MỘT NỬA…

tranthienthi

một nửa tuổi
và nắng mùa sửng sốt
buổi hài thêu
yếm thắm
có buồn chi
một nửa gió
chia cho mùa măng trúc
một tay cầm
chưa ấm một hồ nghi
một nửa con đường
chia đều cho nhau
sương chia mây phủ hai đầu núi
lòng hẹn về như một ban đầu
một nửa tuổi
một đêm trường thảng thốt
con chim chuyền
thức dậy muốn bay đi
một nửa kia
nằm lại khóc dậy thì

Trần Thiên Thị

MÀU MẮT BIẾC

nguyenanbinh

 

Tìm trong lá màu mắt em dịu ngọt
Ẩn sau cành lấp lánh tiếng ve sôi
Người đã xa theo mùa hè rực cháy
Cánh phượng hồng thắm đỏ cả hồn tôi.

Tìm trong mưa bước chân son ngày nọ
Sao vô tình bong bóng vỡ đầy tay
Đường hoang phế giữ mối tình cũ kỷ
Chỉ lòng tôi quay quắt đợi chờ ai.

Nhớ đôi mắt nhớ cả mùa phượng đỏ
Thương dòng sông thăm thẳm cánh bèo trôi
Con nước cuốn đem tình tôi đi mất
Mảnh trăng gầy theo năm tháng đầy vơi.

Tìm trong mây màu mắt em huyền thoại
Một trời mơ theo sóng vỗ đêm ngày
Chiều xuống thấp cánh cò về đâu nhỉ
Bờ núi xanh sương lạnh lạc loài bay.

Tôi tìm đâu giữa trần gian bụi đỏ
Chiếc lá học bài ép giữa trang thơ
Màu mắt biếc mơ màng bên cửa số
Rưng rưng buồn chiếc quán nhỏ chiều xưa.

Nguyễn An Bình

 

Truyện của Jane

tonnuthunga

Phỏng dịch từ điện thư của Jane Williams MD...

Patrick Point, Arcata, California.
Thứ năm tuần tới, 25 tháng tám tôi sẽ đi Port Hartcourt, Nigeria, để làm việc trong nhà thương tại khu tam giác Niger với nhóm “Y sĩ không biên giới” trong năm tuần lễ.
Vì gia nhập nhóm MSF- Paris, trước khi lên đường bay qua Nigeria, tôi phải ghé lại Paris vài hôm để họp (hy vọng được uống vài cốc rượu vang ngon, nhưng buồn là không được ăn bánh mì Pháp nữa, vì tôi bị dị ứng tinh bột!).
Nigeria là một vùng rất ô nhiễm bởi kỹ nghệ dầu, thành phố Port Hartcourt có dân số hơn một triệu. Ðây là chuyến đi đầu tiên của tôi với nhóm “Y sĩ không biên giới”. Trước kia, tôi đã từng đi giải phẫu thiện nguyện với những nhóm nhỏ (NGO- non-governmental organizations) đến Việt Nam và Guatemala. Nơi tôi đến, truy cập internet rất chậm và khó khăn vì còn quay số (Dial-up). Tôi sẽ ở Nigeria cho đến ngày 10 tháng 10.
Port Hartcourt, Nigeria- Tháng 9, ngày 14,2011.
“Tôi nhớ Nga nhiều… tôi quá mệt… mỗi ngày tôi giải phẫu ít nhất là 6 bệnh nhân, không có ngày nghỉ. Công việc hàng ngày đầy thử thách và niềm vui… nhớ bạn và cám ơn bạn đã viết cho tôi.”
Hôm nay là một ngày bình thường, yên lặng như mọi ngày tại bệnh viện. Tôi còn một ca giải phẫu cuối cùng. Bệnh nhân này bị cắt chân vài tuần trước, hôm nay ông ta trở lại để chúng tôi cắt thêm 2 inches xương và thịt bị nhiễm độc. Tôi phải chờ thêm một bác sĩ giải phẫu khác đến phụ vì công việc rất khó nhọc nếu tôi một tay phải giữ cái xương, và tay kia kéo cưa bằng cái cưa tay (Gigli saw).
Sau ca mổ này, chúng tôi sẽ đi ăn tối tại Toby’s Jug, một tiệm ăn khoảng 150 thước cách nhà tôi tạm trú. Hy vọng tôi sẽ kiếm được một máy vi tính tối tân hơn và tôi sẽ viết nhiều hơn
.
Chú thích của Nga: Jane là một người có thể lực, cô tập thể dục bơi lội, yoga thường xuyên để có sức làm việc, bác sĩ giải phẫu thường rất mạnh mẽ để đương đầu với nhiều ca mổ lâu và khó khăn. Nhưng khi đi thiện nguyện, Jane phải trở lại dùng những dụng cụ thô sơ hơn trong phòng giải phẫu tại các quốc gia chậm tiến. Thế nhưng Jane luôn luôn lạc quan và kiên nhẫn chấp nhận các tình huống.
Tôi cần giải thích thêm cho bạn về dự án Nigeria: Bắt đầu vào năm 2005 khi vùng này còn là một chiến khu, đầy băng đảng và bạo lực rồi càng ngày càng tồi tệ cho đến năm 2007 thì bắt đầu khá hơn một chút.
Tôi không hiểu tất cả các yếu tố đưa đẩy vào trường hợp này: Căng thẳng chính trị vì bầu cử; đề nghị dân chúng trao đổi vũ khí để chấp nhận công việc làm; nhiều dữ kiện ấy góp lại giúp cho tình trạng bạo lực bắt đầu giảm thiểu.
Những năm trước, Hội “Y sĩ không biên giới” tình nguyện đến xứ này tại vì đây là một chiến khu, an ninh rất chặt chẽ khắp mọi nơi. Nếu phòng cấp cứu có bệnh nhân vào lúc nửa đêm, chuyên viên y tế cũng không thể ra vào nhà thương nếu nhân viên an ninh ngăn cản. Và nếu nhóm chuyên viên này đang ở trong nhà thương thì họ cũng không được trở về nhà (Maison có nghĩa là “Nhà” trong tiếng Pháp cho nên người ta gọi tắt là “Mike Alpha”).
Bệnh viện rất nhỏ, mọi người phải ngủ trong phòng mổ, đêm đêm, mỗi khi nghe tiếng súng bắn gần bệnh viện, nhân viên nằm hết xuống sàn chờ cho mọi việc yên ổn mới trỗi dậy.
Hiện tại tình trạng vùng này được êm ả và an toàn hơn đôi chút, hội “Y sĩ không biên giới” muốn rút ra khỏi Port Hartcourt nhưng chưa được. Làm thế nào để cứu người nghèo và chỗ nào để họ đến xin chữa trị nếu không còn nhà thương miễn phí? Dĩ nhiên tại đây cũng có những nhà thương khác nhưng bệnh nhân phải trả tiền trước khi được đoái hoài đến, nên nhiều người đành chờ chết mà thôi.
Lần đầu tiên khi “Hội Y Sĩ không biên giới”mở dự án này, không ai thèm đến xin chữa bệnh. Người địa phương nghĩ rằng đây là một chương trình bắt cóc rộng lớn, có quy mô và nếu họ đến xin chữa bệnh, họ sẽ bị bắt, rồi giam vào tù, chớ đời nào mà có chuyện chữa bịnh miễn phí như thế được?. Theo lời người y tá kể lại: Một đêm kia, có người đàn ông chết trên lề đường, sáng hôm sau, ông ta đột nhiên cử động đôi chút cho nên người ta ném ông vào trạm xá của “Y sĩ không biên giới”. Ông ta được chữa trị miễn phí và từ đó bệnh nhân bắt đầu ồ ạt kéo tới.
Hôm nay, tôi có một bệnh nhân bị đạn bắn vào gót chân. Xương gót chân bị vỡ nhưng gân Achille còn nguyên vẹn với cái lỗ hổng ngay gót chân. Tôi khâu cái lỗ hổng, chỉ chừa một chút để tháo máu mủ. Sau ba hôm, tôi sẽ khám lại và có thể làm da ghép.
Cách đây mấy hôm, tôi giải phẫu một bệnh nhân bị bắn vào bụng, tôi rất sợ ông ấy bị nhiễm độc nhưng sau ba ngày, ông ta bắt đầu ăn uống bình thường. Thú thật, tôi không nghĩ rằng ông có thể sống được sau cuộc giải phẫu đầu tiên nhưng ông ta đã làm cho tôi quá ngạc nhiên.
Tôi chưa bao giờ nhồi băng cầm máu cho vấn đề xuất huyết dưới màng ruột vì chấn thương, thế nhưng 36 giờ sau, tôi trở lại làm thêm hai phẫu thuật nữa là cắt một nửa đại tràng – hemicolectomy và mở thông hồi tràng – ileostomy. Tôi hy vọng sẽ thành công (xin lỗi những ai không ở trong ngành y mà phải nghe những danh từ nghề nghiệp này).
Một người bác sĩ làm phòng cấp cứu đến nhiệm sở, ông mặc cái áo thun có dòng chữ “I am too drunk to stand”. Nơi đây người ta mặc đủ loại áo thun viết các giòng chữ bậy bạ và phần nhiều vô nghĩa, thế nhưng cái áo ông ta mặc hôm nay chiếm giải quán quân!!!
Bệnh viện chỉ có một máy phát điện trước sân và một thùng xăng chứa 10.000 gallons. Tôi muốn chụp hình và quay phim con đường từ nhà trọ dẫn tới bệnh viện. Tôi chưa bao giờ thấy nơi nào lạ lùng như chốn này! Người dân không có vẻ nghèo khổ, thiếu ăn hay đói khát chi cả; có cái chợ đông đảo, quầy hàng được che bởi các cái dù lớn trên con đường tôi đi qua. Tại đây vào mùa này mưa rất nhiều, khí hậu dịu hơn mùa nắng (tháng 12 tới tháng 5), vậy mà nhiệt độ cũng còn rất cao. Chưa bao giờ tôi thấy rác rưởi nhiều kinh khủng như chốn này! Ghê rợn quá!
Tôi tìm được mấy cái mũ trùm đầu giải phẫu tại căn nhà trọ, tôi đem vào bệnh viện để dùng vì thấy mỏng hơn và ít nóng hơn những cái mũ trong bệnh viện. Tôi hãnh diện đưa cho người bác sĩ giải phẫu xương, anh ta sắp sửa đội lên đầu thì đâu đó rớt ra con gián chết. Thế là chúng tôi lại buộc lòng đội cái mũ nóng bức và dày cộm lại.
Tôi chưa bao giờ đi một mình khỏi cửa nhà trọ. Một căn nhà được bao bọc chung quanh bằng dây kẽm gai. Lúc nào tôi cũng chỉ quanh quẩn trong nhà, trong bệnh viện trừ khi được đi xe chung với mọi người tới tiệm ăn vào xế trưa ngày chủ nhật. Tiệm ăn này tên là “Con Voi Xanh” (The Blue Elephant), cách nhà trọ chừng nửa dặm, ở đó có một hồ bơi lớn. Vì trời mưa nên tôi không sợ cháy nắng, tôi bơi mãi không ngừng và cảm thấy thật sảng khoái. Sau đó tôi ăn cơm với thịt gà và uống bia nội hóa. Ðây mới chính thật là thời điểm vui vẻ nhất trong ngày.
Trong căn nhà tôi tạm trú, gồm có mười hai nhân viên vừa y tế vừa hành chánh, kể cả tôi. Người nào cũng có đời sống rất thú vị, họ đến từ khắp nơi trên thế giới. Nhân viên y tế chỉ ở một vài tháng nhưng các nhân viên hành chánh ở từ 6 cho đến 9 tháng. Tôi rất thích người Quản Trị bệnh viện. Anh ta tên là Richard, tuổi khoảng 50, người dân Anh, lai Ý. Anh ta là một nhà Dịch Tễ Học (Epidermiologist) chuyên khoa sốt rét và đã làm việc 10 năm cho những cơ quan như: WHO (World Health Organization), ICRC (International Committe for the Red Cross) và UN (United Nation). Anh đã sống khắp thế giới. Anh có bốn người con đã trưởng thành, cũng sống khắp nơi và chúng nó được sanh ra tại Papua New Guinea, Italy, France và Africa. Thêm vào đó, anh ta cũng là một nhà kinh tế học và anh hy vọng rằng khi mình chết thì bản cáo phó sẽ đăng cho anh dưới nhãn hiệu “Kinh Tế Gia”, chúng tôi đều tin rằng anh có đủ điều kiện để hoàn thành chí hướng của mình.
Khi hết ca làm việc, khoảng 8 hoặc 9 giờ tối, chúng tôi trở về nhà trọ. Mỗi đêm chúng tôi quây quần ngoài phòng khách chuyện vãn. Thường thì tôi yên lặng lắng nghe. Richard kể rằng anh và vợ đã từng sống tại Bangladesh 6 năm và vợ ông là một nhiếp ảnh gia. Bà chụp hình cho báo National Geographic; trong tháng tới, bà sẽ trở lại Bangladesh để chụp ảnh trên một hòn đảo tại đây, nơi có cả ngàn cô gái bán dâm sống và hành nghề trên ấy, một Disneyland cho người lớn. Đó là sự thật chính tôi nghe được, không thể nào bịa đặt nổi. Richard sẽ ở tại Nigeria một mình từ tháng 8 đến tháng 2.
Ông giữ việc điều hành bệnh viện, mướn và đuổi nhân viên nội địa. Ông hy sinh xa nhà, xa vợ (hai vợ chồng đang xây một căn nhà tại Tuscany) để sống giữa một bầy gián và chuột! Ông ta thích nấu ăn, và nấu rất giỏi. Ông luôn luôn lo cho chúng tôi có đủ bơ và các thứ lặt vặt trong nhà, ông chạy quanh quẩn trong phố bằng chiếc xe Toyota Land Cruiser để tiếp xúc và gặp gỡ các chức sắc. Hôm nay, ông trở về với một chai rượu vang, chúng tôi tưởng rằng đó là chai rượu được vua Ghana tặng nhưng thật ra đó chỉ là một chai rượu dở ẹt, nhãn hiệu Paul Masson.
California – Thứ ba, 20 tháng 9, 6:50 am. điện thư của Nga viết:
Jane,
Love what you are doing for these 3rd world countries. Very interesting and rich life you are having, I am jealous and missing you so much. Stay safe.

