ÁO BIẾC

linhphuong

Ờ thì chắc gì như năm trước
Gió thốc ngoài hiên thổi tạt buồn
Tay trắng-trắng tay anh trơn trợt
Tuột dốc tình níu chẳng chịu buông

Níu lấy em một thời hoa mộng
Mộng ngày e ấp tuổi hai mươi
Chở theo hương tóc ngàn kỷ niệm
Đậu giữa ngực mềm bao giấc mơ

Xưa áo biếc trời cao lồng lộng
Thu rắc vai em chút phấn vàng
Anh gánh gian nan mùa ly loạn
Đi tìm dấu vết bóng kim lan

Ờ thì chắc gì không đau điếng
Lần tiễn đưa bỏ lại nụ cười
Hạt lệ nào rưng rưng em khóc
Rơi từ khóe mắt xuống bờ môi

Bỗng thấy cỏ hiền ngoan nằm ngủ
Dưới bàn chân trắng ngó sen hồng
Anh khẽ hôn dịu dàng năm ngón
Để thương hoài năm ngón em thơm

Bỗng thấy chiều sông xanh quá đỗi
Nắng xế tàn chim lạc cánh bay
Người lâu rồi trở thành người cũ
Buốt lòng anh trong tiếng thở dài

Ờ thì chắc gì em đã giữ
Tờ thư anh và khói quê nhà
Quê nhà . Chao ôi ! Xa vời vợi
Tờ thư anh màu mực phôi pha

Xuân chưa chớm mà xoan vội muộn
Tình chưa phai sao biệt bóng hình
Anh dặn anh thôi đừng nhớ nữa
Nhưng trời ơi nỗi nhớ vây quanh

Con đường nào anh qua trăm bận
Khổ gì đâu hoa rụng tơi bời
Khổ gì đâu tim anh nhoi nhói
Bởi em giờ có cặp-có đôi

Ờ thì chắc gì anh còn sống
Đợi kim lan áo biếc quay về
Xưa áo biếc trời cao lồng lộng
Bịn rịn ngày giấu vạt mây che

Bịn rịn ngày chấm lưng tóc rối
Lá bùa yêu rớt xuống sân đời
Sân đời anh ngã không gượng nỗi
Nên đành lặng lẽ bỏ cuộc chơi

Sông bỗng rộng và dài từ thuở
Anh mất em chim lẻ bạn tình
Trăng uất nghẹn vì ai trăng vỡ
Từng giọt hồng thắm đỏ thơ anh

LINH PHƯƠNG

SỐNG CẢM ƠN ĐỜI TRONG TỪNG KHOẢNH KHẮC

tranthoainguyen

Đời đẹp mong manh! Quá vô thường!
Trái tim ta hỡi! Đập nhịp yêu thương!
Cảm ơn đất trời trong từng khoảnh khắc
Ta hiện hữu giữa lòng bàn tay âm dương!

Nầy gió nầy hoa nầy trăng sao
Và em yêu và cát bụi chiêm bao!
Cảm ơn đời một thoáng vui xanh vĩnh cửu
Giây phút hiện tiền quý giá biết bao!

Hãy vui sống khi ta còn có thể
Hít thở nói cười trên mặt đất cỏ rêu
Dẫu khổ đau có khiến ta nhỏ lệ
Cảm ơn đời vì cuộc sống thật đáng yêu!

Ôi phép lạ thuở trần gian lấp lánh
Nhu giọt sương mai,ánh trăng giải nhiệm màu!
Trong cát bụi có điềm linh thánh
Cảm ơn người ta-sống-với-trong-nhau!

Cuộc sống diệu kỳ! Ta mến thương!
Vô biên xanh khoảnh khắc vô thường!
Cảm ơn vạn hữu hàng hàng thế giới
Hạnh Phúc vô ngần reo trong máu xương!

TRẦN THOẠI NGUYÊN

ĐỘC TÚY HÀNH

phuongxichlo

Ta say hề đêm nay ta xỉn
Ngất ngưởng đi về giữa khói sương
Gõ nhịp ta ngâm bài Tống biệt
Vỗ chai ta hát khúc Hồ trường
Ba ngàn thế giới trong cốc rượu
Bao dung ta uống trọn vui buồn

Ta say hề đêm nay ta xỉn
Chân thấp chân cao lạc phố phường
Ai có tài đàn như Tư Mã
Còn ai thổi sáo tựa Trương Lương ?
Hãy đàn ta hát lời man dại
Hãy thổi ta ngâm giọng dị thường
Một kiếp làm người đầy khổ lụy
Mượn đôi cánh rượu đến thiên đường

Ta say hề đêm nay ta xỉn
Đành mượn cỏ cây thế chiếu giường
Ngạo nghễ gối đầu lên đỉnh Ngự
Ngang tàng xuôi cẳng dọc sông Hương
Êm như cơn gió không còn nhớ
Nhẹ tựa làn mây chẳng biết buồn
Ta say hề bây giờ ta ngủ
Chiêm bao ta múa điệu Nghê thường

Nguyễn Văn Phương

DSC09371

CƯỠI NGỌN SẤM (1)

cuoingonsam

richardbotkin

Richard Botkin
(Bản dịch của Lý Văn Quý & Nguyễn Hiền)

Lời Tựa

Cuốn sách“Cưỡi Ngọn Sấm” đã lột tả được tinh thần và lòng quyết tâm của một nhóm “huynh đệ chi binh” khác thường – một toán nhỏ cố vấn Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ và các chiến binh TQLC VNCH bạn trong một tình hình đặc biệt khó khăn của cuộc chiến Việt Nam.

Richard Botkin đã ghi chép lại những chiến công của các TQLC Hoa Kỳ và bạn đồng minh VNCH đã lãnh trách nhiệm chính trong công cuộc đẩy lui cuộc xâm lược của Bắc quân tại địa đầu miền Nam Việt Nam, được biết đến như là cuộc Tổng tấn công mùa Phục Sinh (mùa hè đỏ lửa) 1972 đối với người Tây phương, một cuộc tấn công nhằm đánh gục một quốc gia.

Mặc dù tất cả những ai hiện diện tại nơi đó không ít thì nhiều đều có dính dáng đến những trận đánh khốc liệt trong những chuyến công vụ trước và những hành vi anh hùng và chỉ huy dũng cảm xảy ra khắp nơi, nhưng Botkin đã chú trọng vào ba nhân vật chính.

Trung tá Gerry Turley, người đã hiện diện trong vùng hai ngày trước cuộc tấn công để tiến hành một cuộc viếng thăm tưởng chừng như thường lệ trong một thời kỳ yên lắng. Hoàn cảnh và một loạt các yếu tố bất thường đã đưa đẩy ông lên một vai trò chỉ huy đặc biệt trong đời. Ông đã phải đối mặt với toan tính hủy diệt của bọn Bắc quân ngoan cố cũng như các trở ngại của bộ máy quan liêu của quân đội Hoa Kỳ và VNCH đã không đánh giá đúng sự suy xét của ông lúc ban đầu.

Ngoại trừ đối với những người đã quen thuộc với những câu chuyện về hành động của Đại úy Ripley tại cây cầu Đông Hà, rất khó mà không xác nhận cao tác động chiến lược của sự phá hủy cây cầu đó đối với những trận đánh còn lại tại Việt Nam sau buổi chiều Chủ nhật mùa Phục Sinh năm ấy.

Botkin làm nổi bật cho độc giả thấy mối liên quan đặc biệt giữa các cố vấn TQLC Hoa Kỳ đối với các TQLC Việt Nam mà họ đã phục vụ. Mối dây chân tình huynh đệ và tình bạn chân thành giữa Đại úy Ripley và Thiếu tá Lê Bá Bình, lúc đó đang chỉ huy bẩy trăm binh lính thuộc Tiểu đoàn 3 TQLC, đối diện với hơn hai chục ngàn quân Bắc Việt lăm le tiêu diệt họ tại Đông Hà, đã thăng hoa vượt lên trên cả ngôn ngữ và văn hóa khác biệt. Câu chuyện của hai người chiến binh vĩ đại cùng phục vụ cho một mục đích chung thật là hiển nhiên. Nếu đã có thêm nhiều người như Lê Bá Bình thì chắc chắn kết quả của cuộc chiến đã khác hẳn.

Khác với hầu hết các cuốn sách về thể loại này, Botkin đã theo dõi thật chi tiết cuộc sống gia đình của từng chiến binh và kể lại chiến sự qua trải nghiệm cá nhân của họ. Trong lúc nghiên cứu về lịch sử của chiến tranh người ta rất thường chỉ tập trung vào người lính chiến, do đó chỉ diễn tả nổi một nửa câu chuyện mà thôi.

Với tư cách một người đã từng tham dự những trận giao tranh tại đó, đã chứng kiến nhiều cuộc thử thách được ghi chép lại trong khoảng thời kỳ đặc biệt dữ dội lúc đó, tôi vẫn không mường tượng nổi những gì xảy ra cho bạn bè của chúng tôi sau khi phần tham chiến của người Mỹ đã kết thúc. Đối với các sĩ quan TQLC Việt Nam và gia đình họ, cơn ác mộng dường như bất tận của trại tù cải tạo mà Cộng sản đã chụp lên họ một cách tàn nhẫn từ sau tháng tư 1975, trong trường hợp của Lê Bá Bình là gần 12 năm trời, đã nói lên sự kiên trì, lòng nhẫn nại và niềm vinh quang của tinh thần con người.

Nước Mỹ đã có phước được những chiến binh như John Ripley và Gerry Turley phục vụ dưới cờ, nay lại còn may mắn gấp bội khi được kể thêm những người như Bình là công dân Hoa Kỳ. “Cưỡi Ngọn Sấm” là một cuốn sách hấp dẫn, ly kỳ rất đáng đọc, là một mảnh lịch sử chưa hề được nói đến bao giờ.

Chuẩn tướng James Joy TQLC Hoa Kỳ (hồi hưu)
Cố vấn trưởng cho Lữ đoàn 147 TQLC QLVNCH trong khoảng thời gian 1971-1972

Lời nói đầu

Khi bắt đầu nghiên cứu và khám phá ra những bộ chuyện mà sau này sẽ trở thành cuốn sách “Cưỡi Ngọn Sấm,” bản thân tôi đã bị cuốn hút bởi những nhân vật và cách mà từng người trong những hoàn cảnh riêng biệt, đã biểu lộ được lòng quả cảm bất khuất và bất di bất dịch về tinh thần cũng như thể xác. Tôi đã bị thu hút bởi cung cách mà John Ripley, Lê Bá Bình, Gerry Turley và một số người khác đã chiến đấu, chịu thống khổ, đã đổ máu và nhẫn nhục tận cùng để cuối cùng đạt vinh quang trong những điều kiện thường xem là thật sự vô vọng.

Trong một thế giới mà hầu hết mọi người chỉ thích ăn mừng sự nhạt nhẽo và những điều vô nghĩa, một thế giới mà sự định nghĩa truyền thống về anh hùng và lòng dũng cảm đã nhiều năm qua bị hạ giá , có khi bị bóp méo thì “Cưỡi Ngọn Sấm” chào mừng những con người đó cùng với các phụ nữ đã sát cánh bên họ, vì nhân tính của họ, và quan trọng nhất, vì họ chỉ là những người lính chiến thuần túy.

Lời Giới Thiệu

Chiến thắng lan rộng của Cộng Sản trong khu vực Đông Nam Á năm 1975 và thảm kịch chụp lên đầu nhiều người dân miền Nam Việt Nam đáng lẽ ra đã xảy ra từ năm 1972 rồi. Trong tháng 3 năm đó, miền Bắc tung ra một cuộc tổng tấn công với nhiều sư đoàn nhằm áp đảo Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (QLVNCH) và tiêu diệt một nền dân chủ còn non trẻ. Trong lúc Hoa Kỳ đang tiến hành cắt giảm quân số và chương trình Việt Nam hóa chiến tranh của Tổng thống Nixon còn ì ạch thì QLVNCH buộc phải trải mỏng lực lượng dọc theo các đường biên giới với trách nhiệm giữ nền tự do tránh khỏi sự thống trị của Cộng sản. Binh đoàn Thủy Quân Lục Chiến (TQLC) Việt Nam với quân số ít ỏi cùng với vài sĩ quan cố vấn Hoa Kỳ đã được giao trấn thủ ngõ vào chiến lược vùng Tây Bắc của đất nước.

Rất ít người Mỹ biết rằng miền Nam Việt Nam đã thành lập được cả binh chủng TQLC. Quân số TQLC Việt Nam chưa bao giờ vượt con số mười tám ngàn người, tức 2% của QLVNCH. Họ là một sự pha trộn tinh hoa kỳ lạ của tinh thần thượng võ Tây và Đông phương. Các cố vấn TQLC Hoa Kỳ đã đóng một vai trò then chốt trong sự thành lập của đơn vị này vào năm 1954 và trong suốt hai mươi mốt năm sau đó đã giúp định hình, đào tạo và nuôi dưỡng tinh thần chiến đấu tuyệt vời của họ. Không nghi ngờ gì là cái binh đoàn nhỏ bé này đã có một tác động quyết định vượt xa tầm cỡ của nó trong cuộc chiến sống còn của đất nước VNCH. Đối với những người trong chúng ta đã được cử đến để cố vấn cho các đơn vị khác nhau của TQLC Việt Nam thì đó là một nhiệm vụ thật đặc biệt, có nhiều lúc bực bội nhưng tựu chung đều mang lại niềm tự hào khi sát cánh chiến đấu bên cạnh họ ngoài chiến trường.

Thành phần QLVNCH rộng lớn hơn, lại không được biết nhiều về lòng dũng cảm của họ ngoài mặt trận, nhưng TQLC thì liên tục được cải tiến dần theo nhịp độ chiến tranh lan rộng và ngoại trừ một vài trường hợp ngoại lệ, họ đều là những thành phần xuất sắc. Nhiều người trong số các sĩ quan ít ỏi nhưng rất chuyên nghiệp đã được huấn luyện tại Hoa Kỳ. Họ đã cùng học hỏi và sống với chúng ta, giống như chúng ta đã làm khi được giao nhiệm vụ cố vấn cho họ. Tính kỷ luật và tinh thần đã được thấm nhuần từ trong trại huấn luyện, ở một chừng mực nào đó tương tự như trại tuyển mộ huấn luyện của TQLC Hoa Kỳ tại Parris Island và San Diego. Theo thời gian, TQLC Việt Nam đã giành được sự kính nể bất đắc dĩ của các đồng đội QLVNCH khác và chắc chắn của cả bọn Cộng quân Bắc Việt. TQLC Việt Nam khác hẳn các đơn vị bạn, tương tự như TQLC Hoa Kỳ mà họ phát sinh ra cũng có nhiều khác biệt với các đơn vị khác. Sự khác biệt này được thể hiện rõ ràng trong cuộc “Tổng tấn công mùa hè đỏ lửa.”

Cái gọi là “cuộc tấn công Tết Mậu Thân” năm 1968 vẫn còn âm vang trong tâm trí của nhiều người Mỹ, nhất là những người có tuổi đủ để nhớ về cuộc chiến Việt Nam. Tuy nhiên vào ngày 30 tháng 3 năm 1972 cộng quân Bắc Việt đã tung ra một cuộc tấn công làm “lu mờ” “Tết Mậu Thân” với một mức độ lớn hơn nhiều. Ban đầu bị bất ngờ và đụng phải cường độ tiến công trực diện của cộng quân, các đơn vị QLVNCH khắp nơi bị áp lực nặng nề đến mức tối đa và trong một vài trường hợp bị tràn ngập hoàn toàn bởi số lượng và hỏa lực áp đảo của cộng quân. Lúc đó TQLC Việt Nam đang được phối trí tại những địa điểm chiến lược phía Bắc miền Nam Việt Nam sát cạnh vùng phi quân sự, cùng với Sư đoàn 3 bộ binh vừa mới thành lập xong.

Hướng về phía Tây, nhìn về trận địa Khe Sanh cũ là hai Lữ đoàn TQLC vào khoảng năm ngàn người. Sư đoàn 3 bộ binh lo bảo vệ phía Bắc. Chọi với tuyến phòng thủ mỏng manh này, quân Bắc Việt đã tấn công với 3 Sư đoàn bộ binh và cái gọi là “mặt trận B5” gồm 4 Trung đoàn bộ binh tăng viện, 2 trung đoàn pháo binh và 2 trung đoàn thiết giáp. Thành phần trong các sư đoàn Bắc Việt tham chiến có sư đoàn 304 và sư đoàn 308 là hai sư đoàn đã từng đánh nhau với Pháp tại Điện Biện Phủ và được mệnh danh là các “Sư đoàn thép.” Việc sử dụng hai đơn vị này chứng tỏ đây là một cuộc tổng tấn công lớn và hai sư đoàn này là mũi nhọn chính của cuộc “tổng tấn công mùa hè đỏ lửa 1972.” Quân Bắc Việt đã tập trung được một lợi thế về quân số là 3 chọi 1 đối với các lực lượng VNCH.

