FIDEL CASTRO CHẾT, NÊN VUI HAY BUỒN?

trantrungdao

15202767_1367897703234212_6000365140452245309_n

Sáng sớm hôm nay, thứ Bảy 26 tháng 11, 2016, hàng ngàn người dân Cuba đang định cư tại Miami xuống đường vui mừng trước tin tức lãnh tụ độc tài Cuba Fidel Castro qua đời.
Họ có lý do, tuy nhiên, nếu bình tâm đọc lại nửa thế kỷ lịch sử đầy máu, nước mắt, hy sinh và chịu đựng của các thế hệ Cuba từ tháng Giêng 1959, họ sẽ lấy làm hối tiếc hơn là hả dạ, vui mừng.
Giống như hòn đảo nhỏ nơi một thời có nhà tù nổi tiếng Alcatraz Island chỉ cách bờ San Francisco hơn một dặm mà xa ngàn trùng, Cuba chỉ cách Key West, Florida 90 dặm mà hoàn toàn cách biệt với phần còn lại của thế giới tự do. Bởi vì Cuba là một nhà tù CS.
Lẽ ra Fidel Castro dù bao nhiêu tuổi cũng nên sống để một ngày trả lời trước lịch sử Cuba về cái chết của ít nhất 33 ngàn người dân Cuba mà chính y có trách nhiệm ra lịnh tử hình. Nhiều tài liệu cho rằng con số người bị giết lên đến cả trăm ngàn.
Chỉ sáu tháng đầu năm 1959, đoàn quân dưới quyền của Castro đã xử tử 550 người Cuba chỉ vì bị gán ghép tội “chống đối chính quyền cách mạng” hay đã từng “phục vụ trong chế độ Fulgencio Batista”.
“Cuba Archive”, một đề án phi lợi nhuận phục vụ nhân quyền tai Cuba đã tổng kết được danh sách của 8,200 người bị mất tích dưới chế độ Castro và đề án này hiện đang tiếp tục được tổng kết.
Tiến sĩ Lago, thuộc đại học Havard, dựa theo các báo cáo của lực lượng tuần dương Mỹ đã ước lượng số người dân Cuba chết trên đường vượt biển là 77 ngàn.
Nhiều người bị giết trên đường vượt biển, không nằm trong danh sách đó, là do trực thăng của công an Cuba thả bao cát cho bè chìm, bắn thẳng xuống bè, ra lịnh tàu hải quân Cuba tông vào những chiếc bè mong manh. Trường hợp tàn sát “The Canimar River” hay “Tugboat massacre of 1994” trong đó nhiều trẻ em bị giết được ghi nhận nhưng vô số trường hợp khác sẽ không được biết, ít nhất cho đến ngày chế độ CS Cuba sụp đổ.
Fidel Castro đã đưa đất nước Cuba từ một nền kinh tế ổn định trong giai đoạn 1959 trở thành một trong những quốc gia nghèo nàn và chậm tiến nhất.
Vào thời điểm 1959, GDP theo mỗi đầu người là 2,067 đô la. Mức phát triển này gần với các nước đang phát triển trong khu vực như Ecuador (1,975), Jamaica (2,541), Panama (2,322). Ngày nay, GDP trên đầu người chính thức là 5,539 đô la nhưng lương trung bình của công nhân Cuba chỉ $20.00 mỗi tuần. Nếu khấu trừ mức lạm phát, tiền lương của công nhân Cuba không tăng một đồng nào trong suốt 20 năm qua.
Cuba nghèo đến mức phải từng bán máu tù cho CSVN.
Trong điều tra của Wall Street Journal ngày 30 tháng 12, 2005, phóng viên Mary Anastasia O’Grady đăng lại báo cáo của Ủy Ban Nhân Quyền Liên Mỹ Châu (InterAmerican Human Rights Commission) ngày 7 tháng Tư, 1967:
“Vào 27 tháng Năm, 1966, 166 người Cuba, gồm dân sự và quân sự, bị tử hình, và phải tiến hành thủ tục y tế trích máu trung bình bảy ống mỗi người. Lượng máu này được bán cho Cộng Sản Việt Nam với giá 50 đô la mỗi ống với hai mục đích vừa kiếm tiền đô và vừa đóng góp vào cuộc chiến tranh xâm lược của Việt Cộng. Mỗi ống máu khoảng nửa lít. Việc trích một lượng máu như vậy từ một người bị kết án tử hình gây ra cho nạn nhân tình trạng mất máu não, không còn ý thức và tê liệt. Khi máu được trích xong, nạn nhân được hai người lính đặt lên cái cáng và khiêng tới địa điểm hành quyết.”
Fidel Castro không chết vì bị xử bắn, không chết vì bị tra tấn như hàng ngàn tù nhân Cuba chết sau những trận đòn hỏi cung vô cùng tàn nhẫn theo báo cáo của Human Rights Watch hay Freedom House mà chỉ chết già sau 57 năm sống trên giàu sang nhung lụa và cai trị quốc gia đảo này bằng nhà tù và sân bắn.
Không giống như hàng ngàn người Cuba bị xử tử, bị giết trong tù hay chết trên đường vượt biển, Fidel Castro ra đi trong trong nhẹ nhàng, êm thắm như chưa từng nợ ai một giọt máu nào.
Ai sẽ trả lại cho nhà thơ Armando Valladares tám ngàn đêm của một thời tuổi trẻ khi ông bị giam, bỏ đói, tra tấn và chính mắt chứng kiến bạn tù bị xử bắn trong suốt 22 năm chịu đựng mọi cực hình tàn khốc trong nhà tù của Fidel Castro?
Ai sẽ trả lời cho cái chết của 14 ngàn thanh niên Cuba, trong số 50 ngàn được gởi đi làm bia đỡ đạn tại Angola theo lịnh của quan thầy CS Liên Xô?
Các lãnh tụ độc tài cá nhân bắt đầu từ nhiều gốc gác khác nhau nhưng chỉ kết thúc đời họ bằng một trong hai cách: chết già trong quyền lực hay bị lật đổ.
Những kẻ gây ra tội ác tày trời như Fidel Castro không có quyền được chết già mà phải sống để trả lời trước lịch sử về các tội ác mà y đã gây ra.

Trần Trung Đạo

nhánh tóc phôi phai

npphan

và thuở đó đất với trời hạnh ngộ
tôi một mình ngồi hát khúc tiêu sơ
chỉ còn lại một giấc mơ rạn vỡ
người còn đợi nhau cho đến bao giờ?

và nơi đó có hàng cây trút lá
một chút mong manh sợi khói lên trời
làm sao gọi những chiều thu tắt nắng
cho tôi về thương nhánh tóc phôi phai?

và ai biết sau niềm yêu lặng tắt
còn lại gì trên miền nhớ xa xăm
còn lại gì trong nụ cười hiu hắt
để trong hồn len lỏi chút dư âm?

và như thế, cứ trôi xuôi rời rã
tôi rót xuống đời một giọt cuồng say
và người đã cùng tôi thầm lặng
nhặt lời thở than rụng xuống vai gầy

NP phan

VU VƠ

luuxongpha

Thà tan chảy giữa vu vơ
Còn hơn dốc ngược lòng chờ bóng mây
Tịnh tâm xoay lại hình hài
Ngẩn ngơ hai mặt vẫn đày đọa nhau
Bùa mê một nụ ca dao
Ngọt ngào rơi lộ xanh xao cõi tình
Đinh ninh bỏ bóng theo hình
Dùng dằng gương vỡ thất kinh bóng đè
Bồng câu thơ gác câu thề
Nghe đơn lẻ vọng bốn bề nhân gian
Vắt trăm thương, nhớ chảy tràn
Còn chưa trôi hết phủ phàng vào xưa
Ta thà ghẹo gió đong đưa
Trắng phơ phất giữa xác xơ nhịp cuồng
Ném vu vơ xuống đời thường
Vén màn dâu bể mà thương lạc tình
Xua hồn buốt giá phiêu linh
Thề không đắp vạt nắng bình minh đen
Thưa rằng buồn mãi thành quen
Cô đơn bôi mặt vẽ nên phận người!

