HỎI…

mocmienthao

Ném câu hỏi giữa đời câm
Lòng tôi đá cuội mà lăn dốc dài
Ngồi nghe nắng vỡ chiều phai
Vốc trên tay
mảnh hình hài
tháng năm
Hỏi trời?
mây?
gió?…
xa xăm
Hỏi trăng?
Khuyết một chỗ nằm
tôi
xưa
Hỏi dòng sông? Bến tuổi thơ
Lạc về đâu,
giữa đôi bờ nhân gian?
Hỏi phù hư? Đóa Triêu Nhan
Sớm hương-sắc
chốc đã tàn phai mau
Dìm câu hỏi dưới cốc sầu
Đêm nghe im bặt một bầu huyễn như
Thả câu hỏi giữa vô hư
Mong lời trùng ngộ
vọng từ xa xăm…
Ném câu hỏi giữa đời câm
Lòng tôi đá cuội mà lăn dốc dài…

MỘC MIÊN THẢO
( 6/2015)

CHUYỆN CHÓ

Hovietkhue

Tôi có người bạn thân hơn ba mươi năm trời nhưng tôi chưa một lần đặt chân vào nhà bạn. Lúc nhỏ muốn rủ bạn đi học đi chơi, tôi dừng xe đạp trước nhà bạn làm Tạczăng hú lớn; lớn lên đi làm bằng xe máy, tôi thắng xe trước nhà bạn bóp còi toe toe; sau này có điện thoại di động, tôi nhắn tin hẹn gặp bạn ở quán xá.
Vì nhà bạn ở bên hông chợ, trên con phố mua bán sầm uất, nhà chật chội lại chứa đầy hàng hóa, trong nhà chỉ chừa lối đi mà người nặng cân phải nghiêng mình mới lọt qua. Dù tôi rất muốn bước chân vào nhà bạn, không chỉ thăm bạn rồi ra về, bởi bạn có đứa em gái rất xinh đẹp nhưng đành chịu.
Em bạn nuôi con chó Nhật lông trắng xinh xắn, khi vắng khách mua hàng, nàng ôm người bạn nhỏ vào lòng vuốt ve, nựng nịu; còn con chó cứ làm nũng rên ứ ứ làm trong đầu tôi xuất hiện hình ảnh dĩa thịt cầy hấp xả. Một sáng sớm phố xá vừa thức giấc, tôi đến nhà bạn và chứng kiến một chuyện làm tình cảm của tôi dành cho nàng không trọn vẹn như trước.
Nàng và một bà chủ tiệm buôn cách mấy căn chửi nhau vì chuyện chó ỉa.
Mỗi sáng sớm, khi các cánh cửa sắt rền rỉ hé mở, các cô cậu chó lao vút ra đường, đến lãnh địa mà nó đã đánh dấu để trút bỏ cặn bã làm ấm ức cả đêm. Chúng đặc biệt ưa thích gốc cây, tường nhà, bồn hoa, trụ điện, trụ biển báo giao thông…Tóm lại là nơi nào thuận tiện để mấy con cẩu giơ một chân lên hay dạng hai chân sau ra mà không vướng víu.
-Sao bà không xây cầu tiêu cho chó nhà bà ỉa đái…
Nàng hỏi người hàng xóm. Vì chó của bà ta đái ngay chân sạp hàng nhà nàng kê trước mái hiên.
Ở dãy phố buôn bán này, mọi người gọi tên nhau bằng nghề nghiệp. Ba Xe đạp, Bảy Chiếu hoa, Chín Phụ tùng Xe máy, Hai Điện đều có nuôi chó nhưng có ai xây cầu tiêu cho chó ỉa đâu? Nhà phố chật chội, hàng hóa chất đầy chỉ chừa lối đi, chó lấy chỗ nào mà ỉa? Mặc nhiên mấy người chủ chó ngầm hiểu đường phố là nơi chó tự do ỉa đái, cả ông tổ trưởng gia đình văn hóa. Mọi người chưa quên chuyện Tư Photo chửi té tát một bà công chức về hưu khi chó của bà này ỉa dưới tấm biển chỉ nghề nghiệp của cô, dù hai con chó Nhật lông xù của cô sáng nào cũng chạy sang nhà Mười Cơm bình dân xả mấy lọn. Việc này, Tám Hải sản bình luận:
-Em Tư Photo hoàn toàn sai trái khi không cho chó, dù chó của nhà buôn, của dân thường hay của công chức được bình đẳng trong vấn đề ỉa đái. Phải công nhận là chó ở phố văn hóa mình rất giỏi nín và thương chủ, vì nó không bao giờ ị trong nhà mà phải chờ đến sáng, có lẽ nó sợ chủ tốn công hốt dọn.
Chiều đó tôi rủ bạn nhậu lai rai, chờ lúc chếnh choáng tôi hỏi bạn:
-Nhà mày có xây cầu tiêu cho chó ỉa không?
Nó trợn hai tròng mắt trắng bệt nhìn tôi kinh ngạc. Tôi bảo bạn về hỏi em gái nó. Đêm đó tôi bắc ghế ngồi trước hiên nhà nhìn bầu trời đen nghịt, không buồn đập đàn muổi đói, thắc mắc tại sao người ta có thể thương yêu ôm ấp một con chó mà lại sẵn sàng cấu xé một người hàng xóm lớn tuổi hơn mình vì chuyện chó ỉa?
Tôi có thói quen tập thể dục mỗi sáng bằng cách đạp xe đạp qua các con đường vắng vẻ. Thành phố mở rộng, người ta san lấp ao hồ làm các khu dân cư mới, người giàu mua đất để kinh doanh nên có nhiều con đường thưa thớt nhà cửa, vắng người xe lưu thông. Nhiều buổi sáng tôi đang lơ ngơ thì tiếng chó sủa dồn dập rồi cả đàn chó nhe hàm răng sắc nhọn lao về phía tôi. Tôi luống cuống nhảy khỏi yên, xoay ngang chiếc xe cà tàng cản đàn chó gầm gừ như muốn nuốt sống thằng tôi. Nhà cửa thưa thớt nhưng chó nhiều quá, chúng tụ tập chạy nhảy, phóng uế và đe dọa người đi đường. Tôi rút kinh nghiệm mấy lần suýt bị chó cạp bàn chân nên mang theo mấy cục đá trong chiếc giỏ xe. Sáng đó, tôi bình tỉnh xoay ngang chiếc xe ngăn đàn chó, lấy một cục đá cạnh sắc nhọn nhắm đầu con chó hung hăng nhất thẳng cánh quăng mạnh. Hình như cục đá chỉ trúng cổ con chó, nó la ẳng ẳng và chạy mất, rủ đồng bọn chạy theo. Tôi chưa dứt câu chửi thề thì nghe tiếng quát:
-Sao ông quăng đá chó tui. Đồ…
Quá bất ngờ nên tôi không nghe rõ là đồ ác hay đồ chó.
Cô thiếu nữ mặc bộ đồ ngủ màu hoàng yến đứng chống nạnh nhìn tôi xỉa xói, mặc tôi ra sức phân bua. Tôi giận đến hoa mắt, thấy nhòe nhoẹt đằng sau gương mặt hãnh tiến của cô chủ chó sưng sỉa giận dữ, mặt con chó bị trúng hòn đá ngoẹo cổ sủa ăng ẳng cũng giận dữ không kém chủ. Tôi bỏ dở buổi tập xe đạp, ngán ngẩm vì mở đầu một ngày mới đầy tai lời chửi bới. Cô ta quý con cẩu bốn chân hơn tính mạng thằng người hai chân chăng?
Hơn mười năm nay tôi không chén thịt chó, từ sau một bữa ăn tại nhà người bạn. Hắn thịt con chó hắn nuôi và rủ một đám bạn đến nhậu. Tại sao người ta có thể lạnh lùng xiết cổ con vật quấn quýt bên mình hàng ngày. Từ đó tôi thề không ăn thịt chó nữa và cảnh giác với con người nhiều hơn.
Sợ đàn chó rượt đuổi, từ đó tôi đạp xe về hướng có cổng chào khu phố văn hóa. Mỗi sáng tại đây, tôi đều gặp một cô thiếu nữ dắt chó đi dạo. Dáng cô cao lại mặc chiếc quần sọt ngắn nên đôi chân dài thon thả trắng muốt cứ lồ lộ làm tôi cảm thấy một ngày mới thật rạo rực. Mỗi lần ngắm nàng hờ hững nắm sợi dây xích chó đi dạo, tôi lại thấy nàng thật quý phái.
Cho đến khi tôi phát hiện nàng không dắt chó đi dạo mà mỗi sáng, nàng dắt chó đi ỉa đái. Than ôi! Con chó cưng của nàng cứ đến trụ cổng khu phố văn hóa là nó ghì xích đứng lại và giơ một chân sau lên…
Và nàng bình thản đứng đợi!

