LỤC BÁT KHÁNH MINH

nguyenthikhanhminh

CÓ ĐÔI

Mỗi buổi sáng. Một nụ cười
Daffodil nở mặt trời của tôi
Dưới kia một dòng sông trôi
Nước đi nước chở một nôi nắng đầy
Còn ai chở cánh mây bay?

TÌNH CỜ

Giữa đường, tại một vẫy tay
Rủ rê ta ở lại, ngày rất vui…
Thì thôi nhé mộng chân trời
Ánh trăng ủ lại ngọt bùi mai sau
Xin quy y nắng nhiệm mầu

KHI KHÔNG

Tận phía bên trời, bình minh
Không còn sau trước, chỉ mình bước đi
Với những lời mang theo, vì
Còn trang nắng đợi tôi ghi nụ cười
Khi không trời bỏ mưa rơi

TÌM ĐÂU

Tìm đâu trên chữ. Những lời
Lặng thinh trang giấy im hơi chỗ nằm
Đường xa mỏi bước chân gần
Một nửa cái bóng lần khân chỗ ngồi
Thốt nhiên còn một nửa tôi…

Nguyễn thị Khánh Minh

RƠI…

vuhytrieu

chiều rơi
vài giọt nắng sầu
ngẩn ngơ con nhện
buồn rầu giăng tơ
dường như
rất đổi tình cờ
thơ tôi rụng xuống
đường tơ giăng buồn
tơ chùng
nặng nỗi niềm buông
tơ rơi…
mấy đoạn thơ buồn
rơi theo…

Vũ Hy Triệu

BÀN TAY TRONG MỘT BÀN TAY

elenapucillo

Trương Văn Dân
dịch từ nguyên tác Tiếng Ý

Chìm trong tiếng ồn của cuộc sống bon chen đô thị, phần lớn là những người trẻ, tuổi ba mươi, bốn mươi…lúc nào cũng vội vàng, hấp tấp, đi và đến bằng các phương tiện tân thời, xe hơi, bus, taxi…
Giữa những cao ốc nguy nga, tráng lệ, ánh đèn chiếu sáng những bảng hiệu, biểu tượng của sự phát triển về một thế giới hiện đại và lý tưởng, về tính hiệu quả, mang vẻ ngoài thật xinh đẹp và trẻ trung…
Bỗng có hai người già như lạc lõng, bước từng bước nhỏ đến chiếc băng gỗ quen thuộc đặt ở góc công viên. Tay trong tay, nụ cười như in trên hai khuôn mặt đã có nhiều nếp nhăn theo năm tháng. Ông lão nắm tay bà, cẩn trọng đỡ người bạn đời của mình, giúp bà ngồi xuống một cách nhẹ nhàng và thoải mái. Mỗi cử chỉ của ông đều ân cần, chậm rãi và cẩn thận như đang che chở và ve vuốt một chú chim non bằng những lời yêu thương ngọt ngào.
Ngày nào cũng thế…tôi chẳng biết bắt đầu từ lúc nào, nhưng có lẽ từ lâu lắm. Mỗi ngày mỗi mới và có vẻ như mỗi ngày tình cảm giữa hai người mỗi thiết tha mạnh mẽ. Nó tương phản hoàn toàn với thế giới xung quanh, đến nỗi giống một nghịch lý.
Trong cái vũ trụ thu hẹp của họ, giữa những vụn bánh cho vài chú chim sẻ, có những cái vuốt ve cô mèo con bị lạc hay tiếng cười rạng rỡ của một em bé tập đi đang ngã vào vòng tay người mẹ. Họ luôn mang theo mình một chiếc dù, để che nắng hay phòng ngừa sự chòng ghẹo từ những cụm mây, riêng bà thì không bao giờ quên chiếc khăn quàng khổ rộng, sau khi ngồi vững liền âu yếm quấn quanh cổ ông để che chắn những cơn gió lạnh.
Tôi tưởng đó là một bức tranh đang đặt trước mắt mình; sự thực đó đang nằm ngoài thế giới này. Chẳng biết gì về họ nhưng lâu nay tôi không thể làm gì khác là nhìn ngắm và quan sát cho đến khi nào, sau chừng một giờ, bằng những cử động ban đầu rất yếu ớt, về sau mạnh mẽ hơn, họ chống tay đứng dậy tay nắm tay bước đi cho đến khi mất hút giữa dòng người vô cảm.
Rồi sau đó thì sao? Họ sẽ làm gì trong quãng thời gian còn lại trong ngày? Tôi tưởng tượng như mình đang tò mò theo dõi, bị cuốn hút bởi thứ hào quang hạnh phúc bao quanh người họ. Một cuộc đời đơn giản. Chỉ có những cử chỉ quen thuộc nhưng thật ngọt ngào và trìu mến dành cho người thân. Dĩ nhiên tôi không thể nào tưởng tượng là họ sống trong ác mộng, trong lòng họ đang chất ngất bao điều ưu tư. Hằng ngày lo lắng và đau khổ, một nỗi đau kinh khiếp có thể cướp mất hơi thở tối cần cho cuộc sống

Trong bóng tối của buổi chiều tàn, bà vợ mắt nhắm nghiền, nằm bất động trên chiếc giường đôi. Hai bàn tay bà đặt trên ngực, những ngón tay nắm chặt chuỗi tràng hạt. Trên chiếc ghế đẩu đặt cạnh giường, ông chồng ngồi gục đầu, kiệt sức sau một cơn khóc tuyệt vọng. Ông liên tục lau mặt bằng chiếc khăn giấy ướt rã vì nước mắt. Rồi, bất thình lình, trong tay ông loé lên ánh thép lạnh lẽo của một khẩu súng. Ông đăm đăm nhìn họng súng, những giọt nước mắt vẫn tiếp tục rơi, làm ướt chiếc nòng lạnh giá. Ông thì thầm vài lời gì đó, rồi bằng một cử chỉ thật nhanh đưa họng súng chỉa vào màng tang mình. Chỉ trong tích tắc.
Bàn tay rớt xuống! Chẳng có tiếng nổ nào xảy ra.
Giống như trong phút chót sự can đảm đã biến mất…
Cuối cùng ông dợm đứng lên, lấy lại tự chủ, rồi đặt khẩu súng trong ngăn kéo của chiếc bàn đêm.
Bây giờ tới phiên ông.
Ông nằm bất động trên chiếc giường đôi, mắt nhắm nghiền và cũng với chuỗi tràng hạt trên tay. Bà vợ, thận trọng và run rẩy đặt một bàn tay lên trên quyển sách nằm trên ngực chồng. Đó là quyển sách mà ông đã viết và nó sẽ theo ông làm bạn trong thế giới bên kia. Một vài giọt nước mắt ứa ra, rớt xuống trang bìa làm ướt những ngón tay khẳng khiu, gầy yếu…Rồi bà lão như kiệt sức, ngã gục xuống chiếc ghế đặt bên cạnh giường. Những ngón tay bà cố gượng vuốt ve lên thân thể thân thương. Bà vuốt đôi mắt, vành môi, khi vuốt đến ngực những ngón tay bà ngập ngừng dừng lại, như thể còn muốn vuốt ve cả trái tim ông…Cuối cùng bà áp tay mình lên bàn tay ông, bàn tay đã từng nâng đỡ và che chở bà suốt một cuộc đời. Nước mắt vẫn tiếp tục lăn xuống nhưng bà chẳng có chiếc khăn nào để ngăn. Sau những tiếng rên rỉ, bà thì thầm bên tai ông những lời ngọt ngào như xưa nay bà đã từng làm. Rồi gượng đứng lên, bà áp môi mình lên môi ông, đặt thêm một lần nữa chiếc hôn cuối cùng.
Run run, bà với tay lấy khẩu súng đặt trên chiếc bàn đêm. Một tay bà nắm chặt tay chồng, còn tay kia, rất tự tin, bà đưa họng súng chỉa vào màng tang mình. Chỉ một tích tắc. Rồi bà ngã xuống trên xác chồng, như muốn ôm lấy ông một lần cuối.
Cứ thế, từ hai tháng nay mỗi buổi tối cảnh đó luôn được lập lại như đang trình diễn trong rạp hát.
Mọi chuyện bắt đầu từ sau hôm đi khám bác sĩ. Trước đó bà thường thấy mệt, nhiều lúc thở rất khó khăn, như bị ngạt, tưởng như có một khối đá đè lên lồng ngực trong những chuyến cùng chồng đi dạo. Tay trong tay, trong nước mắt, họ lắng nghe phán quyết của người thầy thuốc.
“Tôi rất lấy làm tiếc nhưng trái tim của bà nhà rất yếu…một cuộc giải phẩu là điều không thể thực hiện…Rất tiếc là tôi không biết phải làm gì để có thể giúp bà…Nguy cấp lắm rồi…bà yếu quá…” rồi sau câu hỏi thầm lặng từ đôi mắt đau đớn và khẩn cầu của họ là câu trả lời ngập ngừng nhưng thành thật và xúc động của bác sĩ:
“Rất tiếc…điều đó có thể xảy ra bất cứ lúc nào…”
Sau đó thì hai người già vẫn tiếp tục sống cuộc đời họ như đã từng, nhưng mỗi ngày đều rất đau đớn vì ý nghĩ là bà sẽ đột ngột ra đi, bỏ ông lại một mình; Bà, người chưa bao giờ rời xa, chưa bao giờ phản bội ông.
Bởi, suốt một đời họ đã luôn sống bên nhau. Trong một thoáng bà hồi tưởng thời hai người còn trẻ, những cử chỉ ngập ngừng và vụng về trong mối tình đầu, trái tim bà chỉ đập khi chờ đợi ông, chỉ vì ông, người đàn ông duy nhất có thể lấp đầy cái khoảng trống trong tâm hồn bà; cũng như chỉ ánh nhìn nhân ái của ông mới có thể xoa dịu đi nỗi đau hay mang lại cho bà niềm hạnh phúc. Cứ thế, họ đã sát cánh bên nhau đi qua cuộc đời này. Rồi họ cùng nổi tiếng với tất cả các nhà hát kịch trên thế giới. Trên tường nhà họ hiện vẫn còn treo đầy các biểu ngữ giới thiệu các vở kịch: Shakespeare, Mann, Eliot, Racine, Molière, Pinter…. có tấm in khuôn mặt, miệng mỉm cười của họ, có tấm chụp họ đang mặc đồ diễn trên sân khấu, đứng giữa những bạn diễn thân thiết mà đến nay tên tuổi vẫn còn sáng chói. Hình như hào quang hạnh phúc đã bao quanh họ từng ngày. Và họ luôn ở bên nhau.
Có lẽ trong cuộc sống hạnh phúc và bình an đó, chỉ có một nỗi đau trong trái tim bà, đó là sự thiếu vắng một đứa con…điều duy nhất của riêng họ, chỉ của họ mà thôi. Nhưng mỗi lần bà vật vã, chỉ cần những lời ngọt ngào của chồng “ Em yêu ơi, xin em đừng tuyệt vọng. Không có con chúng ta sẽ yêu nhau nhiều hơn…” là có thể làm dịu nỗi đớn đau, để nó trốn ngay đi, dù chưa hoàn toàn xoá mất.
Rồi cuộc sống đổi thay. Thăng trầm. Chìm nổi. Có lần họ cũng rơi vào cảnh nghèo túng vì từ chối các vai diễn không phù hợp hay không chịu ký hợp đồng với những công ty ca kịch không hoạt động vì nghệ thuật…và cuối cùng, với tuổi tác, họ bình thản từ giã ánh đèn sân khấu, chấp nhận cuộc sống giản đơn, bùi ngùi nhìn lại những kỷ niệm sáng ngời trong quá khứ. Nhưng họ luôn ở bên nhau, luôn luôn hạnh phúc vì người này chỉ sống cho người kia. Và ngược lại.