Thật đáng buồn là đến ngày thứ tư của cuộc tàn sát hầu hết SĐ3BB đã bỏ chạy trong hỗn loạn hay đơn giản là đã bị tan tác hết. Trách nhiệm phòng thủ phần đất phía Bắc đè nặng lên TQLC và một Lữ đoàn Nhẩy Dù. Thật không hay cho những ai trong chúng tôi còn trấn giữ địa hình. Tình hình của Tiểu đoàn mà bản thân tôi và Đại úy Ray Smith (sau này lên Thiếu tướng) làm cố vấn là điển hình cho hầu hết các cố vấn đồng nghiệp đã phải đối đầu. Sau khi chống cự mãnh liệt lúc ban đầu và chịu tổn thất nặng nề, chúng tôi đơn giản là đã bị tràn ngập bởi làn tấn công toàn diện. Chúng tôi bắt đầu triệt thoái về hướng Đông trong lúc lực lượng Bắc Việt đông hơn gấp bội rượt đuổi theo. Mục tiêu của chúng tôi là cổ thành Quảng Trị.

Điều mà hầu hết chúng tôi không biết là ngay lúc đó một đoàn chiến xa Bắc Việt đang di chuyển về phía Nam trong mưu đồ cắt đứt đường rút của chúng tôi. Giữa chúng tôi và nguy cơ bị tiêu diệt là chiếc cầu Đông Hà bắc ngang sông Cửa Việt. Con sông đó là một trở ngại lớn và chiếc cầu hết sức trọng yếu trong kế hoạch của quân Bắc Việt. Đại úy John Ripley (sau này thăng cấp lên Đại tá) trong một hành động đã trở thành huyền thoại trong quân sử của TQLC Hoa Kỳ, đã bò dưới gầm cầu nhiều lần dưới làn đạn để gài mìn nổ. Ông đã giật sập được cây cầu trong lúc toán tiền quân của đoàn chiến xa Bắc Việt đang cố gắng vượt qua. Đối với chúng tôi, những người đang thoát theo hướng Đông hay đơn giản hơn đang cố sống sót, đó là một hành động dũng cảm mà chúng tôi mãi mãi ghi ơn. Nếu Ripley không phá sập cây cầu, tôi tin là hầu hết các TQLC Việt Nam và cố vấn Mỹ đều đã bị bắt hoặc bị giết chết rồi. Nhân vật đã cố gắng tái tạo lại trật tự từ sự hỗn loạn và ra lệnh cho Ripley phá hủy cây cầu chính là Trung tá Gerry Turley (sau này lên Đại tá). Bị đẩy vào một tình thế gần như siêu thực, lòng quả cảm, sự điềm tĩnh và tính chuyên nghiệp của ông là mối keo kết dính giữ toàn bộ không bị đổ vỡ. Tác giả Botkin đã cho chúng ta hiểu được tầm cỡ của hành động của Turley và nhận thức được những sự kiện kỳ quái và điên rồ có thể diễn ra trong cuộc giao tranh.

Mặc dù TQLC bị đặt trong những tình huống quẫn bách, cuộc triệt thoái nói chung có trật tự. Tất cả những khẩu trọng pháo đều được phá hủy không để rơi vào tay kẻ thù. Các Đại đội và Tiểu đoàn tập hợp lại và còn nguyên vẹn với các cố vấn Mỹ sát cánh bên họ. Điều này trái ngược hẳn với các đơn vị như pháo binh SĐ3 đã mở ngỏ cửa cho quân Bắc Việt tấn công vào và để lại cho chúng hàng chục khẩu đại bác còn nguyên si cùng với hàng tấn đạn dược. Tại sao có sự khác biệt về hiệu năng chiến đấu như vậy? Tôi nghĩ rằng đó là nhờ sự đầu tư toàn diện về huấn luyện giống như mô hình TQLC Hoa Kỳ đầy kinh nghiệm và một thế hệ cố vấn đã hết lòng truyền đạt sự hiểu biết và niềm tin qua cho các bạn TQLC Việt Nam.

Bọn Bắc Việt tưởng chừng như đã thành công. Được trang bị dồi dào gần như vô tận về chiến xa và pháo binh cùng với vũ khí phòng không tối tân nhất của Liên Sô, bọn chúng xâm nhập vào vùng chiến trường phía Bắc với hy vọng sẽ tung cú phủ đầu đánh gục miền Nam. Mất các tỉnh phía Bắc bao gồm Quảng Trị và cố đô Huế sẽ là một thảm trạng về tâm lý chiến đối với chính phủ VNCH. Tuy nhiên tình báo Bắc Việt trước khi xâm lăng đã quên không tính đến sự kiên cường của TQLC Việt Nam. Quảng Trị cuối cùng đã bị thất thủ nhưng chỉ có TQLC Việt Nam là đã chiếm lại được vào ngày 15/9/1972.

Trong trận đánh bẩy tuần tái chiếm cổ thành Quảng Trị, lực lượng TQLC đã chịu  3.658 thương vong. Đó là một trận đánh tàn khốc chống lại một kẻ thù dai dẳng nhưng chiến thắng sau cùng đã đủ chứng minh tính chuyên nghiệp và sự dũng cảm của TQLC Việt Nam. Bắc Việt cuối cùng đã thành công vào năm 1975. Nhưng ít nhất miền Nam đã được ba năm tạm yên nhằm củng cố lại đất nước hầu chống lại quyết tâm của miền Bắc muốn xâm chiếm họ. Buồn thay là ba năm chưa đủ.

Nếu bạn có khuynh hướng cho rằng chiến thắng của Cộng sản không đáng buồn, “Cưỡi Ngọn Sấm” sẽ làm bạn tỉnh ngộ về quan điểm đó. Dệt trong lời kể là câu chuyện của Trung tá Lê Bá Bình: một TQLC, một người yêu nước, một người chồng và một người cha. Bình là sĩ quan Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn TQLC mà John Ripley làm cố vấn. Câu chuyện của Bình sẽ làm bạn nổi giận, gây cảm hứng và cuối cùng sưởi ấm trái tim bạn. Đoạn kết bất thành của cuộc chiến và ảnh hưởng bi thảm của nó đối với hàng triệu người miền Nam đã được biểu lộ qua cuộc hành trình của Bình. Ngoài ra “Cưỡi Ngọn Sấm” cũng đã diễn tả chuyện gia đình của nhiều TQLC, Việt Nam cũng như Hoa Kỳ khác mà sự hy sinh và lòng can đảm rất điển hình cho các gia đình quân đội trong quá khứ và hiện tại. Đối với những người trong chúng tôi đã chọn binh nghiệp thì sự hỗ trợ, lời khuyến khích và sự trung thành của họ vẫn mãi mãi là một niềm cảm hứng. Lịch sử về chiến tranh thường được viết bởi kẻ thắng cuộc và bọn Cộng sản đã cố gắng xoá hết vết tích ghi chép, không nhắc nhở đến các thành tích đáng ca ngợi của TQLC. “Cưỡi Ngọn Sấm” bắt đầu viết trở lại vào lịch sử câu chuyện chưa được kể về những người lính TQLC Việt Nam và gia đình; họ chưa bao giờ đầu hàng, chưa hề bỏ cuộc và chưa khi nào mất niềm tin. Đối với những người đã từng chiến đấu, đã chịu đau khổ và vươn lên quá nhiều để đạt được sự Tự Do cho chính họ với tư cách là các công dân mới của đất nước Hoa Kỳ, thì “Cưỡi Ngọn Sấm” là một câu chuyện xứng đáng được chia sẻ với các thế hệ tiếp nối của nước Mỹ, đặc biệt là người Mỹ gốc Việt. Tôi hy vọng cuốn sách này sẽ giúp họ hiểu được cái giá mà cha ông họ đã phải trả nhằm bảo tồn nền Tự Do mà ngày nay họ đang được hưởng. Và sau cùng, trong khi cái danh xưng “Thủy Quân Lục Chiến” đã chiếm một vị trí đặc biệt trong tim người Mỹ, công việc kể lại các thành tích và lòng phục vụ của Lê Bá Bình và những nhân vật như ông sẽ làm cho độc giả cũng sẽ trân trọng cái tiếng gọi đó trong lòng những người Việt vậy.

Đại Tướng Walter E. Boomer, USMC, Ret.

Mở đầu

Cuộc hôn nhân của Lê Bá Bình và Bành Cầm,
Câu lạc bộ Sĩ Quan Sóng Thần
Sài Gòn, Việt Nam Cộng Hòa
Thứ tư, 19 tháng 1, 1972

Những đấng trượng phu nào đã dám đứng lên vì chính nghĩa, đặt vận mệnh quốc gia trên đôi vai dẻo dai và tài trí vẹn toàn thì thường có ưu thế hơn trong cuộc cạnh tranh để giành được những người phụ nữ hương sắc nhất.

Tại một địa điểm và thời gian đã định trước, Thiếu Tá Lê Bá Bình, Tiểu đoàn trưởng TĐ3 TQLC, biệt danh đối với bạn bè cũng như kẻ thù là “Sói Biển” trông khá bảnh bao với vai trò chú rể trong bộ lễ phục vùng nhiệt đới của binh chủng Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam Cộng Hòa. Vào một thời điểm khác, có thể anh đã là một luật sư, một bác sĩ, một thương gia hoặc đã mang một tước vị nào đó. Tuy nhiên thời kỳ này không bình thường và số mệnh đang xảy ra cho đất nước tràn khói lửa của Thiếu Tá Bình đã kêu gọi những thanh niên năng động và quyết tâm như ông bởi vì nếu không có chiến thắng, sẽ không có Việt Nam. Đó là một điều thật khó khăn nhưng cũng thật đơn giản.

Mặc dù văn hóa Việt Nam được hình thành từ lâu, thậm chí trước cả khi nước Mỹ được thành lập, Bình có thể được mô tả đúng nhất, trong dòng sinh mệnh hiện tại của đất nước ông, là thuộc vào thế hệ đầu tiên trong hệ luận mà George Washington đã diễn tả từ hai thế kỷ trước: “Tôi là một người lính để con trai tôi có thể làm nghề nông và cháu tôi có thể thành nhà thơ.” Tất cả đàn ông và phụ nữ của thế hệ người Việt được sinh ra cùng thời với Bình và cô Cẩm chưa từng bao giờ biết hòa bình là gì. Các cuộc xung đột và hỗn loạn xảy ra thường xuyên và hòa nhập vào mọi mặt sinh hoạt của cuộc sống hàng ngày. Sự  “bình thường” chỉ là một thuật ngữ tương đối và chủ quan.

Do đó, điều hoàn toàn bình thường trong thời chiến sinh tử là mọi chuyện phải được tiến hành nhanh chóng vì đó chỉ là sự lựa chọn duy nhất trong đời sống. Vì vậy, không có gì kỳ lạ cả khi Lê Bá Bình và Bành Cầm đến với nhau như vợ chồng vào tháng Giêng năm 1972.

Cho đến ngày đám cưới của mình, Lê Bá Bình đã phục vụ liên tục trong quân đội. Khi những người lính Mỹ đến Việt Nam và nếu họ sống sót thì được trở về nhà sau một năm hoặc 13 tháng, thì Bình đã từng làm Đại đội trưởng Đại đội 1 thuộc Tiểu đoàn 3 trong gần bốn năm, đó là sau khi đã chỉ huy một trung đội trong hai năm. Mỗi lần hoàn tất công vụ, không hề có chuyện đi chơi Hawaii hoặc Úc, không có vụ đi du lịch hồi phục sức khoẻ hay học hỏi để mở mang kiến thức và khả năng ngoại giao. Khi Bình rời khỏi Đại đội 1, đơn giản là để về làm Tiểu đoàn phó cho Tiểu đoàn 3.

Một thanh niên như Thiếu tá Bình, vốn là người đã đạt được vị thế và quyền lực hiện tại không phải vì uy tín hoặc tài sản của gia đình mình mà là qua nỗ lực cá nhân liên tục và vai trò chỉ huy xuất chúng trên chiến trường, giờ được kết hợp với một thiếu nữ khả ái như Bành Cầm là một điều hiển nhiên. Thật ra, đã có những người đàn ông khác, trong số đó có một bác sĩ và một luật sư đã mong được sự chiếu cố của người đẹp để xin cưới. Tuy nhiên định mệnh của nàng là kết hôn với anh chàng TQLC đẹp trai.

Trong văn hóa cổ truyền Việt Nam, việc chọn lựa ngày giờ thuận lợi nhất cho một đám cưới luôn gây ra mối bận tâm lớn và phải dự tính kỹ. Những bậc thông thái trưởng thượng trong gia đình bàn bạc với nhau và cân nhắc để chọn ngày lành tháng tốt nhằm cho đôi vợ chồng mới được trường thọ và sung túc bên nhau. Sau khi xem xét cẩn thận và suy tính kỹ lưỡng, họ loan báo quyết định ngày 19 tháng Giêng năm 1972 sẽ là ngày thành hôn của Bình và Cầm.

Câu Lạc Bộ Sĩ Quan Sóng Thần của TQLC nằm trên một khoảnh đất đẹp tại Sài Gòn. Được thành lập vào giữa thập niên 1960 và tiếp giáp với Sông Sài Gòn, nó chỉ cách sáu ngã tư đường tính từ Dinh Tổng thống và Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ. Mặc dù binh chủng TQLC Việt Nam ít hơn hai phần trăm tổng số quân nhân toàn quốc, nhưng khi ngắm câu lạc bộ, người ta sẽ nghĩ rằng quyền lực và ảnh hưởng chính trị của họ chắc lớn hơn nhiều so với thực trạng của đơn vị đó. Trông bề thế như vậy nhưng câu lạc bộ cũng kiêm cả một nhà kho tiếp vận cho TQLC và họ đã biết sử dụng một cách hiệu quả khoảng đất mà họ được chu cấp.

Được quản trị một cách khôn khéo và canh gác cẩn thận bởi những người được phân công tại đó, các sĩ quan TQLC có quyền tự hào đã có một nơi phục vụ các mặt hết sức chu đáo này, tựa như một một mái ấm lúc họ xa nhà.

Tất cả các sĩ quan trong đại gia đình TQLC đang lớn mạnh và thân thương nếu không vì phải nằm bệnh viện điều trị vết thương chiến trận hay bận ngoài chiến trường chỉ huy binh lính chống kẻ thù Cộng sản đều hiện diện ngày hôm đó để tham dự đám cưới của Lê Bá Bình và Bành Cầm. Nếu bọn Việt Cộng hay quân Bắc Việt nắm được tin này hoặc  có đủ sức hành động, một cuộc tấn công khủng bố vào nơi tiếp tân trong tiệc cưới chắc hẳn sẽ giáng cho miền Nam một đòn chiến lược khủng khiếp.

John Ripley là người Mỹ duy nhất trong đám đông tập họp của bộ chỉ huy TQLC cùng với gia đình và bạn bè. Anh rất ngạc nhiên và hào hứng trong buổi lễ. Ngoại trừ vị Tư lệnh, Trung Tướng Lê Nguyên Khang, đang bị bệnh cúm dạ dày khá nặng hành hạ và là người đã chiếu cố đặc biệt đến vị sĩ quan trẻ đầy triển vọng mà chính ông đã đích thán tuyển dụng anh vào đội ngũ Sói Biển vào năm 1962, tất cả các sĩ quan TQLC Việt Nam mà “Đại úy Ripp-lee” có quen riêng hay từng nghe danh đều có mặt tham dự. Các chiến sĩ hào hùng bao nhiêu thì sự hiện diện của những bà vợ cũng rất nổi bật và được kính nể. Nhiều bà đẹp khôn tả. Nhiều lần John Ripley chỉ muốn quỳ gối trước mặt họ. Ripley và vợ vốn xuất thân từ một gia đình quý tộc của vùng Virginia và chưa đầy một năm trước đó họ đã viếng thăm TQLC Hoàng gia Anh, một đơn vị mà lễ nghi và truyền thống cũng quan trọng không kém khả năng sẵn sàng chiến đấu mà họ rất kiêu hãnh. Do đó buổi đám cưới sẽ mãi mãi được họ trìu mến nhớ lại như là một sự kiện cao quý, đặc biệt và uy nghi.

Đại úy John Ripley chỉ mới trở lại Việt Nam hai tuần trước ngày đám cưới. Kỳ nghỉ phép “phục hồi sức khỏe” vào dịp Giáng Sinh vừa qua cùng với vợ con ở tiểu bang Virginia xa xôi làm cho chuyến trở lại Việt Nam khá khó khăn. Thậm chí còn khó hơn cả lần cùng đi hưởng tuần trăng mật tuyệt vời với cô vợ Moline ở đảo Hawaii năm năm về trước. Giá mà anh có cơ hội trải thêm một mùa Giáng Sinh kỳ diệu với con cái một lần nữa, dù là lần cuối cùng, thì đó sẽ là một điều khiến anh không bao giờ quên.

Đại úy Ripley cũng không bao giờ quên sự kiện vào giữa tháng Mười Hai, một ngày trước khi đi phép “phục hồi sức khoẻ” khi Tiểu đoàn 3 vừa chấm dứt một cuộc hành quân gian nan gần khu phi quân sự ngoại vi Gio Linh. Thiếu tá Bình gọi cố vấn Đại úy Ripley đến. Văn phòng là một chỗ tạm trú dã chiến tầm thường. Thị trấn Gio Linh nằm gần như ở cuối đường phòng tuyến, vào cuối năm 1971 nó cũng xa vời đối với người Mỹ giống như bề tối của mặt trăng trước khi các phi hành gia bay vòng quanh nó. Lúc Ripley trình diện vị chỉ huy mà ông ngày càng tôn trọng và hết lòng ngưỡng mộ, ông chưa hề biết lý do cuộc triệu tập. Đứng trong tư thế nghỉ sau phần chào kính đúng lễ nghi quân cách, Thiếu Tá Bình đã làm người bạn Mỹ của mình ngạc nhiên: “Ripp-lee, tôi rành truyền thống Giáng Sinh của bạn lắm.”

