HUẾ

nguyenducbatngan

Sống lang bạt nhưng lòng anh vẫn Huế
Dù hiên nhà tàn lạnh hạt sương con
Sao úa rụng quanh em cười với Huế
Như mây vờn bên yểu điệu chân son

Con mắt ướt cụm bèo trưa trôi dạt
Thuyền lên khơi ai ngóng đợi thuyền về
Quá hoang phế mưa thành xưa nặng hạt
Nghẹn tiếng hò trong đêm vắng ai nghe

Em cam phận giữa ngục tù thiếu nữ
Tận phương trời anh chỉ áng mây hoang
Uống ngụm nước đã hao mòn cuộc lữ
Núi sông này xin gửi lại em mang.

Nguyễn Đức Bạt Ngàn

trăng rơi cuối bãi

10735644_826194720769236_378143114_n (1)

ta có đêm trong mỗi sáng
xoè tay nghe nguyệt là trăng
gió bay tóc bay bờm ngựa
thuyền trôi cuối bãi sông hằng

rồi có bóng ta múa kiếm
ngồi hát quanh những cụm tre
tai nghe tiếng cười em gọi
mà mơ tiếng ngựa chân về

lúc nhìn tóc em thắt bím
vẽ lên cát nhịp thời gian
tóc mai sợi dài sợi ngắn
bay bay từng sợi mênh mang

đời có lần này ta tới
gập em vì hẹn kiếp xưa
em có đến vì đã nói
chưa xong lời đã thốt thưa

có cũng vì không hay chẳng ?
sông trôi ồ nhánh sông trôi
lúc mở bàn tay . gió núi .
lá rơi tới tận nơi ngồi…