Port Hartcourt, Nigeria- Tháng 9, ngày 24
Ngày hôm qua, Richard ra chợ và mua được con cá. Tôi hỏi anh đó là cá gì vậy? Anh trả lời: “Chỉ đi, tôi giết!” Ảnh nói thật nhanh chả có ai hiểu gì hết. Thì ra đây là con cá bông lau tươi, nằm trong cái chậu lớn, khi anh chỉ con cá anh muốn mua, người bán cá lấy cái chày, đập vào đầu con cá cho nó chết rồi bán cho anh.
Richard có máu hài hước nên những câu chuyện anh kể làm chúng tôi cười ngất ngư. Anh là người nổi danh về nghiên cứu bệnh sốt rét khắp thế giới, anh đã từng sống trên 36 quốc gia nên có biết bao nhiêu điều để kể cho chúng tôi nghe. Ví dụ nhưchuyện nuôi heo tại Papua, New Guinea. Tại xứ này, heo quý như vàng; đàn bà cho heo con bú sữa mình nếu con heo nái chẳng may bị chết. Nếu rủi ro có ai cán chết một con heo trên đường thì đó là một tội tày đình. Khi xe hơi vừa được sử dụng tại Papua, New Guinea, mỗi lần heo bị cán chết, mọi người đều quy tội cho anh tài xế. Nhưng đồng thời tại đây thiên hạ nghĩ rằng xe hơi có cái tánh riêng của nó, muốn chạy chỗ nào thì chạy vì vậy khi họ nghĩ rằng ông tài không điều khiển được chiếc xe, người ta vội vàng nhảy ra khỏi xe trong lúc xe đang chạy cho nên bị gãy xương hoài!
Trong lúc nghe Richard kể chuyện xưa của anh tại Papua- New Guinea, chúng tôi nấu con cá, sau khi giết một lũ kiến trên bếp. Con cá tươi thật ngon, tôi sợ ăn cá tại xứ này vì sông hồ bị ô nhiễm nặng của kim loại và dầu cặn nhưng vì thèm quá, tôi cũng đành nhắm mắt đưa cay!
Trong bữa cơm tối, chúng tôi thường chuyện trò, bàn bạc về những công việc làm trong ngày. Hôm nay chúng tôi nói về một nhóm thanh niên chuyên về việc vận tải bệnh nhân, khênh vác, di chuyển đồ đạc trong bệnh viện. Bệnh viện cao ba tầng, không có thang máy nên các anh này thay thế thang máy để di chuyển bệnh nhân từ phòng cấp cứu lên phòng hoặc từ phòng mổ qua phòng hồi sinh. Nhiều người đoán rằng các thanh niên này có liên hệ với các nhóm quân sự; có người thì nghĩ rằng họ là những sinh viên đại học. Không cần biết họ là ai, chúng tôi rất thích họ và ngược lại họ cũng rất mến chúng tôi; chúng tôi chào nhau bằng các cách bắt tay phức tạp, búng ngón tay, múa men đủ kiểu. Những thanh niên ấy mặc đồng phục màu xanh dương, mang dép và dây thắt lưng hỗ trợ. Họ luôn có mặt và làm tất cả mọi điều chúng tôi cần. Hôm nay, Richard cần một căn phòng họp cho các bệnh nhân trong căn lều sau bệnh viện. Anh chỉ cần nhỏ nhẹ ngỏ lời, thế là anh có ngay một căn lều với đầy đủ ghế và cả cái bàn khám bệnh.
Sáng hôm nay, tôi có vài ca mổ theo lịch trình, thường thường thì các ca mổ nhẹ hay bị hủy bỏ vì các ca khẩn cấp khác. Mỗi ngày, tôi thường bắt đầu bằng các cuộc khám nghiệm trong phòng cấp cứu, ICU, và khu dưỡng thương rồi mới về phòng mổ để bắt đầu làm việc.
Tôi mổ xong 3 ca thì nghỉ để ăn trưa. Phòng ăn của chúng tôi bị dột, mái nhà thiếu một mảnh lớn cho nên khi trời mưa chúng tôi bị ướt mèm. Tôi đang ngồi nhìn trời, ngó đất, chờ cho nhân công quét dọn phòng mổ để bắt đầu ca tới thì có người bác sĩ dưới phòng cấp cứu chạy lên kiếm tôi. Anh ta bảo rằng có người đàn bà bị cá cắn nơi cổ nên tôi phải xuống gấp. Tôi chạy xuống phòng cấp cứu thì gặp một bệnh nhân nữ độ chừng 56 tuổi; bà ta đang ngồi trên chiếc thuyền câu cá, bỗng nhiên một con cá Barracuda phóng lên trời và rơi trên cổ bà ấy. Bà ta bị chảy máu dầm dề. Tôi ép bàn tay mình vào vết thương trên cổ bà và gọi toán vận chuyển để đưa bà lên phòng mổ. Tôi bóp chặt vào vết thương và cùng chạy với toán vận chuyển lên lầu. Khi bà lên bàn mổ, tôi gọi kìm, băng và vòi hút. Bà ta bắt đầu ói mửa, người bác sĩ gây mê phải thọc ống thở vào khí quản ngay tức khắc, nếu bà sống được, chúng tôi phải cho thuốc kháng sinh liền, phòng trường hợp bà bị sưng phổi.
Sau một hồi tìm kiếm, tôi tìm ra mạch máu vỡ và khâu lại, tôi đoán có lẽ bà cũng đã bị mất gần 2 lít máu. Phước đức thay là đại động mạch cổ còn nguyên vẹn, không thôi thì mạng bà ta cũng dứt.
Tôi băng sơ cổ bà bằng một xấp băng dày để cầm máu, thở phào nhẹ nhõm chút xíu. Bây giờ tôi mới có thì giờ mặc áo và găng tay khử trùng rồi che khăn quanh vết thương để tiếp tục công việc. Qua cửa sổ phòng mổ, tôi thấy có người cầm một con cá đưa lên cho tôi xem. Ðây là một con cá Barracuda dài gần một thước. Con cá ấy bay bổng lên từ dòng sông và đụng vào cổ người đàn bà trên thuyền câu. Cô y tá chụp tấm hình con cá trước khi người ta mang nó đi.
Tôi cẩn thận gở mớ băng để kiểm soát thì thấy rằng vết thương của bà vẫn còn rỉ máu. Suy luận rằng bà bị mất nhiều yếu tố đông máu, tôi nhét băng vào dưới vết thương và khâu tấm da cổ phủ bên ngoài. Trong vài hôm, tôi sẽ mở chỉ khâu ra để loại bỏ băng cầm máu khi sức khỏe bà khá hơn đôi chút.
Dù tình trạng còn trầm trọng, sau khi rút ống thở, người bệnh nhân tự thở được, thật là điều khó tin! Bà ta ngồi trong phòng hồi sinh một cách vững vàng cho đến khi chúng tôi thực hiện xong xuôi các ca mổ khác. Nếu bà ta sống được cho đến ngày thứ hai, tôi sẽ giải phẫu cho bà lần nữa.
Ngày thứ bảy tuần này, chúng tôi có nhiều trường hợp khẩn cấp không khác gì tuần trước. Gần 6 giờ chiều, chúng tôi vẫn còn 5 ca mổ cần phải làm, chỉ còn một người bác sĩ gây mê ở lại với tôi và tôi phải cân nhắc nhiều về sự mệt mỏi của các cộng sự viên. Tôi có thể làm việc đến nửa đêm nhưng tôi không thể nào làm việc một mình khi không có bác sĩ phụ tá, bác sĩ gây mê và y tá. Tôi cũng không muốn họ giận mình vì họ phải làm việc quá sức để theo kịp tôi. Hôm qua, người điều phối viên kéo tôi ra ngoài và bảo tôi về nhà để nghỉ ngơi. Tôi mỉm cười rạng rỡ và đồng ý ngay nhưng vẫn phải tiếp tục làm việc đến 9 giờ đêm. Chúng tôi bị nhiều ca khẩn cấp đưa lên từ phòng cấp cứu nên những ca mổ trong thời khóa biểu phải dời lại quá nhiều lần.
Một người bạn thân của tôi là chuyên viên xã hội học, rất lo lắng cho tôi và sợ rằng tôi sẽ bị PTSD (post traumatic stress syndrome-Hội chứng căng thẳng sau chấn thương). Tôi cảm động khi thấy mình được quan tâm và sẽ tâm tình với cô ấy sau khi về Mỹ; nhưng bây giờ, tôi chưa cảm nhận được biến chứng ấy. Tôi cảm tạ ơn trên rằng tất cả các bộ phận trong cơ thể mình còn hoạt động tốt và không đau đớn chi cả, tôi thật vui vẻ khi được giải phẫu nhiều trường hợp khác nhau. Cho đến hôm nay, tôi đã giải phẫu gần cả trăm trường hợp, tôi thật là may mắn vì không có ai bị chết cả. Bác sĩ giải phẫu thường bảo nhau: “may mắn tốt hơn tài giỏi”. Và câu nói ấy thật là đúng trong trường hợp của tôi.
Cập nhật trường hợp người bệnh nhân bị cá cắn: Bà ta 70 tuổi chứ không phải 56 tuổi. Tôi tháo băng cổ cho bà, tôi cảm thấy rất hồi hộp; tôi phải nhờ anh bác sĩ giải phẫu xương phụ giúp vì anh ta có bàn tay lớn, trong trường hợp máu chảy lại anh có thể dùng tay chận ngay. May mắn thay, máu đã ngưng chảy nên tôi tháo băng, đặt ống thoát và khâu lại da. Tôi đưa bà về lại phòng dưỡng bệnh, lo rằng bông băng ép mạnh vào đại động mạch cổ, nơi dẫn máu lên não, nếu bị tắc nghẽn có thể gây ra bệnh đột quỵ. May thay thần kinh não bộ của bà hoàn toàn bình thường và bà ta cũng không bị sưng phổi như chúng tôi đoán.
Tôi giải phẫu nhiều trường hợp bị thương vì vũ khí tại xứ này. Sáng thứ hai, 3 giờ chiều, tôi phải mổ cho một ông cảnh sát bị bắn vào bao tử. Ông ta mập mạp và mới ăn xong một bữa cơm đầy bụng. Tôi nghĩ rằng, nhờ cái bao tử đầy tràn, đẩy các bộ phận khác ra sau nên không có bộ phận nào khác bị thương cả. Tôi khâu hai lỗ đạn trong bao tử, nhờ người bác sĩ gây mê bơm không khí vào bao tử qua ống cao su theo thực quản, từ mũi xuống để biết chắc là bao tử không bị xì hơi. Xong xuôi, tôi phải bỏ ra thật nhiều thì giờ để lượm các hạt cơm vung vãi đầy trên phúc mạc bụng. Không dám nói dối với các bạn đâu nhé, xứ này người ta có tên gọi như : Friday, Saturday, Sunday, Monday và các tên như Peace, Miracle, Miracle Gift, Faith… Người cảnh sát này tên là “Monday”.
Cuối ngày, chúng tôi có thể về lại Mike Alpha (Maison theo tiếng Pháp). Richard đã dọn sẵn thức ăn tối nên sau khi ăn xong, chúng tôi ngồi ngoài sân, uống bia nội hóa, kể lại cho nhau nghe các diễn biến kỳ quái trong ngày. Hôm nay, tôi nghe thêm được một danh từ mới: “Alpha Papa”, có nghĩa là “Airport”, nơi tôi sẽ ra đi trong 12 ngày tới. Tôi cảm thấy buồn vui lẫn lộn, tôi yêu thích nơi đây nhưng tôi cũng quá sức mệt mỏi. Thời điểm này là một thời điểm thật điên loạn trong đời tôi và tình trạng ấy sẽ còn tiếp tục thêm mười hai ngày nữa. Tại đây, tôi không vào được internet thường xuyên nên tôi thường viết vẩn vơ và quên bẵng nhiều điều. Hôm nay, tôi viết toàn là tin bi thảm và phẫu thuật, nếu bạn không muốn đọc thì thôi. Tôi viết cho các bạn nhưng cũng là để giải tỏa đầu óc mình hầu còn can đảm tiếp tục con đường tương lai.