Bằng một sự dè dặt và kín đáo cố hữu, Thiếu tá Bình trao cho vị “cố vấn” của mình -theo tiếng Việt có nghĩa là “người góp ý kiến đáng tin cậy”- một con búp bê công chúa Việt Nam được gói thật đẹp bằng giấy bóng kính gắn nơ đủ màu rất truyền thống và được trang trí lộng lẫy. “Ripp-lee. Tôi muốn tặng cái này cho con gái bạn. Nói là của tôi nhé.” Đại úy Ripley cảm thấy xúc động bởi cái lòng, cái công sức, và sự tiêu phí của Thiếu tá Bình. Để có được cho một món quà như thế phải tốn công sửa soạn vô cùng. Lại còn trao tại một nơi như Gio Linh thay vì chỗ khác thì quả thật Thiếu tá Bình đã chứng tỏ cho thấy niềm trân trọng, tấm lòng ưu ái và sự chấp nhận tình bạn khiến John Ripley cảm động gần như rơi lệ.

Cho đến hôm đám cưới, Lê Bá Bình  đã làm việc chung với John Ripley gần năm tháng trời, một thời gian mà trong thời chiến tưởng chừng như vô tận. Mối liên hệ giữa vị chỉ huy và người cố vấn không thể nào tốt hơn thế. Họ hoàn toàn tâm đắc với nhau vì cùng mang giòng máu chiến binh, giống nhau ở tính xông xáo ngoài trận địa và cùng lo lắng quan tâm đến tinh thần binh lính thuộc cấp. Do đó các mối khác biệt quan trọng về văn hóa đã được giảm thiểu đến mức gần như không còn nghĩa lý gì nữa bởi sự tôn trọng lẫn nhau giữa hai người. Đó cũng chính là mục tiêu được đề ra của mô hình cố vấn và chỉ huy trưởng đơn vị vậy.

Tính đến đầu năm 1972, các cố vấn TQLC Hoa Kỳ đã luân chuyển công vụ phục vụ cho TQLC Việt Nam một thời gian tổng cộng gần 18 năm trời. Từ ngày thành lập vào năm 1954, TQLC Việt Nam đã chiến đấu gần như liên tục. Hầu hết các sĩ quan đều tốt nghiệp từ khóa huấn luyện căn bản tại Quantico. Mặc dù họ không phải là những bản sao y như người anh em Mỹ vì những sự khác biệt hiển nhiên về văn hóa và hạn chế về tiếp liệu, nhưng không một người Mỹ nào khi theo dõi hoạt động của TQLC ngoài chiến trường có thể nghi ngờ về sự xông xáo và tinh thần quyết chiến của họ được.

Bên ngoài của sự sang trọng của Câu Lạc Bộ Sĩ Quan SóngThần TQLC, John Ripley đã từng làm việc với Bình trong những điều kiện tồi tệ nhất. Vốn là một chiến sĩ, bất cứ ai trong số người Mỹ đều có thể xác nhận điều này, Đại úy Ripley có khả năng nhận ra ai cũng là “tay súng” như mình. Thiếu tá Bình đích thực là một tay súng. Không hài lòng với những kinh nghiệm và quan sát của riêng mình, Đại úy Ripley đã nghe lỏm một cuộc trao đổi quan trọng giữa một viên chức Hoa Kỳ cao cấp và một sĩ quan TQLC Việt Nam. Người này đã thốt lên với viên cố vấn rằng Tiểu đoàn 3 của Thiếu tá Bình là một “tiểu đoàn chủ lực,” những người cần đến khi vấn đề thực sự trở thành nghiêm trọng.

Bình là một người hết lòng, thực sự hết lòng, và ông ta đã làm điều đó mà không cần phải phô trương hay làm ra vẻ gì cả. Nếu Jimmy Dean có làm một bài hát cho người Việt Nam, và nếu cần những lời ca giống như những lời mô tả về người thợ mỏ than đá “John cồ” lớn con, trầm lặng  để kể về một người tốt ở Đông Nam Á, thì ông ta có thể đã chọn Bình để làm đề tài rồi. Những thành tích của Bình và của tập thể 700 Sói Biển đã nói dùm cho Jimmy Dean. Những người rành chuyện, những người mà ý kiến đáng được trân trọng nhất đều ca ngợi và cảm phục thành tích chiến đấu của Tiểu đoàn 3. Tất cả những điều đó làm cho Đại úy Ripley thương mến Bình như là một người anh ruột.

Mặc dù khá quen thuộc với văn hóa Việt Nam nhưng Ripley không tự tin rằng ông ta biết hết các lề lối cần thiết và cách cư xử trong một đám cưới Việt Nam. Do đó, hồi đầu ông cố gắng giữ một vị thế thật khiêm nhường. Tuy nhiên để không làm phật lòng và bày tỏ sự tôn trọng thích đáng đối với người bạn và cô dâu mới của anh ta, Đại úy Ripley thay đổi đôi chút thái độ của mình trong suốt buổi chiều còn lại. Anh đứng nhai trệu trạo cùng với những người khác bên bàn thức ăn tự phục vụ đầy ắp các món ăn truyền thống Việt Nam và Tây phương, tham gia chúc rượu, vỗ tay đúng lúc, và cười giòn vào những lúc thích hợp.

Đại úy Ripley thích nhất là những cuộc trò chuyện với các TQLC Việt Nam tại đây. Họ luôn nói tiếng Anh để anh ta tham dự được và không thấy bị bỏ rơi. Và quan trọng nhất để Ripley không cảm thấy bị mất mặt, họ cho anh  tham gia mọi công việc trong ngày đám cưới.

Ngày 19 tháng Giêng năm 1972 là một ngày trọng đại, ít nhất là đối với những người ở Câu Lạc Bộ Sĩ Quan Sóng Thần TQLC. Bình đã “chơi đẹp” hết mình. Đám cưới và tiếp tân đã làm Bình tốn một tài sản nhỏ, tuy nhiên phần lớn được bù lại bằng những quà tặng. Vì những lý do không hoàn toàn hiểu nổi, Đại úy Ripley không được phép cho quà tặng. Nếu làm như vậy sẽ thực sự gây ra sự xúc phạm. Đối với Bình, sự hiện diện của Ripley đã quá đủ rồi. Những người khác, khoảng 500 người gì đó dư sức bù đắp cho bất cứ món quà nào mà vị quý tộcVirginia không được phép cho. Moline có thể bị sốc nhưng, giống như chồng mình, sau cùng cũng hiểu được tại sao.

Ngay cả nhạc cũng thật tuyệt. Không phải là một mà có tới hai ban nhạc chơi cho cuộc gắn bó của Bình và Cầm. Nhờ sự quen biết và nổi tiếng trong giới nhà binh, Bình đã mời được không ai khác hơn là Khánh Ly, một ca sĩ tân nhạc Việt Nam danh tiếng và cũng là một người bạn riêng đến giúp vui cho đám đông ái mộ.

Tuy nhiên, chiến tranh vẫn còn có và không hề thiếu những tên Cộng sản để đánh nốt. Do đó sẽ không có tuần trăng mật sang trọng, lãng mạn đến Bangkok hoặc Hồng Kông, ngay cả Đà Lạt hoặc thậm chí Vũng Tàu cũng không nốt. Vì tình hình chiến trận và các quy định của TQLC, Thiếu Tá Bình và cô dâu xinh đẹp có được một thời gian ngắn ngủi hạnh phúc bên trong một căn cứ tại Thủ Đức là quý hóa lắm rồi.

Non một tuần lễ sau, Bình đã lên đường trở lại mặt trận chỉ huy Tiểu đoàn 3 như ông ta vẫn từng làm: trên tuyến đầu… với vị cố vấn trung thành của mình bên cạnh.

Rơi xuống vực thẳm

Việt Nam Cộng Hòa
Ngày 29 tháng Ba năm 1972

Ghế ngồi trong toàn bộ khoang tàu của chiếc C-130 Không lực Hoa Kỳ đã được tháo bỏ để dành chỗ tối đa  cho toán tiếp viện hơn 100 chiến sĩ TQLC Việt Nam (và vài con heo nuôi từ trại Thủ Đức nhằm tăng cường chút chất đạm cho các đơn vị đang đóng ở mạn Bắc) trên chuyến bay thường lệ 300 dặm từ Tân Sơn Nhất Sài Gòn đến Phú Bài Huế.  Chiến binh của mọi quân đội trên thế giới đều học được bài học rất sớm là lăn ra ngủ trong mọi tư thế, trong mọi khoảng trống cho phép thành thử hầu hết các TQLC Việt Nam không hề để ý hay tỏ vẻ bị “khớp” bởi sự hiện diện của một TQLC Hoa Kỳ lẻ loi duy nhất cùng chung chuyến bay với họ.

Tuy nhiên trong cái khoang tàu ngột ngạt đông đúc của chiếc C-130 sắp cất cánh, khoảng một chục lính tình nguyện TQLC Việt Nam ngay bên cạnh Trung tá Gerry Turley khá ngạc nhiên bởi sự hiện diện lạ lùng của ông. Trong nền văn hóa Việt Nam đặt nặng khái niệm về sự tôn kính đối với những người có địa vị trong xã hội và nhất là trong quân đội, những người lính này bình thường sẽ không dám lên tiếng một cách trực tiếp hay chạm vào người một thượng cấp như Gerry, lúc này rõ ràng là đang mặc một bộ đồ rằn ri có gắn cấp bậc theo kiểu Việt Nam như họ. Họ cho rằng – rất đúng trong trường hợp này – là cái ông Mỹ không thể hiểu nổi những gì họ nói. Cái tâm lý của họ làm như người Mỹ này không phải là người phàm giống họ. Do đó từng toán nhỏ chung quanh cái người Mỹ lạc lõng bắt đầu bình phẩm về những điểm khác biệt lạ lùng của ông ta đối với họ, chẳng hạn như số lượng lông lá xồm xoàm trên hai cánh tay của Turley.

Giống như trẻ con nhanh chóng chán món đồ chơi mới, niềm vui nhộn chẳng bao lâu lắng đọng để trở về thực tế. Gerry Turley không thể gọi là một người mập và sức cân nặng chỉ thay đổi trong vòng năm cân Anh từ thời còn học trung học tới nay. Nếu cần ông vẫn có thể nhẩy dù ra khỏi máy bay một cách dễ dàng hay chạy bộ gần như mỗi ngày từ ba đến năm dặm, hoặc bơi những chặng thật xa. Theo tiêu chuẩn Hoa Kỳ, ông vẫn là một cái máy tác chiến dẻo dai và dữ dằn. Tuy nhiên khi so sánh với hầu hết người Việt Nam nhất là đám trẻ, toán quân ốm nhom như những bộ xương cách trí chung quanh, Trung tá Turley có thể làm người mẫu “trước kia” cho một cái quảng cáo cách ăn cữ trong một tạp chí Việt Nam. Cũng vì do cái tương đối tròn trĩnh so với đám lính chung quanh, chẳng mấy chốc Turley trở thành cái gối tựa cho cả đám TQLC hơi nhiều hơn ý muốn.

Khi tấm bửng khoang tàu đóng lại và động cơ máy bay quay tít đến mức tối đa để cất cánh, Trung tá Gerry Turley, với tư cách một TQLC Hoa Kỳ và sứ giả thiện chí của đất nước ông đang chấp nhận số phận tạm thời là một đồ vật vô tri vô giác, chợt cảm thấy linh tính báo trước có điều gì bất ổn. Cái cảm giác khó chịu này trước đây đã chỉ đến với ông hai lần trong suốt bốn mươi hai tuổi đời của ông.

Chính cái linh cảm bất thường về một điều gì kỳ lạ sắp xảy ra, một cái giác quan ngoại cảm báo trước một tai họa sắp diễn ra đã cứu sinh mệnh ông hai lần trong đời: lần đầu khi còn là một đứa bé ở Ogallala, Nebraska đã khiến ông từ chối lời rủ rê của bẩy đứa bạn thân mà sau đó đã cùng chết đuối khi đi bơi trong cái hồ của mỏ đá trong vùng. Một lần nữa tại Ðại Hàn khi không có lý do nào khác ngoài cái cảm giác đó, ông đã rút tên ra khỏi danh sách chuyến bay phục hồi sức khỏe đến Nhật Bản mà sau đó máy bay bị rơi chẳng bao lâu sau khi cất cánh làm chết hết tất cả mọi người trên chuyến bay đó.

Vài ngày 29 tháng 3 năm 1972, cái cảm giác xưa đó đã trở lại như một sự phiền toái, một cảm xúc bực bội ứa gan giống như hai lần trước vậy. Ngày 29 tháng 3 năm 1972 không biết tại sao và bằng cách nào Gerry Turley linh cảm thấy chắc chắn là ngay lúc đó ông đang đút đầu vào vực thẳm.

Screen Shot 2015-06-03 at 9.18.31 AM

Chào chị Thu Dung 
 
 …Vâng, xin chị cứ toàn quyền sử dụng bản dịch của chúng tôi bất cứ nơi nào cũng được. Vả lại chúng tôi phải là người cám ơn chị đã bỏ công truyền bá mới đúng.
 
…Cuốn sách đưọc bán trên Amazon:
 
Nhân tiện đây, chúng tôi xin giới thiệu một cuốn sách dịch mới mà anh em vừa hoàn thành. Chúng tôi tin là cuốn sách này dịch khá hơn:)
 
Cuốn truyện này đã được làm thành phim và đang chiếu rộng rãi tại một số tiểu bang Hoa Kỳ:
 
Bản thân tôi mới bay từ Houston về sau khi tham gia tổ chức buổi ra mắt phim và rất vui mừng thông báo với quý vị là weekend vừa qua phim “Ride The Thunder” đã chiếm hạng nhất Average Per Screen, đánh bại San Andreas, Tomorroland, Mad Max v.v… tại rạp Edwards Houston. Họ yêu cầu được chiếu thêm 3 tuần lễ nữa cho hết tháng Sáu. Đó phải nói là nhờ sự ủng hộ quá nhiệt tình của cộng đồng người Việt tại Houston.
 
Thân mến,
Lý Văn Quý
Được sự cho phép của các dịch giả, chúng tôi trân trọng chia sẻ cùng các bạn tác phẩm này. Nếu các bạn muốn share xin đề nguồn. Chân thành cảm ơn.

ĐÀ LẠT

images-4

Đà Lạt buồn ngủ
Đà Lạt chạy nhảy
Đà Lạt khóc
Đà Lạt cười
Đà Lạt uống cà phê
Đà Lạt mặc áo laine
Đà Lạt núi
Đà Lạt rừng
Đà Lạt răng khểnh

Đà Lạt rơi trên trái tim
Trái tim thông nâu
Rơi trên suối
Rơi trên đồi
Rơi trên lá mục
Rơi trên cỏ xanh
Rơi trên tóc em
Rơi trên đường vòng
Rơi trên Domaine De Marie

Mùa đông đắp chăn ngủ
Đà Lạt đắp chăn ngủ
Domaine De Marie đắp chăn ngủ
Em đắp chăn ngủ
Hờ hững
Mỉm cười

Sớm mai cành thông xanh
Mây đậu trên cành thông xanh
Đà Lạt thức dậy trên cửa kính
Domaine De Marie thức dậy trên đồi
Em thức dậy trên giường
Sớm mai thức dậy trên môi em
Hờ hững
Mỉm cười

Em mặc áo laine đến trường
Đà Lạt ngái ngủ trên mi
Domaine De Marie xanh
Tiếng chuông len lõi trong vòm thông
Bonjour Ma Soeur
Bonjour cỏ
Bonjour chim
Bonjour nắng
Bonjour bàn ghế
Bonjour sách vở
Bonjour
Hờ hững
Mỉm cười

Những núi đá hoang vu
Nững rừng thông mềm mại
Đà Lạt vuốt ve em
Đà Lạt vuốt ve trái tim em
Đà Lạt khôn ngoan
Đà Lạt sành sõi

Em hong nắng ven hồ xanh biếc
Em nằm ngủ dưới chân thác kiêu căng
Em dạy học trên đồi Yersin
Em tập trẻ thơ vui chơi ca hát
Ngày chậm rãi rơi
Rơi trên rừng thông
Rơi trên Domaine De Marie

Đà Lạt dỗ dành em quên lãng
Quên lãng xứ sở em lầm than
Quên lãng bạn hữu em nghèo nàn
Quên lãng nhatrang
Quên lãng biển chiều
Quên lãng tình yêu ta
Thiết tha
Mãnh liệt
Rồi một đời người
Sẽ như trái thông rơi
Lạnh lẽo

Đà Lạt dạy bảo em yêu mến
Những thìa
Những đĩa
Những dao
Những áo đầm
Những Ma Soeur thanh khiết

Chào mùng Đà Lạt
Chào mừng Domaine De Marie
Chào mừng thác hung hăng
Chào mừng rừng nham hiểm
Chào mừng chim muông
Chào mừng em đi xa
Những ngày
Những tháng
Những năm
Rụng dần mòn gặp gỡ

Đà Lạt
Đà Lạt buồn bã trong đời ta…

Nguyễn Quốc Thái

GIÁ MÀ EM BIẾT TÔI YÊU…

vuhytrieu

Giá mà em cứ vô tình
Thì tôi đâu phải để mình ngẩn ngơ
Giá mà chỉ chuyện vu vơ
Làm sao tôi thấy trăng mơ nỏn nà
Giá mà đường vắng mưa sa
Theo em tôi hát bài ca đường dài
Giá mà hứng được sương mai
Tặng em dành tắm gót hài dễ thương
Giá như em cứ lạc đường
Để tôi theo nhắc người thương cả đời
Giá như mà có ông trời
Tôi xin được lấy đúng người tôi yêu
Tình yêu sao lại lắm điều
Giá mà em biết tôi yêu… cũng đành!!