Ngô Yên Thái

Về đâu người hỡi

nguyentri

Vợ chồng Tư Nhạn và con cái sống nhờ vào nghề bán vé số. Bốn người ngày bán sạch bốn trăm tờ. Lời ngày bốn trăm ngàn. Tháng ra mười hai triệu. Đó là tính gọn chưa kể khách mua, trúng nhỏ không nói làm chi chứ lớn lớn họ cũng cho tí đỉnh. Ngoài ra vợ chồng Tư Nhạn còn ghi thêm đề đóm kiếm thêm ngày trăm ngàn hoa hồng nên cũng tậu được cái nhà và cái xe. Phải kể thêm cái sự vụ liều mạng của Nhạn nữa mới là thuyết phục cái vụ nhà và xe. Đó là ôm. Hể vé ế là Nhạn ôm. Trước, cứ ba giờ mà còn là lo tuôn ra đại lý trả lại. Hôm đó Nhạn lừng khừng bên mâm rượu nên ôm hết năm chục tờ. May thay chiều đó mười tờ vô lô bốn con. Kiếm mớ kha khá nên từ đó hể ế Nhạn ôm luôn.
Nhạn chỉ hơi thất thu một chút vào mùa đi học. Hai đứa con đến trường nên vé số phải lấy bớt lại. Tội nghiệp hai đứa nhỏ. Ở trường về ăn xong cơm là mỗi đứa lại nhận năm mươi tờ lo rong ruổi mà giải quyết. Bà Mười – má vợ Nhạn – nói với con gái rằng:
– Mày tham vừa vừa thôi. Hai đứa nhỏ vừa học vừa bán vé số thì ra cái ôn dịch gì?
– Thì tối cha nó kèm thêm rồi. Bà lo chuyện bà đi, lo nhà tui làm chi?
Nhạn nói:
– Bộ vé số không phải nghề hả? Tao ôm mà vô chục tờ độc đắc là thế gian nầy coi tao là ông cố nội liền. Yên tâm đi. Rồi sẽ có ngày đó.
Ông Mười nói với Tư Nhạn:
– Nói như mày là trật chìa. Tiền là tiền, học là học. Tiền không thay thế cho sự học được mày hiểu không? Học là để hiểu biết…
– Dẹp ông đi – có rượu nên Nhạn hổn hào – đi học rồi cuối cùng cũng dùng cái sự học để nuôi cái thân mình. Bán vé số cũng vậy thôi. Mà đâu có mắc gì tới ông?
Ái chà… Con rể mà ông ông tui tui với cha vợ nghe hổn dữ? Thực ra với bà Mười thì Nhạn là con rể ruột chứ với ông Mười thì ghẻ chóc thôi. Chả là bốn mươi sáu xuân tình bà Mười bước thêm bước nữa với cha con Dung – tức ông Mười – Hai bầy con của tân lang và tân giai nhân muộn nầy đắc co cái rụp cả hai tay và hai chân. Bà Mười xong bổn phận làm mẹ đơn thân nuôi bốn đứa con tạm gọi là xuất sắc. Hai đứa con gái lớn lấy chồng tương đối bảnh ở Sài- gòn. Chỉ con Tư là thúi hẻo khi lấy trúng thằng vé số chuyên nghiệp. Bà nội cha nó. Đẹp như nữ chính trong phim mà dính vô cầu bơ cầu bất trong khi biết bao thằng xin chết vì em? Bà Mười quyết không. Cái thứ đã vô nghề nghiệp mà còn hủ hèm là không có cửa. Kẹt cái Tư thương quá nên Tư cho. Nhạn cũng vậy. Anh thương nên cho lại cô cái bầu. Vậy là bà Mười đớ lưỡi.
Năm Lộc – con út bà Mười – hoàn thành xong nghĩa vụ được ba tháng là lấy vợ. Bà và hai con gái lớn lo cho cái đám cưới hành tráng lệ luôn. Bao nhiêu tiền thu được từ đám bà cho hết con trai. Làm mẹ vậy chớ sao nữa giờ? Vậy nên khi cha con Dung có tình ý với bà Mười là bầy con xúm vô khích lệ. Nói vậy chứ bốn mươi sáu thì xuân chán, và đàn ông năm mươi tuổi như ông Dung thì quá xá đẹp. Bầy con ông Dung đứa nào cũng vợ chồng nhà cửa riêng tư nên ông Dung một mình trong nhà đi ra đi vô cũng hiu quạnh lắm. Một hôm kia ông làm cái tiệc nho nhỏ mời bạn bè và bầy con đến thưa với bà vợ đã khuất cho đi bước nữa. Vậy là bà Mười về ở với ông. Chồng bà đã có con trai hương khói. Thằng Dũng con trai lớn ông Dung cũng đem bàn thờ mẹ về thờ. Cặp sồn sồn ở với nhau đúng là một trời hạnh phúc. Cả hai được bầy con viện trợ từ a đến â. Không nhiều nhưng gì chứ sống thì tốt chán.
Khoản góp sách cho cha mẹ già vợ chồng Tư Nhạn được miễn. Ai mà lại đang tâm để kẻ mà cái nhà chỉ hơn cái chòi một xíu? Còn cái xe? Mô phật! Sườn 67 do chợ lớn sản xuất, máy của tàu ba trợn. Trong khi thiên hạ đã lên cúp kiếc bảnh bao thì Tư Nhạn bố láo:
– Xe tụi mày còn bị giao thông thổi chứ tao thì cho nó cũng không thèm. Mà lỡ có tuýt còi tao cũng quăng luôn không phạt phiếc gì hết.
Mà thiệt vậy. Đã đôi lần giao thông chỉ gậy tấp vô lề nhưng phải cho đi vì đem về mắc công làm bẩn nơi tạm giữ xe. Hai đứa con của cặp đôi này được bà ngoại thương lắm. Ông ngoại tuy không máu mủ chi cũng cám. Vậy nên hai ông bà chưa già mấy lâu lâu cho cháu vài đồng, có ế vé số bà cũng mua giúp luôn. Hai bà dì trên phố lớn lâu lâu về thăm mẹ cũng giúp cho cô em thúi hẻo vài tờ có mệnh giá lớn.
Hôm đó dì Hai của hai thằng cu, thằng lớn lớp ba tên Hải thằng em lớp hai tên Hà. Hai thằng ôm hết mười bốn tờ vé số. Ôm thì cha chúng chỉ la la chút thôi chứ không tội lệ gì, nhưng mà ôm rồi xé nó đau lòng lắm. Một buổi bán năm chục vé lời được mười xé bỏ bảy thì ở nhà quách cho xong. Ôm để chờ trời gọi như cha chúng ước hả? Còn khuya. Thấy vậy bà dì mới mua giúp hai đứa cháu gọi là tình thương mến thương. Lúc ấy bầy em của hai bên, bên bà Mười và bên ông Dung cũng có mặt để dùng bữa cơm thân mật. Bữa cơm nầy hai con cô gái lấy chồng thành phố bỏ tiền ra nên thịnh soạn lắm. Chị Hai mới nói với em rể Nhàn như vầy:
– Nè… mày giữ mười bốn tờ này dò dùm chị. Chiều mà xê ry bảy tờ vô bất kỳ lô nào là tao cho mỗi đứa một tờ. Còn bảy tờ kia nếu trúng thì chia nhau mà sống.
Cả bọn vỗ tay hoan hô chị Hai. Ai cũng nghĩ ba cái vé số sáng mua chiều xé mơ gì giải lớn. Còn giải hai, ba con thì cho Tư Nhạn quách cho rồi.
Nhưng sự đời hoàn toàn không phải vậy.
***
Câu chuyện đến đây tạm dừng vì chủ quán hỏi người kể:
– Theo chú Ba thì Tư Nhàn có ém bảy tờ vé số đó của bà Hai không?
– Tất nhiên là có. Nếu không thằng Dũng bên ông Dung và thằng Lộc bên bà Mười không sửng cồ lên để ra cái hậu quả kẻ chết người bán thân bất toại và thằng Nhạn phải ngồi tù.
– Tui là tui nghĩ khác ông. Nếu Tư Nhạn ém bảy tờ vé số đó thì sao vợ con nó khổ vậy? Nếu có tiền trong tay con Tư đâu phải bước thêm bước nữa khi chồng mới ngồi tù có hai năm?
– Mày dỡ quá. Thằng Nhạn ém vé số chứ vợ nó có ém đâu. Sự cố xảy ra là công an thộp cổ nó đi liền. Con Tư biết thằng Nhạn dấu ở đâu cũng không dám lấy ra để lãnh giải. Hiểu không?
Chủ quán nhậu chưa kịp trả lời thì một trẻ trai khác có mặt:
– Chào chú Ba. Nhậu hả chú?
– Lai rai ba sợi cho vui chứ nhậu nhẹt gì mậy. Bữa nay mày đi làm về sớm vậy? Thích thì ngồi xuống làm vài ly cho vui.
– Dạ… không dám. Tuần này con làm ca đêm. Sáng nay về đến nhà là vùi đầu vô ngủ, tỉnh dậy nghe vợ con nói con trai chú mới về. Chớ thằng Lâm đâu rồi chú?
– Nó ở nhà mày ơi.
– Con mừng cho chú. Vậy là bữa nay chú lai rai cho đời bớt khổ phải không?
– Khổ hay sướng sao biết được mậy. Đời đến đâu hay đến đó. Mày ngồi đi… rót thêm chai nữa chủ quán. Nói mày nghe nè… thằng Lâm nói với tao là Tư Nhạn được chuyển về ở chung phòng với nó. Hai tháng chín tới đây chắc chắn thằng Nhạn được về.
– Thằng Nhạn bị hai chục năm lận mà chú Ba? – Chủ quán hỏi.
– Thì cải tạo tốt là giảm án. Nó cũng ở mười ba năm rồi chứ ít sao?
– Chú nói tiếp cái sự vụ Tư Nhàn đâm thằng Dũng và thằng Lâm đi. Con mới về xứ nầy nên không rành lắm. Con nghe nói mấy tờ vé đó chỉ giải nhất phải không chú?
– Vậy mới nói…
Già ba kể tiếp rằng. Một tiếng đồng hồ sau là bữa cơm thân mật tan sòng. Già Ba và ông Mười là chiến hữu nên ngồi lại lai rai thời sự quốc tế. Đang khề khà thì vợ chồng thằng Danh cùng xóm chạy lại nhà nói rằng trúng được một tờ giải nhất mua của thằng Hải con Tư Nhạn. Cái thời điểm ấy một tờ vé số chỉ hai ngàn đồng, lô độc đắc là năm chục triệu và giải nhất chỉ mười triệu mà thôi. Nhưng cách đây mười ba năm thì chục triệu là cả một gia tài chứ không phải chuyện chơi. Nghe vậy cả hai gia đình mới xúm lại mà mừng hết cỡ luôn. Bảy tờ bảy chục triệu. Hai ông bà già rổ rá cạp lại và sáu gia đình vậy là bảy phần ngọt xớt. Để coi, vàng năm trăm ngàn một chỉ mười triệu là hai cây. Chao ôi đời nó đẹp là đẹp. Già Ba ngồi nhìn gia đình bạn vui trong hạnh phúc mà tủi cho thân già hiu quạnh.
Thằng Dũng hỏi lại cho chắc trong khi chờ Nhạn đi lảnh tiền trúng đề ngoài thị trấn để giao cho tay em:
– Mà có thiệt là xê ry đó không chị Hai?
– Tao đâu có rành. Mua giúp vế ế cho hai thằng Hải và Hà rồi đưa cho cha nó dò giùm chớ tao đâu có coi thử số mấy.
– Phải xê ry có đuôi 18 không Hải?
– Đúng rồi cậu Dũng. Con ôm bảy tờ đó mà.
Vậy là quá xá đúng rồi. Chị Hai nói:
– Vậy thì cứ mỗi đứa một tờ. Tao hứa sao là làm y như vậy.
Năm Lộc bày bàn rượu cụng ly cái cốp với Dũng:
– Bà cha nó… có một tí cho đời bớt khổ.
– Tao kiếm cái xế chạy ôm. Cám ơn chị nghe chị Hai. Chị đúng là Quan Âm của tui à.
Mãi đến tám giờ tối tiếng 67 của Tư Nhạn về đến ngõ. Ngõ vắng xôn xao lên tức thì. Mấy cha mấy mẹ trúng đề đang chờ muốn hụt hơi để nhận cái một ăn bảy mươi của mình. Nhưng chục ngàn ăn bảy chục ngàn đâu có lớn bằng cái giải nhất chục triệu. Năm Lộc hỏi anh rể:
– Vô giải nhứt hả ông Nhạn?
Nhạn trả lời làm cả bọn đơ như cây cơ:
– Nhứt gì? Nhứt cư thì có.
Nói rồi Nhạn móc túi quần sau trình ra cọc vé số. Cả bọn chuyền tay nhau. Đúng là mười bốn tờ, trong đó bảy tờ nguyên xê ry đuôi 18 nhưng ba số còn lại chả có ăn nhập gì cái giải nhứt như thằng Danh đã trúng. Cả bọn đưa mắt nhìn Tư Nhạn. Đôi mắt nào cũng ánh lên sự nghi ngờ. Có ba sợi nên Năm Lộc cười khẩy:
– Đù má… ông đừng có qua mặt. Lừa ai chứ lừa người trong nhà ông ngó được sao?
– Trời ơi – tao thề xe cán đó Lộc ơi – tao cũng tưởng vô mánh lớn rồi. Ai ngờ bảy tờ đều bị lụi. Tao mà gian cho chết không toàn thây. Bao nhiêu vé chị Hai đưa tao để y nguyên trong túi đến bây giờ. Đừng nghi tao tội nghiệp.
Chính ông Mười cũng khẩy một cái cười:
– Mày đừng có mà gian vậy. Lụi lụi… lụi dao vô họng mày thì có.
Cả nhà ồn lên như chợ vỡ. Mấy người trúng lô đề cũng ê ê Tư Nhạn chuyện của mày kệ mẹ mày nhưng mà chung lẹ tao đi về. Thì từ từ tui chung liền đây – Tư Nhạn nói -. Nhưng sự việc diễn biến nhanh quá. Năm Lộc rời bàn nhậu. Với tay từng qua lính tráng nầy đừng có giỡn chơi nghe. Du côn xứ nầy anh ta trị là xếp re hết đó. Lộc xốc cổ áo Nhạn lên:
– Ông không giao mấy tờ vé số ra là tui cho ăn cù loi à.
Tư – vợ Nhạn – nhảy vào xô em trai ra. Chi không biết chứ em cô mà nóng lên thì cô nó còn cho bạt nói chi chồng. Lộc nắm cú đấm lại và – a lê hấp – một cú thôi sơn vô mặt Tư Nhạn cấp kỳ. Tất nhiên khi bị ăn đấm thì chả thằng nào không khùng lên mà văng tục. Dân vé số như Nhạn gì chứ chửi thề thì khỏi chê. Tư ta cho cả ông Mười ăn đủ thứ ăn. Vậy nên thằng Dũng mới nóng lên mà rằng:
– Mày mà chửi cha tao một tiếng nữa là tao đập mày luôn à.
– Mày ngon đập tao coi thử? Tao đù má mày đó, mày làm gì tao.
Vậy là Dũng nhào vô. Thôi thì ì ì xèo xèo, chả ai can chi được. Ngay cả tổ trưởng an ninh nhân dân chạy đến cũng khoanh tay chịu sầu. Bị Dũng và Lộc đánh đau quá nên Nhạn chạy ra nhà sau vớ được ngọn dao phay. Nhạn vừa chửi thề vừa tuyên bố:
– Đánh cái nữa tao lụi cho bây coi
Nhưng Lộc xưa nay chưa từng sợ ai. Mẹ cha nó… đã gian tham mà còn đâm với chém. Lộc tới và đưa cái bụng ra:
– Nè đâm đi. Không đâm tao cho mày chết bữa nay.
Nói vậy chứ ai dám đâm. Nhạn thỏng tay dao. Phải chi lúc đó Lộc đừng manh động quá thì đã không lớn chuyện. Có lẽ thấy thằng anh rể chỉ miệng hùm gan sứa nên Lộc được nước chăng? Lộc bước tới và phang thêm cú đấm. Lần này trúng vô cánh mũi nên máu đổ. Vậy là máu cuồng điên bất chợt trổi dậy Nhạn vung một dao vào bụng Lộc. Ngọn dao dài những bốn mươi phân từ bên dưới đâm lên. Lũng bụng đứt ruột chả nói làm chi. Trái tim cũng chẻ ra làm hai. Hồ sợ bệnh án của pháp y ghi vậy.
Dũng thấy vậy nhào vô, ý chừng giật lại lưỡi dao. Nhưng Nhạn lại tiếp dao nữa, cũng vào bụng. Cú đâm trực diện không đến độ chết người nhưng nó mạnh đến độ gãy cột sống.
Thật dữ dội. Thật bàng hoàng.
Kẻ chết. Người bán thân bất toại. Nhạn lảnh án hai mươi năm tù giam.
Bọn trúng đề đành chịu sầu khi Nhạn bị bắt. Còn bảy tờ vé số thì trúng hay lụi vợ Nhạn cũng không biết. Cô có dính gì vô chuyện tay trời này đâu? Nhưng em ruột cô chết. Cái tội nầy cô phải chịu sự ghẻ lạnh của cả nhà.
Chả ai ngó cô đã đành. Cả cháu ngoại bà Mười cũng lơ luôn.
***
Mười tháng sau vụ án mới được đem ra xét xử. Trong mười tháng ấy là một chuỗi những hệ luỵ đổ xuống cả hai nhà của bà Mười và Ông Dung. Cái nầy tiếp nối cái kia, thậm chí chồng lấn lên nhau theo một kiểu dữ dội thê lương nhất trần ai. Kẻ nào có máu phiêu lưu tưởng tương đến hết thế cũng không hình dung ra sự thể nó có thể xẩy ra như vậy. Ngay cả cái án hai mươi năm của Nhạn đem so với những điều đã xẩy ra trong mười tháng ấy cũng chả có chi gọi là bi.
Cặp uyên ương già ngay lập tức lui về ai lo phần nấy. Bà Mười vừa khóc con trai chết tức tửi vừa vỗ về cô con dâu lại phải à ơi ru thằng cháu nội mới tám tháng tuổi. Con vợ khóc chồng thảm không xiết kể. Thảm nhất là sau đám hai bà chị của kẻ vắn số cũng phải lui về nhà mà lo cho chồng và con của họ chứ ở mãi có mà nhà chồng chửi cho tắt bếp. Thôi thì người chết cũng đã yên mồ người thân phải cố mà vươn qua để sống. Con Hạnh vợ Năm Lộc đâu có ngồi đó mà khóc mãi được. Lấy cái gì ăn mà khóc? Bao nhiêu tiền tha nhân đi đám đâu có đủ để trang trãi. Cô gửi cháu cho bà nội, phải dứt sữa khi thằng cu mới chín tháng tuổi. Chồng chết mới một tháng phải ra đời kiếm cơm. Tội quá thì thôi.
Vậy cũng còn thở được so với ông Mười. Ba tháng sau thằng Dũng được cha và vợ đưa về nhà. Xe cấp cứu của bênh viện rề đến tận hẻm và hai nhân viên y tế đưa Dũng vào nhà bằng băng-ca. Con vợ đi một bên và ông Mười tay xách chiếc xe lăn. Ta bà đứng xem chỉ chép miệng thương cảm chứ biết làm sao? Gãy cột sống thì còn chi của? Và trên trần ai khoai củ nầy không có còn bàn huống gì có chuyện. Bàn rằng:
– Phải chi thằng Dũng và Con Linh có một đứa con thì…
– Thì là mà cái con khỉ khô. Có con như vợ thằng Lộc thì cũng vậy à. Tao nói là linh như miểu cho bây coi. Con Hạnh còn trẻ quá, lại đẹp. Bước thêm bước nữa là chắc nụi luôn.
– Thằng Lộc chết rồi nói làm chi. Con Hạnh thêm bước nữa cũng là tất yếu. Tao nói nếu thằng Dũng với con Linh có với nhau đứa con…
– Mày ngu chết mẹ. Thì cũng vậy thôi con ơi.
– Vậy là vậy làm sao?
– Gãy cột sống thì chuyện giường chiếu coi như bỏ con ơi.
– Vậy à? Sao mày biết.
– Mày không đọc báo nên không biết gì sất. Mày biết thằng diễn viên người Mỹ chuyên đóng vai súp phờ men không?
– Siêu nhân đó hả? Sao?
– Nó phi ngựa bị té gảy đốt sống cổ nên bất toại như thằng Dũng. Triệu phú đô la mà cũng không giữ nổi vợ. Nói vậy mày hiểu chưa?
Và xưa nay dân gian nói và dân gian luôn đúng. Trong mười tháng, chỉ mười tháng mà biết bao thảm cảnh. Nó bắt đầu bằng việc ra đi không hẹn ngày trở lại của cô Linh. Mười tám tuổi và mơi lấy chồng được tám tháng. Hương lửa đang nồng say Linh đã vấp phải một bãi lầy giữa mùa đông giá lạnh. Dũng tuyệt vọng và chỉ muốn chết. Làm sao người ta có thể chấp nhận được cảnh nằm yên một chỗ hỡi tha nhân? Dũng bẳn tính, anh ta chửi đất chửi trời chửi luôn ông Mười và chửi luôn cô vợ. Trời ơi. Linh phải tắm phải cho ăn phải đổ bô và đủ thứ. Vậy mà anh ta còn chửi thì ai mà chịu được? Hai con chị của Dũng là Dung và Hiền cũng chả bất ngờ chi khi Linh biệt dạng. Ông Mười xắn tay áo lo cho con trai. Thời gian đâu nữa mà hú hí vơi tình già?
Bà Mười cảnh giác với cô con dâu tức khắc. Bà không rời tay khỏi thằng cháu đích tôn. Mẹ nó lạt lòng ẳm con đi theo tiếng gọi là bà tự vận liền. Đời nầy kiếm sao cho ra cái cô Diệu trong vở kịch Lá sầu riêng? Bà can ke con dâu còn hơn cú dòm nhà bệnh. Y như rằng. Một hôm kia Hạnh đi làm như thường lệ và chiều ấy không về. Thằng cu ngủ với bà nội quen rồi nên không vọng động. Chỉ mười tháng mà hai cặp trẻ tàn đàn xe nghé kéo thêm cặp già xẻ nghé tan đàn thì chuyện hai chục năm tù của Nhạn phỏng có ra chi?
Nhưng bi nhất là cô Tư và hai đứa con trai của Nhạn.
Cả nhà ông Mười thù hận cô tuy không đúng nhưng còn khả dĩ chấp nhận được vì chồng cô cho con em họ ra thân tàn phế. Nhưng bà Mười ghẻ lạnh con gái thì quả mười phần sai. Cô nào có tội tình chi? Cái lý bà Mười nói với thiên hạ là xưa kia trong nhà nầy chả ai chấp nhận cái thằng đó là rể. Con Tư đã lấy trúng một con quỷ đột lốt người. Bà Mười không ngó cả hai thằng cháu ngoại. Một là bà quá nhọc với cháu nội, hai là thằng sát nhân thì con nó cũng chả ra chi. Cái nầy mới thiệt là giận qua hoá sai. Toà án họ còn cho rằng Nhạn đã tự vệ một cách thái quá mà ra chuyện chứ hoàn toàn không dụng tâm.
Ghẻ lạnh với cô Tư quả là không đúng.
Nhưng thiên hạ mới là bất công. Cô Tư và hai đứa con dẹp luôn nghề bán vé số vì chả ai thèm mua nữa. Người mẹ tội nghiệp phải chạy vô mấy cái rẫy xin làm thuê kiếm gạo nuôi con. Ngày ra toà cô nhìn chồng chả nói được một câu. Án kêu hai mươi năm chồng cũng không nói câu gì với vợ. Hai mươi năm là mất hẳn nhau rồi.
Nhạn lên xe bít bùng thụ án. Tư lại tiếp tục thuê mướn nuôi con. Cô nhận khoán cuốc cỏ trông khoai để hai đưa con phụ thêm mà qua thì gian khó. Học hành làm sao được khi giật gấu và vai vậy hả con? Hơn cả vá vai giật gấu là bạn học của hai cu nhỏ. Chúng không bè bạn với kẻ có cha là sát nhân. Nhìn con cô Tư sa nước mắt. Mười tám Tư lấy chồng. Hai mươi tám con lớn mới chín con nhỏ mới bảy tuổi mà phải lê la nương rẫy kiếm ăn thì sa nước mắt là đúng rồi phải không hỡi thượng đế tối cao? Tư đẹp nhất nhà, đáy mắt long lanh nước. Vậy nên ông ghen tỵ phải không ông trời?
Đúng rồi. Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen. Nếu không cô Tư đã không tựa đầu vô bờ vai một thằng khố rách khác mà nức nở.
Khố rách là dân tha phương. Tài sản chỉ có cái chứng minh nhân dân lận lưng. Gã cũng thảm cảnh không thua chi Tư. Rằng vợ bị mất vì sốt hậu sản. Con cũng ra đi theo mẹ. Buồn quá Thuận – tên của khố rách – lên đường tìm quên. Vào xứ nầy Thuận quanh năm rẫy mướn, và tất nhiên cây khô tưới nước cũng khô, nghèo thì đến xứ mô cũng móc bọc. Thuận ngó đen đen xấu xấu nhưng được cái ăn nói có duyên. Cả hai tâm hồn đơn độc và khổ luỵ như nhau nhanh chóng kết tình bè bạn. Mụ nội cha nó bạn với bè. Bên không vợ bên không chồng. Ông bà dạy lửa gần rơm lâu ngày nó phựt luôn chứ bén thì nhằm nhò chi.
Hai tháng sau khi tiễn chồng lên đường Tư và Thuận nên một cặp trời sinh. Trời sinh thiệt chứ không phải chơi đâu nghe. Hai đứa con Tư thích cha ghẻ một phép. Chả là giang hồ Thuận biết cách mua lòng con trẻ lắm. Con không ưa thì còn lâu mẹ mới chịu. Thứ nữa là cái bụng Tư lum lên. Trời ơi – thiên hạ nói – đã lấy chồng thì cho được một chút, thằng vé số đã không ra ôn dịch gì nay bá vô thuê mướn thì sao mà ngu thế Tư ơi? Ba quân nói như vậy là sai. Thử hỏi có thằng nào ngon lành dám nhảy vô sương phụ hai con? Đúng không?
Và xưa nay cái đói, cái thiếu thốn luôn làm bẩn chật hồn người. Ngày vui của Tư và Thuận qua rất nhanh. Đứa con gái ra đời đã làm bẩn chật cô đặc lại. Tâm hồn Thuận cũng quánh theo. Trời ạ. Vợ thì nằm cử. Hai cu con thì đứa mười đứa tám đứng còn chưa vững thì lấy gì cho kẻ khác nương? Thuận cáu kỉnh với trời đất sao số mình đen đủi. Sau đó cáu luôn với hai thằng cu. Vụ cáu kỉnh nầy rất nhanh chóng thành bệnh nhất là khi có ba sợi. Mười hai tuổi Hải cự lại cha ghẻ khi ông ta mắng Tư là đồ ăn hại:
– Dượng không được chửi má tui.
Thuận lừ lừ cặp mắt mí lót:
– Mày du côn như cha mày rồi đó nghe.
– Ông không được đụng đến cha tui. Cái nhà nầy là của cha tui đó.
– Cha mày về thì tao trả. Tao không cướp đâu mà lo. Đồ mất dạy.
Anh em Hải Hà chạy qua bà ngoại. Bà Mười có đứa cháu trai đẹp như thiên thần lại quậy như giặc nên cũng nguôi ngoai chuyện đã rồi. Hai thằng cu ngó vậy mà được việc. Chơi với em đã đời lại chạy qua ông Dung chăm sóc Dũng. Dũng cũng quen rồi cái chỗ nằm. Hai thằng cu nhấc lên xe lăn đẩy đi dạo xóm nhỏ kể cũng vui. Tối đến hai cu con ngủ với ông Dung cho có bạn. Hai thằng này ngó vậy mà kể chuyện tiếu lâm tây tiếu lâm ta hay số dách. Nó làm cho kẻ bán thân thấy đời không đáng chết. Bằng chứng là Dũng không xin cha cho anh ta chết nữa. Hơn cả vui chơi chúng còn lo cho ông Dung và cả bà Mười cái ăn bằng đồng bạc kiếm được nữa đó. Cái dòng con không cha, mẹ có đó cũng như không. Chúng khôn thôi thì nẻ võ.
Và mười ba năm trôi qua như một giấc mộng.
***
Chủ quán nhậu thở dài:
– Thằng Nhạn sắp về. Sao mà tui lo cho con Tư quá anh Ba? Rối như canh hẹ cho anh coi.
– Chuyện gì đến sẽ đến. Lo chi cho nhọc mậy.
– Thằng Nhạn về – chủ quán lại tiếp – đương nhiên phải trả lại nhà cho nó. Vậy thì thằng Thuận và con gái nó đi đâu về đâu?
Biết về đâu?
Nguyễn Trí

