Thơ Tình Tháng Mười Một

tonnuthudung

Những ngày vui anh giấu tình trong túi
Quán rượu chiều không biết với ai say
Khuya khoắt lạnh, anh trở về lầm lũi
Lỗi tại em biền biêt
dáng xưa gầy.

Những ngày buồn anh giấu tình đâu nhỉ?
Lòng hoang mang và uất ức như mưa
Đêm u ám vẫn mịt mùng hoang tưởng
Lỗi tại em
thời ấy quá đong đưa.

Những ngày buồn, ngày vui, ngày lơ lững
Những đêm chờ, đêm vô vọng, đêm xưa
Nghiêng ly cạn…
giả vờ như hờ hững
Sao vẫn nghe đau buốt buổi giao mùa.

Em -tiếng hát- hẫng rơi vào tuyệt vọng
Anh tìm gì, ngoài một chút xót xa
Em -nỗi nhớ- rơi theo tờ lá mỏng
Anh, cuối cùng
như mây gió bay qua.

TÔN NỮ THU DUNG
( Những ngày vui anh giấu buồn trong túi– Nguyễn Tấn Cứ-)

Lãnh tụ và thời đại

trantrungdao

Lãnh tụ tạo nên thời đại hay thời đại tạo nên lãnh tụ vẫn còn là một vấn đề được tranh luận nhưng chắc chắn cả hai có một quan hệ hỗ tương, gắn bó chặt chẽ trong đó ý thức của thời đại đóng vai trò quyết định. Nhìn lại một giai đoạn lịch sử hay một sự kiện chính trị để phán xét là điều quá dễ dàng nhưng khi sống ngay trong giai đoạn đó thì khó có thể phán xét đúng và sai, nhân và quả.
Vài trường hợp thường được đem ra thảo luận.

Neville Chamberlain và quan điểm “thời đại hòa bình”

Một lãnh đạo quốc gia dân chủ bị phê bình nặng nhất trong Thế chiến Thứ hai là Thủ tướng Anh, Lord Neville Chamberlain. Tuy nhiên trong thời điểm tháng Chín 1938, ông ta là một anh hùng của nước Anh.

Ngày thứ Sáu, 30 tháng Chín, 1938, thủ đô London giống như một ngày hội. Theo tin tức trên các báo, buổi sáng hôm đó Thủ tướng Lord Neville Chamberlain sẽ thành công trở về sau cuộc hội đàm với Quốc trưởng Đức Adolf Hitler. Nhiều báo còn kêu gọi dân chúng cùng đi đón thủ tướng tại phi trường bằng mọi phương tiện. Các hãng xe bus đưa thêm xe, tàu điện ngầm tăng thêm chuyến. Hàng ngàn dân Anh nô nức đổ ra phi trường Heston, cách thủ đô London chín dặm, để chào đón thủ tướng của họ.

Khi cánh cửa máy bay vừa mở, Thủ tướng Anh Lord Neville Chamberlain bước xuống cầu thang. Ông nói như hét vào tai của Bộ trưởng Ngoại Giao Anh, Lord Halifax, đang đứng trong hàng viên chức ra tiếp đón thủ tướng “Tôi đạt được rồi, tôi đạt được rồi”. Ý ông là đạt được thỏa hiệp với Hitler. Thủ tướng Anh rút trong túi một tờ giấy và cẩn thận mở ra và đọc nguyên văn “Chúng tôi, Quốc trưởng Đức và Thủ tướng Anh đã họp thêm sáng nay và cùng công nhận rằng mối quan hệ giữa Anh và Đức là mối quan hệ quan trọng hàng đầu đối với hai nước cũng như đối với toàn châu Âu. Chúng tôi nhìn nhận thỏa hiệp được ký tối qua và thỏa hiệp hải quân Anh-Đức như biểu tượng cho ước muốn của nhân dân hai nước sẽ không bao giờ phát động chiến tranh chống nhau lần nữa”. Ý thức chủ hòa là ý thức chung của đại đa số dân Anh lúc bấy giờ.

Câu nói bất hủ của Neville Chamberlain “Hòa bình trong thời đại chúng ta” vang dội khắp nước Anh trong những ngày sau đó nhưng cũng chính câu nói này đã ám ảnh ông cho đến khi ông qua đời hai năm sau.

Adolf Hitler và mộng bành trướng Châu Âu

Buổi sáng ngày 19 tháng 8, 1934 là ngày nhân dân Đức đi bỏ phiếu để hợp thức hóa vai trò lãnh đạo tối cao của Adolf Hitler. Một cột báo lớn trên trang nhất long trọng công bố “Hôm nay Adolf Hitler là biểu tượng của nhân dân Đức”. Tổng thống Paul von Hindenburg qua đời hai ngày trước.

Cuôc đại khủng hoảng kinh tế thế giới 1928, hiệp ước Versailles và quan điểm chủ hòa của phe đồng minh Anh-Pháp đã góp phần để đưa một chính trị gia chỉ được 32% số phiếu bầu hai năm trước trở thành “lãnh tụ anh minh” với gần 98.9% cử tri Đức ủng hộ trong lần bầu cử 1934, và trở nên một “cứu tinh dân tộc”. Theo sử gia Sebastian Haffner, ngay cả một số người Đức bỏ phiếu chống Hitler trước đó cũng quay sang ủng hộ Hitler.

Đành rằng, bộ máy tuyên truyền của Đức Quốc Xã do Joseph Goebbels điều hành đóng một vai trò rất lớn trong việc vận dụng tinh thần yêu nước của người dân Đức, phần chủ yếu vẫn cũng là ý thức chính trị chung của người dân Đức. Hậu quả của ý thức thời đại đó như mọi người đều biết là Thế chiến Thứ hai với khoảng 80 triệu người chết.


Một trường hợp sẽ được nghiên cứu sâu rộng sau này là trường hợp Donald Trump.

Gác qua một bên những tình cảm yêu ghét, quan điểm đạo đức, lập trường chính trị, kết quả cuộc bầu cử tổng thống Mỹ cho thấy nước Mỹ đang cần và đã tạo nên một nhân vật Trump. Ý thức thời đại đang quay về với một loại chủ nghĩa quốc gia ngay trong kỷ nguyên toàn cầu hóa. Do đó, đừng lấy làm ngạc nhiên khi Tổng thống Nga Vladimir Putin được 83 phần trăm dân Nga được thăm dò chấp thuận hay Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte được 76 phần trăm dân Philippines được thăm dò chấp thuận.

Nước Mỹ đang cần một lãnh đạo có khả năng làm lực đối trọng với Vladimir Putin của Nga, Tập Cận Bình của Trung Quốc, với Recep Tayyip Erdoğan của Thổ Nhĩ Kỳ, với Hassan Rouhani của Iran, và cũng có khả năng đặt vấn đề quyền lợi cũng như trách nhiệm một cách thẳng thắn với các quốc gia đồng minh của Mỹ.

Trong các tiệc tùng hay tại các quán nhậu, người ta có thể cười thoải mái về các chuyện đời tư hay cá tính của Donald Trump nhưng khi đem so sánh với các chính sách của Hillary Clinton, cử tri Mỹ đã nghĩ khác. Chọn lựa trước thùng phiếu khác với tình cảm trong quán nhậu. Niềm tin của cử tri Mỹ, ngoài việc cần phải thay đổi còn dựa vào xương sống của nền dân chủ Mỹ, đó là nguyên tắc đối trọng (checks and balances) giữa ba ngành chánh phủ. Nguyên tắc đối trọng hữu hiệu ngay cả trong trường hợp hành pháp lẫn lập pháp đều thuộc một đảng. Trong nhiệm kỳ đầu của TT Barack Obama, đảng Dân Chủ nắm đa số tại Thượng Viện lẫn Hạ Viện nhưng quan điểm thiểu số Cộng Hòa vẫn được tôn trọng và nhiều đạo luật phản ảnh tinh thần lưỡng đảng.

