Chim bay về biển

phamtinanninh

Một mai chim bỏ bay về biển
Ta đứng một mình ngó nhánh sông
Ta khóc nhìn theo giòng nước chảy
Nghe trăm ngọn sóng vỗ trong lòng
(Sương Mai)

Một cánh chim vừa bay ra biển, nhỏ dần rồi mất hút giữa mênh mông. Tôi mơ hồ như hình ảnh của chính mình đang tìm về quê cũ. Hình dung đến thành phố Nha trang xưa, nơi mà nếu không có biển sẽ không còn lãng mạn để người ta nhắc nhớ, đắm say, cũng có thể làm nhẹ đi ít nhiều tiếc nuối của nhưng người Nha trang xa xứ. Bờ biển cát từng chôn giấu những hang động tuổi thơ và ôm ấp dấu tích của bao cuộc tình thơ mộng, nước biển đã cuốn trôi đi, nhưng không thể xóa mất trong ký ức của nhiều cặp tình nhân mà bây giờ tóc ai cũng bạc. Âm thanh những ngọn sóng rì rào đã dệt nên những bài thơ, những bản tình ca từng làm khuấy động bao trái tim người, mà dư âm dường như vẫn còn vang vọng mãi.

Nha trang đẹp đẽ, hiền hòa và thơ mộng đó bây giờ đã không còn nữa. Đã trở thành một Nha trang xa lạ, như thuộc về ai đó chứ không phải của mình. Đó là cảm nhận xót xa của đám bạn bè tôi, không chỉ người đã rời xa mà cả những người vẫn còn ở lại với Nhatrang, sống với Nhatrang gần trọn một đời.

Nhà văn Nguyễn xuân Hoàng, một đồng môn huynh trưởng cùng trường Võ Tánh, sau 15 năm trở lại Nhatrang, đã viết:

“Mười lăm năm sau ngày ra khỏi nước, tôi quay trở về như một người xa lạ. Thành phố tôi đã ở thời tuổi nhỏ như nhỏ lại, những con đường quen đã xa lạ, tiếng sóng biển vọng lại âm thanh đều đặn kỳ quái của một vùng biển chết nào. Bãi cát không còn cái màu của thời tôi mới lớn và rừng dương đã bi xóa khỏi bản đồ trái tim.

… tôi trở về nhìn lại biển xưa thấy không còn lại chút dấu vết nào của những ngày trốn học, những buổi trưa hạnh phúc nằm trên bãi cát, gối đầu lên hai cánh tay, đấp mặt bằng cành lá dừa, ngủ một giấc chờ đến giờ tan học lủi thủi trở về”( trích trong “Nhà Từ Đường” tháng 5.2013- trên VOA)

Một chị bạn , hiện định cư ở thành phố Seattle bên Mỹ. Năm 1954 là một cô bé 7 tuổi, di cư theo gia đình từ Hà nội vào Sài gòn. Ông bố là quân nhân, được bổ nhậm ra một đơn vị ở Nhatrang. Cô rất vui mừng được theo cha ra sống ở thành phố biển. Thi đậu vào lớp đệ thất trường Võ Tánh. Nhưng chỉ mấy năm sau lại bịn rịn bỏ lại bạn bè, theo bước chân cha ra tận Quảng Nam, rồi Huế. Sau này trở thành cô giáo trung học, lên cao nguyên sống với phố núi và đám học trò Kinh – Thượng, giữa chiến tranh vây bủa, may mắn sống còn trong lần di tản kinh hoàng trên con đường Tỉnh Lộ 7B.Vậy mà một thời tuổi thơ ngắn ngủi ở Nha trang lại là mảng quá khứ đẹp đẽ nhất. Trong ký ức và cả trong trái tim, chị đã dành ngăn lớn nhất cho Nha Trang . Sang Mỹ định cư khá lâu, chị háo hức trở về thăm Nha trang, để rồi “chỉ thấy lòng buồn rười rượi, bởi đang đi trên đất Nha trang mà cảm giác như mình là kẻ lạ, không tìm thấy bóng dáng Nha trang của mình ngày trước”.

Hai người bạn học cùng lớp với tôi. Sinh ra ở Huế, nhưng lớn lên và gần trọn một đời sống với Nhatrang. Trước 75 đều là thầy, cô giáo trung học, giờ chỉ âm thầm nhìn đời từng ngày trôi đi vô vị, viết những bài thơ buồn trước bao điều đổi thay ngao ngán. Họ ở lại với Nha trang cho đến hôm nay, sau bao nhiêu lần tưởng chừng Nha trang đã hất hủi, đuổi xô, không còn chỗ cho họ dung thân. Hai người bạn của tôi rất chí tình với bạn, sống chết với quê, vậy mà đã bao lần than thở: “không ra đi như mi, tớ ở lại với Nhatrang mà vẫn không tìm ra Nhatrang của bọn mình ngày trước! Không có gì đau hơn là sống trên chính đất nước mình mà cứ mãi hoài vọng một quê hương!” Và họ chỉ còn gặp lại Nhatrang trong ký ức, trong những bài thơ họ viết về một thời quá khứ, nghe chừng đã rất xa xưa như trong tiền kiếp:

chiều quá chén nửa đêm tỉnh giấc
mảnh trăng khuya vòi või chờ ai
trong cỏ ướt dế buồn thao thức
giữa quê nhà sao mãi hoài hương.

Từ buổi ấy đồng thu cỏ biếc
nghe âm u gió tạt mùa xa
người đứng giữa trời không – luyến tiếc
nghĩ ngợi gì tóc rủ sương pha.

….

Bao năm tìm lại con đường
nẻo xanh ngần ngại nghe chừng rất xa
mùa thu xứ ấy mù sa
tình thu thuở ấy cũng là chiêm bao.
(đ.ư.v)

Đám học trò bọn tôi thưở ấy, giờ tóc ai cũng bạc. Sau cuộc thăng trầm quá lớn, nhiều khi tưởng mình giờ là một người nào khác. Dù còn sống ở quê nhà hay lưu lạc tha phương, ai cũng đã phải trải qua một cuộc đổi đời bi thảm. Vết thương lớn, nhỏ trong lòng dường như vẫn chưa lành.

Lần trở lại Nha trang duy nhất để tìm bốc mộ thân phụ bên ngoài một trại tù “cải tạo”, cách đây đúng mười năm, tôi đi một mình trên những con đường xưa, nghe tiếng sóng vỗ xa xa mà trong lòng chỉ còn dội lại những dư âm ngày cũ.

Tôi may mắn gặp lại vài ba người bạn học. Nhưng dường như tất cả đều nở nụ cười không trọn. Vui đó rồi buồn đó, bởi mỗi người một số kiếp long đong.

Một thằng bạn rất thân,cùng học ba năm cuối ở trường Võ Tánh. To con, đẹp trai và học giỏi. Sau này cũng là bạn lính. Ở tù hơn bảy năm nên bạn bè ai cũng nghĩ là nó đã đi diện HO và đang nổi trôi nơi nào trên nước Mỹ, không ngờ tôi còn gặp lại nó ở Nhatrang. Mặc dù bây giờ nó không được phép ở lại trong ngôi nhà và thành phố Nha trang xưa của nó.

Sau sáu tháng vào tù, căn nhà nhỏ của nó ở Nha trang bị tịch thu, cô vợ “Bắc Kỳ nho nhỏ” mang ba đứa con (mà đứa lớn nhất mới vừa năm tuổi) giao cho bà nội ở trên Thành, Diên Khánh, rồi sang sông…về đâu đó, không bao giờ trở lại. Bà nội thì già, mấy đứa nhỏ bấu víu vào ông chú, vừa tốt nghiệp kỹ sư Nông Lâm Súc, nhưng bởi có ông anh là “ngụy đang cải tạo”, nên đi làm phụ hồ cho một ông thợ nề là bác họ. Trong lúc phụ hồ sửa sang một bệnh viện, anh làm quen được một chị đầu bếp. Không biết tài ăn nói thế nào mà anh làm cô động lòng trắc ẩn, thương cảm hoàn cảnh mấy đứa cháu dại không mẹ không cha. Cô sẵn sàng làm mẹ nuôi. Với tất cả tiền bạc và tấm lòng, đã cưu mang ba đứa bé không thua gì một người mẹ. Ba đứa nhỏ lớn lên cứ tưởng cô là mẹ. Cái tình mẫu tử này sao mà hiếm hoi và bi tráng quá. Thì ra trong cái thời nhá nhem tình nghĩa ấy vẫn có những tấm lòng còn hơn cả những chữ Từ Bi viết trong mấy ngôi chùa.

Bảy năm sau, thằng bạn tôi được thả về, cúi mình trước người con gái ân nhân để xin nói một lời tạ ơn. Cô nắm tay ngăn lại. Đúng giây phút ấy, bốn mắt nhìn nhau và cùng rơi lệ. Họ ôm nhau, yêu nhau rồi lấy nhau. Hôm gặp chị, tôi tò mò hỏi lý do nào chị lại yêu và lấy thằng bạn khốn cùng của tôi trong lúc chị còn con gái. Chị bảo vì không thể rời xa ba đứa nhỏ mà chị xem như con ruột của mình. Chính cái tình thương và sự gắn bó ấy mà chị trở thành vợ của ba nó. Còn tôi thì lại mơ màng suy ngẫm đến hai chữ duyên nợ của đất trời. Sau này chị làm đầu bếp cho một nhà hàng ở bờ biển Nha trang. Thằng bạn tôi và mấy đứa con vẫn sống trên Thành, vì với cái lý lịch đen, không thể xin được cái hộ khẩu trở về thành phố cũ. Còn chị vợ thì tiếc cái hộ khẩu ở thành phố, mà không muốn chuyển lên vùng quê Diên Khánh.

Cũng chính vì Nha trang đã tạo nên cái hộ khẩu mỗi người mỗi nơi ấy, mà khi thằng bạn của tôi được gọi phỏng vấn xin đi theo diện HO, bị phái đoàn Mỹ từ chối, trả lại hồ sơ và sỉ vả một trận, vì nghĩ chị vợ tốt bụng này chỉ là vợ giả, trả tiền cho nó để được bỏ nước ra đi. Chuyện tình ngay mà lý gian ấy cũng đã làm vợ chồng tốn kém và khốn khổ một thời. Sau mấy lần khiếu nại, cái ân sủng cuối cùng là: chỉ có người cha và ba đứa con được ra đi vào đợt cuối HO. Còn chị vợ sẽ vĩnh viễn không bao giờ được bước chân đến Mỹ.

Bạn tôi quyết định ở lại với người vợ ân tình, mà anh coi như ông trời đã sai xuống dương trần này để gánh vác cho mấy cha con.

Bây giờ ba đứa con đã là người lớn. Thằng bạn tôi ở nhà chăm sóc ngôi từ đường, nuôi mấy con heo và nấu cơm cho con cho vợ. Chị ấy vẫn làm ở khách sạn dưới Nha Trang, tối lại chạy về Diên Khánh!

Hôm đứa con gái lớn lấy chồng, chị khuyên mãi thằng bạn tôi mới báo tin cho bà mẹ ruột bạc tình, bây giờ đang lấy một ông chồng người Thụy Sĩ. Bà ấy cũng vác bộ mặt đầy son phấn trở về. Nhưng đứa con gái chỉ cho bà đến nhà hàng dự tiệc mà từ chối sự hiện diện của bà trong hôn lễ. Con bé bảo rằng, bà chỉ là một cái máy đẻ ra tôi, nhưng mẹ tôi chính là vợ của ba tôi bây giờ.

Tôi rót một ly rượu mừng cho cả cái vô phúc lẫn cái diễm phúc của thằng bạn cũ, nhưng rót đến hai ly để mời vợ nó. Một ly mừng và một ly để nói hộ giùm tôi lòng biết ơn và ngưỡng mộ.

Tôi quay sang bảo thằng bạn:

– Dường như chính phủ Mỹ vừa cho mở lại diện HO, mày thử nộp đơn lại xem sao.

Nó xua tay:

– Tao chẳng cần đi đâu nữa, vì ở đâu có bà vợ tao đây là ở đó có thiên đường.

Tôi đùa:

– Mày nói còn hay hơn mấy ông linh mục trong nhà thờ.

Tôi choàng tay ôm vợ chồng nó mà nước mắt trào ra. Tôi nghĩ, nó vẫn còn tác phong của một thằng lính. Khi chia tay, nó ôm vai tôi buồn bã:

-Mày thấy không, cái thành phố Nha trang mà tao sống cả một thời đẹp đẽ, giờ cũng phụ bạc tao, gây cho gia đình tao bao khốn khó! Từ ngày thuộc về bọn CS, Nhatrang với tao là một vùng đất xấu, lạ lẫm. Mày còn nhớ tác phẩm tiếng Pháp “Le domaine maudit” của ông thầy Cung Giũ Nguyên?

Tôi thực sự chưa hiểu, chỉ thấy mơ hồ có một điều gì đó không ổn trong cách suy tư của nó. Nhưng tôi cảm được nỗi đau của nó.