VŨ HY TRIỆU

THƠ RÊU.

 

reu

Cây còn xanh lá nhớ
Mùa vừa trôi qua tay
Tình còn vương chút nợ
Biết ai chờ ai đây

Chim xưa về chốn cũ
Mỏi cánh rồi chưa chim
Người xưa về chốn cũ
Buồn không mà lặng im

Những giấc mơ màu trắng
Lạnh lùng như mắt đêm
Bao giờ xanh hy vọng
Cho thơ tràn về tim
Ta còn trong ảo mộng
Biết đâu mà đi tìm …

Thôi thì bay đi nhé
Cánh chim trời mênh mang
Thả nỗi buồn rất nhẹ
Theo gió chiều lang thang

Như là sương là khói
Sớm mai rồi cũng tan
Còn ta cùng đêm hát
Một đời như rêu hoang

RÊU RÊU

Nhân gian tình !

chieuanhnguyen

Hồng trần ai nhuộm mà nên
đò chiều ai thả mà mềm khói sương
ẩn buồn cánh vạc tiêu tương
giữa vô chừng mộng cung đường phiêu phong
mặt hoa ẩn những long đong
gánh đâu tiền kiếp những vòng trả vay
môi mềm nhấp những cơn say
là men ướp của những ngày ban sơ
tình về tình trả người thơ
biết gì song cửa khép hờ đợi ai
Tình dài tình lịm tình phai
chịu rằng đã trả một hai tình sầu
mặt hoa ủ những tình đau
mắt long lanh đợi ngàn câu dịu mềm
mặt hoa thềm cũ im lìm
là vô vàn những đảo điên quay vòng
mặt hoa mặt những lạnh lùng
biết rồi tình vẫn như tình vô ngôn
úp tay trả những thiệt hơn
đã vàng ngọc những mồ chôn ái tình
khắc bia đắp mộ ba sinh
tình đi tình vẫn là tình mênh mông !

CHIÊU ANH NGUYỄN

NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, “Tôi biết chắc chắn phải có một giải pháp tốt đẹp hơn”

nuocmattruocconmua

NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, nguyên tác Anh Ngữ “Tears Before The Rain” là một tập sử liệu về sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam, do Larry Engelmann, Giáo Sư Đại Học San Jose State thực hiện bằng phương pháp phỏng vấn nhiều thành phần: người Mỹ, người Việt, kẻ thắng người bại …Những cuộc phỏng vấn này khởi sự từ 1985, sách xuất bản năm 1990. Bản dịch Việt Ngữ do nhà văn Nguyễn Bá Trạc thực hiện năm 1993, xuất bản năm 1995 tại California.

JIM KEAN
(Thiếu tá Thủy quân Lục Chiến)
“Tôi biết chắc chắn phải có một giải pháp tốt đẹp hơn”

Tôi đã học ở trường Chiến Tranh Thủy Bộ (AWS), một phần trong chương trình huấn luyện trung cấp của tôi. Trước đây, lúc tôi đang dạy ở trường Huấn Luyện căn bản dành cho các sĩ quan Thủy Quân Lục Chiến, thì có lệnh gọi đi học. Oliver North cũng đã dạy ở trường Huấn Luyện căn bản này và cũng đến thụ huấn tại AWS một lúc với tôi.

Khi mãn khóa vào mùa Hè năm 1973, tôi được sử dụng ngay vì tôi có học tiếng Tàu, và cũng có bằng Á Châu Học tại Đại học Berkeley. Bộ Tư Lệnh Thủy Quân Lục Chiến điện thoại cho tôi biết: “Còn trống chỗ tại một đơn vị ở Hồng Kông”. Họ hỏi: “Bạn có khoái đi Hồng Kông chăng?” Tôi đáp; “Bắt tôi bơi sang bên ấy, tôi cũng không từ chối”.

Đây là chuyện đi được phép mang theo gia đình, một cơ hội hiếm hoi cho tôi đưa gia đình theo ra hải ngoại. Trong truyền thống Thủy quân Lục chiến, người ta không cho mang gia đình theo. Thế là tôi trở thành sĩ quan Thường vụ của Đại đội C, Tiểu đoàn Phòng vệ Thủy Quân Lục Chiến tại Hồng Kông. Sĩ quan chỉ huy, Thiếu tá Don Evans sẽ mãn phiên trong một năm. Như thế tôi sẽ có cơ hội kế nhiệm ông. Chẳng bao lâu, tôi thăng Thiếu tá, đủ tư cách chỉ huy đơn vị.

Lúc ấy nhiệm vụ của tôi bao gồm việc bảo vệ an ninh chạy suốt từ Ấn Độ đến Bắc Kinh, Tokyo xuống đến Wellington. Cả thảy có hai mươi ba tòa Đại sứ và tòa Lãnh sự Mỹ khác nhau trong vùng mà Thủy Quân Lục Chiến phải phụ trách bảo vệ.
Trong năm đầu tiên, tôi chia các chuyến đi với các sĩ quan chỉ huy, nhờ thế tôi có kinh nghiệm để sau này phụ trách Phòng Chỉ Huy. Đến lúc trở thành Sĩ quan chỉ huy đơn vị, tôi đến mỗi tòa Đại sứ hoặc tòa Lãnh sự theo lịch trình bình thường, cứ mỗi nơi sáu tháng một lần. Cũng có những chuyến đi bất thường để giải quyết các vấn đề khẩn cấp. Lính Thủy Quân Lục Chiến gặp trục trặc, thường là chuyện đàn bà gái gấm lôi thôi, là tôi cũng phải đến giải quyết cho bọn nhỏ.
Kể ra những chuyến du lịch và những kinh nghiệm ấy cũng đã đem lại cho tôi một nhãn quan rộng rãi hơn để biết những gì thực sự xảy ra ở Á Châu. Nhờ thế tôi biết được cảm giác của người Ấn Độ, hiểu được những người Nhật Bản hay người Đại Hàn suy nghĩ thế nào.

Khi đến nhiệm sở, vì thủ tục an ninh cá nhân, tôi phải nói chuyện với những sĩ quan chính trị vụ, các nhân viên Trung Ương Tình báo, các viên chức Bộ Ngoại Giao. Những cuộc gặp gỡ ấy là một học hỏi thích thú. Từ đấy tôi cũng trở nên tinh tế hơn về vấn đề Việt Nam.

Thế rồi biến cố Việt Nam xảy ra. Thật đột ngột. Tôi biết thiếu gì người có học thức cho rằng chuyện ấy cuối cùng vẫn phải xảy ra, nhưng đối với tôi nó có vẻ đột ngột quá. Đầu tiên là vụ Bắc Việt tấn công Ban Mê Thuột vào tháng Ba, 1975. Rồi cuộc triệt thoái Cao nguyên của quân đội Nam Việt Nam. Sau đó là cả một cơn đại hồng thủy. Một ngọn sóng triều tràn ngập quân đội và chiến xa Bắc Việt. Lính miền Nam rút khỏi Cao nguyên đúng lúc lính miền Bắc nỗ lực tiến vào. Chợt một cái tất cả tan nát từng mảnh vụn.

Khi người ta bắt đầu tuôn chạy, mọi người cứ như thế ào lên chạy. Các đơn vị tan tã. Những người quyết định chiến đấu đến chết thì đã chết dưới lửa đạn, hoặc cũng bị cô lập mà thảm bại. Một số kéo dài việc chiến đấu lâu hơn, cuối cùng cũng thất bại thôi.

Bấy giờ nếu ông có dịp du lịch Đông Nam Á, ông sẽ thấy nhiều điều đáng tò mò. Tôi sẽ cho một thí dụ về nước Lào chẳng hạn. Trước khi mất Cam Pu Chia và Việt Nam, Lào đã được cả đôi bên chiếm đóng. Tại thủ đô Lào, quân Pathet Lào và quân chính phủ cứ thản nhiên đi ngược chiều nhau trên đường phố. Nhưng khi tình hình Việt Nam và Cam Pu Chia bắt đầu lộn xộn, sự căng thẳng ở Lào gia tăng. Những vụ đối đầu dần dà xảy ra. Quân Pathet Lào ở Vạn Tượng được từ từ thay thế từng người một bằng lính chính quy thứ dữ của Bắc Việt mặc quân phục Pathet Lào. Lực lượng Pathet Lào nguyên chỉ là lính du kích, làm gì có quân lực nặng? Thế rồi, đùng một cái, người ta chứng kiến đầy những binh sĩ chính quy có kỷ luật, có huấn luyện kỹ càng, người ta đương nhiên phải biết tác giả những vụ ấy là ai.

Cam Pu Chia tan vỡ.

Bấy giờ vào mùa Xuân năm 1975 tôi đang ở Hoa Thịnh Đốn. Tôi về dự một buổi hội nghị thì nhận tin từ Bộ Tư Lệnh Tiểu đoàn Phòng Vệ Thủy Quân Lục Chiến cho biết: “Đã có phiền phức xảy ra. Có lẽ chúng ta sẽ phải di tản khỏi Nam Vang.” Khi nghe Chỉ Huy Trưởng Tiểu Đoàn cho biết thế, tôi nói: “Nếu ông cho phép, tôi cuốn gói về ngay”. Tôi bèn trở về Bangkok.

Thực ra, việc di tản Nam Vang, chiến dịch “Eagle Pull” dễ như sơi bánh. Trước hết bởi vì Đại sứ Gunther Dean chính là một viên Tướng Thủy Quân Lục Chiến mặc thường phục. Nhiệm vụ của ông chỉ có việc đưa đi khoảng hai trăm nhân viên then chốt đến một bãi đáp duy nhất, nơi biệt đội đổ bộ của Tiểu đoàn dự trù đáp xuống. Họ mau chóng thiết lập an ninh vòng đai, ném hết mọi người lên trực thăng mà đi. Bố già ra đi với một lá cờ Mỹ được gói ghém cẩn thận. Mọi chuyện giản dị như học trò làm bài tập, Nam Vang nằm trong tầm tay của hạm đội đổ bộ. Biệt đội của Tiểu đoàn nhảy xuống, làm an ninh khu vực xong là rút đi ngay trong một chiến dịch hết sức gọn gàng. Đấy, những gì xảy ra đúng y như thế. Tôi giữ lại Bangkok vài cậu Thủy Quân Lục Chiến trước đó ở Nam Vang, xếp đặt cho các cậu khác cũng từ Nam Vang ra. Xong, tôi quay về Hồng Kông. Tuy nhiên, các biến cố thê thảm khác tiếp tục mở tung. Chuông báo động đang điểm. Tôi theo dõi thấy tình hình gần Đà Nẵng đã khẩn trương. Khi được lệnh của Bộ Chỉ Huy Tiểu đoàn ở Hoa Thịnh Đốn, tôi tức khắc đi Việt Nam ngay.

Tôi quay lại Việt Nam ngày 19 tháng Tư, trong bộ thường phục. Tất cả lính Thủy Quân Lục Chiến làm cho Bộ Ngoại Giao đều phải mặc thường phục lúc không có nhiệm vụ hoặc khi du hành.

Bấy giờ thực ra không có náo loạn mà tôi chỉ nghĩ lúc ấy là một tình trạng căng thẳng đáng ngại thôi. Chợt một cái, người ta phủi bụi, moi ra những tư liệu cũ viết từ năm 1973 về “kế hoạch di tản khẩn cấp”. Người ta nhìn mà bảo: “Chúa ôi! Những thứ kế hoạch này chỉ là đống cứt khô. Chúng tôi phải làm gì đây hỡi Trời!” Và vào khoảng thời điểm này Tư lệnh Thái Bình Dương, Đề đốc Noel Gayler bắt đầu cho người vào phụ. Tư lệnh Lữ đoàn Thủy Quân Lục Chiến, Tướng Richard Gayler đến xem xét. Những người bên bộ phận truyền thông của Không quân cũng đến xem xét. Rồi họ đi đến kết luận: Nếu muốn di tản một số lượng đông đảo người ra khỏi đây, người ta phải phối hợp với nhau.

Lúc ấy tôi là Đại đội trưởng Đại đội C thuộc Tiểu đoàn Phòng Vệ Thủy Quân Lục Chiến, cũng là sĩ quan Thủy Quân Lục Chiến khu vực trực thuộc Bộ Ngoại Giao, ở Viễn Đông. Tại Việt Nam, nhiệm vụ tôi là điều động Thủy Quân Lục Chiến phụ trách bảo vệ an ninh các cơ sở của người Mỹ tại Đà Nẵng, Nha Trang, Cần Thơ, Biên Hòa và Saigon. Đó là tất cả phần nhiệm vụ của tôi với Bộ Ngoại Giao. Khi Đà Nẵng và Nha Trang mất, một số lính bảo vệ chạy vào Saigon đã trải qua nhiều gay go, họ được di tản khỏi xứ ngay. Có những người vào Saigon một cách dễ dàng, nhưng trên căn bản, những người từ Đà Nẵng và Nha Trang đều được đưa ra khỏi xứ. Còn những người ở Biên Hòa khi được kéo về, tôi giữ họ lại Saigon.
Hãy nhớ những người lính bảo vệ ấy nói chung đều là Thủy quân Lục Chiến trẻ tuổi. Mà bọn thủy quân trẻ thì rất năng nổ. Những gì đang xảy ra đây có lẽ là chuyện kích thích nhất đời họ. “Nghe ghê nhỉ. Rùng rợn lắm. Nhưng chắc chắn tôi rất khoái ở đây”. Họ có thể nói thế. Tôi không bông lơn đâu. Tôi nghĩ chuyện ấy tuyệt đối đúng như thế. Nhưng sau khi mọi việc đã xong, sẽ có nhiều phản ứng khá mãnh liệt xảy ra. Bọn nhỏ nhiều tên đã phải trải qua những kinh nghiệm khó tin. Cuối cùng những kinh nghiệm ấy đã để lại nhiều vết sẹo rất sâu trong đời họ, nhưng chúng ta chỉ thấy khi mọi việc xảy ra rồi. Còn lúc ấy, chỉ là những chuyện kích thích và căng thẳng mà họ vẫn kiểm soát được. Và Thượng đế mới biết tất cả những gì họ đã phải kinh qua, phải chứng kiến: những đứa bé, những trẻ sơ sinh bị nghiền nát, những con người giết chóc lẫn nhau, dầy đạp lên nhau trong cơn hoảng hốt, tất cả những chuyện như thế đấy.

Tôi là người chỉ huy, nhưng tôi chắc không thể nào lường trước được tất cả những trạng huống xảy ra cho họ. Cụ thể là những thảm kịch của đám lính trẻ phải bỏ lại người yêu, bỏ lại các bạn thân tình mà sẽ chẳng bao giờ hy vọng có ngày còn sống mà gặp lại nhau. Những việc như thế xảy ra luôn. Trừ khi họ đến nói cho tôi biết, còn không thì chẳng thế nào biết được hết. Cũng đôi ba trường hợp, tôi giúp được họ chút đỉnh.

Đôi lúc tôi cho mấy cậu nhỏ ra khỏi bờ tường tòa Đại sứ để tìm các người thân. Điển hình là lúc họ quay về, họ nhoẻn cười, chào mà nói: “Thưa Thiếu tá, em đã cứu được họ rồi. Cám ơn Thiếu Tá”.

Sau đó tôi cũng tìm cách viết cho họ vài tờ giấy ban khen, để họ kiếm cái huy chương đeo ở ngực áo. Nếu họ thực sự có công trạng gì được biết, họ sẽ được những huy chương cao cấp hơn.