Ngày thứ hai, tôi có ít nhất là 15 ca mổ trong chương trình dự định nhưng nào ai biết được đêm nay chuyện gì lại xảy ra!
Chủ nhật là ngày chúng tôi đi đến nhà hàng “Con Voi Xanh”, nơi chúng tôi ăn uống, nhậu nhẹt bên cạnh hồ tắm sau khi làm xong các vụ mổ khẩn cấp. Hai chủ nhật trước, tôi được hưởng thú vui ấy, được bơi trong hồ tắm rất sảng khoái. Chủ nhật này, dù rất mệt mỏi vì người bệnh nhân bị cá cắn, tôi phải đi vào bệnh viện lúc 9:30 sáng để thăm bệnh nhân. Người đàn bà bị cá cắn có số lượng hồng huyết cầu là 13, có nghĩa là rất khả quan. Bà ta tỉnh táo và nhận thức được mình là ai và đang ở đâu và cho biết rằng bà 70 tuổi.
Một ca bị đạn bắn giữ chúng tôi lại bệnh viện cho tới 5 giờ chiều cho nên chúng tôi không đi đến “Con Voi Xanh” được nữa. Về nhà, tôi tập Yoga trong khi Richard nấu ăn trong bếp. Anh ta nấu mì ống, cá ngừ và tương đỏ. Chúng tôi uống bia lạnh, ăn đu đủ vắt chanh và chút rượu Vodka tráng miệng, tôi ăn thêm mấy lát chuối khô giòn, không có tinh bột nên khỏi sợ dị ứng.
Lúc chiều, sau cuộc giải phẫu rất thương tâm, tôi gần bật khóc, tôi phải tự trấn tĩnh và nhủ thầm – đừng nghĩ ngợi xa xôi nữa. Bây giờ tôi sẽ kể lại cho bạn nghe câu chuyện ấy.
Một người cảnh sát vừa mới bị bắn. Trong phòng cấp cứu, tôi nói chuyện với ông ta vài câu và thấy có một cảm tình tốt và nồng ấm với nạn nhân. Ông ta bị bắn bằng súng máy liên thanh, đạn tỏa ra kiểu Kalishnikov (AK47). Kết quả là 4 mảnh xương chậu bị vỡ, hai xương đùi bị gãy, viên đạn thoát ra ngã hậu môn, phá ống dẫn nước tiểu và tiền liệt tuyến.
Tuần này, đây là lần thứ hai tôi phải làm thủ thuật mở thông ruột kết (colostomy- nối trực tràng ra ngoài bụng để phân thoát ra lối khác) cho hai ông cảnh sát bị đạn bắn.
Làm xong phần việc ấy, tôi đặt ống vào bàng quang qua ngả dương vật thì không biết ống dẫn đi đâu vì các bộ phận bị thương tích rối loạn trong phần bụng dưới. Tôi bèn phải mổ một đường rồi mới đem ống tiểu đặt vào bàng quang bằng cách cắt một lỗ nhỏ trên bụng để đưa nước tiểu thoát ra từ lối ấy. Bây giờ chúng tôi có thể đo lường dung lượng nước tiểu của người bệnh. May mắn cho ông ta là hai quả thận không hề hấn chi và nước tiểu trong trẻo, không có máu. Từ năm 1990 đến bây giờ tôi mới có dịp khâu bàng quang cho bệnh nhân, phẫu thuật chẳng có gì mới lạ cả.
Trước khi khâu màng bụng, tôi và hai người bác sĩ giải phẫu khác cố gắng đưa ống tiểu về lại chỗ cũ vì ai cũng mong cho người bệnh nhân đi tiểu ra lối dương vật; thế nhưng dù cố gắng mấy chúng tôi cũng không làm được nên đành chịu.
Hôm nay tôi chưa ăn điểm tâm, đó là một điều thật ngông cuồng và dại dột. Trong lúc các cộng sự viên đặt bệnh nhân lên vị trí mới để giải phẫu hậu môn. Tôi nghỉ một chút để ăn nắm đậu phọng, uống một lon coca và một lon pepsi người nữ điều dưỡng cung cấp; ăn uống xong, tôi lại mặc áo và găng tay khử trùng để làm tiếp phẫu thuật mới.
Ngồi trên cái ghế đẩu trước hậu môn nạn nhân, hai chân ông ta gác hai bên, cong queo với hai cái xương đùi bị gãy, tôi dùng cái ống chích lớn, bơm 5 lít nước qua ngả hậu môn để rửa vết thương, rồi dùng mấy ngón tay mình, lôi ra ngoài các mảnh xương vụn. Xong xuôi, tôi đút ống thoát và nhồi băng cầm máu. Khi ông ta tỉnh dậy, tôi nhờ các anh vận chuyển khiêng ông qua phòng hồi sinh.
Người cảnh sát này dù vẫn còn sống nhưng tôi thật lo lắng cho tương lai của ông ta. Ngày mai, tôi phải mổ cho ông thêm một lần thứ ba! Ðôi khi tôi tự hỏi: Trong vài trường hợp, việc mình làm có tạo thêm nỗi đau khổ hay chăng nếu bệnh nhân được sống sót?
Về nhà trọ, tôi tập yoga một tiếng đồng hồ rồi xuống ăn tối. Tôi xem sơ chương trình ngày mai thì thấy rằng mình phải khâu bắp thịt che khúc xương chân cho một bệnh nhân, nếu không làm như vậy thì bệnh nhân sẽ không đi được. Tôi khá vui vì nhờ xem tập video bằng tiếng Pháp để học hỏi mà tôi đã thành công trong 4 cuộc giải phẫu loại này trong những tuần qua.
Tên bệnh nhân xứ này rất khó nhớ nên chúng tôi đặt các tên gọi cho dễ nhớ như:
Ông Lá – Người gãy chân và đùi, lá dính đầy cả tủy xương trong tai nạn xe hơi. Tôi thấy làng này có hai bảng Stop nhưng không có đèn và cũng không ai chịu ngừng lại khi thấy bảng Stop cả, vì thế có rất nhiều tai nạn gãy chân.
Ông Thuyền – Người bị dây buộc thuyền cắt ngang đùi, gãy cả xương.
Ông Súng Bắn – Người nhập viện cùng ngày với Ông Lá.
Bà Mập Gãy Ðùi – Người bị tai nạn xe.
Ông Dơ Nhớp – Người bị đất nhét đầy trên xương ống chân.
Tuần vừa qua, các ca mổ quá trầm trọng cho nên các ca mổ của hai tuần đầu tiên thật quá dễ dàng.
Sau 3 tuần, tôi hoàn tất 92 ca giải phẫu.
Cuối tuần thứ 4, tôi rời Nigeria. Trước rạng đông, chiếc xe Toyota Land Cruiser một lần nữa lại chở chúng tôi vào phi trường Port Hartcourt, tại đây chúng tôi bay lên Abuja. Abuja là địa điểm chúng tôi họp lần cuối để trả lại “kidnapping kits”(1), nhận lại sổ thông hành và các thứ lặt vặt chúng tôi nhờ cất giùm. Từ chốn ấy, chúng tôi tản mát như những viên ngọc trai bị đứt dây. Tôi phải chờ tại phi trường Abuja 12 tiếng đồng hồ cho chuyến bay về Mỹ. Tôi nằm trên tấm nệm tập yoga dưới bóng cây mát mẻ, hoàn toàn không muốn làm gì hết và cảm thấy rất khỏe.
Nigeria đối với tôi giống như một bản nhạc ngắn, sống động nhưng chấm dứt một cách đột ngột. Tôi nhớ lại bài nhạc xưa của Jackson Browne: …it’s like a song I can hear playing right in my ear, I can’t sing it, but I can’t help listening…”
Patrick Point – California. 10-13-2011
Sáng nay, một ngày “bình thường”, sau khi đưa Ruby – con gái tôi – đi học. Trên đường về nhà, tôi và hai con chó ngừng lại Clam Beach. Tôi chạy với đôi chân trần trên cát, cùng với Roxanne và Little Bit. Chúng tôi chạy tuốt lên địa điểm sông Little River chảy ra giáp biển; tôi lượm các nhánh cây để thảy cho mấy con chó. Tôi hòa mình trong màn sương sớm và chiêm ngưỡng ánh sáng long lanh kỳ diệu muôn màu của vạn vật.
Gần đây, nước dâng cao từ nam hải nên vùng biển nơi tôi ở sóng rất lớn. Sóng đưa vào bờ từng đống rong biển nằm rải rác trên cát. Hôm nay tôi mang về 15 cân rong biển vì tôi có học cách bảo tồn và sử dụng rong biển. Rong biển rất bổ và chứa nhiều chất đạm. Mua trong chợ rất đắt nhưng vì ở gần biển nên tôi chỉ cần ra lượm rong về để ăn.
Tất cả mọi thứ quanh tôi thật là sạch sẽ, không gian rộng rãi, xanh tươi. Tôi chưa biết mình có bị PTSD hay không sau một tháng giải phẫu các vết thương chiến trận; sự tương phản giữa hai thế giới làm tôi chóng mặt. Khi tôi trở về chỗ đậu xe, tôi thấy một người đàn bà với một con chó Labrador già. Bà trải cái thang từ xe xuống để cho con chó có thể dễ dàng trèo lên thùng xe truck. Thùng xe thật sạch, tấm thảm con chó nằm cũng sạch. Gần đây, tôi nhìn thấy quá nhiều người bất hạnh, họ rất thèm muốn được sống trong cái thùng xe truck ấy mà không được!
Sự tương phản… của hai đời sống, từ hai đại lục như trắng và đen. Đó là kết quả tôi cảm nhận sau thời gian tôi tình nguyện với Hội Y sĩ không biên giới tại Nigeria.
Chú thích của Nga:
Sau khi về Mỹ, Jane bị bệnh, nhiễm các chất độc vì tình trạng ô nhiễm nặng tại Nigeria. Cô đang ở nhà dưỡng bệnh một thời gian. Hàng ngày cô đưa con đi học, săn sóc mấy con gà, con chó. Cô trồng rau, bửa củi… cô tập yoga và chạy bộ. Cô kể rằng từ ngày về Mỹ, cô không còn ý chí và tham vọng gì nữa cả! Có lẽ cô cũng như tôi, mỗi lần ở Việt Nam về, tôi cũng không còn vui vẻ mua sắm ăn chơi như ngày xưa nữa. So với cô, công việc tôi làm chỉ là một, công việc cô làm khó hơn cả trăm lần. Ngôn ngữ nghèo nàn của tôi không thể nào diễn tả được sự bao la và quảng đại của tâm hồn cô được.
Tôi nhớ những ngày đứng trên triền đồi nhà cô, tôi nhìn ra biển thái bình xanh ngắt, nắng sớm, chiều vàng, sóng bạc, thông reo. Bình an và hạnh phúc bên bờ biển này- bên bờ kia, sự tương phản như đêm và ngày. Quý thay, những người như Jane và bạn cô đã hy sinh, đem một chút ánh sáng vào màn đêm tăm tối ấy. Cảm ơn Jane.

