TÌNH YÊU MÀU HOA ANH ĐÀO

Nghi đáp tàu từ ngoại ô và xuống ga ở trạm Tokyo Metro Kudanshita lúc 8 giờ. Anh lướt nhìn đồng hồ rồi thầm nghĩ chỉ 5 phút đi bộ đến công viên Chidori-ga-fuchi là mình sẽ gặp được lại Khúc Diễm là anh đã cảm thấy niềm vui tràn ngậptrong tâm hồn. Hôm nay hai người hẹn nhau đến công viên nhân ngày nghỉ cuối tuần để cùng ngắm hoa anh đào đang vào thời kỳ nở rộ. Ở đất nước xứ sở mặt trời mọc, khi mùa xuân về tiết trời trở nên ấm áp, cả Nhật Bản tràn ngập sắc hồng và hương thơm dịu nhẹ của một loài hoa sakura mà ta thường gọi là hoa anh đào, người ta có cảm giác muốn được cùng ai đó chia sẻ cảm giác dịu dàng, thân thương trước vẻ đẹp của một loài hoa mảnh mai và thanh khiết. Mùa xuân ở Nhật Bản thường bắt đầu từ tháng 3 và kéo dài đến tận tháng 5. Đây cũng chính là thời điểm hoa anh đào khoe sắc rực rỡ nhất, mãn khai nhất trong năm. Mỗi một bông hoa anh đào được ví như cuộc đời của một võ sĩ đạo samurai khi cần có thể hy sinh trong nụ cười bình thản, vô ưu đi vào cỏi chết nhẹ nhàng như một bông hoa anh đào thanh thản lìa cành về với đất mẹ. Hoa nầy vừa tàn thì hoa khác lại bung nở, rụng xuống đất rồi vẫn còn tươi nguyên và vẫn còn thoang thoảng mùi hương trong gió làm ai cũng phải xao lòng ngất ngây.
Cũng ở thời điểm nầy thường diễn ra lễ hội Hanami – lễ hội ngắm hoa truyền thống nổi tiếng nhất của Nhật Bản và được coi là một quốc lễ của họ. Nghi sống ở Tokyo đã hơn 4 năm, tức là anh đã trải qua 4 mùa lễ hội Hanami trên đất Nhật, hai năm đầu anh còn có cái cảm giác háo hức đi lang thang khắp nơi, hòa vào dòng người đi trẩy hội ngắm hoa anh đào nở khắp nơi tìm cảm hứng cho nét cọ của mình được tung tấy đầy ngẩu hứng về loài hoa đọc đáo nầy, có một cảnh tượng mà anh không bao giờ quên khi tàu điện chạy qua một khu vực trồng toàn hoa anh đào, cảnh một rừng hoa chạy ngược về phía sau như một khúc phim quay chậm làm anh liên tưởng như mình đang lạc vào chốn thiên thai trong câu chuyện Lưu Nguyễn lạc thiên thai vậy. Những năm sau cái háo hức ấy bớt dần đi vì anh cảm nhận niềm vui tràn ngập ấy đơn độc quá, không biết chia sẻ cùng ai nên không còn thích thú khám phá lắm như năm đầu mới đến nữa. Nhưng mùa Hanami năm nay lại khác, hình như ông trời đã ưu ái đem đến cho anh một người có thể san sẻ niềm vui mà tưởng chừng không thể tìm ra được: Đó là Khúc Diễm.
Ở cái xứ Phù Tang nầy người Việt sinh sống và làm việc không phải là quá ít ỏi đến độ ra đường không thể tìm gặp được một người đồng hương nhưng để được làm bạn và có thể tâm sự trao đổi với nhau một điều gì đó trên xứ người thì phải nói khó lòng tìm được người bạn đồng hành với mình. Nghi gặp lại Khúc Diễm cũng là một sự tình cờ hay có thể là do sự run rủi của trời đất chăng? Buổi họp mặt diễn ra ở Đại Sứ Quán Việt Nam với các Việt kiều, sinh viên, nghiên cứu sinh đang sinh sống làm việc học tập trên đất Nhật Bản mừng cái tết cố truyền của dân tộc. Khúc Diễm đã nhận ra anh ngay từ cái nhìn đầu tiên, nhưng còn anh lại lớ ngớ đến tội nghiệp trước một cô gái vinh đẹp gọi tên anh với vẻ mừng rỡ, một hồi lâu mới nhận ra được cô em gái của người bạn thân hồi còn đi học ở Sài Gòn. Lúc anh nhận được học bổng sang Nhật nghiên cứu về hội họa đương đại của nước bạn thì Khúc Diễm đang học năm cuối của bậc phổ thông. Sau đó cô cũng tìm được học bổng nghiên cứu về văn học Nhật Bản và qua đây. Thế mà thoáng chốc đã 5 năm rồi còn gì. Khúc Diễm trở thành một thiếu nữ xinh đẹp, hoạt bát khác xa thời anh gặp cô ở quê nhà mỗi lần đến chơi nhà người bạn – Huy anh Khúc Diễm – cũng là người đam mê hội họa và có một vài giải thưởng trong và ngoài nước khi còn ở quê nhà. Khác với sở thích của Nghi, luôn tìm tòi khám phá những đường nét uyển chuyển, khói sương trong hội họa phương đông thì Huy lại thích những đường nét phóng khoáng, mạnh mẽ trừu tượng trong từng mảng màu của hội họa phương Tây nên Huy đã sang Mỹ để tiếp tục theo đuổi niềm đam mê của mình. Gặp lại nhau trên xứ người làm cả hai rất vui, vì họ có chung một người thân quen nên tình cảm cũng cởi mở gắn bó hơn. Hôm ấy Khúc Diễm uống rượu vang hơi nhiều có lẽ vì vui mừng nên má cô có vẻ hồng hơn, mắt long lanh hơn làm Nghi tự hỏi sao hồi ấy mình không thấy cái đẹp duyên dáng tiềm ẩn của Khúc Diễm nhỉ, suy nghĩ ngây thơ ngộ nghỉnh nầy làm anh bật cười đã làm Khúc Diễm hơi ngơ ngác hỏi anh: – Anh Nghi cười gì thế, chắc anh thấy em xấu xí quá chăng? Khiến anh phải vội vã đính chính: – Khúc Diễm đẹp như thiên nga ấy mà, sao hồi đó anh không nhận ra nhỉ? Câu nói của Nghi đã làm Khúc Diễm cảm thấy xôn xao,nao nức trong lòng vì có người khen mình đẹp làm sắc mặt của cô càng đỏ hồng hơn dưới chùm đèn vàng cam dịu dàng của tòa sảnh đường đại sứ quán.
Bước vào công viên Chidori-ga-fuchi một đoạn ngắn phía bên tay phải, Nghi đã thấy Khúc Diễm ngồi chờ sẳn trên một băng đá trống tự lúc nạo. Hôm nay ngày cuối tuần nên khách tham quan khá đông và ồn ào, Khúc Diễm mặc chiếc đầm màu nâu cánh gián và chiếc khăn quàng cổ màu xanh ngọc thạch làm tôn nước da nền nả mịn màng của người thiếu nữ đang xuân, mái tóc được chải khéo, buông xỏa xuống bờ vai một cách tự nhiên trông Khúc Diễm thật xinh xắn tươi mát. Nghi bước tới ngồi cạnh nàng, nói một cách vui vẻ:
– Khúc Diễm chờ anh có lâu lắm không?
– Ồ! Em cũng mới vừa đến thôi mà. Ký túc xá nơi em ở cũng gần đây thôi, chỉ băng qua một con lộ là tới đây ngay. Anh Nghi đi metro có lâu lắm không?
– Em biết giao thông ở Nhật rất tuyệt vời mà khoảng 20 phút là cùng. Mọi cái như lập trình sẳn, giống như người ta cố tình lập trình cho chúng ta gặp lại nhau trên cái đất nước mặt trời mọc nầy vậy mà.
Khúc Diễm nhìn Nghi cười khúc khích:
– Anh làm như ông trời ban cho chúng ta nhiều ân sủng mà không ai có vậy làm cho em mừng hụt. Thôi chúng ta đi dạo ngắm hoa anh nhé.
Nghi khẻ gật đầu. Cả hai cùng đi theo con đường đã có sẳn. Công viên Chidori-ga-fuchi rất rộng lớn nằm gần cung điện hoàng gia, một nơi mang nhiều nét cổ kính nằm lọt thỏm trong một thành phố hiện đại, người ta ví nó như một ốc đảo giữa lòng Tokyo hào nhoáng. Ở đây bạn có thể vừa ngắm hoa anh đào vừa có thể chèo thuyền suốt dọc dòng kênh để chiêm ngưỡng nhiều loại hoa anh đào tuyệt đẹp được đem về trồng tại đây. Nếu bạn đến vào ban đêm sẽ càng hấp dẫn lý thú hơn nữa. Bầu không khí sẽ thay đổi hoàn toàn khác. Từng cây hoa anh đào được thắp sáng, phản chiếu lên mặt nước lung linh một ánh sáng huyền ảo tạo nên một bầu không khí vô cùng lãng mạn. Đây cũng là địa điểm ngắm hoa nổi tiếng khắp nước Nhật bởi nó vừa có hoa đẹp, vừa có mặt hồ lung linh lại được chèo thuyền xuôi theo dòng kênh để ngắm hoa thì còn thú vị nào bằng, không phải công viên nào trên hòn đảo nầy được thiên nhiên ưu đãi như thế.
Họ đi dạo một vòng quanh các con đường trong công viên. Hoa anh đào có nhiều màu sắc đẹp đến nao lòng. Từ màu đỏ rực đến hồng thắm, trắng tinh khôi đến phớt xanh, vàng vương giả, người ta đã khéo léo chọn những giống anh đào đẹp khác nhau khắp nơi đem về đây tạo nên một quần thể hoa có một không hai. Cả hai vừa đi vừa nói chuyện với nhau rất vui giống như một cặp tình nhân đang đi dạo một cách nhàn nhã khiến người ngoài nhìn vào có thể ghen tỵ. Nghi nói với Khúc Diễm:
– Khúc Diễm biết không hoa anh đào được trồng khắp nơi trên đất nước Nhật Bản từ công viên, bờ kênh, ven sông hay trong các sân vườn của người dân, nó là biểu tượng quốc hoa của người Nhật vì nó mang một vẻ đẹp thật tinh khiết. Nhất là về mùa xuân, mọi nơi tràn ngập sắc hồng của sakura. Có một điều rất đặc biệt loài hoa nầy khi lìa cành sắc hoa vẫn còn tươi thắm bởi sự tàn lụi vào đúng lúc dỉnh cao rực rỡ của nó lại chính là cái đẹp thanh cao nhất nên hình ảnh cánh hoa anh đào lìa cành được người Nhật liên tưởng đến cái chết nhẹ như lông hồng của các võ sĩ samurai, vì vậy người Nhật có câu nói thật ví von nhưng không kém phần tôn kính: “Nếu là hoa xin làm hoa anh đào. Nếu là người xin làm võ sĩ đạo”.
Đang đi chợt Khúc Diễm thấy trước mắt mình một hàng cây anh đào mà hoa của nó màu hồng đậm, hình dáng giống như một cái chuông rất lạ mắt làm cô ngạc nhiên reo lên:
– Màu hoa anh đào đẹp quá anh Nghi ơi. Chẳng biết nó có tên gì anh nhỉ?
Nghi nhìn theo hướng tay chỉ của Khúc Diễm cười trả lời cô bạn nhỏ của mình:
– Đó là hoa anh đào Kanhi Zukura, mình gọi là Hàn Phi Anh. Giống hoa nầy xuất xứ từ Đài Loan và đảo Okinawa, nằm trong giống hoa nở sớm vào khoảng tháng 1 và 2.
– Đã vào tháng 4 rồi mà nó vẫn còn nở sao anh.
– Ừ! Đợt hoa nầy tàn thì tới đợt hoa khác bung nở thôi mà.
Rồi Nghi giải thích thêm:
– Ở Nhật có mấy trăm loài hoa anh đào khác nhau như Nhiễm Tĩnh Cát Dã Anh(Somei Yoshino Zakura) hoa có màu hồng nhạt hay trắng. Vẻ ngoài của chúng đặc biệt đẹp nhờ vào lá cây không trồi ra cho tới mùa cao điểm hoa nở. Hoa có sắc hồng chuyển dần sang trắng, các biểu tượng hoa sakura đều bắt đầu từ loài nầy. Còn có Sơn Anh(Yama Zakura) cũng màu hồng nhạt, hoa năm cánh nhưng nhỏ hơn, Chi Thùy Anh(Shidare Zakura), hoa màu hồng có những nhánh rũ xuống, rồi Hàn Anh(Kanzakura) là loại hoa anh đào nở sớm, Hà Tân Anh(Kawazu Zakura). Hàn Phi Anh hoa có màu đỏ đậm giống như cái chuông mà Khúc Diễm thấy đấy. Thời gian rộ nở của hoa anh đào cũng rất khác nhau như Hàn Phi Anh có thể rộ nở từ tháng 1 làm cho du khách rất thích thú có loai nở rất muộn như Nhất Diệp Anh(Ichiyou Zakura) nở vào cuối tháng tư một bông có khoảng 20 cánh, rồi Uất Kim(Ukon) hoa có màu vàng nhạt, Anh Đào Hoa Cúc(Kikuzakura) có khoảng 100 cánh trong một bông, đặc biệt là Anh Đào Mùa Thu(Jugatsuzakura) thời gian nở từ tháng mười đến tháng một và mùa xuân, là một trong những loài hoa nở vào mùa thu và mùa đông. Hoa nhỏ và ít nhưng tạo nên cái nhìn ngạc nhiên trong sự kết hợp cùa màu sắc mùa thu hoặc tuyết trắng.
