Từ Một Con Vịt

nguyenthihaiha

Chiyo, cô bé con của một dân chài nghèo rớt mồng tơi và bà mẹ bị ung thư, về sau bị bán cho trà đình rồi trở thành nàng geisha Sayuri nổi tiếng, đã tả căn nhà thời thơ ấu của mình ở trên một triền núi cheo leo, nó có vẻ ngất ngưởng lảo đảo như người say rượu. Căn nhà thời thơ ấu của tôi thì không như thế, nó giống một bức tranh ghép bằng nhiều mảnh giấy màu, như một tấm bích họa.

Má khoe, “Nhà mình ngon lành nhất xóm!” Chúng tôi phải đi bộ từ khu tạm cư đến bến đò. Ngồi trên đò Má bảo ngồi xuống nền ghe, tay giữ thành ghe kẻo ngã xuống sông. Khách đi đò, người lớn, ngồi hai bên thành ghe. Cùng đi chung chuyến đò với tôi có mấy con heo con còn đỏ hỏn, nằm trong giỏ ló mõm ra ngoài kêu eng éc, mũi hếch hếch cố tìm một mùi quen thuộc nào đó, có lẽ là của mẹ nó. Từ bến đò đi vào khu nhà mới định cư của dân nhà cháy cũng chừng hai cây số.

Tôi hơi thất vọng, vì nó không phải là căn nhà ngon lành nhất xóm như tôi tưởng tượng. Trái lại nó như một cái hộp được mặc cho cái áo vá chằng chịt. Vách nhà là những tấm vá theo chiều nằm ngang, mỗi mảnh vá dài và hẹp gồm nhiều màu từ nâu đậm đến nâu nhạt. Mái tôn thì là những tấm vá hình vuông của tôn mới và tôn cũ hơi rỉ sét. Nhà hình hộp, không cửa sổ. Sở dĩ căn nhà tôi có vẻ giống như một bức tranh bích họa dán ghép bằng những mẩu báo giấy bời rời bởi vì Má mua gỗ vụn ở một trại cưa gần đấy. Sau này, tôi mới biết là Má một thân một mình, hai tay cắp hai mảnh gỗ kéo từ trại cưa về nhà, kể cả những khi mưa dầm trên con đường đất sét. Đường đất sét trời mưa đi rất trơn. Muốn không té thì phải đi chân không, hai ngón chân cái phải bấu quặp xuống đất để không bị ngã. Có khi tôi đi học về, trường học ở mãi ngoài bến đò, từ trường về nhà bình yên, nhưng khi đến dưới cổng dàn hoa giấy, chỉ lơ đãng một giây thôi, tôi té lăn quay lấm dơ hết quần áo. Ý là tôi đi tay không, trên vai chỉ đeo cái cặp. Má không than kéo cây nặng mà chỉ than đau ở hai đầu ngón chân cái và bàn chân của Má nứt rạn khắp nơi nhất là phía sau gót. Cất xong cái nhà, ai giúp Má cất nhà tôi không biết, bà bị lao phổi, ho từng búng máu. Tuy nhiên không thể buộc tội Má nói láo, bởi vì so với những căn nhà mái lá,vách đất chung quanh, nó có vẻ rất bề thế. Bây giờ nghĩ lại tôi thấy mình may mắn, bởi vì tôi đã chẳng bao giờ mang cảm giác tủi hổ mình là con nhà nghèo.
Một hôm tôi chạy về nói với Má, “Má ơi, nhà trước mặt mới mua một bầy vịt con, dễ thương lắm.” Má thấy vậy ra chợ mua cho tôi một chục vịt con mới nở lông còn vàng óng. Tôi mê lắm. Má dạy tôi xắt rau, xắt hành lá trộn với tấm cho vịt ăn. Cái mùi vịt con trộn với mùi tấm và hành lá làm tôi mê đến phát run. Mấy con vịt con có cặp mắt như hạt cườm nhấp nháy, rỉa ngón tay tôi, rỉa cả mũi tôi khi tôi cầm một chú vịt con đưa ngang mặt. Thả ra khỏi chuồng là chúng chạy theo tôi làm như tôi là mẹ chúng vậy. Nuôi trong chuồng cho đến khi chúng lớn lông cánh mọc lơ thơ thì thả ra đồng ra kênh đào cho nó bơi lội và mò tôm ốc. Tôi chăm sóc đàn vịt kỹ lắm, chúng là bạn của tôi. Đôi khi mất một con vịt vì bị rắn bắt tôi khóc rưng rức cả ngày. Buổi chiều, để kêu vịt về tôi chỉ cần mang thau lúa đứng trên bờ kêu “kía kía,” để cái thau thấp xuống là đàn vịt bu đến ăn. Thau lúa rủ đàn vịt về chuồng, chỉ làm một lần là sẽ trở thành thông lệ. Đôi khi chúng ham ăn ốc ăn cua không chịu về, Má làm cho tôi một cần lùa vịt bằng một thanh trúc dài, có buộc một miếng giẻ ở đầu cần và tôi chỉ đứng trên bờ xua vịt về.

Đàn vịt của tôi lớn lên thì đàn vịt của bác Ba cũng lớn lên. Vịt nhà tôi được ăn lúa nên đến giờ là chạy về chuồng. Còn vịt của bác Ba thì cũng chạy theo đàn vịt của tôi để được ăn ké. Lúa thì ít mà đàn vịt của bác Ba thì cũng như đám con của bác, thường xuyên đói. Tôi khổ sở bảo vệ thức ăn cho đàn vịt của tôi. Hai tay nắm hai cổ hai con vịt, một hai ba, tôi ném. Vậy mà không có con vịt nào bị gãy cổ hay gãy chân, nghĩ cũng lạ thiệt. Dường như trời cũng thương hại những con vịt đói nên ban cho chúng một khả năng tự tồn không dễ bị bẻ gãy. Về sau khôn hơn một chút, tôi nhốt vịt vào sân đóng cổng rào rồi mới cho vịt ăn.

Rồi có một hôm đàn vịt về mà vẫn còn thiếu một con. Tôi đoán có lẽ con vịt này nhập bọn với đàn vịt của bác Ba và quên lối về. Mặt trời bắt đầu lặn, nước kênh đào dâng đầy, gió thổi hây hây, giờ này mà Má đi chợ bổ hàng bán vẫn chưa về. Tôi cần phải đi tìm con vịt này trước khi Má về.

Tôi đi dọc theo bờ kênh đào ra hướng cầu sắt. Bên trái là con kênh đào nước lớn đục ngầu, rộng gấp đôi lúc nước ròng. Bãi lát ven bờ nước ngập lên gần đến ngọn. Bên phải là những ngôi nhà vách lá đứng thành hàng thành luống, chung quanh nhà nào cũng có mương. Nước của con kênh đào chảy theo những cái cống nhỏ vào mương, nhà nào cũng cắm vài bè rau muống hay rau nhúc. Không thấy con vịt tôi đi dần đến chỗ cầu sắt và đến đây thì tôi nghe tiếng vịt kêu.

Quẹo trái tôi sẽ đi qua cây cầu sắt và con đường này sẽ đưa tôi đến trường học ở ngoài bến đò tôi vẫn đi mỗi ngày. Quẹo phải là hướng đi về ngôi chùa mới. Chùa này cũng là do những người bị cháy nhà mới xây chung nên gọi là chùa mới để phân biệt với ngôi chùa cũ ở trên đường ra bến đò và gần đó là một cái đình rất to nơi đó tôi thường ra xem cải lương. Thỉnh thoảng có gánh cải lương hát dạo về trình diễn ở đây. Trước mặt tôi là con đường mòn đầy cỏ u ru cao khỏi đầu người. Đây là một chỗ vắng vẻ, cỏ mọc bít kín lối đi. Thường xuyên khi đi đến ngã tư này tôi chỉ quẹo trái, hay quẹo phải. Tôi chưa bao giờ đi vào còn đường mòn này. Rậm rạp nên tôi sợ có rắn, tuy nhiên, tôi nghe tiếng vịt kêu nên tiếp tục đi lần về hướng đó. Con đường mòn dẫn đến một lối cụt. Cuối đường là bãi cỏ mọc cao, bên ngoài bãi cỏ là khúc quanh của con kênh đào. Tôi mon men đến gần bãi cỏ, tiếng vịt kêu rõ ràng hơn. Buổi chiều, nước lớn, tiếng vịt kêu nghe thăm thẳm buồn, cái buồn lẽ bạn. Con vịt của tôi, có cái bớt đen trên đầu, cái sẹo to ở gần mép vì có lần bị vướng lưỡi câu của bác Hai Tôn ở cách nhà tôi mấy căn, đang ở trong đám lác vừa kêu vừa rỉa nước.

Tôi gọi con vịt về. Kía kía. Nó nhấp nhỏm cái cổ có vẻ muốn theo tôi nhưng lại thôi không theo. Lúc nãy tôi quên mang theo cái cần lùa vịt. Đàn vịt đã nhốt vào chuồng rồi còn xách cần lùa vịt để làm gì. Rất là sai lầm, chứ nếu không thì giờ này có thể dùng cái cần mà xua con vịt. Túng thế, tôi lấy vài viên đá nhỏ ném chung quanh con vịt cho nó sợ mà chạy về. Con vịt hốt hoảng bơi vòng tròn chung quanh bụi lát. Tôi ném thêm vài viên đá nhỏ gần con vịt hơn thì tình cờ một viên đá trúng vào đầu con vịt. Nó quay vòng vòng rồi cắm đầu xuống nước bất động. Tôi húi húi, xuỵt xuỵt, nhưng nó vẫn cắm đầu xuống nước. Có lẽ nó đã chết. Tôi không biết làm sao nên ngồi bệt xuống đất khóc rấm rức. Khóc vì thương con vịt vì tôi mà chết và vì sợ phải trả lời với Má số phận của con vịt và sẽ gặp cái lắc đầu chán ngán thở dài của Má. Tôi chẳng làm gì nên thân.

