thông thương sang Áo. Dân Đông Đức nhìn thấy con đường dẫn đến tự do ngắn quá, dễ dàng quá. Họ chỉ cần băng qua Tiệp, đổ vào Áo, rồi quay ngược trở lại Tây Đức để đoàn tụ với gia đình sau gần nửa thế kỷ chia ly. Khoảng tháng 11/1989, Tòa Đại sứ Tây Đức tại Prague (Tiệp), Vienna (Áo), Warsaw (Ba Lan), và Budapest (Hung) tràn ngập dân Đông Đức xin tỵ nạn. Bộ trưởng Ngoại giao Hung, Gyula Horn, cũng cho phép 8 nghìn dân tỵ nạn Đông Đức định cư tại Tây Đức qua ngả Áo. Erich Honecker, TBT Đông Đức, tức giận và lập tức ra lệnh đóng cửa biên giới thông sang Tiệp. Nhưng Honecker đã tính sai nước cờ. Dân chúng nổi dậy biểu tình khắp Đông Đức. Cả nước hỗn loạn. Áp lực trong nước bỗng tăng cao vùn vụt như nồi súp-de. Ngày 18/10/1989, Honecker từ chức Tổng bí thư.

Bức tường Bá linh, còn mang tên là Bức tường Ô nhục, cao hơn 4m, dày hơn 1m, và dài gần 160 km, ngăn chia Đông và Tây Bá linh, đồng thời cô lập thành phố ngay giữa lòng Đông Đức. Đêm mùng 9/11/1989, hơn 20 nghìn người tụ họp hai bên bước tường tại nút chặn Bornholmer ca hát, nhảy múa, uống bia và rượu sâm-banh trước sự bình thản của quân đội. Đám lính canh và mật vụ vẫn chờ lệnh của thượng cấp dẹp loạn và bắn bỏ những ai vượt tường. Khoảng 10:30 khuya, dân chúng leo lên cả bờ tường la to, “Tor auf! Tor auf!; Mở cổng! Mở cổng!” Cả một biển người tràn ngập nút chặn, vượt tường qua lại tự nhiên không gặp một sự kháng cự nào. Lúc đó, hình như không một quyền lực nào có thể cản trở niềm khao khát tự do của dân chúng 2 miền. Chờ mãi không thấy lệnh thượng cấp, đám lính canh đành mở cổng để hai bên thông thương tự do. Khoảnh khắc sau, dân 2 miền Đông và Tây cùng nhau dùng xẻng, búa tạ, búa chèn, đập mẻ từng góc tường. Bức tường bị đẽo gọt dần và khi họ dùng xe ủi đất đâm thẳng vào bức tường đúc bằng xi măng kiên cố thì nó hoàn toàn bị khuất phục. Ngã quỵ và đổ nát thành từng mảnh.

Bức tường Bá linh. Bức tường Ô nhục. Biểu tượng cuối cùng của chủ nghĩa cộng sản tại Đông Âu, đứng sững sững trong 18 năm, đã sụp đổ tan tành.

Giáng sinh 1989. Khán giả trong phòng hòa nhạc Schauspielhaus tại Đông Đức đang háo hức chào đón nhạc trưởng Leonard Bernstein; người điều khiển dàn đại hòa tấu trình diễn bản giao hưởng số 9 của Beethoven. Các nhạc công tài danh được tuyển chọn từ Đông và Tây Đức, Pháp, Sôviết, và Hoa kỳ cùng nhau hợp tấu với đôi bàn tay điêu luyện của Bernstein. Giàn giao hưởng tổng hợp trăm ca viên trong bộ đồng phục nghiêm trang chờ lệnh của vị nhạc trưởng thiên tài. Cảm hứng về luồng gió dân chủ thổi khắp Đông Âu, và mới hơn tháng trước, bức tường ô nhục sụp đổ, ông đổi một chữ trong bài thơ nổi tiếng của Friedrich Schiller, “Ode to Joy,” thành “Ode to Freedom,” và các ca viên hùng hồn hát vang bản giao hưởng số 9 của Beethoven vinh danh tự do.

Tự do. Ôi! tự do. Niềm vui dào dạt tràn ngập phòng hòa nhạc, từ nhạc sĩ đến nhạc công, từ ca viên đến khán giả. Ode to Freedom vang lừng, nỗi cảm xúc thấm sâu tận đáy tâm hồn mỗi cử tọa khiến bầu khí phòng hòa nhạc trầm lắng, chỉ còn nghe hai chữ tự do vang vọng bên tai. Gần một năm sau, ngày 3/10/1990, Đông và Tây thống nhất. Ngày lịch sử đánh dấu, một lần nữa, một nước Đức hùng cường mang tên Cộng hòa Liên bang Đức.

Ngày 1/12/1989, TBT Gorbachev cùng phu nhân chính thức viếng thăm Vatican. Cả hai, vị Giáo hoàng và ông Gorbachev, nói chuyện riêng hơn tiếng đồng hồ. Báo New York Times mô tả, “Lần đầu tiên, lãnh tụ của nước Sôviết cộng sản vô thần gặp gỡ vị đại diện của Thiên Chúa.” Học giả Weigel ví von lần gặp gỡ đó xem như một sự đầu hàng của chủ nghĩa vô thần. Cuộc chiến giữa chủ nghĩa cộng sản và Karol Wojtyla cùng toàn thể dân Ba Lan, kéo dài qua bao nhiêu thập niên, đã kết thúc.

Cuộc bầu cử tự do tại Ba Lan, và bức tường Bá linh sụp đổ là khởi sự cho một kết thúc của chủ nghĩa cộng sản vô thần. Tất cả tiếp theo đó chỉ là thời gian. Tiệp với cuộc Cách mạng Nhung chấm dứt 4 thập niên cai trị của đảng cộng sản; lãnh tụ Todor Zhivkov của Bulgaria bị hạ bệ và kéo theo đảng cộng sản; dân Romania lật đổ Nicolae Ceausescu và lập tòa án xử tử cả hai vợ chồng; đảng cộng sản Nam Tư cũng bị giải thể.

Ngoài các nước Đông Âu là chư hầu, Liên bang Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Sôviết bao gồm 15 nước cộng hòa khác; trong đó nước Nga là một. Đứng đầu Liên bang Sôviết là Chủ tịch Gorbachev, và Boris Yeltsin là Chủ tịch nước Nga – một người nhiệt tình ủng hộ chính sách tái cấu trúc. Tháng 8/1991, các đảng viên cộng sản bảo thủ bất ngờ làm một cuộc đảo chánh lật đổ Gorbachev; khi gia đình ông đang nghỉ mát tại Crimea. Họ muốn bãi bỏ ngay perestroika và glasnost, tái lập trật tự cũ, và tập trung tất cả quyền hành vào tay đế quốc Sôviết. Đó là Bè Lũ Tám Tên (Bát Nhân Bang, Gang of Eights): Gennady Yanayev – Phó Chủ tịch Sôviết; Vladimir Kryuchkov – Trùm mật vụ KGB; Dimitri Yazov – Bộ trưởng Quốc phòng Sôviết; Valentin Pavlov – Thủ tướng Sôviết; Oleg Baklanov – Thành viên Hội đồng Quốc phòng; Vasily Starodubtsev – thành viên Quốc hội Sôviết; và Alexander Tizyakov – Chủ tịch Doanh nghiệp Nhà nước.

Cuộc đảo chánh thất bại nhờ sự can đảm và kiên quyết của Boris Yeltsin (1931-2007), Chủ tịch Cộng hòa Nga, cứu nguy Gorbachev. Yeltsin nổi bật như một biểu tượng chính trị cải cách của Nga. Cuối năm đó, Yeltsin đảo ngược trật tự của Sôviết kể từ sau Thế chiến II. Liên bang Sôviết tan rã và 15 nước chư hầu tuyên bố độc lập. Ngày 25/12/1991, đúng ngày lễ Giáng sinh, Gorbachev từ chức, chính thức chấm dứt Liên bang Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Sôviết. Yeltsin được bầu làm Tổng thống đầu tiên của Liên bang Nga, và lần đầu tiên trong gần ¾ thế kỷ, nội các nước Nga không có một bóng đảng viên cộng sản. Lá cờ búa liềm màu đỏ thấm máu của 100 triệu nạn nhân được thay thế bằng lá cờ 3 màu (trắng, xanh, đỏ,) và trở thành biểu tượng của Liên bang Nga.

Sự tan rã của Liên bang Sôviết nằm ngoài dự liệu của Gorbachev. Ông đưa ra chính sách “tái cấu trúc” và “cởi mở” để cứu nguy chủ nghĩa cộng sản. Gorbachev chỉ muốn làm cho chủ nghĩa cộng sản tinh tuyền như theo kinh điển của Lênin. Ông muốn xây dựng một đất nước Nga hùng mạnh về kinh tế, thâm tâm ông chẳng hề muốn xóa bỏ chủ nghĩa cộng sản trên đất mẹ. Điều ông không ngờ là chính “cởi mở” đã cởi xiềng xích và bẻ gãy gông cùm của sự thống trị độc tài. Bánh xe lịch sử lăn và xoay về hướng tự do, dân chủ, trả lại nhân phẩm cho hàng trăm triệu con người và ông không thể nào cưỡng lại được. Nỗi khao khát tự do của dân chúng bị kềm kẹp trong gần nửa thế kỷ bùng nổ như một thùng thuốc súng, vũ bão như một cơn lốc, thô bạo như nước lũ, hung dữ như nguyên tử, và không gì có thể kềm hãm được.

Nếu đế quốc La mã tan rã dần, từ lụn bại đến tan rã kéo dài cả trăm năm thì đế quốc vô thần Sôviết lại chết tức tưởi. Nó chết như chưa từng bao giờ được sống. Lịch sử cần 3 người, một Công giáo – Giáo hoàng Gioan Phaolô II, một Tin lành – TT Ronal Reagan, và một Chính thống giáo – TBT Mikhail Gorbachev để khai tử chủ nghĩa cộng sản. Thế mới biết chủ nghĩa vô thần, sức mạnh của Satan khủng khiếp đến chừng nào. Âm thầm, lặng lẽ, vô thần rút vào bóng tối chờ một cơ hội khác sau gần ¾ thế kỷ gieo rắc sự lầm lạc.

(còn tiếp)

SƠN NGHỊ

Tài liệu tham khảo:

  1. David McLellan, Maxism and Religion: A Description and Assessment of theMarxist ritique of Christianity (London, The MacMillan Press LTD, 1987)
  2. John de Marchi, I.M.C., The True Story of Fatima (Imprimatur 1947 and 2009)
  3. Matthew J. Ouimet, The Rise and Fall of the Brezhnev Doctrine in Soviet Foreign Policy (Chaped Hill and London, The University of North Carolina Press, 2003)
  4. George Weigel, Witness To Hope (New York, PerfectBound of HarperCollins Publishers, Inc., 2005)
  5. Archie Brown, The Gorbachev Factor (New York, Oxford University Press Inc., 1996)
  6. Arcbishop Fulton Sheen, The World’s First Love (New York, McGraw-Hill Book Company Inc., 1952)
  7. Paul Kengor, The Crusader: Ronal Reagan and the Fall of Communism (New York, HarperCollins Publishers Inc., 2006)

Time Subscription, http://content.time.com/time/magazine/article/0,9171,974548,00.html

Time Subscription, http://content.time.com/time/magazine/article/0,9171,159069,00.html

 

 

 

 

HIỆN TƯỢNG FATIMA, CỘNG SẢN, VÀ HỒI GIÁO

This gallery contains 2 photos.

      Số báo Time, phát hành ngày 30/12/1991, Richard N. Ostling – một ký giả kỳ cựu chuyên về mục tôn giáo – đăng tải một bài viết nhan đề, “Hand-maid or Feminist?”. Trong bài viết này, ông nhận định: “Trong số những phụ nữ đã từng sống ở trần gian, Mẹ của […]

LIỆU MỸ SẼ PHÁT ĐỘNG CHIẾN TRANH Ở BIỂN ĐÔNG?

 

https://www.voatiengviet.com/a/3961953.html

https://www.youtube.com/watch?v=NtizjV8u8Xg

Đô đốc Mỹ: ‘Sẽ tấn công TQ bằng hạt nhân,’ nếu có lệnh của TT Trump. Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương Mỹ hôm thứ Năm 27/7 nói ông sẽ tấn công Trung Quốc bằng hạt nhân ngay tuần tới. Xin mời quý độc giả đọc bài nhận định sau đây.

Từ sau năm 1945, những nhà tài phiệt thuộc các cường quốc tin tưởng vào thuyết Malthus và thuyết Darwin. Tóm tắt 2 thuyết như sau:

  1. Malthus theory (thường gọi là thuyết nhân mãn): Thomas Robert Malthus, nhà kinh tế, cho rằng dân số tăng theo cấp số nhân và thực phẩm tăng theo cấp số cọng. Theo mô hình này, một lúc nào đó nhân loại sẽ cạn kiệt thực phẩm.
  2. Darwin theory (thường gọi là thuyết tiến hóa): Charles Darwin, nhà sinh học, cho rằng con người tiến hóa từ vượn lên đến người qua hằng triệu năm. Nhưng cốt lõi của thuyết này là “fittest for survival hoặc survival of the fittest”, nghĩa là “mạnh được yếu thua” (hay là thuyết sinh tồn). Qua hằng triệu năm, loài nào mạnh sẽ tồn tại và sống còn.

Những người này, mệnh danh là elitist (tycoons), giàu có và thế lực bậc nhất thế giới đã chuẩn bị cho một TÂN TRẬT TỰ THẾ GIỚI, (New World Order) ngay khi Thế Chiến II chưa chấm dứt. Quyền lực của họ (phần lớn là những nhà tài phiệt trong ngành ngân hàng) thì vô biên với cánh tay dài như vòi bạch tuộc. Họ điều khiển và hướng dẫn vận mệnh của cả thế giới. Họ có thể khuynh loát nền chính trị của bất cứ nước nào. Điều đáng bàn là những elitists này tin tưởng tuyệt đối vào hai thuyết nhân mãn và tiến hóa kể trên và gần một thế kỷ qua (1945-2017) họ hành động dựa trên hai thuyết nhân mãn và tiến hóa, đưa đến những kết quả “hữu hiệu” rất đáng sợ.

Chiến tranh lạnh (Cold War) đã được thành hình ngay sau khi Thế chiến II chấm dứt. Đầu tiên là cuộc chiến Triều tiên (1950-1953). Từ 1943, Mỹ đã tồn trữ một số đạn dược rất lớn trên đảo Okinawa, nhằm chuẩn bị một cuộc tấn công toàn diện đánh bại đế quốc Nhật. Kế hoạch cuộc đổ bộ này giống như kế hoạch đổ bộ lên bờ biển Normandi, chọc thủng phòng tuyến của Đức quốc xã. Bất hạnh thay cho dân Nhật, gần 2 tháng trước khi chấm dứt Thế chiến II, Mỹ đã thử thành công bom nguyên tử (16/7/1945) tại Alamogordo, bang New Mexico. Nhật lập tức đầu hàng vô điều kiện sau khi Mỹ thả 2 quả bom nguyên tử, san bằng 2 thành phố Hiroshima và Nagasaki và giết hại hàng trăm nghìn thường dân. Trữ lượng đạn dược trên đảo Okinawa cung cấp cho khoảng 500 nghìn binh sĩ bỗng nhiên trở nên vô dụng. Đại tá Leroy Flectcher Prouty viết lại trong cuốn “JFK: The CIA, Vietnam, and the Plot to Assasinate Kennedy”, tàu cập bến Naha trên đảo Okinawa nườm nượp để chở kho vũ khí đạn dược đến Đại hàn, và cảng Hải phòng. HCMinh và Việt minh nhận hàng tấn đạn dược, bắt đầu thời kỳ tiêu thổ kháng chiến và đánh bại thực dân Pháp năm 1954 tại thung lũng Điện biên phủ. Cuối cùng, 2 cuộc chiến Quốc-Cọng đầu tiên khai mào thời kỳ Chiến tranh Lạnh đã xảy ra tại Đại hàn và Việtnam, nhằm tiêu thụ số đạn dược còn dư thừa từ Thế chiến II. Ngoài ra, số lượng bom tồn kho đem sử dụng trong chiến tranh VN mới kinh khủng. Hồ sơ Pentagon Paper tiết lộ số lượng bom thả trong cuộc chiến VN là 7.6 triệu tấn, nhiều hơn 3.5 lần so với số lượng bom thả trong Thế chiến II, 2.1 triệu tấn. Mỹ chuẩn bị một cuộc chiến lâu dài nên trữ lượng đạn dược quá tải. Giải quyết đạn dược tồn kho vì:

  1. thiếu kho chứa và phí tổn bảo trì
  2. cần chế tạo vũ khí mới theo nguyên tắc “muốn có hòa bình phải chuẩn bị chiến tranh, si vis pacem, para bellum”

Bất hạnh thay cho nước Việt, bọn tài phiệt chọn Đông dương (Việt, Cao-miên, Lào) làm thí điểm để tiêu thụ số đạn dược dư thừa. Sau 15 năm (1960-1975), Mỹ hầu như tiêu thụ hết số đạn dược còn sót lại từ thời Thế chiến II, và đồng thời thử nghiệm một số vũ khí mới trên chiến trường VN. Kết quả, hơn 4 triệu thường dân Việt, và hơn 2 triệu binh lính hai miền thương vong. Cuộc chiến tốn phí 168 tỷ USD, (giá trị vào thời điểm 1975). Sự chết chóc (giảm thiểu dân số thế giới) xảy ra do chiến tranh nhằm phục vụ thuyết nhân mãn của Malthus. Mới đây, Giáo sư Stephen J. Emmott lại lên tiếng báo động về dân số gia tăng trong cuốn “10 Billion” – thêm một phụ lục của thuyết Malthus – nhưng theo một cuộc khảo sát của Heinz-Wilhelm Strubenhoff thuộc Ngân hàng Thế giới (World Bank), (https://www.brookings.edu/blog/future-development/2015/04/28/can-10-billion-people-live-and-eat-well-on-the-planet-yes/), và James Pethokoukis thuộc Học viện American Enterprise (https://ricochet.com/archives/how-we-can-easily-feed-a-planet-of-11-billion/) thực phẩm trên thế giới vẫn dư thừa cho 10 tỷ người từ đây cho đến năm 2100, nhưng bọn tài phiệt vẫn tin tưởng rằng chiến tranh là một cách giảm thiểu dân số “chính đáng” và “hợp lý” nhất. Ngoài ra, họ theo đuổi thuyết “mạnh được yếu thua” của Darwin để khuất phục thế giới. Hơn nữa, lý do hấp hẫn bọn tài phiệt chính là lợi nhuận, giống như “bàn tay vô hình, invisible hand” mà Adam Smith (ông tổ nền kinh tế tư bản) đã miêu tả vào hậu bán thế kỷ 18, đẩy sau lưng con người tiến về phía trước không kịp suy nghĩ. Có chiến tranh là có lợi nhuận. Ngẫm nghĩ thấy thật dã man nhưng đó là thực tế mà (có lẽ) chúng ta không làm gì được, chỉ vì quyền lực và ảnh hưởng của đám tài phiệt quá lớn.

Nhìn lại các cuộc chiến tranh lớn xảy ra (do bọn tài phiệt âm thầm điều động), chưa kể các cuộc chiến lẻ tẻ không đáng kể ra đây:

– 1945, chấm dứt Thế chiến II

– 1960, nhúng tay vào Đông dương và khởi động cuộc chiến VN (1960, năm Mặt trận Giải phóng miền Nam hình thành). Cần nhắc thêm là JF Kennedy đã ký sắc lệnh rút hết cố vấn và lính Mỹ ra khỏi VN bắt đầu từ cuối năm 1963, cho đến cuối 1965 thì hoàn toàn rút khỏi VN. Ý muốn là vậy, kết quả ra sao ai cũng biết, Kennedy bị ám sát cuối tháng 11, 1963, trước khi nghị định rút quân được trình bày tại lưỡng viện Quốc hội.

