EM…

10735644_826194720769236_378143114_n (1)

ta đi ghẹo thiên hạ
(chỉ không dám ghẹo nường)
thiên hạ cười hết biết
không biết ta bi thương

hôm ra sông ngồi khóc
con trăng đứng ghẹo ta
ta cười cũng hết biết
rung chuyển cả ta bà

lúc ta ghẹo cuộc đời
đời không cười lại khóc
ngựa cưỡi về phương đông
thấy mặt trời quên mọc

năm ngón tay ghẹo tóc
trông lãng tử gì đâu
soi gương rồi đập đất
vỡ cả mảnh trăng sầu

ta đi ghẹo quá khứ
những con ngõ đường cùng
lưng chạm tường mới thấy
màu vô thuỷ vô chung…

NGÔ YÊN THÁI

BÓNG ĐỔ

tranvannghia

Mỏng manh góc gió hiên nhà
Giật mình chiếc lá chao nhoà cuối sân
Nhặt trên gối cũ tôi nằm
Có hương tóc ,cả tình đăm đắm về

Xiêu đời líu ríu cơn mê
Bóng lênh đênh ngón tay xoè níu nhau
Lỡ xa mắt mộng hôm nào
Đêm hoang mang mấy nhịp cầu phố xưa

Lặng tìm giữa sóng sông mưa
Nước loang loáng nhớ đâu mùa trăng phai
Cuối đường tăm tắp bóng ai
Thót tim một tiếng còi dài ga khuya

TRẦN VĂN NGHĨA

Nợ đời

nguyentri

Cổ chí kim, đông sang tây, âu sang á. Xưa nay người thân trong gia đình bị tai hoạ thì chắc chắn phải buồn. Bậc làm cha mẹ ắt phải đau lòng sa nước mắt nếu con cái giã từ mình đi trước về âm cảnh. Có câu lá vàng khóc lá xanh rơi. Trường hợp người thân ra đi mà… mừng cũng không hiếm. Trầm kha trên giường cả năm ròng, nhắm mắt được thì người thân phải mừng. Trường hợp nầy niềm đau trong tâm kẻ ở lại có giảm đi nhiều phần, nhưng vẫn có. Cũng có những trường hợp ra đi mà kẻ ở lại mừng ơi là mừng. Trong ruột cả cha lẫn kẻ rứt ruột đẻ ra không một tí đau nào sất. Thiệt đó. Xin thề là nói thiệt. Nếu xảo ngôn hay ngoa ngữ một li lai nào là hộc máu trào cơm chết tức khắc liền. Mà cũng chẳng thề thốt chi cho ác miệng cứ đến trấn X là ra đầu ra đũa mọi chuyện. Đừng nói X, và huyện Y ai cũng rành sáu câu vụ chết chóc của hai thằng Mười Lâm và Sáu Ngón. Riêng thằng Chín Địa thì đang hấp não đâu đó trên phố lớn.
– Sao hấp não? Mà hấp não là sao?
– Ai biết. Nghe nói sao tao kể lại y vậy. Đại khái là nó bị Tí Anh chém một mã tấu vô đầu. Sao đó không biết mà phải hấp.
– Má ơi… thà chết cho rồi chớ vậy thì tiền tỷ cũng cứu không nổi. Mà sao vậy? Sao mà bar Moon-beer phải đóng cửa? Tụi nó chơi nhau trong quán hả? Chuyến nầy bên nhà thằng Mười Lâm với gia đình Sáu Ngón thoát được hai cái nợ đời rồi phải không mậy?
– Ừ, thoát chắc rồi. Mày biết không? Ngay cả hai trại hàng Ngũ Hành và Bát Quái cũng không thèm hai cái xác nầy nữa đó. Xưa nay có cái chết nào mà thoát khỏi họ? Vậy mà không ngó là đủ biết sao rồi, thậm chí cả hai gia đình nghe báo hai ông con đang nằm trên nhà xác bệnh viện cũng không động tâm. Hai thằng nằm từ tám giờ tối mà đến tận hai giờ chiều hôm sau nhà mới lên nhận xác. Tay trực nhà xác đòi đóng tiền xuất xiếc chi đó bị thằng Năm Ngưu anh Sáu Ngón nói cho thì tao mang về bằng không tao để đây luôn. Tay bảo vệ phải xuất cho rồi. Biết Sáu Ngón về nhà bằng xe gì không?
– Gì?
– Hoa Lâm ba bánh của thằng Quang. Cha thằng Sáu biểu thằng Năm đi mua mấy tấm ván coffa về đóng hòm, thấy vậy hội bảo thọ xã cho một cái. Thằng Mười Lâm cũng yên vị trong hàng của hội luôn. Chỉ có nhà Chín Địa là bái xái, nhưng nghe nói cả nhà tính đưa ông con về rồi chết chóc tính sau. Của cải đâu mà nuôi người bị hấp não?
– Mọi chuyện làm sao mà hậu quả trầm trọng vậy?
Băng của Sáu Ngón một bàn, băng Mười Lâm một bàn. Hai phe ăn nhậu trong lẩu bò Đức Phát. Một thằng bán kẹo kéo dạo có nhạc nhẽo vô mời. Mười Lâm giựt mi cờ rô và rống và nhảy một bài lá cải. Sáu Ngón có rượu vô nói câm cái họng lại. Vậy là ra chuyện đòi đập nhau. Cha Đức Phát yêu cầu cả hai phe ra khỏi quán. Vậy là ra một trận. Công an trấn X đến thì cả bọn đâm đầu bỏ chạy. Mười Lâm chạy về đến Moon-beer thì Sáu Ngón rượt kịp. Sỡ dĩ Tí Anh dính líu và nặng tội là vì cả hai thoi luôn Tí khi thằng nầy ra can. Tí Anh bảo kê cho Moon-beer nên đâu thể để lơm cơm làm mất uy của mình, nó rút dao ra cho mỗi thằng một lụi. Chín Địa là đàn em Mười Lâm cầm mã tấu nhảy vô chém Tí Anh. Tí giựt được mã tấu và cho Chín một nhát vô đầu. Vậy đó.
Vậy là các quán cà phê từ cóc đến cao cấp ở trấn X cứ ngồi xuống là chuyện vụ án được banh ra mổ xẻ. Thiên hạ thở dài sao mà bầy trẻ ngày nay manh động dữ? Hở tí là dao thái với mã tấu để thị uy. Chuyện từ đời não của hai thằng chết, thằng hấp não và Tí Anh được bàn kỹ nhất. Kẻ nói từ gia đình mà ra cả. Con cái đẻ ra mà không quan tâm dạy dỗ chi ráo. Họ kể chuyện Sáu Ngón vì sao mà nghỉ học:
– Nó hư lắm. Mới lớp chín mà hút thuốc, cãi lại cô giáo dạy anh văn, bị tổng phụ trách nêu tên buổi chào cờ đầu tuần nên bỏ học luôn. Lúc đó nó thân với Mười Lâm nên ông nội Mười nghỉ theo luôn cho có bạn.
– Sao thân nhau mà ngày nay đánh nhau bằng hung khí? Sao cãi lại cô giáo? Với lại tui thấy chuyện tên tuổi học trò ra nêu trước chúng bạn cũng không phải quý ông ơi. Bầy trẻ ngày nay nhạy cảm hơn bọn mình xưa kia gấp nhiều lần. Xưa kia mình sợ chứ bây giờ chúng nó hận.
– Để nói cho nghe vì sao thằng Sáu Ngón cãi cô giáo. Chuyện này hơi nhạy cảm một chút. Mấy ông nghe tên cô Sao Mai dạy anh văn chớ hả? Bà cô nầy buộc học trò học thêm là có đó, không ngoa tí nào đâu. Con Hiền cháu ngoại tui nói không học là bả kiếm đủ chuyện để răn. Thằng Sáu Ngón dốt đặc môn tiếng anh, mất căn bản từ lớp sáu thì ông trời cũng chịu sầu nói chi cô Sao Mai. Bà cô nói ông con đi học thêm thì ông con nói một câu làm bà Sao Mai xám mặt.
– Câu gì mà dữ vậy?
– Nó nói lớp sáu em không biết thì ép em học thêm lớp chín làm chi?
– Mất dạy vậy?
– Là do bữa đó ông con phê rượu.
– Trời đất ơi. Mới lớp chín mà rượu? Rượu đâu mà nó uống?
– Ông đúng là không biết gì hết trơn. Cứ ghé mấy cái quán xung quanh trường là mục kích mấy đứa cá biệt hút thuốc xực rượu. Thằng Sáu Ngón và Mười Lâm sáng nào cũng chơi chai xì tinh và ly rượu đế cưa hai uống cho bốc rồi mới vô lớp.
– Mấy thằng bán quán thất nhơn vậy?
– Sao thất nhơn? Có tiền không bán nó phá chứ chơi à?
Gia cảnh Sáu Ngón khó khăn lắm. Sau nó còn hai đứa em nữa. Xưa nay đông con luôn kéo theo nghèo. Mà đã nghèo thì các bậc cha mẹ cũng có lơ là tí đỉnh trong việc nuôi dạy con. Riêng gia đình nầy thì lơ thiệt luôn chứ tí đỉnh cái con khỉ. Thậm chí thằng Sáu có đi học hay không chả ai quan tâm. Mười bốn tuổi nó chơi một vố chấn động cả thị trấn. Sau đó bị bắt đi giáo dưỡng hết hai năm.
Nó đến nhà của Danh Hồng, bạn rất thân của cha, lễ phép thưa rằng cho ba con mượn cái xe lên huyện có tí việc. Danh Hồng cho mượn thì chớ còn đưa luôn cà vẹt và bảo hiểm. Cho nó chắc, lỡ bị giao thông tuýt còi là có ứng phó liền. Sáu Ngón đem xe ra tiệm, nó không cầm mà bán đứt. Tiền trong tay liền bắt taxi đi sài gòn chơi cho thoả. Đầm Sen Suối Tiên có món gì nó chơi món đó. Hai ngày sau nó bao taxi về. Tài xế thấy ông con chơi sộp nên bị ru. Thử hỏi nó mời vô quán ăn uống rồi móc bóp trả tiền sang như tây ai không tin? Đến chừng xuống xe ông con quăng mình bỏ chạy. Một trăm mấy chục cây số đường đâu phải ít. Một vài người gần đó nghe phân trần biết ngay Sáu Ngón chứ không ai vô liền khuyên tài xế đến trụ sở uỷ ban gần đó thưa việc. Lợi dụng tín nhiệm lấy tài sản người khác là một, lừa đảo là hai, đủ tuổi là tù chắc. Không tù thì giáo dưỡng gọi.
Hai năm sau ông con về đời trông phong trần lắm. Ông cha vừa mở miệng con ơi con hỡi tu tâm dưỡng tánh mà làm ăn là Sáu xực lại ông ông tui tui du côn hết phép. Điên tiết lên cha già chửi cho một trận rồi đe rằng:
– Đồ mất dạy. Mày đi luôn đi.
Ở đâu có bạn đó. Trong trại Sáu kết thân được với một mớ đời bụi. Mớ nầy có anh em ngoài đời làm đủ thứ trời ơi. Vậy là Sáu kết bầy đàn làm đệ tử cho một anh thứ thiệt. Anh ngồi trong bóng tối điều hành lũ trẻ con làm bậy. Về sau Sáu thấy kiểu cách của anh làm ăn ngon quá nên lén làm riêng. Ai ngờ riêng tư mới được hai vố thì bị công an bài trừ tệ nạn hốt cốt khi đang hành sự. Sáu Ngón ngu quá. Ma tuý mà bỏ trong cốp xe, bị bắt là phải. Nó bị kêu bốn năm tù giam về tội tàng trữ chất gây nghiện. Ra tù nó nói với bè bạn:
– Tao đâu có ngu mà bỏ trong cốp, thằng Hậu chủ trì hết. Không ngờ đàn anh mà chơi dơ.
– Ai biểu mày qua mặt?
– Đù má…. lấy hàng rồi giao hàng nó lời tiền tỷ mà chung cho em út như ăn mày…
Lửng lơ vậy mà một hôm kia đàn anh Hậu được đưa lên bệnh viện vì bị đâm lủng bụng. Công an trấn X kết thức vụ truy lùng một tội phạm. Thằng Hậu nầy là ma chứ không phải người và dân hẻm Z cứ như dân đảo Corse bên Pháp vậy, sợ tội phạm hơn sợ công quyền. Biết thằng khốn ở đó ở kia nhưng họ không tố. Ngu sao tố. Đã có lần Hậu bị bắt vì có người mật báo. Ai ngờ sáng bắt chiều thả. Đã vậy Hậu còn biết ai đã bán đứng mình, nó cho thằng phản một bài học dân chơi nhìn qua là thất kinh. Không có chuyện tự thanh toán dễ chi triệt được con ma nầy. Nhưng mà ai đâm nó vậy kìa?
Ai biết được. Thằng Hậu còn không biết vì bị đâm khi đang ngủ. Tuy nhiên giang hồ vặt trấn X có vể nể nang Sáu Ngón lắm. Chúng xì xáo rằng Sáu Ngón chứ không ai vô. Không vỗ ngực xưng danh nhưng mấy cái quán karaôkê có bia bọt và phục vụ nữ biết điều với Sáu lắm. Ba cái quán nầy dĩa trái cây trăm ngàn, lon bia vài chục ngàn. Khách khứa toàn đài với hàn sờ em gái tí tí anh bo đôi trăm. Đi chơi một tí anh cho một triệu. Không chung mấy thằng vặt nó phá, khách không tới là mệt mỏi lắm.
Trấn nầy có cả chục cái ka ra như vậy. Đàn anh Hậu ra đi thì Sáu Ngón và bạn thân Mười Lâm xìa tay nhận tiền. Phải chi yên vậy thì hay quá. Đằng nầy hai thằng khốn lấn sân qua lĩnh vực đá đấm. Tục gọi ngáo đá đá ngáo. Đã là dân chơi, bão tố còn không sợ nói gì mưa. Hai anh giao hàng cho các em thích cảm giác. Bất ngờ không phải một mà cả hai anh luỵ một nhan sắc có tầm. Nàng đẹp ôi thôi đẹp.
Đừng tưởng mấy thằng bị cái chết trắng giết lần mòn mà không mê gái nghe. Chúng đắm hơn người thường gấp chục lần. Tầm cỡ Trụ Vương mê Đắt Kỷ, Ná pồ lế ồng mê Đố dề phin chứ không ít. Đắm chừng nào ghen chừng đó. Nàng tên Thanh Trúc. Mụ chủ của ka ra Hoàng Hôn chửi hai thằng khốn không tiếc lời. Sư cha nó, có được con đào đẹp để câu, nó giữ riệt làm của riêng, ai không tức? Bà chủ liền méc với một anh có quyền vẫn thường đến kiểm tra quán. Anh hứa sẽ chặt bay đầu bọn du côn. Nhưng mà chị cứ làm như vầy nè… vầy nè…
Hôm đó Sáu Ngón đến quán yêu cầu Trúc tiếp khách. Bà chủ nói Mười Lâm dẫn con Trúc đi chơi rồi. Nóng mũi Sáu đi tìm Mười. Khi Mười đến chị chủ nói Trúc đi chơi với Sáu. Chỉ vậy thôi mà hai thằng ngu sinh chuyện. Riêng em Trúc thì anh nào cũng được, anh nào có tiền thì em hầu. Chỉ vì một cô gái mà hai thằng thân nhau như huynh đệ hoá kẻ thù một khi. Cho hay nhan sắc bén như dao cạo chứ không đùa.
Vậy rồi chuyện xẩy ra, chả ai nhịn ai. Chúng đánh nhau và chạy về Moon-beer chơi tiếp.
Sự cố xẩy ra bên ngoài quán bar. Vậy mà chả hiểu sao Moon-beer đóng cửa. Bộ có dính líu hay sao vậy kìa? Mới khai trương mà kỳ vậy ta?
***
Nói về Tí Anh thì ba quân sợ hơn hai thằng bị chết nhiều. Cha Tí Anh qua đời sớm. Má nó buồn quá nên lấy cờ bạc làm vui. Má nó hay lắm, có thể ngồi bên sòng tứ sắc hai bốn tiếng mà không biết đau lưng là chi. Một hôm bà ta đứng dậy vì nghe tin thằng con trai bị bắt lên thị trấn về tội đánh người gây thương tích trầm trọng.
Kẻ bị đánh là thầy tổng phụ trách. Hôm thứ hai, thầy nêu tên những học sinh cá biệt và những hành vi phá rối của chúng. Sau đó yêu cầu cả bọn lên cột cờ cho ba quân chiêm ngưỡng. Nguyễn Văn Anh thường gọi Tí Anh không lên mà trèo tường bay ra ngoài. Nó ngồi ở cái quán trước cổng chờ tan học. Thầy tổng vừa ra là nó nhào tới uýnh liền. Tất nhiên mấy bà bán hàng rong điện cho công an. Học trò đánh thầy quả là thời buổi nhiễu quá rồi. Quỷ lộng. Quỷ lộng. Hai ông thầy khác kẹp tay Anh giữ yên cho đến khi công an đến. Tay tra vô còng mà Anh còn hăm he:
– Hai thằng này khoá tay tao thì nhớ đó. Ra tù tao sẽ cho tụi mày biết lễ độ.
Công an tên Trường xáng cho bạt tai. Tí Anh nói:
– Đánh đi. Đánh cho chết nghe. Tao mà sống là mày đừng có trách.
Trời đất ơi. Con nít mươi lăm tuổi mà ghê chưa kìa.
Sau hai năm giáo dưỡng. Yên vị mới được ba ngày thì bọn cho ăn lời cắt cổ đến đòi tiền má nó vay vì cờ bạc. Không riêng má nó đâu nghe, ba con chị cũng một khuôn. Vậy thôi, rau nào sâu nầy, mẹ sao con vậy. Không tiền trả thì cắt đất để trừ. Đang nhậu nhẹt với bè bạn Tí Anh liền về nhà. Có tí men nên máu tù trổi dậy:
– Mấy thằng mày muốn gì? Má tao vay trong sòng thì từ từ trả. Thằng nào cá chớn tao chém thấy mẹ à. Thiếu nợ giấy tờ đâu?
– Tao bẻ gãy họng mày bây giờ thằng ôn con. Tưởng giáo dưỡng về là ngon hả. Dao nè, chém đi.
Nói xong đối tác quăng ra ngọn dao bầu. Loại dao băm thịt chặt xương trong mấy quán phở. Xưa nay hăm he thì ai chả mạnh miệng, quan trọng là dám hay không. Nhưng Tí Anh gan cùng mình, nó cầm ngọn dao lên và nhắm thằng xâm mình to con nhất chém liền. Ngọn dao dính vô vai làm thằng kia thất sắc. Hai thằng còn lại ngớ người chưa kịp phản ứng thì Tí nhào tới buộc chúng phải lui gót. Tí ra theo mặt lạnh như tiền. Má nó và ba con chị run thôi là run:
– Bọn mày xâm nhập gia cư bất hợp pháp là tao chém. Dao của tụi mày đó nghe.
– Được rồi – thằng bị chém nói – hãy đợi đó. Cả nhà mày không yên với tao đâu.
Nói xong cả ba lên xe rồ ga phóng đi. Chả nói chả rằng Tí kêu một thằng bạn chở mình chạy theo. Nó đến tận đại bản doanh của ba thằng côn đồ đòi nợ mướn. Đó là nhà của chủ trại hàng Bát Quái. Một trong hai chủ trại đang làm ông làm cha của thị trấn.
Thật là biết người biết ta. Chủ trại ra tay giảng hoà và mời Tí Anh về làm việc với mình. Công việc chả có chi. Chỉ đi đòi nợ kẻ thiếu mà ù lì không trả. Nhất là mấy nhà có con chết chôn cất rồi mà lâu quá không xong cái vụ tang ma.
Thời nầy ba biếc trên phố họ ăn nên làm ra quá. Phố làm được thì tại sao thị trấn không làm? Bộ tưởng dân trấn thua phố lớn chắc? Chả phải ở đây bò lên phố để đốt tiền đó sao? Nghĩ vậy nên trại chủ Bát Quái mở bar Moon-beer để phục vụ khách chơi.
Mới khai trương có chục ngày đã phải đóng cửa. Thiệt là tình.
Nhưng tại sao phải đóng? Chuyện thằng Tí làm nó chịu. Không có nó thì thằng khác bảo kê. Đúng không?
Ta bà ơi là ta bà. Các ngươi chỉ thấy cái nổi mà không hề thấy cái chìm. Để một quán bar ngự trị trên đất nầy bộ một mình Bát Quái hả? Một mình thì có mà ăn cám. Rồi ba biếc chỉ bia và gái hả? Nếu vậy ra mấy quán ôm cũng đầy. Thằng Tí mà khai là chết cả lũ. Tạm thời đóng cửa để yên yên đã rồi ta tính sau.
Quan trọng là làm sao cho Tí Anh câm họng lại. Nguy quá. Nó mà khai vơi điều tra xét hỏi tỉnh – những người mà – trình độ nghiệp vụ cao tận trời thì thằng du côn nầy nghĩa lý chi. Chao ôi Tí mà khai có thuốc lắc có hàng trắng có cả đá điếc thì mười Bát Quái cũng tiêu vong nói chi một. Đùng một phát như sấm động cả trấn X giật thót mình khi nghe tin Tí Anh tự sát chết ngắc trong tạm giam.
Bát Quái mừng rơn nhưng không mừng bằng bà má và ba con chị của nó. Nhớ lúc mới giáo dưỡng về, tụ tập với chúng bạn xì ke. Cơn nghiện lên không kể chi mẹ hay chị không đưa tiền là nó đập từ trái sang phải.
Chết phải rồi. Mừng cũng đúng luôn.
Không tin cứ đến trấn X là tinh thông liền.
Chỉ tội nghiệp cho gia đình Chín Địa. Thà là Chín chết cho rồi chứ cả nhà xúm vô hầu hạ một kẻ ngờ nghệch thì mệt quá trời ơi.
Nguyễn Trí

TÔI CẦN ĐI

dotandat

Tôi cần đi
Vào những chiều nào đó
Những ý rời ngôn ngữ
giẫm lên cỏ
giẫm lên cát
giẫm lên sỏi

để thấy
sự mềm mại
uyển chuyển

và đôi khi
nhói
đau từ các phần khác của
cơ thể già nua
trốn tránh
ảo giác

tôi cần đi
vào những chiều nào đó
những âm thanh rỗng
khoét vào tai
khoét vào não
khoét vào thần kinh

để thấy
sự náo nhiệt
của một bầy chim
di cư
làm tổ
và đẻ trứng

mà không
để thấy
sự im lặng
dội bom

và nỗi nhớ
phân mảnh…
từng góc chiều
hồi sinh…

ĐỖ TẤN ĐẠT

MẬT NGÔN

yenhong

Giữa trưa lại có giấc mơ
Thấy chim hạc trắng bên bờ ruộng xanh
Thấy cơn sóng bạc đầu ghành
Vỡ trên tảng đá long lanh nắng chiều
Thấy vành trăng mỏng xa treo
Giữa màu sương đục cheo leo núi đồi
Thấy ai dáng lạ như Tôi
Trắng như bóng hạc bên trời sương phai
Thấy trong đáy nước đêm dài
Thiên Thu còn đọng một bài chuông ngân