Sydney, Những Ngày Hạ Xanh

phamnga

Đi trên đường John, cứ ngỡ Sài Gòn một dạo;
Ngồi Cà phê 86, cứ ngỡ tưởng Brodard.
*Nguyễn Ngọc Thành

1.
Tôi đến Sydney vào cuối tháng 11. Nghe vậy, một người bạn vui vẻ nhắn trên facebook “OK, ở đây đang cuối xuân đầu hạ. Còn vài cơn mưa nhưng nói chung là ấm áp, mát mẻ…”. Lần đầu tiên đặt chân đến nước Úc, rồi ở được vài ngày, tôi lại thấy cái ‘nói chung’ trong message của anh bạn có hơi khác trời thực đất thực một chút. Trước hết, thời tiết ở đất Úc – ghi nhận cụ thể là thành phố Sydney, nơi tôi sống gần 3 tháng – phải nói là lạ lùng. Giữa mùa hạ, giữa những chuỗi 3 – 4 ngày thật nóng đột ngột có một ngày lạnh, bất kể hôm đó không mưa hay có mưa. Hoặc sáng ra, mới sớm mai chỉ thấy nắng, nóng nhưng đến trựa lại đổi qua lạnh, lạnh luôn đến chiều tối. Có ngày, đã biết trước là 37-38 độ C nhưng sáng sớm, mở cửa bước ra đường thì phải có áo ấm, khăn choàng cổ vì lạnh đến 16 -17 độ C.
Do thời tiết kiểu Nắng Sydney, anh đi mà chợt… lạnh – xin lỗi dám nhái thơ Nguyên Sa – nên chỉ ở Úc đôi ba ngày thôi là tôi đã rành ngay việc theo dõi bản tin thời tiết trên tivi địa phương. Khi đã nắm được thông tin dự báo nắng mưa, nóng lạnh, tôi có thể dạn miệng, thoải mái cùng mọi người trong nhà bàn tính cho ngày mai, ngày kia, tuần tới… sẽ đi đâu, là đi chơi xa hay chỉ là đi shop gần nhà, sao cho thuận với “thiên thời”, cũng như chuẩn bị cho chu đáo mọi thứ, từ nón rộng vành, áo lạnh, giày vớ cho đến dù ô, áo mưa, khăn choàng cổ …
Căn nhà tôi ngụ nằm trên một ngọn đồi nhỏ, có vẻ như là điểm cao nhất khu vực Cabramatta West, thuộc Fairfield City, phân khu hành chánh phía Tây của thủ phủ Sydney. Điều thú vị là ngày mùa hạ ở Úc rất dài, khoảng 6 giờ đã sáng bửng và đến 8 giờ đêm mới tắt hẳn ánh mặt trời.
Ngày dài/đêm ngắn vào mùa hạ tại Úc phải nói là quá hớp nếu đem so “Tháng 5, chưa nằm đã sáng” – hiện tượng ngày dài/đêm ngắn vào mùa mưa ở Việt Nam như một câu tục ngữ mô tả. Nếu so sánh trong cùng một chặng tháng 10, tháng 11 trong năm, ở Việt Nam có “Tháng 10 chưa cười đã sáng”, tức hiện tượng ngày ngắn/đêm dài vào mùa khô của ta, thì tháng 11 tại Úc có lẽ là “Cười mỏi miệng chưa thấy tối”, ngược ngạo hoàn toàn!
Mùa hạ, ngày rất dài, dường như để tăng thêm thời gian mỗi ngày cho người ta hưởng thụ cuộc sống nhiều hơn. Ở trung tâm Cabramatta, sáng ra thông thường 9 giờ các tiệm ăn, điểm tâm, cà phê – nói chung là sinh hoạt đường phố – mới mở cửa. Người ta ăn sáng hoành tráng, bữa trưa ăn nhẹ hoặc bỏ luôn, cũng không ngủ trưa như người Việt trong nước. Chiều đến, người ta thường dùng bữa tối sớm. Đặc biệt vào những chiều tối ngày thứ sáu, tức mai nghỉ week end, nhiều gia đình đưa nhau đi ăn ngoài nên các nhà hàng, quán tiệm đông nghẹt khách và kiếm chỗ đậu xe rất gian nan.
Cứ sáng sáng, giấc 6 giờ là tôi cùng anh sui – nhà thơ Nguyễn Ngọc Thành, lặng lẽ mở cổng đi ra đường trong khi cả nhà còn ngủ. Không rõ về những khu vực khác của quận Fairfield ra sao, riêng ở vùng ngoại ô này thì khách đi hướng nào cũng gặp công viên. Công viên cái lớn cái nhỏ đủ cỡ, nối tiếp nhau liên tục. Khách ra khỏi một công viên ở phần đường bên này, vừa sang đường bên kia đã thấy lấp ló cái khung cổng dẫn vào một công viên khác. Cùng là công viên nhưng cái có tên, cái không tên, cái từ xa đã thấy chan hòa màu sắc xanh, đỏ rực rỡ vì được đặt thêm những xích đu, cầu tuột cho con nít chơi; ngược lại là vài cái khá hiu quạnh như bị bỏ bê, cây lá rậm rạp um tùm, chắc lâu lắm rồi chẳng ai cắt tỉa và đến một dãy bờ rào cho phân biệt cũng chẳng ai dựng cho. Rồi có loại công viên lớn bao la nhưng thực chất là một sân đá banh cùng nhiều bãi đánh bi sắt và chỉ có một lối đi bao quanh sân banh là dành cho người đi bộ. Hay ở công viên Cabra-Vale Memorial Park với đài tưởng niệm tử sĩ uy nghiêm, đường bệ – nằm ở góc đường xe lửa PDE với Bartley St., thì ở đây dù cũng có đầy đủ bồn bông, thảm cỏ, lối đi bộ, băng đá…, nhưng khu tưởng niệm mới là chủ đề, lý do chính để chính quyền Fairfield xây dựng công viên này từ năm 1919.
Tôi kể lể dài dòng về mảng công viên trong một khu phố không lớn lắm như trên có lẽ do cảm giác rất dễ chịu, êm ả mỗi lúc bước ra đường thả bộ. Phần vỉa hè của con đường nào cũng vậy, thường rộng rãi và luôn có lối đi đổ bê-tông cỡ 1 mét ngang dành cho người đi bộ, cũng như tràn ngập những vạt cỏ và hoa dại viền hai bên lối đi và ô đất trồng cây lấy bóng mát. Nhà dân Úc vùng ngoại ô hầu hết làm theo theo kiểu một trệt, một lầu và gỗ được sử dụng nhiều. Nhờ vậy, trước mắt khách đi đường, không gian sống thong dong dàn trải theo chiều ngang, mềm mại theo màu xanh cây lá và chất liệu gỗ, chứ không như khung cảnh đường phố bên mình thường hiếm hoi màu xanh cây lá, cứng nhắt và bó rọ với toàn vách tường, cột xi măng và hễ có cơ hội thì chỉ phát triển theo chiều cao, được nhiều tầng càng tốt do đã bị khóa cứng chiều ngang như kiểu nhà liên kế, phố nhà ống.
Nhắc đến nhà kiểu nhà ống chung vách, san sát nhau ở Sài Gòn mới nhớ là ở xứ Chuột Túi, nhà nào cũng có sân trước, sân bên khá rộng, nghĩa là từ trong nhà, bốn phía nhìn ra cửa đều thấy các mảng xanh của bầu trời, của cây lá vây quanh nhà. Do mặt bằng thong thả, hầu hết chủ nhà chỉ cất nhà một phần của lô đất, còn lại là sân cỏ có cây xanh, bóng mát hay để thực sự là những mảnh vườn nho nhỏ để gia chủ trồng hoa, trồng rau cải, cây ăn trái theo ý thích riêng. Vườn nhà mình tiếp giáp vườn hàng xóm, cây xanh tiếp nối cây xanh. Và như đã nói, từ nhà bước ra đường là công viên – lai rai công viên tiếp nối nhau, để thế giới xanh lại chan hòa ở khắp các hướng đi, tạo nên một cảnh quan thoáng đãng kéo dài đến chân trời xa xa… Cũng thật êm ả, khỏe đầu óc khi xe cộ ở đây, dù là phương tiện di chuyển của 99.9% cư dân, từ ông giám đốc cho tới bà nội trợ, nhưng vào sáng sớm thì khá thưa thớt. Phải nói thêm rằng đúng là “xứ văn minh” khi người lái xe ở Úc không có thói bóp còi inh ỏi vô lối như ở xứ mình. Đa số các xe, lại khác Sài Gòn là thường phóng nhanh tới 60-70 km/giờ nhưng tài xế luôn luôn giữ luật rất nghiêm túc, chặt chẽ, cũng như đường xá rất tốt nên tai nạn rất ít xảy ra.