Lưu Xông Pha

m ư a p h ố

trantuan

Mưa theo áp thấp muộn về
Đường nhơm nhớp đỏ
vỉa hè vắng tanh
Vài cơn gió giật
lướt nhanh
Bỏ con phố sáng
nay thành mồ côi.

Sáng nay
quán cóc
tôi ngồi
Không em
nên sáng buồn
ơi là buồn!
Cà phê
đắng
giọt ưu phiền
Giọt từng giọt
lạnh
xuống miền phai phôi.


Sáng nay
con phố và tôi
Chợt thành tri kỷ
giữa đời gió mưa!

TRẦN TUẤN

VẪN MONG

buidiep

Vẫn mong một lần nào đó
Hoa xưa trăng xưa sông xưa
Nắng mưa nằm ôm mưa nắng
Nghe câu cổ tích đánh lừa

Vẫn mong chớp nguồn sấm bể
Đêm nao là cái đêm nào
Vẫn mong phố xa đầy gió
Thả đầy mùa lá lao đao

Vẫn mong bên ngoài khung cửa
Tuổi neo nhật nguyệt chân trời
Ai giú tiếng chào câu hỏi
Trả người xa tít mù khơi

Là thôi đừng mong gặp lại
Ta xưa em cũng xưa rồi
Của nhau tháng năm tê tái
Bao giờ mình sẽ đôi mươi

Vẫn mong một hôm nào đó
Ngại ngần tôi nắm tay tôi
Mấy ngón chai lì đồng bãi
Hái hương thơm thảo trao người

BÙI DIỆP

Thư cho người bạn trẻ: khi chúng ta thất bại

tuankhanh

Trong một thời gian ngắn, rất nhiều sự kiện trên thế giới đem lại cho chúng ta những bài học về sự thất bại. Từ thất bại của một ứng cử viên tổng thống cho đến thất bại của một quốc gia bất ngờ về người lãnh đạo của mình. Rất nhiều những câu chuyện về thất bại được kể lại với nhiều ngôn ngữ, chủng tộc. Nhưng điều đáng để ghi lại, là khi giáp mặt với thất bại, con người đã hành xử như thế nào.
Điều tôi muốn nói với bạn là vậy.
Ngay tại Việt Nam, người ta cũng nhìn thấy vô số các biểu cảm về sự thất bại. Có người cảm thấy thất bại trong việc đã đặt niềm tin vào ai đó. Có người cảm thấy thất bại vì đã trông chờ vào những chuyển biến của thời cuộc tốt hơn, nhưng chỉ thấy toàn là nhiễu nhương. Trên một status của Facebook, một người bạn trẻ viết rằng anh sẽ rời bỏ trang mạng xã hội này vì đã quá mệt mỏi nuôi hy vọng về tương lai của đất nước mình.
Quả là chúng ta đang đối diện với hàng loạt thất bại. Nhưng đôi khi, có cả những thất bại không phải do chúng ta gây ra, nhưng phải gánh chịu.
Thật thất bại khi phải chấp nhận một Bộ trưởng giáo dục như Phùng Xuân Nhạ, khi cười vui, bán danh dự nhà giáo vào những cuộc chè chén, coi đó là những điều bình thường. Chúng ta đang phải sống và giáp mặt với thất bại từ một nền giáo dục loay hoay với những kẻ cầm đầu vô trách nhiệm cũng như vô liêm sỉ.
Thật thất bại khi mỗi ngày người dân chúng ta nói về biển, về đảo và lòng yêu nước. Nhưng rồi bàng hoàng nhìn tàu kiểm ngư oai vệ đâm chìm tàu ngư dân, hành động hung ác và tàn nhẫn không khác gì tàu Trung Quốc đâm tàu Việt Nam ngoài khơi xa. Loại tàu kiểm ngư không bao giờ dám xuất hiện giải cứu ngư dân khi họ gặp kẻ cướp trên biển, chỉ vênh váo gần bờ.
Thật thất bại, khi mỗi ngày các câu chuyện công an, cảnh sát giao thông đánh chết dân vẫn diễn ra, nhưng pháp luật thì bâng quơ. Những kẻ phạm pháp tồi tệ nhất được nâng đỡ chỉ bởi là đảng viên đảng cộng sản. Chúng ta cũng là những kẻ thất bại, khi nhìn thấy chung quanh mình những điều bất cập diễn ra như một sự thách thức lương tri và lẽ phải, nhưng bất lực đối diện với sự thất bại của mình mỗi ngày.
Trong một lần trả lời phỏng vấn đài RFI vào tháng này, bà Phạm Chi Lan, chuyên gia kinh tế nói rằng mọi thứ cần phải thay đổi để phát triển, Việt Nam sẽ phải, làm dù chậm. Sự thật là như vậy. Trong những giờ phút mệt mỏi nhất, tôi cũng đã tự hỏi sẽ còn phải đổi bao nhiêu những bất cập nữa, chịu đựng bao nhiêu quan chức tồi tệ như Võ Kim Cự hay Vũ Huy Hoàng… thì chúng ta có được những đổi thay tốt hơn, so với những thất bại từng ngày, từng giờ, trên từng phát biểu của các nhà lãnh đạo hiện nay?
Tôi cũng như bạn, và nhiều người dân Việt Nam khác, nhìn thấy sự thất bại của mình, của dân tộc mình khi nghe rau củ quả Trung Quốc sẽ tràn sang Việt Nam với mức thuế 0%. Tôi nghe thấy thất bại khi Ninh Thuận reo mừng thực hiện nhà máy thép Cà Ná, đường biên giới phía Bắc ở Vàng Ma Chải bị Trung Quốc âm mưu lấn từng ngày. Tiếng vọng thất bại còn ở chuyện nền kinh tế Campuchia giờ đây sản xuất được cả xe hơi điện và đòi xây tường ngăn biên giới Việt Nam – Campuchia như Donald Trump tuyên bố, để cấm Việt Nam xâm phạm chủ quyền.
Tôi sống trong thất bại, chúng ta sống trong thất bại, và một cơ đồ nhìn tổng quát như hôm nay, quả là thất bại. Không ít người Việt mang tâm trạng bế tắc và buồn phiền.
Đâu đó trên Twitter, một người ủng hộ cho bà Hilary Clinton, đã viết sau khi có kết quả chung cuộc. Đại ý của cô viết rằng “Chúng ta đã thất bại. Nhưng chúng ta không trốn chạy, không ẩn nấp. 4 năm thật dài, nhưng đó là cơ hội để chúng ta tập hợp và quay lại, giành quyền quyết định cho đất nước mình”. Những dòng chữ này đã có đến hàng chục ngàn like và chia sẻ.
Quả vậy, chúng ta cũng sẽ không trốn chạy, không ẩn nấp. Dẫu rất buồn phiền. Vì bởi giáp mặt với thất bại, nếu chấp nhận đau yếu, bạn sẽ bị hủy diệt. Còn nếu nghĩ đến tương lai và giữ một niềm hy vọng, bạn có thể đi tới và băng qua thất bại của mình, cũng như của kẻ khác.
Và vì bởi, thất bại nhìn thấy hôm nay nhắc mỗi người về tương lai của một quê hương không thể tan rã, con cháu chúng ta không thể lạc loài. Có thể là một ngày thất bại, một giai đoạn thất bại, chứ không thể là một định mệnh thất bại. Hãy nuôi một niềm hy vọng cho những đổi thay tốt đẹp nhất, lên tiếng bằng sự thật và lẽ phải.
Có thể bạn nói tôi mơ ước viễn vông, nhưng đừng quên nhớ lại câu nói nổi tiếng Nelson Mandela, người từng chịu 27 năm tù cho một giấc mơ thôi aparthied trên đất nước mình, “Mọi thứ đều là bất khả, chỉ khi sự thật đến”. Chúng ta cũng có quyền nuôi một giấc mơ và hy vọng về sự thật, dẫu đang giáp mặt với thất bại.

