Đáo hạn.

trachantranhuuhoi

Ngồi chờ đã hai giờ đồng hồ mà vẫn chưa thấy Hằng, Thụ nhấp nhổm nhìn ra cửa. Quán không có ai, bà chủ sau khi bưng ly cà phê cho anh rồi biến đi đâu mất làm anh muốn xin thêm chút đường cũng đành chịu!
Mấy năm rồi, từ ngày lập gia đình, anh trở thành khách hàng thường xuyên của Ngân Hàng. Lấy nhau, cả anh lẫn chị đều tay trắng. Anh làm đủ việc, từ đi rừng đốn gỗ lậu đến buôn gỗ vào Sài gòn…Gom được vài chục triệu, chưa kịp mừng thì chuyến kế tiếp bị bắt! Vay nóng nhiều chứ Ngân Hàng chỉ vài chục triệu không đủ làm vốn, được cái lãi thấp, có kỳ hạn trả nợ chứ không đòi bất thường như các chủ nợ chuyên cho vay nóng. Anh nhớ có lần nghe tin anh bị bắt gỗ trong Phan Thiết, bốn năm bà chủ nợ đến liên tục làm anh phải trốn lên Đà lạt cả nửa tháng. Ở nhà, chị Thu vợ anh khốn khổ với họ…
Từ ngày làm được cái sổ đỏ, dành dụm xây cái nhà, xem như có tài sản thế chấp, anh bắt đầu trở thành con nợ của ngân hàng, làm ăn theo hướng ổn định hơn là bán đồ lưu niêm, phim chụp hình, băng đĩa nhạc…kiêm luôn nghề thu băng.
Vừa lảm trả nợ xây nhà, vừa trang trải cho sinh hoạt của hai vợ chồng và hai đứa con, món nợ ngân hàng cứ tăng dần tử ban đầu ba mươi triệu, ba năm nay đã lên trăm triệu chẵn! Cái nhà anh ở mặt tiền đường Quốc Lộ nên cũng có giá, cộng với phí phần trăm chung chi cho cán bộ tín dụng qua mấy bà cò (*), anh mới vay được tới trăm triệu. Cứ đến hạn, cố làm sao chạy cho ra tiền lãi, còn tiền gốc thì đã có các cò tạm ứng, trả xong vay lại ngay, con nợ chỉ cần ký nhận còn cò nhận tiền…
Tiền phí dịch vụ, tức tiền lãi ngày trong thời gian chờ làm thủ tục trả, vay, có người lấy cao, có kẻ tình cảm thì lấy thấp. Cò không chỉ ứng tiền gốc, họ phải hỏi trước cán bộ tin dụng có cho vay lại không mới ứng tiền…Đã có những trường hợp dở khóc dở cười là sau khi trả xong cả gốc lẩn lãi, không vay lại được. Đòi gì được khách hàng nghèo rớt mồng tơi! Bởi vậy, cò phải là tay bản lĩnh trong quan hệ với ngân hàng và cả khách hàng…
Hằng là cò cứng cựa nhất trong số cò ở vùng này.
Quan hệ ngân hàng tốt và nhiều vốn. Hằng đẹp, mượt mà, lại góa chồng. Với cái tuổi ba chín, Hằng xem trẻ như mới chừng hai tám, ba mươi, nếu không bị cái tiếng sát phu thì chắc chị cũng đã có người tử tế chắp nối duyên tình từ lâu.
Anh chồng chị là một cán bộ huyện, đám cưới đúng ba tháng thì anh ta bị bênh uốn ván chết chỉ vì đạp cái đinh sét khi vào chăm đàn dê trong chuồng. Cũng may là đã kịp để lại cho chị thằng con trai trong bụng…Đâu khoảng chừng hai năm sau ngày chồng chết, một anh cán bộ Kiểm Lâm thương chị như điếu dổ, họ dự định làm đám cưới thì anh ta bị tai nạn chết khi vừa phóng xe ra từ cây xăng thường ngày vẫn đổ! Từ đó đến nay, nhiều người đàn ông nhìn chị khát khao…nhưng chị vẫn cô đơn.
oOo

Ba năm nay Thụ trở thành khách hàng của Hằng, lần đáo hạn này anh tính nhờ Hằng giúp cho anh tăng tiền vay lên trăm rưỡi triệu, một trăm trả lại cho Hằng còn dư năm mươi triệu mua cái máy photocopy, làm thêm dịch vụ này.
Anh vừa định gọi cho Hằng thì thấy cô ấy đến:
– Anh Thụ chờ lâu phải không?
– Ừ, kẹt gì thế?
– Anh có biết anh Kiên bên xưởng mộc không? Em vừa trả xong lãi và gốc hai trăm triệu, vay trung hạn, làm hồ sơ lại rồi nhưng vợ chồng lình xình, hôm qua đánh nhau ầm ỉ, đòi ly dị…Chuyện tới tai cán bộ tín dụng làm Ngân hàng không cho vay lại…
– Rồi sao, em uống gì anh gọi?
– Phải chờ vài hôm, êm êm rồi vợ chồng anh Kiên mời cơm, diển tuồng kha khá, nó thấy cơ sở làm ăn…Có em nói vào là xong thôi. Em uống rồi!
Hằng vòng hai tay ôm cái túi trong lòng, cười với Thụ rồi quay người nhìn quanh quán, những bụi hoa Hoàng yến vàng rực và nhiều loại hoa trồng chậu rất đẹp…nhưng từ khi vào đến giờ, Thụ chưa hề đảo mắt bởi trong anh đang cộm lên nỗi lo âu thường trực cứ mỗi lần đáo hạn. Lần này, vay thêm năm mươi triệu anh lại càng lo hơn.
Năm ngoái, khi vay lại một trăm triệu, Hằng cho anh biết là càn bộ tín dụng nói nếu tính theo sổ đỏ, ngôi nhà mặt tiền của anh còn rất ít đất sau khi trừ đường dây điện cao thế phía sau và mốc lộ giới phía trước. Tính theo giá quy định của tài chính thì lô đất không đến sáu mươi triệu, mặc dù giá thị trường có thể lên đến vài trăm! Anh nói với Hằng cứ chung chi và giúp anh vay lại mức ấy…Nhưng rồi không tốn kém gì, tiền lãi vay ngày và đơn trương cho dịch vụ Hằng chỉ lấy anh hai trăm ngàn. Anh ngạc nhiên nhìn Hằng, cô ấy nói:
– Em chỉ lấy anh phí bên Tài nguyên môi trường thôi.
Năm nào cũng vay và năm nào cũng tốn phí cho Tài nguyên dù đất và nhà ở không hề thay đổi, tiền thì không nói nhưng cái công chờ đợi…Nhiều lần hồi chưa có Hằng, anh chờ có khi cả hai ngày mới đóng được con dấu. Trong phòng chờ của tài nguyên, lúc nào cũng đông, chỉ toàn những người nghèo, vay đôi ba chục, có người chỉ vay năm bảy triệu sửa cái chuồng bò…cũng phải đợi…Những khuôn mặt lo âu ngao ngán nhìn nhau… Nếu không hoàn thành hồ sơ thì phải qua ngày khác, kéo theo chậm trễ bên Ngân hàng và tăng lãi vay vốn nóng tính từng ngày của việc đáo hạn.
Cò giải quyết khâu này rất nhanh bằng cách riêng của họ!
Bây giờ vay thêm năm mươi triệu không biết Hằng có giúp anh được không! Thụ tự nhiên hồi hộp như đứng trước cán bộ ngân hàng:
– Anh tính lần này cô giúp vay cho anh trăm rưởi, được không Hằng?
– Làm gì vay nhiều vậy anh Thụ?
– Anh làm thêm dịch vụ Photocopy.
Hằng nhìn Thụ, nghĩ tới Thu vợ Thụ, hơn năm nay bỗng bị bệnh tiểu đường và suy tĩnh mạch, vào ra Sài gòn liên tục.
-Trên một trăm là chuyển qua vay trung hạn, trả dần trong hai năm, nhưng phải có cơ sở làn ăn hay kinh doanh…Cái sổ đỏ lô đất của anh mà nó cho vay một trăm là nể nang em lắm rồi…
– Cô cứ chi thêm phí đi Hằng, anh cần làm thêm mới có dư ra chút ít chứ như hiên tại thì chỉ đắp đổi…
Hằng có vẻ suy tính…
– Anh đưa hợp đồng vay cũ cho em, gặp thằng cán bộ này mới đổi về…hơi khó. Có gì em gọi lại.
Thụ tin vào khả năng của Hằng nhưng vẫn lo âu. Hằng bỏ xấp hợp đồng vào túi xách, nói:
– Có thể phải lo cái giấy phép kinh doanh.

oOo
Gom hết tiền trong nhà mới đủ một triệu rưỡi. Thụ nhìn Thu đang lo lắng bồn chồn, anh nói cho vợ yên tâm:
– Có cái giấy phép kinh doanh thì tốn thêm thuế hàng quý, hàng năm, nhưng mình làm ăn dễ hơn em ạ. Em uống thuốc chưa? mệt thì gởi ai mua đại cái gì ăn cũng được, khỏi đi chợ.
Ba ngày nay Thụ bần thần, không biết Hằng có lo được không thì sáng nay nghe cô ấy gọi, bảo đang chờ anh trên huyện, mang theo một triệu rưởi đóng tiền làm giấy phép kinh doanh cho phòng Thông Tin – Văn Hóa.
Từ phòng TT-VH đi ra, Thụ cảm phục tài giao tế của Hằng. thêm tin tưởng vào lần vay này. Anh nhìn Hằng nói rất thật tình:
– Cô Hằng nói sao mà hay vậy?
– Tiền nói chứ em có nói đâu, anh xem cái phiếu thu chỉ hai trăm bốn chục ngàn mà mình đóng tới một triệu tư lận!
– Anh tính vay xong cũng phải chạy cái giấy phép kinh doanh, giờ cô làm dùm thế này anh đỡ khổ. Cho tiền cũng chưa chắc làm dễ thế này! Xe cô để ở đâu?
– Thằng con chở em lên, giờ nó đi Phan Rang rồi. Anh cho em qua ngân hàng, nếu sáng nay duyệt được thì nhận tiền luôn.
Thụ nhìn Hằng với đôi mắt biết ơn. Khi cán bộ tín dụng nhận hồ sơ rồi trình duyệt, thì xem như đã được vay. Không cưỡng được nỗi mừng, anh nắm lấy bàn tay Hằng bóp nhẹ, nhà đễ xe vắng vẽ, Hằng dựa người vào Thụ, anh ngây ngây trong mùi nước hoa và hơi ấm của cơ thể Hằng…
Đẩy chiếc xe quay đầu, Thụ nói như cố xua đi cảm xúc vừa bùng lên trong anh:
– Cái thằng Hào leo thật nhanh, năm năm trước, hồi nó mới ra trường thực tập, ngơ ngơ ngáo ngáo…vậy mà giờ đã là phó giám đốc ngồi duyệt đơn vay!