– 1960-1975, cuộc chiến VN

– 1990, cuộc chiến vùng Vịnh (Gulf war)

– 2003, chiến tranh Iraq nhằm tiêu diệt Saddam

Tính rợ thì cứ khoảng 13-15 năm, bọn tài phiệt sẽ tạo ra một cuộc chiến lớn. Cuộc chiến Ba-tư từ 2003 đến nay đã 14 năm. Cứ theo nhịp độ này, và theo dự đoán của tôi, cuối năm nay (2017) hoặc trễ lắm là đầu 2018, bọn tài phiệt sẽ phát động một cuộc chiến lớn. Đó là lý do Trump (Cộng hòa) bất ngờ đắc cử trong nhiệm kỳ này để lót đường cho một cuộc chiến tranh (phải) xảy ra. Nên nhớ, các cuộc chiến đều khai hỏa trong thời đảng Cộng hòa nắm Nhà Trắng. Và đối đầu trong cuộc chiến này không ai khác hơn là bọn chệt và tên Ủn.

Chờ xem.

Sơn Nghị

NHỮNG ANH THƯ THỜI ĐẠI

Chính bạn phải là sự thay đổi mà bạn muốn thấy trên thế giới.
Mahatma Gandhi

Lịch sử của dân Do-thái thuật lại trân chiến hy hữu giữa một cậu bé và một tên khổng lồ. Chuyện xảy ra vào giữa thế kỷ 11 trước Công nguyên, khi hai đội quân của Philitinh và Do-thái dàn trận hai bên triền núi của thung lũng Elah. Tên khổng lồ tên Gô-li-át, người thành Gát, và cậu bé dáng nhỏ thó tên Đavít.
Gô-li-át to lớn thế nào. Sách Cựu ước tả hắn “…cao cỡ 3 thước đầu đội mũ chiến bằng đồng, mình mặc áo giáp đan kết bằng nhưng mảnh đồng hình vảy cá, nặng năm mươi ký. Chân nó mang tấm che cũng bằng đồng, vai đeo cây lao bằng đồng, bên hông treo thêm thanh kiếm. Cán giáo của nó như trục khung cửi thợ dệt; và mũi giáo của nó bằng sắt, nặng sáu ký…” Đó là đoản giáo của Gô-li-át dùng làm vũ khí để áp đảo địch thủ khi cận chiến. Tính ra áo giáp bao bọc từ đầu xuống chân, thêm lao, kiếm, và giáo nặng nề, Gô-li-át khoác lên người mấy chục ký mỗi đi vào trận chiến. Cây đoản giáo được nhà viết sử Moshe Garsiel diễn tả, “loại giáo với mũi sắt sắc bén nặng chình chịch, đuôi giáo được cột bằng một sợi giây sắt nằm trong tay Gô-li-át trở thành một vũ khí độc đáo. Mỗi khi Gô-li-át vung cánh tay vạm vỡ ném đoản giáo ra, cây giáo có thể xuyên thủng cả thuẫn lẫn áo giáp bằng đồng của địch thủ.” Không một ai dám đối diện với tên khổng lồ Gô-li-át. Toàn dân Do-thái khiếp sợ trước sức mạnh vô song của Gô-li-át là điều dễ hiểu.
Còn hình dáng của Đavít ra sao? Đavít chỉ là một cậu bé đang lớn. Một kẻ chăn chiên, tay cầm gậy xua chó, trên vai treo môt cái ná (sling) bắn đá, một loại đá nhỏ nằm gọn trong lòng bàn tay của cậu. Khi biết ý định Đavít sẵn sàng ra trận đối đầu với Gô-li-át, vua Sa-un trao cho cậu chiếc áo giáp và thanh kiếm của vua. Cậu bảo, “nặng như thế làm sao tôi vác nổi.” Rồi cậu lững thững ra trận với niềm tin sắt đá là sẽ hạ gục địch thủ. Chuyện gì xảy ra sau đó ai cũng biết, và câu chuyện được truyền tụng qua hơn ba nghìn năm, Đavít dùng ná bắn cục đá vào ngay giữa trán của Gô-li-át. Hắn ngã ngữa, chết tốt. Đavít dùng gươm của hắn cắt đứt đầu. Cậu bêu đầu lâu của Gô-li-át về phía hàng ngũ của quân Philitinh và cả đoàn quân bỏ chạy toán loạn. Quân Do-thái đại thắng.
Về sau, câu chuyện tiêu biểu này được dùng để diễn tả một cuộc đối đầu không cân sức, quá chênh lệch về mọi mặt. Trong cuộc chiến với quân thù, một sự chênh lệch chỉ mang lại thất bại. Khi con người đối đầu với nghịch cảnh cũng thế, những khó khăn khiến người ta ngã quỵ. Câu châm ngôn, “cái khó bó cái khôn” khuyến cáo con người khi phải đối phó với hoàn cảnh khắc nghiệt. Thế mà vẫn có người nhìn trừng trừng vào nghịch cảnh, kiên quyết chiến đấu đến cùng. Một cuộc đọ sức xem ra chỉ chuốc lấy thất bại, thế mà kết quả thật không ngờ. Nực cười châu chấu đá xe, Tưởng rằng chấu ngã, ai dè xe nghiêng. Đavít đã chiến thắng một cuộc chiến không cân sức.
Sự chiến thắng bất ngờ của cậu bé chăn chiên thuở nào đã là niềm cảm hứng cho nhiều người. Mỗi khi đối diện với nghịch cảnh, hình ảnh Đavít tay cầm ná, chân đạp lên ngực của tên Gô-li-át khổng lồ nằm ngửa trên đất, giúp người ta phấn chấn, vượt khó khăn kiên quyết tiến về phía trước. Không gì ngăn cản được họ đứng dậy với quyết tâm phải hành động. Có thể họ sẽ không bao giờ nếm được mùi chiến thắng như Đavít, nhưng ít ra họ đứng dậy để làm một cái gì đó, chứ không chịu thua số phận. Không thành công cũng thành nhân (Nguyễn Thái Học). Họ sống đúng nghĩa một con người. Niềm mơ ước của họ là thay đổi tình thế hiện tại, làm cho nó tốt hơn, hoàn thiện hơn. Tôi hân hạnh biết được hai cô gái với niềm mơ ước thay đổi bộ mặt xã hội, tuổi đời cách nhau không bao nhiêu, nhưng họ đang làm chuyện đội đá vá trời như thế.
Phoenix Hồ Phụng Hoàng sinh ra ở Việtnam nhưng lớn lên ở Hoa kỳ. Cha cô là một giáo sư, hiệu trưởng một trường nổi tiếng ở Đà nẵng. Mẹ cô là nữ sinh và giáo sư Đồng Khánh, Huế. Ngoài thơ phú văn chương, mẹ cô còn là một họa sĩ, nhà điêu khắc. Nhìn chung, Phụng Hoàng hấp thụ được nguồn tri thức dồi dào từ người cha và nét nghệ thuật phong phú từ người mẹ.
Biến cố 75 đổ ập lên gia đình. Dĩ nhiên, ba mẹ đều mất việc phải lam lũ tay chân để nuôi sống gia đình. Phụng Hoàng ra đời trong hoàn cảnh khó khăn đó. Cha cô long đong tìm cách vượt biển suốt mấy năm. Mãi đến năm 1980, cha cô may mắn vượt biển đến được bờ tự do. Và mãi đến năm 1990, lúc cô được 14 tuổi, gia đình cô mới được đoàn tụ với người cha tại Hoa kỳ. Những năm đèn sách ở Hoa kỳ trang bị cho cô một kiến thức vững chãi về ngành Kinh doanh Quốc tế. Thế nhưng cô vẫn thấy chưa bằng lòng với mảnh bằng trong tay. Vài năm sau, cô lấy thêm hai mảnh bằng Cao học (bây giờ gọi là Thạc sĩ) ngành Tư Vấn Hướng Nghiệp, và Lãnh đạo & Quản lý Giáo dục. Với ba mảnh bằng trong tay, giấc mơ của nhiều người, cô vẫn thấy bâng khuâng, trăn trở với nỗi niềm nặng trĩu. Nỗi thao thức lờ mờ chưa rõ nét, mỗi ngày đè nặng trong tim cô, và bóng dáng quê nhà hiện rõ dần trong tâm trí. Phụng Hoàng bâng khuâng nhìn về quê hương thấp thoáng những cánh đồng lúa đơm bông thơm ngát cùng lũy tre làng xanh ngắt, và chợt nhận ra một xã hội đang cần những bàn tay nâng đỡ tương lai cho lớp người trẻ.
Đó là bước ngoặt lớn lao nhất trong cuộc đời của Phụng Hoàng.
Phải gọi là một khúc quanh gắt, một ngã rẽ quan trọng chỉ vì quan niệm của cha cô hoàn toàn khác hẳn. Người đàn ông một thân liều mình vượt tuyến bằng đôi chân năm 1954 vào Nam để xây dựng cuộc sống. Biến cố 75 lại đẩy ông thêm một lần vượt biển để tìm tự do. Ông tìm mọi cách để đưa con cái đến bến bờ bình yên để chúng tự do hấp thụ và phát triển theo khả năng Chúa ban. Hai lần vượt thoát sống chết thì không lý nào đứa con út lại quay trở về mảnh đất ông đã đau xót rời bỏ mấy chục năm trước đây. Ông buồn nhưng vẫn tôn trọng quyết định của đứa con gái út.

Cô ngồi xuống bên người đàn ông hết lòng yêu thương, người mà cô gọi là ba, với lời lẽ trìu mến: “Những ngày gần đây, con có cảm giác cuộc sống mỗi lúc một rõ ràng hơn trong mắt con. Thật trùng hợp là con vừa làm giải phẫu mắt cận, và tương tự vậy, sau mỗi một ngày, mắt con thấy thế giới quanh mình một cách rõ ràng, trung thực, và lung linh màu sắc hơn. Con nhận ra những giá trị sâu thẳm trong trái tim mình, lý tưởng sống của mình, khả năng của mình, niềm đam mê của mình, và con đường mình chọn. Cuộc hành trình phía trước dĩ nhiên con không thể đoan chắc kết quả, nhưng con tin khi mình sống thật với chính bản thân mình, thì cuộc sống luôn tràn đầy bình yên và hạnh phúc. Và điều này cũng mang lại niềm vui cho những người quanh con, mà người quan trọng nhất là Gấu, con trai của con.” Cô tha thiết hơn, “…con chọn dừng chân tại Việt Nam vì nhiều lý do. Hãy nghĩ về môi trường con làm việc như hai miếng bọt biển. Cali là miếng bọt biển đã được thấm đầy một nửa, Việt Nam là miếng bọt biển khô rang, còn con là nước. Ở Việt Nam, với chuyên môn, kinh nghiệm, và tâm huyết của con, con thấy mình làm được rất nhiều việc tốt mỗi ngày, mỗi giờ, mỗi phút, mỗi giây. Và hiệu quả của việc làm con, con có thể thấy nó ngay lập tức.”

Đúng như cô tâm sự, Việt nam là miếng bọt biển khô rang, cần nước hơn bao giờ. Làm việc tại Đại học RMIT (Royal Melbourne Institute of Technology), tọa lạc tại trung tâm Sàigòn, Phụng Hoàng có cơ hội tiếp xúc với các sinh viên và nhận ra cô đã chọn đúng đường. Có lần cô thư cho tôi, “ rất nhiều sinh viên em gặp hằng ngày  là con cái của những người lãnh đạo trong guồng máy nhà nước. Sau nhiều lần tiếp xúc, em nhận ra họ chẳng hiểu gì về ý nghĩa của những danh từ trừu tượng như nhân đạo, bác ái, vị tha, lương tâm… những điều mà em được học dễ dàng từ ba mẹ. Kiến thức khoa học có đủ nhưng họ lại không được trang bị những giá trị tinh thần căn bản trong cuộc sống. Như thế khi vào đời họ sẽ bước khập khiễng. Nếu chỉ cho họ hiểu được ý nghĩa cao đẹp của những giá trị tinh thần như thế, tài và đức giúp họ bước vững vàng trên đường đời, và chắc chắn xã hội sẽ mang bộ mặt nhân bản hơn.” Suốt 3 năm, ngoài công việc tại RMIT, cô bỏ thì giờ ra tận thành phố Vinh, nơi chôn nhau cắt rốn của ba cô, tập họp sinh viên trong “Một Ngày Đồng Hành” để chuyện trò như một người chị. Phụng Hoàng đến nhiều thành phố khác khắp 3 miền để tổ chức những buổi huấn luyện cho học sinh, sinh viên, và ngay cả giáo viên nữa. Nơi chốn cô đến, Phụng Hoàng mang theo trái tim đầy ắp thương yêu và khi từ giã để lại một dấu ấn yêu thương đầy quyến luyến. Tình yêu thương đã nối kết cô với những người chung quanh. Và bây giờ mọi người đều biết đến Phụng Hoàng, một chuyên viên tư vấn hiền lành, trẻ trung, và dễ mến. Cô ân cần với sinh viên và mối thân tình nẩy nở như chị em. Họ cởi mở tấm lòng, giải bày những khó khăn và Phụng Hoàng tận tình giúp họ một hướng đi về nghề nghiệp nhưng đồng thời gieo vào lòng họ một giá trị nhân bản để sau này chính họ sẽ là những người làm thay đổi bộ mặt của xã hội Việt nam.
Khi nghe tin Phụng Hoàng về Việt nam với hoài bão đổi mới bộ mặt của xã hội, bắt đầu từ tầng lớp sinh viên, tôi suy nghĩ về nhiệt huyết của một cô gái trẻ và hoài nghi về kết quả mà cô mơ ước. Sau hơn 8 năm miệt mài với lớp người trẻ, cô đã tìm được một chỗ đứng vững vàng trong môi trường giáo dục tại Việt nam. Trên những tờ báo chuyên về lãnh vực giáo dục, người ta nhắc đến cô. Mới đây, cô xuất bản cuốn sách “Mẹ Dắt Con Đi”, trải tâm tình mẫu tử qua những lá thư mẹ gửi cho con trai, thiên hạ lại có dịp nhắc đến tên Phụng Hoàng, nhất là trên các trang mạng. Tôi còn tìm thấy trên trang Facebook cá nhân của cô những lời yêu thương ấm áp của lớp sinh viên đã được cô dìu dắt một thời gian. Lớp người trẻ ngập ngừng ở ngưỡng cửa cuộc đời nhưng tự tin bước vào xã hội, vì họ đã được trang bị với trái tim nồng ấm yêu thương, như Phụng Hoàng, và nhìn tha nhân bằng đôi mắt nhân ái. Họ đã bỏ trường lớp một thời gian nhưng vẫn nhớ đến người chuyên viên tư vấn khả ái Phoenix Phụng Hoàng.
Hóa ra tôi lầm. Với hoài bão ban đầu khiêm tốn, Phụng Hoàng đã đạt được một kết quả nào đó như cô mơ ước. Tuy nhỏ nhoi, nhưng vẫn là hoa trái đầu mùa mà gần chục năm trước tôi lắc đầu hoài nghi. Giấc mơ của Phụng Hoàng cũng là giấc mơ của nhiều người còn nặng lòng với quê hương dân tộc. Tôi lại biết một cô gái khác, ươm cùng một giấc mơ thay đổi bộ mặt xã hội Việt nam, như Phụng Hoàng, nhưng tìm một con đường khác, gay gắt hơn, mạnh mẽ hơn, và có lẽ chông gai hơn.
Đó là Jocie (Jocelyn) Nguyễn Ngọc Khánh.
Khánh sinh ra trong hoàn cảnh bần cùng khốc liệt của đất nước, và nghiệt ngã của riêng gia đình. Người cha mang cấp bậc Thiếu Tá trong quân đội VNCH, và bị đi tù cải tạo ròng rã hơn 7 năm. Tàn tạ khi trở về, ông vẫn bương chải kiếm sống để nuôi 4 đứa con gái. Và Ngọc Khánh ra đời trong thời gian này. Người ta tin Ngũ Long thường mang lại phúc lộc cho gia đình, nhưng không phải thế, cả miền Nam vẫn còn đắm chìm trong tang tóc của chia ly, của chết chóc vì người cha mất xác từ các trại cải tạo, mẹ vùi thây tại những vùng kinh tế mới rừng thiêng nước độc… thì gia đình nhỏ nhoi 7 người của Khánh cũng hứng chịu những tai ương chung như cả nước. Người miền Nam khoảng thời gian này đói meo, đói như chưa từng đói, và cũng chẳng còn gì bán cho dân miền Bắc để mua lấy miếng ăn. Nghĩ cho cùng, gia đình vẫn có phúc vì người cha còn gượng hơi tàn trở về thấy mặt vợ con sau hơn 7 năm bị hành hạ dã man trong trại cải tạo. Hom hem, ốm yếu, nhưng vẫn còn hình hài và hưởng niềm vui đoàn tụ với vợ con. Nhưng hồng phúc lớn nhất là cả gia đình được ra đi vào đầu năm 1990 theo diện H.O.
Lúc đó, Ngọc Khánh mới 6 tuổi. Không gì hạnh phúc bằng hạnh phúc gia đình, gồm đủ cha mẹ và 4 người chị. Khánh lớn lên như bao cô gái khác, theo đuổi việc học, tốt nghiệp Cử nhân ngành Kinh doanh, có việc làm nhưng cô vẫn ưu tư dằn vặt vì quá nhiều câu hỏi quay cuồng trong tâm trí. Có lẽ thắc mắc đầu tiên từ 7 năm tù của người cha. Tại sao cha cô lại đi tù? Cô là người Việt, cô biết chắc chắn vì cô vẫn nói sõi tiếng Việt, nhưng tại sao gia đình cô lại ở Mỹ trong khi họ hàng thân thuộc lại sống ở Việt nam? Lý do gì khiến cha cô quyết định ra đi? Những câu hỏi ấy cứ lẩn quẩn mãi trong đầu của cô gái vừa ngoài hai mươi. Và cô dứt khoát phải tìm cho được câu trả lời thỏa đáng.
Bắt đầu từ thư viện. Cô mầy mò lục tìm sách vở để hiểu rõ cuộc chiến Việt nam. May mắn là khi cô lớn lên, mạng lưới toàn cầu ngày càng tinh vi, nên việc tham khảo tài liệu dễ dàng hơn, cập nhật kiến thức phong phú hơn. Ngọc Khánh bỏ khá nhiều thì giờ tìm hiểu, vì còn bận rộn qua những chuyến công tác thường xuyên. Một thời gian dài, qua hỏi han người cha, qua chuyện trò với bậc cha chú, và cô hiểu được tại sao một người Việt như cô lại phải sống ở xứ người. Từ khi hiểu được thân phận, Khánh suy nghĩ nhiều về quê nhà, lòng đã bớt khắc khoải nhưng lại bắt đầu băn khoăn về hiện tình đất nước. Cô thả tầm mắt về quê hương, và quyết định bước vào con đường đấu tranh cho một xã hội Việt nam công bằng hơn.
Ngọc Khánh tham gia sinh hoạt chính trị bằng con đường khá chông gai. Cô xả thân bước vào con đường gập ghềnh, khúc khuỷu với trái tim nồng nàn, yêu Mẹ Việt nam, yêu thế hệ trẻ đang chìm trong bất công, mê muội. Những buổi điều trần, những cuộc biểu tình, hoặc bất cứ vấn đề gì làm cho xã hội Việt nam tươi sáng hơn, nhân bản hơn, cô đều có mặt, đôi khi phải đến tận nơi cách xa vài nghìn cây số. Cô tận dụng các phương tiện truyền thông hiện đại để nối kết với các bạn trẻ trong nước. Số người theo trang facebook của cô lên đến hàng nghìn, và dĩ nhiên trong số đó cũng có những dư luận viên, những kẻ ăn lương của nhà nước để nhục mạ nhân phẩm, chống phá tư tưởng của cô. Chông gai ở chỗ đó.