NGUYỄN TUẤN KHANH

bờ đông, trăng hực lên màu phiền muộn

hhieu

gửi Nguyễn Phan Thùy Chi, Phạm Quyên Chi

1.
hãy ngủ
đừng mắt nhắm
hãy ngủ như mặt trời ngủ đêm
và hãy chong mắt thức như những vì sao chong mắt ngày
đừng đếm những con cừu
bọn cừu dễ thương đông hơn chúng ta tưởng
dân số của chúng đã được tích lũy trong từng mỗi mắt nhắm của loài người
em sẽ không bao giờ đếm xuể, và
sẽ làm em thức mãi cùng bọn cừu
những thực thể trong vũ trụ đang yên vị
theo ý muốn của thượng đế
hãy tìm kiếm và nắm giữ một sớm mai bằng một trái tim, và
hãy ôm hơi thở thanh tân mà ngủ
trân trọng một hơi thở
như trân trọng một sợi tóc
như trân trọng mỗi chuyển động của từng câu thơ
trổ mầm trên từng phân vuông da thịt
[dẫu câu thơ không thể vẽ lên hết
được một đời sống!]
dẫu biết rằng buồn phiền chỉ là dịch chuyển của ý nghĩ
ý nghĩ là chuyển động của một đời sống
và đời sống được trưng bày trên nhiều tấm canvas
em đang vẽ ra
bằng hơi thở của mỗi giấc ngủ
nên hãy trân trọng từng hơi thở
đừng đếm những con cừu
đang bị lột da
đang bị thay hình đổi bóng
đang bị mất bóng
trong một xã hội tối tăm chúng ta đang sống
gần hay xa
cũng là một quê nhà
mà nơi đây, tôi cũng đang trân trọng từng hơi thở
của từng đêm khắc khoải
không gì
chỉ là dăm ý nghĩ từ bên kia mặt tối
của trăng.

2.
không gì
chỉ là hừng đông rất chậm
hôn từng lụa là nở muộn
nằm vắt lên phiến hoa tối qua
vằng vặc trăng
trong vắt từng đóm sương mốc trần trụi bám phiền lứa tuổi
vâng, có sự khác biệt trong giới hạn của thời gian
ôi, tháng ngày rất dè sẻn
ngon như một bữa khuya bếp tắt
là tôi đang nhâm nhi từng ráng chiều luống tuổi
ôi, lũ cây cỏ nằm phơi non nớt vệ đường
thơ dại như một triền đồi mới nhú
là tôi đang tập tễnh lại từng bước hẫng hụt hoa niên
đừng gắng gượng những bước căn phần
đừng đếm những gồ ghề khúc khuỷu
đừng ngại ngùng so đo những khúc chênh vênh gập ghềnh
chúng lắm co quanh lừa lọc hơn ta tưởng
sự hiện hữu của chúng nhiều hơn nỗi toan tính
dân số của chúng đã được tích lũy trong mỗi tò mò trên từng đường chỉ tay
mà ẩn tướng là thứ ngôn ngữ huyễn hoặc
rối rắm thêm âu lo
dẫu biết ngã rẽ nào cũng đến
dẫu đến trong lưu lạc
như nơi đây, tôi cũng đang mạnh dạn thở
từng bước lạ lẫm
của đất, trời
không gì
chỉ là dăm ý nghĩ từ nỗi co cụm
của trăng.

HHiếu

sao mà gian nan qúa

10735644_826194720769236_378143114_n (1)

anh lại đi nhờ ngoại cảm
nói dùm anh chỗ xưa chôn
bài thơ đầu tiên anh viết
để xin lại một linh hồn

rồi anh được chỉ ngôi mộ
chỉ đào ra mớ xương khô
anh lắc đầu bảo không phải
ngồi buồn uống hết mơ hồ

họ lại bắt anh leo núi
chui vào cái động tối thui
gío bay nến dọa sẽ tắt
chỉ soi ₫ược mớ ngậm ngùi

hết núi rồi lại ra sông
ngoại cảm hỏi một nhành bông
bắt anh bơi giòng nước ngược
anh trôi dạt vào mênh mông

từ đó anh xa thế giới
đành chui vào cái đầu anh
ngoại cảm biến thành mầu xanh
nói anh cứ ngồi mà đợi

bốn muà lần lượt thay phiên
khoác áo chim cò biểu diễn
anh xem nhiều qúa phát điên
đuổi chúng bay đi biền biệt

thế là tự dưng trẻ mãi
mất cả thời gian đường dài
ngoại cảm trốn đâu mất tiệt
còn trộm anh cả chiếc hài

bài thơ đầu tiên anh viết
dường như hồn trốn bên trong
linh hồn biết bay không nhỉ ?
hỏi em thì cũng như không

NGÔ YÊN THÁI

HAPPY THANKSGIVING

download-3

Thanksgiving – lễ tạ ơn còn được gọi là lễ của di dân, bởi vì nước Mỹ được thành lập bởi sự di dân khắp nơi trên thế giới cho nên ngày lễ này mang một tính chất rất trang trọng.Lễ Tạ Ơn (Thanksgiving) là một lễ chính thức được diễn ra trên toàn quốc Hoa Kỳ, ngày lễ này được tổ chức vào ngày Thứ Năm (Thursday), tuần lễ thứ 4 trong tháng 11 hằng năm, tức là ngày thứ năm 25/11 ở Mỹ hay là ngày thứ 6 ngày 26/11 ở VN. Dịp này, dân Mỹ thường được nghỉ 4 ngày, bắt đầu từ thứ năm cuối cùng của tháng 11 và kéo dài đến tận thứ hai tuần sau. Vì thế, đây được xem là “kỳ nghỉ của gia đình”, khi mọi người có thời gian quây quần, đoàn tụ bên nhau. Những người đi làm xa cũng tranh thủ về thăm nhà. Lễ Tạ ơn cũng vì thế mà được xem là một trong những dịp mua sắm lớn nhất trong năm ở Mỹ.

“As we express our gratitude, we must never forget that the highest appreciation is not to utter words, but to live by them.”
(“Khi chúng ta bày tỏ sự tri ơn, chúng ta không được quên rằng lòng biết ơn lớn nhất không phải nói thành lời mà là sống với sự tri ơn”)

John F Kennedy

ĐI VỀ PHÍA CON NGƯỜI: KÝ ỨC SẮC MÀU ( truyện dài)