Một cô bạn học từ những năm đệ ngũ, đệ tứ bên trường Văn Hóa. Một lần sang Mỹ thăm cô con gái là sư cô ở một ngôi chùa vùng Los Angeles, bất ngờ đọc được bài viết của tôi trong Đặc San Liên trường Võ Tánh & Nữ Trung Học Nha Trang, trong đó tôi có nhắc đến tên nàng, rồi lần mò tìm ra tông tích của tôi. Ngày xưa là một cô bé khá xinh và học giỏi. Sau này có thời làm phóng viên chiến trường. Ông chồng gốc Võ Bị Đà Lạt, chết một tháng trước ngày có chuyến bay theo diện HO, nên nàng và hai cô con gái không được đến Mỹ. Dắt con lưu lạc khắp nơi, với một sốvốn liếng của mẹ cha để lại. Nàng bảo nhiều lúc nhớ Nhatrang lắm, thử quay về, nhưng rồi thấy lạc lõng, mọi thứ chỉ mới đây thôi mà sao giờ trở thành xa lạ quá. Cuối cùng, mẹ con quyết định mua một căn nhà bên cạnh Quan Âm Tự ở Sài Gòn xa lạ. Cô con gái út vừa học đại học vừa tu học trong chùa. Còn nàng thì tu tại gia và cũng là một nhà thơ. Hôm ngồi trên máy bay trở lại Bắc Âu, tôi đọc hết hai tập thơ của nàng ký tặng lúc chia tay. Có nhiều bài tiếc nhớ Nhatrang xưa. Nha trang của nàng và của đám bọn tôi. Nàng làm thơ Đường thật hay và cảm động. Tôi nghĩ, nếu Đức Phật mà đọc được thơ của nàng chắc cũng phải rơi nước mắt xuống tòa sen.

Một thằng bạn khác cùng học trường Võ Tánh. Sau này gặp nhau trong cùng một đơn vị lính. Đánh giặc rất lì, nhưng luôn bị “đì” bởi bản tính ngang tàng không nể mặt cả cấp chỉ huy. Trong khi đang ở tù ngoài Bắc, chị vợ ở nhà chán chường cuộc sống, lội xuống biển Nha trang tự vẫn, để lại một thằng con trai năm tuổi. Nơi người ta tìm ra thi thể của chị, chính là bờ cát dấu tích yêu đương hẹn hò, thưở hai người mới quen nhau.

Ra tù, không thể sống trên thành phố quê hương một thời đẹp đẽ giờ chỉ còn là mảnh đất thê lương tang tóc, mỗi ngày phải ám ảnh bởi cái chết đau đớn của người vợ trẻ đẹp dấu yêu, nó dắt mẹ già và đứa con thơ vượt biển. Sang Mỹ, nhờ mẹ chăm sóc cho đứa con, nó vừa đi làm vừa đi học. Được bạn bè khen, nó bảo: “chẳng phải tao siêng năng chăm chỉ gì đâu, nhưng vì không muốn còn có chút thì giờ rảnh rang nào để nghĩ ngợi mông lung, hồi tưởng về một quá khứ đau lòng”. Nó chưa bao giở về lại Nhatrang. Bạn bè ai cũng phục khi nó lấy được bằng Cao học Tâm Lý ( Master of Psychology) và có công việc làm lương cao, ổn định. Trong đám bạn bè bất hạnh, nó là đứa thành công nhất. Bỗng một ngày được tin nó chết. Chết đau đớn. Thuê phòng trong một khách sạn ở gần nhà, rồi đến đó dùng súng bắn vào đầu mình tự sát, để lại mấy lá thư. Tôi nhận được lá thư nó viết cho tôi, được cảnh sát giao lại, nét chữ đẹp đẽ ngay ngắn, chứng tỏ nó rất bình tĩnh trước khi tự kết liễu đời mình.

“Xin lỗi mày, tao đi trước mà không kịp chia tay với mày. Bọn mình rồi sẽ như những con chim đã đến lúc phải bay về với biển. Mày đừng nghĩ là tao buồn. Tao vui lắm đó. Thôi thì tao đi trước để dọn chỗ cho bọn mày, đám bạn bè thân thiết nhất của tao. Chỉ có một điều tao tiếc và ân hận là đã không được chết ở chiến trường như bọn thằng Lâm, thằng Bê, thằng Pho, anh Tài, Đức”.

Đọc xong thấy lòng đau đớn như có nhiều vết chém, vậy mà không biết vì sao tôi không khóc được.

Những người tiễn đưa nó hôm ấy, hầu hết là bạn bè cùng đơn vị xưa, và một số bạn học cùng trường Võ Tánh Nha trang.

Năm ngoái, một chị bạn cùng trường Võ Tánh, cùng học Ban C sau tôi một năm, định cư ở Canada, cũng đã ra đi, sau hơn hai năm chống chọi với căn bệnh ung thư. Tôi và có lẽ hầu hết bạn bè Võ Tánh rất mến phục cô bạn có tấm lòng và rất khí khái này từ những năm 1962-1963. Mọi người đã ưu ái tặng chị biệt danh “Nữ hoàng xuống đường”. Luôn sống hết lòng với bạn bè và quê hương đất nước. Quyết liệt, kiên cường trước những bất công, bạo lực. Những ngày lâm bệnh, sớm ngộ Đạo Đất Trời, chị buông bỏ tha thứ hết những hờn giận ân oán riêng tư. Một thời gian trước khi mất, chị vẫn liên lạc trao đổi với tôi về những kỷ niệm Nha Trang, về tình hình chính trị ở quê nhà với nhiều hy vọng, và tiếc là không thể sống lâu hơn để chứng kiến ngày chế độ Công sản man rợ độc tài cáo chung trên quê hương. Chị ra đi, để lại bao thương tiếc cho gia đình, người thân và tất cả bạn bè. Chị mong muốn và dặn dò, sau khi chị mất xin gia đình hỏa thiêu và mang tro cốt của chị rải ở ngoài khơi Thái Bình Dương để hương linh của chị theo biển trôi về quê nhà, bên kia bờ đại dương, ở đó có bãi biển Nha trang thơ mộng, nơi chị sống cả một thời tuổi thơ và lớn lên với những vui buồn, vinh nhục.Tôi hình dung đây không phải là cánh hải âu mà là một cánh đại bàng hùng vĩ, đẹp đẽ vừa bay về với biển.

Cuối tháng 2/2013, trước khi trở về lại Bắc Âu, tôi bất ngờ nhận được hung tin: hiền thê của một anh bạn qua đời vì một chứng ung thư khó chữa. Chị là cựu nữ sinh Nữ Trung Học Nha Trang, và sau này là một người đàn bà tuyệt vời. Gia đình anh chị là một đại gia đình quân đội. Các con của chị đều là sĩ quan trong quân đội Hoa Kỳ, một cô con gái tốt nghiệp từ quân trường nổi tiếng West Point. Sau này đều trở thành những bác sĩ, luật sư. Phu quân của chị là một người bạn, người đàn anh của tôi ở trường Võ Tánh cũng như trong quân đội ngày trước. Con nhà giàu, đẹp trai và tính tình hào hoa vui tính. Là môt sĩ quan trẻ đầy phong độ khi tốt nghiệp từ trường Võ Bị Đà Lạt, đối tượng của nhiều cô con gái Nha trang thuở ấy. Ngày anh quyết định làm đám cưới với chị, chắc chắn có nhiều cô tốn khá nhiều nước mắt. Cuộc tình đẹp. Một gia đình thành công, hạnh phúc. Chị luôn bặt thiệp vui vẻ, hết lòng với bạn bè, đồng môn, đồng đội cũ của chồng. Nụ cười lúc nào cũng nở trên môi. Ai cũng quí mến chị. Vậy mà đùng một cái, chị ra đi, đột ngột chẳng ai ngờ.

Hôm dự dám tang chị, rất nhiều bạn bè cùng khóa Võ Bị với anh và đồng môn thân quen thời Võ Tánh & Nữ Trung Học Nha trang, từ mọi nơi về tiễn biệt. Trong nhà nguyện không còn chỗ đứng. Anh chồng ốm nhom, tiều tụy. Khi nói lời chia buồn, tôi ôm đôi vai gầy gò mà thấy thương anh, tội nghiệp. Khuôn mặt hốc hác, đôi mắt quầng thâm. Tôi nghĩ là anh đã khóc thầm nhiều lắm, ở cái tuổi đã trải qua bao thăng trầm mất mát, tưởng như không còn nước mắt.

Khi nhìn quan tài chị được đưa vào lò thiêu. Cửa lò đóng lại. Tôi tưởng tượng, lại thêm một cánh chim đẹp đẽ nữa vừa bay về với biển.

Tôi nghĩ rồi sẽ có môt ngày, thế hệ bọn tôi, những cô cậu học trò rời trường Võ Tánh vào những năm đầu thập niên 60, bây giờ đều đã trên tuổi 70, sẽ lần lượt ra đi. Tất cả cuối cùng rồi cũng là những cánh chim bay về với biển.

Bỗng lòng tôi chợt thoáng lên một chút băn khoăn. Những cánh chim di xứ ấy sẽ bay trở về đâu, khi Nha Trang ngày xưa của họ đã thực sự không còn. Thành phố đã cho họ một thời tuổi thơ đẹp đẽ hoa mộng, nhưng cũng đã để lại trong lòng họ quá nhiều đớn đau, mất mát sau cuộc đổi đời. Những hang động tuổi thơ và dấu tích của những cuộc tình ngày xưa, tất cả giờ chỉ còn là cổ tích. Tôi nhớ lời thằng bạn còn ở lại Nha Trang, nhớ tới thầy tôi, nhà văn Cung Giũ Nguyên và tác phẩm Le Domaine Maudit viết từ năm 1961, như là một tiên tri của Thầy.

Phạm Tín An Ninh

liên tục hình ảnh hiện

khalycham

#1
đẳng cấp bộ mặt trá hình
lời nói mơn trớn dỗ dành ẩn ức
truyền dẫn nọc độc man trá vào những buồng tim hấp hối
âm mưu vang lên tiếng rúc chứa mầm nhân ái
trừng mắt nhìn máu loang chảy hóa lửa nhảy múa
vô số chiếc lưỡi nhám nhúa mọc đầy gai nhọn
và kẻ răng luôn ứa tràn dịch vị khát thèm…
cảm nhận tần số nhiệt năng phản kháng vô hình
như thế từng ngày
sự sống đơn độc bị cùm gông trong bóng tối

#2
dục tính đẩy cửa bước vào tâm thức
hiện thể xoáy tròn trôn ốc lên men
bầy muỗi hát bài ca thánh linh
giai điệu hòa thanh
phấn khích mười ngón tay ngo ngoe mở mắt
không gian treo ngược ý niệm
con chim của mùa xanh mất phương định vị
bàn chân còn thơm mùi bùn đất quê hương lú lẫn đường về
loài kí sinh cụt đuôi lí tưởng
bám vào ánh chớp sắc màu đánh đu tuyệt vọng
rơi xuống những ảo hình dị biến
chờ ngày tái sinh?

#3
ngồi yên để rồi tự khâu vá bóng mình
nếu có thể được mở miệng
ngôn từ là một phép mầu nhiệm
và hít thở không khí tự nhiên không cần xin giấy phép
trên bầu trời mây trôi màu vẩn đục
bầy chim trầm cảm suy nhược thần kinh
ngọn gió huyền bí mang về bóng ma ken dày
chiêu dụ các đấng sặc mùi tâm linh
nằm ngửa mặt cười ngất ngưởng
miệng trào ra nhiều loài rắn độc
chúng biết nghe và lắc lư theo họng kèn qua lại?
khi ấy tôi vịn bóng mình đứng dậy
định hướng chạy băng qua đám đông người
dường như họ đang gào khóc…

khaly chàm

sài gòn đêm 11/2014

đọc ở sao trời

nguyenminhphuc

… đọc ở sao trời sẽ hiểu thôi(Mai Thảo)

khi đã về nằm chơi với đất
dế giun hát tiễn khúc muôn trùng
có một vì sao vừa chợt tắt
thấy gì trong trời đất mông lung

thấy bóng ai ngồi bên huyệt mộ
nghĩa trang hiu hắt những hiên chiều
khói nhang im tiếng buồn hơi gió
nghe tiếng em cười đau nửa khuya

thấy tôi nằm yên trong gió khua
sậy lau chao chát buốt phận người
nghe như gió tạt quanh đời úa
đôi mắt buồn tênh sầu không nguôi

tôi đọc gì từ những ánh sao
từ cõi hư vô rợn bóng hời
đường mưa in dấu chân mờ ảo
chế mây – đừng vay mượn đất trời…*

Nguyễn Minh Phúc

ĐI VỀ PHÍA CON NGƯỜI: KÝ ỨC SẮC MÀU ( truyện dài)

ledachoanghuu

Tiếng nhạc của ta khác tiếng chuông. Đôi lúc ta ganh tị, ta gõ từng nốt nhạc một, từng nối nhạc một cách xa cỡ quãng tám, từng nốt nhạc một rơi nhưng không rớt xuống, lưng lửng rồi ngân ngân trong không gian.
Cu Sô rất khoái nghe tiếng chuông. Bất kề tiếng chuông nào, tiếng chuông từ giáo đường hay từ chùa chiền. Tiếng chuông đêm giao thừa đi vào giấc mơ của nó. Nó thấy mình như thiên thần đang được tiếng chuông đưa bồng bềnh trên đám mây trắng, mây bồng bềnh khắp nơi, nó khám phá được khắp nơi đẹp như trong trí tưởng tượng. Tiếng chuông lay động con người, nghe tiếng chuông như được phá tan sự u ám, lòng nhẹ nhàng thanh thản. Tiếng chuông theo vào giấc ngủ có lẽ do nó chú tâm lắng nghe, không bỏ xót tiếng nào. Đã lâu lắm rồi nó không được nghe. Nó hay tưởng nhớ lại từ xa trong rừng, rừng vọng, những tảng đá lớn, đá vọng văng vẳng tiếng chuông, rõ hơn là ở cánh đồng, đồng vọng thánh thót… Nó chẳng hiều tại sao người ta cấm tiếng chuông hay như vậy. Chỉ có đêm giao thừa thì có lẽ người ta cố lờ đi để cũng phải ăn tết, sẽ xử lý về sau.