oOo
Nhận tiền xong thì cũng vừa lúc Ngân hàng nghỉ việc.
Những lần đáo hạn trước, anh chỉ ký nhận nợ ở hợp đồng, mấy tờ phiếu chi nơi quầy thu chi tiền vay rồi chào Hằng, có khi cô ấy ghé nhà lấy phí dịch vụ, có khi anh mang xuống nhà, bao giờ cũng rẻ hơn những cò khác.
Lần này số tiền nhận ra có phần dư năm mươi triệu, Hằng để Thụ tự nhận. Cô nhân viên gầy nhom ở quầy chi tiền chuổi ra cho anh một cái túi nilon có in chử “Ngân Hàng Nông Nghiệp”, Thụ bỏ tiền vào túi trong khi các nhân viên cũng lục tục chuẩn bị ra về.
Anh tìm Hằng định chào và cảm ơn như mọi khi nhưng chợt nhớ Hằng không có xe. Lác đác vài con nợ nhếch nhác và cò trong sân, Thụ thấy Hằng nổi bật trong cách ăn mặc gọn gàng sang trọng, nước da trắng mịn với nụ cười, đang đứng chờ bên quầy rút tiền ATM ngay cổng ra vào.
– Có rắc rồi gì không anh Thụ?
Hằng hỏi khi đã ngồi sau xe, Thụ nói đùa rồi quay lại đưa túi tiền cho Hằng:
– Không, kiểm tiền xong cô thu ngân còn cười duyên khi cho anh cái túi nữa!
Hằng cũng vui vẽ:
– Vay được tiền rồi thì thấy ai cũng dễ thương phải không?
Thụ cười thành tiếng, tâm trạng anh không còn nặng nề như những ngày trước.
oOo
Về đến nhà Hằng, ngôi nhà rộng và vắng vẻ, Hằng bật chiếc quạt trần ở phòng khách, vào trong rồi trở ra với cái túi có năm mươi triệu và ly nước.
Đặt ly nước và cái túi lên bàn, nhìn anh cười như chia niềm vui, hỏi:
– Anh dự tính khi nào mua máy Photocopy?
– Cũng phải sắp xếp nhiều thứ, Hằng cho anh gởi mấy cái phí dịch vụ, bao nhiêu vậy Hằng?
Hằng cười cười lắc đầu:
– Sang năm đáo hạn em lấy luôn.
– Sao được!
– Được, em chỉ bỏ chút công nói giúp anh thôi mà!
Thụ không tin là Hằng không chi phí cho nhân viên tín dụng, ít nhất cũng một triệu cho trường hợp của anh! Hằng lại đứng dậy đi vào trong, trở ra với cái túi nilon màu đỏ:
– Bánh người ta cho, anh mang về cho mấy nhóc.
Thụ nhìn Hằng, bất giác anh nắm tay Hằng rồi ghì mạnh…Hằng thở dồn dập đón nhận đôi môi tham lam của Thụ! Đôi tay Hằng cũng ghì lấy tay Thụ nhưng rồi buông ra trong tiếng nói ngắt quảng:
– Đừng anh… lỡ có chuyện gì…thì tội cho Thu và…mấy đứa nhỏ!
Thụ như không nghe thấy gì…Anh siết mạnh tấm thân run rẩy trong vòng tay, nhẹ đẩy Hằng nằm xuống salon…Hằng đưa hai bàn tay yếu ớt đẩy nhẹ ngực Thụ thì thào:
– Con em sắp về…Em có đi coi nhiều thầy, ai cũng nói cái số ấy là có thật…
Thụ sựng người tỉnh lại, cơn rạo rực đang hừng hực chợt lắng xuống, anh đỡ Hằng ngồi dậy:
– Anh…anh… xin lỗi!
Hằng đưa tay vuốt tóc rồi quay qua nắm tay Thụ bóp nhè nhẹ:
– Quản lý thị trường họ cũng quản lý cả Photocopy, có rắc rồi gì thì gọi cho em…

Sài gòn, tháng 8 năm 2016.
Trạch An-Trần Hữu Hội.

(*) Cò: Những người làm dịch vụ ứng tiền ra trả cho Ngân hàng khi đến hạn, lấy liền lãi, tiền công làm hồ sơ…

CHẾT

tonnuthudung

Con chim chết bởi rừng khô
Con cá chết bởi biển hồ suối sông
Con người chết bởi hồn câm
Đại dương chết bởi rêu rong đầu nguồn
Ngòi bút chết bởi bẻ cong
Nhà thơ chết bởi nhẫn tâm cúi đầu
Lịch sử chết bởi loài sâu
Ngàn năm văn hiến?
Ở đâu?
Rùng mình!…
Hạt mưa rơi ướt tội tình
Hạt mưa nhiễm độc
nhục hình
thiên thu…

Tôn Nữ Thu Dung

Nhờ Em Lần Cuối

trantuan

Đêm qua thả mộng lên trời
Đụng ngôi sao lạc
lại rơi xuống trần!
Đời ta,
…thả đã bao lần
Là rơi cũng bấy…
Dập bầm tả tơi!

Từ nay, thề có đất trời
Sẽ không thả nữa cho đời bình yên.

À, mai ta lỡ ngủ quên
Nhờ em – lần cuối – gọi tên ta giùm!

Trần Tuấn

NHỚ MÁ TÔI XƯA

lephuhai

Từ Tuy Hòa đi ra phía bắc khoảng 30 cây số là đến thị trấn Chí Thạnh. Qua khỏi Chí Thạnh chút xíu rẻ phải dọc theo sông Phường Lụa là đường đi về nhà thờ cổ Mằng Lăng. Đường đi đến nhà thờ ngang qua một con đập có tên Tam Giang. Đứng đó nhìn qua phía bên kia bờ thấy có một nhà nguyện be bé. Đó là xứ đạo Gò Chung, là quê quán bên ngoại của má tôi.
Ngày đó bà ngoại tôi về đây sinh má tôi, bà mất trong lần sinh nở này, má tôi sống với cậu dì và họ hàng bên ngoại. Khoảng 5 năm sau, có người đàn ông cởi ngựa về tìm dẫn má tôi đi. Nghe nói đó là cha, má tôi xúc động và đi theo ngay không cần suy nghĩ. Sau này má nói có lẽ do sự thiêng liêng của huyết thống.
Mười chin tuổi má tôi lấy chồng. Lúc đó Phú Yên là vùng kháng chiến do Việt Minh kiểm soát kể từ sau cách mạng tháng tám năm 1945. Khoảng đầu năm 1951, Pháp thả bom Cầu Máng, không có nước tưới tiêu nên cả vùng đồng bằng bị mất mùa và lâm vào cảnh thiếu đói. Ba má tôi ở miền núi nhưng vẫn phải ăn bắp thay cơm suốt nhiều tháng liền. Đến năm 1953, ba má tôi trốn ra khỏi vùng Việt Minh kiểm soát và bắt đầu cuộc đời lưu lạc…

xxx

Miền Nam Việt Nam trải qua hết thời đệ nhất lại đến thời đệ nhị cộng hòa. Và cứ mỗi một thời gian qua đi, chúng tôi càng lớn thì thấy gia đình mình càng nghèo đi, càng bớt sang trọng, càng thắt lưng buộc bụng nhiều hơn. Sau năm 1975 thì đúng là nghèo thiệt…
Năm 1979 gia đình tôi đi KTM Hòa Nguyên, những chuyến xe chở đồ đoàn của người đi kinh tế mới lũ lượt đổ về Tuy Hòa, ghé nghỉ trưa chút xíu ở cầu Ông Chừ rồi tiếp tục rẽ theo hướng tây đi về phía mặt trời lặn. Nhìn má tôi buổi trưa hôm đó, một mình với lỉnh kỉnh đồ đạc chất đầy phía sau xe: cái gạc măng rê cũ kỹ, cái đi văng làm bằng ván ép Mỹ đã tróc véc ni loang lổ, mấy tấm tôn đầy vết đinh rỉ, mấy cái giường đã tháo rời ra thành mấy bó, thanh giường, vạt giường, thúng mủng, nong nia, rỗ rá và lóc nhóc những chai lọ, hũ ghè… chợt nhớ hồi Mậu Thân nhà tôi cũng một lần chuyển đi như vậy từ xóm Máy nước về xóm Bóng, cũng má tôi ngồi sau xe một mình với đống đồ đạc…
Về sau tôi có viết bài hát “Bài ca người di trú” mở đầu bằng câu: “Năm mươi năm sao vẫn đi đi hoài, chiều dần trôi về đây lòng con tê tái…” và kết thúc: “… Năm mươi năm đã mỏi cánh chim bay, cơn mơ là vùng đất vui hiền hòa”… là tôi viết cho má tôi. Năm đó má tôi 50 tuổi.

xxx

Sống ở KTM mười mấy năm, mang bệnh sốt rét trong người lâu ngày lại không có nhiều thuốc men để điều trị nên dần dà má tôi chuyển sang sưng lá lách. Bước qua tuổi sáu mươi lăm má tôi bắt đầu suy sụp. Cái lá lách sưng to thường hay gây sốt. Đi bệnh viện mấy lần nhưng bác sĩ không dám mổ. Họ nói má tôi sức yếu sợ không chịu đựng được. Bà bước đi khó nhọc vì cái bụng sưng to.
Năm 1996, tôi và vợ con chuyển về Tuy Hòa. Không lâu sau đó tôi được tin má bị té, hôn mê và đang hấp hối. Tôi hấp tấp chạy về nhưng chỉ còn thấy má tôi nằm im trên giường, thỉnh thoảng hai bên khóe ứa ra những giọt nước mắt. Đến chiều tối hôm đó má tôi trút hơi thở cuối cùng. Năm đó bà được 67 tuổi. Chỗ chúng tôi ở lúc bấy giờ không có cửa hàng bán hòm đóng sẵn nên nhà nào cũng có để dành mấy tấm ván phòng khi hữu sự. Tôi đạp xe ra tiệm mua đinh và mấy lon sơn.
Ngày hôm sau trời vẫn còn mưa phùn gió bấc. Chiếc xe bục bịch chở xác má và mấy anh em tôi nặng nhọc tiến về phía nhà thờ. Những người đưa tang mặc áo mưa đi xe gắn máy hoặc xe đạp chạy theo sau. Sau thánh lễ Misa và nghi thức làm phép xác, cái hòm màu xanh da trời có má tôi trong đó được một nhóm trai tráng khiêng đi. Nghĩa trang công giáo đang bị ngập nước nên má tôi về nằm trên một cái gò cao, bên cạnh em gái tôi đã mất vì bệnh sốt rét hơn mười năm trước đó. Thường thì người công giáo khi chết chôn trong hòm sơn đen, cha Hiên nói sơn màu gì cũng được vì chết cũng là một sự vui mừng… Nghe kể lại trước đó bác Huy ở Sơn Nguyên mất, chôn trong một cái hòm sơn màu hồng, bên hông có ghi hàng chữ: “Ta đi về nhà Cha”, và bây giờ là má tôi với cái hòm không ghi chữ, chỉ có màu xanh da trời như sáng lên giữa một ngày đông xám.

xxx

Hồi còn ở Nha trang, mỗi lần đến lễ Vu lan, bạn tôi sinh hoạt trong Gia đình phật tử thường hay rủ tôi đi chùa. Tụi nó kể tôi nghe về bông hồng và bông trắng. Tôi cũng biết bài hát “Bông hồng cài áo”… nhưng chưa khi nào tôi quan tâm đến ý nghĩa người mẹ… Má tôi mất khi mấy anh em tôi ai cũng cắm đầu cho việc mưu sinh, cho “giọt nước mắt chảy xuống” của qui luật cuộc đời…

Lê Phú Hải

Chào Em Buổi Sáng

tranvanle

Hôm qua, tôi viết gì em nhỉ
Có phải “Chào Em Buổi Sáng” không?
Lạ chớ, trái tim tôi chẳng lớn
Muôn năm nhớ mãi má em hồng!