ledachoanghuu

Mưa, mưa, mưa… tiếng kêu, tiếng khẩn cầu kéo dài dài khi gặp màu hạn hán. Dù khẩn cầu trong im lặng, trong tâm hồn, không phát bằng tiếng nói.
Màu mưa là màu hồi sinh!
Ta cũng hồi sinh khúc nhạc vui nhộn!
Mưa rơi xuống, người người ào ra đứng yên lặng, dang tay nhắm mắt ngước mặt lên trời, hít thở với những giọt mưa. Có lẽ như vậy mới tận hưởng hết được những giọt mưa, hứng hết từng giọt mưa, muốn từng giọt mưa ngấm vào da thịt, có người há miệng hứng những giọt mưa trong suốt, ực ngọt ngào. Cu Sô và một số đứa cũng làm như vậy, chút sau là ào ào chạy nhảy, té nước đọng tung tóe. Cơn mưa lớn nước đọng chỉ trong các đường rãnh, đường mương, dưới vồng khoai… nước ngang chừng ống quyển con nít cũng ngụp lặn dù nước mang màu đất như màu phù sa đục ngầu, bơi bơi hai tay khoát nước, nhưng chân đạp dưới đất, vẫn thi thố vui ngút trời.
Mưa như một liều thuốc tiên.
Mưa thấm đất, đất giữ nước mát lạnh rất lâu.
Mưa hàn gắn những vết nứt ở cánh đồng.
Cây cối héo rũ sắp sửa quỵ ngã bừng tỉnh dậy, tươi trở lại, đâm thêm chồi, nảy thêm lá. Những hạt mầm nảy nở vươn lên. Suối tiếp tục chảy réo rắc. Màu xanh xóa tan màu úa vàng, vàng cháy, cháy khét. Côn trùng sinh sôi. Con nít hít thở không khí mang hơi nước âm ẩm, niềm vui lớn nhanh như thổi, những gương mặt chẳng còn vấn vương điều gì.
Cu Sô ngấm những màu mưa trong người.
“Tao bắt được con cồ lửa (dế trống lửa) rồi.” Một thằng reo lên kèm theo tràng cười haha.
“Xì, tao bắt hai con cồ than bự chưa nói gì.” Thằng nữa chề môi.
Hai ba thằng nghe dế gáy rét chạy nhào lại xí, thằng nào lanh tay lẹ mắt thì được thôi, thằng thua tiu nghỉu chút rồi cười hè hè, tìm dế bắt tiếp. Dế gáy rét rét dưới dất cày, lật lên mà chụp. Có những con chẳng bung hai cánh gáy lớn mà chỉ nhấc nhẹ một cánh kêu chắt chắt làm tụi nó phải áp tai sát rạt đất mà nghe, mà lần mò. Cái hột quẹt diêm rỗng là ngôi nhà đẹp nhứt cho dế cùng với vào vài cọng cỏ mọc sát đất giống rau sam nhưng lá nhiều nhỏ xíu xiu, liên kết thành chùm hơn, và xanh mềm mại như rêu. Cỏ hoang dại chẳng biết tên gọi là gì, cỏ dế, tên tụi nó đặt cho vậy chứ còn tên nào dễ thương hơn.
“Đá thôi, đá thôi.” Một đứa vừa tung tăng chạy lên gò đất cao vừa nói lớn khi coi bộ đã bắt đủ. Cả đám ào ào nhảy nhót theo: “Ờ, đá đi, đá đi.”
Bãi đá đơn giản là mặt đất bằng phẳng, tấn vòng tròn bằng mớ đá cuội, hay kiếm được cái hộp cái học nào đó, có cái cà mèn đơm cơm nước cũng được… Bứt tóc xỏ chân dế quay mồng mồng, phun thêm miếng nước miếng, thả dế từng cặp vào cái bãi bự bằng vài bàn tay, chụm đầu mà coi đá, mà la rân trời, “Thúc nè, thúc nè, nghiến nè nghiến nè, gáy nè, nổ nè…” rồi những tràng cười haha của thắng trận vang lên, đứa thua gãi dầu gãi tai xịu mặt tí chút chọn con khác tiếp tục.
Đá dế có nhiều chuyện lạ. Con dế bự, oai vệ thắng thì không nói gì, nhiều con dế oai vệ, giương thế hùng hồn, bung cánh gáy rân trời, vừa đọ càng lại quay đầu chạy mất, “Dế nổ, dế nổ, thằng này bắt được dế nổ.” Có con dế nhỏ, dế ốc tiêu lại thúc mạnh khù, có con ốc tiêu tuy yếu không thúc được mạnh lại lỳ đòn, nghiến răng chặt tới con đối thủ bự hơn nhiều ê càng phải bung mà thôi. Con dế pha đá thường cũng dữ tợn, dế không màu lửa màu than, pha giữa hai màu này ra màu ngà ngà, nâu lợt. Dế pha cu Sô khoái chẳng dế nào bằng, pha màu nó mê tơi mà. Nhưng đá dữ dội nhứt là những con dế ấp rắn, ấp bò cạp, chẳng biết có phải dế được ấp từ hai loại này nở ra hay không, nhưng cứ lật đất cày lên thấy dế nằm trong chỗ bò cạp hay chỗ có rắn là kêu vậy. Lật lên thấy rắn thì hoảng hồn bỏ chạy, chỉ khi thấy ổ trứng rắn, không có rắn mới dám bắt. Không biết Trời xui đất khiến thế nào chứ nó chưa thấy hay chưa nghe nói đứa nào bắt dế bị rắn cắn, bò cạp chích bao giờ. Một loại nữa đá hăng và dai kinh khủng, nhưng không phải từ thiên nhiên mà từ chiêu của các nhóc nhỏ, lén trộm chút rượu cho nó uống, dế say lảo đảo khỏi cần quay đá táo bạo nhưng chỉ một hai trận chứ không được lâu.

“Hú hu hú hu, hú hu hú a…” Ám hiệu gọi nhau tụ tập bằng cách chụm tay thồi như thổi tu huýt.
Vài cơn mưa đầu mùa, đêm về nghe ám hiệu đám con nít cầm đuốc sáng rực tụ đông lại, được các đàn anh dẫn tới các bàu soi ếch. Bàu qua một mùa nắng nước còn rất cạn. Có mưa, đêm xuống ếch hứng tình nhảy lên bờ tìm bạn tình rộn ràng. Gặp được bạn tình ếch bắt cặp bu lấy nhau mê đắm quên hết xung quanh, cứ vậy mà chụp bỏ giỏ. Bắt đầy cả giỏ cả thùng, về rộng trong lu bự. Bờ bàu đất trơn trượt, nhiều thằng hăng say nhảy chụp té lộn nhào, té bị ví là chụp ếch từ đây mà ra chăng(?). Cu Sô thầm cười cho là vậy. Những đêm soi ếch là màu của chờ đợi tới giờ, màu của háo hức, màu của phấn khích và vui như đi hội.
“Ộp, ộp… ộp, ộp… “. Tiếng kêu quen thuộc của ếch
“Ò…n ò…n ò…….n ênh. Ò…n ò…n ò…….n ênh…” Tiếng kêu tìm bạn tình kéo dài òn, òn rồi dứt bằng ênh, tiếng kêu vang rất xa nhưng thiệt quá não nùng, tiếng kêu của ếch òn. Ếch òn mang bụng thè lè như cái trống, da đen hoặc nâu sậm trơn láng có khoang vằn vện màu xám hay nâu lợt. Ếch òn từa tựa con ễnh ương. Rất nhiều vào giữa mùa mưa, sống trong các vũng nước đọng. Tiếng kêu của ếch trong vũng nước đọng bờ cỏ rậm rạp, rêu phong xanh lè cứ ngỡ chính vũng nước buồn phát ra và rất nhiều vào lúc chạng vạng, về đêm càng nghe não nùng, càng thê lương ở những lúc chạng vạng, những đêm mưa lâm thâm rỉ rả. Tiếng ếch òn thê lương hơn tiếng buồn của những cánh ve vào hè. Không ai soi bắt ếch òn. Nhưng những khi quá thiếu thốn ếch òn cũng bị thành món ăn như thường. Lúc này tiếng của ếch cu Sô không còn nghe vọng tình buồn nữa mà như tiếng vọng than vãn cuộc đời.