Là những diễn viên tài hoa nên mỗi buổi tối họ đều chuẩn bị cho chính mình vai diễn, cố thể hiện thật xuất sắc vở kịch cuối cùng.
“ Cái chết của chúng mình. Sự chia lìa sẽ bất ngờ là điều không thể tránh khỏi. Nhưng người nào đi trước sẽ không phải hứng chịu nỗi cô đơn ở thế giới bên kia”.
Ông thường đi lập lại rất nhiều lần:“ Ước muốn lớn nhất là chúng ta có thể chết cùng một lúc, nhưng dễ gì Chúa ban cho ta ân sủng này!”
Nhưng, ông đã lầm…
Vài tháng trôi qua. Và chỉ có vài hàng trên một tờ báo.
Trong lúc ngủ trái tim mệt mỏi của bà đã vĩnh viễn ngừng đập. Và ông, bất thình lình thức giấc, tin là còn có thể cứu bà, ông lao tới chụp ống điện thoại để gọi xe cấp cứu…nhưng đã không kịp nữa. Trái tim của ông cũng ngừng đập vì đau đớn, nó chỉ cho ông một tích tắc thời gian để đưa cánh tay nắm lấy tay bà.
Sự việc chỉ xảy ra trong tích tắc.

Elena Pucillo Truong

VÔ DINH 1 – NGHE TIẾNG LĂN TRẦM

maiviet

Còn đâu đó thăng trầm dưới chân đồi thông lạnh
Ngày hoàng kim in đậm dấu sơn hà
Chiều tĩnh lặng hai hàng tràm thân trắng
Dinh 1 ngậm ngùi triều đại cũ đã xa

Tôi bước lên bậc thềm hoa cương đen bóng
Như bước vào trầm mặc gót trăm năm
Ngọn gió hoàng cung hắt hiu hành lang vắng
Nắng ngoài kia đâu xua hết âm thầm

Hồn bỗng lung linh ánh đèn phòng Nam Phương một thuở
Hương tóc vương quyền còn quyện dưới gối hoa
Giấc ngủ chập chờn dài đêm trăn trở
Xã tắc, kinh thành đè nặng xuống âu lo

Kỷ vật còn đây màu triện son còn đỏ
Đường phượng đâu chiếc song mã lạc loài
Tiếng đại ngàn rót qua Hoàng Triều Cương Thổ
Nhớ thương nào còn vương vấn mãi cuộc chơi

Xiêm áo long bào xếp vô lòng tiếc nuối
Dạ yến trăng tàn soi đáy cốc chơ vơ
Còn đâu sóng Hương Giang ngày xuân phân đô hội
Đóa sen hồng ai thả về nơi mô!

Con hầm tối tưởng dẫn vào lăng miếu cũ
Sương khói bụi trần rêu lạnh mái tây hiên
Đêm bóng cả phất phơ màn phướn rủ
Tiếng vạc buồn thảng thốt cõi tịch viên

Sáng nay – nắng vàng hong cỏ xanh Dinh thự
Có một màu hoa e ấp khẽ khàng
Qua mỗi gian phòng quân vương lặng lẽ
Tôi chợt cúi đầu nghe vọng một tiếng than.

Mai Việt

PHƯƠNG NỘI

nguyenducbatngan

Từng buổi chiều anh đi qua dòng sông
Em thì đã không bao giờ trở về
Anh buông thỏng hai tay
Em bỗng mưa trùng trùng giữa ngày hạn hán
Bằng trí nhớ thô sơ anh thu lại từng nhân dáng đã trôi qua cuộc đời mình
em, không một lần gõ cửa

Còn chút thân yêu rụng hờ trên sông
Đã một thời trong em hiền hòa như thân tầm gửi
Anh hát lên trên mưu vọng mình
Hơi ấm quay-lăn-quay-lăn theo từng đỉnh nhọn

Một cõi nào em còn nghe anh ùa về trên tóc mai
Như âm vang thì thào thấm mệt
Em hãy thân ngoan trong bước chân người
Em hãy ấu thơ như dòng nước cạn

Vẫn còn hoài như linh thiêng đầu năm
Hồn cũng gọi nhau về trong khói hương ngút mắt
Biết tặng gì cho em
Ngoài long đong anh sẵn sàng tan vỡ

Em hãy hôn con theo những nụ cười
Hãy mượn thinh không hát dùm trong môi ngậm
Sóng vẫn như em bắc ngang thân cầu
Thì một chút rêu có còn là thơ ấu

Từng buổi chiều anh theo trên hành-lang-anh
Sao rất nhiều khung cửa mở
Anh biết nơi chốn nào là hạnh phước đời mình
Nên mải cười vang trong bao lần hội ngộ

Gió nổ dòn trên đầu anh mênh mang
Có em theo anh buồn hơn sự sống
Có ta theo nhau như đuổi bắt bóng mình
Có thinh không cất cao lời hét lộng

Bây giờ vẫn là nhịp cầu
Vẫn còn con đường của thời đôi ta lang thang
Vẫn còn đượm hương giữa đời yêu dấu
Trong làn mắt ôm cả ngần ngại buổi đầu

Em không còn mở cửa
Nỗi niềm nào đã biệt tăm
Anh chọn con đường đi về sự chết
Sao vẫn nồng nàn hơn ánh mắt trong
Phủ trên lưng nghìn lần tha thiết

Hãy cho nhau từ âm thầm
Một chút xót xa trong ngần thuở cũ
Còn tim anh
Mừng
Rộn ràng em
Là chim vàng khuyên thơm lành dấu mổ

Có còn một lần đi
Có còn lại nhau dù chỉ là chiếc bóng
Hãy tròn phận nghe em ở phía trước mắt người
Bởi vì biết còn gì đâu để chúc mừng sự sống.

NGUYỄN ĐỨC BẠT NGÀN

NƯỚC BIẾC NON XANH KHẮP THẾ GIAN

tranthoainguyen
Tặng Hà Hùng

Tôi đã quên tôi giữa cuộc đời
Giữa mùa hư huyễn bóng tàn rơi
Vỡ từng hạt bụi tôi tan biến
Như khói sương bay mù tăm hơi.

Tôi buông xả hết tâm trống không
Không yêu không nhớ tưởng trong lòng
Không mơ mộng hão, không cầu khiến
Gió thoảng mây bay lòng biển sông…

Tôi ngu ngơ quá không phân biệt
Giọt nắng giọt sương cả đất trời
Mờ sáng hoàng hôn lồng khói biếc
Con thuyền trăng sáng nhẹ dòng xuôi.