Xin mở ngoặc ở đây, trong phương pháp bầu cử theo cử tri đoàn, mục đích của ứng cử viên là chiếm được đa số cử tri đoàn và mục đích đó chi phối toàn bộ các phương pháp vận động bầu cử. Một số người không nghiên cứu tường tận cách thức bầu cử cử tri đoàn dựa trên đa số nhưng tôn trọng quyền thiểu số của Mỹ, đã vội vã phê bình là khiếm khuyết, thiếu dân chủ hay lẽ ra Hillary Clinton nên là tổng thống. Luật bầu cử của một quốc gia trước hết đặt cơ sở trên các giá trị lịch sử và điều kiện chính trị đặc thù của quốc gia đó. Nước Mỹ là liên bang của những tiểu bang, trong đó mỗi tiểu bang có chiều dày lịch sử, văn hóa, dân số và địa lý khác nhau. Nước Mỹ hình thành không phải từ “một mẹ trăm con” hay một dân tộc có nhiều ngàn năm lịch sử, mà là gặp nhau từ bốn phương trời với vỏn vẹn trên dưới 300 năm lịch sử. Phần lớn mười ba thuộc địa đầu tiên dựng nên nước Mỹ, ngoại trừ New York, đều là những thuộc địa nhỏ. Do đó, giải pháp bầu theo cử tri đoàn là giải pháp tối ưu để vừa thuận theo đa số nhưng tôn trọng thiểu số. Nếu theo phương pháp phổ thông đầu phiếu, người dân tiểu bang Wyoming sẽ chẳng có quyền quyết định gì trong chính trị Mỹ vì tiểu bang này chỉ có hơn nửa triệu dân so sánh với California dân số hơn ba mươi tám triệu.

Tranh chấp Biển Đông

Chiến lược của Mỹ trong tranh chấp Biển Đông có lẽ là điều mà mọi người Việt ưu tư về đất nước quan tâm. Trong tư cách Ngoại Trưởng, Hillary Clinton từng tuyên bố tại Diễn đàn Khu vực về Hợp tác an ninh ở châu Á tổ chức tại Hà Nội hôm 23 tháng Bảy, 2010: “Hoa Kỳ, giống như các quốc gia khác, có quyền lợi quốc gia về tự do hàng hải, mở cửa những thủy lộ chung tại châu Á, và tôn trọng luật pháp quốc tế trên Biển Đông. Hoa Kỳ chia sẻ quyền lợi này, chẳng những với các quốc gia thành viên ASEAN hoặc các quốc gia tham dự Diễn đàn Khu vực ASEAN, mà còn với các quốc gia có nhu cầu về hàng hải khác và cộng đồng quốc tế rộng lớn hơn”.

Sau hơn 6 năm từ tháng 7, 2010, Trung Cộng vẫn tiếp tục dùng vũ lực khống chế khu vực biển Đông, độc quyền khai thác các nguồn dầu mỏ, khoáng sản, và xâm phạm quyền lợi của các quốc gia vùng Đông Nam Á, tiếp tục tăng cường quân sự, hiện đại hóa võ khí và đe dọa chủ quyền các quốc gia Á Châu.

Còn quá sớm để nhận xét về chính sách đối ngoại của Donald Trump về Á Châu và cũng không có nghĩa Donald Trump lên Trung Cộng sẽ rút khỏi Biển Đông, nhưng rõ ràng một sự thay đổi về phương pháp đối đầu với những quốc gia đang xung đột quyền lợi với Mỹ là những gì cử tri Mỹ đang muốn thấy.

Hiểu được hướng đi của thời đại là điều rất cần thiết cho những ai đang mưu cầu một tương lai tốt đẹp, tự do dân chủ cho Việt Nam. Các nước nhỏ không có nhiều chọn lựa mà chỉ có thể vận dụng và phải biết vận dụng trong mọi tình huống.

Cuộc đấu tranh chống chế độ Phân Biệt Chủng Tộc Nam Phi của tổ chức ANC (African National Congress) do Nelson Mandela lãnh đạo là một bài học điển hình và một tấm gương sáng để soi. Trong một thời gian dài khi Mandela và các bạn chiến đấu của ông còn chịu đựng tù đày, các tổng thống Mỹ từ Ronald Reagan tới George H.W. Bush chẳng những không viện trợ mà còn kết án ANC là khủng bố. Nhưng các lãnh tụ ANC không vì thế mà nản lòng, bỏ cuộc, trái lại vẫn kiên trì tranh đấu và khi phong trào CS châu Âu sụp đổ, họ nắm bắt cơ hội ý thức thời đại đang chuyển về hướng dân chủ để thay đổi Nam Phi.

Nền dân chủ Việt Nam cũng vậy. Dân chủ Việt Nam như một bông hoa mọc lên giữa bụi cây đầy gai nhọn và rất khó gỡ ra, nhưng vẫn phải vươn lên. Dân chủ là văn minh của thời đại và không có chọn lựa nào khác ngoài dân chủ.

Lịch sử của Nam Phi, Miến Điện và sẽ của Việt Nam, được viết bởi những người ở lại chứ không phải bởi những kẻ bỏ đi.

Trần Trung Đạo

Giọt đắng

phuonguy

gọi hồn cho ly cà phê buổi tối
mưa ngút trầm hương xanh mộ ảo
gọi hồn lau lách bờ tre
gió về xanh lên tuổi
em nhập mộng trầm hương không nuối
tôi triền rêu níu trăng về
ngày bão lũ ôm nỗi buồn lộng lẫy
gầm từng cơn mớ phủ chân đê
đất nuốt giận từng trận đau thắt ngực
có vỡ oà như mưa?

em có đến rồi như hư như thực
như vầng trăng xanh tái mớ mây mù
gọi cho đắng từng đêm xa ngai ngái
đêm trầm nhang đêm cóng lạnh hư vô
thanh âm đá buốt ngực trầm nhức nhối
tiếng ai reo giữa nước bạc mơ hồ

HOÀNG PHƯƠNG UY

VĨNH BIỆT CHIẾC LY THỦY TINH VÀ ĐÔI GIÀY CŨ

linhphuong

Chiếc ly thủy tinh dành uống cà phê mỗi sáng vỡ rồi
Sẽ có lúc mảnh sắc cứa miệng mình chảy máu
Người đàn bà nhờ bóng đêm giấu thân nương náu
Không cho mình cơ hội được yêu thương

Xa xỉ đợi chờ- xa xỉ nhớ nhung
Hãy quăng tất cả vào sọt rác
Sáng mai đến siêu thị mua chiếc ly thủy tinh khác
Trong suốt pha lê chẳng gợn chút tì vết xấu xa

Như đôi giày mòn gót vất ở xó nhà
Tiếc chi những gì hôm qua đã cũ
Rảnh ghé cửa hàng thời trang chọn đôi giày mới
Vừa vặn bàn chân khỏi khập khiễng bước đi

Đừng khóc khi trái tim chai lỳ
Những ngôn tình của người đàn ông như chiếc ly thủy tinh vỡ hay đôi giày cũ
Giữ lại chỉ chật căn phòng em ngủ
Ám ảnh hoài khuôn mặt anh chiều sương khói mênh mông

Rút ruột đau từng phút giây dịch chuyển thời gian
Bịn rịn khối u di căn mà chưa chịu cắt
Loay hoay nhìn – loay hoay rớt nước mắt
Người đàn bà khuất bóng một vầng trăng

Sáng nay đến chùa thắp nén nhang ở Vãng Sanh Đường
Ngày giỗ lặng lẽ với bông hoa sen Má thích
Sau cuộc bể dâu đánh mất Sài Gòn đời con khánh kiệt
Trôi giạt quê người kiếm sống mấy mươi năm

Những ngôn tình “ dẫu đá nát vàng tan cũng chẳng chia lìa “ giờ héo khô trên ngọn sầu đông
Anh cũng rã rời theo từng viên thuốc
Vĩnh biệt em- vĩnh biệt lời hẹn ước
Vĩnh biệt chiếc ly thủy tinh vỡ- đôi giày cũ ngày yêu nhau – dụ dỗ nhau yêu

-Linh Phương-

ĐI VỀ PHÍA CON NGƯỜI: KÝ ỨC SẮC MÀU ( truyện dài)

ledachoanghuu

Những ngày Cu Sô thức dậy sớm, bầu trời nền màu đỏ, có khi đỏ rực. Nó lâng lâng nhưng chỉ được khoảng khắc thôi, muốn cũng không níu kéo được. Nó muốn thấy hoài khoảng khắc này nhưng không thể, giấc ngủ ru nó mạnh hơn màu đỏ nền trời kêu gọi thức dậy. Có lúc nó chực chờ một con chim bay trong nền đỏ như nó đã thấy đâu đó trong sách vở cánh hải âu bay ngang mặt trời. Và chưa bao giờ được toại nguyện. Làng quê nó không có biển. Nó chỉ còn cách ước, một ngày nào đó gặp được màu biển và nền đỏ có cánh hải âu.
Điều ước là điều ước, có khi thành hiện thực có khi không. Ta chưa bao giờ tấu được khúc nhạc rộn ràng mang màu đỏ nền bầu trời có cánh hải âu cho cu Sô. Tấu được khúc nhạc mênh mang mênh mang điều này thì rất lâu về sau.