Em là hoa mận hoa mơ nhé
Sáng nở trắng vườn cứ ngỡ trăng
Đêm nở trên bàn tôi, gió thoảng
Mùi hương làm nhớ những mùa Xuân!

Tôi biết tôi vừa, đang, đã, nói
“Chào Em Buổi Sáng” giống hôm qua
Giống hồi nào đó tôi trên núi
Hứng giọt mù sương nắng nở hoa…

Em ơi tôi nhớ em từng phút
Từng bước em mười bảy tuổi xưa!
Tôi hỏi tại sao sông có khúc
Khúc nào không nắng cũng không mưa?

Khúc nào không có đò xa bến?
Em lớn hồi nào hỡi ngọn cau?
Cái bóng đổ nghiêng vườn của Ngoại
Tiếng gà vừa gáy nhớ nao nao…

Sáng nào cũng sáng, bình minh dậy
Tôi dậy “Chào Em Buổi Sáng” hồng
Có phải em là trăng mãi mãi?
Đêm tàn bến Ngự Nguyệt mênh mông…

Trần Vấn Lệ

Nghe một đời hư

nguyenminhphuc

Suốt một đời ngóng núi
Thấy núi nói gì đâu
Đêm ngồi nghe đá thở
Mới hay ta bạc đầu

Mênh mang làn gió thoảng
Trôi giữa chiều hư không
Thấy một ngàn mây trắng
Rụng dưới bóng ngô đồng

Lần trang kinh tiền kiếp
Nghe đổ bóng luân hồi
Người về mang bóng nguyệt
Che kín đời ta trôi

Chiều nay ngồi với núi
Ta có nói gì đâu
Sao ngoài kia hoa rụng
Mây đổ dưới chân cầu

Ai thả nghìn cánh hạc
Về qua cõi niết bàn
Ngậm ngùi cầm y bát
Ta một mình lên non…

Nguyễn Minh Phúc

LẦN ĐẦU…

hienmay

lần đầu
nếm trái chín… rơi
bắp non hé đón chơi vơi nụ tình
giữa ngày… sao chiếu lung linh(!)
nghe đâu đây ngát hương trinh
lần đầu

lần đầu
thơm vị chua dâu
nôn nao hái sớm (sợ lâu… quả… già)
như con nít ngóng chờ quà
anh vung phép mở mắt na
lần đầu

lần đầu
bối rối nguyện cầu
đừng buông… đang lửng lơ mây ngang trời
vòng tay ôm chớ để rời
ngọt dòng mật lịm anh ơi
lần đầu

lần đầu
huyền thoại nhiệm mầu
lặng im mà ngỡ nói câu yêu rồi
ai làm bung cánh thềm môi
rước em – phi ái… lên ngôi
lần đầu