Khúc Diễm vỗ tay thán phục:
– Ồ!Anh Nghi giỏi thật. Cái gì cũng biết. Em phải học hỏi ở anh nhiều mới được.
Nghi cười khì:
– Làm họa sĩ mà không nắm bắt sự thay đổi kỳ diệu của thiên nhiên xung quanh mình thì làm sao thể hiện trong nét vẽ được phải không Khúc Diễm. Nói vậy chứ sống lâu lên lão làng thôi mà. Biết đâu mai mốt Khúc Diễm còn giỏi hơn anh gấp nhiều lần thì sao?
– Chuyện đó chắc còn lâu đó anh Nghi ơi.
Cả hai cùng cười vang. Có vẻ đi lòng vòng ngắm hoa một lúc thấm mệt, họ tìm một thảm cỏ đối diện với con kênh để nghỉ chân, nơi đây vừa có thể ngắm hoa vừa có thể thấy những chiếc thuyền chèo hai người chèo qua lại trên dòng kênh lòng cảm thấy muôn phần thú vị. Bỗng một cơn gió lớn thổi ngang, hoa từ các cây được một phen tung ngược lên trời tạo thành một vũ điệu hoa đẹp không thể tả. Nghi đột nhiên nhắm mắt lại để xem cảm giác của mình như thế nào trước sự dịch chuyển của những cánh hoa bay trong gió trước khi chạm xuống đất. Khúc Diễm tò mò nhìn anh một cách thích thú rồi hỏi:
– Sao anh Nghi nhắm mắt lại kia chứ? Nhắm mắt có thấy gì đâu nà?
Nghi nhìn cô gái cười ra vẻ bí mật:
– Anh đang thử cảm giác của chàng hiệp sĩ mù Zatoichi nghe gió kiếm ấy mà.
Khúc Diễm ngơ ngác:
– Hiệp sĩ mù ở đâu ra thế?
Nghi bật cười:
– Hiệp sĩ mù nghe gió kiếm trong bộ phim trường thiên của Nhật Bản nổi đình nổi đám những năm đầu thập niên 1970 do tài tử Shintaro Katsu đóng đấy mà. Zatoichi tuy mù nhưng lại có đường kiếm tuyệt luân, với chiếc gậy dò dẫm trên khắp nẻo đường thiên lý để trừ gian diệt bạo. Chỉ cần một tiếng động khẻ là biết vị trí của đối phương ở đâu, ra chiêu như thế nào mà nhanh chóng hóa giải đánh bại được đối phương trong chớp mắt.
– Em thì chịu thôi. Có người tài giỏi như thế sao? Anh Nghi lúc nhắm mắt nghe được gì nào?
– Anh nghe được tiếng gió, tiếng hoa rơi và cả tiếng thì thầm của Trúc Diễm.
– Anh nói sạo ghê. Em có nói thì thầm gì đâu.
– Đó là tiếng thì thầm của hoa anh đào.
– Hoa anh đào cũng biết thì thầm sao anh?
Nghi nhìn vào đôi mắt của Khúc Diễm thật lâu rồi nói:
– Nhắc đến đường kiếm tuyệt luân của chàng hiệp sĩ mù Zatoichi làm anh nhớ đến đường kiếm của chàng samurai Vũ Đằng trong truyền thuyết hoa anh đào của Nhật Bản quá. Hoa anh đào tượng trưng cho mối tình bất diệt của đôi trai gái yêu nhau mà không sống được gần nhau đấy đóTrúc Diễm.
– Thật thế sao anh? Anh kể cho em nghe đi.
– Vào một thời rất xa xưa, nước Nhật sống dưới sự cát cứ của các sứ quân, có một lãnh chúa vô cùng tàn ác đã sai một samurai cũng là một người luyện kiếm tài giỏi đúc cho mình một thanh kiếm chém sắt như chém bùn để trấn áp được thiên hạ. Dưới áp lực của vị lãnh chúa, người samurai ấy buộc lòng phải đúc kiếm. Sau khi đúc xong thanh kiếm báu ông lại không giao cho tên lãnh chúa vì ông biết khi ông giao xong ông sẽ nhận lấy cái chết vì thế nào tên lãnh chúa sẽ giết ông để ông không còn có thể đúc gươm báu cho một ai khác được nữa nhất là đối với kẻ thù đối nghịch với ông ta, người samurai ấy trao thanh kiếm cho vợ bảo bồng con trốn đi, sau nầy hãy giao lại cho con khi nó lớn khôn để nó trả thù cho ông và dặn thêm rằng thanh gươm chỉ phát huy tác dụng của nó khi được tắm máu của một người nữ đồng trinh tình nguyện chết.
– Sao lại tàn độc thế. Sao phải có sự hy sinh của người nữ đồng trinh thanh kiếm mới có tác dụng thế anh?
– Hình như đó là thuật luyện kiếm của người xưa đó thôi. Giống như bên Trung Quốc có truyền thuyết về luyện kiếm Can Tương và Mạc Tà thời Chiến Quốc ấy mà.
– Rồi câu chuyện diễn ra thế nào anh Nghi?
– Người vợ sau đó trốn đi, mười bốn năm sau bà trao lại thanh kiếm cho đứa trẻ và kể lại lời trăn trối của người cha. Đứa trẻ bấy giờ với cái tên Vũ Đằng run rẩy cầm thanh kiếm thốt lên trong tâm trạng nghẹn ngào: – Ta phải trả được mối thù cho cha và sẽ trở thành một kiếm sĩ nổi tiếng nhất trên đất nước nầy. Thế là Vũ Đằng tìm đến một vị võ sư nổi tiếng xin làm đệ tử. Vị samurai ngắm nhìn chàng trai từ đầu tới chân thấy cốt cách thật phi thường nhưng ẩn sau nó là một luồng sát khí vô cùng mạnh mẽ khiến người ngồi trầm ngâm suy nghĩ hàng giờ liền. Cuối cùng ông thở dài lẩm bẩm một mình “oan nghiệt” và chấp nhận Vũ Đằng làm đệ tử. Thời gian qua đi, chàng kiếm sĩ đã 18 tuổi, một lứa tuổi đẹp nhất đời người võ sĩ đạo và tay kiếm của chàng khiến cho những samurai kiêu hùng nhất cũng phải e dè, cũng là lúc người thầy dạy già yếu qua đời, bên cạnh chàng chỉ còn lại người thân duy nhất là nàng Phương Tử con của vị võ sư cũng là thầy dạy của chàng.
Từ đó mỗi ngày khi nắng bắt đầu lui dần về phía sau đỉnh núi Phú Sĩ, đêm đen tràn về xóm núi, Phương Tử lại thấy Vũ Đằng ngồi buồn bã, trầm tư bên bếp lửa. Vũ Đằng biết thanh kiếm chỉ trở nên dũng mảnh phi thường, biến hóa thần kỳ khi nó tắm được máu của một người nữ đồng trinh chịu hy sinh một cách tự nguyện nhưng ai sẽ tình nguyện làm chuyện đó, không một có thể hy sinh cái chết của mình cho một câu chuyện tưởng chừng hoang đường như thế.
Phương Tử buồn bã hỏi Vũ Đằng:
– Anh thân yêu! Có phải thanh kiếm đó đối với chàng là tất cả chăng? Nếu nó không được tắm máu người nữ đồng trinh để trở thành một thanh kiếm báu thì mãi mãi chàng buồn đau vì không trả được thù nhà ư?
Nhìn bếp lửa chàng trai vuốt ve thanh kiếm và nói chậm rãi nhưng thật quả quyết:
– Chỉ buồn đau thôi ư? Không đâu! Mãi mãi đó là sự tuyệt vọng sẽ làm ta chết mất. Đối với ta, thanh kiếm là sự nghiệp, là con đường đi tới vinh quang của ta, làm sao ta có thể trở thành một samurai chân chính khi thanh kiếm báu không phát huy tác dụng của nó chứ?
Cô gái mỉm cười đau đớn. Cô chỉ hỏi để khẳng định lòng quyết tâm của mình mà thôi. Cô dịu dàng nói với Vũ Đằng:
– Anh thân yêu! Hãy cho em được cầm lấy thanh kiếm của chàng một chút để ngắm xem nó đẹp dường nào mà chàng say mê đến vậy.
Cầm thanh kiếm đen bóng, sắc lạnh trong tay, Phương Tử nhìn Vũ Đằng bằng một ánh mắt buồn vời vợi, tội nghiệp cho chàng, tội nghiệp cho ta quá, tình yêu ta dành cho chàng đành đem xuống tuyền đài mà thôi. Phương Tử đột ngột dùng thanh kiếm đâm thẳng vào tim. Một dòng máu nóng trào ra đẩm ướt tấm thân mảnh dẻ, nhuộm đỏ chiếc áo kimono trắng nõn, trinh bạch mà nàng đã chuẩn bị từ trước để chấp nhận sự hy sinh của mình cho người mình yêu dấu.
Vũ Đằng hốt hoảng thét lên một tiếng kinh hoàng, vội lao mình tới, vươn tay rút phăng thanh kiếm khỏi ngực cô gái nhưng không kịp nữa rồi, cô gái đã lã mình và lịm thiếp đi trước sự bàng hoàng sửng sốt hối hận của chàng trai. Dưới ánh lửa bập bùng, thanh kiếm bỗng đột ngột ngời lên sắc xanh rực rỡ, hào quang lóe lên lộng lẫy lạ thường: nó đã được uống những dòng tinh huyết của người thiếu nữ trinh bạch và giờ đây nó trở thành một thanh kiếm vô địch.
Chàng trai từ đó thành một samurai lừng danh thiên hạ, chàng bắt tên lãnh chúa phải đền tội, tiếng tăm của chàng làm kẻ thù khắp nơi phải run sợ, chàng hiện thân của cái thiện của chính nghĩa mà những kẻ gian tà chỉ mới nghe nhắc đến tên chàng là hải hùng tháo chạy, nhưng ngược lại bên cạnh chàng không còn một người thân nào, chàng hoàn toàn cô độc.
Cho đến một hôm, một buổi chiều mùa đông lạnh lẽo buồn bã, khi những bông tuyết đầu mùa bắt đầu rơi. Chàng trai bây giờ đã trở thành một người đàn ông trung niên mệt mõi trở về quê cũ, ôm thanh kiếm báu quì xuống bên cạnh mộ cô gái. Chàng thì thầm trong tiếng gió: “ Hãy tha lỗi cho anh. Anh đã hiểu ra rồi…”
Rồi chàng bình thản, lặng lẽ cắm thẳng mũi kiếm vào bụng, rạch một đường thật sâu và rút gươm ra nằm gục bên mộ nàng Phương Tử. Thanh bảo kiếm cắm sâu vào lòng đất lạnh. Ngoài trời tuyết vẫn không ngừng rơi, rơi mãi.
Những bông tuyết đã ôm trọn chàng trai và ngôi mộ vào vòng tay của mình. Từ đó mọc lên một cây hoa lạ, vươn lên tràn đầy sức sống, mỗi độ xuân về, cây hoa ấy bung nở những chùm hoa hồng thắm, rực rỡ dưới ánh mặt trời. Không ai biết loài hoa ấy hóa thân từ thanh kiếm nhuộm máu của hai kẻ yêu nhau nhưng không đến được nhau. Loài hoa ấy được người dân xứ phù tang đặt một cái tên thật thân thương: Sakura tức Hoa anh đào.
Khúc Diễm nhìn lên bầu trời, khắp nơi nền nã một màu hoa hồng thắm tinh khôi, nàng cảm thấy hình như trong từng cánh hoa run rẩy trong gió như đang thì thầm nói với nàng hãy yêu nhau đi, thời gian đi qua sẽ không bao giờ quay lại. Khúc Diễm nhìn Nghi nỏi khẻ:
– Câu chuyện cảm động anh Nghi nhỉ?
Nghi khẽ khàng nắm bàn tay của Khúc Diễm đặt trong hai tay của mình nói một cách chậm rãi:
– Ừ! Rất cảm động. Anh mong mình cũng yêu nhau như chàng trai và cô gái trong truyền thuyết hoa anh đào được không Khúc Diễm?
Khúc Diễm để yên bàn tay của nàng trong đôi tay ấm áp của Nghi. Nàng ngã đầu vào vai chàng và nói:
– Nhưng em không thích cái kết thúc buồn thảm của loài hoa ấy đâu.
– Anh cũng thế. Tình mình sẽ dẹp như mùa hoa anh đào vậy.
Lại một cơn gió mạnh lại thổi lên. Vũ điệu hoa mới lại bắt đầu. Lần nầy trong mắt hai người yêu nhau nó rực rỡ và tuyệt vời biết bao nhiêu.

NGUYỄN AN BÌNH

Advertisements

LÊN NÚI PHỤNG HOÀNG

Lên Phụng Hoàng ngắm mây trắng
Núi cao xóa dấu bụi trần
Đời người mấy lần hạnh ngộ
Đất trời đá cũng vô ngôn.

Chim kêu trên tàng kinh các
Bàng hoàng hồi đại hồng chung
Trong lòng khắc bao kinh kệ
Hương thiền lắng đọng tâm dung.

Bước chân ai qua rừng trúc
Thong dong bóng lá u trầm
Mây che ngang đầu Voi Phục
Bốn mùa soi bóng Tuyền Lâm.

Mái cong vươn mình cao vút
Trầm tư dưới cội bồ đề
Thả hồn vào nơi phật tích
Bình yên tìm chốn đi về.

Bạt ngàn thông reo xanh biếc
Ai người dạo núi cùng ta
Mênh mông đất trời cố xứ
Tìm đâu sợi khói quê nhà?

Nguyễn An Bình

CHUYỆN KỂ Ở ĐỘNG ĐÌNH HỒ

Mùa thu năm ấy, sau hơn hai tháng hành trình, đoàn sứ bộ của Đại Việt đã đặt chân đến Hồ Nam bên bờ hồ Động Đình sau một chuyến đi dài từ ải Nam Quan sang Trung Quốc. Trong hai tháng đó, đoàn sứ bộ do chánh sứ Nguyễn Anh Vũ dẫn đầu di chuyển theo con đường định sẳn của những lần sứ bộ đi trước đó, chủ yếu bằng đường sông: theo dòng Minh Giang và Tả Giang để đến Ngộ Châu, sau đó ngược dòng Quế Giang sang Quế Lâm, rồi đi vào kênh Hưng An xuôi thuyền vào sông Tương, rồi theo sông Tương chảy dọc suốt tỉnh Hồ Nam đến hạ lưu thị trấn Tương Đàm, Tương Âm vào hồ Động Đình nổi tiếng thơ mộng. Tại đây quan chánh sứ Anh Vũ cho các quan lại trong đoàn sứ bộ được nghỉ ngơi vài ngày để dưỡng sức trước khi dùng thuyền vượt qua hồ Động Đình để đến Hồ Bắc đi Bắc kinh hoàn thành trách nhiệm đất nước giao phó đồng thời nhân đó có thời gian tham quan thăm thú một số các danh lam thắng cảnh nổi tiếng của đất Hồ Nam. Từ lâu Anh Vũ nghe đồn phong cảnh xung quanh hồ Động Đình rất nên thơ hữu tình nên cũng muốn tìm hiểu nhằm mở rộng tầm nhìn đôi chút về xứ người. Xét về mặt địa lý, hồ Động Đình nằm ở phía nam sông Dương Tử và do nhiều hồ lớn hợp thành, có thể nói đây là một cái hồ tự nhiên trời ban dành tặng cho tỉnh Hồ Nam để làm nơi điều hòa lưu lượng rất lớn mực nước sông Dương Tử đổ về vào mùa mưa lũ. Ngoài sông Dương Tử ra, hồ còn được bốn con sông khác đổ nước vào là Tương Giang, Tư Giang, Nguyên Giang và Lệ Thủy. Ngoài ra còn có sông Tiêu đổ vào sông Tương gần Trường Sa trước khi sông Tương đổ vào hồ vì thế khúc sông này được gọi là Tiêu Tương. Sông Tiêu, sông Tương là những con sông nổi tiếng được nói tới rất nhiều trong văn chương Trung Hoa và Đại Việt mà chàng đã từng đọc qua.
Giữa hồ Động Đình mọc lên một hòn đảo lớn gọi là Quân Sơn, tên cũ của nó là núi Động Đình hay Tương Sơn. Đảo cách thị trấn Lạc Dương khoàng 13 km, chiều rộng 1 km, trên đảo có 72 đỉnh núi, có nhiều đình quán đền chùa. Phong cảnh ở đây đi cùng với hồ thật thần Tiên như chốn bồng lai tiên cảnh dưới trần, đã nổi danh hàng ngàn năm nay. Tương truyền rằng ngày xưa có tiên xuất hiện ở đây. Cảnh sắc thay đổi theo bốn mùa. Về mùa xuân hoa cỏ muôn mầu muôn sắc. Mùa hạ, trời quang mây tạnh là lúc thấy rõ toàn cảnh mặt hồ. Mùa thu khói sương huyền ảo như chốn thiên thai. Đêm đêm văng vẳng vọng lại tiếng hát câu hò của người dân chài vang lên trong thinh lặng. Mùa đông là lúc những loài di điểu trở về… Cảnh sắc huyền ảo như trong một bức tranh sơn thủy.
Đến Động Đình Hồ mà không thăm lầu Nhạc Dương là một thiếu sót rất lớn. Lầu Nhạc Dương ở đầu thành Tây Môn, thành phố Nhạc Dương tỉnh Hồ Nam. Đứng trên lầu có thể thấy bao quát cả Hồ Động Đình với mặt nước hồ xanh thẳm, thuyền bè qua lại và đảo Quân Sơn thấp thoáng xa xa nhất là khi hoàng hôn buông xuống , mặt trời đỏ lừng lựng khuất phía sau đường chân trời và từng đàn chim lũ lượt bay về tổ ấm tạo nên một bức tranh thật rực rỡ của một ngày sắp tàn. Trên đường đi sứ, các sứ thần nước ta khi đến hồ Động Đình đều dừng chân đến ngoạn cảnh ở lầu Nhạc Dương sau đó đến Vũ Hán thăm Hoàng Hạc Lâu . Là một trong bốn danh lâu Trung Quốc nên các sứ thần Đại Việt cũng đề thơ xướng họa lưu giữ bút tích của mình.Trung Quốc có câu Động Đình thiên hạ thủy, Nhạc Dương thiên hạ lâu. Động Đình là hồ đứng đầu thiên hạ, Lầu Nhạc Dương là lầu đứng đầu thiên hạ. Nếu Hoàng Hạc Lâu nổi tiếng với bài thơ Thôi Hiệu, Đằng Vương Các nổi tiếng với bài văn Vương Bột thì Nhạc Dương Lâu nổi tiếng với bài Nhạc Dương Lâu ký của Phạm Trọng Yêm.
Quan chánh sứ Nguyễn Anh Vũ cũng không ngoại lệ, ngay sáng hôm sau chàng đã đến lầu Nhạc Dương để ngắm cảnh. Lầu Nhạc Dương nguyên là Duyệt Quân Lâu do đại tướng Đông Ngô thời Tam Quốc dựng lên dùng để thao luyện binh sĩ, kiểm duyệt thủy quân, đến đời nhà Đường mới đổi thành Nhạc Dương lâu. Anh Vũ có dịp chiêm ngưỡng bút tích, đọc thơ của các nhà thơ nổi tiếng còn lưu lại như Mạnh Hạo Nhiên, Trương Cửu Linh, Lý Bạch, Đổ Phủ, đề thơ tự vịnh. Mãi vui vãn cảnh nên trên đường trở về sứ quán Anh Vũ bước lạc vào một một làng chài nhỏ ven hồ , những mái nhà thấp lè tè cũ kỷ, thưa thớt vắng người, không khí có vẻ ảm đạm buồn tẻ. Chàng đang đứng chơ vơ chưa biết hỏi thăm ai, bỗng thấy một lão ngư đầu đội nón tơi đang đi tới, chàng hỏi nơi đây là điạ phương nào, lão bảo: Đây là làng chài Đan Phượng, dân trong làng chuyên sống bằng nghề hạ bạc nhờ nguồn lợi thủy sản trong hồ đắp đổi qua ngày. Nói đến đây bỗng lão ngư thở dài ngao ngán: Suốt cả buổi sáng quăng lưới chỉ bắt được một con cá nầy mà thôi. Hôm nay nhà lão chắc thiếu gạo thổi cơm mất thôi. Nói xong lão dợm bỏ đi. Anh Vũ ngăn lại nhìn vào giỏ cá lão đang xách trên tay, quả thật chỉ thấy một con cá chép vẩy màu vàng lấp lánh nằm vật vờ trong đó, con cá nhìn chàng chớp mắt nhiều lần, chiếc đuôi lắc qua lắc lại như có vẻ van lơn cầu khẩn xin chàng cứu mạng. Động lòng chàng trả một số tiền khá lớn cho lão ngư rồi mang giỏ cá xuống bờ hồ để phóng sinh, chàng nói:
– Cá vàng ơi! Mày hãy trở về vương quốc thủy tộc của mày đi nhé. Đừng lạc lối đến đây một lần nào nữa kẻo lại hối không kịp.
Hình như biết nghe tiếng người, dưới dòng nước trong xanh của mặt hồ, cá chép lắc lư cái đuôi của mình mấy lượt, đầu ngước lên như muốn trả lời chàng trước khi lặn sâu xuống đáy hồ mất hút.
Đêm Động Đình hồ nhuốm một màu huyền ảo, trên bờ những hàng quán treo đèn kết hoa rực rỡ, tiếng đàn tiếng sáo du dương hòa lẫn với tiếng cười nói của khách du ngoạn tạo một không khí thật tưng bừng nhộn nhịp . Dưới bến nước, thuyền của tao nhân mặc khách cũng ra vào thưởng ngoạn không khí trong lành mát lạnh của mặt hồ . Anh Vũ cho thuyền chèo ra khơi xa một chút để ngắm trăng. Ánh trăng mười sáu in trên mặt hồ lấp lánh như dát vàng trên làn sóng lăn tăn trông thật huyền ảo. Trước phong cảnh hữu tình có một không hai ấy, Anh Vũ chợt hứng khởi ngâm nga:
Để tử Tiêu Tương khứ bất hoàn
Không dư thu thảo Động Đình gian
Đạm tảo minh hồ khai ngọc kính
Đan thanh họa xuất thị Quân Sơn(1)
Chẳng biết từ đâu theo làn gió đưa về tiếng ngân nga của một bài thơ tả về cảnh đẹp của Động Đình hồ:
Hồ quang thu nguyệt lưỡng tương hòa
Đầm diện vô phong kính vị ma
Dao vọng Động Đình Sơn thủy thúy
Bạch ngân bàn lý nhất thanh loa(2)
Là người am hiểu thơ Đường, Anh Vũ biết bài thơ đó là của Lưu Vũ Tích một danh sĩ đời Đường, chàng cảm khái cao hứng vỗ tay khen hay và cho thuyền chèo đến gần chiếc thuyền có treo đèn kết hoa xem ai là người đã ngâm vịnh bài thơ hay đó. Thuyền vừa cập mạn thì trên thuyền ánh sáng rực rỡ đó, Anh Vũ nghe có một giọng nữ vang lên:
– Quan nhân đã đến rồi thưa tiểu thư.
Có tiếng một người con gái khác ở trong thuyền:
– Em mời ân nhân vào trong thuyền giùm chị nhé.
Tức thì bên kia thuyền có một miếng ván dài bắc ngang qua thuyền chàng. Anh Vũ bước qua tấm ván để vào khoang thuyền, chàng thấy bên trong thuyền được bày trí thật trang nhã, diễm lệ, màn che trướng phủ, đèn sáp lung linh chẳng khác nào cách trang trí của con nhà khuê các giàu có. Giữa thuyền bày sẳn một tiệc rượu đầy những món ngon như đang chào đón khách quý,chàng ngỡ mình đường đột đến không đúng lúc muốn quay lui, thì nàng thiếu nữ xem chừng là chủ nhân, có gương mặt cực kỳ thanh tú, tóc mây xỏa dài như suối, trâm cài lấp lánh màu hổ phách, mặc chiếc áo vàng tươi sáng dưới ánh đèn trông muôn phần diễm lệ bước tới, nụ cười như hoa hàm tiếu mới nở:
– Xin ân nhân đừng ngại. Tiệc rượu nầy thiếp bày ra để chào đón ân nhân đó thôi. Xin mời chàng ngồi xuống đây.
Được ngồi đối diện với nữ chủ nhân xinh đẹp, Anh Vũ cảm thấy bối rối không biết phải mở lời như thế nào, vừa ngỡ ngàng trước vẻ đẹp của nữ chủ nhân, chàng lại vừa ngạc nhiên khi nghe giai nhân gọi mình là ân nhân:
– Ân nhân ư? Ta với nàng có mối ân nghĩa gì sao? Ta là khách lạ từ xa vừa ghé ngang qua đây và nhớ chưa hề gặp nàng bao giờ thì làm gì có nghĩa ân trong đó.
Thiếu nữ nhìn chàng, cười:
– Chàng thật mau quên. Có phải chàng cho rằng thi ân bất cầu báo chăng? Nhưng người thọ ân không thể quên được. Đạo lý thánh hiền từ ngàn xưa đã dạy như thế. Chẳng phải sáng nay chàng đã phóng sinh một con cá vàng xuống hồ nầy sao?
Anh Vũ giật mình kinh ngạc:
– Phải! Nhưng việc đó nào có liên quan gì đến nầy,chẳng lẽ nàng là…
– Vâng! Chính thiếp. Thiếp là con cá vàng mà chàng đã phóng sinh ban sáng. Thiếp là Tiểu Long Nữ, con vua Thủy Tề cai quản vùng Động Đình hồ mênh mông rộng lớn nầy hàng nghìn năm nay. Sáng nay vì mãi mê ngắm cảnh sông nước của hồ, thiếp đã trốn vua cha hóa thành cá chép lội rong chơi khắp nơi không ngờ dính lưới của ngư ông, cũng may gặp được chàng ra tay cứu giúp nếu không chắc chẳng còn thể xác để trở về gặp phụ thân nữa rồi. Ơn đức ấy thiếp kết cỏ ngậm vành cũng chưa trả hết được, thiếp mượn lời thơ xướng họa mời chàng qua thuyền, bày tiệc mọn để tỏ lòng ơn nghĩa xin chàng chớ chối từ.
Được lời như cởi tấm lòng, Anh Vũ cùng giai nhân trò chuyện vô cùng tâm dắc, Tiểu Long Nữ tỏ ra am tường thi phú làm Anh Vũ càng thêm mến phục. Qua vài tuần rượu,trăng đã xế ngang đầu lúc nào không biết, Tiểu Long Nữ nói với chàng:
– Buổi tiệc nào rồi cũng phải tàn. Buổi gặp gỡ của chúng ta đêm nay cũng là duyên kỳ ngộ. Thiếp biết chàng đang mang trách nhiệm đi sứ, nên không dám lưu khách lại thêm nữa, nhưng đường đi sứ xa xôi sẽ gặp nhiều bất trắc khó lường xin chàng lưu ý cho.
– Ta xin lắng nghe lời khuyên của nàng.
– Chàng ơi, chàng có biết một tai họa đang sắp ập đến với chàng rồi không?
Anh Vũ giật mình kinh sợ:
– Tai họa ư? Xin nàng nói rõ hơn?
– Chẳng phải là họ Nguyễn chàng có ân oán với loài rắn sao? Chàng không nhớ vụ án thảm khốc Lệ Chi Viên năm nào?
Anh Vũ nhìn Tiểu Long Nữ trân trối. Sao nàng lại biết vụ án oan khuất khủng khiếp mà gia tộc chàng phải hứng lấy, chuyện đã xảy ra nhiều năm rồi không phải sao? chàng thảng thốt kêu lên:
– Loài rắn ư? Ta cũng nghe mẫu thân nói điều đó. Nhưng theo ta đó chỉ là truyền thuyết. Riêng ta vẫn luôn mang nghi vấn trong lòng, miệng thế gian thêu dệt, lấy chi là thực, lấy chi làm giả?
– Chàng không tin ư? Thế gian có những điều giả lại biến thành thực, thực lại thành giả. Lộng giả thành chân, chàng là người trí giả không hiểu điều đó sao?
Anh Vũ trầm ngâm, nhớ lại lời kể của mẫu thân về vụ án Lệ Chi Viên năm nàokhi chàng đã lớn, gia tộc đã được giải oan: Đó là vụ án thảm khốc mà gia tộc chàng phải gánh lấy từ cái chết vô cùng bí ẩn của vua Lê Thái Tông khi tuần du về Chí Linh. Chuyện rắn báo oán có lẽ bắt đầu từ đời tổ phụ chàng là Nguyễn Phi Khanh. Khi chưa ra làm quan cho nhà Hồ, ông mở trường dạy học, môn sinh đến thụ huấn khá đông nên ông có dự định cất thêm trường lớp. Một hôm ông dẫn các môn sinh ra phía sau nhà chỉ khu đất trống nhờ họ phát quang cỏ để cất trường. Tối hôm đó, ông nằm mộng thấy một người đàn bà mặc áo trắng đến khẩn khoản xin ông thư thả ít hôm để dọn nhà vì các con còn quá nhỏ, dù không biết là ai nhưng thấy có thể giúp được nên ông nhận lời. Sáng hôm sau ông thức muộn thì đám cỏ sau nhà đã phát xong học trò vào báo lại, trong lúc phát quang, họ đào phải một hang rắn, họ đập chết ba con rắn con, còn con rắn mẹ bị đứt đuôi nhưng đã chạy thoát. Ông mới chợt hiểu người đàn bà trong giấc mơ là con rắn trắng đội lốt, ông thở dài buồn bã thốt: “Thế là ta không cứu được họ rồi”. Mấy hôm sau trong một đêm ông ngồi đọc sách thì trên xà nhà có một con rắn bò ngang. Đuôi của nó nhỏ máu xuống trang sách ông đang xem, giọt máu rơi đúng chữ đại và thấm qua 3 trang giấy như thầm bảo sẽ trả thù mối hận nầy qua ba đời liên tiếp. Khi nhà Hồ mất tổ phụ ông bị bắt giải về Bắc Kinh cùng hai vua nhà Hồ, khi qua biên ải ông có nhắc lại chuyện ấy cho Nguyễn Trải – cha chàng nghe để đề phòng. Nhưng không ngờ chuyện rắn báo oán lại xảy ra cuối đời của cha chàng khi lui về chí sĩ ở Côn Sơn. Tương truyền cha chàng có người hầu thiếp xinh đẹp và thông minh giỏi chữ nghĩa, cuộc gặp gỡ giữa họ phải chăng là mối dây oan nghiệt tạo nên vụ án Lệ Chi Viên khốc liệt? Chàng nghe kể cha mình gặp bà Nguyễn Thị Lộ năm 26 tuổi, lúc làm quan cho nhà Hồ, gặp nàng Thị Lộ 16 tuổi ở Vũ Lăng đi bán chiếu, thấy dung nhan xinh đẹp bèn làm thơ chọc ghẹo:
Ả ở đâu mà bán chiếu gon,
Chẳng hay chiếu bán hết hay còn ?
Xuân xanh nay độ bao nhiêu tuổi ?
Đã có chồng chưa ? được mấy con ?
Không ngờ cô nàng bán chiếu xinh đẹp ứng khẩu đáp lại một cách nhanh chóng:
Tôi ở Tây Hồ bán chiếu gon .
Can chi ông hỏi hết hay còn ?
Xuân xanh vừa độ trăng tròn lẽ.
Chồng còn chưa có, có chi con !
Cảm vì sắc mến vì tài Nguyễn Trãi bèn lấy bà làm thiếp. Vì bà có học thức nên được Lê Thái Tông phong làm Lễ nghi học sĩ để dạy dỗ cho cung tần mỹ nữ và giảng sách cho vua nghe, Chính vì thế khi vua Lê Thái Tông đi duyệt võ ở Chí Linh, trên đường về ghé vào Côn Sơn thăm Nguyễn Trãi, lúc Vua rời Côn Sơn, Thị Lộ được lệnh theo vua về triều. Khi xa giá Thái Tông đến Lệ Chi viên (vườn trái vải) ở làng Đại Lai, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh, đêm ấy vua bị cảm, đến sáng thì mất, các quan hộ giá giữ kín và rước linh cữu vua về Thăng Long, rồi mới báo tang. Ngay sau đó Thị Lộ bị bắt, Nguyễn Trãi đang đi kiểm tra ở Đông Bắc, được tin Thái Tông mất, vội trở về triều cũng bị bắt và bị buộc tội đồng mưu với Thị Lộ thí vua. triều đình đã khép tội tru di 3 họ Nguyễn Trãi, gây ra một vụ án tàn khốc nhất lịch sử. Tương truyền rằng khi bị hành hình dìm xuống nước cho chết, thì bà Lộ biến thành một con rắn lớn bò xuống nước bơi đi mất. Nhân thế người ta cho rằng Thị Lộ là rắn đội lốt thành để hại con cháu Nguyễn Phi Khanh nhằm báo thù.
Gia quyến Nguyễn Trãi trước tai họa diệt vong đó cũng lưu tán khắp nơi khi biến cố Lệ Chi Viên xảy ra. Người em trai Nguyễn Trãi là Nguyễn Phi Hùng chạy về Phù Khê, huyện Từ Sơn, Bắc Ninh. Nguyễn Phù – một người con của Nguyễn Trãi – chạy lên Cao Bằng, đổi họ sang họ Bế Nguyễn. Bà vợ thứ năm của Nguyễn Trãi là Lê thị, đang mang thai, phải trốn về Phương Quất, huyện Kim Môn, Hải Dương nhưng rồi cũng không tránh khỏi sự truy sát. Đặc biệt, bà vợ thứ tư của Nguyễn Trãi là bà Phạm Thị Mẫn lúc đó cũng đang mang thai, được người học trò cũ của chồng là Lê Đạt giúp chạy trốn vào xứ Bồn Man, sau về thôn Dự Quần, huyện Ngọc Sơn, phủ Tĩnh Gia, Thanh Hóa. Tại đây, bà sinh ra Nguyễn Anh Vũ. Để tránh sự truy sát của triều đình, Nguyễn Anh Vũ đổi sang họ mẹ là Phạm Anh Vũ. Sau hơn 20 năm chịu oan khuất, vua Lê Thánh Tông đã xuống chiếu minh oan cho Nguyễn Trãi và cho tìm con cháu ông để cho tập ấm. Người ta tìm được một người con Nguyễn Trãi là Nguyễn Anh Vũ. Lúc này Anh Vũ đã đỗ Hương cống nên được Thánh Tông cho làm tri huyện và sau thăng dần chức tước được cử làm chánh sứ sang Trung Quốc.
Anh Vũ suy tư nói:
– Ta nghĩ rằng chuyện rắn báo oán đã chấm dứt sau ngày Thị Lộ bị hành hình. Hàm oan của cha ta chẳng phải đã rửa sạch rồi đó sao?
– Chàng quên rằng có truyền thuyết cho rằng khi bị dìm xuống sông chết, người ta thấy xuất hiện một con rắn trắng lội đi mất hay sao?
– Như vậy Thị Lộ tức là rắn biến thành đeo đuổi để trả thù ư?
Tiểu Long Nữ mỉm cười nhìn Anh Vũ:
– Chàng có biết chuyện Trụ Vương cuối đời nhà Thương? Ông ta là một vị vua ham mê tửu sắc hoang dâm vô độ, để làm vui lòng ái phi của mình ông ta không những giết hại trung thần, tận diệt hết loài hồ để lấy bộ lông làm áo, vì thế con cháu loài hồ quyết tâm báo thù rửa hận. Có con chồn chín đuôi thoát chết, thành tinh nhập hồn vào thân xác Đắc Kỷ xúi giục ông ta làm điều bạo ngược đến nỗi nước mất nhà tan. Thiếp cho rằng trong vụ án Lệ Chi Viên thì xác là Thị Lộ còn hồn là loài rắn báo oán thì có gì là lạ đâu. Con rắn thành tinh đó từ ấy đã về ẩn náo làm mưa làm gió ở hồ Động Đình nầy chờ cơ hội để báo thù chàng đó.
Tiểu Long Nữ trầm ngâm một lúc rồi nói tiếp:
– Đó cũng chỉ là một nghi vấn, một truyền thuyết. Nhưng có một điều nầy chàng phải lưu ý: Con đường hoạn lộ cũng là con đường chính trị hiểm ác khó lường, tai họa có thể ập đến bất cứ lúc nào. Vua Lê Thái Tông vốn là một ông vua ham sắc, có nhiều vợ, nhiều cung tần mỹ nữ hầu hạ ngày đêm. Chỉ trong 2 năm sinh liền 4 hoàng tử. Các bà vợ vua luôn tranh chấp ngôi thái tử cho con mình, dòm ngó đến ngai vàng, kéo bè kéo phái nhằm hậu thuẩn cho mình, nên trong triều thường xảy ra những hiềm khích, nghi kỵ. Vì thế trong một lúc giận dữ, vua Lê Thái Tông đã truất phế hoàng hậu Dương Thị Bí và phế lập ngôi thái tử con của bà là Lê Nghi Dân lúc ấy mới lên 2 tuổi. Thay vào đó lập bà Nguyễn Thị Anh lên làm hoàng hậu và phong cho con bà nầy là Lê Bang Cơ lên làm thái tử khi chưa đầy 1 tuổi. Cùng lúc đó có một bà vợ khác của vua là Ngô Thị Ngọc Dao cũng sắp lâm bồn. Nguyễn Thị Anh lại sợ đến lượt mẹ con mình bị phế nên tìm cách hãm hại bà Ngọc Dao. Cha chàng đã biết được âm mưu đó đã tìm cách cứu bà Ngọc Dao, đưa ra ngoài thành để nuôi giấu chờ ngày sinh nở. Chính từ môi hiềm thù, cũng có thể bà hoàng hậu cho người bí mật bỏ thuốc độc vào thức ăn để giết vua tại Lệ Chi Viên rồi vu cáo cho cha chàng và bà Nguyễn Thị Lộ cũng nên.
Anh Vũ nghe xong, ngửa mặt nhìn trời than:
– Oan oan tương báo biết bao giờ cho dứt. Nay ta đang mang trọng mệnh triều đình giao phó biết làm thế nào, chẳng lẽ bỏ mạng tại nơi nầy?
Tiểu Long Nữ vội trấn an Anh Vũ:
– Vì cảm ơn chàng đã cứu giúp, thiếp đã có cách giúp đở chàng tránh được tai họa diệt vong.
Nói xong, Tiểu Long Nữ sai người hầu vào bên trong lấy ra một thanh gươm trao cho Anh Vũ:
– Đây là thanh gươm trị thủy của vua cha mà thiếp mượn tạm, chàng cầm lấy sẽ qua hồ bình an, lúc trở về ắt có việc dùng đến. Thôi! Trời đã khuya chàng nên lui gót để sáng mai còn lên đường sớm, còn có cơ duyên chúng ta sẽ gặp lại nhau.
Sáng hôm sau, đoàn sứ bộ Đại Việt dùng thuyền vượt hồ Động Đình, thuyền đi gần giữa hồ bỗng sóng to gió lớn nổi lên dữ dội, từng cột sóng cao ngất như chụp lấy chiếc thuyền mỏng manh, một con rắn trắng lớn rượt theo,vượt ngang mặt thuyền gầm gào gọi tên Anh Vũ đòi mạng . Thuyền chòng chành, nghiêng ngã mấy phen tưởng chìm, ai nấy cũng đều sợ hải, lo âu. Nguyễn Anh Vũ biết rắn hiện hình báo oán, bình tĩnh cầm thanh gươm trị thủy bước ra trước mũi thuyền, đưa thanh gươm lên cao, dõng dạc nói lớn:
– Oan có đầu nợ có chủ, ta sẳn sàng đối diện ân oán của tiền nhân đối với nhà ngươi nhưng ngươi không được làm hại người vô tội. Nay ta đang mang trọng trách đi sứ vua Đại Việt đến Bắc Kinh nối bang giao giữa hai nước. Xin cho ta hoàn sứ mệnh lúc trở về sẽ nộp mình quyết không thất hứa.
Anh Vũ vừa dứt lời thì mặt hồ đang nổi sóng bỗng nhiên sóng yên hồ lặng như chưa hề xảy ra chuyện gì, người trong thuyền ai nấy đều ngạc nhiên. Đoàn sứ bộ qua hồ an toàn. Cuộc hành trình lại tiếp tục. Đường đến Bắc Kinh lần nầy khá vất vả, đoàn đến Vũ Hán, Hồ Bắc rồi theo đường bộ đến Võ Thắng Quang, đến Hà Nam, qua Tín Dương, Yên Thành, Hứa Xương đến Khai Phong, rồi lại theo sông Hoàng Hà đến Trường Ca, Nghiệp Thành, qua Hàm Đan vượt sông Dịch đến Bắc Kinh.(3) Đoàn ở lại Bắc Kinh khoảng 20 ngày hoàn thành công việc. Trở về đến phía bắc hồ Động Đình đã là cuối hạ đầu thu. Nước hồ vẫn xanh trong, hoa cúc nở đầy hai nên đường, sắc vàng như mật trải khắp nơi.
Thuyền lại vượt hồ, Nguyễn Anh Vũ ăn mặc gọn ghẽ, tay cầm thanh gươm trị thủy đứng hiên ngang ở đầu thuyền. Thuyền đi vào giữa hồ, nước hồ bỗng dưng sôi lên sùng sực, rồi sóng gió bắt đầu dâng lên dữ dội mãnh liệt hơn lần trước, trời xám xịt gió rít từng cơn thật ghê rợn. Rắn trắng xuất hiện, nhe năng múa vuốt, ào ào duổi theo thuyền. Anh Vũ nói lời từ biệt với mọi người, rút gươm nhảy xuống dòng nước xoáy trên mặt hồ. Nhờ có thanh gươm trị thủy mà thân pháp Anh Vũ trở nên nhẹ nhàng như đang ở trên cạn, đường gươm trở nên mạnh mẽ sắc bén khôn lường. Trên thuyền mọi người thấy Anh Vũ và con rắn trắng như quây tròn quần thảo lấy nhau trong một trận quyết chiến thật dữ dội. Nhờ có gươm báu trong tay nên đường kiếm của chàng rẽ nước loang loáng chém vào đầu rắn, Bạch xà cũng lanh lẹ không kém né đòn và cái đầu rắn miệng thè cái lưỡi đỏ lòm chực chờ phun nọc độc và tìm cách nuốt chừng lấy chàng. Ai nấy đều lo ngại cho tánh mạnh của Anh Vũ. Bỗng đâu nghe một tiếng thét lớn của Anh Vũ, mọi người chỉ thấy một đường kiếm xanh chém xuống đầu rắn nhanh như tia chớp, máu loang cả mặt hồ, tiếng quấy đạp dữ dội xen lẫn tiếng gầm rú ghê rợn kinh hồn, một lát sau mặt hồ trở lại phẳng lặng nhưng không thấy người và rắn đâu nữa, chỉ thấy máu loang cả một vùng rộng lớn, cả hai chắc đã chìm sâu xuống đáy hồ.
Người đời sau kể rằng Vua nhà Minh nghe trình tấu, cảm kích trước hành động dũng cảm tiêu diệt mãnh xà trừ hại cho bá tánh của vị chánh sứ nước Việt đã xuống chiếu sắc phong Nguyễn Anh Vũ đời đời làm thành hoàng của cả vùng Động Đình hồ bao la rộng lớn. Tuy nhiên còn một chi tiết mà người viết muốn kể thêm chắc chưa ai nhắc đến: Sau trận hỗn chiến dữ dội giữa người và rắn, kết thúc câu chuyện rắn báo oán gây nên vụ án Lệ Chi Viên đẩm máu năm xưa, Nguyễn Anh Vũ- hậu duệ cuối cùng còn sót lại của dòng họ Nguyễn – lại một lần nữa không chết, mà chàng cùng Tiểu Long Nữ – con vua Thủy Tề – sống ung dung tự tại, ngược xuôi sông hồ, chu du tứ hải, non bồng nước nhược, danh lam thắng cảnh không nơi nào không đến, thân xác phiêu diêu thoát khỏi sông mê bến tục nhiều ân oán thị phi, sống luôn tìm cách hãm hại nhau để tranh giành quyền tước địa vị, công danh đối với chàng giờ chỉ còn là bọt nước đầu ghềnh, đám vân cẩu bay cuối trời mà thôi.

NGUYỄN AN BÌNH

__________________________________________________

(1) Bài Du Động Đình của Lý Bạch
Dịch nghĩa : Dạo trên hồ Động Đình
Nơi sông Tiêu Tương vua đi mà không về
Chỉ còn cỏ thu ở Động Đình gian
Gió nhẹ tan sương thấy mặt hồ
Nắng lên họa rõ ra là Quân Sơn.
(2) Bài Vọng Động Đình của Lưu Vũ Tích
Dịch nghĩa: Ngắm hồ Động Đình
Vẻ phong quang của hồ và ánh trăng thu hòa hợp với nhau
Mặt hồ lặng gió giống như mặt gương đồng chưa mài sáng
Từ xa ngắm màu xanh của mặt nước hồ Động Dìnhvà núi Quân
Giống như trên cái mâm bằng bạc có con ốc xanh
(3)Theo “Nguyễn Du qua hành trình đi sứ Trung Quốc” của Mạnh Hà

RỒNG ĐÁ THÀNH NHÀ HỒ

Ánh trăng hạ huyền đã lên cao từ lâu và đang chếch về phía tây như một cái
móc câu vàng vành vạch treo trên vòm trời thàng tám, mùa thu với tiếng gió thổi vi vu nhè nhẹ xen lẩn với tiếng rên rỉ của côn trùng càng làm cho không gian chìm đắm trong thê lương tĩnh mịch. Đêm đã về khuya, trời càng thêm lạnh, ngọn gió phất phơ lay động những tấm rèm nhung treo trên lầu vọng nguyệt, ngọn đèn trong phòng hắt dáng một bóng một người đang đứng yên hình gần như bất động. Hồ Quý Ly đứng yên như thế đã lâu, nhiều đêm ông vẫn đứng lặng im như pho tượng, thao thức không ngủ được, tâm trạng rối bời trước tình thế của đất nước. Ông nhìn vào đêm đen, trầm tư. Tin tức cấp báo từ phương bắc qua những hỏa hiệu được bắn lên từ các phong hỏa đài đặt từ biên cương Cao Bằng, Lạng Sơn kéo dài đến thànhTây Đô cho thấy tình hình chiến sự đã cấp bách lắm rồi. Các thám mã cũng lần lượt phi nhanh báo tin về sự chuyển động của quân địch. Kẻ thù phương Bắc đã bộc lộ ý đồ xâm lược rõ rệt, đã chuyển quân sát tận biên giới với danh nghĩa phù Trần diệt Hồ thế mạnh như nước vỡ bờ.
Thật ra Hồ Quý Ly cũng dự đoán trước diễn biến tình hình sự việc nhưng không ngờ chiến sự lại diễn ra nhanh như thế. Các vì vua cuối đời nhà Trần chỉ biết ăn chơi hưởng lạc, phế mặc triều chính, còn quan lại, con cháu nhà Trần cũng chỉ mong giữ lấy quyền cao chức trọng tận hưởng phú qui sợ gian khổ nên những đề xuất cải cách mạnh mẽ của ông về chính trị, quân sự thường bị quan lại cựu triều dèm pha phản đối, chính vì thế nhiều lần những đề xuất cải cách ấy không thực hiện được. Biên cương phía nam thì Chiêm Thành dưới sự chỉ huy của Chế Bồng nga nhiều lần đánh tới Thanh Hóa, thậm chí đem quân ra tới Thăng Long để quấy nhiễu, cướp nhiều tài vật làm cho cuộc sống của người dân bao lần khốn đốn, phương bắc thì triều Minh chờ cơ hội nước ta suy yếu để xâm lược. Là người có tầm nhìn xa trông rộng ông thấy rõ được điều đó nên càng nung nấu quyết tâm thực hiện hành động cải cách của mình.
Chính vì thế ông đã hối thúc vua Trần Thuận Tông dời đô về Tây Đô để khi có biến dễ bề chống đở, tránh áp lực nặng nề của giặc khi đánh vào Thăng Long nhưng cũng đồng thời mưu tính một kế sách lâu dài: nếu triều Trần không còn phù hợp nữa thì phải thay thế đi để xây dựng một vương triều hùng mạnh khác mới có thể chống đở thế lưỡng đầu thọ địch được. Kế sách dời đô của ông lần nầy cũng vấp phải phản ứng dữ dội của bọn quan lại triều Trần nhưng thế lực của ông lúc nầy đã đủ mạnh để xoay chuyển tình hình. Thế là một cuộc thanh trừng đẩm máu xảy ra, những người không theo ý hướng của ông đều nhận lấy những hậu quả khủng khiếp: kẻ thì chết người bị tù đày, gia sản bị tịch biên. Ngay cả các quan chỉ vì can gián Hồ Quý Ly không nên dời đô gây xáo trộn tình hình mà nên ở lại Thăng Long, nơi có núi cao, sông sâu án ngữ, Họ còn cho rằng”Cốt ở đức, không cốt ở hiểm” nhưng Hồ Quý Ly gạt ngang: : Ý ta đã quyết, không được can gián nữa nếu không muốn lãnh lấy cái chết”. Thế là tất cả phải im lặng nếu không muốn chọn lấy cái chết.
Để xây thành Tây Đô, Hồ Quý Ly phải huy động toàn bộ sức người sức của rất lớn, phu phen tạp dịch rất nặng nề. Người già, đàn bà, trẻ em đều phải tham gia phục vụ công trình. Ngày ngày, tháng tháng, dân phu binh lính mệt mõi vào các dãy Tượng Sơn, Hang Ma, Đồi Cốc, Dọc Khoai chặt cây, đốn củi về đốt lò nung vôi, Lò nung vôi, nung gạch mọc lên nhiều vô kể cũng không đáp ứng đủ vật liệu để xây thành. Dân công phải bạt đồi, xẻ núi lấy đá phục vụ công trình, những phiến đá to lớn nặng hàng tấn được khai thác chuyển về xây thành, công việc vô cùng nặng nhọc, nguy hiểm. Các thợ kỹ thuật, nghệ nhân cũng phải làm việc suốt ngày đêm, lương thực cung cấp không đủ, đói ăn, ốm đau, lại nửa vùng đất xây thành nước tù đọng quanh năm nên bệnh dịch tràn lan làm phu phen chết dần, chết mòn không kể xiết. Đặc biệt là việc chế tác đôi rồng đá đòi hỏi những nghệ nhân lành nghề trong chạm khắc. Có người đã phải chết vì lỡ chạm sai một chi tiết không vừa ý với nhãn quan của họ Hồ. Hồ Quí ly đã tuyển chọn từ các nghệ nhân có tiếng tăm khắp các vùng về để chạm khắc. Tượng rồng được tạc bằng đá xanh. nguyên khối, khi tạc xong có chiều dài 3 thước 8. Thân rồng thon nhỏ dài về phía đuôi, uốn bảy khúc, vẩy phủ kín cả thân. Rồng có 4 chi, mỗi chi có 3 móng ẩn hiện trong các vân mây mềm mại trông rất huyền ảo, sống động vô cùng. Các khoảng trống dưới bụng và các ô tam giác ghép thành các bậc đều được chạm những đóa hoa cúc và móc hoa lại thật lượn mềm, tỉ mỉ đến từng chi tiết một. Đôi rồng khi chế tác xong được đặt nằm song song hai bên đường ngay trung tâm của tòa thành từ cổng nam đi sang cổng phía bắc của thành Tây Đô tạo một cảnh quan thật trang nghiêm, hùng tráng. Cứ thế tòa thành xây ròng rã suốt hơn 3 tháng trời mới hoàn thành(1).
Thành xây xong, việc dời đô đã ổ định, dưới sự ủng hộ của các quan Trần Thiếu Đế là cháu ngoại của ông phải thoái vị và ra chiếu nhường ngôi cho ông, Hồ Quí Ly yên tâm có thời gian hoạch định kế sách lâu dài cải cách đất nước theo ý định mình đã vạch ra từ trước, ông thực hiện một loạt những cải cách có lợi cho đất nước như: Phát hành tiền giấy “Thông bảo hội sao” thay thế tiền đồng thuận tiện cho việc cất giữ thông thương mua bán, quan tâm đến giáo dục, sửa chữa chế độ thi cử cho phù hợp, đưa toán học vào thi cử để tìm người tài. Về quân sự, Hồ Quý Ly ý thức rất rõ ý đồ xâm lược của nhà Minh phương bắc, ông càng ra sức tập trung xây dựng lực lượng quân sự hùng mạnh, chú trọng cải tiến kỹ thuật vũ khí, mở xưởng đúc vũ khí, tuyển thợ giỏi vào làm việc trong các công xưởng quân sự, Hồ Nguyên Trừng đã chế được loại súng thần cơ có sức công phá mạnh mẽ, thủy binh cũng được trang bị những chiến thuyến lớn hơn. Bên cạnh đó, ông chủ tr¬ương xây dựng các hệ thống phòng tuyến trên mặt đất để phòng thủ quốc gia như thành Tây Đô, thành Đa Bang và cả một hệ thống công trình phòng thủ có quy mô lớn, dài gần 400 km kéo dài từ núi Tản Viên, men theo sông Đà, sông Hồng, sông Luộc đến cửa sông Thái Bình. Nhưng những điều thực hiện được chỉ là bước ban đầu, thời gian còn quá ngắn, công việc không phải lúc nào cũng xuôi chèo mát mái theo ý Hồ Quý Ly, lòng dân còn bất ổn chưa nguôi hướng về triều cũ, tướng tài lác đác như lá rụng mùa thu, quân lính tập luyện chưa thuần thục, quân lương còn thiếu thốn nhiều liệu có thể chống đở thế giặc hùng mạnh được chăng, bao nhiêu mối lo như hằn sâu lên nét mặt của thái thượng hoàng Hồ Quý Ly. Trong không gian im vắng của đêm khuya như thế, bỗng ông nghe đâu đây có tiếng đàn tỳ bà vang lên lúc khoan lúc nhặt, lúc xa lúc gần đưa đẩy theo chiều gió như mang một nỗi sầu vạn cổ, lông mày ông chợt nhíu lại tỏ vẻ không vui. Từ chổ khó chịu ông lại ngạc nhiên tự hỏi: Tiếng đàn phát ra từ đâu vậy, sao tiếng đàn như mang một nổi u hoài uất hận khôn nguôi như thế. Ông cố gắng lắng nghe, hình như tiếng vang lên từ vườn thượng uyển thì phải. Tò mò Hồ Quý Ly khẻ bước xuống lẩu, chậm rải chân bước theo tiếng đàn đang bay trong gió. Dưới liềm trăng vàng treo trên ngọn liễu, ông thấy thấp thoáng bóng dáng một thiếu phụ với y phục trắng tinh đang ngồi trên băng đá cạnh khóm bông hải đường, người thiếu phụ có mái tóc đen mượt mà óng ả dưới ánh trăng chảy dài xuống bờ vai thon nhỏ, bàn tay mềm mại đang lướt nhẹ trên từng phím đàn. Dưới bàn tay tài hoa ấy, cây đàn vang lên những âm thanh trầm bổng, dìu dặt lúc thì trầm mặc u buồn, lúc thì như thở than ai oán thê lương vô cùng.
Trong không gian khuya khoắt tĩnh mịch làm cho Hồ Quý Ly như lạc vào một nơi đầy ma mị, liêu trai. Ông tự hỏi mình đang ở đâu đây và bất giác chợt rùng mình, cái lạnh như len vào từng đốt sống lưng. Người thiếu phụ nầy là ai? Ma quỷ, tiên nương hay là hồ ly? sao lại xuất hiện trong đêm hôm khuya khoắt như thế nầy, ngay trong vườn thượng uyển của ta? Tuy có phần sợ hải nhưng không kiềm chế nổi sự tò mò, Hồ Quý Ly bước tới gần thêm một chút nữa để nhìn cho rõ mặt người đàn bà. Dưới vòm trăng hạ huyền, gương mặt thiếu phụ hiện lên thật vô cùng diễm lệ mà hình như trong đời ông chưa từng thấy vẻ đẹp tự nhiên nhưng lại lôi cuốn như thế. Trên nét mặt yêu kiều đó lại thoảng lên nét buồn muôn thuở. Ông thử lục tìm trong trí nhớ xem thiếu phụ nầy có phải người ở trong cung không nhưng không tài nào nhớ được. Hồ Quý Ly lên tiếng:
– Nàng là ai? Tại sao đêm hôm khuya khoắt lại đàn một khúc cầm nghe buồn thảm thế? Ta nhớ như chưa từng gặp nàng trong cung của ta lần nào thì phải?
Người thiếu phụ đang chìm đắm trong cung đàn, thả hồn mình vào những phím tơ lòng, không biết có người bên cạnh đang lắng nghe tiếng đàn của mình tự nảy giờ. Nàng chợt giật mình thoát khỏi trạng thái mơ hồ lãng đãng như khói sương ấy, nhẹ nhàng đặt chiếc đàn lên chiếc bàn cẩm thạch kề bên, đứng lên vòng tay cúi đầu đáp:
– Tiện thiếp xin ra mắt thượng hoàng.
Hồ Quý Ly ngạc nhiên:
– Nàng biết ta ư?
– Ngài là đấng quân vương, cả đất nước nầy đều biết chẳng lẽ thiếp lại không biết người ư?
– Nàng chưa trả lời câu hỏi của ta.
– Thiếp không phải là người trong cung. Nhà thiếp ở dưới chân thành đông của tòa thành nầy.
Hồ Quý Ly lại càng ngạc nhiên:
– Dưới chân thành đông ư? Nàng làm sao vào đây được?
– Không có nơi nào thiếp không thể đến được thưa thượng hoàng.
Không để cho Hồ Quý Ly hết ngạc nhiên, người thiếu phụ tiếp lời:
– Tên thiếp là Bình Khương, là vợ của chàng cống sinh Trần Công Sỹ được thượng hoàng tin tưởng giao việc giám sát, đốc thúc phu phen xây bức tường thành phía đông.
Hồ Quý Ly nhíu mày suy nghĩ trong giây lát, chợt ông nhớ ra điều gì đó. Thì ra người thiếu phụ đứng trước mắt mình là vợ của Trần Công Sỹ người được ông giao phó xây dựng đoạn thành phía đông. Ông nhớ lại tất cả rồi. Để gấp rút dời đô từ Thăng Long về Tây Đô, Hồ Quý Ly đã huy động một số lượng lớn dân quân ngày đêm xây thành, đắp lũy, phu phen làm việc cực nhọc vô cùng, ngày đêm không nghỉ để đảm bảo tiến độ nội trong 3 tháng phải hoàn thành “kinh đô bất khả chiến bại”, Trong tình thế dầu sôi lửa bỏng lúc ấy, các tường thanh các mặt khác tới kỳ đã từng bước hoàn thiện công trình thì đoạn thành phía đông do Trần Công Sỹ phụ trách xây vừa xong lại đổ sập xuống không rõ nguyên nhân khiến cho Hồ Quý Ly vô cùng tức giận. Ông nghi ngờ Trần Công Sỹ có ý đồ phản nghịch nên cố ý làm chậm trể công việc xây thành làm lỡ việc lớn. Trong cơn giận dữ, Hồ Quý Ly đã ra lịnh cho quân sĩ chôn sống chàng vào vị trí bức tường thành vừa bị đổ để làm gương răn đe tất cả những ai bất tuân thượng lệnh và giao phó trọng trách xây tường thành tiếp tục lại cho viên quan khác. Sau nầy ông còn nghe quần thần kể lại, vợ Trần Cống Sỹ tên là Bình Khương nghe tin đã chạy đến ngự sử đài than khóc kêu oan cho chồng, nhưng ai nấy đều sợ uy của Hồ Quý Ly không dám vào bẩm báo lại. Vì quá tức giận, nàng chạy đến nơi chồng bị chôn sống, dùng toàn bộ sức lực để xô ngả bức tường dầy định mệnh ấy mong tìm thấy xác của chồng trong đó nhưng bức tường không hề lay chuyển. Vô cùng tuyệt vọng, nàng liều mạng đập đầu vào bức tường thành để tự vẫn theo chồng. Phiến đá nơi nàng tuẩn tiết in sâu dấu vết đầu người và đôi bàn tay cào cấu của nàng. Cảm thương trước tấm lòng chung thủy sắt son của người thiếu phụ, người dân nơi đây đã lập đền thờ nàng ở sát vách tường cửa phia đông thành Tây Đô. Sự việc xảy ra đã lâu Hồ Quý Ly hầu như không còn nhớ nếu người thiếu phụ không nhắc đến tên chồng mình. Hồ Quý ly nghĩ đến đây đã thấy rờn rợn vì biết người đang đối diện với mình chỉ là hồn ma bóng quế mà thôi, chẳng lẽ nàng ta hiện hình về đòi đền mạng ta chăng?(2)
Hồ Quý Ly cố giữ bình tĩnh, nhưng câu hỏi có vẻ hơi gượng gạo::
– Ta nghe người báo là nàng đã tự vẫn chết rồi kia mà.
Nàng Bình Khương nhìn nhà vua, giọng nói u buồn xen lẫn oán trách:
– Người nói không sai. Thiếp đã không còn sống trên cõi đời nầy, thân xác vùi chôn dưới ba tất đất từ lâu, mồ chắc đã xanh cỏ, nhưng linh hồn còn mang nhiều nỗi u uất, phảng phất trên trần gian chưa thể siêu thoát được.
Hồ Quý Ly có vẻ giận dữ, gằn giọng:
– Điều gì làm cho linh hồn nàng không tan? Chẳng lẽ với cái tội làm hỏng việc lớn của ta chồng nàng bị giết oan khuất lắm sao?
– Thưa thượng hoàng , đối với người cái chết của một chàng cống sỹ chẳng qua chỉ là con giun cái kiến mà thôi. Hơn nữa trong cơn thịnh nộ quyết định tàn bạo ấy cũng để thỏa mãn quyền uy tối thượng của mình mà thôi thì còn suy xét làm gì nỗi oan khuất của người dân chứ. Thượng hoàng có biết tường thành phía đông nơi chồng thiếp phụ trách xây dựng trên một nền đất yếu, phía dưới có mạch nước ngầm ăn thông ra Lỗi Giang nên không thể chịu đựng sức nặng hàng ngàn tấn của tường thành được, đổ sập là điều không thể tránh khỏi được. Thiếp đã đến ngự sử đài kêu oan nhưng không ai chú ý nghe lời giải trình của thiếp.
Hồ Quý Ly tỏ vẻ nghi ngờ:
– Làm sao nàng biết tường thành xây trên đất yếu? Phải chăng nàng nói để chạy tội khi quân của Trần Công Sỹ chăng?
Bình Khương có vẻ không vui:
– Người trần không thể biết được điều bí mật nằm trong lòng đất thưa thượng hoàng. Hình như trong xử lý công việc người chưa bao giờ tin tưởng một ai. Thiếp biết thượng hoàng là người có chí lớn, người dời đô về đất nầy để mưu đồ đại sự, xây dựng một vương triều hùng mạng để lưu danh muôn đời. Nhưng dục tốc bất đạt, xây thành một công trình to lớn như thế chỉ trong vòng 3 tháng chỉ bằng sức lao động tay chân cua con người là một việc làm kinh khiềp chẳng khác gì việc dời non lầp biển, đã làm tài nguyên đất nước kiệt quệ, sinh linh dân đen bị nướng vào lửa đỏ. Làm vua chỉ muốn người ta phục tùng mệnh lệnh, chỉ xem chung quanh mình thấy ai cũng có thể đồ phản nghịch, nghi ngờ tất cả mọi thứ dù sự thật hiện ra trước mắt và luôn dùng quyền uy để bức hại người khác thì không thể là một đấng minh quân được.
Nếu như bình thường, chắc chắn Hồ Quý Ly sẽ nổi cơn lôi đình thịnh nộ, người dám nói ra câu phạm thượng đó thế nào cũng thịt nát xương tan, nhưng biết Bình Khương là người đàn bà khác thường, chỉ là hồn ma bóng quế, vất vưỡng trên đầu cây ngọn cỏ thì cơn giận cũng nguôi đi, giận dữ cũng chẳng có ích gì, Hồ Quý Ly kìm nén cơn giận trong lòng nói:
– Ta tạm tin lời nàng vậy nhưng nàng nói ta dùng bạo quyền để cai trị dân chẳng phải quá đáng sao?
– Đây không phải là lời nói của thiếp mà đó là lời truyền tụng trong dân gian. Người ở trong cung cấm cách ly với đời thường, mắt không được thấy tai không được nghe, làm sao hoàng thượng có thể thấu hiểu được nỗi khổ của dân đen kia chứ? Bài đồng dao mà bọn trẻ con nghêu ngao hát khắp kẻ chợ ai mà không hay không biết.
Hồ Quý Ly lộ vẻ ngạc nhiên:
– Bài hát đồng dao ư? Bài hát nói điều gì thế?
– Thiếp xin đọc hầu hoàng thượng xin trước hết xin người không được giận dữ
Hồ Quý Ly gật đầu:
– Được. Ta hứa. Nàng đọc ta đi
Bình Khương bắt đầu đọc:
Bạt núi để xây thành
Phu phen nhiều lao khổ
Vợ con lìa cha anh
Thành xây xong lại sập
Xương chất đầy kè đá
Hào sâu đỏ máu dân
Thân gầy còm đói rách
Ai oán thấu trời xanh.
Những tưởng lục thập ký
Nào ngờ chỉ sáu năm
Thành cao dù muôn trượng
Không lớn bằng lòng dân.
Dứt lời, Bình Khương nói như nói chính mình:
– Long xà ẩm thủy lục niên ký chủ. Số trời đã định không thể cải mệnh được. Tiếc thay tích củi ba năm đốt cháy một giờ. Chỉ tội cho muôn dân vô tội một lần nữa lại nướng mình trong lửa đỏ hung tàn của giặc ngoại xâm.
Hồ Quý Ly nghe những lời nói của Bình Khương như từ cỏi âm vọng về. Ông chợt biến sắc không hiểu vì sao người thiếu phụ nầy lại biết điều bí mật mà chỉ hai cha con ông biết mà thôi. Trong đầu ông miên man suy nghĩ về điều nàng ta vừa nói. Mưu đồ xây kinh đô mới để thừa dịp truất ngôi nhà Trần đã manh nha từ lâu trong đầu của Hồ Quý Ly, mặc dù nắm giữ quyền cao chức trọng, dưới một người trên vạn người, nhưng Hồ Quý Ly nhận thấy các ông vua nhà Trần đã quá bạc nhược, u mê nên muốn tự mình thành lập một vương triều mới. Ông tin rằng với tài năng của mình sẽ xây dựng một đất nước hùng mạnh, phía nam có thể đè bẹp Chiêm Thành, phía bắc có thể dựa vào thành cao hào rộng thế núi hiểm trở có thể chống lại kẻ thù phương Bắc. Để thực hiện việc dời đô, xây dựng một vương triều vững mạnh cho riêng mình, Hồ Quý Ly đã bí mật cùng một vài cận thần tâm phúc của mình đi tìm thế đất tốt để xây thành. Khi thuyền xuôi dọc theo sông Mã đến động An Tôn ông thấy nơi đây thế núi hiểm trở, đất đai trù phú, hình thù như hình quả ấn của trời, sông Mã như long mạch dài hàng ngàn dặm, xung quanh còn có nhiều phụ lưu bắt nguồn từ Trường Sơn như sông Luồng, sông Âm, sông Chu, sông Bưởi giống như những chi long mạch chầu vào long mạch chủ ông rất vừa lòng, ưng ý.
Đứng trên núi cao, có thể ngắm nhìn kỷ lưỡng địa thế xung quanh vùng động An Tôn. Cảnh quan thật hùng vĩ, địa thế vô cùng hiểm trở. Phía đông nam có núi Đốn làm tiền án, tây bắc có núi Song Tượng. Một con voi chầu về hướng bắc, một con khác lại quay đầu về hướng nam canh giữ núi Mâm Xôi. Phía Tây Nam có 5 ngọn núi đá vôi: 3 ngọn gọi là Kim Ngọ(ngựa vàng), 2 ngọn khác gọi là Kim Ngưu(trâu vàng). Đây là một mỏ đá vô cùng to lớn có thể sử dụng để xây thành vững chắc. Thời bình với đồng ruộng phì nhiêu có thể cày cấy tích lũy lương thực, thời chiến có thể dựa vào thế núi hiểm trở tự nhiên, với thành cao hào sâu cự địch được.
Bên ngoài có nhiều dãy núi vòng cung bao bọc vây kín bốn phương tám hướng. Vòng trong là sông Mã, sông Bưởi lượn tròn như những chiến hào tự nhiên vây quanh. Ở trong cùng, một khu đất nổi lên như một cái ấn của trời, Bên trên là vòm trời xanh như chiếc lọng che cho cái ấn thật huyền ảo. Từ ngã ba Bông nối vài ngã ba Đầu là một nhánh chảy vào đền Hàn, Châu Tử xuống bến Lèn ra cửa Lạch Trường. Một nhánh qua đất Hàm Rồng đổ ra cửa Hới tạo thành thể lưỡng long chầu nguyệt. Thành xây trên động An Tôn nên gọi là thành An Tôn, còn gọi là thành Tây Đô(3)
Là người am hiểu phong thủy, Hồ Quý Ly khi chọn thế đất nầy để xây thành ông rất lấy làm tâm đắc, nói với các con mình: Đất nầy là đất Thạch bàn long xà lục thập niên ký(có nghĩa thế đất như rồng chầu rắn cuốn nầy vững như bàn thạch có thể trụ được ít nhất 60 năm) nhưng Hồ Hán Thương, người con trai thứ của Hồ Quý Ly, am hiểu phong thủy sau khi xem kỷ thế đất đã nói với ông: “Con lấy làm lạ, như phụ hoàng nói: đất nầy đúng là đất rồng chầu rắn cuốn có thể phát tích đế vương nhưng con xem đi xem lại có lúc lại giống thế Long xà ẩm thủy lục niên ký chủ, chỉ phát được 6 năm thôi. Hồ Quý Ly cho rằng kiến thức phong thủy của Hồ Hán Thương chưa tinh tường nên cũng không chú ý lắm vào nhận định của con.
Câu chuyện phong thủy nầy chỉ có cha con ông biết mà thôi, tại sao dân gian lại biết được mà truyền tụng qua bài đồng dao nầy? Có thật không chuyên gì cũng không thể qua mắt thế gian chăng? Bài hát đồng dao thật sự làm cho ông bối rối, lo ngại. Hồ Quý Ly cũng biết những hành động quyết liệt của mình tranh đoạt ngôi vị nhà Trần cũng là một điều mà nhiều người không phục, nên khi đã cũng cố được ngôi vị, chỉ sau 7 tháng làm vua ông đã nhường ngôi lại cho Hồ Hán Thương để làm thái thượng hoàng cũng nằm trong mưu tình của ông. Lẽ ra theo lễ tục, ông phải nhường ngôi cho người con cả là Hồ Nguyên Trừng. Hồ Nguyên Trừng là một người rất giỏi võ nghệ, lại là người có tài thiết kế vũ khí lợi hại rất xứng đáng được ông truyền ngôi nhưmg lại là con của người vợ cả, không có quan hệ huyết thống với dòng tộc họ Trần , nếu lập Trừng lên làm vua, chẳng khác gì như đổ thêm dầu vào lửa, khiêu khích sự chống đối của đám quan lại, giới sĩ phu và một bộ phận lớn nhân dân trong nước, đồng thời cũng tạo thêm lí do cho giặc Minh dễ bề thực hiện ý đồ xâm lược nước ta với chiêu bài “phù Trần diệt Hồ”, vì thế Hồ Quý Ly quyết định chọn người con thứ là Hồ Hán Thương lên giữ ngôi vua, Một điều dêc hiểu Hồ Hán Thương là con của công chúa Huy Ninh, vợ lẽ của Hồ Quý Ly, đồng thời cũng là con ruột của Thượng hoàng Trần Nghệ Tông, Hán Thương gọi Nghệ Tông bằng bác, gọi vua Thuận Tông(con Nghệ Tông) bằng anh và gọi vua Kiến Tân(con Thuận Tông) bằng cháu, nên việc lập Hồ Hán Thương làm vua cũng nằm trong tính toán, trù liệu của Hồ Quý Ly cả nhằm lôi kéo những người còn lưu luyến với triều đại cũ.
Như đoán được sự băn khoăn trong lòng Hồ Quý Ly, Bình Khương nói nhẹ nhàng:
– Câu chuyện đối đáp giữa người và thế tử Hán Thương về long mạch, cũng như việc lập thế tử Hán Thương lên làm vua thay vì Nguyên Trừng thượng hoàng có thể giấu giếm được dân đen con đỏ chứ làm sao che mắt được trời phật thánh thần ma quỷ, xin người chớ lấy làm ngạc nhiên như thế.
Hồ Quý Ly nghe nàng nói hình như tỉnh ngộ. Thì ra những mưu tính của ông dù ngấm ngầm bí mật hay công khai cũng không qua khỏi thiên cơ. Có điều mưu sự tại nhân, thành sự tài thiên mà thôi. Chẳng lẽ bao công sức ông đổ ra với hy vọng tạo dựng một vương triều hùng mạnh với những cải cách lớn lao, lưu danh cho muôn đời sau lại thất bại thế nầy ư?
Hồ Quý Ly thở hắt một hơi dài buồn bã, ngước nhìn bầu trời đêm, những ngôi sao lấp lánh, xa tít trên bầu trời kia có hiểu được tâm trạng ngổn ngang của ông lúc nầy không? Ông đang suy nghĩ gì trong đầu không ai có thể đoán được. Vài tiếng chim đêm đập cánh bay đi để lại tiếng kêu nghe não nuột, mấy cành liễu lay động tạo thành những bóng đen lăn quăn trên mặt đất như mấy con rắn đang trườn mình quăng tới tìm mồi, vài chiếc lá rơi, tiếng gió thổi lạo xạo cũng không làm cho ông thoát khỏi nỗi trầm tư, muộn phiền. Ánh trăng hạ huyền đã dần dấn mờ nhạt. Phía chân trời bắt đầu xuất hiện một quầng sáng báo hiệu một ngày mới bắt đầu. Một ngôi sao lẻ loi, muộn màng băng ngang qua vườn thượng uyển mất hút về phìa bầu trời xa xôi đầy bí ẩn. Trong thời khắc ấy, tiếng Bình Khương hình như thoảng bay đi trong gió:
– Âm đức của hoàng thượng không dầy, chính chính sách hà khắc, coi sinh mạng dân đen như ngọn cỏ, bao nhiêu xương máu người dân vô tội đã đổ xuống để xây thành đắp lũy, tiếng than oán ngút trời cao đã làm cho long mạch bị đứt đoạn không phát triển được. Thời cuộc sẽ có nhiều biến chuyển khôn lường, lòng người lại đang ly tán, không thể quy về một mối. Chỉ mong hoàng thượng sáng suốt mới mong tình thế thay đổi phần nào, cục diện may ra sáng sủa hơn. Không một triều đại nào có thể thống trị thiên hạ bằng bạo quyền được, muôn đời phải biết lấy dân làm gốc thiên hạ mới thái bình, đất nước mới không rơi vào ách thống trị của ngoại bang. Người đã tạo ra được một cái cớ có một không hai để kẻ thù xâm lăng nước ta với danh nghĩa phù Trần diệt Hồ, rồi sau đó đất nước sẽ ra sao chắc người cũng đoán được. Mấy lời khẩn thiết tự đáy lòng xin hoàng thượng nhớ lấy.
Khi Hồ Quý Ly ngước lên muốn hỏi Bình Khương điều gì đó thì không thấy nàng đâu nữa, xa xa chỉ thấy một bóng trắng lướt qua hàng cây rồi mờ dần mất hẳn. Hồ Quý Ly nhìn theo, lẩm bẩm như nói với chính mình:
– Nàng đã theo ngọn gió bay đi rồi về nơi mà nàng cần đến, phải chi ta nghe được những lời nói của nàng sớm hơn, có lẽ cuộc đời ta mắc nợ với nàng, với chồng nàng với cả dân tộc nầy. Cuộc đời ta chấm hết ta không hề hối tiếc, chỉ tiếc sự nghiệp lớn chưa hoàn thành, người đời sau có hiểu được chí lớn của ta chăng?
Lần đầu tiên trong cuộc đời mình, Hồ Quý Ly không còn tin vào những quyết đoán táo bạo của mình nữa, chắc ta đã già rồi. Ông chợt thở dài buồn bã.

*
Quả đúng như lời nàng Bình Khương nói, Tháng 9 năm 1406 quân Minh phát động chiến tranh xâm lược nước ta với chiêu bài phù Trần diệt Hồ, mặc dù đã tích cực phòng bị, xây dựng thành lũy kiên cố và huy động quân binh cao nhất, đặt quân phòng ngự giữ những nơi hiểm yếu quan trọng nhất nhưng quân nhà Hồ liên tiếp thua nhiều trận liền. Đúng như lời Hồ Nguyên Trừng (con trai Hồ Quý Ly) từng nói với cha mình “thần không sợ đánh, chỉ sợ lòng dân không theo”. Cuộc chiến tranh đã thu hút được một số lực lượng lớn người dân trong nước đứng lên chống lại nhà Hồ, ngay cả trong quân binh nhà Hồ cũng có nhiều người quay đầu chống lệnh. Chiến tranh giữa hai bên nhanh chóng ngã ngũ, quân binh nhà Hồ liên tiếp thua các trận đánh lớn ở thành Đa Bang, Hàm Tử. Tháng 4/1407 quân Minh đánh tới thànhTây Đô. Cầm cự chẳng bao lâu thì thành vỡ, cha con Hồ Quý Ly kéo tàn binh chạy về cửa biển Kỳ La-Hà Tỉnh thì quân Minh đuổi theo rất gấp. Đến ngày 11,12 thì lần lượt Hồ Quý Ly, Hồ Nguyên Trừng và Hồ Hán Thương đều bị giặc bắt. Nếu tính từ năm 1400, khi Hồ Quý Ly truất ngôi nhà Trần, tự lập làm vua, đóng đô ở Tây Đô cho đến tháng 4 năm1407 khi cha con Hồ Quý Ly bỏ thành chạy về Kỳ La lánh nạn và bị giặc bắt thời gian chỉ hơn 6 năm, phải chăng ứng với lời tiên đoàn nhà Hồ chỉ tồn tại được 6 năm của Hồ Hán Thương hay là ý trời trong bài đồng dao mà nàng Bình Khương đã đợc cho Hồ Quý Ly nghe?
Có một điều cần phải nói thêm với bạn đọc, cùng thời gian khi cha con Hồ Quý Ly bị giặc bắt giải về Tàu, Thành Tây Đô cũng xảy ra một câu chuyện lạ lùng: Trời đất đang quang đãng, trong vắt bỗng sấm chớp từ đâu nổi lên đùng đùng, từng trận mưa lớn đổ xuống như trút nước, lũ từ thượng nguồn sông Mã, sông Bưởi, sông Chu kéo về ồ ạt như một trận đại hồng thủy. Trời tối mịt mùng, sấm chớp rền vang khắp nơi, nước sôi réo ùng ục như thiên binh vạn mã rầm rập từ đâu kéo về, lẫn trong tiếng gió hú, tiếng sấm vang như còn có tiếng những oan hồn uổng tử cất lên tiếng kêu bi thương, ai oán như đòi mạng, nhà nào nhà nấy đều hoảng sợ xanh cả mặt mày, ôm chặt lấy nhau mà khóc, người bình tĩnh hơn cuốn vội vài vật dụng cần thiết rồi bồng bế nhau kéo lên đồi cao, núi sâu lánh nạn. Mãi đến ba bốn hôm sau trời mới quang, mưa mới tạnh, mọi người mới lũ lượt nhau kéo về quê cũ. Trong thành Tây Đô thật tiêu điều xơ xác, một phần bị giặc Minh cướp bóc tàn phá, một phần do tác hại khủng khiếp của cơn lũ vừa tràn qua. Rác rến, bùn xình, xác súc vật chết vương vãi khắp nơi, điều đặc biệt đôi rồng đá được chế tác tuyệt mỹ, tượng trưng cho sức mạnh vương triều nhà Hồ tự nhiên biến mất không còn để lại một chút dấu vết nào, không ai hiểu vì sao?(4)

