Về ngang

Mưa đen trời phía đó
Em đi về hay đi
Đêm qua một phương lạnh
Chiếu chăn chẳng ích gì

Em có ngàn bí mật
Ngày tay chưa nắm tay
Ngày tưởng môi sẽ ngọt
Ngày ngỡ tình sẽ dài

Một hôm từ phím lạnh
Bước ra tìm hương quen
Da thơm như mùi lúa
Mắt châu thổ u huyền

Tháng mười giông bão đến
Biết vì sao phân ly?
Bụi phố phường cay mắt
Thôi về ngang làm gì?

Nguyễn Đình Bổn

Advertisements

RƯỢU BUỒN

một ngày có những điều buồn quá
rượu say về lạc mấy nẻo đường
em ạ, những cung sầu hãy mở
để giữ chút tình bạn tứ phương

bạn ta hào sảng ca như khóc
trả tiền dăm đợt nhậu như không
nước mắt thương thân mình thương bạn
thương má hồng phai giữa bụi hồng

đời loạn còn bao lòng khoáng đạt
còn ai chia sẻ những u tình
còn ai tay nắm tay ngồi hát
bật một tiếng cười ngạo nhục vinh!

em ta tiếng hát buồn như nấc
tiếng hát buồn như tuổi ấu thơ
tiếng hát buồn như đời dang dở
thôi vội vàng chi phía mịt mờ

ta nắm tay em choàng vai bạn
nghe thương như thể thịt da mình
một ngày buồn quá khô nước mắt
vẫn hẹn nhau về nẻo phục sinh.

Nguyễn Đình Bổn

chạm

Sầu ở lại một đêm cùng bè bạn
hát cùng nhau những xưa cũ một thời
hát hay khóc lúc tương phùng cộng nghiệp
những mảnh đời tan tác chạm khi trôi…

Khi anh chạy xe về qua phố rộng
rất nhớ em người gái nhỏ chiêm bao
lúc ta chạm vào nhau ngày đã cạn
mà bình minh còn trốn biệt phương nào?

Thời ta sống những điên cuồng u uất
bàn tay không, con chữ cũng bằng không
chỉ còn lại những bờ vai bè bạn
và tình riêng chia sẻ với môi hồng…

Chạm vào nhau chạm vào nhau run rẩy
em đừng buông anh đã đủ u sầu
bạn đừng vội ra về khi khúc hát
với rượu buồn đang lau mắt cho nhau.

Nguyễn Đình Bổn

Chàng chăn dê ở Cần Giờ và một thực thể huy hoàng đổ vỡ

Bờ biển bị ngăn bởi một hàng rào bằng lưới sắt cũ có nhiều dây bìm bìm đang ra hoa. Con đường nhìn ra biển với vỉa hè được lát gạch trước những quán cà phê, quán ăn tạm bợ của những người chủ kê những chiếc ghế nhựa ra ngoài đón du khách. Về cuối hàng rào có một khoảng trống nhiều cỏ mọc, phía trước là vịnh biển nhìn qua bờ Vũng Tàu, và sau lưng có một xí nghiệp hải sản bỏ hoang. Nhiều đá xanh bỏ thành đống trên bờ, chắc để tiếp tục xây bờ kè.

Buổi chiều. Cô gái ngồi một mình trên đống đá nhìn ra biển. Nắng nhạt trên những ngọn sóng nhỏ. Bãi biển gần như không có du khách vì cát ở đây khá bẩn. Bỗng nhiên cô quay mặt nhìn lại hướng hàng rào của xí nghiệp hải sản vì nghe những tiếng kêu là lạ. Và từ phía sau hàng rào bỏ hoang đó, qua một khoảng trống nhỏ từng chú dê chậm rãi bước ra. Có khoảng chục con như vậy, đi sau chúng là một chàng trai, tay cầm một nhánh cây vung vẩy. Trước sự ngạc nhiên của cô gái, đàn dê vẫn tiếp tục đi về hướng cô ngồi. Chàng chăn dê cũng đã nhìn thấy cô và anh tự nhiên mỉm cười đưa bàn tay không cầm nhánh cây vẫy vẫy. Cô gái cũng dùng tay chào lại nhân vật làm mình chú ý này. Khi đã đến gần, chàng trai la to: “Stop chút đi các chú dê!”, và bước đến nhìn cô gái, nói một cách tự nhiên: – Hi, lần đầu tiên anh thấy một người xinh đẹp ra ngắm biển Cần Giờ như em đó nhen!

Định tán tỉnh đây. Cô gái thầm nghĩ nhưng vẫn trả lời:- Cũng lần đầu tiên em thấy một anh chăn dê mang kính cận!

Chàng trai ngồi xuống một tảng đá:- Anh ngồi chút xíu được chớ? Ba ngày rồi không nói chuyện với ai.

Cô gái gật đầu, cười mỉm, dạ nhỏ.

Chàng trai ngồi xuống, cũng nhìn ra hướng biển với cô nhưng lại không nghe anh nói gì. Cô gái nhìn cái túi vải chàng để trên mấy phiến đá, nó cộm lên, rõ hình là một cuốn sách dày. Cô cười nụ: – Em tò mò xíu, cái gì trong cái túi của anh?