lần đầu – anh đó
lần đầu…

Hiền Mây

CHỊ HOÀI

huongthuy

Tháng chín năm 1977, tôi cầm quyết định của Sở Giáo dục Phú Khánh về giảng dạy ở Trường cấp III An Cư huyện Tuy An. Ông Trưởng phòng tổ chức cười cười bảo: “Cô về đấy tha hồ mà ngắm đầm Ô Loan xinh đẹp và ăn đặc sản sò huyết trứ danh”. Đám sinh viên cùng nhận nhiệm sở nhìn tôi như ghen tị.
Chuyến xe đò ọp ẹp, già nua thả tôi xuống bên vệ đường hoang vắng trên quốc lộ I cách thị xã Tuy Hòa khoảng ba mươi lăm cây số. Chú lơ xe như thấu hiểu sự lo lắng của cô gái lần đầu đi xa, nhiệt tình bày vẻ: “Cô vào đầu kia hỏi bà chủ quán. Huyện Tuy An đây rồi”. Nói xong, chú ta đập thùm thùm vào cửa xe, hét bác tài: “Tới luôn”.
Lếch thếch với cái vali gồm chăn mùng, áo quần, sách vở…tôi thở dốc hỏi bà chủ quán về ngôi trường. Miệng đầy trầu, bà lắc đầu lia lịa trước cái giọng Huế chắc mới nghe lần đầu. Tôi thất vọng ngồi thừ người trên cái ghế đẩu. Bất chợt, một gương mặt trẻ thơ thò ra sau cửa liếp: “Trường Đồi đó bà ngoại ơi!”. Gương mặt tôi giãn ra cùng với một câu đăc sệt Phú Yên từ miệng bà chủ quán “Dzẫy na!”.
Thằng bé trai khoảng mười tuổi nhiệt tình dẫn đường cho tôi vào con đường đất cách quán khoảng 300 mét. Không những thế, nó còn xách giúp tôi cái túi nhỏ. Tôi nhủ thầm “Số mình hãy còn may!”. Đi khoảng mười phút, tôi hỏi nó: “Còn xa không em?”. Nó chỉ tay: “Kia kìa”.
. Nhìn từ xa tôi đã thấy trên ngọn đồi trọc không cây cối, duy nhất một dãy phòng học đứng chơ vơ trong nắng chiều hiu hắt. Ngôi trường cấp ba đây ư? Cảm tưởng đầu tiên của tôi là sự thất vọng đến ngỡ ngàng. Một ngôi trường hoàn toàn khác với hình dung của cô sinh viên vừa tốt nghiệp Đại học thành phố!
Thằng bé đi nhanh và đứng chờ tôi trên đồi. Con dốc đi lên khấp khểnh đầy đá. Nó đập cửa một căn nhà nhỏ bên tay phải dãy phòng học có treo cái trống ở bên ngoài:
-Bác Thạch ơi! Có ai hỏi nè…
Tiếng lộc cộc trên nền xi măng và cánh cửa mở rộng. Khuôn mặt nhầu nhĩ của một người đàn ông hiện ra. Khi thấy tôi đang thở, những nét nhăn giãn rộng:
-Cô giáo mới về trường a? Cô giáo ngồi nghỉ cho đỡ mệt. Hôm nay chủ nhật, ông Hiệu trưởng về nhà, trường không có ai…
Tôi cám ơn thằng bé bằng một cái vuốt tóc. Người đàn ông rót cho tôi chén nước trà nguội ngắt và giới thiệu:
-Tôi là Thạch, bảo vệ trường kiêm đánh trống. Tôi sẽ đưa cô xuống nhà tập thể của giáo viên bên dưới.
Lại phải kéo lê cái va li xuống chân đồi. Ông Thạch tỏ ý muốn xách giùm nhưng tôi cản lại vì nhận ra bên trái của ông là một cái chân giả. Và âm thanh lộc cộc phát ra từ đây mỗi khi ông di chuyển.
Nhà tập thể nằm dưới đồi phía bên tay trái mà khi đi lên tôi đã sơ ý không nhận ra. Nó gồm ba gian cũ kỹ và tàn tạ như ngôi trường. Ông Thạch đưa tôi vào gian cuối và gọi:- Cô Hoài ơi, cô Hoài…
Ấn tượng đầu tiên của tôi về chị Hoài là một gương mặt tai tái dấu tích của căn bệnh sốt rét kinh niên. Mớ tóc xác xơ như khẳng định thêm điều này, hai cái kẹp ba lá tuột dài trên mái. Không cần ông Thạnh giải thích, chị hiểu ngay và đón tiếp tôi bằng giọng của người miền ngoài:
-Lính mới phải không ? Vào đây, vào đây em…
Một căn phòng nhỏ khoảng hai mươi mét vuông với hai chiếc giường cá nhân song song, ở giữa là cái bàn học sinh chắc giành cho việc soạn bài. Bên trong bức màn con công đã cũ che ngang thấp thoáng mấy cái áo trên móc. Chị đặt cái va li của tôi ở cuối chiếc giường:
-Đây là giường cô Nhung dạy Sinh nhưng cô ấy đã chuyển về Nha Trang. Bây giờ nó sẽ là giường của em.
Nhiệt tình của chị làm cho tôi cảm thấy an lòng dù đang ngổn ngang trăm mối. Chị múc nước từ trong chiếc xô sắt cho tôi rửa bụi đường. Sau này tôi mới biết để có một xô nước sạch chúng tôi phải đi xa gần ba trăm mét.
Qua lời chị Hoài, tôi được biết căn phòng đầu tiên là của ông Hiệu trưởng tên Xuân người Phú Yên tập kết ra Bắc từ năm 54, cuối tuần hay về làng ở bên An Ninh; phòng bên cạnh của ông Quyền dạy Toán quê đâu tận trên Tây Bắc. Ông là giáo viên chi viện cho miền Nam. Ông vào đây đem theo một thằng con bảy tuổi, mặt ngơ ngác khờ khạo. Và phòng còn lại là của chúng tôi. Một số giáo viên nam khác đựơc bố trí ở tạm nhà dân, những ngôi nhà tôn hoặc tranh tre nứa lá nép dưới những ngọn đồi trọc xơ xác tiêu điều.
Tối hôm ấy chị Hoài mời tôi ăn cơm với cá nục kho và một đĩa rau lang luộc. Cơm được trộn thêm nắm mì sợi. Chúng tôi ăn tối trong ánh đèn tù mù, văng vẳng tiếng ếch nhái kêu vang ngoài đồng. Ông Thạch đem xuống cho tôi ba khúc sắn luộc. Nhìn chân ông tập tễnh đi lên ngọn đồi, tôi hỏi nhỏ chị Hoài:
-Ông này là bộ đội phục viên hả chị?
Chị Hoài cười phá lên:- Lính ngụy trăm phần trăm đấy.
Tôi thiếp ngủ trong tiếng hát của chị: “Đi chiến trường gùi trên vai nặng trĩu, đàn Ta Lư em cất tiếng vang lừng mừng thắng trận quê em… Tính tính tính tính tang tang tình…”
***
Đời giáo viên giúp tôi hiểu thêm về ngôi trường và đồng nghiệp. Đây là trường cấp ba đầu tiên của huyện được mở sau 1975. Trước đây, học sinh phải vào tận Tuy Hòa. Trường vẻn vẹn bảy lớp chia làm hai ca. Buổi sáng, một lớp 12 loe ngoe hai mươi mấy em và hai lớp 11; chiều có bốn lớp 10. Huyện Tuy An là một vùng bán sơn địa của tỉnh Phú Yên. Học sinh từ các xã An Hòa, An Dân, An Hiệp trở ra; Ngân Sơn, Chí Thạnh vào; La Hai, An Chấn, An Định xuống… Gần thì đi xe đạp, xa phải ở trọ trong các nhà dân, cuối tuần về nhà cơm đùm gạo bới.
Trường nguyên là ủy ban xã của chế độ cũ. Ngoài bốn phòng học, căn nhà liền kề được ngăn ra làm ba với một phần là kho sách, một phần chứa các thiết bị trường học, phần còn lại là phòng nghỉ của giáo viên giữa giờ lên lớp, vừa là phòng hội họp, lại vừa là nơi ở tạm thời của ông Thạch. Dấu tích những viên đạn còn chi chit trên tường. Giáo viên chỉ mười hai mạng chia làm hai tổ tự nhiên và xã hội. Một cô giáo trước tôi đã bỏ trường vì không chịu nổi gian khổ. Chị Hoài là người nữ duy nhất bám trụ từ ngày lập trường.
Chị Hoài người Hà Tĩnh, quê bên dòng sông Ngàn Phố, hết lớp 10 tình nguyện đi Thanh niên xung phong từ sau Tết Mậu Thân. Đất nước thống nhất, về quê thì mẹ đã mất, anh trai có gia đình, chị học tiếp mấy tháng theo chế độ ưu đãi người có công rồi được phân bổ vào Nam. Chị làm Bí thư Đoàn trường và giảng dạy môn Chính trị.
Những năm tháng chiến trường đã tạo cho chị một tính cách mạnh bạo. Nói to, lời lẽ bỗ bã, xốc vác trong công việc. Đã hai mùa hè, chị tình nguyện ở lại giữ trường; xin một đám đất hoang trồng sắn, khoai; dẫn học trò đi lao động luôn vượt chỉ tiêu…
Ông Quyền sống khép kín với căn phòng ít khi mở rộng cửa. Cánh cửa sổ nhỏ xíu làm gian nhà đắm trong thứ ánh sáng lờ mờ. Hai cha con ăn số lương thực tiêu chuẩn ít ỏi mỗi tháng. Thi thoảng chị Hoài lại dúi cho thằng bé củ khoai, mẩu sắn. Thằng bé sợ bố như sợ cọp, không bạn bè, sống lủi thủi nhìn thấy thương.
Nhân vật thứ ba nữa là ông Thạch. Qua chị Hoài, tôi mới biết thời trai trẻ ông là lính Địa phương quân của chế độ cũ. Trường Đồi chính là nơi trước đây tiểu đội ông đóng quân bảo vệ xã. Khoảng năm 1970, du kích tấn công, ông bị thương cụt một chân. Ủy ban xã dời ra quận Chí Thạnh, ông ở lại giữ cơ sở vật chất. Sau 75, đây trở thành trường cấp III. Những người dân địa phương thích làm ruộng, không ai muốn làm chức phu trường. Ông Thạch nghe nói lại có bà con xa với Hiệu trưởng. Và đó là những nguyện nhân khiến ông được nhận làm hợp đồng tại trường. Ông Thạch không vợ con, ngày trực trống, đêm bảo vệ, ngủ trên cái ghế bố -dấu tích thời còn đi “lính ngụy”- đặt tạm bợ trong kho sách. Thỉnh thoảng mua được miếng “ thịt tiêu chuẩn”, ông kho mặn ăn dài ngày. Ông không xấu nhưng nhìn dáng đi tội nghiệp ấy tôi cứ liên tưởng đến nhân vật Quasimodo trong tiểu thuyết của Victor Hugo . Chị Hoài hay nói “Tay du kích nào đó bắn dở. Gặp tao có khi lão Thạch đã bể gáo”. Có lẽ cái mặc cảm “lính ngụy” khiến ông ít nói trước sự tếu táo ồn ào của chị Hoài. Ông Xuân Hiệu trưởng tương đối dễ chịu; thầy Khiêm dạy Sử Địa, thầy Túy dạy Lý Hóa, thầy Yên dạy Thể dục sống nhờ trong các xóm. Chúng tôi chỉ gặp nhau khi trùng giờ lên lớp, khi dắt học trò đi lao động, khi họp hội đồng trong đêm bên ngọn đèn dầu được vặn bấc lớn, tỏa ra thứ ánh sáng đỏ quạch, khói đen nghi ngút. Cuộc sống đều đặn, nhàn nhạt, lâu lâu lóe lên một điểm sáng phố phường khi được về Nha Trang công tác hoặc học chính trị ở Tuy Hòa.
Nếu không có chị Hoài, có thể tôi sẽ bỏ nhiệm sở như cô Nhung. Thôn có tên Phú Tân nhưng chẳng Phú cũng chẳng Tân. Trường cách quốc lộ I khoảng tám trăm mét. Đứng trên đỉnh đồi không một bóng cây có thể nhìn thấy những chuyến xe chạy trên đường càng khơi gợi nỗi nhớ nhà. Mùa Nam cồ , những cơn gió cuồn cuộn như lốc xoáy cuốn cát bụi vào phòng học. Và cái đầm Ô Loan với lời ca ngợi của ông Trưởng phòng Tổ chức cũng chắng có chút thơ mộng nào. Nó chỉ đẹp qua ca dao khi ngắm từ trên con đèo Quán Cau: “ Lẻ loi như cụm núi Sầm. Thản nhiên như mặt nước đầm Ô Loan”. Tôi và chị Hoài đã nắm tay nhau đi dọc theo con đường dẫn xuống đầm. Hai bên bờ, heo được thả từng đàn , thấy người thoải mái giương mắt nhìn. Mùa hạ, những con bọ chét tha hồ cắn nát người tôi. Chị Hoài bảo “tại máu em ngọt”. Chúng tôi cũng chưa hề được nếm con sò huyết nào như lời ông Trưởng phòng Tổ chức.
Nói cho công bằng, ở đây tôi cũng có những niềm vui nho nhỏ. Đó là khi được chị Hoài mượn xe đạp chở ra đập Hải Yến dầm mình trong làn nước mát, khi theo học trò lên An Định mùa làm mía được phụ huynh mời uống nước chè hai ngọt ngào, khi ra Ngân Sơn ăn sắn nước Phường Lụa và hiểu tại sao nhà văn Võ Hồng có những câu văn đẹp về quê hương ông. Thôn Ngân Sơn được bao bọc bởi những rặng tre xanh ngắt. Phải chi trường được dời ra khoảng mươi cây số thì hay biết bao nhiêu!
Chị Hoài có một cuốn sổ tay đã sờn bìa. Cuốn sổ xã nhà tặng buổi lên đường vào Nam chiến đấu được chị ấp iu đặt dưới gối.Trang đầu tiên có vẽ hình đôi chim câu tung cánh bay vào trời xanh. Trong cuốn sổ chị viết những bài thơ hào hùng của Tố Hữu như Ta đi tới, Ba mươi năm đời ta có Đảng, Bài ca mùa Xuân 61…; những bài hát như Cô gái vót chông, Tiếng đàn Ta Lư, Chiếc gậy Trường Sơn…Trong các buổi văn nghệ, hội họp, lao động bao giờ chị cũng khuấy động không khí bằng thứ âm thanh cao vút. Những bài hát giúp tôi nhận ra chị từ xa, những bài hát xua tan thứ không khí ẩm mốc của mùa đông, những bài hát có tác dụng giúp học sinh vượt năng suất…
Ba năm sau hòa bình chưa kịp giúp chị Hoài phục hồi sức lực. Thân hình chị như đài khí tượng thông báo thời tiết khi chuyển mùa. Có những buổi sáng trời nóng nhưng chị run rẩy trong chăn. Có khi đang dạy chị lảo đảo và học trò phải dìu xuống khu tập thể. Thế nhưng ngày mai, chị lại xông xáo, lại đề ra kế hoạch thi đua, lại cất tiếng hát “Cuộc đời vẫn đẹp sao…”
Một điều chắc chắn là chị Hoài không có người yêu. Một năm nhận thưa thớt vài bức thư có nét chữ to cộ của ông anh ở quê. Chị đang ở vào lớp tuổi trẻ đang qua già sắp tới. Tuổi xuân của chị đã trôi trên những cánh rừng đại ngàn Trường Sơn. Có một ông đồng hương đóng quân ở Sông Cầu thi thoảng ghé chơi nhưng thấy hai người chỉ “mày tao chi tớ” như những người bạn đồng phái.Thú vui của chị là nghêu ngao những bài ca hào hùng một thuở thanh niên.
Những đêm khuya nhìn bóng chị Hoài hắt trên tường tôi cảm nhận một nỗi buồn đến nao lòng. Hết soạn bài, chấm bài thì lôi mớ len cũ ra đan cho đứa cháu nhỏ ở xa. Hình như chị cũng chẳng thuận thảo mấy với người chị dâu để háo hức về nhà dịp hè, dịp tết. Có khi nào nỗi buồn cũng là một thứ gia vị cho người ta nhấm nháp?
Khu tập thể không có giếng. Muốn lấy nước sinh hoạt chúng tôi phải đi lên cái giếng của bệnh viện cũ cách đó khoảng ba trăm mét. Để khỏi mất công, chúng tôi thường ôm áo quần lên tắm giặt vào ban đêm và băng qua khu vườn hẹp của ông Hoàn. Ông này góa vợ, có ba đứa con trai lộc ngộc hay cãi nhau ỏm tỏi. Ông Quyền có lần nửa đùa nửa thật định làm mối ông Hoàn cho chị Hoài nhưng chị quay ngoắt: “Có mà hâm. Tôi chưa điên!”.
Chị Hoài hay mắng tôi với thứ tình “tiểu tư sản” khi thấy tôi vui buồn bên lá thư vừa nhận được của người yêu. Chị ném cho tôi cuốn Ruồi trâu, cuốn Thép đã tôi thế đấy bảo: “Đọc đi, đọc đi. Lãng mạn cho lắm vào”. Có lần tôi cáu tiết bảo: “Chị thì có ai yêu mà biết lãng mạn!”. Nói xong cảm thấy ân hận ngay vì sự độc ác của mình. Nhưng chị Hoài như thản nhiên và lại tất tả với “kế hoạch, chỉ tiêu” của nhà trường.
Cứ thế, cuộc sống của tôi trôi qua bên cái dáng đi khổ sở của ông Thạch, sự năng nổ của chị Hoài, sự cần cù chịu khó của những đứa học trò quê hiền lành chân chất…
Một đêm đang mơ màng, tôi sực tỉnh dậy vì tiếng ú ớ phát ra từ chiếc giường chị Hoài. Tôi tốc cái màn bộ đội lên, khuôn mặt nhăn nhúm thảm hại, mớ tóc nhễ nhại mồ hôi hiện ra. Chị bíu chặt tay tôi, rên khe khẻ, người trằn lên đau đớn. Cuối tuần, Hiệu trưởng Xuân đã về nhà, phòng ông Quyền phát ra tiếng ngáy như kéo bể, tôi cầm đèn pin chạy lên đồi gọi ông Thạch.
Chiếc chân gỗ vội vã theo tôi xuống đồi. Ông bảo tôi đỡ chị Hoài tựa vào gối, kéo áo chị lên, đưa cho tôi đồng bạc trắng hoa xòe bảo cạo gió. Dưới ánh đèn tù mù, cả hai bàng hoàng nhận ra một vết sẹo lớn vắt chéo tấm lưng trần. Như sốt ruột trước những cử chỉ chậm chạp của tôi, ông Thạch giật lấy đồng bạc cạo mạnh, những vạch màu đỏ chạy dài trên da. Ông Thạch bảo tôi nấu một nồi nước lớn rồi lộc cộc đi vào bóng tối. Mười phút sau ông trở về với một ôm lá tre, lá sả. Chị Hoài như khỏe ra sau nồi nước xông. Chị nằm thiêm thiếp . Ông Thạch nói nhẹ: “Tốt rồi” và lặng lẽ đi lên. Suốt cả tuần, ông đi kiếm những lá thuốc Nam dặn tôi nấu cho chị Hoài uống.
Sau này khi đã bình phục, chị Hoài cứ chất vấn tôi sao lại để tay “lính ngụy”cạo gió, rằng hắn ta đã thấy cái sẹo của chị chưa. Chị cũng cho biết đó là vết thương sau trận bom B52 khi làm đường ở Đường 9 Nam Lào.
Cuối năm học, Hiệu trưởng Xuân về hưu. Hiệu trưởng mới tên Nghĩa từ Phòng Giáo dục huyện chuyển về. Việc đầu tiên của ông ta là cắt hợp đồng với ông Thạch vì “ Lý lịch không trong sáng”. Ông Thạch có một tuần để thu xếp trước khi nghỉ việc.
Có lẽ như tiên đoán được sự việc, ông Thạch không có gì ngạc nhiên. Ông vẫn lê cái chân tập tễnh lên xuống ngọn đồi trọc, vẫn đánh những hồi trống cuối cùng của năm học. Tôi cũng thấy lòng hơi áy náy nhưng một mùa hè rực rỡ đang hiện ra trước mắt. Tôi sẽ gặp người yêu, sẽ lại thấy ánh sáng văn minh của phố thị. Tôi nghĩ ông Thạch là một người tốt nhưng mình cũng chẳng giải quyết được gì.
Chị Hoài có vẻ ray rứt. Mùa hè này chị tiếp tục xung phong ở lại quản lý trường. Trước hôm tôi về thành phố , chị rụt rè đề nghị anh em giáo viên mở một cuộc liên hoan và cũng để chia tay ông Thạch. Tốt thôi. Sống ở đời cần có cái tình!
Vậy là chúng tôi gom hết số tem phiếu, chực chờ để mua được các suất “thịt tươi” ở cửa hàng tận ngoài Chí Thạnh. Tôi xin học trò một quả đu đủ xanh làm gỏi. Chị Hoài lúi húi băm thịt làm món chả giò. Anh chàng Khiêm chịu khó quạt than… Mùi thơm bay lên ngào ngạt trong khu tập thể.
Đêm ấy lại có trăng. Trăng mười hai chưa tròn nhưng đủ gieo xuống trần gian thứ ánh sáng nên thơ, quyến rủ. Thầy Túy dạy Lý ôm chiếc đàn guitar độc tấu những bản nhạc cổ điển dịu dàng. Thầy Yên đi vào xóm kiếm đâu ra can rượu trắng. Ông Quyền cũng tươi tỉnh hẳn ra, chắc ông vui vì sắp về với người vợ vùng cao Tây Bắc. Chúng tôi ngồi quanh chiếc chiếu trải rộng giữa sân trường. Ngọn gió Nam mái hiu hiu. Chia tay năm học, chia tay ông Thạch và tạm chia tay chị Hoài. Ngày mai người xuôi Nam, kẻ ngược Bắc…
Ông Thạch có vẻ cảm động nhưng không nói được gì nhiều. Những ly rượu nhỏ chuyền tay nhau. Tôi cũng ráng uống cạn ly. Mùi rượu thơm ngây ngất, nồng nàn. Chưa bao giờ tôi thấy đồng nghiệp mình dễ thương đến thế. Bây giờ tôi mới biết tửu lượng chị Hoài rất cao. Những ly rượu được chị dốc cạn. Chị còn chê rượu có pha củ mỳ nên vị hơi khê. Chị bảo chị có nghề nấu rượu gia truyền. Có dịp nào đó chị sẽ trổ tài. Chúng tôi chúc ông Thạch ba ngày còn lại vui vẻ, chúng tôi hạch hỏi chị Hoài về chuyện tình trước khi vào quân ngũ, chúng tôi nài nỉ anh chàng Khiêm tán cô bán hàng thương nghiệp huyện để giáo viên có suất mua ưu tiên…
Trăng lên giữa đỉnh trời cuộc vui mới giải tán. Và trưa hôm sau, khi đã ngồi yên vị trên chuyến tàu vào Nam tôi mới nhớ ra tối hôm qua, trong buổi liên hoan, lần đầu tiên chị Hoài không hát bài “ Cuộc đời vẫn đẹp sao…”