Tháng 1/2018
NGUYỄN AN BÌNH
______________________________________________________________
(1) Theo truyền thuyết: Thành Tây Đô được xây trong 3 tháng thì xong nhưng xét về khối lượng công trình có người cho rằng xây trong 3 năm hay nhiều năm mới xong.
(2) Hiện nay đền thờ nàng Bình Khương vẫn còn tồn tại sau hơn 600 năm với nhiều lần trùng tu. Ngôi đền tọa lạc dưới chân bờ thành phía đông thuộc làng Đông Môn, xã Vĩnh long huyên Vĩnh lộc tỉnh Thanh Hóa. Trong đền còn lưu giữ một phiến đá kỳ lạ có in hình giống như đôi bàn tay và chiếc đầu người phụ nữ, người dân cho rằng đó là vết tích đập đầu tự tử kêu oan cho chồng của nàng Bình Khương.
(3) Theo sách “Thành nhà Hồ và những câu chuyện xây thành” của tác giả Phạm Văn Chấy
(4) Theo ông Nguyễn Xuân Toán, Phó giám đốc Trung tâm Bảo tồn di sản thành nhà Hồ thì đôi rồng đá trên được người Pháp phát hiện lại vào năm 1938 khi họ làm một con đường nội địa trong thành nhưng cả hai đều bị mất đầu. nguyên nhân của việc đôi rồng mất cả đầu có nhiều giả thuyết được đặt ra, nhưng chưa giả thuyết nào thuyết phục vì chưa trưng ra được những chứng cứ rõ ràng có thể chấp nhận được.

HẠ ĐỎ

 

Một con đường nhỏ
Hàng hàng phượng bay
Tháng tư qua đó
Giọt mưa ngắn dài.

Một thời áo trắng
Mòn dấu chân ai
Hạt mưa ướt nắng
Hạt nào nghiêng vai?

Còn thơm hơi thở
Sao đành chia tay
Có mùa hạ đỏ
Hóa thành mây bay.

Mùa ve rộn rã
Vàng trên tóc người
Tóc xanh màu lá
Tìm đâu tiếng cười?

Người mang cánh phượng
Về bên kia trời
Còn trong cổ tích
Áo người sương phơi.

Ta đành tạ lỗi
Bỏ trường mà đi
Ta đành tạ lỗi
Một thời tình si.

Xin làm hạ đỏ
Một đời bên em
Xin làm cánh gió
Ru người bình yên.

NGUYỄN AN BÌNH

11/4-2018

CUỐI NĂM TRÊN DÒNG SÔNG ẤU THƠ

 

 

 

Về đây dọc nước giỡn trăng
Dòng sông thơ ấu lăn tăn ngọn nguồn
Bóng  người phiêu dạt muôn phương
Đâu hay mẹ – tóc ngã sương nẻo về.

Về nghe sóng vỗ tứ bề
Cồn xưa đâu mất lời thề cũng rơi
Ngàn năm bông tím vẫn trôi
Lời xa xứ – hát ngọt bùi chợt đau.

Về nhìn ngọn cỏ cao cao
Nhớ câu chín chữ cù lao lại buồn
Đêm nay chớp bể mưa nguồn
Đâu phần mộ mẹ – trong cơn nước chiều.

Về thương vườn cũ quạnh hiu
Hương cau còn thoảng bao điều mẹ răn
Con về thăm mộ cuối năm
Lòng rưng nước mắt lặng thầm rồi đi.

NGUYỄN AN BÌNH

23/1/2018

 

VỀ PHƯƠNG NAM TÌM MỘT CÁNH CÒ  

 

 

Có một cánh cò bay trong giấc mơ
Nghiêng cánh võng có đời tôi trong đó
Lời ca dao ngọt phù sa thắm đỏ
Theo cá về đồng lúa tẻ nhánh non.

Điên điển vàng  áo em mới tươi hơn
Tuổi mười sáu môi hồng thơm mận đỏ
Hương bồ kết nồng nàn mùi tóc nhớ
Lục bình trôi tim tím một triền sông.

Chiều phương nam thương sợi khói đốt đồng
Mùi rơm rạ bao năm rồi vẫn nhớ
Tóc cháy nắng phải đâu là duyên nợ
Để cánh cò cánh vạc trốn tìm nhau.

Em đâu còn cúi nhặt nụ hoa cau
Kết nhẫn cưới thèm chơi trò dâu rể
Mẹ tần tảo qua một thời son trẻ
Tôi lại ơ hờ tắm bụi đường xa.

Nghe tiếng mưa đêm tiếng ếch sau nhà
Thèm bát cua đồng ngày xưa mẹ nấu
Cây khế ngọt rụng bao mùa chín nẩu
Mẹ đâu còn  sân lá rụng chiều hôm.

Nhánh sông nào đưa tôi về phương nam
Tìm cánh cò trong ca dao ngày cũ
Cánh cò ăn đêm – cánh cò cửa phủ
Nghe cay nồng  – màu tóc trắng mẹ tôi.

Nguyễn An Bình

CÓ MỘT MÙA HOA CẢI

 

 

Ngày về qua bến sông
Rợp vàng mùa hoa cải
Sóng mang theo nỗi lòng
Triền đê chiều tê tái.

Mẹ có còn ngồi trông
Con đành xa ngàn dặm
Cây mai già trổ bông
Thèm đưa tay mẹ nắm.

Hạt bụi nào bay qua
Vô tình rơi vào mắt
Hay vì  bóng chiều tà
Làm tim con quay quắt.

Mơ một thời sấp ngửa
Mẹ ấp yêu vào lòng
Ấm nồng dòng sữa ngọt
Thơm suốt cả đời con.

Chiều nay trời trở lạnh
Mùa xuân đã về chưa
Ước ao thời trẻ dại
Mừng tấm áo mẹ mua.

Mẹ hóa thành cánh hạc
Bay về chốn vô cùng
Nhớ thương màu tóc bạc
Mây trắng buồn cuối đông.

Trôi về đâu con nước
Vẫn nhớ về bến sông
Nhớ ngày xưa mẹ tiễn
Hoa cải vàng mênh mông.

Nguyễn An Bình

THƠ VIẾT TRÊN ĐƯỜNG CAO TỐC

 

 

Đêm chợ Đệm chỉ còn nghe tiếng gió
Gió rì rào đeo đuổi suốt đời ta
Cuộc hành trình qua bao lần đơn độc
Lòng còn vương sợi khói trắng quê nhà.

Đêm thao thức cùng ta thêm chút nữa
Cột đèn vàng mờ ảo suốt cung đường
Như chia sớt cùng ta – người vô định
Đi một đời cũng chỉ thấy mù sương.

Ta trở lại dòng sông mùa nước nổi
Đục phù sa nhớ những chuyến phà đêm
Đã lâu lắm không còn người đưa tiễn
Nên đôi bờ sông Hậu chở buồn thêm.

Em có giữ tình yêu thời tuổi trẻ
Thuở hoa niên thương mãi cánh dầu bay
Ta xa xứ xin làm người có lỗi
Dẫu ăn năn nào níu được bờ vai.

Đêm sắp tàn nán lòng cùng ta nhé
Để ngày mai nắng sớm lại ùa về
Ta mê mãi tìm trong mùa xưa cũ
Có một người còn nặng chút tình quê.

Nguyễn An Bình

GÕ CỬA MÙA THU HÀ NỘI

Tìm trong màu mắt em trong
Hương sen Tây Hồ thơm ngát
Tiếng sâm cầm trong sương sớm
Mênh mông bờ bãi sông Hồng.

Qua cầu Long Biên thép gỉ
Thấy một Hà Nội trầm tư
Theo em dịu dàng xuống phố
Mơ gì trên những cửa ô?

Tìm trong Hà Nội nồng thơm
Sắc hoa Ngọc Hà xưa cũ
Ai gánh mùa thu qua đó
Ngậm ngùi lăng miếu ngàn năm.

Tiếng chuông buông chiều lặng lẽ
Se lòng cỏ biếc chân đê
Khẻ chạm vào từng vân đá
Nghe hồn thiên cổ quay về.

Vàng tươi trên từng tán lá
Nắng dịu dàng theo gót em
Hoa sửa khẽ khàng tha thiết
Long lanh bóng nước Hồ Gươm.

Gõ cửa mùa thu Hà Nội
Chút tình sương khói mong manh
Mùi cốm vòng trong se lạnh
Nghiêng lòng Hà Nội vào đêm.

Nguyễn An Bình