Một dịp về thăm gia đình, tôi ngồi bên Ngọc Khánh để nghe cô tâm sự về đường đời, về lý tưởng cao cả, và về con đường đấu tranh của cô. Tuổi ngoài 30 của Ngọc Khánh, có thể xem là đàn chị của thế hệ thứ hai. Xin ghi lại đây như là một thông điệp cho thế hệ con cháu chúng ta.
Hỏi. Sự kiện nào đã thúc đẩy cô quan tâm đến hiện tình đất nước VN?
Đáp. Đó là một quãng thời gian dài hun đúc em để yêu mến quê hương. Dĩ nhiên, bắt đầu từ gia đình. Ba mẹ em luôn dạy dỗ em với mẫu mực của một truyền thống Việt, biết quý trọng người già cả, yêu quê hương, yêu dân tộc. Ngay từ lúc 8-9 tuổi, đi sinh hoạt Hướng đạo, cuốn tập của em luôn có hình cờ vàng đặt ở trang đầu. Ở tuổi thiếu niên, em mầy mò đọc lịch sử Việt, và hiểu được truyền thống chống xâm lăng của những vị anh hùng. Mãi sau này khi lớn lên ra đời, em được tiếp xúc với những bậc cha anh, những người đã xả thân vì miền Nam, vì tổ quốc và thấm thía ý nghĩa cao đẹp của thành ngữ “non sông gấm vóc”. Những người trẻ ở hải ngoại ít quan tâm đến hiện tình VN, có lẽ tại vì họ chưa đọc lịch sử Việt. Vì vậy, em khuyên các bậc cha mẹ nên giải thích (một cách nào đó) cho con cái hiểu được nét hào hùng của lịch sử dân tộc Việt nam. Một khi đã biết và hiểu, thế hệ trẻ ở hải ngoại sẽ hãnh diện và quan tâm nhiều hơn đối với tình hình xã hội ở VN.
H. Ngoài việc tham khảo sách vở về lịch sử Việt, cô còn tìm hiểu gì về các lãnh vực khác?
Đ. Em rất thích đọc những sách về chính trị, cũng như theo dõi các phim tài liệu. Gần đây em xem được bộ phim “Thảm Họa Đỏ” và hiểu thêm về lãnh địa, lãnh hải của nước VN. Em rất ủng hộ lập trường của đài phát thanh “Đáp Lời Sông Núi.” Những phương tiện truyền thông này giúp chúng ta hiểu rõ căn tính của người Việt, và nhất là giới trẻ hải ngoại sẽ hiểu được tại sao cha mẹ họ lại có mặt ở đây, tại sao cả gia đình phải lánh nạn cộng sản. Em đang đọc cuốn hồi ký Revolution 2.0 của Wael Ghonim, một giám đốc của Google tại Ai-cập, và Wael đã dùng phương tiện truyền thông để loan tải những bất công của xã hội, giúp dân chúng hiểu rõ mặt trái của chính quyền. Anh cũng là một trong những người hướng dẫn cuộc nổi dậy Ai-cập (Arab Spring) tạo ra cuộc cách mạng nhung trong các nước Hồi giáo năm 2011. Em nghĩ giới trẻ trong nước cũng thế, hãy dùng các phương tiện truyền thông xã hội hiện đại để loan tải những tin tức lề trái. Hiểu rõ những bất công đang xảy ra trên đất nước mình để thấy hành động của mình tương xứng hơn, giá trị hơn.
H. Khi xả thân vào các phong trào đấu tranh dân chủ để đòi hỏi một xã hội VN công bằng, liệu việc sinh nhai của cô có ảnh hưởng gì không?
Đ. Thật ra rất khó. Làm thế nào để quân bình giữa công việc sinh nhai và thời gian phục vụ cho lý tưởng; nhất là khi lý tưởng và việc làm của em có khoảng cách địa lý hơn nửa vòng trái đất. Ngoài 40 tiếng làm việc mỗi tuần, phải có thì giờ cho gia đình, cho bạn bè, và cần phải ngủ nữa. Thế thì thời giờ đào đâu ra? Em mơ ước có một công việc nào đó để em thỏa mãn được cả hai. Khó là ở chỗ đó. Lúc mới ra trường, em chuyên về marketing nên làm trong ngành advertising. Công việc này đòi hỏi em phải đi đây đi đó nên suốt thời gian đầu em chẳng làm được gì cho lý tưởng. May mắn là gần đây, sau 10 năm tìm kiếm, em kiếm được một diễn đàn và nó vừa giải quyết được chuyện sinh nhai, đồng thời giúp em tăng thêm kiến thức về lãnh vực chính trị. Dĩ nhiên, em không dùng diễn đàn của họ để thực hiện lý tưởng của mình, nhưng nhờ nó mà em thực hiện lý tưởng một cách hiệu quả hơn. Em thật sự may mắn nhưng không hẳn ai cũng được thế. Tùy theo quan niệm sống của mỗi người để hài hòa giữa gia đình, việc làm, và lý tưởng. Sự hy sinh cần phải đặt ra để tìm được sự quân bình, hoặc bỏ bớt vật chất để có thì giờ với gia đình, và theo đuổi lý tưởng, hoặc dành hết thời gian để kiếm tiền và quên đi lý tưởng của đời mình. Như thế, một người khi xả thân vì đại cuộc, sẽ tự tìm ra một ưu tiên nào đó để thích nghi với hoàn cảnh.
H. Theo cô, giới trẻ ở VN hiện thiếu điều gì?
Đ. Họ dư thừa nhiều và cũng thiếu thốn nhiều. Em tiếp xúc được khá nhiều bạn trẻ ở trong nước qua mạng lưới FB và nhận thấy họ thiếu điều kiện để vươn lên. Điều kiện bắt nguồn từ lý lịch. Các bạn trẻ không hiểu tại sao đất nước đã thống nhất sau một thời gian dài mà lý lịch vẫn là điều kiện tiên quyết để định đoạt mọi việc. Nếu lý lịch “xấu” (xin để chữ xấu trong ngoặc kép) thì cho dù thông minh đến mấy vẫn không có cơ hội để vươn lên. Bởi vậy, nhân gian truyền miệng một câu nghe thật đau lòng, “tiền tệ, quan hệ, trí tuệ, mặc kệ.” Trí tuệ đứng khiêm tốn ở hạng 3, và sự chán nản biểu lộ qua hạng 4 là thái độ mặc kệ. Tuổi trẻ VN không thiếu sự thông minh, năng động, và nhiệt huyết, nhưng cơ hội như một cánh cửa khóa chặt, và rất nhiều tài năng bị gạt bỏ sang bên lề xã hội, và rất có nhiều kẻ bất tài nhưng lại có “tiền tệ và quan hệ” nên trở thành những kẻ lãnh đạo. Tuổi trẻ VN không được sử dụng đúng mức và đúng cách và dẫn đến một sự lãng phí về trí lực. Khi hoàn toàn đứng ngoài căn nhà cơ hội, tuổi trẻ VN lại sống bít bùng trong một căn nhà khác lớn hơn, không có cửa sổ, ngột ngạt, đầy thán khí của bất công. Bởi vậy, em thường viết cho họ rằng tương lai của bọn em và của các thế hệ sau này hoàn toàn tùy thuộc vào suy nghĩ và hành động của chính bọn em bây giờ. Tụi chị đứng ngoài này sẽ hết lòng ủng hộ bọn em, nhưng vận mệnh của đất nước phải do chính bọn em định đoạt.
H. Đó là bộ mặt của xã hội bây giờ. Ai cũng biết thế, nhưng làm thế nào để họ thay đổi được đây, theo ý cô?
Đ. Điểm lại tất cả những cuộc cách mạng từ trước đến nay, bất cứ một thay đổi nào đều bắt nguồn từ bên trong, và từ giới trẻ. Muốn thế, trước hết họ phải vượt qua sự sợ hãi. Có nhiều nỗi sợ hãi: sợ bị gắn nhãn hiệu phản động, sợ bắt bớ, sợ tù đày. Phải xác nhận rằng đây là một phản ứng tâm lý bình thường của con người. Trước đàn áp, trước bạo lực, như những người lính lần đầu ra trận, người ta đều sợ hãi. Nhưng nếu cứ tiếp tục sợ hãi mãi thì thế hệ này sẽ có tội với thế hệ cha ông, và có lỗi với thế hệ con cháu, vì khi tổ quốc lâm nguy, cả một thế hệ chẳng làm gì cả.
H. Những người đấu tranh, một khi lâm vào cảnh tù đày, sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống không những của chính người đó mà cả những người thân trong gia đình, ý tôi nói đến vấn đề kinh tế vì họ là cột trụ, là người làm ra tiền để nuôi gia đình. Cô có chia sẻ gì về chuyện này?
Đ. Gần giống như câu hỏi làm thế nào để quân bình giữa cuộc sống và lý tưởng. Mỗi người một hoàn cảnh, nên khó có một mẫu mực chung để áp dụng cho mọi trường hợp. Nhưng họ đều có một mẫu số chung, đó là sự hy sinh cho lý tưởng mình đã chọn. Lấy ví dụ, em rất mến mộ Việt Khang, vì anh đã sử dụng tài năng để phục vụ cho lý tưởng, cho dù anh bị bắt bớ và lâm cảnh tù đày. Như những nhà đấu tranh khác, anh còn trách nhiệm với vợ con, thế mà anh vẫn hy sinh ngồi tù, theo đuổi lý tưởng đến cùng. Những lúc khốn khó này, em nghĩ những người đấu tranh cần sự ủng hộ tinh thần trước hết của thân nhân ruột thịt, và cả chúng ta ở bên ngoài nữa. Chắc chắn đường đấu tranh sẽ chông gai, gập ghềnh, đôi khi phải đổi cả tính mạng, vì thế mới cần hy sinh. Còn chúng ta ở hải ngoại, bằng một cách nào đó, giúp đỡ họ, mỗi khi gia đình họ lâm cảnh túng bấn.
H. Con số những người tranh đấu cho tự do dân chủ ngày càng tăng. Rõ ràng ngày càng nhiều người muốn thay đổi bộ mặt của xã hội. Những kẻ đấu tranh rất cần sự ủng hộ tinh thần và vật chất của những người như Jocie ở hải ngoại. Như thế, phải đào luyện giới trẻ ở hải ngoại để họ tiếp nối con đường của chúng ta đang đi bây giờ. Vì tầm quan trọng của giới trẻ hải ngoại trong tương lai, cô có đôi lời nhắn nhủ với thế hệ này không?
Đ. Ồ, chuyện lớn lao quá làm sao em dám khuyên với nhủ, (cười). Em chỉ xin chia sẻ như thế này. Giới trẻ hải ngoại cần tìm hiểu gốc gác của mình. Có lẽ không đòi hỏi giới trẻ hải ngoại phải cầm cờ xuống đường biểu tình, nhưng họ phải ý thức được sự hiện diện của họ trên đất nước này. Tại sao họ hiện diện trên đất nước này? Xa hơn, tại sao cha mẹ họ phải sống ở đây? Điều gì đã xô đẩy bậc cha anh ra khỏi nước Việt nam? Như em, một điều em rất tiếc là chiếc áo dài. Em qua Mỹ từ lúc 6 tuổi, nên lớn lên và đi học không có dịp mặc chiếc áo dài như mẹ em, như chị em thuở cắp sách đến trường. Một tà áo dài bay theo gió chỉ là một mất mát nhỏ, trong muôn vàn mất mát mà em không thể có, chỉ vì em đang sống tại Mỹ. Kỷ niệm của mẹ em, của những người chị rất giống nhau vì họ sinh ra và lớn lên ở Việt nam. Riêng em lại khác, kỷ niệm tuổi thơ của em khác rất nhiều, thiếu con đường rợp bóng cây khi đi học về, thiếu nét hồn nhiên, bước chân tung tăng của một nữ sinh. Em lớn lên thiếu hẳn những hình ảnh đó. Những mất mát đó do đâu? Nếu tuổi trẻ hải ngoại biết đau đớn vì những mất mát đó, thì họ sẽ tìm cách để hiểu rõ căn tính của họ, cho dù họ đang sống ở đâu trên thế giới.
Cuốn phim Roots em rất thích, kể lại hành trình bi tráng của một gia đình gốc Phi châu. Sau gần 200 năm, trải qua bao nhiêu đời, một hậu duệ đi tìm lại nguồn gốc của anh. Người Việt mình mới tỵ nạn hơn 40 năm, vẫn còn kịp thời gian để xác định lại căn tính của mình. Bắt đầu từ gia đình, cha mẹ phải cho con cái biết chỉ vì hai chữ “tự do” mà cả gia đình sống lưu lạc ở xứ người. Cũng như gia đình gốc Phi châu trong phim Roots, chỉ vì hai chữ “nô lệ” mà họ có mặt trên đất nước Hoa kỳ.
H. Lời cuối với tuổi trẻ trong nước.
Đ. Em luôn khuyến khích họ dùng các phương tiện truyền thông chưa bị nhà nước kiểm soát để học hỏi nâng cao kiến thức, và để liên lạc nâng đỡ nhau. Nên nhớ cuộc cách mạng nhung thành công là nhờ các phương tiện truyền thông nằm ngoài luồng kiểm soát của chính phủ. Một cuộc cách mạng rất ít hao tổn xương máu. Hơn nữa, nâng cao kiến thức để không bị lừa, vì kiến thức là sức mạnh. Em không hề kêu gọi tuổi trẻ trong nước bạo động để lật đổ chế độ. Em chỉ kêu gọi họ tranh đấu để có một thay đổi, để bộ mặt xã hội công bằng, tươi sáng hơn với công lý được tôn trọng. Em ủng hộ bất cứ lá cờ nào mang lại lợi ích cho dân tộc. Thể chế nào cũng được, miễn là thể chế đó bảo đảm sự ấm no cho toàn dân.
H. (ngắt lời)… coi chừng lại gặp phải “bình mới nhưng rượu cũ”. Chỉ thay đổi bề ngoài nhưng lõi cốt vẫn như cũ…
Đ. Những người trẻ đủ thông minh để thấy chứ. Sự thay đổi phải đưa đến một kết quả tốt hơn chứ. Nếu không thì không thể nào gọi là thay đổi được.
Tôi ngồi thừ người, nghĩ đến một Phụng Hoàng đang miệt mài bên những sinh viên trẻ, và đây, ngay trước mặt tôi, một Ngọc Khánh cũng đang ưu tư về tương lai của giới trẻ. Như tâm sự của Phụng Hoàng, “…con không biết vì ba đặt tên con theo một loài chim bay cao, bay xa, mà con có những lý tưởng cao vời, hay vì cá tính con là trộn lẫn giữa ba và me, hay vì môi trường lúc nhỏ đã ảnh hưởng đến con, nhưng con biết cuộc đời này mình muốn như ngọn đuốc yêu thương chiếu sáng được lúc nào hay lúc đó. Đó là ước mơ và lẽ sống của con.” Cánh chim đó đã bay suốt một quãng đường dài, vượt biển Thái bình, và xếp đôi cánh đậu lại trên quê hương. Cô soải cánh ôm ấp lấy giới trẻ Việt nam, che chở và dìu dắt họ. Việc làm của Ngọc Khánh, như tiếng ngân nga của chiếc khánh vang lên khi bắt đầu buổi tụng niệm, là lời nguyện tha thiết cho một xã hội Việt nam tươi sáng.
Con đường của Phụng Hoàng như một tiến hóa (evolution), cần thời gian để hoàn tất. Con đường của Ngọc Khánh lại như một cuộc cách mạng (revolution), rút ngắn thời gian. Cả hai phụ nữ, khoảng cách địa lý xa hơn nửa vòng trái đất và đi hai con đường khác nhau, đều ươm chung một giấc mơ về một xã hội công bằng hơn, nhân ái hơn và nhờ những bậc anh thư của thời đại như thế, quê hương Việt nam – một ngày không xa – sẽ chói lòa ở trời Đông.

SƠN NGHỊ

CÁNH DÙ TRÊN ĐỒI 31, HẠ LÀO ANH KHÔNG CHẾT ĐÂU ANH

sonnghi

Cuộc hành quân Lam Sơn 719 nhằm tấn công vào hệ thống tiếp liệu của cộng quân Bắc Việt ngay trong lãnh thổ Ai-lao khởi sự vào một ngày đầu tháng 2/1971. Bọn việt cộng tải quân vào miền Nam theo con đường bắt đầu từ Hạ Lào, men theo đường mòn HCM và đến B, mật mã của Trung ương Cục miền Nam.

Đến bây giờ ai cũng phải nhìn nhận rằng chiến dịch Lam Sơn vào đầu năm 1971 là một thảm bại. Tổng thống Thiệu ra lệnh đưa 3 lữ đoàn bộ binh nhằm triệt hạ đơn vị tiếp liệu và hậu cần của cộng quân với một kế hoạch khá lộ liễu. Một chuẩn bị sơ sài nhằm phô trương thanh thế cho mục đích Việt nam hóa chiến tranh và lợi ích cho cuộc tái tranh cử của Tổng thống Nixon sắp diễn ra vào cuối năm 1971 đã đẩy hàng nghìn binh sĩ VNCH vào chỗ chết.

Một trong những chiến sĩ đã anh dũng hy sinh là Đại úy Nguyễn văn Đương.

Đúng ra, ông tự sát tại căn cứ 31 chứ không hề hàng địch. Ông dành viên đạn cuối cùng để tự tử. Xác ông vĩnh viễn nằm tại ngọn đồi 31. Bây giờ có lẽ ngọn đồi hoang vu ngập cỏ xanh, như một lần quân bắc việt tràn ngập với chiến thuật biển người. Cuộc hành quân đã bị lộ tẩy vì tin tức lọt ra ngoài từ cấp chỉ huy. Một thất bại từ nội bộ dẫn đến 1483 sinh mạng chiến sĩ VNCH tử vong, và 691 xác thân chôn vùi trên ngọn đồi 31 khốc liệt.

Cái tin tuẫn tiết của Đại úy Nguyễn văn Đương đưa về hậu phương như một nỗi buồn giống như bao nỗi buồn của mẹ già ngóng đợi con khi tiếng đạn pháo kích nổ vang bầu trời bào mòn niềm hy vọng, như nỗi đau đớn của người vợ trông vời bóng người chồng từng ngày khi tiếng súng đêm đêm vọng về từ vùng ngoại ô là nỗi bất an, như sự mong chờ của đàn con thấy bố oai hùng trong bộ quân phục hơn là chiếc hòm gỗ phủ cờ vàng. Bà, phải gọi là chị thì đúng hơn vì lúc đó chị Nguyễn thị Mai mới ngoài 30, mơ thấy chồng về bị thương ở chân, bảo em ráng nuôi con vì anh không về được nữa. Chị giật mình tỉnh dậy và òa khóc. Ba ngày sau giấc mơ kỳ lạ, chị nhận được giấy báo tử chính thức từ chính quyền VNCH, và lặng lẽ khoác áo sô, chít mảnh khăn tang lên mái tóc mượt mà, và cả lên đầu 4 đứa con, nước mắt lại tuôn mà ngỡ như đã cạn kiệt sau 3 ngày khóc thương chồng kể từ đêm anh Đương hiện về trong giấc mơ. Nhạc sĩ Trần Thiện Thanh cảm động về mối tình, về cái chết bi hùng của Đại úy Nguyễn văn Đương, đã viết thành ca khúc “Anh Không Chết Đâu Anh”, (https://www.youtube.com/watch?v=Juf048ZAR1c).