Chàng trai quay lại, thoáng chút bối rối: – Hì, không có gì, chai nước…
– Và một cuốn sách?
– Hì…
– Em có thể biết anh đọc gì không?
– …

Chàng trai nhắc cái túi lên, mở ra và đưa cho cô một cuốn sách khá dày. Đó là cuốn Istanbul – Hồi ức và Thành phố của Orhan Pamuk bản tiếng Việt.
– Dạ, em cũng có cuốn này, đã đọc nhiều lần.
– Ừ, một thực thể huy hoàng đổ vỡ…

Họ nói một chút về sách, nhưng rồi lại im lặng nhìn ra biển như thể không muốn những tò mò về nhau làm tan mất không gian yên bình đến lạ lùng này. Nắng tắt, đàn dê kêu be be, chân chúng dẫm loạt soạt trên cát vẻ như sốt ruột nhưng vẫn đứng quanh đợi chủ.

– Tụi nó đòi về kìa anh?
– Không sao, hì tụi nó quen rồi.
– Anh có mấy con dê?

Cô hỏi xong, nhìn chăm chú đàn dê và đếm: Một, hai, ba…
– Chín con, à mười, vì một con sắp có em bé.

Cô bật cười vì cái chữ “em bé” của anh. Gương mặt anh sạm nắng nhưng hiền lành như nụ cười. Anh bỗng hỏi:

– Sao em ngồi đây một mình?
– Dạ, em… thích vậy.

Im lặng. Cô nhìn ra mặt biển đang thẩm màu, rồi như thấy câu trả lời của mình dẫn vào lối cụt, cô nói:
– Em đi nghỉ dài ngày với anh chị, họ dự tiệc trong nhà hàng còn em trốn ra đây!

***

Buổi chiều, cô gái vẫn ngồi chỗ cũ nhưng đến sẫm tối, vẫn không thấy đàn dê trở về như hôm qua. Cô ngồi đến tối mịt, cho đến khi nhìn thấy những ánh đèn bên kia vịnh Gành Rái. Cô bỗng thấy tiếc là mình đã không hỏi bất cứ một thông tin để kết nối nào từ anh, mà anh cũng vậy, nhìn thân thiện mà vô tình. Có tiếng ai gọi tên cô. Là bà chị đang đi kiếm. Cô vội vàng lên tiếng vì sợ chị mình hốt hoảng. Hôm sau, thứ sáu, mai là họ về lại thành phố, nhưng qua dò hỏi một chị bán cà phê, cô đã biết đó là đàn dê duy nhất ở đây…

Khi cô bước qua chiếc cổng cùng người chủ nhà, những con dê bị nhốt trong chuồng dường như nhận ra cô, bọn nó kêu be be mừng rỡ. Đó là một khoảng đất rộng xây tường bao chung quanh. Có một căn nhà xây cao, nơi đó phát ra tiếng chim yến gọi bầy và từng đàn yến lượn quanh xung quanh mái nhà. Thì ra là một trang trại nuôi yến nhưng lại có chuồng nuôi dê. Bà chủ là một phụ nữ ngoài bốn mươi hơi ngạc nhiên khi thấy cô hỏi về anh, người chăn dê đeo kính cận và đọc Orhan Pamuk.

– Quốc ha? Nó là em trai chị, hay về đây chơi. Tuần rồi không biết sao ở đến mấy ngày. Ông xã chị về đây kinh doanh, chị theo về đây rồi muốn ở lại luôn, nuôi mấy con dê cho vui thôi.
– Dạ..
– Nó học luật, hội họa… nghiên cứu cái gì đó mà về đây thường thức đến gần sáng, nói chung là… lung tung. À, lại nói muốn sau này yên bình về đây sống nữa chớ.
– Dạ, em gặp ảnh hôm trước, khi ảnh dẫn bầy dê về. Em cũng sống ở Sài Gòn nên muốn làm quen, học thêm về ảnh mà hôm đó quên xin facebook, số điện thoại.

– Ừ, vậy em có muốn hỏi chị thêm điều gì không?
– Dạ… thôi. Em về đây!
– Ừ, ghi số điện thoại của nó chưa?
– Dạ, em ghi rồi, cám ơn chị!

***
Trung tâm thành phố.

Sáng Chủ Nhật. Cô thỉnh thoảng vẫn cùng bạn bè đi mua sắm nhưng lần này không khí cực kỳ ngột ngạt. Có rất nhiều cảnh sát và những người mặc áo dân phòng. Khuôn mặt họ căng thẳng, nhiều người trông dữ tợn, trên tay cầm bộ đàm và dùi cui. Hôm qua cô đã gọi cho Quốc và anh hẹn chiều Chủ nhật đi uống cà phê nhưng khi cô cho biết buổi sáng mình mới rảnh, anh có vẻ đắn đo rồi nói:

– Sáng Chủ nhật tại trung tâm thành phố có thể có biểu tình, anh sẽ ra đó.
– Em có đọc trên facebook, em gặp anh tại đó được không?

Quốc có vẻ ngần ngừ:
– Em đã từng đi biểu tình chưa? Như vụ chống Formosa hồi 2016?
– Dạ chưa…
– Hay chiều mình hẹn cà phê đi, anh nghĩ em chưa nên ra đây vào sáng mai.
– Tại sao vậy?
– Anh không biết, mà thôi tùy em. Ra thì gọi cho anh!