YÊN HỒNG

MẸ KHÔNG ANH HÙNG

khuatdau

Người Đàn Bà Trong Ang Lúa

1

Lần đầu thấy kinh nàng khóc suốt 3 ngày đêm. Nàng cứ tưởng mình sắp chết đến nơi. Không một ai nói cho nàng biết, đó là chuyện bình thường của một người con gái đã đến tuổi dậy thì. Người đầu tiên có thể nói là mẹ, nhưng từ khi bập bẹ cho đến lúc thấy kinh nàng chưa hề một lần được gọi cái tiếng mẹ như những đứa bé khác. Nàng chỉ thấy cha nàng hốt hoảng đuổi những người đàn bà lúc nào cũng cầm một cái mo cau mệt mỏi bước đi giữa đám ruồi nhặng muốn bước vào nhà. Ông gọi đó là những người “gãy cẳng”. Nó vừa dơ dáy vừa xui xẻo, có thể làm nổ tròng mắt của những người đang đau mắt.
Nàng nằm khóc trong cái buồng của mẹ. Nó tối đến nỗi nàng tưởng mình cũng đã tan ra thành bóng tối. Trên trần là một cái lẫm đựng lúa, nơi lũ chuột ngày đêm rúc rích hết cắn lúa lách tách lại cắn nhau chí choé. Bên phải nàng là cái vách bằng gỗ ngăn cách chỗ ở tối tăm của người đàn bà với cái giường của người đàn ông. Mỗi đêm nàng đều nghe tiếng cha trở mình, tiếng rên và tiếng ngáy.
Chỉ một tấm vách thôi, nhưng khoảng cách giữa cha và nàng trong đời sống sao mà xa cách quá. Cứ như một người họ hàng đã phai nhạt đến bao nhiêu đời. Nàng rất ít khi được gặp cha, hay nói đúng hơn là không dám gặp. Chẳng phải vì ông đánh mắng mà vì, cũng chẳng hiểu vì sao nữa, nàng thấy trống ngực đập thình thình mỗi khi ông từ nhà trên bước xuống. Đó là chưa nói tới lúc phải đến đứng trước mặt ông mỗi khi có lỗi hay nghe ông dặn dò điều gì. Như lúc này đây, thà giết chết nàng còn hơn bảo nàng mang cái quần ướt đẫm máu đến gặp cha.
Sự xa cách ấy không hẳn dành riêng cho nàng mà dành cho tất cả đàn bà con gái trong nhà. Ngay lúc còn sống mà mẹ nàng cũng chưa bao giờ dám bước qua cái ngạch cửa cao ngang đầu gối, là ranh giới bất khả xâm phạm giữa nơi thờ tự, ăn ngủ của đàn ông. Mỗi khi có khách, nếu phải ra chào, mẹ nàng cũng chỉ đứng bên này cái ngạch cửa, nghiêng một nửa người mà cúi chào rồi lặng lẽ lui xuống bếp. Ngày giỗ Tết, họ phải tắm gội sạch sẽ, phải mặc áo dài, phải ngồi bẹp xuống sàn nhà, xếp hai chân qua một bên, trải vạt áo trước ra che hai đùi, kéo vạt áo sau phủ kín mông rồi mới chắp tay kính cẩn vái lạy trước bàn thờ…Nếu lúng túng vụng về, trải vạt áo không ngay ngắn để hở đùi hở mông dù có mặc quần liền bị chê là không biết lễ phép.
Ông có biết đứa con gái út đã 3 ngày rồi không thấy mặt, nhưng ông không buồn lên tiếng hỏi nó đi đâu. Bởi vì cơm vẫn được dọn ra trên cái mâm bằng đồng được lau sạch bóng, đũa vẫn không bị so le, ngay cả bát nước để cho ông súc miệng trước khi ăn vẫn trong vắt. Đĩa rau luộc vẫn xanh và sắp ngọn theo ngọn, gốc theo gốc. Con cá liệt gần như vẫn không mất đi chút nào cái màu bạc óng ánh trên lưng. Nghĩa là vẫn như mọi ngày, vẫn có bàn tay của nó đụng vào hay ít ra cũng được nó để mắt tới.
Bảo rằng ông không biết thương con là nói quá cho ông. Cha sao lại không thương con. Vì thương con nên dù chỉ mới lọt lòng mà mẹ đã chết, ông vẫn không cho bà sơ đứa con gái đỏ hỏn vừa mới cắt rún. Ông phải vất vả tốn kém bao nhiêu mới nuôi được nó sống đến bây giờ. Nào phải kiếm cho ra chị vú, mà phải đến 3 chị thay nhau mới đủ sữa cho nó bú đến thôi nôi. Nào phải tìm đứa ở để bồng bế, phải lo sài đẹn ghẻ chóc. Gà trống nuôi con, mà lại là con mọn, cái khổ ấy ông cho trên đời không gì khổ bằng.
Đến ngày thứ tư, cái thứ nước lạ lùng ấy không còn âm ỉ chảy ra nữa và nàng thấy mình vẫn còn sống. Rồi những lần sau, những tháng sau, nàng vẫn tiếp tục sống như bao người con gái khác. Lúc ấy nàng mới biết hai tiếng “gãy cẳng” là gãy như thế nào. Cũng may, nhờ có chị dâu chỉ cho nàng biết cách giữ gìn để khỏi phải lúc nào cũng mang theo một cái mo cau như những người đàn bà mà cha nàng thường xua đuổi
Cuối năm ấy, sau 3 lần kinh nguyệt , nàng tròn 14 tuổi! Chị dâu may cho nàng một chiếc áo dài bằng lãnh đen. Nàng e thẹn bước qua cái ngạch cửa, lúng túng trải vạt áo ngồi lạy trước bàn thờ dưới cái nhìn nghiêm nghị của người cha. Sau đó, nàng lạy cha để mừng tuổi. Ông hơi mỉm cười, giọng nói cũng có vẻ ấm áp dịu dàng hơn thường ngày, nhưng nàng nghe như có một tiếng pháo nổ trong đầu. Nàng bàng hoàng lo sợ còn hơn cả lúc thấy mình “gãy cẳng”. Ông không nói với nàng mà bảo với chị dâu như ra lệnh:
“ Rán lo năm nay em nó đi lấy chồng!”
Có một người cha như thế nên dù chưa biết lấy chồng là sao và dù có biết cũng không muốn, nàng vẫn chỉ có hai lựa chọn: một là lấy, hai là chết. Chỉ có vậy thôi, không kêu ca, không than thở gì hết. Nhưng cả hai việc lấy chồng và chết nàng chưa biết là gì thì làm sao chọn lựa được! Chính vì vậy mà nàng khóc mãi đến nỗi thâm quầng như bị ai đánh. Chẳng có ai lau cho nàng một giọt nước mắt, chẳng có người chị nào an ủi nàng một câu. Chỉ có lũ chuột tinh quái trên lẫm lúa là cười rúc rích suốt đêm.
Vừa qua khỏi rằm tháng giêng, đã thấy một ông trạc năm mươi quần cháo lòng ống cao ống thấp, cặp nách một cây dù, theo sau là một chàng mặt đầy mụn bước vào ngõ. Cha nàng chừng như đã biết trước, nên dù là người lạ chưa từng gặp vẫn bước ra chào hỏi ân cần. Họ bước vào nhà, ngồi xếp bằng trên phản gõ. Chàng trai đứng ngoài hiên. Cha nàng bày khay đựng bốn cái tách quý và gọi nàng từ dưới bếp lên nấu nước pha trà. Nàng định đi lên nhưng chị dâu nàng cười bảo để chị đi cho, người ta đến coi mắt đấy, em vào trong buồng mà thay áo quần cho sạch sẽ.
Một lúc sau nước sôi, chị dâu châm nước vào bình trà. Nàng chỉ có mỗi một việc bưng lên nhưng nàng thấy sao mà khó quá. Người ta thường bảo khó như đường lên trời nhưng nàng thấy giờ đây đường lên trời còn có vẻ dễ đi hơn. Một tay nàng cầm cái quai bình một tay nàng đỡ bình, nước sôi mới rót nóng đến bỏng da nhưng nàng cảm thấy tay mình như đang lạnh cóng. Khi bước qua cái ngạch cửa, ngón chân cái va vào gỗ cứng làm nàng lao chao suýt ngã . Cũng may là nàng bước qua được nhưng để giữ cho bình trà khỏi đổ, nàng phải chịu đau để cái vòi rót nước vào ngực. Sau này chỗ lõm xuống giữa hai cái vú nhỏ phồng rộp, khi lành còn kín đáo để lại cái vết sẹo xấu xí như trâu bò bị đóng dấu. Đó là kỷ niệm thấm thía trước ngày đi lấy chồng.
Lúc ấy, chàng trai đã lén vào nhà từ lúc nào đang đứng dựa cây cột. Chàng tuy nhìn xuống nhưng vẫn thấy được khuôn mặt vừa ửng đỏ vừa tái xanh của cô gái. Như thế là chàng đang “coi mắt”. Dĩ nhiên với cái mặt đầy mụn mà so với làn da ửng hồng trên mặt nàng thì với chàng, nàng quả là xinh đẹp. Còn nàng, dù sợ muốn đứt hơi nhưng vẫn lén nhìn chàng nhưng chỉ có thể nhìn hai ống quần trắng thả xuống sát đất che hai chiếc dép da màu đen mà thôi. Chẳng biết chàng cao hay thấp, đẹp hay xấu.
Những việc sau đó diễn ra nhanh đến không ngờ. Cha nàng tưởng là khó nhưng thật ra rất dễ. Hay là ông chỉ khó với con cháu trong nhà còn người ngoài thì không? Ông đã bỏ qua hết năm lễ bảy lễ gì đó, chỉ duy nhất một lễ ăn hỏi và rước dâu mà thôi. Ngay cả chuyện chàng trai phải ở rể đến 3 năm cũng miễn luôn.
Ông Hai Nhẫn, người làm mai của họ nhà trai chưa phải uốn cái lưỡi dài bảy tấc của mình ra, đã được ông thủ bản bỏ qua hết mọi chuyện để việc cưới xin trơn tru khiến cho ông thấy mình đúng là được sinh ra chỉ để làm cái nghề phước đức này.
Thực ra ông gặp may. Mọi sự trở nên dễ dàng đến quá nửa cũng là nhờ bà thủ bản đã không còn sống ở trên đời này. Dù cho người cha có dễ như cho không, nhưng người mẹ vì mang nặng dẻ đau không dễ gì để người ta đem đứa con rứt ruột của mình về nhà họ như thể đi mua một con heo. Bà sẽ đòi nào là kiềng chạm, xuyến ngọc, quần lãnh áo lụa cho con, sẽ đòi “bạc nát” tuy không thấm với công của bà đã nuôi con trong bấy nhiêu năm nhưng cũng đủ làm cho họ nhà trai chóng mặt. Gả chồng, ấy là lúc cái nữ quyền của người mẹ to đến nỗi lấn át cả người cha, là lúc mà không có tôi thì lấy đâu ra con gái để cho ông muốn gả bán thế nào thì gả bán! Là lúc mà tiếng “hứ” của bà đanh gọn còn hơn cả tiếng pháo lệnh. Là lúc mà cái lưỡi của mai dong dù có dài đến ba thước cũng không dễ làm xiêu lòng bà!
Ông Hai Nhẫn mừng rơn khi nghe ông thủ bản nói, “Anh về nói với chị bên ấy lo sao cho phải thì thôi, mẹ nó mất sớm, tôi chẳng biết đòi hỏi gì cho nó.” Ông Hai nhẫn khúm núm, “Dạ, dạ,…” “Vậy thì cuối tháng ba này, ngày hai mươi mốt tôi đưa nó về làm dâu bên ấy.” “Dạ, dạ , hai mươi mốt tháng ba, dạ dạ…”
Hai ông vui vẻ uống hết bình trà. Chỉ có nàng đứng núp trong buồng nghe như đất sụt dưới chân mình. Hai mươi mốt tháng ba, chẳng biết ngày ấy mình có bị “gãy cẳng” hay không!
 

2

Tháng ba, lúa chín trĩu hạt. Ruộng vàng ươm như những nong kén. Đã nghe tiếng đập lúa và mùi cơm lúa mới thơm hương đất trời. Chưa bao giờ nhiều sao như những đêm tháng ba. Đêm của những giọng hò, đêm của hát bội. Đêm bình yên của đôi lứa bình yên.
Hai mươi mốt tháng ba, chắc là ngày đẹp nhất trong tháng và trong năm.
Chỉ còn hai hôm nữa là nàng sẽ về nhà chồng. Chỉ còn hai đêm nữa, nàng không còn được nằm trên giường của mẹ. Cái giường khô cứng, vạt đã gãy, chiếu đã sờn dù đã nhiều lần thay vẫn không hết rệp. Cái giường quen thuộc đến nỗi nàng quên mất nó đêm đêm vẫn nâng đỡ thân mình. Cái giường ấy, từ đây trong đời không còn là của nàng. Rồi cái bếp với ba ông táo bằng đất mà chỉ có ông táo chúa ở giữa là có rún. Tại sao là ông mà không là bà mặc dù truyện kể vì bà mà hai ông phải chết cháy. Rồi những gióng, những rế, cái đòn ngồi, cái que cời lửa, những chiếc đũa bếp, những chiếc đũa con, những trã những trách, những nồi đất nồi đồng, những sàng những nia, những thúng những rổ, cái dao phay nhọn mũi, cái thớt gỗ trũng sâu, những chén những bát… những thứ thân quen sẽ không còn gần gũi với nàng.
Hai ngày nữa, sao mà mau quá vậy hở Trời!
Không biết trên đời này có người con gái nào như tôi vừa mới sinh ra là mẹ đã bỏ tôi mà đi. Mẹ phải chết để cho con được sống. Mẹ đâu có phải con rắn lục trong bụi tre tự xé bụng của mình ra để cho lũ con bò đi. Tôi cũng đâu có phải hạt lúa tự nảy được mầm. Tôi lớn lên không có mẹ. Tôi sống bên cha như sống với người dưng. Tôi chưa hề được ve vuốt ẵm bồng. Tôi muốn yêu cha mà yêu không được. Cha tôi không phải là giếng nước trong để cho tôi thấy bóng mình in xuống. Cha tôi là cây cột cái đứng giữa nhà lúc nào cũng nhẵn bóng nhưng không phải để cho tôi đứng tựa đầu. Cha tôi như cái đòn dông cao tít trên nóc nhà với một lá bùa bát quái. Cha tôi chỉ để ngó từ xa chứ không để tới gần. Cha tôi có thể khom lưng xuống cho con trai đứng lên, nhưng không thể cúi xuống để nâng dậy một đứa con gái. Cha tôi là người của xóm làng, của đình miễu, của họ hàng giỗ chạp. Cha tôi tồn tại là để cho tôi khỏi mang tiếng con không cha như nhà không nóc. Và cái tình thương yêu lớn nhất mà ông có thể dành cho tôi, là gả tôi lấy chồng một cách đàng hoàng. Là để tôi làm dâu nhà con trai một. Là biến tôi thành một cái “toi” của cái “đó” giữa đồng. Cha tôi gần như biết tất cả. Biết ai sinh ai mất năm nào, biết ai đỗ ai đạt, ai làm quan, ai làm giặc, ai có vợ hiền ai có chồng dữ, ai nhà ngang dãy dọc, ai chòi tranh cột sậy… ai mồ cao mả đẹp, ai chết không có được chiếc chiếu mà đắp lên mình. Biết hết ngoại trừ biết một đứa con gái mới lớn nghĩ gì, muốn gì!
Vì nhà trai ở xa phải đón dâu trước giờ ngọ, nên mới giờ dần họ đã đến đầy trước ngõ. Một phong pháo nhỏ được đốt nổ đì đẹt để báo tin. Trong sân cũng đáp lại những tiếng nổ đì đẹt. Ông Hai Nhẫn mai dong quần không còn màu cháo lòng mà trắng như bông bưởi, cũng không xắn ống cao ống thấp mà thả xuống đề huề. Ông lấy đôi guốc gỗ móc ở cán dù ra đặt ngay ngắn, cẩn thận cạ chân nọ vào chân kia cho bớt lớp bụi đất trộn với sương đêm dính ướt nhẹp, rồi mới xỏ vào. Ông xăng xái đi vào nhà xin giờ. Được nhà gái thuận tình, họ nhà trai cứ sắp hàng một tiến vào. Đi đầu là trưởng họ Bùi bát phẩm mặc áo tía ngực đeo thẻ bài ngà đu đưa theo mỗi bước chân. Tiếp sau là hai cửu phẩm mặc áo thụng xanh, sau nữa là các ông biện ông câu mặc áo the đen, chú rể mặc áo gấm đỏ đội khăn đóng. Trịnh trọng như đi rước sắc thần.
Hai cây đèn tạ đăng giữa nhà được vặn bấc cao hết mức vẫn không đủ sáng để soi rõ từng khuôn mặt, nhất là chàng rể sau khi xuống ngựa cố tình nghiêng mặt để che những cái mụn đáng ghét. Đồ sính lễ đã được nạp trước gồm một quả sơn đỏ đựng nữ trang, một quả đựng khăn áo, một quả đựng “bạc nát” và một quả đựng trầu cau. Giờ chỉ có một con heo đựng trong cũi, một ché rượu được bốn người trịnh trọng khiêng đặt giữa sân. Chỉ tiềm tiệm thôi mà lo được như thế là quá tươm tất, ông nghĩ thầm. Điều làm ông vừa lòng nhất là những người đi họ bên ấy có cả bát phẩm cửu phẩm cũng tàm tạm ngồi nói chuyện được với ông nghè trưởng họTrần và ông tú em họ. Ông sợ nhất là hai bên không bằng vai phải lứa, một bên thì chữ nghĩa đầy mình còn một bên thì dốt đặc cán mai. Trò chuyện với nhau mà cứ như nói chuyện với đầu gối!
Sau khi trưởng họ nhà trai thưa gửi lễ phép, cụ nghè trưởng họ Trần liền khấn trước bàn thờ: Việt Nam quốc, Bình Định tỉnh, An Nhơn huyện, Thuận Thới thôn a… nhị thập nhứt nhựt…a, Trần gia…hiệp cùng Bùi gia…nhơn duyên ..a…Trong khi đó cô dâu đã được các bà cô bà chị họ dỗ ngon dỗ ngọt đã hết khóc, xúng xính trong hai lớp áo màu đỏ và vàng, tai đeo bông lủng lẳng, cổ đeo kiềng chạm, tay đeo xuyến, chân mang hài thêu đang được dìu đứng ở phía bên này ngạch cửa chờ ra lạy cùng chàng rể.
Rồi đó, chàng rể và cô dâu đứng trước bàn thờ thơm ngát hương trầm. Hai họ đứng hai bên, nét mặt người nào cũng lộ vẻ thành kính trang nghiêm đến độ tưởng chừng như có ông tơ bà nguyệt đang cỡi mây đáp xuống. Chưa bao giờ người ta thấy bốn chữ bách niên giai lão lại có sức mê hoặc đến thế. Cũng chưa bao giờ, con trai con gái lại được nâng niu chìu chuộng như lúc này. Chàng và nàng đã tập lạy và biết lạy từ nhỏ, nhưng vì chàng đứng lạy còn nàng thì ngồi nên dù đã dặn trước cả hai vẫn không thể nào cùng một lúc rập đầu xuống chiếu. Tuy vậy hai họ đều châm chước bỏ qua.
Vừng đông đã phơn phớt hồng, sao mai đã nhạt, giờ đưa dâu đã đến. Lúc này là cuối dần đầu mẹo. Phải đi làm sao cho kịp giờ tị. Cái giờ ngọ đứng bóng kia là giờ của những kẻ khuất mặt, giờ của quỷ ma trốn nắng trên những cây cao bóng cả. Nhập gia giờ ấy là đưa cả quỷ ma vào nhà. Ai cũng chộn rộn, ai cũng vội vội vàng vàng, chỉ có nàng ngồi yên không nhúc nhích. Các cô các chị đều hối nhưng không hiểu sao nàng thấy hai chân cứ nặng như chì. Lúc này mà kêu lên được một tiếng Mẹ ơi thì hay biết chừng nào. Mẹ ơi, mẹ ơi, nàng kêu thầm trong trí. Nhưng giả như Mẹ có linh thiêng trở về ngồi kia thì nàng cũng không biết mẹ là ai. Nàng đã bao giờ thấy được mặt mẹ đâu. Ngay cả một tấm hình cũng không.
Bất chợt nàng nghe tiếng của cha, “Bộ nó muốn làm giặc hả?” Tức thì nàng đứng bật dậy, tưởng chừng như được nhấc bổng lên.
Đoàn đưa dâu đều đi bộ, trừ nàng đi cáng và chàng đi ngựa. Nằm trên võng được bốn người thay nhau khiêng, nàng thấy mình như một khúc gỗ. Tệ hơn, có lúc nàng tưởng mình như đang nằm trong hòm để người ta khiêng ra nghĩa địa. Cùng đi với đoàn có lúc là những người ra đồng gặt lúa, có lúc là vài con trâu con bò đủng đỉnh. Con ngựa bị che hai bên mắt nên mặc trâu, trâu cứ đi, mặc bò, bò cứ chạy. Nó gõ những cái móng buồn bã xuống mặt đường. Dây cương buông thõng nên trông nó giống như một con nghẽo. Chàng cũng không được đẹp nên cả người và ngựa đều có vẻ lạc lõng khổ sở. Dù nắng chưa lên, các ông già vẫn giương dù lên che nắng, không quên móc đôi guốc hay đôi giày hạ lên chỗ cán uốn cong. Cứ thế, từng bước một, con đường dù khá xa vẫn cứ ngắn lại dần. Ngắn dần, ngắn dần trong khi quê mẹ thì xa tăm tắp.
Vừa tới đình Đại Hữu đã nghe tiếng pháo nổ vang. Nhà trai trải mấy đời độc đinh, nên cậu Hai cưới được vợ là cả làng đều mừng. Người ta đồn cô dâu đẹp, nên mới tới đầu làng đã thấy có rất đông người đứng xem. Bà Cửu theo tục lệ phải lánh đi, còn cô dâu thì xuống cáng vạch rào mà chui vô. Hai người đàn bà vội dìu cô dâu chạy tuốt vô buồng. Nàng ngồi gục đầu lấy tay che mặt y như một con cù lần bị bắt đem xuống núi.
Giờ đây cái giường này là giường của tôi? Căn nhà này là nhà của tôi? Cái làng này là làng tôi? Người đàn bà xa lạ đứng nép sau cánh cửa kia là mẹ tôi? Lấy chồng là đổi thay? Lấy chồng là đổi mẹ đổi cha? Lấy chồng đau xót như thế sao người ta vẫn cứ lấy? Ai cũng khóc mà vẫn cứ phải đi!
Hai cây đèn sáp ong được trịnh trọng thắp lên thơm phức. Sẽ phải cháy cho đến giọt sáp cuối cùng. Sẽ phải sống cho đến răng long đầu bạc. Nàng được dìu ra lạy chào tổ tiên nhà họ Bùi. Và dù ưng hay không ưng, muốn hay không muốn, nàng cũng đã là con dâu của họ Bùi. Sống cũng họ Bùi. Mà chết cũng họ Bùi. Nàng như một cái cây được ươm cho mọc lên, chăm bón ở Thuận Thới rồi đem trồng ở Đại Hữu. Nàng phải bám rễ ở nơi đây, hút chất màu ở nơi đây, thở khí trời ở nơi đây nếu nàng muốn sống.
Cả chục bàn tiệc đã được bày sẵn. Cả một cái rạp to bằng tranh vẫn không che được hết nắng. Người ta ăn uống, chúc tụng. Ai cũng thấy mình nghiêng ngửa. Khi người ta gọi nàng ra chào từ biệt họ nhà gái, nàng thấy mắt cha rưng rưng. Lần đầu tiên nàng nghe ông nói trong nước mắt, “Thôi cha về!” Ước gì nàng có thể nhào tới ôm chặt ông mà khóc. Ước gì nàng bật ra được hai tiếng “Cha ơi!” Nàng chỉ biết đứng cúi đầu, nghe hai vai mình rung rung như bị ai giật.
Vậy là xong một cuộc cưới xin. Vậy là tròn công cha như núi Thái Sơn. Vậy là yên nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra. Nàng biết mình đã sang một chuyến đò và đậu vào một trong mười hai cái bến. Chỉ có Trời mới biết nàng vào bến trong hay bến đục!
 

