HIỆN TƯỢNG FATIMA, CỘNG SẢN, VÀ HỒI GIÁO

This gallery contains 2 photos.

      Số báo Time, phát hành ngày 30/12/1991, Richard N. Ostling – một ký giả kỳ cựu chuyên về mục tôn giáo – đăng tải một bài viết nhan đề, “Hand-maid or Feminist?”. Trong bài viết này, ông nhận định: “Trong số những phụ nữ đã từng sống ở trần gian, Mẹ của […]

LIỆU MỸ SẼ PHÁT ĐỘNG CHIẾN TRANH Ở BIỂN ĐÔNG?

 

https://www.voatiengviet.com/a/3961953.html

https://www.youtube.com/watch?v=NtizjV8u8Xg

Đô đốc Mỹ: ‘Sẽ tấn công TQ bằng hạt nhân,’ nếu có lệnh của TT Trump. Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương Mỹ hôm thứ Năm 27/7 nói ông sẽ tấn công Trung Quốc bằng hạt nhân ngay tuần tới. Xin mời quý độc giả đọc bài nhận định sau đây.

Từ sau năm 1945, những nhà tài phiệt thuộc các cường quốc tin tưởng vào thuyết Malthus và thuyết Darwin. Tóm tắt 2 thuyết như sau:

  1. Malthus theory (thường gọi là thuyết nhân mãn): Thomas Robert Malthus, nhà kinh tế, cho rằng dân số tăng theo cấp số nhân và thực phẩm tăng theo cấp số cọng. Theo mô hình này, một lúc nào đó nhân loại sẽ cạn kiệt thực phẩm.
  2. Darwin theory (thường gọi là thuyết tiến hóa): Charles Darwin, nhà sinh học, cho rằng con người tiến hóa từ vượn lên đến người qua hằng triệu năm. Nhưng cốt lõi của thuyết này là “fittest for survival hoặc survival of the fittest”, nghĩa là “mạnh được yếu thua” (hay là thuyết sinh tồn). Qua hằng triệu năm, loài nào mạnh sẽ tồn tại và sống còn.

Những người này, mệnh danh là elitist (tycoons), giàu có và thế lực bậc nhất thế giới đã chuẩn bị cho một TÂN TRẬT TỰ THẾ GIỚI, (New World Order) ngay khi Thế Chiến II chưa chấm dứt. Quyền lực của họ (phần lớn là những nhà tài phiệt trong ngành ngân hàng) thì vô biên với cánh tay dài như vòi bạch tuộc. Họ điều khiển và hướng dẫn vận mệnh của cả thế giới. Họ có thể khuynh loát nền chính trị của bất cứ nước nào. Điều đáng bàn là những elitists này tin tưởng tuyệt đối vào hai thuyết nhân mãn và tiến hóa kể trên và gần một thế kỷ qua (1945-2017) họ hành động dựa trên hai thuyết nhân mãn và tiến hóa, đưa đến những kết quả “hữu hiệu” rất đáng sợ.

Chiến tranh lạnh (Cold War) đã được thành hình ngay sau khi Thế chiến II chấm dứt. Đầu tiên là cuộc chiến Triều tiên (1950-1953). Từ 1943, Mỹ đã tồn trữ một số đạn dược rất lớn trên đảo Okinawa, nhằm chuẩn bị một cuộc tấn công toàn diện đánh bại đế quốc Nhật. Kế hoạch cuộc đổ bộ này giống như kế hoạch đổ bộ lên bờ biển Normandi, chọc thủng phòng tuyến của Đức quốc xã. Bất hạnh thay cho dân Nhật, gần 2 tháng trước khi chấm dứt Thế chiến II, Mỹ đã thử thành công bom nguyên tử (16/7/1945) tại Alamogordo, bang New Mexico. Nhật lập tức đầu hàng vô điều kiện sau khi Mỹ thả 2 quả bom nguyên tử, san bằng 2 thành phố Hiroshima và Nagasaki và giết hại hàng trăm nghìn thường dân. Trữ lượng đạn dược trên đảo Okinawa cung cấp cho khoảng 500 nghìn binh sĩ bỗng nhiên trở nên vô dụng. Đại tá Leroy Flectcher Prouty viết lại trong cuốn “JFK: The CIA, Vietnam, and the Plot to Assasinate Kennedy”, tàu cập bến Naha trên đảo Okinawa nườm nượp để chở kho vũ khí đạn dược đến Đại hàn, và cảng Hải phòng. HCMinh và Việt minh nhận hàng tấn đạn dược, bắt đầu thời kỳ tiêu thổ kháng chiến và đánh bại thực dân Pháp năm 1954 tại thung lũng Điện biên phủ. Cuối cùng, 2 cuộc chiến Quốc-Cọng đầu tiên khai mào thời kỳ Chiến tranh Lạnh đã xảy ra tại Đại hàn và Việtnam, nhằm tiêu thụ số đạn dược còn dư thừa từ Thế chiến II. Ngoài ra, số lượng bom tồn kho đem sử dụng trong chiến tranh VN mới kinh khủng. Hồ sơ Pentagon Paper tiết lộ số lượng bom thả trong cuộc chiến VN là 7.6 triệu tấn, nhiều hơn 3.5 lần so với số lượng bom thả trong Thế chiến II, 2.1 triệu tấn. Mỹ chuẩn bị một cuộc chiến lâu dài nên trữ lượng đạn dược quá tải. Giải quyết đạn dược tồn kho vì:

  1. thiếu kho chứa và phí tổn bảo trì
  2. cần chế tạo vũ khí mới theo nguyên tắc “muốn có hòa bình phải chuẩn bị chiến tranh, si vis pacem, para bellum”

Bất hạnh thay cho nước Việt, bọn tài phiệt chọn Đông dương (Việt, Cao-miên, Lào) làm thí điểm để tiêu thụ số đạn dược dư thừa. Sau 15 năm (1960-1975), Mỹ hầu như tiêu thụ hết số đạn dược còn sót lại từ thời Thế chiến II, và đồng thời thử nghiệm một số vũ khí mới trên chiến trường VN. Kết quả, hơn 4 triệu thường dân Việt, và hơn 2 triệu binh lính hai miền thương vong. Cuộc chiến tốn phí 168 tỷ USD, (giá trị vào thời điểm 1975). Sự chết chóc (giảm thiểu dân số thế giới) xảy ra do chiến tranh nhằm phục vụ thuyết nhân mãn của Malthus. Mới đây, Giáo sư Stephen J. Emmott lại lên tiếng báo động về dân số gia tăng trong cuốn “10 Billion” – thêm một phụ lục của thuyết Malthus – nhưng theo một cuộc khảo sát của Heinz-Wilhelm Strubenhoff thuộc Ngân hàng Thế giới (World Bank), (https://www.brookings.edu/blog/future-development/2015/04/28/can-10-billion-people-live-and-eat-well-on-the-planet-yes/), và James Pethokoukis thuộc Học viện American Enterprise (https://ricochet.com/archives/how-we-can-easily-feed-a-planet-of-11-billion/) thực phẩm trên thế giới vẫn dư thừa cho 10 tỷ người từ đây cho đến năm 2100, nhưng bọn tài phiệt vẫn tin tưởng rằng chiến tranh là một cách giảm thiểu dân số “chính đáng” và “hợp lý” nhất. Ngoài ra, họ theo đuổi thuyết “mạnh được yếu thua” của Darwin để khuất phục thế giới. Hơn nữa, lý do hấp hẫn bọn tài phiệt chính là lợi nhuận, giống như “bàn tay vô hình, invisible hand” mà Adam Smith (ông tổ nền kinh tế tư bản) đã miêu tả vào hậu bán thế kỷ 18, đẩy sau lưng con người tiến về phía trước không kịp suy nghĩ. Có chiến tranh là có lợi nhuận. Ngẫm nghĩ thấy thật dã man nhưng đó là thực tế mà (có lẽ) chúng ta không làm gì được, chỉ vì quyền lực và ảnh hưởng của đám tài phiệt quá lớn.

Nhìn lại các cuộc chiến tranh lớn xảy ra (do bọn tài phiệt âm thầm điều động), chưa kể các cuộc chiến lẻ tẻ không đáng kể ra đây:

– 1945, chấm dứt Thế chiến II

– 1960, nhúng tay vào Đông dương và khởi động cuộc chiến VN (1960, năm Mặt trận Giải phóng miền Nam hình thành). Cần nhắc thêm là JF Kennedy đã ký sắc lệnh rút hết cố vấn và lính Mỹ ra khỏi VN bắt đầu từ cuối năm 1963, cho đến cuối 1965 thì hoàn toàn rút khỏi VN. Ý muốn là vậy, kết quả ra sao ai cũng biết, Kennedy bị ám sát cuối tháng 11, 1963, trước khi nghị định rút quân được trình bày tại lưỡng viện Quốc hội.

– 1960-1975, cuộc chiến VN

– 1990, cuộc chiến vùng Vịnh (Gulf war)

– 2003, chiến tranh Iraq nhằm tiêu diệt Saddam

Tính rợ thì cứ khoảng 13-15 năm, bọn tài phiệt sẽ tạo ra một cuộc chiến lớn. Cuộc chiến Ba-tư từ 2003 đến nay đã 14 năm. Cứ theo nhịp độ này, và theo dự đoán của tôi, cuối năm nay (2017) hoặc trễ lắm là đầu 2018, bọn tài phiệt sẽ phát động một cuộc chiến lớn. Đó là lý do Trump (Cộng hòa) bất ngờ đắc cử trong nhiệm kỳ này để lót đường cho một cuộc chiến tranh (phải) xảy ra. Nên nhớ, các cuộc chiến đều khai hỏa trong thời đảng Cộng hòa nắm Nhà Trắng. Và đối đầu trong cuộc chiến này không ai khác hơn là bọn chệt và tên Ủn.

Chờ xem.

Sơn Nghị

NHỮNG ANH THƯ THỜI ĐẠI

Chính bạn phải là sự thay đổi mà bạn muốn thấy trên thế giới.
Mahatma Gandhi

Lịch sử của dân Do-thái thuật lại trân chiến hy hữu giữa một cậu bé và một tên khổng lồ. Chuyện xảy ra vào giữa thế kỷ 11 trước Công nguyên, khi hai đội quân của Philitinh và Do-thái dàn trận hai bên triền núi của thung lũng Elah. Tên khổng lồ tên Gô-li-át, người thành Gát, và cậu bé dáng nhỏ thó tên Đavít.
Gô-li-át to lớn thế nào. Sách Cựu ước tả hắn “…cao cỡ 3 thước đầu đội mũ chiến bằng đồng, mình mặc áo giáp đan kết bằng nhưng mảnh đồng hình vảy cá, nặng năm mươi ký. Chân nó mang tấm che cũng bằng đồng, vai đeo cây lao bằng đồng, bên hông treo thêm thanh kiếm. Cán giáo của nó như trục khung cửi thợ dệt; và mũi giáo của nó bằng sắt, nặng sáu ký…” Đó là đoản giáo của Gô-li-át dùng làm vũ khí để áp đảo địch thủ khi cận chiến. Tính ra áo giáp bao bọc từ đầu xuống chân, thêm lao, kiếm, và giáo nặng nề, Gô-li-át khoác lên người mấy chục ký mỗi đi vào trận chiến. Cây đoản giáo được nhà viết sử Moshe Garsiel diễn tả, “loại giáo với mũi sắt sắc bén nặng chình chịch, đuôi giáo được cột bằng một sợi giây sắt nằm trong tay Gô-li-át trở thành một vũ khí độc đáo. Mỗi khi Gô-li-át vung cánh tay vạm vỡ ném đoản giáo ra, cây giáo có thể xuyên thủng cả thuẫn lẫn áo giáp bằng đồng của địch thủ.” Không một ai dám đối diện với tên khổng lồ Gô-li-át. Toàn dân Do-thái khiếp sợ trước sức mạnh vô song của Gô-li-át là điều dễ hiểu.
Còn hình dáng của Đavít ra sao? Đavít chỉ là một cậu bé đang lớn. Một kẻ chăn chiên, tay cầm gậy xua chó, trên vai treo môt cái ná (sling) bắn đá, một loại đá nhỏ nằm gọn trong lòng bàn tay của cậu. Khi biết ý định Đavít sẵn sàng ra trận đối đầu với Gô-li-át, vua Sa-un trao cho cậu chiếc áo giáp và thanh kiếm của vua. Cậu bảo, “nặng như thế làm sao tôi vác nổi.” Rồi cậu lững thững ra trận với niềm tin sắt đá là sẽ hạ gục địch thủ. Chuyện gì xảy ra sau đó ai cũng biết, và câu chuyện được truyền tụng qua hơn ba nghìn năm, Đavít dùng ná bắn cục đá vào ngay giữa trán của Gô-li-át. Hắn ngã ngữa, chết tốt. Đavít dùng gươm của hắn cắt đứt đầu. Cậu bêu đầu lâu của Gô-li-át về phía hàng ngũ của quân Philitinh và cả đoàn quân bỏ chạy toán loạn. Quân Do-thái đại thắng.
Về sau, câu chuyện tiêu biểu này được dùng để diễn tả một cuộc đối đầu không cân sức, quá chênh lệch về mọi mặt. Trong cuộc chiến với quân thù, một sự chênh lệch chỉ mang lại thất bại. Khi con người đối đầu với nghịch cảnh cũng thế, những khó khăn khiến người ta ngã quỵ. Câu châm ngôn, “cái khó bó cái khôn” khuyến cáo con người khi phải đối phó với hoàn cảnh khắc nghiệt. Thế mà vẫn có người nhìn trừng trừng vào nghịch cảnh, kiên quyết chiến đấu đến cùng. Một cuộc đọ sức xem ra chỉ chuốc lấy thất bại, thế mà kết quả thật không ngờ. Nực cười châu chấu đá xe, Tưởng rằng chấu ngã, ai dè xe nghiêng. Đavít đã chiến thắng một cuộc chiến không cân sức.
Sự chiến thắng bất ngờ của cậu bé chăn chiên thuở nào đã là niềm cảm hứng cho nhiều người. Mỗi khi đối diện với nghịch cảnh, hình ảnh Đavít tay cầm ná, chân đạp lên ngực của tên Gô-li-át khổng lồ nằm ngửa trên đất, giúp người ta phấn chấn, vượt khó khăn kiên quyết tiến về phía trước. Không gì ngăn cản được họ đứng dậy với quyết tâm phải hành động. Có thể họ sẽ không bao giờ nếm được mùi chiến thắng như Đavít, nhưng ít ra họ đứng dậy để làm một cái gì đó, chứ không chịu thua số phận. Không thành công cũng thành nhân (Nguyễn Thái Học). Họ sống đúng nghĩa một con người. Niềm mơ ước của họ là thay đổi tình thế hiện tại, làm cho nó tốt hơn, hoàn thiện hơn. Tôi hân hạnh biết được hai cô gái với niềm mơ ước thay đổi bộ mặt xã hội, tuổi đời cách nhau không bao nhiêu, nhưng họ đang làm chuyện đội đá vá trời như thế.
Phoenix Hồ Phụng Hoàng sinh ra ở Việtnam nhưng lớn lên ở Hoa kỳ. Cha cô là một giáo sư, hiệu trưởng một trường nổi tiếng ở Đà nẵng. Mẹ cô là nữ sinh và giáo sư Đồng Khánh, Huế. Ngoài thơ phú văn chương, mẹ cô còn là một họa sĩ, nhà điêu khắc. Nhìn chung, Phụng Hoàng hấp thụ được nguồn tri thức dồi dào từ người cha và nét nghệ thuật phong phú từ người mẹ.
Biến cố 75 đổ ập lên gia đình. Dĩ nhiên, ba mẹ đều mất việc phải lam lũ tay chân để nuôi sống gia đình. Phụng Hoàng ra đời trong hoàn cảnh khó khăn đó. Cha cô long đong tìm cách vượt biển suốt mấy năm. Mãi đến năm 1980, cha cô may mắn vượt biển đến được bờ tự do. Và mãi đến năm 1990, lúc cô được 14 tuổi, gia đình cô mới được đoàn tụ với người cha tại Hoa kỳ. Những năm đèn sách ở Hoa kỳ trang bị cho cô một kiến thức vững chãi về ngành Kinh doanh Quốc tế. Thế nhưng cô vẫn thấy chưa bằng lòng với mảnh bằng trong tay. Vài năm sau, cô lấy thêm hai mảnh bằng Cao học (bây giờ gọi là Thạc sĩ) ngành Tư Vấn Hướng Nghiệp, và Lãnh đạo & Quản lý Giáo dục. Với ba mảnh bằng trong tay, giấc mơ của nhiều người, cô vẫn thấy bâng khuâng, trăn trở với nỗi niềm nặng trĩu. Nỗi thao thức lờ mờ chưa rõ nét, mỗi ngày đè nặng trong tim cô, và bóng dáng quê nhà hiện rõ dần trong tâm trí. Phụng Hoàng bâng khuâng nhìn về quê hương thấp thoáng những cánh đồng lúa đơm bông thơm ngát cùng lũy tre làng xanh ngắt, và chợt nhận ra một xã hội đang cần những bàn tay nâng đỡ tương lai cho lớp người trẻ.
Đó là bước ngoặt lớn lao nhất trong cuộc đời của Phụng Hoàng.
Phải gọi là một khúc quanh gắt, một ngã rẽ quan trọng chỉ vì quan niệm của cha cô hoàn toàn khác hẳn. Người đàn ông một thân liều mình vượt tuyến bằng đôi chân năm 1954 vào Nam để xây dựng cuộc sống. Biến cố 75 lại đẩy ông thêm một lần vượt biển để tìm tự do. Ông tìm mọi cách để đưa con cái đến bến bờ bình yên để chúng tự do hấp thụ và phát triển theo khả năng Chúa ban. Hai lần vượt thoát sống chết thì không lý nào đứa con út lại quay trở về mảnh đất ông đã đau xót rời bỏ mấy chục năm trước đây. Ông buồn nhưng vẫn tôn trọng quyết định của đứa con gái út.

Cô ngồi xuống bên người đàn ông hết lòng yêu thương, người mà cô gọi là ba, với lời lẽ trìu mến: “Những ngày gần đây, con có cảm giác cuộc sống mỗi lúc một rõ ràng hơn trong mắt con. Thật trùng hợp là con vừa làm giải phẫu mắt cận, và tương tự vậy, sau mỗi một ngày, mắt con thấy thế giới quanh mình một cách rõ ràng, trung thực, và lung linh màu sắc hơn. Con nhận ra những giá trị sâu thẳm trong trái tim mình, lý tưởng sống của mình, khả năng của mình, niềm đam mê của mình, và con đường mình chọn. Cuộc hành trình phía trước dĩ nhiên con không thể đoan chắc kết quả, nhưng con tin khi mình sống thật với chính bản thân mình, thì cuộc sống luôn tràn đầy bình yên và hạnh phúc. Và điều này cũng mang lại niềm vui cho những người quanh con, mà người quan trọng nhất là Gấu, con trai của con.” Cô tha thiết hơn, “…con chọn dừng chân tại Việt Nam vì nhiều lý do. Hãy nghĩ về môi trường con làm việc như hai miếng bọt biển. Cali là miếng bọt biển đã được thấm đầy một nửa, Việt Nam là miếng bọt biển khô rang, còn con là nước. Ở Việt Nam, với chuyên môn, kinh nghiệm, và tâm huyết của con, con thấy mình làm được rất nhiều việc tốt mỗi ngày, mỗi giờ, mỗi phút, mỗi giây. Và hiệu quả của việc làm con, con có thể thấy nó ngay lập tức.”

Đúng như cô tâm sự, Việt nam là miếng bọt biển khô rang, cần nước hơn bao giờ. Làm việc tại Đại học RMIT (Royal Melbourne Institute of Technology), tọa lạc tại trung tâm Sàigòn, Phụng Hoàng có cơ hội tiếp xúc với các sinh viên và nhận ra cô đã chọn đúng đường. Có lần cô thư cho tôi, “ rất nhiều sinh viên em gặp hằng ngày  là con cái của những người lãnh đạo trong guồng máy nhà nước. Sau nhiều lần tiếp xúc, em nhận ra họ chẳng hiểu gì về ý nghĩa của những danh từ trừu tượng như nhân đạo, bác ái, vị tha, lương tâm… những điều mà em được học dễ dàng từ ba mẹ. Kiến thức khoa học có đủ nhưng họ lại không được trang bị những giá trị tinh thần căn bản trong cuộc sống. Như thế khi vào đời họ sẽ bước khập khiễng. Nếu chỉ cho họ hiểu được ý nghĩa cao đẹp của những giá trị tinh thần như thế, tài và đức giúp họ bước vững vàng trên đường đời, và chắc chắn xã hội sẽ mang bộ mặt nhân bản hơn.” Suốt 3 năm, ngoài công việc tại RMIT, cô bỏ thì giờ ra tận thành phố Vinh, nơi chôn nhau cắt rốn của ba cô, tập họp sinh viên trong “Một Ngày Đồng Hành” để chuyện trò như một người chị. Phụng Hoàng đến nhiều thành phố khác khắp 3 miền để tổ chức những buổi huấn luyện cho học sinh, sinh viên, và ngay cả giáo viên nữa. Nơi chốn cô đến, Phụng Hoàng mang theo trái tim đầy ắp thương yêu và khi từ giã để lại một dấu ấn yêu thương đầy quyến luyến. Tình yêu thương đã nối kết cô với những người chung quanh. Và bây giờ mọi người đều biết đến Phụng Hoàng, một chuyên viên tư vấn hiền lành, trẻ trung, và dễ mến. Cô ân cần với sinh viên và mối thân tình nẩy nở như chị em. Họ cởi mở tấm lòng, giải bày những khó khăn và Phụng Hoàng tận tình giúp họ một hướng đi về nghề nghiệp nhưng đồng thời gieo vào lòng họ một giá trị nhân bản để sau này chính họ sẽ là những người làm thay đổi bộ mặt của xã hội Việt nam.
Khi nghe tin Phụng Hoàng về Việt nam với hoài bão đổi mới bộ mặt của xã hội, bắt đầu từ tầng lớp sinh viên, tôi suy nghĩ về nhiệt huyết của một cô gái trẻ và hoài nghi về kết quả mà cô mơ ước. Sau hơn 8 năm miệt mài với lớp người trẻ, cô đã tìm được một chỗ đứng vững vàng trong môi trường giáo dục tại Việt nam. Trên những tờ báo chuyên về lãnh vực giáo dục, người ta nhắc đến cô. Mới đây, cô xuất bản cuốn sách “Mẹ Dắt Con Đi”, trải tâm tình mẫu tử qua những lá thư mẹ gửi cho con trai, thiên hạ lại có dịp nhắc đến tên Phụng Hoàng, nhất là trên các trang mạng. Tôi còn tìm thấy trên trang Facebook cá nhân của cô những lời yêu thương ấm áp của lớp sinh viên đã được cô dìu dắt một thời gian. Lớp người trẻ ngập ngừng ở ngưỡng cửa cuộc đời nhưng tự tin bước vào xã hội, vì họ đã được trang bị với trái tim nồng ấm yêu thương, như Phụng Hoàng, và nhìn tha nhân bằng đôi mắt nhân ái. Họ đã bỏ trường lớp một thời gian nhưng vẫn nhớ đến người chuyên viên tư vấn khả ái Phoenix Phụng Hoàng.
Hóa ra tôi lầm. Với hoài bão ban đầu khiêm tốn, Phụng Hoàng đã đạt được một kết quả nào đó như cô mơ ước. Tuy nhỏ nhoi, nhưng vẫn là hoa trái đầu mùa mà gần chục năm trước tôi lắc đầu hoài nghi. Giấc mơ của Phụng Hoàng cũng là giấc mơ của nhiều người còn nặng lòng với quê hương dân tộc. Tôi lại biết một cô gái khác, ươm cùng một giấc mơ thay đổi bộ mặt xã hội Việt nam, như Phụng Hoàng, nhưng tìm một con đường khác, gay gắt hơn, mạnh mẽ hơn, và có lẽ chông gai hơn.
Đó là Jocie (Jocelyn) Nguyễn Ngọc Khánh.
Khánh sinh ra trong hoàn cảnh bần cùng khốc liệt của đất nước, và nghiệt ngã của riêng gia đình. Người cha mang cấp bậc Thiếu Tá trong quân đội VNCH, và bị đi tù cải tạo ròng rã hơn 7 năm. Tàn tạ khi trở về, ông vẫn bương chải kiếm sống để nuôi 4 đứa con gái. Và Ngọc Khánh ra đời trong thời gian này. Người ta tin Ngũ Long thường mang lại phúc lộc cho gia đình, nhưng không phải thế, cả miền Nam vẫn còn đắm chìm trong tang tóc của chia ly, của chết chóc vì người cha mất xác từ các trại cải tạo, mẹ vùi thây tại những vùng kinh tế mới rừng thiêng nước độc… thì gia đình nhỏ nhoi 7 người của Khánh cũng hứng chịu những tai ương chung như cả nước. Người miền Nam khoảng thời gian này đói meo, đói như chưa từng đói, và cũng chẳng còn gì bán cho dân miền Bắc để mua lấy miếng ăn. Nghĩ cho cùng, gia đình vẫn có phúc vì người cha còn gượng hơi tàn trở về thấy mặt vợ con sau hơn 7 năm bị hành hạ dã man trong trại cải tạo. Hom hem, ốm yếu, nhưng vẫn còn hình hài và hưởng niềm vui đoàn tụ với vợ con. Nhưng hồng phúc lớn nhất là cả gia đình được ra đi vào đầu năm 1990 theo diện H.O.
Lúc đó, Ngọc Khánh mới 6 tuổi. Không gì hạnh phúc bằng hạnh phúc gia đình, gồm đủ cha mẹ và 4 người chị. Khánh lớn lên như bao cô gái khác, theo đuổi việc học, tốt nghiệp Cử nhân ngành Kinh doanh, có việc làm nhưng cô vẫn ưu tư dằn vặt vì quá nhiều câu hỏi quay cuồng trong tâm trí. Có lẽ thắc mắc đầu tiên từ 7 năm tù của người cha. Tại sao cha cô lại đi tù? Cô là người Việt, cô biết chắc chắn vì cô vẫn nói sõi tiếng Việt, nhưng tại sao gia đình cô lại ở Mỹ trong khi họ hàng thân thuộc lại sống ở Việt nam? Lý do gì khiến cha cô quyết định ra đi? Những câu hỏi ấy cứ lẩn quẩn mãi trong đầu của cô gái vừa ngoài hai mươi. Và cô dứt khoát phải tìm cho được câu trả lời thỏa đáng.
Bắt đầu từ thư viện. Cô mầy mò lục tìm sách vở để hiểu rõ cuộc chiến Việt nam. May mắn là khi cô lớn lên, mạng lưới toàn cầu ngày càng tinh vi, nên việc tham khảo tài liệu dễ dàng hơn, cập nhật kiến thức phong phú hơn. Ngọc Khánh bỏ khá nhiều thì giờ tìm hiểu, vì còn bận rộn qua những chuyến công tác thường xuyên. Một thời gian dài, qua hỏi han người cha, qua chuyện trò với bậc cha chú, và cô hiểu được tại sao một người Việt như cô lại phải sống ở xứ người. Từ khi hiểu được thân phận, Khánh suy nghĩ nhiều về quê nhà, lòng đã bớt khắc khoải nhưng lại bắt đầu băn khoăn về hiện tình đất nước. Cô thả tầm mắt về quê hương, và quyết định bước vào con đường đấu tranh cho một xã hội Việt nam công bằng hơn.
Ngọc Khánh tham gia sinh hoạt chính trị bằng con đường khá chông gai. Cô xả thân bước vào con đường gập ghềnh, khúc khuỷu với trái tim nồng nàn, yêu Mẹ Việt nam, yêu thế hệ trẻ đang chìm trong bất công, mê muội. Những buổi điều trần, những cuộc biểu tình, hoặc bất cứ vấn đề gì làm cho xã hội Việt nam tươi sáng hơn, nhân bản hơn, cô đều có mặt, đôi khi phải đến tận nơi cách xa vài nghìn cây số. Cô tận dụng các phương tiện truyền thông hiện đại để nối kết với các bạn trẻ trong nước. Số người theo trang facebook của cô lên đến hàng nghìn, và dĩ nhiên trong số đó cũng có những dư luận viên, những kẻ ăn lương của nhà nước để nhục mạ nhân phẩm, chống phá tư tưởng của cô. Chông gai ở chỗ đó.