“Con vịt của mày nó bị kẹt chân vào bụi lác. Chắc là chân nó bị dính dây nhợ gì đó nên càng vùng vẫy nó càng bị kẹt.”

Nghe tiếng nói sau lưng, tôi quay lại nhìn. Con nhỏ tóc hớt bom bê, cao bằng tôi, đầu có cái khăn màu đỏ sậm, rất cũ dính bùn đen lấm tấm. Cái khăn cột như một cái băng đô, để lộ chòm tóc phủ ngang trán.

Tôi nói qua nước mắt: “Tao lỡ tay, chọi cục đá trúng đầu con vịt chết rồi.

“Chắc là nó xỉu thôi, mày chờ một chút nó tỉnh dậy. Sao mày không lội xuống bắt con vịt về?” Con nhỏ đội khăn đỏ hỏi tôi như thế. Trời tối dần, nắng trên sông phản chiếu đủ để tôi thấy cái lúm đồng tiền nhỏ xíu gần khóe miệng của nó. Câu nó nói làm tôi yên tâm nên tôi nín khóc.

“Tao bơi chưa rành. Má tao dặn không đuợc xuống sông khi lùa vịt.” Nhìn mặt nó tôi nói thêm. “Cái đồng tiền của mày coi ngộ quá. Thường thường đồng tiền của người ta nằm ở giữa má còn đồng tiền của mày nằm ở gần mép môi.”
“Ờ, lùa vịt mà không biết bơi dễ bị chết đuối. Bữa nào mày rảnh tao chỉ mày bơi. Mày không có số chết dưới nước đâu.” Con nhỏ khăn đỏ nói.

“Nhà mày ở gần đây hả? Sao tao ít khi gặp mày?” Tôi hỏi. Nó đưa tay chỉ về hướng chùa mới rồi nói “Đằng kia.” Tôi hỏi tiếp, “Ủa, nhà mày ở gần chùa hả, sao tao với má tao đi chùa hoài mà chưa lần nào gặp mày?” Nó nhìn về hướng chùa rồi nhìn tôi, “tao ở ngay phía sau chùa.” Nó nói tiếp “mày có gì ăn không, tao đói bụng quá.” Trong túi tôi có viên kẹo dừa tôi đưa cho nó. Nó nói, “thôi mày đi về đi không thôi má mày đi kiếm đánh đòn bây giờ, để tao canh con vịt cho mày.”

Tôi thấy trời đã tối, và đói bụng. “Mày có muốn theo tao về nhà ăn cơm không? À mày tên gì?” Tôi hỏi. Nó nói, “thôi, tao ở đây, chút nữa mày có rảnh thì ra đây chơi với tao.” Tôi hỏi, “sao mày không về nhà đi?” Nó nhiếc tôi, “mày hỏi nhiều mà hỏi cái gì đâu không. Tao ở đây canh con vịt, chút nữa nó tỉnh lại tao sẽ lội xuống bắt nó dùm mày.” Con nhỏ đội khăn đỏ nói giọng chắc nịch nên tôi không nghi ngờ gì cả. Quên hỏi coi làm sao mà con nhỏ hay quá biết con vịt không chết. Quên hỏi nó là sao nó không vớt con vịt lên giùm mình bây giờ. Tuy nhiên tôi sợ Má rầy nên lật đật chạy về.

Tối hôm đó, khi theo Má đến chùa tôi lén rọc một miếng lá chuối ở cây chuối trồng bên hè rồi gói theo một ít cơm mới nấu và cá khô nướng. Khi Má bắt đầu cầu kinh tôi lẻn ra khỏi chùa chạy đến chỗ ban chiều. Tôi gọi, nhỏ ơi, nhỏ khăn đỏ ơi, nhưng không có ai trả lời. Trong bóng tối mịt mùng, tiếng gọi của tôi rơi vào con sông nước đã bắt đầu lui. Con vịt không còn ở đó, có lẽ nó đã bị nước cuốn đi. Tôi trở lại chùa ngồi đợi Má. Cái chùa này về sau trở nên thân thiết với tôi lắm. Thân thiết vì tôi đã ở đó mấy năm khi có một lúc lẫy hờn tôi ôm gói bỏ nhà đi ở chùa. Không cạo đầu đi tu, vẫn mặc áo dài đi học, nhưng khi qua khỏi cây cầu sắt thì thay vì quẹo tay mặt đi về nhà tôi đi thẳng đến chùa. Mãi khi căn bệnh lao phổi của Má trở nặng, và Má năn nỉ, tôi mới chịu về.

Buổi sáng hôm sau, trước khi đi học, tôi thả vịt ra đồng và ngạc nhiên thấy số vịt đầy đủ. Con vịt tối qua tôi tưởng đã chết và nước cuốn trôi đã về từ lúc nào và làm thế nào để vào chuồng thì tôi không biết. Ban đầu tôi ngỡ là con vịt hàng xóm lẫn lộn vào nhưng cái bớt đen trên đầu và cái sẹo gần mỏ vịt không thể nào nhầm lẫn được. Tôi định bụng sẽ đi tìm con nhỏ khăn đỏ để cảm ơn, và hỏi nó đã làm thế nào để trả con vịt lại cho tôi, chợt nhớ ra là mình không biết chỗ ở của nó.

Má đi chùa thường vào buổi tối, ngày rằm và mồng một. Khi đến chùa tôi cố ý tìm nó khắp nơi nhưng không gặp. Sau chùa có vài căn nhà tôi biết mặt gần hết mấy đứa trẻ. Bên trái của chùa là nhà con Tiền con của cô hai Đẹp. Cô ở nhà quê, chỗ nào đó còn nhà quê hơn chỗ này, có chồng theo du kích, bị bắt tra hỏi mãi nên phải trốn lên Sài gòn. Đằng sau chùa là nhà của ông bà Tư Xị có một đàn con gái tên Khai, Nở, Nhị Hoa, Hường, đúng năm cô nên được gọi là Ngũ Long Công Chúa. Công chúa gì mà nghèo rớt mồng tơi cứ phải qua chùa ăn cơm ké. Kế bên nhà con Tiền là nhà hai anh em thằng Quan thằng Quyền. Thẳng Quan hơi giống giống Ấn Độ, có đôi mắt rất to và hàng lông mi vừa rậm vừa cong. Tôi rong chơi nghịch ngợm khắp nơi mà tôi không bao giờ thấy con nhỏ khăn đỏ. Một hôm đi chùa với Má, tôi ngu dại chê ông Mười bán cơm tấm đánh trống Bát Nhã không đúng bài bản gì cả nên ông nổi giận đuổi tôi ra khỏi chùa. Mọi người bắt tôi mang hương đèn ra xin lỗi ông nhưng tôi đổ chướng, không đúng thì tôi nói không đúng chứ làm gì mà phải xin lỗi. Tôi bỏ chạy ra khỏi chùa và đến bờ sông, chỗ bụi lác mà con vịt bị mắc kẹt, ngồi khóc thút thít một hồi thì tôi nghe giọng con nhỏ sau lưng. “Sao mày ít khi đến đây mà lần nào đến đây mày cũng khóc hết vậy.” Giọng nó bất thình lình làm tôi giật mình nhưng nghe nó cười thì tôi nín khóc ngay. Thật ra tôi khóc không phải vì sợ mà vì giận. Giận là sao không ai bênh mình kể cả má của mình. Tôi kể nó nghe đầu đuôi câu chuyện. Nó nói, “Mày nín khóc đi tao kể chuyện trong chùa cho mày nghe. Cái ông Mười bán cơm tấm đó tu hành gì mà tham sân si dữ lắm. Mày xui lắm mới dám chê ổng, mà thiệt ổng không phân biệt tiếng trống nào là tiếng trống nào. Ông đánh trống bài gì nghe cũng như người ta đánh trống múa lân vậy. Ông sắp đuổi thầy Xuân ra khỏi chùa vì thầy và chị Khai có tình ý với nhau. Chị Khai người nảy nở tròn trịa, một bên mắt bị hột cườm nhưng tính rất dễ thương. Thầy Xuân có miệng móm móm có duyên hết cỡ. Trời ơi thầy chùa gì mà hát vọng cổ hay quá xá hay. Ổng đi tu từ hồi nhỏ, vì nhà ổng rất nghèo nuôi không nổi nên cho đi tu, chứ không phải đi tu kiểu trốn lính như mấy ông thầy chùa khác. Ổng nói đuổi thầy Xuân ra khỏi chùa bây giờ thì thầy sẽ phải bị đi lính.” Con nhỏ nói vanh vách cái gì cũng biết hay thật. Tôi và nó hẹn nhau cứ mỗi lần rằm hay mồng một tôi theo Má đến chùa thì chúng tôi sẽ ra bờ sông gặp nhau nói chuyện chơi.