Mặc dù Đại úy Đương bỏ xác trên đồi 31 vào cuối tháng 2 năm 71 nhưng mãi đến đầu năm 1972, ca khúc này mới được giới thiệu cùng đồng bào miền Nam qua phim kịch Trên Đỉnh Mùa Đông. Tác giả của bản nhạc đóng vai Đại úy Đương, Thanh Lan trong vai Lệ, người yêu và là vợ của Đại úy Đương. Tôi còn nhớ một buổi tối, cơm nước xong, cả nhà ngồi chăm chú vào màn truyền hình đen trắng, và truyện phim dài 45 phút bắt đầu xuất hiện trên màn ảnh. Tôi, đúng hơn cả nhà, bị cuốn hút vào câu truyện. Đoạn phim quay ngoại cảnh là một điều mới mẻ trên đài truyền hình vào đầu thập niên 70 vì cảnh thật chứ không như những tuồng cải lương quay tại phim trường. Chuyện bắt đầu cảnh 2 anh lính lái xe Honda vô tình đụng phải cô sinh viên Văn khoa, (https://www.youtube.com/watch?v=awSG7dmGHhw). Thanh Lan ngã ngồi ở góc phố, nét mặt phụng phịu muốn khóc, lố nhố những người bao quanh. Một trong 2 người lính nghỉ phép rong chơi trên đường phố SG là Thiếu úy Đương. Quen nhau rồi yêu nhau như bao chuyện tình khác xảy ra trong thời kỳ chiến tranh sôi động của miền Nam. Thanh Lan năm đó đang độ xuân thì, đẹp thùy mị trong phim. Tuy màn hình đen trắng, nhiều hạt mưa nếu thời tiết xấu, nhưng khán giả vẫn nhận ra một Thanh Lan xinh xắn, một tiêu biểu của nữ sinh viên trường Luật, và Văn khoa. Cuối cuộc tình là đám cưới rồi con cái. Thân phận của thiếu nữ miền Nam thời đó hầu như đều làm vợ lính. Lấy chồng lính đồng nghĩa gánh lấy nhọc nhằn, sống trong phập phồng lo sợ vì tin dữ đưa đến bất cứ lúc nào.

Như những lần lên đường diệt giặc phương Bắc trước đây, Đại úy Đương từ giã vợ tung cánh dù vào cuộc hành quân Lam Sơn 719. Có khác chăng là lần này Đại úy Đương đi luôn không về nữa. Xả hết đạn vào đám giặc thù, anh dành viên đạn cuối cùng để tuẫn tiết.

Tin dữ đưa về. Lệ ôm lấy con khóc ngất. Tôi còn nhớ buổi tối hôm đó, Thanh Lan khóc nức nở trong phim, cả nhà ngồi lặng yên, không ai nói với ai một lời nào. Lòng tôi xúc động khi thấy anh Đương trong phim khuôn mặt đầy máu, ôm lấy vai vợ và nói, “anh không chết đâu em…” Em gái tôi mới học lớp 7, ngồi im như tượng gỗ, đôi mắt đỏ hoe. Và tôi kịp nhận ra cặp mắt tôi cũng đã ươn ướt.

Năm đó tôi sửa soạn thi Tú đôi. Tối hôm đó, xem phim xong, không hiểu sao tôi nghĩ khi lấy xong mảnh bằng thế nào tôi cũng lên đường nhập ngũ. Cái chết oan nghiệt của Đại úy Đương không hề làm tôi sờn lòng, nhưng tôi thật sự cảm phục những cái chết hào hùng như thế và muốn noi gương anh để cầm súng bảo vệ quê hương. Thi đậu xong, tôi nộp đơn vào khóa Biên tập viên của Sĩ quan Cảnh sát. Thêm thằng bạn rủ tôi nộp đơn vào khóa 29 của Sĩ quan Đàlạt. Chúng tôi gửi thư ra Nha trang để xin Phiếu lý lịch số 3. Tôi còn nhớ tờ giấy màu xanh gửi về thông báo tôi được quyền gia nhập quân đội. Đang phân vân không biết chọn ngành nào thì ông cụ tôi khuyên nên tiếp tục học vì khả năng tài chánh của gia đình còn cho phép. Thế là mộng khoác áo chiến y của tôi không thành.

Đồng bào miền Nam chỉ muốn đất nước thanh bình, yên ổn làm ăn, sống cho xứng đáng với nhân phẩm con người. Bọn việt cộng xua quân đánh phá với chiêu bài cứu đồng bào miền Nam khỏi ách thống trị của Mỹ Ngụy. Thật ra chính quyền Bắc việt đang áp đặt cái ách độc tài lên đồng bào miền Bắc từ năm 1954. Dân quân miền Nam cố bảo vệ mảnh đất hiền hòa, chẳng hề muốn gây hấn một ai. Đại úy Đương sẽ không chết tức tưởi nếu bọn việt cộng đừng tấn công miền Nam. Chị Trần thị Mai sẽ không trở thành góa phụ nếu quân bắc việt đừng theo chủ thuyết cộng sản. Không một ai thích chiến tranh cả vì chiến tranh tàn phá, nghiệt ngã, chết chóc, chia lìa, và để lại nhiều đau thương. Như bạn tôi, rớt Tú tài I, đăng lính cấp bậc trung sĩ. Mùa hè năm 72, khi tôi đang học lớp 12, thì xác bạn tôi phủ cờ vàng đem về đến tận nhà. Bạn tôi đền nợ nước khi tuổi chưa tròn 18. Chúng tôi còn đi chơi với nhau năm trước, nào cắm trại, nào du ngoạn, nào cưỡi xe gắn máy rong ruổi đến tận làng quê. Thế mà chưa đầy một năm sau, bạn tôi nằm và tôi đứng lặng lẽ trước hòm gỗ lung linh hương khói, ngọn đèn bạch lạp cháy leo lét như nỗi cô quạnh của người mẹ với đôi mắt sưng húp, vật vã kể lể bên quan tài buồn hiu hắt.

Đau đớn ở cái chết. Oan nghiệt ở tuổi còn xanh.

Nếu thân phận Kiều bấp bênh, trôi nổi, lưu lạc suốt 10 năm trời qua câu, nửa chừng xuân, thoắt gãy cành thiên hương, nhưng cuối mảnh đời lưu lạc Kiều cũng được sum họp với Kim Trọng. Còn thân phận của phụ nữ miền Nam thời chiến, cuối mảnh đời bấp bênh là sự chia lìa, là đơn côi, là lẻ loi, là cực nhọc một tay nuôi đàn con mất cha. Bà Trần thị Mai đã chịu đựng một cuộc sống nghèo khổ cơ cực như thế đã hơn 40 năm nay.

Lẽ ra, thủ đô SG phải có con đường mang tên Nguyễn văn Đương để vinh danh một cái chết hào hùng. Lịch sử giở sang trang khi sự dối trá thắng sự ngay thẳng, tàn ác thắng thiện lương, độc tài thắng dân chủ, vô tâm thắng nhân tâm, khỉ thắng người. Tên đường ở SG bây giờ mang tên một anh thợ điện, được vinh danh vì gài mìn giật sập cầu Công lý. Nhà nước cộng sản dạy trong sách giáo khoa rằng trước khi chết anh ta hô to ba lần tên HCM. Thật ra những người lính hành quyết tối hôm đó bảo anh thợ điện run rẩy đứng không vững trên đôi chân, miệng lắp bắp nài xin sự khoan hồng. Lừa dối ở chỗ đó. Lại có đường mang tên Lê văn Tám, một em bé dám tẩm xăng vào người làm nổ tung kho đạn. Một nhân vật huyền thoại, vì sau này một người cộng sản thú nhận ông đã nặn ra nhân vật Tám để kích động lòng “yêu nước” (sic). Lịch sử là viết lại sự thật nhưng lịch sử của nước cộng sản lại có nhiều huyền thoại, đi ngược với sự thật. Đường SG bây giờ mang rất nhiều tên lạ lẫm, và không thể nào có một con đường mang tên Nguyễn văn Đương vì kẻ chiến thắng viết lại lịch sử, (history is written by the victors) như lời của Thủ tướng W. Churchill.

Bà Mai chẳng hề muốn một con đường nào mang tên chồng cả, bà chỉ muốn có chút tiền lộ phí, tìm đến ngọn đồi 31 năm nào, để tìm lại xác chồng. Ngọn đồi nằm chơ vơ, lặng lẽ qua từng ấy năm. Đây là mồ chôn hàng nghìn xác cộng quân, kể cả 691 chiến sĩ VNCH bị mất tích, trong đó có thân xác của Đại úy Nguyễn văn Đương. Ngày tháng trôi, thân xác anh đã hòa lẫn với thiên nhiên cây cỏ từ năm đó. Người vợ đến tận nơi có ngửi được mùi chồng thoảng trong gió như trong đêm ân ái nồng nàn năm nào. Có lẽ không. Nhưng bà Mai phải đến nơi, để thấy lại cảnh xưa và thấy hình ảnh của người chồng trong đôi mắt nhắm, và để thắp lên một nén nhang cho vong linh chồng phiêu du ở chốn vĩnh hằng. Đời sống cơ cực của bà không cho phép bà thực hiện được ước mơ đó, dù chỉ một lần.

Ước mơ của bà bay tỏa không gian, vang đến tận hải ngoại. Đồng bào động lòng quyên góp cho bà chút đỉnh. Trước là để bà thực hiện được ước mơ, sau là giúp bà và anh con út (giờ đã 47 tuổi) có chút vốn sinh sống thoát cảnh nghèo. May mắn có ông Thị trưởng Westminster Tạ Đức Trí, người Việt đầu tiên được bầu vào chức Thị trưởng, đứng ra tổ chức một cuộc gây quỹ trên mạng để giúp mẹ con bà Nguyễn thị Mai, (http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/viewarticlesNVO.aspx?articleid=224698&zoneid=1).

Xin cám ơn ông Trí có tấm lòng với gia đình những người lính VNCH. Rất mong bà Mai thực hiện được ước mơ gặp chồng trên đồi 31, Hạ Lào.

SƠN NGHỊ

KHỈ VÀ LÒNG THAM

sonnghi

Có nhiều loại tham: tham ăn tham uống, tham lam của cải, tham danh vọng… Ðặc biệt nói đến tham ăn thì nghĩ ngay đến heo. Heo là loài tạp ăn, tham ăn, thô tục. Ăn như heo là thế. Nói đến khỉ thường ta không nghĩ đến tham mà lại nghĩ đến tài bắt chước. Trong các loài động vật, khỉ là động vật này có hình dạng và trí thông minh gần con người nhất. Vì thế mà khỉ bắt chước giỏi. “Monkey see, monkey do” là thành ngữ người Mỹ chỉ những công việc chỉ cần thấy là làm rập khuôn theo dễ dàng.
Vậy mà khỉ cũng có lòng tham. Và chính lòng tham đã làm hại loài khỉ không ít. Nhưng trước khi nói đến sự tham lam của loài khỉ, thử tìm hiểu những đặc khác của chúng, nổi bật nhất là tài bắt chước.
Khỉ lập lại động tác mà chúng xem thấy một cách không suy nghĩ. Bởi vậy mới có câu: khỉ bắt chước, làm trò. Nhưng nếu làm trò khỉ thì lại khác. Cứ vào sở thú sẽ biết ngay. Có lúc chúng nổi cơn biểu diễn trò khỉ ngay trước mắt thiên hạ, miệng la hét man dại. Dĩ nhiên giữa thanh thiên bạch nhật mà người giở trò khỉ sẽ bị tóm ngay vì tội công xúc tu sỉ. Khỉ và người khác nhau ở điểm đó. Chớ dại mà giở trò phòng the ngay giữa ban ngày hoặc những nơi công cọng.
Khỉ cũng giống như sư tử, hổ, chúng sống thành từng bầy trong một diện tích có chủ quyền. Tuỳ theo bầy lớn hay ít, lãnh thổ cũng tăng theo. Mỗi bầy đều do con một đực tự phong vương cứ như Thập Nhị Sứ quân thời Ðinh Bộ Lĩnh. Nó toàn quyền trên bầy thê thiếp của nó. Bất cứ con nào lạc vào vùng cấm địa đều bị đánh đuổi, đánh đến chết nếu không chịu rời lãnh thổ của lãnh chúa.
Nhìn chúng những lúc nhàn rỗi, thường ngồi bắt rận, chải lông… sao giống người đến thế. Từ động tác vạch lông tìm chí đến cử chỉ bỏ vào mồm cắn thật giống như các cụ thời xưa thường ngồi bắt chí cho con gái. Bởi thấy khỉ gần giống với người nên mấy ông tổ cọng sản vồ lấy thuyết Tiến hoá của Darwin như kẻ buồn ngủ gặp được chiếu manh.
Họ cổ võ thuyết Tiến hoá rầm rộ, ngụ ý để giải thích chủ trương chống tôn giáo vì chẳng có Trời Phật gì cả. Con người từ khỉ mà ra chứ chẳng có Thượng đế nào tạo ra chúng sinh. Họ cho rằng tôn giáo chỉ là liều thuốc mê tín ru ngủ quần chúng để quên đi thân phận bị áp bức, tha hồ cho chủ bóc lột. Cuộc đời này là tạm bợ theo tín lý của các tôn giáo lại càng không phù hợp với chính sách đấu tranh của cọng sản. Họ tuyên truyền rằng đừng nghĩ gì đến thế giới bên kia vì lẽ dễ hiểu là làm gì có cái thế giới nào ngoài thế giới hiện chúng ta đang sống. Chết là hết chuyện, như con chó hoặc như con khỉ vậy. Thiên đàng ở ngay trên quả đất này và chúng ta phải tạo dựng nó, phải giật lấy hạnh phúc về tay mình. Chủ thuyết cọng sản giải thích dưới góc độ nào đi nữa cũng chỉ là mớ lý thuyết xúi dục quần chúng nổi dậy cướp chính quyền để rồi dâng lên cho các nhà lãnh tụ… con cháu của khỉ. Nếu đúng loài người từ khỉ mà ra chứ chẳng có Thượng đế nào rỗi công đi tạo dựng ra cái đám người gào thét quần chúng làm cách mạng thì đỡ khổ cho mấy tỉ người trên thế gian này biết bao! Sinh ra “nửa người nửa ngợm nửa đười ươi” nên cái lối suy nghĩ của người cọng sản chỉ còn nửa nhân tính, còn nửa kia thuộc về loài… khỉ mất rồi.
Lịch sử đã chứng minh lý thuyết của họ sai bét bẹt bẹt. Vậy mà đám đàn em cọng sản càng lạm dụng bóp méo thuyết Tiến hoá của Darwin theo lối duy vật biện chứng để sơn phết cho hào quang của một thế giới đại đồng. Không biết Các-Mác lúc viết cuốn Tư bản luận có phi cần sa hay hút thuốc phiện không mà lại mơ màng đến một thế giới tuyệt vời, trong dó không còn người bóc lột người, mọi người làm theo khả năng hưởng theo nhu cầu. Ôi! Sao lại có người thật dễ tin đến vậy. Ðã là con người với đầy đủ thất tình với tham sân si thì làm sao có thể “đại đồng” được? Thật ra, ông Mác chỉ viết phê bình những điểm yếu của chế độ tư bản phôi thai thời đó, mãi đến sau này Lênin mới khai triển nó thành một hệ thống có lớp lang, có tranh đấu, có cướp chính quyền để tạo một thiên đàng… bịp ở trần gian này. Nếu có chăng thì chỉ là thiên đàng cho riêng những nhà lãnh tụ mà thôi.
Ðúng ra chẳng có anh cọng sản nào tin tưởng điều đó cả. Họ biết chắc Mác và Lênin bịp, bịp ngay từ ngày cách mạng thành công vào năm 1917 tại Nga nhưng họ vẫn rêu rao vì những ngón bịp này thật hấp dẫn với đám dân đen. Cuộc đời của đám dân đen quá khổ sở nên cần phải thay đổi, cho dù kết quả có ra sao đi chăng nữa. Ngày cách mạng thành công chính là ngày đám lãnh tụ lên ngôi vua, lúc đó lòng tham lam, mê danh vọng của mấy ông vua đỏ này mới lộ nguyên hình. Nếu hiểu theo thuyết Tiến hoá thì đúng mấy tay lãnh tụ đỏ rất giống khỉ ở cái điểm tham lam.
Ở Phi châu, dân chúng nghĩ ra một cách bắt khỉ tầm thường nhưng lại rất hiệu quả. Họ làm thành từng chum, từng hũ với miệng to nhỏ tuỳ theo cỡ. Số hũ chum này được buộc chặt xuống đất không thể nào di chuyển được. Trong từng chum họ bỏ chà là, một loại trái cây khỉ ưa thích. Một người đứng thò tay vào chum bốc một quả đưa lên miệng ăn, cốt để cho đám khỉ thấy bắt chước. Chỉ vài phút sau, khi thấy yên ắng không một bóng người, bầy khỉ trong rừng kéo nhau ra bốc chà là ăn. Khỉ nhỏ thì thò tay vào hũ, khỉ lớn đút tay vào chum. Khổ một nỗi, con nào cũng cố bốc thật nhiều chà là nên khi kéo tay ra bị kẹt nơi miệng chum. Thế là chúng la chí choé. Dân làng chỉ việc đến bắt từng con bỏ vào cũi. Khi thấy người, biết là sẽ bị bắt nhưng chúng nhất quyết không thả bớt chà là để kéo tay ra mà chạy. Nguyên tắc bỏ của chạy lấy người thật không đúng với loài khỉ ở Phi-châu. Thật đúng là… khỉ! Chúng có ngu không? Thưa không? Chỉ tại chúng quá tham nên không còn sáng suốt nữa.
Bài học của khỉ có thể đem áp dụng cho người. Ðôi khi chúng ta cũng nên biết bỏ bớt đi một chút để thoát ra khỏi cảnh chợ đời. Nhà Phật khuyên diệt dục để giải thoát xem ra khó quá. Bớt lòng dục đã thấy khó rồi huống gì phải dứt bỏ hoàn toàn. Nhưng bớt vẫn dễ hơn là đoạn tuyệt với lòng dục. Những bon chen cốt để thoả mãn nhu cầu vật chất không biết đến bao giờ mới đủ. Tri túc, tiện túc đãi túc hà thời túc; biết đủ là đủ, chờ cho đủ thì sẽ không bao giờ đủ. Buông tay ra mọi việc sẽ trở nên nhẹ nhàng. Thả bớt một chút tham vọng sẽ vơi nhiều phiền muộn. Giảm một chút lòng dục cũng thấy lòng thải mái hơn.
Ðức Giêsu nói: nhà giàu vào thiên đàng còn khó hơn con lạc đà chui qua lỗ kim, (Mt 19:24). Ðây là một lối nói diễn tả mạnh của người Do-thái như lối thậm xưng của ta. Vì thế không hẳn là mọi nhà giàu đều không thể vào nước thiên đàng, mà chính là ở lòng con người. Tham lam sẽ khó thoát tục. Cả một gia tài trì nặng ở dưới chân thì làm sao thoát tục được. Cái vướng mắc là ở chỗ đó. Có một linh mục cho rằng người giàu khó vào nước thiên đàng chỉ vì hành lý mang theo cồng kềnh quá, tay xách nách mang không thể lọt qua cửa thiên đàng được. Chỉ cần bỏ bớt đi, lòng sẽ thanh thản hơn ở cõi đời này và sẽ thấy cửa thiên đàng thênh thang rộng mở.

Sơn Nghị

LÃNH TỤ

sonnghi

Thời loạn ly thường sinh những anh hùng. Họ xuất hiện giữa đám đông, làm những việc không ai dám làm hoặc không có khả năng làm. May mắn cho một dân tộc khi có những anh hùng như thế vươn lên đứng sừng sững giữa thời đại nhiễu nhương. Và thật bất hạnh nếu không có họ, vì dân tộc đó sẽ mãi mãi đắm chìm trong nỗi xót xa của một kiếp người.

Cuộc sống hàng ngày cũng sản sinh nhiều anh hùng. Có người xông vào đám cháy để cứu một em bé bị kẹt bên trong. Có kẻ bênh đỡ những người thế cô bị chèn ép, ức hiếp. Họ hành động và bất chấp hiểm nguy cho chính mạng sống mình. Anh hùng thời nào cũng thế, họ xem cái chết nhẹ tựa lông hồng. Anh hùng xuất hiện ở một thời điểm nhất định, giải quyết xong một mâu thuẫn, rồi lặng lẽ biến trôi theo dòng đời. Hành động anh hùng vẫn được mọi người nhắc nhở nhưng anh hùng thì không màng được gọi tên. Người đời ngưỡng mộ gọi họ là anh hùng vì chứ bản thân họ không hề nghĩ đến việc được phong vương nhận tước hoặc lời khen tặng. Chính tình trạng xã hội hoặc tình huống dầu sôi lửa bỏng xảy ra vào một thời điểm nhất định đã thúc đẩy họ phải làm một cái gì để thay đổi, đem lại một cái gì mới hơn, tốt hơn. Đây chính là ý nghĩa cao cả nhất của nghĩa cử anh hùng.