TÔN NỮ THU NGA

Chú thích:
(1)Kidnapping Kit: Vật dụng phòng thân, tiền mặt, thuốc đau bụng, giấy tờ cá nhân v.v… trong trường hợp bị bắt cóc

Trả lời

chimhai

Người hỏi ta làm gì sáng nay
khi sương đọng giọt nắng chưa đầy
khi lòng viễn khách sầu ly xứ
và bóng chim trời xoải cánh bay

người hỏi ta làm gì tối nay
khi hoàng hôn tắt ánh chân mây
khi đêm về choàng ôm tâm sự
trăn trở riêng ai những tháng ngày

đời cũng qua mộng rồi cũng xa
người đi đi mãi nhớ chăng ta
thì thôi ly khách chờ ly khách
biết hẹn nơi đâu một mái nhà

người hỏi ta làm gì phải không
hồn điên dạo phố đếm người đông…

Chim Hải

Những bài lục bát 1

nguyenthikhanhminh

PHÁO HOA

Hóa vàng nước mắt ta ơi
Mà xinh lễ hội nụ cười cùng anh
Buộc ràng tơ tóc long lanh
Nghe trăm hạt lệ chuỗi thành pháo hoa
Em cô dâu mới, về nhà

VƯỜN XANH

Xanh hơn, những lá trong vườn
Mộng hơn, những mộng vẫn thường mơ kia
Reo hơn, những bước chân về
Thương hơn, cái chỗ thềm khuya anh ngồi
Chỉ vì anh ở đấy thôi…

THỀM NHÀ

Vẽ trên thềm một bóng cây
Màu xanh nắng vẫn mỗi ngày phủ lên
Như chẳng nơi nào bình yên
Bằng nơi em đợi anh, thềm ban mai
Nơi ngoài em chẳng còn ai…