2.
Tôi cho rằng, ở đất nước này, một khi đã được miễn trừ tiếng ồn tàn khốc của xe cộ rồi thì âm thanh rộn ràng nhất có thể nghe được ngoài đường phố chính là tiếng chim chóc. Chim chóc trên đường phố có nhiều giống loài, phổ biến là quạ, sáo, kéc, cu đất, bồ cầu rừng…, ít hơn là chim sâu, cò quắm, cò trắng, chích chòe, vịt nước, le le và vài chú mỏ dài hay lặn hụp ở các mương xả nước mưa. Chim tụ tập nhiều nhất là trong các công viên toàn cây xanh, thảm cỏ. Lạ là bất cứ ở đâu cũng không thấy bọn se sẻ, giống chim cư-dân-đô-thị quen mặt ở VN.
Chim líu lo, ríu rít hót, kêu với đủ loại chất giọng, âm vực khi bay, nhảy, kiếm ăn trên bãi cỏ, cành cây. Thường ồn ào, chộn rộn nhất là lủ quạ và kéc. Kéc thì đủ màu: kéc xanh, kéc trắng, kéc trắng/hồng, kéc ngũ sắc; quạ thì có quạ đen, quạ khoang. Nhiều con quạ, dù đang mãi miết mổ tìm mồi rất lâu trong cỏ hay đang đứng im trên dây điện cũng đột nhiên – không rõ vì chuyện gì – vừa bay đi vừa lớn tiếng kêu quang quác, khiến người đi đường giật cả mình.
Tôi đã thầm mến phục thái độ sống gần gũi với chim chóc của người dân Úc. Hay ít ra với một mớ luật lệ được họ đặt ra nhằm bảo vệ chim chóc nói riêng và thú hoang dã nói chung, người Úc chấp nhận cho chim chóc sống kề cận mình, dù ở nơi đồng quê hay thành phố cũng thế. Trừ trường hợp đặc biệt như có bệnh dại, bệnh truyền nhiễm phát tác trong thú hoang dã, còn bình thường không ai được phép tấn công, giết hại chim chóc. Do vậy, chừng như chim chóc rất an tâm, không sợ bị bắt, bị giết, bị làm thịt nên chúng cứ ung dung lẩn quẩn bên cạnh con người. Và khi gần gũi với chim, một giống loài hoang dã rất đông đảo trên trái đất, người dân ở Úc – nhất là thị dân – sống gần với thiên nhiên hơn. Ít ra là gần thiên nhiên hơn hẳn người Việt trong nước, đa số vốn có tập tục lạnh lùng là thấy chú chim lơ đãng nào đó xớ rớ đến gần thì lập tức tìm cách chụp, bẫy để cho nó …lên dĩa.
Tất nhiên, ở đây nói người dân ở Úc “sống gần thiên nhiên” hoàn toàn không có nghĩa dân xứ Chuột Túi còn man dã, còn ở trình độ phải săn bắt chim, thú hay hái lượm trái rừng để nuôi miệng. Trái lại, được xếp vào hàng quốc gia phát triển trên thế giới, nước Úc cứ văn minh tiến bộ, nhưng người Úc cứ chọn một lối sống gần gũi thiên nhiên, gần gũi chim, thú hoang dã. Thậm chí, có người ở đây còn đi shop lựa mua thức ăn sản xuất riêng cho các loại chim, đem về cho vào hộp treo ngoài vườn cho chim sà xuống tranh ăn và xem chim ăn là một thú vui nhẹ nhàng của họ.
Lúc nào người dân xứ này cũng dễ dàng và thường xuyên nhận ra sự hiện diện của chim chóc. Chưa thấy mặt thấy mỏ chúng là đã nghe tiếng chúng hót hay kêu, la tùy lúc. Và trước tiếng chim kêu, hót đâu đó, không thấy ai ở xứ này, cả dân Tây lẫn dân gốc Việt, tỏ vẻ ngạc nhiên tới mức xem đó là hiện tượng lạ, âm thanh lạ, đáng để chú ý, tìm hiểu. Ngược lại, chỉ đáng quan tâm là khi chợt có một bãi cứt chim trắng sệt dính trên mui xe, kiếng xe mà thôi.
Còn vì lý do gì mà ngay tại Sài Gòn, ở vùng ngoại ô hiện vẫn có một số người sống bằng nghề bẫy chim bằng lồng, lưới, keo dính thần sầu của Trung Quốc? Trước hết, họ bẫy chim để kiếm tiền khi bán chúng cho những đầu nậu buôn bán chim phóng sinh. Tiếc rằng, cái nghề tạm coi là cũng kiếm ra chút ít tiền này không hề được công nhiên ghi trong danh sách ngành, nghề xã hội – đương nhiên là những nghề lương thiện, cũng như không hề được khuyên khích bởi tàn sát chim chóc, làm tổn hại đời sống thiên nhiên. Kế đó, cần nói đến những bà con cứ cúc cung mua chim đem phóng sinh trước cổng chùa, rôi hồn nhiên nghĩ là mình đang làm phước, giúp chim được tự do. Ước gì bà con hiểu cho rằng mình càng “làm phước” kiểu trên là càng khuyến khích đám đầu nậu buôn bán chim cùng đám “thợ” săn, bẫy chim có cớ để bắt nhiều chim hơn nữa, tức làm nhiều chim chóc bị mất tự do hơn nữa.

3.
Chưa đặt chân vào đất Úc tôi đã cảm thấy thật hạnh phúc khi dư biết qua tới bển thế nào bạn bè, nhất là giới văn nghệ – báo chí, cũng đưa mình đến các quán cà phê Việt – không bỏ sót quán nào. Đó là cách bạn bè gặp nhau dễ nhất, gọn nhẹ nhất, trước khi bàn tới chuyện ăn nhậu hay đưa nhau đi chơi, viếng thăm các thắng cảnh, đền đài…
Ở Cabramatta/Sydney, phải nói là hiếm hoi mới có vài quán cà phê quý giá – theo nghĩa có không khí rất Việt, tức như thể được mặc nhận là chỗ riêng của người Úc gốc Việt cùng du khách Việt Nam nên nghe toàn tiếng Việt. Như Cafe Nhớ ở hẽm 68A đường John và một quán cùng tên, cùng chủ ở đường Bankstown, hay Quán Xưa và Cafe 86 cũng nằm trên đường John, hoặc Vy Vy Garden Cafe ở Canley Vale Road… Ở những quán này, không khí cà phê thuốc lá quen thuộc như ở Sài Gòn. Cũng những quý ông – đa số đã ngoài tuổi trung niên – thường ăn mặc bụi bậm, hầm hố, ngồi nhâm nhi cà phê, chuyện trò rôm rã cùng bạn bè hay lặng thinh, tư lự một mình theo tiếng nhạc Nhật Trường, Khánh Ly… Như thế, cung cách khách uống cà phê ở đây hao hao giống dân ghiền cà phê, ghiền ra quán cà phê ở Sài Gòn.
Chỉ tiếc là về thức uống, một mặt cà phê Úc ngon bởi chắc chắn không bị trộn bắp nhưng mặt khác vẫn thua cà phê Việt 1% bởi thường rất khó kiếm ra món cà phê pha phin, nhỏ giọt mà toàn cà phê pha máy, như: espresso (gồm 3 bậc black khác nhau), late (½ sửa ½ cà phê), cappuccino (cà phê pha sửa tươi và bột chocolate). Riêng cappuccino là thức uống phổ biến nhất, chiếm 90% cà phê được bán trong các quán cà phê tại Úc.
Và thật tiếc nữa, trong khi chính một người Úc, nhà văn/nhà báo/blogger/dân du lịch “bụi” chính hiệu Ben Groundwater, trên chuyên trang du lịch báo The Sydney Morning Herald đã bình chọn cà phê sữa đá Việt Nam vào hạng 2 trên 10 loại café ngon nhất thế giới, tại quán xá trên đất Úc lại rất khó kiếm ra món uống rất thông thường ấy, tức cà phê đúng kiểu quán xá VN gồm một cốc cà phê phin với sữa đặc-có- đường, nhất định không dùng sữa tươi, cùng một ly đá để sẵn bên cạnh.
Dù sao, cũng rất vui là sau này, tại một khu shop Việt ở Inala, thành phố Brisbane, tôi tình cờ thấy một tấm bảng ghi “Cà phê sữa đá đúng kiểu Việt Nam” nơi một cửa hàng bán đủ thứ đồ giải khát, chủ gốc Việt, bèn mua take away, uống cũng tạm được.
Trở lại với Sydney, biết tính tôi chỉ uống cà phê phin, nên mới ngày thứ nhì tôi đến đây, con gái tôi đã đi shop Việt mua cho một một cái phin inox rất đẹp. Nhưng gia đình con gái tôi và sát bên là anh sui, họ chỉ dùng cà phê hòa tan, tôi đành khẽ lên tiếng về cà phê rang xay. Chuyện nhỏ, đã ở tại Úc thì muốn hàng nội địa như Gloria Jeans, The Coffee Club hay hàng ngoại là Trung Nguyên đều có cả. Và, nói ra thì có vẻ lẩm cẩm, khi được đi thăm bà con, bạn bè ở Brisbane và Melbourne, tôi đều cắp nách theo cái phin và bịch cà phê Trung Nguyên 500 gr. đang uống dở. Làm vậy cho chắc ăn, cũng để các chủ nhà không phải lo liệu gì cho một thói tật riêng của mình.

4.
Có những buổi chiều, như chiều hôm qua, thời tiết không tốt. Bầu trời xám xịt và mưa lâm râm. Tôi vẫn ráng xỏ giày thể thao, nón vải cùng áo khoác nylon, nhất định bước ra đường thả bộ, bởi muốn phục hiện một cảm giác dễ chịu – không thể kiếm ra ở Sài Gòn – khi đi bộ thể dục ở những công viên vào những sáng trời se lạnh. Và cả cái thú suy tưởng giữa công viên vắng lặng nữa, kể cả vừa giữ nón vừa suy tưởng giữa những cơn gió thổi mạnh, rào rạt thổi tới thổi lui từng chập.
Cũng có một vài buổi chiều khác, thời tiết thật dễ chịu, mát mẻ và khô ráo, anh Thành hay rủ đối ẩm rượu chát ở chỗ sân lộ thiên. Toàn nhãn red wine Úc, khi thì Wolf Blass khi thì Cabernet Chauvingon, đều có vị vừa uống, không quá chát, không quá ngọt và màu đỏ thật đẹp. Chỉ có kiểu uống của hai bạn già là bụi đời, không đẹp mặt đẹp mày cho lắm vì bỏ ra sân đều giản đơn là những thùng nhựa cũ, loại đựng bình gaz, nay lật úp trên sàn xi măng để làm bàn, ghế cho bữa rượu tri kỷ. Mồi nhậu cũng đơn giản, có khi là bánh snack tôm, đậu phộng, con mực khô, có khi là dĩa salad xúc xích, trộn cả lá bồ công anh. Chủ nhà đã giải minh ngay cho tôi rõ, rằng đây không phải là thứ cây giống như cỏ, có hoa vàng, mọc hoang ngoài đường như tôi đả từng thấy hoài mà là một loại rau xanh, bảo đảm sạch vì được trồng chính quy trong các trang trại.
Chúng tôi nhâm nhi thật chậm rãi, nói đủ thứ chuyện trên đời. Đề tài nào cũng thú vị tuy hay bị ngắt ngang bởi nhảy từ chuyện này sang chuyện khác, hay bởi những lỗ hổng trong trí nhớ tuổi già. Anh Thành nhắc lại nhiều chuyện cũ, kỷ niệm xưa như thời còn đi lính lắm hiểm nguy và may rủi trước 30 tháng 4, thời thiếu đói, ăn độn trong nước, thời mới qua Úc, vất vã đi làm farm…
Có lúc, người bạn già có việc, trở vào nhà hơi lâu. Tôi ngồi một mình, chẳng phiền hà gì tình trạng cô độc bất chợt này, không có chuyện để nói hay nghe thì cứ tha hồ nghĩ ngợi – đúng hơn là trở lại với những chuỗi cảm nhận chưa hoàn tất về đất nước này.
Buổi chiều của những ngày hạ ở đây là thời khắc kết thúc một ngày bình-thường-như-mọi-ngày ở một đất nước có thành tích tốt nhất thế giới về đời sống cho người dân, đó là nếp sinh hoạt lành mạnh, tổ chức an sinh xã hội chu đáo, khoa học, hợp lý, bình đẳng. Hàng hóa, đồ tiêu dùng các cấp hạng đều dư dã, dễ tìm và điều tuyệt vời là do nền kinh tế phát triển, phúc lợi xã hội nhiều và dàn đều, nên hầu hết người dân đều có thu nhập, đều có khả năng mua sắm, tiêu xài. Môi trường sống không bị ô nhiễm ở nhiều mặt, không khí sạch, nước sạch, ít tiếng ồn… Cũng ở đất này, đỉnh cao của văn minh nhân loại được thể hiện qua sự thượng tôn con người và nhân vị. Luật lệ và qui đinh trật tự xã hội của nước Úc chuyên tâm phục vụ sao cho tốt nhất, hiệu quả nhất, cũng như tạo nhiều đặc quyền, đặc lợi hợp tình, hợp lý cho trẻ em, người già, phụ nữ, người tàn tật. Cả người đi xe đạp ngoài đường cũng có lối đi dành riêng để khỏi bị xe ô – tô chèn lấn vô tội vạ.
Trên thế giới nói chung, từ xa xưa vốn có kiểu trọng phụ nữ của đàn ông phương Tây mà dân mình vẫn gọi là “nịnh đầm kiểu Tây”. Tại đất nước này, tôi mới thấy quý ông nịnh đầm không chỉ là sơ sịa nhường bước cho quý bà kiểu “Lady first!” thôi đâu. Ngay bữa mới đặt chân xuống phi trường Sydney, khi cùng các hành khách khác đẩy xe hành lý băng qua một con đường nội bộ gần cổng ra, tôi đã chứng kiến một người công nhân Úc, da trắng, đã lớn tuổi, vừa tươi cười chạm nhẹ ngón tay vào vành chiếc mũ bảo hộ trên đầu để chào một bà khách, vừa mau mắn bước tới đẩy xe dùm bà này. Và ngoài đường, tình cờ đối mặt nhau trên vỉa hè đi bộ, chẳng quen chẳng biết mà vẫn thường có những người Úc da trắng nói “Good morning!” hay “Good day!” với tôi trước hay cùng một lượt.
Chiều nay, tôi ngồi một mình trong sân nhà, cũng giản dị trên một thùng nhựa cũ lật úp. Xung quanh chỗ tôi ngồi đều vắng lặng. Cả xa xa, sau những đỉnh cây của nhà hàng xóm, từ phía St. Johns Road cũng chỉ mơ hồ vọng về tiếng xe cộ chạy ngoài đường. Không gian vắng lặng, tịnh yên tạo cảm giác gần như mọi sự trong đời sống, ít ra là ở phương trời này, đều an lành, suông sẻ, đâu vào đó – vừa đủ an lành cho mỗi con người cảm nhận được niềm hạnh phúc, chừng mực thôi của đời thường.