Thỏng tay dạo phố chợ phù trang
Lòng reo theo tiếng suối mây ngàn
Hồn trong veo thể không tư lự
Nước biếc non xanh khắp thế gian!

TRẦN THOẠI NGUYÊN

BIÊN GIỚI , NƠI NHỮNG CƠN GIÓ NGƯNG LẠI & NHỮNG NGƯỜI ĐÀN BÀ… ( Ký sự)

vukhue

Cái nắng ở đây khá lạ! Không như cái nắng ở những vùng đất tôi qua. Xứ nắng_ Dục Mỹ, Nắng hanh giòn như cái bánh tráng nướng, vỡ vụn trong mồm khô đắng. Nha Trang, nắng chảy nhựa, hăng mùi hắc ín, ngộc hơi gió biển. Sóc trăng_ nắng hâm hấp, mờ ứ hơi nước từ những con xáng chằng chịt . Ở đây nắng vần vụ, lưu cửu. Nắng úa như tàu chuối. Cũng đúng vì qua đến đây , nắng đã ngã qua tấm lưng của người đàn bà, cong người tảo tần, như một hình chữ S.
Công trình rỗi việc, lẽ ra tôi đã về thành phố,nhưng tôi nấn ná ở lại thêm một ngày nữa. Thành phố nhỏ, không bạn bè, quanh đi quanh lại một vòng là hết. Thánh thất Cao đài đã thăm hôm qua!
Tôi cất xe, ra quán nước đầu ngõ:
_ Đây ra biên giới xa không anh?
_ Độ ba chục cây. Mà ra đó làm gì?…. Tay chủ quán người địa phương , giọng nằng nặng miệt ngoài _ Cứ đường cách mạng tháng tám thẳng xuống. Hỏi Hòa Bình người ta chỉ cho.
Đặt ly nước mía lên bàn, gã tiếp:
_ Sao không xuống Mộc Bài vui hơn. Dưới đó có siêu thị bán đồ Miên rẻ lắm. Xuống đi cho biết.
Tôi suýt phì cười trước sự nhanh nhạy của gã, ngẫm nghĩ mình cũng điên….
Nắng đến úa người được. Nắng đổ hột, đổ hòn.
“Tây Ninh nắng cháy da người
Khi đi là Việt, khi về là Miên”
……
Nhưng gì là gì cũng mặc, tôi cứ để dòng tâm tưởng của mình chạy dài trong dòng nhạc của nhạc sĩ Nguyễn văn Đông .“ Chiều mưa Biên giới anh đi về đâu…Sao còn đứng ngóng nơi giang đầu. Kìa rừng chiều âm u rét mướt. Chờ người về trong cơn giá buốt. Người về bơ vơ…” . Cũng mơ mộng một chiều mưa ướt đầm, lướt thướt . Mang hình ảnh kẻ chinh phu đứng nơi đầu rừng, ngọn phá mà tơ tưởng về phố thị…. Thử trãi nghiệm cho một tâm trạng, cảm xúc.Thấy cũng đáng để làm!

Trời bửng sáng . Núi Bà Đen như chiếc nón lá úp chụp với cái chóp nhọn còn náu mình trong lớp sương mù. Với độ cao 986 m, ngọn núi này được xem như ngọn núi cao nhất vùng Đông Nam bộ. Từ phía Đông Nam nhìn lên ,sườn núi khá dốc, một cái hàm ếch ( hyperbol), được vẽ từ 2/3 lưng núi xuống tận chân, rồi kéo dài thoai thoải về hướng Bắc. Phía Tây nam nó dính vào một ngọn núi thấp hơn , mang cái tên : núi Heo. Không rõ trong lịch sử biến động địa chất hình thành vỏ trái đất, những cơn địa chấn nào đó đã ngắt rời phần cuối cùng của dãy Trường Sơn khỏi những anh em của nó và đẩy nó vào một vị thế khá độc lập, xa tít phía nam, ….Đó cũng là một cái lạ của ngọn núi này. Vì nếu đã lên núi bạn có thể phóng tầm mắt đến tận chận trời , để thấy một xa lộ màu xanh của thực vật , mà không gặp bất kỳ một trở ngại nào. Nghe bảo ngày trước vành đai quanh chân núi hoàn toàn là rừng, nhưng hiện tại con đường mới mở , những căn nhà ghạch và những khu rừng cao su vuông vắn, xanh mướt đã xóa xổ hoàn toàn những lời đồn thổi đó và những gì tôi hình dung ngày trước trên Youtube, về những cánh rừng hoang hóa bị dập nát bởi khói lửa chiến tranh, đã không còn chỗ đứng. Thời gian đã qua hơn ½ thế kỷ. Tự nhiên với chu kỳ tái thiết của nó đã khỏa lấp mọi thứ. Không còn gì chờ đợi thậm chí những vết sẹo. Những rẫy mía, vườn mãng cầu, vuông khoai mì vào vụ, xanh um… Phần lớn dân cư tôi gặp trẻ và không nhiều người gốc bản địa.
Đường Cách mạng tháng tám dẫn dài về phía Tây, đến tận ngõ vào của thị trấn Châu Thành.
Trên con đường tôi qua, tại giáo xứ Phong Cốc một ngôi nhà thờ trang nhã được xây từ năm 1955, mới được sơn lại. Những thánh đường ở Tây Ninh dều có một màu sơn hồng nhạt, có thể để dịu mắt trong cái nắng chát chúa. Trong lúc ghé cái quán bên đường ăn tô mì lót dạ, tôi bắt gặp mấy giọng Bắc “ rặc”, chưa “ ngã màu” của một cộng đồng. “_ Ủa vậy anh gốc năm tư hay bảy lăm?” Tôi hỏi người chủ quán.
_ Tui dân năm tư, gốc Nam Định.
_ Vậy anh lên đây hồi nào, sao cái giọng nặng dzậy?
Tay chủ quán cười vui vẻ: _ “ Dân ở đây toàn nói như thế. Ông có muốn tôi nói tiếng Nam , tôi nói cho!” Anh nửa đùa, nửa thiệt. Phân vân nhưng tôi không muốn hỏi thêm…
Đường DT 781 dẫn ra Biên Giới , bắt đầu từ cái ngã tư đường vào Châu Thành và rẽ trái. Đường tỉnh lộ, loại cấp phối, rãi nhựa cơ bản, chiếc Honda nảy lên sau những cú xóc. Những dãy nhà hai bên đường xô lệch suy nghĩ về sự giàu nghèo. Môt sự nhấp nhô đáng kể, nhưng hậu cảnh phía sau, có thể đã dung hòa điều này bằng sự trù mật của những đồng lúa đang mùa chín tới, nơi mà màu vàng ruộm trãi đến chân trời của nó có thể lấn át cái nắng chói chang của nền trời. Việc đó làm thị giác dễ chịu hơn và không còn cái căng thẳng vẫn có trên phố…. Và thật may mắn luôn chạy song song với con đường chưa biết điểm đến là những cánh đồng lúa vàng đã đến mùa gặt hái.
Cầu Bến Sỏi, lí trình Km 36 + 900 băt ngang con sông có chiều ngang thật khiêm tốn , khoảng hai trăm thước. Sông Vàm Cỏ Đông . Chắc hiếm ai là không biết tên của dòng sông này. Nó thực quá tiếng tăm. Bắt đầu từ con sông Prek Kampong Spean phía Campuchia , chảy vào Việt nam , với thủy trình gần hai trăm kilomet, sau khi kết hợp với sông Vàm cỏ Tây để tạo nên sông Xoài Rệp và đi ra biển đông. Con sông gắn liền với những chiến thắng Rạch Gầm- Xoài Mút của Vua Quang Trung đánh tan hai vạn quân Xiêm, người anh hùng _ Nguyễn Trung Trực , với chiến công đốt cháy chiến thuyền L’Esperance ( Hy vọng) trên dòng Nhật Tảo và câu hát mộc mạc “ Vàm Cỏ đông, ơi hởi dòng sông. Nước xanh biêng biếc chảy mãi không ngừng. ……” .Nhưng trước mắt tôi Vàm Cỏ Đông không xanh, không trong, mang những đặc trưng của những dòng sông Nam bộ, đục lờ màu phù sa và lưu lượng của dòng chảy không cao. Những giề lục bình xanh um kết thành từng mảng từ bờ ra đến giữa dòng, kéo cả dòng nước chậm lại. Khung cảnh hai bên bờ sông khá trống trãi, làm chỗ trú chân của đám bình bát hoang lúp xúp. Mé dưới chân cầu có dăm cái chòi chăn vịt , mấy cái đó đánh cá của những người dân địa phương. Đàn vịt lội lốm đốm giữa sông. Đứng trên cầu trông ra phía hạ lưu, dòng sông như trôi lưng lửng giữa đồng lúa chín vàng, cũng thật khó phân biệt một ranh giới tự nhiên. Với cái tên cũng khá mỹ miều từ thời chúa Nguyễn như sông Khê Lăng, sông Cái Cay ( Suối tóc)…chừng như không còn trong ký ức con người và sự thật , con sông cũng không còn một nét gì để thể hiện những điều nó đã mang.
Bỗng dưng tôi lại nghĩ về những con sông. Những con sông luôn có dáng mềm mại của những người phụ nữ. Nhưng những con sông miền Trung càng kín đáo và yêu kiều chừng nào thì những con sông miền Nam lại mộc mạc, tội tình chừng ấy. Trong khi những con sông miền Trung biết làm đẹp mình bằng những bụi tre cộ xanh um , hoặc những hàng dừa ngã mình soi bóng trên mặt nước trong veo, có thể nhìn thấu tận đáy, thì những con sông Nam bộ lại oằn nặng màu phù sa đục lờ, như người đàn bà lam lũ, quanh năm suốt tháng không nhận diện được khuôn mặt mình hoặc chỉ qua tấm gương vỡ nham nhở của đám bần, bụi dừa nước….Nói ra điều này, bạn mới thấy thương những con sông miền Nam biết chừng nào…thương hết mình!
Như mọi con sông những sản vật mà nó cống hiến cho con người mới thực sự quan trọng. Một chợ cá nho nhỏ ở đầu cầu lôi kéo tôi vào đó. Cũng khó hình dung sự da dạng và khối lượng tôm cá mà con sông này cung cấp cho dân địa phương. Mấy giỏ cần xé đủ các loài cá nước ngọt như cá mè, cá chẽm, cá chạch, cá lóc….bên kia là một mớ bông súng, bông lục bình, rau nhút còn nguyên cọng. Một cái lồng to tướng và những con chuột đồng bằng bắp tay , đang lao nhao….Tôi hỏi một người đàn bà khoảng trung niên, đang rãnh tay, vừa mời chào. _ “ Buôn bán được không chị?”
_ “ Cũng qua ngày anh à!”
…Ngần ngừ một lúc như thăm dò, tôi hỏi tiếp:”_ Vậy năm bảy chín, lính Pốt nó có tràn tới đây không chị?”
Chị như ngẩn ra_ “ Hồi đó còn nhỏ, theo cha mẹ chạy lên Tây Ninh. Cũng không nhớ nữa….”
…. Qua cầu, tôi có thấy tấm bảng đề ba thứ tiếng Việt, Cam và Anh “ Khu vực biên giới”. Đã bước vào vùng đệm…