Những con đường đổ về trung tâm như nén lại trong một không khí ngờ vực từ các đám đông, các đội dân phòng áo xanh và cảnh sát cơ động. Khi nói chuyện cùng Quốc, cô không nghĩ tình hình căng thẳng như vậy. Lảng tránh ánh mắt soi mói của đội quân áo xanh và cảm thấy sờ sợ, cô bước vô phía trong công viên, nơi có nhiều bạn trẻ trạc tuổi mình vẫn điềm nhiên ngồi uống trà sữa mua từ các xe đẩy lưu động. Vừa đứng đó vừa nhìn quanh và định gọi cho Quốc thì bỗng nhiên có rất nhiều tiếng còi tuýt tuýt chói tai vang lên. Tiếng chân người chạy sầm sập. Trong thoáng chốc những người trẻ tuổi cách cô chừng 10m đứng vụt dậy thành vòng tròn và rút từ trong túi ra những tờ giấy A4 có ghi những dòng chữ đậm phản đối Luật đặc khu. Rất nhiều người mặc đồng phục xanh quây kín các bạn trẻ và dùi cui đã vung lên. Những người trẻ tuổi vẫn đứng yên và họ hô vang các khẩu hiệu phản đối.

Giờ thì cô sợ hãi thực sự. Lần đầu tiên trong đời cô nhìn thấy bạo lực ngay tại trung tâm thành phố. Cô không còn nghĩ đến cuộc hẹn với anh và nhanh chóng rời khỏi công viên. Trong lúc chạy cắt ngang con đường đã bị chặn xe, cô nhìn thấy rất nhiều người trẻ tuổi, cả phụ nữ bị khóa chặt tay, quăng lên những thùng xe cảnh sát. Cô thoáng nhìn thấy một khuôn mặt giống như anh, với khóe miệng rướm máu đang bị ba người mặc thường phục khóa tay nhưng không còn chiếc kính cận, hoặc chính là anh nhưng chiếc kính đã văng mất.

Những dòng nước mắt hổ thẹn rơi dài trên hai gò má cô nhưng nỗi sợ hãi đã lấn át tất cả. Khi đã rời khá xa khu vực bị đàn áp hỗn loạn, cô ngồi thụp xuống một góc tường, run rẩy lấy điện thoại ra bấm vào tên “chande” nhưng chỉ nghe những tiếng tút ngắn ngủi…

***

Đã vài tuần kể từ hôm chạy trốn, cô chưa dám bấm lại vào cái số điện thoại mà ngày nào cô cũng mở ra nhìn. Giờ thì cô đã dần quen với không khí nặng nề tại trung tâm thành phố trong những ngày nghỉ với các barrier tua tủa. Sáng chủ nhật này, cô mang theo một bó hồng nhung và nhẫn nại cài từng đóa trên hàng rào kẻm gai. Cô lẩm nhẩm lại câu nói của anh hôm ở Cần Giờ: “Một thực thể huy hoàng đổ vỡ…”.

Nguyễn Đình Bổn

RƯỢU BUỒN

Khi Phương xuống taxi ở đầu con hẻm, anh nhận ra con đường dẫn vào khu vực nhà mình đã có nhiều thay đổi. Khu hàng quán chật chội, dơ dáy bán đồ ăn sáng và đồ nhậu chiều đã biến mất, thay vào đó là một dãy cửa hiệu bán quần áo thời trang với những cửa kính sang trọng và tiếng nhạc ầm ĩ. Mọi thứ thật nhanh chóng, mình vừa đi vài tháng… Phương nghĩ vậy. Chàng bước vào con hẻm với chỉ một chiếc túi du lịch nhẹ nhàng. Sau một khúc quanh nhỏ có những hàng rào bông giấy hồng, cánh cổng màu gạch hiện ra. Dừng lại trước cổng, Phương ghé mắt nhìn vào sân. Cánh cửa nhà không khóa ngoài chứng tỏ có người bên trong, nghĩa là Thu đang ở nhà. Phương huýt sáo miệng. Không thấy con Pit chạy ra nhưng có tiếng động nhỏ như tiếng khua chân tìm dép rồi bóng Thu xuất hiện sau ngạch cửa.

Nhìn thấy Phương, Thu không tỏ một chút ngạc nhiên. Như ngày xưa, khi chàng đi làm về, nàng nhẹ nhàng kéo cái then ngang, đẩy nhẹ cánh cửa sắt để Phương bước vào. Phương nhướng mắt với Thu, nói đủ cho nàng nghe: “Chào em, vẫn khỏe chứ hả”.

Phương cởi giày. Bước qua cửa, ngồi xuống cái ghế đối diện giá sách trống không. Ở bên trên, hơi cao là tấm ảnh cưới của họ. “Anh ăn cơm chưa?”- Thu hỏi, vẫn là những câu hỏi của ngày cũ. Phương liếc qua màn ảnh ti vi đang mở. Hai nhân vật trẻ trung xinh đẹp đang đối thoại với nhau. Một bộ phim Hàn Quốc chủ đề tình yêu. “Chưa, em có nấu cơm không? Hay mình ra trước hẻm ăn cơm gà?” “Có, em có nấu, em nghĩ bữa nay anh về, đợi em xíu vô dọn liền” “À, mà Pit đâu rồi em?” “Nó mất rồi, em mở cửa, nó chạy đi và không thấy quay về”.