Màu nắng làm nền cho đồi núi xa xa, xa xa nhấp nhô màu xanh xám, chỉ có vậy. Ở gần gần là dòng suối réo rắc chảy qua làng có hàng tre, hàng cỏ lau, bờ cỏ ở hai bên bờ và ngôi làng thân thương.

Dòng suối nhỏ. Khúc suối gần chỗ bìa rừng, những hòn đá lục cục lòn hòn sắp lớp chắn ngang dòng với một khoảng chiều dài khá dài và dốc tạo nên tiếng réo rắc. Nước trong khi dòng nước cạn, càng trong vắt ở những chỗ chỉ có đá cuội, sỏi và cát, nước chỗ này mát lạnh. Nước chủ yếu là cạn dòng. Có cá để câu chứ không nhiều. Ngày trước thì nhiều vô kể, cá hàng đàn lũ lượt bơi lên bơi xuống, nhứt là hức nước những cây mưa đầu mùa, hức nước bơi ngược lên nguồn, đàn cá mòi hức nước dữ dội hết thảy trong các đàn cá. Cá nhiều, bầy nhóc con có thể vớt được nhưng chẳng bao giờ làm, chờ chỗ mát lạnh có cá ngắm nhìn để bình phẩm cá xấu đẹp mà thôi. Những đàn cá chép cá mè cá trám cỏ bơi ngời ngời rất bình thường, cá rô ít hơn, cá trê cá lóc cá lăng lặng sâu và nép mình trong bờ trong hóc khó thấy, lâu lâu có cá chình giống con lươn, và lâu lâu hơn nữa có vài con cá sặc sỡ sắc màu, tụi nó không biết phải kêu là gì nên kêu cá màu. Có khi lội dưới dòng suối bị đỉa bu hút máu. Nhiều người săn bắt cá, bắt lươn thiện nghệ không kém thợ săn thú rừng, săn bắt bằng cây xiên nhọn, lao xuống nước khi trồi lên là cá đã nằm trong xiên hay còn bằng cách chém dao… đi câu, cắm câu, đặt lờ đặt lợp, đặt sa, đặt vó, đăng đó… có cá là chuyện thường tình, không có gì đáng kể.
Bấy giờ thì, khánh kiệt người ta tận bắt cho cuộc mưu sinh, cá cạn dần, còn lại món quà của thiên nhiên ban tặng cuộc sống mà chưa bị ai làm khó dễ. Rồi khánh kiệt trên dòng suối càng khánh kiệt, không còn câu cá, lưới cá, đặt lờ chụp nôm, đăng đó… bình thường nữa, đã nghĩ ra cách bắt cho được mau lẹ và nhiều, bắt bằng xuyệt điện, dòng diện đi tới đâu dưới nước cá nổi chết trắng hết sạch tới đó từ cá lớn cho tới cá nhỏ, kể cả thức ăn cho cá dưới dòng cũng chết queo. Dòng suối không thể tái sinh kịp thời cho mưu toan của con người. Ở dòng sưối này chưa bị thả thuốc nổ, có lẽ suối nhỏ. Trong các sông hay hồ lớn, những trái mìn, những trái lựu đạn dội xuống, cột nước tung bốc cao hạ xuống là nguyên một vùng rộng lớn bị hủy diệt. Đã có người sơ xuất bị cụt tay cụt chân, thương tật đầy mình từ vụ đánh cá bằng thuốc nổ này.
Nước lên dòng là từ những cơn mưa. Mưa đổ xuống có nước lên dòng ngay và đục ngầu sôi sục, những con nước hỗn. Những cơn mưa lớn nước hỗn tràn cả lên bờ, nước chảy ầm ầm, giống như nước lũ, cuốn trôi ào ào bất cứ thứ gì cản đường nước chảy, trụ vững chỉ còn lại những hàng tre trơ gốc, nước vẫn xoáy ọc ọc vào trong hóc. Xác lá, cành cây khô cây mục tấp đầy thân những bụi tre. Rất ít cây cối trụ lại được hai bên bờ này, những cây đứng vững phải có rễ cọc, rễ lan xa và cắm sâu xuống đất. Nước hỗn chảy xô dạt cỏ hai bên bờ nằm rạp sát đất, hết con nước cỏ từ từ ngóc đầu dậy, xanh um đùa giỡn với gió. Nó thấy màu của cuộc hỗn mang này chưa chắc mạnh là thắng, sức chịu đựng đã thắng.

Cu Sô mê mẩn những lũy tre.
Ta đệm thêm tiếng sáo trúc vui nhộn bên tiếng nhạc rộn ràng!
Tre không chỉ có bên bờ suối, tre còn có trên những con đường làng và đó đây vườn nhà một vài bụi.
Tre tuy gai góc nhưng dọn sạch thì cho chỗ có bóng mát rất mát mẻ. Bên bờ suối thì khỏi nói, cùng con nước mát nên ở đây mát rười rượi. Con đường cũng mát và mát rười rượi khi tre ve vẫy đong đưa. Màu tre màu mát rười rượi, nó thích nói vậy khi vẫn biết một phần là nhờ những cơn gió và dù màu tre xanh rì. Thân tre hữu ích quá chừng. Tre làm nhà, làm chòi trên nương rẫy, tre làm cầu bắt qua suối cho tụi nó ngồi đong đưa như ngồi trên võng, và làm hầu hết các vật dụng gia đình, làm chõng, vạt giường, bàn ghế, kệ bếp, sóng chén, đũa ăn, tre chẻ nan đan bồ đan ví đan vĩ, mê bồ, cối xay lúa, phênh cót, nông nia, giừng sàng, thúng mủng, cần xé, rổ sịa, bội gà (lồng gà), lồng heo… nan được chẻ nhỏ mịn đan cái rổ rá, cái lồng bàn và những tấm mành sáo rất đẹp. Lúc còn được phép xa xỉ tre còn được làm chuông gió, những cái đèn mỹ nghệ, đèn lồng… À, tới cây tăm bé nhỏ cũng từ tre mà ra.
Nó đặc biệt khoái hai thứ làm từ tre. Cái ống thổi lửa sánh màu nâu vàng láng cóng và cái ông thụt.
Ống thổi lửa vù vù rất vui, thằng con nít nào không khoái thổi lửa vù vù và cái bếp chứ, dù đôi khi bị làn khói làm cay xè chảy nước mắt! Chắc chắc rằng rất ít thằng thích nấu nướng, nấu cơm canh, canh nồi cá má đã ướp tẩm nêm mếm, nấu những nồi cháu heo sục sệt… vì lười biếng. Nhưng ở đó, ở cái xó bếp thôi có lửa đỏ hồng, lửa hồng lùi nướng củ khoai, trái bắp, lửa hồng nướng con cào cào châu chấu bắt được ngoài đồng, lửa hồng nung những viên bi đất sét để bắn và làm đạn cho cái dàn thun, hơn nữa cái bếp còn cho… ăn vụng, hehehe thằng nào dễ chống lại, dám nói chưa một lần ăn vụng, rồi những lúc đói rã ruột nhào xuống bếp lục cơm nguội, nồi niêu sạch trơn phải bưng cái ấm ám khói đen xì kê miệng vào vòi mà hút một hơi, no nước đỡ hơn màu bụng trống hoác, màu lỏng bỏng không khí ảo màu. Bếp đỏ lửa hồng còn cho hơi ấm để sưởi mỗi khi dầm mình trong mưa mạnh buốt, những ngày giá lạnh bất chợt trước tết.
Và cái ống thụt, là võ khí chia quân nhau oánh trận giả, bắn nổ lốp bốp bởi những viên đạn hột rau muống hay trái cò ke còn non hái ở bìa rừng. Trái cò ke chín tím màu hái ăn chua chua ngọt ngọt ngon lành.
Những mụt măng tươi từ tre, măng nhiều phơi khô làm nhiều món ngon lành.
Cây tre xanh tươi quanh năm, mùa nắng có ít xanh chút đi cũng ít phân biệt bởi ít người để ý kỹ. Màu xanh như một điều hiển nhiên ở những bụi tre. Giống như trong gia đình, sự biến chuyển nhỏ hiếm khi nhận thấy, con cái lớn lên từng ngày, cha mẹ bạc tóc âm thầm… Không có gì là vĩnh cửu. Cây tre cũng tới lúc lụi tàn, màu vàng sạm khô cháy chết chóc sẽ thay thế cho màu xanh. Nhưng có điều cây tre đang còn sức sống bỗng vàng hoe lá và ra bông kết trái, có khi kết thúc một đời của nó có khi không, sẽ trở lại xanh tươi sau đó là tre cho một dự báo, một dự báo khó sai, một mùa nắng hạn cực kỳ sẽ đến. Lúc này cũng chẳng ai để ý tới những bụi tre này, không sao cả, tre cứ úa và cứ cho bông trái. Nắng hạn kéo dài, cái đói tới, những hàng tre phe phẩy lá gọi mời mới phát hiện bông tre rụng đầy hột dưới gốc, hột giống hột gạo, ăn dĩ nhiên chẳng bằng nhưng đỡ đần qua cơn bĩ cực biết bao. Cây tre cùng họ với lúa mà, cu Sô thầm nghĩ, “Tre là người khổng lồ tốt bụng trong các câu chyện cổ tích, ra tay giúp người khi những người bà con tí hon không đủ sức gánh nữa”, mỉm cười vui với ý nghĩ này và lẽ dương nhiên nó cũng ước ao mình là chàng hiệp sĩ khổng lồ ra tay giúp người.