Chúng tôi nói đủ thứ chuyện. Tôi kể nó nghe chuyện tôi đi học sáng sớm bị heo rượt. Chị Bé lớn chê ông thầy giáo dạy chị tướng đi hai hàng giống như người mắc bệnh phong tình. Nó bảo tôi học bơi muốn cho giỏi thì phải học chìm trước rồi mới học nổi và học bơi. Điều này cũng đúng khi đã hết sợ bị chìm thì tôi muốn chìm cũng không được, thân hình cứ tự động nổi lên, ngay cả khi tôi trầm minh xuống đáy sông, cấu lấy bùn để được chìm lâu lâu chút nữa. Đêm mùa hè nóng nực nó cởi quần áo nhảy tòm xuống sông và nằm thật lâu dưới mặt nước đến độ tôi sợ nó chết đuối. Dưới ánh trăng, mặt nó nhìn xuyên qua lớp nước trông giống như cười. Tôi ngạc nhiên hỏi làm sao mày cười dưới nước hay vậy. Nó dạy tôi khi bơi thì phải gối sóng theo dòng, hễ muốn giữ mạng sống thì không nên bơi ngược nước. Nó chỉ tôi ngôi sao sáng nhất trên trời xéo xéo phía dưới mặt trăng đó là sao Lớn bây giờ tôi biết đó là sao Hôm và cũng là sao Mai. Chùm sao bốn góc hình thang có một dọc ngôi sao bên trên như cái cán chổi là chùm sao bánh lái lớn và gần đó là chùm sao bánh lái nhỏ. Tôi phàn nàn tao không thích ở đây, chỗ ở gì mà kỳ cục không có cầu tiêu. Ngày mới về Má bắt lấy cái cuốc đào một lỗ nhỏ đi cầu xong lấp lại. Có lúc đi cầu cá thì nghe cá quậy mà hết hồn. Mà thôi mình nói chuyện khác đi, nói mấy chuyện này nghe mắc ói quá. Nó nói giọng người lớn, người mình lo chuyện ăn còn không xuể nên không muốn lo chuyện ỉa, rồi cười hì hì. Ngày ở ổ chuột trong thành phố dùng cầu tiêu công cộng, dòi bọ lúc nhúc, trống trước trống sau, nồng nặc hôi thúi nhưng có một chỗ để mình biết đó là cầu xí. Còn ở đây người trong xóm ra bậc tam cấp dẫn xuống sông để đi cầu dơ cả lối đi.

Nghĩ cho cùng chuyện bài tiết là chuyện tất nhiên nhưng không có một chỗ để bài tiết cho kín đáo cũng là một điều mà cả hai đứa bé như chúng tôi cùng hổ thẹn. Tôi kể nó nghe lúc sau này tôi không dám đến chùa không phải vì sợ ông Mười bán cơm tấm sau vụ đánh trống mà vì tôi sợ gặp thằng Quan.
“Nó làm gì mày mà sợ?”
“Tao không sợ nhưng tao mắc cở.”
“Mắc cở vụ gì?”
“Tao thấy nó có cặp mắt đẹp tao thích nhìn. Nó biết tao nhìn nên nhìn lại. Vậy thôi. Một hôm ở nhà trời nắng nóng tao muốn đi tắm. Cái lu nước đầy để tắm ở phía sau nhà. Tao cởi quần áo xong nhưng không có cái gáo múc nước vì tao bỏ cái gáo trong cái lu đằng trước nhà. Tao nghĩ giờ này không có ai ở ngoài đường, chung quanh ai cũng ngủ trưa nên tao đi ra phía trước nhà để lấy cái gáo nhưng tao làm biếng không mặc quần áo vào. Vừa đi tao vừa nghĩ nếu xui xẻo lúc này thằng Quan thấy thì chết.”
“Rồi sao nữa, kể lẹ lên, mày hay ngừng nửa chừng làm tao sốt ruột muốn chết.”
“Tao nghĩ nhưng cứ tiếp tục đi. Chỗ này không phải là chỗ thằng Quan đến. Nó không có bạn ở đây. Trường học thì ở ngoài bến đò. Tao mới nghĩ đến đó thì đã ra đến cửa. Tao chạy nhanh đến cái lu, vớt cái gáo quay lại.”
“Mày gặp thằng Quan?”
“Ờ! Không biết nó đi đâu mà đạp xe ngang, nó nhìn tao, cười, rồi quay mặt đi.”
“Nó thấy mày? Nguyên con?”
“Ờ, nguyên hình nguyên con.”
“Xấu hổ thiệt!”
Hai chúng tôi khúc khích cười. Hai đứa nằm dài ngược chiều nhau đỉnh đầu nó chạm vào đỉnh đầu tôi. Con đường ít người qua lại mưa trôi đất nên đá đỏ lổm chổm cấn lưng khá đau. Đêm không tối đen như người ta nghĩ. Dù không trăng nhưng ánh sáng từ sao từ mây vẫn đủ cho chúng tôi thấy nhau lờ mờ. Tôi thích nghe tiếng gió lướt nhẹ trên sông và xuyên qua cỏ lát. Với nó nói chuyện gì cũng vui cũng cười được. Tôi rủ nó mày về xin với ba má mày đến nhà tao ở luôn. Nó cười.
“Tao không ở nhà mày được!”
“Tại sao?”
“Nhà mày không dư cơm và má mày không cho!”
“Tao xin má tao! Má tao hiền lắm thế nào cũng chịu. Sao mày nghĩ là má tao sẽ không cho?”
“Tại vì tao là ma.”
Tôi cười khúc khích. “Vậy à, ma như mày chẳng ai sợ. Mày là ma thì tao là quỷ. Má tao kêu tao là con quỷ rồi nên ma hiền lắm thế nào Má cũng thương.” Tôi nói.
“Tại mày không sợ tao nên tao với mày mới gặp nhau. Chớ má mày mà biết mày chơi với tao là bà sẽ cấm ngay. Mày sướng mà không biết, mày có má cưng mày quá trời, thử tưởng tượng những đứa nhỏ không biết ba má nó là ai, không có một chỗ ở, suốt ngày chờ mà không có ai để chờ, có tên nhưng chẳng ai gọi nên lâu ngày như không có.”
“Ờ nói tới tên mới nhớ, mày tên gì?”
“Mày muốn kêu tao bằng cái gì cũng được, cần gì phải biết tên tao.”
“Mày sao điệu đà quá hỏi tên mà cũng không nói.”

Có một hôm nó móc trong túi một cục gì giống như kẹo màu đo đỏ nhai rồi thoa lên mu bàn tay phải của tôi, bảo là trả lại cho tôi cái gì của tôi và cũng để nhắc cho tôi nhớ nó. Lúc đó da tôi khô lại như bị thoa vôi chứ không thấy đau rát gì cả. Bẳng đi một thời gian không thấy nó tôi buồn muốn điên. Có một đêm đang ngủ, trăng sáng, mơ hồ tôi nghe có ai gọi, tôi thức giấc lén mở cửa lò dò ra bờ sông. Tôi thèm có người trò chuyện với tôi. Má ngủ tiếng ngáy khò khẹt không đều làm tôi sợ Má sẽ nín thở và chết. Ngồi ở bờ sông một hồi tôi đi về. Đang đi tôi nghe có tiếng xe đạp cán trên mặt đá đỏ lào xào phía sau. Giờ này khuya lắm rồi trăng đã lên đến đỉnh đầu. Tôi không muốn người đi xe đạp nhìn thấy tôi nên lủi vào bụi cỏ khom người chạy nhanh về nhà. Người đạp xe như có gì đó tò mò hoặc nghi ngờ, hắn chạy một đổi xa đến con đường ở phía sau nhà của tôi rồi quanh xe trở lại như để tìm tôi nhưng lúc ấy tôi đã vào nhà.

Chiều hôm sau khoảng bốn giờ có người dựng xe đạp ở giàn bông giấy và hỏi má tôi. “Thưa bác, ở đây có hai cô bé cao chừng này không?” Người thanh niên có vẻ trẻ hơn anh tôi, có lẽ chưa đến ba mươi, tay để chừng ngang ngực anh để ra dấu chiều cao các cô bé anh ta muốn hỏi. Chợt nhìn thấy tôi, anh nói cở cô bé này. Anh hỏi tôi, “đêm qua em có đi đâu ra khỏi nhà không?” Dĩ nhiên là tôi chối biến đi, vì sợ Má đánh đòn tội nửa đêm lén nhà ra sông. “Dạ không, tối em không đi đâu cả. Đi để làm gì?” Má muốn biết đầu đuôi câu chuyện nên anh kể là anh đang đạp xe về thì thấy có hai cô bé từ bờ sông đi lên. Anh đoán là hai cô bé xuống sông để đi cầu, nhưng thoáng một cái đã biến mất tiêu. Anh đoán chắc nịch một cô bé là tôi, vì tóc bom bê. Má nói xóm này chỉ có nó là con gái. Còn con nhỏ kia ra làm sao, anh nói cũng cao tương đương, nhưng có đội cái khăn.

Té ra đó là anh hàng xóm mới dọn về đây ở. Anh ta về rồi Má biết tỏng tôi nên hỏi to hỏi nhỏ vặn vẹo mãi nên cuối cùng tôi kể Má nghe về con nhỏ đó. Má dẫn tôi đến bờ sông chỗ tôi và nó thường ngồi trò chuyện với nhau nhưng chẳng tìm thấy gì. Chung quanh chỉ toàn cỏ mọc và sát mé nước cỏ che lấp hết có một cái miếu rất nhỏ chỉ bằng cái lồng chim. Trong miếu có một tấm bài vị đã phai bạc hết màu không còn nhìn thấy chữ nghĩa gì nữa. Trong chùa ở hậu liêu có một bài vị của một cô bé mười một tuổi, chết đuối. Người nào đó biết chuyện bảo rằng con nhỏ đi tìm con vịt lỡ chân té xuống sông chết chìm. Mẹ nó gửi bài vị vào chùa từ lúc chùa mới xây rồi bỏ đi mất luôn không ai biết tông tích nữa. Phía sau bài vị có ghi tên con nhỏ, ngày sanh tháng đẻ. Một sự trùng hợp lạ thường, nó cùng tên, cùng ngày tháng và năm sinh với tôi. Người ta không ghi giờ nhưng chắc là nó phải sinh vào ban đêm lúc tối tăm nhất. Má cấm từ nay không được đến góc sông này. Cấm không được chơi với con nhỏ đó. Má nghĩ là nó âm mưu bắt tôi theo. Điều đáng buồn là về sau không ai bắt mà tôi vẫn bỏ má tôi. Càng lớn lên tôi càng đi xa, càng tách rời, càng nổi loạn rồi bỏ Má đi đến tận bên kia bờ đại dương. Con nhỏ khăn đỏ có lần nói thường thì người ta sợ mất con hơn là sợ mất mẹ. Thường thì con bỏ mẹ nhiều hơn mẹ bỏ con. Chỉ những người bị bỏ mới cảm thấy cái bất hạnh này.