*

Hai tháng trời trôi nhanh như chớp mắt. Tháng Tám, tôi trở lại trường với niềm vui. Ông chú chồng tương lai hứa sẽ thu xếp cho tôi một chỗ dạy ở thành phố trong năm tới. Tôi không quên mua quà cho chị Hoài là một cái kẹp đồi mồi thay cho cái kẹp ba lá quê mùa.
Chị Hoài đón tôi với một nụ cười nhợt nhạt, làn da vẫn tái xanh. Tôi kêu lên “Chị ốm hả?”. Chị gật đầu “Chị khó ở cả tuần nay”. Bữa cơm chiều hôm ấy có thật nhiều món tôi mang về nhưng chị Hoài chỉ ăn được lưng bát rồi trùm mền nằm. Tôi cố thật nhẹ nhàng cho chị nghỉ ngơi.
Trường đã có bảo vệ mới. Một anh thanh niên khỏe mạnh và bặm trợn phù hợp chức năng nhưng không hiểu sao tôi vẫn nhớ tới cái vẻ lầm lũi và bước chân lộc cộc của ông Thạch. Không biết ông ấy bây giờ ra sao.
Giáo viên bước vào năm học mới bằng một tuần chính trị ở Tuy Hòa. Chúng tôi vui vì được kéo dài những ngày hè muộn, được rong chơi trên bờ biển, được ăn món bún mắm nổi tiếng ở chợ thị xã…Sau một năm trời gắn bó, chúng tôi cảm thấy gần nhau hơn. Cả bọn ngồi trên chiếc xe Lam chuyện trò rôm rả. Chị Hoài vẫn còn ốm nhưng là Bí thư Đoàn trường, chị không thể bỏ khóa học. Cứ buổi sáng nghe báo cáo, buổi chiều thảo luận, buổi tối kéo nhau đi quán cà phê Vị Thủy giá ba hào. “Cuộc đời vẫn đẹp sao…” dù chị Hoài có những cơn ớn lạnh vào buổi chiều. Dấu ấn chiến tranh vẫn chưa tha chị?
Buổi sáng, tôi ra cái chợ chồm hổm bên đường mua cháo cho chị Hoài. Ông Quyền tay cầm khúc bánh mì đi tới thì thầm vào tai tôi “Cô biết không? Bà Hoài chửa buộm đấy”. Chửa buộm là gì?. Tôi ngơ ngác. Ông Quyền tinh quái đưa cánh tay dứ dứ trước bụng…

Bây giờ thì không giấu ai được rồi. Những cơn nghén làm chị Hoài nôn khan. Cái bụng chị cũng đã lùm lùm sau vạt áo. Chị không hé môi với tôi nửa câu và tôi cũng không dám hỏi điều gì. Những bữa ăn thường bị bỏ dỡ .Tôi chỉ dám yên lặng chăm sóc chị với những hành động nhỏ nhặt. Một ly nước nóng, một trái khế xanh… Mấy tay thầy giáo trẻ cũng không còn ghé chơi. Những cái nhìn tò mò của học sinh và phụ huynh khi đi ngang… Đây chỉ là một vùng đất nhỏ!
Chi bộ Đảng đã có những buổi họp riêng vào buổi tối. Sau những buổi ấy, ông Quyền tránh gặp chị Hoài dù chúng tôi vẫn ở sát nhau. Dáng đi của chị Hoài nặng nề hơn, khuôn mặt lạnh căm. Tay bảo vệ mới tỏ ra nhiều chuyện. Hắn ta thì thào ông Quyền là người phê phán chị Hoài nặng nề nhất :“vi phạm đạo đức Cách mạng, không xứng đáng ở trong hàng ngũ Đảng viên, không là tấm gương sáng cho học sinh…” Hiệu trưởng mới thì cứ khăng khăng buộc chị Hoài nói rõ ai là tác giả của cái bào thai trong bụng chị “để tránh gây hoen ố cho nhà trường”. .. Cuối cùng Chi bộ quyết định một buổi họp Hội Đồng sẽ đưa vấn đề của chị Hoài ra và công bố hình thức kỷ luật.
Nhưng sẽ không bao giờ có buổi họp ấy vì khi tôi vào Nha Trang họp chuyên môn, một buổi sáng tinh mơ chị Hoài đã lẳng lặng bỏ đi …
Mọi người có vẻ nhẹ nhõm với cái kết cục bất ngờ ấy. Hiệu trưởng nói to: “Thiếu chút nửa trường ta mất danh hiệu tiên tiến, công sức phấn đấu của anh em đổ xuống sông xuống bể…”Nhìn nụ cười của ông ta tự dưng tôi ớn lạnh. Cũng kể từ đó cho đến lúc rời trường ,tôi không còn bắt chuyện với ông Quyền nữa
Chị Hoài ra đi để tôi lại với sự trống vắng đến ngỡ ngàng. Tôi tự dằn vặt đã không gần gũi chị hơn. Tại sao chị không bày tỏ với tôi? Nhưng quả thật tôi cũng chẳng biết làm gì…Suy cho cùng tôi chỉ là một cô gái trẻ chưa có kinh nghiệm với cuộc đời. Tôi cũng đặt ra nhiều câu hỏi không biết chị Hoài lỡ dại với ai? Tay bạn trai đồng hương thi thoảng ghé ư?. Có khi nào là ông Thạch trong ba đêm còn ở lại trường? Hay một đêm sáng trăng chị Hoài đi qua vườn ông Hoàn và…? Hoặc là một người nào đó chăng? Chẳng ai giải thích giùm tôi.
Nửa tháng sau Sở bổ sung giáo viên về trường. Không chỉ một mà hai. Chiếc giường cá nhân của chị Hoài được chuyển cho cô giáo mới. Khi lật chiếc chiếu của chị, tôi nhận ra chị Hoài đã bỏ quên cuốn sổ tay cũ kỹ yêu quý. Tôi lật từng trang. Những bài thơ Tố Hữu… những bài hát hào hùng… và trang cuối cùng là bốn câu thơ lỡ dở của Nguyễn Đức Mậu:
Chiến tranh đã tắt từ lâu
Vườn cau trái rụng, giàn trầu héo hon
Nửa đêm gió lạnh trăng mòn
Có người nghe tiếng ru con khóc thầm
Ôi, chị Hoài!!!
Cuối năm học, tôi được thuyên chuyển như lời hứa của ông chú chồng tương lai. Giã từ những kỷ niệm với chị Hoài! Giã từ những cơn Nam mái và Nam cồ! Giã từ ngôi trường cho tôi nỗi buồn nhiều hơn niềm vui!
Sau này tôi nghe trường đã đổi ra thị trấn Chí Thạnh, được xây dựng rộng rãi hơn, đẹp đẽ hơn, tiện nghi hơn và đặc biệt trường đã có tên của vị Tổng Bí thư thứ nhất.
Có hai lần tôi ngồi trên xe hơi đi qua vùng đất ấy. Đầm Ô Loan nhìn xa vẫn đẹp với làn nước trong xanh. Con đèo Quán Cau đựợc san lấp mở đường đã biến thành một con dốc. Và nhìn từ xa, ngôi trường Đồi vẫn chơ vơ qua làn bụi mỏng. Không biết bây giờ nó thuộc cơ quan nào…