Nguyễn thị Khánh Minh

TIẾNG CHUÔNG

trusa

Tôi và Đán đã tìm được chỗ nghỉ chân tạm thời. Đấy là một thị trấn nhỏ. Nền công nghiệp vẫn chưa hoàn toàn khống chế nơi này nên tôi có thể yên tâm với các lọ nước mắm, cá tươi không dán bao bì. Nơi đây chưa có internet, sóng điện từ nhiễu thường xuyên nên tôi không cách nào để liên lạc với những người còn lại trong nhóm. Dân phượt chúng tôi thường không mang nhiều tiền trong người nên việc ở lại thị trấn quá lâu sẽ là một khó khăn. Dù giá thuê trọ nơi đây rất rẻ nhưng có lẽ chúng tôi phải sớm rời đi. Trước mắt tôi phải đợi Đán sửa xong chiếc xe để có thể tiếp tục cuộc hành trình.
“Mấy hôm mày có nghe thấy gì không?”
Đán hỏi trong lúc đang loay hoay với chiếc cờ-lê.
“Hôm qua tao ngủ sớm.”
“Tao không nói hôm qua.”- Đán vẫn tiếp tục với câu hỏi – “Mà hai hôm trước, nếu tao nhớ không nhầm là hơn mười hai giờ. Tao nghe thấy tiếng kẻng, cũng có thể là tiếng trống ngũ liên.”
Tôi giữ câu nói của Đán trong đầu một lúc lâu. Ngày đầu tiên ở thị trấn tôi đã rất mệt nên vừa nhận phòng đã ngủ một giấc dài. Còn ngày tiếp theo, cũng là tối hôm qua tôi cũng ngủ sớm nhưng tôi chỉ chợp mắt vài tiếng đầu. Có lẽ giấc ngủ của tôi sẽ kéo dài hơn nhưng như Đán nói đã có một âm thanh chen ngang vào giấc ngủ của tôi. Khi đó tôi đã thức dậy. Và tôi vẫn nhớ mang máng về thứ âm thanh lạ hoắc đó. Hoàn toàn không phải tiếng kẻng hay trống ngũ liên. Nếu để nói đó là tiếng gió cào vào vách núi cũng không phải, vì thứ âm thanh đó tuy ở rất xa, cũng như việc nó chỉ thoáng vương trong đầu tôi nhưng tôi dám chắc đó là tiếng của một quả chuông. Tôi thường lên Hà Nội vào mỗi dịp giáng sinh và đã nhiều lần được nghe chuông nhà thờ. Chỉ là tiếng chuông hôm qua không có độ cao, không dội vang và thuần khiết như chuông nhà thờ. Tiếng chuông bị phân rã dần dần và…Tôi chẳng thể nhớ thêm nữa nhưng tối nay tôi sẽ thức nhiều hơn mười hai giờ để có dịp nghe thật kỹ tiếng chuông đó, nếu nó còn vang lên.
Tôi mở điện thoại. Qua một đêm sạc điện, ổ pin đã đầy nhưng vẫn chưa có lấy một tin nhắn. Sau hàng chục cuộc gọi đi tôi chỉ nhận được những tiếng tút tút vô hồn. Ngay cả tiếng nói quen thuộc ở tổng đài cũng chẳng vang lên. Điện nơi đây vẫn có, các thông tin thời tiết, chương trình phim truyện tôi vẫn được biết nhưng chỉ ở dạng âm thanh.
“Nhóm anh cả có lẽ đã đi được vài địa điểm rồi. Chẳng biết họ có đến đảo Cò không nữa.”
Chúng tôi ăn trưa ở một quán cách nhà trọ không xa. Tôi gọi một suất cơm thịt kho, cá dim nước mắm và một đĩa bắp cải luộc. Đán chỉ gọi vài món sơ sài, còn thì kết thúc bữa ăn bằng một cốc rượu trắng.
Dùng bữa xong, Đán mua một chai rượu.
*
Mười giờ tối, không còn ngôi nhà nào sáng đèn. Ở thị trấn này đều là người lao động nên việc ngủ sớm là chuyện dễ hiểu. Nhiều miền quê chín giờ người làng đã đi ngủ. Tôi với điều khiển bật tivi thì chỉ nhận được những dòng xẹt điện đen trắng. Chuyển các kênh khác cũng chẳng có thêm âm thanh nào ngoài tiếng rè rè và dòng chữ mất tín hiệu.
“Tắt đi. Có phim cũng làm quái gì xem được.” – Đán nói và mở balô lấy ra một bộ bài.
“Ba cây uống rượu không. Thằng nào thua phải cạn hết chén.”
“Tao không thích chơi bài.”
Tôi còn nhớ mình có mang theo vài cuốn sách.
Đán vẫn chơi bài, một mình. Gã tự phân ra hai dòng suy nghĩ. Mỗi một ván bài hạ gã rót một cốc rượu, tu bằng sạch.
Mấy cuốn sách tôi mang theo chẳng dễ đọc chút nào. Tôi chúa ghét loại sách quá phức tạp và tôi chỉ đọc nó như một mẹo để mau buồn ngủ.
Cửa sổ vẫn mở. Căn phòng tôi là ngọn đèn duy nhất của thành phố.
Tôi buông cuốn sách đó và ngồi lên chiếc bàn dựng phía cửa sổ. Ngoài trời ngăm ngẳm một màu đen thần bí. Tôi vẫn nghe thấy tiếng gió. Cơn gió không mang lại cơn lạnh nhưng lại xuyên thấu da thịt. Tôi còn nhớ đối diện với cửa sổ có một lùm cây. Cơn gió dù chỉ ở mức vi vu cũng phải đánh động tới mỗi chiếc lá. Vào lúc trời bắt đầu trở khuya thế này tối thiểu cũng phải nghe thấy chút âm thanh. Hình như gió thổi mạnh hơn nhưng chẳng có tiếng sột soạt lá cây. Thứ rơi vào lỗ tai tôi là một âm thanh sâu hút, hệt như được vọng ra từ vỏ ốc.
Mở đèn pin cá nhân, một khoảng sáng dài được chiếu sáng. khung cảnh vẫn đơn chiếc như vậy. Không có lấy một dấu chân người mà chỉ có tiếng gió thổi. Lá cây đang bị hút vào cơn gió, xoay thành những vòng lốc nhỏ. Tôi thấy cả một mẩu xương nhỏ trong vòng gió. Rõ ràng gió chỉ ở mức riu riu.
Đán bảo tôi đóng cửa sổ lại. Tôi nghe theo. Cũng chẳng lý do gì mà đứng trước cửa sổ lâu như vậy.
*
“Có phải hôm qua mày đi ra đường.” – Tôi hỏi Đán khi hai đứa chuẩn bị đi ăn sáng.
Đán dậy trước tôi nhưng trên gương mặt vẫn còn vẻ uể oải của một người thiếu ngủ. Gã ngồi dựa tường, ngửa cổ lên trần, mái tóc chưa chải có vài sợi chổng lên. Lúc gã vươn vai ngồi dậy, chuẩn bị vào nhà tắm tối nhìn thấy gã kỹ hơn. Đôi mắt gã nặng trĩu. Hai khối thâm quầng ở hai bên mắt đang ngày một lan rộng ra như muốn nhấn chìm hai con ngươi vào trũng xoáy vô tận.
“Tối qua mày đi đâu.” – Tôi lặp lại câu hỏi.
“Sao mày hỏi tao trong khi lúc tao bật đèn mày cũng đã không có ở phòng.”
Và Đán bỏ lửng cuộc trò chuyện ở đấy.
Tôi muốn thanh minh lại với gã, vì tôi nhớ rằng cả đêm hôm qua đã ngủ trong phòng. Đèn tôi không bật nhưng tôi đã rọi đèn pin về phía Đán nằm và không thấy gã ở đó. Có thể lúc đó gã ra khỏi phòng để xuống khu vệ sinh phía dưới nhà.
Nhà trọ này chỉ có hai chúng tôi, ba bốn người nữa là khách thuê trọ. Ở tầng một là địa phận của ông chủ và ngay từ đầu tôi đã biết về việc quản lý chặt chẽ của ông. Cửa ra vào được khóa từ rất sớm, những ba lớp khóa. Và tôi cũng không muốn có sự đôi co với ông ta vì rằng tôi chẳng đi đâu buổi tối.
*
Xe đã sửa xong. Chỉ còn lau chùi thêm lần nữa, lắp các phụ tùng vào thì sẽ có thể chạy được. Số tiền tôi và Đán mang theo vẫn còn kha khá nhưng có lẽ chúng tôi phải rời khỏi đây ngay.
Đán nói về bố gã. Kể từ lúc ông ấy qua đời, trong một cơn nhồi máu cơ tim thì những gì liên quan đến ông ấy Đán đều không muốn nhắc đến. Ngày hôm nay gã bỗng nhắc lại chuyện cũ.” Ông ấy trách tao.”- Gã nói. Trên gương mặt vốn đã uể oải từ lúc mới ngủ dậy tôi thấy một luồng xám xịt. Hoàn toàn không phải sự tiếc nuối hay xót xa nào khi gợi nhớ lại quá khứ. Tôi không nghĩ rằng bố Đán báo mộng vì khi dòng điện tâm đồ của ông ấy tắt phụt thì cơn ác mộng cuộc đời gã cũng biến mất. Từ đó gã luôn ngủ rất say và không bao giờ nằm mộng. Điều Đán nói với tôi là về những lời trách móc. Trong cả buổi sáng gã chỉ nói về nó. Những lời trách móc, và chỉ như vậy.
Ở thị trấn này lâu lâu lại có khách ở phương xa đến thuê trọ. Họ chỉ ở vài ngày rồi trả phòng. Dân ở thị trấn khá hiếu khách và việc còn thừa nhiều đất quá lý tưởng để mở một trung tâm du lịch. Chỉ cần có một nguồn trợ lực, đầu tư về điện đóm. Việc quá xiết chặt cửa nẻo khi trời tối khiến bọn tôi phải dành cả ngày để đi hết mọi nẻo của thị trấn. Con sông, các gò đất hoang hay cánh đồng lúa bát ngát tôi đều đã đi qua. Ngoài việc khí hậu trong lành thì nơi đây chẳng để lại ấn tượng gì. Cảnh quan nơi đây thậm chí còn thua xa các miền quê mà tôi biết. Ở các mảnh đất đó còn có cái để tham quan hoặc ít ra thì cũng có những món đặc sản để mua về làm quà.
*
Xăng trong xe còn rất ít nên hai đứa tôi không thể đi đâu xa. Theo những gì tôi hỏi được thì đi theo con đường đất sẽ ra khỏi thị trấn. Đi thêm chục mét nữa chúng tôi sẽ tới một thị trấn khác, nơi đó các dịch vụ thương mại tương đối phát triển, người ở đây vẫn thường tới đó để trao đổi hàng hóa. Không chắc nơi đó có cây xăng nhưng chắc tôi sẽ mua được xăng thùng ở các cửa hàng hoặc trong một khu chợ. Sóng điện trường nơi đó chắc sẽ ổn định, để bọn tôi có thể liên lạc được với nhóm anh cả. Hẳn rằng họ đang tổ chức một bữa tiệc ngoài trời, chụp ảnh hoặc ghé vào các quầy hàng để mua đồ lưu niệm. Nếu trời tối họ sẽ dựng lều, cũng có khi tìm một nhà trọ giá rẻ để nghỉ qua đêm. Nếu không phải tôi và Đán tới muộn thì đã có thể cùng họ có hai ngày vui chơi tuyệt vời. Tôi vẫn nhớ những chuyến du lịch bụi của mấy năm trước. Đó là một bữa tiệc ngoài trời, trên một khu đất bỏ hoang. Chúng tôi đã đốt lửa trại, mở cát- xét và chia thành từng cặp nhảy múa theo ánh lửa. Trong đầu chúng tôi có vô số các ý tưởng kỳ quặc nên chẳng khó để duy trì ngọn lửa trại tới suốt đêm.
Bọn tôi không bắt chuyện với bất cứ ai trong khu nhà trọ. Còn những người ở thị trấn tôi chỉ mở lời khu mua hàng, hỏi thăm về đường đi. Ngay cả lúc nhận từ họ những con cá còn tươi hoặc cái bắt tay thân thiện từ một người già cả tôi cũng muốn bắt quan hệ với họ. Và tôi biết họ đã giấu tôi, về tiếng chuông lúc đêm tối. Không ai trong bọn họ thừa nhận là có tiếng chuông được đánh từ buổi đêm. Cái kẹo mút và gói bimbim không giúp tôi mua chuộc được cái gật đầu của bất kì đứa trẻ nào. Chiều hôm đó tôi đã đi thêm một vòng quanh thị trấn. Đán ở nhà và tôi chỉ đi một mình. Tôi bỏ chút tiền để thuê chiếc xe đạp của một người trong thị trấn. Chiếc xe hơi cà khổ nhưng khá bền.