3

Đêm tân hôn nàng ngủ trong ang đựng lúa!
Có lẽ đó là chuyện hi hữu cổ kim. Sau này mỗi khi nhớ lại nàng vẫn thấy hãi hùng.
Khi cha nàng cùng với họ nhà gái ra về, mẹ chồng bước vào buồng giúp nàng thay quần áo. Hai cái áo dài cặp đôi được xếp cất vào tủ. Kiềng chạm, xuyến vàng, bông tai vẫn còn đeo. Nàng được bà dẫn ra chào bà con trong họ. Ai cũng tươi cười chào nàng. Ai cũng thấy nàng xinh đẹp dễ thương. Nhưng trong mắt nhìn, ai cũng thấy ái ngại cho nàng. Mới mười lăm tuổi đầu mà phải đi làm dâu. Biết bao nhiêu nỗi khổ đang chờ đợi.
Bà Cửu lâu nay nổi tiếng là một người khó tính. Bà là người xứ Huế. Tuy không phải con nhà quyền quý, nhưng cung cách ăn ở vẫn phảng phất một chút gì đó của những nhà danh gia vọng tộc. Không chỉ riêng mình bà, dường như cái mùi vương giả ở chốn kinh thành nó lan toả ra khắp nơi khiến những cô gái Huế trở nên đài các, hay cố làm ra vẻ đài các, khác hẳn với những người thô lậu quê mùa ở thôn Đại Hữu.
Thực ra, trước kia bà chỉ là một cô hàng xén ở chợ Đông Ba. Chồng bà, một anh phó mộc khéo tay được tuyển vào làm thợ để chạm trổ những cột những kèo ở chốn cung đình. Những lúc rỗi việc anh thường lượn qua lượn lại trước các gian hàng xén. Chắc hẳn miệng anh khéo nói cũng như anh khéo tay đục đẽo nên đã làm xiêu lòng nàng, mặc dù phải theo anh về tận phía bên kia đèo Hải Vân xa tít. Xong việc, anh được bộ công thưởng cho cái tước cửu phẩm. Vì vậy, anh được gọi là anh Cửu và nàng được gọi là chị Cửu.
Được mấy năm, sau một trận thương hàn nhưng chữa trị bằng nước lã tàn nhang nên ông Cửu mất. Cũng may ông còn để lại cho bà một cậu con trai bốn tuổi. Cha mẹ gọi bà đem con về Huế, nhưng bà không chịu. Bà nói, lấy chồng thì phải gánh giang san nhà chồng, ra ngoài nớ thì cái gánh họ Bùi biết để cho ai. Bà ở vậy nuôi con cho đến tận bây giờ.
Như bao cô dâu khác, nàng không ăn uống được gì trong bữa cơm đầu tiên ở nhà chồng. Ăn làm sao được dưới cái nhìn săm soi của bao nhiêu con mắt. Nhưng làm thì nàng làm được và nàng cố sức làm nhiều hơn ở nhà mình. Bao nhiêu bát đĩa một mình nàng giành lấy rửa sạch. Mãi đến tối nàng vẫn còn loay hoay dọn dẹp trong bếp. Nàng muốn bận tay bận chân để khỏi phải nghĩ đến chuyện làm vợ. Chẳng ai nói cho nàng biết làm vợ là làm thế nào. Ai cũng giục nàng, “Mợ Hai nghỉ tay đi, mợ Hai tắm rửa còn gặp cậu Hai chớ.” Nghe nói gặp cậu Hai là nàng cảm thấy run.
Họ hàng nhà Bùi sau một ngày ăn uống nói cười đã chào bà chủ, ra về. Ngoài sân, nắng đã tắt. Bóng tối chẳng mấy chốc từ mấy lùm tre ùa ra ôm kín căn nhà. Văng vẳng có tiếng ếch nhái từ ruộng xa đưa vào. Thỉnh thoảng, một con cóc coọc ngồi đâu đó nghiến răng nghe thật buồn. Có tiếng mẹ chồng, “Con Hai đâu lên mạ bảo.” Nàng hồi hộp đi lên gặp bà. Vẫn giữ cung cách của một đứa bé trước mặt người lớn, nàng đứng vòng tay cúi đầu. “Con ngồi xuống đây đi. Mạ cho phép con không phải vòng tay nữa. Mạ biết là con mồ côi mẹ, tội lắm. Từ nay, mạ là mẹ của con, con cứ ăn uống đi đứng tự nhiên như khi còn ở bên nhà, không việc gì phải cáy náy e sợ. Mạ đã già rồi, con phải lần hồi học cách làm chủ ngôi nhà này, nghe rõ chưa. Thôi con vào buồng của con đi.”
Nàng ngơ ngác đi vào. Một ngọn đèn nhỏ soi không đủ sáng căn buồng. Nhưng nàng thấy nó ngăn nắp sạch sẽ hơn buồng của mẹ nàng. Một cái giường rộng, hai đầu có những thanh gỗ tiện giống chân đèn. Một chiếc chiếu mới còn thơm mùi lát. Hai cái gối màu hồng, một cái mền bông. Và trùm lên tất cả là một cái mùng phơn phớt hồng. Không có một chiếc ghế nào, nàng đành ngồi bên mép giường.
Một lúc sau, chồng nàng vào. Anh chàng cũng ngồi xuống bên mép giường. Nàng dịch sát một góc, cố sức thu mình thật nhỏ. Nàng nghe trống ngực đánh liên hồi. Nàng lặng im. Chàng cũng lặng im. Rất lâu, hai người ngồi như hai tượng gỗ. Bỗng nàng nghe, “Thôi nằm xuống đi, xê vào bên trong.” Nàng làm theo, nằm quay mặt vào trong vách. Nàng kẹp tay giữa hai đùi, co gối lên tận ngực, như một con cuốn chiếu.
Nàng nín thở khi chàng tắt đèn. Lần đầu tiên nàng biết có người đang nằm xuống cạnh mình. Người đó nằm im. Nàng nghe người đó thở dài. Rồi mấy ngón tay lạ đặt lên vai nàng. Những ngón tay lóng cóng, vụng về đang cố sức kéo cái vai để lật ngửa nàng ra. Nàng hít một hơi thật dài, sợ đến nỗi muốn hét lên. Có tiếng nói của mẹ chồng. Dường như bà hỏi cậu con trai đã đóng cửa ngõ lại chưa. Và cậu ta hơi bực mình đứng dậy ra khỏi buồng.
Đúng lúc ấy, nàng cũng vén mùng chui ra. Nàng nín thở chạy xuống bếp. Nàng ngồi co ro bên mấy ông táo hãy còn nóng. Nàng muốn được ngồi suốt đêm ở đây. Nàng muốn nấu cơm, nấu nước, muốn rửa bát rửa chén. Nàng muốn làm việc nhà chứ không muốn làm vợ.
Anh chồng đi ra ngõ. Con chó mực quắn quít chạy theo. Anh cài lại cửa, cùng con chó dạo quanh nhà. Khi biết chắc không có kẻ trộm nào đang rình, anh vào nhà, đóng chặt cửa. Anh lại chui vào giường, lại nằm xuống, lại thở dài, rồi đưa bàn tay một lần nữa tìm nàng. Trong bóng tối anh thấy cái giường như rộng hơn, rộng đến nỗi anh đã dịch mình vào cả thước mà vẫn không đụng đến vai nàng.
Ủa, sao mà lạ thế. Anh lăn mạnh một vòng, hai đầu gối đụng vách nghe cái cộp. Vẫn không đụng phải nàng. Anh xoay qua bốn góc, vẫn không đụng nàng. Anh loay hoay một lúc rồi ngồi dậy đi tìm đèn. Anh lấy cây đèn trên bàn thờ cha đi vào. Ánh đèn tuy mờ nhưng vẫn đủ soi cho anh thấy cái giường trống không, bốn góc buồng cũng không có nàng đứng hay ngồi. Chắc nàng đi xuống bếp. Anh để đèn lên tủ, ngồi chờ.
Chờ mãi không thấy nàng lên, anh cầm đèn đi xuống bếp. Vẫn không có nàng. Anh lại đi lên nhà trên. Vẫn không có nàng. Anh đi quanh vườn. Vẫn không có nàng. Vậy nàng đi đâu? Anh gọi nho nhỏ, sợ mẹ nghe, “Hai, Hai ơi!” Anh gọi một tiếng, hai tiếng, ba tiếng. Không nghe đáp lại. Anh gọi to hơn. Cũng không có tiếng ơi hỡi gì hết. Không còn sợ mẹ la nữa, anh gào lên, “Hai ơi, Hai ơi!” Chỉ nghe tiếng mẹ xô cửa tông ra, “Mi la cái gì vậy, không sợ xóm làng người ta cười cho à?” Anh nói như mếu, “Nó đi đâu không có trong buồng!” Chừng đó mẹ anh mới tá hỏa cùng anh đi tìm. Giọng mẹ anh nhỏ nhẹ hơn, “Hai đâu con, dại chi mà dại rựa!”
Một con người chứ đâu phải cây kim mà tìm hoài không thấy. Đến nước này đành dựng đầu ông mai dong dậy mà hỏi cho ra lẽ. Có chê chồng xấu thì đừng ưng, chứ sao ưng rồi lại trốn đi đâu mất. Cũng may, nhà ông Hai Nhẫn ở gần. Mắt nhắm mắt mở ông hỏi, “Có chuyện gì vậy chị Cửu?” Khi nghe anh kể, ông vỗ đùi đánh bép, “Tao biết rồi,” ông nói, “mày bộp chộp quá làm nó sợ chớ gì.” Nhưng anh cãi, “Đã làm gì đâu mà bộp chộp. Mới tắt đèn mà nó đã biến mất, cứ như ma.” “Đừng có nói bậy,” ông nói, “chắc là nó chạy về bển. Thôi để tao qua đó đưa nó về. Thiệt là cực. Cái nghề mai dong đã mấy lần định bỏ mà bỏ không được.” Rồi ông quay sang nói với bà Cửu, “Chị kêu giùm thằng Bồng đi với tôi, đêm hôm rắn rít làm sao một mình tôi đi được.” Bà Cửu thở ra một tiếng, “Ừ!’
Cô dâu bé bỏng của chúng ta, thực ra chỉ muốn được ngồi một lúc trong bếp, là nơi dẫu sao cũng không xa lạ gì lắm. Mùi khói vẫn như mùi bên nhà. Hơi lửa vẫn ấm áp. Giống như đi ngoài trời mưa lạnh, được ngồi bên bếp lửa, nàng không còn cảm thấy run sợ nữa. Nàng định, khi chồng ngủ rồi, sẽ lén chui vào một góc giường. Nàng sẽ nằm co quắp đợi sáng ra lại đi nấu nước pha trà như đã từng làm bao nhiêu năm với cha. Nhưng khi thấy chồng cầm đèn đi xuống bếp, nỗi lo sợ lại nổi lên. Nàng hốt hoảng chạy ra sau hè, đứng nép sau một cây cột. Khi chồng cầm đèn đi lên nhà, nàng cũng tưởng chàng sẽ tắt đèn đi ngủ. Không ngờ chàng lại đi tìm quanh vườn, rồi lại gọi, lại la lên, lại gào… khiến nàng quá khiếp phải chui vào trốn trong một cái ang đựng lúa bỏ không. Nàng hãy còn quá bé, ngồi lọt thỏm trong cái ang lạnh ngắt. Mấy con kiến nhỏ đang ngủ bị nàng đánh thức bò lung tung, leo cả lên mình nàng. Cũng may là kiến hôi nên nàng không bị cắn.
Ông Hai Nhẫn cùng thằng Bồng đến nhà ông lý đúng nửa đêm. Sau một ngày mệt mỏi ông ngủ say như chết. Tiếng ngáy của ông rồ rồ như xay lúa. Phải mấy lần nắm chân ông lay mới đánh thức được ông. Chuyện ông mai dong đến nhà ông vào giờ này là chuyện lạ. Chẳng lẽ tới mắng vốn nó không còn trinh à. Làm gì có chuyện đó. Mà dẫu có chăng nữa thì cũng phải đợi đến ngày nhị hỷ mới cắt cụt cái tai heo mà ném vào nhà chớ. Có đâu lại dựng đầu ông dậy lúc đang ngủ ngon. Mấy cái thằng cha mai dong thật đáng ghét. Ông không còn nhỏ nhẹ như ngày thường mà đâm ra gắt. Ông gằn giọng hỏi trống không, “Chuyện gì vậy?” Ông mai dong cũng dấm dẳng, “Con Thãi có về đây không?” “Nó đâu có về đây, mà ai cho nó về?” “Vậy chớ nó đi đâu?” Ông mai nói, “Chẳng lẽ nó bỏ theo thằng nào. Tôi chưa thấy đứa con gái nào hư như con gái ông.” “A, coi chừng tôi vả vào miệng ông bây giờ. Sao ông dám bảo con gái tôi hư?” “Không hư, sao lại bỏ chồng mà đi?” “Tôi đánh chết cha ông bây giờ, đừng có nói tầm bậy. Được rồi, tôi cũng đi sang bên đó ngay bây giờ đây. Làm mất con tôi là ở tù rục xương đó chớ không phải chuyện chơi đâu.” “Thì ông cứ qua mà tìm.”
Hai người không nói không rằng đi suốt đêm qua Đại Hữu. Sinh con gái thiệt là cực, ông nghĩ. Chẳng lẽ cứ nuôi báo cô mãi trong nhà. Gả chồng thì khóc lóc làm như thể đem đi cống Hồ. Rồi lại chê chồng không chịu ăn nằm. Đang đêm mà phải lặn lội như vầy thà đừng sinh nó ra còn hơn. Càng lúc ông càng giận con. Phải như còn ở nhà, tóm được ông sẽ quật cho một trận tơi bời.
Đến nơi, trời vẫn chưa sáng. Khi hỏi ra cớ sự ông cũng chỉ biết dậm cẳng kêu trời. Biết nó trốn núp ở đâu, hay là dại dột nhảy xuống sông xuống giếng. Lúc này ông lại thấy thương nó quá. Mới có mười lăm tuổi đã phải đi lấy chồng, ai mà không sợ. Ba bà vợ của ông, bà nào cũng sợ chết khiếp khi thấy ông lần đầu leo lên giường. Đàn bà mà, cái khó nhất là lần đầu. Phải như có mẹ nó còn được dặn dò chỉ bảo chút đỉnh. Đàn ông làm sao nói được với nó chuyện khó nói ấy. Ông thở dài, mong cho trời mau sáng.
Trong ang lúa nàng đã ngủ tự lúc nào. Nỗi sợ hãi của một đứa bé con dù to lớn đến đâu cũng không làm cho nó thức suốt đêm được. Vả lại, sau bao nhiêu ngày đêm mệt mỏi, nàng không thể nào chống chọi được với giấc ngủ. Chồng nàng cũng vậy, sau một hồi đập tay đập chân, thở vắn than dài rồi cũng nằm ngủ chèo queo ở một góc giường. Cái đêm tân hôn kỳ lạ này chắc chắn hai người nếu sống được đến đầu bạc răng long vẫn không thể nào quên.
Trời sáng. Mọi người lại quanh quất đi tìm. Có người ra tận bờ sông, có người leo xuống giếng. Vừa tức vừa sợ, ai cũng chỉ biết nhìn nhau thở dài. Đang lúc tuyệt vọng thì chính bà mẹ chồng tìm thấy nàng dâu ngồi ngủ trong ang lúa. Bao nhiêu tức giận trong người bà đều tiêu tan hết. Không còn than ạc chi mô rựa mà bà kêu lên tội nghiệp quạ con ơi. Bà vuốt tóc, xoa má nàng. Mọi người ai cũng mừng chảy nước mắt. Ông lý Bản và ông hai Nhẫn lại làm lành. Sẵn rượu cưới hãy còn, hai ông lại khề khà coi như không có chuyện gì vừa xảy ra..
Đêm thứ hai chính bà Cửu nằm cùng giường với nàng. Bà rủ rỉ kể chuyện ngoài nớ cho nàng nghe. Dù không hiểu gì mấy nhưng cái tiếng trọ trẹ đều đều như ru khiến nàng ngủ thiếp lúc nào không hay. Cứ như ru con mọn ngủ xong, bà nhẹ nhàng đi ra ngoài để con trai bà sẽ lén vào nằm bên vợ. Và mọi sự sẽ diễn ra êm thắm như lúa mọc trên đồng, như hoa nở trên cây.
Nhưng nàng đâu có ngủ. Nàng chỉ giả bộ ngủ thôi. Nằm bên cạnh bà nàng lại càng sợ và càng không sao ngủ được. Nàng biết bà sẽ đi ra khi nghe có tiếng ngáy. Nàng cũng biết người đó đang rón rén đặt lưng xuống bên cạnh. Dù có biết mình sắp chết, đêm nay nàng cũng không bỏ trốn đi đâu được. Nàng đã làm khổ bao nhiêu người, nhất là cha. Hơn bảy mươi tuổi mà giữa đêm khuya phải chống gậy sang tìm. Con gái như thế là bất hiếu. Nàng đâu có muốn làm đứa con bất hiếu. Thôi thì đành vậy, người ta chỉ muốn nằm bên nàng chứ có muốn giết nàng đâu.
Bây giờ nàng lại tò mò muốn biết làm vợ là làm như thế nào. Không như đêm qua, lần này nàng cảm thấy anh ta vuốt nhè nhẹ tóc, rồi lần xuống ngực, xuống bụng. Những ngón tay anh như chân rắn mối. Nó sục vào cái giải yếm rồi lần tới giải rút. Trời ơi, nàng muốn la lên, gào lên. Nhưng miệng nàng như bị ai khóa chặt, nàng đành trân mình ra mà chịu đựng. Đàn bà sinh ra là để chịu đựng. Nhỏ thì chịu đựng tính khí ngang trái của cha. Lấy chồng thì chịu đựng những trò kỳ cục của chồng. Mai sau có con chắc cũng phải chịu đựng con! Thế rồi cả thân nàng giống như bị xẻ ra làm đôi. Đau buốt tận óc. Nàng tê điếng rồi mê man trong giấc ngủ chập chờn với nhiều lần bị cưa xẻ. Sáng ra, bên người lạ đang ngủ say như chết, nàng thấy một vệt máu khô trên chiếc chiếu mới. Nàng bàng hoàng, còn khủng khiếp hơn là “gãy cẳng”.
 

4

Giữa lúc cái tấm thân bé nhỏ của nàng có những đổi thay xé lòng như thế thì cả thế giới cũng nát tan vì đại chiến. Những lò thiêu người của Đức quốc xã ngày đêm nhả những đám khói nghẹn uất lên bầu trời châu Âu. Máy bay Mỹ gầm thét trên biển Thái Bình. Hai chiến hạm Nhựt bị đánh đắm ở biển Qui Nhơn. Người ta kéo nhau ra biển vớt sáp nổi lều bều. Có cả những thùng đựng đầy đường của Nhựt. Đường cát trắng nén chặt đến cứng như đá. Người ta dùng búa đập cho vỡ để chia nhau ăn. Không ngờ đó là những thùng ướp đầu của lính Nhựt tử trận! Bao nhiêu người lỡ ăn đều phải móc họng mà nôn ra.
Không hiểu sao nàng cũng đang thèm đường. Đường tán mà nàng cứ bỏ vào miệng nhai cộp cộp vẫn chưa đã thèm. Suýt chút nữa, nàng cũng đã ăn phải một cục đường to của Nhựt. Chưa ăn, nhưng nàng đã ụa mửa suốt ngày. Nàng trốn mẹ chồng ra ngồi ngoài bụi chuối. Cứ nghĩ tới cái đầu trọc ấy là nàng rùng mình. Nàng mửa đến ói cả mật xanh mật vàng. Nhưng mẹ chồng lại rất vui vì nàng đã ốm nghén. Thường thì người ta thèm chua. Me sống, xoài xanh, cốc ổi, ăn suốt ngày thay cơm. Nhưng cũng có người thèm ăn đất sét, thèm hít mùi ống nhổ bã trầu, thèm những thứ lạ lùng mà khi còn con gái chẳng ai nghĩ sẽ thèm như thế.
Bà Cửu đem tất cả kinh nghiệm sinh đẻ của mình ra truyền lại cho con dâu. Bà dặn nàng không được bước qua võng, không được nhảy ào xuống tam cấp, không được ăn thịt bò đen, không được ngủ ngày, không được mang vác vật gì nặng, nói chung là phải hết sức cẩn thận nâng niu cái hạt mầm bé xíu trong bụng. Bà nói, con thèm ngọt chắc sẽ sinh con trai và bà đi mua hai cái trứng ngỗng to như hai quả đu đủ bắt nàng ăn để cháu trai bà sẽ được thông minh học giỏi.
Còn anh ta ư? Suốt ngày anh ta nói chuyện Mỹ Nhựt đánh nhau. Anh đi bộ lên tận Bình Định mua nhựt trình để theo dõi tin tức. Anh đang lưỡng lự không biết sẽ đặt tên con là Mỹ hay Nhựt. Mỹ thì mạnh hơn, nhưng Nhựt thì gan dạ. Nhiều người trong làng đặt tên Đức, tên Nga. Nghe cũng hay hay, nhưng anh có vẻ thích Mỹ hơn. Nó đang đổ bộ đâu đó trên đất Pháp.
Sáng ba mươi tháng chạp chưa kịp lo cúng rước ông bà, nàng đã đau bụng. Lúc đầu râm ran, đến trưa thì đau đến nỗi phải cắn cả một con găng võng để khỏi phải la lên. Một bà mụ già đến những bảy mươi tuổi được mời đến. Người ta nói bà mát tay, sinh cho ai cũng mẹ tròn con vuông. Bà lụm cụm đi vào nhà, cái túi đựng ống ngoáy và trầu cau buộc lủng lẳng trước bụng.
Đúng giao thừa nàng sinh một cái bọc màu đỏ. Bà mụ luýnh quýnh chưa biết làm sao thì mẹ chồng đã la lên, “Xé bọc ra, xé ra không nó ngộp.” Cái bọc như một cái bong bóng lợn, loay hoay một lúc bà mới xé được. Một đứa bé được lôi ra với cái dây nhau lòng thòng. Tuy mệt đứt hơi nhưng nàng vẫn nghe được tiếng reo mừng của hai người đàn bà, “Con trai! Đẻ bọc điều là khôn lắm đây!” Anh chồng ở bên ngoài cũng reo lên, “Con trai hả, sướng quá! Đặt tên cho nó là thằng Mỹ, Bùi Văn Mỹ!”
Nàng nằm trên chiếc chõng tre mà sau khi đầy tháng sẽ đem đi đốt. Tục lệ không cho phép nàng sinh trong nhà nên phải nằm ở hiên sau. Có người phải làm chòi ở bụi tre để sinh. Dù được che chắn cẩn thận, nhưng giun dế vẫn rên rỉ suốt đêm. Thỉnh thoảng con cắc kè núp đâu đó trên mái nhà buông những tiếng to và khô vào đêm tối sâu thẳm. Nàng được bôi nghệ đầy mình, mỗi sáng phải uống một bát nước đái của thằng bé hàng xóm. Một bà nuôi đẻ được thuê để săn sóc hai mẹ nàng. Bà nghèo, cũng già khú, mỗi buổi tối lại mang một chậu lửa hừng hực, cởi tuột quần áo nàng ra hơ háp như người ta nướng thịt.
Suốt một tháng, nghệ và mồ hôi trộn lại thành một lớp dày như mo, trông nàng như một mụ ăn mày giữa chợ, nhưng mẹ chồng bảo phải chịu đựng như thế sau này mới chống chọi được với nắng mưa, sương gió. Chồng nàng thì không thèm tới mà cũng không ai cho bén mảng tới. Đây là nơi ố trọc chỉ để dành cho những người nằm nơi. Một nhánh xương rồng được treo trước cửa buồng, chỉ khi nào khô thì chồng mới được gần vợ. Cái lệnh ngộ nghĩnh ấy nàng thấy thế mà hay, biết bao giờ cho nó khô. Nửa năm hay một năm, càng lâu càng tốt. Nàng đã có đứa con bên cạnh, chẳng còn cần ai nữa.
Khi thằng cu Mỹ biết bò lổm ngổm thì trống đình thôn Đại Hữu muốn vỡ tung vì Việt Nam đã giành được độc lập. Bà mẹ trẻ hơn mười lăm tuổi bồng con ra trước sân xem người ta rầm rập đi biểu tình. Chồng chị ta lăng xăng chạy tới chạy lui. Cây cờ đỏ trên tay anh quơ qua quơ lại như đang đuổi gà. Ba ngày sau anh nói khào khào trong cổ họng như vịt đực vì mãi hoan hô, đả đảo. Anh nói, “Độc lập rồi sướng quá!” Bà mẹ hỏi, “Có ăn được không mà sướng.” Anh nói, “Ăn được chớ. Lúa gạo từ đây không cho thằng Pháp đốt nữa. Ai đời nó tàn nhẫn quá sức. Ngoài Bắc không có gạo mà ăn, còn trong Nam thì nó đem đốt coi chơi!” Từ đó anh lăn vào diệt giặc đói và giặc dốt.
Nàng mặc kệ anh ta, có con là có tất cả. Nàng thường áp môi mình lên mặt con lay lay cho thằng bé cười. Mùi thịt da thơm ngọt của nó khiến nàng đê mê. Như con ong say mật, nàng uống từng chút, từng chút.
Tôi đang có một đứa con, ơn Trời. Tôi cũng rất biết ơn cha, biết ơn mẹ. Như người ta nói, đúng là có con rồi mới biết ơn cha mẹ. Còn ơn chồng ư? Tôi coi anh ta một kẻ chèo đò giúp tôi qua sông. Cái việc mà anh làm hằng đêm ấy là để cho anh chứ không phải cho tôi. Tôi chẳng thích thú gì trong chuyện ấy. Nỗi lo sợ lúc nào cũng như muốn làm tôi ngạt thở. Tôi không dám nói xấu anh, nhưng anh xộc vào tôi cứ như con heo đang đói xục vào cái máng đựng đầy cám. Tồng tộc, tồng tộc rồi nằm dảnh cẳng ra ngủ. Giờ đây anh có bỏ nhà đi theo ai cũng kệ anh. Tôi không theo ai hết. Tôi theo con tôi. Con tôi là tất cả.
Nhờ cái bằng yếu lược, nhờ hăng hái đi đầu trong mọi công tác nên anh được làm cán bộ xã. Anh liền mua một chiếc xe đạp cũ và với cái chuông kính coong, đạp từ làng này sang làng nọ. Một đôi khi anh lên huyện đóng ở Phù Cát. Có lần anh chở một nữ cán bộ xuống tận Cách Thử. Trời tối, đường còn xa, không dám chở về nhà, anh gửi tạm một nhà đầu xóm. Không ngờ có người mách lẻo, bà Cửu liền tốc thẳng đến tận nơi kêu mụ chủ nhà ra chửi bắt đuổi đi. Về nhà, bà lại lôi anh đang trốn trong bồ đựng lúa ra vừa chửi vừa phết vào mông anh cả chục cán chổi. Nàng nằm trên võng đưa con, biết hết cả nhưng chỉ mỉm cười.
Bà Cửu chẳng ưa gì cái cuộc cách mạng mà anh đang chìa lưng ra đỡ. Khi không nổi trống nổi mõ, khi không kéo nhau đi như giặc dậy ma dương, khi không phá đình phá miễu mà bảo là xây dựng đời sống mới. Đau xót nhất là anh đã đem hết cả bao nhiêu vòng vàng của vợ ra nộp để được khen là gương mẫu. Những hai lượng vàng Kim Thành có đến ba hòn núi chứ ít sao. Cả một gia tài mà đem cho không. Trong khi chẳng cách mạng nào cho đứa con anh được một cái áo chứ nói gì đến nhà cao cửa rộng. Khi nghe Bảo Đại bị xuống ngôi, anh đã định ném cái thẻ bài ngà trên bàn thờ cha ra ngoài bụi tre. Anh rất khó chịu vì đó là tàn tích của phong kiến. Anh không còn cho người ta kêu mẹ anh bằng bà Cửu mà phải kêu bằng bà Hai Bang. Chính vì mới cũ xung khắc nhau mà ít khi hai mẹ con ngồi ăn chung trong một mâm cơm. Anh lại còn rằng rực con mụ vợ vì nó có vẻ như theo mẹ anh. Cái trận đòn mười cán chổi cứ bị nó nhắc lại rồi tủm tỉm cười hoài. Bầu máu nóng cách mạng trong anh cứ sôi sùng sục trước bao nhiêu người, nhưng khi về đến nhà thì lại nguội lạnh vì gặp phải hai người đàn bà. Thật là xấu hổ. Cả nước cùng một lòng chỉ có nhà anh là hai, ba lòng!
Thằng cu Mỹ đã biết gọi ba. Nghe tiếng chuông leng keng nó đã biết chạy ra chờ ba về. Nó rất thích được anh ôm trước ngực chở đi lanh quanh. Nó có vẻ thông minh. Không thông minh sao biết đòi bấm chuông. Anh rất mong nó mau lớn để vào đoàn thiếu niên nhi đồng cứu quốc. Nó sẽ đội mũ ca lô, sẽ hát những bài ca cách mạng. Nó sẽ được anh dạy dỗ để trở thành một công dân mới. Nó sẽ không lạc hậu như bà nội thấy cách mạng làm được cái gì cũng chê. Nếu không có cách mạng thì anh cũng chỉ biết theo nghiệp cha mà cầm cái dùi đục vậy thôi, có đâu được vẻ vang như bây giờ.
 