Nàng vẫn hướng mắt vô màn ảnh, cái remote lăm lăm trong tay. Phương nhìn vào đó. Một nhân vật nam trẻ thuộc loại “kinh điển phim Hàn” đang nói với cô gái: “Thiên thần của anh, nếu bẻ gãy cánh để giữ thiên thần ở lại thì anh đã quá tham lam”. Thu liếc nhìn Phương, rồi nàng nhổm dậy, dứt khoát nhấn mạnh nút stop…

Bàn ăn vẫn trải cái khăn cũ, có in hình chìm những hoa loa kèn tím. Thu bước vào căn bếp nhỏ. Phương nhìn cái dáng phía sau của vợ đã dần đẫy đà lên dù nàng chưa qua tuổi ba mươi và chưa một lần sinh. Mâm cơm có cá chiên, thịt ba rọi xào đậu và canh mồng tơi nấu tôm khô. Phương với tay lấy cái túi du lịch, lôi ra hai chai rượu vang nhỏ: “Vang Đà Lạt. Nhưng uống hết chai cũng say”. Thu đứng lên, lấy hai cái cốc pha lê trong tủ gần tường và một cái mở nút. Phương rót gần đầy cả hai cốc…

Hai người uống gần hết chai rượu. Trên giường ngủ họ nằm sát vào nhau. Phương cảm thấy gò ngực vợ rất cứng. Khi bàn tay anh lần về phía dưới, Phương thấy nó cộm lên. Thu nói: “Em đang kẹt. Nhưng nếu anh muốn để em vô toilet rửa sạch đã”. Phương ôm ngang mình vợ: “Thôi em, mình ngủ đi!”

***

Phương ngồi cà phê với bạn bè đến gần trưa. Minh hỏi: “Mày lại lên Đà Lạt? Sao cứ bỏ Thu ở nhà một mình?” “Tao nhớ mấy cuốn sách và không khí trên đó, ước chi tao có hai đứa con gái dễ thương như mày, Thu vẫn vậy, lúc nào cũng phim bộ” “Hồi xưa tụi bay yêu nhau kinh lắm mà, mày nói nếu Thu có coi phim bộ cả đời mày cũng không chán!” “Thu cũng từng nói có thể bán nhà để mua sách cho tao đọc, nhưng nàng cũng chán nó và đóng gói gửi tất cả lên Đà Lạt đó thôi”. Phương nghe bạn thở dài “Tụi mày lạ lùng quá!”

Gần 12g, Minh dùng xe máy chở Phương ra tới bến xe miền đông. Chàng mua một vé Đà Lạt tại quầy. Ngay lúc chiếc xe khách “chất lượng cao” lăn bánh được vài mét, Phương bật dậy, bước về phía cửa nói với tài xế “Anh thông cảm, cho tôi xuống, tôi bỏ quên một món đồ quan trọng”. Người tài xế liếc nhìn Phương rồi cho xe dừng, nhấn nút cho cánh cửa mở ra. Phương lao ra cổng, nhảy lên một chiếc taxi…

Xuống taxi ở đầu con hẻm, Phương đi như chạy về nhà. Chàng đập cổng. Không nghe tiếng Thu. Phương thò một bàn tay vô trong. Thu chỉ cài then trên. Có thể mở được từ bên ngoài. Phương mở được cổng. Cửa nhà khép hờ một cánh. Phương lao vào. Thu nửa nằm nửa ngồi trên sàn nhà, từ phần nách của nàng tựa trên cái ghế thấp. Dưới chân Thu chai rượu vang Phương để lại đã mở nút nằm ngang. Từ trong đó một chất màu đỏ chảy ra nhưng đã đông cứng trên sàn nhà. Phương đưa tay sờ mũi vợ. Khuôn mặt nàng đã lạnh. Từ miệng Thu, một chất đỏ nhưng trong suốt và đông như hổ phách dính chặt vào nệm ghế. Màn hình tivi vẫn mở, rất lạ lùng là nó đang chiếu một bộ phim Hồng Kông xưa, nhân vật nữ đang nói với người tình khi từ biệt “Bảo trọng!”.

Nguyễn Đình Bổn

7.2014

Cái Bánh

(Ngày 21-10-2013, chiếc máy bay ATR 72 của Vietnam Airlines (VNA) thực hiện chuyến bay số hiệu VN 1673 từ Hải Phòng đi Đà Nẵng đã rơi mất 1 bánh ở phía trước ngay trên vùng lũ!)

Nước réo ầm ầm bên dưới. Thằng Bi run lẩy bẩy. Từ hôm qua gói mì tôm sống cuối cùng đã được bẻ ra chia làm bốn và sáng nay cả bốn người đói lả và lạnh cóng nằm phủ phục trên mái nhà. Bầu trời thấp, nặng mây đen như báo hiệu những cơn mưa điên cuồng sẽ tiếp tục trút nước xuống. Gần cả xóm đã được dời đi từ ba hôm trước. Lúc đó mấy người mặc áo mưa dày, đội nón cối có hứa là sẽ quay lại ngay lập tức để đón những người còn lại nhưng qua một đêm mưa như trút nước, nước dâng càng cao hơn mà vẫn chẳng thấy ai quay lại, cho đến hôm nay, hình như họ đã bị bỏ quên!