Thời Bắc thuộc lần thứ nhất (111 trước TCGS – 39 sau TCGS), quan thái thú Tô Định nổi tiếng tàn ác, khiến lòng dân uất ức oán hận. Nhân vì thù chồng, Trưng Trắc và Trưng Nhị nổi dậy cầm quân đánh đuổi Tô Định quyết dành lại độc lập cho nước nhà thoát ách đô hộ của phương Bắc. Hai bà là vị nữ lưu anh hùng đầu tiên của nước Việt. Sau này vì thua quân Mã Viện nên hai bà đành phải nhảy xuống sông Hát giang trầm mình tự tận.

Khi làm xong những việc phi thường, người anh hùng âm thầm quay trở lại nếp sống bình thường nếu có cơ may còn sống sót. Nếu không, sẽ có những ngậm ngùi thương tiếc quyện với khói hương và những khuôn mặt nhạt nhoè nước mắt ẩn khuất sau tấm vải sô màu tang trắng.

Có ai xuôi vạn lý,
Nhắn đôi câu giúp nàng,
Lấy cây hương thật quý,
Thắp lên thương tiếc chàng…

Lê Thương (Hòn Vọng Phu)

Anh hùng đích thực chỉ có thế! Họ xuất hiện để kéo đám mây đen, trả lại cho nhân gian một ngày rực sáng. Hình ảnh dũng cảm của chàng trai áo vải Lam sơn xông phá vòng vây ở rừng Chí linh đánh dấu mười năm gian khổ, để bẻ gãy xiềng xích nô lệ của giặc Minh vẫn còn ghi đậm nét trong sử sách. Anh hùng luôn có những hành động anh hùng. Lê Lai chấp nhận hy sinh để cuộc khởi nghĩa còn có vị minh chủ chỉ huy, giữ lấy chính nghĩa. Cái chết của Lê Lai thật đơn giản; mặc áo ngự bào giả làm Lê Lợi để quân nhà Minh vây giết nhưng để lại một triều đại nhà Lê kéo dài đến 360 năm, đánh dấu một thời nước nhà độc lập. Quyết định tự vẫn để chết theo miền Nam của thiếu tướng Nguyễn khoa Nam sau ngày mất nước cũng là một hành động anh hùng. Cái chết của ông luôn nằm trong tâm tưởng những người lính hy sinh một đời ôm súng bảo vệ quê hương.

Thuở xa xưa, nét phác họa của anh hùng là một chàng trai xếp bút nghiên theo việc kiếm cung , sẵn sàng lấy da ngựa bọc thây, với ý chí sắt đá xuống Đông Đông tĩnh lên Đoài Đoài tan. Chàng đứng hiên ngang, trầm mặc dưới bóng chiều tà, tay nắm chặt đốc kiếm, mắt đăm chiêu nhìn về phía chân trời, mong một ngày quê hương độc lập, hưởng thanh bình. Bóng chàng vẽ lên khung trời đỏ ối như dáng hình một phiến đá đen xám. Trông buồn như thật bi tráng. Thời đại tân tiến này, ở thế kỷ 20 vừa qua và vẫn còn tiếp diễn sang thiên niên kỷ mới, lại có những lãnh tụ tự hào xưng tên nhập nhằng với hai chữ anh hùng.

Thật ra, lãnh tụ là một danh xưng thơm. Lãnh tụ là người đứng ra lãnh đạo một nhóm người, có thể vài người, có thể hàng trăm nghìn người để thực hiện một mục tiêu nào đó. Như Martin Luther King, Jr., vị mục sư da đen dùng phương pháp bất bạo động để tranh đấu quyền bình đẳng cho người da đen. Ngày 28/8/1963, hơn 250 nghìn người tụ họp tại thủ đô Washington, D.C., cùng nhau đi bộ đến điện Capitol để ủng hộ đạo luật bình đẳng (Civil Rights Act). Mục sư King bước đi lẫn trong đoàn người đông đảo, cùng nắm tay nhau, hát vang trên đường phố. Ngày hôm đó, ông bắt đầu bài diễn văn hùng hồn bằng câu: tôi có một giấc mơ. Giấc mơ bình dị của ông là muốn được mọi người bình đẳng, sống an bình trong một quốc gia phồn thịnh.

Không lãnh tụ nào mà không có ước mơ. Họ mơ ước nước nhà độc lập, có tự do và người dân hạnh phúc. Đó là giấc mơ lớn. Nhưng đôi khi lãnh tụ bắt đầu bằng một ước mơ thật bình thường… cho riêng mình. Năm 1911, chàng trai Nguyễn tất Thành xuống tàu Admiral Latouche-Tréville đi Tây để tìm kiếm tương lai. Vốn liếng tiếng Tây của chàng được dăm ba chữ, thế mà cũng cầy cục xin được chân làm việc dưới tàu để bôn ba sang Tây miễn phí. Tài xoay xở, khôn lanh của Nguyễn tất Thành đã lộ ra ngay từ khi mới 19 tuổi (nếu năm sinh 1892 là đúng). Bức thư gửi cho Bộ trưởng Thuộc địa đề ngày 15/9/1911 nói rõ ước mơ của cậu con trai út của cụ Phó bảng Nguyễn sinh Huy. Trong thư cậu nói thẳng là muốn được nhận vào trường thuộc địa để học thành tài phục vụ cho mẫu quốc. Ước mơ của Paul Thành thật đơn giản thế mà lại bị từ chối. Có thể vì lúc đó cậu vô danh tiểu tốt nên không được ai chú ý đến, trừ tên cai trên tàu Tréville nơi cậu giúp việc, hoặc ông Bộ trưởng có chuyện buồn nên chẳng hề đọc hết lá đơn, vung tay phóng bút gạch ngang một cái. Buồn cho cậu Thành lúc đó và khốn khổ cho dân tộc Việt kéo dài cả hơn nửa thế kỷ sau này. Chính vì bị từ chối nên cậu Thành dứt khoát đem hết tâm huyết học hỏi lý thuyết cộng sản, và đem du nhập vào đất nước nông nghiệp lạc hậu Việt nam thời bấy giờ, mở đầu cho những trang sử kinh hoàng triền miên không hề thấy dấu chấm hết.

Thật không ngờ tiền đồ của dân tộc lại tuỳ thuộc vào một lá đơn con con gửi cho ông Bộ trưởng thực dân. Giá hôm đó ông Tây phê ngay cho tiếng “oui” thì đỡ cho hơn 80 triệu người dân biết mấy! Không chừng tiếng “oui” hôm đó lại biến một nước Việt nam thành phú cường, thịnh vượng trong cộng đồng châu Á hôm nay; vì không bị họa cộng sản làm trì hoãn bước tiến của dân tộc. Cái vận mạng của con cháu Lạc Hồng quá xui xẻo nên ông “non, non” luôn miệng rồi xếp xó lá đơn.

Trở lại cuộc tranh đấu bình quyền của vị mục sư da đen Martin Luther King, Jr.. Khởi đầu từ cuộc đấu tranh bất bạo động, các sắc dân da màu gọi ông là lãnh tụ, và sau khi ông bị ám sát chết, người da đen gọi ông là anh hùng. Như thế có những anh hùng xứng đáng làm lãnh tụ, và ngược lại có những lãnh tụ bắt đầu sự nghiệp bằng những hành động anh hùng.

Nhưng cũng không thiếu những tay gian hùng trở thành lãnh tụ. Họ ngoi lên địa vị độc tôn bằng mưu mô quỷ quyệt; bằng máu của bạn bè đồng chí, và bằng nước mắt của rất nhiều người.

Tào Tháo là một tay gian hùng. Nghe ở đất Nhữ Nam có Hứa Thiệu nổi danh là biết người, Tháo đến hỏi vận mệnh tương lai. Thiệu trả lời:

– Thời trị, anh là bề tôi giỏi. Thời loạn, anh là kẻ gian hùng.

Sau này, Tháo tiếm ngôi và trở thành “hoàng đế” nước Nguỵ, mở đầu thế chân vạc chia đều nước Tàu với Lưu Bị của Thục và Tôn Quyền của Ngô. Nguyễn tất Thành sau một thời gian bôn ba, học hỏi và say mê chủ thuyết cộng sản, trở về nước lập phong trào Việt Minh, cùng với các đảng phái khác quyết tâm đánh đuổi thực dân Pháp. Lúc này Nguyễn tất Thành đã cải danh là Hồ chí Minh sau nhiều lần thay đổi tên họ vì lý do an ninh, tránh mật thám Pháp. Có lần đi ngang đền thờ Trần Hưng Đạo (1213-1300), ông Hồ gật gù làm một bài thơ so sánh sự nghiệp đánh đuổi quân Mông cổ của ngài và sự nghiệp chống quân Pháp của ông. Bài thơ mở đầu bằng câu: Bác anh hùng tôi cũng anh hùng…

Mặc dù ông Hồ lúc đó đã trở thành lãnh tụ nhưng không thể so sánh với sự nghiệp quân sự lẫy lừng của viên đại tướng đã từng đánh bại chúa tể miền đồng cỏ Thành Cát Tư Hãn. Trần Hưng Đạo là một vĩ nhân, ông Hồ cũng tự thấy mình xứng đáng là vĩ nhân nên gật gù vỗ vai viên đại tướng họ Trần, cảm khái bằng một bài thơ. Khẩu khí thật cao ngạo và hỗn, quá hỗn. Tôi không dám nghĩ cụ đồ nho Nguyễn sinh Huy quên dạy cho cậu con út thế nào là Lễ trong lẽ cương thường của Nho bản nhưng tôi nghĩ đến lòng tự tôn tự đại đã bốc hào khí của ông Hồ đến tận mây xanh.

Ông Hồ lập lờ quên đi một sự kiện trong lịch sử nhân loại: gian hùng cũng trở thành lãnh tụ. Và ông đã cố tình lạm dụng từ ngữ anh hùng. Danh xưng “anh hùng” phải ở các ngôi vị khác, không thể ở ngôi thứ nhất số ít hoặc số nhiều. Một người có thể nói: “anh là anh hùng” nhưng không thể vỗ ngực tự khoe: “tôi là anh hùng”. Khi vỗ ngực tự xưng tụng, chính người đó đã đánh mất vẻ đẹp truyền thống của “anh hùng” vì đơn giản đó phải là một danh xưng ban tặng chứ không thể là một danh xưng chọn lựa. Và không gì hợm hĩnh cho bằng tự khen chính mình.

Đành rằng làm chính trị phải mưu mô quỷ quyệt, phải lừa đảo, phải gian manh nhưng kiểu làm chính trị của ông Hồ vẫn mang một sắc thái đỏ riêng biệt. Phải nói là đỏ vì nó dính máu của rất nhiều người. Năm 1940, ông bán đứng cụ Phan bội Châu, một nhà cách mạng, cho mật thám Pháp ở Hương cảng để lấy mười nghìn đô-la HK. Cái chết của cụ Huỳnh thúc Kháng (bị máy bay Pháp bỏ bom) cũng là một bí ẩn. Và còn nhiều cái chết của các đồng chí khác đảng phái nhưng cùng một chí hướng đánh đuổi thực dân Pháp dành lại độc lập cho nước nhà.

Phong trào chống Pháp bừng bừng khí thế, nhất quyết đánh đuổi thực dân ra khỏi bờ cõi. Chưa bao giờ toàn dân lại cùng chung một lý tưởng đến thế. Người ta nghĩ đến một Hội nghị Bình than của Trần quốc Toản, một Bình ngô Đại cáo của Nguyễn Trãi, một Hịch tướng sĩ của Hưng đạo Vương. Bên cạnh Việt minh, các đảng phái khác cũng sát cánh chiến đấu bên ông, thế nhưng ông không muốn chia sẻ vinh quang của một nước Việt nam độc lập với một người nào khác. Vai trò lãnh tụ độc tôn của ông cần được đánh bóng cấp bách hơn bao giờ vì vai trò Nhật sắp bị cáo chung ở Á châu khi Đệ nhị Thế chiến chấm dứt. Và đúng như ông mơ ước, ngày tuyên bố độc lập mùng 2-9-1945, chỉ một mình ông đứng ở quảng trường Ba-đình, cất giọng hỏi đồng bào bằng một câu hết sức bình thường: đồng bào nghe tôi rõ không? Tôi không tin ông tình cờ hỏi đồng bào một câu như thế nhưng tôi tin chắc ông đã chuẩn bị kỹ càng từng chữ, từng lời nói, từng hành động… nhất nhất đều nằm trong kế hoạch huyền thoại hóa con người của ông. Vì thế, sau này người ta thấy ông thường cầm khăn tay màu đỏ, và lấy khăn chậm chậm nước mắt vì ông có thể khóc bất cứ lúc nào. Những giọt nước mắt ông rơi rớt trên khuôn mặt gân guốc, khắc khổ đáng lẽ nên khóc thương cho số phận hàng trăm nghìn người chết oan trong cuộc cải cách ruộng đất thì hơn.

Ở chốn đông người, nhất là những lúc quay phim, ông thận trọng về cách ăn mặc – thường một màu chàm giản dị – ngay cả đến đôi dép râu làm bằng vỏ lốp của ông cũng không nằm ngoài kế hoạch bình dị hoá hình ảnh một vị Chủ tịch có nhiều tham vọng, đôi khi cuồng vọng. Vì thế người ta không lạ gì có thật nhiều huyền thoại thêu dệt chung quanh hình ảnh một ông già râu bạc trắng, đôi mắt sáng, trán cao, vươn mình đứng lớn hơn mọi vĩ nhân của nước Việt. Khi một nhân vật có quá nhiều huyền thoại, lẽ tất nhiên mặt trái của “vĩ nhân” rất khó bị lộ tẩy.

Vậy mà mặt trái của ông Hồ vẫn bị lộ tẩy theo thời gian. Và đây là một trong những góc cạnh chân thực nhất của bản chất ông Hồ.

Hãy tưởng tượng đến một ông già ngồi ở căn nhà gọi là Phủ Chủ tịch, khoan thai đốt một điếu thuốc Dunhill, loại thượng hạng của Anh. Ngòi bút của ông phóng xuống mặt giấy, chỉ một loáng là có ngay phần phi lộ của cuốn sách nổi tiếng: “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ chủ tịch” như thế này; nhiều nhà văn, nhà báo Việt nam và ngoại quốc muốn viết tiểu sử của vị chủ tịch nước Việt nam dân chủ cộng hoà, nhưng mãi đến nay, chưa có người nào thành công. Nguyên nhân rất giản đơn, Chủ tịch Hồ chí Minh không muốn nhắc đến thân thế của mình. Ông thở ra một hơi khói, đọc lại hàng chữ, mỉm cười gật gù thỏa mãn. Nhưng rồi trán ông cau lại, tỏ vẻ chưa vừa ý. Ngòi bút phóng vội xuống mặt giấy, ông có ngay một đoạn phi lộ nữa; một người như Hồ Chủ tịch của chúng ta, với đức khiêm tốn nhường ấy và đương lúc bề bộn biết bao nhiêu công việc, làm sao có thể kể cho tôi nghe bình sinh của người được?

Mặc dù ông già viết không muốn nhắc đến thân thế của Hồ chí Minh, nhưng sau đó toàn bộ cuốn sách đều nói đến thân thế sự nghiệp của vị Chủ tịch qua lối phỏng vấn. Ở trang cuối của cuốn sách, ông già ký tên Trần dân Tiên.

Và ông già ngồi viết những dòng chữ “khiêm tốn” đó không ai khác hơn là ông Hồ. Vâng, chính ông. Ông tự thuật nhưng lại ký bút hiệu nên ai cũng nghĩ cái khách quan của anh nhà báo Trần dân Tiên. Ngay khi cuốn sách phát hành năm 1948, và nhiều lần sau này, huyền thoại lại càng có dịp vây bủa quanh hình ảnh ông như một đám mây dày đặc. Các chính khách khi về hưu thường viết hồi ký, chuyện đó hiển nhiên. Viết hồi ký chỉ nói đến cái hay của mình và phớt lờ những khuyết điểm đã vấp, điều đó cũng dễ hiểu nữa vì ít ai có can đảm soi bóng mình trong gương. Nhưng lối viết “khiêm tốn” của ông Hồ quả thật có một không hai, không một nhà lãnh tụ nào trên thế gian này có thể nghĩ đến. Tự cổ chí kim chưa có một ai, từ nay về sau có lẽ cũng không thấy một người.

Cái gian hùng của ông Hồ thật hiếm có, có lẽ Tào Tháo phải chào thua, Hitler cũng phải lắc đầu khâm phục. Và chính vì sợ cái gian hùng của ông mà cha mẹ tôi đành phải bỏ mồ mả tổ tiên di cư vào Nam năm 1954. Thế hệ chúng tôi sinh ra trong khung cảnh cha mẹ bồng bế dắt díu con cái, gạt nước mắt bước lên tàu há mồm ra đi. Chúng tôi lại lớn lên trong một cuộc chiến Nam Bắc tương tàn, và rồi sau năm 1975 cũng sợ cái gian hùng của đám lãnh tụ đàn em ông nên đành phải tha phương cầu thực ở xứ người, bỏ lại một nước Việt đầy dẫy hình ảnh ông Hồ qua những hình tượng bán thân đắp nổi, bức hoành tráng treo trong đại sảnh, chân dung lồng khung gỗ trong mọi căn nhà, tượng toàn thân dựng sừng sững ở các công viên.

Saddam Hussein rất giống ông Hồ ở điểm này. Hình ảnh của Saddam được dựng lên khắp toàn cõi nước Iraq: đúc đồng, vẽ tranh, khắc gỗ. Stalin – thần tượng của Saddam – cũng không thoát khỏi căn bệnh tự suy tôn. Một bức tượng toàn thân của Stalin dựng bên bờ sông Volga to lớn đến nỗi chỉ mỗi cái mũ nằm ngửa ông cầm trên tay đủ để lọt 3 chiếc xe hơi. Nghệ thuật đánh bóng lãnh tụ trở thành một căn bệnh liệt kháng trong các chế độ độc tài. Nếu Saddam tự xưng là “cha của dân tộc” (father of the nation) thì ông Hồ cũng tự phong cho mình cái tên tương tự: “cha già của dân tộc”. Ông khôn ngoan thêm chữ “già” vào danh xưng cho trang trọng. Một thời người miền Bắc không ai được dùng chữ “bác” để xưng hô trong sinh hoạt hàng ngày, và chữ “bác” trân quý này chỉ được dùng riêng cho ông Hồ, mặc dù lúc đó ông mới 55 tuổi. Kim nhật Thành, một vị “cha già của dân tộc” khác của Bắc Hàn cũng mắc cùng một căn bệnh kinh niên. Ở đường phố Bắc Hàn, người ta chỉ thấy hình ảnh của vị lãnh tụ họ Kim nhan nhản khắp đường phố, in hệt như hình ảnh ông Hồ ở nước Việt nam khốn khổ. Những bài ca suy tôn, có những lời ca tụng chói tai nghe đến xấu hổ vẫn vang vang trong khắp hang cùng ngõ hẻm. Các trẻ em thiếu dinh dưỡng mỗi ngày vẫn tập đi đứng diễu hành trước bức tượng của vị lãnh tụ họ Kim, miệng không ngớt la to những khẩu hiệu chống đế quốc tư bản. Ông Kim không hề đếm xỉa gì đến hàng triệu đồng bào ruột ruột thịt của ông xanh xao, gầy còm, hàng ngày bị cơn đói hành hạ; thậm chí có người phải ăn cỏ rồi chết, trong khi khuôn mặt của vị lãnh tụ vẫn hồng hào, mỡ chảy quyện thành nọng vấn quanh cổ…

Khuôn mặt ông Hồ cũng vậy, phương phi, hồng hào, chỉ khác với lãnh tụ Mao và Kim là không có nọng.