5

Đã đến tuổi thằng bé đi học. Dĩ nhiên đó là một ngày trọng đại. Dù cha nó không tin thánh thần, nhưng bà Cửu nhất định phải cúng khai tâm. “Không cúng thì cái đầu mi có đựng được mấy chữ mà đỗ Yếu lược,” bà nói. Một ông đồ xưa mà tay run đến nỗi cầm đũa vẫn rơi, nói gì đến cầm bút lông, được mời đến. Dù gì ông cũng đã từng biết chữ thánh hiền. Chỉ có dạy chữ nho mới đáng được bà cung kính gọi bằng thầy, còn những người dạy bình dân học vụ thì bà hứ nghe cái cốc không thèm nói tới. Mâm cỗ gồm một con gà trống, một đĩa xôi, một cây bút và quyển vở. Thằng bé được húi carê nhẵn bóng. Thầy khấn lầm rầm xong bắt nó lạy hai lạy. Nó chưa biết lạy, suýt chút nữa làm đổ cả ly rượu. Lạy xong, nó cầm bút vẽ ngoằn ngoèo trên giấy. Sau đó, nó được ăn nguyên một cái đầu gà, mà là phải ăn hai con mắt để cho nó “sáng”.
Hôm sau tới trường. Bà và mẹ đã thức dậy từ sáng sớm. Vì sợ bị zêrô nên bà không cho nó ăn trứng gà mà ăn cháo nếp với mật ong. Nó được mặc áo sơ mi bằng đũi, chân mang giày, lưng đeo cặp của cha nó để lại từ xưa. Trông nó ra dáng một cậu công tử. Bà cửu dặn vói theo, “Học giỏi, trưa về bà cho bánh.” Mẹ nó dẫn con đi như chị dẫn em. Hai mẹ con líu ríu chuyện trò. Nhiều người trong làng hỏi, “Ủa, dẫn ai đó?” Nàng tươi cười, hãnh diện nói, “Con em đấy chứ ai.” “Dẫy na, mới đó mà đã đi học rồi.”
Nàng vừa đúng hai mươi tuổi, gái một con, đẹp đến nỗi cả trường ai cũng muốn nhìn. Lúc gặp hiệu trưởng, nàng bỗng mắc cỡ, lúng túng không biết thưa gửi làm sao. Thầy nói, “Con đồng chí Bang hả, dễ thương quá, chắc học giỏi lắm đây.” Thầy vui vẻ dẫn nó vào lớp vỡ lòng. Đến lúc ra về, nàng lại nhớ hồi còn bé, vòng tay cúi đầu khiến ai cũng bật cười.
Thằng bé học ê a nghe rất vui. Nó học rất mau, viết chữ đẹp. Không như nàng và các chị phụ nữ đi học bình dân. Học mãi cả tháng mà đánh vần không xong. Đọc không được thì tụi du kích chăng dây dừa không cho vào chợ. Đó là chưa kể lúc đọc được rồi nó vẫn bảo là chưa. Nó lại bày đặt để dấu lung tung. Nhiều đứa còn viết những chữ tục tĩu làm cho ai cũng mắc cỡ đỏ mặt. Khi tập viết thì chị nào cũng như nằm bẹp trên bàn. Mấy ngón tay cắm lúa xuống ruộng thoăn thoắt nhưng uốn cho cong một chữ U hay chữ O sao mà khó quá.
Nghỉ hè, nàng xin phép mẹ chồng đem con về thăm ông ngoại. Hai mẹ con đi đường tắt cho gần. Chỉ vòng qua khỏi núi Đất, qua Mương Đôi là đã tới chợ Rượu, quê cha.
Ông ngoại đón cháu với chòm râu bạc dài tới ngực. Những giọt nước mắt hiếm hoi của ông lăn tăn trên râu như những hạt sương. Cậu và mợ đã mấy lần sang thăm cháu nhưng không ngờ nó lớn mau và đẹp quá. Hai thằng anh con cậu liền lấy cần câu dẫn nó đi câu cá. Nàng bày ra trứng và cà chua tặng cha để ông ăn cho bổ. Ông cứ ngồi nhìn mãi nàng, không ngờ đứa con út bé bỏng tội nghiệp, mới đó mà nay đã thành một thiếu phụ đẹp. Chị dâu vội cắp rổ đi ra chợ Rượu. Nàng muốn đi theo nhưng cha bảo, “Mấy khi con về, ở nhà chơi với cha.” Lần đầu tiên nàng nghe mấy tiếng “chơi với cha” sao mà dịu ngọt quá. Nàng rưng rưng muốn khóc.
Chợ đã tan. Chị Thừa chỉ mua được một con cá tràu nhỏ của một bà già. Nhưng ngoài vườn có chuối mốc, măng tre và rau răm nên bát cá ám rất thơm và ngon. Cả nhà ai cũng muốn nhường cho nàng và thằng bé. Cha hỏi chị Thừa, “Làm mang kỹ chưa, coi chừng còn lưỡi câu trong đó. Mắc lưỡi câu là chết chứ không có chưn rái nào mà cào ra được.” Chị Thừa nói, “Dạ con làm kỹ rồi, cá tuy nhỏ nhưng có trứng, thằng Mỹ không được ăn đó nghe. Dượng Hai bên ấy chắc ăn trứng cá nên mặt nhiều mụn, may mà không bị cô Thãi chê.” Cả nhà ai cũng cười.
Đêm hôm đó thằng bé ngủ với ông ngoại. Nằm bên này nàng nghe nó ngậm đường phèn lộp cộp. Cái buồng của mẹ mấy năm không có ai nằm, ẩm mốc và lạnh lẽo, nhưng nàng cảm thấy rất thích. Nàng nhớ lại những đêm mưa, những lần có kinh nguyệt, những giấc mơ nho nhỏ, những tiếng ngáy của cha và cả tiếng con mèo đực tội nghiệp của nàng. Đã năm năm qua rồi vậy mà nàng tưởng như mới hôm qua. Những trăn trở, hoảng hốt lo sợ trước khi lấy chồng. Chưa khi nào nàng thấy mình hẩm hiu và đơn độc như lúc ấy. Nghĩ lại nàng thấy giật mình. Không hiểu sao mà nàng vượt qua được.
Năm hôm sau nàng khóc xin cha về. Thằng bé nghe về lại nhảy tưng tưng rất thích. Nó nghĩ tới những bông và trái dúi dẻ thơm vàng, những chùm chim chim đỏ như xâu chuỗi. Cả nhà đưa hai mẹ con ra bến chợ Rượu. Nàng cõng con qua sông, nước mắt nhỏ xuống sông long lanh. Nàng đâu ngờ đây là lần gặp cha cuối cùng. Năm tháng sau ông mất. Nàng thì không dễ gì quên cha, nhưng thằng bé sau này chỉ nhớ chòm râu bạc và những miếng đường phèn.
 

6

Khi thằng bé lên tám tuổi, bỗng dưng cha nó đổi tên trong khai sinh. Không còn Bùi Văn Mỹ nữa mà là Bùi Văn Liên Xô. Bà nội và mẹ đều chưng hửng. Nhưng ông bây giờ đã là cán bộ huyện nói, “Cả nước đang đả đảo can thiệp Mỹ, đặt tên như thế để người ta chửi vào mặt nó à. Lẽ ra đặt Sít ta lin nhưng không ai cho lấy tên lãnh tụ đặt tên con. Liên Xô là thành trì của cách mạng thế giới. Liên Xô sẽ đánh đế quốc Mỹ để giải phóng giai cấp vô sản!” Bà mẹ hứ nghe còn to hơn pháo nổ. Bà nói, Tau thì cứ gọi nó là Mỹ, nỏ thèm gọi Liên Xô mô. Tên của nó đã được ghi trong “phái” đeo trước ngực rồi. Tau cứ Mỹ là Mỹ, ai dám chửi tau!”
Nhưng trừ bà và mẹ nó, đúng là cả nước đang chửi Mỹ. Thằng bé mấy lần khóc với mẹ, “Cha đặt tên kỳ quá, con bị bạn chọc hoài.” Mẹ bảo, “Ông ngoại nói Mỹ là đẹp chứ không phải Mỹ là đế quốc.” Nhưng hơi đâu mà giải thích với đám học trò. Ngay cả thầy giáo cũng ngại khen nó giỏi, khác gì khen Mỹ giỏi, nên điểm chưa khi nào lên đến bảy chứ nói gì đến mười! Ngược lại, từ khi thay tên bỗng dưng nó tiến bộ nhanh như gió, lúc nào cũng chín cũng mười. Nó nhiều lần được khen dưới cờ, cái tên dài thòng Bùi Văn Liên Xô được thầy cô đọc lên một cách trịnh trọng, âu yếm. Thằng bé rất thích, nó bắt đầu cảm thấy yêu cha hơn yêu mẹ. Con chó mực già rụng lông, bắt chước cha, thằng bé kêu là chó mỹ. Hai cha con bây giờ cùng một lòng, ông Bùi Văn Bang rất hả hê!
Mấy tháng sau Sít ta lin chết, ông hú hồn.
Chiến tranh đang đến hồi khốc liệt. Đã thấy nhiều người cụt tay, cụt chân. Nhiều nhà bị đốt, đập nước bị phá. Máy bay gầm rú suốt ngày đêm. Pháp đổ bộ lên Qui Nhơn, nhảy dù xuống Sa Huỳnh. Nhưng khắp các mặt trận ta đều thắng. Điện Biên Phủ bị vây. Mấy mươi ngàn tên giặc đang khóc la xin đầu hàng.
Ông Bùi Văn Bang được gọi ra Bồng Sơn học lớp chính trị đặc biệt để chuẩn bị Cải cách ruộng đất. Thằng Bùi Văn Liên Xô được vào đội thiếu niên tiền phong, cũng bỏ mẹ và bà nội đi tập nhảy sôn đố mì.
Nhà vắng. Vườn chuối đã già cỗi rũ xuống. Trong đêm, những tàu lá phất phơ như những cánh tay khiến nàng nhớ tới một đêm kinh hoàng.
Đó là một buổi tối mùa hạ. Trời nóng đến chảy mỡ. Dỗ con ngủ xong, nàng đi ra giếng tắm. Như thường lệ, nàng mặc nguyên quần áo, xách nước từ giếng lên xối qua mình. Mặc dù trời tối nhưng nàng vẫn đứng nép vào bụi chuối. Nàng đang kỳ cọ, bất ngờ có hai cánh tay cứng như thép từ sau vòng ra ôm lấy nàng. Rồi cả một tấm thân to như cái phản áp sát vào lưng. Hai chân hắn cũng quắp chặt chân nàng. Một cái cằm râu lởm chởm cạ vào cổ vào má. Một tay hắn giựt đứt lưng quần. Nàng xấu hổ không dám la lên, chỉ cố vùng vẫy trong tuyệt vọng. Bỗng nàng nhớ tới mẹ chồng, bà đã từng dạy nàng cách dùng cây nhím cài tóc. Nàng liền rút nó ra, nghiến chặt răng đâm thật mạnh vào đùi hắn. Nàng đâm với tất cả sức mạnh và nỗi căm hờn. Hắn rú lên một tiếng như bị đâm vào tim, liền buông nàng ra.
Từ đó không bao giờ nàng ra giếng tắm nữa.
Và, những đêm vắng chồng, nàng cầm đèn run run đi soi khắp nhà. Mẹ bảo phải soi cả gậm giường, lấy chổi mà quơ vì trộm thường đu mình lên nép sát vào vạt giường, qua loa là chết với nó. Nhưng nhà đâu còn gì mà sợ trộm. Nàng sợ những thứ khác kia, sợ những thằng phải gió. Lúc này, ăn uống kham khổ, lại phải đi cấy, đi gặt, nên trông nàng khô đét, già háp. Nhưng với nhiều người, nàng vẫn còn đẹp. Các đồng chí vẫn thường đến hỏi thăm đồng chí Bang. Ai cũng lề mề, dây dưa, con cà con kê ngồi mãi không chịu về. Lấy cớ thằng Liên Xô học giỏi, kẻ cho cây bút máy Caolô, người cho cuốn vở giấy trắng trong vùng bị chiếm… Các bà vợ thấy thế tụm nhau lại nói xấu đủ điều. Ngày mới về làm dâu, bao nhiêu người đổ ra xem đều khen nàng đẹp, dễ thương. Giờ đây nàng là cái gai trong mắt họ, là con hồ ly tinh, mắt liếc mày la rủ rê chồng con họ. Đi tới đâu nàng cũng bị nguýt háy xa lánh.
Đêm nay, trời mưa rả rích. Đồng chí Thanh mang áo tơi đi vào nhà. Con chó già mỏi mệt cũng không thèm sủa. Đồng chí đập nhẹ cửa hỏi đồng chí Bang đi học đã về chưa. Nàng đứng bên trong nói chưa, nhưng đồng chí Thanh vẫn chưa chịu về. Đồng chí nói, “Mưa lạnh quá, cho vào nhà uống miếng nước.” Đồng chí cứ năn nỉ mãi, cực chẳng đã nàng mở cửa. Đồng chí Thanh liền ôm lấy nàng, giả bộ run nói, “Lạnh quá!” Nàng đẩy ra, gắt, “Ông làm cái trò gì thế? Tôi la lên bây giờ.” “Có gì đâu,” đồng chí nói, “lạnh quá mà.” Bất ngờ hai người đàn bà ập vô, một người nắm áo đồng chí Thanh, một người nắm tóc nàng cùng la lớn, “Sao mày dám lấy chồng tao?”
Bà Cửu thức dậy. Khi rõ mọi chuyện bà bảo, “Đêm hôm mà đàn ông tới nhà đàn bà là có ý dâm. Ngày xưa thế nào cũng bị quan căng nọc ra đánh đòn. Hai con mụ kia, khép cái mỏ lại mà về ngủ. Còn nếu muốn trị tội thì cứ đè cái thằng cán bộ kia ra mà cắn mà xé, cớ sao lại dám vào làm ầm ĩ nhà tau?” Vừa nói bà vừa cầm lấy cây chổi dựng bên cạnh quơ lên trước mặt vợ và con gái của đồng chí Thanh khiến hai người vội lôi chồng và cha ra khỏi nhà.
Bọn họ đi rồi, bà ngồi thịch xuống giường. Giận con dâu thì ít mà giận con trai thì nhiều. Cứ đi theo đảng mãi như thế này có ngày bị người ta lấy mất vợ như chơi. Suốt ngày nghe nó nói leo lẻo “Bảo vệ đảng như bảo vệ hai con ngươi của mắt mình”. Đảng là cái thằng cha, con mẹ nào mà gìn giữ hơn cả vợ con. Vợ bị làm nhục không lo lại đi lo nước nhục dân nhục. Khéo lo ba cái chuyện bao đồng. Chửi đã, như thường lệ bà hứ một tiếng rõ to rồi mới chịu đi nằm.
Nhưng bà cứ trằn trọc mãi không sao ngủ được. Lúc nhỏ nó là một đứa con ngoan, bảo đâu nghe đó. Giờ bị ma nhập hay sao mà phế bỏ cả nhà cửa vợ con để đi theo mấy cái ông râu xồm. Nghe nó hò hét mà bà thấy tức lộn ruột. Thà nó cầm súng ra mặt trận đi. Đánh nhau với Tây có bị giết thì cũng được cái tiếng chết vì nước vì vua, chứ làm cán bộ thì chỉ có nghe dân chửi hết làng trên xuống xóm dưới mà thôi. Nghĩ mà thương cho con vợ nó. Ngày trước, khi bỏ xứ Huế theo chồng về đây, bà ăn đứt đám đàn bà con gái trong làng. Biết bao con mắt thèm thuồng. Nhưng dẫu có thèm rỏ dãi nỏ có ai dám động đến bà một sợi tóc. Có mà cái dùi đục của ông Cửu nện cho vào đầu. Khi ông mất đi, cũng có nhiều người lảng vảng muốn ghẹo nguyệt thương hoa, nhưng cũng một vừa hai phải chứ có đâu càn ngang phả sét như bây giờ. Rõ đúng là thời loạn. Chỉ khổ cho đàn bà con gái mà thôi!
Nằm ôm con, nàng khóc ướt hết cả vai áo nó. Khóc vì thương mẹ chồng, thương thân mình, khóc vì nhục. Cái nhục của đàn bà không như của đàn ông. Không thể rút súng rút gươm ra mà trả. Nó như một vết chàm trên da thịt không cách gì rửa sạch được.
Sau ba tháng trở về, cùng với những đồng chí khác, đồng chí Bùi Văn Bang làm nổ tung xóm làng bằng những cuộc phóng tay phát động quần chúng để tiêu diệt địa chủ. Những đêm học tập, những đêm đấu tố đã xé nát làng quê yên tĩnh cả bao nhiêu đời thành nhiều mảnh. Bần cố nông được đẩy lên ngôi vị ngất ngưởng thay cho phú nông địa chủ bị vùi dập xuống tận bùn. Nhìn thấy cảnh những ông tổng, ông lý bị bắt quỳ giữa sân đình để bao nhiêu người hét hò mắng chửi, bà Cửu không chịu được. Bà cho rằng, ngày xưa, vua còn biết tha tội cho những người ăn năn hối cải, còn biết để họ lấy công chuộc tội, cớ sao bây giờ cách mạng lại hành hạ họ. Từ bao nhiêu năm nay họ đã đóng góp bao nhiêu của bao nhiêu công, đã quyên góp bao nhiêu vàng, ngã hàng chục con heo con bò cho dân quân, bộ đội ăn, lại đóng thuế nông nghiệp nhiều hơn ai hết sao lại đem ra sỉ nhục họ trước đám đông? Họ đáng cha đáng chú sao lại đá lại đạp họ? Đạo lý của con người để ở đâu? Bà rất đau xót, xấu hổ khi thấy con trai của dòng họ Bùi lại đi làm cái việc bất nhân đó, mà lại là kẻ hùng hổ nhất, tàn nhẫn nhất.
Từ đó, sự xung đột giữa mẹ và con trở nên gay gắt đến nỗi bà Cửu nói, “Tau coi như không đẻ mi ra. Ai đời mi dám bảo tau là phản động, là cản trở cách mạng.” “Chứ không phải à, người ta ai cũng mẹ cứu quốc, mẹ chiến sĩ, còn bà là mẹ gì? Mẹ mìn thì có! Bà không xứng đáng là mẹ tôi.” Đồng chí gào lên, “Chính vì bà mà tôi bị phê bình là thiếu năng lực. Người ta nói, không giác ngộ được mẹ và vợ thì giác ngộ được ai. May mà tôi còn có người cha là thợ mộc tức là công nhân nên vẫn còn được đứng trong hàng ngũ tiên phong. Nhưng có một bà mẹ như bà lúc nào cũng chửi cách mạng ra rả, một con vợ ù lỳ như con vợ tôi, cứng cổ cứng đầu không chịu tham gia công tác, nên cũng có ngày tôi sẽ bị đá văng ra ngoài như một con chó ghẻ.” “Thì mi đi đâu cho khuất mắt tau, đừng có mà về cái nhà này nữa.” “Chính bà phải đi ra cái xứ Huế phong kiến của bà chứ không phải tôi.” “Mi câm cái họng thối tha của mi lại, không tau cắn lưỡi chết bây chừ!” Rồi bà bù lu bù loa, “Ông ơi là ông ơi, ông chết sớm làm gì để thằng con trời đánh nó chửi tui như thế này!” Bà nằm vật ra giữa nhà, khóc suốt mấy ngày đêm. Năn nỉ dỗ dành bao nhiêu bà cũng không chịu ăn, chỉ có mỗi một việc đòi chết. Thằng bé lại càng làm cho bà bứt đầu bứt tóc kêu gào thảm thiết hơn. Nó nói, “Bà không chịu tiến bộ, chỉ làm khổ cha.” Nàng lấy tay bịt miệng con, nhưng nó vùng vằng đứng dậy, đá văng mâm cơm bỏ đi. Nàng thở dài, “Đúng là cha nào con nấy!”
Chiến thắng Điện Biên cũng đem lại thắng lợi trên bàn hội nghị. Hiệp định Giơ ne vơ được ký kết. Một nửa nước đã được giải phóng. Bao nhiêu cán bộ, bộ đội tập kết ra miền Bắc. Cả hai cha con Bùi Văn Bang đều được đi.
Cái tin Bùi Văn Liên Xô được tập kết theo cha khiến hai người đàn bà, một già một trẻ không họ hàng gì với nhau, ôm nhau khóc suốt. Còn lờ mờ gì nữa, đi tập kết là mất con mất cháu rồi. Hai năm trở về, ai biết được là hai năm hay hai mươi năm. Mà dẫu cho chỉ hai ngày hay hai tháng cũng đã không thấy yên bụng rồi. Có bao giờ nó xa hai người nửa bước đâu. Giờ đây ai lo cho nó ăn nó mặc. Ai buổi tối đưa nó vào giường ôm ấp cho nó ngủ. Ai thức dậy sớm nấu cháo luộc trứng gà cho nó. Ai hái cho nó cả nón dúi dẻ chim chim. Ai kể chuyện đời xưa cho nó nghe. Ai thức suốt đêm bên cạnh khi nó đau. Ai lo cho nó từng cái mụt ghẻ. Ai gãi lưng cho nó khi nó kêu gãi gãi. Ai? Buồn như nhà có tang. Nhưng thằng bé thì vui như Tết.
Nó hí hửng vì được đưa ra Bồng Sơn, được học tập vui chơi với hàng ngàn trẻ em khác của liên khu 5. Lần đầu tiên được đi camnhông ray nó cảm thấy như được bay lên trời. Khi xe qua hầm nó sung sướng tung mũ lên, cái mũ bay mất. Nhưng không sao, nó sẽ được phát mũ calô đội lệch rất chi là oai vệ. Ngoài những bước nhảy sôn đố mì, nó còn được học nhảy sạp, được xem bao nhiêu là phim của Liên Xô và Trung Quốc, được phát huy hiệu có ảnh Bác Hồ. Nó được các “mẹ” các “chị” may cho những cái túi dết, những chiếc khăn mùi soa có thêu chim bồ câu hoà bình. Nó cùng với các bạn như đang ở trên thiên đường. Nó quên mất hẳn bà và mẹ.
Một tháng sau nó về thăm nhà, trông nó khác hẳn. Nó như cao hơn, rắn chắc hơn. Nó đòi mẹ đan cho chiếc áo len và thương làm sao, nó muốn mẹ chụp với nó một tấm hình. Hai mẹ con đi bộ vào tận Đập Đá. Nó đứng cao gần bằng mẹ, một tay chống nạnh, một tay vịn lưng mẹ, trông đĩnh đạc cứ như một cậu con trai đã lớn.
Rồi đến lúc nó theo đoàn xuống Qui Nhơn để lên tàu ra bắc. Bà nội quá già, chỉ một mình nàng đưa tiễn. Lần đầu tiên nàng đi một quãng đường rất xa, những bốn mươi cây số. Con đường trải nhựa đen từ thời Pháp bị đào xới trong kháng chiến trông như một cái xương cá khổng lồ, bị ngắt ra nhiều khúc vì những cây cầu sập và những hố bom chưa lấp lại.
Không có tàu bay, không có súng đạn nên người ta đổ ra đường đi khơi khơi như để hít thở không khí của tự do và hoà bình. Suốt chín năm, giờ mới có được những ngày bình yên. Ai cũng vui, mặc dù người nào cũng hốc hác teo tóp. Nàng tưởng ai cũng như mình, đi tiễn chồng con đi tập kết. Thực ra họ đi gỡ dây thép gai, lượm lon đồ hộp của Pháp để lại. Ngược chiều với nàng là những người hai vai nặng quằng những khoanh dây kẽm, những đứa bé kéo cả chùm lon loảng xoảng trên đường. Đó là những thứ có thể làm ra gạo ra khoai.
Thành phố Qui Nhơn trong những câu chuyện mở đầu bằng “hồi xưa” của cha nàng với những phố lầu, những ngựa xe giờ chỉ là một đống gạch vụn mênh mông. Chỉ còn sót lại cái nhà thờ họ đạo với tháp chuông cao ngất và nhọn hoắc. Hết bị đập phá để tiêu thổ kháng chiến lại bị Pháp san bằng để chống lại du kích, cái thành phố nguy nga trong trí nhớ của cha nàng cũng đã theo ông đi xuống mồ. Nhưng hai mẹ con rất thích vì lần đầu tiên được thấy máy bay của uỷ hội quốc tế. Nó nằm phơi mình dưới ánh nắng, sáng loáng như một con thuyền sơn màu bạc. Không biết nó to và nặng như thế làm sao lại có thể bay lượn trên bầu trời như chim chèo bẻo. Không dùng để bắn giết, trông nó hiền lành như một con trâu đang nằm nhai cỏ.
Tại bến cảng, một con tàu Ba Lan to như hòn núi Đất đang há cái mồm rộng để nuốt những khẩu đại bác nòng dài thòng, những xe tăng nặng chình chịch. Sau cùng, nuốt những đứa bé sắp hàng một trong đó có con nàng! Bọn nhỏ tuy hơi sờ sợ, nhưng khi được đưa lên boong, chúng lại thích thú dùng khăn tay đưa ra vẩy. Đáp lại là những giòng nước mắt, những tiếng gọi “con ơi” thống thiết.
Rồi con tàu ngậm cái miệng đen ngòm lại, rúc lên những hồi còi xé ruột. Nó nhả những cuộn khói xám xịt lên trời, lừng lửng tiến ra khơi.
Nàng và bao người mẹ khác đứng chôn chân rất lâu trên bến cảng. Họ nhìn theo con tàu cho đến khi nó trở thành một cái chấm nhỏ rồi tan biến ở đường chân trời.
Đó là chuyến đầu tiên chở những mầm non ưu tú nhất của cách mạng ra bắc. Bùi Văn Bang phải ở lại lo thu giấu tài liệu, chôn vũ khí, sắp đặt bố trí ai đi, ai ở, ai đổi vùng… Cả núi công việc. Mãi đến chuyến cuối cùng tức là mười tháng sau, ông mới đi. Dù cho hờn giận đến đâu thì tình mẫu tử và nghĩa vợ chồng vẫn khiến cho ba người ruột thịt của Bùi Văn Liên Xô không khỏi ngậm ngùi trước lúc chia ly. Bà Cửu nước mắt lưng tròng nắm chặt tay con và anh ta đã cúi xuống ôm ngang lưng mẹ rất lâu. Vợ anh dặn phải nhớ chăm sóc con. Anh hứa hẹn, “Không sao đâu, mười bốn tháng nữa thôi, cha con anh sẽ về.” Lần đầu tiên ông xưng anh với nàng và cũng lần đầu tiên nàng nghe lòng mình tan ra trong nước mắt.