Nhà cửa ở đây không quá lụp xụp nhưng cũng khó có thể gọi là hiện đại. Ngoài các ngôi nhà trọ thì tất cả đều nhỏ nhắn trong chục mét vuông. Khá nhiều bãi đất bỏ hoang để làm sân chơi cho đám trẻ con. Đã lâu tôi không đạp xe nên đi tầm chục mét thì thấm mệt. Nhiều quãng đường tôi đã phải dắt xe để tránh đâm vào ổ gà hoặc bị tuột xuống một con dốc dài với đầy đá găm.
Trí nhớ tôi rất tốt nên dù đã quẹo vào chục đoạn đường tôi vẫn nhớ đường về nhà trọ. Ở hai bên đường có đủ các loại cây nhưng tất cả đều đã trụi hết lá. Cả những cây cao tầm một mét tới những cây có thể liệt vào hàng đại thụ cũng đều rụng sạch lá. Đang là mùa hè nên không lý nào cây rụng nhiều như vậy. Khi tôi lấy con dao nhỏ móc ở chùm chìa khóa rạch một đường sâu thì thấy nhựa cây vẫn ứa ra. Tôi ngắt dòng suy nghĩ bằng giả thiết về một trận bão lớn càn quét. Những cái cây không phải mối bận tâm của tôi nên tôi đi tiếp. Dẫu vậy, hình ảnh những cái cây trụi lá đã lưu lại trong đầu tôi. Những cái cây thật cao, với bộ cành nhọn hoắt vươn dài tứ phía như cái móng vuốt. Các nhánh cành nhô ra, cài cắm và tạo thành những cái gai nhỏ quanh bộ vuốt. Tôi chuyển dòng suy nghĩ về hướng khác, trước nó kịp gài thêm vào thân cây một đường nứt sâu ngoắm, và trong cái hốc nứt đó là tiếng ùng ục của một cái bụng đang cồn cào.
*
“ Mày thấy ông ấy thế nào?” – Đán hỏi khi tôi vừa bước vào phòng.
Khuôn mặt Đán vẫn mang vẻ xanh xao của một người nhiều ngày chưa ngủ. Môi gã trắng bợt và khô cứng. Ánh nhìn của gã mang những tia dại. Để ý kỹ thì thấy cặp mắt giật giật, mang vẻ sợ hãi. Hắn vẫn lặp lại câu hỏi đó, còn tôi thì né tránh ánh nhìn của gã. Không rõ tại sao nhưng khi nhìn vào đôi mắt đã quá mệt mỏi nhưng vẫn cố mở to ra tôi lại thấy ngột ngạt. Trong cái đồng tử đó không phải là tôi vì ngay cả khi tôi đứng yên thì cái hình hài lạ hoắc đó vẫn di chuyển.
“Ông ấy là ai?” – Tôi hỏi.
“Bố tao.” – Đán nói, mắt vẫn nhìn về phía tôi.
“Bố mày rất tàn bạo, tao nói thật lòng. Một con quỷ.”
“Ông ấy rất thích máu, nên đã có cả một bộ sưu tập các dụng cụ để lấy máu.”
“Nhưng ông ấy chết rồi.”
“Mày biết trong một giấc mộng có bao nhiêu con quỷ không?”
“Mày có thích thử cảm giác mạnh không.” – Tôi nói- “Tao biết một chỗ.”
“Ở thị trấn này ư?”
“Ừ. Nghĩa trang của thị trấn. Bia mộ ở đó nhiều gấp mấy lần ở Quảng trị. Tha hồ mà tham quan.”
Đán lắc lắc đầu. Tôi nhắc lại về cái kế hoạch dạo đêm ở nghĩa trang thêm lần nữa. Chuyện đi vào nghĩa trang vào buổi đêm không phải ý tưởng lần đầu của tôi. Trước đây đã nhiều lần nhóm chúng tôi đã chơi trò này. Tất nhiên không ai đi một mình mà đi theo cặp. Tôi và Đán luôn là một cặp ăn ý. Tôi có thừa gan dạ, còn Đán thì luôn bình tĩnh. Kể cả khi chân vướng vào một bàn tay lở loét dòi bọ trồi ra từ dưới bia mộ, thì thay vì hét rống hay ngất lịm đi, gã sẽ chậm rãi gỡ từng ngón tay ra rồi đi tiếp.
Cả chiều bọn tôi không nói chuyện với nhau. Đán chỉ nằm trên giường, ít lâu lại trở mình vì khó ngủ. Tôi lấy chiếc điện thoại, thử nhấn vài cuộc gọi. Phía đầu dây vẫn chỉ có tiếng rè rè đáp lại. Ngoài cửa sổ vài người dân đã trở về nhà sau một ngày làm việc, mặt mũi ai cũng phấn khởi nhưng chẳng có lấy một cuộc chuyện trò nào vang lên.
Cái nghĩa trang đó tôi vẫn nhớ rõ. Đây có lẽ là nghĩa trang duy nhất của thị trấn nên được xây dựng rất cẩn thận. Toàn bộ nghĩa trang được bao bọc bởi một bức tường đá ong dày. Cánh cổng ra vào được làm bằng thép nhưng vì đã quá nhiều năm nên đã rỉ sét cả. Ổ khóa của cánh cổng cũng đã bị bào mòn. Sự rỉ sét ăn rỗng lỗ khóa và phá đi cấu tạo nhằm khớp với chìa khóa. Nghĩa trang không có đường hậu nên tôi luôn thắc mắc người ở thị trấn sẽ vào bằng cách nào mỗi khi cần viếng mộ.
Cửa vào bị bít nhưng tôi vẫn có thể vào bằng cách leo qua tường. Lúc đó tôi không vào hẳn vì vướng chiếc xe đạp ở ngoài. Tôi chỉ bám trên tường, cheo leo một lúc lâu. Bên trong quả rất rộng, có kích cỡ của một cánh đồng. Đất ở đây nhìn rất bằng phẳng. Cỏ mọc rậm rạm nhưng hầu hết đều là cỏ chết. Các ngôi mộ xây trồi lên trên và được sắp xếp rất gọn gàng. Các ngôi mộ xếp theo từng hàng thẳng tắp. Có một khoảng trống vừa đủ giữa các ngôi mộ để có thể đi lại. Phần đất đi, coi tạm là hành lang khu mồ không bằng nhau. Chỗ đường rất hẹp, chỗ lại quá chật. Lúc rộng dần, khi lại hóp dần, đôi chỗ đường ngoạt chéo, chỉa ngang rồi uốn vòng tròn. Chắc do tục lệ ở đây nên các ngôi mộ được xây cất tương tự nhau. Chúng không xây thành khối chữ nhật, cũng không có mái che, tất cả chỉ là những tấm bia bằng đá. Kích thước và độ lớn của những tấm bia bằng nhau. Rêu phong như nhau.
Cái nghĩa trang với bạt ngàn ngôi mộ khiến tôi thấy hứng thú và muốn được tham quan. Nếu tôi thuyết phục được Đán thì có lẽ đây sẽ là chuyện đáng nhớ nhất mà tôi có thể đem ra kể khi gặp lại nhóm anh cả.
“Vấn đề là ở chỗ không thể để người của thị trấn biết.” – Tôi lẩm bẩm.
Đán tiếp tục trở mình. Ít lâu gã lại vùng dậy, vò đầu, định nói điều gì đó nhưng miệng chỉ há nửa chừng liền ngậm lại.
*
Mặt trời chỉ giữ lại chút ánh sáng cỏn con, vừa đủ để đốt lên một ngọn hoàng hôn ngắn ngủi. Nó sẽ chơi vơi trên bầu trời ít lâu nữa rồi mới hoàn trả thị trấn cho bóng đêm để bắt đầu một chuyến đi dài. Đám trẻ con kết thúc trò chơi rượt bắt, những người lớn thì cũng đã trở về nhà. Muộn rồi và họ cần chuẩn bị cho một bữa tối.
“Ông ấy gọi tao!” – Đán vùng khỏi chăn và gào tướng lên.
“Mày dậy rồi à, hơn sáu giờ rồi, chuẩn bị đi ăn thôi.” – Tôi nói.
“Ông ấy đang ở quanh đây, chắc chắn là thế.”
Tôi gãi gãi đầu, định bụng nhiếc mắng gã vì thái độ kì quặc từ sáng tới giờ nhưng khi nhìn gã tôi đã phải hạ giọng. Cái khuôn mặt vuông vức đó nhăn nhúm lại, cặp môi khô ran và nứt nẻ như thiếu nước, có lẽ do tư thế nằm hoặc vì chưa được chải chuốt nên mái tóc rủ xuống, che khuất một phần khuôn mặt. Cái quầng thâm trên mặt gã dường như lại loang rộng ra, phủ tới sống mũi, đôi mắt mở rất to, hệt như muốn trồi hẳn ra ngoài. Tia mắt đó tôi đã nhìn qua, từ rất lâu. Ngày hôm đó tôi tìm thấy gã trong một công trường đã ngừng thi công. Cũng như bây giờ, gã co ro vào một góc, cặp mắt mở lồi ra, chỉ khác là khi ấy trên người gã chi chít lỗ thủng. Các vết thương không sâu tới mức chạm vào ngũ quan nhưng mỗi cử động mạnh của gã đều khiến máu trào ra. Phải rất khó khăn tôi mới tới gần được Đán vì hễ thấy tiếng động gã lại chạy đi. Thứ lúc đó gã có thể nương tựa là một cái hốc nhỏ trong công trường. “Ông ấy cắm rất nhiều…ống sắt vào người tao. Tao đau lắm.”- Gã lặp đi lặp lại câu nói đó trong hàng giờ. Kể cả khi cuống họng bắt đầu khô rát, câu nói không liền thành một từ ngữ mà vỡ thành các chữ cái thì gã vẫn không dừng lại. Tôi thấy máu trào ra khi gã ho.
Nhiều lần Đán có ý định lóc các vết sẹo trên cơ thể bằng một con dao thật bén. Phần bẹn cũng có sẹo và gã cũng từng nói với tôi rằng sẽ chẳng ngại gì nếu lưỡi dao có kết liễu sự cộng sinh giữa gã và tên đầy tớ đó. Nhưng gã đã không làm vậy.
Đán đứng dậy, vừa đi gã vừa lẩm bẩm “ Ông ấy gọi tao….”
“Mày sao vậy, ông ta đã chết từ lâu rồi.”
“Ông ấy gọi tao”- Đán gào lên- “Ông ấy gọi tao…”
“Cứ ngủ một giấc đi, rồi ngày mai tao và mày sẽ đi khỏi đây.”
Đán đứng ở giữa nhà, im lặng thật lâu.
Tôi không mang theo thuốc ngủ nên có lẽ sẽ phải trông chừng gã suốt đêm.
“Máy nghỉ ngơi đi, tao đi mua cơm.” – Tôi mặc quần dài vào rồi cầm ví theo. Để an tâm tôi đã khóa cửa lại.
*
Cửa đã bị phá và Đán đi đâu mất. Tôi hỏi mấy người phòng bên thì chỉ nhận được những cái lắc đầu. Ông chủ nhà không biết việc này vì lúc đó đang ở ngoài đường. Ông ấy không trách tôi về việc cửa hỏng nhưng đã khuyên tôi trở về phòng vì trời cũng sắp tối.
Đồ đạc của Đán vẫn ở trong phòng, xe của gã vẫn đang nằm dưới nhà xe. Tôi có hỏi mấy người ngoài đường thì chỉ nhận được những cái lắc đầu. Gã không có ngoài cánh đồng, cũng không có ở các khu đất trống cách khu nhà hơn chục cây. Tôi chỉ biết rằng gã đã bỏ đi, manh mối là cánh cửa bị đạp văng ra.
Người ở thị trấn không có bất cứ hoạt động nào khi trời tối. Mọi cửa nẻo đều đóng chặt. Tôi không rõ lịch hoạt động của thị trấn trước giờ vẫn vậy hay vì lý do gì khác mà họ kiêng kỵ việc ra đường buổi tối. Nhưng dù là như vậy họ cũng không nên cấm đoán khi mà tôi chỉ là khách thuê phòng. Nếu vì lý do an ninh thì tôi chưa thấy ai nói về việc có thảo khấu lục lâm, nói là có chó sói cũng không phải vì thị trấn không nằm trong rừng.
Mới tám giờ mà trời đã tối mịt. Mây đen ở thị trấn này nhiều hơn những nơi khác. Để màu tối dày đặc tới mức không để vuột dù một vệt trăng mong manh nhất chắc đã phải có hàng tầng lớp mây chồng lên nhau. Những khối mây đen bện vào nhau và tạo thành một cái kén khổng lồ để có thể chứa trọn cả thị trấn.
Tôi muốn qua phòng nên cạnh để mời vài người chơi mấy ván bài để giết thời gian nhưng các phòng đều đóng cửa. Mặc cho tôi có gõ cửa mạnh tới đâu họ vẫn không ra mở cửa. Đèn trong các căn phòng đều tắt nên tôi nghĩ họ đã đi ngủ cả, chỉ kì lạ là tại sao phòng nào cũng hạ đèn sớm như thế.
Tôi phải chốt cánh cửa từ bên trong để nó đỡ bung ra. Ông chủ nhà muốn thay cửa cho tôi nhưng tôi từ chối và hẹn lại vào sáng mai. Tôi sẽ nán lại thì trấn thêm vài hôm để có thể tìm ra Đán.