Thằng Bi rướn người, quờ tay xuống cố khum bàn tay lấy một chút nước vả vả vào đôi môi khô nứt. Bác Quyết, bác Nhân và chú Hùng gần như chỉ còn sức bám tay vào những viên ngói cũ để khỏi rơi xuống dòng nước lạnh. Bác Quyết thì thào “Cháu lấy cái nón… cái nón cối múc cho bác ít nước, bác đói quá”. Bi nhìn quanh, chẳng còn thấy vật gì xung quanh trên mái nhà. Những cơn gió đêm qua đã thổi bay tất cả. Nó cố trườn người về phía lỗ thủng, những viên ngói dịch chuyển dưới thân hình quắt queo của nó. Bi đã trườn được tới cái lỗ trên mái, thò đầu nhìn xuống nơi mấy đêm qua cả bốn người nằm co quắp vì lạnh và đói trên những thanh gỗ lót trên các kèo nhà. Phía dưới là dòng nước trắng nhờ nhờ đầy rác rưởi trôi nổi và cuốn tròn, xoáy ra phía các cửa giờ trống hoác. Không còn thấy bất cứ vật dụng nào trên các miếng gỗ họ nằm. Chắc đêm qua, họ đã làm rơi hết xuống phía dưới mà căn nhà nơi họ trú ngụ, dù được xem là vững chắc nhất vùng cũng chỉ còn lại mấy vách tường. Cơn lũ dữ, ngay từ ngày đầu đã làm bật tung mọi cánh cửa và cuốn tất cả vật dụng đi theo, căn nhà gần như chìm ngập trong nước, và cả bên trong lẫn bên ngoài chỉ có rác và các cành cây gãy trôi vùn vụt theo dòng nước. Không tìm thấy vật gì có thể đựng nước, thằng Bi ráng hết sức lực còn lại, rướn người ngồi dậy, tìm cách leo xuống sát mặt nước. Nhờ nhỏ người, nó cũng đặt chân sát mặt nước và ráng hết sức kêu lên: “Các bác lại gần đây, cháu dùng tay hớt nước lên”. Ba người đàn ông có lẽ không khát nhưng cơn đói và lạnh làm họ thấy cần có nước, cùng cố dịch người về phía lổ thủng nơi thằng Bi ló nửa thân lên. Nó gỡ thêm vài viên ngói ném xuống bên dưới, cố dùng tay hớt nước lên cho từng người. Mấy ông già cựa quậy, cố há miệng, le lưỡi hớp từng giọt nước, thân hình họ quắt queo, áo quần đã bắt đầu rách, da thâm lại như da trâu, đã có những vết loét, cả ba cái miệng đều thều thào “đói, đói quá, chết mất thôi”.

Bi dừng tay vì mệt. Nó leo lên mái nhà, nằm sát bên ba người đàn ông lớn tuổi. Bụng nó quặn đau vì trống rỗng. Nó nghe thân thể mỏi nhừ và cảm thấy như muốn ngủ nhưng không thể ngủ vì rã rời. Nó nghĩ đến những người thân, những đứa bạn chăn bò giờ không biết ở đâu nhưng chắc không đói và lạnh như mình và các bác bị bỏ lại. Bi không có cha mẹ để nhớ, từ bé nó lớn lên với chú Hùng, cũng sống một mình cuối xóm, giờ đây cả hai chú cháu đều kẹt lại cùng bác Quyết và bác Nhân. Bỗng nó nghe bác Nhân chóp chép miệng: “Ngon thật! Ngon thật!”. Bi ngạc nhiên, mở to mắt nhìn người đàn ông thường ngày bơm xe đầu làng. Rồi bác Quyết cũng rên rỉ: “Ừ, ngon quá, miếng dồi này béo ngậy!”. Thằng Bi nuốt nước bọt ừng ực. Trong trí nó bỗng hiện ra những bữa thịt chó hiếm hoi chú Hùng dẫn nó đi ăn tại quán Mụ Béo khi có chút tiền. Những miếng mỡ chó vàng ươm, khúc dồi thơm phức, mùi riềng ngào ngạt… Nó cũng nằm xuống, nhưng không nhắm mắt mà ngước nhìn bầu trời xám đục như đang thấp dần, chú Hùng của nó cũng lây vào cơn ảo giác vì đói. Cả ba người đàn ông, không, cả thằng Bi cũng bắt đầu nói về những món ngon mà mình từng được ăn, những món mình thèm ăn mà chưa được hưởng, nước dãi họ túa ra ào ạt và thỉnh thoảng tay chân họ co giật…

Không biết mê man bao lâu, bỗng nhiên thằng Bi nghe có tiếng rì rầm như một loại xe gì đó đang tiến tới và lớn dần. Bản năng được sống cũng đánh thức thính giác của những người đàn ông còn lại. Chú Hùng tỉnh trước, thều thào “Máy bay, máy bay!”. Bác Quyết rồi bác Nhân cũng ráng ngước đầu, nhìn về phía trước và há mồm lắp bắp: “Ồ, máy bay, máy bay. Họ đến cứu mình, họ đem thức ăn cho mình”.