Bùi Văn Liên Xô

1

Chẳng có tổng tuyển cử. Chẳng có thống nhất. Sông Bến Hải như một nhát chém cắt đôi đất nước ra làm hai miền thù địch. Miền Bắc thề đốt cả dãy Trường Sơn để giải phóng. Miền Nam cũng đòi lấp sông Bến Hải để giải phóng. Những cái “giải phóng” ấy đụng nhau nảy lửa ở khắp các mặt trận.
Như cá trong chậu, những người có chồng con đi tập kết bị gọi lên xã, lên huyện cứ như cơm bữa. Người ta hỏi có biết chồng con ở đâu không, đã nhận bao nhiêu lá thư gửi từ Pháp về, nhận những công tác gì, có gặp bọn nằm vùng hay không …Bọn họ tối đến còn phải đi ngủ tập trung, giống như trâu bò sau một ngày đi cày lại vào trong chuồng mà ngủ. Nhưng trâu bò còn được thả rơm cho mà nằm nhai lại suốt đêm. Bọn họ thì cứ bị dựng dậy bất cứ lúc nào. Nhất là những người có chút nhan sắc như nàng. Những cái nhìn như xé toang quần áo nàng ra, những câu nói tục tĩu, những tiếng cười dâm ô của bọn lính gác, của quan chức lớn bé làm cho nàng cảm thấy những năm tháng không có chồng con ở nhà thật là ô nhục.
Dù nàng chưa bị lột truồng ra, nhưng cuộc đời của nàng đã trần truồng như nhộng. Chẳng có một bàn tay đàn ông nào che chắn bảo bọc. Những người khác, mong đợi một ngày được chồng con trả thù rửa nhục, chứ nàng thì chẳng mong đợi gì hết. Nàng sống mà không một chút hy vọng. Sống như một lưu đày ngay chính quê hương mình. Sống như đốt cháy mọi niềm tin. Sống như tự mài mòn đi để trở thành đá cuội trong lòng thác. Nói như mẹ chồng: sống mà như đã chết rồi.
Bà Cửu tuy không phải đi ngủ tập trung, không phải bị gọi lên gọi xuống, nhưng với một đứa con ngỗ ngược, một đứa cháu hót những điều trái tai như sáo khiến bà còn chán nản tuyệt vọng hơn cả nàng. Lấy chồng xa, mấy mươi năm chưa một lần về thăm quê, cha chết rồi mẹ chết cũng chỉ biết khóc sưng mắt mà thôi. Chồng chết, bao nhiêu năm ở vậy nuôi con, những tưởng lớn lên nó đã có thể thay cha đưa mẹ về thăm nhà. Nào ngờ chiến tranh, rồi tập kết và nhất là nó coi bà như kẻ thù giai cấp, thì chắc đến lúc nhắm mắt bà cũng không thể trèo qua đèo Hải Vân mà thắp cho cha mẹ một nén nhang của đứa con bất hiếu.
Đã hơn mười năm, bà đã sống những tháng ngày nhạt nhẽo nhất trong đời. Sống với con dâu thì mặn nồng làm sao được. Cho dù nàng dâu của bà cũng đã làm tròn, có khi là hơn, bổn phận của mình với mẹ chồng, nhưng khác máu tanh lòng, sao bằng đứa con đứa cháu ruột rà. Nhiều đêm bà nghĩ thương cho phần số của cả hai người. Giống như hai cái cây bị róc hết cành nhánh, hai người sống cạnh nhau như hai cay cau bị gió bão làm cho trốc gốc, nằm vật lên nhau cũng chỉ đợi người ta cưa xẻ mà thôi.
Những tưởng bà sẽ phải chết dí ở cái nơi xa xôi này, không ngờ một ngày tháng năm, người em trai út của bà tìm đến thăm. Hôm đó, một người đàn ông trọ trẹ mới tới đầu đình đã làm cho mọi người tin chắc là ông ta đi tìm họ hàng. Những đứa bé nhanh chân đã chạy nhong nhong đến báo tin cho bà. Chúng nó nói, bà Huế ơi, cái ông mô mô tê tê gì kia có phải bà con của bà không? Trống ngực đánh thình thình, bà không tin vào đôi tai đã bắt đầu nằng nặng cho đến khi người em trai lúc bà đi theo chồng mới có 5 tuổi đứng trước mặt bà.
Khỏi phải nói là họ đã ôm nhau khóc một bữa đã đời. Khóc và tranh nhau nói. Những tê, những mô, những răng, những rứa, những hỷ, những tề, những tiếng lâu nay chưa có dịp tuôn ra giờ chảy ào ào như mưa nguồn thác lũ. Bọn trẻ con há hốc mồm ra nhìn cuộc trùng phùng sau hơn 40 năm. Bà cho chúng quà, nào kẹo gầng nào mè mè xững, những thứ lâu nay chúng chưa hề thấy bao giờ.
Bà Cửu cũng cảm thấy mình như được trẻ lại đến mấy chục tuổi. Bà nhớ lại hơn 40 năm trước đã từng bồng ẵm cậu em út, đã từng nựng nịu tưng tiu nó và thầm mong khi lấy chồng cũng sinh một đứa con xinh như thế. Bà hỏi han đủ thứ chuyện và mặc dù cậu lặn lội đường xa, bà vẫn muốn được chuyện trò suốt đêm. Cậu em đã nói cho bà nghe chuyện cha mẹ, chuyện các anh chị thương nhớ bà như thế nào, nhất là trong chín năm không biết bà sống chết ra sao. Khi nghe đình chiến đã muốn vào thăm, nhưng tang cha, tang mẹ, rồi bận lo con cái học hành đi lính đi tráng mãi đến nay mới vào được. Cậu tha thiết muốn được đưa bà về thăm quê.
Về thăm quê, còn gì vui hơn nữa. Mà lại về bằng máy bay thì đúng là dẫu có nằm mơ cũng không thấy!
Ở Huế hai tháng bà nhận ra được một điều: Chiến tranh dù đã xảy ra trên 20 năm nhưng ở tận đâu đâu chứ không ở thành phố. Bảo Đại dù xuống ngôi nhưng kinh thành Huế vẫn nguy nga đường bệ. Vẫn còn đó cửa Ngọ Môn, điện Thái Hoà. Vẫn còn đó cầu Tràng Tiền, chợ Đông Ba. Phố xá ngày càng tấp nập hơn. Những người bán hàng xén ngày trước như bà giờ là chủ những cửa hàng đồ sộ. Họ giàu ngất trong khi bà còm cõi dưới luỹ tre, hết chín năm kháng chiến đấu tố lại đến mười năm tố cộng.
Ở đây đâu có ai đi tập kết, đâu có ai phải đi ngủ tập trung. Giữa thành phố và làng mạc cách xa một trời một vực. Ở đây đèn điện sáng choang, còn ở làng quê đèn dầu leo lét. Ở đây, những người cỡ tuổi bà vấn khăn nhung, đeo chuỗi ngọc đi chùa, cỡ con trai bà mặc áo vét đi giày tây, cỡ con dâu bà áo dài màu tha thướt, cỡ cháu trai bà đi xe đạp sáng choang… Chiến tranh đâu có trùm lên tất cả.
Sao không bỏ nơi thù hằn, nơi ô nhục mà đi tìm nơi ánh sáng, nơi đồng tiền sẽ đẻ ra tiền. Việc gì phải chui rúc trong gian nhà mà cứ tối đến là phải thắp đèn đi soi từng hang hốc, việc gì phải còng lưng gánh từng gánh khoai gánh lúa chỉ để đổi lấy một đôi dép mới mang ba bữa đã đứt quai, một cái áo mới giặt vài nước đã tã ra, việc gì phải run sợ trước những thằng cha con mẹ còn thua bọn khuân vác hay đạp xích lô mà lên giọng này giọng nọ, việc gì phải cúi đầu chịu khổ khi trong tay mình có cả chục lạng vàng.
Đó là tài sản của cha mẹ để lại được anh em chia cho bà. Bọn họ còn đưa bà ra chợ Đông Ba để xem người ta mua bán, nhất là xem hàng vải của đứa cháu dâu. Bọn họ nói nếu không về Huế thì cũng phải bỏ cái xứ Đại Hữu tối tăm, cái xứ mà đêm đêm thường nghe cộng sản đánh trống khua chiêng ở phía bên kia sông, cái xứ mà con dâu bà không trước thì sau cũng bị làm nhục. Với ngần ấy vốn hai mẹ con dư sức mở một cái sạp nhỏ. Nếu buôn may bán đắt thì chẳng mấy chốc sẽ phất lên.
Bà nghe bùi tai quá và với cái nhìn và suy nghĩ còn hơn cả làm cách mạng, bà quyết định giao căn nhà họ Bùi cho người cháu họ. Cùng lúc ấy những ấp tân sinh ở gần núi đã bị đốt. Không đắn đo gì nữa, bà và con dâu chỉ mang theo những thứ cần thiết nhất lặng lẽ đi xuống Qui Nhơn.

2

Đầu tiên hai mẹ con thuê một căn nhà nhỏ ở gần kho xăng ông Tề. Phía sau là đầm Thị Nại, trước mặt là núi đá vôi với những con dê thả rong suốt ngày kêu be be trên những gộp đá. Hàng xóm cũng là những người đã sớm rời bỏ làng quê, những Trung Lý, Trung Định, những An Đông, An Ngãi, An Nhơn. Vẫn chỉ có một mình bà nói trọ trẹ mô tê giữa những âm thanh dẫy na chói tai ngộ nghĩnh. Tuy tiếng nói có đôi chút âm sắc khác nhau, nhưng tim họ như cùng đập một nhịp khi nghe nói tới hai tiếng cộng sản. Chẳng còn ai lạ gì những tiếng đấu tố, địa chủ, khả năng. Chín năm đủ cho họ dù không ruột rà thân thích hay bè bạn, chỉ một cái liếc nhìn cũng hiểu nhau những nỗi niềm lo sợ còn dội mãi trong lòng.
Cô cháu dâu nằn nì, “O vào trong nớ cố mà sang một cái sạp vải dù trong chợ nhỏ cũng được. O và chị Hai nghe nói dễ thương lắm thế nào cũng bán được mà. Cháu sẽ giới thiệu o với các đại lý ở Sàigòn, thấy bán được người ta sẽ cho o gối đầu lo gì mà không đủ vốn.” Mặc dù đã có người bày cho đi buôn, nhưng bà vẫn chưa dám. “Thôi hãy thư thả rồi sẽ liệu,” bà nói với cô con dâu, “giờ mình bày ra bán bánh canh cua hay bánh bèo kiếm sống qua ngày đã.” Cô con dâu dĩ nhiên là thuận theo ý bà. Nàng tất tả đi mua những thứ vật dụng cần thiết. Bà đi chợ xem cách người ta mua bán cua, học cách chọn cua gạch và tìm người thuận bỏ mối cho bà.
Với sự khéo tay của bà, cộng với sự ngăn nắp sạch sẽ của con dâu, chỉ dăm bữa là cái gánh bánh canh cua của hai mẹ con bà đã được cả xóm cây xăng ông Tề biết tiếng. Người ta khen sợi bánh canh mềm mà lại dai, thịt cua chắc và nhất là gạch cua đỏ như son chen lẫn với hành ngò xanh trông rất bắt mắt. Một bát chỉ hai đồng bằng giá một ổ bánh mì thịt, mà ăn tới đâu ngọt lịm tới đó.
“Cũng chẳng có bí quyết chi mô,” bà nói, “cái khó là phải lựa cho được cua gạch. Bánh canh cua mà không có cua gạch cũng như một cô gái thiếu phấn son. Đẹp thì có đẹp nhưng chưa chắc đã giữ được ai lâu dài.” Tuy không nói ra, nhưng bà tin sở dĩ đắt hàng, một phần cũng nhờ cô con dâu có con mắt đen ướt khiến bà cũng phải xiêu lòng huống hồ là đàn ông. “Ngu chi mà ngu lạ rựa,” bà nói, khi nghĩ tới cậu con trai đi theo đảng không biết đói no thế nào trên đất Bắc. Vợ đẹp như rựa mà bỏ đi đành đoạn!
Sống được với gánh bánh canh, hai mẹ con cũng quên luôn cái sạp vải trong dự tính. Thực ra họ có nghĩ tới. Bán vải thì nhàn hơn, chỉ ngồi trong mát khỏi phải kĩu kịt gánh từ xóm nọ sang xóm kia, khỏi phải lặn lội dưới mưa nắng và bà, nhất là, bà khỏi phải thức khuya dậy sớm trong khi tuổi già làm cho lưng cổ lúc nào cũng đau nhức. Nhưng bán vải thì to thuyền lớn sóng, lỡ trộm cướp hay cháy chợ cháy nhà thì tiêu ma cả vốn liếng. Sống cái nhà, thác cái mồ, chi bằng mua một căn nhà, dẫu có bị pháo kích cháy cũng hãy còn lại cái nền đất. Ở thành phố, một tấc đất là tấc vàng, giữ vàng trong mình đâu bằng giữ đất. Thế là một năm sau họ mua được một căn nhà bề ngang bốn thước, bề dài mười hai thước cũng ở trong xóm cây xăng ông Tề.
Vậy là an cư lạc nghiệp.
Và, nàng trở thành cô hàng quà.
Chẳng còn bị ai gọi tới gọi lui, chẳng còn ai lăm le làm nhục. Nàng thấy cuộc đời bỗng dưng trở nên dễ sống, đáng yêu. Và còn đáng yêu, còn đẹp hơn nữa nếu bên cạnh nàng có Bùi Văn Mỹ. Nàng chi xiết nhớ con. Mặc dù lúc này nó đã 20 tuổi nhưng trong tâm trí nàng nó hãy còn là một đứa bé. Nàng nhớ xiết bao cái tiếng gọi mẹ ơi, mẹ ơi. Nàng nhớ hai bàn tay bé bé xinh xinh với những ngón đỏ hồng của nó xoè ra nâng niu những bông dúi dẻ, nhớ hàm răng lòi xỉ khi nó cắn những trái chim chim đỏ mọng, nhớ cái đầu hơi méo của nó tựa trên đùi nàng khi hai mẹ con ngồi nghỉ ở tảng đá đen trên núi Đất. Nhớ quá chừng, quá đỗi, mẹ nhớ quá con ơi! Không đêm nào là nàng không khóc khi nghĩ tới nó.
Giờ nó đang ở đâu trên đất Bắc xa xôi? Nó đang đi học hay đi lao động ở các nông trường. Nó ở Liên Xô, Trung Quốc xa tít tắp hay đang lẩn trốn ở núi rừng Trường Sơn đầy ma thiêng nước độc. Làm sao tôi lại để nó đi được nhỉ? Sao tôi không đu lên tàu mà kéo nó xuống, sao tôi cứ lặng lẽ khóc mà không biết đấu tranh cho sự sống còn của chính nó và của tôi?
Đằng đẵng hơn mười năm trời, chồng nàng gần như chưa bao giờ hiện diện trong tâm trí. Có những cặp vợ chồng, nàng thấy, họ mắng chửi nhau thậm tệ, nhưng sau đó dường như người nào cũng thấy mình có ít nhiều lầm lỗi, nên lại thấy người kia tội nghiệp, lại thấy thương, lại làm lành, lại chăm sóc nhau như lúc ban đầu. Nàng thì chưa bị chồng tát cho một bạt tai nào chứ đừng nói tới chuyện nắm tóc cột vào chân giường, xé đốt quần áo. Nhưng mà sao cứ thấy nhạt như nước ốc. .
Nghĩ lại, nàng thấy mình cũng còn may. Có một bà mẹ chồng biết phải biết trái, không hà khắc con dâu là xưa nay rất hiếm. Ngày trước nghe bà nổi tiếng khó tính nàng rất lo sợ, nhưng có ở với nhau nàng thấy bà cũng đâu có khác gì mẹ ruột dù nàng chưa biết mặt mẹ. Cái lần nàng ngủ trong ang lúa, cứ tưởng bà sẽ chì chiết suốt đời, không ngờ bà nói như nói với con gái, “Dại chi mà dại rựa!” Đến bây giờ nàng vẫn thấy mấy tiếng dại chi mà dại rựa nó dịu ngọt làm sao. Một lời nói như vậy, dẫu có chết vẫn còn muốn mang theo xuống mồ cho nó ấm áp.
Hai mươi năm.
Không như ngày trước, chiến tranh không chỉ là bom rơi đạn nổ ở làng quê, mà bây giờ còn là đạn pháo kích vào thành phố,là lựu đạn nổ trong bar, là cầu bị gài mìn, là truyền đơn trong rạp hát, là xe hụ còi inh ỏi, là máy bay trực thăng bay lên bay xuống mệt nhoài để tải thương, là bồng bế gồng gánh, cả người và trâu bò chen chúc nhau vào thành phố. Cái bộ mặt chiến tranh trở nên đểu cáng hết chỗ nói. Thả bom cho nát bét ra rồi hội này hội nọ tới cứu trợ. Đốt làng đuổi dân chạy như chuột rồi dựng lều dựng trại tiếp cư. Đùn đẩy đàn bà trẻ con đi biểu tình chửi mắng để cho lính bắn rồi lu loa lên là tàn ác dã man. Chiến tranh quy ước, chiến tranh nhân dân, chiến tranh chính trị, chiến tranh kinh tế… đủ thứ chiến tranh trút xuống như mưa trên đầu những người dân vô tội.
Một sáng nọ có một người đàn bà ăn bánh canh xong lại lẽo đẽo đi theo nàng. Đến một chỗ vắng người, bà ta dúi vào gánh nàng một xấp truyền đơn. Bà bảo bà biết rõ chị là ai và vừa khuyên vừa doạ chị hãy tỏ ra xứng đáng với chồng và con. Nàng sợ đến nỗi không dám đi bán nữa mà gánh chạy tuốt về nhà. Mẹ chồng hỏi, “Sao về sớm,” nàng bảo, “Con thấy chóng mặt nhức đầu quá.” Bà bảo, “Thôi còn bao nhiêu để lại ăn khỏi nấu cơm. Ngã bệnh thì khổ.” Nàng dạ, rồi vội vàng xuống bếp ném thẳng vào lửa. Mãi đến khi tất cả đã thành tro, nàng vẫn còn run.
Hai hôm sau, cũng người đàn bà đó cố ý bỏ quên một cái xách tay trong một tiệm ăn. Đến trưa thì nó phát nổ.
Thế là người ta bắt đầu chú ý đến những gánh hàng rong, những thúng xôi, những rổ bắp. Những gã đàn ông không ăn quà chỉ đứng xa xa hút thuốc. Là công an chìm, là mật vụ. Những con mắt cú vọ theo đuổi nàng như những con ruồi bay theo nồi bánh canh. Cả trong giấc ngủ nàng cũng mơ thấy những tờ truyền đơn bay chấp chới và những trái lựu đạn nằm lăn lóc.
Nàng sợ tưởng sắp phát điên, đành nói thật với mẹ chồng. Bà cụ thở dài. “Đồ vô hậu,” bà nói, “thôi để mạ sang cho một sạp bán quần áo cũ. Mạ chỉ còn chút ít để dành lo đau bệnh. Cũng đành dốc hết ra mà làm ăn chớ biết sao! Loạn chi mà loạn rựa tề!”