Tôi không bỏ được thói quen luôn dừng xe, đứng trước một cái chợ, nhất là chợ miền quê, để ngắm nhìn cảnh sinh hoạt thường ngày của những người đàn bà , trong một hoạt động gần như lặp đi, lặp lại …ngày này qua tháng khác ;chỉ để kiếm tìm một cái gì rất riêng tư, như một tác phẩm nghệ thuật đang định hình nhưng chưa bao giờ đi đến sự hoàn thiện, đòi hỏi khá nhiều những chi tiết từ cuộc sống thực.
Chợ Hòa Bình. Một phiên chợ nhỏ sát biên giới . Chợ tập trung gần một thánh thất Cao Đài . Cũng một phiên bản từ Thánh thất chính ở Tây Ninh sao ra. Một dạng kiến trúc tôn giáo khá độc đáo, lấy hình hộp làm form chủ đạo, gần giống chùa cổ Thái kết hợp với gô tich công giáo, có không gian cao , phần chóp mái cũng có các linh vật trang trí như rồng, lân… Luôn có hai tĩnh tháp đối xứng. Những họa tiết khá sặc sỡ, trong những gam màu chính vàng ,đỏ, trắng và xanh ve. Hàng thốt nốt cao nghệu bám đầy bụi….Chợ chạy ven bên đường. Nhỏ và cũng đỏ quạch bụi. Ngoài những thứ hàng hóa thường thấy trên thành phố, không có gì đặc biệt. Đặc sản chỉ có đường thốt nốt, thốt nốt tươi. Ngoài ra, còn có một số hải sản nước ngọt. Cá biển muối đá đã vài hôm, da nhúm lại . Tròng mắt đã chuyển sang màu đục. Muối tôm đem từ Tây Ninh xuống, đóng lọ. Rau rá địa phương. ….Những người đàn bà ở đây nói được cả hai thứ tiếng Việt lẫn Khmer. Những tiếng chào hàng lơ lớ, chẳng nghe được gì….
Tôi dừng lại trước đống thốt nốt. Những trái thốt nốt màu tím đen như màu trái măng cụt dưới xuôi, nhưng to bằng sọ trái dừa xiêm. Cô gái với chiếc khăn rằn trùm đầu, đang loay hoay bóc vỏ. Bàn tay thật khéo léo tách lớp xơ bên ngoài với con dao bản bằng thép nặng trịch. Chỉ cần vài động tác, hạt thốt nốt trắng muốt bằng ngón chân cái đã lộ ra ngoài. Một cái thau to vun ngọn, nằm sát bên cạnh.
_ Bon chần tin sa ây? ( Anh muốn mua gì không?)
_ Tê! ( Không) Tôi chọc và nhận được hàm răng trắng lóe từ nụ cười, sau cái khăn rằn che gần kín khuôn mặt. _ Việt hay Kam? Tôi hỏi lại bằng tiếng Việt.
_ Việt!…. Em lại cười. Bàn tay nhỏ nhắn, tím đen bị ăn lậm bởi mủ thốt nốt, đưa lên che miệng. Đôi mắt lay láy. Tôi muốn hỏi thêm một câu gì đó, nhưng không hiểu sao lại lặng thinh.
Đôi tay thâm nhịt bởi mủ thốt nốt ở cái chợ đường biên ám ảnh một quãng đường dài…..

Xã Thành Long, huyện Châu Thành kéo dài đến tận đường ranh biên giới. Màu xanh tươi của những đám rừng cao su hay những nương ớt với những vạt đỏ cháy lẫn giữa tàn lá xanh đậm , đã bị bỏ lại. Càng gần về phía đường biên, đất dường như cỗi cằn hơn .Có thể do cao độ và quá xa, nên nước của con sông Vàm Cỏ đã không vươn được tới đây, tưới sũng cho cơn khát vô vọng của đám thực vật. Sự bỏ hoang kéo dài bên đường với những bụi tre gai lùm xùm, những đám ruộng xơ xác, mấy vuông mì còi cọc. Đám mía mới nhú tàu xanh, chống chọi không nhượng bộ với cái nắng. Một màu xanh không đủ phủ cho nền đất. Đất chòi ra dưới nắng, bạc phếch, nghèo dinh dưỡng. Những ngôi nhà thưa thớt dần. Đám trâu bò thường thấy trong những khung ảnh thôn quê cũng dường như vắng bóng.
Nắng và cái nóng. Cái nắng hâm hấp, khó chịu. Cái nóng như cầm cố vạn vật trong sự áp đặt một chiều không có sự luân chuyển. Ngay cả sự bốc hơi cũng trở nên bị tù hãm. Dưới cái nắng mọi sinh vật bị nấu chín ngay trong cái nồi là lớp da bao bọc cơ thể mình, mồ hôi sôi lấm tấm dưới lớp da trần và không thoát ra được. Không khí quẫn lại, nghẹt thở. Những lớp mây trắng chen đầy chân trời, nhưng tuyệt nhiên lại không có một ngọn gió. Nơi đây, những cơn gió tiêu hao sinh lực của mình qua mọi miền đất Việt, đã kiệt sức, dừng lại….
Tội …Người!
Người, dưới cái nắng hanh hao. Người , trên con đường vắng, miền biên giới, nhọc nhoài quay về sau một ngày mưu sinh nơi miền đất khách. Người với chiếc xe đạp treo lỉnh kỉnh đủ thứ đồ dồng nát.. Người . đôi bàn chân đen đúa. Chiếc dép Lào, bám dầy hai thứ bụi, đất xứ người và đất quê mẹ….
_ Ủa mới bên đó về hả chị?
_ Ừ ! Người đàn bà có vẻ kiệm lời.
_ Bữa nay mua được nhiều không chị?
_ Đâu có mua anh. Qua đó xin người ta về bán thôi.
Tôi liếc nhìn cái sọt sắt sau baga, lưng lửng những lon bia Heineken màu xanh.
_ Vậy một ngày thu nhập được khoảng bao nhiêu chị?
_ Độ năm bảy chục… có ngày được trăm. Cũng tùy bữa….
_ Mà ảnh đâu, sao không làm giúp chị?
_ Ổng làm phụ hồ. … Mà ai làm nấy ăn thôi!
m thanh ken két của cái giò đạp theo vòng quay, nghiến vào không gian buổi trưa.
_ Nhà chị gần đây không?
_ Gần dưới Hòa Bình. Mà anh nhà báo hả?…Thấy đeo máy chụp hình.
_ Không! Tui dưới Sài Gòn, lên chơi thôi!…Chào chị nghe!
_ Chào anh!
Chiếc xe đạp lại nghiến ken két trên con đường. Nắng vẫn hanh hao. Thỉnh thoảng những cái ổ gà lại tung những âm thanh loảng xoảng từ chiếc giỏ sắt phía sau baga. Vạt lưng áo màu cháo lòng loang lổ một mảng mồ hôi bết sẫm. Một chiếc xe tải chạy ngang qua hất lên đám bụi đỏ ….Tôi đứng ngó theo bóng người đàn bà bán ve chai với chiếc xe đạp cũ kỹ. Sao vẫn mong một cơn gió đâu đó lạc loài tràn về, gợn trên da người, gột lên phận người…Ở nơi những người đàn bà không biết được một ngọn gió mát lành thế nào từ quê hương!