Cả bốn người ráng hết sức tàn, nửa nằm nửa ngồi nhìn về phía chân trời. Nơi đó hiện dần ra một chiếc máy bay cánh quạt. Nó bay khá thấp, có vẻ như đang bay tìm họ. Tiếng động cơ lớn dần, lớn dần. Bốn con người ngồi trên mái nhà đói lả sung sướng vì họ nhìn thấy rõ ràng trong khoang máy bay chất đầy thức ăn. Họ cố đưa những cánh tay gầy vẫy vẫy và hét vang: Ở đây! Ở đây!

Và rồi họ thấy, từ trong cánh cửa máy bay, một ông tiên hiện ra, ông vung tay. Một vật thể sáng ngời, thơm phưng phức bay vút về phía họ. Chiếc máy bay lướt ngang đầu. Cái vật đó rơi đúng vào lổ thủng mái nhà. Cả bốn người gào to mừng rỡ: “Ôi bánh! Cái bánh to quá”. Bác Quyết, bác Nhân thì thào: “Ôi, cám ơn đảng, cám ơn nhà nước”.

Hai ngày sau nước rút. Dân làng lục tục trở về. Giữa cảnh tang thương họ tìm thấy thằng Bi và ba người đàn ông chết còng queo trên mái ngói. Họ nằm châu đầu vào nhau. Răng cả bốn người nhe ra như cố gặm vào một cái bánh bằng cao su màu đen.

Không một tờ báo chính thống nào đăng tin về những cái chết bi thảm này. Chỉ có những dòng tin về việc hãng hàng không quốc gia thông báo tìm một cái bánh trước của máy bay bị rơi trên đường bay đầy trục trặc từ Hải Phòng đi Đà Nẵng.

NGUYỄN ĐÌNH BỔN

Hận Bắc phương

nguyendinhbon

 

Ta hận sống trong thời tăm tối
Sau lưng họng súng với dùi cui
Bắc phương như một loài quái vật
Nỗi hận bầm gan chỉ ngậm cười

Ta hận bọn Tàu đi lố nhố
Bàn chân bẩn thỉu khắp đất mình
Miệng thối mồm tanh còn khạc nhổ
Xì xồ như một đám thần kinh

Ta hận chúng đem tàu chiến đến
Cướp biển cha ông tự ngàn đời
Ra tay giết chết đời ngư phủ
Biển đã bao lần máu thắm rơi

Ta hận chúng mang ngàn thuốc độc
Âm mưu thâm hiểm triệt giống nòi
Con dân nước Việt ngu hèn quá
Tham tiền rước giặc giẫm mồ cha

Ta hận sinh ra thời bạc nhược
Thường mơ sống lại thuở Lý Trần
Khắc trên da thịt nguyền “Sát Thát”
Chết để giữ gìn đất cha ông!

NGUYỄN ĐÌNH BỔN

LỢI THẾ CỦA ÂM NHẠC

nguyendinhbon

Nhân chuyên nhạc bolero, xin đăng lại một tiểu luận tôi viết từ hơn 10 năm trước (tôi giữ nguyên văn), là góc nhìn cá nhân tôi (thời điểm đó) về việc vì sao dòng nhạc ca khúc Việt Nam Cộng Hòa vẫn sống!