3

Sạp bán quần áo cũ sang lại ở chợ nhỏ khu Năm. Mỗi bề rộng một thước rưỡi chỉ đủ đặt một cái thùng gỗ cao hơn nửa thước. Có đến nửa thùng là đồ viện trợ gồm những cái váy to như bồ lúa, những chiếc quần kaki rộng thùng thình mà dân tản cư thường chọn mua lấy vải để may cho chồng con. Nó vừa rẻ vừa chắc. Nhiều bà, trời lạnh, cả mấy mẹ con cùng chui vào một cái váy là đủ ấm, khỏi cần phải chăn nệm. Các bác xích lô, bốc vác lại thích quần áo lính ta, trong khi thanh niên, công chức thích vải gabacdin của Mỹ. Ngoài ra còn có giày bố, giày bốt đờ sô… Cửa hàng tầm tầm nhưng cũng đã vét của bà Cửu đến những lạng vàng cuối cùng.
Được ngồi suốt ngày trong mát, được ăn mặc sạch sẽ dễ coi, nên dù không phấn son như mấy cô bán hàng khác, nàng vẫn có một nét đẹp mặn mà. Không ai nghĩ là nàng đã quá ba mươi. Trái lại người ta cứ tưởng là nàng kén chồng hơi kỹ nên tận bây giờ vẫn chưa có ai.
Trong số những người để mắt đến nàng có một anh công chức làm ở toà hành chánh. Anh đã mua của nàng cả chục bộ quần áo treo đầy tủ nhưng không mặc bao giờ. Cứ mỗi lần ghé lại là anh mua một bộ. Anh chỉ chọn lựa, trả tiền rồi đi, không nói với nàng tiếng nào. Chừng như, mối tình của anh tính theo quần áo, đã đến lúc chạm nóc tủ, anh liền mua tặng nàng một chiếc nhẫn.
Nàng ngạc nhiên bảo là nàng có chồng rồi nhưng anh không tin, anh bảo là anh sẽ cưới nàng làm vợ và nàng sẽ chỉ ở nhà lo cơm nước khỏi phải buôn bán chi cho khổ cực. Nàng hơi bối rối, nhưng cái ý nghĩ lấy chồng một lần nữa làm cho nàng cười thầm.
Ừ nhỉ, sao không bỏ quách mà đi lấy chồng khác như nhiều người vợ có chồng tập kết mỏi mòn không chờ đợi được. Có chồng, còn là một cách vứt bỏ cái mũ thân cộng đang đội trên đầu, là xoá sạch quá khứ tối tăm hướng đến một tương lại sáng sủa. Có chồng, được quá đi chớ. Nàng đâu đã già.
Nhưng, dù anh Bùi Văn Bang yêu đảng hơn yêu vợ, và Bùi Văn Mỹ dù đã được đổi thành Bùi Văn Liên Xô cũng vẫn là con nàng, cho nên dẫu có phải đội hàng chục cái mũ thân cộng trên đầu thì nàng cũng không thể nào hất xuống mà đi lấy chồng được.
Chỉ khổ một điều, trong bóng tối người ta vẫn tưởng là nàng chung thuỷ với chồng và trung thành với đảng nên vẫn tìm cách liên lạc để xin được tiếp tế hay mua thuốc tây. Những lần như thế, nàng phải lén lút mua gửi lên núi mà xong việc rồi đến cả tháng vẫn còn sợ. Nếu mật vụ biết được thì chẳng những nàng bị đi tù mà sạp hàng, cơ nghiệp của mẹ chồng cũng bị tịch thu sạch!
Đồng tiền trong chiến tranh như nước chảy vào chỗ trũng. Dân càng chạy loạn nhiều thì túi càng rổng, trong khi những người phố thị túi lại cứ càng ngày càng đầy lên. Nàng tuy chẳng thấm vào đâu so với những nhà buôn lớn, nhưng cứ thêm nhiều làng bị đốt là nàng lại bán thêm được nhiều hàng. Ngoài chuyện đủ ăn đủ mặc, nàng còn dành dụm gửi mẹ chồng mua vàng. Giờ đây, nàng đẹp hơn, tươi tắn hơn, áo hoa quần lụa chứ không phải thô nhám, xấu xí và đã biết lén thoa một chút phấn, bôi một chút son mỗi khi ra chợ. Có người rủ nàng phi dê nhưng nàng lắc đầu không chịu. Ai lại để cái đầu như tổ quạ. Nhưng nàng cũng biết để cho thợ hớt bỏ cái búi tóc và kẹp bằng một cái kẹp đồi mồi. Những người quê cũ gặp lại nàng đã phải kêu lên, “Chu cha sao bữa nay đẹp dử dẫy?”
Mặc dù nàng không chịu nghiến răng cắt đứt quá khứ, nhưng cái tuổi xuân hơ hớ cứ như gọi như mời, hết anh thư ký tỉnh lại đến một anh thượng sĩ.
Đó là một người cũng ngoài ba mươi như nàng. Một người Bắc di cư ăn nói từ tốn nhỏ nhẹ. Anh không tán tỉnh, không chọc ghẹo nàng. Anh chỉ làm như tình cờ một bữa trưa ghé qua hàng của nàng không mua mà xin đổi một đôi bốt đờ sô vừa chân, bù bao nhiêu cũng được. Sau một hồi xỏ chân thử hết đôi này đến đôi khác, anh chọn được một đôi giày Mỹ mới toanh. Anh hỏi nếu bán thì giá bao nhiêu. Theo lời mẹ chồng dặn, nàng nhìn mặt anh một lúc rồi nói năm trăm. Anh rút bóp đếm tiền trả đủ, không cò kè thêm bớt. Anh lại để đôi giày của mình nói, tôi không cần đến nó nữa, rồi anh đi. Tuy được món lời kha khá, nhưng nàng cũng thấy bình thường, chẳng một chút gì để ý đến anh ngoài cái ý nghĩ là anh ta làm ra bộ bảnh.
Nàng quên mất anh ta cho đến một hôm trời mưa như trút, nước trong chợ dâng lên đến chân sạp. Nàng loay hoay lo dọn dẹp. Đúng lúc ấy anh ta xuất hiện và giúp nàng che chắn cho khỏi dột. Để cảm ơn anh, nàng kéo mấy chồng quần áo vào trong cho anh ngồi ghé lên sạp.
Anh đem kẹo lạc ra mời, nàng lắc đầu. Nàng lờ mờ cảm thấy anh ta cười cái tiếng nẫu, nên nàng chỉ ngồi im nghe anh nói. Không ngờ cũng giống như trời mưa, anh tuôn ra hàng bao nhiêu chuyện. Anh nói tới những miền quê xa xôi của anh, những con đê cao vút, những mái chùa xanh rêu, những cổng làng với cây đa, rồi tới những ngọn tháp Chàm ở Bình Định…
Với một giọng ấm áp, thân tình anh đưa nàng đi từ chùa này đến tháp nọ. Nàng trố mắt ra nhìn anh như một cô bé ngây thơ mười lăm tuổi. Mãi đến khi anh đi rồi nàng vẫn còn ngẩn ngơ vì lần đầu tiên nàng được nghe một người đàn ông ăn nói dịu dàng đến thế. Không như chồng nàng lúc nào cũng dấm dẳng nếu không muốn nói là như dùi đục chấm mắm nêm!
Rồi sau đó, thỉnh thoảng những buổi trưa chợ vắng khách anh lại tới.
Vẫn những câu chuyện thương nhớ quê hương xa xôi, vẫn những nỗi buồn trầm trầm lành lạnh. Dường như tất cả những thứ ấy đang ẩm mốc trong lòng anh cần phải đem ra phơi nắng và nàng chính là thứ nắng mới ấm áp mà anh cần. Lạ lùng làm sao, là chính nàng cũng có những thứ cần đem ra phơi dưới ánh nắng của anh. Không còn sợ anh cười cái tiếng xứ nẫu nữa, nàng cũng nói về con sông chảy qua làng, những cánh đồng lúa chín, những trái chim chim dúi dẻ ở núi Đất, về bộ râu dài và trắng như bông lau của cha, về tiếng gọi mẹ ơi nũng nịu của con trai.
Dĩ nhiên nàng không nói về chồng. Nhưng anh nói về vợ anh. Cô ấy đẹp, thích chưng diện, thích phiêu lưu tình ái, nên không chịu bay về cái tổ nghèo nàn không được ấm của anh.
Thế rồi người nọ thấy nhơ nhớ người kia và người kia thấy thinh thích được gặp người nọ.
Một ngày đẹp trời mùa hạ, bỗng nàng bằng lòng chịu để anh đưa đi chơi. Anh đã đưa nàng lên tháp Đôi sờ những viên gạch đỏ thắm dù đã ngàn năm, đưa xuống Gành Ráng thăm mộ Hàn Mặc Tử, rồi đi ăn cao lâu ở tiệm người Tàu.
Lần đầu tiên nàng được một người đàn ông gắp bỏ vào chén những con tôm bóc vỏ, những miếng mực trắng bong, rót nước ngọt cho nàng uống.
Lần đầu tiên nàng thấy mình được chìu chuộng cứ như một khách quý.
Suốt một ngày, nàng như một con nhộng được anh ta trói buộc bằng những sợi tơ mềm. Cho nên khi anh nằm xuống bên nàng nhẹ nhàng cởi cúc áo, nàng đã không bỏ chạy trốn vào ang lúa! Nàng cũng không cảm thấy mình bị cưa xẻ ra làm đôi và dường như nàng có kêu lên nhưng không phải là tiếng thét hãi hùng.
K.B.C của anh là…
Số quân của anh là…
Đơn vị của anh là …
Nơi đóng quân của anh: Phú Tài.
Nhiệm vụ của anh: giữ kho đạn.
Anh hứa tháng tới anh sẽ cưới nàng cho dù nàng là vợ của cán bộ đi tập kết. Anh nói, “anh không đủ sức giải phóng miền Bắc. Anh chỉ đủ sức giải phóng em”.
Và họ tạm xa nhau.
Anh về kho đạn, nàng về sạp hàng.

4

Một tháng sau không thấy anh.
Hai tháng sau không thấy anh.
Ba tháng sau cũng không thấy anh.
Nhưng nàng thấy mất kinh đã hai lần!
Một hôm, đang ngồi ăn cơm, mẹ chồng bỗng hỏi, sau khi nhìn sững vào cổ nàng, “Mi có mang rồi hỉ?”
– …Ơ mà…!
– Có mang mà không biết à?
– Dạ… Con chỉ thấy tắt kinh!
– Rựa là có mang rồi! Ai? Chẳng lẽ thằng Bang mò về?
– Dạ không…!
– Với người khác hả? To gan chưa tề! Thế hắn ở mô?
– Dạ ở Phú Tài.
– Làm chi?
– Dạ lính.
– Rứa là tiêu đời mi rồi. Lính tráng làm sao tin được. Nay chỗ này mai chỗ khác, hắn quất ngựa thì biết tìm mô!
– Ảnh hứa sẽ cưới con.
– Ai cho hắn cưới mà cưới. Nói sướng chưa. Vậy mà mi tin hắn?
– Dạ con lỡ dại!
– Đã ba lăm tuổi đầu mà dại à?
– Dạ, thưa mạ tha tội cho con.
– Tội lệ chi mi. Chỉ có tội con gái già này thôi. Cả tiền oan nghiệp chướng của cả nhà họ Bùi chỉ trút lên đầu tau mà thôi!
Bà buông đũa đứng lên. Ngay cả những lần bị gọi lên quận để tra hỏi về tung tích của chồng con cũng không làm cho nàng sợ như vừa rồi.
Đêm hôm đó nàng khóc ướt cả gối.
Chẳng lẽ anh ta quất ngựa như mạ nói. Nhiều người trong chợ bảo chớ tin những cái miệng người Bắc. Nàng cũng đã phát khùng với những cái miệng như thế. Nhưng với anh, không hiểu sao nàng lại tin. Tin hơn cả cha, hơn cả mẹ (nếu còn mẹ). Anh đâu có nói nhiều, cũng không trao nhẫn. Anh chỉ đón nhận một cách trân trọng những gì nàng đã trao và nói như đinh đóng cột, “Coi như chúng mình đã là vợ chồng.”
Không thể chờ đợi được nữa, nàng nghỉ một ngày chợ, đi xe lên Phú Tài. Có phải ra Bắc đâu mà không thể tìm tới.
Người sĩ quan trực sau khi nghe nàng nói là vợ chưa cưới, liền chỉ tay về phía những bức tường ám khói, những miếng tôn vặn vẹo, cháy đen. “Đấy là cái kho đạn vừa mới bị pháo kích,” ông ta nói, “Chẳng tìm được chút gì của anh ta. Thành thật chia buồn. Phải chi đã cưới nhau thì đơn vị sẽ làm hồ sơ để cô nhận chút ít tiền tử.”
Nghe chưa xong, nàng đã ngất xỉu tại chỗ.
Phần số của tôi như thế này sao? Tôi biết mình sinh ra là để chịu đựng, nhưng cũng một vừa hai phải thôi, chứ cay nghiệt như thế này làm sao tôi chịu đựng nổi! Tôi có tội tình gì? Anh có tội tình gì? Chẳng lẽ thương nhau là một cái tội. Hay là tôi ngu dại quá. Phải chi tôi lấy một anh thư ký hành chánh thì tôi đã được yên thân rồi. Còn anh, sao không chọn làm lính văn phòng mà lại đi giữ những thứ giết người để nó làm cho anh tan xác. Ai chết đi cũng có một nấm mồ. Còn với anh như thế, tôi biết tìm đâu mà thắp cho anh một nén nhang.
Trở về nhà, nàng nằm suốt ba ngày không ăn uống. Mẹ chồng cũng hơi lo. Bà vào buồng, ngồi xuống bên cạnh nàng. Bà nói trong tiếng thở dài, “Dại chi mà dại rựa! Hắn trốn mất rồi phải không?” Nàng bỗng ngồi dậy ôm chầm lấy bà khóc nức nở, “Anh ấy chết rồi mạ ơi!” “Ủa, răng mà chết,” bà hỏi dồn. “Dạ bị pháo kích.” “Trời, ạc chi mà ạc rựa!” Bà lại kêu lên câu nói quen thuộc. Một lúc sau bà nói, “Thôi đừng khóc nữa. Cũng may còn được giọt máu của hắn, đừng có dại dột mà đi phá. Mạ sẽ giúp cho con sinh nở đàng hoàng.” Rồi bà lại nói tiếp một cách ngậm ngùi, “Cũng hay đấy, vậy là mạ sẽ có cháu bồng!”
Năm ấy, trời bỗng mưa suốt hai tháng. Bà Cửu nói, “Chắc Diêm vương đi lấy gỗ về xây cung điện. Hà bá phải dâng nước lên mới đem đi được.” Ngọn núi trước mặt sạt một mảng lớn. Chợ lúc nào cũng ngập. Nàng lội nước mãi, chân trắng bệch, sưng phù lên. Bà Cửu bảo ở nhà nhưng nàng nghĩ sắp đẻ chửa, kiếm được đồng nào hay đồng nấy. Ngồi không mà ăn, dù của núi cũng lở huống hồ là cái sạp đồ cũ bé nhỏ của nàng.
Lúc này, VC áp sát thành phố. Chỗ nào cũng bị gài chất mổ, ném lựu đạn. Liên gia đại biểu lập danh sách đen những gia đình thân cộng. Nhà nàng đứng đầu sổ. Đây có thể là đầu mối giao liên, là cơ sở. Sạp hàng của nàng bị dòm ngó rất kỹ.
Một hôm, trên đường ra chợ, không có một cớ gì hết, nàng vẫn bị bắt đưa về đồn. Một nữ an ninh hỏi nàng:
– Chửa ai đó? Nàng lặng im.
– Câm à? Mụ đập bàn quát.
– Tôi chửa ai thì việc gì đến bà!
– Chồng đi tập kết, không chửa chồng thì chửa ai?
– Không chửa chồng bà là được rồi.
– A, mày dám láo với bà hả. Bà sẽ cho mày tù rục xương. Chồng mày ở đâu, nói mau!
– Tôi không biết!
– Chỉ biết chửa thôi à?
Mụ nguýt nàng một cái rõ dài rồi tống giam. Mãi ngày hôm sau bà Cửu mới tìm được chỗ giam nàng. Như một con gà mái xù lông để che chở đàn con trước diều hâu, bà cũng xù lông ra trước bọn an ninh. Bà lớn tiếng:
– Răng mà nhốt con tui?
– Con gái bà ?
– Con dâu.
– Vậy bà là mẹ Việt Cộng?
– Thì đã sao!
– Có chứ. Bà phải nói con bà trốn ở đâu. Nếu không cũng bị giam đấy!
– Thì cứ giam tau đi!
Nói thế chứ không ai muốn giam bà.
Buổi chiều bà lại đến. Rất bất ngờ, bà lôi từ trong bụng ra một chai xăng, “Tau tự thiêu như Thích Quảng Đức cho mà coi.” Người ta vội vàng ôm chặt lấy bà. Và cũng vội thả nàng ra. Từ đó, cả xóm cây xăng ông Tề đều gọi bà là bà Huế lựu đạn.
Cuối năm, nàng sinh một đứa bé trai, tính ra thiếu mất một tháng. Nó được ghi trong khai sinh là con tư sinh. Và vì sinh ở Qui Nhơn nên nàng dặt tên nó là Trần Văn Qui Nhơn. Nó èo uột khóc ngằn ngặt suốt cả ngày lẫn đêm. Cả nàng và mẹ chồng đều phải khổ vì nó. Mặc dù chẳng phải máu mủ ruột rà, nhưng bà Cửu lại rất thương thằng bé. Bà nói, “Chẳng đứa mô tội nghiệp như nó. Mới tượng hình trong bụng mẹ mà đã mồ côi cha. Chết chi mà chết oan chết ức. Từ nay lấy ngày kho đạn nổ mà cúng kỵ.”
Thật hiếm có người mẹ chồng nào như bà. Chỉ cần thấy con dâu vác cái bụng chang bang về nhà là đã nổi xung thiên lên rồi. Không tống cổ ra khỏi nhà đã là may. Lại còn cho phép giỗ thằng chồng mới trong nhà, lại xưng bà ngoại với thằng bé. Vậy thì có khác gì là mẹ đẻ. Nàng xúc động nói, “Con xin cảm ơn mạ. Không có mạ, con chẳng biết day trở ra làm sao!” Bà nói, “Ừ, nghiệp chướng chẳng phải riêng gì tau mà còn cả mi cũng phải chịu. Thôi rán mà ăn uống giữ gìn. Nghĩ mà thương cho thằng Mỹ, chẳng biết lúc nào nó về! Còn thằng cha nó nữa, dại chi mà dại rựa”!
Nghe nhắc đến hai cha con, nàng ngồi ôm mặt khóc nức nở.
Đúng là khôn ba năm dại một giờ. Dù sao tôi cũng có lỗi với anh. Có khác gì tôi đi ngoại tình. Nhưng anh cũng biết đấy, sống với anh tôi héo hắt biết chừng nào. Chỉ đến khi gặp anh ta, tôi mới biết cuộc đời tôi có thể tươi lên đôi chút. Tôi chẳng ham gì chuyện ân ái, nhưng buổi chiều hôm đó, dưới bóng nắng lưa thưa, tôi thấy mọi sự tự nhiên như nước sông là phải chảy, giọt mưa là phải rơi. Tôi lại càng có lỗi với con tôi. Chính mẹ mới phải xấu hổ vì con, chính mẹ mới bị con mắng té tát vào mặt. Nhưng mà con ơi, suốt bao nhiêu năm không thấy mặt con, lòng mẹ lạnh lẽo quá. Mẹ là đàn bà, mẹ cũng cần có tiếng khóc tiếng cười để sưởi ấm cho mình. Dù cho thế nào thì nó vẫn là em con, vẫn trong bụng mẹ mà chui ra, vẫn cùng bú sữa của mẹ. Vả lại, anh ta đã không còn trên đời này nữa thì nó chính là giọt máu linh thiêng mà tôi phải thờ phụng. Tôi phải nuôi nó thành người. Tôi sẽ không để cho ai cướp đoạt con tôi một lần nữa.

5

Nhờ được chăm chút, nâng niu, thằng bé rồi cũng qua khỏi cái “đốt” khó nuôi. Nó đã biết chạy biết chơi như những đứa trẻ khác. Trong căn nhà nhỏ lúc nào cũng rộn vang tiếng nói tiếng cười. Giữa hai người đàn bà bao nhiêu năm khô mục héo hắt, nó vươn lên như một mầm xanh tươi mới. Tết này nó được ba tuổi. Nó đã có thể nắm áo theo bà đi lễ chùa.
Hàng họ khá đắt, nàng định năm nay sẽ ăn một cái Tết to. Sẽ mua một nhành mai để giữa nhà, sẽ đốt pháo, sẽ mua cho con quần áo đẹp, giày trắng và mũ kết đỏ. Tuy chưa dám nói ra nhưng nàng dự tính sẽ thuê xích lô để hai mẹ con lên thăm tháp Đôi. Rồi lớn thêm một chút nữa, nàng sẽ đưa nó đi ăn ở tiệm cao lâu, sẽ đi thăm Gành Ráng, nơi mà từ đó như hương hoa của đất trời, nó đã được sinh ra. Nó càng lớn, nàng càng nhớ người cha tội nghiệp của nó, nhớ cái phút giây kỳ lạ như một ánh sao băng bay qua giữa trời.
Dù vẫn không ngớt bị pháo kích, dù cái vòng đai an ninh đã bị thu hẹp lại dần, nhưng dân thành phố vẫn rộn ràng chuẩn bị một cái Tết có lẽ là sẽ to hơn mọi năm. Dường như chiến tranh kéo dài lâu quá khiến người ta chai lỳ. Biết đến bao giờ có hoà bình mà chờ. Biết chết nay sống mai đâu mà đợi. Thôi thì sống được ngày nào hãy cứ sống. Vả lại, tết năm nào chẳng có hưu chiến. Hai bên cũng phải nghỉ xả hơi chứ. Thế là rượu cứ chảy tràn, bia cứ việc rót tới, áo quần là lượt cứ đem ra mà mặc, xe cứ chạy như bay…
Pháo đã nổ ran từ hăm ba tháng chạp để đưa ông táo về chầu trời cho nhanh. Pháo lại nổ suốt chiều ba mươi để đón rước ông bà tổ tiên. Rồi pháo lại rền vang hơn lúc nào hết trong đêm giao thừa. Cái phút giờ huyền bí linh thiêng ấy đã mở ra trong lòng mọi người cánh cửa của bình minh. Người ta chúc mừng nhau đã sống thêm được một tuổi, đã tai qua nạn khỏi, đã tránh được hòn tên mũi đạn… Tủi tủi, mừng mừng, những người lính xa nhà thay tiếng pháo bằng tiếng súng. Bắn cho đỡ nhớ người yêu, bắn cho tan nỗi buồn “Xuân này con không về thăm mẹ.”  Súng to, súng nhỏ đều ngửa nòng lên trời mà bắn.
Nào ai có ngờ, cộng sản cũng muốn ăn một cái tết to bằng… súng đạn! Súng của họ không chỉa lên trời mà chỉa vào những đồn bót “ngọn cờ ngơ ngác trống canh trễ tràng”! Từ sông Bến Hải đến mũi Cà Mau, đạn của lính miền Nam xé nát bầu trời, còn đạn của lính miền Bắc xé tan những lồng ngực. Những người lính đang nhớ mẹ, nhớ người yêu, ai ngã xuống thì cứ ngã, ai tỉnh giấc mơ thì cứ đều quay ngang đầu súng mà thi nhau vãi đạn về phía những người anh em lật kèo. Đạn đan nhau còn dày hơn lưới một. Mọi người đều nằm rạp xuống sàn nhà.
Bỗng một tiếng nổ to: kho xăng ông Tề đã bốc cháy.
Bà Cửu và nàng ngồi ôm thằng bé nép sát vào một góc nhà. Ánh sáng của ngọn lửa kho xăng soi rõ như ban ngày. Nó nhắm mắt, rúc sâu vào ngực mẹ.
Vậy là hết Tết, hết mặc quần áo đẹp, hết đi lên tháp Đôi. Chưa bao giờ nàng thấy buồn như lúc này.
 