Trong quan niệm của tôi, Đại sứ Graham Martin, người đã bị lôi kéo vào công việc ở Saigon, là người đã gắn bó với tất cả những hành động mà ông cảm thấy là tốt nhất cho Hoa Kỳ và cho Việt Nam, đồng minh của chúng ta. Ông thực sự là một thứ chồn già cứng cỏi. Ông rất gắn bó với việc duy trì sự có mặt và duy trì danh dự của người Mỹ trong các cam kết với dân chúng Nam Việt Nam. Ngày hôm nay, trong trí tôi tuyệt đối không nghi ngờ việc đó. Bởi vì ông là một sức mạnh dữ dội, vì ông có một cái tôi bất hủ, nên có lẽ ông đã phạm lỗi trong việc nghĩ rằng với các sức mạnh của cá tính ông và cái sự kiện ông rất cứng cỏi ấy, ông sẽ có thể nhìn thủng vấn đề, dù cho cái ánh sáng lù mù mỗi ngày một tối đi khắp chung quanh ông và ngay tại Hoa Thịnh Đốn kia. Có thể ông đã là đề tài cho người ta phê phán, đả kích vào lúc ấy và ngay cả bây giờ, nhưng xin nhớ cho rằng ông đã là người nắm trách nhiệm. Thực khó cho tôi sau này trong việc ngồi đó mà phê phán ông. Tôi cảm thấy đại sứ Martin đã cố sức giữ cho sự hiện diện của chúng ta ở lại Việt nam càng lâu càng tốt, và có lẽ ông đã không muốn làm những gì vội vàng khinh xuất khi chúng ta rút, ông cố tránh để các tai ương đừng xảy ra. Và nói cho thật công bằng, suốt đến tận năm ngày trước khi chúng ta rút lui, ông đã thành công, bởi vì tất cả đều tương đối trật tự, yên ổn. Nhưng chợt một cái, mọi thứ khốn kiếp trở nên lỏng lẻo. Đã có rất nhiều người thực hiện sẵn các kế hoạch đấy, nhưng làm sao có thể đương đầu chuyện di tản một số lượng người rất lớn lao trong một thời gian ngắn ngủi, với mười bảy sư đoàn địch đang xiết chặt vào? Làm thế nào dự liệu hết những chuyện kẹt đường trong thành phố? Vâng, người ta đã cố gắng hết sức những gì có thể. Họ đã dự liệu kế hoạch cho trực thăng quân đội hoặc trực thăng Air America bốc người từ nóc thượng, nhét người vào những chuyến xe buýt càng đông càng tốt để có thể rút bớt việc nghẽn xe trên đường phố. Nhưng ông cũng hiểu, tôi chắc chắn nếu người ta có tới Hoa Thịnh Đốn vác mấy cuốn cẩm nang phòng vệ dân sự ra xem, thì trong trường hợp bị tấn công nguyên tử, có lẽ người ta cũng chỉ viết mấy chuyện như tài xế xe buýt phải có trách nhiệm chở người ra khỏi thành phố, vân vân.

Đấy, các kế hoạch thường vẫn thiếu phù hợp với thực tế như thế.

Và nhiều kế hoạch cũng đã được viết từ trước bởi những người không thể thấu hiểu hết mọi chuyện có thể xảy ra. Cho nên, chỉ đến khi các cậu bé bự bắt đầu bước vào tỉnh, nhìn thấy tận mắt những gì cần thiết thì kế hoạch thật sự mới được làm ra. Như khi họ bảo cần phải có một số hệ thống máy truyền tin cụ thể nào đó, họ có thể nêu ra đủ thứ vấn đề then chốt mà có lẽ họ phải đối đầu, nhưng thật ra, ngay cả đến mức ấy, cuối cùng cũng chỉ là những dự liệu tạm. Đúng như vậy, ông hiểu không? Người ta đã chất đủ trực thăng lên chiến hạm, đã đưa đủ chiến hạm đến biển Nam Hải, đã có đủ Thủy Quân Lục Chiến, đã có đủ các máy móc truyền tin, nhưng cho đến khi bắt đầu vào việc thì cuối cùng cũng phải giơ tay lên mà la ó và ra thủ hiệu thôi.

Trong thời gian di tản, tôi đã nói chuyện với tướng Carey ở ngoài chiến hạm Blue Ridge qua điện đài của Trưởng toán trực thăng. Mỗi khi chuồn chuồn bay vào, tôi thường chạy đến, người trưởng toán thường trao máy để tôi nóỉ chuyện vối ông tướng ngoài chiến hạm.

Bấy giờ trong suốt thời kỳ dự liệu kế hoạch, người ta đã bàn thảo về việc có hai chuyến CH-6 sẽ bốc người trên sân thượng để dành cho đại sứ và nhóm người cuối cùng. Cách người ta tính toán lúc ấy là cứ hai mươi người một chuồn chuồn. Như thế tức là chúng tôi chỉ tính bốc đi có lẽ từ hai mươi đến bốn mươi người ra từ tòa Đại sứ. Còn tất cả những người khác thuộc Tòa Đại sứ và ở trong thành phố sẽ được chở xe ra Tân Sơn Nhất. Rồi một lúc thuận tiện nào đó, sau khi mọi việc xong xuôi, Đại sứ sẽ ra đi.

Trong những ngày cuối tháng Tư ấy, chúng tôi làm việc 24 giờ mỗi ngày. Tôi dàn xếp với Trưởng xạ thủ, Trung sĩ J.J. Valdez, là phải giữ lính Thủy quân lục chiến không có nhiệm vụ ở lại Tòa Đại sứ chứ không cho về trại nữa. Lính tráng lễ mễ khiêng đồ đạc vật dụng vào ngay Tòa Đại sứ, ngủ trên ghế bố trong cao ốc bên cạnh hồ tắm. Chúng tôi tiên liệu tình thế sẽ xấu hơn.

Ngày một ngày hai, chúng tôi đều phải họp bàn xem phải hành động thế nào trong trường hợp đóng cao ốc, liệu có nên mang người vào trong và để cho những người khác ở ngoài không. Rồi làm thế nào chúng tôi thoát khỏi cao ốc, những chi tiết đại loại như thế. Bây giờ việc giữ an ninh cho văn phòng Tùy viên Quân sự ở Tân Sơn Nhất được phụ trách bởi một số người trong Bộ binh, Không quân và một số người khác – Vâng, trong tuần ấy họ đã cho biết là họ cần thêm người phụ giúp, những người thuộc loại bảo vệ an ninh đã được huấn luyện đàng hoàng. Họ yêu cầu chuyện ấy với Phó Đại sứ Wolf Lehman. Đầu tiên, tôi bảo Valdez đến từ chối không gửi được. Nhưng sau, có vẻ như họ thực sự rất cần người, nên tôi tự mình lên gặp Lehman, trình bày việc ấy không phải là ý kiến tốt. Nhưng Phó Đại sứ Lehman khẳng định phải gửi. Tôi nhớ ông ấy bảo phải đưa 16 Thủy quân Lục chiến đến canh phòng vòng rào Văn phòng Tùy viên Quân sự. Vì thế, tôi điện thoại đến văn phòng, nói chuyện với một Đại tá và một Thiếu tá Thủy quân Lục chiến đã ở ngoài ấy. Tôi bảo họ: “Nếu tôi gửi bọn nhỏ đến, quý vị chăm sóc chúng được chớ? Quý vị chắc chắn hộ là khi trực thăng bay đi thì đừng quên mấy thằng nhỏ nhá! Lỡ có gì bọn này chẳng thể vọt qua tỉnh mà lo cho mấy thằng con đâu. Bọn này phải có dự liệu trước mọi chuyện chu tất vậy thôi”.

Họ nói sẽ lo liệu cho mấy thằng nhỏ tôi gửi đến. Thế là với lệnh của Phó Đại sứ Lehman, tôi gửi đi một Trung sĩ xạ thủ tên Martin và mười lăm Thủy quân Lục chiến trẻ tuổi khác. Chúng tôi chọn đám này vì tương đối họ mới đến đơn vị, họ cũng không thắc mắc gì khi được gửi sang bên ấy. Họ cũng hiểu là có lẽ họ sẽ đi thẳng từ bên ấy. Hạ sĩ Darwin Judge và Hạ sĩ Charles Mc Mahon có mặt trong toán này. Judge và McMahon hai cậu cai mới tinh. Họ mới trình diện, chưa hề bỏ một tuần canh nào tại Tòa Đại sứ, vì thế đó cũng là lý do để xếp họ vào toán đi canh văn phòng Tùy viên Quân sự.

Bấy giờ là sáng 29 tháng Tư, sau bốn giờ sáng một chút, quân đội Bắc Việt di chuyển đến, bắt đầu pháo Tân Sơn Nhất, vài quả rốc kết rơi ngay doanh trại văn phòng Tùy viên Quân sự. Rồi tôi nhận tin có một số thiệt hại xảy ra cho lính Thủy quân Lục chiến. Tôi hãy còn nhớ cú điện thoại ấy. Chúng tôi dùng hệ thống điện thoại thường của Saigon gọi đi gọi lại để lấy tin. Tôi nói chuyện với một sĩ quan Thủy quân Lục chiến, với một Đại tá Bộ binh, rồi với đủ mọi người mà tôi có thể bắt được đường dây- Họ cho biết hai thằng nhỏ của tôi đã bị giết – Judge và Mc Mahon. Chết ngay tức khắc vì một cú bắn trực tiếp. Họ đang ra ngoài kiếm thi thể xem còn lại gì chăng. Chẳng gì sót lại. Một mẩu chân cụt đã cháy, dăm miếng thịt còn rơi vãi. Họ nhét tất cả vào bao. Mấy cái bao được ghi chú rõ rồi bỏ lên xe cứu thương chạy vào bệnh viện Cơ Đốc. Đấy là những thủ tục tiêu chuẩn phải thực hiện trước khi chết. Mọi thứ được thực hiện đúng sách vở. Tin tức sẽ chuyển sang Mỹ, gia đình họ sẽ được thông báo và không có gì lầm lẫn trong các bản báo cáo nữa.

Tôi định gọi cho sĩ quan khác phụ trách, những người chứng kiến nội vụ để yêu cầu giải thích lý do xảy ra, bởi tôi chẳng cách gì có thể rời tòa Đại sứ ra tận nơi xem xét được. Nam Việt Nam đã di chuyển một số máy bay từ phi trường Biên Hòa đến Tân Sơn Nhất. Tất nhiên, những máy bay ấy đã trở thành mục tiêu của Bắc Việt khi họ đến. Sau khi đã dựng dàn pháo ở khu vực Biên Hòa, và đã tiến đến gần như thế, họ bắt đầu bắn vào các máy bay ở Tân Sơn Nhất. Doanh trại Tùy viên Quân Sự nằm ngay trên đường bắn. Chỉ cần một sai chạy nào đó trên đạn đạo, nếu rơi gần là đạn trúng ngay xuống doanh trại Tùy viên Quân sự thôi. Tôi thành thật nghĩ quân Bắc Việt không có ý định bắn Văn phòng Tùy Viên Quân sự. Họ chỉ bắn máy bay Nam Việt nam mà xảy ra chuyện ấy.

Trách nhiệm của tôi là giúp trực thăng hạ cánh. Tôi đã quan sát một vài địa điểm bên ngoài bờ tường Tòa Đại sứ, và đã ghi chú những địa điểm ấy. Còn bên trong sân Tòa Đại sứ, tôi đi đến kết luận là phải hạ bỏ cái cây lớn cản lối thì trực thăng mới xuống được. Nhưng Đại sứ Martin đến nói riêng với tôi là nếu tôi chỉ chạm một ngón tay lên cái cây ấy, thì tôi sẽ có chuyện lôi thôi với ông ngay. Cái cây đã trở thành một biểu tượng. Đã có khối chuyện tiếu lâm về cái cây này, tôi xin nói cho ông biết.

Đã có lần, có người khoanh dây thừng chung quanh gốc cây, họ buộc vào đấy một cái rìu và một tấm bảng nhỏ. Họ đề là: “Bực bội quá hả? Thử bửa một nhát coi!”. Vâng, tôi đã để mắt đến cái cây ấy vì chừng nào nó còn đứng đấy, trực thăng không thể đáp xuống an toàn. Tôi không nhớ đích xác giờ nào người ta quyết định cho chặt. Bấy giờ, sau buổi trưa, có lẽ khoảng trước ba giờ, cuối cùng Martin đồng ý. Ông ta bảo: “Thôi được, làm đi, hạ cái cây xuống!”. Thế là mọi người xúm vào rất mau. Cả bọn gồm an ninh tòa Đại sứ, lính Hải quân Tạo tác, Thủy quân Lục chiến, ngay cả mấy tay nhà báo úc Đại Lợi, Tân Tây Lan cũng xúm vào. Sau khi cái cây khốn nạn được hạ, bưng vác quét dọn xong xuôi, tôi bèn bảo Thủy quân Lục chiến và Hải quân tạo tác chạy ra ngoài kiếm một mớ sơn phát quang. Tôi muốn vẽ một chữ H thật to. Mọi chuyện đã được thực hiện xong trước 5 giờ chiều hôm ấy.

Tôi biết thời gian gấp rút. Nhưng tôi hãy còn cảm thấy bình tĩnh. Tôi trấn an Đại sứ về việc sau rốt chúng ta cũng phải điều chỉnh lại lịch trình của trực thăng từ văn phòng Tùy viên Quân sự sang bốc người bên tòa Đại sứ, vì chẳng thế nào chỉ sử dụng chỗ đậu xe trên nóc thượng mà thôi. Cần phải có trực thăng lớn để chuyển người đi.

Vâng, chỉ một chặp sau khi chuồn chuồn lớn bay vào Tân Sơn Nhất, tôi điện thoại cho Đại tá A.M. Gray, người phụ trách ngoài ấy, để ông biết chúng tôi đang gặp khó khăn trong việc đương đầu với đám đông. Ông đồng ý gửi thêm Thủy quân lục chiến cho tôi. Tôi nghĩ là có chừng một trăm cậu lính trẻ từ Biệt đội đổ bộ 2/4 của Đại tá George Slade được phái đến tăng cường Tòa Đại sứ.

Từ sau vụ pháo đêm 28, phía Nam Việt Nam ban hành lệnh giới nghiêm ban đêm. Một nỗi sợ hãi đang bành trướng, từ từ trở thành hỗn loạn. Người Việt tụ tập phía ngoài Tòa Đại sứ. Tôi bắt đầu lo ngại thực tình. Đến trưa ngày 29, tôi phỏng định có khoảng mười ngàn người bu quanh phía ngoài tòa Đại sứ, và chúng tôi chỉ có chừng 160 lính canh Thủy quân Lục chiến để giữ an ninh khu vực. Không đủ Thủy quân Lục chiến để canh mấy bức tường giữ cho người ta đừng leo vào trong Tòa Đại sứ. Mấy bức tường có vẻ khá chắc chắn, nhưng một khi họ quyết tâm tràn vào, chỉ có Trời mới gạt họ được. Chúng tôi đặt người trên bờ tường để mong bảo đảm là người bên ngoài không nhảy qua, hoặc leo qua được. Ngoài ra, làm sao biết rõ những bên ngoài là ai? Chúng tôi, và nói chung lính Thủy quân lục chiến đều biết những người bên ngoài đơn thuần chỉ là những người Việt Nam muốn đi Mỹ. Nhưng trong đám đó, cũng có những tay phá rối, có thể có cả những đội ám sát, những tên mang theo khí cụ phá hoại, những thứ như thế. Chúng tôi đã nhận được lời báo động từ phía quân đội Nam Việt nam thông qua Trung ương tình báo suốt buổi trưa hôm ấy.

Đại sứ muốn lái chiếc xe của ông ra ngoài cổng để đi vòng về phía tư thất. Ông yêu cầu tôi cho mở cổng (Khúc này đã được một nhóm phóng viên làm tin đứng thu hình hết mọi chuyện). Tôi trả lời: “Vâng, thưa Đại sứ, tôi sẽ cố gắng”. Thế là Trung sĩ xạ thủ Schlager, cùng với vài cậu Thủy quân lục chiến và tôi mở cánh cổng ra. Nhưng chẳng có cách trời trăng gì mà mở cho nổi. Tôi quay lại bảo ông: “Thưa Đại sứ, với tất cả sự kính trọng của tôi, chẳng có qủy thần nào đưa xe ngài ra khỏi đây được. Xin khuyên Ngài trở lên lầu thì hơn”. Đến phút ấy. Đại sứ nổi đoá. Ông bước ra khỏi xe, mặt xám ngoét. Ông đóng sầm cánh cửa lại, bước đi. Tôi bảo Valdez: “Sau vụ này tao tuột xuống binh nhất là cái chắc”. Nhưng trưa hôm đó, Đại sứ Martin đến tìm tôi. Khi thấy tôi, ông đặt tay lên vai mà bảo: “Anh đã làm việc rất đúng đắn”. Ông ta như thế đấy. Bấy giờ người ta đang chịu nhiều áp lực thực khủng khiếp.

Nhưng Trời hành tôi, vì ông ta vẫn lại đi bộ về nhà cùng với đám lính cận vệ của ông. Chúng tôi vội tập họp người đi cửa sau vòng qua Tòa Đại sứ Pháp, ra đường mà đến tư thất ông. Đám Thủy quân Lục chiến vào đến đấy, sử dụng lựu đạn tiêu hủy tất cả mọi thứ còn lại trong cái két sắt. Trong nhà để xe hãy còn chiếc Jeep, chúng tôi nổ máy đưa ông chạy từ tư thất về lại Tòa Đại sứ. Khi ông trở lại, chúng tôi đều biết đã đến lúc ông sắp rời khỏi xứ.