Màu nắng hạn là màu của úa tàn, khô héo. Màu của sự thống khổ ngự trị. Nắng như đổ lửa trên cánh đồng, trên mái nhà, làng quê. Những cơn mưa lười biếng không tới thì những cơn gió cũng không khá hơn. Có những lúc cầu mong chỉ là ngọn gió hiu hiu lười biếng nhứt thì lại nhận được cơn gió lam chướng. Gió lam chướng mang màu oi hốc oi hanh, nắng hạn đã mang đến đủ màu của than vãn, lo âu, mệt mỏi thì bị nhận thêm sự thất vọng. Nhiều cái lắc đầu não nề, “Tại sao xưa nay hiếm xảy ra, nay mang tội tình gì mà cứ bị liên tiếp?” không có câu trả lời.
Ta không tấu nổi khúc nhạc rộn ràng. Con nít cũng vương cái lo âu.
Nắng hạn sau một vài cơn mưa đầu mùa càng thê thảm. Cánh đồng hừng hực những làn hơi bốc lên tạo thành ảo ảnh những cơn sóng nước theo chiều thẳng đứng, lúa non chết cháy, lớp đất sình trên mặt khô quánh lại rồi nức nẻ ra từng mảng nhỏ, từng mảng nhỏ co lại cong vòng lên như cái chảo nho nhỏ, bước chân lên đất dòm rụm bể lôm rốp, nát tan tành. Đến cỏ chỉ là loại chịu nắng cực kỳ cũng khô cháy thì bắp đậu, cây trái chết đứng ở nương rẫy không có gì lạ.
Màu nắng hạn đi kèm màu khát.
Con suối nước quanh năm cạn khô dòng. Giếng nước trơ đáy. Giếng bình thường sâu năm bảy thước có nước đủ xài thì phải đào thêm ba bốn thước nữa, nước cũng hiếm hoi. Đau buồn hơn, đào sâu có nước thì ra dòng nước lợ, nước nhiễm mặn chỉ dành cho nước xài, không thể nấu không thể uống được. Người làng túa đi xuống cánh đồng bưng xa xôi, những giếng nước nơi vùng trũng hơn còn mang màu ẩm thấp, còn rỉ mạch, cũng chỉ là mạch nhỉ như người ta làm nước mắm nhỉ, nước nhỉ ra bao nhiêu là vét múc cạn bấy nhiêu, chắt tới từng giọt cuối cùng. Chắt nước sắp hàng đôi thùng lấy số thứ tự rồng rắn dài dằng dặc, thức khuya dậy sớm với hai hai chữ chắt nước mệt nhoài.
Nắng hạn con nít tụi nó hát đồng dao cầu mong:
Lạy Trời mưa xuống
Lấy nước con uống
Lấy ruộng con cày
Lấy đầy bát cơm
Lấy rơm đun bếp
Lấy nếp nấu xôi
Lấy chổi quét nhà
Lấy cà muối mắm…
Nhưng lạ thay cũng như tiếng chuông, bài đồng dao cũng bị cấm đoán bởi mang màu xin xỏ. Át tiếng đồng dao, cán bộ, thầy cô bắt phải học thuộc lòng trong sách và phải nhớ:
Ngày xưa hạn hán cầu Trời,
Ngày nay hạn hán thì người trị ngay.
Trị đêm rồi lại trị ngày,
Cho tên giặc hạn biết tay của người.
Vừa làm vừa thách cả Trời ,
Có muốn tắm mát thì mời xuống đây.
Nước kia ở dưới đất nầy,
Đào sâu vét kỹ nước đầy mương ao.
Thách trời cứ hạn nữa nào,
Đồng ta đủ nước hoa màu vẫn xanh.
Chiều chiều nghe tiếng phát thanh,
Người chăm thủy lợi Trời đành chịu thua.
(Trời đành chịu thua)
Con nít phải ra rả để thuộc lòng. Ra rả bao nhiêu thì hạn vẫn hạn. Chắt nước vẫn chắt nước. Không chỉ “Trời đành chịu thua”, thêm nhiều bài na ná như vậy nữa, nên ông Thầy lại lắc đầu ngao ngán: “Nhân văn vô hạnh”. Từ ngữ này vượt quá giới hạn hiểu biết của nó, mang máng giữ trong đầu rằng đó là màu của ngòi bút vô đạo, ngòi bút tinh tướng, ngòi bút làm theo sự sai khiến của tinh tướng…
Màu nắng hạn đi kèm màu đói.
Con cò bay lả bay la
Bay từ cửa phủ bay ra cánh đồng
Bây giờ nhường cho:
Con người đói lả đói la
Đói từ nhà cửa đói trơ cánh đồng
Một màu in sâu trong tâm trí cu Sô, nó muốn loại bỏ mà không được. Nó thấy tội lỗi, không phải đã gây tội lỗi thì muốn loại bỏ, nó chấp nhập hình phạt, hay cố làm điều tốt để thay hình phạt, chỉ vì quá xấu hổ mà thôi. Không loại bỏ được, nó muốn giấu kín trong lòng, giữ chặt riêng cho mình dù có bị trừng phạt như thế nào nhưng rất khó, dằn vặt mãi không thôi. Cuối cùng nó buột phải thổ lộ. Đó là cu Sô gắn liền với nồi cháo heo nên rất rành rẽ, nấu nước với đầu và ruột cá, một nắm muối hột sôi lên rồi từ từ cho cám vô quậy đều không để cám bón cục, cám sền sệt cho tiếp bó dây khoai lang xắt nhỏ, nấu một chập nữa cho nhừ là xong. Đổ cháo heo trộn với thân cây chuối bằm vào máng, heo táp bầm bập tới tấp. Nấu cháo và cho ăn, tắm táp heo với nó là cực hình. Mùi cứt heo thum thủm cùng với nước nên nhão nhẹt, nó chẳng ưa vẽ màu này, thì xắt cây chuối bằng dao phay lưỡi dài bén ngót nó rất thích, nó luôn cố xắt thành từng khoanh tròn sao cho còn nguyên vẹn, dù sau đó cũng phải bằm nhuyễn, chồng từng lớp khoanh tròn này rồi xắt nhỏ tiếp vẫn thấy hay hay, sướng con mắt, tuy có hơi khó, thân cây chuối xếp lớp từng bẹ dễ rớt rời ra. Ghét công việc này nhưng cuối cùng nó và heo cũng gắn bó với nhau, heo lớn nhanh vùn vụt dành cho ngày tết. Nghe tới giết heo ăn tết nơi cổ nó nghèn nghẹn, làm sao nuốt nổi thịt con heo mà mình từng gắn bó, cả nhà nó cũng vậy. Heo phải đem đi đổi thịt chứ chẳng thể giết tại nhà. Ngày người ta tới bắt heo cu Sô cay cay lòng mắt, bỏ chạy ra đồng chứ không dám chứng kiến. Ấy vậy mà, ấy vậy mà cái đói khiến nó bất chấp, nó nhẫn tâm ăn miếng thịt con chó nó cưng gấp bội con heo, con chó khôn chưa bao giờ thấy có con nào khôn như vậy bao giờ. Con chó bị xe cán, không bị xẻ xác tại nhà, nhưng nó biết chắc đó là thịt con chó. Con chó nhỏ cũng rất khôn bị chết, ngày chưa gặp phải nạn đói, được nhỏ nước mắt của nó và đào huyệt đắp mộ chôn cất đàng hoàng sau vườn, đôi khi nó còn nhớ thắp vài nén nhang cho con chó nhỏ. Bi thương số phận con chó lớn!
Một con chó bị đập chết kinh khủng hơn, nhưng lần này không phải xảy ra với cu Sô.
Một buổi chập choạng tối trời nóng bức, vài người lớn ra ngoài lộ lai rai xị đế tìm kiếm ngọn gió mát. Xương con cá khô được quăng ra, một con chó lạ khụy mình, cụp đuôi, nước dãi nhỏ ra bên mép nhích nhích lại sát ngoạm xương rồi bị nghi là con chó dại. Một số người lượm vài cục đá ném con chó, một số người tìm cây ven đường… con chó đứng dậy quay đầu bỏ chạy. Lúc này tất cả có cây hay tay không đều cùng dí theo. Vừa rượt vừa la, “Chó dại, chó dại”. Con chó đã cong đuôi lên nhưng nước dãi thì càng chảy nhiều cùng với cái lưỡi le dài, không ai để ý đuôi nó nữa. Nghe kêu chó dại ai cũng sợ, gặp gì cầm thủ nấy, gậy gộc, cuốc xuổng mà chặn đánh. Con chó bị chặn đầu này, quay chạy đầu khác, sức đã yếu nó vẫn cố chạy nên vẫn còn nhanh. Nhưng chạy một hồi lòng vòng chỗ nào cũng bị la bị chặn. Bí lối, nó bị đập mất cái chết tươi.
Con chó không phải của người làng, cũng chưa biểu hiện rõ là chó hoang dại, chó dại thấy người muốn nhào nhào vô cắn liền, nhưng không ai ái ngại bởi rất sợ khi nghe hai từ chó dại này. Làng dưới và xã khác đã có mấy người bị chó dại cắn đã chết. Khi người bị cắn trước chết, người bị sau sợ, đi tận vào Sài Gòn chícnh ngừa nhưng cũng bị trễ, không qua khỏi. Chó dại cắn nhiều chuyện ly kỳ trong dân gian. Phải kiêng cữ nhiều thứ, tránh đạp cứt gà sáp, tránh gặp đám tang… Rồi thường đúng ba tháng mười ngày là lên cơn dại, lên cơn người biến giống y chó dại, tru tréo và nhào cắn không khác gì, rồi từ từ kiệt sức mà chết. Lại có khi năm, mười năm sau hoặc lâu hơn mới phát bịnh. Và những bài thuốc bí truyền dân gian nữa, rất bí hiểm…