Một dịp về thăm gia đình, tôi ngồi bên Ngọc Khánh để nghe cô tâm sự về đường đời, về lý tưởng cao cả, và về con đường đấu tranh của cô. Tuổi ngoài 30 của Ngọc Khánh, có thể xem là đàn chị của thế hệ thứ hai. Xin ghi lại đây như là một thông điệp cho thế hệ con cháu chúng ta.
Hỏi. Sự kiện nào đã thúc đẩy cô quan tâm đến hiện tình đất nước VN?
Đáp. Đó là một quãng thời gian dài hun đúc em để yêu mến quê hương. Dĩ nhiên, bắt đầu từ gia đình. Ba mẹ em luôn dạy dỗ em với mẫu mực của một truyền thống Việt, biết quý trọng người già cả, yêu quê hương, yêu dân tộc. Ngay từ lúc 8-9 tuổi, đi sinh hoạt Hướng đạo, cuốn tập của em luôn có hình cờ vàng đặt ở trang đầu. Ở tuổi thiếu niên, em mầy mò đọc lịch sử Việt, và hiểu được truyền thống chống xâm lăng của những vị anh hùng. Mãi sau này khi lớn lên ra đời, em được tiếp xúc với những bậc cha anh, những người đã xả thân vì miền Nam, vì tổ quốc và thấm thía ý nghĩa cao đẹp của thành ngữ “non sông gấm vóc”. Những người trẻ ở hải ngoại ít quan tâm đến hiện tình VN, có lẽ tại vì họ chưa đọc lịch sử Việt. Vì vậy, em khuyên các bậc cha mẹ nên giải thích (một cách nào đó) cho con cái hiểu được nét hào hùng của lịch sử dân tộc Việt nam. Một khi đã biết và hiểu, thế hệ trẻ ở hải ngoại sẽ hãnh diện và quan tâm nhiều hơn đối với tình hình xã hội ở VN.
H. Ngoài việc tham khảo sách vở về lịch sử Việt, cô còn tìm hiểu gì về các lãnh vực khác?
Đ. Em rất thích đọc những sách về chính trị, cũng như theo dõi các phim tài liệu. Gần đây em xem được bộ phim “Thảm Họa Đỏ” và hiểu thêm về lãnh địa, lãnh hải của nước VN. Em rất ủng hộ lập trường của đài phát thanh “Đáp Lời Sông Núi.” Những phương tiện truyền thông này giúp chúng ta hiểu rõ căn tính của người Việt, và nhất là giới trẻ hải ngoại sẽ hiểu được tại sao cha mẹ họ lại có mặt ở đây, tại sao cả gia đình phải lánh nạn cộng sản. Em đang đọc cuốn hồi ký Revolution 2.0 của Wael Ghonim, một giám đốc của Google tại Ai-cập, và Wael đã dùng phương tiện truyền thông để loan tải những bất công của xã hội, giúp dân chúng hiểu rõ mặt trái của chính quyền. Anh cũng là một trong những người hướng dẫn cuộc nổi dậy Ai-cập (Arab Spring) tạo ra cuộc cách mạng nhung trong các nước Hồi giáo năm 2011. Em nghĩ giới trẻ trong nước cũng thế, hãy dùng các phương tiện truyền thông xã hội hiện đại để loan tải những tin tức lề trái. Hiểu rõ những bất công đang xảy ra trên đất nước mình để thấy hành động của mình tương xứng hơn, giá trị hơn.
H. Khi xả thân vào các phong trào đấu tranh dân chủ để đòi hỏi một xã hội VN công bằng, liệu việc sinh nhai của cô có ảnh hưởng gì không?
Đ. Thật ra rất khó. Làm thế nào để quân bình giữa công việc sinh nhai và thời gian phục vụ cho lý tưởng; nhất là khi lý tưởng và việc làm của em có khoảng cách địa lý hơn nửa vòng trái đất. Ngoài 40 tiếng làm việc mỗi tuần, phải có thì giờ cho gia đình, cho bạn bè, và cần phải ngủ nữa. Thế thì thời giờ đào đâu ra? Em mơ ước có một công việc nào đó để em thỏa mãn được cả hai. Khó là ở chỗ đó. Lúc mới ra trường, em chuyên về marketing nên làm trong ngành advertising. Công việc này đòi hỏi em phải đi đây đi đó nên suốt thời gian đầu em chẳng làm được gì cho lý tưởng. May mắn là gần đây, sau 10 năm tìm kiếm, em kiếm được một diễn đàn và nó vừa giải quyết được chuyện sinh nhai, đồng thời giúp em tăng thêm kiến thức về lãnh vực chính trị. Dĩ nhiên, em không dùng diễn đàn của họ để thực hiện lý tưởng của mình, nhưng nhờ nó mà em thực hiện lý tưởng một cách hiệu quả hơn. Em thật sự may mắn nhưng không hẳn ai cũng được thế. Tùy theo quan niệm sống của mỗi người để hài hòa giữa gia đình, việc làm, và lý tưởng. Sự hy sinh cần phải đặt ra để tìm được sự quân bình, hoặc bỏ bớt vật chất để có thì giờ với gia đình, và theo đuổi lý tưởng, hoặc dành hết thời gian để kiếm tiền và quên đi lý tưởng của đời mình. Như thế, một người khi xả thân vì đại cuộc, sẽ tự tìm ra một ưu tiên nào đó để thích nghi với hoàn cảnh.
H. Theo cô, giới trẻ ở VN hiện thiếu điều gì?
Đ. Họ dư thừa nhiều và cũng thiếu thốn nhiều. Em tiếp xúc được khá nhiều bạn trẻ ở trong nước qua mạng lưới FB và nhận thấy họ thiếu điều kiện để vươn lên. Điều kiện bắt nguồn từ lý lịch. Các bạn trẻ không hiểu tại sao đất nước đã thống nhất sau một thời gian dài mà lý lịch vẫn là điều kiện tiên quyết để định đoạt mọi việc. Nếu lý lịch “xấu” (xin để chữ xấu trong ngoặc kép) thì cho dù thông minh đến mấy vẫn không có cơ hội để vươn lên. Bởi vậy, nhân gian truyền miệng một câu nghe thật đau lòng, “tiền tệ, quan hệ, trí tuệ, mặc kệ.” Trí tuệ đứng khiêm tốn ở hạng 3, và sự chán nản biểu lộ qua hạng 4 là thái độ mặc kệ. Tuổi trẻ VN không thiếu sự thông minh, năng động, và nhiệt huyết, nhưng cơ hội như một cánh cửa khóa chặt, và rất nhiều tài năng bị gạt bỏ sang bên lề xã hội, và rất có nhiều kẻ bất tài nhưng lại có “tiền tệ và quan hệ” nên trở thành những kẻ lãnh đạo. Tuổi trẻ VN không được sử dụng đúng mức và đúng cách và dẫn đến một sự lãng phí về trí lực. Khi hoàn toàn đứng ngoài căn nhà cơ hội, tuổi trẻ VN lại sống bít bùng trong một căn nhà khác lớn hơn, không có cửa sổ, ngột ngạt, đầy thán khí của bất công. Bởi vậy, em thường viết cho họ rằng tương lai của bọn em và của các thế hệ sau này hoàn toàn tùy thuộc vào suy nghĩ và hành động của chính bọn em bây giờ. Tụi chị đứng ngoài này sẽ hết lòng ủng hộ bọn em, nhưng vận mệnh của đất nước phải do chính bọn em định đoạt.
H. Đó là bộ mặt của xã hội bây giờ. Ai cũng biết thế, nhưng làm thế nào để họ thay đổi được đây, theo ý cô?
Đ. Điểm lại tất cả những cuộc cách mạng từ trước đến nay, bất cứ một thay đổi nào đều bắt nguồn từ bên trong, và từ giới trẻ. Muốn thế, trước hết họ phải vượt qua sự sợ hãi. Có nhiều nỗi sợ hãi: sợ bị gắn nhãn hiệu phản động, sợ bắt bớ, sợ tù đày. Phải xác nhận rằng đây là một phản ứng tâm lý bình thường của con người. Trước đàn áp, trước bạo lực, như những người lính lần đầu ra trận, người ta đều sợ hãi. Nhưng nếu cứ tiếp tục sợ hãi mãi thì thế hệ này sẽ có tội với thế hệ cha ông, và có lỗi với thế hệ con cháu, vì khi tổ quốc lâm nguy, cả một thế hệ chẳng làm gì cả.
H. Những người đấu tranh, một khi lâm vào cảnh tù đày, sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống không những của chính người đó mà cả những người thân trong gia đình, ý tôi nói đến vấn đề kinh tế vì họ là cột trụ, là người làm ra tiền để nuôi gia đình. Cô có chia sẻ gì về chuyện này?
Đ. Gần giống như câu hỏi làm thế nào để quân bình giữa cuộc sống và lý tưởng. Mỗi người một hoàn cảnh, nên khó có một mẫu mực chung để áp dụng cho mọi trường hợp. Nhưng họ đều có một mẫu số chung, đó là sự hy sinh cho lý tưởng mình đã chọn. Lấy ví dụ, em rất mến mộ Việt Khang, vì anh đã sử dụng tài năng để phục vụ cho lý tưởng, cho dù anh bị bắt bớ và lâm cảnh tù đày. Như những nhà đấu tranh khác, anh còn trách nhiệm với vợ con, thế mà anh vẫn hy sinh ngồi tù, theo đuổi lý tưởng đến cùng. Những lúc khốn khó này, em nghĩ những người đấu tranh cần sự ủng hộ tinh thần trước hết của thân nhân ruột thịt, và cả chúng ta ở bên ngoài nữa. Chắc chắn đường đấu tranh sẽ chông gai, gập ghềnh, đôi khi phải đổi cả tính mạng, vì thế mới cần hy sinh. Còn chúng ta ở hải ngoại, bằng một cách nào đó, giúp đỡ họ, mỗi khi gia đình họ lâm cảnh túng bấn.
H. Con số những người tranh đấu cho tự do dân chủ ngày càng tăng. Rõ ràng ngày càng nhiều người muốn thay đổi bộ mặt của xã hội. Những kẻ đấu tranh rất cần sự ủng hộ tinh thần và vật chất của những người như Jocie ở hải ngoại. Như thế, phải đào luyện giới trẻ ở hải ngoại để họ tiếp nối con đường của chúng ta đang đi bây giờ. Vì tầm quan trọng của giới trẻ hải ngoại trong tương lai, cô có đôi lời nhắn nhủ với thế hệ này không?
Đ. Ồ, chuyện lớn lao quá làm sao em dám khuyên với nhủ, (cười). Em chỉ xin chia sẻ như thế này. Giới trẻ hải ngoại cần tìm hiểu gốc gác của mình. Có lẽ không đòi hỏi giới trẻ hải ngoại phải cầm cờ xuống đường biểu tình, nhưng họ phải ý thức được sự hiện diện của họ trên đất nước này. Tại sao họ hiện diện trên đất nước này? Xa hơn, tại sao cha mẹ họ phải sống ở đây? Điều gì đã xô đẩy bậc cha anh ra khỏi nước Việt nam? Như em, một điều em rất tiếc là chiếc áo dài. Em qua Mỹ từ lúc 6 tuổi, nên lớn lên và đi học không có dịp mặc chiếc áo dài như mẹ em, như chị em thuở cắp sách đến trường. Một tà áo dài bay theo gió chỉ là một mất mát nhỏ, trong muôn vàn mất mát mà em không thể có, chỉ vì em đang sống tại Mỹ. Kỷ niệm của mẹ em, của những người chị rất giống nhau vì họ sinh ra và lớn lên ở Việt nam. Riêng em lại khác, kỷ niệm tuổi thơ của em khác rất nhiều, thiếu con đường rợp bóng cây khi đi học về, thiếu nét hồn nhiên, bước chân tung tăng của một nữ sinh. Em lớn lên thiếu hẳn những hình ảnh đó. Những mất mát đó do đâu? Nếu tuổi trẻ hải ngoại biết đau đớn vì những mất mát đó, thì họ sẽ tìm cách để hiểu rõ căn tính của họ, cho dù họ đang sống ở đâu trên thế giới.
Cuốn phim Roots em rất thích, kể lại hành trình bi tráng của một gia đình gốc Phi châu. Sau gần 200 năm, trải qua bao nhiêu đời, một hậu duệ đi tìm lại nguồn gốc của anh. Người Việt mình mới tỵ nạn hơn 40 năm, vẫn còn kịp thời gian để xác định lại căn tính của mình. Bắt đầu từ gia đình, cha mẹ phải cho con cái biết chỉ vì hai chữ “tự do” mà cả gia đình sống lưu lạc ở xứ người. Cũng như gia đình gốc Phi châu trong phim Roots, chỉ vì hai chữ “nô lệ” mà họ có mặt trên đất nước Hoa kỳ.
H. Lời cuối với tuổi trẻ trong nước.
Đ. Em luôn khuyến khích họ dùng các phương tiện truyền thông chưa bị nhà nước kiểm soát để học hỏi nâng cao kiến thức, và để liên lạc nâng đỡ nhau. Nên nhớ cuộc cách mạng nhung thành công là nhờ các phương tiện truyền thông nằm ngoài luồng kiểm soát của chính phủ. Một cuộc cách mạng rất ít hao tổn xương máu. Hơn nữa, nâng cao kiến thức để không bị lừa, vì kiến thức là sức mạnh. Em không hề kêu gọi tuổi trẻ trong nước bạo động để lật đổ chế độ. Em chỉ kêu gọi họ tranh đấu để có một thay đổi, để bộ mặt xã hội công bằng, tươi sáng hơn với công lý được tôn trọng. Em ủng hộ bất cứ lá cờ nào mang lại lợi ích cho dân tộc. Thể chế nào cũng được, miễn là thể chế đó bảo đảm sự ấm no cho toàn dân.
H. (ngắt lời)… coi chừng lại gặp phải “bình mới nhưng rượu cũ”. Chỉ thay đổi bề ngoài nhưng lõi cốt vẫn như cũ…
Đ. Những người trẻ đủ thông minh để thấy chứ. Sự thay đổi phải đưa đến một kết quả tốt hơn chứ. Nếu không thì không thể nào gọi là thay đổi được.
Tôi ngồi thừ người, nghĩ đến một Phụng Hoàng đang miệt mài bên những sinh viên trẻ, và đây, ngay trước mặt tôi, một Ngọc Khánh cũng đang ưu tư về tương lai của giới trẻ. Như tâm sự của Phụng Hoàng, “…con không biết vì ba đặt tên con theo một loài chim bay cao, bay xa, mà con có những lý tưởng cao vời, hay vì cá tính con là trộn lẫn giữa ba và me, hay vì môi trường lúc nhỏ đã ảnh hưởng đến con, nhưng con biết cuộc đời này mình muốn như ngọn đuốc yêu thương chiếu sáng được lúc nào hay lúc đó. Đó là ước mơ và lẽ sống của con.” Cánh chim đó đã bay suốt một quãng đường dài, vượt biển Thái bình, và xếp đôi cánh đậu lại trên quê hương. Cô soải cánh ôm ấp lấy giới trẻ Việt nam, che chở và dìu dắt họ. Việc làm của Ngọc Khánh, như tiếng ngân nga của chiếc khánh vang lên khi bắt đầu buổi tụng niệm, là lời nguyện tha thiết cho một xã hội Việt nam tươi sáng.
Con đường của Phụng Hoàng như một tiến hóa (evolution), cần thời gian để hoàn tất. Con đường của Ngọc Khánh lại như một cuộc cách mạng (revolution), rút ngắn thời gian. Cả hai phụ nữ, khoảng cách địa lý xa hơn nửa vòng trái đất và đi hai con đường khác nhau, đều ươm chung một giấc mơ về một xã hội công bằng hơn, nhân ái hơn và nhờ những bậc anh thư của thời đại như thế, quê hương Việt nam – một ngày không xa – sẽ chói lòa ở trời Đông.

SƠN NGHỊ

CÁNH DÙ TRÊN ĐỒI 31, HẠ LÀO ANH KHÔNG CHẾT ĐÂU ANH

sonnghi

Cuộc hành quân Lam Sơn 719 nhằm tấn công vào hệ thống tiếp liệu của cộng quân Bắc Việt ngay trong lãnh thổ Ai-lao khởi sự vào một ngày đầu tháng 2/1971. Bọn việt cộng tải quân vào miền Nam theo con đường bắt đầu từ Hạ Lào, men theo đường mòn HCM và đến B, mật mã của Trung ương Cục miền Nam.

Đến bây giờ ai cũng phải nhìn nhận rằng chiến dịch Lam Sơn vào đầu năm 1971 là một thảm bại. Tổng thống Thiệu ra lệnh đưa 3 lữ đoàn bộ binh nhằm triệt hạ đơn vị tiếp liệu và hậu cần của cộng quân với một kế hoạch khá lộ liễu. Một chuẩn bị sơ sài nhằm phô trương thanh thế cho mục đích Việt nam hóa chiến tranh và lợi ích cho cuộc tái tranh cử của Tổng thống Nixon sắp diễn ra vào cuối năm 1971 đã đẩy hàng nghìn binh sĩ VNCH vào chỗ chết.

Một trong những chiến sĩ đã anh dũng hy sinh là Đại úy Nguyễn văn Đương.

Đúng ra, ông tự sát tại căn cứ 31 chứ không hề hàng địch. Ông dành viên đạn cuối cùng để tự tử. Xác ông vĩnh viễn nằm tại ngọn đồi 31. Bây giờ có lẽ ngọn đồi hoang vu ngập cỏ xanh, như một lần quân bắc việt tràn ngập với chiến thuật biển người. Cuộc hành quân đã bị lộ tẩy vì tin tức lọt ra ngoài từ cấp chỉ huy. Một thất bại từ nội bộ dẫn đến 1483 sinh mạng chiến sĩ VNCH tử vong, và 691 xác thân chôn vùi trên ngọn đồi 31 khốc liệt.

Cái tin tuẫn tiết của Đại úy Nguyễn văn Đương đưa về hậu phương như một nỗi buồn giống như bao nỗi buồn của mẹ già ngóng đợi con khi tiếng đạn pháo kích nổ vang bầu trời bào mòn niềm hy vọng, như nỗi đau đớn của người vợ trông vời bóng người chồng từng ngày khi tiếng súng đêm đêm vọng về từ vùng ngoại ô là nỗi bất an, như sự mong chờ của đàn con thấy bố oai hùng trong bộ quân phục hơn là chiếc hòm gỗ phủ cờ vàng. Bà, phải gọi là chị thì đúng hơn vì lúc đó chị Nguyễn thị Mai mới ngoài 30, mơ thấy chồng về bị thương ở chân, bảo em ráng nuôi con vì anh không về được nữa. Chị giật mình tỉnh dậy và òa khóc. Ba ngày sau giấc mơ kỳ lạ, chị nhận được giấy báo tử chính thức từ chính quyền VNCH, và lặng lẽ khoác áo sô, chít mảnh khăn tang lên mái tóc mượt mà, và cả lên đầu 4 đứa con, nước mắt lại tuôn mà ngỡ như đã cạn kiệt sau 3 ngày khóc thương chồng kể từ đêm anh Đương hiện về trong giấc mơ. Nhạc sĩ Trần Thiện Thanh cảm động về mối tình, về cái chết bi hùng của Đại úy Nguyễn văn Đương, đã viết thành ca khúc “Anh Không Chết Đâu Anh”, (https://www.youtube.com/watch?v=Juf048ZAR1c).

Mặc dù Đại úy Đương bỏ xác trên đồi 31 vào cuối tháng 2 năm 71 nhưng mãi đến đầu năm 1972, ca khúc này mới được giới thiệu cùng đồng bào miền Nam qua phim kịch Trên Đỉnh Mùa Đông. Tác giả của bản nhạc đóng vai Đại úy Đương, Thanh Lan trong vai Lệ, người yêu và là vợ của Đại úy Đương. Tôi còn nhớ một buổi tối, cơm nước xong, cả nhà ngồi chăm chú vào màn truyền hình đen trắng, và truyện phim dài 45 phút bắt đầu xuất hiện trên màn ảnh. Tôi, đúng hơn cả nhà, bị cuốn hút vào câu truyện. Đoạn phim quay ngoại cảnh là một điều mới mẻ trên đài truyền hình vào đầu thập niên 70 vì cảnh thật chứ không như những tuồng cải lương quay tại phim trường. Chuyện bắt đầu cảnh 2 anh lính lái xe Honda vô tình đụng phải cô sinh viên Văn khoa, (https://www.youtube.com/watch?v=awSG7dmGHhw). Thanh Lan ngã ngồi ở góc phố, nét mặt phụng phịu muốn khóc, lố nhố những người bao quanh. Một trong 2 người lính nghỉ phép rong chơi trên đường phố SG là Thiếu úy Đương. Quen nhau rồi yêu nhau như bao chuyện tình khác xảy ra trong thời kỳ chiến tranh sôi động của miền Nam. Thanh Lan năm đó đang độ xuân thì, đẹp thùy mị trong phim. Tuy màn hình đen trắng, nhiều hạt mưa nếu thời tiết xấu, nhưng khán giả vẫn nhận ra một Thanh Lan xinh xắn, một tiêu biểu của nữ sinh viên trường Luật, và Văn khoa. Cuối cuộc tình là đám cưới rồi con cái. Thân phận của thiếu nữ miền Nam thời đó hầu như đều làm vợ lính. Lấy chồng lính đồng nghĩa gánh lấy nhọc nhằn, sống trong phập phồng lo sợ vì tin dữ đưa đến bất cứ lúc nào.

Như những lần lên đường diệt giặc phương Bắc trước đây, Đại úy Đương từ giã vợ tung cánh dù vào cuộc hành quân Lam Sơn 719. Có khác chăng là lần này Đại úy Đương đi luôn không về nữa. Xả hết đạn vào đám giặc thù, anh dành viên đạn cuối cùng để tuẫn tiết.

Tin dữ đưa về. Lệ ôm lấy con khóc ngất. Tôi còn nhớ buổi tối hôm đó, Thanh Lan khóc nức nở trong phim, cả nhà ngồi lặng yên, không ai nói với ai một lời nào. Lòng tôi xúc động khi thấy anh Đương trong phim khuôn mặt đầy máu, ôm lấy vai vợ và nói, “anh không chết đâu em…” Em gái tôi mới học lớp 7, ngồi im như tượng gỗ, đôi mắt đỏ hoe. Và tôi kịp nhận ra cặp mắt tôi cũng đã ươn ướt.

Năm đó tôi sửa soạn thi Tú đôi. Tối hôm đó, xem phim xong, không hiểu sao tôi nghĩ khi lấy xong mảnh bằng thế nào tôi cũng lên đường nhập ngũ. Cái chết oan nghiệt của Đại úy Đương không hề làm tôi sờn lòng, nhưng tôi thật sự cảm phục những cái chết hào hùng như thế và muốn noi gương anh để cầm súng bảo vệ quê hương. Thi đậu xong, tôi nộp đơn vào khóa Biên tập viên của Sĩ quan Cảnh sát. Thêm thằng bạn rủ tôi nộp đơn vào khóa 29 của Sĩ quan Đàlạt. Chúng tôi gửi thư ra Nha trang để xin Phiếu lý lịch số 3. Tôi còn nhớ tờ giấy màu xanh gửi về thông báo tôi được quyền gia nhập quân đội. Đang phân vân không biết chọn ngành nào thì ông cụ tôi khuyên nên tiếp tục học vì khả năng tài chánh của gia đình còn cho phép. Thế là mộng khoác áo chiến y của tôi không thành.

Đồng bào miền Nam chỉ muốn đất nước thanh bình, yên ổn làm ăn, sống cho xứng đáng với nhân phẩm con người. Bọn việt cộng xua quân đánh phá với chiêu bài cứu đồng bào miền Nam khỏi ách thống trị của Mỹ Ngụy. Thật ra chính quyền Bắc việt đang áp đặt cái ách độc tài lên đồng bào miền Bắc từ năm 1954. Dân quân miền Nam cố bảo vệ mảnh đất hiền hòa, chẳng hề muốn gây hấn một ai. Đại úy Đương sẽ không chết tức tưởi nếu bọn việt cộng đừng tấn công miền Nam. Chị Trần thị Mai sẽ không trở thành góa phụ nếu quân bắc việt đừng theo chủ thuyết cộng sản. Không một ai thích chiến tranh cả vì chiến tranh tàn phá, nghiệt ngã, chết chóc, chia lìa, và để lại nhiều đau thương. Như bạn tôi, rớt Tú tài I, đăng lính cấp bậc trung sĩ. Mùa hè năm 72, khi tôi đang học lớp 12, thì xác bạn tôi phủ cờ vàng đem về đến tận nhà. Bạn tôi đền nợ nước khi tuổi chưa tròn 18. Chúng tôi còn đi chơi với nhau năm trước, nào cắm trại, nào du ngoạn, nào cưỡi xe gắn máy rong ruổi đến tận làng quê. Thế mà chưa đầy một năm sau, bạn tôi nằm và tôi đứng lặng lẽ trước hòm gỗ lung linh hương khói, ngọn đèn bạch lạp cháy leo lét như nỗi cô quạnh của người mẹ với đôi mắt sưng húp, vật vã kể lể bên quan tài buồn hiu hắt.