Có thể cái hình ảnh đặc trưng của vùng đất này, là hình ảnh của cây thốt nốt. Thực ra, không phải đây là nơi duy nhất nó mọc. Tôi đã từng gặp nó ở Bình Dương, Thủ Đức…cũng cao nghệu, lùm xùm chen vai với những loài cây khác. Cũng ra hoa, kết trái bình thường. Nhưng có lẽ chính trên quê hương của nó, nó mới mang vẻ đẹp riêng tư , nổi bật mà các loài cây khác không thể so sánh được. Tính mỹ học có thể được sàng lọc qua đặc điểm thân cây cao, thẳng; tàn lá , quày trái đậu hết phía trên và tạo khoảng trống cho không gian phía dưới. Với phối cảnh đồng ruộng nơi đây, nó tạo được những điểm nhấn hết sức thôn dã và đặc thù , dù được đặt ở một vị trí trọng tâm hay chỉ là phần nền trong một bức tranh. Sự hiện diện của nó như một sự cộng sinh không thể thiếu về mặt nghệ thuật và chắc cũng là sự liên tưởng đầu tiên, nếu có ai đó nhắc đến miệt đồng bằng Tây Nam bộ.
Hạt thốt nốt mềm, không có vị ngọt gắt, cắn ngập răng. Những hạt già , cùi hơi cứng, giống ruột dừa. Tôi nhai một lúc liền khoảng chục hột. Cơn khát đã đỡ và cái bụng trở nên lưng lửng.
Người lính biên phòng với khuôn mặt sạm đen, khoác khẩu AK đứng chắn ngang tôi với cái barie.
_ Ở đây không được chụp ảnh. Anh thấy cái biển ngoài kia không?
Tôi quên mất mình còn đeo máy hình.
_ Xin lỗi nghe! Tui mới ở thành phố lên chơi nên không biết. Tôi phân trần.
_ Anh không biết thì thôi. Ngưng một lát, anh nói thêm_ Đây hết địa phận Việt Nam rồi, anh quay lại đi!
Thoáng thấy mấy người dân bên kia qua lại có vẻ tự do, tôi hỏi thêm:
_ Vậy tôi qua bên kia tham quan tí được không anh?
_ Không được anh à! Anh qua đó lỡ có chuyện gì bên đó thì ai chịu trách nhiệm. Dân địa phương ở đây rành đường đi , nước bước. Họ qua lại làm ăn. Anh dân lạ, ngôn ngữ không thạo. Lỡ đi lạc…Không được đâu anh!
Thấy có vẻ không xong, tôi đành dẹp cái dự định qua phía bên Kam, chào anh lính, rồi quay ngược lại.
Đồng hồ đã chỉ bốn giờ. Nắng dịu xuống nhưng cái nóng vẫn chưa chịu buông tha. Mặt trời chuyển sang đỏ ửng , hạ xuống thấp dần, giờ ở phía sau lưng. Cái barie cùng cái dáng đi qua đi lại của anh lính biên phòng, trong gương chiếu hậu, loáng thoáng xa dần. Trên cái sân đất của ngôi nhà gần đó, mấy đứa nhỏ cỡ chín, mười tuổi đang chơi trò đuổi bắt. Những tiếng cười vô tư cất lên… Một đứa bé hơn khoảng hai, ba tuổi đang bước lẫm chẫm. Chừng như những bước đầu tiên không cần mẹ của nó thì phải. Hai bàn chân như níu vào đất….Đất bạc _ nghèo dưỡng chất và thẫm màu.

“ Đoàn quân vội đi…Đi về Biên giới, cũng từ Biên giới về…. những bầy trẻ nhỏ. Đoàn quân lặng im, nhìn đàn em bé. Từng đôi mắt đen xoe tròn, từng đôi mắt mang hình viên đạn, từng đôi mắt sáng lên, cháy lên như ngàn viên đạn. ….” Tôi tưởng lại nghe âm vọng một bài ca của những người lính quân tình nguyện năm nào, khi đứng trước tấm biển xi măng ngã nghiêng, đầy bụi đất bên đường. Những dòng chữ không được chỉn chiu cho lắm được khắc và quét lên bằng sơn vàng, với hai ngôn ngữ Việt Anh _ VÀNH ĐAI BIÊN GIỚI/ BORDER BELT. Xét về hình dạng bên ngoài, nó có vẻ như một nhân chứng lịch sử cuối cùng, mà mảnh đất này còn giữ lại, khi tất cả đã như hoàn toàn bị khuất lấp bởi cuộc sống thường nhật của con người và thảm thực vật đã tìm được chỗ đứng trong sự tái lập. Tôi đứng nhìn quanh và cũng không thể nào hình dung nổi trên con đường này cảnh dòng người chạy loạn, những người lính áo xanh hối hả ngược chiều và góc trời vần vụ những đụn khói của bom đạn….Trong bóng chiều, nơi đây chỉ còn thanh âm thực của hòa bình, tiếng cót két của mấy chiếc xe thồ, tiếng gọi vọng của bà mẹ nào đó gọi con, tiếng kêu bầy của một đàn cò từ phía Việt sau một ngày kiếm ăn hướng về đất Kam…Đôi mắt hồn nhiên của hai đứa bé tha thẩn chở đám dọc mía về cho bò. Giọng nói riu ríu đặc trưng….Quá khứ như đã lùi quá xa!
Con gái Khmer sở hữu một đôi mắt đẹp. to và buồn . Những đôi mắt lạ có màu tím than của trái thốt nốt…
Em nhìn tôi như cầu cứu vì cái xe đạp đang chở một bao phân to tướng, bị trật xích. Em đội chiếc mũ vải rộng vành. Chiếc áo khoác bên ngoài sờn rách. Đôi mắt em cứ đau đáu về phía con đường dẫn về biên giới, vẻ nóng ruột, trong khi tôi cố gắng giúp em, lắp cái xích xe. Trầy trật mãi việc cũng xong, tôi đứng dậy, kiếm cái gì đó lau bàn tay dính mỡ. Đang tìm quanh, em nhanh nhẩu rút túi chiếc khăn tay trắng muốt ra đưa. Thấy cũng phí, nên tôi xua tay, bôi đại vào bao phân buộc sau baga. Việc ấy khiến em cười xòa, thật vô tư… “_ Okun…” ( Cám ơn)!
“ Xomlia” ..( Tạm biệt). Em chào rồi hối hả đạp xe đi…. hướng về đường biên…nơi có cái barie…phía mặt trời đã xuống thấp đến nỗi trở thành một cái vành đỏ ối…nơi đường cong của những cây thốt nốt đổ xuống…. nơi đàn cò mỗi buổi chiều trong một tiếng gọi huyền bí nào đó, biết quay đầu tìm về …nơi có mảnh đất máu mủ, quen thuộc với em, dẫu sỏi đá, bạc màu ….cũng như tôi, em gọi bằng cái tên thân thương _ “Đất mẹ!” .
…” Xomlia’ em! “Xom lia” đôi mắt màu tím than của những trái thốt nốt. Có lẽ đường về còn xa. Tôi đứng nhìn theo cái bóng nhỏ bé ấy , khuất hẳn phía cuối con đường . Lòng cầu mong em đến nhà bình an, trước lúc trời trở tối!

Trên đường về , tôi có dừng lại trên cầu Bến Sỏi, trông xuống con sông Vàm cỏ Đông. Trong bóng hoàng hôn đã sậm nét, nhìn về phía hạ lưu , hình hài con sông dường như hòa lẫn trong sự mông muội của không gian. Chỉ thấy những vệt lờ mờ của mấy tàn cây thẫm màu của cánh rừng cao su. Chiếc xuồng ba lá ai đó , khỏa vội trên mặt nước, cho kịp đến nhà….Nước sông đang lên, đẩy những bè lục bình lúc sáng xuôi dòng, nay ngược về nơi chốn cũ. Với ánh sáng còn sót lại ít ỏi, những cánh hoa tím mỏng manh nhìn cứ như rưng rưng…Mấy ngôi nhà ven sông đã lên đèn. Bóng ai đó qua lại loáng thoáng.
Những tưởng sẽ tìm lại được những hình ảnh , thâm nhập được vào tâm trạng người nhạc sĩ của một nhạc phẩm nổi tiếng vào một buổi chiều mưa, nơi miền Biên giới này…nhưng hoàn toàn không. Chuyến đi lại đem đến cho tôi những cái nhìn khác hơn từ khung ảnh thực của một vùng đất khuất xa xôi. Thời gian qua đã lâu, sự đổi thay khá nhiều và chắc chắn một điều, không ai bẻ cong được những biến chuyển của tạo vật lẫn con người theo những quy luật được mặc định của tự nhiên.
Nhưng tôi cũng không cảm thấy thất vọng. Trên con đường nhựa chạy về Tây Ninh, tôi cứ nhẩn đi, nhẩn lại hoài mấy câu cuối của bài “ Chiều mưa Biên giới”.
“… Lòng trần còn tơ vương khánh tướng
Thì đường trần mưa bay, gió cuốn
Còn nhiều anh ơi! “…
Không biết có phải thế không?