***

Năm 2010, vợ chồng tôi quyết định “hấp hôn”bằng một chuyến du lịch Đà Lạt. Thành phố cao nguyên lờ mờ trong màn sương có sức quyến rũ kỳ lạ. Đứng trên những con dốc chúng tôi đắm mình trong vẻ đẹp kỳ ảo của đất trời tháng mười một. Chồng tôi cứ xuýt xoa tiếc mình không phải là họa sỹ để có thể tái tạo bức tranh của thiên nhiên. Thay vì đi quanh phố xá, chúng tôi leo ngọn LangBian, len lỏi vào các buôn làng người Chil ở Lạc Dương, dự một buổi rượu cần còn nguyên vẻ hoang sơ rừng núi…
Chuyến đi làm tôi có cảm tưởng được trẻ lại dăm tuổi. Đến ngày thứ năm, chồng tôi sực nhớ ra nên đi thăm một ông cậu ở vùng đất Đạ Tẻh: Cậu Chương.
Cậu Chương là con nuôi của bà ngoại chồng tôi. Cậu hiền lành, tốt tính chỉ phải tội có quá nhiều con. Nhớ năm đầu tiên về làm dâu đến chúc Tết nhà cậu, tôi phát hoảng vì gần một tiểu đội sắp hàng chờ mừng tuổi. Những năm khó khăn, nhà cậu mợ toàn phải ăn bo bo. Bà ngoại hay nhiếc “Đẻ cho lắm vào!” rồi sau đó lại dúi cho mấy bơ gạo. Năm 1981 cậu mợ quyết bỏ quê đem gia đình đi theo chính sách di dân mở khu kinh tế mới ở phía tây tỉnh Lâm Đồng. Chúng tôi cũng làm kiếp tha hương, chưa hề gặp lại cậu sau ngần ấy năm, chỉ nghe nói đại gia đình cậu bây giờ khá vững vàng. Thôi thì tiện đường ghé thăm và cũng để biết thêm một vùng đất mới.
Từ quốc lộ 20 xe đưa chúng tôi rẽ vào phía tay phải. Con đường càng lúc càng thấp dần. Mùa khô đã trở về nhưng thời tiết vẫn mát lạnh. Trên cùng chuyến xe nhưng chúng tôi lại nghe hành khách nói nhiều giọng khác nhau. Chồng tôi tò mò hỏi thì mới biết huyện tập trung nhiều cư dân từ nhiều tỉnh như Hà Tây, Quảng Trị, Thừa Thiên, Bình Định…Dấu ấn quê hương thể hiện qua những cái tên như xã Mỹ Đức, Quốc Oai, Triệu Hải, Hương Lâm, An Nhơn…Tôi bồi hồi nhớ đến những câu thơ của Nguyễn Khoa Điềm trong trường ca Mặt đường khát vọng nói về tình quê của cha ông đi mở đất:
Họ giữ và truyền cho ta hạt lúa ta trồng
Họ truyền lửa qua mỗi nhà, từ hòn than qua con cúi
Họ truyền giọng điệu mình cho con tập nói
Họ gánh theo tên xã, tên làng trong mỗi chuyến di dân…
Hai đứa con cậu Chương đã chờ sẵn ở bến xe trung tâm của huyện. Nhìn hai cậu thanh niên cao lớn khỏe mạnh với trang phục áo Pull quần Jean đúng mốt, cỡi xe máy tôi không hình dung ra đây là những đứa bé xanh rớt, mũi dãi năm nào.
Cậu mợ đón chúng tôi trước căn nhà rộng được bao bọc bởi những cây điều sai trái. Hai ông bà tóc bạc nhưng khỏe mạnh với nụ cười tươi rói. Vây quanh ông bà bây giờ không phải con cái mà là bầy cháu mười lăm đứa. Những cậu con trai đều được chia đất sống gần gũi chung quanh, chỉ “ới” một tiếng là năm phút sau có mặt đầy đủ.
Bữa ăn tối được bày ra trên hàng hiên.Trăng thanh bình. Gà vườn thịt dai và ngọt, rau sạch xanh mướt trên dĩa, hạt cơm mới thơm phức…. Cậu Chương nâng ly rượu trên tay:
-Uống đi anh chị, uống đi các con…Uống để ôn lại những tháng ngày gian khổ. Đất chẳng phụ người bao giờ.
Ngày đặt chân lên vùng kinh tế mới này, nhìn cảnh đồi núi hoang vu, cỏ tranh bao phủ, cậu Chương không tránh khỏi sự nản lòng. Một số gia đình đã quay về quê cũ hoặc chạy dạt lên Bảo Lộc làm thuê, buôn bán qua ngày. Nhưng nhớ lại lời thề độc ngày bỏ quê, nhìn lại đàn con mười đứa, trong số có sáu thằng, cậu mợ nhất quyết bám trụ.
Vậy rồi ngay lúc còn ăn gạo trợ cấp đầy mọt, mấy cha con đã lo vỡ đồi trồng lương thực ngắn ngày như khoai sắn, vào rừng đốn gỗ cắt tranh lợp nhà, tìm nơi đất trũng cấy lúa… Máu, mồ hôi, nước mắt đã đổ xuống nhưng gia đình cậu đã có cái ăn.
Đất lành chim đậu, vùng đất mới chiêu tụ nhiều gia đình khắp các vùng miền. Người ta cần đất, người ta thèm đất và người ta cải tạo đất để có những khu vườn trù phú, những cánh đồng màu mỡ hôm nay… Đateh trở thành một miền đất nhiều người mơ ước. Một vài căn nhà ở trung tâm huyện đẹp như biệt thự của người thành phố nhưng hỏi ra mới biết chủ nhân của nó là những người chịu khó làm ăn thành đạt. Nhìn những vườn điều, những hàng bơ sai trái, những mẫu cao su mới được đưa vào đầu tư, tôi nghĩ về công lao của những người mở đất. Đứa cháu cả cầm đũa giục chồng tôi:
-Uống đi anh, rượu Đạ tẻh nổi tiếng cả tỉnh Lâm Đồng. Ai về đây cũng kiếm mươi lít mang đi. Không hiểu do gạo, nước hay do người nấu…Chắc là cả ba.
Mợ Chương ngắt lời: “ -Mai xuống bà An kiếm cho anh mày chục lít . Rượu Đạ tẻh ngon nhưng ngon nhất ở đây phải là rượu bà An.Uống đậm mà không đau đầu. Rượu ấy chỉ người quen mới mua được…”
Bữa cơm rộn rã trong niềm vui sum họp của những người tha hương.

*
Tôi theo cháu gái xuống xóm mua “rượu bà An” theo lời dặn của mợ Chương. Qua con dốc, bức tranh đồng quê thanh bình hiện ra trước mắt . Một nếp nhà gỗ xinh xắn nép mình trong vườn cây xanh. Hàng cau thẳng trước nhà gợi nhớ khung cảnh của làng quê xứ Bắc. Đàn gà con lúc thúc theo mẹ bới quanh đống rơm, làn khói bếp nhẹ nhàng lan tỏa…Đứa cháu đẩy nhẹ cánh cổng:
-Bà An ơi! Để cho nhà cháu ít rượu…
Người đàn bà bước ra từ cửa căn nhà ngang, nói to:
-Mới sáng sớm mà đã mua rượu. Bảo bà mày cho ông uống lắm vào rồi hư người đi. Chờ bà chút nhá. Mới ru thằng cháu ngủ cho mẹ nó lên trường…
Giọng nói bỗ bã quen quen đánh thức tiềm thức. Ai thế nhỉ? Người đàn bà nào dáng tất tưởi thế kia. Mái tóc bạc ngẩng đầu lên. Tôi bàng hoàng..Chị Hoài? Đúng là chị Hoài của hơn ba mươi năm trước. Thời gian qua đi nhưng tôi chưa thể nhầm. Tôi thốt lên : “ -Chị Hoài! Em đây, Thu ngày xưa của chị đây!”
Chúng tôi ôm chầm lấy nhau. Ngỡ ngàng. Xúc động. Quả đất tròn nhưng gặp nhau trong khung cảnh như thế này thì thật là điều khó tưởng tương. Chị Hoài nắm chặt tay tôi:
-Chị cũng không ngờ …Chị mừng lắm, vui lắm em…
Chị Hoài tíu tít đưa tôi lên nhà trên. Chị ấn tôi ngồi xuống bộ bàn ghế giữa nhà, vội vã pha trà chế nước:
-Chờ chị chút. Chị ra vườn hái ổi cho em ăn!