Một lần cu Sô đã thấy màu trừng phạt, trừng phạt tới rợn người đối với đôi mắt nhỏ bé và còn đầy màu ngơ ngác của nó. Một anh du kích khoát súng gằn giọng hỏi một sư thầy:
“Ông đi đâu mà ăn bận kiểu gì kỳ cục quá hả?”
Sư thầy khất sĩ mặc tam Y và ôm bình bát đáp nhỏ nhẹ:
“Thưa, đi khất thực.”
Anh ta thúc họng súng vào lưng sư thầy, nạt nộ:
“Đi ăn mày nói mẹ đi ăn mày bày đặt khất với thực. Ông có biết việc này bị cấm không? không tu không hành gì cả, về nhà ngay.”
Sư thầy thản nhiên không đáp, tiếp bước đi đúng giới luật. Ngày hôm sau sư thầy đi ngang xóm dưới, anh du kích lại gặp, lần này thì không còn nói gì nữa, sư thầy bị gói gô đưa về trụ sở ủy ban, rồi cùng hai người cũng du kích tìm đâu đó được một mớ cứt gà sáp mà trét kín đầy mũi sư thầy. Sư thầy vẫn với gương mặt bình thản không nói lời nào, nhưng dĩ nhiên thở khó nhọc hơn bởi phải thở bằng miệng. Sự việc lặp đi lặp lại mấy lần chứ không phải một ngày một bữa, cuối cùng có lẽ cũng nhợn tay và ớn óc với mùi khiếp đảm, anh du kích giả ngó lơ không thấy mỗi khi giáp mặt sư thầy.
Tiếng chuông giao thừa vẫn đổ. Có như thế nào cũng không thể mãi mãi làm im bặt tiếng chuông.
“Mày chết xuống địa ngục, làm quỷ làm ma, không được đầu thai kiếp khác.” Nó nghe người ta chửi nhau câu này. Nó hỏi cha: “Là sao hở cha?”
Cha Cu Sô giải đáp:
“Ừ, đó là kiếp luân hồi, là tái sinh, con người chết đi là hóa thân đầu thai kiếp sau, người tốt kiếp sau sẽ là người tốt, người xấu sẽ đầu thai kiếp con vật, người quá xấu sẽ không được đầu thai mà bị đày đi trừng trị hay biến thành ma quỷ. Người thiệt tốt sẽ hóa thành thiên thần…”
Vậy là nó hiều, cần phải là người tốt, cần phải tu tâm dưỡng tánh, học hỏi ở những nơi có tiếng chuông ngân.

Đêm trăng, trăng rằm sáng vằng vặt là đêm đối xứng với đêm tối trời.
Đám con nít rủ nhau chạy ra lộ vui chơi thỏa thê ở những đêm trăng. Trên đường làng chạy ngang ngôi nhà tường hai mái ngói, nhà lớn hiếm hoi nơi đây, cái sân xi măng cũng lớn. Người ta trưng dụng một nửa căn nhà trên và cái sân, chừa lại nửa căn nhà sau và cái bếp cho gia chủ. Nửa căn trên, giữa hai cây cột gỗ tròn trơn láng, hai cây cột chính là cái tủ thờ trạm trổ hoa văn tinh xảo và cẩn xà cừ điệu nghệ, cùng với bộ tràng kỷ cũng chạm khắc tinh xảo hoa văn với cẩn xà cừ phía trước, bộ tràng kỷ để tiếp khách quý, trên đó đặt bộ ấm tách trà, bình tích bằng gốm tráng men xanh ngọc có vẽ hình dáng rồng bay phượng múa, duy chỉ có cái vỏ bình tích làm bằng vỏ trái dừa khô là nhìn dân dã bên cạnh cái vỏ bình đan bằng những sợi cói nhuộm nhiều màu, bên góc phải là bộ phản dày lên nước bóng như gương, chân con ngựa kê phản cũng chạm khắc cầu kỳ, bên góc trái là cái tủ búp phê chưng nhiều đồ sưu tầm, phía trên tường treo cái đồng hồ hộp gỗ cũ kỹ nhưng với nó đẹp lạ lùng, có con chim gật gù cú cu cúc cu báo mỗi giờ tiếng lảnh lót lảnh lót, đó là những thứ phải dọn đi cho trống. Từ ngày dọn trống trơn không biết gia chủ đem đi đâu, hay chất chồng vào nửa căn dưới.
Có lần nó nghe ông chủ nhà ca thán với cha mình:
“Không biết để đâu bây giờ, để hư thì tiếc đứt ruột, mà bán thì quá rẻ cũng quá tiếc. Nội tiền xe chở đi thành phố, thị xã cũng đủ nuốt hết trơn. Xe cộ kiếm hông ra.”
Cha nó chỉ biết lắc đầu:
“May mà chưa bị tịch thu. Rất nhiều người giàu có các nơi đã bị như vậy.”
Ông chủ nhà lắc đầu theo:
“Người ta còn nể tí chút ngày trước tui góp tiền của, ủng hộ, che dấu cho cán bộ trong rừng chứ không thì dễ gì.”
Nửa căn nhà trên bị trưng dụng làm kho, một bên chất lúa, chất bắp, một bên chất phân bón. Cái sân phơi nông sản và hội họp.
Cu Sô thấy hội họp nên không chạy theo ra lộ nữa, dừng ở căn nhà. Trong hàng hiên căn nhà kê bộ bàn ghế dài như bàn học sinh, bàn bốn năm đứa ngồi. Một ông cán bộ văn hóa thao thao rao giảng ngồi ở giữa. Một bên là một ông cầm viết hí hoáy không ngừng. Bên còn lại là một ông ngồi chống cằm, ánh mắt nhìn lên bầu trời xa xăm, lâu lâu bứt bứt mấy cọng râu, chẳng thấy ông làm gì, có lẽ ông là người làm chứng buổi rao giảng. Người đi dự họp, thực ra là đi nghe giảng ngồi bệt dưới sân. Một số người ở hàng đầu còn ngồi ngay thẳng, lui càng về sau càng siêu quẹo, nhiều người ngả tựa vào nhau, những hàng cuối có người nằm sài lai, gối đầu lên chân người kề bên, có người thiu thiu, có người ngáy khò. Màu của mệt mỏi và buồn ngủ tràn ngập. Nó không theo kịp sự thao thao bất tuyệt, chỉ lưu giữ một chút màu rao giảng: “Con người chỉ sống một lần. Chết là hết là về với tro bụi. Con người có số kiếp là dị đoan, là mê tín. Chủ thuyết duy tâm là sai trái. Chủ thuyết duy vật mới là kim chỉ nam mới cần áp dụng cho xã hội mới, tư tưởng mới, còn gọi là chủ thuyết vô thần…”.
Cu Sô không rõ chủ thuyết là gì, duy vật duy tâm là sao. Nhưng cũng nôm ra vài ba chữ, vô thần là không thần thánh, mê tín dị đoan là cuồng vọng, kiếp luân hồi vô nghĩa. Có điều lạ là không thấy chứng minh, chỉ thấy áp đặt. Hỏi ngược lại à? chứng minh có kiếp luân hồi? Chí ít ra nó cũng ngả lòng tin có ma quỷ hơn là không. Rồi sự đúc kết của dân gian hàng ngàn năm qua chứ không phải ngày một ngày hai, để người ta còn tin vào tiếng chuông, những hiện tượng lạ chưa lý giải. Điều quan trọng hơn là làm cho con người nhìn lại mình, giảm bớt điều xấu. Có mấy ai chưa bao giờ làm điều gì xấu? dám vỗ ngực đã đủ dũng khí ngăn cản bản thân mình để chưa bao giờ làm điều xấu dù có khi vào thế bi cùng, dù điều xấu nhỏ nhoi? Nó vẫn sân si giành dựt ngay cả trong gia đình dù không muốn chứ chưa nói tới bạn bè, người xa lạ. Một bữa giữa đêm mờ tối, giữa không gian thinh lặng vắng bóng người, nó biết chắc vậy, giữa đám rẫy bắp trái to tròn, đói, đói lả người nó muốn nhào ngay vào bẻ, vào ăn cắp để về nhai ngấu nghiến, thỏa cơn đói, biết chắc sẽ không ai phát hiện được nhưng nó chùn bước nghĩ về sự trừng phạt về sau, màu của sự trừng phạt và màu đói chiến đấu với nhau kịch liệt, cuối cùng màu trừng phạt thắng cuộc. Nó không tự hào, nó chỉ mừng mình không phạm phải điều tồi tệ nhờ có lòng tin. Nơi những tiếng chuông cho người ta lòng tin. Và cho cả sự tha thứ nếu sám hối khi lỡ vướng vào điều tồi tệ. Và nơi này giảng giải, hướng con người ta, nếu nhận ra thì họ tới chứ đâu có áp đặt, đâu có ràng buộc, ai muốn nghe chuông chùa thì nghe, ai muốn nghe chuông giáo đường thì nghe, còn những tiếng chuông khác nữa. Kể cả những người không nghe tiếng chuông nào vẫn không sao, vẫn là bạn bè, bằng hữu của nhau mà! Cu Sô ghi một màu mâu thuẫn rất lớn. Tư tưởng là của riêng mình, một đời sống thôi là của riêng mình, không để ai áp đặt như kiểu tình yêu tự do nhưng lại cấm đoán đức tin(?!).

Làng Bưng, đầu làng cu Sô có một con đường vào làng Bưng, làng Bưng ở cuối cánh đồng rộng là vùng trũng mọc những cây Trâm nước ngày xưa. Trâm nước nay còn một vài cây và một vài gốc lớn nằm trên một vài ụ đất như một dấu tích, một chứng nhân địa lý. Vào làng Bưng chỉ có những con đường xe bò, mùa nắng đầy gió bụi, mùa mưa thì sình lầy khó đi và hơi xa nên làng gần như tách biệt. Ngược lại dưới này rất trù phú, không khí mát mẻ gần như quanh năm, cây trái xum xuê xanh tốt, nhứt là những hàng dừa cao ngất nhà nào cũng có cả dãy cả vườn.
Một bữa, đầu đường vào làng Bưng bỗng chộn rộn. Một chiếc xe khách Hải Âu (xe khoảng 40 chỗ của Liên Xô, xe này thường để chở chuyên gia Liên Xô hay của nhà khách tỉnh, chở các đoàn tham quan công tác…), một chiếc xe Toyota 1500 màu trắng bốn chỗ ngồi, một chiếc U oát, lại xe UAZ – 469 của Liên Xô sản xuất, người ta gọi oát thay cho Watt, phát âm là Quát nhưng nhẹ hơn chứ không nặng như quát mắng, tỷ như ký lô oát chứ không là ký lô Watt, Oa (Qua) xin tơn từ Woshington … cùng hai chiếc xe lam (Lambro 550) dừng lại đậu tại đây. Một chập sau một đoàn người khá dài ăn mặc chỉnh tề từ bên trong đi ra. Không chỉ con nít mà cả người lớn cũng ra bên đường, bên cổng nhà nhìn xem. Một người nói:
“Đám hỏi, người ta bưng quả đi đám hỏi.”
Con nít xì xào:
“Đẹp quá chừng, đẹp quá xá, vui quá hen…”
Một người biết chuyện lên tiếng:
“À, đám hỏi của chú đó là công an huyện, là đội trưởng điều tra, nghe đâu sắp lên phó công an lận đó. Hỏi con gái ở xã kề mình.”
Mấy cô gái mới lớn cười hí hí:
“Hèn chi mần lớn dữ. Cả đoàn xe luôn. Ước chi làng mình cũng được vậy…”
Mấy chiếc xe nổ máy chạy đi. Một người nói nho nhỏ:
“Ờ hen, hèn gì mấy bữa nay tui nghe râm ran, to nhỏ, mấy ông nhà mình canh những ngày này đem lậu gỗ về. Người ta phải lo cho đám của ông lớn mà.”
Nhiều cái gật đầu nhè nhẹ đồng tình. Rồi tản ra ai về nhà nấy.

Đi làm rừng ngày càng khó khăn, ngày càng phải vào rừng sâu, bởi bị cấm. Kiểm lâm truy lùng bắt bớ gắt gao, bị bắt không chỉ bị tịch thu đồ nghề, lâm sản mà có khi còn bị đi tù, học tập cải tạo, lao động. Nhưng nhiều người vẫn phải làm, không làm thì chẳng biết làm gì nữa, lấy cái gì mà sống. Đưa gỗ về làng đêm khuya đêm hôm, có vài ba người về trước dò xét như trinh thám. Gỗ không đưa thẳng về mà tập kết ở Bàu Dài, ở bìa rừng cách làng một cánh rẫy, ngâm gỗ dưới bàu. Vài tháng sau ra chở về, có gặp kiểm lâm thì giải thích gỗ đã làm ngâm từ lâu, gỗ đã thấm bùn thâm đen. Về sau cũng bị tịch thu khi kiểm lâm bắt gặp, gỗ khai thác hồi trước đâu mà có đều đều. Dân làm rừng lại nghĩ cách, bó những cây tre hay le quanh khúc gỗ rồi ngâm, tre le không bị cấm khai thác. Qua được một số chuyến thì “tai vách mạch rừng”, bị khui bị bắt tiếp.
Đưa gỗ bằng xe bò về dễ bị phát hiện, khó trốn tránh. Vận chuyển người ta nghĩ ra chiếc xe đạp thồ. Chiếc xe đạp sườn ngang hàn thêm mấy cây sắt gân hay cặp những khúc gỗ cứng. Bỏ cái yên trên, cái yên sau hàn cứng ngang bằng cái sườn. Bánh xe thì căm của xe ba gác, vỏ bốn lớp bố bơm cứng ngắt, ấn tay không nhúc nhích. Khúc gỗ gát từ tay lái dài ra yên sau. Kẹp cột mấy cây bên hông giữ chặc lại. Cột thêm vào tay lái một khúc cây hoặc khúc gỗ cho dài thêm để cầm lái, đứng bên hông xe tay vịn gỗ mà đẩy đi. Nếu có người thì thêm một người phụ vịn và đẩy phía sau. Chở kiểu này nguy hiểm hơn, nhiều tai nạn thương tâm xảy đến.