HỒ VIỆT KHUÊ

TÌNH CŨNG CÓ KHI

nguyendangtrinh

1.
cần chi em phải lòng vòng
hết thương thì bảo là xong… rồi về
tôi đem phơi nắng câu thề
nướng lên trải chiếu ra hè nhậu chơi…
2.
ừ thì em cứ tàu xe
coi như chưa đến chốn quê mùa này
chỉ cần qua một cơn say
là tôi quên ráo những ngày chung thân…

nguyễn đăng trình

HỒI HƯƠNG

tranvannghia

Dốc quen tôi về lại
Thấy nhớ bóng quê nhà
Có một người con gái
Giờ xa thật là xa !

Lối xưa tôi trở lại
Thương chiếc xe đạp… nghèo
Chở nhau từ thuở ấy
Nay còn ấm vòng eo

Nhà em , tôi tìm lại
Hình như đổi chủ rồi
Cũng cổng rào hoa giấy
Nhưng mà lạ lắm thôi !

TRẦN VĂN NGHĨA

MỘT NƠI NÀO ĐỂ NHỚ.

nguyenngocnghia

ở cao nguyên da diết nhớ đồng bằng
về biển lại mơ hoài phố núi
có lẽ ta suốt đời cứ vậy
tâm tưởng long nhong tựa bước chân

ở đâu cũng có nơi để nhớ
đại mộng xanh rì, chắc bám rêu
cây cỏ tứ phương chừng tri ngộ
hiu hắt nhớ nhau bạc mái đầu

nay ở phố chợ thèm quê xa
lội ruộng phèn thèm hơi phố thị
con tim chẳng lúc nào ngơi nghỉ
tóc điểm sương cứ ngỡ xuân thì

dập dềnh những chuyến xe ký ức
sao ta thuyền khẳm bụi hoàng hôn
ngồi bó gối liếm quanh vết xước
ngựa già hí gió nhớ biên cương

cũng có lúc loanh quanh xó bếp
hát khúc bi ca vọng bốn mùa
chân tường con dế buồn giấu mặt
mơ trời xa
phên cửa gió lùa…

NGUYỄN NGỌC NGHĨA
(6.2015)

CƯỠI NGON SẤM

cuoingonsam
richardbotkin

Chương Hai:

Bức Màn Tre Sụp Xuống

Từ 1946 cho đến giữa 1954, lực lượng Việt Minh và quân đội Pháp đánh nhau khắp các vùng Đông Dương nhưng hầu hết các trận đánh nghiêm trọng đều diễn ra tại Bắc Việt. Khi cuộc chiến kéo dài mà không có triển vọng sớm kết thúc và tình hình thương vong cao dần, lòng nhiệt huyết của người Pháp đã bị héo mòn. Trận đánh quyết định cuối cùng tại Điên Biên Phủ ở vùng Tây Bắc – Bắc Việt gần biên giới Lào là một chiến thắng vang dội cho Cộng quân. Mặc dù quân Pháp bị thất trận một cách nhục nhã nhưng sự chuyển tiếp từ chiến trường qua bàn hội nghị hòa bình đã không mang lại sự hài lòng cho bất kỳ phe nào có liên quan.

Hiệp định Genève bắt đầu từ tháng 5 năm 1954 có sự hiện diện của bốn quốc gia mới của Đông Dương thuộc Pháp trước đây, nước Pháp, Anh, Liên Sô, Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa và Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. Khi các cuộc đàm phán kết thúc vào tháng bẩy thì một cuộc ngưng bắn đã được thỏa thuận. Vĩ tuyến 17 giữa Quảng Bình ở phía Bắc và Quảng Trị ở phía Nam có giòng sông Bến Hải chảy ngang ra Biển Đông được chọn làm đường chia cắt Đông Tây, tách rời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (phía Bắc, Cộng sản) và Việt Nam Cộng Hòa (phía Nam, không Cộng sản). Vùng ranh giới mà sau này thế giới biết đến như vùng phi-quân-sự trên thực tế chẳng có gì là “phi” quân sự cả.

Thỏa hiệp ngưng bắn dành một thời hạn 300 ngày để cho mọi người có thể tự do di chuyển giữa hai miền Nam và Bắc mà không bị giới hạn bởi các chính quyền mới. Đến giữa năm 1955 có hơn 1 triệu người dân, phần lớn là Công giáo, đã quyết định nhặt nhạnh những gì mang được, bỏ lại hết mồ mả tổ tiên và bao nhiêu thế hệ truyền thống làng xã để lìa bỏ miền Bắc còn hơn là chịu sống dưới chế độ Cộng sản. Trong khi có một số lượng nhỏ không xác định được gồm các cán bộ Cộng sản Mác-Xít tập kết ra ngoài Bắc thì không có người dân bình thường nào ra theo.