Lúc chuyến tàu tôi đi bị chết máy, cả tuần lênh đênh trên biển, tôi nghĩ đến lời con nhỏ bảo rằng số tôi không chết dưới nước. Thử tưởng tượng, không biết chết vì no, no vì nước tràn vào miệng đầy bao tử, tràn vào mũi ngập phổi hay chết dần mòn vì đói và khát cái nào đáng sợ hơn. Nhớ cái mặt của nó nằm dưới nước cười. Tôi tự hỏi không biết có thật nó là ma hay không hay chỉ là một sản phẩm trong óc tưởng tượng của tôi, vì thiếu bạn mà tự chế ra một đứa bạn để trò chuyện cho đỡ buồn. Tóm lại chỉ có mình tôi thấy nó, biết nó, và nói chuyện với nó. Trên mu bàn tay phải của tôi nơi con nhỏ trét vào tay tôi một chất gì như vôi vẫn còn cái bớt màu đỏ tươi. Đây có thể là một bệnh ngoài da. Nhưng tôi không giải thích được làm sao anh hàng xóm thấy trong cái đêm trăng sáng đó cùng chạy bên cạnh tôi có một con bé đội khăn. Tôi hỏi nó sao mày lúc nào cũng đội khăn. Nó nói tại cái đầu tao vừa bị méo vừa bị sẹo ghẻ xấu lắm. Má nói khi chôn người chết người ta cho đắp lên mặt cái khăn màu đỏ. Tôi và con nhỏ là hai linh hồn ở hai thế giới khác nhau, do một tình cờ của định mệnh, chỉ có thể gặp nhau trong một khoảng thời gian ngắn ngủi, trò chuyện đôi lần rồi đường ai nấy đi, đời ai nấy sống (và chết). Tôi không biết cơ duyên nào đưa chúng tôi đến với nhau nhưng từ lúc đó tôi tôi luôn luôn thèm có một người bạn như thế để chia sẻ mọi vui buồn với tôi.

Người ta nhớ về một quê hương có hoa thiên lý, lũy tre còm tả tơi, con sông đào xinh xắn, cánh diều biếc bay trên đồng. Tôi cũng nhớ quê mình, bên cạnh tất cả những cái đẹp tha thiết dịu dàng của quá khứ, còn là vùng đất nghèo nàn thiếu cả cái cầu tiêu. Gần đây đọc quyển Anh Em của Yu Hua thấy nói lu bù chuyện cầu tiêu công cộng, nhân vật trong truyện dám lội xuống hố phân mà cứu người. Rồi đọc quyển Kế thừa sự thua thiệt mất mát nhân vật trong quyển này nhớ lại lúc rời quê hương đi nước ngoài nhìn thấy dân làng của ông ta ngồi dọc theo đường rầy xe lửa mà đi cầu, tôi không khỏi liên tưởng đến câu chuyện ngày xưa tôi và con nhỏ ma than thở và hổ thẹn vì không có chỗ đi cầu kín đáo. Tôi muốn nói với nó, Nhỏ ma à, không phải chỉ có dân xứ mình chỉ quan tâm đến chuyện ăn mà không màng đến chuyện bài tiết. Dân của hai cái xứ lớn hơn xứ mình là Trung Hoa và Ấn Độ cũng cùng cảnh ngộ đó thôi. Thỉnh thoảng cái bớt đỏ trên tay tôi ran rát như nhắc nhở tôi rằng con nhỏ vẫn ở quanh đây, vẫn nghe tôi nói như ngày xưa chúng tôi đã nói chuyện với nhau bên con đường đầy cỏ cạnh khúc kênh đào vắng vẻ. Tôi không khỏi tự hỏi liệu có lúc nào chúng tôi sẽ gặp lại nhau. Và chúng tôi sẽ cùng đồng ý là bao nhiêu năm qua, vật đổi sao dời, vậy mà quê hương chúng tôi vẫn lo mỗi chuyện ăn và vẫn không quan tâm đến chỗ bài tiết.

NGUYỄN THỊ HẢI HÀ

KHI EM VỀ LÀ XỨ SỞ TA MƯA

truongdinhtuan

rồi ta cũng như sân ga xép
ngóng về đâu cũng chỉ truông đèo
loài chim lạ chỉ vui trên núi cũ
hót điều chi cho nguyệt tận xa mù

tiếng động vỡ tan nhau từ đáy vực
dốc trăm năm cỏ dại mọc không ngờ
mắt cố quận nắng gieo màu dĩ vãng
bước xa nào nghe xứ sở bơ vơ

trầm hương nọ hào hoa hoài lưu lạc
trăng diết da cười cợt dưới lưng gùi
khi chiều xuống tiều phu ngộ hạnh
thế kỷ nào nhúm lửa chút tin vui

dấu thương vết ngàn năm vách đá
tiếng còi mang theo đến cuối giang đầu
nhớ non nguyệt dã man xó núi
ga xép nằm thắp khói nơi đâu

TRƯƠNG ĐÌNH TUẤN

Hồn nhiên

nguyenminhphuc

Sao không là bóng của trời
Là mây của gió là lời của sông
Sao không là sóng bềnh bồng
Đêm ru biển hát mênh mông cõi tình

Là vàng giọt nắng thủy tinh
Thả ngàn tia ấm đợi bình minh lên
Là hoa hé nụ trên cành
Đong đưa mật ngọt biếc xanh xuân về

Sao không là cỏ bờ đê
Là con sông gửi lời thề cho trăng
Là mê đắm của đêm rằm
Là mơ màng của tình trăm nợ nần

Hay là một cõi phù vân
Người từ năm cũ về trần gian kia
Cho đời tôi hết phân lìa
Cho sông với suối cùng chia đá vàng

Nghe hồn nhiên giữa mùa sang
Ôm nhau cùng đợi khẽ khàng mây trôi…

Nguyễn Minh Phúc

BIỂN

tonnuthudung

13627113_1087059938037169_1054954526988224390_n

Tôi là con ốc nhỏ
Cuộn chặt mình vào thân
Đâu đây nghe tiếng khóc
Chú Dã Tràng lang thang

Tôi của ngày biển động
Thả tay theo sóng cuồng
Dòng hải lưu đau quặn
Rên rỉ lời bi thương

Màu lân tinh mỏi mệt
Thở dốc những hoang tàn
Vọng âm nào thê thiết
Biển của thời nát tan

Ngàn năm sau biển khác
Đợi một giờ hồi sinh
Sao những nhành tảo độc
Vẫn sáng bừng trong đêm?
Ngàn năm sau biển cạn
Buông mệnh phần… lênh đênh.

Tôn Nữ Thu Dung

một nét hoa

10735644_826194720769236_378143114_n (1)

mặt trời chìm vào đá núi
chiều tím huyễn mộng ta rồi
bỗng thèm cơn mưa lất phất
bay qua nhúm cỏ trên đồi

mai sau cơn đau hoá thạch
tội lỗi rồi cũng chôn sâu
mà sao hiện tiền bức bách
xô ta bóng đổ nghiêng sầu

tiếng guốc gõ vào trí nhớ
ngày em mặc áo thiên thanh
em xanh em hồng em quế
tóc hương và mắt long lanh

em qua ngang ngày nguyệt thực
hồn ta phố xá không đèn
tiếng ta khua đêm lặng lẽ
bật diêm nhớ nắng bay lên