PHẠM NGA
(Sài Gòn, tháng 8/2016)

LỤC BÁT KHÁNH MINH

nguyenthikhanhminh

HAI ĐẦU

Tôi đi mải miết như dòng
Tôi ngừng như thể nụ bông trên đồi
Dòng ư? -thì cũng về thôi
Hoa ư? -thì cũng pha phôi cuối ngày
Hai đầu chỉ một huơ tay

VỀ

Một nghìn cánh hoa vàng rơi
Nghìn mặt trời nhỏ soi trời trên kia
Như không còn gì phân chia
Bước tôi đi, với bước về trời xanh
Ơ mà cầu khỉ chông chênh

VU VƠ

Vẽ vu vơ sợi chỉ hồng
Níu cơn mơ nọ vào lòng đêm thinh
Buộc nhau đừng lẫn ảnh hình
Vẽ tôi vẽ bóng, hai mình trong khuya
Vẽ thêm một nụ cười kia

NGỠ

Ngỡ mình là cánh mây bay
Trời kia tưởng cánh mây bay là mình
Nhìn nhau hai đứa lặng thinh
Cả tin đến vậy cái tình cao xanh
Nhân gian thì cứ chạy quanh…

Nguyễn thị Khánh Minh

tự khúc

 

hương mùa xanh

dằn vặt trắng

hương mùa xanh

quyến rũ

dắt tôi đi

qua cõi ta bà

màu nắng dịu

cũng đủ vừa độ lượng

con sẻ nâu

về đậu giữa thềm hoa

tôi đi về phía…

tôi đi về phía mưa bay

có đêm vô thủy, có ngày vô chung

cuộc đời thấp thoáng bao dung

có em san sẻ tận cùng nỗi đau

mùa quên lãng

trăm dòng sông vật vã

ngàn bóng núi lặng thinh

ta không còn là mình

rớt rơi mùa quên lãng

NP phan

HƯƠNG PHỐ_

tranvannghia

Đêm gió muộn bầy dơi treo cánh thức
Mắt trần gian đỏ nhớ ướt mưa về
Góc hiên cũ chênh vênh thềm ký ức
Có hoa vàng bướm trắng chở đầy xe

Có mai sớm tung tăng đời chim sẻ
Ngày mộng du nền nã nắng ven đường
Ai thả tóc lênh đênh thời trai trẻ
Dắt bên lòng bảng lảng chuyến hành hương

Mê mải chạy trên cánh đồng cỏ dại
Đuổi bóng mình mười sáu ngỡ vầng trăng
Thấy chung chiêng tiếng đàn kìm ai gảy
Rớt dưới khuya đau điếng giọng sâm cầm

Nằm nghe lá đồi xa xao xác gọi
Cõng mùa xanh lưng rát dấu mưa hằn
Xin gửi phố chút hương tình còm cõi
Và cũng già trên trán những nếp nhăn

TRẦN VĂN NGHĨA
6/2016

Mùa Ðông Prague

truongvu

Tặng những nhà văn Việt Nam

DSC_6929

Vaclav Havel (trái, đang phát biểu) và Alexander Dubcek
Prague (1989) • Source: The Guardian.com

Lời Mở:
Đầu tháng 7-2016, trong một chuyến đi chơi Âu châu, tôi đến thăm thủ đô Prague của Cộng Hòa Tiệp (The Czech Republic). Khi đến công trường Wenceslas, tôi nhìn lên bao lơn của tòa cao ốc Melantrich. Nơi đó, một ngày mùa đông 1989, Alexander Dubček và Václav Havel đứng cạnh nhau, ngỏ lời với gần một triệu người dân Prague đang tụ họp ở công trường này, khởi động một cuộc cách mạng làm sụp đổ hoàn toàn chế độ Cộng sản và xây dựng một xã hội dân chủ thực sự cho Tiệp Khắc. Một cuộc cách mạng bắt nguồn từ những vận động của giới trí thức và văn nghệ sĩ, khởi đi từ đầu thập niên 1955, không ngừng thách thức với mọi đàn áp của giới cầm quyền. Những biến động ở công trường Wenceslas và trên toàn đất nước Tiệp Khắc đã gợi hứng cho tôi viết một tiếu luận ngắn, nhan đề “Mùa Đông Prague”, đăng trên tạp chí Văn Học ở California. Lúc đó, những vận động được biểu dương ở công trường Wenceslas chưa hoàn toàn thành công để trở thành cuộc “Cách Mạng Nhung” (The Velvet Revolution) của Tiệp Khắc. Lúc đó, kịch tác gia Václav Havel chưa trở thành Tổng thống đầu tiên của một nước Tiệp Khắc dân chủ sau thế chiến.
Gần hai mươi bảy năm đã trôi qua. Đã có biết bao đổi thay trên toàn cầu, bao đổi thay trên đất nước Tiệp Khắc. Có cả những đổi thay mà thoạt đầu người dân Tiệp Khắc không muốn có, như sự kiện đất nước bị tách làm đôi, thành hai nước độc lập, Cộng hòa Tiệp và Cộng hòa Slovakia. Ngày nay, cả hai đều là thành viên của Liên hiệp Âu châu (EU) và của khối Liên minh Quân sự Bắc Đại tây dương (NATO). Tuy tách làm đôi, liên hệ giữa họ luôn tốt đẹp. Ngày nay, Alexander Dubček và Václav Havel đều đã ra người thiên cổ.
Trong những ngày ở Tiệp, tôi cảm nhận được một sức sống mạnh và trẻ trung trên đất nước này. Người dân có mức sống cao, trình độ văn hóa cao, tôn trọng một cách tự nhiên những giá trị căn bản của con người như tự do và bình đẳng. Hầu hết những người dân bình thường tôi gặp đều nói tiếng Anh khá lưu loát, và dầu đất nước này vẫn có một sắc thái riêng của họ, tôi không có cảm giác lạc lõng như khi đến thăm Moscow hay Bắc Kinh. Và, ở Tiệp ngày nay, nếu không có chút hiểu biết về lịch sử, tôi sẽ không thể nào tin rằng dân tộc đó đã từng hơn bốn mươi năm sống cô lập sau bức màn sắt, chịu áp đặt một chủ nghĩa xã hội rất thiếu nhân bản, chịu sự kiểm soát chặt chẽ về chính trị và quân sự của Liên Xô, và chỉ mới tách rời khỏi những ảnh hưởng đó chưa tới 27 năm.
Trong mấy ngày ở Tiệp, tôi có đến thăm khu thương mãi Sapa của cộng đồng người Việt ở đây. Khu thương mãi khá lớn. Buôn bán nhộn nhịp. Nhà cửa, hàng quán, và cách buôn bán ở đây làm gợi nhớ đến một số khu buôn bán ở Việt Nam ngày nào. Đang ở một đất nước bên trời Tây, nói toàn tiếng Tiệp hay tiếng Anh, vào đây như vào một thế giới khác, thấy như trở về đất nước cũ. Rất xúc động. Đặc biệt, khi trò chuyện với một số đồng bào, được biết đa số sang Tiệp theo các chương trình xuất khẩu lao động, sống khá vất vả, thu nhập rất thấp so với thu nhập của người Tiệp trung bình. Tuy vậy, số người Việt tìm cách sang làm lao động vẫn tiếp tục. Điều đáng mừng, theo phóng sự của một số báo chí Tiệp, trẻ em Việt Nam đa số học giỏi và hội nhập vào xã hội Tiệp khá dễ dàng.
Nhìn lại một số đổi thay chính trị lớn, tôi nghiệm ra một điều: nơi nào có sự tham dự tích cực của giới trí thức và văn nghệ sĩ yêu nước, yêu sự sống, tôn trọng sự khác biệt, và can đảm đứng lên tranh đấu quyết liệt cho điều mình tin, cho những quyền căn bản của con người, thì ở nơi đó, sự đổi thay mang lại ít bạo lực nhất, những quyền căn bản được phục hồi và xã hội phát triển nhanh nhất. Hãy nhìn, như một phản đề, những gì đã xảy ra trong cuộc cải cách ruộng đất ở Việt Nam vào thập niên 50, trong cuộc “cách mạng văn hóa” ở Trung Hoa vào thập niên 60, và sự thống nhất bằng quân sự và áp đặt chủ nghĩa ở Việt Nam vào 1975. Và, như chính đề, hãy nhìn những gì đã xảy ra trong những đổi thay lớn ở Đông Âu, và đặc biệt, ở Tiệp Khắc, vào 1989.
Bài viết này được đăng lại vì tác giả tin những điều trình bày trong bài viết chưa bị thời gian hai mươi sáu năm đào thải, ít ra, với trường hợp Việt Nam. Tác giả giữ nguyên lời đề tặng những nhà văn Việt Nam, như trong bản gốc.

Tháng Giêng 1968, Alexander Dubček, lãnh tụ Ðảng Cộng Sản (CS) Tiệp Khắc chủ trương đổi mới chế độ trong một chính sách được gọi là “Xã Hội Chủ Nghĩa Với Bộ Mặt Nhân Bản”. Biến cố này được gọi là “Mùa Xuân Prague”. Bảy tháng sau, nửa triệu quân của khối Warsaw cùng với thiết giáp xa tiến vào thủ đô Tiệp Khắc. Alexander Dubček bị tước hết quyền hành, đuổi ra khỏi đảng, đưa đến Slovakia làm một viên chức kiểm lâm không ai biết tới.
Hai mươi mốt năm sau, vào mùa đông 1989, cùng với những cơn lốc đang thổi xoáy vào các chế độ CS ở Ðông Âu, người dân Tiệp Khắc vùng dậy. Vài ngàn người, rồi chục trăm ngàn người, rồi gần một triệu người, tụ tập tại công trường Wenceslas đòi hỏi chấm dứt một chế độ cai trị mà họ cho là rất thiếu nhân bản.
Từ mùa xuân 68 đến mùa đông 89, có những cái đi và đến ngược chiều nhau. Có những lãnh tụ lớn như Husák, Jakeš, đến với quyền hành vào mùa Xuân 68 và bây giờ bị buộc phải ra đi. Alexander Dubček, bị buộc phải ra đi sau biến cố Mùa Xuân 68, thì vào ngày 24 tháng 12 năm 1989, xuất hiện trên một bao lơn ở Công trường Wenceslas để đón nhận những tiếng chào mừng nồng nhiệt của dân chúng.
Những gì thực sự xảy ra ở Tiệp Khắc không phải chỉ đơn giản ở những cái đi và đến này. Alexander Dubček có tái xuất hiện, nhưng những khuôn mặt nổi bật ở Mùa Ðông Prague lại là những nhân vật của nhóm Diễn Ðàn Công Dân (Civic Forum) như nhà soạn kịch Václav Havel hay giáo sư Komárek của Hàn Lâm Viện Khoa Học. Những nhân vật này có vẻ như mới lao mình vào những cơn lốc của thời đại kể từ ngày 19 tháng 11 năm 1989, tức ngày thành lập nhóm Diễn Ðàn Công Dân. Thật ra, cuộc tranh đấu của họ đã khởi đầu từ 1955, vào năm mà “Bài Thơ Cho Người Trưởng Thành” được sáng tác ở Ba Lan. Kể từ ngày đó cho đến trước mùa Ðông 1989, cuộc tranh đấu của Tiệp Khắc hoàn toàn là cuộc tranh đấu của trí thức, không mang bóng dáng của những thành phần khác như thợ thuyền hay nông dân.
Những gì đã thực sự xảy ra ở Tiệp Khắc từ 1955 đến nay?