Người Bắc di cư vào Nam bằng đường hàng không, đường xe lửa, đường bộ nhưng hầu hết là bằng tầu vận chuyện đường biển. Rất ít người ngoại cuộc biết đến ảnh hưởng và hậu quả của nhóm cộng đồng di cư này đã tác động đến miền Nam như thế nào. Văn hóa và tính tình của người Bắc Kỳ thường nghiêm khắc và khó tính hơn bởi họ phải sinh nhai trên vùng đồng bằng sông Hồng khó nhọc. Với làn da nhạt hơn, cách phát âm hơi khác, cách ăn mặc và truyền thống tương đối khác biệt, họ gặp nhiều điều va chạm với người miền Nam vốn dễ tính và nhàn nhã hơn, bởi có thể sinh kế thoải mái từ một vùng mầu mỡ của đồng bằng sông Cửu Long. Vào năm 1955 có thể so sánh điều này với Mỹ nếu 12 triệu dân New York với lối sống hối hả nhộn nhịp đột nhiên được di chuyển vào vùng nông thôn Georgia hay Mississipi mà chỉ nhận được sự trợ giúp tối thiểu hoặc mạng lưới an toàn từ chính quyền trung ương.

Một điều khoản của Hiệp Định Genève vốn được tất cả các phe chấp thuận ngoại trừ Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa, là kêu gọi tổng tuyền cử khắp nước Việt Nam vào tháng 7 năm 1956. Với tương quan dân số vào khoảng 16 triệu ngoài Bắc và 14 triệu trong Nam, Hồ Chí Minh và lực lượng của hắn tin tưởng sẽ loại trừ hết các phe chống đối quan trọng và củng cố được miền Bắc từ vĩ tuyến 17 trở lên nên đã vui vẻ đồng ý với các viễn ảnh đó.

Từ giữa năm 1953, khi chiến tranh chưa kết thúc, cho đến tận năm 1956, bọn Cộng sản đã tiến hành hàng loạt những cuộc thanh trừng đẫm máu nhằm loại trừ tất cả những tàn tích của chế độ tư bản một cách tàn nhẫn. Trong những đợt cải cách ruộng đất vào thời kỳ bọn chúng cho rằng trong mỗi làng mạc có vào khoảng 5% dân chúng thuộc thành phần địa chủ và nhóm “nhà giàu” này đã bóc lột 95% số người còn lại. Do đó, tài sản của họ đã bị tước đoạt và phân phối lại cho những người còn lại này. Đồng thời những vụ giết hàng loạt người trong nhóm 5% có đồng ra đồng vào này được tiến hành một cách chính xác bởi những đội đặc biệt gọi là cán bộ cải cách ruộng đất.

Không có chi tiết chính xác nào về số lượng người đã bị trừ khử trong giai đoạn này, và cũng không có hồ sơ nào về những người bị mất mạng hay bị đe dọa trong các nỗ lực trốn về phía Nam. Báo chí thông tin rất ít và tin tức về những cuộc thanh trừng qui mô này chỉ đến tai người miền Nam bằng những lời kể lại nên không gây chú ý mấy trên các phương tiện truyền thông Tây phương.

Mặc dù rất phôi thai và còn xa mới gọi là hoàn hảo nhưng chính quyền mới thiết lập tại miền Nam còn tốt đẹp hơn nhiều đối với những người đã nếm mùi Cộng sản. Trong khi hoàng đế Bảo Đại đã lỗi thời chỉ còn đứng đầu quốc gia trên danh nghĩa thì thực quyền nằm trong tay Thủ tướng Ngô Đình Diệm và tay chân thân cận gồm các thành viên trong gia đình của ông. Quyền uy của ông đã phải trực diện với các thử thách mà nó còn lớn hơn ở bên phe đối thủ Bắc Việt, và thật là một điều kỳ diệu là, mặc dù với sự trợ giúp của chính quyền Eishenhower, chính phủ non yếu đó đã xoay sở để vượt qua được hết.

Ngay từ khởi đầu, chính quyền Diệm đã bị tràn ngập bởi các thử thách. Báo chí phương Tây vốn không ưa ông đã không khoan nhượng khi tường thuật những sự cố gắng của chế độ ông Diệm để giải quyết bằng quân sự đối với các sự đe dọa từ các nhóm Hòa Hảo, Cao Đài và các lực lượng Phật giáo khác. Họ hoàn toàn bất tín nhiệm khuynh hướng thiên Công giáo của Thủ tướng Diệm và nhóm những người di cư của ông. Thêm vào cuộc xung đột tôn giáo và văn hóa, và gánh nặng đầy ắp do việc thu hút quá nhiều công dân mới, chính phủ mới còn phải đối phó với ảnh hưởng về tài chính và chính trị của nhóm Bình Xuyên. Nhóm này thực chất là một nhóm thổ phỉ chuyên cướp bóc tàu bè di chuyển trên sông Sài Gòn vào những thập niên 1930 và 1940. Sau Thế Chiến Thứ Hai, Bình Xuyên được giao đặc quyền tổ chức cảnh sát và khu ăn chơi trong Chợ Lớn, một vùng của người Hoa tại Sài Gòn. Ông Diệm quan niệm Bình Xuyên, giống như Hòa Hảo và Cao Đài là một mối đe dọa đối với khả năng lãnh đạo đất nước của ông.

Sự thắng thế của Cộng sản trên toàn thế giới, đặc biệt là ở Á Châu, đã làm gia tăng mối quan tâm của người Mỹ tại Việt Nam. Ngay từ giữa những năm 1950, nhằm phản ứng lại cuộc xâm lăng của Bắc Hàn, Tổng thống Truman đã ra lệnh thành lập một Phái Bộ Cố Vấn Quân Sự (Military Assistance Advisory Group MAAG) tại Đông Dương thuộc Pháp. Được sử dụng phần lớn như là một phương tiện tài trợ qua đó các viện trợ được chuyển qua cho người Pháp trong những nỗ lực chống lại Việt Minh, sự ra đời của Việt Nam Cộng Hòa đã mang lại cho tổ chức này một mục đích mới. Nhóm MAAG của Hoa Kỳ bắt đầu đưa vai chịu lấy gánh nặng trong cuộc chiến chống lại Cộng sản.

Một tổ chức được thành lập thông qua nỗ lực của một nhân viên MAAG chính là binh chủng phôi thai Thủy Quân Lục Chiến của nước Cộng Hòa mới.

Giới quân sự Hoa Kỳ đã trực tiếp đầu tư những khoản xương máu và tiền của khổng lồ khi tiến hành cuộc chiến tranh lạnh. Một trong những điều không được biết đến và trân trọng đúng mức là công việc huấn luyện và trợ giúp đã cung cấp cho các quốc gia đang chiến đấu có thể duy trì nền Tự Do của họ trong một thế giới ngày càng thù nghịch nhiều hơn. Trong những năm ngay sau Thế Chiến Thứ Hai, một món quà khác của binh chủng TQLC Hoa Kỳ cho Thế Giới Tự Do là sự tham gia vào việc hình thành bốn Quân đoàn TQLC tại Á Châu.