Ba ngày sau phía bên kia rút. Bên nào cũng nói chiến thắng. Chỉ có cửa nhà đổ nát, người chết và bị thương là thất bại hoàn toàn. Mặc dù rất bàng hoàng, lo sợ, nhưng mọi người cũng phải lao vào cuộc sống. Chợ vẫn nhóm và tại đây người ta kháo nhau đủ thứ chuyện mà ai cũng bảo là chính mắt mình trông thấy. Cảnh bắn nhau, cảnh rượt đuổi trên đường phố. Và nhất là những xác VC được đem ra phơi nắng như những chiến công. Có người rủ nàng đi xem. Nàng rùng mình lắc đầu.
Buổi chiều, đang lay hoay dọn dẹp, có một người ngó trước nhìn sau, lén đưa nàng một tấm hình.
Đó là tấm hình đen trắng đã ố vàng. Nàng cũng có một tấm hình như thế, chụp hai mẹ con ở Đập Đá. Nàng muốn hỏi xem ở đâu mà có được. Người ấy nháy mắt ra dấu bảo dọn hàng. Nàng liền tộng tất cả vào thùng, khoá lại rồi đi theo.
Quanh co một hồi ở khu Sáu, hai người đến một căn nhà không số. Cửa hé mở cho nàng vào nhà, người ấy ở lại bên ngoài cảnh giác. Chủ nhà là một cơ sở đưa nàng ra sau. Trong gian buồng tối tăm chật chội, một người bị thương nhuộm đầy máu đang nằm thở thoi thóp. Đó là chủ nhân của tấm hình.
Đây là con tôi, đứa con bé bỏng tội nghiệp đã xa mẹ gần mười lăm năm.
Đây là con tôi, là con của tôi, cho dù nó có là Việt Cộng.
Con ơi, sao lại về với mẹ trong tấm thân rách nát như thế này?
Sao con không đi Liên Xô Trung Quốc như cha con bảo?
Còn cha con sao không bảo bọc che chở, sao để con Tết đến không được một chiếc áo mà mặc, trên người chỉ có mỗi một chiếc quần cụt!
Sao con về mà không đi thăm mẹ, sao không để mẹ mua quần áo mới cho con, sao không để mẹ dọn cơm ngon canh nóng cho con, sao không nằm ngủ bên cạnh mẹ một đêm, sao con không mừng tuổi bà nội?
Trời hỡi, tôi biết kêu ai, biết gọi ai! Ai cũng lặng câm, những người chỉ biết đứng sau lưng đàn bà và trẻ con mà hò hét, mà xúi dại như xịt chó vào bụi.
Nàng gục đầu lên ngực con muốn gào khóc thật to. Nàng nghe tiếng thì thào, “Mẹ ơi, mẹ đấy hả mẹ?”
Nàng vừa khóc tấm tức, vừa bế con lên. Người ta hỏi, “Làm gì vậy?” “Đi nhà thương,” nàng nói thảng thốt. “Không được đâu. Đem đi là lính bắt ngay!”
“Dù có bị bắt, dù có tù đày, tôi cũng phải cứu được con tôi.”
“Đã bảo là không được. Đưa bà tới đây là để cho đồng chí ấy được nhìn mẹ lần cuối, chứ cứu chữa được gì!”
“Vậy sao? Không ai cứu được con tôi sao. Thì bom đạn hãy rơi xuống đây cho mẹ con tôi cùng chết.” Nàng không giữ gìn gì nữa, gào to lên.
Người chủ nhà hốt hoảng bịt miệng nàng, “Lộ ra là chết cả đám!”
Trong tay mẹ, Bùi Văn Liên Xô bỗng rùng mình như một con gà vừa bị cắt tiết, rồi tắt thở.
Phải khó khăn lắm nàng mới đưa được xác con ra khỏi thành phố. Nhiều chốt kiểm soát được dựng lên để ngăn không cho VC thoát ra ngoài. Người ta nghĩ rằng VC nhiều mưu mẹo có thể chui vào hòm giả người chết để trốn đi. Vì vậy, ngang qua chốt nào cũng bị bắt mở nắp. Người ta lật khăn liệm, sờ nắn, xem đã chết thật chưa.
Xe đến Đập Đá, chủ xe không chịu đi tiếp xuống làng vì sợ mìn. Phải mướn tám người thay nhau khiêng mới đến được chân núi Mồ Cu, là nơi thằng bé từng hỏi mẹ sao con chim nhỏ mà mồ lại to thế. Người ta chôn vội chôn vàng để kịp về khi trời tối.
Thôi con hãy nằm lại đây, còn hơn là phơi xác trên rừng Trường Sơn hay làm mồi cho cá mập ở dưới biển. Chim cúc cu sẽ gù cho con nghe, bông dúi dẻ sẽ toả hương cho con ngửi. Ông ngoại sẽ chống gậy đến thăm con, sẽ cho con đường phèn để con nhai lộp cộp. Mai mốt hoà bình, mẹ sẽ xây cho con ngôi mộ to và đẹp. Mẹ sẽ đặt bia đề tên là Bùi Văn Mỹ chứ không phải Bùi Văn Liên Xô. Giờ con là con của mẹ, không ai rù quyến phỉnh gạt con được nữa. Con vẫn trong trắng ngây thơ như ngày nào. Con sẽ gọi mẹ ơi mẹ ơi khi mẹ đến thăm con.
Giữa cây cỏ hoang vu, nấm mồ trông bé xíu như những cái mả chuồn chuồn mà lúc nhỏ hai mẹ con thường chơi trò đám tang. Những sợi khói mong manh, khói của nhang và của trấu tan nhanh trong bóng hoàng hôn.
Năm ấy là năm Mậu Thân, hãy nhớ lấy!

Trần Văn Qui Nhơn

1

“Nó là đứa nào?” Người đàn ông hỏi.
“Là con tôi”, người đàn bà nói.
“À ra là vậy. Thảo nào thằng Bùi Văn Liên Xô chết!”
“Ông đừng nói với tôi cái giọng như vậy.”
“Thế thì giọng nào. Con bị thương mà rửng mở với thằng lính Ngụy, bảo sao nó không chết”.
“Ông câm cái họng lại. Nó chết là do ông và cái đảng đáng nguyền rủa của ông. Sao ông không đi giải phóng mà bắt nó đi?”
“Tôi cấm bà nói thế. Tôi cũng cấm bà và cái dòng giống Mỹ Ngụy kia không được ở trong nhà này nữa.”
“Ông không cần phải đuổi. Cái nhà này là của mẹ ông mua mặc dù đã làm giấy cho tôi. Khi thằng Bùi Văn Mỹ chết rồi thì tôi và ông chẳng còn là gì với nhau nữa”.
Đó là những lời đối đáp của những người đã xa nhau trên hai mươi năm, giờ gặp lại.
Đó cũng là buổi tối mà cái quạt máy trên trần nhà quay 360 độ, cứ nghiêng qua nghiêng lại như máy bay sắp thả bom, khiến hai mẹ con của một người đàn bà khác cứ nép vào nhau, sợ sợ làm sao ấy!
“Đồ của tụi Mỹ, cái gì cũng như muốn giết người”, người đàn bà thầm thì với chồng.
Hai người rù rì với nhau, ước tính giá trị của những vật dụng đang bày biện trong nhà: cái TV, cái radô, cái máy hát đĩa, cái tủ lạnh, bộ xa lông trắc cẩm lai… dù đã cũ, vẫn là một tài sản khổng lồ, cứ như trong nhà của bộ trưởng.
Người đàn bà, lặng lẽ xếp áo quần bỏ vào trong túi xách. Đến trước bàn thờ bà lấy khung ảnh của một người đàn bà tóc bạc trắng, bọc giấy báo, buộc dây thun, nói với người đàn ông:
“Đây là ảnh của mẹ ông. Cũng là mẹ tôi. Tôi xin giữ lấy để thờ. Ngoài ra không lấy thứ gì khác.”
Bà bước ra khỏi nhà, dắt con theo.
Đằng sau vọng lại những tiếng nói, tiếng cười của người đàn bà giọng Bắc, vui còn hơn khi nghe miền Nam được giải phóng.
 

2

Đạn bom trong những ngày tháng tư tăm tối thực ra không tàn phá bằng những bàn tay của con người. Bọn hôi của làm chủ thành phố khi quân miền Nam rút đi trong khi quân miền Bắc chưa kịp tới. Bọn chúng bắn vào các ổ khóa, mở toang các cửa sắt những căn phố mà chủ nhân đã di tản, khuân hết gạo thóc, bột mì, nước ngọt, bia rượu, vải vóc, tủ giường, chăn nệm… Chúng cũng mở toang các sạp hàng ở chợ, vơ vét hết hàng hóa rồi châm lửa đốt chơi.
Cái sạp quần áo cũ của bà cũng giống như xương thịt của người chồng thượng sĩ, không còn lại một chút gì.
Hai mẹ con lầm lũi đi về phía ngoại ô. Nơi đây không có được cái ang lúa như ngày nào. Cũng không có được cái giường ngập trong bóng tối của mẹ. Nhưng có hai cái tháp đứng cạnh nhau gọi là tháp Đôi. Họ chui vào đó, ở chung với dơi, chuột.
Thế cũng xong.
Bà trở lại nghề cũ: bán bánh canh. Nhưng là bánh canh giả cua, vì người bán không mua nổi cua và người mua cũng không đủ tiền mua. Dù vậy, cái gánh hàng rong chỉ bán trong buổi sáng sớm cũng đủ tạm nuôi sống hai mẹ con.
Chiến tranh đã qua đi nhưng những người chiến thắng vẫn chưa thôi đánh những người chiến bại. Hết đánh tư sản mại bản đến đánh những tàn dư của Mỹ Ngụy. Lại khám nhà, lại kìn kìn từng đoàn xe chở hàng bị tịch biên. Lại đốt sách, phá những miếu âm hồn trên khắp nẻo đường quốc lộ.
Đánh xong đến xây.
Xây dựng đời sống mới. Từng đoàn thanh niên xung phong (thực ra là bắt buộc) đi đào kênh, đắp đập không công. Từng đoàn tù không mặc áo tù đi vào chốn rừng thiêng nước độc, gọi là học tập cải tạo. Và cũng từng ấy đoàn trẻ già trai gái lếch thếch bồng bế nhau lên núi, gọi là xây dựng kinh tế mới.
Trôi đi, trôi giùm cho mau những tháng năm dài không biết sống để làm gì!
Và mười năm trôi mau để cho con bà trở thành một thanh niên.
Giờ là lúc những người chiến thắng cao giọng. Mỹ còn đánh được thì Campuchia và Thái Lan là cái thá gì. Đặng Tiểu Bình bênh đàn em Pôn Pốt thì chơi luôn.
Chiến tranh lại nổ ra.
Con bà tuy không đi thi vẫn trúng tuyển nghĩa vụ quân sự.
Buổi tiễn đưa rộn ràng cờ xí, khẩu hiệu. Một màu đỏ nặng nề đang cố sức thổi bùng ngọn lửa cách mạng mùa thu đã tắt ngúm từ lâu. Hàng chục cái loa phóng thanh đang mở hết công suất để át đi những tiếng gào tiếng khóc. Của mẹ, của cha, của anh, của chị.
 

3

Thư viết vội của Trần văn Qui Nhơn:
Mẹ ơi, con đang ở trên đất giặc. Trời rất nóng. Chúng con thiếu nước uống. Thiếu cả lương thực. Thiếu cả đạn. Bọn giặc cởi truồng bôi lọ nghẹ, đợi đến đêm bò vào trại, gặp ai có áo quần là cắt cổ. Con sợ lắm. Lén viết mấy dòng gửi mẹ.
Thư được giấu trong một cái tượng con cóc nặn bằng đất sét.
Người đàn bà ngửa cổ nhìn lên đỉnh tháp. Ở đó có một khoảng trống hình vuông. Một chút da trời xanh thẳm.
Trời hỡi, làm sao cứu được con tôi, hỡi Trời!
Tiếng thét của bà vọt thẳng lên như một ngọn lao. Một bầy dơi bay qua, rải phân xuống đỏ như máu.
 

4

Lời kể của một người sau hai năm làm nghĩa vụ, cụt một tay, trở về:
“Bạn ấy chết thật rồi, thưa bác. Bọn cháu bị bao vây, nhưng chúng rất khôn, không tràn vào trại mà cố tình để ngỏ một đường rút. Chúng cháu trốn ra, bị chúng giết gần hết.”
“Thế cậu có giữ được chút gì của em nó không?”
“Chỉ có một tấm hình hai đứa chụp chung, cháu xin tặng bác.”
Người đàn bà nâng tấm hình trên hai tay. Hình đã cũ, nước thuốc ố mờ. Một tấm hình rất giống với hình của thằng anh đã chết. Hai đứa cùng một kiểu chống nạnh, rất chi là nhà quê. Nhưng đẹp xiết bao, quý xiết bao!
“Tôi xin cắn cỏ cắn rơm cảm ơn cậu.”
Năm ấy là năm 1990, hãy nhớ lấy!
 

5

Lại mười năm sau.
Tháp Đôi đã trở thành di tích lịch sử. Và là điểm tham quan du lịch của thành phố. Những người tá túc vật vạ như bà, tuy thần không đuổi nhưng người đuổi, phải tìm chỗ khác. Trên lưng chừng một ngọn núi đối diện, bên cạnh những người thợ làm nghề đá chẻ, bà dựng một căn lều bằng những thứ nhặt nhạnh được trong các kho đồng nát.
Có hai con đều chết trong hai cuộc chiến tranh, nhưng bà không được cấp nhà “tình nghĩa”. Dĩ nhiên cũng không được phong tặng “bà mẹ Việt Nam anh hùng”.
Bà lại sống trong tăm tối và cô đơn như hơn sáu mươi năm trước đây trong căn buồng của mẹ. Chỉ còn một chút an ủi, là từ đây, sáng trưa chiều tối, ngay cả những đêm không trăng, lúc nào bà cũng nhìn thấy hai ngọn tháp đứng cạnh nhau như hai anh em.
Bà nghĩ, chúng là con của bà. Chúng đỏ rực một màu khi nắng lên và vàng óng khi chiều xuống. Chúng đẹp xiết bao, rực rỡ xiết bao, cho dù một ngàn năm nữa sẽ trôi qua.

Khuất Đẩu
Viết lần 1, 2008
Viết lần 2, 2013

Lắng nghe con tim mình thức tỉnh

tuankhanh

Thư cho người bạn trẻ,
Có thể bạn sẽ thất vọng sau khi đọc những gì tôi sẽ viết dưới đây, nhưng nếu trong phút giây nào đó, tôi may mắn được bạn nhận ra những điều tôi gửi gắm vào, hy vọng, bạn và tôi sẽ còn có thể chia sẻ với nhau trên suốt con đường dài dầy những biến cố của đất nước mình.
Trước việc các ngôi sao giải trí của Trung Quốc rầm rộ giương cao biểu ngữ đường chín đoạn trên biển Đông để bác bỏ phán quyết của tòa trọng tài La Haye, Hà Lan về vụ kiện của Philippines với Trung Quốc, bạn đã hỏi rằng người Việt cần phải làm một cái gì đó mạnh hơn nữa để đáp trả. Vài ngày trước, nhiều ngôi sao giải trí Việt Nam cũng đã làm hành động đáp trả bằng cách giơ cao biểu ngữ Việt Nam có chủ quyền với Hoàng Sa và Trường Sa. Thậm chí, rất nhiều người không cần là nghệ sĩ cũng có những hoạt động như vậy.
Làm gì? Chúng ta sẽ làm thêm những gì, để gọi là yêu nước?
Kết quả của tòa trọng tài quốc tế, phủ quyết sự điên cuồng của Bắc Kinh đòi sở hữu 80% biển Đông, là một cơ hội thú vị cho người Việt được giương cao suy nghĩ của mình, được biểu lộ công khai lòng yêu nước. Tôi chỉ muốn nhắc cho bạn nhớ, rằng nhiều năm trước đây, rất nhiều người giương biểu ngữ Hoàng Sa – Trường Sa – Việt Nam đã luôn bị đánh đập, đã bị gọi là “phản động”. Có những con người vô danh đã mỗi ngày lặng lẽ viết lên tường, bỏ lại một mảnh giấy trên đường như mật mã để nhận ra nhau, với những dòng chữ yêu nước như vậy. Nhạc sĩ Việt Khang chỉ với câu hỏi “Việt Nam còn hay đã mất, mà giặc Tàu, ngang tàng trên quê hương ta” đã nhận 4 năm tù giam. Nhạc sĩ Trần Vũ Anh Bình cũng nhận 6 năm tù với “Hoàng Sa nay đâu – sao biển máu dâng trào, Trường Sa nay đâu – nhuộm thắm giọt máu đào”. Tất cả những lời yêu nước xé lòng ấy, có quá xa lạ và bất thường với hiện thực hôm nay không?
Tôi nhớ vô cùng những ngày tháng mà tôi và các người bạn chuyền tay nhau những chiếc áo có in gạch chéo trên đường chín đoạn của Trung Quốc, phản đối âm mưu xâm lược của Bắc Kinh. Những chiếc áo phải đưa thầm cho nhau dưới gầm bàn. Có những người rơi vào khó khăn vì giữ những khẩu hiệu như vậy. Có những người đang mặc áo, cũng bị xé rách. Bạn hãy tự đặt câu hỏi cho mình, những người ấy hôm nay ở đâu, trong phong trào yêu nước hợp pháp lúc này?
Hãy cùng tôi nhận ra rằng, lòng yêu nước có cơ hội của riêng mình để bùng phát, nhưng sự tồn tại của lòng yêu nước không phải là hoạt động vô giác chỉ khởi động theo điều kiện. Có thể lòng yêu nước được biểu hiện rầm rộ, nhưng cũng có lúc lòng yêu nước rất cô đơn. Lòng yêu nước, đơn giản bắt đầu từ sự nhìn ngó chung quanh mình mỗi ngày. Nếu bạn biết cau mày trước những điều vô pháp, biết tức giận trước các vấn nạn của xã hội chung quanh mình và không ngại bày tỏ về lẽ phải và sự thật, thì lòng yêu nước đã rọi những tia sáng đầu tiên lấp lánh trong trái tim bạn. Clarence Darrow (1857-1938), luật sư và nhà cải cách lỗi lạc của Hoa Kỳ có nói rằng “Tinh thần yêu nước thật sự được bắt đầu từ việc căm ghét sự bất công ngay trên mảnh đất quê hương của mình, hơn bất cứ nơi nào khác”.
Vậy, hãy bắt đầu sống như một người yêu nước ngay khi bạn nhận thức được về hơi thở của mình, con đường đi dưới chân mình. Khi bạn vượt lên cao, nhìn thấy được những điều chung quanh mình và khao khát lên tiếng, đó là sự thức tỉnh lớn lao mà chỉ có duy lòng yêu nước cao quý mới có thể thúc đẩy bạn – vào bất kỳ thời điểm nào, và đôi khi, tự thân chứ không màng đến một người đồng hành.
Bạn hỏi tôi vì sao không cùng đưa hình phản đối đường chín đoạn của Bắc Kinh như nhiều người khác. Hãy hứa với tôi nhé, nếu hôm nay chúng ta không giương biểu ngữ để mừng cùng Philippines về kết quả tòa án La Haye, Hà Lan, thì chúng ta nhớ phải luôn luôn nuôi trong tim mình một ngọn lửa yêu nước không đợi bất kỳ một điều kiện nào, và cũng cần không cần sự cho phép của bất cứ ai. Đừng nghĩ Việt Nam chỉ có kẻ thù là Bắc Kinh với nụ cười nham hiểm trên môi họ, mà kẻ thù của chúng ta, đôi khi nằm ngay trên đất nước mình với những thỏa hiệp, hám danh lợi, phản bội và sẳn sàng bán rẻ tổ quốc với những lời ngụy biện ngu xuẩn.
Tôi biết bạn rất vui vì hiện có nhiều ngôi sao Việt đang cùng bộc lộ lòng yêu nước qua biểu ngữ. Tôi cũng như bạn, đã vui như trẻ dại khi đọc được những dòng tâm huyết của nghệ sĩ Thành Lộc, nghệ sĩ Nguyễn Công Vượng… Họ đúng là những người ấp ủ trong tim lòng yêu nước và chỉ luôn muốn cất cao giọng nói. Nhưng trong việc hưởng ứng luôn dễ bị đẩy thành phong trào, cũng có những kẻ muốn đóng vai yêu nước để được bằng vai phải lứa với các ngôi sao Trung Quốc, họ chọn đối chọi chỉ vì muốn mình cũng được nhìn nhận và cảm thấy khoái trá vì được nâng tầm như là một ngôi sao.
Bạn và tôi, chúng ta cần sống như những người yêu nước thức tỉnh trước thời cuộc. Và xin hãy nhận rõ đâu là kẻ thù và đâu là những kẻ dựa dẫm kẻ thù, hãm hại quê hương mình. Kẻ thù có thể mặc quân phục nhưng cũng có thể mặc những bộ veste sang trọng đắt tiền. Thậm chí, kẻ thù cũng có thể là những kẻ cùng tiếng nói, màu da và luôn lên giọng ái quốc. Ngọn lửa thức tỉnh về lòng yêu nước trong tim bạn chính là điều cao quý nhất – sẽ giúp bạn nhận ra mọi thứ – mà không cần phải khoác lên mình bất kỳ chiếc áo lộng lẫy nào của danh hiệu nhà ái quốc được phong tặng. Nhà ái quốc được tung hô, đôi khi chính là người có thể hò la to nhất mà không biết mình đang hò la vì cái gì – nhà văn Mark Twain (1835-1910) đã từng viết như vậy.
Và vì sao chúng ta phải yêu nước trong thức tỉnh? Nếu không thức tỉnh trước những lời ngụy trá, những hứa hẹn mật ngọt… chúng ta sẽ trở thành những kẻ ái quốc u mê: những kẻ ái quốc vui vì được đập cánh, rộ lên theo mùa của lễ hội.
Có rất nhiều bài học về lòng yêu nước trên thế giới này. Tôi không thể kể hết cho bạn. Nhưng yêu nước, bản chất của nó là khi bạn nhận ra mình mang danh dự, trách nhiệm với tổ quốc mình chứ không vì một ai, hay vì một đảng phái nào. Tôi thích ông già nhà văn Mark Twain lắm, vì ông rất tàn nhẫn trong ngôn ngữ, nhưng ít có gì có thể diễn đạt hay như ông. Chẳng hạn với câu nói nổi tiếng của ông “Hãy luôn trung thành với Tổ quốc. Và chỉ trung thành với chính quyền, một khi nó xứng đáng với điều đó”.
Bạn hỏi tôi phải nên hành động như thế nào. Tôi khó có thể trả lời toàn ý cho bạn về điều này. Tôi cũng không muốn khuyên bạn xuống đường biểu tình, vì bạn có thể là một người bồng bột. Nhưng nếu bạn bắt gặp một ai đó trên đường phố đang giương khẩu hiệu chống Bắc Kinh xâm lược, hay phản đối sự tồn tại phi nhân và phi lý của Formosa chẳng hạn, hãy chào và dành cho người yêu nước ấy một nụ cười. Đó là một nụ cười thật sự ấm áp để bạn, tôi, và người ấy cùng hiểu với nhau trong niềm hy vọng, rằng, dân tộc chúng ta, quê hương chúng ta đang thức tỉnh.


Tuấn Khanh’s Blog

Dạo khúc 40

nguyenquangtan

Tôi sẽ không nói với ai về nỗi buồn này
Cho dù đêm nay trầm hương đã cháy
Và linh hồn ướt đẫm rượu say…

Tôi sẽ không nói với ai
Về những gì tôi đã nhìn thấy
Sau chuyến viễn du dài
Tới miền xa khơi
Mắt xưa vời vợi
Không lời…

Tôi không để cho ai nhặt được
Bông hoa úa tàn
Kẻ nào để lại Trong lòng dĩ vãng
Dĩ vãng nào cũng đẹp như vàng…

Tôi sẽ không kể cho ai nghe
chuyện tình dị kỳ Công chúa Bạch Vân và tài hoa thi sĩ
Dù biết rằng bầy ma và lũ quỉ
Chẳng bao giờ lấy được mối tình đi

Tôi không cho ai nghe tiếng khóc lạc loài
Của con nai rất nhỏ – rất thơ ngây
Đêm qua lạc mẹ
Xa bầy…
Rừng thiên thai lửa cháy ngập trời…

Đêm nay trầm hương tan nát khói
Chén rượu này tôi uống chỉ mình tôi.

Nguyễn Quang Tấn

chiều nhân thế

nguyenminhphuc

Nghe hư ảo chìm sâu vào đáy cốc
Và đợi tình rụng xuống đáy cô liêu
Nỗi tiếc nhớ đã buồn tràn con dốc
Ngồi nghe phai từng giọt nắng lưng chiều

Ồ không phải mây ngàn kia bỏ núi
Mà sương khuya rơi tạt bóng hiên đời
Nhan sắc ấy có tàn phai buổi nọ
Cũng một lần cùng son phấn rong chơi

Qua con dốc mệt nhoài tình năm cũ
Buổi trăng về trời đất chạm chiêm bao
Tiếng chim vỡ bên trời không chỗ trú
Thì cô liêu cũng đã nát câu chào

Khi lòng rụng cõi tàn phai dâu bể
Bóng dương trần đã lạc mấy cơn mê
Tôi ngồi với cô đơn chiều nhân thế
Nghe hoang vu mời gọi khói sương về…

Nguyễn Minh Phúc

Tóc mai sợi vắn…

phamnguyen

1.