Bác Hồ cùng với bác Tôn,
Hai bác rất thích ôm hôn nhi đồng
Khuôn mặt hai bác thì hồng,
Khuôn mặt các cháu nhi đồng thì xanh
Giữa hai cái mặt bành bành,
Những khăn quàng đỏ bay quanh cổ cò.

(Nguyễn chí Thiện)

Trong cuốn phim K-19: The Widowmaker (tạm dịch: K-19: con tàu tạo goá phụ), kể lại một câu chuyện có thật xảy ra năm 1961, thời kỳ cao điểm của chiến tranh lạnh giữa Hoa kỳ và Nga sô. Đây là loại tàu ngầm mang đầu đạn nguyên tử tuần hành trong vùng biển thuộc khối NATO, một hãnh diện cho nền kỹ thuật nước Nga thời bấy giờ. Trước khi bắt đầu cuộc hải hành, thuyền trưởng Alexei Vostrikov tập họp tất cả các thuỷ thủ lại và dõng dạc nói: without me, you are nothing; and without you, I am nothing. Qua câu nói này, thuyền trưởng Vostrikov đã thấu hiểu được vai trò của lãnh tụ. Nếu không có lãnh tụ, quần chúng chỉ là đám quân ô hợp. Còn nếu không có quần chúng, lãnh tụ chỉ là con số không, vì lẽ đơn giản một mình không thể làm được việc gì. Chính vì thế, khi đạt được mục tiêu, lãnh tụ cần biết ơn quần chúng, không thể ngồi tự mãn, chỉ lo đánh bóng thân thế sự nghiệp lãnh đạo của mình và quên đi công lao của đám quần chúng đã một thời xả thân vì ngai vàng cho lãnh tụ.

Bất cứ đất nước nào có những lãnh tụ đánh bóng… mình thái quá đều lạc hậu, nghèo nàn, bước chân rùa trên con đường dẫn nước nhà đến ấm no, hạnh phúc. Họ sống trong mộng tưởng chính họ là “vĩ nhân” duy nhất của đất nước và mỗi ngày đứng chiêm ngưỡng bóng mình trong gương, họ tự ban những danh hiệu không tưởng, tự phong những tước hiệu hão huyền. Từ đó sinh ra độc tôn và độc tài.

Đất nước Iraq bị họa lãnh tụ độc tôn ngay từ ngày đầu khi Saddam lên nắm chính quyền, năm 1979. Saddam xây dựng ngai vàng bằng cách khủng bố, ám sát theo đúng chính sách của các lãnh tụ cộng sản. Ngay chính con rể, Saddam cũng không tha. Cái giá đem vợ con đào tẩu là cái chết. Ông dứt khoát bắt đứa con gái phải chịu cảnh goá bụa, và không hiểu khi đứa cháu ngoại lớn lên nghĩ gì về ông ngoại, người đã nhẫn tâm giết bố mình? Và người ta cũng không lạ gì khi Saddam luôn gối đầu cuốn sách về những bài viết của Stalin, người đã đày ít nhất 7 triệu người Nga vào các gulags trong vùng sa mạc tuyết Siberia mênh mông, ở đó nhiệt độ luôn luôn dưới không độ. Vì thế hiếm thấy ai trở về từ vùng đất hoang vu lạnh lẽo chết người đó.

Lãnh tụ cần phải có trái tim bằng sắt. Nước mắt thật hiếm hoi rơi rớt trên những khuôn mặt lạnh lùng, không hề biết thương xót. Ở nước Việt nam hiện nay lại có những ông trời con với khuôn mặt lạnh lùng, không hề biết thương xót; không ai khác hơn là con của những lãnh tụ, một thời là đàn em ông Hồ. Những “thái tử” này vừa giàu có, vừa có uy quyền tuyệt đối, tiêu tiền không hề chép miệng. Một người bạn của tôi quê ở Long-an vừa về thăm nhà cho biết, công ruộng một ngày đáng giá 30 nghìn, nghĩa là được hơn một đô-la. Nói rõ thêm định nghĩa của một ngày công ruộng là phải làm từ sáng đến chiều, dầm sương dãi nắng, chân lấm tay bùn, mồ hôi ướt đẫm. Trong khi các cậu ấm chỉ một đêm thôi, ngồi vung tiền ở các hộp đêm cho các em gái nhảy có thể lên đến cả nghìn đô-la; vì chỉ riêng chai rượu SOP cậu vừa uống vừa đổ đã ngốn mất 250 đô, bằng sức lao động gần cả năm của một người. Những “thái tử” này có thể mua tặng cho bạn gái một chiếc máy điện thoại di động cỡ 20 nghìn đô, chỉ với mục đích phô trương khả năng xài tiền. Còn tầng lớp cha ông của những tay “thái tử” ăn chơi trác táng này hơn hẳn con cháu bằng những lần đánh cá trận bóng đá lên đến mấy triệu đô. Chức vụ của người này chỉ ở cấp cao nhưng chưa nắm trọn quyền hành như một lãnh tụ thực sự. Thế mà đã biển lận và công khai đánh bạc lên đến triệu đô như thế. Từ đó suy ra một lãnh tụ ở nước VN nghèo khổ hiện nay có thể làm bất cứ việc gì mà họ muốn. Cái đám lãnh tụ (12 người) nằm ở Bộ Chính Trị có thể thu vén của công đem về cho mình bất cứ lúc nào, bao nhiêu cũng được, miễn là đừng gây mâu thuẫn giữa các lãnh tụ với nhau. Tôi có cảm giác như 12 con kên kên xúm lại rỉa thịt một xác chết. Đau khổ hơn, đây chưa hẳn là một xác chết mà là một nước VN đang còn thoi thóp thở. Thế mà các lãnh tụ vẫn nhẫn tâm rỉa Mẹ VN cho đến tận xương tủy. Đây là sự thật đau xót xảy ra mỗi ngày ở Việt nam. Chưa bao giờ trong lịch sử nước Việt cái khoảng cách giữa các lãnh tụ và con dân lại cách biệt đến thế. Nó còn biểu hiện cái khoảng cách của tình người, của lương tâm và tri thức.

Lại thêm số tiền mà những “khúc ruột ngàn dậm” gửi về hàng năm lên đến cả tỷ bạc. Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước VN và Đài Á châu Tự do, năm 2008 Việt kiều đã gửi về khoảng 8 tỷ, tăng 1.3 tỷ so với năm 2007 (6.7 tỷ). Đây là số tiền chính quyền kiểm soát được, còn nếu kể những đồng bạc xanh gói kỹ dấu trong ruột tượng, hoặc gửi lén lút thì số tiền đổ về nước phải gấp rưỡi mới đúng. Làm một con toán nhỏ, cứ tính khoảng 70%-80% tổng số tiền lọt vào tay các lãnh tụ thì con số đã gần 8-9 tỷ. Thảo nào các công tử Bạc liêu tân thời cứ việc vung tiền tiêu pha cho thoả thích.

Để biết thêm gia tài các lãnh tụ hiện nay ra sao, xin trích dẫn một nguồn tin đã được tiết lộ vào năm 2005 từ một quan chức cao cấp Bộ Công an cho biết số tiền khổng lồ mà các quan chức cao cấp VN gửi tại ngân hàng Thụy sĩ. (đây là những chức vụ vào thời điểm 2005)

Cựu Chủ tịch nước Lê Đức Anh hơn 2 tỉ USD cộng 7 tấn vàng;
Cựu Tổng Bí thư Đỗ Mười 2 tỉ USD;
Đương kim Bộ trưởng Quốc Phòng Phạm văn Trà 2 tỉ USD cộng 3 tấn vàng;
Cựu Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu 500 triệu USD;
Đương kim Chủ tịch nước Trần Đức Lương 2 tỉ USD;
Đương kim Thủ tướng Phan văn Khải hơn 2 tỉ USD;
Đương kim Phó Thủ tướng thường trực Nguyễn tấn Dũng hơn 1 tỉ USD;
Đương kim Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh 1,3 tỉ USD;
Đương kim chủ tịch Quốc hội Nguyễn văn An hơn 1 tỉ USD;
Cựu phó ủy ban thể dục thể thao Quốc gia Lương quốc Đống 500 triệu USD;
Cựu Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn mạnh Cầm hơn 1 tỉ USD;
Cựu Thứ trưởng thường trực Bộ Thương mại Mai văn Dậu hơn 1 tỉ USD.

Đây là con số ước tính vào năm 2005, đến 2015 thì những tài sản này phải tăng lên nhiều lần vì tiền của người Việt đổ về trong nước chỉ tăng chứ không hề giảm. Hơn 10 năm trước, ông John Shapiro, một cựu chiến binh Hoa kỳ sau 3 tuần lễ thăm VN để tính chuyện làm ăn buôn bán, phát biểu rằng các ông lớn trong đảng gồm các thành viên bộ chính trị, các bộ trưởng và thứ trưởng, ít nhất mỗi người có vợ hay con làm chủ một công ty. Theo ông Shapiro, do việc chính phủ cho phép các công ty được chuyển ngân ra nước ngoài lên đến 500000 đô la, số ngoại tệ trong nước bắt đầu vơi đi.

“Vẫn theo ông Shapiro, có khoảng 700 đảng viên CSVN có tài sản từ 100 đến 300 triệu đô la. Đây là con số do một nhân vật cao cấp của ngân hàng trung ương cung cấp cho ông. Những đảng viên có tài sản từ 50 đến 100 triệu đô la khoảng 2000 người… Tất cả những con số về tài sản của đảng CSVN là do những chuyên viên thống kê của cơ quan mậu dịch quốc tế. Số tài sản lớn lao trên do thân nhân của đảng viên cao cấp ở nước ngoài làm sở hữu chủ. Ông Shapiro cũng nêu lên nhiều thí dụ điển hình như vợ bé của tổng cục phản gián làm ăn rất lớn ở Âu châu, em ruột của trung tướng VC, tổng cục phó tổng cục phản gián đang kinh doanh rất lớn ở Nam Cali, vợ con của Giám đốc tổng cục kinh tế và thân nhân của Đỗ Mười thủ đắc những tài sản nhiều triệu đô la ở Vancouver, Canada và cả ở New York, Houston.”

Các lãnh tụ lập thành tích thi đua hút máu của dân, miệng đỏ choét nhưng bụng lại xanh lè (đôla xanh). Nhìn quả thì biết cây. Tương lai con cái của họ sẽ thay thế cha làm lãnh tụ, vẫn i tờ không tri thức, cứ hống hách, cửa quyền, tham ô như bố thì thật tội cho nước Việt nam quá, biết bao giờ mới thoát khỏi cảnh diệt vong trí tuệ và nhân phẩm đây.

Hậu quả thảm khốc hiện nay của một nước Việt nam đều bắt nguồn từ việc ông Hồ du nhập cái lý thuyết cộng sản bệnh hoạn không hề suy nghĩ. Ông chỉ nghĩ đến ông, đánh bóng những huyền thoại để ông trở thành một nhân vật như trong chuyện cổ tích. Bởi thế nên mới có bài: đêm qua em mơ gặp bác Hồ. Ở các nước tiên tiến, con nít đi ngủ mơ thấy được quà, hoặc sung sướng hơn mơ gặp được bà tiên có đôi đũa thần như cô bé Lọ Lem thần thoại. Còn những đứa con nít Việt nam, cả tuổi thơ chỉ thấy ông Hồ vì ông hiện diện từ trong nhà cho đến ngoài ngõ, kể cả trong lớp học. Ngay đến giấc ngủ mà ông cũng lững thững bước vào đòi ban phát “mộng lành” cho các em nữa thì quả thật tội cho các cô cậu Lọ Lem ở nước Việt nam quá!

Và điều này giải thích tại sao phần lớn thế hệ sinh sau năm 1975 vẫn nể trọng ông Hồ, mặc dù trong số đó vẫn có người không ưa thích chế độ đương thời. Lý do là với lối giáo dục nhồi sọ trong học đường, cố bưng bít tất cả sự thật nên hình ảnh ông Hồ không lạ gì vẫn chiếm một vị trí đáng kể. Năm 1969, tình cờ tôi thấy hình bìa tờ báo Times của cậu tôi, chụp hình một chị nhà quê tay cầm nón lá khóc nức nở. Chị lả người gần như không đứng vững, nước dãi chảy thành dòng một bên mép. Tôi hình dung được nỗi đau đớn của chị qua những giọt nước mắt lăn trên gò má. Nhìn lên phía trên, tôi thấy dòng chữ: Ho Chi Minh died. Quả thật lúc đó tôi không hiểu ông Hồ chết mà có người khóc thương đến vậy sao? Tôi nghĩ thầm nếu cha tôi có chết ngay bây giờ, có lẽ tôi cũng không khóc lóc sướt mướt đến vậy. Lớn lên một chút tôi chợt hiểu ra cả một guồng máy có hệ thống bóp nặn lên hình ảnh ông Hồ tuyệt vời đến nỗi khi ông chết, cả nước phải để tang, thương khóc. Ông Hồ và đám đàn em ông rất thành công về điểm này. Ôi! Tội cho những giọt nước mắt thật xót xa rơi trên thân xác của một lãnh tụ giả.

Vì thế ông Hồ đi sầm sập vào sinh hoạt của người dân miền Bắc với vóc dáng của một vị lãnh tụ tuyệt luân, một người cha khoan dung, một người ông hiền lành mặc dù cả nước chưa hề thấy ông lấy vợ sinh con đẻ cái. Người ta vẫn tin vào hình ảnh một ông già cả đời hiến thân vì độc lập nước nhà, không màng đến hạnh phúc cho riêng mình (sic!) chứ không ngờ rằng ông vẫn có những đòi hỏi sinh lý như một người bình thường. Những tài liệu khám phá được vào khoảng đầu thập niên 90 đã thổi bay những đám mây huyền thoại của con người ông Hồ, để lộ một ông già thường thở dài nằm trằn trọc mỗi đêm, bứt rứt khó ngủ.

– Ngay từ những ngày đầu bôn ba trên đất Pháp, theo tài liệu ở Pháp, khi trẻ tuổi, làm thợ ảnh, ông Hồ có quan hệ với một cô đầm tên là Marie Bière nào đó…

– Trong cuốn hồi ký của Bùi Tín, một nhà báo VC mang quân hàm đại tá hiện đang sống lưu vong ở Pháp, viết như sau: “theo chị Sophia, có người kể với chị là ông Hồ còn có lúc yêu cả vợ ông Chu Ân Lai là bà Đặng Dĩnh Siêu, khi gặp nhau ở Hoa Nam thời trẻ; ông cũng có lúc có tình cảm mặn nồng với cả chính bà Vera Vasilieva, một phụ nữ Nga. Chị Sophia kể con gái bà Vera Vasilieva nhớ lại rằng anh thanh niên Quốc (tên ông Hồ lúc đó) ăn mặc rất chải chuốt, luôn mang cà vạt màu rất diện, xức cả nước hoa cực thơm… ”

– Thời gian lưu lạc sang Tàu, ông Hồ (lúc này mang tên Lý Thụy) đã chính thức lập gia đình với bà Tăng Tuyết Minh vào tháng 10, 1926. Hoàng Tranh (Huang Zheng) là nhà sử học, viện phó Viện Khoa học Xã hội Quảng Tây, tác giả cuốn “Hồ Chí Minh với Trung Quốc” (xuất bản năm 1990) đã kể rõ sự kiện này. Lúc kết hôn, ông Hồ đã 36 tuổi và Tuyết Minh mới 21 tuổi. Họ tổ chức đám cưới ở nhà hàng Thái bình, cũng là nơi một năm trước Chu Ân Lai mời đông đảo quan khách đến dự tiệc cưới của mình. Vợ chồng ông Hồ chỉ sống với nhau đến tháng 4, 1927 thì phải chia tay, ông Hồ phải rút vào bí mật vì Tưởng giới Thạch thẳng tay đàn áp các đảng viên cộng sản. Do cuộc sống hoạt động chính trị của ông Hồ nên sau đó ông không có cơ hội liên lạc với người vợ Tàu nữa. Bà Tuyết Minh cũng không ngờ đó là lần chia tay vĩnh viễn.

Tôi có người bạn Tàu, làm chung sở hơn 10 năm nay, quê cũng ở Quảng Châu. Nhân bàn về chuyện ông Hồ có vợ, anh ta xác định bà Tuyết Minh ở ngay thành phố nơi anh ta cư ngụ. Và chuyện bà lập gia đình với ông Hồ, cả thành phố ai mà không biết. Tôi nói thêm là chính quyền cộng sản Việt nam phủ nhận sự kiện này và cấm trích dịch và lưu hành cuốn “Hồ Chí Minh với Trung Quốc” của Hoàng Tranh ở trong nước, anh ta chỉ cười cười nói: that’s the truth, man. He’s (Hồ) just an ordinary person, like you and me…

– Khi ở Hương cảng năm 1930, ông Hồ nẩy sinh tình cảm với cô Nguyễn thị Minh Khai, lúc đó cô mới 20 tuổi. Tên thật Minh Khai là Nguyễn thị Vịnh, cũng gốc Nghệ an; một đồng chí, một học trò chính trị của ông Hồ. Năm 1935, lúc đến Moscow dự đại hội đảng cộng sản quốc tế, Minh Khai khai báo đã có chồng tên là Lin (bí danh của ông Hồ lúc đó). Họ đã sống chung ở nhà tập thể trong suốt thời gian đại hội.

– Sau khi ở Tàu một thời gian, ông Hồ về nước cùng với một số cán bộ đã được huấn luyện. Trong số đoàn tuỳ tùng có một người đàn bà tên Đỗ thị Lạc. Về đến hang Pắc Bó, Đỗ Thị Lạc sống chung với ông Hồ một thời gian, lo dạy trẻ em và vận động vệ sinh ăn ở của dân chúng ở Khuổi Nậm, một làng gần đó. Sử gia Trần trọng Kim cho biết Đỗ thị Lạc có một đứa con gái với ông Hồ.

– Theo Vũ thư Hiên, trong cuốn Đêm Giữa Ban Ngày có viết lại lời kể của bố ông là Vũ đình Huỳnh (bí thư của ông Hồ) một chuyện thật thương tâm. Qua câu chuyện, người ta lại càng hiểu rõ thêm bộ mặt thật của lãnh tụ.

Sau ngày chia đôi đất nước, ông Hồ trở thành lãnh tụ miền Bắc. Để giữ tình trạng tâm sinh lý bình thường cho ông, ban bảo vệ sức khoẻ của các nhân vật cao cấp tuyển một cô gái sắc tộc Nùng, tên Nông thị Xuân quê ở Cao bằng về Hà nội để chăm lo sức khoẻ của ông Hồ. Năm 1955, cô Xuân cùng với người cô em ruột tên Vàng về cư trú ở ngôi nhà số 66 phố Hàng Bông Nhuộm và chính thức ra vào Phủ Chủ tịch (dĩ nhiên vào ban đêm và ra về khi tờ mờ sáng và chỉ bằng xe hơi do Bộ trưởng Bộ Công an Trần quốc Hoàn đích thân đưa đón). Lúc này ông Hồ đã 65 tuổi, cô Xuân 22 tuổi. Ông Hồ rất thích cô Xuân và có một đứa con trai với cô, sinh năm 1956 và đặt tên là Nguyễn tất Trung. Bà Xuân lúc này đòi ăn ở công khai vì đã có con, (giấy khai sinh của con phải có tên cha chứ!) nhưng ông Hồ không chịu viện lẽ phải tuỳ thuộc đảng nữa… Thế rồi một buổi sáng mùa xuân năm 1957, người ta thấy xác của một người đàn bà bị xe hơi đụng chết ở Cổ Ngư. Người đàn bà đó là bà Xuân. Theo hồ sơ khám nghiệm tử thi của bác sĩ tại bệnh viện Hà nội thì bà Xuân chết vì nứt sọ; có thể bị búa đánh vào đầu. Ông Huỳnh (bố ông Hiên) còn xác nhận là tên bộ truởng Bộ Công an Trần quốc Hoàn đã hãm hiếp dày vò bà Xuân chán chê rồi mới quăng xác ra ở Cổ Ngư dàn cảnh tai nạn xe hơi. Cô Vàng chứng kiến cảnh chị mình bị hãm hiếp rồi bị đem đi giết nên khoảng 9 tháng sau cũng bị giết chết tại Cao bằng để bịt mệng. Bé Trung về sau được Vũ Kỳ, thư ký của ông Hồ, đem về nuôi và đổi thành Vũ Trung.