Đối với các nước Cộng hòa Đại Hàn, Trung Hoa Quốc Gia và Phi Luật Tân thì TQLC Hoa Kỳ đã rộng rãi gieo những hạt giống về chiến tranh viễn chinh cho các nhóm nhỏ lực lượng đặc biệt trong mỗi xứ sở tương ứng. Trong mỗi quốc gia, các đơn vị TQLC mới sẽ mang dấu ấn của người anh cả Hoa Kỳ. Một chuyện nhỏ nhặt nhất là, giống như ở Mỹ, danh xưng “TQLC” đã trở thành đồng nghĩa với tất cả những gì tốt đẹp nhất của tinh thần thượng võ và đức hạnh của người lính.

Trong bốn tập thể TQLC tân lập, mối liên hệ giữa TQLC Hoa Kỳ và TQLC Việt Nam Cộng Hòa đã trở thành thân thiết nhất, mãnh liệt nhất và cũng tốn kém nhất. Đối với VNCH chỉ có Sư đoàn Nhẩy Dù mới được sánh như tương đương nhờ ở các thành tích chiến đấu và mức độ tin cậy cao của họ. Cái nhóm nhỏ các quân nhân làm nòng cốt cho TQLC Việt Nam từ 1954 trở về sau đã chứng tỏ niềm hăng say đặc biệt của tổ chức. Đặc điểm này hiển nhiên đã đưa binh chủng TQLC đứng riêng ra trong mọi nền văn hóa.

TQLC Việt Nam có nguồn gốc từ một tổ chức rất nhỏ gồm các đơn vị rải rác theo kiểu biệt kích được thành lập với sự trợ giúp của quân đội Pháp vào năm 1946. Những đại đội xung kích trên sông với biệt danh là “Ðoàn Thủy Binh Xung Phong” (Dinassauts), là một sự kết hợp của các đơn vị bộ binh đặc biệt có khả năng chiến đấu trên cạn lẫn dưới nước. Những hoạt động đầu tiên của họ là ở miền Bắc trong vùng đồng bằng sông Hồng Hà. Trong các đơn vị chiến đấu của Việt Nam được sự giúp đỡ của người Pháp thì những toán Dinassauts có uy tín đặc biệt nhờ ở khả năng chiến đấu và tinh thần đồng đội cao độ.

Sự chia cắt đất nước Việt Nam vào năm 1954 đã có hậu quả là nỗ lực phát triển đầy đủ một cơ cấu lực lượng quân sự quốc gia đủ sức để bảo vệ nền Cộng hòa mới thành lập đối với hiểm họa từ phương Bắc. Đồng thời với nhu cầu có một lực lượng Hải Lục Không quân tối tân là sự thừa nhận phải có những đơn vị đặc biệt có khả năng tiến hành các cuộc hành quân đổ bộ trên nhiều dặm dài của bờ biển và đường thủy lộ nội địa Việt Nam.

Tuy nhiên Việt Nam cũng không tránh khỏi sự cạnh tranh giữa các quân chủng trong tổ chức quân đội, một tình trạng khá phổ biến trong mọi quốc gia. Từ lúc khởi đầu thành lập, TQLC Việt Nam, giống như người anh em Hoa Kỳ đã phải đối phó với những chuyện nhỏ nhặt nhất như tranh đấu cho những nguồn tài lực. Hàng tháng trời bàn cãi giữa các nhóm lớn gồm các sĩ quan quân đội Việt Nam, Pháp và Hoa Kỳ vẫn không mang lại một sơ đồ tổ chức có thể chấp nhận được, hay phát triển được vai trò và nhiệm vụ mà lực lượng đổ bộ mới mẻ này sẽ đảm trách. Sau cùng đã phải cần đến sự quyết tâm tập thể, nhiệt tình và sức mạnh về ý chí của một Thiếu tá Việt Nam, một Đại úy quân đội Pháp và một Trung tá Hoa Kỳ để làm cho chuyện thành lập một tổ chức TQLC Việt Nam riêng biệt trở thành hiện thực.

Với cương vị là người con trưởng, công việc chính của Bình là đi học. Người cha và bà mẹ kế đồng lòng quyết tâm cho sự thành công của con và anh đã chăm chỉ để thực hiện điều này.

Nhập học mẫu giáo tại một trường nam sinh nhỏ tại Tân Định trong thời kỳ Nhật chiếm đóng, trạng thái bình thường của sự hỗn loạn vẫn tiếp tục không hề suy giảm qua sự kiện đầy tranh cãi về việc người Pháp trở lại Việt Nam, cuộc chiến với Việt Minh và sự thành lập đầy trắc trở của một đất nước mới.

Mặc dù những người miền Bắc chống cộng nhất đã di cư toàn bộ từ năm 1954, vẫn còn rất nhiều người trong Nam không nhiệt tình lắm với chế độ ông Diệm. Sự quyến rũ của chủ nghĩa Cộng sản đối với nhiều người là một sự lựa chọn tốt hơn là ách áp bức của thực dân Pháp, do đó đã được sự chấp nhận của một số người chuyển đổi thuộc thế hệ đầu tiên. Một số thì bị mê hoặc bởi Cộng sản ban cho họ cái quyền lực được giết các địa chủ hay tất cả những ai mà họ coi như đã bóc lột thành phần vô sản. Những thành phần cốt cán của bất cứ đảng phái nào đều sẵn sàng chấp nhận lời kêu gọi hy sinh của đảng nhằm chống chủ nghĩa tư bản và ngoại xâm. Những gia đình giống như của Bình, đã từng sống và bị tác động xấu bởi Việt Minh cũng nóng lòng xóa bỏ vết tích của thực dân. Tuy nhiên họ không hề tán thành những điều dối trá trắng trợn của Cộng Sản hoặc những điều nửa vời mà họ biết được qua kinh nghiệm cay đắng từ trong gia đình.

Một số giáo sư tại trường trung học của Bình, có thể đã từng là những thành viên thuộc một nhóm nằm vùng cán bộ Cộng sản được gài lại phía sau vào lúc phân vùng đất nước. Họ có thể chỉ đơn giản thuộc vào một nhóm nhỏ nhưng rải rác ở miền Nam vốn là những người có cảm tình với Cộng sản. Bằng cách nào cũng vậy, họ không lo ngại bày tỏ những điều mà chàng thanh niên Bình cho là những lời tuyên truyền không hơn không kém. Khi có thể, cậu ta sẽ trân trọng thách thức quan điểm thế giới của họ về sự vĩ đại của Trung Quốc và Liên Xô. Trong khi các học sinh được học về chiến thắng của Trung Quốc trong Chiến tranh Triều Tiên và về sự vinh quang của chương trình không gian của Nga với việc phóng thành công phi thuyền Sputnik, Hoa Kỳ ít khi được nhắc đến và nếu có thì không bao giờ là tích cực cả. Khi cậu Bình chia sẻ điều này với cha của mình, ông cụ sẽ lấp vào đấy những điều gì ông biết về những sự kiện lịch sử mà các giáo viên đã tự tiện bỏ đi

Screen Shot 2015-06-03 at 9.18.31 AM

Nghe Tiếng Gà Trưa

tranvanle

Bụi trắng…Thời gian lên sắc trắng. 
Giật mình: gà gáy nắng trưa rơi”.
 