Lòng ta như một trang kinh
Ẩn trong lời Phật chữ tình rưng rưng
Lòng ta lá nhỏ trên rừng
Lao chao rớt xuống mấy từng chiêm bao
(thơ Hoàng Du Thụy)

Bài thơ đó do một người bạn văn từ Canada, gửi tặng.

Chị nói với tôi chị đang tìm nguồn vui trong thiền và lòng không còn vướng bận những nhánh đời nhân quả. Mỗi đêm về nhà, lái xe qua những hàng sơn táo, qua những vạt cỏ màu vàng như ủ bằng mật ong người đàn bà đó nghe mùa xuân trở mình và tiếng gió rít ngoài kiếng xe, lòng lãng quên hết mọi tranh chấp, muộn phiền…

Những buồn vui ngày trước từng làm tròn trịa một tình yêu cũng không còn? Như một cơn mưa bóng mây bay rớt trên góc tường hạnh ngộ, làm thiếu thốn phía bên này và khao khát phía bên kia.

Biết bao bóng thuyền muộn màng không về được bến vì giông bão giữa dòng, nhưng đàng sau những cơn bão lòng là trái tim lành lặn.

Trên điện thư trả lời, tôi cầu mong chị tìm thấy sự an tịnh thật tình và hy vọng thành phố Montreal có thêm một người đàn bà biết ủ đóa vô ưu trong lòng để giẫm lên những mù lòa dâu bể. Mọi giấc mơ đều cũ xa, đều bỡ ngỡ.

Nhưng thâm tâm tôi không tin nhiều về điều chị nói. Những câu thơ vẫn còn đó sự trăn trở rất đời. Vẫn còn bao la một nhánh sông muộn phiền lấp lánh. Hơi thở tình yêu hình như vẫn còn tươm mật trên môi run ngày nào…

Người đàn bà từ bỏ một đoạn đường và không muốn nhìn lại sau lưng, không có nghĩa là quá khứ đã đoạn lìa. Dù vẫn còn đó vạt mưa làm trắng màu thiền trên vai áo, trong khi tiếng đời vừa xao động lá sen khô.

Bài thơ bất chợt chị gởi tôi từ một đêm như vậy, trong khi tiếng gió quét mùa hạ đi qua ngôi nhà đường Heatherglen. Tôi nhớ vô cùng ngôi nhà cũ của gia đình tôi nằm dưới chân Núi Lớn Vũng Tàu. Biển thổi giạt nỗi nhớ mênh mang về hai đầu ngọn núi. Nhiều đêm tôi chong đèn ngồi học thi lúc bên ngoài trời mưa. Và những câu thơ của một mùa không ngủ được viết xuống bằng mực tím học trò. Những ngọn cỏ khát gọi mưa đêm nên nảy mầm thành lục bát.

Bao nhiêu năm rồi, tiếng mưa có khả năng làm thành cung phách bản đàn xưa và cơn mơ vội vàng như một âm thừa sót lại.

Khi người ta già, người ta sẽ nhìn lui lại bước chân mình. Những người đàn bà giống như sương mỏng, như sông xanh. Họ thà ủ hơi thở sửng sốt của mình trên vai người khác hơn là đậu xuống những trang giấy tình hồn nhiên. Những cuống lá mùa thu không biết nói lời hò hẹn, nên đêm Vũng Tàu có một người úp mặt vào đôi tay, thao thức.

Thành phố ven biển của tôi cũng giống như mọi thành phố miền Nam. Có hai mùa mưa nắng rõ rệt. Những cửa biển xưa mờ cạn nước. Những gã con trai cùng rong chơi với nhau suốt một mùa hè, trên bãi cát khô cạn mực thủy triều. Nên chúng tôi đều hiểu tánh tình của nhau tường tận. Hiểu luôn những thói quen của nhau. Như những con còng gió hiểu rõ hang động của mình.

Mười sáu, mười bảy tuổi chúng tôi không dám có người yêu. Mãi đến khi gần đi lính mới nói lên lời tỏ tình thì cổng trường đã ở sau lưng. Cái thời nông nổi nhưng nóng cháy môi hôn kia đã khép lại.

Những đứa con trai tình si và các cô gái e ấp đã đi riêng một đoạn đường, dưới những cây bàng già phai màu đỏ lá. Những nhịp thời gian như những nhịp cầu nối đôi bờ cách trở. Còn sự cách ngăn của hai người yêu nhau thì đến bao giờ?

Một vài đứa bạn dạn dĩ hơn dám nắm tay người yêu đi ngoài phố. Mặc cho những lời đàm tiếu có dịp lan xa như sóng trùng dương. Vũng Tàu quá nhỏ để che kín một dấu vết, hay một tiếng lòng hổn hển bên vai.

Mỗi ngày đi học tôi đi ngang qua con đường Lê Lợi có hàng me chụm đầu vào nhau. Tôi biết Hoàng Hoa từ thời đó. Lá me rắc trên vai áo ai làm rộn rã lòng tôi. Nhưng tôi biết nàng dửng dưng như nắng sớm.

Người con gái mang cái tên của Hoàng tộc và chứa đựng một màu hoa đã từng không biết có một đứa con trai ngưỡng mộ nhan sắc đi sau nàng.

Khi tôi bước xuống cuộc đời, tôi vẫn chưa biết rõ về nàng, ngoại trừ cái tên nghe gần gũi với một người bạn học của tôi là Hoàng Lực.

Hoàng Hoa là một cô gái có đôi mắt đẹp nhất mà tôi từng thấy trong trường Trung Học Vũng Tàu những năm sáu mươi. Một đôi mắt làm nguồn cảm hứng cho lời thơ Ðinh Hùng/ mắt em là bóng dừa hoang dại, âu yếm nhìn tôi không nói năng/(mộng dưới hoa) Nó cũng là nguồn cảm hứng cho những bài thơ của tôi sau này, khi khôn lớn.

Nhà nàng nằm một góc ngã tư đường Lê Lợi và đường Duy Tân. Một phía nhìn ra hàng me và phía kia nhìn ra biển. Có thời gian ngôi nhà khang trang đó dùng làm nhà bảo sanh Hữu Phước. Từ một góc phố chạy dài từ cơ sở sản xuất Mắm Ruốc của bà Giáo Thảo, đến nhà nàng, có một vài ngôi nhà khang trang nằm lùi sâu vô trong, được những khu vườn màu sắc che chắn bên ngoài, như bối cảnh trong tranh của Renoir, nên khi nàng quẹo khuất vào đó tôi có cảm tưởng nàng đã đi vào một thế giới khác, mông lung và mơ hồ. Một thế giới của nàng tiên trong các truyện cổ tích.

Tan trường về, tôi tìm cách đi sau nàng. Thời đó, học sinh học hai buổi một ngày. Buổi trưa về nhà ăn cơm, có thể ngủ một giấc để buổi chiều đi học tiếp. Tôi dùng khoảng thì giờ ít oi đó để làm thơ tình gởi đăng báo hoạc đọc truyện chưởng Kim Dung. Tôi thích nhân vật Ðoàn Dự trong Lục Mạch Thần Kiếm và thấy mình si tình Hoàng Hoa giống như Ðoàn Dự si tình Vương Ngọc Yến.

Ít khi Hoàng Hoa đội nón. Nhờ đó từ phía sau tôi nhìn thấy mái tóc trên vai nàng chuyển động như đôi cánh một loài chim đêm. Có những ngày tháng người ta sẽ quên luôn vì thời gian chồng chất trên vai, nhưng có những ngày tháng ngừng lại vĩnh viễn. Thời gian học đệ tam là thời gian đẹp nhất của tôi trước khi tôi vào lính. Tôi muốn được yêu thầm và được đi sau lưng nàng suốt đời, mặc cho những biến động của đời sống và bom đạn chiến tranh mỗi ngày vang vọng ngoài kia. Dưới bước chân êm đềm và quanh quẩn bên tà áo dài khép nép của Hoàng Hoa, tình yêu đã che lấp mọi dấu vết tan hoang. Che lấp mọi hướng đi về tương lai. Dù tương lai của những gã học trò sinh trong thời binh lửa vàng úa ngỡ ngàng

Mối tình một chiều như vậy tưởng chừng sẽ kéo dài để cho những trang nhựt ký có cơ hội tăng trang từng ngày. Cùng những bài thơ viết từ tấm lòng thơ dại sẽ có dịp hóa thân thành cánh bướm trang điểm cho đời. Nhưng tôi lầm. Một hôm nàng bỏ trường bỏ lớp không một lời từ giã. Chúng tôi- những thằng con trai khờ khạo trước tình yêu nhưng lại dạn dĩ với bất trắc bỗng thấy vắng đi một bóng mát êm đềm. Biển trở nên cuồng nộ chói chang từ ngày đó. Những trái bàng già rụng xuống tháng giêng dọc đường ra Bãi Trước, giống như những mơ ước chưa kịp đơm bông.

(Nhiều năm sau nầy, khi gặp lại Hoàng Hoa, lúc miền Nam sụp đổ, tôi thấy nàng vẫn còn đẹp dù có già hơn chút đỉnh. Chồng của nàng là đại úy Trần Bình Lâm, hình như không phải là dân Vũng Tàu? Vừa rời khỏi một nhà tù nào đó trở về).

Biết bao nhiêu bể dâu làm khô kiệt mọi nhựa sống trên những nhánh cây đời? Những thanh niên thiếu nữ ngày xưa bây giờ đã trở thành cha thành mẹ. Có người trở thành ông nội bà ngoại nếu lập gia đình sớm hơn. Có ai một lần đi lại con đường cũ ngày xưa để cảm giác được ngậm ngùi? Có ai còn buổi chiều ngồi trên bờ đê nhìn ra mặt nước xanh để ước mơ cuộc sống bên kia bờ đại dương như tôi đã từng mơ ước? Và nơi góc sân vận động ngày nào có còn những đôi chân vẽ vời của bạn tôi, của Võ Như Lăng, của Huỳnh Văn Chừng, của Huỳnh Quốc Hải, Trần Minh Trí, Phan Phi Hùng, Huỳnh Kim Sơn? Của Trung đen, Trung trắng?… Còn những ai đã nướng cháy tương lai mình như những khoang thuyền đang cháy nắng mặt trời?. Suốt mùa ra khơi không tìm ra một mẻ lưới vinh quang trĩu đầy tôm cá?

2.

Trên bãi biển đời người có nhiều dấu vết để lại. Có những dấu vết hằn sâu còn đọng lại một vài phiến lá kỷ niệm. Có những dấu vết hời hợt bị xóa lấp khi sóng biển tràn dâng. Tình yêu cũng vậy. Khi tôi rớt Tú Tài năm Ðệ Nhị, tôi xin vào lính. Mái tóc bồng bềnh của tôi được người ta cắt ngắn còn ba phân và mỗi ngày tôi bơi trong bộ quân trang rộng thùng thình mới lãnh từ kho Quân Nhu. Tôi làm một người lính mang tấm lòng yêu nước pha trộn với sự chua xót để đến mỗi khi chiều xuống, ngồi một mình trên chiếc giường gỗ ở khu tạm cư, lòng tôi cứ chùng xuống vì nhớ nhà.

Dưới những góc cây bã đậu buổi sáng đầu ngày, tôi khom lưng chà láng từng đụn cát, theo lệnh thượng cấp, như đang chà láng mọi ước mơ của mình. Người ta nói: “thao trường đổ mồ hôi – chiến trường bớt đổ máu”. Nhưng với tôi, mồ hôi chảy ra mỗi ngày không đủ sức vá lành rách rưới của trái tim. Mà chỉ có khả năng làm tràn thêm những giọt lệ.
Khóa học quân sự đầu tiên khi vào lính của tôi là Khóa 39 Hạ Sĩ Quan Trừ Bị- (Rớt Tú Tài anh đi Trung sĩ)- Khóa học thuộc quân trường Quang Trung, nằm trong khu vực Hóc Môn, Gò Vấp.

Từ Trung Tâm 3 Tuyển Mộ Nhập Ngũ chúng tôi chuyển về Quang Trung, trại Nguyễn Huệ. Buổi chiều đứng trong trại nhìn ra ngoài con lộ chính chạy về Sài Gòn, những chuyến xe đò, xe lam xuôi ngược kéo theo đàng sau nó những bụi bặm hối hả như hoa phấn cuộc đời. Lòng người tân binh cũng vàng vọt theo vạt nắng. Cách nhau một con đường, bên ngoài là tự do phiêu bồng và muôn ngàn niềm vui đô thị. Bên trong là đời sống gò bó theo khuôn khổ và tập quen với nắng lửa mưa dầu. Người lính lúc nào cũng căng lòng ra chịu đựng mọi thử thách và cố đè nén chuyện riêng tư. Và trong một lúc nào đó, nếu họ để tình cảm vượt lên trên lý trí (không tìm thấy chính nghĩa trong cuộc chiến tranh Quốc- Cộng mất còn) sẽ dễ bị nản lòng. Tôi trưởng thành nhờ những ngày tháng quân trường không ồn ào nhưng sôi động mỗi bài học sống. Tâm hồn tôi không chờ đợi để ướt át cơn mưa đầu mùa. Vì tự trái tim đã thẩm thấu nhớ nhung và chín muồi gian khổ. Những lá thư tôi nhận từ bên ngoài, từ những địa chỉ hoa, như một niềm phục sinh đủ để làm hành trang chờ ngày ra trường. Trên chiếc giường ngủ cá nhân hoặc trên ba lô khi dừng chân ngoài bãi tập, những lời thơ tôi khôn lớn chững chạc hơn những lời thơ ngày trước, những ngày biết Hoàng Hoa. Từ khóa học này tôi gặp Dzũng Chinh- Nguyễn Bá Chính.

3.

Anh là tác giả bản nhạc bất hủ “Những Ðồi Hoa Sim”. Dzũng Chinh là bút hiệu khi đặt nhạc. Nguyễn Bá Chính là tên thật của chàng tân binh khóa 39 HSQ Trừ Bị của Quang Trung vào thời điểm Tháng 9 năm 1965. Vài năm, sau khi ra trường, có lẽ mặc cảm với cấp bực trung sĩ, anh xin học khóa Sĩ quan đặc biệt, và khi tôi đổi về làm việc tại Trung Tâm Truyền Tin Ðà Lạt, nghe tin Dzũng Chinh vừa chết tại Qui Nhơn. Lời ca: … “mấy lúc xông pha ngoài trận tuyến không hẹn được ngày về, và đường về… thênh thang… màu hoa tím loang dài trong bóng tối…” đã giống như định mệnh của người nhạc sĩ tài hoa không may mắn với đời. Trên những đồi cát chập chùng nắng gió Qui Nhơn, màu hoa sim của Hữu Loan miền Bắc đã thấm vào tấm lòng đôn hậu của người nhạc sĩ Dzũng Chinh miền Nam. Để làm nên bài hát từng một thời mê hoặc người yêu nhạc Sàigòn.

Khi người ta yêu, cũng giống như khi người ta chết, có một thời họ ủ đau thương trên những dòng mực làm bằng máu lệ của mình.

Một lần, nơi Trung Tâm 3 Tuyển Mộ Nhập Ngũ, chúng tôi- những tân binh vừa mới rời mái ấm gia đình để tham dự vào một trò chơi mang ít nhiều nguy hiểm là chiến tranh- ngồi vây quanh nghe Dzũng Chinh đàn cho một người khác hát. Tôi không còn nhớ tên người hát, nhưng tiếng hát của anh ta thật ấm lòng. Anh hát liên tiếp hai bài. Bài đầu tiên là Những Ðồi Hoa Sim và bài sau là Phố Vắng Em Rồi (của Mạnh Phát). Giữa bóng tối nhá nhem buổi chiều vừa xuống, dưới tàn nhánh già nua của cây bả đậu, mùa thu đang thở hơi sương trên các rào kẽm, giọng ca của người ca sĩ bềnh bồng, cuốn hút.

Không biết người ca sĩ đó có phải là đệ tử của nàng Phù Dung hay không, nhưng lời ca quả tình mang hơi hám của khói và nhựa. Nó có khả năng lôi kéo người nghe bay lên ngang tầm với khổ đau và lạc thú cùng lúc… Nó cũng làm cho trái tim dù bầm giập cũng biết rung động và biết cười khóc với đời.

Mãi khi ra hải ngoại, tôi nghe giọng hát Tuấn Vũ, tôi biết quả có điều đó. Tất cả đều im bặt và nín thở nghe anh hát. Những lời ca tưởng chừng bật ra khỏi một thanh quản rướm máu hay cuộc đời vừa rướm máu? Tôi không thể lý giải được. Chỉ biết rằng từ đôi môi khô ráp vì khói thuốc và đôi mắt nhìn xuống hai kẻ ngón tay vàng ám, nơi điếu thuốc đang cháy dở dang, tình yêu đã nở hoa như cánh bướm màu hạnh phúc…

4.

Cuộc đời đang vàng phai theo những gió mùa, hôm nay ngồi ôn lại những bước tình đầu ái ngại của mấy chục năm về trước. Tình yêu và mộng ước cũng tan theo dòng đời. Lòng tôi không còn tươi mới để rượt đuổi theo bóng sắc mượt mà. Nhưng lửa tro than vẫn còn âm ỉ.

Ba mươi mấy năm sau, bất chợt gặp lại những người con gái cũ của trường xưa. Họ vẫn phơi phóng một tấm lòng của biển. Ðường phố Bolsa có đông vui nhưng lòng ai đã quạnh hiu một góc chợ chiều. Thời gian không dừng lại. Bên ly cà phê báo hiệu một đêm mất ngủ, vài mẫu chuyện gợi lại một khung trời hương mật và màu xanh của sóng đang lao xao trong mắt.

Một lần ngồi ở Starbuck’s (góc đường Brookhurst- Edinger) nhìn ra giao lộ đèn đỏ trùng điệp những đời xe mới toanh, nghe từ cuối một hành lang vọng lên bài hát. Quán cà phê Mỹ nhưng có nhiều người Việt Nam ngồi. Tiếng nhạc từ chiếc bàn kế cận không quen thuộc, nhưng dấy động một nỗi buồn:

Ngày xưa anh đón em
Nơi gác chuông chùa nọ
Anh bây giờ qua đó
Còn thấy chữ trong chuông
Em khoác áo nâu sồng
Anh một đời biền biệt
Tên em giờ tha thiết
Theo tiếng chuông chiều đưa…
(Phạm Thiên Thư/ Dấu Chân Chim
)

Người con gái có tên Hoàng Hoa một thời tôi theo đuổi tại Vũng Tàu bây giờ đã đi tu. Tôi không biết duyên cớ nào làm nàng từ bỏ cuộc đời dung tục này để nương thân vào cửa Phật? Câu chuyện nghe có vẻ đượm mùi cải lương mang dấu ấn của Lan và Ðiệp. Nhưng tôi biết nàng vẫn từng hạnh phúc sau khi không còn đến trường. Tôi biết người chồng đẹp trai của nàng là Ðại uý Trần Bình Lâm. Sau 30 tháng 4 năm 75, nàng bươn chải bán thuốc tây ngoài chợ trời để nuôi chồng ở tù và nuôi mấy đứa con còn nhỏ. Ðôi lần tôi gặp Hoàng Hoa dắt xe đạp từ chỗ gởi xe, gần chợ chiều Vũng Tàu. Bên kia đường là biệt thự cũ bây giờ dùng làm trụ sở Phường Châu Thành. Nàng không có vẻ gì nhìn thấy tôi. Hay nhìn thấy tôi mà làm như không biết. Chiếc áo bà ba thay cho chiếc áo dài ngày thơ dại. Và đôi mắt đẹp buồn não nùng.

Mỗi cuộc đời đều giống như một dòng sông. Có khi sông vặn mình chảy xiết qua những ghềnh thác cheo leo. Có khi sông âm thầm nép kín sau những khúc quành. Sông ủ đời sông theo những ngày tháng lạnh của mưa và trong veo của nắng. Nhưng sông không bao giờ quay đầu trở lại thượng nguồn, mà chảy luôn về biển.

Mối tình một chiều của tôi, với Hoàng Hoa, giống như dòng sông vậy.

Ðêm đêm, lời kinh của nàng có làm sầu muộn thêm những đóa hoa sứ trong vườn Bồ Ðề? Ðêm đêm, tiếng gõ mõ của nàng có làm kinh động những cánh bướm mòn mõi giang hồ?

Tôi nghe người bạn học chung lớp của nàng từ Việt Nam trở qua kể lại. Hoàng Hoa giam mình trong một chiếc am nằm trên đường ra Ô Quắn (Au de Vent). Mỗi tuần, Trần Bình Lâm chạy Honda đem thức ăn chay cho nàng. Nàng hạnh phúc trong câu kinh tiếng mõ. Chờ đợi ngày hóa thân.

Nhớ xưa em rất dịu dàng
Hồn vang tiếng guốc mơ màng Hoàng Hoa
Em từ cõi Huế đi ra
Hương Giang bỗng mặn phù sa Vũng Tàu
Bây giờ em rất thanh cao
Áo xanh nay đổi áo bào Quan Âm
Đêm qua một đóa u trầm
Rớt trên kinh Phật tưởng lầm môi ai?

Tôi làm bài thơ ngắn có mấy câu coi như tạ lỗi hàng me đường Lê Lợi. Từ nơi đây tôi thơ dại và cũng từ nơi đây tôi khôn lớn với đời. Một đôi mắt đẹp đã sâu hút từ đêm Vũng Tàu vàng ấm mùa thi.

5.

Nơi căn phòng nhỏ nhìn ra sân mưa bên ngoài chiều nay đang ngổn ngang cành khô mà sáng ngày mai xe đổ rác sẽ đến dọn, tôi vừa biết thêm một cảm giác vội vàng khi tháng năm lao đi vùn vụt. Đâu rồi tia nhìn của lửa làm cháy bỏng đời nhau và sợi tóc còn vương lại trên chăn nệm? Những tình yêu phờ phạc cuốn hút cơn đau tuyệt vời và sau đó lìa nhau vĩnh viễn.

Có những giấc mơ chết non và bất hạnh ghim xuống lòng như một vết mực lầm lỡ. Một vài con chim đậu trên hàng dây điện như những nốt nhạc màu đen trên quá khứ buồn-(ý của nhà thơ Nguyễn Xuân Thiệp)- Người đàn bà có con mắt màu nâu và vành môi cong vút màu tulip vừa rời khỏi đời tôi hôm qua để bay theo những phù hoa. Bay theo biển dâu và nắng gió chói chang bên ngoài. Nàng đến không ồn ào và đi cũng không tiếng động.

Không ai tắm hai lần ở một dòng sông. Cũng như không ai học biết đủ một bài học. Tình yêu cũng vậy. Khi tình yêu đi qua ranh giới của thù hận và đắng cay, tình yêu tự nó sẽ chết.

Nơi căn phòng cũ trong ngôi nhà đường Heatherglen, trên chiếc bàn gỗ bên ngoài Patio đang thánh thót mưa thu, tôi vừa biết thêm một bài thơ hay của một người bạn ở Tennessee. Lời thơ không cần bia bọt hay cà phê nhưng vẫn làm ấm áp, dù thơ anh như muối xát trong lòng:

cây hồn anh, thôi lá rách cành hư
năm bảy trái tình chưa xanh đã rụng
qua thời đất chai tới mùa nước úng
tiếng chim hoài im lặng một đời cây
năm ngón thon dài hiền dịu bàn tay
ngón út cho anh đợi ngày vuốt mắt
những ngón ngoan kia lỡ cho người khác
(ôi tay em, chỉ một ngón đang buồn…)
(Hoàng Lộc)

Có chuyến xe lửa nào vừa từ một nơi chốn lạ về ngang qua công viên sau nhà. Những toa tàu kín bưng nhốt bao nhiêu tâm hồn thao thức một thềm ga?

Tôi luôn yêu mến và kính trọng những cuộc tình không tìm ra trạm xuống. Đó là những cuộc tình đẹp tay ba dù nó luôn ủ bằng nước mắt và tuyệt vọng. Từ những đôi tình nhân dù biết rằng phải lạc mất nhau nhưng không biết phải hóa giải bằng cách nào, họ vẫn cầm tay nhau đi với sự can đảm pha lẫn buồn rầu, trong khi sương mù mịt mùng phía trước…

Phạm Ngũ Yên