Ngô Yên Thái

Sinh nghề tử nghiệp

nguyentri

Lớp ba trường làng chưa xong thì Bảy Bền đã xếp bút bi phụ mẹ lo cho hai em có cái tọng vô mồm. Bà má nói học cho nhiều cũng vậy thôi con ơi, cái mả nhà mình không phát đường chữ nghĩa. Vô rừng theo cha mày cho chắc.
Hai cha con đi lấy đặc sản rừng. Mùa nào thức nấy. Rừng miền đông trái cây thôi thì vô thiên vô lũng. Nào Xay, Cám , Bù lộp, Gùi… đến mùa măng thì bà má ngày nào cũng có mặt ở chợ bán đủ loại măng khô măng tươi. Đúng là nghề dạy nghề. Mùa chính mưa ở miền Đông dầm dề không thua chi mùa mưa ở Huế trong thơ Nguyễn Bính mà cha của Bảy Bền thừa tài để cho ra măng sấy là quá xá hay. Nghề không cao dễ chi được. Chưa kể bẫy cò ke còn cho bà má có thu nhập thêm từ thịt rừng. Ngày nào ông cha cũng khề khà vài ly ba xi đế bên một đĩa thịt tú hụ không Cheo, Chồn thì cũng Nhím, Sóc hay Gà rừng. Hai cha con còn tham gia lấy cây về bán cho những trại mộc. Ai làm nhà cần loại cây chi cứ gặp cha con Bảy Bền là xong tuốt. Nhờ chí thú nên mười lăm tuổi Bảy Bền đã có một cặp bò kéo xe chiến đấu. Trên cổ xe bò Bảy đi sâu vô những cách rừng lồ ô đem loại cây nầy về xóm nhỏ dựng nghề chẻ tăm nhang cho bà con cô bác kiếm thêm.
Với rừng, Bảy Bền tinh thông hơn cả căn nhà của mình.
Nhờ cái tinh thông nầy mà những năm khốn khó sau chiến tranh rất nhiều các ông các bà có của nương theo Bảy Bền mà ăn nên làm ra, lên luôn cả hàng tỷ phú xứ ta chứ triệu phú thì khỏi nói. Đặc biệt những năm rừng bị nghiêm cấm, ai vào rừng không giấy phép là tù không cãi cọ lôi thôi. Kẹt cái lúc đó kinh tế còn khó quá, cấm thì dân nghèo lấy chi sống? Thôi thì gỗ thì cấm triệt chứ mây tre lá ta cho qua. Cấp giấy phép cho họ và ta thu thuế nuôi rừng. Nhưng quý vị thị thành muốn biết đâu đó trong nguyên sinh có tre có mây có lá thì phải thông qua thằng chưa tốt nghiệp lớp ba là Bảy Bền, còn gọi nó là anh nầy anh nọ nữa mới là ngon hung. Bảy hoá thành thần tài cho các vị có giấy phép.
Mỗi chủ khai thác chí ít trong tay năm mươi lính lác. Họ giao hết cho Bảy. Bảy đưa thợ vào những cách rừng nơi ngự trị toàn lồ ô. Người ta đưa lồ ô cây về nhà máy để sản xuất đũa. Mỗi cây người thợ rừng hưởng bẩy trăm đồng. Zin 130 đưa về nhà máy là hai nghìn đồng. Mỗi cây chủ thầu lời một ngàn ba, cho chung chi thuế má xăng cộ hết một ngàn ta còn ba trăm. Mỗi xe sáu trăm cây ta có một trăm tám mươi nghìn lãi. Mỗi ngày ta có năm xe về nhà máy thì không tỷ phú thì là chi? Ngoại trừ lồ ô cây ta còn cho ra niền để chế biến tăm nhang, mỗi bó niền thợ rừng ăn bốn ngàn về đến chỗ bán là bốn mươi ngàn, cho chi phí tối đa ba mươi ngàn. Mỗi Kamax chở bốn trăm cục niền, ngày đi hai xe. Mẹ cha ơi vàng để đâu cho hết nói chi tiền.
Về sau một đại gia rất am tường thiên thời địa lợi và lòng nhân ái bao trùm không chừa một khoản trống nào ở vùng rừng X. Vợ của Bảy Bền nhờ ông ta mà thoát chết, cảm tạ cái ơn nầy nên Bảy kính cẩn gọi đại gia là anh Sáu và nghiêng mình dưới trướng anh trong nghiệp khai thác độc quyền mây tre lá. Anh Sáu lên Bảy cũng lên theo và anh Sáu nâng Bảy Bền như nâng trứng. Chao ôi Bảy hay lắm. Lồ ô dưới lũng sâu mới là loại nhiều năm tuổi. Muốn ra một cặp đũa không bị toè đầu phải lồ ô ba năm tuổi đi lên, cây non là bỏ. Tăm nhang cũng vậy, chẻ xong đem đánh bóng thì cây tăm non sẽ gãy, nếu may mắn còn nguyên chúng sẽ bị cong vòng khi cắm lên bát hương. Bọn nhiệm thu rút lên một nắm chỉ cần một cây bị oằn là chúng bỏ cả kiện. Hàng xuất khẩu đang nằm ở bến cảng mà bị trả là chết, nên chi bước khai thác thô phải tuyệt đối cây già. Muốn cây già thì xuống lũng. Nhưng lũng trong rừng miền Đông không thua chi dốc cao khúc khuỷu dốc thăm thẳm trong thơ ông Quang Dũng tí nào. Nhưng với Bảy Bền thì không sao. Anh ta điều trị tốt.
Thợ rừng cứ cho ra sản phẩm bất kỳ nơi đâu, đèo cao hay suối sâu. Khó khăn cỡ nào cũng không qua được Bảy. Xét cần hai ba chiếc Zin sẽ vào bốc hàng một chỗ để cùng nhau hợp lực mà qua truông qua đèo. Bảy sẽ cùng một tốp công nhân chuyên xẻ đường luôn có mặt trên từng cây số với cuốc chim và xẻng trên vai. Bọn tài xế Zin ba cầu và Zin 130 phong Bảy lên hàng kỹ sư cầu đường luôn. Còn nói vầy:
– Mấy thằng kỹ sư thời nay phải gọi Bảy Bền bằng sư phụ.
Khai thác mây tre tạm gián đoạn khi mùa Đười ươi đến. Mẹ cha ơi. Dân rừng Miền Đông lên hay không nhờ loại trái cây nầy. Tháng giêng là thợ đã xuyên rừng tìm cây và dánh dấu. Cây nào có tên là xin đừng rờ vào, thợ rừng nói chuyện với nhau bằng cú đấm là chuyện nhỏ. Dao rựa cũng nhỏ luôn. Cây tao mà mày dám tra búa vô hạ là bao nhiêu tao lấy hết. Luật rừng đã định rồi. Cây đã khắc tên ai biểu mày đụng vô? Tháng hai là túa ra đi lượm Ươi bay. Loại trái nầy trị được bách bệnh đa nghe. Nóng trong người, thiệt đó, đang xỉn rượu tối mặt mà chơi một ly hai trái ươi là nhẹ liền, cả táo bón kinh niên cũng chào thua đàn anh Ươi. Nghe đâu nó còn trị được tiểu đường và thấp khớp. Nhưng nếu chỉ vậy thì không thể trả lời cho câu hỏi vì sao Ươi đắt như vàng. Đến mùa đầu nậu thu mua để xuất khẩu. Chả ai cần biết xuất để làm chi chỉ biết nó cao giá lời nhiều là em làm cái đã tính sau.
Nhưng mà đi lượm Ươi bay thì một ngày được mấy trái? Cơn ăn cơm dỡ vô rừng mà đi lượm thì ở nhà đi móc bọc ni lông còn có ăn hơn. Quý ông thợ rừng tra búa tra rìu vô cây hạ hết. Khổ cái là rừng đang được bảo vệ. Cụm rừng anh đang khai thác lồ ô tại sao cây ươi nầy bị đốn? Chỉ một cây bị ngã là anh bị tước giấy phép ngay tức khắc nghe chưa? Dạ nghe.
Lúc nầy mới thòi ra cái thông minh của thằng chủ soái Bảy Bền. Bảy không đốn mà trèo lên cây để hái. Mẹ ơi. Cây Ươi trái nhiều phải là cây trưởng thành cả hai vòng ôm người lớn và cao tầm hai mươi mét, ông cố nội ai leo cho được thưa quý anh? Ai không được chứ Bảy Bền thì pha. Bảy chả có võ nên nào biết Bích hổ du tường là cái ba láp ba xàm chi, Bảy cũng chả tin cái vụ nhún một phát bay lên như trong phim tàu. Tôn Ngộ Không cũng xạo luôn. Bảy trèo theo kiểu của Bảy và truyền nghề cho anh em thợ chả dấu diếm chi.
Bảy ra lò rèn đặt đánh bốn mươi cây đinh. Mỗi cây dài bốn mươi phân bằng thép lò xo phuộc nhún của xe Zeep lùn còn sót lại từ thời mồ ma ông cộng hoà. Không có loại thép nầy thì phải tạm sử dụng sắt rằn Pi 12. Thêm một cây búa ba ký mà cái cán cũng được hàn bằng thép trắng. Một sợi đai lưng dùng để trèo trụ điện cao thế là xong bộ đồ trèo cây. Cứ thế Bảy trèo. Cứ lên cao năm tấc nện một cây đinh lút vô hai mươi phân, bốn mươi cây là hai mươi mét. Lên đỉnh rồi tha hồ ta hái. Lưng lửng bao là thả xuống bằng một sợi tời vẫn đeo sau lưng khi chinh phục đỉnh cao. Cái vụ trèo nầy phải gan góc cỡ Phàn Khoái thời Hán Sở tranh hùng bên tàu. Lên cao là gió ngàn lồng lộng thổi. Những ai từng trèo dừa để làm cỏ chắc biết gió ra sao khi trên cao. Nhưng trên một ngọn dừa kẻ trèo không có cảm giác ngợp bởi bên dưới là nhà và vợ con đang à ơi hát bài quê hương. Cái ngợp của màu xanh đại ngàn cực bí hiểm. Ta có cảm giác như đang một mình trên biển xanh bao la với một mảnh thuyền con. Cái ngợp ấy là niềm cô đơn của một sinh linh bé mọn trước hùng vĩ của cao thâm.
Dân sống bằng rừng tất nhiên gan dạ có thừa. Đối phó với sốt rét rừng hay hùm beo lợn rừng thậm chí cả ông Bồ cũng không sợ. Con nít mới lớn cũng coi pha. Một thợ rừng thật sự phải dám trèo lên đỉnh cao khi đi Ươi. Mỗi tốp đi Ươi thường bốn nhân mạng, hai trong bốn dám trèo là bảnh lắm, thông thường mỗi tốp chỉ một đại ca. Những đại ca nầy mệt một tí khi khi trèo và hái trái, bù lại khi gùi sản phầm về xuôi đại ca có quyền đi tay không. Về xuôi để bán không dễ đâu thưa quí anh hào. Ươi cao giá nên lắm thằng trời ơi hạ cây lấy trái, kiểu thu một lần là tận tuyệt. Vì vậy bảo vệ và kiểm lâm bắt rạt gáo bất kể anh trèo hay hạ. Thợ phải cắt rừng xuyên sơn không để hàng làm ra bị lấy lại. Lắm khi phải băng sơn cả ngày mới đến nơi.
Vậy nên Bảy Bền kết nghĩa đệ huynh với một thợ rừng cũng gan góc không thua. Hắn tên Minh Tàn. Tay này một vợ và ba con. Lâm tặc loại chiến. Minh Tàn từng ở tù vị tội trộm gỗ quý trong rừng Cấm. Tù xong hắn nép mình dưới trướng đại gia Sáu làm lồ ô nuôi vợ con. Mùa Ươi có Tàn, Bảy Bền khoẻ re vụ trèo cây. Tàn tuy nhỏ con nhưng khoẻ như con bò, vài chục ký trên vai hắn bước cả cây số mà hơi thở không nặng. Một cục niền năm mươi ký hắn nhấc lên xe bằng hai tay như Trụ Vương bê nàng Tô Đát Kỷ trong phim Phong Thần. Chỉ mùa Ươi mới kéo Tàn và vợ con hắn ra khỏi khổ luỵ của cơm áo gạo tiền. Cho hay nghèo mà ham vui nên khổ thì ráng chịu con ơi. May cho Tàn là biết sống biết chơi nên Bảy lâu lâu cứu trợ bạn hiền vài đồng cho qua thì mưa gió. Không có Bảy e rằng vợ Tàn qua không khỏi cái đận bị hư thai đứa thứ tư. Mẹ cha ơi đêm hôm khuya khoắt mà vợ hắn than đau bụng. Bảy phải đích thân đánh Zin 130 qua mặt đại gia Sáu đưa vợ bạn lên bệnh viện Huyện. Bạn bè vậy chớ sao nữa bây giờ hả ba quân? Tốt quá thì thôi.
Nhưng có một chuyện mà Minh Tàn nhớ ơn Bảy suốt đời không thể nào quên. Ơn nặng bằng sinh thành chứ không ít. Số là mùa Ươi năm ấy Tàn bị một tai nạn hi hữu tưởng chết. Sống được thì quả là mạng lớn tầm thái sơn. Tàn trèo lên đỉnh một cây ươi hái trái sao đó không biết mà hắn bị sẩy tay rơi xuống, may thay một cánh tay của thân Ươi giữ Tàn lại bởi xóc vô áo. Áo thợ rừng bằng nilon tốt nên Tàn ta tòng teng. Nó mà toác một phát thì Tàn du địa phủ. Dưới gốc cả bọn toát mồ hôi khi nhìn Bảy Bền bò ra cành cây cứu thằng bạn. May quá cây Ươi ngó vậy mà dai. Ơn cứu mạng nầy đã khiến Tàn và thợ rừng làm mây tre cho chủ Sáu kính trọng Bảy lắm.