Hai câu thơ đó, khi không nhớ. 
Hồ Dzếnh, thơ buồn đến thế thôi…

Bụi trắng?  Có không làn bụi trắng? 
Thời gian mà cũng có màu ư? 
Lá vàng thấy đó, đang rơi, rụng…
thì biết đó màu của tiết Thu!

Màu của thời gian có trắng, vàng…
Và màu gì nhỉ lúc trăng tan? 
Trăng khi mới mọc như hoa nở,
trăng xế người ta nói Nguyệt tàn!

Một chữ Tàn thôi, tôi tạ lỗi
những người thương mến đã xa xăm. 
ôi không là bụi bay theo để,
nên biển sông đây hóa chỗ nằm…

Từ chỗ nằm trưa ngó nắng trưa,
nắng vàng óng ánh tựa tơ mưa. 
Tiếng gà văng vẳng vang đầu xóm,
nhớ bụi tre làng lá đã thưa…

Nhớ lại Quê Hương thương gió ngược,
te tua áo rách chẳng mong về. 
Ra đi đã nói là đi trốn
thì ước mơ gì nữa hỡi quê?

Một sáng soi gương thấy tuổi già…
Thấy thời gian bước, bước ngang qua. 
Đưa tay nắm bắt thời thơ ấu…
chẳng được gì vì tất cả xa!

Em hỡi em là trưa nắng nhé,
nhẹ nhàng giọt nắng mắt long lanh. 
Câu thơ Hồ Dzếnh cầm lên xé
nghe tiếng gà trưa bỗng lạnh tanh!

 

Trần Vấn Lệ

Tháng sáu,

nguyenhoanganhthu

Tháng sáu em đánh cược tiếng cười
Em đánh rơi mất tiếng cười
trong khu vườn già rụng nắng
chẳng phải tháng ba để em chờ hoa gạo trổ chói chang
em đánh rơi mất tiếng cười chìm lắng
trên vạt sông vàng võ chảy trôi

tháng sáu em đánh rơi tiếng cười
và ăn gian câu chuyện cổ tích
để anh quay quắt tìm bóng nước lặng im

Tháng sáu cơn mưa luống cuống đổ rất nhanh
em sợ điều nhớ quên rỗng mọt
sợ bong bóng phập phồng mà khóc
em bận gánh gồng chi già cỗi nỗi buồn
tiếng em cười xám ngọn tóc mây nguồn
nhánh cỏ
thì thôi em, đành mồ côi tiếng gió
em đánh cược điều gì để xa lạ trong nhau

Tháng sáu, em bỏ rơi tiếng cười khanh khách
trong khu vườn già rụng nắng
và cơn mưa luống cuống
đổ rất nhanh

nguyễn hoàng anh thư
( Huế, 6. 2015)

NHÃ CA

 dangtien

Người đàn bà trong thơ là một huyền thoại: thơ trong người đàn bà là một huyền thoại khác. Thơ của người đàn bà là huyền thoại của huyền thoại, là thơ của thơ. Cách đây đúng năm năm, cũng vào mùa này, Nhã Ca đến với người đọc một cách bất ngờ, nhẹ nhàng như người đẹp trong tranh. Người ta nghe không gian xôn xao trong cái chớp mắt trầm buồn đến mênh mông của người con gái Huế:

Đời sống ôi buồn như cỏ khô
Này anh, em cũng tợ sương mù
Khi về tay nhỏ che trời rét
Nghe giá băng mòn hết tuổi thơ

(Hiện Đại số tháng 4/1960)

Người ta nghe ngân vang chân trời xanh trong tiếng hát một loài chim từ thiên thu bay đến. Một cánh chim vành khuyên vượt mông mênh, ngậm tình người bay đi tìm vĩnh cữu. Nhã Ca đã đậu lại giữa những hoài nghi, e dè, ngộ nhận của trần gian.
Và thoạt tiên, người ta yêu thơ Nhã Ca vì đó là thơ một người con gái. Năm năm sau, khi tập thơ Nhã Ca Mới ra đời, người đọc mới biết yêu thơ Nhã Ca vì thơ Nhã Ca hay.
Những bài thơ đầu tiên của Nhã Ca đã là thơ của một người đàn bà nhiều hơn là của một người con gái, đã là thơ của:

Những nàng tiên đến tuổi giã thiên đường

Lời nói đầu tiên mang u uất của lời nói cuối cùng, một lối nói giận hờn, chua xót:

Thôi trả cho giòng sông tối đen
Trả cho người đó nỗi ưu phiền
Còn đây chút tủi hờn thơ dại
Rồi cũng xa vời trong lãng quên

Tại sao lại trả? Có trả vì có trao, có trao thì mới trả. Đó là niềm u ẩn một đời con gái vừa ăn năn, vừa hờn giận:

Tôi trót dại tin lời trao tất cả
Đâu biết người mang nửa dạ yêu tinh

Trao cho ai và trả cho ai? Trao trả cho người, chữ người phiếm chỉ, vô danh, chữ người lạnh lùng hờn tủi, chữ người sần sùi của lãng quên, chữ người nhầy nhụa của ký ức:

Tên người ư, đã trở về bóng tối
Tôi đã vô tri giữa tháng năm dài
Và mỗi bận có một người nhắc lại
Tôi cố tìm nhưng chẳng nhớ tên ai

Nhưng người không tên trong bóng tối cũng thừa biết đó chỉ là lời giận dỗi, đó chỉ là tiếng nói tự ái của đàn bà, một lối dối lòng cho dịu bớt thương đau.
Kinh nghiệm mất mát ray rứt đó khiến người đàn bà giận hờn khôn khuây. Giận là khi có lý do, hờn la không có lý do hay lý do không chính đáng, hay lý do chính đáng mà không nói được nên lời, không giãi bày được với lương tâm. Và từ những ê ẩm của thể xác, những ăn năn, gậm nhấm của tuổi thơ, Nhã Ca ý thức sự mong manh, vô nghĩa của thân phận đàn bà bước một bước qua hết thời con gái. Rồi cũng từ bước đó, Nhã Ca biết sự bất lực của đàn bà, biết quyền năng nữ sắc chỉ là quyền năng của một dụng cụ.
Tự do đối với người đàn bà chỉ giới hạn trong thể xác, và trong một phút giây nào đó của một thể xác.