Nhà văn – lương tâm của đất nước
Quốc gia Tiệp Khắc chỉ mới chính thức thành lập như một nước độc lập vào ngày 28 tháng 10 năm 1918 sau sự bại trận của đế quốc Áo Hung vào Ðệ Nhất Thế Chiến. Danh xưng đầu tiên là Cộng Hòa Tiệp Khắc. Hai sắc dân chính là Czech (64%) và Slovak (30%). Trong Ðệ Nhị Thế Chiến, Tiệp Khắc bị Ðức chiếm đóng và một phần lãnh thổ bị sáp nhập vào Ðức. Một chính phủ lưu vong đã được thành lập ở Anh để tiếp tục điều khiển cuộc kháng chiến trong nước.
Sau khi Ðệ Nhị Thế Chiến chấm dứt, một cuộc bầu cử được tổ chức vào 1946, dưới ảnh hưởng chính trị của Liên Xô, đã đem lại thắng lợi cho Ðảng Cộng Sản Tiệp Khắc với một đa số tương đối so với các đảng phái khác. Hai năm sau, vì chia rẽ và thiếu phối hợp, các đảng phái không CS đã thất bại trong nỗ lực ngăn chặn sự áp đặt xã hội chủ nghĩa theo kiểu của Liên Xô. Một bản Hiến Pháp mới được ban hành và danh xưng của quốc gia được đổi lại là Cộng Hòa Nhân Dân Tiệp Khắc.
Sang năm 1950, cuộc thanh trừng lớn trong nội bộ Ðảng CS bắt đầu. Bộ Trưởng Ngoại Giao Vladimír Clementis bị cách chức và sau đó bị xử tử cùng với 10 đảng viên cao cấp khác. Ðảng CS bắt đầu cai trị Tiệp Khắc theo đường lối cực đoan của Stalin. Cuộc thanh trừng lan rộng đến các thành phần khác của xã hội. Ðường lối này vẫn được duy trì sau cái chết của Stalin và cả sau khi chủ trương Xét Lại được áp dụng ở Liên Xô.
Những bất mãn lớn bắt đầu. Trước hết, một cuộc nổi dậy nhỏ của thợ thuyền xảy ra ở một thị trấn xa xôi, Plzeň, vào tháng Sáu 1953 để phản đối vụ đổi tiền mới. Cuộc nổi dậy đã bị cảnh sát đặc biệt dập tắt và không tạo được tiếng vang đáng kể.
Nhà văn Tiệp Khắc có một thế đứng khá đặc biệt trong lịch sử của nước họ vì đó là thành phần đóng góp nhiều nhứt và hiệu quả nhứt trong việc xây dựng nền độc lập của Tiệp Khắc. Nhưng, cho tới lúc đó, Hội Nhà Văn Tiệp Khắc, được thành lập vào 1949, chỉ là một công cụ để tuyên truyền cho chế độ. Số hội viên có giới hạn và đa số viết theo chỉ thị. Những người cầm bút có tư cách tránh né công việc như vậy bằng cách xin dịch thuật sách ngoại ngữ hoặc sáng tác những bài thơ vừa đủ mơ hồ để thoát lưới kiểm duyệt. Một số ít nhà văn hoặc chống đối hoặc không viết theo đường lối đã phải chịu những trừng phạt khác nhau tùy theo cấp độ. Thi sĩ Laco Novomeský bị án mười năm tù vì đã viết những bài thơ “thiếu ái quốc”.
Ngày 21 tháng Tám 1955, một tuần san văn học ở Warsaw, tờ Nowa Kultura, đăng tải một bài thơ dài và cay đắng của một nhà thơ CS Ba Lan, Adam Ważyk, mang tựa đề “Bài Thơ Cho Người Trưởng Thành”. Nhà thơ Ważyk, trong suốt cuộc đời của ông kể từ lúc bắt đầu khôn lớn, đã tận tụy phục vụ cho lý tưởng CS. Bỗng nhiên, ông sáng tác và gởi đăng bài thơ nói trên như một bản tuyên chiến gởi đến chế độ. Ngay sau đó, ông bị trục xuất khỏi hội Nhà Văn Ba Lan và đồng thời chủ bút tập san Nowa Kultura cũng bị cách chức. Tuy nhiên, bài thơ của Adam Ważyk ở Ba Lan đã đánh thức những người trưởng thành ở Tiệp Khắc, nhất là những người cầm bút. (1)
Ðại Hội kỳ 2 của Hội Nhà Văn Tiệp Khắc được tổ chức vào tháng Tư năm 1956. Tổng Thống lúc đó là Zápotocký đến đọc diễn văn khai mạc, trong đó ông nhấn mạnh là Ðảng không hề và sẽ không bao giờ chi phối vào các công trình văn học, và các nhà văn Tiệp Khắc hoàn toàn có tự do để sáng tác. Ngay lập tức, thi sĩ nổi tiếng của Tiệp Khắc là Jaroslav Seifert đã cùng với nhiều nhà văn khác như František Hrubín mạnh mẽ chỉ trích sự thiếu thành thật trong bài diễn văn và yêu cầu đảng trả tự do cho những người cầm bút đang còn ở trong tù. Những nhà văn đã kịch liệt công kích chính sách “viết theo yêu cầu” và cho đó là một thái độ nhục mạ người cầm bút. Sau đó, khẩu hiệu được trương lên ở Ðại Hội là “Nhà Văn – Lương Tâm Của Ðất Nước”. Mặc dầu Seifert và Hrubín được bầu vào chủ tịch đoàn, đảng đã phản công khá hữu hiệu và cuối cùng áp lực được đại hội đưa ra một tuyên ngôn công nhận Ðảng CS Tiệp Khắc như là “Người đề xướng và tổ chức cuộc cách mạng vĩ đại” và cám ơn Ðảng về “Những đề nghị khôn ngoan và đứng đắn”.
Vào tháng Năm 1956, các nhà văn thuộc Nhóm Phản Kháng đã cho phát hành một tạp chí lấy tên là Tháng Năm (Květen) nhằm cổ võ những công trình văn học có giá trị thực sự. Mô thức này đã lan tràn sang nhiều lãnh vực khác. Và, chính những hoạt động có tính quốc cấm này đã làm cho đời sống văn hóa của Tiệp Khắc trở lại sinh động.
Ðại Hội kỳ 3 tổ chức vào tháng Sáu 1957, sau khi các cuộc nổi dậy ở Poznań (Ba Lan) và Budapest (Hung Gia Lợi) đã hoàn toàn thất bại. Nhà thơ František Hrubín bị ép buộc đứng lên đọc lời tự phán về những “Phát biểu sai lầm” của ông trong kỳ đại hội trước. Về phần Seifert lúc đó đã 56 tuổi, ông vẫn không chịu đầu hàng, và không chịu tự ý rời khỏi Chủ Tịch đoàn dưới áp lực của Ðảng. Nhóm chủ trương tạp chí Tháng Năm tuyên bố hậu thuẫn Seifert. Cùng lúc đó, một số khuôn mặt mới đã nổi bật lên để cùng với Seifert và Eduard Goldstücker, vừa mới được trả tự do, làm một cuộc cách mạng cho trí thức Tiệp Khắc. Các khuôn mặt đó là nhà thơ Jan Prochazka, nhà soạn kịch Ivan Klima, nhà viết tiểu thuyết Ladislav Mnacko, và nhà soạn kịch Václav Havel. Lúc đó, Václav Havel mới 21 tuổi.
Hai năm sau, Ðảng áp lực Hội Nhà Văn trục xuất Seifert và bốn nhà văn thuộc Nhóm Phản Kháng. Sau đó, đảng đóng cửa tạp chí Tháng Năm. Những người phản kháng bắt đầu đi tìm một phương thức đấu tranh khác.
Sang năm 1960, danh xưng của Tiệp Khắc được đổi lại là Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Tiệp Khắc.
Tháng Tư 1963, nhà văn Ladislav Mnacko hoàn thành tác phẩm “Những Bản Phúc Trình Bị Trì Hoãn” (Delayed Reports). Tác phẩm này làm náo động xã hội Tiệp Khắc vì đã đánh thẳng vào lương tâm của những trí thức, kết án thái độ thụ động của họ và coi thái độ thụ động này như là một hình thức toa rập với tội ác, một điều mà đa số trí thức muốn tảng lờ. Tác phẩm của Mnacko đã tạo nên cuộc biểu tình của sinh viên Prague vào ngày Lễ Lao Ðộng 1963.
Cuối tháng Năm, Hội Nhà Văn Tiệp Khắc cho phổ biến lời phát biểu của nhà thơ Laco Novomeský, lúc đó đã mãn hạn tù. Lời phát biểu có những câu sau đây:
“Thảm kịch của chúng ta không phát sinh hoặc không phải chỉ phát sinh từ sự kiện là có những kẻ đã tin nhiều hay tin ít vào một điều gian dối và chấp nhận điều gian dối đó. Vì những người này, hoặc vì sợ hãi, hoặc bằng hảo ý, cho rằng họ đang phục vụ cho một mục tiêu chính đáng nên cứ chấp nhận điều gian dối. Thảm kịch của chúng ta phát sinh từ sự kiện – và sự kiện này áp dụng cho những nhà văn hay nhà báo – là chúng ta đã cố gắng thuyết phục người đọc tin rằng sự gian dối đó là sự thật, chúng ta đã đánh lạc hướng và làm hoang mang cả một thế hệ đang đứng ở ngoài căn phòng này, lạc lõng, ngơ ngác, vì không biết phải dựa vào cái gì để tin. Chúng ta cần mang đến cho thế hệ đó sự tín nhiệm, lòng tin, và sự thật. Nhưng trước hết, hãy mang những điều đó đến cho chính chúng ta.”
Cùng trong năm đó, Václav Havel, đã 27 tuổi, hoàn thành vở kịch dài đầu tiên: “Viên Hội” (The Garden Party). Vở kịch xây dựng trên những cái phi lý và lố bịch của xã hội đương thời bằng những lời mỉa mai cay độc. Từ đó, nhiều sáng tác như vậy do những nhà văn đã nổi tiếng hoặc những nhà văn mới nổi đã ra đời. Phản ứng của chế độ vẫn là một phản ứng cổ điển nhưng hữu hiệu: đe dọa, tù đày và cô lập.
Tháng Giêng 1967, Ðại Hội kỳ IV của Hội Nhà Văn Tiệp Khắc ra Nghị Quyết yêu cầu tái lập truyền thống văn học của Tiệp Khắc, đồng thời yêu cầu được tiếp xúc và trao đổi văn hóa với các nước Tây phương. Lúc bấy giờ, lãnh tụ đảng là Antonín Novotný. Phản ứng của chế độ vẫn như cũ, vẫn là đe dọa, tù đày và cô lập.