Có một cái cửa hai chiều được dựng ngay trong nhà ăn thuộc khu giải trí, thông sang Tòa Đại sứ Pháp. Tôi giữ kế hoạch nguyên thủy của Đại sứ Martin là sẽ vào trong ấy để nếu có chuyện gì xảy ra, ông sẽ đợi đấy mà trình ủy nhiệm thư. Tôi nghĩ ông đã dự định ở lại, nhưng rồi kế hoạch được thay đổi sau những giờ phút trôi qua.

Suốt buổi trưa, buổi chiều tối hôm ấy, chúng tôi biết có một người chúng tôi cần phải đưa đi nhưng hãy còn kẹt trong đám đông ở phía ngoài. Tuy nhiên, chúng tôi không thể mở cổng được. Cho nên, nếu cần đưa ai vào, chúng tôi cho người leo lên tường, thòng tay xuống kéo lên. Thôi thì nắm cổ áo, nắm tóc, giật lên giật xuống thật là khổ. Bọn Thủy quân Lục chiến kéo người như khiêng thịt. Một tình trạng tuyệt đối hỗn loạn. Suốt buổi trưa hôm ấy tôi đã được nghe nhiều chuyện xảy ra suốt dọc bờ tường. Những chuyện thật kỳ lạ. Nhiều chuyện thật đáng buồn. Một cậu Thủy quân Lục chiến đã được người ta dúi vào tay cả một bao giấy đựng đầy ngọc quý chưa cắt. Hắn trả lại, bao ấy là của một thương gia giàu có người Tàu muốn được đưa cả gia đình ra khỏi nước trước khi quá muộn.

Mấy cánh cổng chúng tôi đã cho xiềng khóa chặt. Chúng tôi đặt Thủy quân Lục chiến đứng canh. Bất cứ trường hợp nào cũng không mở cổng, bởi vì người ta đè vào. Một khi cánh cổng hé ra, nó sẽ bung, người sẽ như nước lũ tuôn, không cách chi chặn được.

Suốt thời gian ấy tôi luôn luôn ý thức cao độ và chính xác tất cả những gì chúng tôi đang làm. Chúng tôi đang tháo chạy. Tất nhiên cũng có nhiều cậu Thủy quân Lục chiến trẻ người non dạ hãy còn nhìn cách khác. Theo cách quan tâm của họ, người Mỹ hãy còn đang tham dự vào cuộc chiến. Thế đấy, có lẽ cũng có khá nhiều người khác cảm thấy như thế, nhưng thật ra, một cách chính thức thì từ 1973, chúng ta đã phủi tay xong xuôi. Bây giờ là lúc chúng ta ra đi thôi. Và nếu phải đi thì có lẽ đây là cách duy nhất để chúng tôi ra đi được. Phải đi với cái cách ấy, hoặc cứ ở lại tái tục cả một trận chiến khốn nạn lần nữa. Rồi rõ rệt quân Bắc Việt đang nhịp chân bước vào. Tôi muốn nói, quỷ thần ạ, họ có đến tất cả 17 Sư đoàn tiến vào Saigon. Mười bảy sư đoàn cả thảy! Nhưng tôi nghĩ, mặc dầu vậy, cái lối quân Bấc Việt kéo đến bao quanh thành phố, là cái lối họ mời chúng tôi ra đi cho. Hiển nhiên họ đã mở một hành lang để trực thăng bay vào bay ra mà không hề có một hành vi thù địch. Họ không muốn lộn xộn gì với người Mỹ. Điều ấy thực rõ rệt. Tuy vậy, hiển nhiên vẫn có một sự kiện nguy hiểm là bất kỳ lúc nào nếu có sự tiếp giáp của những đơn vị nhỏ, chẳng ai có thể kiểm soát hết mọi chuyện cho được. Nếu bất cứ lúc nào họ khai hỏa bắn lính Mỹ, người ta sẽ lại phải chơi toàn bộ một trận mới nữa. Như thế chúng ta cũng phải quay về lại với chiến tranh thôi.

Tất nhiên, đệ thất hạm đội cũng đã có sẵn 9,000 lính Thủy quân Lục chiến liên tục đặt trong tình trạng báo động từ 48 giờ qua. Họ được đặt sẵn trên tàu và được trang bị đủ thứ vũ khí đầy ắp đến tận răng.

Buổi trưa hôm ấy chuồn chuồn gặp khó khi tiến vào bãi đậu. Sự việc không người nào bị thương tích gì quả đã là một bản tuyên dương nghề nghiệp cho những tay đi bay. Họ tỏ ra tuyệt vời. Họ đã bị bắn sẻ bởi những bọn hôi của, những bọn có vũ khí ăn cắp mà chúng tôi gọi là bọn cao bồi. Trong lúc tranh tối tranh sáng người ta có thể nhìn thấy những vạch đạn bắn lên, và những khi như thế tôi gọi cho các phi công trực thăng đang tiến vào mà bảo: “Chúng nó đang bắn bạn” thì họ đáp: “Biết rồi! Biết rồi!”. Vài chiếc trực thăng bị những lỗ đạn, nhưng chả làm gì được. Nếu những bọn cao bồi ở trên những cao ốc bên kia mặt đường tòa Đại sứ, và chúng tôi thấy được tia lửa tóa ra từ khu ấy, thì chúng tôi chỉ có cách gọi cảnh sát Việt Nam lên thử dẹp đám khốn nạn bắn bừa ấy thôi.

Các phi công trực thăng cũng gặp nhiều vấn đề nghiêm trọng. Họ chỉ có khoảng 70 bộ Anh theo chiều thẳng đứng để hạ xuống tòa Đại sứ. Họ phải lượn đến, bay lởn vởn rồi hạ 70 bộ xuống cái lỗ này, và bề rộng không được bao nhiêu. Lỡ mất một cái trực thăng là hỏng hết, tin tôi đi.

Sức chở bao nhiêu là họ phải nhồi người vào trong chiếc chuồn chuồn bấy nhiêu. Sau đó họ phải tìm cách bay thẳng đứng, thay vì theo phương thức “chuyển động tịnh tiến” nghĩa là cho chuồn chuồn bốc khỏi mặt đất rồi liệng về phía trước. Không đủ chỗ làm chuyển động tịnh tiến. Đúng y chang là họ phải bốc thẳng lên khỏi 70 bộ Anh. Tôi còn nhớ rõ một chiếc trực thăng mà tay phóng viên Ken Kashiwahara của hãng ABC đã leo lên. Quỷ thần ạ, cái trực thăng cố bốc mà bốc hết nổi. Họ phải thả bớt người xuống, lại cố bay lên, vẫn không xong. Lại gạt thêm người xuống nữa. Cuối cùng gạt đủ số mới bay lên được. Chúng tôi bảo cha phi công: “Vác bố nó cái trực thăng khặc khừ chó đẻ này cất đi cho được việc!”.

Trong lúc cuộc di tản diễn ra, tôi cũng đã nghe chuyện các tướng lãnh và sĩ quan cao cấp của quân đội Việt nam bỏ chạy. Tuy nhiên, đích mắt tôi không thấy ai. Lính Thủy quân Lục chiến điện thoại bảo tôi họ thấy một người Việt cao cấp nhảy vào chiếc C-141 ở Tân Sơn Nhất, thắt giây lưng lại mà đi. Trong tình trạng rối loạn ấy cũng chẳng có gì bất thường khi chứng kiến những người bỏ hàng ngũ chạy. Nhưng chúng tôi biết nhiệm vụ chúng tôi cũng giống nhiệm vụ của người lính cứu hoả. Chúng tôi phải ở lại cho đến phút chung cuộc cay đắng. Chúng tôi phải ở lại và phải chứng kiến cảnh tượng đầy những người đang trốn trước chúng tôi.

Với bao con người, với những chiếc chuồn chuồn túi bụi bay vào bay ra, lúc ấy thực ồn ào hết sức. Tất nhiên rất mất trật tự. Có lẽ, tôi có thể nói nó kém trật tự so với các phi trường ở New York, nhưng hãy còn trật tự hơn một trận tranh giải túc cầu ở Peru.
Suốt buổi trưa và buổi tối hôm ấy, người ta mặc nhiên xem như tất cả mọi người trong phạm vi tòa Đại sứ sẽ được ra đi, mặc dầu điều ấy không bao giờ được loan báo cả. Tôi không nghĩ là có sự loan báo chính thức nào về chuyện ấy. Nhưng ông biết, bền bỉ như các phi công Thủy quân Lục chiến rồi cũng chẳng bay mãi được. Đôi lúc họ hết xăng. Đôi lúc họ cũng phải nghỉ ngơi, ngủ nghê. Tuy nhiên, chúng tôi cần phải tin rằng tất cả mọi người sẽ được ra đi. Điều tin tưởng ấy làm cho nơi này tương đối êm ả.

Nhưng lúc nào mà chẳng có cái nguy cơ của sự hỗn loạn. Dĩ nhiên, luôn luôn có những kẻ nóng nảy khùng điên. Và mỗi khi trực thăng đến, chúng tôi đều nhét người vào càng nhiều càng tốt, rồi đếm xem số còn lại bao nhiêu. Những người còn lại luôn luôn tỏ ra bồn chồn lo lắng. Nhưng chúng tôi vẫn tiếp tục tập trung vào công việc. Với sự làm việc, chúng tôi đã rút bớt mối nguy cơ hỗn loạn xuống mức tối thiểu.

Công việc tôi lúc ấy là phải lo kiểm soát truyền thông. Tôi có một máy truyền tin xách tay của Thủy quân Lục chiến, nhờ đó có thể liên lạc được với tất cả các Thủy quân Lục chiến khác. Tôi phải lo bãi đậu trên nóc thượng Tòa Đại sứ. Tôi phải hướng dẫn chuồn chuồn ra vào. Các phi công cần định điểm chỗ tôi đứng, để tôi hướng dẫn họ vào. Tôi có thể nhìn tất cả mọi chuyện diễn ra trên nóc thượng và từ trên ấy tôi có thể thấy hết mọi bờ tường. Tôi cần phải đóng vai trung tâm, luôn luôn hiện diện cho mọi người thấy để đôn đốc công việc. Tôi bận bịu như thế suốt đêm ngày cho đến nỗi mắt cá chân sưng phồng, đi không nổi.

Mỗi lần cần chỉ thị của Đại sứ Marrtin, tôi lại phải tự mình chạy kiếm ông già. Có lúc ban đêm, tôi chạy quanh, khi thì leo bực thang, khi thì đi thang máy để kiếm ông già hỏi xem kế hoạch thế nào. Có lúc lên tuốt nóc thượng, đeo máy truyền tin nói chuyện với chiến hạm, rồi lại ba chân bốn cẳng chạy xuống. Lúc nào cũng bận bịu chạy lên chạy xuống như thế. Một lần tôi và Valdez vừa bước vào thang máy thì ông già – Đại sứ Martin – đã đứng trong ấy với Polgar, viên Trưởng nhiệm sở Trung ương Tinh báo. Polgar đã tuyên bố vớ vẩn gì đó, ông già Martin biết được và không bằng lòng. Tôi còn nhớ lúc ấy Martin rõ rệt đang hết sức giận dữ. Martin bảo anh ta: “Nếu tôi còn nghe anh nói bất cứ chuyện gì như thế thì anh sẽ được xuống Nam cực làm việc cho đến mãn đời!”. Suốt lúc ấy Valdez và tôi đã cố thu mình cho họ khỏi trông thấy.

Lúc ấy Martin trông rất mãnh liệt. Nhưng xin nhớ đã bảy mươi tiếng đồng hồ qua hoặc hơn nữa, ông chỉ được nghỉ ngơi rất ít. Và ông cũng không còn là một thanh niên trai tráng.

Đêm buông xuống. Đám người trong sân tòa Đại sứ vẫn đông đầy. Tôi nhận ra rằng cần có đèn, nhưng mấy cột đèn trong tòa Đại sứ không sáng nữa. Vì thế chúng tôi bèn mang những chiếc xe hơi trong Tòa Đại sứ ra sắp thành vòng bán nguyệt. Chúng tôi xem xét lại xăng trong xe, mở máy nổ, cho để đèn sáng. Sau đó chúng tôi gọi phi công trực thăng khi họ bay vào để soát lại cho chắc: “Các bạn có thấy rõ không”. Họ đáp “Thấy”. Nhưng đêm khuya hôm ấy, tình trạng trở nên rất căng. Chúng tôi hiểu bắt buộc phải đặt một giới hạn cho con số người đi. Thế là chúng tôi chạy quanh để đếm người xem ai được đi, ai phải ở lại. Việc ấy thực nhẫn tâm.

Vấn đề luôn luôn có kẽ hở. Chẳng cách nào Martin có thể định được chính xác số người. Tôi nghĩ có lẽ sẽ đưa đi được khỏi tòa Đại sứ 2,500 người là dứt. Nhưng đêm hôm ấy, bất cứ lúc nào số người trong sân tòa Đại sứ cũng có vẻ y như cũ, không hề suy suyển gì.

Trước đấy vào buổi chiều có lúc các chuyến bay đã tạm ngưng, người ta quyết định chuồn chuồn không bay sau 5 giờ. Nhưng rồi lại đổi, người ta quyết định sau trời tối, vẫn cứ bay. Rồi lại phải quyết định: Bay bao nhiêu lâu sau khi trời tối? Sau này, người ta cho tôi biết: Tướng Lou Wilson, người sẽ trở thành Tư lệnh Thủy quân Lục chiến, lúc bấy giờ đang là Tướng chỉ huy Thủy quân Lục chiến thuộc Hạm đội Thái Bình Dương, đã ra lệnh chuồn chuồn tiếp tục bay đến khi nào bốc hết người trong tòa Đại sứ và tại văn phòng Tùy viên Quân sự mới thôi.

Họ tiếp tục bay. Nhưng lại có vụ tạm ngưng lần thứ hai. Lần này là lần chúng tôi được tin đích thân Tổng thống Hiệp chủng Quốc Hoa Kỳ ra lệnh: Chỉ 20 chuyến nữa là phải chấm dứt. Hết.

Và rồi mọi sự đã xảy ra như thế này: Một cậu hạ sĩ quan đứng trên nóc sân thượng với khẩu súng máy đã gọi cho tôi. Hắn bảo: “Chuồn chuồn của Đại sứ đã đến rồi”. Tôi trả lời: “Hãy khoan, cần có thêm chỉ thị đã”.

Chiếc trực thăng đã vào khu vực để đợi Đại sứ Martin và đoàn tùy tùng ra đi. Chiếc trực thăng này được chỉ thị cụ thể là chỉ có nhiệm vụ đón Đại sứ. Ông Đại sứ chưa có mặt trên chỗ đáp. Tôi đến lấy chiếc điện đài của trưởng toán phi hành, gọi thẳng cho tướng Carey. Tướng Carey bảo Tổng thống Hoa Kỳ đã chỉ thị là Đại sứ phải đi ngay bây giờ. “Và những chuyến bay sau đó chỉ được dành cho….” tôi hãy còn nhớ câu nói này, vì lúc đó với tôi, nghe có vẻ thực khôi hài… “Các nhân viên Thủy, Bộ Hoa Kỳ mà thôi”. Tướng Carey lập lại với tôi những khẩu lệnh của thượng cấp như thế. Tôi giải thích với tướng Carey tình trạng bây giờ của tôi như sau: “Lính của tôi đang ở trên bờ tường. Giữa bờ tường và cánh cửa tòa nhà Đại sứ là khoảng bốn trăm người đang đợi di tản…” Tôi không nhớ chính xác từng chữ, nhưng tôi đã nói rất cẩn thận “Tôi mong Ngài hiểu rõ khi rút lính Thủy quân Lục chiến vào tòa nhà Đại sứ, tức là những người ấy sẽ bị bỏ lại”. Tôi muốn chuyện ấy phải được hiểu thật rõ và tôi không muốn trở thành người gánh chịu trách nhiệm về việc bỏ những con người ấy lại. Tôi đã sửa soạn mang họ đi, và tôi hiểu lệnh của ông ta là không bao gồm những con người này. Tôi biết lời điện đàm của tôi đang được phóng thanh trên mấy cái loa tại phòng chiến sự, như thế những nhân vật chỉ huy của chiến hạm U.S.S Blue Ridge đều được nghe thấy rõ. Tướng Carey hiểu thế.

Ông lập lại lệnh một lần nữa: “Tôi muốn anh hiểu rõ: Đây là chỉ thị của Tổng thống Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ”.

Tôi đáp: “Thưa Ngài, vâng”.

Trong lúc Đại sứ đang đợi, tôi cho một cậu hạ sĩ trẻ ôm súng máy đứng canh chiếc trực thăng.

Tôi bảo hắn là tôi không muốn chiếc chuồn chuồn này bay đi cho đến khi nào chuyện này được giải quyết xong. Rồi tôi đến trình với nhóm tùy tùng của Đại sứ biết về các chỉ thị tôi nhận được. Chính đây là lúc mà Ken Moorefield đã nói với ông Đại sứ một câu lịch sử: “Đã đến lúc phải ra đi!”.

Đại sứ Martin nhìn về phía tôi một lát. Ông không nói một lời. Không biểu lộ một xúc cảm nào. Trông ông mệt mỏi. Ông biết giây phút buồn bã này trước sau cũng đến. Chợt nó đến.

Ông lên sân thượng, bước vào chiếc trực thăng, rời Việt Nam. Ông mang theo bên ông lá cờ Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ.