Lưng lửng nửa tháng sau, cũng ngay tại chỗ đầu đường vào làng Bưng, bà con cũng chộn rộn chạy ra coi ngó. Nhưng lần này không phải những chiếc hôm bữa mà là một chiếc xe cứu thương và một chiếc U oát. Trên xe U oát bốn người mặc sắc phục công an xuống xe cũng là lúc xe cứu thương mở cửa sau. Một cỗ quan tài được đưa ra, người nằm trong quan tài chính là anh công an vừa làm đám hỏi. Bốn người cùng hai người trên xe cứu thương mặc blu trắng đưa quan tài vào làng. Cô gái vừa được dạm hỏi, chưa kịp mặc áo cưới không còn đủ sức lực, xỉu lên gục xuống được mọi người dìu đi theo sau cùng tiếng khóc thất thanh của những người nhà.
Hôm sau đi dự đám tang mọi người mới vỡ lẽ. Rằng anh tự tử bằng treo cổ. Nhưng điều này không ai tin cả. Người nhà lên tới nơi nhận được kết quả khám nghiệm sơ sài, cho nhìn sơ qua mặt rồi đóng nắp quan tài. Ba của anh uất nghẹn lẩm nhẩm với những ai ông gặp:
“Không thể nào, tui biết tính nó. Có oan khuất gì ở đây chắc chắn. Tự tự bằng treo cổ mà mặt mày vẫn còn tươi tỉnh, không dấu hiệu gì, máu không tụ bầm tím tái, không lè lưỡi… không thể nào…”
Cũng như ba anh, nhiều người cũng biết bản tánh bộc trực của anh, thậm chí có người còn gọi anh nhà Bôn-sê-vích, nên chắc chắn không tin. Trùng hợp với lúc này là có một đoàn xe tải chở gỗ lậu cả chục chiếc, mỗi chiếc chở năm, sáu khúc cây gỗ đường kính cả mét, dài trên năm chục thước, đi ngang bị chặn bắt. Được đưa về tạm giữ ở công an huyện. Rồi nghe có lịnh của cấp trên phải để cho đoàn xe đi. Cuộc họp ở huyện được tổ chức, nhiều người cấp trên ngả về hướng cho qua, nhưng anh một mực không chụi, phải xử lý đến nơi đến chốn dù của ai đi chăng nữa. Anh mất thì đoàn xe được cho khởi hành. Nhưng chuyện này lớn lao, bà con thậm chí không dám thì thào. Từ đó cũng dần quên lãng. Chỉ những người trong cuộc thì mang nặng nỗi đau oan khuất.
Cu Sô cùng đám con nít cũng chạy xuống lanh quanh đám tang nghe ngóng. Và nó vẽ thêm vào ký ức một màu đức tin, đức tin Bôn-sê-vích mà nó cũng có học loáng thoáng qua. Những đứa bạn thì tò mò là chính chứ chẳng hiều là mấy nên nó không trò chuyện được. Người lớn thì không thể hỏi. Bởi vậy chỉ còn thắc mắc ở trong đầu, vì sao đức tin này cũng bị triệt như người lớn xì xào? Và nó nhớ thêm lời của ông bác bị lấy nửa căn nhà, “Người ta còn nể tí chút ngày trước tui góp tiền của, ủng hộ, che dấu cho cán bộ trong rừng chứ không thì dễ gì.” Làng Bưng xa xôi một thuở cũng như vậy, nơi che chở cho rất nhiều cán bộ, những ngôi nhà ở làng Bưng như lọt giữa một cánh rừng rậm.

Có một màu in đậm trong trí não của Cu Sô là màu nắng. Nó gọi màu nắng là màu bao quát tất cả. Bầu trời chỉ là một phần chứ không là cái nền. Màu nắng mới là cái nền. Chi tiết thì vô vàng. Con người thường nhìn ngang tầm mắt nhưng vui buồn hay ngước nhìn lên, buồn thê thảm thì cuối nhìn xuống. Nó muốn lưu chi tiết từ trên cao xuống dần.
Nó hay ngã người tựa gốc cây rất bự ở giữa cánh đồng người ta giữ lại để lấy bóng mát. Khi thì có bạn bè khi thì không. Có bạn bè mà nó không trò chuyện, không vui chơi thì cũng coi như không có.
Cu Sô thích nhìn bầu trời trong xanh, cái nền nhỏ chứa những đám mây trắng khi đứng sựng khi bay bồng bềnh, khi bay vun vút, và những đám mây tơi như những sợi bông, như những bông mía, mây mỏng nhìn xuyên qua thấy nền xanh. Cái nền nhỏ không chỉ màu xanh, đôi khi chuyển màu xám và xám xịt, chuyển màu tối sầm thì không còn màu nắng. Những đám mây trong nền xám, xám xịt cũng xám và xám xịt, cũng có khi đứng sững, bay vun vút hoặc chậm rãi. Đó là bị màu gió chuyển đổi. Gió hiu hiu, gió nhè nhẹ, gió mạnh, gió vù vù… Ở nơi này nó chưa bao giờ thấy cơn gió bão táp, cuồng phong điên cuồng dai dẳng, vài lần những cơn gió dữ dội, cuốn xoáy đất cát, lá cỏ như luồng khói cuồn cuộn cuồng điêng phút chốc mà thôi. Nó biết những cơn gió làm nhiều đám mây thay đổi hình thù, điều này thì đám con nít thấy lạ, cứ nghĩ đám mây tự được tạo ra hình hài. Nó hay rủ và đám bạn rất vui, được nó chỉ lên những đám mây này, vừa vẽ theo vừa giải thích những hình đó. Khi thì cái nhà, khi thì bụi cây, khi thì hình những con thú, khi thì… bị cãi lại.
Một bữa có đứa cãi:
“Mày vẽ tầm bậy, mày vẽ trật lất.”
“Trật chỗ nào?”
“Hông trật à, tụi tao làm gì được cỡi trên những con bạch mã, mấy đứa con gái xấu quắc, đen thùi làm gì được ở trong vườn tiên?”
Nó cười hà, không màng lắm, với nó màu tiểm tô, màu tưởng tượng mới là số một, mấy đứa làm sao hiều thấu, đâu có đủ ước mơ, đâu đủ dũng khí để cho mình oai phong, lãng tử trên con tuấn mã bay khắp các phương trời, đâu biết sự hóa thân, vào vườn tiên sẽ hóa thân như tiên nữ. Nó đọc được trong các chuyện cổ tích là vậy và nhìn thấy những đứa con gái tìm ẩn vẻ đẹp, chỉ bị nắng trời phủ che nét đẹp mà thôi.
Những đám mây bay là đà ngang che đỉnh ngọn núi lớn nó rất khoái chí, đó thường là những ngày âm u, lắc rắc những hạt mưa suốt, đôi khi mưa lâm râm kéo dài cả tuần lễ cũng là báo hiệu thời tiết ảnh hưởng bão ở đâu đó. Những ngày nắng nóng, có cơn mưa lớn đổ xuống thì tại ngọn núi lớn này khí đá bốc lên, bay đi rất chậm ngỡ như những đám mây bồng bềnh bao bọc quanh đỉnh núi, cơn mưa nhỏ thì giống những đám phù vân, khí bốc lên và bay đi rồi tan rã mau lẹ, nó mường tượng núi là cái bếp lò bự bành ki tỏa đám khói lam chiều lớn thiệt là lớn.

Chim chóc gắn liền với nền bầu trời xanh và cả nền xám.
Bản nhạc ta xướng càng rộn ràng, rộn ràng chân sáo!
Một con chim trơ trọi bay trong nền xanh. Con chim bay một mình nhưng không biển hiện gì là cô độc. Chim bay một mình rất ít. Con quạ đen thùi lủi bay một mình săn mồi, cái cách của nó không bằng con diều hâu xám trắng, diều hâu dang cánh rộng không vẫy, lượn qua lượn lại rồi chúi mình lao vút xuống bắt con mồi trong chớp mắt. Chớp mắt, tích tắt, người ta rùng mình quả chẳng có gì sai, dĩ nhiên cũng phải đúng diễn biến. Chim đá nhau hiếm gặp. Nó chỉ gặp được những cặp chim cu, chim cút và chèo bẻo đá nhau. Chim chèo bẻo màu đen nhánh mình thon nhỏ, đuôi dài quần nhau đá, bay lên rượt xuống rất nhanh trên các tán cây nhỏ. Nhiều con chim lớn phải ngán chèo bẻo. Mùa cánh đồng, nương rẫy đơm bông kết trái, từng đàn chim két mình xanh mỏ vàng đông như kiến cỏ bay về rợp trời. Đàn cò trắng ở cánh đồng bưng lâu lâu cũng bay tới cánh đồng vàng. Đàn le le, vịt trời bay ngang, le le có lúc bay từng cặp, từng đôi. Chim bay đàn còn có đàng cưỡng, đàn cu… Chim cu rất nhác, tổ của nó chỉ lót sơ sài vài cọng rơm rạ, cỏ khô. Ngược lại thì con tu hú làm tổ kỹ càng đẹp mắt, tổ hu hú treo ngược trên ngọn tre, ngọn cây, lủng lẳng rất nhiều như những trái cây trên cành. Cu Sô đọc được trong chuyện cổ tích rằng ngày xưa tổ của con chim tu hú là của chim cu, trong lúc nó đi kiếm mồi thì bị tu hú chiếm mất, nên đành phải lót tạm để đẻ. Nó một vài lần đi theo đàn anh gác cu, con cu mồi trong cái lồng được bao bọc cây lá ngụy trang như đang đậu trên cành cây gù tiếng rất hay, dụ được chim bay tới, chim bên ngoài chẳng biết nó hiều được hay vô tình, bay nhảy, đá sập cánh cửa lồng rồi hoảng hồn vụt bay, cả ngày chầu chực như vậy có khi chẳng bắt được con nào. Về sau nó mới hiều được việc gác cu đứng thứ ba trong tứ đại ngu, “Làm mai, lãnh nợ, gác cu, cầm chầu”. Bẫy chim cu không chỉ gác lồng mà còn giăng lưới, chim cu mồi gáy hay đã bị che mắt cho đi tới lui quẩn quanh bên lưới dụ bầy chim, con chim đã bị cắt cánh không thể bay lên, bầy chim bị dụ sà xuống, người ngồi núp trong lồng lớn ngụy trang cây lá kín mít chỉ việc giựt sập lưới bắt cả bầy. Chim cu cườm gáy hay thì tiếng hót của chính chòe than, chích chòe lửa lanh lảnh tuyệt vời. Chim cưỡng, chim sáo, chim két rất khôn, nuôi tập nói được, nhứt là chim nhồng nhưng chỉ mỗi con sáo là khá trung thành với chủ, vẫn ở bên chủ khi được cho ra ngoài nhảy tung tăng. Cu Sô khoái nhứt là những con chim nhỏ, chim se sẻ. Con chiền chiện vút lên thẳng đứng như chiếc trực thăng, lên cao nó không bay mà đứng tại chỗ vỗ cánh liên tục, hót líu lo líu lo rồi vút lên thêm chút, hạ xuống một chút, vút trở lên một chút, dừng lại vẫn líu lo líu lo… một vài con cất lên theo, vài con nhảy lưng tưng bên dưới có hót nhưng chừng như không dám vút lên đọ dáng. Con sơn ca không vút lên thẳng đứng mà bay uống lượn, cùng với họa mi cất tiếng hót là những nghệ sĩ của núi rừng, làng quê. Chim sâu rất dạng dĩ, nhảy nhót tung tăng trước mặt tìm mồi. Cũng nhỏ nhưng không được như những con se sẻ là con con chim cút, bị giăng bẫy bắt tàn canh. Những người săn chim cu, chim cút chuyên nghiệp giả tiếng chim để dụ giống như đúc. Một loài nữa là những con chim mía, mùa mía trổ bông những đàn chim mía dày đặc bay về nghỉ đêm trên những đám mía. Bình thường không ai giăng bắt nhưng kiệt quệ phải đành thôi. Từng con chim bị nhổ lông nhỏ chút xíu cỡ ngón tay cái bị nấu nướng nó thấy rất chạnh lòng.