Đau đớn ở cái chết. Oan nghiệt ở tuổi còn xanh.

Nếu thân phận Kiều bấp bênh, trôi nổi, lưu lạc suốt 10 năm trời qua câu, nửa chừng xuân, thoắt gãy cành thiên hương, nhưng cuối mảnh đời lưu lạc Kiều cũng được sum họp với Kim Trọng. Còn thân phận của phụ nữ miền Nam thời chiến, cuối mảnh đời bấp bênh là sự chia lìa, là đơn côi, là lẻ loi, là cực nhọc một tay nuôi đàn con mất cha. Bà Trần thị Mai đã chịu đựng một cuộc sống nghèo khổ cơ cực như thế đã hơn 40 năm nay.

Lẽ ra, thủ đô SG phải có con đường mang tên Nguyễn văn Đương để vinh danh một cái chết hào hùng. Lịch sử giở sang trang khi sự dối trá thắng sự ngay thẳng, tàn ác thắng thiện lương, độc tài thắng dân chủ, vô tâm thắng nhân tâm, khỉ thắng người. Tên đường ở SG bây giờ mang tên một anh thợ điện, được vinh danh vì gài mìn giật sập cầu Công lý. Nhà nước cộng sản dạy trong sách giáo khoa rằng trước khi chết anh ta hô to ba lần tên HCM. Thật ra những người lính hành quyết tối hôm đó bảo anh thợ điện run rẩy đứng không vững trên đôi chân, miệng lắp bắp nài xin sự khoan hồng. Lừa dối ở chỗ đó. Lại có đường mang tên Lê văn Tám, một em bé dám tẩm xăng vào người làm nổ tung kho đạn. Một nhân vật huyền thoại, vì sau này một người cộng sản thú nhận ông đã nặn ra nhân vật Tám để kích động lòng “yêu nước” (sic). Lịch sử là viết lại sự thật nhưng lịch sử của nước cộng sản lại có nhiều huyền thoại, đi ngược với sự thật. Đường SG bây giờ mang rất nhiều tên lạ lẫm, và không thể nào có một con đường mang tên Nguyễn văn Đương vì kẻ chiến thắng viết lại lịch sử, (history is written by the victors) như lời của Thủ tướng W. Churchill.

Bà Mai chẳng hề muốn một con đường nào mang tên chồng cả, bà chỉ muốn có chút tiền lộ phí, tìm đến ngọn đồi 31 năm nào, để tìm lại xác chồng. Ngọn đồi nằm chơ vơ, lặng lẽ qua từng ấy năm. Đây là mồ chôn hàng nghìn xác cộng quân, kể cả 691 chiến sĩ VNCH bị mất tích, trong đó có thân xác của Đại úy Nguyễn văn Đương. Ngày tháng trôi, thân xác anh đã hòa lẫn với thiên nhiên cây cỏ từ năm đó. Người vợ đến tận nơi có ngửi được mùi chồng thoảng trong gió như trong đêm ân ái nồng nàn năm nào. Có lẽ không. Nhưng bà Mai phải đến nơi, để thấy lại cảnh xưa và thấy hình ảnh của người chồng trong đôi mắt nhắm, và để thắp lên một nén nhang cho vong linh chồng phiêu du ở chốn vĩnh hằng. Đời sống cơ cực của bà không cho phép bà thực hiện được ước mơ đó, dù chỉ một lần.

Ước mơ của bà bay tỏa không gian, vang đến tận hải ngoại. Đồng bào động lòng quyên góp cho bà chút đỉnh. Trước là để bà thực hiện được ước mơ, sau là giúp bà và anh con út (giờ đã 47 tuổi) có chút vốn sinh sống thoát cảnh nghèo. May mắn có ông Thị trưởng Westminster Tạ Đức Trí, người Việt đầu tiên được bầu vào chức Thị trưởng, đứng ra tổ chức một cuộc gây quỹ trên mạng để giúp mẹ con bà Nguyễn thị Mai, (http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/viewarticlesNVO.aspx?articleid=224698&zoneid=1).

Xin cám ơn ông Trí có tấm lòng với gia đình những người lính VNCH. Rất mong bà Mai thực hiện được ước mơ gặp chồng trên đồi 31, Hạ Lào.

SƠN NGHỊ

KHỈ VÀ LÒNG THAM

sonnghi

Có nhiều loại tham: tham ăn tham uống, tham lam của cải, tham danh vọng… Ðặc biệt nói đến tham ăn thì nghĩ ngay đến heo. Heo là loài tạp ăn, tham ăn, thô tục. Ăn như heo là thế. Nói đến khỉ thường ta không nghĩ đến tham mà lại nghĩ đến tài bắt chước. Trong các loài động vật, khỉ là động vật này có hình dạng và trí thông minh gần con người nhất. Vì thế mà khỉ bắt chước giỏi. “Monkey see, monkey do” là thành ngữ người Mỹ chỉ những công việc chỉ cần thấy là làm rập khuôn theo dễ dàng.
Vậy mà khỉ cũng có lòng tham. Và chính lòng tham đã làm hại loài khỉ không ít. Nhưng trước khi nói đến sự tham lam của loài khỉ, thử tìm hiểu những đặc khác của chúng, nổi bật nhất là tài bắt chước.
Khỉ lập lại động tác mà chúng xem thấy một cách không suy nghĩ. Bởi vậy mới có câu: khỉ bắt chước, làm trò. Nhưng nếu làm trò khỉ thì lại khác. Cứ vào sở thú sẽ biết ngay. Có lúc chúng nổi cơn biểu diễn trò khỉ ngay trước mắt thiên hạ, miệng la hét man dại. Dĩ nhiên giữa thanh thiên bạch nhật mà người giở trò khỉ sẽ bị tóm ngay vì tội công xúc tu sỉ. Khỉ và người khác nhau ở điểm đó. Chớ dại mà giở trò phòng the ngay giữa ban ngày hoặc những nơi công cọng.
Khỉ cũng giống như sư tử, hổ, chúng sống thành từng bầy trong một diện tích có chủ quyền. Tuỳ theo bầy lớn hay ít, lãnh thổ cũng tăng theo. Mỗi bầy đều do con một đực tự phong vương cứ như Thập Nhị Sứ quân thời Ðinh Bộ Lĩnh. Nó toàn quyền trên bầy thê thiếp của nó. Bất cứ con nào lạc vào vùng cấm địa đều bị đánh đuổi, đánh đến chết nếu không chịu rời lãnh thổ của lãnh chúa.
Nhìn chúng những lúc nhàn rỗi, thường ngồi bắt rận, chải lông… sao giống người đến thế. Từ động tác vạch lông tìm chí đến cử chỉ bỏ vào mồm cắn thật giống như các cụ thời xưa thường ngồi bắt chí cho con gái. Bởi thấy khỉ gần giống với người nên mấy ông tổ cọng sản vồ lấy thuyết Tiến hoá của Darwin như kẻ buồn ngủ gặp được chiếu manh.
Họ cổ võ thuyết Tiến hoá rầm rộ, ngụ ý để giải thích chủ trương chống tôn giáo vì chẳng có Trời Phật gì cả. Con người từ khỉ mà ra chứ chẳng có Thượng đế nào tạo ra chúng sinh. Họ cho rằng tôn giáo chỉ là liều thuốc mê tín ru ngủ quần chúng để quên đi thân phận bị áp bức, tha hồ cho chủ bóc lột. Cuộc đời này là tạm bợ theo tín lý của các tôn giáo lại càng không phù hợp với chính sách đấu tranh của cọng sản. Họ tuyên truyền rằng đừng nghĩ gì đến thế giới bên kia vì lẽ dễ hiểu là làm gì có cái thế giới nào ngoài thế giới hiện chúng ta đang sống. Chết là hết chuyện, như con chó hoặc như con khỉ vậy. Thiên đàng ở ngay trên quả đất này và chúng ta phải tạo dựng nó, phải giật lấy hạnh phúc về tay mình. Chủ thuyết cọng sản giải thích dưới góc độ nào đi nữa cũng chỉ là mớ lý thuyết xúi dục quần chúng nổi dậy cướp chính quyền để rồi dâng lên cho các nhà lãnh tụ… con cháu của khỉ. Nếu đúng loài người từ khỉ mà ra chứ chẳng có Thượng đế nào rỗi công đi tạo dựng ra cái đám người gào thét quần chúng làm cách mạng thì đỡ khổ cho mấy tỉ người trên thế gian này biết bao! Sinh ra “nửa người nửa ngợm nửa đười ươi” nên cái lối suy nghĩ của người cọng sản chỉ còn nửa nhân tính, còn nửa kia thuộc về loài… khỉ mất rồi.
Lịch sử đã chứng minh lý thuyết của họ sai bét bẹt bẹt. Vậy mà đám đàn em cọng sản càng lạm dụng bóp méo thuyết Tiến hoá của Darwin theo lối duy vật biện chứng để sơn phết cho hào quang của một thế giới đại đồng. Không biết Các-Mác lúc viết cuốn Tư bản luận có phi cần sa hay hút thuốc phiện không mà lại mơ màng đến một thế giới tuyệt vời, trong dó không còn người bóc lột người, mọi người làm theo khả năng hưởng theo nhu cầu. Ôi! Sao lại có người thật dễ tin đến vậy. Ðã là con người với đầy đủ thất tình với tham sân si thì làm sao có thể “đại đồng” được? Thật ra, ông Mác chỉ viết phê bình những điểm yếu của chế độ tư bản phôi thai thời đó, mãi đến sau này Lênin mới khai triển nó thành một hệ thống có lớp lang, có tranh đấu, có cướp chính quyền để tạo một thiên đàng… bịp ở trần gian này. Nếu có chăng thì chỉ là thiên đàng cho riêng những nhà lãnh tụ mà thôi.
Ðúng ra chẳng có anh cọng sản nào tin tưởng điều đó cả. Họ biết chắc Mác và Lênin bịp, bịp ngay từ ngày cách mạng thành công vào năm 1917 tại Nga nhưng họ vẫn rêu rao vì những ngón bịp này thật hấp dẫn với đám dân đen. Cuộc đời của đám dân đen quá khổ sở nên cần phải thay đổi, cho dù kết quả có ra sao đi chăng nữa. Ngày cách mạng thành công chính là ngày đám lãnh tụ lên ngôi vua, lúc đó lòng tham lam, mê danh vọng của mấy ông vua đỏ này mới lộ nguyên hình. Nếu hiểu theo thuyết Tiến hoá thì đúng mấy tay lãnh tụ đỏ rất giống khỉ ở cái điểm tham lam.
Ở Phi châu, dân chúng nghĩ ra một cách bắt khỉ tầm thường nhưng lại rất hiệu quả. Họ làm thành từng chum, từng hũ với miệng to nhỏ tuỳ theo cỡ. Số hũ chum này được buộc chặt xuống đất không thể nào di chuyển được. Trong từng chum họ bỏ chà là, một loại trái cây khỉ ưa thích. Một người đứng thò tay vào chum bốc một quả đưa lên miệng ăn, cốt để cho đám khỉ thấy bắt chước. Chỉ vài phút sau, khi thấy yên ắng không một bóng người, bầy khỉ trong rừng kéo nhau ra bốc chà là ăn. Khỉ nhỏ thì thò tay vào hũ, khỉ lớn đút tay vào chum. Khổ một nỗi, con nào cũng cố bốc thật nhiều chà là nên khi kéo tay ra bị kẹt nơi miệng chum. Thế là chúng la chí choé. Dân làng chỉ việc đến bắt từng con bỏ vào cũi. Khi thấy người, biết là sẽ bị bắt nhưng chúng nhất quyết không thả bớt chà là để kéo tay ra mà chạy. Nguyên tắc bỏ của chạy lấy người thật không đúng với loài khỉ ở Phi-châu. Thật đúng là… khỉ! Chúng có ngu không? Thưa không? Chỉ tại chúng quá tham nên không còn sáng suốt nữa.
Bài học của khỉ có thể đem áp dụng cho người. Ðôi khi chúng ta cũng nên biết bỏ bớt đi một chút để thoát ra khỏi cảnh chợ đời. Nhà Phật khuyên diệt dục để giải thoát xem ra khó quá. Bớt lòng dục đã thấy khó rồi huống gì phải dứt bỏ hoàn toàn. Nhưng bớt vẫn dễ hơn là đoạn tuyệt với lòng dục. Những bon chen cốt để thoả mãn nhu cầu vật chất không biết đến bao giờ mới đủ. Tri túc, tiện túc đãi túc hà thời túc; biết đủ là đủ, chờ cho đủ thì sẽ không bao giờ đủ. Buông tay ra mọi việc sẽ trở nên nhẹ nhàng. Thả bớt một chút tham vọng sẽ vơi nhiều phiền muộn. Giảm một chút lòng dục cũng thấy lòng thải mái hơn.
Ðức Giêsu nói: nhà giàu vào thiên đàng còn khó hơn con lạc đà chui qua lỗ kim, (Mt 19:24). Ðây là một lối nói diễn tả mạnh của người Do-thái như lối thậm xưng của ta. Vì thế không hẳn là mọi nhà giàu đều không thể vào nước thiên đàng, mà chính là ở lòng con người. Tham lam sẽ khó thoát tục. Cả một gia tài trì nặng ở dưới chân thì làm sao thoát tục được. Cái vướng mắc là ở chỗ đó. Có một linh mục cho rằng người giàu khó vào nước thiên đàng chỉ vì hành lý mang theo cồng kềnh quá, tay xách nách mang không thể lọt qua cửa thiên đàng được. Chỉ cần bỏ bớt đi, lòng sẽ thanh thản hơn ở cõi đời này và sẽ thấy cửa thiên đàng thênh thang rộng mở.

Sơn Nghị

LÃNH TỤ

sonnghi

Thời loạn ly thường sinh những anh hùng. Họ xuất hiện giữa đám đông, làm những việc không ai dám làm hoặc không có khả năng làm. May mắn cho một dân tộc khi có những anh hùng như thế vươn lên đứng sừng sững giữa thời đại nhiễu nhương. Và thật bất hạnh nếu không có họ, vì dân tộc đó sẽ mãi mãi đắm chìm trong nỗi xót xa của một kiếp người.

Cuộc sống hàng ngày cũng sản sinh nhiều anh hùng. Có người xông vào đám cháy để cứu một em bé bị kẹt bên trong. Có kẻ bênh đỡ những người thế cô bị chèn ép, ức hiếp. Họ hành động và bất chấp hiểm nguy cho chính mạng sống mình. Anh hùng thời nào cũng thế, họ xem cái chết nhẹ tựa lông hồng. Anh hùng xuất hiện ở một thời điểm nhất định, giải quyết xong một mâu thuẫn, rồi lặng lẽ biến trôi theo dòng đời. Hành động anh hùng vẫn được mọi người nhắc nhở nhưng anh hùng thì không màng được gọi tên. Người đời ngưỡng mộ gọi họ là anh hùng vì chứ bản thân họ không hề nghĩ đến việc được phong vương nhận tước hoặc lời khen tặng. Chính tình trạng xã hội hoặc tình huống dầu sôi lửa bỏng xảy ra vào một thời điểm nhất định đã thúc đẩy họ phải làm một cái gì để thay đổi, đem lại một cái gì mới hơn, tốt hơn. Đây chính là ý nghĩa cao cả nhất của nghĩa cử anh hùng.

Thời Bắc thuộc lần thứ nhất (111 trước TCGS – 39 sau TCGS), quan thái thú Tô Định nổi tiếng tàn ác, khiến lòng dân uất ức oán hận. Nhân vì thù chồng, Trưng Trắc và Trưng Nhị nổi dậy cầm quân đánh đuổi Tô Định quyết dành lại độc lập cho nước nhà thoát ách đô hộ của phương Bắc. Hai bà là vị nữ lưu anh hùng đầu tiên của nước Việt. Sau này vì thua quân Mã Viện nên hai bà đành phải nhảy xuống sông Hát giang trầm mình tự tận.

Khi làm xong những việc phi thường, người anh hùng âm thầm quay trở lại nếp sống bình thường nếu có cơ may còn sống sót. Nếu không, sẽ có những ngậm ngùi thương tiếc quyện với khói hương và những khuôn mặt nhạt nhoè nước mắt ẩn khuất sau tấm vải sô màu tang trắng.

Có ai xuôi vạn lý,
Nhắn đôi câu giúp nàng,
Lấy cây hương thật quý,
Thắp lên thương tiếc chàng…

Lê Thương (Hòn Vọng Phu)

Anh hùng đích thực chỉ có thế! Họ xuất hiện để kéo đám mây đen, trả lại cho nhân gian một ngày rực sáng. Hình ảnh dũng cảm của chàng trai áo vải Lam sơn xông phá vòng vây ở rừng Chí linh đánh dấu mười năm gian khổ, để bẻ gãy xiềng xích nô lệ của giặc Minh vẫn còn ghi đậm nét trong sử sách. Anh hùng luôn có những hành động anh hùng. Lê Lai chấp nhận hy sinh để cuộc khởi nghĩa còn có vị minh chủ chỉ huy, giữ lấy chính nghĩa. Cái chết của Lê Lai thật đơn giản; mặc áo ngự bào giả làm Lê Lợi để quân nhà Minh vây giết nhưng để lại một triều đại nhà Lê kéo dài đến 360 năm, đánh dấu một thời nước nhà độc lập. Quyết định tự vẫn để chết theo miền Nam của thiếu tướng Nguyễn khoa Nam sau ngày mất nước cũng là một hành động anh hùng. Cái chết của ông luôn nằm trong tâm tưởng những người lính hy sinh một đời ôm súng bảo vệ quê hương.

Thuở xa xưa, nét phác họa của anh hùng là một chàng trai xếp bút nghiên theo việc kiếm cung , sẵn sàng lấy da ngựa bọc thây, với ý chí sắt đá xuống Đông Đông tĩnh lên Đoài Đoài tan. Chàng đứng hiên ngang, trầm mặc dưới bóng chiều tà, tay nắm chặt đốc kiếm, mắt đăm chiêu nhìn về phía chân trời, mong một ngày quê hương độc lập, hưởng thanh bình. Bóng chàng vẽ lên khung trời đỏ ối như dáng hình một phiến đá đen xám. Trông buồn như thật bi tráng. Thời đại tân tiến này, ở thế kỷ 20 vừa qua và vẫn còn tiếp diễn sang thiên niên kỷ mới, lại có những lãnh tụ tự hào xưng tên nhập nhằng với hai chữ anh hùng.

Thật ra, lãnh tụ là một danh xưng thơm. Lãnh tụ là người đứng ra lãnh đạo một nhóm người, có thể vài người, có thể hàng trăm nghìn người để thực hiện một mục tiêu nào đó. Như Martin Luther King, Jr., vị mục sư da đen dùng phương pháp bất bạo động để tranh đấu quyền bình đẳng cho người da đen. Ngày 28/8/1963, hơn 250 nghìn người tụ họp tại thủ đô Washington, D.C., cùng nhau đi bộ đến điện Capitol để ủng hộ đạo luật bình đẳng (Civil Rights Act). Mục sư King bước đi lẫn trong đoàn người đông đảo, cùng nắm tay nhau, hát vang trên đường phố. Ngày hôm đó, ông bắt đầu bài diễn văn hùng hồn bằng câu: tôi có một giấc mơ. Giấc mơ bình dị của ông là muốn được mọi người bình đẳng, sống an bình trong một quốc gia phồn thịnh.

Không lãnh tụ nào mà không có ước mơ. Họ mơ ước nước nhà độc lập, có tự do và người dân hạnh phúc. Đó là giấc mơ lớn. Nhưng đôi khi lãnh tụ bắt đầu bằng một ước mơ thật bình thường… cho riêng mình. Năm 1911, chàng trai Nguyễn tất Thành xuống tàu Admiral Latouche-Tréville đi Tây để tìm kiếm tương lai. Vốn liếng tiếng Tây của chàng được dăm ba chữ, thế mà cũng cầy cục xin được chân làm việc dưới tàu để bôn ba sang Tây miễn phí. Tài xoay xở, khôn lanh của Nguyễn tất Thành đã lộ ra ngay từ khi mới 19 tuổi (nếu năm sinh 1892 là đúng). Bức thư gửi cho Bộ trưởng Thuộc địa đề ngày 15/9/1911 nói rõ ước mơ của cậu con trai út của cụ Phó bảng Nguyễn sinh Huy. Trong thư cậu nói thẳng là muốn được nhận vào trường thuộc địa để học thành tài phục vụ cho mẫu quốc. Ước mơ của Paul Thành thật đơn giản thế mà lại bị từ chối. Có thể vì lúc đó cậu vô danh tiểu tốt nên không được ai chú ý đến, trừ tên cai trên tàu Tréville nơi cậu giúp việc, hoặc ông Bộ trưởng có chuyện buồn nên chẳng hề đọc hết lá đơn, vung tay phóng bút gạch ngang một cái. Buồn cho cậu Thành lúc đó và khốn khổ cho dân tộc Việt kéo dài cả hơn nửa thế kỷ sau này. Chính vì bị từ chối nên cậu Thành dứt khoát đem hết tâm huyết học hỏi lý thuyết cộng sản, và đem du nhập vào đất nước nông nghiệp lạc hậu Việt nam thời bấy giờ, mở đầu cho những trang sử kinh hoàng triền miên không hề thấy dấu chấm hết.

Thật không ngờ tiền đồ của dân tộc lại tuỳ thuộc vào một lá đơn con con gửi cho ông Bộ trưởng thực dân. Giá hôm đó ông Tây phê ngay cho tiếng “oui” thì đỡ cho hơn 80 triệu người dân biết mấy! Không chừng tiếng “oui” hôm đó lại biến một nước Việt nam thành phú cường, thịnh vượng trong cộng đồng châu Á hôm nay; vì không bị họa cộng sản làm trì hoãn bước tiến của dân tộc. Cái vận mạng của con cháu Lạc Hồng quá xui xẻo nên ông “non, non” luôn miệng rồi xếp xó lá đơn.

Trở lại cuộc tranh đấu bình quyền của vị mục sư da đen Martin Luther King, Jr.. Khởi đầu từ cuộc đấu tranh bất bạo động, các sắc dân da màu gọi ông là lãnh tụ, và sau khi ông bị ám sát chết, người da đen gọi ông là anh hùng. Như thế có những anh hùng xứng đáng làm lãnh tụ, và ngược lại có những lãnh tụ bắt đầu sự nghiệp bằng những hành động anh hùng.

Nhưng cũng không thiếu những tay gian hùng trở thành lãnh tụ. Họ ngoi lên địa vị độc tôn bằng mưu mô quỷ quyệt; bằng máu của bạn bè đồng chí, và bằng nước mắt của rất nhiều người.

Tào Tháo là một tay gian hùng. Nghe ở đất Nhữ Nam có Hứa Thiệu nổi danh là biết người, Tháo đến hỏi vận mệnh tương lai. Thiệu trả lời:

– Thời trị, anh là bề tôi giỏi. Thời loạn, anh là kẻ gian hùng.

Sau này, Tháo tiếm ngôi và trở thành “hoàng đế” nước Nguỵ, mở đầu thế chân vạc chia đều nước Tàu với Lưu Bị của Thục và Tôn Quyền của Ngô. Nguyễn tất Thành sau một thời gian bôn ba, học hỏi và say mê chủ thuyết cộng sản, trở về nước lập phong trào Việt Minh, cùng với các đảng phái khác quyết tâm đánh đuổi thực dân Pháp. Lúc này Nguyễn tất Thành đã cải danh là Hồ chí Minh sau nhiều lần thay đổi tên họ vì lý do an ninh, tránh mật thám Pháp. Có lần đi ngang đền thờ Trần Hưng Đạo (1213-1300), ông Hồ gật gù làm một bài thơ so sánh sự nghiệp đánh đuổi quân Mông cổ của ngài và sự nghiệp chống quân Pháp của ông. Bài thơ mở đầu bằng câu: Bác anh hùng tôi cũng anh hùng…

Mặc dù ông Hồ lúc đó đã trở thành lãnh tụ nhưng không thể so sánh với sự nghiệp quân sự lẫy lừng của viên đại tướng đã từng đánh bại chúa tể miền đồng cỏ Thành Cát Tư Hãn. Trần Hưng Đạo là một vĩ nhân, ông Hồ cũng tự thấy mình xứng đáng là vĩ nhân nên gật gù vỗ vai viên đại tướng họ Trần, cảm khái bằng một bài thơ. Khẩu khí thật cao ngạo và hỗn, quá hỗn. Tôi không dám nghĩ cụ đồ nho Nguyễn sinh Huy quên dạy cho cậu con út thế nào là Lễ trong lẽ cương thường của Nho bản nhưng tôi nghĩ đến lòng tự tôn tự đại đã bốc hào khí của ông Hồ đến tận mây xanh.

Ông Hồ lập lờ quên đi một sự kiện trong lịch sử nhân loại: gian hùng cũng trở thành lãnh tụ. Và ông đã cố tình lạm dụng từ ngữ anh hùng. Danh xưng “anh hùng” phải ở các ngôi vị khác, không thể ở ngôi thứ nhất số ít hoặc số nhiều. Một người có thể nói: “anh là anh hùng” nhưng không thể vỗ ngực tự khoe: “tôi là anh hùng”. Khi vỗ ngực tự xưng tụng, chính người đó đã đánh mất vẻ đẹp truyền thống của “anh hùng” vì đơn giản đó phải là một danh xưng ban tặng chứ không thể là một danh xưng chọn lựa. Và không gì hợm hĩnh cho bằng tự khen chính mình.

Đành rằng làm chính trị phải mưu mô quỷ quyệt, phải lừa đảo, phải gian manh nhưng kiểu làm chính trị của ông Hồ vẫn mang một sắc thái đỏ riêng biệt. Phải nói là đỏ vì nó dính máu của rất nhiều người. Năm 1940, ông bán đứng cụ Phan bội Châu, một nhà cách mạng, cho mật thám Pháp ở Hương cảng để lấy mười nghìn đô-la HK. Cái chết của cụ Huỳnh thúc Kháng (bị máy bay Pháp bỏ bom) cũng là một bí ẩn. Và còn nhiều cái chết của các đồng chí khác đảng phái nhưng cùng một chí hướng đánh đuổi thực dân Pháp dành lại độc lập cho nước nhà.