Tôi bâng khuâng tự hỏi, ngay đến con ruột mà ông Hồ không hề rơi một giọt nước mắt, lại giao cho người khác nuôi. Thằng bé mới sinh chưa được 2 tháng thì mồ côi mẹ, mà cái chết của mẹ nó không hiểu có bàn tay của bố nó dính vào không? Giọt máu của chính mình, ông cũng không màng, trước sau vẫn chỉ lo đến uy tín của ông, uy tín của đảng. Rõ ràng ông chẳng thương yêu gì bé Trung. Chính con ruột của mình mà không hề yêu thương, thì nói gì đến con người khác. Qua sự kiện này, chưa bao giờ tôi lại ghê tởm những bài hát ca tụng lòng yêu thương của ông Hồ đối với các em nhi đồng đến thế!

– Trước vụ cô Xuân, ban lãnh đạo đảng Cộng sản Hà nội đề cử cô Nguyễn Thị Phương Mai, tỉnh ủy viên tỉnh ủy Thanh Hóa, sống chung với ông Hồ. Khi gặp ông Hồ, cô Phương Mai đồng ý lấy ông nhưng với điều kiện là phải làm lễ cưới đàng hoàng. Chuyện bất thành vì đảng Cộng sản muốn huyền thoại hóa hình ảnh ông Hồ như một nhân vật hy sinh trọn đời cho sự nghiệp cách mạng. Rất may cho cô Mai, chứ nếu ăn ở trước rồi mới xin công khai hóa thì chắc chắn chốn thâm cung sẽ có thêm một xác người đàn bà nữa. Không bằng lòng cưới hỏi danh chính ngôn thuận nên cô bỏ. Sau này, cô Mai du học ở Nga và về nước làm đến chức thứ trưởng bộ Thương binh.

Như thế cuộc đời tình cảm của ông Hồ khá long đong; có tình lớn, tình nhỏ, tình si, tình lỡ, tình hờ, tình chết. Ông Hồ sẵn sàng giải quyết sinh lý ở cửa sau, nhưng không hề muốn đón nhận một người đàn bà nào bằng cửa trước. Đàn bà vẫn là một món đồ chơi để ông thoả mãn những cơn thèm khát nhất thời như những hôn quân trong thời phong kiến.

Đàn bà là một trong những bí mật của các lãnh tụ, nhất là lãnh tụ độc tài. Nổi bật nhất trong các lãnh tụ đỏ trên thế giới là đời sống tình dục của Mao. Theo lời bác sĩ Li, người chăm sóc sức khoẻ cho Mao trong suốt 22 năm, từ 1954-1976, viết trong cuốn: The Private Life of Chairman Mao tiết lộ rằng Mao hàng đêm lên giường với nhiều cô gái trẻ, có thể 2, 3, đến 5 cô cùng một lúc. Mỗi lần đi công tác ở các địa phương bằng xe lửa, Mao dành riêng một toa xe để giải trí tình dục. Đến một nơi công tác, các nhân vật cao cấp địa phương đều dâng hiến cho Mao những cô gái trẻ đẹp để cung phụng. Mao có thể cả tuần không tắm, biếng đánh răng thích nằm dài trên giường để làm tình liên tiếp nhiều ngày. (sđd, tr. 356-364)

Bác Mao cân một tạ hai,
Thịt đùn lên mặt những hai ba cằm
Bà con Trung quốc thì thầm,
Nó là Đổng Trác nhưng dâm hơn nhiều.

(Nguyễn chí Thiện)

Điểm tốt trong đời sống tình dục của ông Hồ là không mang tính chất hoang dâm thác loạn như Mao nhưng lại khẳng định rõ ràng một điểm là ông Hồ cũng có những ham muốn đòi hỏi tình dục bình thường như mọi người vậy. Điều này hoàn toàn trái ngược với hình ảnh thần thánh của ông Hồ mà đảng Cộng sản đã dày công tô vẽ. Thật ra, có một đời sống tình dục như thế là điều bình thường, không có gì sai trái cả nếu không nói là hợp lẽ tự nhiên. Trừ những vị tu hành dâng hiến đời sống mình vào những mục đích cao thượng hơn, còn hầu hết chúng ta đều có một nếp sống gia đình trong khuôn khổ của xã hội.

Ông Hồ trong lúc sinh tiền hãnh diện về con người siêu phàm của mình bằng những cuốn sách tự viết, qua bài vở và những lời lẽ ca tụng thật chướng tai của đám đàn em sẵn sàng lạm dụng chữ nghĩa để suy tôn lãnh tụ. Có thể ban đầu ông không nghĩ mình là siêu nhân nhưng khi đám lãnh tụ đàn em thúc dục cả nước hồ hởi tung hô thì một lúc nào đó ông Hồ cũng ngồi rung đùi nghĩ mình là siêu nhân thật. Nghe mãi đâm quen thành nghiện, nên ông hoàn toàn đắm chìm trong hào quang được vẽ vời một cách vụng về vô liêm sỉ của tầng lớp văn nghệ sĩ nô bộc và bằng lòng với hình ảnh siêu thực đó. Nền điện ảnh Hollywood đã đẻ ra một nhân vật “Superman” trên màn bạc trong khi ở Việt nam đảng Cộng sản đương thời lại đẻ ra một hình ảnh siêu phàm là ông Hồ, và vẫn hì hục đánh bóng hình ảnh một ông già sống mãi trong lòng dân tộc. Nếu Superman của Hollywood vẫn còn ăn khách thì hiện nay hình ảnh ông Hồ đã mất lớp sơn mỹ lệ bên ngoài, và để lộ nguyên hình một con người có đầy đủ hỉ nộ ái ưu ai ố dục, như mọi người bình thường khác trên cõi đời ô trọc này.

Ngày 24 tháng 2 năm 1956, trong Đại hội đảng Cộng sản Nga lần thứ 20, Khrushev đọc bài diễn văn trước một số đồng chí được tuyển chọn. Bài diễn văn nẩy lửa mang tên secret speech (diễn văn bí mật). Qua bài này, Khrushev đã lên tiếng tố cáo Stalin, một kẻ độc tài, ngu dốt, tàn ác đã giết hại hàng triệu đồng chí và đưa Liên bang Sô viết đến chỗ lụn bại. Khi những lời tố cáo của Khrushev vang rền trong đại sảnh thì câu thơ “thương cha thương một thương ông (Stalin) thương mười” của Tố Hữu lại trở nên trơ trẽn và sống sượng hơn bao giờ. Cuối cùng, Khrushev cũng trả lại bản chất tầm thường cho con người Stalin.

Và mới đây, ngày 7 tháng 5 năm 2010, hai ngày trước lễ kỷ niệm 65 năm chiến thắng Đức quốc xã cùng với đại diện của quân đội Đồng minh đổ về Điện Cẩm-linh, Tổng thống Nga, ông Dmitri Medvedev lên tiếng chỉ trích mạnh mẽ tên đồ tể Josef Stalin. Ông nói, “Cho dù Stalin có làm việc cật lực và tạo được những thành công cho nước Nga, nhưng việc ông ta đã giết hại biết bao nhiêu thường dân là một điều không thể tha thứ được. Ông ta nói thêm, “Sự chiến thắng chế độ Phát-xít là do hy sinh công sức của nhân dân Nga, không phải của Stalin… chế độ xây dựng lên Liên bang Sô-viết là một chế độ toàn trị, trong đó mọi quyền căn bản của con người và tự do đều bị đàn áp.”

Một ngày nào đó, sẽ có một Khrushev hoặc một Medvedev Việt nam mạnh dạn đứng lên nói rõ những công, những tội của ông Hồ và lịch sử sẽ trả lại bản chất đích thực cho ông. Nói cho cùng, cuộc đời của ông có cái hơn người, có cái kém người; và tựu chung ông cũng là một người bình thường như chúng ta. Và việc đầu tiên để phục hồi bản chất đích thực cho ông Hồ là nên trả lại tên Sàigòn cho Hòn ngọc Viễn đông, một danh hiệu đã đi vào lòng người và lịch sử thế giới. Ngày 10/11/1961, thành phố Stalin được hồi phục tên cũ Volgograd (thành phố bên bờ sông Volga). Năm 1991, thành phố Lênin cũng được mang lại tên cũ St. Petersburg. Chỉ còn một thành phố duy nhất trên thế giới mang tên ông Hồ, nằm chơ vơ, lạc lõng giữa những quốc gia tân tiến chung quanh.

Qua tìm tòi và hiểu biết được mặt trái cuộc đời của những lãnh tụ, chưa bao giờ thế hệ chúng tôi lại chán chường hình ảnh của lãnh tụ đến thế. Nó vẽ lên một khuôn mặt sắt máu, háo thắng, tự kiêu, độc ác, có đầy đủ tham sân si, và nhiều cuồng vọng.

Hãy chấp nhận giới hạn của một con người, cho dù là vĩ nhân. Và xin đừng bao giờ lạm dụng hai chữ “lãnh tụ” để lừa bịp chúng tôi nữa.

Xin thành thật cảm ơn.

SƠN NGHỊ

Tài liệu tham khảo

1. Unmasking Ho chi Minh, Huy Phong & Yến Anh, 1989

2. Mặt Thật (The True Face), Bùi Tín, Turpin Press, Paris 1994

3. Stories about President Ho’s Life, Bùi Tín, Văn-Học, Hà-Nội Publisher, 1969

4. Sự Tàn Lụi của Phong Trào Cọng Sản Việt Nam và Những Di Lụy (The Disintegration of the Vietnamese Communist Movement and Its Consequences), Như Phong (Lê Văn Tiến), Thời Sự magazine February, March,.April, 1995

5. Thế Kỷ 21 Monthly Magazine, Nguyễn Minh Cần

6. Đêm Giữa Ban Ngày, Vũ Thư Hiên, Văn Nghệ 1997

7. Chân Dung Bác Hồ, Kiều Phong, Bất Khuất, 1989

8. Viet Cong Strategy of Terror, Douglas Pike

9. Hoa Xuyên Tuyết, Bùi Tín, Turpin Press, Paris 1994

10. The Private Life of Chairman, Dr. Li Zhisui, Random House NY, 1994

11. http://www.rfavietnam.com/node/30

12. http://www.toquoc.gov.vn/Thongtin/Doi-Thoai/Tet-Ky-Suu-Viet-Kieu-Ve-Nuoc-Giam.html

13. http://www.nytimes.com/2010/05/08/world/europe/08russia.html

VIỆT NAM, ĐẤT NƯỚC ẢO DIỆU

sonnghi

Mới đây báo ThanhniênOnline đăng một bài viết của Hoàng Xuân nêu rõ tình trạng hỗn loạn về kinh tế, giáo dục… trong xã hội VN hiện nay. Bài viết như sau:

http://www.thanhnien.com.vn/toi-viet/viet-nam-dat-nuoc-ao-dieu-that-khong-the-tin-duoc-572608.html

“Tôi nghĩ các nhà tuyển trạch nên dẹp hết cơ sở đào tạo trên thế giới đi vì họ sẽ xấu hổ khi nhìn vào bảng điểm của học sinh Việt Nam.”

Cudơmich thân mến,
Chắc anh lấy làm lạ vì tôi hẹn đi Việt Nam 3 tháng mà đã 3 lần 3 tháng rồi tôi vẫn còn ở đây. Không thể tin được Cudơmich ạ, đất nước này ảo diệu vô cùng. Tôi sẽ không về nữa, không những thế tôi còn muốn anh sang đây với tôi. Anh phải tự mình trải nghiệm những điều này mới thấy cuộc sống nơi đây thật tuyệt vời, Cudơmich.
Ở đây anh sẽ không có lấy một phút để buồn. Người ta làm xiếc khắp nơi, tất cả mọi người, xe buýt và xe tải, xe container và tàu lửa đều có thể làm xiếc ngay trên phố, thậm chí ngay trên thành cầu và lề đường. Cuộc sống vui nhộn hết sức.
Trẻ em thì toàn là thần đồng. Tôi nghĩ các nhà tuyển trạch nên dẹp hết cơ sở đào tạo trên thế giới đi vì họ sẽ xấu hổ khi nhìn vào bảng điểm của học sinh Việt Nam. Chỉ toàn giỏi và xuất sắc, mà Bộ Giáo dục đang phải nghĩ thêm danh hiệu nào hơn cả xuất sắc nữa, nếu không thì phụ huynh sẽ phật lòng. Đứa trẻ nào xếp loại khá thì chính là nỗi nhục nhã của toàn gia đình và dòng tộc. Nhưng muốn xếp loại khá cũng không phải dễ, vì anh biết không Cudơmich, anh sẽ không tìm ra xứ sở nào trẻ em hiếu học như ở đây. Chúng vừa ngồi bô vừa học, vừa ngủ gật vừa học, thậm chí vừa tắm vừa học.
Để có được một xã hội không thể tin nổi như thế, nhiều quan chức ở đây cần cù tuyệt vời, ngoài giờ làm bàn giấy ra họ lại siêng năng lao động đến thối cả móng tay. Siêng năng cần mẫn nên chỉ trong vài ba năm họ có tài sản trăm tỉ, ngàn tỉ, nhưng với đức khiêm tốn có thể gây xúc động lớn lao cho toàn thế giới, họ chỉ ở trong ngôi nhà đi thuê của nhà nước, còn tất cả tài sản khác đều giao họ hàng giữ hộ. Với con cái, họ cũng vô cùng nghiêm khắc. Họ không cho con cái làm việc ở các doanh nghiệp bóc lột mà bắt phải gia nhập vào hàng ngũ đầy tớ nhân dân hết, tuyệt đối trung thành với sự nghiệp phục vụ nhân dân.
Trong đất nước này, người dân quan tâm đến nhau đến độ sẽ làm anh khóc nức nở, Cudơmich ạ. Vào buổi tối, nếu anh đi một mình trên phố, sẽ có các cô gái xinh đẹp mặc váy ngắn tươi cười hỏi han xem anh có muốn cô ấy giúp anh vui lên không. Nếu anh từ chối, sẽ có các trung niên thể lực mạnh mẽ tiến lại thuyết phục anh, nếu anh vẫn không nhận tấm lòng này, các anh ấy sẽ cảm thấy bản thân bị xúc phạm và tổn thương dữ dội. Cudơmich, anh có thấy nơi nào người yêu người sống để yêu nhau như nơi này không?
Nền khoa học ở đây thì khỏi phải nói. Nó đã bỏ xa toàn bộ nhân loại, phát triển đến mức kinh người: không cần treo trên cây lâu ngày, rau và trái cây vặt xuống chỉ cần nhúng vào một xô nước trong trong, lập tức căng bóng chín mọng. Quả là thiên đường hạ giới.
Sự gần gũi với thiên nhiên cũng thật tột độ. Ngay một đứa trẻ cũng ý thức được trách nhiệm của bản thân nó với thiên nhiên. Chỉ cần nhìn thấy một cái cây ven đường, lập tức các thanh niên, trung niên đến lão niên chạy xô đến nó để tưới tắm trực tiếp bằng nguồn urê tự sản xuất. Họ nhiệt tình và hăng hái đến mức khi cảm thấy nguồn urê trong người sắp cạn liền lập tức bỏ tiền mua một thứ nguyên liệu lỏng đóng chai có màu vàng, mùi vị ngai ngái và nổi nhiều bọt để uống vào, nhằm trợ lực sản xuất thật nhiều urê dùng tưới cây.
Với nhiều người, hầu như toàn bộ tiền kiếm được đều dùng để làm công việc này, họ làm tự nguyện bất kể giờ giấc. Có những gia đình thậm chí xô xát nhau vì người vợ muốn dùng một phần tiền để mua sữa cho con, còn người chồng lại muốn mua nguyên liệu tái chế urê. Có những người chồng chối từ vợ con để dành cả cuộc đời phụng sự sự nghiệp tưới cây. Trụ sở các hội tưới cây mọc lên khắp mọi nơi, miền núi, thôn quê, thành thị, không nơi nào không có, đông vui nhộn nhịp suốt 24/24 giờ. Có rất nhiều cô gái xinh đẹp tự nguyện đến đó để giải trí, giúp vui, nâng cao tinh thần cho cánh đàn ông. Tình người thật là bao la, Cudơmich ạ. Tôi vui sướng báo anh tin mừng này, tôi cũng đã trở thành một thành viên hết sức tích cực của hội, bây giờ toàn bộ niềm vui và ý nghĩa cuộc đời tôi gắn liền với những cái cây rồi, Cudơmich.
Anh còn chần chừ gì nữa mà không mua vé đến đây ngay ,hỡi Cudơmich? Tôi ngồi thâu đêm ở trụ sở hội tưới cây đợi anh.
Bạn yêu dấu của anh
Hoàng Xuân

Cudơmich là ai mà được hân hạnh mời đến thăm VN? Tôi nhớ đến một cái tên khá quen thuộc: Nicolae Ceausescu, Tổng Bí thư Romania, người duy nhất bị hành quyết khi chủ nghĩa cs sụp đổ. Tên Cudơmich có thể viết thành Ceausemich. Nhưng cái tên không quan trọng. Điểm chính của bài viết hàm ý mỉa mai mà người đọc không cần tinh ý vẫn nhận ra.

Mấy năm trước, một bài viết khác so sánh nước Tàu & Mỹ, tác giả vô danh tung lên mạng Sina Weibo và được phản ảnh hơn 5000 comments. Tác giả cho rằng nước Mỹ thật lạc hậu trên mọi phương diện so với Tàu. Nào là nền kỹ nghệ phôi thai, không thấy những ống khói khổng lồ như ở nước ta (Tàu); nào là đường sá chẳng thu lệ phí gì; nào là nhà cửa xây mỏng manh, chẳng thấy bê-tông cốt sắt đâu, chỉ toàn gỗ với gỗ. Bài viết nêu lên 17 điểm nghịch lý so với Tàu. Cuối bài, tác giả kết luận đừng sang Mỹ sống làm gì, vì nước Mỹ là một đất nước bán khai, không một chút văn minh nào. Bài viết được David Webtime dịch và đăng trên tờ Tea Leaf Nation.

http://www.tealeafnation.com/2012/09/translation-chinese-writer-sarcastically-calls-americans-foolish-for-being-honest-generous/

Nội dung hai bài viết giống nhau ở điểm châm biếm, chế nhạo. Bài viết của Hoàng Xuân nêu rõ hệ lụy kinh tế đã gây ra những cảnh ngược đời như giới trẻ học bù đầu bù cổ (thầy cô trả không đủ sống), quan chức cần cù (tiền), nghề mại dâm (kiếm sống), tẩm thuốc, tiêm thuốc cho trái cây chín (cũng lợi nhuận), tiểu đường (văn minh nhưng thật ra hệ thống vệ sinh công cọng là công ích thuộc trách nhiệm của nhà nước)…v..v.

Năm 2012, Daron Acemoglu (GS Kinh tế tại MIT), và James A. Robinson (nhà khoa học chính trị và kinh tế kiêm GS tại Harvard) xuất bản cuốn Why Nations Fail, gây tiếng vang khá lớn trong cách nhà khoa bảng (ứng viên Nobel) về kinh tế. Trong tập sách dày hơn 400 trang, hai ông dành chương 2 để bẻ gãy những lập luận trước đây xác định tình trạng kinh tế của các nước. Mở đầu là câu, “Đối với những nước nghèo, họ nghèo không phải vì hoàn cảnh địa lý hay vì nền văn hóa, hoặc vì những nhà lãnh đạo không biết dùng chính sách nào để làm cho dân giàu nước mạnh.”