VŨ KHUÊ Biên giới, mùa không mưa 03/2015

Nha trang, 24/06/2016

Năm Giờ Sáng Los Angeles

tranvanle

Năm giờ sáng thức dậy
mở cửa nhìn ra trời,
trời tối đen như mực,
lắc rắc giọt mưa rơi…

Bến xe bus có người
cầm cái ô đứng đợi.
Chiếc xe bus chạy tới,
ngừng và lại chạy đi…

Việt Nam cũng chạy đi
khi trùng dương mở lối.
Nhớ hoài một buổi tối
khi sao rơi ngoài khơi…

Chiếc xe bus chạy rồi,
cái băng đá lạnh ngắt,
tôi nghĩ và tin chắc
có ai rờ tay lên…

Người con gái để quên
một đằng sau trống vắng.
Xốc trên vai gánh nặng,
người con gái…Việt Nam!

Em phải đi kiếm cơm.
Tôi, lát nữa cũng vậy.
Mặt trời lên đốt cháy
những giọt mưa, mồ hôi…

Một Việt Nam xa xôi
có bồi hồi không nhỉ?
Có nghẹn ngào giọt lệ
thương những người đi xa…

Chiếc xe bus đi qua,
qua đại dương hy vọng.
Năm giờ sáng nhòe bóng
cái bóng vầng trăng khuya…

Cái bóng trên đường về
bao giờ thì rực rỡ,
bao giờ muôn hoa nở,
một cành cầm rưng rưng?

Trần Vấn Lệ

NHỮNG CỖ QUAN TÀI CỦA TĨNH TÂM

download

Dương Như Nguyện

Tên thật Dương Như Nguyện, bút hiệu Uyên Nicole Dương, Nhung-Uyen, sinh tại Hội An Quảng Nam. Lớn lên ở Huế và Saigon.
Tháng ba năm 1975 được giải danh dự Văn chương Phụ Nữ Hai Bà Trưng của Việt Nam Cộng Hòa.
Hiện định cư tại Hoa Kỳ. tốt nghiệp cử nhân báo chí tại đại học Southern Illinois, tiến sĩ Luật tại đại học Houston, và thạc sĩ Luật tại đại học Harvard ( Harvard Law Shool, Cambridge, MA). Năm 1992, được Luật Sư Ðoàn Nước Mỹ (ABA) tuyên dương như Là nữ thẩm phán đầu tiên thuộc người thiểu số tại Hoa Kỳ, cùng với những người nữ thiểu số tiên phong khác trong ngành Luật (Từng làm việc tai Houston, Texas). Ðọc, nói và viết hai ngoại ngữ: Anh và Pháp. Viết văn và làm thơ sử dụng hai ngôn ngữ: Việt và Anh , bài đăng trên các báo Sóng Văn, Văn, Văn Học,Wordbridge, điện báo The Writers Post, Pacific Rim Law & Policy Journal, University of Pennsylvania Journal of International Economic Law, Currents, Texas Transnational Quarterly. Truyện ngắn Anh ngữ “The young woman who praticed singing” đăng trên Sóng Văn (1988, bút hiệu Nhu Nguyen Nicole) được 2 giải thưởng, một trong hai giải này là giải Stuart Miller Writing của Luật sư đoàn Hoa Thịnh Ðốn (District of Columbia Bar Association) (1988). Truyện ngắn Anh ngữ “The Ghost of HaTay,” được đề cử cho Giải Columbine, tại Moondance Fim Festival 2001.

Tác phẩm đã xuất bản:

Mùi Hương Quế (truyện ngắn, Văn Nghệ, 1999)
Chín Chữ Của Nàng (Văn Mới, 2005)
Daughters of the River Huong, (tieu thuyet, viết bằng Anh ngữ, RavensYard Publishing, Ltd., 2005).
Con Gái Sông Hương (2005)

Đau đớn thay phận đàn bà…..
Nguyễn Du

Người đàn bà đẹp đầu tiên tôi gặp trong đời là bà ngoại tôi. Khi tôi có trí khôn thì bà ngoại tôi đã ngoài sáu mươi tuổi. Ở tuổi đó, người bà vẫn thẳng, tóc dài gần chấm đất, tuy đã muối tiêu nhưng vẫn còn óng ả, lướt thướt. Bà có chiếc mũi dọc dừa, gò má cao, cặp môi mỏng và cong, rất hiếm thấy trên những khuôn mặt phụ nữ thuần túy Việt Nam.
Bà ngoại tôi pháp danh là Tĩnh Tâm. Tên thật của bà là Hương Quế. Xứ Huế đã đặt cho đàn bà những cái tên đẹp lạ lùng: Dạ Khê, Tiểu Bích, Tú Thiềm, Phiến Tuyết, vân vân.

Mọi người chung quanh cho rằng bà ngoại tôi là một người đàn bà khó tính, khắc nghiệt và lạnh lẽo Bà có một chứng bệnh không bác sĩ nào chữa được. Đó là bệnh nóng cổ. Cổ bà nóng và rát, làm bà ray rứt, khó chịu, ăn ngủ không được, người đâm bẳn gắt. Bà ngoại tôi rất chiều con cháu, nhưng hay la mắng, rầy rà gia nhân. Mẹ tôi là con độc nhất của bà. Gả mẹ tôi cho ba tôi là người Bắc, bà ngoại tôi luôn luôn mang nỗi buồn phải xa đứa con một.

Tôi chưa hề thấy bà ngoại tôi khắc nghiệt hay lạnh lẽo. Bà ngoại thích coi cải lương, say mê. Nhiều khi xúc động, khóc sụt sùi . Con người tình cảm ấy không thể nào khắc nghiệt hay lạnh lẽo. Khi bà la mắng người làm, giọng bà như độc thoại, buồn như một điệp khúc than thở, không hề có tính cách đay nghiến của một người chủ thiếu lòng nhân. Lúc về già, người độc nhất mà bà cằn nhằn là ông ngoại tôi. Nhiều khi không duyên cớ. Ông ngoại tôi người nhỏ bé, tính vui vẻ, hồn nhiên. Bà con gọi đùa là Lão Ngoan Đồng như trong truyện kiếm hiệp. Khi bà ngoại tôi càu nhàu, ông ngoại tôi chỉ phớt tỉnh, ngồi đọc báo.

Mẹ tôi kể cho tôi nghe cuộc đời bà ngoại . Bà chỉ có một người chị gái. Hai chị em con quan xứ Huế, gia đình phong lưu trưởng giả. Người chị gái, bà Ấm, lấy chồng đông con nên vất vả. Bà ngoại tôi lấy ông ngoại tôi là con quan, được đủ miếng ăn thì lại phải chịu những đau đớn khác.

Ngoài cảnh làm dâu trong chế độ gia đình phong kiến, bà ngoại tôi là một người mẹ xấu số. Đẻ ba con trai đều chết cả ba. Mẹ tôi thì èo uột, hay đau ốm. Bà ngoại phải đem cho chùa, đổi tên, cho thần thánh khỏi bắt đi. Vì không có con trai, bà phải cưới vợ hầu cho ông ngoại rất nhiều lần. Mẹ tôi kể có lần bà phải nằm giường sát phòng hợp cẩn của ông ngoại và người hầu trẻ. Ông ngoại tôi là một thứ “ông phán” phong nhã, hào hoa, có không biết bao nhiêu vợ hầu vợ lẽ. Không có con trai, bà ngoại tôi phải nuôi con nuôi, hoặc con trai của những người vợ hầu. Những người con trai này lớn lên (trừ người con út) đều phụ công nuôi dưỡng của bà ngoại tôi mà đi.

Thuở nhỏ tôi không hiểu được lòng ưu uất của người vợ lớn là bà ngoại tôi, cũng như nỗi cô đơn của bà. Ở tuổi thơ ấu, tôi không hiểu được căn bệnh nóng cổ của bà. Mẹ tôi bảo bà tưởng tượng ra bệnh. Tôi thì cho rằng bà nóng cổ vì hay hút thuốc Cẩm Lệ.

Tôi lớn lên trong lòng thương và tình quyến luyến của bà ngoại. Có lẽ tôi đã lây tính đa sầu, đa cảm, hay khóc thương phận người của bà. Tuy trí óc non nớt, tôi cũng biết bà ngoại là người hay phiền muộn. Bà thích tôi ngồi coi cải lương với bà, một điều mà bố tôi cấm đoán. Tôi tự cho mình là người bạn nhỏ của bà. Tôi tự nguyện lớn lên sẽ làm cô giáo, mua nhà ở Huế cho bà ngoại ở.