Mùa Xuân Prague
Ðầu tháng 11-1967, sinh viên Ðại Học ở Prague biểu tình đòi thay đổi đường lối cai trị của Ðảng. Ðồng thời, trong nội bộ của Trung Ương Ðảng, Alexander Dubček cầm đầu nhóm chủ trương cải cách, áp lực Novotný hủy bỏ phương thức cai trị cực đoan. Ðể chống lại những áp lực này, Novotný kêu gọi sự hậu thuẫn của Liên Xô. Tháng 12 năm đó, lãnh tụ Liên Xô Leonid Brezhnev đến thăm và quan sát tình hình ở Prague và ông từ chối hậu thuẫn Novotný. Tháng Giêng 1968, Dubček được bầu vào chức Bí Thư Thứ Nhứt của Ðảng CS Tiệp Khắc thay thế Novotný. Sau đó, nhiều thành phần thủ cựu cũng lần lượt bị thay thế. Ðến tháng Ba, Novotný mất luôn chức Tổng Thống và Tướng Ludvík Svoboda lên thay.
Alexander Dubček chỉ định rồi chỉ đạo một ủy ban gồm nhiều khuynh hướng khác nhau, từ cải cách đến bảo thủ, soạn thảo một Chương Trình Hành Ðộng (CTHĐ) nhằm tạo một mô thức xã hội chủ nghĩa mới, có tính “dân chủ” và “dân tộc”, thích hợp với hoàn cảnh của Tiệp Khắc. Tháng Tư 1968, thành phần lãnh đạo Ðảng chấp thuận Chương Trình Hành Ðộng. Alexander Dubček đã gọi mô thức này là “Xã Hội Chủ Nghĩa Với Bộ Mặt Nhân Bản”. Ngoài những điểm liên hệ đến cải cách chế độ bầu cử, xác nhận quyền tự do hội họp và phát biểu, CTHÐ cũng có những điểm quan trọng như tái xác nhận sự theo đuổi mục tiêu Cộng sản và sự liên minh với Liên Xô và khối Warsaw.
CTHÐ của Dubček đã tạo một sức sống mới cho xã hội Tiệp Khắc. Dân chúng đã phấn khởi gọi biến cố đó là Mùa Xuân Prague. Những tuần lễ tiếp theo, những bài báo đả kích Liên Xô đã thấy xuất hiện trên báo chí. Một số tổ chức có tính chính trị đã được thành lập và không phụ thuộc vào sự kiểm soát của Ðảng. Các phần tử bảo thủ yêu cầu đàn áp các sinh hoạt này nhưng Alexander Dubček không chịu nghe.
Cuối tháng Sáu năm đó, Ludvík Vaculík, tiểu thuyết gia và đồng thời cũng là đảng viên CS kỳ cựu, cho đăng tải một tuyên ngôn nhan đề “Hai Ngàn Chữ” với chữ ký của 70 nhà văn và nhà khoa học. Bản Tuyên Ngôn nói đến những trở ngại có thể gây ra cho Tiệp Khắc bởi những phần tử bảo thủ trong đảng và các thế lực ngoại quốc và hô hào dân chúng hãy đứng dậy tự mình thực hiện lấy chương trình cải cách. Liên Xô và các nước thuộc khối Warsaw liền tổ chức một phiên họp đặc biệt không mời Tiệp Khắc tham dự. Sau đó, họ gởi cho Ủy Ban Lãnh Đạo (UBLÐ) Ðảng CS Tiệp Khắc một văn thư lên án những phần tử phản động đã viết tuyên ngôn này đồng thời yêu cầu Tiệp Khắc tái lập chế độ kiểm duyệt, bãi bỏ các sinh hoạt chính trị không thuộc đảng CS và trục xuất ra khỏi đảng các phần tử hữu khuynh. Sau cùng, văn thư nhấn mạnh đến nhiệm vụ phải bảo vệ xã hội chủ nghĩa ở Tiệp Khắc, và coi đó là nhiệm vụ chung của tất cả các nước anh em, thuộc khối Warsaw. Dubček phản đối bức tối hậu thư và yêu cầu gặp riêng với Liên Xô.
Trong cuộc gặp gỡ này, Alexander Dubček đã khẳng định sự trung thành của Tiệp Khắc với chủ nghĩa Mác Lê và với liên minh Warsaw hay Comecon. Ông hứa trừng trị những kẻ muốn tái lập Ðảng Dân Chủ Xã Hội cũ, những phần tử “phản cách mạng”, đồng thời kiểm soát báo chí hữu hiệu hơn. Brezhnev ra lệnh rút các lực lượng quân đội Xô Viết khỏi Tiệp Khắc nhưng cho dừng lại dọc theo biên giới.
Trong khi đó, Dubček và các đảng viên cao cấp thuộc khuynh hướng cải cách lại dự trù một kế hoạch loại trừ tất cả những phần tử chống cải cách ra khỏi Trung Ương Ðảng trong kỳ Ðại Hội Ðảng sẽ tổ chức vào tháng Chín. Hầu hết những phần tử này có khuynh hướng thân Nga và họ đã cầu cứu Liên Xô. Ngày 20 tháng Tám 1968, nửa triệu quân thuộc các nước Liên Xô, Ðông Ðức, Ba Lan, Hung Gia Lợi và Bảo Gia Lợi tiến vào Tiệp Khắc. Lỗ Ma Ni ngay từ đầu đã phản đối quyết định của các nước Warsaw đối với Tiệp Khắc nên không tham dự chiến dịch này. Dubček và Ủy Ban Lãnh Ðạo Ðảng lên tiếng phản đối sự can thiệp quân sự của khối Warsaw nhưng đồng thời ra lệnh cấm quân đội và dân chúng dùng vũ lực cản trở các đoàn quân này. Tuy nhiên, khi các xe tăng tiến vào Prague, bạo động cũng đã xảy ra từ phía dân chúng và khoảng 100 người dân Tiệp Khắc đã bị giết (4). Cơ quan đầu tiên bị thiết giáp xa bao vây là trụ sở của Hội Nhà Văn Tiệp Khắc.
Alexander Dubček bị bắt vào đêm 20 tháng Tám và đưa sang Moscow gặp Brezhnev. Sau đó, ông vẫn được giữ chức vụ cũ nhưng không có thực quyền cho đến tháng Tư 1969 thì chính thức từ chức. Gustáv Husák lên thay. Cuối năm đó, Husák cử ông đi làm Ðại Sứ tại Thổ Nhĩ Kỳ. Trong lúc ông đang còn ở Ankara, Ủy Ban Lãnh Ðạo Ðảng bỏ phiếu trục xuất ông ra khỏi Ðảng. Những người còn cảm tình với ông ở trong đảng đã ngầm khuyên ông xin tị nạn chính trị ở Thổ Nhĩ Kỳ, nhưng ông vẫn trở về Tiệp Khắc. Sau đó, ông được đưa đến thành phố Bratislava, thủ phủ của Slovakia, làm một viên chức kiểm lâm cho đến cuối năm 1988.
Ðối với các thành phần đã tham dự vào Chương Trình Hành Ðộng, hậu quả dành cho họ khá trầm trọng. Hơn một nửa thành viên của Trung Ương đảng bị thay thế. Hơn nửa triệu đảng viên bị trục xuất. Ða số các viên chức cao cấp trong những lãnh vực khác nhau bị đuổi việc. Xã hội Tiệp Khắc trở lại tình trạng cai trị khắt khe cũ.
Vào Mùa Thu 1970, một nhóm trí thức gồm cả các cựu đảng viên CS thành lập Phong Trào Xã Hội Của Công Dân Tiệp Khắc nhằm đấu tranh theo tinh thần của Mùa Xuân Prague. Ngay sau đó, 47 thành viên cao cấp của phong trào bị bắt và bị đưa ra tòa xét xử vào mùa Hè 1972. Từ đó, một số đông nghệ sĩ và chuyên viên đã trốn khỏi nước.

Hiến Chương 77
Vào ngày 6 tháng Giêng 1977, các nhật báo ở Tây Ðức đã cho đăng tải một Tuyên Ngôn lấy tên là Hiến Chương 77 (Charter 77). Bản Tuyên Ngôn làm tại Tiệp Khắc mang chữ ký của 242 người Tiệp Khắc thuộc nhiều thành phần khác nhau: Nhà văn, nghệ sĩ, giáo chức, và cựu đảng viên CS. Giáo sư Jan Patočka, nhà soạn kịch Václav Havel và giáo sư Jiří Hájek được nhắc tới trong Tuyên Ngôn như là những phát ngôn viên chính thức của Hiến Chương 77.
Hiến chương 77 nói lên những bất mãn của những người ký tên đối với những thực tế đang xảy ra ở Tiệp Khắc liên hệ đến Dân quyền và Nhân quyền. Họ lên án chính phủ Tiệp Khắc đã không tôn trọng những quyền công dân được ghi trong Hiến Pháp cũng như trong các thỏa ước quốc tế mà Tiệp Khắc đã ký như thỏa ước Helsinki vào 1975.
Hiến Chương 77 cũng nói rõ mục đích của Hiến Chương là: theo dõi những trường hợp cá nhân về vi phạm nhân quyền, đưa những đề nghị sửa sai, và đóng vai trò trung gian giữa chính phủ và những cá nhân bị áp bức.
Ðến cuối năm 1977, có khoảng 800 người ký tên vào Hiến Chương, trong số đó có một số ghi là công nhân. Hiến Chương đã được phổ biến trong lãnh thổ Tiệp Khắc theo kiểu chuyền tay.
Gustáv Husák đã phản ứng mạnh mẽ đối với bản Hiến Chương này. Những người ký tên đã hoặc bị bắt giam hoặc bị đuổi việc. Báo chí đã được nhà nước vận dụng để tấn công Bản Hiến Chương một cách hạ cấp. Dân chúng bị bắt buộc phải ký tên vào những bản lên án các thành phần phản động của Hiến Chương 77.
Trong khi đó, cảnh sát và công an đã hành động hoàn toàn đúng như những gì bản Hiến Chương đã nêu: bắt người vô cớ, lục soát bất hợp pháp, hạch hỏi và tra tấn trái phép. Giáo sư Jan Patočka, một người nổi tiếng và có uy tín, bị cảnh sát mời đến thẩm vấn và một tuần lễ sau thì ông ta chết. Václav Havel bị bắt bốn tháng thì được thả. Ðến cuối năm, ông vào tù trở lại và lần này, ông bị kết tội chống chính phủ.
Những cuộc đàn áp như vậy kéo dài trong suốt năm 1978 và số người ký tên vào Hiến Chương vẫn tăng lên. Vào tháng Tư năm đó, một nhóm trí thức khác thành lập một ủy ban để bảo vệ những người đã bị xét xử trái phép. Họ đòi chế độ Husák phải đưa những người bị bắt ra xử công khai. Chế độ đã phản ứng bằng cách đưa hết những trí thức này vào nhà giam. Từ đó, Phong Trào Hiến Chương 77 yếu đi hẳn. Tuy nhiên, những kẻ đã tham dự vào Hiến Chương 77 vẫn tiếp tục cuộc phản kháng của họ bằng cách này hay cách khác.