Nói chung về gan dạ và tinh thông rừng Bảy Bền là số một. Sống với bè bạn có tình có nghĩa cúng hết ý luôn.
Nhưng như vậy đâu đã hết cái ngon lành của Bảy với rừng. Ba cái cây ăn trái và mây tre lá chỉ là chuyện vặt, dù cái vặt nầy là sự sống của vô thiên vô lũng dân dưới đáy cuộc đời. Cái làm nên tên nên tuổi Bảy Bền là một nghiệp khác, nghiệp nầy có làm vẫn đục đi tí chút tình thân của Bảy và Minh Tàn. Tàn cho rằng trên đời nầy không có chi độc ác hơn là phá nhà cướp của nhà người. Ủa… chớ nghiệp chi mà nghe rỡn ốc vậy kìa? Xin thưa đó là nghiệp ăn Ong. Đúng rồi. Đi lấy mật ong đồng nghĩa với phá nhà cướp của chớ còn chi nữa. Nhưng nói vậy liệu có cực đoan không? Té ra câu vật phải dưỡng nhơn là sai à? Vậy thì lấy mật đâu mà… rơ lưỡi cho trẻ mới sinh?
– Nói thiệt với mày – Bảy Bền nói với Minh Tàn – Bọn nhà giàu ăn Tay Gấu, Óc khỉ, Hà nàm(1) cheo chồn nhím thỏ heo rừng có sao đâu? Nói như mày thì hạ một cái cây cũng ác vậy. Ác ác ác cái con khỉ. Tao thấy mấy thằng quyền chức khen cái rượu ngâm ong non quá chừng luôn. Nhất là Vò vẻ hay ong Lỗ.
– Mày chỉ biết cái trước mắt mà không biết cái nguy hại về sau. Con ong cái kiến hay bất cứ một sinh linh nào có sự sống là có quyền tồn tại như tao và mày. Một cái cây cũng có linh hồn của nó. Trong Truyện Kiều ông Nguyễn Du viết rằng: Cũng là phận cải trôn kim. Nghĩ là một hạt cải, một cái trôn kim bị sứt cũng có số phận của nó…
– Dẹp mày đi. Tao mới lớp ba chả biết ông Du cô Kiều nào hết. Tao làm gì kệ mẹ tao, rủ mày đi kiếm tiền không đi thì thôi đừng có dạy khôn tao.
Nói vậy chứ ăn ong đâu phải ai cũng làm được. Không có nghề ong nó đốt cho mất xác chứ chơi sao? Ong ở rừng miền Đông đâu phải như ở miệt U Minh trong Đất rừng phương nam của ông Đoàn Giỏi. Đâu đơn giản đến mùa là vào rừng canh hướng gió đặt kèo chờ ngày lấy mật. Ong mật miền Đông đóng tổ trên cổ thụ cao cả mười lăm mét là thấp. Có tổ to bằng tấm chiếu đơn, chỉ cần xin một nữa là có cả vài mươi lít tinh tuý của rừng. Phải có bí quyết mới dám đụng vô nơi ở của chúa rừng. Xưa nay ai cũng nhầm ông ba mươi là chúa sơn lâm. Xin thưa chúa của rừng xanh phải là Ong mới chính xác. Có những tổ ong đóng trên cao cả Gấu chúa cũng chờn không dám to toe. Chưa leo đến đã bị đánh cho tối mặt còn đâu nữa mà ăn? Riêng cái khoản ong Lỗ thì chúa sơn lâm phải cong đuôi chạy dài. Thậm chí chạy mà vẫn bị đuổi theo đánh cho kỳ chết mới thôi. Thiên hạ nghe đến ong Vò vẻ là đã chờn, Vò vẻ mà so với ong Lỗ thì chẳng ra chi. Đã có người bị ong Lỗ đánh đến thối thịt.
Có dữ đến mấy vào tay của Bảy Bền là xếp giáo quy hàng. Hôm đó một thợ rừng đang vác lồ ô vào đống thì bị ong Lỗ tấn công. Ba chân bốn cẳng anh ta chạy về chòi. Nghe kể, Bảy Bền liền khoác túi dết rồi thân chinh đến nơi. Chỉ một mồi lửa và một cái chi đó trong túi dết được đốt lên mà Bảy Bền dám bật nắp một tổ ong Lỗ mà vĩ chứa ong non có đường kính những năm mươi phân. Cả chục vĩ như vậy. Bảy Bền khẳng định rằng trong tất cả các loại con non các loài thì ong Lỗ và Vò vẻ là tốt nhất. Hà nàm của thú bốn chân cũng không qua. Con ong non ngâm rượu là một loại phục hồi khí lực của đàn ông tốt nhất trần đời. Cả sâm nhung quy thục bên tàu cũng không dám bì với ong non. Nhìn tổ ong Lỗ bị diệt Minh Tàn lắc đầu:
– Tổ ong nầy đâu có ghẹo mày mà mày giết nó vậy?
– Thằng Dũng Giỏi suýt bị giết mày biết không?
– Đụng đến thì nó cảnh giác vậy thôi, nó đuổi chứ có đánh đâu, nếu nó đánh thằng Dũng chạy lên trời cũng không thoát. Mày coi chừng bị trả quả cho coi.
– Nhân với chả quả. Mày yên cho tao nhờ cái coi.
Dữ như ong Lỗ mà Bảy Bền còn trị cái một thì ong Mật là nguồn thu tuyệt vời nhất mà Bảy có. Thời nào cũng vậy gian trá luôn đi kèm. Thấy một thằng chở mật trong rừng ra, mật còn nằm trong vĩ sáp hẳn hoi mà vẫn cứ là nước đường. Chỉ mật của Bảy là tuyệt đối không pha. Và nguyên chất luôn có giá của nó. Đại gia nào muốn có mật tốt cứ gặp Bảy. Ai mua mật muốn biết thiệt chơn cứ đưa cho Bảy. Ba cái vụ thử lá hành không đáng tin bằng cái lưỡi của chính chúng ta. Mật ong là tinh tuý của hương hoa đương nhiên nó phải nhẹ hơn mật của đường. Một chai mật ong bọn gian trá luôn cho mật thiệt nằm trên. Muốn thử ta rót ra chén. Mật ra trước trong lưỡi ta có vị khác mật giữa chai. Chả một thằng bán mật gian manh nào qua được Bảy.
Thiên hạ rừng X gọi Bảy là chúa không ngoa tí nào hết.
Và chúa chết vô cùng thảm khốc.
***
Ngày nay hầu hết dân X vẫn còn kể cho nhau và con cháu nghe về cái chết của Bảy Bền. Quả ông bà dạy sinh nghề tử nghiệp không ngoa tí nào hết. Ăn ong lên đến hàng sư như Bảy mà vẫn không thoát sự truy sát của thần rừng. Ai từng mục kích và tham gia chôn cất Bảy Bền đảm bảo tin rằng rừng có thần.
Mùa Ươi tàn. Dân mây tre trở lại nghiệp chính, tuy vậy vẫn còn một số kiếm cú chót trước khi mùa mưa đến. Những năm tháng ấy rừng còn nhiều nên thời tiết rất ổn định. Giữa tháng ba âm lịch dân nương rẫy đã xuống giống đón mưa, và chắc ăn là chỉ ba ngày sau khi xuống là cây mưa đầu mùa đến tức khắc.
Hôm ấy thằng Đen chạy về hào hển nói vOi Bảy Bền:
– Chú Bảy ơi… tui đi mót Ươi gặp một tổ ong Thế to lắm.
– Ở đâu?
– Nó đóng tổ trên một cây Ươi ở đồi Tượng.
– To cỡ nào?
– Bằng cả tấm chiếu chú ơi. Tui đang lượm nghe ù ù trên đầu, sợ quá chạy về báo cho chú hay
– Mày dẫn tao đi lại chỗ đó coi.
Ngay chiều hôm ấy Bảy Bền theo xe về xuôi. Hôm sau có mặt tại hiện trường thêm thằng em vợ tên Bằng và một đệ tử tên Hoà. Thường thì khi lấy Ươi có thêm Minh Tàn là đủ bộ tứ. Nhưng gì chứ ăn ong thì không có tên Minh. Theo Bảy Bền thì chẳng qua Tàn ta sợ ong đánh nên lên giọng chứ đạo đức cái con mẹ gì thằng tù đó:
– Mẹ nó – Bảy Bền nói – nó tù thì chớ còn từng làm trong lò mổ heo. Trâu mà nó con lột da sống bằng lưỡi câu nữa kìa.
Nói xong ba thày trò lên đường, Đen theo luôn cho đủ bộ:
– Mày cứ ngồi yên dưới gốc coi tụi tao làm, về tao cho mày năm lít. Được chưa?
Trước khi nện đinh thép vào thân cây Bảy Bền đốt sáu cây nhang đại. Nhang đại dài tám mươi phân to bằng ngón tay cái. Bảy dắt vô dây lưng ba cây, ba cây còn lại giao cho ba đệ tử. Trước đó bầy ong nghe động đã thả rơi tự do từng tảng ong xuống đầu bộ tứ rồi bay lên nghe ù ù như tiếng máy bay. Vậy mà không biết trong mấy cây nhang Bảy pha chế cái chi mà bầy ong không dám lao xuống. Chúng chỉ bay đen ngòm và đặc sệt bên ngoài ù ù ù ù nghe vô cùng kinh rợn. Không kinh nghiệm lão luyện là đứng tim chết tại trận. Thăng Đen lần đầu nên mặt tái như chàm đổ. Không có cái tỉnh khô của Hoà và Bằng là nó bỏ của chaỵ lấy người.
Cứ thế Bảy nện đinh đến đâu lần lên đến đó bằng đai lưng trèo trụ điện. Bầy ong tuốt trên cao ù ù hâm doạ chả làm Bảy động tâm. Đóng đến cây đinh thứ ba mươi, nghĩa là độ cao áng chừng mươi lăm mét thì sự cố đến.
– Trợt chân chăng?
– Không.
– Dây thắt lưng bị đứt?
– Không. Dây cáp dù bẹ ba xịn đứt sao được.
– Vậy thì cái gì?
– Trời hại.
Đúng lúc đó mây đen kéo đến và cây mưa đầu mùa của rừng Miền Đông nhanh chóng tràn qua. Trời hại hay thần rừng lấy mạng thì cũng như nhau. Mưa đủ để tắt sạch mấy cây nhang đại – cái mà – dùng để cho tất cả các loại ong hãi sợ hoàn toàn mất tác dụng. Về sau mấy thằng chuyên ăn ong kể rằng, thông thường khi mưa đến ong sẽ lui về để bảo vệ tổ và ong chúa. Nếu vậy thì Bảy Bền đủ thời gian để tuột xuống và chạy. Nhưng không hiểu sao bầy ong ào vào Bảy và tấn công. Hàng tỷ con ong Thế. Loài ong mật dữ như gấu ngựa, con nào con nấy to bằng ngón tay út tha hồ đánh kẻ đang phá nhà mình. Ba thằng dưới gốc hãi quá ba chân bốn cẳng tuôn theo đường mòn chạy về chòi.
Sau cây mưa toàn thể thợ rừng ngồi ở chòi nghe báo cáo sự thể. Không một thằng nào dám lên hiện trường xem Bảy sống chết ra sao. Mẹ ơi có nghề có cả đồ nghề còn chết nói chi tay không. Tài xề chở lồ ồ về xưởng báo ngay cho đại gia Sáu. Sáu báo lên chỉ huy lâm trường. Ngày hôm sau các quan rừng và vợ cùng hai đứa con của Bảy có mặt. Cũng chả ai dám thâm nhập hiện trường. Lúc đó đại gia Sáu mới nhớ đến Minh Tàn.
Minh Tàn đang chăm bà xã hắn ở bệnh viện. Đại gia Sáu phải nhờ môt hộ lý chăm lo người bệnh rồi đưa Tàn lên rừng bằng Min khơ 125 phân khối. Minh đến ngay hiện trường không một chút sợ hãi. Về sau hắn nói với anh em rằng sau hai ngày một đêm cái xác đã lạnh giá. Ong là loài thanh khiết và tinh khôn. Bằng chứng là nó chỉ giết kẻ phá mình chứ tha cho ba thằng ăn theo. Chúng mà cố tình thì cu Đen, Hoà và Bằng lên trời cũng không thoát. Xác chết đã nặng mùi tử khí nên đàn ong phải ra đi.
Đưa cái xác của Bảy xuống là một kỳ công của Minh Tàn.
Và rất ngoạn mục.
Những sợi dây trên những chiếc Zin 130 dùng để cảo cứng lồ ô trước khi rời rừng được tập trung. Tàn nối một sợi dài thăm thẳm rồi theo nhưng ngọn đinh trên cây ươi cứ thế leo lên. Tất nhiên là cũng đai lưng tử tế. Đến bên Bảy Bền, Minh Tàn cột một đầu dây vào lưng anh ta. Lấy cái túi dết đựng đinh và cây búa. Minh tiếp tục nện đinh vô thân cây lên đến cái nhánh mà cái tàng ong trắng như hoa bưởi đang tại vị. Nó to bằng tấm chiếu là có thật. Minh cột sợi dây vào nhánh cây rồi lại bò xuống chỗ xác chết. Hắn ta rút trong túi dết ra một lưỡi dao, thọc mũi nhọn vào cái đai lưng của Bảy Bền. Đai lưng đứt và Bảy Bền tòng teng bởi sợi dây được cột chặt bên trên.
Thật khủng khiếp.
Một người chết đang lơ lửng trên không.
Minh Tàn lại trèo lên nhánh cây. Tháo sợi dây đưa xác chết từ từ xuống đất và Bảy Bền lên xe Jin về nhà để ra nghĩa địa.
Nguyễn Trí