Phong trào chống Pháp bừng bừng khí thế, nhất quyết đánh đuổi thực dân ra khỏi bờ cõi. Chưa bao giờ toàn dân lại cùng chung một lý tưởng đến thế. Người ta nghĩ đến một Hội nghị Bình than của Trần quốc Toản, một Bình ngô Đại cáo của Nguyễn Trãi, một Hịch tướng sĩ của Hưng đạo Vương. Bên cạnh Việt minh, các đảng phái khác cũng sát cánh chiến đấu bên ông, thế nhưng ông không muốn chia sẻ vinh quang của một nước Việt nam độc lập với một người nào khác. Vai trò lãnh tụ độc tôn của ông cần được đánh bóng cấp bách hơn bao giờ vì vai trò Nhật sắp bị cáo chung ở Á châu khi Đệ nhị Thế chiến chấm dứt. Và đúng như ông mơ ước, ngày tuyên bố độc lập mùng 2-9-1945, chỉ một mình ông đứng ở quảng trường Ba-đình, cất giọng hỏi đồng bào bằng một câu hết sức bình thường: đồng bào nghe tôi rõ không? Tôi không tin ông tình cờ hỏi đồng bào một câu như thế nhưng tôi tin chắc ông đã chuẩn bị kỹ càng từng chữ, từng lời nói, từng hành động… nhất nhất đều nằm trong kế hoạch huyền thoại hóa con người của ông. Vì thế, sau này người ta thấy ông thường cầm khăn tay màu đỏ, và lấy khăn chậm chậm nước mắt vì ông có thể khóc bất cứ lúc nào. Những giọt nước mắt ông rơi rớt trên khuôn mặt gân guốc, khắc khổ đáng lẽ nên khóc thương cho số phận hàng trăm nghìn người chết oan trong cuộc cải cách ruộng đất thì hơn.

Ở chốn đông người, nhất là những lúc quay phim, ông thận trọng về cách ăn mặc – thường một màu chàm giản dị – ngay cả đến đôi dép râu làm bằng vỏ lốp của ông cũng không nằm ngoài kế hoạch bình dị hoá hình ảnh một vị Chủ tịch có nhiều tham vọng, đôi khi cuồng vọng. Vì thế người ta không lạ gì có thật nhiều huyền thoại thêu dệt chung quanh hình ảnh một ông già râu bạc trắng, đôi mắt sáng, trán cao, vươn mình đứng lớn hơn mọi vĩ nhân của nước Việt. Khi một nhân vật có quá nhiều huyền thoại, lẽ tất nhiên mặt trái của “vĩ nhân” rất khó bị lộ tẩy.

Vậy mà mặt trái của ông Hồ vẫn bị lộ tẩy theo thời gian. Và đây là một trong những góc cạnh chân thực nhất của bản chất ông Hồ.

Hãy tưởng tượng đến một ông già ngồi ở căn nhà gọi là Phủ Chủ tịch, khoan thai đốt một điếu thuốc Dunhill, loại thượng hạng của Anh. Ngòi bút của ông phóng xuống mặt giấy, chỉ một loáng là có ngay phần phi lộ của cuốn sách nổi tiếng: “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ chủ tịch” như thế này; nhiều nhà văn, nhà báo Việt nam và ngoại quốc muốn viết tiểu sử của vị chủ tịch nước Việt nam dân chủ cộng hoà, nhưng mãi đến nay, chưa có người nào thành công. Nguyên nhân rất giản đơn, Chủ tịch Hồ chí Minh không muốn nhắc đến thân thế của mình. Ông thở ra một hơi khói, đọc lại hàng chữ, mỉm cười gật gù thỏa mãn. Nhưng rồi trán ông cau lại, tỏ vẻ chưa vừa ý. Ngòi bút phóng vội xuống mặt giấy, ông có ngay một đoạn phi lộ nữa; một người như Hồ Chủ tịch của chúng ta, với đức khiêm tốn nhường ấy và đương lúc bề bộn biết bao nhiêu công việc, làm sao có thể kể cho tôi nghe bình sinh của người được?

Mặc dù ông già viết không muốn nhắc đến thân thế của Hồ chí Minh, nhưng sau đó toàn bộ cuốn sách đều nói đến thân thế sự nghiệp của vị Chủ tịch qua lối phỏng vấn. Ở trang cuối của cuốn sách, ông già ký tên Trần dân Tiên.

Và ông già ngồi viết những dòng chữ “khiêm tốn” đó không ai khác hơn là ông Hồ. Vâng, chính ông. Ông tự thuật nhưng lại ký bút hiệu nên ai cũng nghĩ cái khách quan của anh nhà báo Trần dân Tiên. Ngay khi cuốn sách phát hành năm 1948, và nhiều lần sau này, huyền thoại lại càng có dịp vây bủa quanh hình ảnh ông như một đám mây dày đặc. Các chính khách khi về hưu thường viết hồi ký, chuyện đó hiển nhiên. Viết hồi ký chỉ nói đến cái hay của mình và phớt lờ những khuyết điểm đã vấp, điều đó cũng dễ hiểu nữa vì ít ai có can đảm soi bóng mình trong gương. Nhưng lối viết “khiêm tốn” của ông Hồ quả thật có một không hai, không một nhà lãnh tụ nào trên thế gian này có thể nghĩ đến. Tự cổ chí kim chưa có một ai, từ nay về sau có lẽ cũng không thấy một người.

Cái gian hùng của ông Hồ thật hiếm có, có lẽ Tào Tháo phải chào thua, Hitler cũng phải lắc đầu khâm phục. Và chính vì sợ cái gian hùng của ông mà cha mẹ tôi đành phải bỏ mồ mả tổ tiên di cư vào Nam năm 1954. Thế hệ chúng tôi sinh ra trong khung cảnh cha mẹ bồng bế dắt díu con cái, gạt nước mắt bước lên tàu há mồm ra đi. Chúng tôi lại lớn lên trong một cuộc chiến Nam Bắc tương tàn, và rồi sau năm 1975 cũng sợ cái gian hùng của đám lãnh tụ đàn em ông nên đành phải tha phương cầu thực ở xứ người, bỏ lại một nước Việt đầy dẫy hình ảnh ông Hồ qua những hình tượng bán thân đắp nổi, bức hoành tráng treo trong đại sảnh, chân dung lồng khung gỗ trong mọi căn nhà, tượng toàn thân dựng sừng sững ở các công viên.

Saddam Hussein rất giống ông Hồ ở điểm này. Hình ảnh của Saddam được dựng lên khắp toàn cõi nước Iraq: đúc đồng, vẽ tranh, khắc gỗ. Stalin – thần tượng của Saddam – cũng không thoát khỏi căn bệnh tự suy tôn. Một bức tượng toàn thân của Stalin dựng bên bờ sông Volga to lớn đến nỗi chỉ mỗi cái mũ nằm ngửa ông cầm trên tay đủ để lọt 3 chiếc xe hơi. Nghệ thuật đánh bóng lãnh tụ trở thành một căn bệnh liệt kháng trong các chế độ độc tài. Nếu Saddam tự xưng là “cha của dân tộc” (father of the nation) thì ông Hồ cũng tự phong cho mình cái tên tương tự: “cha già của dân tộc”. Ông khôn ngoan thêm chữ “già” vào danh xưng cho trang trọng. Một thời người miền Bắc không ai được dùng chữ “bác” để xưng hô trong sinh hoạt hàng ngày, và chữ “bác” trân quý này chỉ được dùng riêng cho ông Hồ, mặc dù lúc đó ông mới 55 tuổi. Kim nhật Thành, một vị “cha già của dân tộc” khác của Bắc Hàn cũng mắc cùng một căn bệnh kinh niên. Ở đường phố Bắc Hàn, người ta chỉ thấy hình ảnh của vị lãnh tụ họ Kim nhan nhản khắp đường phố, in hệt như hình ảnh ông Hồ ở nước Việt nam khốn khổ. Những bài ca suy tôn, có những lời ca tụng chói tai nghe đến xấu hổ vẫn vang vang trong khắp hang cùng ngõ hẻm. Các trẻ em thiếu dinh dưỡng mỗi ngày vẫn tập đi đứng diễu hành trước bức tượng của vị lãnh tụ họ Kim, miệng không ngớt la to những khẩu hiệu chống đế quốc tư bản. Ông Kim không hề đếm xỉa gì đến hàng triệu đồng bào ruột ruột thịt của ông xanh xao, gầy còm, hàng ngày bị cơn đói hành hạ; thậm chí có người phải ăn cỏ rồi chết, trong khi khuôn mặt của vị lãnh tụ vẫn hồng hào, mỡ chảy quyện thành nọng vấn quanh cổ…

Khuôn mặt ông Hồ cũng vậy, phương phi, hồng hào, chỉ khác với lãnh tụ Mao và Kim là không có nọng.

Bác Hồ cùng với bác Tôn,
Hai bác rất thích ôm hôn nhi đồng
Khuôn mặt hai bác thì hồng,
Khuôn mặt các cháu nhi đồng thì xanh
Giữa hai cái mặt bành bành,
Những khăn quàng đỏ bay quanh cổ cò.

(Nguyễn chí Thiện)

Trong cuốn phim K-19: The Widowmaker (tạm dịch: K-19: con tàu tạo goá phụ), kể lại một câu chuyện có thật xảy ra năm 1961, thời kỳ cao điểm của chiến tranh lạnh giữa Hoa kỳ và Nga sô. Đây là loại tàu ngầm mang đầu đạn nguyên tử tuần hành trong vùng biển thuộc khối NATO, một hãnh diện cho nền kỹ thuật nước Nga thời bấy giờ. Trước khi bắt đầu cuộc hải hành, thuyền trưởng Alexei Vostrikov tập họp tất cả các thuỷ thủ lại và dõng dạc nói: without me, you are nothing; and without you, I am nothing. Qua câu nói này, thuyền trưởng Vostrikov đã thấu hiểu được vai trò của lãnh tụ. Nếu không có lãnh tụ, quần chúng chỉ là đám quân ô hợp. Còn nếu không có quần chúng, lãnh tụ chỉ là con số không, vì lẽ đơn giản một mình không thể làm được việc gì. Chính vì thế, khi đạt được mục tiêu, lãnh tụ cần biết ơn quần chúng, không thể ngồi tự mãn, chỉ lo đánh bóng thân thế sự nghiệp lãnh đạo của mình và quên đi công lao của đám quần chúng đã một thời xả thân vì ngai vàng cho lãnh tụ.

Bất cứ đất nước nào có những lãnh tụ đánh bóng… mình thái quá đều lạc hậu, nghèo nàn, bước chân rùa trên con đường dẫn nước nhà đến ấm no, hạnh phúc. Họ sống trong mộng tưởng chính họ là “vĩ nhân” duy nhất của đất nước và mỗi ngày đứng chiêm ngưỡng bóng mình trong gương, họ tự ban những danh hiệu không tưởng, tự phong những tước hiệu hão huyền. Từ đó sinh ra độc tôn và độc tài.

Đất nước Iraq bị họa lãnh tụ độc tôn ngay từ ngày đầu khi Saddam lên nắm chính quyền, năm 1979. Saddam xây dựng ngai vàng bằng cách khủng bố, ám sát theo đúng chính sách của các lãnh tụ cộng sản. Ngay chính con rể, Saddam cũng không tha. Cái giá đem vợ con đào tẩu là cái chết. Ông dứt khoát bắt đứa con gái phải chịu cảnh goá bụa, và không hiểu khi đứa cháu ngoại lớn lên nghĩ gì về ông ngoại, người đã nhẫn tâm giết bố mình? Và người ta cũng không lạ gì khi Saddam luôn gối đầu cuốn sách về những bài viết của Stalin, người đã đày ít nhất 7 triệu người Nga vào các gulags trong vùng sa mạc tuyết Siberia mênh mông, ở đó nhiệt độ luôn luôn dưới không độ. Vì thế hiếm thấy ai trở về từ vùng đất hoang vu lạnh lẽo chết người đó.

Lãnh tụ cần phải có trái tim bằng sắt. Nước mắt thật hiếm hoi rơi rớt trên những khuôn mặt lạnh lùng, không hề biết thương xót. Ở nước Việt nam hiện nay lại có những ông trời con với khuôn mặt lạnh lùng, không hề biết thương xót; không ai khác hơn là con của những lãnh tụ, một thời là đàn em ông Hồ. Những “thái tử” này vừa giàu có, vừa có uy quyền tuyệt đối, tiêu tiền không hề chép miệng. Một người bạn của tôi quê ở Long-an vừa về thăm nhà cho biết, công ruộng một ngày đáng giá 30 nghìn, nghĩa là được hơn một đô-la. Nói rõ thêm định nghĩa của một ngày công ruộng là phải làm từ sáng đến chiều, dầm sương dãi nắng, chân lấm tay bùn, mồ hôi ướt đẫm. Trong khi các cậu ấm chỉ một đêm thôi, ngồi vung tiền ở các hộp đêm cho các em gái nhảy có thể lên đến cả nghìn đô-la; vì chỉ riêng chai rượu SOP cậu vừa uống vừa đổ đã ngốn mất 250 đô, bằng sức lao động gần cả năm của một người. Những “thái tử” này có thể mua tặng cho bạn gái một chiếc máy điện thoại di động cỡ 20 nghìn đô, chỉ với mục đích phô trương khả năng xài tiền. Còn tầng lớp cha ông của những tay “thái tử” ăn chơi trác táng này hơn hẳn con cháu bằng những lần đánh cá trận bóng đá lên đến mấy triệu đô. Chức vụ của người này chỉ ở cấp cao nhưng chưa nắm trọn quyền hành như một lãnh tụ thực sự. Thế mà đã biển lận và công khai đánh bạc lên đến triệu đô như thế. Từ đó suy ra một lãnh tụ ở nước VN nghèo khổ hiện nay có thể làm bất cứ việc gì mà họ muốn. Cái đám lãnh tụ (12 người) nằm ở Bộ Chính Trị có thể thu vén của công đem về cho mình bất cứ lúc nào, bao nhiêu cũng được, miễn là đừng gây mâu thuẫn giữa các lãnh tụ với nhau. Tôi có cảm giác như 12 con kên kên xúm lại rỉa thịt một xác chết. Đau khổ hơn, đây chưa hẳn là một xác chết mà là một nước VN đang còn thoi thóp thở. Thế mà các lãnh tụ vẫn nhẫn tâm rỉa Mẹ VN cho đến tận xương tủy. Đây là sự thật đau xót xảy ra mỗi ngày ở Việt nam. Chưa bao giờ trong lịch sử nước Việt cái khoảng cách giữa các lãnh tụ và con dân lại cách biệt đến thế. Nó còn biểu hiện cái khoảng cách của tình người, của lương tâm và tri thức.

Lại thêm số tiền mà những “khúc ruột ngàn dậm” gửi về hàng năm lên đến cả tỷ bạc. Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước VN và Đài Á châu Tự do, năm 2008 Việt kiều đã gửi về khoảng 8 tỷ, tăng 1.3 tỷ so với năm 2007 (6.7 tỷ). Đây là số tiền chính quyền kiểm soát được, còn nếu kể những đồng bạc xanh gói kỹ dấu trong ruột tượng, hoặc gửi lén lút thì số tiền đổ về nước phải gấp rưỡi mới đúng. Làm một con toán nhỏ, cứ tính khoảng 70%-80% tổng số tiền lọt vào tay các lãnh tụ thì con số đã gần 8-9 tỷ. Thảo nào các công tử Bạc liêu tân thời cứ việc vung tiền tiêu pha cho thoả thích.

Để biết thêm gia tài các lãnh tụ hiện nay ra sao, xin trích dẫn một nguồn tin đã được tiết lộ vào năm 2005 từ một quan chức cao cấp Bộ Công an cho biết số tiền khổng lồ mà các quan chức cao cấp VN gửi tại ngân hàng Thụy sĩ. (đây là những chức vụ vào thời điểm 2005)

Cựu Chủ tịch nước Lê Đức Anh hơn 2 tỉ USD cộng 7 tấn vàng;
Cựu Tổng Bí thư Đỗ Mười 2 tỉ USD;
Đương kim Bộ trưởng Quốc Phòng Phạm văn Trà 2 tỉ USD cộng 3 tấn vàng;
Cựu Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu 500 triệu USD;
Đương kim Chủ tịch nước Trần Đức Lương 2 tỉ USD;
Đương kim Thủ tướng Phan văn Khải hơn 2 tỉ USD;
Đương kim Phó Thủ tướng thường trực Nguyễn tấn Dũng hơn 1 tỉ USD;
Đương kim Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh 1,3 tỉ USD;
Đương kim chủ tịch Quốc hội Nguyễn văn An hơn 1 tỉ USD;
Cựu phó ủy ban thể dục thể thao Quốc gia Lương quốc Đống 500 triệu USD;
Cựu Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn mạnh Cầm hơn 1 tỉ USD;
Cựu Thứ trưởng thường trực Bộ Thương mại Mai văn Dậu hơn 1 tỉ USD.

Đây là con số ước tính vào năm 2005, đến 2015 thì những tài sản này phải tăng lên nhiều lần vì tiền của người Việt đổ về trong nước chỉ tăng chứ không hề giảm. Hơn 10 năm trước, ông John Shapiro, một cựu chiến binh Hoa kỳ sau 3 tuần lễ thăm VN để tính chuyện làm ăn buôn bán, phát biểu rằng các ông lớn trong đảng gồm các thành viên bộ chính trị, các bộ trưởng và thứ trưởng, ít nhất mỗi người có vợ hay con làm chủ một công ty. Theo ông Shapiro, do việc chính phủ cho phép các công ty được chuyển ngân ra nước ngoài lên đến 500000 đô la, số ngoại tệ trong nước bắt đầu vơi đi.

“Vẫn theo ông Shapiro, có khoảng 700 đảng viên CSVN có tài sản từ 100 đến 300 triệu đô la. Đây là con số do một nhân vật cao cấp của ngân hàng trung ương cung cấp cho ông. Những đảng viên có tài sản từ 50 đến 100 triệu đô la khoảng 2000 người… Tất cả những con số về tài sản của đảng CSVN là do những chuyên viên thống kê của cơ quan mậu dịch quốc tế. Số tài sản lớn lao trên do thân nhân của đảng viên cao cấp ở nước ngoài làm sở hữu chủ. Ông Shapiro cũng nêu lên nhiều thí dụ điển hình như vợ bé của tổng cục phản gián làm ăn rất lớn ở Âu châu, em ruột của trung tướng VC, tổng cục phó tổng cục phản gián đang kinh doanh rất lớn ở Nam Cali, vợ con của Giám đốc tổng cục kinh tế và thân nhân của Đỗ Mười thủ đắc những tài sản nhiều triệu đô la ở Vancouver, Canada và cả ở New York, Houston.”

Các lãnh tụ lập thành tích thi đua hút máu của dân, miệng đỏ choét nhưng bụng lại xanh lè (đôla xanh). Nhìn quả thì biết cây. Tương lai con cái của họ sẽ thay thế cha làm lãnh tụ, vẫn i tờ không tri thức, cứ hống hách, cửa quyền, tham ô như bố thì thật tội cho nước Việt nam quá, biết bao giờ mới thoát khỏi cảnh diệt vong trí tuệ và nhân phẩm đây.

Hậu quả thảm khốc hiện nay của một nước Việt nam đều bắt nguồn từ việc ông Hồ du nhập cái lý thuyết cộng sản bệnh hoạn không hề suy nghĩ. Ông chỉ nghĩ đến ông, đánh bóng những huyền thoại để ông trở thành một nhân vật như trong chuyện cổ tích. Bởi thế nên mới có bài: đêm qua em mơ gặp bác Hồ. Ở các nước tiên tiến, con nít đi ngủ mơ thấy được quà, hoặc sung sướng hơn mơ gặp được bà tiên có đôi đũa thần như cô bé Lọ Lem thần thoại. Còn những đứa con nít Việt nam, cả tuổi thơ chỉ thấy ông Hồ vì ông hiện diện từ trong nhà cho đến ngoài ngõ, kể cả trong lớp học. Ngay đến giấc ngủ mà ông cũng lững thững bước vào đòi ban phát “mộng lành” cho các em nữa thì quả thật tội cho các cô cậu Lọ Lem ở nước Việt nam quá!

Và điều này giải thích tại sao phần lớn thế hệ sinh sau năm 1975 vẫn nể trọng ông Hồ, mặc dù trong số đó vẫn có người không ưa thích chế độ đương thời. Lý do là với lối giáo dục nhồi sọ trong học đường, cố bưng bít tất cả sự thật nên hình ảnh ông Hồ không lạ gì vẫn chiếm một vị trí đáng kể. Năm 1969, tình cờ tôi thấy hình bìa tờ báo Times của cậu tôi, chụp hình một chị nhà quê tay cầm nón lá khóc nức nở. Chị lả người gần như không đứng vững, nước dãi chảy thành dòng một bên mép. Tôi hình dung được nỗi đau đớn của chị qua những giọt nước mắt lăn trên gò má. Nhìn lên phía trên, tôi thấy dòng chữ: Ho Chi Minh died. Quả thật lúc đó tôi không hiểu ông Hồ chết mà có người khóc thương đến vậy sao? Tôi nghĩ thầm nếu cha tôi có chết ngay bây giờ, có lẽ tôi cũng không khóc lóc sướt mướt đến vậy. Lớn lên một chút tôi chợt hiểu ra cả một guồng máy có hệ thống bóp nặn lên hình ảnh ông Hồ tuyệt vời đến nỗi khi ông chết, cả nước phải để tang, thương khóc. Ông Hồ và đám đàn em ông rất thành công về điểm này. Ôi! Tội cho những giọt nước mắt thật xót xa rơi trên thân xác của một lãnh tụ giả.

Vì thế ông Hồ đi sầm sập vào sinh hoạt của người dân miền Bắc với vóc dáng của một vị lãnh tụ tuyệt luân, một người cha khoan dung, một người ông hiền lành mặc dù cả nước chưa hề thấy ông lấy vợ sinh con đẻ cái. Người ta vẫn tin vào hình ảnh một ông già cả đời hiến thân vì độc lập nước nhà, không màng đến hạnh phúc cho riêng mình (sic!) chứ không ngờ rằng ông vẫn có những đòi hỏi sinh lý như một người bình thường. Những tài liệu khám phá được vào khoảng đầu thập niên 90 đã thổi bay những đám mây huyền thoại của con người ông Hồ, để lộ một ông già thường thở dài nằm trằn trọc mỗi đêm, bứt rứt khó ngủ.

– Ngay từ những ngày đầu bôn ba trên đất Pháp, theo tài liệu ở Pháp, khi trẻ tuổi, làm thợ ảnh, ông Hồ có quan hệ với một cô đầm tên là Marie Bière nào đó…

– Trong cuốn hồi ký của Bùi Tín, một nhà báo VC mang quân hàm đại tá hiện đang sống lưu vong ở Pháp, viết như sau: “theo chị Sophia, có người kể với chị là ông Hồ còn có lúc yêu cả vợ ông Chu Ân Lai là bà Đặng Dĩnh Siêu, khi gặp nhau ở Hoa Nam thời trẻ; ông cũng có lúc có tình cảm mặn nồng với cả chính bà Vera Vasilieva, một phụ nữ Nga. Chị Sophia kể con gái bà Vera Vasilieva nhớ lại rằng anh thanh niên Quốc (tên ông Hồ lúc đó) ăn mặc rất chải chuốt, luôn mang cà vạt màu rất diện, xức cả nước hoa cực thơm… ”

– Thời gian lưu lạc sang Tàu, ông Hồ (lúc này mang tên Lý Thụy) đã chính thức lập gia đình với bà Tăng Tuyết Minh vào tháng 10, 1926. Hoàng Tranh (Huang Zheng) là nhà sử học, viện phó Viện Khoa học Xã hội Quảng Tây, tác giả cuốn “Hồ Chí Minh với Trung Quốc” (xuất bản năm 1990) đã kể rõ sự kiện này. Lúc kết hôn, ông Hồ đã 36 tuổi và Tuyết Minh mới 21 tuổi. Họ tổ chức đám cưới ở nhà hàng Thái bình, cũng là nơi một năm trước Chu Ân Lai mời đông đảo quan khách đến dự tiệc cưới của mình. Vợ chồng ông Hồ chỉ sống với nhau đến tháng 4, 1927 thì phải chia tay, ông Hồ phải rút vào bí mật vì Tưởng giới Thạch thẳng tay đàn áp các đảng viên cộng sản. Do cuộc sống hoạt động chính trị của ông Hồ nên sau đó ông không có cơ hội liên lạc với người vợ Tàu nữa. Bà Tuyết Minh cũng không ngờ đó là lần chia tay vĩnh viễn.

Tôi có người bạn Tàu, làm chung sở hơn 10 năm nay, quê cũng ở Quảng Châu. Nhân bàn về chuyện ông Hồ có vợ, anh ta xác định bà Tuyết Minh ở ngay thành phố nơi anh ta cư ngụ. Và chuyện bà lập gia đình với ông Hồ, cả thành phố ai mà không biết. Tôi nói thêm là chính quyền cộng sản Việt nam phủ nhận sự kiện này và cấm trích dịch và lưu hành cuốn “Hồ Chí Minh với Trung Quốc” của Hoàng Tranh ở trong nước, anh ta chỉ cười cười nói: that’s the truth, man. He’s (Hồ) just an ordinary person, like you and me…

– Khi ở Hương cảng năm 1930, ông Hồ nẩy sinh tình cảm với cô Nguyễn thị Minh Khai, lúc đó cô mới 20 tuổi. Tên thật Minh Khai là Nguyễn thị Vịnh, cũng gốc Nghệ an; một đồng chí, một học trò chính trị của ông Hồ. Năm 1935, lúc đến Moscow dự đại hội đảng cộng sản quốc tế, Minh Khai khai báo đã có chồng tên là Lin (bí danh của ông Hồ lúc đó). Họ đã sống chung ở nhà tập thể trong suốt thời gian đại hội.

– Sau khi ở Tàu một thời gian, ông Hồ về nước cùng với một số cán bộ đã được huấn luyện. Trong số đoàn tuỳ tùng có một người đàn bà tên Đỗ thị Lạc. Về đến hang Pắc Bó, Đỗ Thị Lạc sống chung với ông Hồ một thời gian, lo dạy trẻ em và vận động vệ sinh ăn ở của dân chúng ở Khuổi Nậm, một làng gần đó. Sử gia Trần trọng Kim cho biết Đỗ thị Lạc có một đứa con gái với ông Hồ.

– Theo Vũ thư Hiên, trong cuốn Đêm Giữa Ban Ngày có viết lại lời kể của bố ông là Vũ đình Huỳnh (bí thư của ông Hồ) một chuyện thật thương tâm. Qua câu chuyện, người ta lại càng hiểu rõ thêm bộ mặt thật của lãnh tụ.

Sau ngày chia đôi đất nước, ông Hồ trở thành lãnh tụ miền Bắc. Để giữ tình trạng tâm sinh lý bình thường cho ông, ban bảo vệ sức khoẻ của các nhân vật cao cấp tuyển một cô gái sắc tộc Nùng, tên Nông thị Xuân quê ở Cao bằng về Hà nội để chăm lo sức khoẻ của ông Hồ. Năm 1955, cô Xuân cùng với người cô em ruột tên Vàng về cư trú ở ngôi nhà số 66 phố Hàng Bông Nhuộm và chính thức ra vào Phủ Chủ tịch (dĩ nhiên vào ban đêm và ra về khi tờ mờ sáng và chỉ bằng xe hơi do Bộ trưởng Bộ Công an Trần quốc Hoàn đích thân đưa đón). Lúc này ông Hồ đã 65 tuổi, cô Xuân 22 tuổi. Ông Hồ rất thích cô Xuân và có một đứa con trai với cô, sinh năm 1956 và đặt tên là Nguyễn tất Trung. Bà Xuân lúc này đòi ăn ở công khai vì đã có con, (giấy khai sinh của con phải có tên cha chứ!) nhưng ông Hồ không chịu viện lẽ phải tuỳ thuộc đảng nữa… Thế rồi một buổi sáng mùa xuân năm 1957, người ta thấy xác của một người đàn bà bị xe hơi đụng chết ở Cổ Ngư. Người đàn bà đó là bà Xuân. Theo hồ sơ khám nghiệm tử thi của bác sĩ tại bệnh viện Hà nội thì bà Xuân chết vì nứt sọ; có thể bị búa đánh vào đầu. Ông Huỳnh (bố ông Hiên) còn xác nhận là tên bộ truởng Bộ Công an Trần quốc Hoàn đã hãm hiếp dày vò bà Xuân chán chê rồi mới quăng xác ra ở Cổ Ngư dàn cảnh tai nạn xe hơi. Cô Vàng chứng kiến cảnh chị mình bị hãm hiếp rồi bị đem đi giết nên khoảng 9 tháng sau cũng bị giết chết tại Cao bằng để bịt mệng. Bé Trung về sau được Vũ Kỳ, thư ký của ông Hồ, đem về nuôi và đổi thành Vũ Trung.

Tôi bâng khuâng tự hỏi, ngay đến con ruột mà ông Hồ không hề rơi một giọt nước mắt, lại giao cho người khác nuôi. Thằng bé mới sinh chưa được 2 tháng thì mồ côi mẹ, mà cái chết của mẹ nó không hiểu có bàn tay của bố nó dính vào không? Giọt máu của chính mình, ông cũng không màng, trước sau vẫn chỉ lo đến uy tín của ông, uy tín của đảng. Rõ ràng ông chẳng thương yêu gì bé Trung. Chính con ruột của mình mà không hề yêu thương, thì nói gì đến con người khác. Qua sự kiện này, chưa bao giờ tôi lại ghê tởm những bài hát ca tụng lòng yêu thương của ông Hồ đối với các em nhi đồng đến thế!

– Trước vụ cô Xuân, ban lãnh đạo đảng Cộng sản Hà nội đề cử cô Nguyễn Thị Phương Mai, tỉnh ủy viên tỉnh ủy Thanh Hóa, sống chung với ông Hồ. Khi gặp ông Hồ, cô Phương Mai đồng ý lấy ông nhưng với điều kiện là phải làm lễ cưới đàng hoàng. Chuyện bất thành vì đảng Cộng sản muốn huyền thoại hóa hình ảnh ông Hồ như một nhân vật hy sinh trọn đời cho sự nghiệp cách mạng. Rất may cho cô Mai, chứ nếu ăn ở trước rồi mới xin công khai hóa thì chắc chắn chốn thâm cung sẽ có thêm một xác người đàn bà nữa. Không bằng lòng cưới hỏi danh chính ngôn thuận nên cô bỏ. Sau này, cô Mai du học ở Nga và về nước làm đến chức thứ trưởng bộ Thương binh.

Như thế cuộc đời tình cảm của ông Hồ khá long đong; có tình lớn, tình nhỏ, tình si, tình lỡ, tình hờ, tình chết. Ông Hồ sẵn sàng giải quyết sinh lý ở cửa sau, nhưng không hề muốn đón nhận một người đàn bà nào bằng cửa trước. Đàn bà vẫn là một món đồ chơi để ông thoả mãn những cơn thèm khát nhất thời như những hôn quân trong thời phong kiến.

Đàn bà là một trong những bí mật của các lãnh tụ, nhất là lãnh tụ độc tài. Nổi bật nhất trong các lãnh tụ đỏ trên thế giới là đời sống tình dục của Mao. Theo lời bác sĩ Li, người chăm sóc sức khoẻ cho Mao trong suốt 22 năm, từ 1954-1976, viết trong cuốn: The Private Life of Chairman Mao tiết lộ rằng Mao hàng đêm lên giường với nhiều cô gái trẻ, có thể 2, 3, đến 5 cô cùng một lúc. Mỗi lần đi công tác ở các địa phương bằng xe lửa, Mao dành riêng một toa xe để giải trí tình dục. Đến một nơi công tác, các nhân vật cao cấp địa phương đều dâng hiến cho Mao những cô gái trẻ đẹp để cung phụng. Mao có thể cả tuần không tắm, biếng đánh răng thích nằm dài trên giường để làm tình liên tiếp nhiều ngày. (sđd, tr. 356-364)

Bác Mao cân một tạ hai,
Thịt đùn lên mặt những hai ba cằm
Bà con Trung quốc thì thầm,
Nó là Đổng Trác nhưng dâm hơn nhiều.

(Nguyễn chí Thiện)

Điểm tốt trong đời sống tình dục của ông Hồ là không mang tính chất hoang dâm thác loạn như Mao nhưng lại khẳng định rõ ràng một điểm là ông Hồ cũng có những ham muốn đòi hỏi tình dục bình thường như mọi người vậy. Điều này hoàn toàn trái ngược với hình ảnh thần thánh của ông Hồ mà đảng Cộng sản đã dày công tô vẽ. Thật ra, có một đời sống tình dục như thế là điều bình thường, không có gì sai trái cả nếu không nói là hợp lẽ tự nhiên. Trừ những vị tu hành dâng hiến đời sống mình vào những mục đích cao thượng hơn, còn hầu hết chúng ta đều có một nếp sống gia đình trong khuôn khổ của xã hội.

Ông Hồ trong lúc sinh tiền hãnh diện về con người siêu phàm của mình bằng những cuốn sách tự viết, qua bài vở và những lời lẽ ca tụng thật chướng tai của đám đàn em sẵn sàng lạm dụng chữ nghĩa để suy tôn lãnh tụ. Có thể ban đầu ông không nghĩ mình là siêu nhân nhưng khi đám lãnh tụ đàn em thúc dục cả nước hồ hởi tung hô thì một lúc nào đó ông Hồ cũng ngồi rung đùi nghĩ mình là siêu nhân thật. Nghe mãi đâm quen thành nghiện, nên ông hoàn toàn đắm chìm trong hào quang được vẽ vời một cách vụng về vô liêm sỉ của tầng lớp văn nghệ sĩ nô bộc và bằng lòng với hình ảnh siêu thực đó. Nền điện ảnh Hollywood đã đẻ ra một nhân vật “Superman” trên màn bạc trong khi ở Việt nam đảng Cộng sản đương thời lại đẻ ra một hình ảnh siêu phàm là ông Hồ, và vẫn hì hục đánh bóng hình ảnh một ông già sống mãi trong lòng dân tộc. Nếu Superman của Hollywood vẫn còn ăn khách thì hiện nay hình ảnh ông Hồ đã mất lớp sơn mỹ lệ bên ngoài, và để lộ nguyên hình một con người có đầy đủ hỉ nộ ái ưu ai ố dục, như mọi người bình thường khác trên cõi đời ô trọc này.

Ngày 24 tháng 2 năm 1956, trong Đại hội đảng Cộng sản Nga lần thứ 20, Khrushev đọc bài diễn văn trước một số đồng chí được tuyển chọn. Bài diễn văn nẩy lửa mang tên secret speech (diễn văn bí mật). Qua bài này, Khrushev đã lên tiếng tố cáo Stalin, một kẻ độc tài, ngu dốt, tàn ác đã giết hại hàng triệu đồng chí và đưa Liên bang Sô viết đến chỗ lụn bại. Khi những lời tố cáo của Khrushev vang rền trong đại sảnh thì câu thơ “thương cha thương một thương ông (Stalin) thương mười” của Tố Hữu lại trở nên trơ trẽn và sống sượng hơn bao giờ. Cuối cùng, Khrushev cũng trả lại bản chất tầm thường cho con người Stalin.

Và mới đây, ngày 7 tháng 5 năm 2010, hai ngày trước lễ kỷ niệm 65 năm chiến thắng Đức quốc xã cùng với đại diện của quân đội Đồng minh đổ về Điện Cẩm-linh, Tổng thống Nga, ông Dmitri Medvedev lên tiếng chỉ trích mạnh mẽ tên đồ tể Josef Stalin. Ông nói, “Cho dù Stalin có làm việc cật lực và tạo được những thành công cho nước Nga, nhưng việc ông ta đã giết hại biết bao nhiêu thường dân là một điều không thể tha thứ được. Ông ta nói thêm, “Sự chiến thắng chế độ Phát-xít là do hy sinh công sức của nhân dân Nga, không phải của Stalin… chế độ xây dựng lên Liên bang Sô-viết là một chế độ toàn trị, trong đó mọi quyền căn bản của con người và tự do đều bị đàn áp.”

Một ngày nào đó, sẽ có một Khrushev hoặc một Medvedev Việt nam mạnh dạn đứng lên nói rõ những công, những tội của ông Hồ và lịch sử sẽ trả lại bản chất đích thực cho ông. Nói cho cùng, cuộc đời của ông có cái hơn người, có cái kém người; và tựu chung ông cũng là một người bình thường như chúng ta. Và việc đầu tiên để phục hồi bản chất đích thực cho ông Hồ là nên trả lại tên Sàigòn cho Hòn ngọc Viễn đông, một danh hiệu đã đi vào lòng người và lịch sử thế giới. Ngày 10/11/1961, thành phố Stalin được hồi phục tên cũ Volgograd (thành phố bên bờ sông Volga). Năm 1991, thành phố Lênin cũng được mang lại tên cũ St. Petersburg. Chỉ còn một thành phố duy nhất trên thế giới mang tên ông Hồ, nằm chơ vơ, lạc lõng giữa những quốc gia tân tiến chung quanh.

Qua tìm tòi và hiểu biết được mặt trái cuộc đời của những lãnh tụ, chưa bao giờ thế hệ chúng tôi lại chán chường hình ảnh của lãnh tụ đến thế. Nó vẽ lên một khuôn mặt sắt máu, háo thắng, tự kiêu, độc ác, có đầy đủ tham sân si, và nhiều cuồng vọng.

Hãy chấp nhận giới hạn của một con người, cho dù là vĩ nhân. Và xin đừng bao giờ lạm dụng hai chữ “lãnh tụ” để lừa bịp chúng tôi nữa.

Xin thành thật cảm ơn.

SƠN NGHỊ

Tài liệu tham khảo

1. Unmasking Ho chi Minh, Huy Phong & Yến Anh, 1989

2. Mặt Thật (The True Face), Bùi Tín, Turpin Press, Paris 1994

3. Stories about President Ho’s Life, Bùi Tín, Văn-Học, Hà-Nội Publisher, 1969

4. Sự Tàn Lụi của Phong Trào Cọng Sản Việt Nam và Những Di Lụy (The Disintegration of the Vietnamese Communist Movement and Its Consequences), Như Phong (Lê Văn Tiến), Thời Sự magazine February, March,.April, 1995

5. Thế Kỷ 21 Monthly Magazine, Nguyễn Minh Cần

6. Đêm Giữa Ban Ngày, Vũ Thư Hiên, Văn Nghệ 1997

7. Chân Dung Bác Hồ, Kiều Phong, Bất Khuất, 1989

8. Viet Cong Strategy of Terror, Douglas Pike

9. Hoa Xuyên Tuyết, Bùi Tín, Turpin Press, Paris 1994

10. The Private Life of Chairman, Dr. Li Zhisui, Random House NY, 1994

11. http://www.rfavietnam.com/node/30

12. http://www.toquoc.gov.vn/Thongtin/Doi-Thoai/Tet-Ky-Suu-Viet-Kieu-Ve-Nuoc-Giam.html

13. http://www.nytimes.com/2010/05/08/world/europe/08russia.html

VIỆT NAM, ĐẤT NƯỚC ẢO DIỆU

sonnghi

Mới đây báo ThanhniênOnline đăng một bài viết của Hoàng Xuân nêu rõ tình trạng hỗn loạn về kinh tế, giáo dục… trong xã hội VN hiện nay. Bài viết như sau:

http://www.thanhnien.com.vn/toi-viet/viet-nam-dat-nuoc-ao-dieu-that-khong-the-tin-duoc-572608.html

“Tôi nghĩ các nhà tuyển trạch nên dẹp hết cơ sở đào tạo trên thế giới đi vì họ sẽ xấu hổ khi nhìn vào bảng điểm của học sinh Việt Nam.”

Cudơmich thân mến,
Chắc anh lấy làm lạ vì tôi hẹn đi Việt Nam 3 tháng mà đã 3 lần 3 tháng rồi tôi vẫn còn ở đây. Không thể tin được Cudơmich ạ, đất nước này ảo diệu vô cùng. Tôi sẽ không về nữa, không những thế tôi còn muốn anh sang đây với tôi. Anh phải tự mình trải nghiệm những điều này mới thấy cuộc sống nơi đây thật tuyệt vời, Cudơmich.
Ở đây anh sẽ không có lấy một phút để buồn. Người ta làm xiếc khắp nơi, tất cả mọi người, xe buýt và xe tải, xe container và tàu lửa đều có thể làm xiếc ngay trên phố, thậm chí ngay trên thành cầu và lề đường. Cuộc sống vui nhộn hết sức.
Trẻ em thì toàn là thần đồng. Tôi nghĩ các nhà tuyển trạch nên dẹp hết cơ sở đào tạo trên thế giới đi vì họ sẽ xấu hổ khi nhìn vào bảng điểm của học sinh Việt Nam. Chỉ toàn giỏi và xuất sắc, mà Bộ Giáo dục đang phải nghĩ thêm danh hiệu nào hơn cả xuất sắc nữa, nếu không thì phụ huynh sẽ phật lòng. Đứa trẻ nào xếp loại khá thì chính là nỗi nhục nhã của toàn gia đình và dòng tộc. Nhưng muốn xếp loại khá cũng không phải dễ, vì anh biết không Cudơmich, anh sẽ không tìm ra xứ sở nào trẻ em hiếu học như ở đây. Chúng vừa ngồi bô vừa học, vừa ngủ gật vừa học, thậm chí vừa tắm vừa học.
Để có được một xã hội không thể tin nổi như thế, nhiều quan chức ở đây cần cù tuyệt vời, ngoài giờ làm bàn giấy ra họ lại siêng năng lao động đến thối cả móng tay. Siêng năng cần mẫn nên chỉ trong vài ba năm họ có tài sản trăm tỉ, ngàn tỉ, nhưng với đức khiêm tốn có thể gây xúc động lớn lao cho toàn thế giới, họ chỉ ở trong ngôi nhà đi thuê của nhà nước, còn tất cả tài sản khác đều giao họ hàng giữ hộ. Với con cái, họ cũng vô cùng nghiêm khắc. Họ không cho con cái làm việc ở các doanh nghiệp bóc lột mà bắt phải gia nhập vào hàng ngũ đầy tớ nhân dân hết, tuyệt đối trung thành với sự nghiệp phục vụ nhân dân.
Trong đất nước này, người dân quan tâm đến nhau đến độ sẽ làm anh khóc nức nở, Cudơmich ạ. Vào buổi tối, nếu anh đi một mình trên phố, sẽ có các cô gái xinh đẹp mặc váy ngắn tươi cười hỏi han xem anh có muốn cô ấy giúp anh vui lên không. Nếu anh từ chối, sẽ có các trung niên thể lực mạnh mẽ tiến lại thuyết phục anh, nếu anh vẫn không nhận tấm lòng này, các anh ấy sẽ cảm thấy bản thân bị xúc phạm và tổn thương dữ dội. Cudơmich, anh có thấy nơi nào người yêu người sống để yêu nhau như nơi này không?
Nền khoa học ở đây thì khỏi phải nói. Nó đã bỏ xa toàn bộ nhân loại, phát triển đến mức kinh người: không cần treo trên cây lâu ngày, rau và trái cây vặt xuống chỉ cần nhúng vào một xô nước trong trong, lập tức căng bóng chín mọng. Quả là thiên đường hạ giới.
Sự gần gũi với thiên nhiên cũng thật tột độ. Ngay một đứa trẻ cũng ý thức được trách nhiệm của bản thân nó với thiên nhiên. Chỉ cần nhìn thấy một cái cây ven đường, lập tức các thanh niên, trung niên đến lão niên chạy xô đến nó để tưới tắm trực tiếp bằng nguồn urê tự sản xuất. Họ nhiệt tình và hăng hái đến mức khi cảm thấy nguồn urê trong người sắp cạn liền lập tức bỏ tiền mua một thứ nguyên liệu lỏng đóng chai có màu vàng, mùi vị ngai ngái và nổi nhiều bọt để uống vào, nhằm trợ lực sản xuất thật nhiều urê dùng tưới cây.
Với nhiều người, hầu như toàn bộ tiền kiếm được đều dùng để làm công việc này, họ làm tự nguyện bất kể giờ giấc. Có những gia đình thậm chí xô xát nhau vì người vợ muốn dùng một phần tiền để mua sữa cho con, còn người chồng lại muốn mua nguyên liệu tái chế urê. Có những người chồng chối từ vợ con để dành cả cuộc đời phụng sự sự nghiệp tưới cây. Trụ sở các hội tưới cây mọc lên khắp mọi nơi, miền núi, thôn quê, thành thị, không nơi nào không có, đông vui nhộn nhịp suốt 24/24 giờ. Có rất nhiều cô gái xinh đẹp tự nguyện đến đó để giải trí, giúp vui, nâng cao tinh thần cho cánh đàn ông. Tình người thật là bao la, Cudơmich ạ. Tôi vui sướng báo anh tin mừng này, tôi cũng đã trở thành một thành viên hết sức tích cực của hội, bây giờ toàn bộ niềm vui và ý nghĩa cuộc đời tôi gắn liền với những cái cây rồi, Cudơmich.
Anh còn chần chừ gì nữa mà không mua vé đến đây ngay ,hỡi Cudơmich? Tôi ngồi thâu đêm ở trụ sở hội tưới cây đợi anh.
Bạn yêu dấu của anh
Hoàng Xuân

Cudơmich là ai mà được hân hạnh mời đến thăm VN? Tôi nhớ đến một cái tên khá quen thuộc: Nicolae Ceausescu, Tổng Bí thư Romania, người duy nhất bị hành quyết khi chủ nghĩa cs sụp đổ. Tên Cudơmich có thể viết thành Ceausemich. Nhưng cái tên không quan trọng. Điểm chính của bài viết hàm ý mỉa mai mà người đọc không cần tinh ý vẫn nhận ra.

Mấy năm trước, một bài viết khác so sánh nước Tàu & Mỹ, tác giả vô danh tung lên mạng Sina Weibo và được phản ảnh hơn 5000 comments. Tác giả cho rằng nước Mỹ thật lạc hậu trên mọi phương diện so với Tàu. Nào là nền kỹ nghệ phôi thai, không thấy những ống khói khổng lồ như ở nước ta (Tàu); nào là đường sá chẳng thu lệ phí gì; nào là nhà cửa xây mỏng manh, chẳng thấy bê-tông cốt sắt đâu, chỉ toàn gỗ với gỗ. Bài viết nêu lên 17 điểm nghịch lý so với Tàu. Cuối bài, tác giả kết luận đừng sang Mỹ sống làm gì, vì nước Mỹ là một đất nước bán khai, không một chút văn minh nào. Bài viết được David Webtime dịch và đăng trên tờ Tea Leaf Nation.

http://www.tealeafnation.com/2012/09/translation-chinese-writer-sarcastically-calls-americans-foolish-for-being-honest-generous/

Nội dung hai bài viết giống nhau ở điểm châm biếm, chế nhạo. Bài viết của Hoàng Xuân nêu rõ hệ lụy kinh tế đã gây ra những cảnh ngược đời như giới trẻ học bù đầu bù cổ (thầy cô trả không đủ sống), quan chức cần cù (tiền), nghề mại dâm (kiếm sống), tẩm thuốc, tiêm thuốc cho trái cây chín (cũng lợi nhuận), tiểu đường (văn minh nhưng thật ra hệ thống vệ sinh công cọng là công ích thuộc trách nhiệm của nhà nước)…v..v.

Năm 2012, Daron Acemoglu (GS Kinh tế tại MIT), và James A. Robinson (nhà khoa học chính trị và kinh tế kiêm GS tại Harvard) xuất bản cuốn Why Nations Fail, gây tiếng vang khá lớn trong cách nhà khoa bảng (ứng viên Nobel) về kinh tế. Trong tập sách dày hơn 400 trang, hai ông dành chương 2 để bẻ gãy những lập luận trước đây xác định tình trạng kinh tế của các nước. Mở đầu là câu, “Đối với những nước nghèo, họ nghèo không phải vì hoàn cảnh địa lý hay vì nền văn hóa, hoặc vì những nhà lãnh đạo không biết dùng chính sách nào để làm cho dân giàu nước mạnh.”

Về địa dư, Acemoglu và Robinson bác bỏ lập luận của Montesquieu khi ông ta cho rằng những nước ở miền nhiệt đới vì khí hậu quá nóng nên làm việc mau mệt và từ đó sinh lười biếng. Mà lười biếng thì sinh ra nghèo. Hoàn cảnh địa lý làm những nước này mãi mãi nghèo. Theo Montesquieu, các nước hàn đới thì khá nhất, tiếp theo là ôn đới, và sau cùng là các xứ nhiệt đới về mức độ thịnh vượng, giàu có. Montesquieu không sống lâu để thấy các nước Singapore, Malaysia, Botswana phát triển mạnh vào hậu bán thế kỷ 20 và cho đến tận bây giờ, mặc dù đó là những nước nằm gần đường xích đạo.

Về nền văn hóa, hai ông cũng bác bỏ lập luận của nhà xã hội học Đức nổi tiếng, Max Weber, khi ông cho rằng cuộc Cải Cách Tin Lành (Protestant Reformation, 1517-1648) là yếu điểm cho sự thịnh vượng ở Ậu-châu sau này. Như thế sự kiện không chỉ đơn thuần là tôn giáo mà còn liên quan đến niềm tin, giá trị tinh thần, và đạo đức. Có ai dám nói chính nền đạo lý Khổng giúp cho nền kinh tế phát triển hiện nay của Tàu? Còn nền văn hóa Cao ly thì sao? miền Nam giàu mạnh, còn Bắc Hàn thì chết đói. Cả hai cùng thụ hưởng một nền văn hóa đấy thôi. Ngay cả Nogales, một thành phố cách nhau bởi một biên giới, một bên thuộc bang Arizona, bên kia thuộc Mễ. Dân cư hầu như cùng một chủng tộc, lai Tây-ban-nha, hoặc thổ dân. Thế mà hai sự thịnh vượng khác nhau hoàn toàn.

Sau khi bác bỏ những lập luận không còn hợp thời nữa, hai ông dành chương 13 để kết luận cho cuộc khảo cứu ròng rã trên 10 năm. Mở đầu chương này bằng một chữ nhưng được lập lại 3 lần, “Institutions, institutions, institutions”, “Thể chế, thể chế, thể chế xã hội”. Theo tác giả, chính thể chế xã hội đã gây ra thất bại về kinh tế, (Nations fail economically because of extractive institutions).

Acemoglu và Robinson chia thể chế chính trị trong những nước này làm 2 nhóm khác nhau: nhóm “extractive” thường gọi là nhóm elite rất nhỏ, và nhóm “inclusive” gồm đại đa số công dân (masses, grassroots). Nhóm extractive nên gọi là tập đoàn lãnh đạo, và nhóm inclusive nên gọi là quần chúng. Cần nói thêm là Acemoglu và Robinson dùng extractive chỉ nhóm elite hàm ý bòn rút tài nguyên từ quần chúng (extract resources from people) (khó dịch sát được tĩnh từ extractive).

Những nườc tiêu biểu như Zimbabwe và tập đoàn Mugabe; Sierra Leone và Sir Albert, Siaka Stevens; Somalia và Kediye, Barre; Uzbekistan và dòng họ Karimov… lần lượt gây ra thảm bại về kinh tế cho đất nước họ. Hai ông còn đưa ra những thể chế tại các nước Trung Mỹ, cũng như những nước Đông Âu, thuộc khối Sôviết; ngay cả Nga sô thời cộng sản và cả Tàu.

Phân tích một cách khoa học cọng thêm những con số biết nói hổ trợ cho những lập luận vững chắc khiến độc giả (khá) thú vị trong hơn 400 trang sách. Acemoglu và Robinson còn dành ra chương 5 để nói về sự phát triển kinh tế của Tàu. Theo hai ông, chính extractive institution sẽ làm nền kinh tế Tàu trì trệ, ngưng, và có thể sụp (slowing down, stopping, then perhaps collapsing). Tập đoàn elite sẽ làm thui chột sức sáng tạo của người dân, gây bất bình và mâu thuẫn trong quần chúng. Một khi quần chúng bất mãn, nền kinh tế sẽ dẫn đến ba giai đoạn trên.

Hai bài viết. Hai tiếng chuông. Hy vọng tiếng chuông không vang trong sa mạc nhưng vọng đến những lãnh vực ảnh hưởng trực tiếp đến tương lai của đất nước. Một khi viết ra chứng tỏ đã nhận thức được. Ngày càng có nhiều người nhận thức được lõi cốt của vấn đề thì cơ may sẽ có thay đổi. Sau nhận thức, nên bắt đầu từ não trạng.

Từ đó sẽ thấy một tương lai xán lạn.

SƠN NGHỊ

HOÀI NIỆM

sonnghi

 

Mỗi năm cứ đến ngày 30 tháng 4 lòng tôi không tránh khỏi nỗi ngậm ngùi và nuối tiếc. Sự nuối tiếc về một quá khứ xa xôi nơi mảnh đất tôi đã được sinh ra và lớn khôn. Mảnh quá khứ đó đã hun đúc cho tôi một trí khôn mẫn tiệp, bơm vào dòng máu tôi một nhân bản thuần Việt và đã tạo cho tôi một hình hài khá đầy đủ tài và đức để hãnh diện bước vào đời ở nơi xứ lạ. Lòng tôi ngậm ngùi vì phải sống xa quê hương, như một cây ăn trái bị bứng đi khỏi mảnh đất màu mỡ để trồng vào một mảnh đất khác, tuy cũng màu mỡ, nhưng hoa trái đầu mùa phần nào đã bị biến thái.
Nhìn lại đất nước Việt sau bốn thập niên thống nhất, sự ngậm ngùi càng thêm cay đắng cho một cơ hội đã bị bỏ lỡ để quê hương lớn khôn vững chãi, để những nước chung quanh nể phục tinh thần Việt, con người Việt. Đối với tôi, một người lớn khôn lên ở miền Nam, ngày 30 tháng tư là ngày mất nước. Những người cộng sản xem đó là ngày chiến thắng, và hãnh diện về một trang sử oai hùng vì đã đánh bại hai đế quốc xâm lược. Tuy cái nhìn có khác nhau nhưng lịch sử đã gom hết lại những người Việt với nhau trên mảnh đất hình chữ S với chiều dài từ Ải Nam quan đến mũi Cà mau. Sự thống nhất hai miền Nam Bắc là một sự kiện lịch sử không ai chối cãi được. Nhưng sự kiện này là một điều may mắn hay là một rủi ro, bất hạnh?
Không cần phải đến giờ này, sau từng ấy năm thống nhất, những người Việt mới thấy đây là một bất hạnh. Bất hạnh vì cả một nền văn hóa bị đảo lộn hoàn toàn, những giá trị đạo đức căn bản bị coi rẻ hơn bèo, ngay đến giá trị con người cũng bị hủy diệt thật tàn bạo. Ngay sau ngày 30 tháng 4, nền văn hóa xã hội chủ nghĩa trâng tráo đi thẳng vào Sàigòn bằng cách chà đạp lên nền văn hóa miền Nam, bằng cách ngồi xổm lên nền đạo đức căn bản của cha ông, bằng cách nói khoác thật thoải mái, bằng niềm tin ngây ngô “đồng hồ Trung quốc tốt hơn đồng hồ Thụy sĩ” và họ, những người cộng sản, bắt những người miền Nam phải tin và hành xử như thế. Cái nền văn hóa quái gở đó đã bỏ tù sỉ nhục biết bao binh lính miền Nam, làm thiệt đi khá nhiều nhân tài. Nhưng cái tai hại nhất là họ cố tình đẩy hết những người Việt ra biển, để cho chết, để có cớ đoạt của cải, với niềm tin rằng bọn “ma cô đĩ điếm” miền Nam nên chết hết để họ rảnh tay xây dựng một nền “văn minh xã hội chủ nghĩa”, một thế hệ mới với những con người mới. Phần nào họ đã thành công vì một nửa đã chết thê thảm trên biển chưa hề thấy lại mảnh đất liền. Nhiều thiếu nữ trên đường vượt biên bị bắt và bán vào các nhà thổ ở Thái, bắt đầu một cuộc chà đạp nhân phẩm của con cháu hai bà Trưng Triệu và kéo dài mãi cho đến ngày hôm nay, chỉ dưới một hình thức khác. Những người vượt biên bằng thuyền này đã từng là chất xám, góp phần không nhỏ vào nền văn minh khoa học của miền Nam khá nổi bật ở vùng Đông Nam Á. Họ ra đi vì không thể nào chịu đựng được cái niềm hãnh tiến của những tay lãnh tụ i-tờ. Một tay lãnh tụ chưa qua lớp năm trường làng chuyên nghề bẻ ghi hoặc hành nghề lái lợn thì đối với dân trí thức, nhất là trí thức của một nước bị bại trận thì lòng tự ti và sự căm thù của những tên lãnh tụ này phải nói là ngút trời xanh. Những kẻ trí thức miền Nam bị những tên lãnh tụ miền Bắc xem rẻ hơn cục phân bắt buộc phải ngậm ngùi trốn khỏi nước. Cũng có kẻ đã có kinh nghiệm với cộng sản nên cũng chạy trốn trong nỗi sợ hãi, cũng có người khinh tởm một mớ lý thuyết bạo lực bất nhân được lập đi lập lại ở môi miệng của những người cộng sản dốt đặc cán mai nên dứt khoát rũ bỏ mảnh quá khứ ở sau lưng. Những trí thức miền Nam đến định cư ở quê hương thứ hai đã tạo nên sự nghiệp vẻ vang. Họ dâng hiến cho đất nước tạm dung những thành quả của trí tuệ, đóng góp vào sự phồn thịnh phát triển không ngừng của quê hương thứ hai. Thế hệ con cháu lại càng vượt thế hệ cha ông. Những người trẻ này đã làm vẻ vang giống nòi ở xứ người. Người bản xứ không còn nhìn lớp người Việt bằng ánh mắt dè bỉu như những năm đầu tỵ nạn nữa, mà trái lại họ ngưỡng mộ tầng lớp trẻ đã cống hiến cho xứ sở này biết bao điều kỳ diệu.
Như thế lịch sử đã khẳng định một sự thật về tiềm năng của tầng lớp trí thức miền Nam. Họ đã giúp xây dựng một miền Nam khá trù phú trong chiến tranh và đã đóng góp hoa trái cho sự phát triển vượt bực của quốc gia nơi gia đình họ đang sinh sống. Nếu miền Nam thắng, chắc chắn số chất xám này sẽ không bị thất thoát ra hải ngoại. Cọng với tầng lớp trí thức miền Bắc, tuy ít oi nhưng không phải là không có. Cũng có người học rộng, hiểu biết nhiều. Sở dĩ tôi nói ít oi chỉ vì chính sách độc tài của những tên lãnh tụ vốn ít học. Họ không muốn đào tạo nhiều trí thức. Hơn nữa, mức độ tăng cường quân số trên các mặt trận khiến cho tầng lớp trẻ miền Bắc không được học hành nhiều. Tuy thế, nếu kết hợp được chất xám của hai miền Nam Bắc này lại thì chắc chắn Việt nam bây giờ phải khác, khác lắm chứ không èo uột như bây giờ. Khi trình độ tri thức trong nước gia tăng thì chúng ta có thể làm chủ lấy những tài nguyên thiên nhiên, vật lực và nhân lực chứ không thể để bọn ngoại nhân lũng đoạn nền kinh tế đất nước như hiện nay. Trong khi bọn lãnh tụ không có một chút kiến thức gì về việc điều hành đất nước, lại nắm trong tay hết quyền hành, cọng thêm máu ăn bẩn thu vén hết của công về riêng cho mình thì đất nước tan hoang là điều dễ hiểu.
Đó là nền kinh tế trên bình diện quốc gia, còn về tình người cũng chắc chắn phải khác. Nếu miền Nam thắng, bầy trẻ thơ đến trường sẽ không bao giờ phải học những hận thù giai cấp, những bài toán nhân chia trừ cọng bằng mạng người… một tên lính Mỹ bị giết hôm nay cọng với hai tên lính Ngụy chết hôm qua như thế quân ta giết được bao nhiêu đứa? Những bài toán như thế nhan nhản trong khắp sách toán ở bậc tiểu học. Thế giới thăng trầm qua nhiều chủ nghĩa, triết thuyết, học thuyết nhưng lịch sử nhân loại chưa bao giờ là nhân chứng cho một chủ nghĩa quái đản như chủ nghĩa cộng sản khi mớm cho các em từ thuở cắp sách đến trường lòng căm thù của người lớn. Một thế hệ lớn lên bằng máu chủ nghĩa luân lưu khắp cơ thể, bằng trái tim chai đá hận thù giai cấp, bằng khối óc đông cứng bạo lực, bằng những bàn tay chỉ biết cầm súng giết người không cùng chính kiến thì cho dù học tài hiểu rộng đến đâu vẫn không thể là một nhà lãnh đạo vẹn toàn được.
Họ, những người cộng sản, muốn tẩy sạch những người miền Nam để xây dựng một thế hệ tiêu biểu như thế. Một thế hệ lớn lên sẽ cai trị đất nước bằng máu và nước mắt. Nền văn học cộng sản còn dạy cho tầng lớp thanh niên một trí tuệ nô bộc, lệ thuộc vào các nước cộng sản đàn anh khi thương khóc một Stalin như Tố Hữu, tên văn nô nổi tiếng nhất trong thế kỷ hai mươi. Ngày Stalin chết, các nước cộng sản khác trên thế giới cũng bày tỏ lòng thương tiếc, nhưng có lẽ không một nước cộng sản nào lại thương tiếc Stalin như nước Việt nam khi Tố Hữu làm bài thơ thương tiếc ông ta gấp mười lần cha mẹ mà cho đến giờ này mỗi khi đọc những hàng chữ đó tôi không khỏi đỏ mặt vì ngượng. Bài thơ dạy dỗ tầng lớp thanh niên phải biết ơn đảng, biết ơn một ông Tây râu xồm chưa hề một lần diện kiến hơn cả ông bà cha mẹ, là những người có công sinh thành và nuôi dưỡng. Những bài thơ nô bộc, biểu hiện một tinh thần khiếp nhược, được xem là kinh điển in đầy dẫy trong các sách giáo khoa ở bậc trung học. Với thái độ khom lưng cúi gập người trước một ông Nga mũi lõ của Tố Hữu, cái dáng đứng của tên văn nô này không quá chiều cao của một con lừa. Sự nô bộc còn được tuyên truyền qua truyền khẩu, đồng hồ Thụy sĩ không tốt hơn đồng hồ Trung quốc… một nước cộng sản tàn lụi nhân tài vì chính sách ngu xuẩn của Mao, tên lãnh tụ dâm ô nhất trong các lãnh tụ nước cộng sản. Ngay cả chị Hằng cũng bị đem ra bêu rếu khi so sánh, trăng ở Mỹ không sáng bằng trăng ở Liên sô… một câu truyền khẩu để lộ sự ngu dốt về khoa học. Cứ thế mà tuyên truyền, cứ vậy mà truyền khẩu khắp hang cùng ngõ hẻm ở Việt nam. Sách vở và báo chí tuyên truyền rầm rộ về hai kế hoạch ngũ niên 1976-1981 và 1981-1986 trong suốt những năm đầu sau khi cưỡng chiếm miền Nam rằng toàn dân sẽ tiến lên từ ăn no mặc ấm đến ăn ngon mặc đẹp. Trong trường học, trên đường phố giăng đầy những khẩu hiệu chứa đầy sự hãnh tiến của đảng cộng sản như, “Chủ nghĩa Mác-Lênin bách chiến bách thắng”, “Có sức người sỏi đá cũng thành cơm”, “Thay trời làm mưa…”, “Thắng giặc Mỹ ta xây dựng bằng mười ngày nay”… Đồng bào miền Bắc vốn ít học, lại vừa “đánh bại” giặc Mỹ thống nhất đất nước nên đặt hết niềm tin vào những khẩu hiệu ngô nghê của đảng cộng sản. Hỡi ôi, qua hai ngũ niên, thực tế đập vào mặt những tên cộng sản i-tờ cho thấy rằng phá hoại thì dễ nhưng xây dựng thì rất khó, khó đến nỗi ông thủ tướng có cặp môi thâm sì như một tên nghiện phải đi ngửa tay xin viện trợ các nước tư bản. Và sau khi ngửa tay nhận viện trợ của những tên tư bản là đồng thời ký vào những khế ước cho chúng vào mặc sức khai thác, bòn vét cho hết tài nguyên thiên nhiên của đất nước.
Nếu miền Nam thắng thống nhất đất nước, chắc chắn nền kinh tế của cả nước sẽ tiến nhanh, ít nhất là bỏ xa nền kinh tế vay mượn của nhà nước tư bản được ngụy trang bằng đầu xã hội như bây giờ. Có thể nền kinh tế sẽ nhảy vọt đến nỗi lực lượng lao động trong nước không đủ cung ứng cho thị trường và biết đâu công nhân ở các nước chung quanh phải đến xin việc ở nước Việt nam. Cho dù thế nào đi chăng nữa, một điều chắc chắn là những tên tư bản ngoại quốc sẽ không có quyền hoành hành như một ông vua con ở quê hương như hiện nay. Chắc chắn sẽ không có chuyện một con mẹ chủ xứ củ sâm dám cầm dép đập vào mặt công nhân Việt. Chắc chắn sẽ không có chuyện bọn Tàu cộng ngang ngược chiếm Hoàng sa, Trường sa. Chắc chắn bọn Tàu chệt sẽ không ngang nhiên mang cả sư đoàn người vào Tây nguyên khai thác bô-xít. Sẽ có nhiều sự kiện chắc chắn khác sẽ xảy ra làm rạng danh nước Việt ở vùng Đông nam á.
Nếu miền Nam thắng, chắc chắn tầng lớp con cháu sẽ học được hai chữ nhân bản, sẽ hiểu biết về tình người, sẽ biết sống sao cho xứng với thân phận làm người, sẽ biết đối xử nhân đạo với người, nhất là đồng bào trong nước. Tiếc thay, một nền văn hóa cộng sản áp đặt lên tâm trí của những thế hệ trong suốt 40 năm thời hậu chiến, để đến bây giờ xã hội tạo ra những tay công tử sống ăn bám vào cha mẹ, ăn chơi ngông nghênh không hề tiếc của. Nền văn hóa này tạo ra một thế hệ trong đó hầu hết thanh niên không hề biết dõng dạc tuyên ngôn sự vẹn toàn lãnh thổ như Lý Thường Kiệt, không hề đau lòng trước bất công như Việt Khang, bàn tay mềm nhũn không bóp nổi trái cam như Trần Quốc Toản. Ôi! Tiếc thay từ ngày thống nhất đất nước đến nay xã hội cộng sản đã sản sinh những thế hệ Việt lớn lên èo uột tình người vì trái tim chất chứa hận thù, và với khối óc đặc sệt những ích kỷ, ăn chơi sa đọa.
Thực tế là các công nhân vẫn bị tiếp tục đi kiếm sống ở các nước lân cận, con gái Việt vẫn bị đứng trần truồng để mấy tên Đài và Hàn chọn như một con vật, các công tử con nhà giàu vẫn vung tiền bao gái đến độ chóng mặt, những người bất đồng chính kiến vẫn bị cầm tù, tiếng nói đòi hỏi dân quyền và tiếng dân oan vẫn bị bóp nghẹt, các chức sắc tôn giáo vẫn bị trù dập không thương tiếc, phần lớn thanh thiếu niên chỉ biết làm thế nào để làm ra tiền, kể cả dùng những phương tiện hèn hạ hoặc bất lương…
Tất cả những thực trạng phũ phàng này đều có thể tránh khỏi nếu miền Nam thắng và áp dụng một chế độ dân chủ, công bằng, đầy nhân bản như trước năm 1975.

 

SƠN NGHỊ

DỐI TRÁ

sonnghi

Gia đình tôi luôn cố gắng duy trì được bữa ăn tối chung với nhau. Nửa giờ tuy ngắn ngủi nhưng quý giá vì đó là thời gian duy nhất trong ngày mọi thành viên trong gia đình đều có mặt. Ăn được miếng cơm ngon, chung quanh bàn cơm có ông bà, vợ chồng, con cái quây quần, chuyện trò vui vẻ là điều thú vị nhất trong một ngày.
Một buổi cơm tối như thường lệ, đang khi vợ chồng con cái chuyện trò rôm rả thì chuông điện thoại reo. Vì ngồi gần giá điện thoại nên tiện tay tôi bấm nút phóng thanh trên phôn (speakerphone) để trả lời. Thường thì tôi chẳng bao giờ bốc phôn trong bữa ăn vì “trời đánh còn tránh bữa ăn” huống gì một cú điện thoại vẩn vơ, trừ trường hợp nhìn thấy tên của người thân hiện ra trên khung cửa điện thoại. Thế mà hôm đó không hiểu tại sao tôi lại nhấn nút phôn để nói chuyện với một người xa lạ, một nhân viên chào hàng. Để kết thúc câu chuyện nhanh chóng, tôi vội trả lời là tôi chỉ là người ở trọ khi anh ta nói muốn nói chuyện với chủ nhà. Anh chàng Mỹ lịch sự nói cám ơn và cúp máy. Vì bật nút phóng thanh nên cuộc đối thoại cả nhà đều nghe rõ. Ngồi xuống ghế, tôi bình thản tiếp tục bữa ăn và bất chợt một trong hai đứa con tôi, lúc đó mới 10 tuổi, cất tiếng phê bình: Bố nói dối.
Tôi chưng hửng. Ngừng ăn, tôi ngẩn người và chợt nhận ra con tôi nói đúng. Tôi đã nói dối. Thật không ngờ chỉ vì muốn chấm dứt một chuyện không đâu mà tôi đã làm gương xấu trước mặt con cái. Tôi vội giải thích cho nó hiểu là lời nói dối của tôi không làm hại ai cả mà chỉ muốn chấm dứt câu chuyện một cách lịch sự, thế thôi. Tôi còn giải thích thêm, nếu lời nói dối mang sự thiệt hại đến cho kẻ khác thì mới có tội. Thằng bé ngồi trầm ngâm một lúc suy nghĩ về lời giải thích của tôi, rồi sau cùng nó buông thõng: bố vẫn nói dối. Có lẽ trong đầu óc non nớt của nó chưa hiểu được thế nào là lợi, thế nào là hại nên nó vẫn không chấp nhận lời giải thích (yếu ớt) của tôi. Đối với những đứa bé, hoặc là trắng, hoặc là đen, không có màu xám. Chân lý chỉ có một, không thể nửa vời. Nói dối, hoặc nói thật chứ không có luật trừ rằng đôi khi được nói dối.
Ngoài việc đứa con dạy tôi một bài học thật bất ngờ, tôi nghiệm ra rằng nền giáo dục ở Mỹ đã hun đúc trong tâm trí đứa bé phải biết tôn trọng sự thật và phải bảo vệ sự thật bằng mọi giá. Lời kết luận (kiên quyết) của đứa con là một bằng chứng hiển nhiên. Trường học Mỹ không có môn Công dân Giáo dục nhưng bài học vỡ lòng (nhất là các trường đạo) từ thuở mẫu giáo là luôn luôn nói thật. Nhà trường khuyến khích và đề cao việc tôn trọng sự thật. Câu chuyện cậu bé Washington lỡ chặt gãy cây đào và thú nhận với ông bố có đứa trẻ nào mà không biết. Câu chuyện tiếp tục rằng sau đó cậu bé Washington phải nhận lấy một hình phạt vì tội chặt gãy cây cho dù đã thú tội (nói thật). Như thế, cho dù sự thật mang đến thiệt hại cho chính bản thân nhưng vẫn phải tôn trọng sự thật. Có thể đây chỉ là một huyền thoại nhưng một bài học luân lý như thế thật đáng truyền tụng. Không riêng gì ở Mỹ, những đứa bé lớn lên ở bất cứ nơi nào trên thế giới này, kể cả những nước nghèo đói thiếu ăn như ở Phi châu, đều được dạy dỗ về sự thành thật.
Trước 75, những bài học luân lý trong cuốn Quốc văn Giáo khoa thư được giảng dạy trong suốt những năm ở bậc Tiểu học. Tôi còn nhớ rõ chuyện cái cân kể về một người buôn bán gian dối, làm một quả cân rỗng ruột dùng để cân khi bán và một quả cân nặng hơn bình thường dùng để cân khi mua. Có lần người này bổ quả cân ra và thấy ở giữa có một cục máu. Đồng tiền kiếm được qua việc mua rẻ bán đắt một cách gian dối là tiền máu.
Nói đến gian dối là nói đến lừa đảo, bịp bợm. Luân lý Giáo khoa thư cũng khuyên không nên nói dối dù rằng chẳng hại đến ai. Chuyện cậu bé giả có cháy nhà lừa gọi những người hàng xóm chạy đến giúp rồi lăn ra cười. Họ bị lừa nhiều lần nên khi cháy nhà thật chẳng ai đến giúp và kết quả là cả căn nhà bị cháy rụi.
Những đứa trẻ ở miền Nam trước 75 đều được dạy dỗ về sự thành thật, lòng hiếu thảo, yêu người…v..v… Còn xã hội ngày nay ở Việt nam dạy cho con trẻ thuở cắp sách đến trường thế nào? Ban đầu, hào khí chiến thắng của những người cọng sản nhẫn tâm gạt bỏ mọi tinh hoa giáo dục của miền Nam. Những cuốn sách giáo khoa, sách văn học, khảo cứu nằm lăn lóc ở vệ đường bán sỉ nhìn thấy thật đau lòng. Tôi có người dì họ ở ngoài Bắc chưa bao giờ gặp mặt, chưa một lần nói chuyện. Cả hai dì cháu chỉ biết nhau qua thư từ. Đó là một phụ nữ hiểu biết, tốt nghiệp khoa Văn tại Hà nội. Cả tủ sách văn học của tôi bỏ đi thì uổng quá, mà giấu mãi không được với những tên công an khu vực i-tờ nên tôi chuyển hết ra Bắc cho dì. Dĩ nhiên phải chuyển lén vì là đồ quốc cấm. Người dì rất cảm kích về những tác phẩm văn học nghệ thuật này, nhất là những truyện dịch của Leon Tolstoi. Để trả lễ, dì biếu lại tôi cuốn Triết học Mác-Lênin dày cộm (sic). Những tên nằm ở Bắc bộ phủ vào khoảng thời gian đầu mất nước mang nặng đầu óc của một Mao trạch Đông và có hành động cuồng dại của một Tần thủy Hoàng. Cái hào khí chiến thắng của một đạo quân từng đánh bại hai đế quốc Pháp và Mỹ (sic) đã đẩy những kẻ với trình độ sơ cấp lên trên hẳn đồng bào miền Nam bại trận. Vì thế, những cuốn sách văn học nằm ngổn ngang từng đống ở vỉa hè là điều dễ hiểu. Những bài học luân lý căn bản trong cuốn Giáo khoa thư cũng mang chung một số phận. Những câu chuyện vỡ lòng về luân lý dạy cho cả một thế hệ bé thơ hoàn toàn bị loại bỏ khỏi chương trình giảng dạy ở bậc Tiểu học và thay vào đó bằng những bài học dạy về lòng căm thù giai cấp đọc nghe đến lố bịch. Có lẽ không một nước cọng sản nào hiện hữu trên trái đất này lại nhẫn tâm gieo vào đầu óc trẻ thơ những tư tưởng giết người như ở Việt nam.
Xét cho cùng, họ dẹp bỏ là phải vì những tư tưởng gói ghém trong cuốn Luân lý Giáo khoa thư hoàn toàn trái ngược với lý thuyết căn bản cọng sản. Đối với chủ thuyết cọng sản, sách lược là bạo lực, chiến lược là dối trá được che dấu khéo léo dưới danh từ tuyên truyền. Làm gì có thành thật đối với những kẻ ngồi trong Bắc bộ phủ. Bởi thế, dạy cho người dân thế nào là ngay thẳng thì chẳng khác nào họ tự bôi phân lên mặt họ. Chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh tương tàn có “chính nghĩa”, mà mãi cho đến bây giờ họ vẫn vinh dự (hão) về cuộc chiến chống Mỹ, bọn cọng sản đã nhồi nhét trong óc đồng bào miền Bắc – kể cả những trẻ thơ – về một miền Nam sa đọa, khổ sở trong nghèo đói, tha hóa trong trụy lạc, lạc hậu về kiến thức, và kiệt quệ về kinh tế. Mới đây, một cán bộ (thức tỉnh) miền Bắc kể lại trên mạng (viet.no) rằng trong thời gian cao trào chống Mỹ Ngụy, theo tài liệu học tập từ trung ương đưa xuống thì tại miền Nam số lượng đàn bà làm đĩ lên đến hàng trăm vạn. Bây giờ ngồi so sánh con số mà đảng đưa ra thì vào thập niên 70 – với số dân 17 triệu toàn miền Nam – phần lớn đàn bà con gái ở phía bên kia vĩ tuyến đều phải bán trôn nuôi miệng; như thế mới phù hợp con số đảng đưa ra. Ông ta chua chát kết luận, con số đảng tuyên truyền thời đó hiểu ra (khá trễ) là phóng đại nhưng lại đúng với sự thật vào đầu thế kỷ 21 tại Việt nam.
Đảng cố tình nhào nặn ra một hình ảnh bệnh hoạn về miền Nam và đẩy mạnh công tác tuyên truyền hiệu quả đến nỗi cả miền Bắc bỗng thấy việc giải thoát đồng bào miền Nam khỏi ách nô lệ của đế quốc là một nhiệm vụ phải làm; chỉ vì đó cũng là đồng bào máu đỏ da vàng cả. Tầng lớp thanh niên thiếu nữ hăng say lên đường đi B để làm cái công việc giải phóng “cao cả” đó. Thế là một chiến dịch dối trá vĩ đại được hình thành ngay trong thâm cung của Bộ Chính trị và được tuyên truyền học tập rộng rãi trên khắp cõi miền Bắc. Trong suốt 21 năm, từ 1954 đến 1975, toàn bộ nhân dân miền Bắc từ hạ tầng đến thượng tầng cơ sở (trừ những kẻ đẻ ra chiến dịch nói dối) đều tin tưởng tuyệt đối rằng đó là những sự kiện có thật. Dân chúng ở hậu phương còn được dạy bảo phải thắt lưng buộc bụng, hạt gạo bẻ làm ba; một để lại miền Bắc, một đem vào miền Nam, và một giúp đồng bào Lào và Cao miên. Thật tội cho đồng bào ở miền Bắc, họ cống hiến tất cả bầu nhiệt huyết, hy sinh đến tận cùng những tình cảm riêng tư, để phục vụ cho một chiến dịch giải phóng bắt đầu bằng một sự lừa bịp vĩ đại. Phải nói là vĩ đại, vì chính những mỹ từ này mà biết bao thanh niên thiếu nữ phải sinh Bắc tử Nam.
Cho đến ngày 30/4/1975, khi bước vào một miền Nam hoa lệ, thành phố sầm uất, dân quê chất phác sống khá sung túc, trẻ con lễ phép (nhờ những bài học vỡ lòng trong cuốn Luân lý Giáo khoa thư), thì những anh bộ đội mới vỡ lẽ ra là những điều họ được học tập trái ngược với thực tế. Những người cọng sản tuy (may mắn) chiếm được miền Nam nhưng đồng thời bộ mặt xảo trá của Bộ Chính trị lộ nguyên hình. Thường thì khi biết bị lừa, tâm lý chung của con người là cảm thấy tự ái bị tổn thương, uất hận và đâm ra oán ghét kẻ lừa bịp. Phải dùng chữ uất hận vì cả một thời thanh xuân đã bị chôn vùi dọc theo rừng Trường sơn; một phần thân thể bị bỏ lại chiến trường B; những ước mơ tầm thường của một đời người cũng bị hy sinh đến tận cùng.
Có hai biến cố để thử lửa thế hệ thanh niên Việt nam, kể cả giới trí thức. Thứ nhất là biến cố 30 tháng 4, 1975 khi họ khám phá ra một miền Nam hoàn toàn trái ngược với sự tuyên truyền của đảng. Biến cố này chỉ liên quan đến thanh niên miền Bắc. Thứ hai là ngày 9 tháng 12, 1991 khi thành trì Sô-viết chính thức tan rã, cáo chung một chủ nghĩa cọng sản không kèn không trống sau gần ¾ thế kỷ gieo rắc bao kinh hoàng cho nhân loại. Biến cố này liên quan đến thế hệ trẻ của cả nước. Cả hai biến cố này xác định rõ rệt ai là kẻ nói dối và ai là kẻ bị lừa.
Bị kẻ khác lừa mà không biết là bất trí. Khi biết bị lừa mà không có phản ứng (dù tiêu cực hay tích cực) là nhu nhược. Con người Việt nam không thể bất trí. Nhân dân Việt nam không bao giờ nhu nhược. Thế mà khi bộ mặt xảo trá của đảng cọng sản bị phơi bày vẫn không thấy một phản ứng – cho dù nhỏ nhoi – của bất cứ thành phần nhân dân miền Bắc nào, kể cả những kẻ mang danh là kẻ sĩ, gồm cả các giáo sư, bác sĩ, học giả..v..v.
Phân tích cho kỹ hiện tượng thụ động này, tôi nghĩ ra được vài điểm:
1. Lính bộ đội có trình độ học vấn thấp. Nói ra điều này tôi hoàn toàn không có ngụ ý chê bai mà chỉ nêu lên một sự thật. Những thanh niên thiếu nữ này nếu điều kiện cho phép chắc chắn tên tuổi của họ cũng được ghi danh trên bảng vàng như ai. Đúng ra, đảng không muốn thanh niên thiếu nữ miền Bắc học nhiều. Họ cố ý rút ngắn chương trình trung học trong những năm chiến tranh chỉ còn 10 năm (để mau ra chiến trường), trong khi học sinh miền Nam phải học đủ 12 năm và phải qua biết bao kỳ thi sát hạch để sàng lọc những người có khả năng học lên cao. Chỉ vì trình độ nhận thức thấp kém theo chính sách ngu dân của đảng nên tầng lớp thanh niên không cảm thấy uất hận khi bị lừa dối.
2. Tầng lớp cán bộ và bộ đội lóa mắt trước của cải miền Nam. Họ là những nông dân chân chất, nghe lời đảng đi “giải phóng” miền Nam khỏi ách đế quốc. Tài sản của họ ngoài căn nhà tranh vách đất, may ra được con trâu, dăm con gà. Hiếm khi họ ăn được bữa cơm không độn. Bước vào miền Nam thấy toàn cao ốc, nhà cửa khang trang, hàng tiêu dùng thừa mứa, họ bỗng đâm thèm khát hết mọi thứ; từ cây kim may cho đến chiếc bình tích giữ nước sôi. Phàm con người có ai không muốn hưởng thụ, sung sướng. Họ mong đem về Bắc một chiếc xe đạp, trên cổ tay đeo chiếc đồng hồ (made in Cholon cũng được), và trên vai lủng lẳng chiếc máy thu thanh. Ước mơ của những anh bộ đội ôi thật tầm thường nghĩ đến tội nghiệp. Đảng biết như thế nên cố tạo điều kiện cho những kẻ một thời nghe lời dụ dỗ của đảng bằng cách đổi tiền, đánh tư sản mại bản, và nhiều trò cướp giật công khai khác, với mục đích gián tiếp buộc đồng bào miền Nam phải đem hết đồ dùng trong nhà ra bán dần ở chợ trời, cân bằng phần nào cán cân kinh tế giữa hai miền Nam Bắc trong thời hậu chiến. Trong khi đồng bào miền Nam tiêu tán dần sản nghiệp thì nhân dân miền Bắc bỗng được sở hữu chủ một vài thứ tiêu dùng mà cả đời họ chưa bao giờ (dám) nghĩ đến. Trong thời chiến, nhân dân miền Bắc tối đi ngủ gắng mơ được thấy bác Hồ và mãi đến năm 75, họ âm thầm gạt bác qua một bên để phấn khởi thay vào đó là giấc mơ đạp, đổng, và đài. Với giấc mơ hơn hai mươi năm bỗng trở thành hiện thực chỉ trong vài tháng, nhân dân miền Bắc bỗng đâm ra dễ dãi và chợt quên đi họ đã bị lừa.
3. Thành phần kẻ sĩ đã bị thuần hóa từ lâu, nhất là sau vụ Giai phẩm Nhân văn năm 1956, vụ bắt “những kẻ chống đảng” năm 1967. Còn biết bao vụ thanh trừng khác xảy ra nhan nhản trong suốt thời chiến tranh. Những chuyện mưu sát công khai, những chuyện đầu độc nghe được qua rỉ tai, từng ấy chuyện đủ khủng bố tinh thần của tầng lớp kẻ sĩ đến sợ hãi ngậm miệng. Với phương pháp trấn áp cực kỳ tàn độc, đảng thành công trong việc bào mòn lòng bất khuất của tầng lớp trí thức, nhận chìm khí phách truyền thống của cha ông. Thật tội cho họ, biết bị lừa mà đành phải cắn răng chịu đựng.
Chính vì những lý do đó mà trong muôn vàn kẻ chứng kiến cuộc “giải phóng”, tất cả đều nhận ra một chiến dịch bịp vĩ đại ngay sau khi vào thăm và tiếp xúc với đồng bào miền Nam, nhưng lại không mấy ai thổn thức lương tri, hoặc thắc mắc lấy một lời về sự dối trá của đảng cọng sản. Trừ hai người (ít ra là họ thú nhận như thế). Đó là bà Dương Thu Hương và ông Nguyễn khắc Toàn.
Nhà văn Dương Thu Hương kể lại là khi chứng kiến được sự sung túc của miền Nam, bà ngồi bệt xuống lề đường Nguyễn Huệ và khóc tức tưởi. Trong một bài viết, bà cho biết: Bà chợt nhận ra chân tướng của đảng cọng sản. Bà biết bà đã bị lừa khi hiến thân cả cuộc đời để thực hiện cái gọi là “giải phóng miền Nam”. Năm 1968, lúc bà vừa 21 tuổi, tuổi thiếu nữ tràn trề nhựa sống, bà từ chối ân huệ của đảng gửi đi du học (giấc mơ của tuổi trẻ miền Bắc) để lên đường vào Nam tham gia chiến dịch Tổng công kích Tết Mậu Thân. Quyết định dứt khoát vào Nam đi “giải phóng” cũng vì hoàn toàn tin tưởng vào sự tuyên truyền (nói dối) của đảng. Bà quyết dùng tài năng của một văn công để an ủi tinh thần cho những anh bộ đội trên đường chinh chiến gian khổ. Ôi! Bà khóc là phải lắm. Những giọt nước mắt uất ức xứng đáng chảy dài trên má vì sau bao nhiêu năm chiến đấu khổ cực để tàn phá những gì là ước mơ của toàn thể nhân dân miền Bắc. Xét cho cùng, cách mạng là đổi mới, là tìm một đường hướng tốt hơn hiện tại. Hóa ra không phải thế, người cọng sản chủ trương lột bỏ hết tất cả những gì gọi là tinh túy của cha ông để áp đặt một chính thể ngoại lại, những “luân lý” cọng sản, trong đó sự lừa dối được cổ võ rộng rãi trong tầng lớp nhân dân.
Năm 2006, nhà báo Nguyễn khắc Toàn, trong bài viết nhân ngày 30-4, với tựa đề: “Nhìn Lại Ba Mươi Năm Trước”, ông xác nhận: Cuộc chiến tranh “Huynh đệ tương tàn – nồi da nấu thịt” ấy đã để lại trong tôi những chấn thương về cả tinh thần lẫn thể xác. Về phương diện tinh thần, tôi đã có cái nhìn rất khác so với nhiều đồng đội của mình là những người xuất phát đa phần từ nông dân, sinh trưởng từ nông thôn miền Bắc Việt Nam nghèo nàn, lạc hậu. Ông lập lại những gì ông được học tập kỹ lưỡng trong suốt cuộc chiến chống Mỹ: “Rằng đây là cuộc chiến tranh cách mạng nhằm giải phóng miền Nam khỏi đế quốc Mỹ xâm lược và bè lũ ngụy quyền tay sai!?” “Rằng đây là cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, giải phóng nhân dân Miền Nam khỏi ách kìm kẹp của Mỹ Ngụy và đây là cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thiêng liêng…”, như bộ máy tuyên truyền vĩ đại ở miền Bắc hô hào ngày đêm!!!? Và như một số ít oi kẻ sĩ còn biết sỉ, ông nhận ra rằng: Tôi đối chiếu, so sánh với cuộc sống ở Hà nội và cả miền Bắc XHCN thì những thứ “Tự do dân chủ ” và đời sống khá giả ấy (ở miền Nam; chú thích của người viết) quả là một sự xa xỉ và hoàn toàn xa lạ đối với người dân miền Bắc. Kết luận của ông nghe thật đau lòng: Bi kịch lớn của dân tộc ta, tổ quốc ta là ở chỗ cuộc chiến tranh “huynh đệ tương tàn” đã tốn biết bao núi xương, sông máu của nhân dân cả nước nhằm hủy diệt một chế độ đa đảng dân chủ, tự do, và một nền kinh tế thị trường đã từng tồn tại ở miền Nam VN trước năm 1975, mà giờ đây nhân dân chúng ta đang phải đấu tranh để được đi lại đúng con đường này. (in đậm theo ý người viết)
Đi lại đúng con đường này nghĩa là theo con đường tự do của chủ nghĩa tư bản. Trong khi đó, Mác khẳng định chế độ tư bản sẽ dãy chết và toàn thế giới sẽ được thay thế bằng chủ nghĩa cọng sản. Lênin thần thánh hóa mớ lý thuyết này, thêm vào “bạo lực cách mạng” để “vô sản các nước, đoàn kết lại!”, và Nga xuất cảng chủ thuyết của hai ông tây râu xồm ra các nước nhược tiểu. Bộ môn Triết học Mác-Lê được giảng dạy trong suốt những năm ở đại học, và những người cọng sản rất tự hào về những lý thuyết “tất thắng” trong cuốn sách dày cộm này. Bà dì họ mà tôi nói ở trên biếu tôi cuốn Triết học Mác-Lê; mở ra, ngay từ trang thứ nhất nổi rõ nét chữ của bà, tinh hoa duy nhất của nhân loại (sic). Với số tuổi mới trên 20, bà là một tiêu biểu cho thế hệ trẻ lớn lên ở miền Bắc, thuộc giới trí thức. Bà tin tưởng mãnh liệt vào mớ lý thuyết Mác-Lê, xem đó là tinh túy độc nhất của nền triết học Tây phương, cốt lõi của một cuộc cách mạng không thể tránh được trong lịch sử nhân loại. Tuổi trẻ Việt nam lớn lên cũng tin tưởng như thế, nghĩa là bên ngoài thành trì xã hội chủ nghĩa các nước tư bản đang ngắc ngoải, dân chúng ở các nước này đang sống ngất ngư, chỉ chờ chết. Họ cũng tin tưởng rằng chủ nghĩa tư bản đang tiến đến bờ vực thẳm và chế độ cọng sản sẽ là chiếc thòng lọng siết cổ bọn đế quốc tư bản. Sự thật như thế nào? Mấy tay lãnh đạo cọng sản miệng nói xoen xoét như thế nhưng trong thâm tâm họ vẫn biết họ đang nói dối. Một trong những tay tổ cọng sản là ông Gorbachev đã thú nhận như thế.
Trong buổi thuyết trình vào ngày 12/3/2002 tại đại học Columbia (Hoa kỳ) với tựa đề “Russia: Today and the Future” (Nga sô: Hiện tại và Tương Lai), ông Gorbachev đã nêu rõ vấn đề dối trá của đảng cọng sản nhân dịp kỷ niệm 10 năm sau ngày sụp đổ của chế độ cọng sản nhờ chính sách đổi mới “perestroika” của ông. Ông nói vào thời điểm ông lên cầm quyền, khi các vệ tinh của Nga đang bay trên quỹ đạo, những cán bộ lãnh đạo chỉ bàn về vấn đề kem đánh răng, bột giặt..v..v.. nói chung chỉ là vấn đề hưởng thụ. Ông thêm: “những cán bộ đảng chỉ điều hành quốc gia với sự gian dối (in đậm theo ý người viết). Chúng tôi, trong số đó có tôi, từng nói ‘Tư bản đang đi đến sự huỷ diệt, trong khi chúng ta đang phát triển tốt đẹp’, lẽ dĩ nhiên, đó chỉ là những lời tuyên truyền (nói dối, chú thích của người viết). Trên thực tế, quốc gia chúng tôi đang bị bỏ rơi đằng sau.”
Sự dối trá đã bám rễ trong tâm trí của những người cọng sản. Họ dùng bất cứ thủ đoạn nào để che dấu sự thật. Tất cả huyền thoại của một đảng cọng sản được trang bị bằng vũ khí bách chiến bách thắng (?) là chủ nghĩa Mác-Lê được bắt đầu bằng cuộc khởi hành xuống tàu đi Pháp của ông Hồ chí Minh. Trong khi ông đi tìm miếng cơm manh áo cho chính bản thân ông bằng cách gửi thư lên ông Bộ trưởng Thuộc địa Pháp xin được theo học ở trường thuộc địa để thành tài và có cơ hội phục vụ mẫu quốc thì đảng cọng sản lại nói ông xuống tàu để tìm đường cứu nước. Sau này, ông Hồ thấy nói dối như thế có lợi cho kế hoạch đánh bóng thân thế của ông nên ông không hề cải chính. Khi nắm trọn miền Bắc, ông Hồ lại dối trá bằng cách lấy bút hiệu Trần dân Tiên để tự viết tiểu sử mở đầu bằng câu: một người như Hồ Chủ tịch của chúng ta, với đức khiêm tốn nhường ấy và đương lúc bề bộn biết bao nhiêu công việc, làm sao có thể kể cho tôi nghe bình sinh của người được? Ôi! Từ cổ chí kim, chưa thấy ai có được tính “khiêm tốn” như ông Hồ.
Bắt đầu từ chuyện tự viết tiểu sử bất hủ của ông Hồ để tuyên truyền rầm rộ trong đám nhân dân miền Bắc đói khổ, đảng cọng sản ngày càng nhận thấy “giá trị” của sự dối trá. Nó đánh lừa được đám dân chúng ít học, và họ sẵn sàng xả thân để đi đúng theo con đường mà đảng cọng sản muốn. Câu chuyện ngày xưa, mẹ thầy Tăng Sâm đang ngồi đan áo chợt có người chạy đến báo tin con bà đã giết người và đang bị quan huyện lùng bắt. Bà vẫn ngồi bình thản đan áo vì bà tin chắc chắn rằng đứa con không bao giờ làm những việc tầy trời như thế. Nhưng khi có người đến báo tin lần thứ ba thì bà đứng bật dậy và chạy trốn ngay khỏi nhà vì bà tin rằng quan quân thế nào cũng đến bắt cả bà. Một việc không có được lập đi lập lại chỉ mới ba lần mà đã có người tin thì huống gì những lời tuyên truyền của cọng sản được nhai đi nhai lại hàng trăm nghìn lần. Những lời tuyên truyền xuyên qua tai và găm vào óc của đám dân khốn cùng, ngay từ khi lọt lòng, trong mọi sinh hoạt từ sáng đến khuya, từ trường học đến công sở, trong nhà đến ngoài ngõ. Nó nói ra rả, cùng một luận điệu, cùng một ngôn từ, cũng một khuôn mẫu đến nỗi người ta nghĩ ngay đến cuộn băng từ tính, được phát thanh triệu lần như một. Vì thế, đồng bào miền Bắc cả tin vào đảng cọng sản cũng là điều dễ hiểu.
Trong một xã hội xảo ngôn, người dân bị bưng bít mọi sự thật thì những đứa trẻ lớn lên cũng tin đó là sự thật. Dĩ nhiên nhà trường không bảo thẳng những trẻ thơ phải nói dối nhưng sớm gieo vào đầu óc chúng những tư tưởng hận thù giai cấp; trong khi Luân lý Giáo khoa thư dạy phải yêu thương đồng loại. Thêm vào đó, đảng lại dạy chúng sớm biết nghi ngờ hết mọi người, ngay cả ông bà cha mẹ, để dám tố cáo những tư tưởng chống đối, phản cách mạng; còn Luân lý Giáo khoa thư lại dạy phải biết tôn kính những người già cả. Đây là một căn bệnh cố hữu của người cọng sản. Họ nghi ngờ tất cả, lúc nào cũng thấy địch chung quanh, và họ cho đó là “cảnh giác cách mạng”. Làng xã lại lập ra tổ “tam tam”, nghĩa là cứ ba nhà làm thành một tổ nhưng thật sự là dò xét, canh chừng lẫn nhau. Vì thế, ngay tại gia đình, mọi người đều kín miệng trong bất cứ chuyện gì, không để nhà bên cạnh biết việc trong nhà mình. Dân chúng sống mãi trong một bầu khí nghi kỵ, không dám tin ai, chẳng dám mở miệng nói với ai một điều gì thật trong lòng. Đảng cố ý biến cả nước thành nhân vật Tào Tháo thời Chiến quốc. Đã một thời, ở các làng Công giáo các cụ gặp nhau thường hỏi thăm, dạo này có khỏe không? Câu trả lời thường là, nhờ ơn Chúa, gia đình tôi vẫn bình thường. Sau năm 1954, câu trả lời chung nhất là, nhờ ơn bác và đảng, gia đình tôi vẫn bình thường. Biết mình đang nói dối nhưng vẫn phải nói, để sống còn. Ngay ở trong một xóm đạo, nơi mà đời sống tinh thần tương đối khá hơn ngoài xã hội, thế mà người dân còn phải nói dối thì huống gì bên ngoài lũy tre xanh, người ta còn dối trá đến đâu mà kể.
Những đứa trẻ miền Bắc lớn lên trong một khung cảnh dối trá đầy dẫy nghi ngờ như thế và dần dần chúng thấy dối trá là chuyện bình thường. Lớn lên, ra ngoài xã hội, chúng cũng nhận ra những điều thầy cô đứng trên bục giảng gân cổ tự hào về một xã hội cọng sản cũng chẳng đúng sự thật. Tôi còn nhớ năm 1975, lũ sinh viên gần ra trường chúng tôi được dồn vào giảng đường ở đại học Luật để học chính trị. Một giáo sư dạy Triết Mác-Lê từ Hà nội vào huênh hoang đứng trên bục giảng quả quyết rằng Nga đặt chân lên mặt trăng đầu tiên. Ngày lịch sử đó của cả nhân loại kể ra vẫn còn mới, vì chỉ cách đó mới 6 năm. Ban đầu chỉ nghe tiếng xầm xì nổi lên đâu đó; chỉ mấy phút sau cả giảng đường nhao nhao phản đối. Ông giáo sư đứng ngẩn người không hiểu (hoặc giả vờ không hiểu?) chuyện gì. Các tổ trưởng (cứ mười người có một tổ trưởng) yêu cầu chúng tôi yên lặng và hứa sẽ trình lên trên. Sau 15’ nghỉ giải lao, chính ông ta lên tiếng đính chính sự việc và nhìn nhận rằng Mỹ đã đưa người lên mặt trăng đầu tiên. Từ chuyện này, tôi nghiệm ra một điều, đảng cọng sản của ông nói dối hoặc chính ông nói dối. Vì nếu đó là sự thật, hoặc ít nhất đó là điều ông được biết và tin qua sách vở của đảng từ năm 1969 thì bằng mọi cách ông phải bảo vệ sự thật đó. Ông tin đó là sự thật vì lẽ đơn giản là ông đặt hết niềm tin vào đảng. Tôi không nghĩ một niềm tin trong 6 năm lại có thể bị sụp đổ chỉ sau 15’ phù du. Khi đính chính sự kiện lịch sử đó, vô tình ông đã chưởi thẳng vào mặt đảng cọng sản, gián tiếp tố cáo sự dối trá của đảng, mà chính ông (tôi nghĩ) phải là một đảng viên. Còn nếu đảng không dạy nói như thế, thì chính ông trong một phút say sưa với chủ thuyết Mác-Lê, mê mẩn thành trì Xô-viết, đã bốc đồng cho mấy ông tổ cọng sản đặt chân lên mặt trăng. Như thế, chính ông là người nói dối. Một người được xem là đại diện cho giới trí thức miền Bắc, có học vị, giảng dạy ở bậc đại học mà nói dối dễ dàng đến vậy thì quả thật con người cọng sản không còn liêm sỉ. Chưa kể đến chuyện ông ta dám khinh thường trình độ nhận thức của đám sinh viên miền Nam. Điều này tổn thương tự ái bọn sinh viên chúng tôi nhiều nhất. Từ khinh bỉ đám trí thức cọng sản miền Bắc đến tức giận vì tự ái, chúng tôi chỉ biết lặng lẽ nhìn nhau thở dài.
Trừ những đứa trẻ lớn lên ở làng xóm giữ gìn một nếp sống tôn giáo nghiêm nhặt, hoặc sinh trưởng trong một gia đình nho học, và cha mẹ còn biết giữ lấy nho phong, tay quyết không nhúng chàm, còn lại phần lớn những đứa trẻ này bước vào đời đều què quặt về mặt luân lý. Chúng không được trang bị những giá trị luân lý căn bản của lòng Nhân, của tâm hồn Lễ Nghĩa, và của cách hành xử Trí Tín. Hành trang của chúng là trái tim chất chứa hận thù giai cấp, tâm hồn đầy dẫy nghi ngờ và trí óc với mớ kiến thức khá chừng mực. Ủy viên Trung ương đảng Trần bạch Đằng, năm 1977, phải nhìn nhận con nít miền Nam lễ phép hơn con nít ở miền Bắc. Nhưng đức Lễ này thảm thương thay đã chấm dứt ngay sau năm 1975 vì đảng cọng sản đã áp dụng chính sách ngu dân (con cái trong chế độ cũ không được học lên cao) và áp đặt nền giáo dục phi luân lý cho con em miền Nam. Thế là nguyên cả một thế hệ đầu tiên thời hậu chiến sống mất kỷ cương, lững thững đặt chân xuống cuộc đời với nhiều gương xấu của cha ông, trong đó sự dối trá nổi bật hơn hết.
May mắn thay cho lớp trẻ thời hậu chiến là tôn giáo vẫn còn chiếm giữ một vị trí quan trọng trong xã hội từ Nam chí Bắc. Nhà thờ, chùa chiền, thánh thất vẫn là nơi dạy dỗ và cổ võ một nền luân lý truyền thống của cha ông. Vai trò của các linh mục, sơ, thượng tọa và các thầy chưa bao giờ bức thiết bằng lúc này, khi đất nước ngả nghiêng trong hỗn loạn luân lý, khi tuổi trẻ đang mất dần định hướng. Tôn giáo có tác dụng như một cái phanh, kìm giữ một tuổi trẻ bơ vơ đang lao mình xuống vực thẳm của vật chất, thản nhiên buông thả mọi giá trị tinh thần. Sự giằng co giữa tôn giáo và xã hội xem ra khá quyết liệt và tôn giáo đôi lúc phải ngậm ngùi nhìn tuổi trẻ Việt nam đang lún ngày càng sâu vào vũng lầy của cuộc đời. Tôi có người bạn nhân chuyến về thăm địa phận Nha trang kể lại rằng, các tu sinh (những người đang tập sự trong đời sống tu trì để trở thành linh mục) vẫn thản nhiên nói dối không ngượng ngùng. Người bạn đơn cử một thí dụ (theo lời tâm sự của cha Bề trên), khi ngài hỏi một tu sinh đã quét nhà chưa, anh ta trả lời đã quét rồi, nhưng ngài biết là anh ta chưa làm; khi hỏi gặng thì anh ta nói là sẽ làm. Thật rõ ràng ngay lúc trả lời anh đã nói dối. Nên biết thêm, những tu sinh này đã được tuyển chọn trong muôn ngàn kẻ muốn dâng mình cho Chúa. Họ là những người đã được sàng lọc, thế mà bụi trần vẫn còn vướng trên áo, ngấm trong tim và lộ ra trong câu nói.
Ngày 27/4/2006, nhân chuyến đi Rôma về, Đức Hồng Y Phạm minh Mẫn đã chuyện vãn với giới Liên Tu sĩ của Tổng Giáo phận Sàigòn. Trong buổi chia sẻ với khoảng 60 đại diện của các Dòng Tu và Tu hội nam nữ, ngài kể lại chuyến đi Rôma, đồng thời đưa ra một vài đề nghị về tu sinh. ĐHY Mẫn nói, “Liên quan đến Chủng viện, bây giờ có đề nghị năm thứ nhất của chủng viện làm năm tu đức để rửa sạch bụi đời và trau dồi những khả năng cần thiết khác. Vì nhiều chủng sinh đã học đại học mà viết một câu tiếng Việt cũng không rồi. Bên cạnh thiện chí, còn có nhiều chuyện khác không lành mạnh đi vào tâm thức của những người trẻ nhập tu. Do đó, phải đào tạo cho các chủng sinh có ý hướng ngay lành, có kỹ năng đáp trả Ơn Gọi, có khả năng bỏ mình vác thập giá. Tôi cảm nghiệm điều này hết sức sâu xa: phải bỏ thói đời, phải bỏ thói ăn gian nói dối. Vì cả xã hội đã như vậy rồi.” (in đậm theo ý người viết), (LM. Nguyễn văn Khải, D.C.C.T., lược ghi)
Nhận xét của ĐHY Mẫn phản ảnh một sự thật phũ phàng ở xã hội Việt nam ngày nay. Sự dối trá đã bao trùm trong mọi sinh hoạt của người dân. Tuổi trẻ từ nhỏ đã không được thấm nhuần tinh thần Luân lý Giáo khoa thư, khi lớn lên bước vào công sở cũng gặp những cảnh dối trá lươn lẹo của lớp cha ông, thì dĩ nhiên chúng cũng phải sống dối trá lươn lẹo cho phù hợp. Ở ống thì dài, ở bầu thì tròn. Nói dối và ăn cắp là hai thói xấu phổ biến ở những công ty quốc doanh. Trong thời bao cấp, công nhân ra sức bòn mót của công. Trước hết vì công nhân quá nghèo, hai nữa là vì mồ cha chung không ai khóc. Lấy được cứ lấy, lỗ lã đã có nhà nước lo. Cấp dưới làm láo báo cáo hay vì để làm vừa lòng cấp trên. Còn cấp trên chỉ là những người trưởng thành trong khói lửa, không có lấy một chút kiến thức nào về điều hành, về quản lý nhưng lại muốn giữ bổng lộc của nhà nước. Ôi! Chưa bao giờ câu nói của Hoài Nam Tử từ mấy nghìn năm trước lại có ý nghĩa đến thế: “Trên đời có ba đại họa, đức ít mà ân sủng nhiều, tài ít mà địa vị cao, công nhỏ mà bổng lộc lớn.” Những người cọng sản mang danh là lãnh đạo ở nước Việt nam hiện nay, từ các cơ quan hành chánh đến những bộ phận của đảng, đều mắc phải những đại họa này.
Người cọng sản nào ở bất cứ nơi nào trên trái đất này đều xem sự gian dối là phương tiện để sống còn. Từ mọi lãnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục, luôn luôn thấy sự dối trá. Họ nói dối dễ dàng, như người ta ăn một bát cơm ngon. Mãi rồi sự dối trá thấm nhuần vào máu, hễ ngồi xuống để bàn chuyện, lập tức trong tâm tư của họ phải nghĩ ngay đến việc phải che dấu sự thật, làm thế nào để nói dối thật hay, hầu qua mặt được người dân, hoặc con mắt quan sát quốc tế. Tôi có người bạn nói đùa rằng Thế Vận Hội không có môn thi nói dối, và nếu có chắc chắn bọn cọng sản sẽ chiếm hết cả ba huy chương, vàng, bạc, và đồng. Tôi bật cười nhưng nghĩ quả không ngoa.
Mới đây, báo Tuổi trẻ trong nước đưa tin về chuyện các quan cọng sản nói dối bên Tàu. Sự thật giới quan trường một số địa phương ở Trung Quốc đã tồn tại một “dây chuyền nói dối”: quan làng nói dối quan xã, quan xã nói dối quan huyện, cứ thế nói dối lên trên. Ý kiến cư dân mạng tham gia “Diễn đàn nhân dân Trung Quốc” trên hệ thống Nhân Dân Nhật Báo tập trung tóm tắt mấy điểm sau:
Thứ nhất, các quan chức có tội, có sai lầm nhưng vẫn muốn giữ ghế.
Thứ hai, một số quan chức cho rằng muốn thăng quan tiến chức nhanh để mưu lợi nhiều hơn thì dùng các “kế hoạch nói dối”.
Thứ ba, một số quan chức bản thân sa đọa hưởng lạc nhưng cố tạo ra hình tượng “trong sạch”.
Thứ tư, có những lãnh đạo cấp trên thích nghe cấp dưới nói dối, bởi những thành tích của cấp dưới làm tăng thành tích của cấp trên. Cấp trên thích, cấp dưới ăn theo. Ở một số nơi, phong khí quan trường bất chính, lãnh đạo thích nhiều công nên chỉ thích nghe thành tích, không thích nghe khuyết điểm, do đó cấp dưới tha hồ nói dối. Ở một địa phương mà trò nói dối “thịnh hành” thì người nói thật sẽ gặp rủi ro lớn.
Bây giờ đổi tên Tàu thành Việt nam thì câu chuyện trên của các quan cọng sản ở trong nước cũng y chang. Cũng từng ấy lý do mà nói dối. Ôi! Còn gì đau đớn hơn khi tuổi trẻ Việt nam lớn lên trong một xã hội đầy dẫy những dối trá và họ phải uốn mình theo dòng đời để mưu sinh, kiếm sống. Một đất nước Việt nam như thế thì làm sao xây dựng cho thật sự phú cường, hạnh phúc.
Chiến dịch trăm năm trồng người của Quản Trọng (không phải ý ông Hồ đâu nhé!) bức thiết hơn bao giờ. Cần phải tôn trọng những luân lý trong cuốn Giáo khoa thư. Cần phải cổ võ một nền luân lý căn bản cho con em ngay từ thuở cắp sách đến trường. Phải làm ngay từ bây giờ và cũng phải mất nhiều thế hệ mới lấy lại được thăng bằng luân lý cho xã hội Việt nam.
Trễ nhưng vẫn còn hơn không.