Về địa dư, Acemoglu và Robinson bác bỏ lập luận của Montesquieu khi ông ta cho rằng những nước ở miền nhiệt đới vì khí hậu quá nóng nên làm việc mau mệt và từ đó sinh lười biếng. Mà lười biếng thì sinh ra nghèo. Hoàn cảnh địa lý làm những nước này mãi mãi nghèo. Theo Montesquieu, các nước hàn đới thì khá nhất, tiếp theo là ôn đới, và sau cùng là các xứ nhiệt đới về mức độ thịnh vượng, giàu có. Montesquieu không sống lâu để thấy các nước Singapore, Malaysia, Botswana phát triển mạnh vào hậu bán thế kỷ 20 và cho đến tận bây giờ, mặc dù đó là những nước nằm gần đường xích đạo.

Về nền văn hóa, hai ông cũng bác bỏ lập luận của nhà xã hội học Đức nổi tiếng, Max Weber, khi ông cho rằng cuộc Cải Cách Tin Lành (Protestant Reformation, 1517-1648) là yếu điểm cho sự thịnh vượng ở Ậu-châu sau này. Như thế sự kiện không chỉ đơn thuần là tôn giáo mà còn liên quan đến niềm tin, giá trị tinh thần, và đạo đức. Có ai dám nói chính nền đạo lý Khổng giúp cho nền kinh tế phát triển hiện nay của Tàu? Còn nền văn hóa Cao ly thì sao? miền Nam giàu mạnh, còn Bắc Hàn thì chết đói. Cả hai cùng thụ hưởng một nền văn hóa đấy thôi. Ngay cả Nogales, một thành phố cách nhau bởi một biên giới, một bên thuộc bang Arizona, bên kia thuộc Mễ. Dân cư hầu như cùng một chủng tộc, lai Tây-ban-nha, hoặc thổ dân. Thế mà hai sự thịnh vượng khác nhau hoàn toàn.

Sau khi bác bỏ những lập luận không còn hợp thời nữa, hai ông dành chương 13 để kết luận cho cuộc khảo cứu ròng rã trên 10 năm. Mở đầu chương này bằng một chữ nhưng được lập lại 3 lần, “Institutions, institutions, institutions”, “Thể chế, thể chế, thể chế xã hội”. Theo tác giả, chính thể chế xã hội đã gây ra thất bại về kinh tế, (Nations fail economically because of extractive institutions).

Acemoglu và Robinson chia thể chế chính trị trong những nước này làm 2 nhóm khác nhau: nhóm “extractive” thường gọi là nhóm elite rất nhỏ, và nhóm “inclusive” gồm đại đa số công dân (masses, grassroots). Nhóm extractive nên gọi là tập đoàn lãnh đạo, và nhóm inclusive nên gọi là quần chúng. Cần nói thêm là Acemoglu và Robinson dùng extractive chỉ nhóm elite hàm ý bòn rút tài nguyên từ quần chúng (extract resources from people) (khó dịch sát được tĩnh từ extractive).

Những nườc tiêu biểu như Zimbabwe và tập đoàn Mugabe; Sierra Leone và Sir Albert, Siaka Stevens; Somalia và Kediye, Barre; Uzbekistan và dòng họ Karimov… lần lượt gây ra thảm bại về kinh tế cho đất nước họ. Hai ông còn đưa ra những thể chế tại các nước Trung Mỹ, cũng như những nước Đông Âu, thuộc khối Sôviết; ngay cả Nga sô thời cộng sản và cả Tàu.

Phân tích một cách khoa học cọng thêm những con số biết nói hổ trợ cho những lập luận vững chắc khiến độc giả (khá) thú vị trong hơn 400 trang sách. Acemoglu và Robinson còn dành ra chương 5 để nói về sự phát triển kinh tế của Tàu. Theo hai ông, chính extractive institution sẽ làm nền kinh tế Tàu trì trệ, ngưng, và có thể sụp (slowing down, stopping, then perhaps collapsing). Tập đoàn elite sẽ làm thui chột sức sáng tạo của người dân, gây bất bình và mâu thuẫn trong quần chúng. Một khi quần chúng bất mãn, nền kinh tế sẽ dẫn đến ba giai đoạn trên.

Hai bài viết. Hai tiếng chuông. Hy vọng tiếng chuông không vang trong sa mạc nhưng vọng đến những lãnh vực ảnh hưởng trực tiếp đến tương lai của đất nước. Một khi viết ra chứng tỏ đã nhận thức được. Ngày càng có nhiều người nhận thức được lõi cốt của vấn đề thì cơ may sẽ có thay đổi. Sau nhận thức, nên bắt đầu từ não trạng.

Từ đó sẽ thấy một tương lai xán lạn.

SƠN NGHỊ

HOÀI NIỆM

sonnghi

 

Mỗi năm cứ đến ngày 30 tháng 4 lòng tôi không tránh khỏi nỗi ngậm ngùi và nuối tiếc. Sự nuối tiếc về một quá khứ xa xôi nơi mảnh đất tôi đã được sinh ra và lớn khôn. Mảnh quá khứ đó đã hun đúc cho tôi một trí khôn mẫn tiệp, bơm vào dòng máu tôi một nhân bản thuần Việt và đã tạo cho tôi một hình hài khá đầy đủ tài và đức để hãnh diện bước vào đời ở nơi xứ lạ. Lòng tôi ngậm ngùi vì phải sống xa quê hương, như một cây ăn trái bị bứng đi khỏi mảnh đất màu mỡ để trồng vào một mảnh đất khác, tuy cũng màu mỡ, nhưng hoa trái đầu mùa phần nào đã bị biến thái.
Nhìn lại đất nước Việt sau bốn thập niên thống nhất, sự ngậm ngùi càng thêm cay đắng cho một cơ hội đã bị bỏ lỡ để quê hương lớn khôn vững chãi, để những nước chung quanh nể phục tinh thần Việt, con người Việt. Đối với tôi, một người lớn khôn lên ở miền Nam, ngày 30 tháng tư là ngày mất nước. Những người cộng sản xem đó là ngày chiến thắng, và hãnh diện về một trang sử oai hùng vì đã đánh bại hai đế quốc xâm lược. Tuy cái nhìn có khác nhau nhưng lịch sử đã gom hết lại những người Việt với nhau trên mảnh đất hình chữ S với chiều dài từ Ải Nam quan đến mũi Cà mau. Sự thống nhất hai miền Nam Bắc là một sự kiện lịch sử không ai chối cãi được. Nhưng sự kiện này là một điều may mắn hay là một rủi ro, bất hạnh?
Không cần phải đến giờ này, sau từng ấy năm thống nhất, những người Việt mới thấy đây là một bất hạnh. Bất hạnh vì cả một nền văn hóa bị đảo lộn hoàn toàn, những giá trị đạo đức căn bản bị coi rẻ hơn bèo, ngay đến giá trị con người cũng bị hủy diệt thật tàn bạo. Ngay sau ngày 30 tháng 4, nền văn hóa xã hội chủ nghĩa trâng tráo đi thẳng vào Sàigòn bằng cách chà đạp lên nền văn hóa miền Nam, bằng cách ngồi xổm lên nền đạo đức căn bản của cha ông, bằng cách nói khoác thật thoải mái, bằng niềm tin ngây ngô “đồng hồ Trung quốc tốt hơn đồng hồ Thụy sĩ” và họ, những người cộng sản, bắt những người miền Nam phải tin và hành xử như thế. Cái nền văn hóa quái gở đó đã bỏ tù sỉ nhục biết bao binh lính miền Nam, làm thiệt đi khá nhiều nhân tài. Nhưng cái tai hại nhất là họ cố tình đẩy hết những người Việt ra biển, để cho chết, để có cớ đoạt của cải, với niềm tin rằng bọn “ma cô đĩ điếm” miền Nam nên chết hết để họ rảnh tay xây dựng một nền “văn minh xã hội chủ nghĩa”, một thế hệ mới với những con người mới. Phần nào họ đã thành công vì một nửa đã chết thê thảm trên biển chưa hề thấy lại mảnh đất liền. Nhiều thiếu nữ trên đường vượt biên bị bắt và bán vào các nhà thổ ở Thái, bắt đầu một cuộc chà đạp nhân phẩm của con cháu hai bà Trưng Triệu và kéo dài mãi cho đến ngày hôm nay, chỉ dưới một hình thức khác. Những người vượt biên bằng thuyền này đã từng là chất xám, góp phần không nhỏ vào nền văn minh khoa học của miền Nam khá nổi bật ở vùng Đông Nam Á. Họ ra đi vì không thể nào chịu đựng được cái niềm hãnh tiến của những tay lãnh tụ i-tờ. Một tay lãnh tụ chưa qua lớp năm trường làng chuyên nghề bẻ ghi hoặc hành nghề lái lợn thì đối với dân trí thức, nhất là trí thức của một nước bị bại trận thì lòng tự ti và sự căm thù của những tên lãnh tụ này phải nói là ngút trời xanh. Những kẻ trí thức miền Nam bị những tên lãnh tụ miền Bắc xem rẻ hơn cục phân bắt buộc phải ngậm ngùi trốn khỏi nước. Cũng có kẻ đã có kinh nghiệm với cộng sản nên cũng chạy trốn trong nỗi sợ hãi, cũng có người khinh tởm một mớ lý thuyết bạo lực bất nhân được lập đi lập lại ở môi miệng của những người cộng sản dốt đặc cán mai nên dứt khoát rũ bỏ mảnh quá khứ ở sau lưng. Những trí thức miền Nam đến định cư ở quê hương thứ hai đã tạo nên sự nghiệp vẻ vang. Họ dâng hiến cho đất nước tạm dung những thành quả của trí tuệ, đóng góp vào sự phồn thịnh phát triển không ngừng của quê hương thứ hai. Thế hệ con cháu lại càng vượt thế hệ cha ông. Những người trẻ này đã làm vẻ vang giống nòi ở xứ người. Người bản xứ không còn nhìn lớp người Việt bằng ánh mắt dè bỉu như những năm đầu tỵ nạn nữa, mà trái lại họ ngưỡng mộ tầng lớp trẻ đã cống hiến cho xứ sở này biết bao điều kỳ diệu.
Như thế lịch sử đã khẳng định một sự thật về tiềm năng của tầng lớp trí thức miền Nam. Họ đã giúp xây dựng một miền Nam khá trù phú trong chiến tranh và đã đóng góp hoa trái cho sự phát triển vượt bực của quốc gia nơi gia đình họ đang sinh sống. Nếu miền Nam thắng, chắc chắn số chất xám này sẽ không bị thất thoát ra hải ngoại. Cọng với tầng lớp trí thức miền Bắc, tuy ít oi nhưng không phải là không có. Cũng có người học rộng, hiểu biết nhiều. Sở dĩ tôi nói ít oi chỉ vì chính sách độc tài của những tên lãnh tụ vốn ít học. Họ không muốn đào tạo nhiều trí thức. Hơn nữa, mức độ tăng cường quân số trên các mặt trận khiến cho tầng lớp trẻ miền Bắc không được học hành nhiều. Tuy thế, nếu kết hợp được chất xám của hai miền Nam Bắc này lại thì chắc chắn Việt nam bây giờ phải khác, khác lắm chứ không èo uột như bây giờ. Khi trình độ tri thức trong nước gia tăng thì chúng ta có thể làm chủ lấy những tài nguyên thiên nhiên, vật lực và nhân lực chứ không thể để bọn ngoại nhân lũng đoạn nền kinh tế đất nước như hiện nay. Trong khi bọn lãnh tụ không có một chút kiến thức gì về việc điều hành đất nước, lại nắm trong tay hết quyền hành, cọng thêm máu ăn bẩn thu vén hết của công về riêng cho mình thì đất nước tan hoang là điều dễ hiểu.
Đó là nền kinh tế trên bình diện quốc gia, còn về tình người cũng chắc chắn phải khác. Nếu miền Nam thắng, bầy trẻ thơ đến trường sẽ không bao giờ phải học những hận thù giai cấp, những bài toán nhân chia trừ cọng bằng mạng người… một tên lính Mỹ bị giết hôm nay cọng với hai tên lính Ngụy chết hôm qua như thế quân ta giết được bao nhiêu đứa? Những bài toán như thế nhan nhản trong khắp sách toán ở bậc tiểu học. Thế giới thăng trầm qua nhiều chủ nghĩa, triết thuyết, học thuyết nhưng lịch sử nhân loại chưa bao giờ là nhân chứng cho một chủ nghĩa quái đản như chủ nghĩa cộng sản khi mớm cho các em từ thuở cắp sách đến trường lòng căm thù của người lớn. Một thế hệ lớn lên bằng máu chủ nghĩa luân lưu khắp cơ thể, bằng trái tim chai đá hận thù giai cấp, bằng khối óc đông cứng bạo lực, bằng những bàn tay chỉ biết cầm súng giết người không cùng chính kiến thì cho dù học tài hiểu rộng đến đâu vẫn không thể là một nhà lãnh đạo vẹn toàn được.
Họ, những người cộng sản, muốn tẩy sạch những người miền Nam để xây dựng một thế hệ tiêu biểu như thế. Một thế hệ lớn lên sẽ cai trị đất nước bằng máu và nước mắt. Nền văn học cộng sản còn dạy cho tầng lớp thanh niên một trí tuệ nô bộc, lệ thuộc vào các nước cộng sản đàn anh khi thương khóc một Stalin như Tố Hữu, tên văn nô nổi tiếng nhất trong thế kỷ hai mươi. Ngày Stalin chết, các nước cộng sản khác trên thế giới cũng bày tỏ lòng thương tiếc, nhưng có lẽ không một nước cộng sản nào lại thương tiếc Stalin như nước Việt nam khi Tố Hữu làm bài thơ thương tiếc ông ta gấp mười lần cha mẹ mà cho đến giờ này mỗi khi đọc những hàng chữ đó tôi không khỏi đỏ mặt vì ngượng. Bài thơ dạy dỗ tầng lớp thanh niên phải biết ơn đảng, biết ơn một ông Tây râu xồm chưa hề một lần diện kiến hơn cả ông bà cha mẹ, là những người có công sinh thành và nuôi dưỡng. Những bài thơ nô bộc, biểu hiện một tinh thần khiếp nhược, được xem là kinh điển in đầy dẫy trong các sách giáo khoa ở bậc trung học. Với thái độ khom lưng cúi gập người trước một ông Nga mũi lõ của Tố Hữu, cái dáng đứng của tên văn nô này không quá chiều cao của một con lừa. Sự nô bộc còn được tuyên truyền qua truyền khẩu, đồng hồ Thụy sĩ không tốt hơn đồng hồ Trung quốc… một nước cộng sản tàn lụi nhân tài vì chính sách ngu xuẩn của Mao, tên lãnh tụ dâm ô nhất trong các lãnh tụ nước cộng sản. Ngay cả chị Hằng cũng bị đem ra bêu rếu khi so sánh, trăng ở Mỹ không sáng bằng trăng ở Liên sô… một câu truyền khẩu để lộ sự ngu dốt về khoa học. Cứ thế mà tuyên truyền, cứ vậy mà truyền khẩu khắp hang cùng ngõ hẻm ở Việt nam. Sách vở và báo chí tuyên truyền rầm rộ về hai kế hoạch ngũ niên 1976-1981 và 1981-1986 trong suốt những năm đầu sau khi cưỡng chiếm miền Nam rằng toàn dân sẽ tiến lên từ ăn no mặc ấm đến ăn ngon mặc đẹp. Trong trường học, trên đường phố giăng đầy những khẩu hiệu chứa đầy sự hãnh tiến của đảng cộng sản như, “Chủ nghĩa Mác-Lênin bách chiến bách thắng”, “Có sức người sỏi đá cũng thành cơm”, “Thay trời làm mưa…”, “Thắng giặc Mỹ ta xây dựng bằng mười ngày nay”… Đồng bào miền Bắc vốn ít học, lại vừa “đánh bại” giặc Mỹ thống nhất đất nước nên đặt hết niềm tin vào những khẩu hiệu ngô nghê của đảng cộng sản. Hỡi ôi, qua hai ngũ niên, thực tế đập vào mặt những tên cộng sản i-tờ cho thấy rằng phá hoại thì dễ nhưng xây dựng thì rất khó, khó đến nỗi ông thủ tướng có cặp môi thâm sì như một tên nghiện phải đi ngửa tay xin viện trợ các nước tư bản. Và sau khi ngửa tay nhận viện trợ của những tên tư bản là đồng thời ký vào những khế ước cho chúng vào mặc sức khai thác, bòn vét cho hết tài nguyên thiên nhiên của đất nước.
Nếu miền Nam thắng thống nhất đất nước, chắc chắn nền kinh tế của cả nước sẽ tiến nhanh, ít nhất là bỏ xa nền kinh tế vay mượn của nhà nước tư bản được ngụy trang bằng đầu xã hội như bây giờ. Có thể nền kinh tế sẽ nhảy vọt đến nỗi lực lượng lao động trong nước không đủ cung ứng cho thị trường và biết đâu công nhân ở các nước chung quanh phải đến xin việc ở nước Việt nam. Cho dù thế nào đi chăng nữa, một điều chắc chắn là những tên tư bản ngoại quốc sẽ không có quyền hoành hành như một ông vua con ở quê hương như hiện nay. Chắc chắn sẽ không có chuyện một con mẹ chủ xứ củ sâm dám cầm dép đập vào mặt công nhân Việt. Chắc chắn sẽ không có chuyện bọn Tàu cộng ngang ngược chiếm Hoàng sa, Trường sa. Chắc chắn bọn Tàu chệt sẽ không ngang nhiên mang cả sư đoàn người vào Tây nguyên khai thác bô-xít. Sẽ có nhiều sự kiện chắc chắn khác sẽ xảy ra làm rạng danh nước Việt ở vùng Đông nam á.
Nếu miền Nam thắng, chắc chắn tầng lớp con cháu sẽ học được hai chữ nhân bản, sẽ hiểu biết về tình người, sẽ biết sống sao cho xứng với thân phận làm người, sẽ biết đối xử nhân đạo với người, nhất là đồng bào trong nước. Tiếc thay, một nền văn hóa cộng sản áp đặt lên tâm trí của những thế hệ trong suốt 40 năm thời hậu chiến, để đến bây giờ xã hội tạo ra những tay công tử sống ăn bám vào cha mẹ, ăn chơi ngông nghênh không hề tiếc của. Nền văn hóa này tạo ra một thế hệ trong đó hầu hết thanh niên không hề biết dõng dạc tuyên ngôn sự vẹn toàn lãnh thổ như Lý Thường Kiệt, không hề đau lòng trước bất công như Việt Khang, bàn tay mềm nhũn không bóp nổi trái cam như Trần Quốc Toản. Ôi! Tiếc thay từ ngày thống nhất đất nước đến nay xã hội cộng sản đã sản sinh những thế hệ Việt lớn lên èo uột tình người vì trái tim chất chứa hận thù, và với khối óc đặc sệt những ích kỷ, ăn chơi sa đọa.
Thực tế là các công nhân vẫn bị tiếp tục đi kiếm sống ở các nước lân cận, con gái Việt vẫn bị đứng trần truồng để mấy tên Đài và Hàn chọn như một con vật, các công tử con nhà giàu vẫn vung tiền bao gái đến độ chóng mặt, những người bất đồng chính kiến vẫn bị cầm tù, tiếng nói đòi hỏi dân quyền và tiếng dân oan vẫn bị bóp nghẹt, các chức sắc tôn giáo vẫn bị trù dập không thương tiếc, phần lớn thanh thiếu niên chỉ biết làm thế nào để làm ra tiền, kể cả dùng những phương tiện hèn hạ hoặc bất lương…
Tất cả những thực trạng phũ phàng này đều có thể tránh khỏi nếu miền Nam thắng và áp dụng một chế độ dân chủ, công bằng, đầy nhân bản như trước năm 1975.

 

SƠN NGHỊ