như cánh hồng phai

npphan

theo chân bước, tiếng ve sầu rộn rã
trên nẻo về, trên cả những mùa xanh
cho tôi xin hoa phượng nở đầy cành
cho trên tay ngày tháng buồn đi dạo

em nhớ thắp mùa trăng ngời trên áo
bàn chân vui có thoáng chút ngập ngừng?
con sóc nào mang trọn gánh yêu thương
chút ngơ ngẩn của bao mùa xa cách?

em hãy sắp ngăn sầu trong cặp sách
ủ tình vùi trong một sớm mưa mau
tôi gửi theo về chút nắng xôn xao
lời từ giã bằng ngôn từ rất thật

xin cứ mộng lên trang đầu thứ nhất
ươm ý hương trinh nét ngọc dâng đời
đôi mùa tình xa như cánh hồng phai
trường lớp cũ ngủ vùi trong kỷ niệm

NP phan

Bài Thơ Mười Năm

.phamnguyen

Từ ngực thanh xuân
Ngày đang hối hả
Anh giấu đời mình
Vào em rất lạ

Mai này nắng lóa
Nhiệm mầu trên vai
Nghe chật bàn tay
Nỗi buồn trú ẩn

Em là cơn giận
Tạt vào hồn anh
Anh là mỏng manh
Giữa ngày đổ vỡ

Tình yêu vạt gió
Nhốt hoài vẫn bay
Bàn chân đường dài
Có người đứng lại

Ngày chẳng còn ai
Con đường nỗi nhớ
Chiếc bàn trăn trở
Vết trầy tháng năm

Em vẫn mười năm
Nụ cười lãng mạn
Từ một ngày câm
Anh về khép nép

Em như sông hẹp
Trôi qua biển buồn
Anh như đời chim
Ngủ vùi bên cỏ

Mười năm nhìn rõ
Đoạn đường mênh mông
Tình có như không
Bóng mình dọi xuống

Em ơi hãy uống
Những ngày hân hoan
Hãy để thời gian
Lau giùm ngấn lệ

Mình về sông trẻ
Tắm đời cho nhau
Đàng sau nỗi đau
Môi cười hạnh phúc

Phạm Ngũ Yên

DIỄN VĂN CỦA ÔNG OBAMA: MỘT BÀI CA HAY NHƯNG LỖI NHỊP

phamtinanninh

Dư âm chuyến viếng thăm Việt Nam của Tổng Thống Obama, được báo chí gọi là “cơn sốt Obama”, mãi đến hôm nay vẫn còn âm ỉ trong lòng người dân Việt nam và cả những đảng viên Cộng sản. Với bài diễn văn lôi cuốn đọc trước hai ngàn người tại Hà Nội, và hầu hết dân chúng Việt nam được nghe trên đài truyền hình, ông không chỉ được ái mộ như một nhà chính trị đa tài, mà còn là một nhà văn hóa lỗi lạc, làm rung động lòng người. Chuyện ăn bún chả ở một cái quán bình dân, cũng như chuyện dừng xe ở làng quê dưới cơn mưa, nói chuyện và bá vai chụp ảnh với mấy người dân lao động, mặc dù ai cũng nhận ra đó là những màn kịch, nhưng ông thực sự đã khuấy động được trái tim của hầu hết mọi người. Khi vào Sài gòn, qua cuộc tiếp xúc với những người trẻ, ông càng chứng tỏ sự hoạt bát, đa tài, bình dị và thân thiện. Rời khỏi Việt Nam, ông đã để lại cho người dân Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ hình ảnh của một người lãnh đạo lý tưởng, đáng yêu, đáng kính nhất. Từ ánh mắt, nụ cười, cái bắt tay, lời nói, nhất cử nhất động của ông dường như đều có chủ đích. Và ông đã thành công mỹ mãn.