Những cơn mưa lâm râm nó nhớ những câu ca dao tục ngữ được lưu truyền trong dân gian. Nhiều câu rất đúng. Nó ghét trăng quần, “Trăng quần thì hạn, trăng tán thì mưa.” Ráng vàng đẹp nhưng, “Ráng vàng thì gió, ráng đỏ thì mưa.” Nhiều cơn gió hung tợn phá đám mây đang chuẩn bị ngưng tụ cho mưa, nhiều cơn gió vần vũ các đám mây đen cuồng cuộn như đang đánh nhau làm bầu trời chớp lóe tia lửa điện, sấm chớp rền vang, sét đánh nó sợ hút hồn. “Chuồn chuồn bay thấp thì mưa, bay cao thì nắng, bay vừa thì râm.” Chuồn chuồn bay cao ít hơn chuồn chuồn bay vừa và bay thấp. Từng đàn cánh mỏng bay thấp, bay rợp trời, cho tụi nó bắt chơi dễ dàng.
Một đứa nói:
“Ê, mày vò cái đuôi con chuồn chuồn đi, có chuyện hay lắm.”
“Hay sao?”
“Vò xong rồi à, ngửi mùi nó á, hay lắm.” Nói xong thằng này co giò chạy mất tăm mang theo màu hả hê. Đứa bị dụ khị ngẩn tò te:
“Trời, thằng ba trợn… mùi thúi quắc.”
Cu Sô thấy trò chơi khăm nhau vui vui nhưng cũng an ác với con chuồn chuồn. Song, có hối hận nhưng rồi sẽ tái phạm, không với con chuồn chuồn thì kiểu khác. Hối hận luôn là bạn bè song hành với nghịch ngợm vậy.
Chuồn chuồn bay thấp có khi mưa lâm râm hoài có khi mưa lớn kéo dài mấy ngày, cả tuần lễ. Mưa thúi đất, bước xuống đất nhão như bùn lún tới ống quyển. Những ngày này chẳng đi đâu được ra khỏi nhà, và thường là mùa bắp, mùa đậu phộng, ráng nhấc chân trong bùn ra sau nhà nhổ đậu bẻ bắp… đậu luột thơm, bắp nướng lăn trong dĩa nước mắm mỡ hành cho màu thơm phức sực mũi.
Về mưa, những hiện tượng cũng được kể lưu truyền trong dân gian. Cóc nghiến răng mưa sắp đổ. Đàn kiến lửa di chuyển rầm rộ báo hiệu sắp mưa. Cu Sô thích nhìn đàn kiến khệ nệ chuyển mồi bự hơn nó gấp mấy lần, nó ước mình được sức mạnh của kiến, và vui vui nghĩ mình không tệ như kiến khi năm sáu con bu quanh chuyển cục mồi mà cứ đi xà quần xà quần, rồi kiến đi ngược xuôi đụng đầu lốp cốp, nó thầm cười cho hai chữ lốp cốp, nghĩ kiến sẽ nghe vậy. Kiến di chuyển mồi là mưa lớn sắp đến rồi. Kiến mối bay đầy cũng vậy. Về đêm kiến mối thấy ánh đèn bay ào ào tới va vào hà rầm rồi rơi xuống, có con rụng cánh chết như những con thiêu thân. Nó chưa biết để lý giải điều này chỉ tiếc cho một cuộc đời. Đôi lúc nghĩ đơn giản không hẳn thích điều gì quá, lao đầu vào đó là tốt đẹp. Cu Sô mê nhứt là hiện tượng cầu vồng. Nó ngắm nhìn mãi cầu vồng cho tới khi tan mất vẫn còn tiếc nuối. Cầu vồng tổng hợp màu quá tuyệt vời. Cầu vồng cho dự đoán mưa nắng cũng tuyệt vời!
Cu Sô cũng như bạn bè khoái chí giữa mùa mưa. Khoái dầm mưa lang thang ngoài đồng bắt cua mò ốc. Mùa lúa đòng đòng thì ôm đống cần câu chẻ mỏng, ngăn ngắn gắn mồi cắm dọc bờ ruộng tha hồ bắt cá rô. Mày bông lúa rớt dạt vào bờ, cá rô mê tơi mày lúa đớp dính luôn mồi câu. Trên cọng lúa bắt những con cà cuống nướng giòn có mùi lạ hẳn với các loài châu chấu, cào cào…
Giữa mùa mưa còn món khoái khẩu là nấm. Nấm mối nấm rơm mọc lớp lớp. Nó canh nấm rất hay, không để tàn, nấm rất dễ tàn, mới sáng thấy vừa lú lên tới trưa có thể nở xòe, bở nát. Hái nấm nâng niu, cưng như trứng mỏng. Nấm dai dai xem xém thịt gà, còn ngọt hơn là đằng khác. Cũng vào lúc đói, nấm ở cây mục mọc bát ngát, bình thường thì bỏ qua, nay thấy không khác mấy nấm mối vậy là hái lấy hái để, ăn lấy ăn để để rồi chỉ chưa tới mức ngộ độc ngất xỉu, chỉ mồng mồng say quay cuồng.
Cuối mùa mưa thì tát mương tát vũng. Cá, tôm tép búng nhảy bập bùng trắng màu trong nắng…
Trắng màu trong nắng giống mưa trong nắng. Mưa ngâu mưa ngâu, lấp lánh lấp lánh những hạt mưa. Nó chỉ nhìn mưa ngâu, thấy màu đẹp chứ không thể dầm trong cơn mưa này.

Bản nhạc màu nắng rộn ràng ta soạn rất dài. Ta mới tấu áng chừng một nửa. Ta tiếp tục thôi.
Nền màu nắng tôn vẻ đẹp làng quê của cu Sô.
Một con lộ chính chạy ngang, đi tới đâu nó không rõ lắm, nghe loáng thoáng một hướng đi tới thị xã, một hường tới thành phố, tới thị xã đã xa xôi thì tới thành phố còn thăm thẳm. Còn lại các con đường vô xóm vô nhà là các con đường đất. Có con đường xe bò, đường chính vào làng và vô rừng, đường in hằng hai dấu bánh xe hai bên, chính giữa là đường mòn người đi. Ngoài những bụi tre, hàng tre, cỏ mọc hai bên đường rất nhiều, nhiều loại cỏ dại trổ bông quanh năm. Bông cúc dại khá nhiều, bông vàng bông trắng nho nhỏ cỡ đồng tiền. Bông mắt cỡ tròn tròn như viên bi, nhụy chính giữa chừng hột tiêu tia từng sợi mỏng ra ngoài, màu tím hoa cà tới tím vừa. Cũng có màu tim tím cho tới tím sậm và tím xanh là những dây leo bìm bìm, bông giống bông rau muống. Bông dây có nữa là chùm bao (nhãn lòng) lớn hơn đồng tiền một chút, cánh hoa tròn bung ra như cánh mai nhưng màu trắng, nhụy hai lớp, lớp dưới từng cọng nhỏ tia ra có khi dài hơn cánh chia làm hai phần màu, một phần gần tâm màu tím, đoạn bên ngoài trùng với màu cánh, lớp nhụy trên giống hạt mầm nằm ngang bung ra các hướng. Cây cỏ dại bồn bồn cho bông màu trắng sữa, cánh giống bông mai nhưng dày hơn, nhụy mang hình bốn năm con thỏ chụm đầu vào nhau. Cỏ bông đuôi thỏ là nhiều nhứt, bông màu trắng, màu ngà ngà, màu xanh non bên trong chuyển dần trắng bên ngoài. Và loại gần giống cỏ bông đuôi thỏ là cỏ may, cỏ may màu tía. Đến hai loại cây, cây bù xít còn có cái tên cứt heo nghe phát ớn cũng cho bông nho nhỏ chùm chùm màu tim tím, trăng trắng rất đẹp, cây mắc mèo bông y chang bông mắt cỡ chỉ màu lợt hơn tí chút.
“Hái cho em trái đó đi.” Đứa con gái kêu. Mấy thằng con trai nháo nhào tìm kiếm hái cho liền.
Trên con đường cây hoa cỏ dại còn cho trái chua ngọt, chua ngọt vẫn nghe màu ngọt ngào. Trái chùm bao già màu xanh đậm ăn chua chua, chín vàng ăn chua chua ngọt ngọt. Trái táo rừng xiu xíu bằng đầu ngón tay trên cây gai tua tủa, chín tím rịm cũng ngọt ngọt chua chua. Trái thù lù có cái vỏ bọc như cái lồng đèn, bóp vỏ nổ bốp ăn hột tròn cỡ viên bi, chỉ lờ lợ, không đủ ngọt ở bên trong…
“Vô đây, vô đây. Vô đây cho bông và trái.” Cu Sô rủ vài thằng nữa đứng giữa láng cỏ bày trò. Đám con gái hớn hở chạy ào tới, những ngọn cỏ chừng như vui hơn ve vẩy cành lá, tụi con gái càng thích, xòe tay đùa với chúng. Chợt một đứa la lên:
“Trời ơi! cỏ may… cỏ may hông hà, dính đầy quần rồi.”
“Bị dính chưởng rồi.” Hahaha, đám con trai hí ha hí hửng mặc cho những đứa con gái phụng phịu dậm chân dậm cẳng, ngồi gỡ cỏ muốn khóc mà thôi!
Con đường không chỉ cho đẹp mắt, cho ăn, còn cho… chơi khăm. Những thằng đôi khi quá hứng chí còn đùa giỡn với mắc mèo. Mắc mèo ngứa khủng khiếp, những cọng lông li ti dính chặt vào da, ngứa gãi tới tróc da và bị lan ra nữa. Cu Sô có tuyệt chiêu gỡ mắc mèo, lấy cái bánh tráng mỏng thấm nước cho mềm dẻo ịn lên chỗ có mắc mèo, bánh tráng ép sát da, giựt lên lông mắc mèo dính theo bánh.