Tôi rời văn phòng, xuống nhà. Đại tá Bộ binh John Madison, tùy viên Ủy Ban Liên Hợp Quân sự bước đến phía tôi. Tôi bảo ông không còn chuyến bay nào cho thường dân nữa, và đã đến giờ phải đi. Lúc ấy vụ cãi cọ xảy ra. Đại tá Madison muốn đưa tất cả các thường dân đi. Tôi bảo ông không còn cách gì. Ông bảo ông từ chối không đi, trừ phi chúng tôi mang hết 400 người ấy đi. Tôi bảo ông là tôi có chỉ thị của tôi. Tôi nói xin cứ ra ngoài tàu rồi giải quyết chuyện này, còn bây giờ là lúc phải đi thôi. Trong lúc đang cãi cọ như thế thì nhân vật số hai của Đại tá Madison bước đến dòm ngó chiếc trực thăng. Ông ta muốn chắc chắn là sẽ có chỗ trên chuyến bay ra. Đại tá Madison trừng trừng nhìn tôi với vẻ mặt mất tinh thần. Ông không biết làm gì nữa. Ông giơ hai tay trên trời, quay lưng bước đi. Trong số 400 người bị bỏ lại sân tòa Đại sứ, có rất nhiều người tốt. Cho đến nay, tôi vẫn còn cảm thấy áy náy về chuyện ấy.

Bên phía khu giải trí, qua bên kia bức tường, cạnh hồ tắm có một quầy rượu. Mấy ông ngoại giao Nam Hàn đã phóc vào trong ấy. Họ uống hơi quá chén một chút. Anh nào anh nấy lăn ra ngủ khò. Khi tỉnh dậy, cuộc di tản sẽ dứt điểm. Cho nên khi hơi men đã hết, chắc chắn một tràng tiếng Cao Ly sẽ được xổ ra, nó sẽ có nghĩa là: “Đ…đ…đù mẹ! Mấy cái trực thăng bỏ mình lại đây mà bay mất tiêu rồi!”

Trong lúc di tản cũng có nhiều người khác uống rượu. Một số rất đông đã nhậu, nhưng không say. Trong tòa nhà Đại sứ, trên tầng ba cũng có một quầy rượu. Rất đông các nhân vật then chốt đã nhậu, mặt đỏ ké. Thế đấy, chỉ trong vài giờ đồng hồ nữa, cuộc đời họ sẽ rã rời. Nói cho thẳng ra, đó là lý do vì sao tôi chỉ thích tiếp xúc trực tiếp với Đại sứ Martin. Tôi biết ít nhất là mặc dầu mệt mỏi, ông vẫn tỉnh táo. Tôi không thích phải nói chuyện với ai ngoài ông, đặc biệt với mấy cha nhậu nhẹt mặt đỏ nhừ.

Đến gần cuối chiến dịch di tản, tôi rất ngạc nhiên khi thấy một người đàn bà trong tòa Đại sứ. Tôi thường gọi cô ta một cách thân mến, với một cái tên: “Hilda, cô vắt sữa”. Bởi vì cô có bộ ngực bự sự, dáng dấp tháo vát, khỏe mạnh. Đấy là một người đàn bà hết xảy. Tôi nghĩ cô ta là thư ký của một tay Trung ương tình báo, loại đàn bà có thể giúp sắp xếp công việc ngăn nắp đâu vào đấy. Thấy lính vất vả, cô xông vào, chẳng cần ai hỏi. Lăng xăng đưa người này cốc cà phê, hỏi người kia xem có cần gì không. Cô dừng lại bên tôi một lần, làm tôi thấy dễ chịu. Bởi vì cô nắm cánh tay tôi một lúc và nói: “Anh làm việc dữ quá, để em lo cho anh một cốc cà phê nhé?” Tôi còn biết trả lời gì nữa ngoài hai tiếng “Cám ơn”.

Sau khi Đại sứ và tùy tùng đã đi, bây giờ là lúc phải lo cho tất cả những người Mỹ khác ra đi. Chúng tôi dàn xếp với nhau là sẽ ra tín hiệu ở bãi đậu xe bằng hỏa châu loại cầm tay. Chúng tôi chuyển khẩu lệnh cho mọi Thủy quân Lục chiến biết khi tín hiệu ban ra, tất cả đều phải bắt đầu lùi về phía cửa, lập thành một hình vòng cung bao ngay trước mặt tòa Đại sứ. Dĩ nhiên tất cả đều hiểu khi lùi khỏi bức tường là người bên ngoài sẽ tràn vào, những người ở trong sân tất sẽ rối ren hoảng hốt. Hẳn việc ấy sẽ xảy ra vì đám người này bị bỏ lại, trái với lời chúng tôi đã suốt đêm hứa hẹn với họ.

Thế là tôi cho người đi vào trong những cánh cửa lớn bằng gỗ lim của tòa Đại sứ. Tôi bảo họ khi Thủy quân Lục chiến lùi về phía họ, họ phải để mắt canh chừng đám đông. Những người đứng trong cửa phải tiếp tay lôi lính ngay vào cho nhanh. Tôi sắp đặt để cho càng ít phải sử dụng bạo lực càng tốt.

Mọi sự xảy ra y như vậy. Hỏa châu đốt lên, cuộc rút lui bắt đầu. Lúc đó chả khác địa ngục vỡ tung. Đám đông bên ngoài biết chuyện đang xảy đến, họ ý thức được họ đang bị Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ bỏ rơi, họ ào vào một cách hỗn loạn khủng khiếp.

Một sĩ quan Hải quân tạo tác tiến lên. Anh mặc thường phục, người ngợm đồ sộ vạm vỡ. Anh vớ được cái đòn gỗ khổng lồ thường để cài cánh cổng. Anh ta khiêng lên, quài tay quay cái đòn, xoay mòng mòng. Ai vô phúc trúng một đòn là đo đất tức khắc. Đám đông lui trở lại. Anh ta cứ thế múa tới múa lui. Lúc ấy ở phía trong, người ta nắm lấy bọn Thủy quân Lục chiến mà kéo tuột vào rồi.

Tôi đưa tất cả mọi người vào trong nhà được an toàn thì bắt đầu kéo cái cửa sắt sau cánh cửa gỗ lim lại. Cửa này được điều khiển bằng máy, nhưng nó tắc nghẽn lưng chừng. Chúng tôi bèn bảo “kệ mẹ nó” rồi chạy lại phía thang máy.
Chúng tôi bấm hai cái thang máy lên đến từng sáu thì cắt điện để không ai sử dụng thang máy được nữa. Rồi chúng tôi ùa chạy vào cầu thang lên từng sáu. Tại từng hai và từng bốn, có hai cánh cửa lưới. Chúng tôi đóng, khóa chặt lại. Tổng cộng chúng tôi có khoảng sáu mươi người, di chuyển lên từng sáu với một tác phong trật tự tương đối. Chúng tôi tiến qua cái hành lang dài từ từng sáu để lên từng thượng. Từ từng thượng lên chỗ đậu trực thăng, có một cái thang sắt ngắn. Chúng tôi cho đi cứ hai mươi người mỗi chuyến đến khi chỉ còn mười một người cuối cùng.

Cho đến khi chỉ còn lại mười một người ở sân thượng, chúng tôi chính là lực lượng cuối cùng của Hoa Kỳ tại Việt Nam.

Tất cả bây giờ đều mệt lử. Đã mười hai giờ đồng hồ không ngủ. Vài cậu nhỏ ngồi bệt xuống, mắt nhìn mông vào quãng không. Nỗi băn khoăn lo lắng đến cao độ. Những người khác còn lại trong tòa Đại sứ đang kinh hoảng, tuyệt đối kinh hoảng. Họ đều muốn ra khỏi nước. Muốn thế, họ phải leo lên mái nhà, mà chúng tôi lại không cho phép làm chuyện ấy. Với những người còn lại trong tòa nhà, chúng tôi không có thể phân biệt được ai với ai, và những phiền phức có thể đến bất cứ lúc nào.

Hãy nhớ đây là những cậu Thủy quân Lục chiến ít tuổi. Ngày này, giờ này họ sẽ không bao giờ quên được. Nhìn họ, tôi nghĩ: “Trời ạ, mình đến cái chỗ lộn xộn này từ năm 1966. Còn họ, thực khó cho họ hiểu được tất cả những điều này có nghiã gì. Một mai đây, chẳng biết họ sẽ nghĩ sao về chuyện này?”

Chiếc trực thăng không đến đón chúng tôi ngay. Và thời gian trôi qua. Vài cậu nhỏ dựa lưng nghỉ. Rồi trôi vào giấc ngủ.

Ánh sáng bình minh ló dạng .

Chúng tôi đều tò mò muốn nhìn những gì đang xảy ra ở Saigon, trong ánh sáng của buổi sớm mai chúng tôi nhìn ra thành phố, chúng tôi có thể thấy bằng chứng của những gì xảy ra ban đêm. Hiển nhiên đã có những vụ cướp bóc hôi của, rác rưởi vương vãi. Tại một vài khu, lửa đang cháy, khói dâng cuồn cuộn. Những người không ngủ trong bọn tôi, nằm trên nóc thượng ngắm nhìn. Tôi không bao giờ được xác nhận vì chẳng có cách gì xác nhận được, nhưng có một đoàn xe mà tôi đoán là xe của Minh Cồ, tân Tổng thống Nam Việt Nam đã tiến qua ngay cửa Tòa Đại sứ, có xe Cảnh sát Quốc gia hộ tống. Họ rút súng bắn vào lũ hôi của để dẹp đường cho Minh tiến đến dinh Tổng thống. Tôi nghĩ ông ta đang tiến đến để sửa soạn chào đón quân đội Bắc Việt và đầu hàng.

Nằm trên ấy nhìn, chúng tôi cảm thấy khích động. Chúng tôi đang nhìn lịch sử tạo dựng, và cùng một lúc, chính chúng tôi cũng là một phần của lịch sử. Tôi còn nhớ việc ấy đã tạo nên một ấn tượng đặc biệt trong trí tôi, bởi vì chúng tôi chính là những người Mỹ cuối cùng được thấy, được nhìn.

Chúng tôi có thể nhìn thấy ánh lửa loé lên từ họng súng của quân Bắc Việt ở phía xa. Chúng tôi đã có cơ hội để suy tưởng suốt hai tiếng đồng hồ. Đó là những gì mà tất cả mười một con người chúng tôi đã làm: suy tưởng. Chúng tôi nhìn ngược lại các chuyện cũ, chúng tôi nói về những kinh nghiệm đã trải qua, và chúng tôi nghĩ “Trời ạ, thực lộn xộn”. Chúng tôi nhận thức được chính mười một con người chúng tôi đây gần như đã đại diện cho việc can thiệp quân sự cuối cùng của Hoa Kỳ tại Việt Nam.

Vào lúc đó, có người đã bày tỏ nhiều hối tiếc và cay đắng. Nhưng đây là những người khác, không phải tôi. Đấy không phải là cảm giác của tôi, bởi lẽ cái tôi cảm thấy là cuối cùng đây chính là chuyện tốt nhất. Và tôi nghĩ cũng đáng buồn. Tôi nhớ lại cái cảm giác thực rất giống cảm giác của một người lính cứu hoả sau khi đã suốt đêm cật lực chiến đấu chống ngọn lửa bên tiếng còi báo động liên hồi, để sau đó chấm dứt với một nỗi sầu muộn sâu xa. Để thấy sung sướng vô cùng vì ngọn lửa đã tắt. Nhưng nhìn đống tro tàn, vẫn không thể tránh được cái buồn bã u hoài.

Sau khi nói chuyện trầm lặng với nhau một lúc, tôi đã làm một chuyện đáng buồn cười. Trên sân thượng, có một đĩa ăng ten bắt qua vệ tinh. Trong cơn bực bội, tôi bước lại gần. Rút khẩu súng lục 45 ra, tôi trút hết đạn bắn vào cái đĩa khốn kiếp ấy.

Để ngăn người từ dưới nhà tìm cách đi lên, chúng tôi thả hơi cay xuống cầu thang. Chúng tôi sợ họ ùa lên, níu lấy chúng tôi mà tuôn vào trực thăng, nếu họ lên được.

Lúc ấy Steven Bauer đã làm một công việc quan trọng. Hắn là một hạ sĩ. Người nhỏ thó, hắn chui lọt vào cái lỗ cuối hành lang. Ở mỗi cuối hành lang có một lối thoát phòng hỏa, một trong những lối đó có cái cửa sổ bằng kính, bên trong là kim khí. Người ta đã đập cái cửa này để cố chui vào. Tay ôm vài trái lựu đạn cay, Bauer ngồi canh trong cái lỗ ấy. Hễ có ai thò vào, hắn lại thả một quả cay để xua ra. Chính hắn đã thủ vai hàng rào cuối cùng cho bọn chúng tôi.

Nhưng rồi có một cha ở phía ngoài tòa nhà cũng đã cố tìm cách leo lên mái với chúng tôi. Chúng tôi bèn giáng cho gã một nhát vào đầu. Cú ấy đủ cho gã tởn. Gã leo đã gần đến từng thượng thì mới có người thấy. Họ bèn ném cái gì đó không rõ, cú ấy đánh bật hắn té rụng xuống bên cạnh tòa nhà.

Suốt cuối đêm ấy cho đến khi mặt trời mọc, không ai biết chúng tôi đâu, trừ những người chạy theo. Những người này vào được cầu thang, quanh quẩn bên mấy chân thang. Những người này chắc chắn không được thoải mái, vì họ phải kiếm cho ra khăn ướt để bụm mặt mà thở. Trong hành lang sặc sụa hơi cay.

Tôi biết rất rõ chúng tôi còn lại bao nhiêu vũ khí đạn dược để ngộ lỡ quân Bắc Việt bắt đầu tấn công. Nhưng những ý nghĩ chỉ chạy thoáng qua đầu. Tôi không mất thì giờ nghĩ nhiều về việc ấy, vì lúc nào cũng phải bận rộn đối đầu với những việc xảy ra trước mắt.

Nhưng tôi muốn nhấn mạnh một sự kiện mà tôi cảm thấy rõ ràng: Quân đội Bắc Việt đã làm tất cả những gì có thể để cho phép chúng tôi đi quách khỏi nơi này trong vòng yên ổn trật tự. Và mối quan tâm của tôi bấy giờ không phải là lo bị quân Bắc Việt bắn, mà là lo phải chiến đấu để khỏi bị cầm tù. Mối quan tâm đó là: Trên phương diện kỹ thuật, đây chẳng là còn cuộc chiến tranh của chúng tôi nữa.

Chúng tôi ngồi chụm với nhau. Hình như Bobby Frain thì phải, moi ra một chai rượu. Chúng tôi chuyền tay nhau. Chúng tôi lặng lẽ chờ trực thăng đến.

Đúng trước 8 giờ sáng, tôi thấy chiếc trực thăng bay vào. Tôi nhận thấy nó tiến đến từ xa. Một chiếc CH 46 không hộ tống, từ phía đông mặt trời mọc, nó tiến đến đón chúng tôi. Tôi thấy nó trước khi nghe thấy tiếng. Tôi bảo mọi người sẵn sàng.

Cuối cùng, chiếc trực thăng đáp xuống, đúng vào lúc 7 giờ 58 hoặc 7 giờ 59 phút sáng. Chúng tôi lên trực thăng. Tôi nghĩ, một vài người trong bọn ý thức được rằng đây là giây phút cuối cùng. Giây phút của lịch sử. Chúng tôi chính là những người lính Mỹ cuối cùng rời khỏi Việt Nam. Thoạt tiên, mọi người đều chạy đến trực thăng. Rồi trên sân thượng chỉ còn lại ba người: Bauer, Valdez và tôi. Bauer ngồi xa nhất nên anh ta là người sau chót đến bên trực thăng. Nhưng theo tôi nhớ, Valdez đã dừng lại ở đuôi trực thăng để bấm một tấm ảnh. Thật ra, tôi nhớ hắn đã bấm đến 2 tấm ảnh rất nhanh khi mọi người leo vào trực thăng. Tất cả chúng tôi đều mừng rơn vì được đón đi.

Trong lúc phi công chuẩn bị bốc, chúng tôi bị một luồng hơi lựu đạn cay. Anh phi công cũng bị dính. Bọn tôi không ai có mặt nạ chống hơi độc. Luồng hơi cay thoảng lên từ cầu thang, lọt vào trực thăng. Nhưng bây giờ anh phi công cũng bất kể. Chỉ mong đi nhanh cho thoát khỏi chỗ ấy thôi.

Khi vào trực thăng, ai nấy đều im lặng, mừng được ra đi. Không ai mở miệng nói gì suốt một lúc. Nhưng rồi cậu Trung sĩ Bobby Frain tìm được một cái máy truyền tin PRC-25 lăn trên sàn. Hắn lượm cái máy làm bộ vặn máy. Hắn diễn xuất hệt như đang nói chuyện với người trong máy. Cả bọn chúng tôi ngồi yên, ai nấy đều nghĩ “Mẹ kiếp, đi mau ra khỏi đây cho rồi”. Nhưng Bobby cất tiếng la lên. Tiếng hắn át tiếng cánh quạt bắt đầu kêu phành phạch: “Thưa Thiếu tá! Họ hỏi muốn ăn thứ bánh ‘pizza’ gì khi đến Manila?”