Sau 1975, gần như mọi loại hình văn nghệ của miền Nam đều bị cấm, bị xem như “nọc độc văn hóa của Mỹ Ngụy”, trong đó văn chương và âm nhạc được xem như loại ‘đầu sỏ”! Thế nhưng trong khi văn học, với các loại sách báo gần như “biến mất”, chỉ còn lại lèo tèo trong các hiệu sách cũ, trên các lề đường đầy bụi hoặc được giấu giếm một cách hiếm hoi trong các tủ sách gia đình thì âm nhạc,mà điển hình là các ca khúc (được người cộng sản gọi một cách khinh bỉ là nhạc vàng (vọt)) vẫn có một đời sống bán công khai và liên tục, theo tôi đó là do âm nhạc đã biết phát huy lợi thế do tính chất đặc thù của mình.
Ai sống ở Việt Nam sau 1975 đều nhận thấy các ca khúc cũ chỉ “im hơi” một vài năm đầu do tâm lý sợ hãi rồi sau đó vẫn tiếp tục được nghe, được hát trong các gia đình miền Nam và sau đó nó “lấn sân” ra miền Bắc (phần lớn là các ca khúc “bình dân” – boléro) và lấn át hẳn các “ca khúc cách mạng”. Và sau hơn 30 năm, khi thế hệ nhạc sĩ viết ca khúc cũ đã thôi sáng tác hoặc mất đi, các thế hệ nhạc sĩ trẻ lớn lên đã sáng tác theo chiều hướng khác, một điều lạ lùng là người ta vẫn cứ nghe, cứ hát, không chỉ tại Việt Nam mà còn tại các nước mà người Việt đến định cư, những ca khúc cũ một thời, tưởng chừng nó vẫn không cũ đi dù rằng so với thế giới, nó đã hoàn toàn lạc hậu!
Vì sao có hiện tượng này? Nhiều người cho rằng có lẽ các nhạc sĩ viết ca khúc hiện nay chưa đủ tài năng để viết ra những bài ca vượt khỏi “cái bóng” của các nhạc sĩ cũ như Ngô Thụy Miên, Phạm Duy, Phạm Đình Chương, Văn Phụng… hay “bình dân” như Trần Thiện Thanh, Trúc Phương, Lam Phương… và cả xa xưa như Văn Cao, Đặng Thế Phong… cùng với đó là sự bế tắc trong “dòng nhạc đỏ”, khi những “Tiếng đàn talư, Bác cùng chúng cháu hành quân”… đã trở thành xa lạ. Thế nhưng chủ đề bài viết này không phải bàn về chuyện “vì sao vẫn hát nhạc vàng” mà lại nói về chuyện khác, chuyện “vì sao hát được nhạc vàng”.
Lý do thực ra cũng khá là đơn giản. Thứ nhất không như thú đọc sách, phải kén chọn người đọc theo từng loại sách, đề tài, các ca khúc âm nhạc có vẻ “dễ dãi’ hơn. Một ông “cử nhân văn chương” cũng có thể mê “mưa vẫn mưa bay trên tầng tháp cổ” như một bà bán xôi chè trong khi nếu ông ta “hứng bất tử’có đem tặng “bà chị” này một cuốn sách của Phạm Công Thiện thì chắc bà chị chỉ có một cách xé sách ra làm giấy gói xôi! Ví dụ trên cho thấy âm nhạc đã mang tính “quần chúng” hơn hẳn văn chương và chính vì vậy nó vẫn còn “đất sống”. Thứ hai: Đất sống ở đây là do tính đặc thù của âm nhạc ca khúc như dễ nghe, dễ nhớ, dễ… hát. Và đặc biệt hơn dễ… sản xuất, nhân bản!
Cùng bị cấm cùng với sách, nhưng các băng đĩa nhạc ngày ấy, dù bị tịch thu vẫn còn tồn tại trong các gia đình, và chuyện “sang một cuộn băng” để tặng nhau là một chuyện khá dễ dàng, trong khi đó để “nhân bản” một cuốn sách là quá nhiêu khê. Trước những năm 1990, các tiệm photocopy rất ít và được quản lý chặt chẽ, đem một cuốn sách in tại miền Nam ra tiệm để “photo” là đối diện với án tù vì tội “tuyên truyền văn hóa phẩm Mỹ ngụy” độc hại trong khi chỉ cần có một cái catsette đặt trong phòng ngủ là bạn có thể thoải mái săng băng.
Một lý do khác nữa là khi cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ mạnh lên, đông đúc thì nhu cầu thưởng thức âm nhạc đã giúp các “trung tâm âm nhạc” phát triển nhanh chóng. Với lợi thế của một đất nước tiên tiến, các nhạc phẩm cũ nhanh chóng được biểu diễn, thu âm với các phương tiện hiện đại bật nhất, chỉ có tinh thần, cách hát là vẫn cũ và từ Mỹ, các băng đĩa ấy tìm đủ mọi cách trở về Việt Nam, và tại đây nó nhanh chóng được nhân bản (lậu) và cũng phát hành (lậu) ra cộng đồng!
Và nếu để ý chúng ta cũng thấy rằng so với sách báo thì âm nhạc có vẻ được chính quyền “dễ dãi” hơn. Giả sử bạn có ôm đàn nghêu ngao ‘ngày xưa ai lá ngọc cành vàng” mà một “ông công an” văn hóa đi ngang, nghe được thì cũng… chả sao, và sau này thì hầu như chuyện “nghe và hát nhạc vàng’ tại gia đình là điều không bị cấm, dù bạn có rống lên “anh không chết đâu anh”, ‘anh Quốc ơi” hay “hát cho người nằm xuống” cũng chả có ma nào để ý, bởi có thể họ cũng chả biết mấy “thằng cha” trong các bài ca não nùng ai oán kia là ai!
Ngày nay, khi mà không khí đã “dễ thở” hơn, chuyện lật lại vấn đề “in lại và công nhận” các sách, báo miền Nam chắc chắn gặp rất nhiều nhiêu khê và cả không tưởng trong một thể chế toàn trị đầy kiêu ngạo nhưng nhiều mặc cảm, thế nhưng các ca khúc viết trước thời điểm 30.4.75 thì gần như “ngoài cuộc” vì nó vẫn cứ sống từ đó đến giờ. Chỉ có hơn 50 bài của Phạm Duy được hát công khai trên TV, trên sân khấu nhưng tất cả các ca khúc của ông vẫn được hát công khai trong các cuộc vui bạn bè, trong các quán karaoke và cả đôi khi trong các phòng trà. Tình trạng này cũng tương tự như những ca khúc bị cấm của Trịnh Công Sơn bởi người ta vẫn cứ hát, trong khi ấy các “ca khúc cách mạng”, các bài hát ngợi ca lãnh tụ của các nhạc sỹ được ca tụng như thiên tài thì chả có ma nào ngó tới, ngoài các dịp lễ lạt.
Câu chuyện có ông “nhạc sỹ lớn” phân bì với Phạm Duy (khi thấy ông này được công ty Phương Nam ưu ái) ồn ào một thời hay chuyện “live show” của Phạm Duy, của Chế Linh và cả Vinh Sử (người miền Nam không mặn mà lắm với ông này) cháy vé tại Hà Nội mới đây chính là chuyện “nhãn tiền” về một sức sống mạnh mẽ của văn nghệ miền Nam cho giới lãnh đạo văn nghệ hiện tại, và đó phải chăng là lý do rõ ràng nhất để họ quyết tâm phủ nhận văn học miền Nam?