Những vĩ bánh tráng phơi trắng như màu nắng.
Làng có vài nhà có lò tráng bánh và lò bún. Bún từng cọng xếp lại cũng trắng bóc. Tráng bánh thấm màu mồ hôi vì sức nóng của lò lửa thì làm bún là màu cực nhọc, xay bột gạo, bồng bột, giã bột quết bột cho dẻo rồi lấy hết sức ép bột dẻo đã cho vào khuôn ra từng cọng rớt xuống nồi nước sôi bên dưới. Tới ngày đói kém, thiếu gạo, bánh tráng chủ yếu bằng bột khoai mì và cả khoai lang, khoai lang không đủ dẻo để tráng bánh tráng mỏng, chỉ tráng được bánh tráng nướng, bánh tráng dày. Và bún trở thành món xa xỉ, không còn được làm nữa. Nó nhớ lắm, một tô bún trắng đẹp mắt chan với miếng nước nắm ngon, hay miếng nước nắm mêm dằm trái ớt hiểm xanh xanh, vài cọng rau húng lủi, húng quế ngắt sau ảng nước thôi, không cần thịt cá, không cần gì nữa cả là đã vừa ăn vừa híc hà cay cay ngon lành, có lúc cay ứa nước mắt. Trái ớt y chang trái ớt hiểm nhưng còn nhỏ hơn, những trái ớt nhỏ tí ti, xinh xắn càng cay và thơm hơn nữa, những trái ớt chim ỉa, không phải ớt từ bụng chim mà chim ăn ớt thải ra hột nó mọc lên giữa hoang dại, trái ớt mang tên chẳng đẹp đẽ gì lại rất ngon. Ngày trước nhà nào thích ăn ánh xèo, bánh căn, bánh canh cứ xách gạo tới nhờ xay bột bằng cối đá ở các lò. Mà không chỉ ăn một mình, hú hí năm bảy nhà xóm giềng cùng qua chung tay, đàn bà con nít cùng ăn, đàn ông lấy đó làm mồi lai rai xị rượu nấu từ gạo. Thèm thuồng bởi hết món xa xỉ, chỉ còn biết nhồi bột mì, cán mỏng xắt sợi nấu bánh canh với tí xíu bụm tôm khô không chặc lòng bàn tay cho có mùi, xì sụp húp lấy húp để. Tới hồi xắt sợi cũng mắc công, nhớ tới cái bánh quai vạt nhưng chẳng có nhưn có cốt, thôi thì vo vo tròn bột dẻo cỡ viên bi rồi đập cái bẹp cho dẹp xuống thả vào nồi nước sôi luột, với ra chan nước lèo, nước mắm mà ăn cho gọn. Bánh chẹp bẹp nói cho vui vui được khai sanh ra từ đây. Ngán khoai ngán củ quá cứ ý ới, “Qua mần chẹp bẹp, xúm mần chẹp bẹp nghen bây.” Nước mắm kho cũng thành xa xỉ luôn chứ không chỉ là nước mắm nhỉ, mắm nước nhứt nước nhì… thay thế nước mắm bằng cách pha nước với muối cho chút bột ngọt, một chút màu mà thành.

Làng Cu Sô yên ả, với nó là vậy. Cho dù đã có những điều xấu xảy ra cũng chưa đủ phá tan sự yên ả.
Ta oánh những nốt nhạc vui nhộn của của nó đều đều. Đôi khi mới rộn ràng bật lên hơn.
Những chiếc xe bò lọc cọc đi về vận chuyển đồ, tiếng cây roi dẻo quẹo nhịp nhịp, phất phầy trong gió phát ra vút vút, chéo chéo, cùng tiếng hùi hụi, lâu lâu mới oánh roi cái chóc vào lưng bò của người oánh xe không đủ phá sự yên ả. Xe chở cây chở củi từ rừng về, chở nông sản từ đồng từ rẫy. Chở nông sản xuống tận những chợ lớn ở thị xã xa xôi. Tiếng xe trâu cót két vang xa như điệu nhạc lặp đi lặp lại. Xe trâu ít đi ngang làng nên nó nghe rất vui tai, và gợi nhớ tiếng chuông. Lộc cộc nhanh hơn là tiếng xe ngựa. Con ngựa bị bịt mắt chỉ nhìn được về phía trước, cất vó đều đều gõ nhịp xuống đường kéo xe. Xe ngựa nó nghe là lúc xế chiều, buổi sáng sớm xe đi ngang thì đang còn mộng mơ làm chàng hiệp sĩ trong giấc ngủ. Lâu lâu có con ngựa chứng hay hứng chí hí vang cũng rất vui tai. Phá tan bầu không khí yên ả trong phút chốc là chiếc xe đò xình xịch chạy ngang lộ. Xe đò chở đầy hàng trong thùng, người ngồi phải co chân co ro chậc như nêm, người đứng đu phía sau không ít, vài người leo lên ngồi tận trên hàng hóa chất cao như núi trên mui, xe chở chắc gấp chục lần sức của nó, xe chạy bằng than chậm chạp bò lên dốc, lên ga hết cỡ đôi khi ù lên như bò rống, phun khói đen nghi ngút chẳng khác khói ngạ quỷ. Nhiều chiếc xe đang bon bon, đang xình xịch thì tắt lịm tiếng. Xe nằm đường lại một hai hay ba bốn ngày tùy hư ít hư nhiều và có sửa được hay không, không sửa được phải nhờ chiếc khác kéo đi. Bà con đi xe bị hư người có tiền thì sang xe tiếp tục hành trình, người rỗng túi chỉ còn biết lấy bầu trời làm nhà, lấy đất làm chiếu ngả lưng qua ngày đêm. Bà con dân làng là tình thương chia sẻ, miếng nước chén cơm, củ khoai củ sắn… Nó chưa được đi xa bằng xe xe đò, chưa biết thị xã là gì chứ nói chi thành phố. Đi học, đi chợ xin nhảy lên chiếc xe bò hay nghịch ngợm đu tòng teng phía sau hoặc cái càng bên hông, may mắn được bữa ngồi trên chiếc xe lam, chạy xe trống bác tài xế tốt bụng ngừng lại cho quá giang, xe lam ngừng cùng với cái ngoắc tay của bác tài là con nít vui như lượm được tiền, ào ào chạy lại leo lên, sướng rơn mang theo cả giác được thưởng thức chứ không chỉ là được ngồi chở đi. Xe lam chạy gần gần vòng quanh và chạy xuống thị xã. Chiếc xe lam cũng luôn chở quá sức, ì è bò lên dốc.