Căn nhà gọn gàng như thói quen chu tất của chị. Trên tường treo những bức ảnh gia đình. Ảnh chị Hoài mặc áo dài nhung màu xanh, ảnh một cặp vợ chồng ngày cưới, ảnh đứa cháu lẫm chẫm bước đi… Chị Hoài cắt những miếng ổi trắng tươi, hướng theo ánh mắt tôi:
-Chị đấy. Ngày lên lão bảy mươi đấy. Con trai và con dâu kia. Cháu nội đầu lòng đang ngủ. Con dâu mới bầu đứa thứ hai…
Niềm vui ngời sáng trên mặt chị. Tôi hỏi chị:
-Sao tên chị lại là An? Làm em chẳng nhận ra.
Chị cười: “ -Tên thằng cu. Ở đây người ta gọi theo tên con. An là xã An Cư đấy . Em nhớ không?”
Một khoảng lặng giữa hai chị em. Ôi! Những ngày sao tôi muốn quên…
Chị Hoài kể sau những đêm kiểm điểm trong căn phòng trên ngọn đồi heo hút ấy chị đã bỏ đi. Chị không thể về quê vì miệng lưỡi xóm làng, vì gia đình người anh quá nghèo. Chị lang thang ở bến xe Nha Trang hai đêm rồi tình cờ gặp một gia đình Hà Tây đi kinh tế mới, chị đã quyết định theo họ… Tủi thân, cay đắng, đoạn trường nhưng rồi cũng qua…Đôi bàn tay một thuở Trường Sơn đã tưởng được thong thả với ngòi bút viên phấn lại tiếp tục sứt sẹo, chai sần.Thằng An đã sinh ra và lớn lên ở trên quê hương mới.Thời gian như một cái chớp mắt. Năm nay nó đã ba mươi hai tuổi đang làm ngoài thị trấn, con dâu dạy trường Tiểu học gần nhà. Chị vẫn khỏe, ở nhà trông cháu nội. Rảnh rổi lại nấu mẻ rượu cho người quen kiếm thêm thu nhập. Cuộc sống không giàu nhưng an ổn, hạnh phúc. Nhìn mắt chị, tôi hỉểu đây là sự thật.
Chia tay tôi, chị thì thầm: “- Thu biết không, chị không bao giờ ân hận vì những gì đã xảy ra…”
Và tôi cũng chẳng cần hỏi chị về người bố của thằng An. Điều đó quả thật không cần thiết.