Lưu giữ màu của chim muông nó kèm theo lưu giữ màu của cái nạn thun, cái dàn ná. Nạn thun săn chim chóc là chính và một số con thú nhỏ như thỏ sóc, gà rừng, nhím cheo… Các con thú đã dần dần hiếm. Người ta tới ở ngày càng đông, lấn vào bìa rừng, cùng với phá rừng làm nương rẫy, rừng lùi dần, thú rừng bỏ đi vô ngày một sâu hơn. Những lúc trước lâu lâu có con thú rừng lớn như nai, heo, đỏ… chạy lạc về làng, nay thì không còn, con nít trông ngóng như ngày nào để có thịt chỉ hoài công. Hay vào bìa rừng lấy củi, trên đường đi thấy dấu con trút (tê tê), con rùa, lần theo một hồi là gặp, lấy cành cây cưng cứng một chút chọt vào, con trút cuộn tròn cứng ngắt quanh cành cây, vậy là xách về có thịt vào loại hàng đứng nhứt, rùa thì không bắt làm gì, nếu rùa nhỏ bắt về cho con nít chơi vài bữa thì thả trở lại. Sau này thì gặp rùa là bắt tuốt, về bỏ vào trả muối hột mà rang cho rớt mai mà ăn, một số người không ăn vì nghe nói ăn rùa rất xui xẻo. Có một lần mấy đứa con nít mải mê rượt theo con nai con, vượt quá bìa rừng một chút thì gặp con trăn dài bảy tám thước, trăn ngoạm một con đỏ bự rồi nằm luôn, nuốt mới quá cuống họng trườn đi hổng nổi, nằm chờ xuống bụng cho tiêu, mấy đứa run bắn người phải chạy về kêu người lớn. Trăn được đưa về có thịt trăn lại được cả thịt đỏ còn tươi. Những chuyện như vầy cũng không bao giờ còn nữa. Thịt thú rừng lớn cũng không còn thấy săn được đưa về xẻ thịt chia hoặc bán rẻ ở làng như ngày trước, vẫn có những thợ săn vào rừng sâu săn bắt nhưng bán lén lút nơi nào đó.
Chuyện đi săn chỉ còn qua lời kể của ông Tiên. Tụi nó nghe vẫn mê tít và có chuyện vui vui.
Ông kể về ông thợ săn bằng phi lao rất thiện nghệ với đàn chó thiện chiến. Ông nổi tiếng không chỉ trong làng mà tiếng bay đi rất xa. Cây phi lao thường người ta làm bằng cán mây đã dẻo, ông làm bằng rễ cây sóng rắn thì càng dẻo gấp mấy lần. Cất công đào rễ cây sóng rắn và để có được cán gần bằng cùm tay, dài hơn hai thước tới ba thước cũng không phải dễ. Khi đi săn gặp con mồi, đàn chó sủa ăng ẳng gọi nhau phóng rượt đuổi như ngựa phi, chó thân nhỏ và uyển chuyển hơn, phi và luồng qua những chỗ hẹp bị vây từ cành cây bụi cỏ nhìn càng đẹp hơn cả ngựa, ông cầm phi lao phi theo cũng không thua gì, ông phóng phi lao siêu đẳng gần như đã phóng là bách phát bách trúng. Phi lao ghim vào thân con thú, thú càng chạy thì cán càng dẻo càng nhịp càng làm mũi tên sắt có ngạnh càng lún sâu, con thú càng mau đổ gục.
Ông kể tiếp những người đi săn bằng cách đánh bẫy cũng rất độc chiêu. Các loại bẫy như bẫy thòng lọng, bẫy sập, bẫy đè, bẫy hầm chông… Thợ săn rất rành rẽ, biết chỗ nào có nhiều loại thú nào, làm bẫy gì dễ bắt được. Bẫy thòng lọng thường bắt chim chóc, các loại thú nhỏ và loài bò sát. Bẫy sập bắt thú lớn hơn, thú trung trung, đôi khi cũng bắt được thú lớn, phần nhiều là bẫy sập cạp với hai hàm sắt nhọn cạp xiết cứng chân con thú. Bẫy đè cũng bắt thú trung bình, bẫy khá đơn giản, đặt mồi dụ dưới tảng đá hoặc khúc cây lớn được chống đỡ mong manh bằng một khúc cây nhỏ khác, thú vào ăn mồi đụng phải khúc cây này làm đá hoặc khúc cây bự sập chèn đè bên dưới. Bẫy hầm chông thường đề bắt thú lớn, nhứt là heo rừng độc chiếc. Heo rừng độc chiếc rất tinh khôn, không phải dễ bẫy. Bẫy được thường vào mùa nắng, nước chỉ còn lại ở các hốc khe suối hay các bàu. Nửa đêm heo ra uống nước. Có người đào hầm, đặt chông bên dưới, ngụy trang cỏ lá bên trên khó phát hiện và đường mòn dẫn vào, xung quanh rào chắn các ngả nhưng heo vẫn tìm đường tránh được và mũi nó rất thính, đánh hơi được hơi người dù đã qua hai ba ngày. Phải làm nhiều hầm, nhiều đường, kiên nhẫn dụ kha khá thời gian nó mới lọt bẫy.
Heo rừng còn cách khôn nữa là đào hang trong các hốc bụi tre. Có người chưa kinh nghiệm, gặp heo chạy tót vào hang, tưởng chắc mẫm, đặt bẫy rồi hun khói cho ngộp đằng nào hổng chạy ra. Nó có bung chạy ra nhưng ra… hang khác, hai hang thông nhau hình chữ u, chui vô một lỗ ra lỗ kia, phóng chạy mất tiêu.

Có hai đứa bưng mặt chạy ào từ bìa rừng về. Thở hổn hểnh và nằm vật ra bãi cỏ còn bị chọc ghẹo:
“Aha, thằng này cái miệng bự như mỏ heo.”
“Còn thằng kia mặt méo.”
Hai đứa bị ong chích mặt sưng chù vù. Cu Sô hỏi:
“Nhức hông tụi bây, ong gì vậy?”
“Nhức, nhưng cũng hông nhiều lắm, ong mật thôi. Tụi tao ỷ i hông đốt lửa, bị chích tè le. Tụi bây kiếm bó rạ đi, lại bắt chớ hông ong hút mật bỏ đi mất.”
“Ừ, ong mật thì không sao.”
Cả đám lại chạy theo hai đứa này và bắt được tổ ong khá bự, nhưng cũng không còn nhiều lắm. Nhưng chia nhau những giọt mật tinh khiết ngọt sớt cũng ngon lành.
Là loài có cánh nhưng mỏng và nhỏ nhắn, ong có trong màu bầu trời dưới mắt cu Sô. Những đàn ong mật ngọt ngào, những đàn ong ruồi đàn rất lớn cho mật cũng ngọt ngào và chích còn hiền hơn nữa, chỉ đau như kim châm và không sưng to. Những đàn ong có thêm chức năng thụ phấn cho hoa trái. Nhưng không hiền như ong mật, ong vò vẽ có tổ làm nhìn như vân gỗ khá đẹp lại chích gây thương tích, gấy sốt gây bịnh, bị chích nhiều còn gây ra cái chết đau thương. Ong vẫn còn nhiều ở bìa rừng, thỉnh thoảng ở làng, ở đồng vẫn bắt gặp.

LÊ ĐẮC HOÀNG HỰU

THƯƠNG PARIS NHƯ NỖI NHỚ SÀI GÒN

trantrungdao

Lịch sử dắt tôi qua những con đường
Quanh co đầy bóng tối
Bóng tối hoài nghi, oán ghét, hận thù
Những lô-cốt thực dân dày
Những địa đạo âm u
Đã có một thời tôi không thích nghe tiếng Pháp.

Tôi thuộc lòng chuyện Henry Rivière đưa quân ra Bắc
Hoàng Diệu treo cổ dưới cành cây
Bao oan hồn ông bà tôi phảng phất đâu đây
Trên những cánh đồng Việt Nam
Máu xương còn đọng lại.
Nhưng lịch sử cũng dạy tôi
Để vươn lên cùng thời đại
Một con người
Một đất nước
Phải vượt qua.

Hận thù một ngày cũng sẽ phôi pha
Chỉ có tình người còn ở lại
Để sáng hôm nay
Tiếng bom nổ rất xa nhưng sao tôi nghe gần chi lạ
Bởi vì tôi thương Paris như nỗi nhớ Sài Gòn.

TRẦN TRUNG ĐẠO

thời sự – ông thầy đáng sợ !

hillary

Cú điện thoại của bà Hillary Clinton xác nhận ông Donald Trump thắng và bà thua trong cuộc bầu cử Tổng Thống vừa qua, đã chấm dứt một thời gian dài tranh cử gay go, đầy kịch tính, tàn bạo và tốn quá nhiều tiền của nước Mỹ năm 2016.

Trước ngày bầu cử, hầu như tất cả cơ quan truyền thông, truyền hình, radio, báo chí v.v… đều đã cho rằng chuyện bà Hillary Clinton là Tổng Thống thứ 45 của Hoa Kỳ và là người phụ nữ đầu tiên làm Tổng Thống và sẽ mang lại cho đảng Dân Chủ một thành tích 12 năm liên tiếp cai trị đất nước Hoa Kỳ, và có thể kéo dài thêm 4 năm hay hơn nữa…

Người ta cho rằng chính truyền thông Hoa Kỳ và thế giới đã đặt bà Hillary vào ghế Tổng Thống từ lâu rồi, chính bà ta cũng nghĩ mình đã là Tổng Thống, hành xử như là Tổng Thống 100% cả năm qua, nhưng đó chỉ là TỔNG THỐNG ẢO, do đó, bây giờ phải “xuống” để ông Donald Trump làm TỔNG THỐNG THỰC. Nói như vậy để an ủi hay mỉa mai bà Hillary Clinton cũng phải, nói như vậy để trách giới truyền thông Hoa Kỳ và cả thế giới đã đi sai lệch tôn chỉ của truyền thông và vấp phải lỗi lầm trầm trọng khiến cử tri Hoa Kỳ “không tin truyền thông” nữa cũng đúng. Chính giới truyền thông Hoa Kỳ đã đẩy cử tri cả nước bầu ông Trump và hai viện Quốc Hội về phía đảng Cọng Hòa. Nói như thế để lên án đảng Dân Chủ đã lươn lẹo trong cuộc bầu cử sơ bộ khiến cho cử tri phẫn nộ mà có hành động ngược lại. Và cử tri đã đặt câu hỏi: Tại sao phải làm như vậy? Tại sao phải là bà Hillary tranh cử mới đúng? Động cơ nào? Tại sao đảng Dân Chủ lại “mua danh ba vạn, bán danh ba đồng” như thế? Và cử tri đã trả lời: vẫn bầu cho Cọng Hòa chiếm đa số tại 2 viện Quốc Hội, chiếm luôn ghế Tổng Thống thứ 45 của Hoa Kỳ. Nói như thế để chứng tỏ cử tri Hoa Kỳ hôm nay khác hôm qua. Và đảng Dân Chủ đã thất bại, không giữ được ghế Tổng Thống và cũng không có đa số tại hai viện Quốc Hội. Hãy học bài học kinh nghiệm đau thương này vì “Kinh nghiệm là một ông thầy đáng sợ, bắt thi rồi mới cho bài học”.

Ngoài ra, còn phải nói một điều quan trọng: đó là sự kiêu ngạo, “tâng mình lên quá và khinh dễ Donald Trump một cách quá đáng”. Thật là không thông minh chút nào. Không tìm hiểu tại sao Donald Trump dùng một chiêu thức vận động “kỳ quái” như vậy? Đúng hay sai? Viết đến đây tôi không cầm lòng được mà phải xin phép quý vị một phút để tưởng nhớ ông Nguyễn Trường Tộ, một người Việt Nam của chúng tôi đã dày công học tập kiến thức Tây Phương, đem kiến thức thực dụng của Tây Phương về nước, mong giúp nước cường thịnh nhưng triều đình vua quan Tự Đức không chịu tìm hiểu, vì không có những câu “Đức Khổng Tử dạy, không có Tứ Thư Ngũ Kinh nói… nên đã phê một câu tàn nhẫn: “Yêu ngôn hoặc chúng” (ngôn ngữ ma quỷ, mê hoặc lòng người) khiến đất nước tôi chẳng những không bằng nước Nhựt mà còn chịu nô lệ nước Pháp một thời gian hơn thế kỷ. Hoa Kỳ có phước hơn Việt Nam hồi đó; vì quyền hạn nằm trong tay cử tri nên Donald Trump đã có cơ hội lên nắm quyền điều khiển Quốc Gia.

Hành động như những kẻ cuồng tín của truyền thông cũng là hậu quả của bà Hillary bỏ ra quá nhiều tiền “thuê mướn” truyền thông. Do đó, họ ca ngợi bà quá đáng và mạt sát Donald Trump không tiếc lời, bất kể có hay không, đúng hay sai ! Thực là tệ. Cử tri sẽ hỏi tiền ở đâu mà CHI cho truyền thông nhiều thế? Đó là vốn và sau này bà Hillary phải thu lại cả vốn lẫn lời, ai chịu đây? Tiền thuế của cử tri chứ tiền ai? Bỏ quá nhiều tiền cũng như một bệnh nhân uống thuốc trị bệnh quá liều lượng khiến bệnh nhân không chết cũng … tắt thở.

Cứ nghe Donald Trump tuyên bố lời nào, câu nào mới lạ là “xúm vào tấn công”. Từ bức tường giữa ranh giới Mỹ và Mễ đến việc cấm ngặt hay nhỏ giọt sự nhập cư của người Hồi Giáo của ông Trump, truyền thông và các chính khách không tìm hiểu mặt đúng, mặt sai, mặt lợi, mặt hại của vấn đề để hướng dẫn dư luận mà cứ lên án ông Trump là điên khùng, là kỳ thị là .. dủ thứ xấu xa, trong khi mục tiêu của “bức tường” là ngăn chận nhập cư lậu, chứ không ngăn chận nhập cư đúng luật lệ. Cử tri nhìn lại hầu hết những vụ bắn giết ở Hoa Kỳ gần đây đều do những ngườì Hồi Giáo quá khích thực hiện. Cử tri không có truyền thông, không có tiền nhưng có lá phiếu và biết phải phản ứng ra sao. Đó là cửa sinh của Donald Trump và cửa tử của Hillary và chính trị gia của Dân Chủ.