Tôi sống tự do trong thân thể mình.

Rồi người đàn bà tự mỉa mai những đớn đau ê chề, những hèn mọn của số phận:

như tiếng nước no hơi
hò reo trong bình thủy

Niềm bí mật chất chứa trong mỗi người đàn bà không nói lênđược thành lời vì tính cách phi lý, vô nghĩa của nó. Đó là một sự thật nằm ngoài lý luận và sáng suốt, ngoài sự kiểm soát của ngôn ngữ, đó chỉ là một sự thật trong một lúc nào đó:

Hiểu gì đâu cho cam 
Mình tôi sao chịu nổi?

Người đàn bà chuyển bí mật đó vào cái bào thai:

Nghe đó anh, con đầy tiếng nói
Sự thật kìa, con nói đi con
Nói đi con, nói giùm mẹ với…

Hãy nói giùm người phụ nữ muôn đời sự thật ê chề, rách nát của bản năng. Hãy hiểu giùm người đàn bà muôn thu những bóng tối trong tiềm thức. Tiềm thức thể hiện bằng những biểu tượng. Một biểu tượng hay nói cho giản dị hơn, một hình ảnh là phản ảnh trong ngôn ngữ của một bản năng vô thức. Và chỉ những hình ảnh bị lạm dụng thành những biểu tượng đó mới hé mở bóng tối của tiềm thức. Ví dụ biểu tượng mặt trời trong thơ Nhã Ca. Tập thơ bắt đầu bằng một vừng rạng đông

Chớ nhìn tôi bởi vì tôi đen
Mặt trời đã nạm cháy tôi
(Salomon, Cựu Ước)

và kết thúc cũng bằng tia lửa thái dương

Mặt trời mọc, mọc rồi, mọc rồi
Mặt trời mọc mà sao mẹ khóc

Thái dương là biểu tượng của nam tính, cũng như Thái âm- mặt trăng- là biểu tượng của nữ tính trong tiềm thức của nhân loại từ thời thượng cổ. Từ bà Huyện Thanh Quan, Hồ xuân Hương đến Nhã Ca, ta thấy nhiều ánh nắng, như một khao khát như một đòi hỏi nam tính

Hòn đá xanh lăn về phía mặt trời 
Cây trái cũ kiếp sau này có nhớ 
Những mặt trời tan vỡ kín trong tôi

Mặt trời là khối lửa rực rỡ, chói lọi, tượng trưng cho quyền lực, chủ động, lý trí sáng suốt, sự bền vững, điều hòa của nam tính. Trái lại trăng khi tròn khi khuyết, khi có khi không, chỉ sáng bằng ánh sáng thụ động của mặt trời phản chiếu, lại xuất hiện đúng với chu kỳ kinh nguyệt của đàn bà, là tượng trưng cho nữ tính. Trong thần thoại tất cả các nước, hình ảnh của vầng Thái dương, Logos và vầng Thái âm, Eros đều có một giá trị biểu tượng giống nhau.

Một sinh vật hiện diện một cách vừa thường xuyên vừa bất ngờ trong Nhã Ca là Ngựa qua lời thú nhận bầy ngựa dạy nàng hung hãn. Hung hãn vì chẳng những là ngựa thường mà có khi là ngựa vằn nữa

Rồi đêm ôm chiếc bóng ngựa vằn 
Co bốn vó sãi đều hết năm

Ngựa biểu hiệu những bản năng cuồng nhiệt của thể xác, chuyên chở những đòi hỏi đen tối nhất, khó kiềm hãm nhất, như những bản năng của nữ giới. Ngựa cuối cùng còn là biểu tượng của người mẹ, như con ngựa thành Troie.
Trong thơ Nhã Ca, bạn của Ngựa là con Rắn

Con rắn hồi sinh nỗi buồn đen
trườn mình Trong khu vườn nước mắt và tội ác
.

Rắn là biểu tượng những cám dỗ của tội lỗi, rắn thuộc về cõi âm sống về đêm, trong các hang hốc nên gần với nữ tính, tượng trưng cho dục vọng như truyện Thanh Xà Bạch Xà trong cổ tích Á Đông, chuyện rắn lừa gạt Eve phạm trái cấm trong vườn Địa đàng.

Tra vấn những biểu tượng trong thơ Nhã Ca, nhất là những biểu tượng nói lên chiều sâu thăm thẳm trong đêm tối của người đàn bà, là cốt để tìm thấy đằng sau giá trị nghệ thuật thuần túy, còn có một thực chất nữ tính sâu xa trong tiềm thức của tác giả. Cái giá trị của thi ca không phải ở cái nội dung vô thức đó, nhưng sự thành thật sự chân chính sẽ bảo đảm cho giá trị vĩnh cửu trong ngôn ngữ của nàng.

Những hình ảnh khác như khu vườn, người điên khua thanh la… đều rất phong phú. Chúng tôi chỉ xét qua vài hình ảnh mở rộng tâm hồn Nhã Ca. Như hình ảnh cây cối. Ba bài thơ đầu tiên đăng trên Hiện Đại, những bài thơ tiên khởi giới thiệu Nhã Ca, bắt đầu bằng những con đường râm mát.

Đường xa sầu tiếp với cây chiều…

Chợt tiếng buồn xưa động bóng cây…

Tôi làm con gái
Buồn như lá cây…

Cây tượng trưng cho tình mẫu tử, cho khả năng sinh sản. Trong tiếng La tinh hầu hết những danh từ chỉ cây cối đều là giống cái. Đọc thơ Nhã Ca luôn luôn bắt gặp hình ảnh của người mẹ, khi hiền từ, khi sôi nổi, khi đồng hóa với con người, khi lại tách rời. Hình ảnh ấy linh động và cảm động, tạo sự trìu mến quấn quít giữa các dòng chữ. Hình ảnh cây cối cũng có một địa vị đặc biệt trong thơ Hồ Xuân Hương và Bà Huyện Thanh Quan. Cũng như những hình ảnh đèo, dốc.

Xe đi hút lũng than đèo
Rừng thưa dốc lạnh hơi chiều rút qua

Dốc trái với bằng, là độ nghiêng của nội giới, từ hình ảnh tới tâm linh, dốc là khuynh hướng: dốc đòi hỏi con người phải chọn lựa hoặc lên hoặc xuống không thể lưng chừng. Cả lên lẫn xuống đều khó khăn đối với người đàn bà, họa hoằn lắm mới có một Võ Tắc Thiên hay một Quan Âm Thị Kính. Trong mỗi người đàn bà đều có một Quan Âm và một Võ Hậu tương tranh, bước lên một bước là Thiên Thần- dù chỉ là thiên thần xó bếp, bước xuống một bước là cầm thú- dù là cầm thú chính chuyên.