Tôi nhớ mãi có lần tôi bắt gặp bà ngoại tôi nhỏ lệ, không phải vì tuồng cải lương hay vì giận ông ngoại nước mắt bà thấm ướt mái tóc dài. Tay bà run rẩỵ Bà kể cho tôi nghe về một hình ảnh mà lâu lâu bà vẫn thấy trong một giấc mộng đã ám ảnh bà cả đời. Bà dặn dò tôi đừng kể cho ai nghe, kể cả mẹ tôi.

Trong giấc mộng ấy, bà ngoại tôi, người đàn bà đẹp xứ Huế mang tên Tĩnh Tâm, ngồi một mình bên một dòng sông tĩnh lặng. Có thể là dòng Hương Giang, có thể là con sông Bến Ngự, hoặc có thể là khúc sông chảy qua làng Cồn. Trên dòng sông, có những cỗ quan tài trôi từ từ, lặng lẽ.
Người đàn bà ngồi đợi để vớt những cỗ quan tài.

Giấc mộng chỉ đến đó thôi rồi bà ngoại tôi tỉnh dậy.
Bàn tay nhỏ bé của đứa cháu gái là tôi lau nước mắt cho bà ngoại tuổi ngoài sáu mươi. Tôi không thấy sợ, chỉ thương bà ngoại tôi nằm thấy ác mộng. Cơn ác mộng lặng lẽ và im lìm, không tiếng động.
Càng lớn, tôi càng nhớ mãi về giấc mộng của bà ngoại tôi. Có lần tôi hỏi, “Ngoại có biết trong quan tài có gì không?” Bà lắc đầu, không nói. Cái lắc đầu của bà có nghĩa gì tôi không rõ. Bà không biết trong quan tài có gì, xác của người thân, xác của người lạ? Hay là bà lắc đầu vì không muốn trả lời câu tôi hỏi.

Tôi vẫn thắc mắc mãi tại sao bà ngoại tôi nằm mộng thấy quan tài? Tại sao bà mang nhiều phiền muộn? Bà tương đối là được sung sướng vật chất và đời sống được bảo đảm. Trong khi cả nước khổ cực theo chiến tranh, theo nạn đói năm Ất Dậu, theo cuộc kháng chiến chống Pháp và những ngổn ngang của lịch sử thì bà ngoại tôi vẫn may mắn làm người thiếu phụ quý phái đất thần kinh.

Năm mười lăm tuổi, tôi đủ thông minh để phỏng đoán là những cỗ quan tài trong giấc mộng tượng trưng cho những cái chết của ba người con trai bà. Không có con trai là thảm kịch của cuộc đời bà ngoại tôi. Có thể những cỗ quan tài ấy tượng trưng cho nỗi đau khổ của bà khi phải chứng kiến những cái chết của những đứa con trai nhỏ vì bệnh sài kinh. Chung là sự hủy diệt sức sống và lẽ an vui của đời bà. Không có con trai, bà sớm mất tư thế trong gia đình. Nghe chuyện, tôi cảm thấy bất mãn cái vô lý, vô nhân của một xã hội chuyên chế đã gây nên sự đau buồn cho bà ngoại. Đồng thời, giấc mộng của bà làm tôi suy nghĩ đến cuộc đời của những phụ nữ Việt Nam khác trong dòng họ tôi.

Trái với bà ngoại tôi, bà nội tôi không có một cái tên quý phái. Bà nội tôi là con một ông cụ đồ hay chữ. Bà thấp lùn, mặt tròn trịa, phúc hậu, tính tình đơn giản, nhu mì, không bao giờ bẳn gắt. Lấy ông nội tôi là người chủ ruộng, bà nội tôi phải làm việc vất vả, quán xuyến việc đồng áng, nhà cửa. Rồi hai ông bà bỏ hết của cải, ruộng vườn di cư vào miền Nam. Lúc mới vào Sài Gòn, bà tôi phải đi gánh nước thuê, hằng ngày phải dậy từ ba giờ sáng đi bán xôi rong để nuôi gia đình cho đến khi bố tôi được bổ đi dạy. Bố tôi bảo bà nội lùn xủn vì suốt đời phải gồng gánh bưng xách. Những gồng gánh bưng xách đã hủy diệt sức lớn trong xương cốt của bà từ thuở còn là thiếu nữ.
Càng về già, bà nội tôi càng say sưa kể lể những chuyện quá khứ ở miền Bắc Việt Nam. Bà là nạn nhân của tục tảo hôn. Bà bị gả cho một cậu bé trai lên bảy. Buồn tủi, bà trốn bền nhà cha mẹ . Rồi sau, bà lấy ông nội tôi là con nhà địa chủ. Bà phải làm dâu, cũng phải để ông nội tôi lấy vợ bé, và phải tảo tần sương gió. Sinh đẻ cả hơn mười lần, chỉ nuôi được năm. Trong cuộc chiến tranh Việt Pháp, người con gái đầu lòng của bà, cô cả chị bố tôi, bị tử nạn năm hai mươi tuổi. Cô cả là người phụ nữ học thư’c, làm nghề y tá, nói tiếng Pháp thạo.

Ngày còn là học sinh ở Việt Nam, tôi vẫn suy nghĩ mãi, không hiểu tại sao trong cuộc đời bà nội tôi cũng có những cái tang đau khổ, những biến cố đánh nặng vào đầu óc, vậy mà bà nội tôi không mộng thấy quan tài. Hay là bà nội tôi cũng có nằm mộng đấy, mà không kể lể, khóc thương?

Chiếc quan tài ám ảnh tuổi thơ của tôi cùng với hình ảnh những người đàn bà khác trong họ. Tôi có người cô họ, tên Oanh, năm hai mươi hai tuổi thì chồng chết trận. Cô than khóc, vật vã, gào thét, vất vưởng, mắt lạc thần cả mấy năm sau đó. Trong họ hay bảo: cô khật khùng vì đau khổ. Tôi có người dì họ, tên Thanh, chồng chết đã lâu. Bà ngồi bán nón ở chợ Đông Ba, Huế để nuôi con. Đứa con trai của bà chết trận. Quan tài của con chở về, bà cũng khóc lóc, vật vã, khật khùng như cô Oanh. Chứng kiến nỗi đau khổ của họ, tôi vẫn tự hỏi không biết rồi họ có nằm mộng thấy những cỗ quan tài trôi lềnh bềnh trên sông như bà ngoại tôi?

Cũng năm mười lăm tuổi, tôi đọc cuốn Phái Thứ Hai (Deuxième Sexe) của nhà văn Pháp Simone de Beauvoir, tình nhân của triết gia Jean Paul Sartre. Trí óc tôi chưa đủ phát triển để hấp thụ hết cái thuyết tranh đấu cho nữ giới trong tác phẩm của de Beauvoir. Nhưng tôi đã đủ lớn không để nhận thức rằng trong tác phẩm của nhà văn nữ này, không có cái ám ảnh đau thương của những cỗ quan tài như trong giấc mộng của bà ngoại, không có những gồng gánh, bưng xách đến lùn cả người như trong đời bà nội tôi, cũng không có những cỗ quan tài bọc cờ và những cơn vật vã, khật khùng của cô Oanh và dì Thanh. Những phụ nữ Âu Mỹ tranh đấu để được quyền. Còn những phụ nữ trong gia đình tôi phấn đấu để sống còn, và sống là sống cho người chứ không phải cho mình. Tôi tự hỏi tại sao trên mặt đất này mà những mẫu người đàn bà được Simone de Beauvoir phân tích là tác phẩm của trí tuệ và ý thức, còn những người đàn bà thân yêu trong đời tôi là tác phẩm của nước mắt chảy ngược vào lòng?

Tháng tư năm bảy lăm, bố tôi mang vợ con, cha mẹ và anh em vào phi trường Tân Sơn Nhất để đợi máy bay sang Mỹ. Dĩ nhiên là ông bà ngoại tôi ở lại Sài Gòn chứ không thể nào theo con gái và gia đình con rể. Cuộc ly biệt quá ngắn ngủi, vội vã. Để tránh xu’c động, ông ngoại tôi lánh mặt con gái, con rể, và các cháu. Mẹ tôi cũng tránh vương vấn chia tay với ông bà ngoại, và tôi cũng thế. Tôi nhớ mẹ tôi gọi bà ngoại vào trao tay hòm chìa khóa thay thế lời từ biệt.
Bố tôi dùng xe hơi chở gia đình vào phi trường. Không hiểu vì sao, tôi tình nguyện lái Honda PC theo sau. Tôi nhớ mãi hình ảnh bà ngoại tôi đứng ngơ ngác bên cửa sổ sân nhà, không dám hỏi chuyện để tránh xúc động khi những người thân của bà đang tíu tít xưa xoan cho cuộc hành trình vô định. Bà đội nón lá như lúc đi chợ, tóc muối tiêu búi đàng sau, đôi mắt buồn như muốn khóc.
Đó là lần cuối cùng tôi nhìn thấy bà ngoại tôi.