Tôi tin đó chính là câu nói cuối cùng của một Thủy quân Lục chiến Mỹ trước khi chúng ta vĩnh viễn rời khỏi Việt Nam. Chúng tôi bật cười với lời nói đùa của Bobby. Lời nói đùa này phá vỡ sự căng thẳng. Chúng tôi cười vì câu nói, nhưng cũng cười vì chúng tôi đều mừng rỡ là cuối cùng chúng tôi sẽ được về với gia đình.

Sự thực lúc ấy phi hành đoàn chỉ lấy đủ xăng để bay khỏi Saigon. Họ không đổ thêm. Trên lúc bay ra chiến hạm Okinawa, có đèn báo động trên cả hai bình xăng. Tôi khá lo. Tôi thấy chiếc đèn thứ nhất bật lên. Cả phi công chính và phi công phụ cũng đều để ý. Rồi chiếc đèn thứ hai bật lên. Tôi nói “Lạy Chúa, cầu cho cái trực thăng đừng hết xăng trước khi đến nơi đến chốn!”.

Nhưng rồi hạm đội hiện ra. Sáng hôm ấy là một buổi sáng trong trẻo. Khi vừa thấy mấy chiếc chiến hạm, chúng tôi thấy ngay các thứ còn sót lại của những chiếc trực thăng trên mặt nước chung quanh tầu. Mọi thứ lộn xộn như cái sở thú. Trên sàn bay của chiến hạm Okinawa người ta xếp thành hàng để làm thủ tục. Vũ khí bị tước lấy, ném đi.

Tôi dám cá rằng mười mấy Thủy quân Lục chiến của nhóm tôi ít nhất có đến 36 món vũ khí. Khi lên tàu, vài cậu đeo súng đầy mình chẳng khác tướng cướp Pancho Villa. Cá nhân tôi có một khẩu Colt 45, một khẩu súng lục tự động 9 ly, và một M-16. Mấy cậu nhỏ khác có cả lô vũ khí đã nhặt trên mái tòa Đại sứ để giữ làm kỷ niệm. Vài khẩu AR-15 báng gấp. Một khẩu súng lục .32 mạ kền. Vài khẩu súng lục Tiệp Khắc. Đủ các thứ vũ khí mà người ta có thể tưởng tượng ra. Ông biết là ngay khi chúng tôi bước lên tàu Okinawa họ tước hết vũ khí ném qua thành tàu. Cũng hơi buồn, nhưng bọn Thủy quân Lục chiến vẫn thường gặp cảnh này luôn. Tôi đoán khi nhặt nhạnh vũ khí, chúng tôi quên bẵng chuyện này. Tước vũ khí tất cả mọi người trên tàu là biện pháp duy nhất để tránh tai nạn vậy.

Chúng tôi thấy người Việt lái trực thăng ra đang cố hạ xuống sàn chiến hạm. Nhưng tôi quá mệt để đứng nhìn cảnh này. Làm thủ tục xong, tôi chui ngay vào túi ngủ, đánh một giấc sáu tiếng đồng hồ. Thế rồi họ thức tôi dậy, bảo tướng Carey muốn gặp tôi bên chiến hạm Blue Ridge ngay tức khắc. Tôi nhảy vào trực thăng. Họ đưa tôi bay qua tàu bên kia. Nhưng vào lúc trực thăng chúng tôi sắp hạ thì đã có một chiếc khác đang cố hạ xuống mũi tàu. Đừng quên đây không phải là Hàng không Mẫu hạm. Chiếc trực thăng Việt Nam ấy đã đụng gẫy một số cột ăng ten, suýt gây thiệt hại nghiêm trọng. Nhưng họ đã tuyệt vọng cố bay ra khỏi xứ. Họ bay vòng vòng khắp trên không trung.

Sau khi tất cả các biến cố trôi qua, tôi vẫn không dám chắc là sẽ được tưởng thưởng hay sẽ bị một cú đá đít đích đáng vì việc đã sử dụng lựu đạn cay. Sau cùng, họ cho tôi một huy chương ngôi sao đồng.

Khi trở lại Hồng Kông, tôi và Bob Lewis, sĩ quan chấp hành của tôi ngồi xuống. Chúng tôi làm sẵn bốn mươi hai bằng tưởng lục cho tất cả những thuộc cấp khắp từ Nam Vang, Nha Trang, Đà Nẵng, Cần Thơ, Biên Hòa và Saigon. Sau khi nhận đủ các báo cáo công trạng, ai làm chuyện gì, chuyện gì xảy ra, tôi ngồi xuống nghiền ngẫm. Tôi biết tác dụng của việc tưởng thưởng, tôi rất quan tâm đến việc làm sao cho mỗi cậu nhỏ đều được để ý đến bằng cách này hay cách khác. Vì thế tôi đã làm hết sức mình. Đôi trường hợp tôi được báo cáo đầy đủ. Đôi trường hợp, tôi phải thêu dệt ra. Cho nên lời khen thưởng nào nghe cũng từa tựa như nhau. Nhưng hiển nhiên, tôi biết họ đã là một phần của hành động, họ đã tham dự. Sau đó tôi đem các bảng tưởng lục đến cho Tổng Lãnh sự tại Hồng Kông ký, như thế các nhân vật của Bộ Ngoại Giao phải tiến cử. Và như thế Bộ Tư Lệnh Thủy quân Lục chiến chắc chắn sẽ không thể gạt đi được.

Kết quả, tất cả mọi người đều được tưởng thưởng. Đa số tuy không được thưởng đúng mức, nhưng cũng có người được huy chương Quân công của Hải quân, hoặc huy chương Tuyên dương của Hải quân. Sau này, tôi ngạc nhiên khi tìm ra nhiều người trong số vẫn còn ở lại binh chủng Thủy quân Lục chiến. Steven Bauer chẳng hạn. Lần cuối cùng tôi gặp, anh ta vẫn ở trong binh chủng, lúc ấy đã trở thành Trung sĩ xạ thủ. Tất cả những cậu lính này đều có một chút gì giống như các cậu lính của Napoléon. Napoléon đã lưa ý đến một sự kiện là người ta thường làm những hành vi can đảm chỉ vì muốn được một miếng huy chương. Tôi thực ngạc nhiên khi gặp những cậu lính vẫn còn tiếp tục ở lại Thủy quân Lục chiến sau biến cố ấy.

Chúng tôi đã cụng ly uống đến say mềm ở Manila. Mười một người chúng tôi. Sau đó chúng tôi không bao giờ còn có dịp tụ họp lại với nhau nữa.

Phần tôi, tôi ở binh chủng Thủy quân Lục chiến cho đến tháng Bảy năm 1983. Nhưng thực ra, tôi vẫn luôn luôn là một người lính chiến. Tôi nghĩ cuộc di tản ở Saigon đã trở thành những gì đáng nhớ nhất trong đời binh nghiệp khá dài của tôi ở binh chủng Thủy quân Lục chiến.

Vào thời gian ấy tôi đã nhạy cảm với những gì đã xảy ra với tất cả các ý nghĩa của nó. Đây là lần đầu tiên Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ tháo chạy và đã phải thừa nhận rằng mình cạn hết năng lực.

Tôi đã viếng Đài Kỷ Niệm các chiến sĩ bỏ mình trong trận chiến Việt Nam. Tôi nghĩ đài này rất đẹp với những cái tên, chỉ những cái tên thôi, khắc trên đá hoa đen. Và tôi cảm thấy khi người ta nhìn vào và đọc một số tên, thì cái đài đó đã đạt được những kết quả mong muốn rồi.

Tôi rời Thủy quân Lục chiến, không tình nguyện đăng thêm.

Nói một cách thẳng thắn, cách tôi tham dự cuộc chiến là chỉ vì bản chất tôi thích liên hệ vào mọi chuyện diễn ra. Đó là việc xảy ra trong một thời điểm của đời tôi, tôi đã rất muốn tham dự vào. Đó là một biến cố hệ trọng. Nó cho tôi dịp chia sẻ kinh nghiệm của cha tôi trong kỳ đệ nhị thế chiến.

Bây giờ thỉnh thoảng tôi vẫn ngừng lại và nghĩ nhớ về Việt Nam. Tôi tưởng như vẫn còn thấy những khuôn mặt, nghe những giọng nói, tiếng động, ngửi thấy những mùi vị xa xưa trở về. Đây đó vẫn tưởng ra những giây phút xưa cũ, những biến cố ngày nào. Nhưng tôi không hề bao giờ bị chấn thương vì kinh nghiệm chiến tranh cả.

Ông biết, khi đọc tin trên báo, khi thấy các hình ảnh là tôi đều cảm thấy như quay cuồng về chốn cũ. Tôi có thể cho ông hàng tá thí dụ về những chuyện như thế. Tôi nhớ hình ảnh những đứa bé đẹp đẽ. Tôi nhớ mùi xăng đốt khét lẹt. Tôi nhớ những buổi đi hành quân tuần tiễu.

Tôi nhớ một chuyện đặc biệt khi chúng tôi hành quân qua làng đã gặp một bà già Việt nam. Một bà già nhỏ thó. Ngón tay cái của bà già mưng mủ, nó bị thối hoại. Người lính quân y bèn rửa ráy sạch sẽ, cắt thịt hư, bôi trụ sinh lên, băng bó cẩn thận ngón tay cho bà già. Khi chúng tôi gặp bà già này thì ngón tay mưng mủ ấy được trét phân bò và bó bằng lá chuối. Người lính quân y có nói được đôi chút tiếng Việt, và qua lời người thông dịch, hắn đã dặn dò bà già phải đi bác sĩ. Bởi vì nếu bà không giữ sạch sẽ, vi trùng thối hoại đã sẵn đấy, bà có thể mất ngón tay, hoặc nếu nó lan rộng thì có thể mất mạng như không.

Đó là cái thông điệp chúng tôi đã chuyển cho bà già. Tuy nhiên chúng tôi không thể giải phẫu ngón tay cho bà trong lúc hành quân. Nhưng chúng tôi nghĩ chúng tôi đã giúp bà khá nhiều, và đã cứu mạng bà rồi.

Ba ngày sau trở lại ngôi làng ấy, bà già vẫy mời chúng tôi uống cà phê. Khi bà mang cà phê đến, chúng tôi thấy bà đã vứt hết bông băng rồi lại trét phân bò, quấn lá chuối lên ngón tay. Bà già nhỏ thó ấy, trông như đã 126 tuổi nhưng có lẽ chỉ ngoại tứ tuần, nếu cứ như thế bà sẽ chết thôi. Chúng tôi sẽ không thay đổi được gì hết. Tôi bị kích động vì những chuyện hiển nhiên như vậy.

Một lần khác nữa chúng tôi đi hành quân qua ruộng lúa, có một chiếc chiến đấu cơ Phantom bay qua. Bay rất thấp. Khi nghe tiếng động cơ chúng tôi ngửng nhìn. Kìa trên bầu trời là một chiếc máy bay tân kỳ trị giá mười triệu đô la đang trưng ra với những người làm ruộng mà chắc rằng họ chẳng thể nào biết gì về nó. Tương tự như một chiếc oanh tạc cơ bay qua hòn đảo New Guinea vào thời đệ nhị thế chiến. Những người dân quê sống trong mấy túp lều, đi cày với mấy con trâu khi ngửng lên thấy chiếc Phantom, làm thế nào họ có thể hiểu đây là cái gì, nó bay đến đây làm gì?! Chuyện ấy không thể hiểu được đối với họ. Tất cả những gì họ hiểu ra được một cách chắc chắn, ấy là nó chỉ làm phiền cho cuộc sống của họ thôi.

Tôi vẫn nhớ đến những con người đã ngửng nhìn chiếc Phantom một lát rồi tiếp tục làm việc. Những nỗi hoài niệm phiền muộn ấy cứ quay về trở đi trở lại mãi.

Tôi xin nói với ông là ký ức rất quan hệ đối với tôi, bởi vì nó chứa đựng nhiều ý nghĩa sâu xa. Mỗi khi mắc kẹt với các câu hỏi như việc can thiệp của Hoa Kỳ ở Trung Mỹ, tôi lại nhớ đến những điều ấy, bởi vì đấy là những kinh nghiệm thực của tôi. Những lúc ấy tôi thường nói: “Chúng ta không thể xuống dưới vùng ấy với những lý tưởng kiểu Mỹ để giải quyết vấn đề của họ, bởi vì chúng ta sẽ không có câu trả lời”. Có lẽ cách tốt nhất là nằm ở nhà, tránh quách những chuyện ấy, ngoại trừ việc cấp viện trợ kinh tế, hoặc hỗ trợ các kế hoạch hoà bình. Chúng ta phải nhớ bất cứ khi nào các điều kiện kinh tế của mỗi xứ đã mâu thuẫn phân chia giữa những “cái có” và những “cái không có” thì đều có triển vọng cho các xáo trộn thực sự xảy ra. Không một người đàn ông nào đáng giá một hột muối lại sẽ đứng thụ động quá lâu để chứng kiến cảnh gia đình mình đói khổ cả.

Cách tệ hại nhất mà chung ta làm chính là đưa giải pháp quân sự xuống dưới ấy, ấn vào tay những người không cần đến. Và đấy cũng là lý do tại sao tôi đã hoàn toàn phủ nhận các giải pháp quân sự. Xin ông hãy tin tôi, giải pháp quân sự không giải quyết được vấn đề gì. Tôi nghĩ người ta phải có khả năng tự vệ, nhưng hệ thống ngày nay đã có vẻ hoàn toàn mất kiểm soát rồi. Hiện nay tôi chính là một người thực sự chủ trương hòa bình. Đặc biệt là với vấn đề ngân sách quốc phòng, ngày nay đã trở thành quá sức tưởng tượng.

Với tất cả lòng thành của tôi trước Thượng đế, tôi không cho rằng tôi sẽ là một người cha thành công nếu con cái của tôi thích chuyện súng gươm. Tôi thành thực tin như vậy. Tôi mong các con tôi sẽ làm một chuyện gì xây dựng – một người thợ nề lương thiện xây nhà, dựng tường, một người viết văn lương thiện viết một cuốn sách tốt đẹp. Chứ tôi không muốn một đứa con nào đi vào binh nghiệp cả.

Tôi không bao giờ sử dụng đến súng nữa. Trong nhà – tôi không giữ một khẩu súng nào. Tôi không vui khi thấy con tôi mở mấy cuốn sách quảng cáo để xem mấy khẩu súng bắn đạn bi, hoặc đứng nhìn mấy khẩu súng trường bày bán ở các tiệm thể thao. Mỗi khi thấy thế, tôi cắn môi. Tôi muốn người ta vứt hết mấy thứ rác rưởi ấy đi cho xong.

Tôi biết (Tổng thống) Ronald Reagan cùng tuổi với cha tôi. Trong khi Reagan đóng phim ở Hollywood thì suốt bốn năm đệ nhị thế chiến, tôi không được gần cha. Tôi không muốn nói xấu về việc ấy, vì ít nhất Reagan cũng đã còn giơ tay lên mà tình nguyện làm một chuyện gì. Nhưng tôi tuyệt đối phẫn nộ đối với bọn chủ chiến không ra gì, chúng bao quanh lấy ông ta. Những cái lỗ đít ấy chẳng từng bao giờ ở trong quân đội, những thằng mập xịt ngồi ứ để chơi trò sức mạnh võ biền. Bọn nó xắn tay áo, phun nước bọt, gửi những thằng bé mười chín tuổi đầu ra chỗ chết. Thê thảm.

Cho nên một Tổng thống cần phải biết nghe khuyến cáo mỗi khi những bọn hiếu chiến bắt đầu khua động loảng xoảng gươm dao. Ông Tổng Thống cần phải nhớ rằng cả một thế hệ đã lớn lên và không hề biết một chút gì về Việt Nam. Thế hệ ấy dễ tin, dễ cảm vào mấy thứ rác rưởi như “Rambo”. Những thứ như thế thúc đẩy bọn trẻ con máu nóng nhảy ra chiến đấu và chết. Chúng sẽ không chết ở Việt Nam. Cuộc chiến ở đấy đã xong. Nhưng chúng sẽ chết ở một nơi xa xôi nào khác nữa.

Chiến tranh là một sự phí phạm. Thế thôi. Tôi là người đã chứng kiến. Đã sống sót. Và ngày nay vẫn còn thấy trong tâm trí cuộc chiến ấy. Tôi biết chắc chắn rằng phải có một giải pháp tốt đẹp hơn.

MÂY.

tonnuthudung

Mở lòng tay,
những ngón hoa.
Khúc phiêu du
rớt
trong tà huy say.
Một phù vân
thảng thốt
bay.
Vầng trăng xanh
lỡ
lưu đày kiếp xưa.
Mở lòng tay
chỉ hạt mưa.
Long lanh như giọt lệ vừa…
thiên thu.
Này Tôi…
đừng để sương mù.
Này Tôi…
nghe tiếng âm u
gọi mình…
Này Tôi…
quay mặt lặng thinh.
Trời xanh… mây trắng
vô tình của nhau.
Đừng chờ…
đâu chắc ngàn sau…
Hãy chờ…
có lẽ ngàn sau…
sẽ là…

Tôn Nữ Thu Dung