Đèo là điểm tương giao giữa hai chiều dốc, bên này là lên, bên kia là xuống: vị trí chọn lựa đó ngắn ngủi, và quyết định, không mấy khi dễ dàng. Một người đàn bà chỉ có hai quả hồng, hoặc ngọt hoặc chát; “quả ngọt phần chồng” là chính chuyên, ngược lại là bất chính. Và chọn lựa, nói là tự do, kỳ thật là nô lệ, nô lệ một nửa của mình. Một khi lỡ chọn thì “mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo”. Nói là muốn trèo, kỳ thật là phải trèo, hoặc trèo lên, hoặc trèo xuống. Cái dốc đạo lý, cái dốc tâm lý, cái dốc sinh lý, lại bao nhiều đèo dọc đèo ngang, bao nhiêu thầm kín người đàn bà đều trải phơi ra đó.

Đem những thầm kín linh cảm được trong thơ một người đàn bà mà giải thích, thì những thầm kín không còn thầm kín kia sẽ mất hết nữ tính quyến rũ. Thực chất sống động của thơ Nhã Ca sẽ phải đứng yên như tượng; tiếng nói Nhã Ca có thể cứng lạnh vì bị mất hết tương giao. Trong khi đó, thật ra, ngôn ngữ của nàng là một tiềm năng sung mãn trườn mình như rắn. Nói đến thơ, cuối cùng phải nói đến tiềm năng đó.

Vì nghệ thuật không phải là cái mà nghệ thuật diễn tả hay có thể diễn tả. Thơ không phải là những ý tưởng cũng không phải những khuynh hướng trong tiềm thức. Thơ trước hết là thơ. Và thơ gọi được là thơ không còn là thơ nữa. Những cái không gọi được là thơ thì không bao giờ có thể goi là thơ
Cái gọi được là thơ trong Nhã Ca, trước hết là một không gian

Sân chiều chao nhẹ dăm tờ lá
Và khói sương về cuộn cánh song

Buổi chiều xa xưa ở đây không còn hiu hắt như trong Huy Cận hay đằm thắm như trong Xuân Diệu. Buổi chiều chao nhẹ, chao thật nhẹ như trong Nhất Linh. Những buổi chiều mịn màng, óng ả, mềm mại, dìu dặt đặc biệt trong thơ Nhã Ca mới có. Cũng như đêm của người đàn bà nồng thơm da thịt, chập chờn giữa êm dịu của hư vô và đê mê của cảm giác:

Hơi thở mùi hương nụ cười bóng lá
Đêm bao dung đêm hiền hòa mới lạ
Đêm ngửa bàn tay đêm động làn môi
Đêm dịu dàng đêm ngọt giấc mơ tôi
Đêm trên núi cao đêm trong hồn nhỏ
Đêm thơm nồng nàn mùi hương trí nhớ

Thơ Nhã Ca đày ải trần gian vào biên giới hư ảo của đê mê, thơ Nhã Ca là trầm luân trên từng sợi lông tơ, là thiên thu xóa nhòa trongchớp mắt. Đọc Nhã Ca là linh cảm cả hư không, trong từng thớ thịt, lẫn thể xác trong từng ý niệm vu vơ. Thơ Nhã Ca vừa mời gọi, vừa ôm ấp vừa quyến luyến. Thơ Nhã Ca là lối làm quen ở phút giã từ, là lúc vụt quên khi vừa sực nhớ. Vẻ đẹp Nhã Ca thật như một giấc chiêm bao, và giả như con sông Hoàng Hà từ trời xanh đổ về biển cả:

Ai về đó mà thơm hồn lụa bạch
Cổ chim xanh còn quấn quít tơ vàng

Thơ Nhã Ca sẽ dựng lên một thần thoại về người con gái Huế, vời vợi hương thơm và quấn quít tơ vàng.

Đêm trần gian, Nhã Ca đã nối dài vào Thiên đường và Địa ngục. Ở một phút nào đó, thần thoại đã tự hủy. Nàng tiên vươn mình lên khỏi mặt nước, để lộ nguyên hình nửa người nửa cá, nửa Thiên thần nửa Thú tính. Người đàn bà khắc khoải, bé mọn, đêm co người trăm năm. Co người để tạo một ảo giác, để che dấu một nhu cầu gần gũi, đó là lối gạt gẫm bản thân để dỗ mình vào giấc ngủ. Simone de Beauvoir tâm sự: “Người ta không sinh ra là đàn bà, người ta trở thành đàn bà.” Trở thành hay không là nhờ, là do, là tại, là bởi, là vì một người khác, một người khác phái:

Rồi náo nức lãng quên vào kỷ niệm
Một mình tôi nằm sát sự tối đen.

Nằm một mình mà vẫn đòi nằm sát. Nằm sát, dù chỉ nằm sát sự tối đen, vẫn còn hơn là nằm co. Một sự vong thân cần thiết: đàn bà có vong thân mới thành đàn bà, có tha hóa mới đạt tới yếu tính. Thúy Kiều có bán mình mới thành được Thúy Kiều và nói như Nguyễn Văn Trung “đàn bà chỉ là đàn bà khi được người khác công nhận”. Người đàn bà đẹp đến đâu, dù đẹp đến cùng cũng là những “ả tố nga” đẹp bằng mặt trăng, “đẹp như trăng” nghĩa là đẹp nhờ ánh sáng của một tinh cầu khác.

Người đàn bà, cái bản thể do ngoại, tại ngoại và hướng ngoại đó, cái être par autrui, en autrui, pour autrui đó, ý thức sự lệ thuộc của mình. Khi được si mê thì mang một thiên đường trên những ngón chân

Ta gần em mê từng ngón bàn chân
Mắt nhắm lại cho lòng nguôi gió bão

(thơ Đinh Hùng)

và mang định mệnh nhân loại trong cái nhìn, nụ cười hay chiều cao của sống mũi như nàng Cléopâtre, hay từng nếp nhăn trên khuôn mặt như Tây Thi, định đoạt tính mệnh của một người bằng những cử chỉ vạn năng vô nghĩa

Mùa thu tàn nhẫn từ đôi mắt
Mùi hương sát nhân từ ngón tay
(thơ Đinh Hùng)

Thực chất đàn bà là thế. Nhưng đàn bà thích sống trong huyền thoại nhiều hơn là thực chất: huyền thoại tâm hồn, trinh tiết, chung thủy v.v… để có cái ảo giác về giá trị và tự do. Kỳ thật, đó chỉ là những giá trị giả tạo do đàn ông bịa ra để bảo vệ quyền lợi ích kỷ của mình. Chung thủy là chung thủy vì một người đã qua, trinh tiết cho một người chưa đến. Người đàn bà vạn năng sẽ chỉ biết quyến rũ mà không biết si mê, chỉ có trong huyền thoại, vì người đàn bà đó là người cá! Cái can đảm của Nhã Ca là biết phá tung những huyền thoại đó:

Mùa mưa lũ với lời hứa của chàng
Vết bẩn trên mũi giầy
Bàn chân em yêu quí
Lòng tủi hờn hay mặt tối tăm
Linh hồn em một hòn đá nhỏ

Người đàn bà bị bao vây muôn trùng vì một lời hứa, người đàn bà vô nghĩa như một vết bẩn, biết rằng linh hồn mình không quí bằng một ngón chân! Và người đàn bà đó can đảm hơn nữa khi chấp nhận những nhu cầu tầm thường của thể xác, can đảm trườn mình như rắn:

Và đôi mắt uống hình nhau đã chật
Tay nâng tay thương nhớ nuối trong lời
Đêm buồn sương làm mắt ướt xa xôi
Và giá lạnh bao nhiêu lời tình tự
…Anh cũng nâng em lên bằng cái nhìn gạch ngói
bằng hơi thở mềm còn quấn quít bên nhau

Thái độ nằm co, nằm sát, nằm chật để giết chết những đêm buồn, những giá lạnh, những xa xôi, lời thì thầm đòi hỏi quấn quít, nâng em lên tạo nên cái thực chất đàn bà vừa sống sượng vừa cám dỗ, khiêm tốn một cách cao quí, tội lỗi một cách trong sạch, tầm thường đến cảm động.

Thái độ của Nhã Ca là muốn im lặng ra ngoài huyền thoại để đi tìm thực chất. Ra ngoài cái thiên hạ nói về mình, cái thiên hạ đồn đãi về mình để nghe những lời tự thú của lương tri và tiềm thức. Nhã Ca tự thương lấy thân phận, thấy rõ giới hạn chật hẹp của tự do trong thân thể mình, Nhã Ca bằng lòng sống cam phận nhỏ, chấp nhận mùi vị của tình yêu ngọt ngào như một vết thương. Nhã Ca từ một cô gái thơ ngây, bé bỏng khi về tay nhỏ che trời rét cho đến người mẹ hiền muối mặt trong ăn năn, im lặng nghe buổi trưa của cuộc đời lăn chậm:

Đã khô rồi nhựa trong cây
Mẹ nghe củi mục trôi đầy giấc con.

Nhã Ca từ cô gái đến người mẹ, vẫn dẫm lên lối đi tiền định của kiếp đàn bà. Lời tự tình nhẫn nhục đến thê thiết của Nhã Ca như buốt lạnh lương tâm người đọc. Qua một kỹ thuật ngôn ngữ già dặn, những cơ cấu âm thanh và hình ảnh vững chắc và uyển chuyển, người đọc còn tìm thấy thân phận chua chát, ê ẩm của người đàn bà, cái nguồn gốc tủi hờn của nhân loại. Tôi muốn kết thúc cuộc hành trình vào tâm hồn người đàn bà bằng một hình ảnh mượn của Nhã Ca, hình ảnh một loài rong

Em như loài rong
Xanh mướt niềm ăn năn

Tôi thấy trước mắt một thảm xanh hiền hòa, tự tin và tự chủ. Niềm tin bé mọn, chua xót, vẫn còn chờ đợi, vẫn còn xanh mướt. Buổi Thanh-minh của nàng Thúy, cỏ non vẫn còn gợn đến chân trời.

Em như loài rong
Trôi mãi niềm ăn năn
.

Tôi thấy cánh rong của tôi bị giòng nước cuốn đi. Cánh rong thụ động, mất hết tự chủ, cố cưỡng lại với cuồng lưu. Thụ động nhưng vẫn gắng gượng tự chủ: Phận bèo bao quản nước sa, nàng Thúy thở dài.
Trôi và trôi mãi. Trôi mãi mười lăm năm mới đến Tiền-đường:

Tôi như loài rong
Chìm dưới vùng ăn năn

Tôi không còn thấy loài rong của tôi nữa. Loài rong yếu đuối mong manh, đã thất bại, đã buông xuôi, đã nhắm mắt, đã thua, đã chìm. Ngọn triều non bạc trùng trùng… Lịch sử, một cánh rong cũng là định mệnh của loài rong, đã xanh, đã trôi và đã chìm. Con đường nàng Thúy đã đi qua là con đường thiên thu của người phụ nữ muôn đời. Từ kinh nghiệm bản thân, từ linh tính, từ suy gẫm, Nhã Ca đã dùng tương quan ngôn ngữ để hé mở chiều sâu thăm thẳm của thân phận đàn bà. Trong hành lang thăm thẳm đó, chúng ta đã bắt gặp khuôn mặt của người tình, người vợ và người mẹ. Từ một thân phận phôi pha con người sẽ chua xót nghĩ đến thân phận của chính mình, của lứa đôi, và nghĩ đến hình ảnh của Thai Mẫu nhân loại, một Magna Dea thiên sứ nắm hết định mệnh loài người.

ĐẶNG TIẾN
(Đà Lạt, 10-5- 65)
* trích báo VĂN số 35 ngày 1 tháng 6 năm 1965.

Ngày Thứ Tám

dulehue

Những ngón bút cũng xa rời sách vở
Bây giờ anh ngủ với trời mưa
Thứ hai ngồi mộng em vàng áo
Mắt nhớ ơ hờ thương tháng năm
.
Có phải ô mai màu má em
Thứ Ba chiều phố cũ tình mềm
Lang thang anh hát lời chim nhớ
Biển có xanh cùng đôi mắt xưa
.
Lê Lợi bao nhiêu cây phượng đỏ
Bóng nào thâp thoáng chùng tim anh
Thứ Tư buổi sáng qua trường lạ
Nhớ phố ngày xưa em đã qua
.
Trong túi còn mấy đồng bạc lẻ
Anh lê chân bước về nội thành
Cà phê đậm đắng thời thơ dại
Chiều thứ Năm buồn không nói năng
.
Thứ Sáu ngồi trông bưu tín viên
Người phát thư già đi thật hiền
Chẳng ghé qua anh chiều đã xuống
Chiều hết rồi chiều chẳng tiếc thương
.
Thứ Bảy phố hồng hào khoẻ mạnh
Những mắt vui quanh quẩn níu mời
Đốt thuốc anh ngồi trong quán nhỏ
Nghe tình như khói thuốc vờn bay
.
Chủ Nhật Chúa dang tay mở cửa
Nơi thánh đường rộn những bước chân vui
Sài Gòn xa quá làm sao biết
Chủ Nhật Chúa vui anh lại buồn
.
Một tuần làm sao có ngày thứ tám
Huế làm sao bây chừ có em
Anh làm sao có đôi tay ai vẫy chào
.
Rượu đắng thôi đành nâng một chén
Đắp chăn nằm ngủ quên đời mưa.
.
dulehue