Một âm thanh lạ khuấy đảo sự yên tĩnh của căn phòng. Tôi mở cửa sổ để có thể nghe thật kỹ thứ âm thanh này. Tiếng chuông, rõ ràng là nó. Ngày hôm qua tôi cũng nghe thấy tiếng chuông, khi ấy tôi muốn gọi Đán dậy nhưng gã đã ra khỏi phòng. Quả chuông có vẻ không lớn lắm, hoặc cũng có thể nó được đánh ở rất xa nên tôi chỉ nghe văng vẳng. Nhưng nếu là như vậy, tại sao có lúc tôi nghe thấy có hàng chục quả chuông cùng đánh lên. Ít phút trước tiếng chuông vang rất gần, tôi nghe như nó đang vọng từ dưới đường. Những tiếng chuông cũng có sự khác nhau, không hoàn toàn là từ một loại chuông đánh lên. Có tiếng với âm vực lớn như đánh từ chuông nhà thờ, có lúc thì lanh canh như tiếng chuông gió, thậm chí tôi còn nghe thấy một tiếng vang inh ỏi và rè rè của loại chuông điện tử.
Ngoài trời rất tối, chiếc đèn pin trong tay tôi cũng chỉ soi được một đoạn ngắn. Gió thổi khá mạnh so với hai đêm trước. Tiếng chuông không hề bị át đi bởi tiếng gió, nó vẫn vang đều đều nhưng không theo một trật tự tiết tấu nào.
Tôi đóng cửa sổ lại và trở về giường.
Tiếng chuông vẫn văng vẳng trong đầu. Những suy nghĩ mơ hồ đã vẽ ra một hình ảnh để nhập vào tiếng chuông. Đó là một buổi tế lễ ngoài trời, vị pháp sư với áo quần lòe xòe, mặt mũi tô vẽ đủ thứ màu sắc đang vung một cây gậy dài gắn nhiều quả chuông. Thứ âm thanh truyền ra từ những quả chuông cao vút nhưng trầm đục và nỉ non như tiếng ru của bà mẹ mất con.
*
Cú vấp khiến tôi ngã bổ xuống đất. Có lẽ tôi đã vấp phải một cành cây hoặc một viên đá trồi lên dưới đường đi. Chiếc đèn pin, cũng là ngọn hải đăng soi đường duy nhất của tôi đã tuột khỏi tay và lăn lóc đâu đó. Bóng tối vẫn nắm đại quyền nên tôi chỉ có thể đứng loay hoay một chỗ. Lúc ngã tôi có nghe thấy một tiếng xoảng, có lẽ chiếc đèn pin đã văng vào chỗ nào đó và đã hỏng.
“CÓ AI KHÔ………..NG !”
Tôi hô lớn nhưng không thấy lời đáp lại. Thực ra dù cổ họng tôi có đủ lớn để hô nhiều lần như vậy thì có lẽ sẽ chẳng ai nghe thấy. Tiếng chuông vẫn còn vang lên và nó đã nghiền nát tiếng nói của tôi. Sẽ không có một ô cửa nào sáng đèn, cũng chẳng có một ánh trăng nào hé ra để tôi có thể nhìn thấy, chút nào đó con đường trở về nhà trọ. Cú ngã ban nãy không làm tôi chảy máu nhưng đã khiến tôi tỉnh táo hơn. Với những gì còn lại trong trí nhớ thì có lẽ tôi đã ở ngoài đường một lúc lâu. Tôi không rõ tại sao mình lại ở đây, để rồi vấp ngã, đánh mất cây đèn pin nhưng tôi biết mình đã mở khóa. Tôi không có nhiều sức mạnh như Đán nhưng tôi lại có chút thủ thuật về mở khóa. Đừng nói là ba ổ khóa, ngay cả khi ông chủ nhà có lắp loại khóa chống trộm hoặc cửa mật mã thì cũng không làm khó được tôi. Chỉ có điều tôi không biết phải trở về thế nào. Cứ lang thang mãi trong đêm tối thế này thì chẳng hay ho gì.
Tôi thận trọng từng bước đi để không bị ngã. Trước tiên tôi phải sờ được vào tường của một ngôi nhà, rồi tôi sẽ men theo bức tường tìm tới cửa chính. Tôi sẽ ngồi trước cửa cho tới trời sáng. Nếu ngôi nhà đó có nuôi chó thì thật tốt vì hẳn nó sẽ phát hiện ra tôi và sủa vang cả thị trấn. Chỉ mong lúc đó tiếng chuông tạm dừng lại đôi phút để tiếng sủa có thể đánh thức chủ nhà.
Tôi vướng vào một vật lớn, nó chắn dưới chân tôi. Bàn tay tôi sờ thấy bề mặt thô ráp của một phiến đá. Đi thêm một quãng tôi lại vấp phải một phiến đá khác, lần này suýt nữa tôi vấp té. Cứ như vậy, tôi dọ dẫm một lúc lâu trong bóng tối. Những tiếng chuông nhỏ tạm ngừng lại, tôi định nhân dịp hét lên một tiếng lớn để có thể đánh thức một hộ dân nào đó, kể cả sau đó có bị nhiếc mắng, miễn là họ cho tôi một ánh đèn để có thể về được khu nhà trọ. Miệng tôi há ra và cứ há như vậy. Một tiếng chuông khác đã thế chỗ cho những tiếng chuông nhỏ. Lần này là tiếng của một cái đại hồng chung mà nhà chùa vẫn thường đánh vào sáng sớm. Tiếng đại hồng chung này khác hẳn với những tiếng đại hồng chung mà tôi đã từng nghe. Không hề có sự mênh mang, cũng chẳng có chút cảm giác nhẹ nhõm, thư thái khi lắng nghe tiếng chuông này. Thứ âm thanh này trùm xuống cả thị trấn và khiến bóng tối them kềnh càng. Bước chân của tôi cũng vì vậy mà loạn cả lên, tôi chỉ biết mình đang đi chứ không biết mình đi thẳng, đi chéo hay đi vòng tròn.
Tiếng chuông chỉ vang lên một lần rồi mất hút vào bóng tối. Tôi vẫn đi trong đêm, đôi bàn tay huơ ra hai bên. Nếu trong tay tôi có thêm một cây gậy thì sẽ rất giống một hành khất mù.
Sự yên lặng chỉ kéo dài vài giây rồi tiếp tục bị xáo động bởi những tiếng chuông khác nhau. Tôi càng đi lâu trong thị trấn thì mật độ tiếng chuông càng dày. Khả năng xác định phương hướng của tôi đã hỏng và cặp chân của tôi đang bị tiếng chuông dẫn dụ. Trong lúc đang bước sang bên trái, một tiếng chuông khác đã vang lên khiến. Đôi chân tôi bước chệch sang một bên và đi theo tiếng chuông đó. Được một quãng thì tôi lại đi giật lùi vì đằng sau vừa có một tiếng chuông khác.
*
Tôi vướng phải một phiến đá khác. Thêm vài bước chân tôi lại chạm phải một phiến đá, rồi một phiến đá. Tôi ngã bổ chửng.
Tay tôi chạm thấy một vật hình chữ nhật. Tôi nhặt vật đó lên và thở phào một cái khi ngửi thấy mùi diêm sinh. Rất nhanh nhẹn, tôi mở bao diêm ra rồi rút ra một que.
Tôi đánh lửa. Ánh lửa cháy rực trên thanh gỗ. Lửa chỉ chiếu sáng được một khoảng nhỏ nhưng tôi vẫn thấy hạnh phúc vì cuối cùng đã vớ được một tấm ván, khả dĩ có thể đưa mình vào đất liền.
Cái phiến đá đã làm tôi vấp ngã đã lộ nguyên hình. Nó hoàn toàn không phải phiến đá hay cột mốc gì, mà là một bia mộ. Tấm ảnh đặt nơi ngôi mộ là của một ông già, gương mặt lão rêu đã phủ xanh, các đường nứt trên bia đá khiến gương mặt đó không còn toàn vẹn. Huơ cây diêm ra xung quanh tôi thấy các bia mộ khác. Ở nơi tôi đứng có tới bốn bia mộ và chúng nằm ở bốn hướng khác nhau. Bốn tấm bia đổ nát bo chặt tôi ở giữa, tôi thấy mình như bị mai phục và rơi vào một tình thế hiểm hóc mà không cách nào phá vây được.
Bốn gương mặt. Một đã rêu phong, một khuyết nửa bởi các đường nứt vỡ, một thì hai cặp mắt trợn trừng như của người còn sống, một thì ám đầy bụi bặm, chỉ lộ ra cái miệng móm mém đang mỉm cười.
Cây diêm tắt phụt đi, tôi chạy điên loạn trong bóng tối, tiếp tục va quệt vào hàng chục bia mộ. Tiếng chuông vẫn va lanh canh, có tới chục quả chuông cùng đánh lên.
Thêm một bước chân hụt, tôi lảo đảo và ngã đập lưng vào một tấm bia. Tôi nghe thấy một tiếng thì thầm, dường như nó vang ra từ tấm bia mà tôi đang tựa lưng vào. Đó là tiếng nói. Không thể sai được, dù nó không thật rõ ràng nhưng đó đúng là tiếng của một con người.
Tôi rút que diêm thứ hai và đánh lửa. Ánh lửa phụt lên, đốm lửa đã phá vỡ một phần nhỏ của bóng tối và giúp tôi tiếp cận được với cái tiếng nói đó.
Vẫn là một tấm bia, giống như hầu hết mọi tấm bia ở đây. Khi ánh lửa soi vào vị trí tiếng nói đã phát ra tôi thấy một khuôn mặt. Không phải là một tấm bưu ảnh với hàng chữ đề tên họ, năm mất mà đó là khuôn mặt của một người còn sống. Nó lồi ra khỏi bia đá và không ngừng nhúc nhích. Cái khuôn mặt này đã bị nhấn chìm vào một màu đen sâu thẳm, hai con mắt đã khuyết một, cái mồm vẫn lẩm bẩm.
– ……………..…………..……….
Lửa cháy đến tận cùng que diêm và đốt phỏng ngón tay tôi. Ánh sáng nhòa khỏi cặp mắt tôi. Những tiếng chuông rung ngày một mạnh, tuồng như ở mỗi bia mộ đều gắn một quả chuông. Chúng cùng đánh lên, ngạo nghễ như tiếng hú đầy thỏa mãn của bầy dã thú khi nhìn thấy con mồi sập bẫy. Cái hình ảnh quen thuộc gắn với khuôn mặt trồi ra từ tấm bia trong tôi đang bị những tiếng chuông bằm nát. Chỉ còn lại một cái miệng đang mấp máy….
Mỗi bước lùi của tôi đều chạm vào một tấm bia. Hẳn rằng chúng đang chụm quanh tôi, rào kín lại để xây thành một nhà mồ.
Cái hình ảnh trong tôi đã mất, miệng tôi ngóac ra và hét một tiếng cuối cùng. Dường như có một tiếng hét khác đáp lại tôi. Cũng ngay sau đó, có hàng loạt tiếng động vang lên. Tôi nghe ra tiếng của các tấm bia di chuyển. Một tấm bia đã đẩy tôi ra khỏi vòng vây. Tôi bị hất văng ra vài mét. Bóng tối vẫn nhốt tôi trong cũi nhưng ý nghĩ về một ngọn lửa đã cứu tôi khỏi nỗi kinh hoàng. Bao diêm chắc hẳn còn đâu đó. Tôi dí mũi xuống đất và hít sâu. Tôi cứ bò dưới đất, hít những hơi dài cho tới khi ngửi thấy mùi diêm sinh.
Tiếng chuông vẫn vọng thăm thẳm, có cả tiếng đại hồng chung.
Que diêm cuối cùng được đánh lên. Tôi dí que diêm đang cháy vào hai bên áo. Lửa lan ra và cháy bùng bùng. Da thịt tôi cháy vào màn lửa. Một sự êm ái trong lửa, và tất cả chìm lún cùng phát hỏa. Tôi không còn nhìn thấy tấm bia với cái đầu ngoi ra nữa. Những tấm bia khác đã xếp thành một bức tường dài để cầm tù nó.
Từ mọi phía, hàng chục tấm bia tiếp tục di chuyển. Những cái ngách ngoằn ngoèo đã thành hình. Với ngọn lửa trên người tôi có thể lách khỏi chúng.
Ngọn lửa bốc ngày một cao và trùm lấy tôi. Cơ thể tôi cháy thành đuốc.
Bóng tối rách ra, những tiếng chuông cũng bắt đầu hỗn loạn. Các tấm bia xê dịch nháo nhào. Nghiêng trái, nghiêng phải, đổ nhào. Có tiếng vỡ rôm rốp.
Ngọn đuốc bốc cao lên, kéo thành một đường lửa dài. Tôi phóng vọt, và lăn dài quét đất. Tôi rực rỡ như một bánh xe Phong Hỏa. Các mảnh bóng tối bị nghiền đi, chậm rãi loét ra như vết thương con quỷ. Những mảnh lửa nhỏ rơi rụng phía sau, chúng sẽ thắp ánh sáng thêm một lúc nữa trước khi các đốt tay đen mọc trở lại và nắm chặt lấy.