Chợ nhỏ cách làng hai cây số, buổi sáng lai rai người tới mua, một số ít người bán. Những chiếc xe lam và xe ngựa sáng sớm chở rau củ về thị xã, quay trở lại chở cá mắm, trưa hoặc xế buổi mới tới, nhộn nhịp họp chợ bắt đầu vào lúc này.
Chuyện chợ búa với nó rất tệ. Theo quan sát của cu Sô và nhiều người nói thì có người mát tay buôn bán, người thì không quả chẳng sai.
Một đứa bạn thấy nó còn sớ rớ ở chợ liền hỏi:
“Gần chạng vạng rồi làm gì còn đứng đây mậy?”
“Tao mới bán được có mấy bó dây khoai lang, ráng bán thêm vài bó.”
“Thôi, tránh cái bản mặt mày ra, đi chỗ khác chơi, để tao bán cho chớ hông gồng mình gánh về rồi khoai úng hết.”
Chập sau trở lại, đứa bạn đã bán dùm cho gần sạch. Lững thững trên đường về nó hỏi:
“Cái bản mặt tao kinh lắm hả?”
“Kinh lắm.” Rồi đứa bạn cười hahaha: “Nói chớ mặt mày sáng láng, không đến nỗi nào, nhưng chỉ để làm chuyện… kinh dị, chuyện trên trời dưới đất mà thôi.”
Nó gật đầu cười hahaha theo:
“Có lẽ vậy.”
Ừ, có lẽ vậy. Má nó gánh bao nhiêu bán tuốt luốt bấy nhiêu. Cu Sô chợt liên tưởng bán buôn cũng như câu cá. Nó câu cá dở tệ như bán buôn, nhiều đứa sát cá dữ dội, hai đứa ngồi câu sát rạt, cùng một loại cần cùng một loại mồi, cùng thả cùng chăm chú như nhau, nó chẳng câu được con nào, đứa kế bên thì giựt lia lịa, đổi chỗ cho nhau cũng y sì như cũ. “Mỗi con người sanh ra được giao cho mỗi bổn phận” nó nghĩ thầm trên con đường nhá nhem tối.
Nhưng cu Sô vẫn thích đi chợ. Chợ vui vui, một màu tổng hợp với nó. Nó lắng nghe màu âm thanh, nghe được nhiều âm thanh, thấy được nhiều sự việc xảy ra. Những âm thanh hỗn tạp đan xen nhưng chợ vẫn mang màu xanh tươi của rau củ, hoa trái, vẫn mang màu thanh bình. Người bán người mua ra giá trả giá, lựa từng món đồ mình thích rất nhộn nhịp. Tiếng người rộn rã nói cười, người gặp nhau hỏi thăm, người nán lại nghỉ chân trò chuyện và cả những người kể nhiều chuyện, kể hết chuyện này tới chuyện khác. Tiếng người đã chộn rộn còn thêm những tiếng khác, tiếng lụp cụp chặt cá chặt thịt, tiếng lạp cạp của những con vịt sống, lâu lâu tiếng quang quác của con gà mái và chim chíp của bầy gà con dễ thương, tiếng con heo mọi lưng võng nhỏ xíu dễ thương như đàn gà con ụt ụt xẩy lồng vừa chạy vừa ủi đất kiếm ăn… và bất chợt tiếng con gà trống bị nhốt trong bội cất tiếng gáy o o. Cu Sô cho rằng con gà đã mất khái niệm thời gian khi bị xà quần trong không gian nhỏ bé.
Rồi chợ bị mất màu thanh bình, vui nhộn.
Màu của âm thanh nhói tai, sự việc buốt óc đập vào đầu nó. Màu hâm he, huênh hoang, hống hách, dịch vật toát ra từ các cán bộ thuế vụ. Những gương mặt sắt chì lạnh tanh lùng sục tìm kiếm hàng lậu bắt bớ. Hàng lậu, hàng cấm chăng? không, không ai mua bán hàng cấm gì cả, chỉ vượt quá qui định cho phép, chỉ được mua bán nhỏ lẻ dăm ba ký, dăm ba mớ… Màu bán buôn không còn chữ buôn, buôn thuộc thành phần tư sản, tiểu tư sản, phải triệt thoái. Thậm chí chữ mua bán cũng không phải là chữ hay ho, nên cần phải sử dụng cụm từ “trao đổi hàng hóa.” Những cái mẹc lên ngôi, được hiên ngang phơi bày đựng dăm ba ký. Dăm ba ký không đủ đắp đổi tiền xe, cho giá xăng dầu của xe đã thuộc màu xa xỉ. Những cái thúng đựng hàng được chế thành hai ba lường như chiếc ghe lường ngày trước che dấu chở đồ tiếp tế cho cán bộ. Qua mắt được chăng? có dễ sao, vài chuyến thì bị phát hiện, chuyện ngày xưa cán bộ đã quá rành rẽ đây mà. Thúng mũng được chuyển hướng cất dấu lùm cây bụi cỏ, cất dấu dưới những cái hố đào đó đây và ngụy trang lên trên đó. Âm thanh hỗn tạp lên đỉnh điểm những lúc xe hàng vừa tấp vô chợ, tin tức cán bộ đang tới, cảnh tượng nháo nhào xảy ra, những gương mặt lo âu, sợ hãi í ới dỡ hàng bưng bưng gánh gánh chạy như bị ma đuổi, bưng gánh nặng vượt khả năng khệ nệ chạy ì ạch, lạch chạch như những con vịt xiêm to xác, sức mạnh bỗng chốc chẳng khác dọn đồ nhà cháy. Và náo loạn, người người dàn cảnh chặn trước chặn sau, chặn ngang chặc dọc, bao quanh cán bộ, níu kéo đưa tiền nộp thuế, giả tảng hỏi điều này điều kia…
Âm thanh nhói tai nữa mang màu ca thán. Ca thán khan hiếm hàng, giá cả cóc nhảy, nhảy vọt liên miên. Ca thán nhiều người sanh tật, nán lại nhiều chuyện, không phải những câu chuyện tốt đẹp nữa mà thay bằng những câu chuyện đàm tiếu, bêu xấu sau lưng lẫn nhau, nghi kỵ lẫn nhau. Những câu chuyện trong ngóc ngách của nhà người khác. Nghe đâu một chút mùi thơm của hành mỡ ở nhà nào đó bay ra là thêu dệt thành bữa tiệc, con gà con vịt đã lên mâm, cao lương mỹ vị đầy ắp ích kỷ cho riêng nhà mình. Đến màu của cái đũn quần sạch hay dơ cũng không thoát được. Và điều tồi tệ hơn, màu tồi tệ hơn cả tồi tệ đã hình thành, nạn cãi vã, oánh nhau, thù oán được sanh ra từ gian lận, dối trá, lừa lọc…
Màu của bè phái, phe nhóm, màu của lăm le dè chừng, nghi kỵ, đối phó nhau bắt đầu hiện hình. Tiếng chuông đã tắt thường nhựt, tiếng tâm xà chợ búa lại lan xa, lây lan như bịnh truyền nhiễm.

Ngược chiều gió với tiếng lan tâm xà chợ búa, tiếng búa gõ nhỏ dần nhỏ dần và ít dần ít dần theo thời gian về sau, tiếng búa tạ ngày nào thoải mái quai cong gió trời, quai cong không khí nay không còn nữa, đúng hơn là không dám quai nữa, hai tiếng búa ở nhà bác lò rèn.
Lò rèn rất lớn một thuở luôn đỏ rực lửa, ba bốn người mình trần trùng trục, cơ bắp cuồn cuộn tất bật công việc có khi đến giữa khuya. Cái lò đã tắt lịm, hai ống thụt thổi lửa cao, hai lá phổi của lò rèn ngưng thở, bị xỉ than đen xì bay lên bám đầy, trên trần cũng đầy xỉ đen và mạng nhện. Màu buồn u ám khô khốc quanh lò, hơn nữa có màu im ắng đến lạ thường, không phải màu hiu quạnh, không phải màu cô liu, không phải màu bị bỏ rơi, những nhát búa là con tim của lò rèn bị buộc phải ngừng đập, lò rèn mang thêm màu tức tưởi trong đó, cứ văng vẳng hoài tiếng đập bon bon giòn giã trong thinh không, một thuở rộn rịp nay im ắng lạ thường không có gì khó hiểu. Bác lò rèn dời cái đe nhỏ ra cái chòi sau nhà, tấn vài cục gạch lửa giữ mớ than hồng, dùng cái quạt đan bằng lá buông (lá chằm nón, chằm áo tơi), và tiếng búa cầm tay vừa nín thở vừa gõ không đủ phá tan màu im ắng của lò rèn cũ phía trước nhà.
Màu sợ sệt bao trùm.
Cu Sô nhác thấy một bác bước đi với dáng vẻ e dè, cảm giác mang tội lỗi trong mình, canh cánh sợ bị tra xét. Một bác đạp xe ngang hỏi:
“Ấy dà, anh đi đâu mà cứ dáo dát, ngó trước ngó sau vậy?”
Bác thở dài, đáp:
“Tới anh thợ rèn anh ơi, ngại gặp cán bộ lắm.”
“À, tui hiểu rồi.”
Thực sự thì tới nhà bác lò rèn không phải là nỗi sợ chính. Công cụ để làm nông gồm cày bừa, cuốc cào… được đổi tên là tư liệu sản xuất, phân phát về cho bà con, nhưng giống như đồ kiểng, nay gãy đai, mai sứt mẻ chẻ lưỡi, nộp lại chờ mỏi mòn chưa biết chừng nào được cấp phát lại, chuyện rành rành trước mặt, bà con đành phải đến nhờ bác lò rèn sửa lại, đâu có gì sai. Nhưng nhờ cớ vậy để đến đặt bác làm cái cuốc, cái rựa, cái rìu… để làm rừng làm rẫy thì nhiều hơn. Nỗi sợ một phần từ đây, làm rừng làm rẫy bất hợp pháp, màu lén lút trốn chui trốn nhũi hòa trong màu rừng xanh thẳm và sâu, rừng thiên nước độc. Một phần nữa là nỗi ám ảnh. Ám ảnh những cán bộ, những du kích, những xã đội, những công an đeo trên cánh tay cái băng đỏ, vắt trên vai khẩu súng dài hay bên hông khẩu súng ngắn rất hiên ngang, quyền uy quá lớn dần dần hiên ngang vượt ngưỡng trở nên kênh kiệu, chiếc băng đỏ trở thành cái nhãn hiệu cầu chứng, họ muốn xâm nhập tư gia kiểm tra nhân khẩu, kiểm tra hàng hóa… muốn chặn ngoài đường kiểm tra thân nhân bất kể lúc nào, bất kể đêm ngày mà chẳng cần một tờ công lịnh, thậm chí chỉ cần nghi ngờ một việc gì thì có thể bắt tống giam, bắt đi biền biệt, phản kháng làm sao với họng súng chỉa ngay vào người đã sẵn sàng lên đạn. Không tội tình gì được trả về cứ về thôi chứ không giải thích lý do, đừng mơ một lời giải thích thì càng không mơ lời xin lỗi. Những gương mặt cán bộ là những gương mặt hất hất lên bầu trời với đôi mắt nhiu nhiu nhìn đời bằng nghe ngóng và toát ra màu hãnh tiến phủ bạo lực. Trụ sở xã phủ đầy màu sắc lộng quyền, tinh tướng.