Viết ở Trại sáng tác Đateh
Hương Thủy

CHA CHUNG

khuatdau

Chúng tôi, hai mươi bốn đứa vừa trai vừa gái, lần đầu gặp nhau trong ngày giỗ đầu của người được gọi là cha nhưng chưa bao giờ thấy mặt. Chúng tôi đều là những đứa con tư sinh của những người đàn bà không có chồng mà chửa. Không có chồng, nhưng hai mươi bốn bà đều có có cùng một người tình.
Có thể một năm, một tháng, một ngày. Và cũng có thể chỉ trong một vài giờ. Điều bí mật ấy chỉ được sáng tỏ khi một vị luật sư theo sự ủy thác của người tình vĩ đại là cha chúng tôi, phải mất hơn 300 ngày để tìm ra tông tích của từng đứa một. Chúng tôi sống rải rác từ Nam chí Bắc, có nghĩa những hạt giống của cha tôi được rơi vãi khắp nơi: hạt ở tận cao nguyên, hạt ở đồng bằng, hạt ở phố thị phồn hoa, hạt ở miền quê heo hút. Đó là những hạt mầm mạnh khỏe cố sức bám chặt vào hai mươi bốn cái dạ con tăm tối, chờ đúng hai trăm tám mươi ngày để được thấy ánh sáng mặt trời. Còn có biết bao nhiêu hạt giống lép kẹp lặng lẽ rơi tuột thì khó mà ai biết được.
Cuốn sổ nhật ký ghi lại kết quả hai mươi bốn cuộc tình là tài sản chung và duy nhất của cha chúng tôi để lại. Đó là gia bảo và cũng có thể là kinh thánh của hai mươi bốn tông đồ. Mỗi đứa chúng tôi được quyền và có bổn phận gìn giữ trong một năm tùy theo tuổi tác.
Người đầu tiên được vinh dự lật từng trang nhật ký ướt đẫm mùi tình ái ấy gần như gấp đôi tuổi tôi. Đó là một người đàn ông có một cái đầu dài và dẹp, hai thái dương hóp lại như bị kẹp trong một cái ê tô. Cả người anh oằn oẹo, chỗ lồi chỗ lõm như một củ khoai mài bị chèn ép giữa bao nhiêu sỏi đá của núi rừng.
Sau này tôi được biết anh ấy có một hình dáng dị kỳ như vậy, vì mẹ anh phải nịt chặt bụng để giấu cái thai không mong đợi ấy. Suýt chút nữa tôi cũng bị như vậy! Và chẳng riêng gì tôi, hai mươi mấy đứa kia cũng sẽ trở thành những củ khoai mài, nếu mgười mẹ tội nghiệp của họ cứ phải dùng một tấm vải dài, một đầu buột vào cây cột nhà, một đầu quấn vào mình, nín thở để giữ cho cái bụng khỏi phình to ra.
Nhưng để cho những hạt mầm lớn lên một cách bình thường, mẹ tôi và nhiều bà khác nữa đã phải đội trên đầu một tảng đá ô nhục. Tảng đá của gia tộc và của cả xóm làng: chửa hoang! Trong khi đó, cha chúng tôi cứ như một hoàng tử cỡi một con ngựa trắng thoải mái rong chơi trên những con đường rải đầy hoa tình ái.
Chúng tôi là những đứa con của tội lỗi, mặc dù các bà mẹ chúng tôi trước khi sinh đều là những người con gái hoàn toàn trinh trắng. Nếu có thể ví von, thì đó là những đóa hoa quỳnh lặng nở giữa đêm khuya. Không có một con ong cái bướm nào lượn lờ, nhưng có một tao nhân âm thầm đang ngồi đợi. Giữa lúc những cánh hoa nuột nà e ấp nở ra dưới trời đêm tinh khiết, thì người mặc khách nọ đã thò tay ra bẻ lấy. Đóa hoa thảng thốt kêu lên một tiếng trước khi chảy dài những giọt lệ thầm.
Các bà mẹ chúng tôi đã sống những ngày dài đầy tủi nhục. Nếu không bị cha dùng gậy quất túi bụi lên lưng, thì cũng bị mẹ lôi xệch vào buồng riêng mà cấu véo vào hai bắp vế non cho đến khi tươm máu. Ngày xưa còn bị cạo đầu bôi vôi dẫn đi bêu rếu khắp làng sau khi đã phải nằm úp bụng lên một cái lỗ để cho tráng đinh nện xuống hàng chục hèo.
Trong bọn anh chị em chúng tôi còn có đứa câm, đứa ngọng, đứa mắt lác, đứa sứt môi. Dù không nói ra nhưng ai cũng hiểu đó là chén đắng đầu đời mà những đứa con vừa mới thành hình trong bụng mẹ phải uống lấy. Chúng đã phải vật vã chống chọi với những thứ giết người mà người ta muốn tộng vào để tống chúng ra ngoài. Chúng phải khốn đốn như thế vì người ta tin rằng đó là nghiệp báo oan gia. Rồi khi bất đắc dĩ phải để chúng sinh ra, người ta liền quẳng chúng đi cho khuất mắt. Vì vậy có đứa bị bỏ vào thùng rác, bỏ bên vệ đường. Khá hơn thì bỏ trước cổng chùa hay trước tu viện của các bà xơ.
Quả thật chúng tôi là đồ bỏ. Dù có may mắn sống trong một gia đình thì chúng tôi cũng chỉ là những đứa con hạng hai, thậm chí hạng ba. Như tôi, có bố mẹ, có em. Nhưng mẹ tôi chưa bao giờ dám coi tôi ngang hàng với những đứa sinh sau. Chưa bao giờ bà âu yếm tôi, lại càng không dám bênh vực tôi dù chỉ một lần trước cơn thịnh nộ của bố. Tôi như cái bớt xấu xí trên khuôn ngực của bà.
Còn với bố tôi (sau này tôi mới biết là bố dượng) thì ông coi tôi như một cái gai muốn nhổ đi mà không cách gì nhổ được. Ông chưa bao giờ đánh tôi, nhưng cái nhìn lạnh lẽo của ông lúc nào cũng làm cho tôi lạnh mình. Dưới mắt ông, tôi là một sự phỉ báng không lời, là cái cười vào mũi mà đi đâu đứng đâu ông cũng nghe thấy. “Sờ sờ ra đấy mà còn lấp lửng nữa à, ông gào lên. Khốn nạn nhất là có một thằng đàn ông không mời mà đến trong nhà này!” Rồi ông trút tất cả nỗi căm hận ấy lên người mẹ tôi trong đêm tối với những trận đấm đá tàn bạo đến nỗi mẹ tôi phải kêu lên: “anh giết tôi đi chứ đừng hành hạ tôi trước mặt các con như thế!”.
Mặc dù trước khi mất ông có xin lỗi mẹ tôi và ngay cả tôi, nhưng suốt mười sáu năm sống bên ông là mười sáu năm của địa ngục. Sự trả thù của một người đàn ông biết rằng mình bị dối lừa bỡi người đàn bà mình yêu là không bao giờ có giới hạn. Mẹ tôi được bố dượng theo đuổi suốt một năm ròng, nhưng lại trao thân cho một người chỉ mới quen nhau có một buổi tối. Và cái cay đắng, cái ô nhục của bố dượng tôi vì vậy mỗi lúc một to dần theo năm tháng. Cứ như ông vớ phải đồ thừa, đồ thải, đã lỡ nuốt vào muốn khạt ra mà khạt không được. Cái làm ông đau nhất là thấy mình thua cuộc, trong khi trước đó ông tưởng mình là người thắng cuộc.
Một người hơn tôi năm tuổi, đẹp nhất trong số hơn mười đứa con gái của cha tôi, sau này trong một lần ghé thăm tôi, chị đã khóc và kể cho tôi nghe cái số phận bi thảm đã được báo trước của chị. Gần 30 tuổi mà chị vẫn chưa dám yêu ai và đương nhiên cũng chưa có chồng. Cái trinh trắng của chị đã bị ông bố dượng cướp mất trong một buổi trưa hè, lúc chị mười bốn tuổi. Ông ta bảo, ông ta lấy lại cái lẽ ra ông ta được hưởng nếu không bị cha chúng tôi phổng tay trên. Mẹ làm mất thì con phải đền! Đó là cách phán xử mà ông ta gọi là lẽ công bằng! Không biết trong cuộc rong chơi trên cõi đời ngắn ngủi này, có khi nào cha tôi giật mình nghĩ tới số phận hẩm hiu của những đứa con không mong đợi ấy?
Hai mươi bốn đứa con, già nhất trên 40, trẻ nhất trên 20 tụ tập trong một sảnh lớn của khách sạn cha tôi thường trú. Cứ như một bộ sưu tập ngộ nghĩnh của một tay suốt đời ưa xê dịch. Chúng tôi ngỡ ngàng nhìn thấy nhau lần đầu. Không một đứa nào có thể tin rằng mình lại có một số anh chị em đông đến như vậy. Một bức ảnh chụp người cha chung lúc ông phong độ nhất, trông đĩnh đạc đường bệ cứ như chân dung của tổng thống hay thủ tướng. Cả bọn nhìn bức ảnh đăm đăm, bốn mươi tám con mắt cố lục tìm trên đó chút gì là của chính mình. Hơn một chục cái đầu gục gặc khi tìm thấy cái sống mũi cao cao. Một phần ba tin rằng mình giống cái miệng với hai cánh môi dày đã từng hôn ít nhất hai mươi bốn cái miệng đàn bà. Hơn một nửa, trong đó có tôi, tìm thấy trong đôi mắt đen thẳm sáng ngời kia có hình bóng của đôi mắt mình. Đôi mắt mà mẹ tôi sững sờ xao xuyến khi nhìn tôi và bố dượng tôi thì mắng là trai lơ, đĩ đực.
Ông hiện diện trước chúng tôi cứ như Chúa xuất hiện trước nhân dân trong một bức tranh thần thánh. Ông quá đỗi xa cách, không riêng gì khoảng cách thời gian mà chính là vì cái ý nghĩ kinh hoàng rằng, một người với hai mươi bốn bà vợ như thế, nếu sống cùng nhau chắc phải xây cả một ngôi nhà năm tầng như cái khách sạn này. Và mỗi bà theo thứ tự trước sau đánh số phòng từ 1 đến 24. Rồi trong những căn phòng đóng kín ấy, đêm đêm bốn mươi tám cái tai vểnh lên nghe ngóng và hồi hộp chờ đợi từng tiếng động. Tiếng bước chân gõ trên cầu thang, tiếng gõ nhịp của đồng hồ, sau cùng là tiếng gõ cữa khẽ thôi nhưng người bên trong nghe như gõ vào tim, vì sau đó là người đàn ông quyền lực bước vào như hoàng đế Trung Hoa để ban ơn mưa móc.
Vị luật sư thay mặt anh cả vì tiếng nói của anh từ lâu đã bị cái giải buột bụng làm cho méo mó ngọng nghịu khó nghe, tuyên bố chúng tôi là anh em cùng một cha chung, dĩ nhiên là khác mẹ. Sau buổi họp mặt kỳ lạ này, ông sẽ tiến hành làm các thủ tục để ghi tên cha vào khai sinh của chúng tôi, tất cả đều mang họ Trần. Ông cũng cho chúng tôi biết cái điều lo sợ duy nhất và cuối cùng của cha chúng tôi, là nếu không nhận ra nhau có thể lấy nhau. Có lẽ vì vậy mà ông đã âm thầm tìm hiểu chúng tôi từ lúc mới sinh ra: ngày tháng năm sinh, nơi sinh, cập nhật địa chỉ từng đứa, để đến lúc biết mình không thể sống lâu hơn được nữa vì bệnh ung thư, ông trao tất cả cho vị luật sư tín cẩn thay ông làm cái công việc thu nhặt từng đứa con rơi rớt của ông về cùng một mối.
Đám giỗ đầu của ông không có nhang đèn, không vàng mã, chỉ có hai mươi bốn đóa hoa hồng được nhân viên lễ tân khách sạn mang tới phát cho mỗi đứa một bông. Lần lượt chúng tôi lên cắm vào chiếc độc bình đặt trên bàn phủ khăn đỏ như các vị quan khách bỏ phong bì vào thùng cứu trợ bão lụt. Cũng có thể là bỏ phiếu công nhận ông là cha chung. Mùi hoa hồng ngọt ngào quyến rủ thay cho nhang trầm khiến cho linh hồn ông ở một cõi trời nào đó hẳn phải bồi hồi xúc động. Vị luật sự mỉm cười giải thích với chúng tôi rằng, suốt đời cha chúng tôi chỉ yêu mỗi hoa hồng và tuy không nói ra, nhưng trong cái cười ý nhị của ông ngụ ý rằng cha chúng tôi đã từng yêu xiết bao hai mươi bốn cánh hoa ngát hương trinh đã từng nở cánh đầu để cho con ong là ông sớm tỏ đường đi lối về.
Sau những phút đầu hơi ngỡ ngàng, chúng tôi bắt đầu nghĩ về ông một cách thân thiết. Chúng tôi cố hình dung ra những năm tháng tươi vui của ông và chúng tôi tuy có hơi chua xót nhưng cũng kịp nhận ra rằng, ông cũng đã đối xử chúng tôi không đến nỗi quá tệ. Dù sao ông cũng hơn những người chủ vô danh của những ống tinh trùng trong các phòng lạnh để dành cho những kẻ hiếm muộn hay những người đàn bà muốn có con mà không có chồng. Ông vẫn chịu trách nhiệm việc mình làm, dù rằng cái phần ông gánh chịu ấy quá bé nhỏ so với hậu quả ông để lại cho các bà.
Nỗi mong ước có một người cha như bao đứa trẻ khác trên đời này khiến cho cổ chúng tôi đứa nào cũng dài ra vì chờ đợi. Từ nay, chúng tôi không còn phải xấu hổ vì hai chữ vô danh ghi trong cột tên họ người cha, nhưng chúng tôi cũng hụt hẫng vì ngần ấy là quá ít đối với một đứa con. Chúng tôi không nói tới nhà cửa tiền bạc, nếu có cũng chỉ là những bù sớt muộn màng cho những nỗi chịu đựng của các bà mẹ trong lúc tuổi già. Chúng tôi muốn nói tới sự chông chênh như đi xiếc trên dây trong suốt thời thơ ấu. Chúng tôi đã trơ trọi và lo sợ xiết bao khi phải đi trên một sợi dây chăng qua những thác ghềnh, mà đầu bên kia co người đang đứng lắc. Chúng tôi thèm biết mấy hình ảnh đứa bé một tay trong tay cha, một tay trong tay mẹ bước đi núng nính trên những con phố đông vui chiều chủ nhật. Rồi trong quán kem, mẹ thì đưa muổng lên tận miệng, còn cha thì chực hờ chiếc khăn để lau. Chỉ cần ngã một chút là đã có bốn cánh tay vội vàng nâng đỡ. Chỉ cần khóc một tiếng là đã có hai cái miệng ngon ngọt dỗ dành. Chúng tôi không có gì cả. Chúng tôi tròn vo cứ như một viên bi thả trên đầu một con dốc, muốn lăn tới đâu thì lăn.
Cuộc họp mặt kết thúc bằng một bữa tiệc khá thịnh soạn. Có những món ăn vương giả mà lần đầu tiên chúng tôi được thưởng thức. Như món yến chưng đường phèn, nhiều đứa ngơ ngẩn chẳng biết ăn ra làm sao. Chỉ mới đưa lên miệng nó đã chạy tuột vào cổ họng lúc nào không biết. Vị luật sư còn cho chúng tôi biết, mỗi năm cứ đến ngày giỗ là sẽ có người lo tàu xe để anh chị em chúng tôi đến đây gặp nhau. Tôi không biết sự sắp đặt ấy là do chút tình phụ tử hay sự ân hận muộn màng của của một người đàn ông đã có cuộc sống vượt ra khỏi lề thói thường tình.
Cho đến cuối đời, trên danh nghĩa cha tôi vẫn là người độc thân. Ông không có một ngôi nhà đúng nghĩa, một gia đình trọn vẹn. Ông là nhà thầu lục lộ và trên suốt con đường nối liền ba miền, những nơi ông dừng chân là nơi ông trúng thầu. Tại đó, ông đã làm quen, đã yêu một hay nhiều cô gái trẻ. Và khi công trình cắt băng khánh thành, thì cũng là lúc ông cắt bỏ một cách lạnh lùng những sợi dây tình ái. Ông để lại những đoạn đường, những cây cầu và những đứa con như những cột mốc cây số.
Sau bữa tiệc ngon miệng, chúng tôi chụp hình kỷ niệm. Chụp chung một tấm hai hàng nhỏ trước lớn sau. Rồi chụp riêng những chị em gái và những anh em trai. Từ đây chúng tôi phải cố nhớ mặt nhau, để chẳng những chúng tôi mà con cháu không được lấy nhau vì có thể sẽ sinh ra những đứa trẻ có cái đuôi heo.
Phải chi có một ngôi mộ thì bức ảnh của chúng tôi không cần giải thích, ai cũng biết là con của một cha, dù rằng có hơi quá nhiều. Đằng này, nó lạnh lẽo và nghiêm trang quá cứ như một chính phủ vừa mới thành lập đứng chụp chung dưới chân dung lãnh tụ. Vị luật sư cho chúng tôi biết xác của ông đã được hỏa táng và tro đã được rải xuống biển. Tại sao ông không để lại một nấm mồ? Phải chăng ông sợ hai mươi bốn bà lúc này đã không còn trẻ trung gì nữa tới kêu gào đòi lại cái phần trinh trắng?
Sống như ông và chết như ông, quả thật anh em chúng tôi khó mà bắt chước được. Nhưng thôi, mỗi người tùy theo hoàn cảnh có cách sống riêng của mình. Là con, chúng tôi không có quyền phê phán. Chỉ biết rằng, trên đời này nếu không có một người đàn ông như thế thì đã không có chúng tôi.
Dù sao cũng xin cảm ơn ông, cảm ơn cuộc đời.

KHUẤT ĐẨU

1990

KHÚC GIAO MÙA

hoangvancham

Em đã về khi mùa thu trở lại
Bên lở bên bồi vạn dặm một tình xa
Ngót nghét một đường mây tìm nhau nửa bước
Trông chờ mùa hoa nghiêng bóng cùng ta.

Tháng bảy! Ta chạm một bờ Thu thắp nắng
Yêu giọt mưa ngâu qua phố ngọt bùi nhau
Xuôi bóng đời chợt nghe mình rất lạ
Phải chi môi em chưa ráo
….. cơn mộng… về mau!

Nhìn mùa lá rơi ta ngỡ như lạc bước
Chéo áo tung bay em vội tan trong giấc mơ
Giọt sương chợt như
…….dại khờ vỡ tan trên phiến lá
Em vén màn đêm ta về giữa ngu ngơ

Ta muốn chạm vào mùa Thu
em thật khẽ
Thôi nhói đau! Sợ úa lá thu rơi
Nghiêng mãi Thu ngóng chờ nhân ảnh
Xin chùng xuống đời nhau nỗi nhớ đầy vơi…

Lửa cháy bờ môi hương em như cỏ lạ
Thì thầm nghe tình bay khua động cơn mơ
Khúc dạo đầu như rung dài từng nốt nhạc
Lắng nghe Thu
cất giọng đêm
gửi hết tóc tơ.

Hoàng Chẩm

Quảng Trị vào thu
07- 2016