Đập con chó xong, có người nói:
“Đem xa xa mà chôn.”
Rồi một chú giọng miền ngoài phẩy tay:
“Ôi giời, chôn gì mà chôn, để tôi thịt.”
Vài người khác trợn mắt:
“Muốn dại hả, mấy người bỏ mạng rồi chưa thấy sao?”
“Chưa thấy quan tài chưa đổ lệ.”
Chú kêu làm thịt nói tiếp:
“Lệ gì mà lệ, thịt đi, dại tất cả là do mật mà ra thôi, cứ bỏ mật là xong, thịt chẳng hề gì. Để tôi thịt cho, ai ăn thì chia nhá.”
Một số người lắc đầu đi về. Một số lần lữa đứng coi làm, sau đó nghe mùi thui thơm bốc lên không cầm lòng, người lấy miếng nhỏ, người lấy miếng to, hỏi cách làm sao cho ngon. Và được chỉ:
“Các bác các anh làm các món đơn giản và nhanh nhá, thịt luột, nướng, xáo măng, rau thì riềng sả, lá mơ… Tôi cho mỗi người một ít mắm tôm mà dùng. Tôi làm thêm dồi luột với lòng ai chờ được thì ở lại nhấm nhé”.
Một người ở lại phụ làm, nói:
“Kỹ kỹ chút ông ơi, dơ quá.”
Chú này vẫn cười:
“Ối giời, trâu bò mấy khi tắm, bẩn thế vẫn sống nhăn răng. bẩn bẩn thế đôi khi lại sống lâu ấy chứ.”
Thêm vài người lắc đầu bỏ đi nhưng cũng kha khá người ở lại cùng ăn và khề khà nhâm nhi chai rượu đang dở dang.
Nhóm người ăn thịt chó nghi dại bỏ mật không xảy ra chuyện gì.
Gà nuôi không bị bịnh dại, không lên cơn dại mổ người. Gà chỉ bị bịnh dịch nhiều. Phòng trị cho gà bằng cách giã nhuyễn tỏi và sả cũng thiếu thốn, không đủ. Gà ngã xuống như rạ, nhanh cấp kỳ, mới sáng ra thấy còn tỉnh, chập trưa là ngáp gió, gục đầu, chiều là nằm gục, có con xoay mồng mồng rồi ngã. Nên có câu dân gian, “Như gà mắc gió, như gà trúng gió.” Bà con chỉ biết là gà trúng gió, cơn gió độc đi qua áp vô chớ không biết đó là bị dịch bịnh. Mới đầu gà chết đem chôn, sau đói và tiếc mần ăn luôn, kêu luột nấu cho kỹ một chút. Gà đang gục gật còn tiếc, nghĩ cứu được nhưng không bao giờ, mắt nhắm nhắm ngáp ngáp là coi như tiêu. Khi biết rồi, thấy vậy là mần hoặc xách nhanh đi bán rẻ, không để chết. Rất hiếm có con vượt qua được dịch khi bi mắc phải, vượt qua thì đầu cổ, chân cánh cũng cà lất cà trật như dị tật. Dịch bịnh lây lan nhanh kinh khủng. Sau có kinh nghiệm, thấy có mòi bị là lớn nhỏ bắt bán ráo, rẻ chút còn hơn mất trắng.
Chuyện mới nghe thì mắc cười, ngẫm nghĩ buồn mang mác là hai con gà bị xe cán ngoài lộ.
Một con gà mái dầu bác tài chạy xe lam vô tình cán phải. Bác ngừng lại đàng hoàng chớ hông bỏ chạy luôn. Bác nói với bà chủ gà:
“Tui lỡ cán con gà của chị rồi, thôi cho tui lấy, tui đền tiền cho chị.”
Bà chủ xót của gà đang đẻ:
“Đền cho tui bằng ba giá con gà. Giá gà thì anh thường xuyên chạy lên xuống chợ bao nhiêu anh biết rồi đó.”
Bác tài chưng hửng:
“Tui cán có một con.”
“Nó đang đẻ. Đẻ nó ấp nở bầy con, cho cả đàn mười mấy con, tui chưa bắt đền mười mấy con là may.”
Có người khách đi xe nói:
“Bà tính luôn đàn gà lớn lên đẻ ra mười mấy đàn nữa, mười mấy đàn nữa đẻ tiếp tiếp, bắt đền ngàn ngàn con đi.”
Nãy giờ trên xe nghe bà nói hông ai dám cười, giờ nghe vậy hết chịu nổi bung cười rần rật. Bà vừa tức vừa mắc cỡ, chống chế:
“Mấy người nuôi con gà lớn đẻ được vậy đi mấy người biết.”
Khách đi xe mới ngừng cười. Bác tài xế nói tiếp:
“Tui xin lỗi chị, biết chị yêu quý con gà nhưng làm khó tui quá, chạy xe được ba cọc ba đồng hà, gà tình cờ chạy ra đường tui làm sao tránh, tui cũng hông cà chớn, cà chớn tui chạy luôn chị phải lấy gà chết, bây giờ tui bấm bụng lấy nó về ăn, phiền chị lấy tiền mua lại con gà mái đẻ. À, mà chị khó khăn chuyện mua thì để tui mua đem lên.”
Bà đang chần chừ thì tiếng khách trên xe:
“Ờ vậy đi, bà mua hay ổng mua là xong.”
Nghe vậy bà lại sợ xảy ra phiền phức nữa, cầm tiền cho chắc đi mua lại gà, lỡ bác tài nổi xung thiên bỏ đi luôn, bà đáp:
“Thôi chú đưa tiền đây tui.”
Bác tài cho xe đi lắc đầu hoài:
“Hông trách được bà, tại cái thời buổi khó khăn quá, nuôi con gà mái dầu cưng như trứng mỏng.”
Khách đi xe thở dài thườn thượt.
Con thứ hai thì cố tình xua ra đường của một thằng nhóc cỡ cu Sô bởi quá thèm thịt. Nghĩ nhà có hai con gà cồ (gà trống) chết một con chẳng sao, còn một con làm giống đủ rồi. Đúng như ý định, chiếc xe bốn chỗ hiệu LADA của Liên Xô chạy vèo ngang, cán cái éc, con gà dãy dành đạch mấy cái rồi nằm nghẻo, lông bung bay bay tứ tán. Thằng nhóc mừng rơn nhưng cố thản nhiên không cười, la lên:
“Gà bị xe cán rồi.”
Nói chưa xong đã chạy ào ra để lượm vào. Ra tới lộ thì… cánh cửa xe đómg ầm, con gà theo nằm trên xe, xe rồ ga chạy mất hút. Thằng nhóc muốn điên tiết, cắn chặc môi mém bật máu, thất thểu bước vô nhà. Trong nhà vọng ra tiếng chửi rủa của má nó:
“Hả, cán xong còn ngừng lại lượm luôn hả, quân khốn nạn, khốn nạn chi khốn nạn dữ vậy Trời! Xe loại này chở mấy ông cán bộ. Mả cha mần cán bộ rồi còn lượm con gà cán.”
Tía nó lắc đầu:
“Hông chắc có ông cán bộ trên xe đâu bà. Biết đâu chỉ có thằng cha lái xe thôi chả mới lượm.”
“Hông có ông cán bộ thì lính ổng cũng thuộc loại bạ trợn ba trạo, hông được dạy dàng hoàng, thầy nào trò nấy.”
Tới chuyện lùa bò. Chiếc xe bò chở tre chặt trong núi về cho hợp tác xã. Về tới Bàu Tròn độ chừng hai giờ sáng thì ngừng lại nghỉ ngơi. Người lớn nấu nước pha trà uống còn đứa giữ bò lùa xuống uống nước rồi cho nó ăn một chút và ngồi dựa gốc cây gần đó coi bò. Chút sau thấy hơi xa xa bên bờ kia có ánh đèn như đèn pin, con bò sững lại nhìn ánh đèn thì liền nghe tiếng đùng, bò rống lên ò rồi ngã cái rật. Mọi người chạy tới thì ánh đèn cũng tắt ngúm. Con bò nằm chết ngắt.
Hiện trạng được giữ nguyên, rồi một người chạy về báo cáo các cán bộ sự việc, các cán bộ vào tận nơi kiểm tra lập biên bản ghi rõ có nhiều dấu chân kẻ chạy bên kia bàu, lần theo khá xa thì mất dấu, nghi kẻ bắn bò là dân đi săn, lầm con bò với thú rừng và đã cao chạy xa bay.
Dĩ nhiên không ai nói ra, nhưng ai cũng ngầm hiểu, chuyện y như của đứa lùa gà nhưng còn có mưu tính hơn chứ không chỉ đầy tới sự ngẫu nhiên, không biết có phải từ ý tưởng của nó được học theo không nữa. Trước bữa này, chú xã đội xuống vác cái bao nhỏ dài rồi về không, to nhỏ xầm xì với những người đi rừng. Trong bao đó không phải cây súng AK chớ là gì nữa. Cục thịt với bà con bây giờ không khác gì mèo thấy mỡ. Chẳng những vậy mà ngay cả mấy ông cán bộ cũng không khá hơn. Nên có sự thông đồng, bao che. Bò được đưa về xẻ thịt chia cho bà con trong làng. Nói là chia cho bà con nhưng chỉ để chia hơn một nửa con bò một chút. Gần một nửa chở đi chia các cán bộ từ đội tới xã, chắc chắn có vài ông cán bộ huyện là người ở xã nữa. Nhưng cũng chẳng sao, bà con người được hơn bốn ký thịt và xương đã quá mừng. Một nửa bộ lòng thì liên hoan tại chỗ, nấu nồi cháo to đùng xì xụp húp cho tất cả già trẻ lớn bé và uống rượu cho cánh đàn ông.

Nó ghét cay ghét đắng màu đói. Đói làm cho người ta bấn loạn, người ta mụ mị làm càn. Ở đồn trên đồi bỏ hoang thép gai vòng ngoài đã hết, người ta lần vào sâu hơn để lượm phế liệu dù biết rằng còn bom mìn đó đây. Để rồi có người dẫm phải mìn cốc cụt mất bàn chân, mang thêm biệt danh cụt suốt đời. Tưởng rằng như vậy sẽ thôi, nhưng không, chuyện chỉ chấm dứt hẳn khi có người bị mìn nổ không toàn thây. Về sau nơi đây mới được bộ đội công binh đi rà và tháo gỡ mới hết. Rồi xóm làng đã sinh trộm cắp, chuyện bấy lâu nay không hề xảy ra. Xưa nay ai cũng lào lào, “Đói cho sạch, rách cho thơm”. Nhưng đã không thể, có thể giữ cho mình, có thể mình gục ngã, nhưng không thể nhìn đàn con nheo nhóc của mình quỵ ngã. Nhiều lời trách móc, tại sao không ngửa bàn tay xin sự xót thương, sao còn sĩ diện?, không, cái đói làm cho người ta ích kỷ, chia sẻ tới phần nào đó thôi, phải giữ phần cuối cùng cho riêng mình, không thể chia sạch sàng sanh, cũng không thể trách cứ, đâu ai muốn quỵ ngã vì chết đói.
Cu Sô đi ngang gò mả, nơi gò đất cao chôn cất người trút hơi thở cuối cùng ở trần gian. Một bóng người mặc đồ trắng tinh tươm liêu xiêu đi tới, trong đầu nó mong không có cơn gió mạnh, cơn gió mạnh có thể lắm thổi bay bóng người này. Tới gần, nó nhận ra khoanh tay thưa:
“Dạ thưa ông Thầy, ông đi đâu vậy?”.
Ông nhẹ nhàng trả lời:
“À, ông vào nghĩa trang thắp nén nhang,”
Nó bắt chước người lớn:
“Dạ, ông khỏe không ông?”
Bàn tay ông muốn xoa xoa đầu nó nhưng run run không nhấc lên nổi, nhưng nét mặt buồn buồn dù rất bình thản:
“Con ngoan lắm, ông khỏe!”
Không, ông không khỏe, ông không bình an, ông chỉ cố tạo ra vậy và tạo rất đạt nếu lướt thoáng qua. Cu Sô nhận ra được bởi nó cũng có lúc cố tạo ra suy nghĩ bình thường. Có nét khang khác hiện trên nét mặt, nó nhận thêm ra ông muốn nói một điều gì, song đắn đo lại thôi. Ban đầu nó định hỏi, định chia sẽ nỗi buồn buồn trong ông, song cũng thôi, không muốn làm phiền, nó nghĩ rằng ông đã quyết như vậy và biết rằng ông cũng nghĩ nó sẽ hiểu.
Đêm, trăng thanh, ông về tắm gội một lần nữa, lên phản nằm tới sáng và không bao giờ thức dậy. Ông ra đi về bên kia thế giới thanh thản như gương mặt nó gặp lúc sáng, như cuộc đời thanh bạch của ông. Ai cũng mừng cho một cuộc đời than thản, lìa bỏ cuộc đời không đau đớn. Nhưng với Cu Sô, nó đã biết không hẳn là vậy, phản phất trên khuôn mặt thanh thản là nỗi ưu tư, ông cố chặn để không biểu lộ, từng luồng khói đen ngạ quỷ cuồn cuộn ở trong lòng ông, khói đen đã chiến thắng, ở mãi trong đó, ông không đuổi nó ra được. Ông canh cánh mãi một cuộc đời vô tích sự, một cuộc đời không ích gì cho cuộc đời dầu rằng không ai nghĩ như vậy, một phần cuộc đời về sau ông cũng đã góp cho lễ nghĩa, gia giáo dù ông không còn giúp nhiều như một phần cuộc đời lúc trước được chính danh đứng trên bục giảng truyền đạt, và góp cho sự thanh thản, góp những tia hy vọng để mà sống. Những ngày cuối cùng ông nhường cơm sẻ áo hết cho con cháu, không muốn để lại hệ lụy. “Ông chết đói nhưng đói cho sạch, chết đói cho thơm” nó nói như vậy và nghĩ khó có nhân cánh nào sạch hơn, cao thượng hơn. Nhưng cũng phải biết rằng ai cũng muốn cao thượng, chỉ có điều nhiều điều của cuộc sống ngăn cản họ, không được như ông, như những gì nó đã chứng kiến ở trên, không thể so sánh, sự so sánh sẽ rất khập khiểng.
Gò mả nhận thêm một cỗ quan tài nữa không bao lâu sau ngày ông thầy ra đi. Cỗ quan tài chôn một đứa con nít. Không ai nói nó chết vì đói, ai cũng sợ nói điều này bởi cái đói vẫn ường ường trước mặt. Sợ nói tới rồi một ngày mình cũng ngã xuống như vậy, quá thảm thương. Sự thực thì những ngày sắp chết đứa này không đói, làng xóm nhẫn nhịn góp người chút gạo chút thịt để nấu cháo, góp chút tiền mua được lon sữa bò ông thọ cho nó. Nhưng chừng đó là chưa đủ, nó nhiễm bệnh mà bịnh viện chịu thua, không chẩn đoán được, nó tiền tụy dần rồi mất. Nhiễm bịnh từ đói mà ra. Nắng hạn đầu mùa mưa, xác con cua lột, cua vừa thay vỏ gặp nắng hạn đến nỗi chết queo, queo tới mức xác khô trắng còn mỏng tang như cái bánh tráng mỏng, xác da rắn lột vỏ cũng vậy bay bay đó đây. Mấy đứa thả bò ra đồng, không chịu nỗi nữa nên vác cuốc bổ cái nắng hạn ra, đào những cái hang hun hút, chẳng có con gì trong những hang này dù đã đào sâu hoắm, ếch không, lươn rắn không, không một loài côn trùng nhỏ nhoi, chỉ có xác chết cùa cua, của ốc thối rửa, chẳng còn miếng thịt nào. Rồi một bữa bắt gặp được con chuột to tướng đã trương sình, đã bốc mùi, Ban đầu cả đám bỏ đi nhưng rồi quá tiếc rẻ, ráng bịt mũi mà cho nó lên lò lửa nướng, lửa xóa bay bay hết mùi hôi thúi, còn lại chút mùi thơm cứ vậy chia nhau nhóp nhép đỡ cơn bĩ cực mà chẳng đứa nào nghĩ tới hậu quả, thậm chí cũng chẳng biết sẽ có nhiễm bịnh từ con vật chết này. Rất may chỉ một đứa nhiễm nặng không qua khỏi, những đứa còn lại khọt khẹc vài bữa thì đề kháng mạnh chống chọi qua chứ không là cả làng gặp cảnh tang thương.
Một cảnh bị truyền nhiễm nữa nhưng chưa gây tang thương, chỉ gây rối loạn, nhiễm bịnh thổ tả. Không phải vào lúc đói này mà vào một mùa mưa năm khác. Cả làng người người… xách quần chạy xả ra toàn nước tỏng tỏng tanh rình. Rất may không ai bị gì chứ đó đây đã nghe có người không chống chọi nỗi và cũng nhờ phương thuốc điều trị đơn giản. Chẳng phải những viên xuyên tâm liên ở trạm xá phát về. Phương thuốc làm giảm dịch tả đơn giản và nhà nhà đều có, muối pha với nước mà uống vào, muối còn rẻ, còn xin dễ dàng chứ không thì khó biết chuyện gì xảy ra.

LÊ ĐẮC HOÀNG HỰU

CHUYẾN ĐI CỦA MỘT DÒNG SÔNG

tranthienthi

quay lưng lại với loài người
để nhìn một người
chưa tường làn mi cong

mặt trời không hề ác tâm buổi đốt cháy mình
lời ban mai thỏ thẻ
về tình yêu của mùa lá xanh

về chuyến đi của một dòng sông
mê man xuôi về biển cả
một vết thương bỏ lại thượng nguồn

quay lưng lại với rừng
loài đỗ quyên chưa đủ hồng cho một ban mai
buổi tóc người chảy tràn như thác

gió thổi ngược dự báo một mùa bão lớn
dòng sông sẽ xuôi
mùa phù sa người và cánh đồng tôi

mắt như hạt giữa mùa chín tới
gieo xuống đồng đất cày đã ải
thức với nhau và đợi nẩy mầm

kể tôi nghe này lời khe suối
môi thơm ơi
này khúc giang trình

này bài ca mục đồng
có buổi chiều chiền chiện
em thổi hồn vào tiếng hát long lanh

TRẦN THIÊN THỊ

Vượt qua Đại Tây Dương

tonnuthunga

Buổi sáng, ngồi nhặt lại những mảnh vụn của cơn mơ. Nỗi buồn như còn đó, khuôn mặt người đã khuất, giọng cười nói trẻ thơ, giành chơi những viên sỏi nhỏ, vấn vương một giọng ầu ơ.
Buổi sáng mặt trời đi vắng, trùng dương sóng cũng bạc đầu, thẩn thờ nhìn ta tóc trắng , gương soi một cuộc bể dâu.
Buổi sáng nhớ lại cơn mơ, trái tim dường như khô héo.
Buổi trưa ngồi ngắm trời mây, tan tác theo từng cơn gió, quanh mình biển rộng bao la, dập dồn triệu con sóng vỗ.
Không một bóng chim tăm cá, tại sao ta đến nơi này? Tam giác Bermuda huyền bí, hồn mình đi mất không hay.
Buổi tối bàn chân lướt nhẹ, trên sàn nhảy ngã nghiêng chơi, sóng lấy mất đi một nhịp, cha cha rộn rã tiếng cười.
Đèn màu quay cuồng điên đảo, giúp quên đi một quãng đời. Đêm về vùi đầu trên gối, cố tìm giấc mộng tả tơi.