Anh thanh niên ở xóm dưới cạnh làng là nạn nhân đau xót.
Một khuya tối trời ở nhà hai mẹ con một bà góa con côi. Đứa con nằm ngủ bên cửa sổ để trống bỗng hét lên thất thanh rồi ôm bụng khóc thét, nó bị đâm một nhát chí mạng. Sau này nó kể lại nghe người đâm nói, “Chết cha lộn rồi”, song phóng chạy mất, nó không thể biết được là ai. Nó được đưa ra trạm xá. Sau khi sơ cứu, làm những thủ tục phiền hà và kiếm xe cộ, chuyển viện tới bịnh viện tỉnh mất cả ngày hôm sau. Ở bịnh viện tỉnh được chuẩn đoán bị lủng ruột, điều trị mất ngày thì vết thương hoại tử, được chuyển tiếp vào Sài Gòn, được lắp cái bịch lòng thòng bên ngoài, không tự điều tiết được đường thải. Sau đó mổ đi mổ lại mấy lần, mất chừng hai năm trời mới nối lại ruột.
Lúc bà con tới đưa đi cấp cứu thì có người thấy có một ông cán bộ xã cũng chạy từ đây ra. Đã từ lâu có lời xầm xì ông cán bộ này tò te tú tí bà má. Và bà cũng lẳng lơ với khá nhiều đàn ông. Lời đồn đoán rằng có người ghen tuông, cũng có lời cho rằng có người muốn tranh chức nên mới triệt hạ. Người nhắm tới để triệt hạ là ông cán bộ này.
Một tuần sau ngày xảy ra sự vụ, anh thanh niên đang cùng bà con làm đồng, một toán gồm xã đội và công an xã tới mời anh về xã làm việc. Nói là mời chứ thực chất là bẻ quặt hai tay ra sau lưng lấy dây mũi bò (dây thừng) trói lại dẫn đi không lời giải thích. Bà con lại có thêm tin đồn rằng anh là thủ phạm. Nhưng đa số đều không thể tin. Một thanh niên hiền khô, mới tới ở hai tháng trong ngôi nhà người bà con đã bỏ đi, không hiềm khích với một ai, thì khó có thể là hung thủ. Anh bị đưa đi đâu không rõ. Rồi sáu tháng sau anh được cho trở về nhưng người nghễnh nghễnh ngãng ngãng, hỏi gì anh cũng lắc đầu không đáp trả một lời nào. Chừng vài tháng nữa thì anh bỏ đi bặc tăm. Sau này có người thấy anh đã bị điên khùng, lang thang đầu đường xó chợ tận thị xã. Lan tiếp lời đồn rằng anh bị uýnh khi bị bắt, người nói anh bị chích thuốc để khai. Tất cả chỉ cũng chỉ là lời truyền miệng, không một chứng cứ. Vụ án dần chìm vào quên lãng.

Làng có đám cưới. Mệt mỏi với viễn cảnh trước mắt không biết ra sao nên không hào hứng rầm rầm rộ rộ như trước đây nhưng chuyện một đời người của con cái nên cũng ráng hết sức. Gia chủ vay mượn bà con lối xóm và cả sự giúp đỡ khi tối lửa tắt đèn có nhau, đám cưới cũng có con heo, bầy gà, bầy vịt… Nấu rượu bằng nếp than thơm lừng chôn cất dưới đất trước nửa năm. Cùng xúm xít đựng rạp trước nhà cách hai ba bữa là của cánh đàn ông. Đàn bà con gái xúm phụ nấu ăn.
Một chú đi rừng chặt mớ lá buông về che hông cái chái. Nhớ nhớ hồi trước chú nãy ý kết lá thành cái đầm xòe cho đứa con gái nhỏ. Cho nó mặc dẫn đi đám cưới lạ lạ vui vui. Lá buông mới chặt còn xanh non, mướt mát kết thành đầm xòe rất đẹp. Con bé lên sân khấu múa hát rất hay, ai ai cũng thích thú. Nó được xin cho ở lại cả ngày và buổi tối đãi bạn bè cô dâu, mở màng cho văn nghệ văn gừng, đúng là có cây nhà lá vườn, đám cưới đỡ buồn chán.
Ngay bữa sau thì chú được mời lên xã. Bị cán bộ gán cho việc bôi bác chế độ, cho rằng nhà nước không có nổi tấm vải để con nít phải mặc quần lá. Và ăn mặc không ra thể thống gì, xòe xòe ra, khoe giò khoe cẳng, tư tưởng sao mà suy đồi quá. Chú phải viết đi viết lại cả chục tờ kiểm điểm nhận lỗi mới được buông tha, chứ không thì có thể lắm bị bắt nhốt hoặc cho lao động nếu dám cãi lại.

Sự tinh tướng đôi khi bị trả giá.
Nặng nhứt là xã có một lần bị bộ đội bao vây, nhưng rất may chưa có tiếng súng nổ như con bò bị bắn lủng đầu.
Cũng bên vệ đường, một buổi tối trăng sáng mờ mờ vắng gió, nóng nực, ba anh bạn ngồi trò chuyện. Một anh từ chiến trường Campuchia nghỉ phép ghé thăm một anh đã là thương binh cũng từ chiến trướng này trở về, và một anh bạn học. Câu chuyện xoay quanh ở chiến trường khốc liệt, đau đớn những người đồng đội cũ người còn người thương vong… rồi tới sự học hành. Anh bạn ở nhà tuy học giỏi nhưng thuộc con nhà chế độ cũ nên tới đại học phải dừng bước. Bực dọc chồng chất bực dọc nên có những tiếng ca thán, chửi thề chen ngang câu chuyện. Thế rồi những lời này bay vào tai của anh công an xã đạp xe đi ngang. Không cần biết ất giáp ra sao, anh cho rằng chửi mình. Vậy là về huy động ngay bốn năm người nữa ào tới, ba người người thị bị còng tay, người bị trói gô dẫn giải về trụ sở cho ăn bạt tai và nhốt lại.
Người làng chạy lên huyện đội báo tin. Chừng ba tiếng sau, mặt dù buổi tối nhưng chỉ huy huy động liền hai chiếc GMC (xe quân đội của Mỹ, còn gọi xe nhà binh) chở năm sáu chục bộ đội đầy đủ súng ống rầm rập kéo tới bao vây. Người chỉ huy gằn giọng:
“Hai trong ba người này là người của tôi. Một từ chiến trường trở về mang thương tật, một về phép chuẩn bị lại ra trận. Họ thăm bạn bè, trò chuyện về sự khó khăn của bạn mình. Các anh ngồi mát, không lo cho dân cho nước, chỉ biết rình mò, quy chụp chụp mũ là giỏi. Nghe loáng thoáng là nghĩ bôi xấu mình, tại các anh thực chất xấu vậy mới sợ chứ quang minh chính đại thì sợ ai, sợ ai nói xấu mình. Các anh ỷ có thế lực có vũ khí làm đủ chuyện xằng bậy…”
Thay cho sự tinh tướng ban đầu là sự hèn nhát. Các cán bộ mặt mày xám ngoét phải năn nỉ ỉ ôi gần như lạy lục và hứa hẹn đền đáp mới được bỏ qua, không đưa ra kỷ luật.

LÊ ĐẮC HOÀNG HỰU