Ông đến như một đợt sóng bất ngờ xua đi những bãi bờ hoang tàn, nhớp nhơ, cũ kỹ, như điệu nhạc huyền hoặc làm tan đi cái không khí nặng nề, u ám. Người ta đã mê ông, đã mê Mỹ như là biểu tượng của Tư Bản, của Tư Do Dân Chủ. Điều đặc biệt hơn là từ đây trong lòng người dân Việt Nam in đậm hình ảnh một nhà lãnh đạo thần tượng mà họ đã khao khát hơn 41 năm qua, từ khi chế độ Cộng Sản man rợ bao trùm trên cả nước.
Những kẻ lãnh đạo mà người dân đã bị áp đặt, không có quyền được chọn lựa, hầu hết là những người bất tài, thiếu đức, độc tài, hống hách, tham nhũng và bán nước. Họ xem những lãnh tụ bây giờ là đám tham quan tồi tệ nhất trong lịch sử dân tộc. Một đám sâu dân mọt nước.
Chỉ một ngày, sau khi Ông Obama rời khỏi Việt nam, một hình ảnh tương phản rất quái đản đã được phổ biến khắp nơi, trên mạng, facebook, cũng như trên một số báo chí trong nước. Một ông quan CS (cỡ nhỏ) từ trên xe “con” bước xuống lúc đường ngập nước, được hai đồng chí đàn em mang hai chiêc ghế đến để ông bước lên, sau đó ông quan bá cổ một tên đàn em khác để được cõng vào lề đường. Người dân vừa có một so sánh lý thú, làm đám cán bộ càng thêm nóng mặt!
Nhiều người Việt hải ngoại cũng hết lời ca ngợi ông Obama, đánh giá rất cao sự thể hiện và tác động của ông đối với mọi tầng lớp dân chúng Việt Nam, trên nhiều lãnh vực: tư do, nhân quyền, biển Đông, và đặc biệt là phong cách lãnh đạo. Một số cho là chưa có nhân vật nào làm cho người dân Việt Nam mê Mỹ, thần tượng Mỹ như là TT Obama đã làm. (Mà mê Mỹ đồng nghĩa với mê Tự Do, Dân Chủ). Ông Obama đã “khuấy động” được trái tim của hầu hết người dân Việt Nam, kể cả những người CS. Đó là cuộc “diễn biến hòa binh” tiềm ẩn nhưng thành công nhất của một vị TT Hoa Kỳ. Một cơ hội bất ngờ để người dân trong nước bỏ phiếu giữa Tự Do và Cộng Sản. Cũng có người bất bình, trách ông sao không đề cập đến chuyện cá chết, chuyện các nhà đấu tranh bị giam giữ, tù đày, chuyện trấn áp, đánh đập những người biểu tình ôn hòa. Nhưng cũng có người thông cảm cho vai trò “quốc khách” của ông, và nghĩ rằng chuyện dỡ bỏ lệnh cấm vận vũ khí sát thương, hay Hiệp ĐịnhTPP, có thể đều kèm theo những ràng buộc nào đó và có những cái giá phải trả. Đã chính trị là phải thủ đoạn, khó mà lường trước được kết quả hay hậu quả của người nhận. Cũng có thể đã có những phản đối, đòi hỏi, trao đổi đặc biệt khác, nhưng không được công khai vì sự tế nhị của ngoại giao. Hơn nữa là một Tổng Tống Mỹ, ông chỉ làm điều gì có lợi cho chính nước Mỹ. Như trong bài diễn văn, ông đã khẳng định là “đất nước của các bạn nằm trong tay của các bạn, do chính các bạn định đoạt!” …
Riêng cá nhân tôi, khi theo dõi bài diễn văn được mọi người ca ngợi, tôi cũng ít nhiều cảm kích, cũng thầm ngợi khen cả bài diễn văn (tất nhiên không phải do ông viết) lẫn cách thể hiện của ông. Tôi thích thú khi nghe ông nói, sỡ dĩ có cuộc chiến đẫm máu trước kia là do nỗi sợ Cộng sản, và ông bùi ngùi chia sẻ những hy sinh mất mát cho cả hai bên Mỹ- Việt.
Nhưng với tôi, bài diễn văn ấy vẫn chưa đủ, chưa làm cho cá nhân tôi thấy hấp dẫn và cảm phục. Tôi nhận ra một lỗ hổng, một món nợ khác mà người Mỹ, chính phủ Mỹ còn nợ dân chúng miền Nam Việt Nam trong vai trò một đồng minh, mà nhiều vị Tổng Thống Mỹ, đại diện, đã từng long trọng cam kết sẽ bảo vệ, ngay cả khi buộc Nam Việt Nam ký vào Hiệp Định Paris ngày 29.1.1973. Một bàn hiệp định bất công, tồi tệ mà Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã cực lực phản đối!
Là người Việt Nam, tôi luôn hiểu là đất nước tôi do người Việt nam chúng tôi quyết định. Việc để mất miển Nam là do trách nhiệm của người miền Nam, đặc biệt là của chính phủ và quân đội Nam Việt Nam. Nhưng rõ ràng chính phủ Mỹ đã phản bội lời hứa, đã đồng lõa với kẻ thù để đẩy Nam Việt Nam vào bước đường cùng. Chính ông Graham Martin, vị đại sứ Mỹ cuối cùng tại Sài gòn đã công nhận và nói trước Lưỡng Viện Quốc Hội Mỹ là “chúng ta đã có lỗi với họ, đã phản bội họ. Phản bội Nam Việt Nam là vết ô nhục lớn nhất của lịch sử Hoa Kỳ.” Sau này, rất nhiều vị tướng lãnh, chính khách và nhà sử học Mỹ cũng nói lên những điều tương tự.
Hôm nay, Mỹ đã làm bạn với Việt Nam CS, Quốc Hội và Chính Phủ Mỹ đã dỡ bỏ rào cản cuối cùng để bắt tay với kẻ cựu thù, trở thành “đối tác toàn diện”, hay “đối tác chiến lược”. Trong bài diễn văn được ca ngợi là một tuyệt tác”văn hóa”, ông Obama kêu gọi “hãy quên quá khứ để hướng tới tương lai” khi trích dẫn cả lời trong bài hát của Nhạc sĩ Văn Cao, tác giả bài quốc ca CS, “ từ đây người biết thương người, từ đây người biết yêu người” (mặc dù người nhạc sĩ này đã bị chính những đồng chí của ông cầm tù, hành hạ suốt gần cả một đời), và cả bài ca Nối Vòng Tay Lớn, mà chính tác giả phản chiến (và phản bội) Trịnh Công Sơn đã hát trên đài phát thanh Sài Gòn vào trưa ngày 30.4.75, khi CS vừa cưỡng chiếm miền Nam.
Khi ông Obama được chính quyền CS đón tiếp trọng thị, được dân chúng Việt nam ngợi ca như một thần tượng của Hòa Giải, của Tự Do, thì hơn 10.000 nấm mồ của những tử sĩ miền Nam VN vẫn bị hoang phế, phá hủy, trong Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa ( đã bị thay tên), và hàng vạn thương phế binh VNCH đang sống khốn cùng ở trên chính quê hương mình. Cả tử sĩ và những người lính miền Nam tàn phế già nua ấy vẫn đang bị kẻ chiến thắng tìm mọi cách hành hạ, sĩ nhục. Và biết bao người dân miền Nam xưa giờ vẫn khốn khổ trên quê nhà. Họ đã mất gần như tất cả, nhà cửa, tiền bạc và cả tương lai con cháu bởi sự phân biệt đối xử. Ai sẽ chìa những bàn tay ra với họ, ai sẽ nói với họ “từ đây người biết yêu người?”
Cám ơn ông Obama đã thức tỉnh được đồng bào Việt Nam tôi trong nước, đã thổi vào trái tim họ một luồng sinh khí mới của Tự Do, nhưng ông vẫn còn nợ người dân miền Nam một lời xin lỗi. Và bài diễn văn của ông, được nhiều người ngợi ca, với tôi, tiếc thay đó là một bài ca hay nhưng lỗi nhịp!

Phạm Tín An Ninh
(30.5.2016)

CHÌM LÁ BUỒN ĐAU

truongdinhphuong

CHÌM

Một mình về giữa đêm côi
Phố không là biển
Hồn tôi bỗng chìm…

LÁ BUỒN

Tôi về tỉa tót hồn tôi
Hình như bớt được một đôi lá buồn!

ĐAU

Phố đau như một buổi nào
Người đi
Trút lại mưa rào
Riêng tôi…

TRƯƠNG ĐÌNH PHƯỢNG