Tru Sa

LINH HỒN THƠ

dotandat

 

 

Khi chúng ta ngồi chờ  câu thơ nở rộ trên cánh đồng giấy
thì ngòi bút trên tay đã cạn mực dần
suy nghĩ vắt giọt tưới chữ nghĩa khô cằn
nỗi hạn hán…
nỗi tự cháy…
đêm hấp tấp kê vội bóng đèn dầu vào vách tường ám muội
leo lắt niềm vui quẹt lọ nghẹ nỗi buồn
những vệt đen dài như họa tiết trên mảng tường câm
và nhà thơ trở thành họa sĩ
mười lăm hai mươi năm hay một trăm năm
đoàn tàu nghệ thuật chưa bao giờ dừng lại
chẳng có gã nghệ sĩ nào thích ngồi chờ ở ga cuối
chúng ta rào đón tâm hồn bằng những bài thơ dang dở
như cơn gió bấc trôi qua vuông mặt buổi chiều
hay con tàu băng qua từng ga nhỏ về đích
làm rơi vãi một tứ thơ…

ĐỖ TẤN ĐẠT

ĐÀ LẠT

tranbaodinh
1
Đà Lạt
em còn hay đã mất?
em đi hay ở chốn quê nhà?
chiều Lycce Yersin, bịn rịn
mimosa!
trái thông rụng
sẫm màu của đất.
2.
Đà Lạt
da em vàng nắng mật ong
cổ em thắt nơ xanh, tình rất thật
Domaine De Marie, gió phải lòng
để
hạt Dã Qùy tứa mầm run bần bật!
3.
 Đà Lạt
tiếc
thương
tiếng gà trống gáy trên nóc giáo đường
vĩnh biệt!
 4.
Đà Lạt
hồ Xuân Hương nguồn cạn nước
đáy trơ vơ
bonjour mảnh áo thầy tu
bonjour sương mù
bonjour Giáo hoàng học viện
bonjour cõi nhân gian tráo trở
đem con bỏ chợ
đời!
 5.
Đà Lạt
áo em xanh tiệp màu
thời gian
Bùi Thị Xuân tóc nối chiều tàn
môi cong niềm hoài vọng
tôi,
răng hoàng hôn cắn bóng
em,
chân dạo quanh khu phố Hòa Bình
mình!
chết sau cánh cổng.
 6.
Đà Lạt
Paris de l’amour, hát
mộ khúc
Anh đào hoa níu mùa đông
Đồi cù chiều nay, ai khóc?
không nhà!
nhớ núi
nhớ sông
nhớ Dalat
thừa sương, thiếu nắng!
 7.
Đà Lạt
Đà Lạt buồn gậm nhấm…
trần bảo định
1967

 

GIẤC MƠ BAY QUA BIỂN VẮNG

tonnuthudung

A. nói : “Ai trong chúng ta ngồi đây nghĩ mình có thể đảm nhận chức danh tổng thống ?”
Không ai nói gì …
Không ai đưa tay…
Không ai đề cử ai…
Nếu có một con muỗi bay qua chắc sẽ nghe tiếng vỗ cánh khe khẽ.
Nhưng không có con muỗi nào trong gian phòng máy lạnh.
Không nghe cả tiếng máy lạnh rầm rì.
Tuyệt đối lặng im.
Chỉ có nhánh lau trắng lay lay ,rất nhẹ.

A nói :”Chỉ có lòng yêu nước thôi thì không đủ, cần phải có …”
Quyết tâm.
Sức mạnh.
Đoàn kết.
Ý chí.
Tiền.
Và một thủ lĩnh tài ba…
( Nhiều người góp ý kiến,)
A. nói : “Vậy chúng ta phải hành động.”
Tôi hỏi :”Hành động ?”
“Vâng, phải đào tạo một thủ lĩnh.”
Tôi hỏi :”Ai ? Ai là người giỏi nhất để đào tạo một thủ lĩnh ?”
Ai ?

Tôi không biết.
Và không thể thấy ai xứng đáng để làm thủ lĩnh .
Huống hồ một- người- giỏi- nhất- để- đào- tạo- thủ- lĩnh

Từ nhỏ tôi đã được định hướng một con đường, Tôi 3 tuổi , 5 tuổi , 7 tuổi…tự hào im lặng ngồi trên chân ba hoặc chiếc ghế nhỏ bên cạnh lắng nghe … Mọi người vẫn coi tôi như một con bé hơi tự kỷ một chút , nhưng rất ngoan ngoãn đáng yêu…Từ đó thâm nhập vào đầu tôi là những cuộc cờ chính trị, những thủ đoạn , những âm mưu… Cũng từ đó , tôi học ở ba tôi niềm khinh bỉ sâu xa những con người mang mặt nạ… Mà những con người mang mặt nạ thì đầy dẫy trên thế gian này. Không thể thỏa hiệp với cái ác , điều xấu, sự dối trá và những thứ gì tương tự thế , con người trở thành cô độc xiết bao !!!
Trốn vào một thế giới khác, chỉ có niềm tin và lòng chân thực khó khăn đến nhường nào … Văn chương không bao giờ là cứu cánh… Tôi hoang mang lơ lửng … Tôi luôn có cảm giác bất an. Và tôi sợ con người từ đó.

A. nói : “ Không thể tách rời văn chương ra khỏi chính trị “
Một câu từ chương tôi vẫn nghe ra rả. Nhưng tôi quý A. nên chẳng nói gì .
Không ai nói gì .
Vì có thể họ là những người chưa thấm nhuần chính trị lắm hoặc họ cũng chẳng mê đắm gì văn chương.
Hoặc họ sợ miệng lưỡi của A. sẽ dồn họ vào thế bí.
Tôi đoán vậy
Họ có thể ghét nhau thậm tệ , nhưng họ lại đứng cùng nhau trên một chiến tuyến .

A. nói : “ Văn chương đôi khi cũng như tôn giáo , chức năng của nó là ru ngủ quần chúng” .
Tôi quý A. , nhưng tôi không muốn A. cứ làm ra vẻ dạy đời… Những bài học căn bản về chính trị tôi đã thuộc lòng từ ngày tỉnh trưởng LT bị bắn nát tim ở một cự ly gần nhất bởi người cận vệ chỉ vì một tội là ông cứ hay lên mặt dạy đời. ( Để rồi sau đó các thông tin báo chí đều đưa tin ông bị ám sát bởi một tên cộng sản nằm vùng!)
Điều này không có nghĩa là tôi sợ A. sẽ bị giết hại bởi ai đó ( bởi A. chưa xứng tầm để được ám hại !) , tôi chỉ muốn A. hãy tu thân tề gia trước khi muốn trị quốc bình thiên hạ ( như A. vẫn tự hào đó là cứu cánh của đời mình!)
Niềm tự hào thật chính đáng để đời sống mang một ý nghĩa đích thực nào đó dù có đôi chút viễn vông …
Đã nói tôi quý A. lắm nên trong khả năng của mình , tôi muốn giúp A. thực tế một chút , khiêm cung một chút,đừng níu lầm một giấc mơ ảo tưởng( như đã lầm lẫn trước đây đến nỗi bạc đầu ) để rồi thất vọng não nề.
Tôi không hề tức giận khi A. chỉ trích chức-năng-ru-ngủ-quần-chúng của tôi .
Tôi miễn nhiễm với những điều đó lâu rồi.
Tôi làm những việc tôi yêu thích, vậy thôi.
Đôi khi tôi cùng bị bắt buộc làm những việc mình không yêu thích vì những lý do này nọ …
Tôi miễn cưỡng nhưng cũng làm rất chu toàn khi đã nhận .
Như hôm nay.
Tôi có yêu thích quái gì cái không khí này đâu .
Ngoài kia là một không gian lồng lộng .
Cỏ xanh biếc.
Mây trắng rợp trời.
Và gió tự do lang thang.
Nhưng đã nhận lời A. tôi cũng phải nói một cái gì đó để không phụ lòng mong đợi .
“ Văn chương đôi khi không chất chứa nỗi hành vi chính trị , nhưng nó luôn thể hiện được một thái độ chính trị của riêng nó “( không phải thế sao ?)
Rất trí thức.
Và giả (dối).
Những câu nói luôn được thốt ra bất ngờ từ những nhiễm độc trầm kha trong tiềm thức.
Như một con vẹt ( tôi tự chế giễu mình)
Nhưng mọi người lại cho đó là một câu đáng gọi là kinh điển của ngày hôm nay.
Nhiều người vỗ tay.
Tại sao ?
Tôi tự hỏi: “ tôi đã làm chi đời tôi !!!”
Tôi muốn súc miệng bằng cả chai nước tinh khiết này để rửa sạch cái câu nói sáo rỗng vừa thốt ra.
Tôi vào rest room, ói !
Và muốn khóc.

Tôn Nữ Thu Dung

CỦA NÀNG

 chuthuynguyen
len qua truông hồng
hé cửa đón bình minh chim hót
xum xuê bầu trời ngọt
vườn treo xác xao
lá nhuốm sương da thịt
mộng
của nàng và chân mây
chiều đã cũ
xốn xang heo hút cõi người
sóng đã yên trên bờ môi ngọt lịm
biết ai về nương náu giấc khuya
trăng sao mơn ngực trần
bước quá dấu chân vằng vặc
ôm suối nguồn tràn tuông
đám mây cũ tơ hào bên cửa sổ
thập thò  đùa khuôn trăng
sóng sánh thuyền trôi
mơn mởn giấc
gió len lén vào bóng mơ trang sách
của nàng hay ngụ ngôn
bày tiệc đêm nương náu bên người
trôi hoài vạt cỏ du miên
vụt níu chi em
cuối đời mộng ảo …
Chu Thụy Nguyên