Mùa Ðông Prague
Tháng Tám 1989, Tadeusz Mazowiecki của Công Ðoàn Ðoàn Kết thành lập chính phủ “không Cộng Sản” đầu tiên ở Ba Lan. Tháng Mười 1989, Ðảng Cộng Sản Hung Gia Lợi tuyên bố giải tán. Qua đầu tháng 11, Bức Tường Bá Linh bị phá vỡ.
Giữa một không khí đầy biến động như vậy ở Ðông Âu, Tổng Bí Thư Ðảng CS Tiệp Khắc, Miloš Jakeš, tuyên bố trong một đại hội thanh niên là Ðảng sẽ không tha thứ bất cứ một cuộc xuống đường nào nhằm phản đối sự cầm quyền của Ðảng và cũng sẽ không nới lỏng sự kiểm soát chính trị. Năm ngày sau, 15 ngàn sinh viên và thanh niên biểu tình chống chính phủ trên các đường phố ở Prague gần công trường Wenceslas. Cảnh sát đã thẳng tay đàn áp cuộc biểu tình và gây thương tích cho hơn 100 người.
Ngày 19/11/1989, Václav Havel và những đồng chí của ông thuộc nhóm Hiến Chương 77 cùng với một số sinh viên, nghệ sĩ và công nhân họp nhau tại tầng dưới của một hí viện lâu đời nhất Âu Châu, hí viện Lanterna Magica. Họ thành lập Diễn Ðàn Công Dân, đóng vai trò của một tổ chức chính trị đối lập. Ðầu tiên, họ lên tiếng yêu cầu trừng phạt những kẻ đã ra lệnh đàn áp biểu tình và đòi hỏi tất cả những lãnh tụ Cộng Sản có trách nhiệm đàn áp phong trào Mùa Xuân Prague phải từ chức. Miloš Jakeš đã bác bỏ những yêu sách này. Sau đó Václav Havel cầm đầu Ủy Ban gồm 18 người, tổ chức cuộc biểu tình ở công trường Wenceslas vào ngày 20 để hậu thuẫn cho những đòi hỏi của họ.
Hầu hết những nhạc sĩ, ca sĩ hát dân ca, nhà văn, lực sĩ và cả những tu sĩ, đã tiếp tay với ông vận động biểu tình để biến Diễn Ðàn Công Dân thực sự trở thành phong trào quần chúng bên cạnh tư cách của một tổ chức chính trị. Hơn 200 ngàn người đã tụ họp lại Công trường Wenceslas. Những cuộc biểu tình tương tự đã xảy ra trên những thành phố khác. Diễn Ðàn Công Dân đã đưa ra yêu sách đòi bầu cử tự do và đòi Husák, Jakeš và những lãnh tụ cực đoan phải từ chức. Ðến lúc này, Ủy Ban Lãnh Ðạo Ðảng không còn coi thường Diễn Ðàn Công Dân chỉ như là sản phẩm của một số nhà văn và trí thức. Ngày 24 tháng 11, Jakeš và chín thành viên khác của Ủy Ban Lãnh Ðạo từ chức. Karel Urbánek, một lãnh tụ ít tiếng tăm lên thay chức Tổng Bí Thư đảng. Ngày hôm đó, Alexander Dubček xuất hiện tại Công trường Wenceslas, ông đã được mọi người hoan hô nhiệt liệt. Những người thuộc thế hệ ông đã khóc khi nghe lại tiếng nói của ông. Alexander Dubček đã im hơi lặng tiếng trong suốt 20 năm. Ông không ký tên vào Hiến Chương 77. Ông chỉ làm được hai cử chỉ nhỏ tạm tương xứng với vị thế của ông, đến thăm Václav Havel vào giữa năm 1989 khi nhà soạn kịch được thả ra khỏi tù và gởi lời mừng sinh nhựt Ðức Hồng Y František Tomášek, một người không được cảm tình của chế độ. Do đó, ông đã được chào mừng như một cựu lãnh tụ hơn là một lãnh tụ. Ông vẫn nhắc lại chủ trương “Xã Hội Chủ Nghĩa Với Bộ Mặt Nhân Bản”. Nhưng, ở Mùa Ðông Prague 89, câu nói này không còn tạo được một âm hưởng nào như 21 năm trước. Nhiều người có nghĩ đến một vai trò chuyển tiếp mà ông có thể đóng được, và chỉ có thế. Ông cũng không tỏ ra có một tham vọng nào. Ông ủng hộ Diễn Ðàn Công Dân cùng với tất cả những đòi hỏi của họ.
Vì chế độ vẫn không chịu thỏa mãn tất cả những yêu sách của Diễn Ðàn Công Dân, Václav Havel kêu gọi một cuộc Tổng Ðình Công trong 2 giờ để cảnh cáo chế độ. Václav Havel đã thuyết phục được thợ thuyền nhập cuộc. Ngày 27 tháng 11-1989, hơn một triệu người Tiệp Khắc đã tham dự cuộc Tổng Ðình Công ở Prague. Có cả một phái đoàn của những người mù xuất hiện tại Công trường Wenceslas. Václav Havel thách đố chế độ hãy nhìn thẳng vào Công trường để thấy đó như một cuộc trưng cầu dân ý bác bỏ tư cách lãnh đạo chính trị của đảng Cộng Sản Tiệp Khắc. Những yêu sách cũ như bầu cử tự do được nhắc lại, và thêm vào những yêu sách mới như thay đổi nội các và giao những bộ quan trọng như Quốc Phòng cho những người không Cộng sản v.v… Dĩ nhiên, những đòi hỏi như vậy đã không được dễ dàng chấp nhận. Ký giả Jiří Dienstbier phát ngôn viên của Diễn Ðàn Công Dân, một người đã ra vô nhà giam rất nhiều lần, tuyên bố với báo chí: “Ở Tiệp Khác, trong suốt 20 năm qua, mọi người đều biết rằng chế độ này không thể nào giải quyết được những khó khăn của đất nước. Nhưng mọi người vẫn sợ. Bạo lực và áp bức là những phương tiện chính để cai trị. Quyền hành đã được xây dựng từ đó và chỉ muốn được xây dựng từ đó. Vì vậy, những kẻ cầm quyền rất sợ nhượng bộ vì họ e ngại nếu nhượng bộ, quyền hành của họ sẽ tiêu tan”.
Tuy nhiên, sau cùng, những kẻ cầm quyền có nhượng bộ.
Ngày 30 tháng 11, Quốc Hội Tiệp Khắc biểu quyết bãi bỏ tư cách lãnh đạo chính trị của Ðảng CS Tiệp Khắc như đã ghi trong Hiến Pháp. Ủy Ban Lãnh Ðạo Ðảng tuyên bố sẽ tổ chức bầu cử tự do. Ngày 4 tháng 12, khối Warsaw chính thức công nhận: “Cuộc xâm lăng Tiệp Khắc năm 1968 1à một quyết định sai lầm”. Trong vòng một tuần lễ, Nội Các Tiệp Khắc thay đổi ba lần và cả ba lần, họ đều chưa đáp ứng được đúng những đòi hỏi trước đó của Diễn Ðàn Công Dân. Dĩ nhiên, những kẻ cầm quyền còn muốn kéo dài quyền lực của họ.
Biến cố Mùa Ðông Prague có thể vẫn chưa đến hồi kết cuộc. Tuy nhiên vấn đề đáng nói ở đây là sự thức tỉnh này của dân tộc Tiệp Khắc. Ðể nói về sự thức tỉnh này, không có gì hơn là ghi lại một câu viết trên bức tường một hầm xe điện ngầm ở Prague: “Chúng ta đã tập bay như chim và tập lặn như cá. Có phải đây là lúc chúng ta bắt đầu sống như những con người?”
*
Cuộc tranh đấu chống chủ nghĩa Cộng sản ở Tiệp Khắc mang một sắc thái đặc biệt ở Ðông Âu: một cuộc tranh đấu kiên trì và thuần trí thức. Mục đích chính được nhìn qua các Tuyên Ngôn hay sách vở của họ, không nói rõ là họ chống chủ nghĩa CS mà chỉ nói là chống bất cứ một chế độ, một thế lực hay một chủ trương nào nhằm áp đảo hay tước đoạt những quyền căn bản của con người. “Chống Cộng” do đó chỉ được hiểu như một hệ quả đương nhiên từ mục tiêu chính.
Cái lợi của cách tranh đấu này là dù có hiểu được thâm ý của họ, những kẻ cầm quyền cũng khó tìm thấy một cái cớ thật chính đáng tiêu diệt họ cách tàn bạo. Thêm vào đó, với sự can đảm, với ý chí sắt đá, với tài năng, và với ý thức cao độ về trách nhiệm của một người trí thức đối với dân tộc, họ đã tạo được một sức mạnh đủ cho cuộc tranh đấu tồn tại trong suốt hơn 30 năm cho đến khi cơ hội đến, họ chộp lấy được ngay, và chỉ trong 10 ngày họ đã đạt được những gì mà Ba Lan mất đến 10 năm.
Nhược điểm của cách tranh đấu này là làm cho họ xa rời quần chúng. Những tác phẩm văn học hay nghệ thuật của họ mặc dầu vẫn làm cho quần chúng say mê thưởng thức, nhưng quần chúng phục họ hơn là thấy họ với quần chúng là một. Về điểm này, trí thức Tiệp Khắc đến mãi mùa Ðông 89 mới đạt được cái mức mà trí thức Ba Lan đã đạt từ 1976, khi tổ chức Bảo Vệ Công Nhân (KOR) ra đời để tạo một liên minh với Thợ Thuyền. Chính vì vậy mà trong suốt hơn 30 năm, người trí thức Tiệp Khắc khá lẻ loi trong cuộc tranh đấu của họ.
Nếu không có sự thành công của cuộc cách mạng Ba Lan cùng với những biến động mới nhất phát sinh từ những chủ trương Perestroika và Glasnost ở Liên Xô, không chắc những trí thức Tiệp Khắc đã làm nên được lịch sử. Trong trường hợp này, những kẻ cầm quyền sẽ tiếp tục cô lập họ như những kẻ cầm quyền ở Ba Lan đã làm đối với trí thức Ba Lan trước 1976. Trường hợp của Tiệp Khắc còn thuận lợi hơn cho kẻ cầm quyền vì Tiệp Khắc có nhiều tài nguyên, dân số ít và hưởng được một truyền thống tốt về phát triển kỹ nghệ từ trước thế chiến nên thợ thuyền hưởng một mức sống vật chất tương đối đầy đủ. Do đó, sẽ rất khó cho người trí thức thuyết phục thợ thuyền làm những điều có thể nguy hại đến đời sống bình thường của họ.
Dù sao, mỗi nước có một hoàn cảnh riêng, người trí thức Tiệp Khắc có thể đã tiến hành cuộc tranh đấu của họ bằng cách tốt nhất mà họ có thể làm được. Riêng đối với những nhà văn Tiệp Khắc, những người đã ý thức trách nhiệm của mình là phải nói lên tiếng nói lương tâm của đất nước, họ đã làm được những điều mà những đồng nghiệp của họ ở những nơi khác, dù trong hoàn cảnh thuận lợi hơn, đã không làm được. Ðây cũng là lý do cắt nghĩa tại sao nhà văn Tiệp Khắc luôn luôn có một chỗ đứng cao trong lịch sử của nước họ.
Một điều cuối cùng cần được nói đến với lòng khâm phục là trình độ dân trí của Tiệp Khắc. Gần một triệu người xuống đường lật đổ một chế độ mà họ đã chán ngấy, vậy mà vẫn giữ được kỷ luật và tự chế đến độ gần như không có một điều đáng tiếc xảy ra. Thêm vào đó là một ý thức chính trị vượt bực. Hoan hô Dubček nhưng cũng hiểu ra rằng Dubček đã không theo kịp thời cuộc. Nếu sau này, tổ chức Diễn Ðàn Công Dân đạt được những mục tiêu tranh đấu của họ, chắc chắn phần lớn phải là nhờ ở tinh thần kỷ luật và ý thức chính trị cao của người dân Tiệp Khắc.

Trương Vũ
Maryland, tháng 12 năm 1989

Chú thích:
1. Nhiều nhà nghiên cứu, trong đó có Tad Szulo, đề nghị xem ngày đăng tải “Bài Thơ Cho Người Trưởng Thành” như là ngày đầu của cuộc tranh đấu trí thức cho cả Ðông Âu, không riêng gì cho Ba Lan hay Tiệp Khắc. (Xem tác phẩm đã nêu ở chú thích 2).
2. Szulo, Tad. “Czechoslovakia Since World War II”. New York: The Viking Press, 1971.
3. Nyrop, Richard. “Czechoslovakia: A Country Study”. Washington, D.C.: The American University/Area Handbook Series, 1982.
4. Doerner, William. “Our Time Has Come”. Time, Dec. 4, 1989.
5. Harden, Blaine. “Czechoslovakia In the End of Communist Monopoly”. The Washington Post. Nov. 29, 1989.
6. Kamm, Henry. “Spirit of 1968 is still alive, still distinct”. The New York Times, Nov. 30, 1989

Tháng 8- ngày con thỏ chết.

tonnuthunga

Tháng tám kéo dài như bất tận,
Ngày qua, ngày tới quá mơ hồ!
Ngọn lá, cành cây không chuyển động,
Chân buồn theo lối nắng ngây ngô.

Tháng tám ngồi nhìn con thỏ chết,
Lòng buồn ray rứt mãi không nguôi
Tháng tám đàn chim không thấy tới,
Chiều hoang chầm chậm phủ quanh đời.

Tháng tám trời hồng, cây bén lửa
Núi đồi khói tím trở thành mây
Có phải quanh ta là địa ngục?
U minh từ chốn thế gian này.

Tháng tám mùa hè trôi uể oải,
Đêm nằm chong mắt ngó trời cao.
Mưa sao băng rơi ngoài vũ trụ
Thầm xin cho mấy trận mưa rào.

Tháng tám, đêm có mưa sao băng.
Buồn ơi, sao cứ giữ trong lòng?

Tôn Nữ Thu Nga
San Dimas

Thơ Tôi

trantrungdao

Xin đừng tiếc, thơ tôi màu tang tóc
Bởi cuộc đời nắng sớm với chiều mưa
Mười bốn tuổi tôi làm thơ nước mắt
Khóc quê hương trăn trở đã bao mùa

Thôi em nhé cũng xin đừng thương hại
Thơ thẩn gì, chỉ trách móc nhau thôi
Con nước cũ chẳng bao giờ trở lại
Để nghìn năm nghe dốc đá ngậm ngùi

Em như cánh sen hồng đang hé nở
Giữa ao bùn vẩn đục của đời tôi
Trong gần gũi đã có nghìn cách trở
Nợ gì nhau sao nắng bám lưng đồi

Xin đừng tiếc, thơ tôi buồn như thế
Chuyện đau lòng chẳng thể viết cho vui
Tôi chỉ vẽ cảnh đời tôi dâu bể
Giấu niềm đau trong chua chát tiếng cười

Xin đừng tiếc, thơ tôi là sương đọng
Sẽ tan dần khi đêm tối ra đi
Trong xa cách có nghe lời ai vọng
Vì sao băng chưa kịp ước mơ gì

Xin đừng tiếc, thơ tôi là kỷ vật
Của một thời thơ ấu rất đơn côi
Tôi là kẻ độc hành không quán trọ
Đời tục du vai áo bạc quen rồi

Xin đừng tiếc, thơ tôi lời sỏi đá
Một linh hồn khép kín tự trăm năm
Đừng cúi nhặt sẽ đau lòng biển cả
Đừng lăn đi mất dấu chỗ tôi nằm

Tôi làm thơ chẳng mong thành thi sĩ
Ngủ với trăng hay bạn với sông hồ
Thơ tôi đấy trái tim đầy máu rỉ
Sẽ muôn đời ở lại với hư vô.

Trần Trung Đạo