Tôn Nữ Thu Nga
Atlantic 10/30/16

“Xin đổi kiếp này”, một bài thơ thế sự độc đáo

phanthanhkhuong

Thơ thế sự, thơ thời thế thường là thơ của người cao tuổi. Bởi một lẽ giản dị là sau nhiều năm nghe, thấy chuyện đời, tiếp xúc với thực tiễn, người lớn tuổi thường muốn giải bày những kinh nghiệm, nêu ra những nguyên lí, những ưu tư, những suy ngẫm về cuộc đời. Nguyễn Bỉnh Khiêm đã đúc kết: ”Còn bạc, còn tiền, còn đệ tử; Hết cơm, hết rượu, hết ông tôi.”. Nó như một nguyên lí, một công thức toán học.
Nhưng, trường hợp Nguyễn Bích Ngân lại rất khác biệt. Nguyễn Bích Ngân mới 14 tuổi, đang là học sinh lớp 8A1 Trường THCS Nguyễn Đình Chiểu (Hà Nội) lại có những ưu tư rất “già”, rất “cao tuổi”. Tôi đã chia sẻ (share) bài thơ của Nguyễn Bích Ngân trên Facebook của tôi và tôi đã có một lời bình (comment) ngắn như sau:
“Tuy mới 14 tuổi, đang học lớp 8, Bích Ngân đã có nhiều ưu tư, trăn trở về cuộc sống, về xã hội, về tự nhiên, … Đặc biệt, Bích Ngân đau đáu về môi trường sống bị tàn phá, bị hủy hoại không thương tiếc bởi sự tham lam, ích kỉ của con người! Bích Ngân muốn “hóa thành cây”, “hóa ruộng đồng”, “hóa đại dương” và “làm không khí”. Bích Ngân muốn “thử” những 17 tình huống khác nhau để biết sức mình, biết khả năng chịu đựng của mình. Tiếc thay, những điều Bích Ngân ưu tư, trăn trở mỗi ngày mỗi tệ hại hơn, khốc liệt hơn và như người ta hay nói: “vẫn đúng qui trình”! Ôi! Cái “qui trình” ngu ngốc, phi khoa học, phi đạo lí, phi nhân, phi nghĩa … của những kẻ cũng được gọi là người!”.
Chủ đề của bài thơ là môi trường sống bị tàn phá, bị hủy hoại, bị hủy diệt và sự bất lực, sự vô vọng và gần như là sự tuyệt vọng của con người. Cái độc đáo của Nguyễn Bích Ngân là nhà thơ nhí đã “xin đổi kiếp” người để hóa thân thành “cây”, thành “ruộng đồng”, thành “đại dương”, thành “không khí” để “thử” chịu đựng, “thử” đối phó, “thử” sống còn trước sức tàn phá, sức hủy hoại của thiên tai và nhất là của nhân tai.
Nguyễn Bích Ngân đã xót xa kêu lên:
“Đau vì kiệt tài nguyên, khổ vì không biết nói,”
Vâng. Nguyễn Bích Ngân đã “biết nói” đấy. Nhiều người cũng đã “biết nói” dám nói. Nhưng, tất cả đều “như nước đổ lá môn”, có ai muốn nghe, có ai thèm nghe đâu! Và, Nguyễn Bích Ngân đã giận dữ, đã “vô phép” chỉ ra thủ phạm của tất cả những điều tệ hại, khủng khiếp ấy. Đó là “vì lũ người ích kỷ”. Họ, “lũ người ích kỷ” ấy chắc chắn phải to xác và nhiều tuổi hơn Nguyễn Bích Ngân!
Và, Nguyễn Bích Ngân khẩn thiết báo động, đã cảnh tỉnh mọi người về “cái chết cận kề”, cái chết không tránh khỏi của nhân dân ta và của cả loài người.
Bài thơ khép lại bằng cả loạt câu nghi vấn ở ngôi thứ nhất, tác giả tự hỏi. Nhưng, đó cũng là những câu hỏi đặt ra cho mọi người, cho cả nhân loại:
“Tôi làm gì đây? Khi vẫn kiếp con người!
Tôi nhận về bao nhiêu? Tôi lấy gì trả lại?
Tôi phá hoại những gì? Tôi đã từng hối cải?
Xin đổi được kiếp này! Trời đất có cho tôi?”

Bài thơ gồm 5 khổ thơ. Bốn khổ thơ đầu là bốn giả định: “Nếu … thành cây”, “Nếu … hóa ruộng đồng”, “Nếu … hóa đại dương” và “Nếu … làm không khí”. Qua đó, Nguyễn Bích Ngân đã vạch ra cho mọi người thấy rõ cây, ruộng đồng, đại dương, không khí đều đã bị ô nhiễm, bị hủy diệt một cách khủng khiếp, kinh hoàng. Nguyễn Bích Ngân cũng đã kín đáo kêu gọi con người hãy sớm thức tỉnh, và nếu không từ bỏ được thì hãy hạn chế bớt sự tham lam ích kỷ của mình.

PHAN THÀNH KHƯƠNG

PHỤ LỤC:

Xin đổi kiếp này

Nếu đổi được kiếp này tôi xin hóa thành cây,
Thử những nhát rìu rạch sâu da thịt.
Trong biển lửa bập bùng thử mình cháy khét,
Thử chịu thói độc tàn, thử sống kiên trung.

Nếu đổi được kiếp này, tôi xin hóa ruộng đồng,
Thử nếm vị thuốc sâu, thử sặc mùi hóa chất,
Thử chịu bão giông, thử sâu rầy, khô khát,
Thử ngập mặn, triều cường, núi lửa, sóng thần dâng.

Nếu đổi được kiếp này, tôi xin hóa đại dương,
Thử dầu loang hắc nồng, mùi cá trôi hôi thối,
Đau vì kiệt tài nguyên, khổ vì không biết nói,
Thử biết gồng mình, thử quằn quại đứng lên.

Nếu đổi được kiếp này, tôi xin làm không khí,
Thử khói bụi ngày đêm, thử ngột ngạt trưa hè,
Thử không còn trong xanh vì lũ người ích kỷ,
Thử tiếng ồn đinh tai, thử cái chết cận kề.

Tôi làm gì đây? Khi vẫn kiếp con người!
Tôi nhận về bao nhiêu? Tôi lấy gì trả lại?
Tôi phá hoại những gì? Tôi đã từng hối cải?
Xin đổi được kiếp này! Trời đất có cho tôi?

18-5-2016
Nguyễn Bích Ngân
(học sinh lớp 8A1, Trường THCS Nguyễn Đình Chiểu, Hà Nội)

TAM TẤU THÁNG 11

lephuhai

1. Mùa thu cúc vàng chưa nhỏ?
Hiên nhà có nắng về không?
Ở đây hết mùa hoa đỏ
Là mùa nước lũ mênh mông

2. Đất trời chuyển mình sang lạnh
Cò về mấy cặp bay ngang
Cây rơm một mình cô quạnh
Quê nhà sao cũng lang thang

3. Bài thơ tháng mười, mười một
Ngại ngùng chả nói lời yêu
Hỏi han nhìn qua mái dột
Lâu ngày đá cũng rong rêu

Lê Phú Hải

DẤU XƯA ĐÃ DẬY MEN NỒNG

nguyenngocnghia


• Viết thay các bạn tôi, và SMĐN

Ai thả lụa quanh góc phố
Hồn anh trắng mấy dặm dài
Về thôi, dòng sông tuổi nhỏ
Bờ Đông thương nhớ bờ Tây

Kỉ niệm nào không óng ả?
Đường xưa quấn quýt tơ trời
Gốc sứ sân trường con gái
Nghiêng đầu ngóng hạt mưa rơi

Về thôi, bước chân lãng tử
Theo em mòn vẹt gót giày
Anh theo nhịp đời lữ thứ
Chùng lòng sợ dấu xưa phai

Có ai không từng ngầy ngật?
Hương thời gian dậy men nồng
Ừ, bốn mươi năm phiêu bạt
Phố xưa, có đợi anh không?

Sông ơi chở tình về nhé
Cổng trường ngợp gió sông Hàn
Và, cổ viện Chàm rợp nắng
Những chiều trốn học lang thang

Phố người, lăn theo cơm áo
Anh xưa dày phủ bụi đời
Em xưa chim lồng cá chậu
Còn không, ánh mắt biết cười?

Tương tư cát vàng cố xứ
Thầm thì sóng gọi Mỹ Khê
Bóng ai dưới nhành liễu rũ
Bãi dài in dấu chân đi

Anh ôm mảnh trăng đã vỡ
Hụt hơi, chìm nổi bão giông
Quê nhà và em sóng sánh
Rất xa
mà lại rất gần.

NGUYỄN NGỌC NGHĨA