Muốn mình là một phụ nữ Hoa Kỳ dầu tiên làm Tổng Thống mà không quan niệm đứng đắn “quyền lợi phụ nữ”, không hiểu giá trị của phụ nữ. Phá thai là sự bất đắc dĩ, sự “lỡ làng” chứ không phải là một bệnh tật cần chữa trị. Quan hệ bừa bãi giữa nam nữ; nếu có thai thì đi phá, phí tổn các bệnh viện hay nhà nước chịu, nếu được khuyến khích thì sẽ đưa xã hội đến chỗ suy thoái về đạo đức, phá hoại tôn giáo. Nếu tôi không lầm thì những bệnh viện Công Giáo đã lần lượt bán cho người khác, vì nếu từ chối phá thai thì bị kiện, nếu phá thai thì lỗi luật đạo. Sự kiện này đưa đến thiệt hại cho chính phủ. Đó là chưa kể “phá thai cận ngày sinh” sẽ nguy hiểm tính mạng của người mẹ. Đây không phải là “quyền lợi phụ nữ”. Hillary đã đặt sai vấn đề và mất phiếu rất nhiều.

– Mấy năm làm Bộ Trưởng Ngoại Giao của bà Hillary đã mang lại một nỗi nhục cho Hoa Kỳ: một Đại Sứ bị giết, không cứu khi sống cũng không có phản ứng thích đáng sau khi vị đại sứ chết. Đáng lý bà Bộ Trưởng phải từ chức, nhưng không. Làm Bộ Trưởng Ngoại giao quyền lực và trách nhiệm chỉ dưới Tổng Thống, thế mà dùng email cá nhân trong việc nước, kể cả những văn kiện ghi chữ C (mật hay tối mật). Hỏi đến thì chỉ việc nói “quên”. Quên thì để vậy, tại sao lại xóa đi? Nếu khi làm Tổng Thống cũng “quên” như vậy thì sao? Cử tri hết sức lo ngại khi biết được “thân thế và sự nghiêp” của nhân vật nữ thân cận nhứt của bà Hillary là bà Huma Abedin. Thân mật cho đến độ mẹ của Huma Abedin phải nói “Bà gần gũi với con gái tôi nhiều hơn là nó gần với tôi”. Chính vì đọc được email trong máy của bà Huma này mà James Comey, Giám đốc FBI báo cho Quốc Hội phải tiếp tục điều tra, nói cách khác là FBI đã nhờ máy của vợ chồng Anthony Weiner mà thấy “cái gì đó” cần phải điều tra. Vụ khi ló, lúc thụt của Giám Đốc FBI cũng làm cho cử tri lo ngại. Thôi thì phải “quẳng gánh lo đi mà vui sống”, bầu cho Donald Trump cho yên chí.

“Kinh nghiệm là một ông thầy đáng sợ, ra đề thi, thi xong mới cho bài học”. Kẻ viết bài này quên tác giả câu nói bất hủ này, nhưng ý nghĩa rất sâu sắc, không biết đảng Dân Chủ và cả đảng Cọng Hòa, nhứt là bà Hillary và giới truyền thông có học bài học đắng cay này không? Phải học, “có học mới nên khôn”. Phải học để rút kinh nghiệm mà làm cho tốt.

Cũng đã đến lúc giới truyền thông trở lại với giá trị đích thực, đừng tiếp tục tình nguyện để “tiền đè”, vu vạ cho kẻ cô thế. Nói đến “tiền đè với cô thế” tôi mới nhớ nhiều người đã cho hay “đêm canh thức để chờ kết quả, sân khấu của Hillary thật là rực rỡ, thực là sung mãn, đã có sẵn pháo bông, sâm banh, thức ăn v.v… nhưng sau đó đã dẹp bỏ trước giờ xổ số. Trong khi đó phía Donald Trump chỉ có lèo tèo, không có gì gọi là rực rỡ cả. Thế mà đã nhận được tin vui.

Hậu bầu cử: Qua ngày hôm sau, 9.11.2016 đã có một bài viết với nhan đề “Nước Mỹ sẽ hối hận”, không biết Chu Tất Tiến hay Thu Thảo là tác giả, nguyên văn đoạn đầu như sau:

“Trong khi gần 50% dân Mỹ vui mừng vì kết quả bầu cử đã đem lại vị trí số 1 cho một người không có chút kiến thức nào về chính trị, không có khả năng lãnh đạo tài chánh, thiếu xã giao với các quốc gia bạn, ngược lại chỉ có tài ăn nói hàm hồ, chia rẽ, cũng như có biệt tài về ăn chơi nhảm nhí, và khinh thị phụ nữ, thì cũng gần 50% dân Mỹ khóc hận, đau đớn khi nhìn thấy tương lai ảm đạm của nước Mỹ trước “thù trong giặc ngoài”, nghĩa là nội bộ thì lủng củng, ngoại giao thì căng thẳng, sẽ đem lại cho nước Mỹ một thời kỳ đen tối. Thực tế, sẽ có hai trường hợp xẩy ra”.

Đoạn văn này bị ảnh hưởng nặng của truyền thông “tiền đè” và cái kiến thức thấp lè tè. Nước Mỹ đâu phải là một mái nhà tranh nhỏ bé mà một người phải làm tất cả mọi việc từ làm ra tiền, mua gạo nấu cơm, quét nhà v.v… đều trông cậy vào một người. Hơn nữa, người ta chưa bắt tay vào việc (đến 20.1.2017) mà đã muốn đem ra “bắn bỏ” như vậy coi sao được hỡi Tru Tắt Tiếng? Rất tiếc là Chu Tất Tiến/Thu Thảo không dạy dỗ cho Hillary Clinton cách vận động này để chiến thắng cuộc bầu cử mà phải tẻn tò, bỏ sân khấu ra về không kịp đốt pháo bông, mở sâm banh, ăn thực phẩm sơn hào mỹ vị, nghẹn ngào nói không nên lời.

Cũng có người “lo sốt vó” rằng Donald Trump lên thì Trung Cọng sẽ hoành hành, Việt Nam sẽ không được binh vực nhân quyền, cuộc đấu tranh không thành công. Chính Trung Cọng đang lo sốt vó về chính sách ngoại thương của Donald Trump, rút các công ty về nước, tấn công quân sự cũng tốt nhưng tấn công kinh tế càng khiến đối phương “thắt họng” hơn. Gần 200 tướng lãnh ủng hộ Donald Trump trước ngày bầu cử, có phải họ là “tướng ảo”, do sinh viên sĩ quan Chu Tắt Tiến tưởng tượng ra đâu? Còn Việt Nam của chúng ta? Mấy chục năm qua mỗi ngày đều nghe chính giới Hoa Kỳ, Tổng Thống Hoa Kỳ nào cũng “đặt vấn đề nhân quyền ưu tiên” trong cuộc gặp gở, thậm chí trong vụ “bán vũ khí sát thương” cho VC mà đã có nghe VC nhúc nhích chút nào chưa?

Bài đã dài, nhưng mong rằng mọi người nên xem cuộc bầu cử vừa qua tại Hoa Kỳ là một kinh nghiệm đáng quí, cần phải tìm hiểu, học hỏi.

Kiêm Ái .

TÔI ĐÃ ĐÁNH MẤT NƯỚC VIỆT BUỒN ÔNG Ạ!

dungkqd

Tôi đi ngược từ miền Nam ra Bắc
Cuối Cửu Long leo lên ngọn sông Hồng
Muốn đi hết đất nước mình ông ạ
Rồi thả trôi cho mất xác ở biển Đông…

Có những bữa, miền trung du thưa vắng
Thấy mấy con trâu ngơ ngác ngóng mục đồng
Đêm Phó Bảng tiếng con mèo vong quốc
Gào thất thanh như bị chém ngang hông

Có những bữa bên đường đầy lông ngỗng
Phía xa xa mấy chú khách thập thò
Tôi không thể xoá đi bao vết dấu
Lịch sử rùng mình nghĩ vận nước, âu lo…

Có những bữa như bữa nay ông ạ
Dăm thằng hèn ngồi “ôn cố tri tân”
Rót nhè nhẹ như trong vùng tạm chiếm
Sau bữa nay biết còn gặp mấy lần?