Bây giờ tôi đã lớn, tôi không làm cô giáo. Tôi không ở Huế và bà ngoại tôi đã chết.
Một buổi chiều mùa hạ năm bảy chín, tôi theo một người bạn trai Mỹ làm nghề phó nhòm, muốn chụp ảnh tôi để “lăng xê” tôi làm người mẫu. Tôi gọi điện thoại về nhà, thì bên kia đầu dây mẹ tôi tức tưởi: “Con ơi, bà ngoại chết rồi!”. Tự nhiên trong bụng tôi đau nhói như có mũi dao đâm. Tôi không khóc nhưng lần đầu tiên trong đời, tôi có cảm giác gọi là “đau như đứt ruột”.
Bà ngoại tôi chết trong đau đớn vì bạo bệnh mà không đủ thuốc men. Bà mất đi không một lần thấy lại đứa con gái thân yêu, con rể, và các cháu ngoại, nhất là đứa cháu đã chia sẻ những giọt nước mắt với bà.
Cái chết của bà ngoại làm tôi thấm thía thêm ý nghĩa “sinh ly tử biệt”. Lần cuối cùng nhìn bà ngoại buổi chiều tháng tư năm bảy lăm, khi bà tần ngần đứng bên cửa sổ nhìn con cháu ra đi là ý nghĩa nỗi khổ “sinh ly”. Và tin bà chết ở bên kia bờ đại dương là ý nghĩa niềm đau “tử biệt” . Tôi tự an ủi nghĩ rằng tôi không phải là người độc nhất thấm thía cái đau sinh ly tử biệt. Mà đó là cái đau chung của cả một dân tộc kém may mắn trên bản đồ thế giới. Nô lệ và chiến tranh. Một cơn lốc chính trị xoay chuyển cả nguồn gốc của một văn hóa nghèo, chậm tiến. Trong phần tư thế kỷ mà hai lần di tản cả triệu con người, vượt đường trường, vượt đại dương.

Tôi vẫn tự hỏi trong thời gian chúng tôi ở Mỹ, và bà ngoại sống thiếu thốn ở Việt Nam, không biết bà có nằm mộng thấy những cỗ quan tài trôi sông, và bà có thấy những gì bên trong cỗ quan tài đó ? Điều đó bà chưa hề hé môi chia sẻ với tôi. Hay với bất cứ ai, kể cả chồng con.

Năm một chín chín mươi, tôi có một hồi rảnh rỗi trong nghề nghiệp để đọc lại văn chương Việt Nam. Lần đầu tiên, tôi ngồi đọc hết mấy ngàn câu Chuyện Kiều, để ngẫm nghĩ về nước mắt, định mệnh, và sự phấn đấu của cô Kiều, về thân phận người đàn bà mà Nguyễn Du thương xót như thương xót chính thân phận tài hoa kẻ sĩ, và nỗi cô đơn tột độ của người thức giả:

Bất tri tam bách dư niên hậu
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như

Cũng năm đó, vô tình tôi đọc một truyện ngắn của bà Bùi Bích Hà, làm tôi nhớ giấc mộng mộng của bà ngoại. Tôi không biết là truyện có thật hay không? Nhà văn kể lại truyện của một người đàn bà Việt Nam đi vớt xác con trên đường đi vượt biển. Truyện làm tôi bàng hoàng, nhắc tôi nhớ hình ảnh người đàn bà chịu đựng, ngồi một mình chờ những cỗ quan tài lềnh bềnh trên sông. Những cỗ quan tài của Tĩnh Tâm.
Tôi đi tìm một cuốn sách tâm lý giải mộng của Tây phương. Trong cuốn sách đó, tác giả bảo nằm mộng thấy quan tài là cảm giác bất an của người bị đe dọa bởi thiên tai, đại họa, sự trừng phạt vô cớ của định mệnh, hoàn cảnh, ở ngoài khả năng và quyền hạn của con người, không đo lường được.

Cuối năm đó, có lần tôi ra đứng bên bờ Đại Tây Dương, ngắm tượng Nữ Thần Tự Do khi thành phố Nữu Ước lên đèn. Gió lành lạnh. Hình ảnh người phụ nữ cầm chiếc đuốc soi bờ đại dương sừng sững một mình tự nhiên làm tôi nhỏ nước mắt.
Tôi không biết mình nhỏ nước mắt vì ai, cho ai. Tôi đâu dám bắt chước con người tài tử Nguyễn Du khóc người ba trăm năm trước để hỏi người ba trăm năm sau. Có lẽ tôi khóc vì tôi nhớ lại cuộc di cư ngày nào. Tôi nhớ đến khuôn mặt đẹp và ánh mắt sầu muộn của bà ngoại tôi. Giấc mơ hồn nhiên của tuổi thơ, sẽ làm cô giáo nuôi bà ngoại ở Huế, tôi đã bỏ mất. Bà không còn chỉ là bà ngoại, mà là hình ảnh Tĩnh Tâm, người phụ nữ sinh trước tôi hai thế hệ. Hình ảnh bà mang tôi về tuổi thơ xứ mẹ. Hình như tôi khóc vì trong lòng tôi cũng mang hình ảnh những cỗ quan tài như trong giấc mộng của Tĩnh Tâm. Vì tôi mang nặng một nơi chốn đã đi vào tiềm thức tôi, một nơi chốn mà thân phận đàn bà là tiếng kêu rên xiết trong những tập tục và thành kiến văn hóa bóp kẹp con người, nơi chốn của một cuộc chiến tranh tức tưởi, và những hỗn loạn lịch sử vời vợi thương đau, đã gây nên sự phá sản, không phải chỉ vật chất, kinh tế, mà e còn lan sang địa hạt tinh thần.

Tôi tự hỏi có người phụ nữ Việt Nam nào nhạy cảm, là nạn nhân của xã hội chiến tranh đó, mà không mang trong lòng những cỗ quan tài của Tĩnh Tâm? Tôi may mắn sinh ra trong một thời đại không phải gồng gánh, bưng xách như bà nội tôi, không phải cưới vợ hầu cho chồng như bà ngoại tôi, không phải là nạn nhân của tục tảo hôn, không phải tủi sầu vì không có con trai. Tôi may mắn không phải đi vớt xác con, đi nhận xác chồng, xác con trai như những người bất hạnh của cố hương đầy đau khổ.

Tôi tin vào thuyết tiềm thức tập thể của nhà tâm lý học Carl Jung. Cho nên tôi đứng đó, đối diện tượng Nữ Thần Tự Do, bên bờ biển Đại Tây Dương, là một người đàn bà di dân đến từ nước Việt Nam nhỏ bé, trước ngưỡng cửa thế kỷ hai mươi mốt, nhớ đến hương hồn của bà ngoại và nghe tiếng kêu khóc của những người đàn bà Việt Nam xấu số. Tôi đến Mỹ khi còn là đứa bé gái hăm hở trước cuộc đời. Cuộc di cư đã cho tôi lối thoát và cơ hội để áp dụng sự phân tích của Simone de Beauvoir vào đời sống của chính mình. Nhưng tôi vẫn nhỏ nước mắt, hướng về Tây phương và quay lại Đông phương, thường tự hỏi mỗi nơi sẽ đem lại những gì cho tính nhạy cảm và cái tiềm thức văn hóa trong tôi. Nước mắt tôi vẫn nhỏ, cho dù bề ngoài tôi cứng rắn, vì tôi đã nghe, đã chứng, đã xót xa trong lòng về những cỗ quan tài của Tĩnh Tâm.

Dương Như Nguyện
(Mùi Hương Quế)

UỐNG RƯỢU CÙNG ĐỖ MỤC

buichivinh

Nằm mơ đối ẩm cùng Đỗ Mục
Rượu nửa phần trong, nửa phần đục
Hai người giành nhau uống một chung
Lúc cạn giành nhau ứa nước mắt

Đỗ Mục mang hài, ta chân đất
Người xưa làm quan, ta thường dân
Hẳn ngàn năm trước huynh đã khóc
Khiến ngàn năm sau đệ rưng rưng

Huynh nổi tiếng bạc tình thi sĩ
“Lạc phách giang hồ tái tửu hành”
Ta đi lính quân hàm trung sĩ
Cũng từng ở ác chốn lầu xanh

Hà tất bàn chi sang trận mạc
Rủi lát nữa tên bay, đạn lạc
Đệ chui xuống đất, huynh lên trời
Vò rượu để không buồn muốn khóc

“Đoạn tống nhất sinh duy hữu tửu”
Thà ngồi đây nói về phụ nữ
Tội nghiệp cho huynh: chàng đẹp trai
Xuống Dương Châu chỉ nhậu lai rai

Mà phụ nữ ngày xưa chắc ngộ
Đâu có cọt-xê, chỉ yếm đào
Nếu huynh ghiền gái mời ra phố
Tốn ít tiền quên hết binh đao

Thứ nữa mời huynh một điếu thuốc
“Ba số” thơm râu không chê được
Huynh xưa là thứ sử nhà Đường
Dọc tẩu gối ả đào say khướt

Riêng ta kiếp lính nên kèm lác
Tướng sang mà vẫn kiếp ngựa thồ
Trời ơi, hai gã thơ chưa khạc
Tiếng gà nỡ gáy rách cơn mơ…

BÙI CHÍ VINH