 

SƠN NGHỊ

HỘI NGỘ 30 NĂM Ở BRISBAN

sonnghi

Ý kiến độc đáo của ông chủ tàu ĐN1601CA mời tất cả mọi người vượt trên chiếc tàu với vợ chồng ông cách đây 30 năm tụ họp tại Birsbane, nơi gia đình ông sinh sống từ ngày qua Úc, vào ngày 9 tháng 10, 2010.
Mấy tháng trước ngày hội ngộ chủ tàu, ông Nguyễn kim Đỉnh, gửi đi một bức thư ngỏ. Lá thư nói rõ mục đích của ngày hội ngộ lịch sử. Ông nhắc đến những nguy hiểm mọi người đã trải qua, từ lúc nửa đêm chuyển người qua bãi chà là để trốn vào chỗ vắng chờ taxi ra tàu lớn. Sau ba mươi năm mọi người đã an cư lạc nghiệp ở khắp nơi trên thế giới, nhiều nhất ở Úc. Đây là dịp gặp gỡ để cùng nhau cảm tạ Thiên Chúa vì ai cũng biết rằng chỉ có phép lạ mới đưa hết 163 thuyền nhân đến bờ tự do an toàn. Nhưng tôi tâm đắc nhất một câu nói của ông trong bức thư: nếu không vượt thoát thành công thì mặc dù 163 người sinh khác ngày nhưng chắc chắn chúng ta đã có chung một ngày giỗ. Câu nói chân tình đọc lên tôi chợt nghe một luồng hơi lạnh chạy suốt sống lưng khi nhớ lại cơn bão kinh hoàng vào đêm thứ 2 trong chuyến vượt biển. Cơn bão với những con sóng cao ngất trời suýt nhận chìm từng ấy người vào lòng biển khơi. Thêm vào đó bọn hải tặc kéo chiếc tàu ĐN1601 chạy vòng vòng trong vịnh Thái lan suốt nửa ngày đường làm mất phương hướng. Đứng bơ vơ giữa biển rộng mênh mông, chúng tôi không biết phải quay mũi về hướng nào. Thật may khi buổi tối bầu trời khá quang đãng để nhận diện một vài vì sao qua sự hiểu biết của ông tài công. Sớm ban mai đã thấy mặt trời, thấy hướng Đông, đoán phương hướng để tiến về phía đất Mã-lai. Câu nói trong bức thư thật đúng, chúng tôi may mắn đã không có chung một ngày giỗ.
Tôi bay từ California đến Hobart thăm Cậu Mợ tôi vài ngày rồi cả gia đình bay sang Brisbane ngày thứ 6, mùng 8 tháng 10. Mấy cô em gái của mợ tôi cũng bay từ Texas đến. Đây là những người chung với tôi một chút quá khứ 30 năm trước. Ba cô gái giờ đây đã trở thành bà nội, bà ngoại. Mặc dù tuổi đời đã chồng chất nhưng họ vẫn giữ được nét thanh tú thuở xưa. Tôi nhận ra họ ngay là nhờ những nét thân quen còn đọng lại trên khuôn mặt, ở giọng nói, từ dáng đi đến tiếng cười dòn tan, liến thoắng. Tay bắt mặt mừng, chúng tôi có dịp ôn lại một vài mẩu quá khứ và chạnh lòng nhớ lại những vui buồn trong chuyến hải hành và những ngày trên đảo. Ôi! Thời gian thấm thoát đã 30 năm.
Phi cơ hạ cánh xuống Brisbane lúc 9:15h sáng. Chúng tôi dự định có cả một buổi sáng rong chơi cho biết thành phố rồi chiều mới ghé vào nhà ông chủ tàu. Rất may, một gia đình quen hiện ở Brisbane, anh chị Luật/Mai thật tốt bụng sẵn sàng nghỉ việc để tiện việc đưa đón chúng tôi. Loay hoay với chiếc xe van thuê mãi đến quá trưa mới ra khỏi phi trường. Lẩn quẩn trong thành phố vì không quen đường sá và cách sử dụng chiếc máy GPS nên lại mất đến hơn tiếng đồng hồ mới về nhà anh chị Luật. Căn nhà rộng rãi, vườn sau có bụi mía, cây lựu, và một vài cây ăn trái khác như một khu vườn tiêu biểu Việt nam. Nghỉ ngơi một chút, tất cả kéo nhau ra khu Việt nam ăn trưa.
Lần đầu đến Úc, tôi khá lạ lẫm khi bước vào khu thương mại của người Việt. Chợ búa bày trái cây, rau trái ngay trước cửa, rất tiện cho người mua. Hàng quán khá sầm uất, khách vào ra ăn uống tấp nập. Ngay ở giữa khu thương mại là một mảnh đất trống rộng rãi với dù che, bàn ghế. Khách có thể ngồi nghỉ chân hoặc mua càphê, nước uống và tụm năm tụm ba ngồi tán gẫu, chuyện trò. Trời mưa không nặng hạt nhưng rỉ rả từ sáng mang theo chút lạnh của mùa đông vẫn còn lưu luyến chưa chịu nhường hẳn lại cho tiết xuân. Ăn trưa xong, chúng tôi kéo hết từng ấy người vào thăm ông chủ tàu.
Đường từ motel đến trang trại của ông Đỉnh chừng 17 cây số thì đã có 9 cây số đường rừng. Tuy là rừng nhưng con đường trải nhựa bằng phẳng gồm hai phân lộ, xe chạy bon bon. Rừng thưa nhưng cây cối đủ rậm che tầm mắt. Thấp thoáng sau hàng cây nhà cửa nằm cô đơn xa cách mặt đường. Trời vẫn mưa rỉ rả từ sáng đến giờ, thỉnh thoảng lại xối cả thác nước xuống nhân gian. Thời tiết Brisbane đáng lẽ phải nắng ráo, hứa hẹn một cuối tuần hội ngộ tuyệt vời thế mà ông trời vẫn rơi rớt nước mắt như thương tiếc ai. Xe chạy ngoằn nghoèo một lúc rồi dừng lại trước một căn nhà hai tầng, nằm thênh thang trên mảnh đất đỏ ngoét rộng rãi. Rừng cây đen rậm bao bọc chung quanh khiến căn nhà nhìn nổi bật trên bầu trời xám. Ngõ dốc đứng dẫn từ ngoài cổng dẫn vào nhà lầy lội, trơn trượt, choẹt bùn đỏ quạnh làm dính bước chân. Khách phải bước chậm, cẩn thận từng bước đi. Con ngõ dài chừng 20 mét nhưng phải vất vả chừng mươi phút mới lên được thềm nhà. Bà Hồng, vợ ông Đỉnh, đon đả chạy vội ra đón tiếp chúng tôi. Tay bắt mặt mừng, mọi người vồn vã chào hỏi nhau, kể chuyện đường dài. Bức tường trước mặt tôi in hình bản đồ hình chữ S, phía dưới vẽ hình một con tàu và bài thơ thất ngôn.

Ba mươi xuân sắc thoáng qua rồi
Năm ngày cơ cực đã dần trôi
Hội ngộ mừng nhau nhiều thành quả
Tụ họp về đây một mái nhà

Bài thơ thật tuyệt. Tôi được biết đây chính là thủ bút của tác giả. Ông thân chinh đến nhà này và phóng tay viết bài thơ lên vách. Nét chữ bay bướm in hằn lên bước tường trắng nổi bật màu mực đen. Tôi bước lên cầu thang nhỏ dẫn ra phía nhà sau. Nói là nhà nhưng thật sự chỉ là cái mái đủ che mưa nắng. Trừ một mặt có bức tường sau của căn nhà còn ba phía kia để trống hoác. Những tấm bạt nhà binh to rộng che từ mái kéo dài ra hai bên để tránh mưa hắt vào nền nhà. Chái nhà đâm dài ra mảnh vườn có cây cối nằm ngổn ngang, có lẽ chúng vừa bị đốn ngã lấy đất cho buổi hội ngộ. Những khúc cây sần sùi nằm cồng kềnh lăn lóc trên sân sẵn sàng làm mồi cho đống lửa lớn đang cháy ngùn ngụt. Sức nóng tỏa ra làm ấm cả một không gian rộng khuyến khích mọi người kéo đến chuyện trò gần đống lửa. Nhà sau không có vách nên gió lạnh thổi lồng lộng từ phía rừng cây mang theo cái lạnh se sắt. Ở một góc chái, đã có hơn chục người đang mải mê tập hát cho thánh lễ ngày mai. Anh Tỵ ôm cây đàn thùng kiên nhẫn với từng nốt nhạc, từng bài hát. Bài Mẹ Thuyền Nhân nghe an ủi và ấm lòng khi biết có Mẹ đang dẫn những thuyền nhân đến bến bờ tự do. Tập hát một lúc, ông Đỉnh yêu cầu mọi người tạm ngưng để dùng cơm chiều. Cơm nước dọn ra trên chiếc bàn dài. Mọi người ngồi xuống cầm đũa. Hình như niềm vui tràn ngập trong lòng mọi người nên mọi người chỉ gắp thức ăn cho có lệ, còn lại ngồi ôn lại chuyến vượt biển.

Một số thuyền nhân của tàu ĐN1601

Đoàn chúng tôi ngồi rải rác trên chiếc bàn dài chuyện trò rôm rả. Chuyện nổ ra như bắp rang. Tiếng cười sảng khoái vang lên rộn ràng trong màn đêm phủ kín căn nhà giữa cánh rừng. Chuyện kể lại với những chi tiết không ngờ, buồn có, vui có, giận hờn có, nước mắt có. Tôi không nhớ hết những chi tiết oái oăm nhưng người kể một hai đoan quyết chính tôi là tác giả những câu nói. Thôi, cười xòa và nhận lỗi vậy. Mọi người muốn ôn lại chuyến hải hành đầy gian truân vì có ông cậu tôi là tài công bất đắc dĩ khi tài công chính thức của chuyến tàu bị… say sóng ngất xỉu. Lúc trên tàu không ai biết hết mọi diễn tiến ngoại trừ ông chủ tàu và một vài người thân cận. Người coi sóc máy móc ở dưới hầm tàu nên không thể biết những con sóng cao nghễu nghện đến thế nào. Người đứng ở cuối tàu không thể biết tiếng gió rít thổi xéo qua tai nghe rùng rợn ra sao. Người mệt xỉu vì say sóng cũng không thể nào biết con thuyền bị nhồi lên nhồi xuống trong cơn giông bão xem ra mong manh, nhỏ nhoi hơn bao giờ. Câu chuyện gom góp lại từ ký ức của nhiều nhân chứng nên bây giờ mọi người hình dung được những khó khăn, những gian truân trên chuyến tàu cách đây 30 năm.
Gió lạnh len lỏi giữa bàn ghế ngồi khiến mọi người ngồi gần nhau hơn để câu chuyện thêm ấm lòng. Ông chủ tàu đã mời được một ban nhạc gồm 4 nhạc công và hai cô ca sĩ. Ban nhạc bận rộn với nhạc cụ, máy móc và dây nhợ dàn rộng trên chiếc bục gỗ. Nốt nhạc đầu tiên búng lên với tiếng trống rộn ràng. Họ cũng biết đây là cuộc họp mặt sau 30 năm nên toàn ban nhạc hết lòng với những bản tình ca về lính, đánh dấu một thuở chinh chiến với bao mối tình tha thiết. Bài Tuyết Trắng mở đầu với tiếng súng nhân tạo vang lên từ chiếc organ và tiếng hát ngọt ngào điêu luyện của một nam ca sĩ. Điệu bolero chải chuốt như những mối tình lớn lên trong chiến tranh tuy vội vàng nhưng nhiều say đắm.
Mọi người thả hồn theo tiếng nhạc. Có người ngồi trầm ngâm, lặng lẽ hút thuốc ở một góc vắng. Có kẻ sôi nổi với những bài hát giúp vui. Tiếng trống rộn ràng của một bản nhạc kích động. Giọng cô ca sĩ cao vút ở nốt nhạc của một bài hát thời thượng trong nước. Tôi nhìn mông ra khu rừng âm u ở phía sau. Một màu đen kịt sơn phết lên rừng cây, lên cả bầu trời nên không thấy ranh giới giữa trời và đất. Tất cả chỉ một màu đen u ám. Ba mươi năm trước, tôi đứng ở mũi thuyền khi cơn giông bão hòng nhận chìm con tàu, cũng một màu đen rùng rợn phủ kín trời và biển. Ngọn đèn bão treo ở đầu con thỏ tỏa ánh sáng héo hắt nhưng đủ sáng để tôi thấy những con sóng cao ngất ngưỡng. Phận người bèo bọt có đáng gì trước cơn thịnh nộ của biển cả, của giông bão. Ôi! Mong manh quá, nhỏ bé quá. Tôi khẽ rùng mình; không biết vì hơi lạnh của núi rừng hoặc vì nhớ lại một lần thân phận yếu ớt mỏng dòn khi lênh đênh trên biển?
Ngày hôm sau, ngày 9 tháng 10 là ngày cao điểm của lần hội ngộ. Mọi người đổ về nhà ông chủ tàu. Có người từ Sydney, Melbourn, Tasmania, và các tiểu bang ở phía bên kia nước Úc. Ở Hoa kỳ chỉ có mấy cô em của bà mợ tôi đến từ Texas, và một mình tôi từ Cali. Có nguyên một gia đình đến từ Tân-Tây-Lan. Sáng Chủ nhật hôm đó trời đổ mưa nặng hạt, con đường từ cổng vốn đã lầy lội bùn lại càng trở nên nhão nhoẹt hơn vì dấu chân người dẫm lên không ngừng. Có người bước không khéo đã ngã xóng xoải lên con đường đất. Bùn đất dính bê bết vào bộ đồ vest. Thế là mất toi bộ đồ, đành phải quay về khách sạn để thay bộ đồ khác. Có kẻ thấy cảnh “tung vó đo đất” đã vội khôn ngoan vào xe thay hết bộ đồ vía, chỉ mặc bộ đồ cánh để bước qua “đại lộ kinh hoàng”, bàn tay giữ chặt bao ni-lông đựng bộ đồ vía. Vượt qua đoạn đường đất khá vất vả bước lên thềm nhà rồi mới thay bộ đồ vía.
Số người đổ về nhà ông chủ tàu tăng dần. Xe hơi đậu chật trước cổng. Chủ nhà phải xin phép chủ nhà bên cạnh cho khách đậu nhờ. Vợ chồng ông chủ tàu tiếp khách ngay tại thềm nhà. Tay bắt mặt mừng, ông chào hỏi mọi người. Có những khuôn mặt lạ lẫm, hỏi ra mới biết mấy thằng bé vượt biên theo diện mồ côi, nghĩa là không có họ hàng thân thích ở ngoại quốc. Thế mà bây giờ đã vợ con hai ba đứa. Vợ chồng gom góp đi dự ngày hội ngộ, không màng công ăn việc làm đang lúc khó khăn. Có những mái tóc lấm tấm bạc, lúc ra đi trên đảo đang còn là thanh niên khỏe mạnh, nhớ lại đêm vào Côn sơn xin nước sau một ngày lênh đênh trên biển và ông chủ tàu khám phá không đủ nước cho từng ấy người, họ đã can đảm buộc dây vào người nhảy xuống tàu trong đêm tối bơi vào bờ. Lần theo sợi dây, cả chục thanh niên mới nhảy theo bơi vào một hòn đảo ở Côn sơn. Người giữ đảo thật tốt, anh không những cho cả chục can nước mà còn biếu thật nhiều trái cây. Ông chủ tàu sẵn sàng dành cho anh một chỗ trên tàu nhưng anh quyết định ở lại chỉ vì vợ con còn kẹt lại trong đất liền.
Những thuyền nhân đứng ở thềm nhà ông Đỉnh hôm đó ôm chầm lấy nhau, hỏi han về gia đình, công ăn việc làm. Họ sôi nổi ôn lại dĩ vãng những ngày trên đảo, nhất là 5 ngày 6 đêm lênh đênh trên biển cả với cơn bão và những cơn sóng thần cao nghễu nghện đến chóng mặt; với hải tặc, và với những hiểm nguy chưa từng đối diện một lần trong đời. Những hình ảnh kinh hoàng vẫn còn tươi rói trong ký ức. Họ kể cho nhau nghe rõ từng chi tiết cơ hồ họ mới vượt biển tháng trước. Mà người nghe cũng là một trong những nhân chứng của chuyến hải hành chứ chẳng ai khác. Thế mà họ chăm chú nghe kể và góp lời như đang nghe một chuyến vượt biển của một người xa lạ. Có người chép miệng thở dài nói đến buổi sáng tàu bị gãy bánh lái. Cả tàu cứ xem như đã chết vì làm sao hướng mũi tàu vào đất liền. Thế mà ông chủ tàu bàn bạc với mọi người rồi quyết định lấy nắp hầm tàu thay thế bánh lái. Trong chuyến đi làm gì có đồ nghề để sửa chữa một trục trặc chết người như thế. Không đinh, không ốc, chỉ buộc chặt vào cần lái bằng hai sợi dây kẽm khá to. Thế mà cái nắp hầm bằng gỗ đã quằn quại dưới sức nước đưa 163 người lênh đênh thêm 2 ngày nữa và đến bờ biển Mã an toàn. Cuối cùng tất cả đều đồng ý một điểm, chỉ có phép lạ mới có thể giải thích được chuyến vượt biển kỳ lạ của con tàu ĐN1601CA. Phép lạ nhãn tiền mọi người đã gật đầu ngay sau khi đặt chân lên đất liền, và 30 năm sau, họ lại xác tín niềm tin vào Thiên Chúa thêm một lần nữa.
Ông chủ tàu đọc một bài chào mừng ngắn. Ông nhấn mạnh đây là dịp hội ngộ nhưng mục đích chính vẫn là cảm tạ Thiên Chúa. Thánh lễ tạ ơn do cha Trần Bạch Hổ chủ tế. Ngài thổ lộ thật không ngờ sau 30 năm lại mà con tàu qui tụ được từng ấy người. Đây phải kể là một kỳ công. Ngài cũng chưa bao giờ dâng một thánh lễ đặc biệt đến thế. Thánh lễ của những thuyền nhân. Ca đoàn hình như hát hay hơn bao giờ, bõ công luyện tập cả một ngày thứ Sáu. Giọng của ca viên tha thiết hơn, trầm bổng hơn dâng lên Thiên Chúa đã cứu vớt 163 người hơn 30 năm trước. Tiếng hát lơ lửng giữa vùng đất đỏ, quyện với hơi thở của rừng cây để lại trong lòng những thuyền nhân mối thân tình ấm áp của bầu trời Brisbane. Dâng của lễ lên Thiên Chúa gồm chiếc thuyền gỗ cùng với bánh và rượu, nói lên tấm lòng biết ơn của những thuyền nhân tàu ĐN1601. Chúc bình an, mọi người nồng nhiệt bắt tay nhau nhớ lại những ngày gian truân lênh đênh trên biển. Thánh lễ kết thúc với bài hát “Mẹ Thuyền Nhân” trong niềm hân hoan của mọi người.
Bàn ghế rộn ràng kê dài dọc theo căn nhà trống vách. Năm dãy bàn dài, cỡ 40 người mỗi dãy; tính ra thực khách và bà con thân thuộc của ông Đỉnh đổ về hơn hai trăm người. Bếp núc nhộn nhịp, lửa đỏ rực dưới đáy nồi, hầu như không bao giờ tắt. Đầu bếp bận rộn rửa, cắt, thái từ sáng sớm đã đành và hầu như suốt bữa ăn cũng chẳng ngừng tay. Thức ăn dọn la liệt trên bàn, mọi người thưởng thức các món trên thực đơn. Ông bà Đỉnh vui vẻ đến từng bàn cụng ly, hỏi han, chụp hình lưu niệm. Có người bảo, chụp đi kẻo không biết khi nào còn gặp lại. Tôi ngẩn người nghĩ đến câu nói mà không nén được tiếng thở dài. Những thuyền nhân ba mươi năm trước bây giờ tóc đã hoa râm, da mồi. Có người đề nghị lần hội ngộ 35 năm. Lòng hiếu khách của ông bà chủ tàu vẫn nồng nàn nhưng với tuổi đời chồng chất, không ai dám chắc sẽ gặp lại hết từng ấy người trong lần tới.
Có một chi tiết thú vị khi có người đố tổng số người của tàu ĐN1601 đặt chân lên đảo Biđông là bao nhiêu? Câu trả lời ai cũng biết là 163 thuyền nhân. Con số này chưa đúng hẳn. Đúng ra là 163 ½ người vì vừa lên đảo được hơn tháng có một phụ nữ sinh hạ một bé gái. Một phụ nữ mang thai gần đến ngày sanh dám vượt biển kể là một kỳ công. Thời gian đó, chủ tàu thường mê tín dị đoan nên dứt khoát không bao giờ chấp nhận khách mang thai lên tàu. Sở dĩ phụ nữ này vẫn lên tàu như mọi người là vì ông chủ tàu là người có đạo, không tin chuyện mê tín. Một điểm lý thú nữa là bé gái sinh ở đảo năm đó nay đã lập gia đình, một người mẹ với đứa con mấy tháng tuổi. Mẹ bồng con bay từ Tân Tây Lan đến tham dự ngày hội ngộ. Lịch sử của con tàu ĐN1601 gắn liền với số tuổi đời của người đàn bà này. Ba mươi tuổi đời kể từ ngày sinh ở đảo Biđông bằng với ba mươi năm hội ngộ.

Trinh, bé gái vượt biên trong bụng mẹ nay đã tay bồng tay bế

Một buổi tối đầy ắp tiếng nhạc. Mọi người đua nhau hát. Thức ăn dọn vào rồi lại dọn ra mời khách còn quyến luyến đêm hội ngộ. Khách vơi dần khi trời về khuya nhưng tiếng hát vẫn cất lên. Bài “Xin đời một nụ cười” vang lên rộn rã với điệp khúc: TỰ DO ơi TỰ DO! Tôi trả bằng nước mắt, TỰ DO ơi TỰ DO! Anh trao bằng máu xương, TỰ DO ơi TỰ DO! Em đổi bằng thân xác, Vì hai chữ TỰ DO! Ta mang đời lưu vong.
Vì hai chữ Tự Do, 163 người đã bỏ nước ra đi. Cũng vì hai chữ Tự Do mà hơn nửa triệu thuyền nhân bỏ xác trên biển Đông.
Cảm tạ Thiên Chúa đã đưa con tàu đến chốn bình an. Cám ơn ông bà Đỉnh, chủ nhân con tàu ĐN1601. Sau cùng, cám ơn khung trời Úc đã đón nhận hơn nửa số thuyền nhân hội ngộ sau 30 năm.
Hẹn gặp lại nhân dịp 35 năm.

SƠN NGHI