Có những bữa đứng ngay đường biên ải
Nhìn tứ bề thấy nước Việt xa xăm…

Dũng Trung KQD

TÌNH CA…

nguyentruongtrunghuy

Thơ và nhạc trước 1975, như là một quyền phép lạ lùng, vì nó mang cái hồn sâu kín, nó gợi nhớ, và nhắc nhớ….nhiều khi chỉ bằng vài từ, ngữ.
Chỉ cần vài từ ngữ, sẽ thấy thênh thang cung đường về kỉ niệm…Một chút xanh xao, mơ hồ của thưở vừa biết yêu … & rơi một nỗi sầu quạnh quẽ…sầu đã rụng thành hoa…đã đơm bông kết trái thành những câu lục bát à ơi diễm tuyệt, vừa mang tâm sự hồn người, vừa tha thiết một tình với quê hương.
Thơ Cung Trầm Tưởng là những thực thể sống động như thế, những hàng, những chữ nằm im lìm trên giấy, nhưng có sức lay động ghê gớm, và nhắc nhớ nhiều.
Cung Trầm Tưởng gắn bó với giai đoạn đầu của thời chia đôi đất nước, qua thi tập Tình Ca, mười ba bài mà Phạm Duy đã phổ nhạc 6 bài, đó là Mùa Thu Paris, Kiếp Sau, Về Ðây, Tương Phản (PD đổi thành Bên ni bên nớ) , Khoác Kín (Phạm Duy đổi là Chiều Ðông) và Chưa Bao Giờ Buồn Thế (Phạm Duy đổi thành Tiễn Em). Tất cả năm bài đều thuộc vào những bài thơ phổ nhạc tiêu biểu cho sự gặp gỡ giữa thi ca và âm nhạc ở cung cao sáng tạo.
Những tác phẩm này phần nào đã ghi dấu một thời kỳ, thời kỳ mà những nhà thơ như Nguyên Sa, Cung Trầm Tưởng… từ Pháp, đem theo tư tưởng Tây phương về như món quà tặng cho lớp trẻ.
Phạm Duy đã từng nhận xét về Cung Trầm Tưởng:
“…Saigon 1958. Chính quyền ở miền Nam đã đứng vững sau mấy năm thành lập. Người dân (nhất là người dân ở thành phố) sống trong an ninh và thịnh vượng hơn là trong thời chinh chiến vừa qua. Phòng trà mọc lên khá nhiều. Thế hệ ca sĩ thứ ba ra đời sau các thế hệ ca sĩ ”tiền bối ” Ái Liên, Thương Huyền, Thái Thanh v.v… Tân Nhạc ở miền Nam phát triển mạnh mẽ với xu hướng nhạc tình.
Cung Trầm Tưởng, một thi sĩ trẻ vừa ở Paris về, đưa cho tôi mấy bài thơ để phổ nhạc trong đó có hai bài nói về mùa Thu và mùa Ðông Paris. So với nhạc tình thời đó, hai bài này rất mới lạ cho nên được các nữ ca sĩ trẻ đẹp như Thanh Thúy, Thu Hương, Lệ Thanh trình bày hằng đêm tại các phòng trà. Các Ðài Radio, các nhà xuất bản, các hãng làm đĩa hát đua nhau phổ biến những bài thơ phổ nhạc này của chúng tôi. Nó trở thành những tình khúc của một thời. Thời kỳ đẹp nhất của người Việt trong thế kỷ này chăng ?…”
Thụy Khê đã từng nhận định về những bài thơ của Cung Trầm Tưởng được Phạm Duy phổ nhạc như sau….
“ Kiếp Sau – Bài thơ rất ngắn, sau này Cung Trầm Tưởng có viết lại hai version khác, nhưng có lẽ vẫn không vượt được bản đầu in năm 1959 ở Sài gòn:
“Bù em một thoáng trời gần,
đơm hoa kết mộng cũng ngần ấy thôi!
Bù em góp núi chung đồi
thiêu nương đốt lá cũng rồi hoang sơ
Bù em xuôi có ngàn thơ,
vẫn nghe trắc trở bên bờ sông thương
Quên thôi, bông sẽ phai hường,
mà xưa tiếng gọi nghe dường thiên thu.
Non sông bóng mẹ sầu u,
mòn trông ngưỡng cửa, chiều lu mái sầu
Thôi em xanh mắt bồ câu,
vàng tơ sợi nhỏ xin hầu kiếp sau.”
Kiếp Sau làm năm 1956. Hơn bốn mươi năm. Không một vết nhăn.
Trò chuyện về thơ tức là chuyện trò với chữ -vấn đề ngữ sự- nói như Cung Trầm Tưởng.
Trước hết là chữ bù. Bù em. Phạm Duy có lẽ vì nhu cầu âm nhạc đã đổi ra đền. Ðền em, nũng nịu, Tây hơn, hợp thời hơn, nhưng Bù em, mới hiếm, mới Việt. Chữ đền có nghĩa đổi trao, lấy đi rồi đền lại. Chữ bù chỉ thấy cho, chỉ “lấp đầy”. Nguyên lý lấp đầy lại rất phụ nữ, rất nhục cảm, rất Sartrien, rất Cung Trầm Tưởng. Bù lại gần với âm bu. Bu là gọi mẹ theo tiếng quê ta. Một người “Tây con” như Cung Trầm Tưởng thời ấy, làm thơ tặng những em “tóc vàng sợi nhỏ” mà lại viết Bù em thật tuyệt.
Nhưng Phạm Duy có lý khi ông đổi lại là đền em. Ai cũng hiểu. Ở Phạm Duy là ý thức cộng đồng, ý thức dân ca, ở Cung Trầm Tưởng là ý thức biệt dã, ý thức thi ca. Bù em là ngôn ngữ thứ nhất, ngôn ngữ bùa chú khác lạ, không giống ai: Ngôn ngữ vừa được nhà thơ tác tạo. Cả bài thơ có hơi cổ điển, có hồn ca dao. Nhưng không phải ca dao thuần túy mà là ca dao đã hóa thân, cổ điển đã tục lụy.
“Thiêu nương đốt lá cũng rồi hoang sơ”
Các cụ xưa đâu viết thế. Các cụ môn đăng hộ đối, đâu có thẩy bình dân “cũng rồi” ngồi chung chiếu với quý tộc “thiêu nương”. Rồi lại:
“Thôi em xanh mắt bồ câu”
Ca dao đâu viết thế. Ca dao thường trực tiếp, dễ hiểu: Em thôi, mắt xanh, hay mắt em, thôi xanh v.v… Nên khi gặp thôi em xanh mắt người đọc lạc vào mê đạo.
“Mà xưa tiếng gọi nghe dường thiên thu”
Toàn thể câu thơ là một bể hoang đường, lạc đất.
Tất cả những “cũng rồi”, “mà xưa”, “nghe dường” gieo vào câu thơ ở những chỗ bất ngờ nhất, làm lỗi nhịp, làm đảo thần lục bát, phát sinh một hồi âm mới: Wagner hay Mozart? Phạm Duy hay Văn Cao? Có hết. Tất cả đồng quy ở tiếng gọi thiên thu hay tất cả đều đã hoang sơ?
Cung Trầm Tưởng đã xướng lên một thứ cổ dao hiện đại:
“Non sông bóng mẹ sầu u
Mòn trông ngưỡng cửa, chiều lu mái sầu”
Những tiết tố âm nhạc, quá khứ, hiện tại, không gian, thời gian, ẩn hiện, giao tỏa với nhau. Những hình ảnh sáo mòn như “đơm hoa kết mộng”, “sông Thương trắc trở” được hồi sinh trong một kiếp mới, nhờ cách xếp câu, đảo tứ:
“Bù em một thoáng trời gần,
đơm hoa kết mộng cũng ngần ấy thôi!
Bù em góp núi chung đồi
thiêu nương đốt lá cũng rồi hoang sơ
Bù em xuôi có ngàn thơ,
vẫn nghe trắc trở bên bờ sông thương”
Những cách treo chữ: cũng rồi, cũng ngần…, buông chữ: bù em, thôi em…, đảo chữ: mòn trông…, hoặc tạo cảnh: chiều lu mái sầu… đều có tính cách phá tán âm thanh lục bát, phá tan nội dung ca dao để tạo ra, về mặt thời gian, một tiếng gọi từ ngàn xưa vọng lại, về mặt âm thanh và tư tưởng, một khúc điệu mới, phong liệm nỗi buồn nguyên thủy, rồi nghiền tán nó ra, rắc vào không gian, gieo vào vũ trụ, tạo ra một môi trường buồn ẩm nhạc:
“Ngày đi, chiều tới không nghiêm,
khoan thai gió cởi phong niêm rũ buồn
Bờ nghiêng nắng giốc đường thuôn,
thiết tha tiếng cũ nghe luồn không trung.”
(Về Ðây)
Trong bài Bémol, Buồn lại rơi theo nhịp khác, như nốt nhạc bị giam cầm:
“Chiều buồn lạc thanh âm
Hoang sơ vào khuya tối
Linh hồn tôi dương cầm”
Bài Khoác Kín cũng là một trong những giá trị độc đáo của thi ca Cung Trầm Tưởng mà Phạm Duy đã phổ nhạc và đổi tên thành Chiều Ðông (Phạm Duy có tài lựa những tuyệt tác của mỗi tác giả để đưa vào cung bậc âm thanh). Khoác Kín cũng là một bài thơ ngắn, nhưng mỗi câu, mỗi chữ đều là những giọt tuyết lệ của thời gian, nhỏ trong không gian tàn tạ:
“Chiều đông tuyết lũng âm u
bâng khuâng chiều tới tiếp thu trời buồn
Nhớ ngày tầu cũng đi luôn,
ga thôn trơ nỗi, băng nguồn héo hon.
Phường xa nhịp sắt bon bon,
tàu như dưới tỉnh, núi còn vọng âm.
Sân ga mái giọt âm thầm:
Máu đi có nhớ hồi tâm đêm nào?
Mình tôi với tuyết non cao;
với cồn phố tịnh buốt vào xương da;
với mây trên nhợt ánh tà;
với đèn xóm hạ cũng là tịch liêu.
Tôi về bước bước đăm chiêu,
tâm tư khoác kín sợ chiều lạnh thêm.”
Giọng buồn Cung Trầm Tưởng, thời 55-60, đã khác hẳn giọng sầu Huy Cận trong thời thơ mới. Cung Trầm Tưởng đem lại một cô đơn mới: Cô đơn hiện sinh. Cô đơn của con người trong sự nhận thức lại chính mình. Cô đơn của một Roquentin trực diện với “bản lai chân diện mục” của mình trước gương soi mói, soát lục. Cô đơn của gã tử tù Meurseult, xa lạ với loài người:
“Hoang liêu về chết tha ma
Tiếng chân gõ guốc người xa vắng người”
(Tương Phản)
Và chắc hẳn Wagner dưới suối vàng cũng đã có phần nào trách nhiệm trong cách biến tấu nhịp điệu thể xác và linh hồn lục bát Cung Trầm Tưởng” ./.

NGUYỄN TRƯỜNG TRUNG HUY

NGÀY HÀO HOA

truongdinhtuan

rượu của suối hương ngàn nhiễm độc
bóng chiều tê ngã ngựa biên đồn
em cung thủ ngắm lên trời xanh từ đó
hào hoa ngày ta thọ nạn thọ ân

trúng hồng tâm mọc câu thơ cứu khổ
sóc nhỏ cười chi nửa miệng khinh cừu
và cứ thế ngó ta bằng nửa mắt
chảy về đâu nguồn ngọn cũng luân lưu

rượu của sông mây trời cố quận
quay mòng ngất ngưỡng khói lên cao
ta nợ rừng từng bông hoa dại
từng dốc dài ngửa mặt đỉnh hoang vu

ta nợ em câu truyền kiếp giận hờn
trả chưa hết nên leo lên vách đá
đồng bằng ạ bãi cồn hoa lấm tấm
hào hoa ngày bụi bặm rắc lên ta

TRƯƠNG ĐÌNH TUẤN

LINH MỤC ALEXANDRE DE RHODES: NGƯỜI KHAI SINH CHỮ QUỐC NGỮ

tuongtri10

Trái tim tôi vẫn còn ở lại nơi đó!