NGUYỄN ĐÌNH BỔN

Facebook tại Viêt Nam

nguyendinhbon

Nhân chuyện Tiến sĩ văn học XHCN Đoàn Hương phát biểu “Theo thống kê thì có đến 50% người chơi Facebook là vô công rổi nghề” (Trích clip Cà phê sáng với VTV3 ngày 23/9/2016), tôi đăng lại bài viết cũ của mình để bạn nào chưa đọc thì đọc cho vui (bài này chỉ dành cho các bạn Fb thân quí của tôi, xét về trình độ ngôn ngữ bà Hương không xứng để tôi phản biện):
Facebook: báo mạng lớn nhất, đa dạng nhất, nhanh nhất và miễn phí tại Việt Nam!

Dẫu là một tài năng ngoại hạng, tay Mark Zuckerberg khi tạo ra facebook hẳn không tưởng tượng được rằng rồi sản phẩm của mình nhanh chóng trở thành một kênh truyền thông số một Việt Nam hiện nay.
Thực vậy từ ngày ra đời, facebook đã thay đổi triệt để cách con người giao tiếp với nhau và chưa bao giờ cụm từ “mạng xã hội” quen thuộc như hiện nay tại các đô thị, trường học… Việt Nam. Điều đặc biệt hơn tất thảy, khi tại các nước phát triển, có nền chính trị đa nguyên, tự do báo chí, facebook gần như chỉ là phương tiện để trao đổi thông tin với bạn bè, biểu thị và quảng cáo “cái tôi”, giải trí, kinh doanh… thì tại Việt Nam, trang mạng xã hội này còn làm hơn thế nữa, khi trở thành một tờ báo lớn nhất, đa dạng nhất, đưa thông tin nhanh nhất và hoàn toàn miễn phí.
Điều này quá dễ dàng nhận thấy. Trong khi tại các nước tư do báo chí, những tờ báo lớn có đầy đủ phương tiện hiện đại nhất, kể cả máy bay và những thiết bị trực tiếp truyền hình, nhằm phục vụ cho việc đưa tin, nghĩa là mọi thứ tin tức mà bạn đọc quan tâm từ ông tổng thống đương nhiệm đi ăn kem đến con chó xấu nhất thế giới vừa qua đời, thì tại Việt Nam, báo chí hoàn toàn nằm trong sự kiểm duyệt khắt khe của nhà cầm quyền, không được thông tin không chỉ là chuyện chính trị ở trong nước, mà ngay cả chuyện giật sụp tượng Lê nin ở Ukraina tờ Thanh Niên, tờ báo khá lớn có giấy phép của Việt Nam, vừa đưa lên đã… gỡ xuống!!!
Trong tình thế ấy facebook đã làm thay mọi tờ báo ở Việt Nam, vượt mặt tất thảy và không có đối thủ có thể cạnh tranh. Chúng ta có thể bắt gặp trên facebook gần như tất cả các cây bút viết bằng tiếng Việt trong đủ mọi đề tài từ xã hội, chính trị, văn hóa, sáng tác, tôn giáo, giải trí… trong mọi thời điểm, mọi lĩnh vực với nhiều văn phong, cách miêu tả khác nhau, phù hợp với đủ loại người đọc, thú vị hơn, nó còn là “tờ báo” châm biếm hàng đầu, khi quay hướng đả kích những tờ báo chính thống, thò ra rồi lại rút vào… như chơi!
Không còn nghi ngờ gì nữa, môi trường facebook hiện nay, nếu nhìn và đọc nó như một tờ báo mạng thì đó chính là môi trường tự do báo chí, một nền tự do báo chí ngoài dự liệu và ngoài tầm kiểm soát của nhà cầm quyền. Tất nhiên nhà nước Việt Nam nhìn thấy sức mạnh của facebook và muốn ngăn chặn nó tương tự như Trung Quốc đang làm là không để nó hoạt động ngoài cái vòng kim cô của mình, nhưng có lẽ điều này là quá muộn một khi internet không thể không là một lựa chọn cần thiết cho một xã hội cần phát triển về kinh tế để mong tồn tại.
Và trong khi chờ đợi một nền báo chí tự do đích thực còn ở tít mù xa, bản thân tôi mỗi ngày khi mở facebook ra, đọc những thông tin thú vị và chân thực, nhận những đường link bổ ích từ bạn bè, tôi lại nghĩ thầm: cám ơn Mark Zuckerberg!
14516323_1204693782918271_2479393607604795887_n

(10/2013)
NGUYỄN ĐÌNH BỔN

THĂM MỘ CHA NGÀY ĐẦU HẠ

nguyendinhbon

mơ hồ loạn lạc hoang mang
tiếng ve mùa hạ như ngàn mũi dao
đao binh tưởng vẫy tay chào
gông cùm vẫn mở máu đào vẫn tuôn

tuổi thơ xiêu giạt cánh chuồn
những dòng sông lạ bao dung dặm dài
cha ngồi đếm đốt ngón tay
ngày cùng tháng tận năm dài vèo qua
sương pha trắng mái đầu già
hùng tâm tàn giữa bôn ba xứ người

ngày cha nhẹ bước trùng khơi
con ngồi khóc lén giữa trời mù mưa
nghĩa trang chiều muộn gió lùa
cha ơi hồn lạnh hè xưa vọng về.

Nguyễn Đình Bổn
5.2009