1. NHÀ TRUYỀN GIÁO GƯƠNG MẪU CỦA THẾ KỶ XVII
Theo một số sử liệu, Linh Mục Alexandre de Rhodes – giáo sĩ Đắc-Lộ – sinh năm 1591. Một số sử liệu khác ghi năm 1593.
Linh Mục Alexandre de Rhodes chào đời tại Avignon, miền Nam nước Pháp. Alexandre gia nhập Tập Viện dòng Tên tại Roma vào thời kỳ công cuộc truyền giáo cho các dân tộc đang trên đà phát triển rất mạnh. Tuy nhiên, cùng với đà tiến này, Giáo Hội Công Giáo cũng gặp sức kháng cự vũ bão của chính quyền các dân tộc được rao giảng Tin Mừng. Vì thế, bên cạnh nhiệt tâm truyền giáo, còn phải kể ước muốn đổ máu đào minh chứng cho Đức Chúa GIÊSU KITÔ của các vị thừa sai tiên khởi.
Trong bối cảnh đó, Cha Alexandre de Rhodes đã xin và được Bề Trên chỉ định đi truyền giáo tại Nhật Bản.
Ngày 4-4-1619, Cha lên đường với số tuổi 26, cùng với kiến thức khá sâu rộng về thiên văn học và toán học.
Cha Alexandre có thân hình cường tráng, biểu lộ sức khoẻ dồi dào và tính tình vui vẻ. Nơi Cha, nổi bật đức tính lạc quan, luôn nhìn khía cạnh tích cực của vấn đề. Cha thích nghi nhanh chóng với mọi môi trường sống. Cha cũng giản dị tự nhiên trong giao tế với người khác. Ngoài ra, Cha có tinh thần linh động, trí nhớ dẻo dai và tâm hồn bao dung. Nhất là, Cha có tấm lòng nhiệt thành, không bao giờ lùi bước trước khó khăn hoặc gian nguy.
Ngay từ xuân trẻ, Cha Alexandre biết quên mình để đi đến với người khác và dễ dàng chấp nhận người khác. Với tất cả đức tính cao quý ấy, Cha Alexandre de Rhodes trở thành nhà truyền giáo gương mẫu và là một trong những vị thừa sai vĩ đại nhất của lịch sử Giáo Hội Công Giáo.
Nhờ Cha mà thế giới Tây phương thời đó hiểu rằng, không phải cái nghèo đói hoặc kém văn minh của các dân tộc Châu Á lôi kéo sự chú ý của các vị thừa sai, cho bằng, chính nét đẹp cao quý tinh thần của các dân tộc Á Châu đã thu hút và khơi động nhiệt tâm tông đồ của các nhà truyền giáo..
Trước tiên, Cha Alexandre de Rhodes cập bến tại Goa, đợi chờ cơ hội thuận tiện đặt chân lên đất Nhật Bản. Nhưng tình hình bách hại Kitô-Giáo dữ dội tại đây khiến các Bề Trên buộc lòng chỉ định Cha đi Trung Quốc. Cha lên tàu đi Macao. Nơi ngưỡng cửa Trung Quốc, Cha ghi lại nhận xét:
– Người Trung Hoa rất ngạc nhiên khi nhìn thấy bản đồ chúng tôi vẽ. Trung Quốc vĩ đại của họ chỉ là một chấm nhỏ trong vũ trụ trái đất bao la. Trái lại, nơi bản đồ trái đất hình vuông do họ vẽ, Trung Quốc nằm chính giữa, đúng như tên gọi. Sau đó, họ vẽ biển nằm bên dưới Trung Quốc, trong đó rải rác mấy đảo nhỏ, và họ đề tên: Âu Châu, Châu Phi và Nhật Bản…
6 năm truyền giáo tại Goa và tại Macao, tuy hơi ngắn ngủi, cũng đủ giúp Cha Alexandre de Rhodes có cái nhìn độc đáo và đúng đắn nhất của vị thừa sai vào thế kỷ XVII. Cha viết:
– Chúng ta thường tỏ ra quý chuộng những người ngoại giáo. Nhưng khi họ trở thành Kitô-hữu, chúng ta không đoái hoài đến họ nữa. Thậm chí còn bắt người theo Đạo phải từ bỏ y phục địa phương. Chúng ta đâu biết rằng, đây là đòi buộc quá khắt khe, mà ngay cả THIÊN CHÚA, Ngài cũng không đòi buộc! Chúng ta ngăn cản người ngoại giáo, không cho họ cơ hội dễ dàng gia nhập Giáo Hội Công Giáo. Riêng tôi, tôi cực lực phản đối những ai muốn bắt buộc người đàn ông Trung Hoa, khi theo Đạo, phải cắt bỏ mái tóc dài họ vẫn để, y như các phụ nữ trong xứ. Hành động như thế, chúng ta gây thêm khó khăn cho các nam tín hữu Trung Hoa, một khi theo Đạo Công Giáo, không còn tự do đi lại trong xứ sở, hoặc tìm được dễ dàng công ăn việc làm. Phần tôi, tôi xin giải thích rằng, điều kiện để trở thành Kitô-hữu là phải từ bỏ lầm lạc, chứ không phải cắt bỏ tóc dài.
Suy tư của Cha Alexandre de Rhodes làm nổi bật ý tưởng và phương pháp tuyệt diệu của một vị thừa sai khôn ngoan, biết phân biệt đâu là đòi buộc chính yếu của Phúc Âm và đâu chỉ là lợi ích riêng tư của Âu Châu. Nhưng phải đợi mãi đến 40 năm sau, 1659, nghĩa là một năm trước khi từ trần, Cha Alexandre mới trông thấy phương pháp truyền giáo của mình được Tòa Thánh chính thức công nhận. Trong văn thư gửi các Giám Mục tiên khởi của Hội Thừa Sai Paris, Bộ Truyền Giáo Các Dân Tộc viết:
– Đừng mất công thuyết phục các dân tộc Á Châu phải từ bỏ các lễ nghi và tập tục của họ. Không gì ngu xuẩn cho bằng, muốn biến đổi người Trung Hoa thành người của một quốc gia Châu Âu nào đó! Đừng tìm cách đưa các tập tục của chúng ta vào xứ sở của họ, nhưng chỉ đưa vào đó Đức Tin. Đức Tin không hề xua trừ cũng không làm tổn thương các nghi lễ cùng các tập tục, miễn là các tập tục và nghi lễ này không quá xấu xa.
2. CHA ALEXANDRE DE RHODES – GIÁO SĨ ĐẮC-LỘ – THỪA SAI TẠI VIỆT-NAM
Sau 6 năm giảng đạo tại Goa và Macao, vì thời cuộc biến chuyển, Bề Trên lại chỉ định Cha Alexandre de Rhodes đi Việt Nam.
Đầu năm 1625, Cha Alexandre cùng với 4 Linh Mục dòng Tên và một tín hữu Nhật-Bản, cập bến Hội-An, gần Đà-Nẵng. Cha bắt đầu học tiếng Việt và chọn tên Việt là Đắc-Lộ. Thầy dạy tiếng Việt cho Cha là một thiếu niên trạc tuổi 10-12. Đây là một cậu bé thông minh. Cha Đắc-Lộ vô cùng mộ mến khi nói về vị thầy tí hon:
– Chỉ trong vòng 3 tuần lễ, chú bé đã dạy tôi học biết tất cả các cung giọng khác nhau của tiếng Việt và cách thức phát âm của từng chữ. Cậu không hề có kiến thức gì về ngôn ngữ Châu Âu, thế mà, cũng trong vòng 3 tuần lễ này, cậu có thể hiểu tất cả những gì tôi muốn diễn tả và muốn nói với cậu. Đồng thời, cậu học đọc học viết tiếng La-tinh và có thể giúp lễ. Tôi hết sức ngạc nhiên trước trí khôn minh mẫn và trí nhớ dẻo dai của cậu bé. Sau đó, cậu trở thành Thầy Giảng giúp việc các Cha Thừa Sai và là dụng cụ tông đồ hữu hiệu trong việc loan báo Tin Mừng nơi quê hương Việt Nam thân yêu của Thầy và nơi vương quốc Lào láng giềng.
Từ đó, Việt Nam trở thành quê hương thứ hai của Cha Alexandre de Rhodes, tức giáo sĩ Đắc-Lộ. Tuy nhiên, duyên nợ của Cha đối với quê hương Việt-Nam, không xuôi chảy và vẹn toàn. Cuộc đời truyền giáo thật bấp bênh và vô cùng trôi nổi. Trong vòng 20 năm, Cha bị trục xuất đến 6 lần. Nhưng sau cả 6 lần ấy, Cha đều tìm cách trở lại Việt Nam khi cơ hội cho phép. Sau này, khi vĩnh viễn từ biệt Việt Nam, Cha đau đớn thú nhận:
– Trái tim tôi vẫn còn ở lại nơi đó!
Chính tình yêu đặc biệt Cha dành cho Việt Nam giải thích cho sự thành công của Cha, trong lãnh vực truyền đạo cũng như trong lãnh vực ngôn ngữ, văn hóa.
Thời gian Cha Đắc-Lộ giảng đạo tại Việt Nam cũng là thời kỳ các Cha Thừa Sai dòng Tên hoạt động rất hăng say và hữu hiệu. Riêng Cha Đắc-Lộ, Cha truyền đạo từ Nam ra Bắc. Cha kể lại công cuộc truyền giáo tại Bắc Phần:
– Khi chúng tôi vừa đến kinh đô Bắc Kỳ, tức khắc nhà vua truyền lệnh cho tôi phải xây một nhà ở và một nhà thờ thật đẹp. Dân chúng tuốn đến nghe tôi giảng đạo đông đến nỗi, tôi phải giảng đến 4 hoặc 6 lần trong một ngày. Người chị vua và 17 người thân trong gia đình vua xin lãnh nhận bí tích Rửa Tội. Nhiều tướng lãnh và binh sĩ cũng xin theo đạo. Nhưng điều làm tôi ngạc nhiên nhất là thấy các vị sư đã mau mắn từ bỏ bụt thần để theo Đạo Công Giáo. Tất cả đều dễ dàng chấp nhận khi tôi giải thích cho họ hiểu giáo lý Công Giáo rất phù hợp với lý trí và lương tâm con người. Các tín hữu Công Giáo Việt Nam có Đức Tin vững chắc đến độ, không gì có thể rút Đức Tin ra khỏi lòng họ. Nhiều người phải đi bộ suốt 15 ngày đàng để được xưng tội hoặc tham dự Thánh Lễ .. Nhưng phải thành thật mà nói, tôi không thể chu toàn cách tốt đẹp mọi công tác truyền đạo này, nếu không có sự trợ giúp tuyệt vời của các Thầy Giảng. Vì nhận thấy mình là Linh Mục duy nhất giữa một cánh đồng truyền đạo bao la, nên tôi chọn trong số các tín hữu, những thanh niên không lập gia đình và có lòng đạo đức sâu xa cũng như có nhiệt tâm rao giảng Tin Mừng, để giúp tôi. Những người này công khai thề hứa sẽ dâng hiến cuộc đời để phụng sự Chúa, phục vụ Giáo Hội, sẽ không lập gia đình và sẽ vâng lời các Cha Thừa Sai đến Việt Nam truyền đạo. Hiện tại có tất cả 100 Thầy Giảng đang được thụ huấn trong chủng viện và được các tín hữu trang trải mọi phí tổn.
Nhưng rồi, Cha Đắc-Lộ không được ở mãi nơi quê hương Việt Nam Cha hằng yêu mến. Năm 1645, Cha bị Chúa Nguyễn vĩnh viễn trục xuất khỏi Việt Nam.
Khi trở lại Âu Châu, Cha Đắc-Lộ vận dụng mọi khả năng hiểu biết về công cuộc rao giảng Tin Mừng tại Á Châu, đã xin Tòa Thánh gửi các Giám Mục truyền giáo đến Á Châu, để các ngài có thể truyền chức Linh Mục cho các thầy giảng bản xứ. Có thể trong thời kỳ này, những bài giảng thuyết hùng hồn của Cha Đắc-Lộ nơi đất Pháp đã gây chấn động mạnh trong tâm hồn các tín hữu Công Giáo Pháp và đã gợi hứng cho việc thành lập Hội Thừa Sai Paris.
3. CHA ALEXANDRE DE RHODES – GIÁO SĨ ĐẮC-LỘ – KHAI SINH CHỮ QUỐC NGỮ
Năm 1651, chữ Quốc Ngữ do Cha Alexandre de Rhodes (giáo sĩ Đắc-Lộ) cưu mang, chính thức ra đời tại nhà in Vatican. Đó là cuốn tự điển VIỆT-BỒ-LA.
Nhân dịp cử hành 300 năm ngày qua đời của Cha Đắc-Lộ, nguyệt san MISSI (Magazine d’Information Spirituelle et de Solidarité Internationale) do các Cha Dòng Tên người Pháp điều khiển, dành trọn số tháng 5 năm 1961 để tưởng niệm và ca tụng Cha Đắc-Lộ, nhà truyền giáo vĩ đại của Giáo Hội Công Giáo Hoàn Vũ nói chung và của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam nói riêng.
Cha Đắc-Lộ qua đời ngày 5-11-1660, tại thành phố Ispahan, bên Ba-Tư, tức là sau 15 năm chính thức bị trục xuất khỏi Việt Nam.
Nguyệt san MISSI nói về công trình khai sinh chữ quốc ngữ với tựa đề: ”Khi cho Việt-Nam các mẫu tự La-tinh, Cha Alexandre de Rhodes đưa Việt-Nam đi trước đến 3 thế kỷ”.
Tiếp đến, tờ MISSI viết:
… Khi chính thức xác định mẫu tự, bằng cách cho ra đời tại Roma nơi nhà in Vatican, quyển tự điển đầu tiên và các sách đầu tiên bằng chữ quốc ngữ, Cha Alexandre de Rhodes đã giải phóng nước Việt Nam.
… Thật vậy, giống như Nhật-Bản và Triều-Tiên, người Việt-Nam luôn luôn sử dụng chữ viết của người Tàu và bị nô lệ vì chữ viết này. Chỉ mới cách đây không lâu, người Triều-Tiên mới chế biến ra chữ viết riêng của họ. Còn người Nhật thì, sau nhiều lần thử nghiệm, phải bó tay và đành trở về với lối viết tượng hình biểu ý của người Tàu.
… Trong khi đó, người Tàu của Mao-Trạch-Đông đang tìm cách dùng các mẫu tự La-tinh để chế biến ra chữ viết của mình, nhưng cho đến nay vẫn chưa thành công. Vậy mà dân tộc Việt Nam, nhờ công ơn Cha Alexnadre de Rhodes Đắc-Lộ, tiến bộ trước người Tàu đến 3 thế kỷ!
… Dĩ nhiên, không phải chỉ riêng Cha Đắc-Lộ khởi xướng ra chữ quốc ngữ. Trước đó, các Cha Thừa Sai dòng Tên người Bồ-Đào-Nha ở Macao đã nghĩ ra một số phát âm tiếng Việt, viết bằng các mẫu tự La-tinh rồi. Tuy nhiên, Cha Đắc-Lộ là người đưa công trình chế biến chữ quốc ngữ đến chỗ kết thúc vĩnh viễn và thành công, ngay từ năm 1651, là năm cuốn tự điển VIỆT-BỒ-LA chào đời. Đây cũng là năm sinh chính thức của chữ Quốc Ngữ. Và cuộc khai sinh diễn ra tại Roma, nơi nhà in Vatican. Chính nơi nhà in Vatican mà Việt Nam nhận được chữ viết của mình.
… Đã từ lâu đời, người Việt Nam viết bằng chữ Tàu, hoặc bằng chữ Nôm, do họ sáng chế ra. Nhưng đa số người Việt Nam không thể đọc và viết được chữ Tàu, vì theo lời Cha Đắc-Lộ, Tàu có đến 80 ngàn chữ viết khác nhau. Các nhà truyền giáo đầu tiên khi đến Việt Nam, bắt đầu dùng mẫu tự La-tinh để viết lại âm giọng mà họ nghe được từ tiếng Việt. Khi Cha Đắc-Lộ đến Việt Nam, có một số phát âm tiếng Việt được viết bằng chữ La-tinh rồi. Vì thế, có thể nói rằng, công trình sáng tạo ra chữ quốc ngữ trước tiên là công trình chung của các Nhà Thừa Sai tại Việt Nam. Nhưng khi chính thức in ra công trình khảo cứu chữ viết tiếng Việt của mình, là cùng lúc, Cha Đắc-Lộ khai sinh ra chữ viết này, ban đầu được các Nhà Truyền Giáo sử dụng, sau đó, được toàn thể dân tộc Việt-Nam dùng và biến nó thành chữ quốc ngữ. Tất cả các nước thuộc miền Viễn Đông từ đó ước ao được có chữ viết cho quốc gia mình y như chữ quốc ngữ này vậy!
(Trên đây là phần trích dẫn từ nguyệt san MISSI).
Về phần Cha Đắc-Lộ, chính Cha viết về ngôn ngữ của một dân tộc mà Cha rất mộ mến như sau:
– Khi tôi vừa đến Nam Kỳ và nghe người dân bản xứ nói, đặc biệt là phụ nữ, tôi có cảm tưởng mình đang nghe chim hót líu lo, và tôi đâm ra ngã lòng, vì nghĩ rằng, có lẽ không bao giờ mình học nói được một ngôn ngữ như thế! Thêm vào đó, tôi thấy hai Cha Emmanuel Fernandez và Buzomi, khi giảng, phải có người thông dịch lại. Chỉ có Cha Francois Pina là hiểu và nói được tiếng Việt, nên các bài giảng của Cha Pina thường đem lại nhiều lợi ích hơn là của hai Cha Fernandez và Buzomi. Do đó tôi tự ép buộc mình phải dồn mọi khả năng để học cho được tiếng Việt. Mỗi ngày tôi chăm chỉ học tiếng Việt y như ngày xưa tôi học môn thần học ở Roma. Và nhờ ơn Chúa giúp, chỉ trong vòng 4 tháng, tôi học biết đủ tiếng Việt để có thể giải tội và sau 6 tháng, tôi có thể giảng được bằng tiếng Việt. Kết quả các bài giảng bằng tiếng Việt lợi ích nhiều hơn các bài giảng phải có người thông dịch lại.
… Đức Chúa GIÊSU ngước mắt lên nhìn các môn đệ và nói: ”Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó, vì Nước THIÊN CHÚA là của anh em. Phúc cho anh em là những kẻ bây giờ đang phải đói, vì THIÊN CHÚA sẽ cho anh em được no lòng. Phúc cho anh em là những kẻ bây giờ đang phải khóc, vì anh em sẽ được vui cười. Phúc cho anh em khi vì Con Người mà bị người ta oán ghét, khai trừ, sỉ vả và bị xóa tên như đồ xấu xa. Ngày đó, anh em hãy vui mừng nhảy múa, vì này đây phần thưởng dành cho anh em ở trên Trời thật lớn lao. Bởi lẽ các ngôn sứ cũng đã từng bị cha ông họ đối xử như thế .. Thầy nói với anh em là những người đang nghe Thầy đây: Hãy yêu kẻ thù và làm ơn cho cho kẻ ghét anh em. Hãy chúc lành cho kẻ nguyền rủa anh em và cầu nguyện cho kẻ vu khống anh em. Ai vả anh em má bên này, thì hãy giơ cả má bên kia nữa. Ai đoạt áo ngoài của anh em, thì cũng đừng cản nó lấy áo trong. Ai xin thì hãy cho, ai lấy cái gì của anh em, thì đừng đòi lại. Anh em muốn người ta làm gì cho mình, thì cũng hãy làm cho người ta như vậy .. Anh em hãy yêu kẻ thù, hãy làm ơn và cho vay mà chẳng hề hy vọng được đền trả. Như vậy, phần thưởng dành cho anh em sẽ lớn lao, và anh em sẽ là con Đấng Tối Cao, vì Người vẫn nhân hậu với cả phường vô ân và quân độc ác” (Luca 6,20-23/27-35).
(”MISSI” (Magazine d’Information Spirituelle et de Solidarité Internationale), Mai/1961, trang 147-173)

Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt