ĐÊM MƯA NGHE HÁT BÀI THƠ CŨ

nguyenxuanhoang

Mưa là một người khách cẩn trọng báo tin trước bằng những đám mây đen và những ngày âm u oi bức rung động trong một thoáng gió như tiếng chuông leng keng của người thầy lễ dẫn đầu đám rước.
Mỗi ngày bầu trời như muốn thấp gần những mái nhà.
Rồi một buổi chiều nào đó trong một ngày nào đó, mưa đến, ung dung và khoan thai đến, gõ đều đặn những nhịp tay trên cánh cửa nhà ta.

Và như thế mùa nắng đã hết.

Tối hôm qua mưa ào ạt tới hai lần. Một lần vào lúc nửa đêm và một lần vào lúc gần sáng. Mưa bay qua cửa sổ tạt ướt chỗ nằm ta đánh thức cơn mê ngủ quá khứ, khơi dậy những hoài niệm tưởng đã chết. Mưa là cây kim nhọn đâm thủng cái nhọt bọc căng kỷ niệm, mưa là đốm lửa của đầu điếu thuốc làm xìu quả bóng trên tay đứa bé.
Mưa, chính là cơn gió lớn xô sập cánh cửa dĩ vãng.
Ta đốt một điếu thuốc. Nhớ nhà, Nhớ nhà châm điếu thuốc.

Hồ Dzếnh,
Phải rồi, đó chính là Hổ Dzếnh. Một Hồ Dzếnh thi sĩ được khói thuốc âm nhạc của Dương Thiệu Tước phà vào tâm hồn ta.
Kỳ lạ thay, mưa đêm làm nhớ nắng chiều
Ta tưởng như đang nghe vọng lại đâu đó tiếng thơ của Huy Cận qua những tiếng khua động tí tách của giọt mưa trên mái tôn.
Tai nương nước giọt mái nhà
Nghe trời nằng nặng nghe ta buồn buồn
Nghe đi rời rạc trong hồn
những chân xa vắng dặm mòn lẽ loi
Rơi rơi dìu dịu rơi rơi….

Nhưng không, đó chỉ là Hồ Dzếnh, một Hồ Dzếnh làm thơ cho Dương Thiệu Tước được yêu mến hơn và một Dương Thiệu Tước làm cho Hồ Dzếnh gần gũi chúng ta hơn.

Một người bạn nói với ta rằng thơ hay chỉ được đọc trong đầu và âm nhạc tuyệt diệu nhất chính là sự im lặng.
Nhưng tại sao gọi là Thi Ca?
Âm nhạc phải chăng là thứ ngôn ngữ phổ quát nhất còn thơ vốn là thứ ngôn ngữ đặc thù nhất.
Hình như ta chỉ có thể yêu được nhạc của Võ Đức Thu trong Tống Biệt của Tản Đà, yêu thêm một tình yêu nữa tiếng thầm thì Phạm Duy trong Ngậm Ngùi của Huy Cận, và nhìn khuôn mặt Phạm Đình Chương rõ hơn một chút trong Mộng Dưới Hoa của Đinh Hùng.
Và ngược lại, tại sao không phải là “hình như” một Đinh Hùng chỉ thức dậy với Phạm Đình Chương, một Huy Cận chỉ làm xao xuyến tâm hồn ta bởi Phạm Duy và một Tản Đà được nâng cao vóc dáng lên nữa bằng âm nhạc Võ Đức Thu?

Phải, tại sao không?

Chiều.
Đó là bài thơ của một người không giống một người nào và âm nhạc của họ Dương không phải là âm nhạc của ai.
Nhưng ta cảm thấy có lẽ họ Dương đã hiểu quá rõ Hồ Dzếnh, và âm nhạc của chàng đã thẩm thấu thơ của người.
Dương Thiệu Tước là người nói lớn hơn giọng nói của họ Hồ, là người phóng rọi to thêm nữa cái tâm hồn hồn nhiên của thi sĩ. Và hơn tất cả những điều đó, Dương Thiệu Tước làm thơ của Hồ thơ hơn, cũng như thơ của Hồ Dzếnh làm nhạc của Dương tràn đầy nhạc tính hơn.
Vả lại, dường như (?)âm nhạc tuyệt diệu đó trong dòng thơ phi thường kia được nghe lại trong đầu ta đêm nay không phải là cái gì khác ngoài tính cách kêu gọi, tham dự, can thiệp của vật xúc tác tốt nhất, giống như thìa nước trà tan những vụn bánh Madeleine của Marcel Proust hé mở tấm màn sương mù của ngày cũ.
Phải rồi, đó là những ngày ta lạc trong rừng, tuổi nhỏ và núi cao và chiến tranh. Bộ đội Nam Long, Hòn Lớn, Sông Ba, những ngày trốn giặc Pháp, những đêm lửa trại ca hát, những âm nhạc, thơ và kịch.
Phải rồi, đó chỉ là ta, chạy lúp xúp trong rừng sâu; trầm mình trong lá cây và tiếng chim.
Phải rồi, đó chỉ là điếu thuốc đầu tiên hút lập bập trong tiếng cọp gầm và tiếng súng.
Phải rồi, đó là tuổi nhỏ ta lạc trong chỗ không người. Nhớ cha, nhớ mẹ, nhớ anh em và nhớ nhà. Mây trên trời, hoa lá trên cây, lo sợ trong đầu.

Chiều.
Đó là ta. Chỉ là ta. Trong một buổi chiều buồn rầu tâm hồn lãng đãng, điếu thuốc đắng, hơi thở khô.
Kỳ lạ thay. Hồ Dzếnh và Dương Thiệu Tước chỉ là cái cơ hội để nhớ đến cái ta đầy tội nghiệp.

Nghe lại một lần nữa bài Chiều để ta còn nhìn lại ta.

Có kỳ cục không, người ta không nhớ đến sự vật, người ta không nhớ đến âm nhạc, người ta không nhớ đến thi ca, người ta chỉ nhớ đến chính mình mà thôi.
Ai đã nói thế?
Chẳng cần nữa.
Chỉ là cái ta trong suốt qua sự im lặng của âm nhạc, hơi thở của bài thơ và tiếng mưa rơi thánh thót trong đầu.

Nguyễn Xuân Hoàng
(Trích trong ” Ý Nghĩ Trên Cỏ”. Nguyễn Đình Vượng xuất bản, 1971)

DẠO KHÚC 46

nguyenquangtan

Con dế nhỏ -chiếc đàn- và những vì sao
Hoa thơm ngát hồn thơ ấu
Ngày nào
Lối về bằn bặt khép
Còn gì để nói nữa đâu.

Tôi kể rằng tôi đã theo sau đám tang một con dế nhỏ
Không gian vỡ đổ tiếng đàn
Nghìn sao mắt lệ
Êm đềm hoa rụng chẳng lời than

Tôi kể rằng tôi đã đứng rất lâu giữa trời cao rộng
Đợi hồi chuông mở lối tới vô cùng
Này bàn tay đã cho đời tháng năm nằm mộng
Còn gì ta nói nữa không…

NGUYỄN QUANG TẤN

ĐÔI MẮT

huvo

Có đôi mắt nào đăm đăm nhìn ra biển
Biển hoang vu từ buổi vắng con thuyền
Đợt sóng cứ bập bồng dao động
Cơn thủy triều dâng khắc khoải triền miên

Có đôi mắt nào mãi nhìn về núi
Mùa xuân đi hoang lá úa thu buồn
Tiếng thở dài bác tiều phu còm cỏi
Suối xanh xao nhớ bầy nước xa nguồn

Có đôi mắt nào vói đỉnh trời xa lắc
Cánh chim bay mờ khuất ánh hoàng hôn
Mơ phận người như vì sao tăm tối
Xếp thành dòng Ngân hay dáng Đại hùng

Có đôi mắt nào dõi suốt đêm đen
Sầu lắng đọng nghe tim mình lỗi mộng
Dẫu lá xanh đến thu tàn rơi rụng
Vẫn ươm mầm gieo hạt giữa hư không.

HƯ VÔ
Cuối Thu 16

ĐI VỀ PHÍA CON NGƯỜI: KÝ ỨC SẮC MÀU ( truyện dài)

ledachoanghuu

Có hai tiếng được thoải mái phát ra, không chút màu sợ sệt, tiếng nhấp kéo xạch xạch rồi cắt vải xập xập của bác thợ may, và tiếng kéo nhấp nhưng nhỏ hơn, kêu lách chách cùng với tiếng nhấp cạch cạch tông đơ là của bác hớt tóc. Hai bác vẫn không được chính danh mang tên nghề của mình, bà con kêu vậy thôi chứ vẫn là nghề sản xuất nông nghiệp, nghề chỉ còn là nghề phụ, tranh thủ làm thêm khi nhàn rỗi, vẫn phải tham gia đầy đủ công lao động sản xuất.
Cu Sô nghĩ cũng lạ, phải chăng hai tiếng này phát ra không vang vọng? tiếng quá nhỏ nhoi? Rồi nhìn tới nhìn lui xóm làng, dòm ngó khắp các làng cận kề không hề thấy cái cửa hàng cắt may, cửa hàng cắt tóc quốc doanh nào cả, thì nó hiểu hai tiếng này thoải mái là phải. Không có, dễ trở lại thời ăn lông ở lỗ, tóc tai râu ria phủ đầy như lông lá và trần truồng như nhộng chớ chẳng chơi. Mà có người cũng đã ví đang đi ngược chiều kim đồng hồ, trở về cái thời đó, sắp sửa phải đi hái lượm để tồn tại. Hai tên cửa hàng này nó nghe nói có ở thị xã hay nơi nào đó. Cửa hàng thương nghiệp quốc doanh tổng hợp, cửa hàng thịt và rau quả mậu dịch thì nó đã tận mắt ở gần chợ. Hai cửa hàng đìu hiu như chợ ế chạng vạng nó từng gánh bán dây khoai lang. Mua hàng ở các cửa hàng quốc doanh thường bằng tem phiếu, quy đổi giống như tiền. Những tờ tem phiếu cho mỗi loại in chung một tờ lớn rồi xé nhỏ ra từng tờ nhỏ cỡ tờ tem thơ. Cu Sô thấy nhiều điều ngồ ngộ ở những tờ tem này. Tờ tem 25gam, 50gam mua đường, bột ngọt, tiêu tỏi thì được, 50gam thịt lọc, 50gam thịt có mỡ về ráng lấy mỡ coi bộ cũng tàm tạm chứ 50gam thịt xương thì còn được bao nhiêu gam thịt? 50gam lương thực thì nấu được cái gì? tờ tem 5cm, 10cm, 20cm vải thì xài làm sao? à nó thấy mấy đứa mặc cái quần đùi ngắn ngủn, mặc lòi cả “hòn bi” nho nhỏ, có lẽ mua được chừng 20cm nên may vậy, bị đứt tay người ta nói chạy ngay ra cửa hàng mua 5cm vải về băng(?!) khó mà cầm được tiếng cười cho lời nói này dù biết là tếu táo. Chưa hết, ở làng quê chẳng cần vô tới rừng lấy củi, bẻ những nhành cây khô trong vườn cũng đủ nấu nướng vậy mà vẫn được phân phát về tem phiếu mua chất đốt, dư thừa để làm chi? đến thằng con nít cũng hiểu sao chẳng có chút linh động nào cả, cứ một mực theo văn bản, chỉ thị, chỉ đạo… Vui vui như cái quần đùi là những tờ tem sữa tem đường trẻ em, “Con nít có sữa sao ta(?) đường được nấu từ thịt, từ xương trẻ em đó(!)” thực ra thì chỉ là những lời đùa, tem sữa tem đường dành cho trẻ em, người ta giản lược từ ngữ riết rồi trở thành bình thường, các anh chàng tếu táo, “Ước chi có thịt con gái, thịt ngon ngọt biết chừng nào(!)” Những sự lược giản từ ngữ dẫn đến sự kỳ cục, “Mua công trái là yêu nước.” “Vệ sinh là yêu nước”… chỉ cần mua tờ công trái, làm vệ sinh là đã chứng tỏ được lòng yêu nước nồng nàn, chẳng cần chi nữa(?). Tờ tiền cũng có một tờ tiền lạ lùng, tờ ba mươi đồng, Cu Sô không rành mấy về điều này nhưng nghe nhiều người nói, “In luôn từ một đồng tới một trăm cho tiện bề.” rồi cùng cười khục khặc. Nhưng không thể khục khặc được với các chị mậu dịch viên, những người làm việc, bán hàng ở cửa hàng quốc doanh với gương mặt trơ gỗ đá, hãnh tiến chẳng kém cán bộ là mấy.

Cu Sô thích tiếng lách cách của con gà trên nắp cái bàn ủi than mỗi khi mở, đóng lại và lúc xốc bàn ủi cho văng tro tàn bớt ra ngoài. Con gà là chốt khóa và rất độc đáo, đúng điệu bàn ủi xịn, con gà cầm vào mát rượi, không truyền nhiệt nóng hổi dù bên trong đầy ắp than đỏ rực. Nó không biết được làm bằng gì mà nên vậy. Ngoài bàn ủi than bằng đồng này, bác thợ may còn cái bàn ủi bằng sắt, một đế sắt dày ở dưới hình gần giống tam giác cân, chỉ khác hai cạnh bên cong cong chứ không thẳng, bên trên là tay cầm, chỉ vậy thôi. Bàn ủi được đặt trên hai thanh sắt trên bếp lò cho nóng, thường cũng than đỏ để tránh khói. Thực tình thì nó thích tiếng lách cách thì ít dù con gà trống rất đẹp, tiếng lách cách đâu có bao nhiêu, nó thích tới phụ cho than củi vào lò, vào bàn ủi, phụ quạt cho lửa rực lên để được lắng nghe những tiếng khác thì đúng hơn.
Không giống bác thợ rèn, tới đời bác đã là đời thứ ba nơi đây, lâu lắm bác mới đi thị xã một lần lấy vật liệu và bác tiếp xúc phần nhiều với nhà nông, nên những câu chuyện chỉ quanh quẩn ruộng đồng, vườn tượt, những vui mừng lo âu về thời tiết, về phương thức làm ăn, vài câu chuyện, vài giao thoại về rèn đúc kiếm sắc gươm báo ngày xưa… rồi cũng hết, vả lại đúc rèn đòi hỏi tập trung sức lực nữa, không nhiều thời gian chuyện trò, không nhiều thời gian bày tỏ cảm xúc, thời gian nghỉ ngơi phải bù đắp cho mệt nhoài, bác thợ may từ thành phố mới đến, công việc nhẹ nhàng hơn, không ồn ào nên trò chuyện được nhiều hơn. Đặc biệt những cuộc chuyện trò với ông Thầy, ông Tiên, với cha nó, một số người trí thức nữa rất hấp dẫn. Những câu chuyện khơi gợi quá khứ nơi ở cũ một thuở rất hợp ý, không dám bày tỏ quá mức nhưng nó luôn thấy những ánh mắt ánh lên mang màu tiếc nuối những kỷ niệm đẹp, thầm mơ màng bao giờ trở lại ngày xưa, bao giờ thôi hết màu u ám đầy lo âu muộn phiền ở phía trước.
Câu chuyện để lại màu ấn tượng cho Cu Sô, ấn tượng sâu đậm lại là màu buồn thương. Từng làn, từng làn khói đen ngạ quỷ lại xuất hiện. Xuất hiện ngay giữa phố phường chứ không phải làng quê. Nó tưởng tượng những bức tường những ngôi nhà cao từng bị ám khói đen thùi. Trong làn khói đen thùi kéo theo linh hồn của con chữ rúm ró co giựt. Xác con chữ đau đớn quằn quại, rên xiết trong ngọn lửa phừng phừng. Người ta căm hận cố châm cho ngọn lửa phừng phừng. Điều an ủi là những tàn lửa rụm dần rất đẹp, rất nhiều màu sắc và không khét nghẹt, mùi tỏa ra cu Sô nghe thơm mùi giấy và mực in. Những ngọn lửa đốt rụi những cuốn sách, những cuộn băng bị tịch thu chất đống khắp nơi, khắp thành phố, khắp thị xã. Những cuốn sách, những cuộn băng mang thứ văn hóa đồi trụy, văn hóa phản động phải lên giàn hỏa thiêu mà không cần giàn, chính nó đã là giàn đốt cháy màu vô hình bên trong nó, màu văn hóa bị gán ghép đầy tội lỗi. Ấn tượng in sâu trong nó đến nỗi, một lần nhìn đống rác đang rụm tàn lửa nó ngỡ những con chữ quằn quại, nó định lao vào cứu sống trước khi thành tàn tro.
Những con chữ Cu Sô đọc được một ít từ những cuốn truyện cha nó cất giữ, của ông Thầy, ông Tiên giấu diếm cho mượn, những con chữ không khác gì những nốt nhạc của ta, rộng ràng vui nhộn chạy nhảy trên cánh đồng trên phố xá. Ta cũng chẳng hiều đến chi là nó, tội lỗi từ đâu ra, tội lỗi gì nữa?!
“Tội lỗi của nốt nhạc” nó còn nghe được thêm là chuyện của một ông nhạc sĩ ở thành phố mà bác thợ may có lần đã may đồ cho ông ngày trước. Ông nhạc sĩ thì bị bắt đi học tập tư tưởng mới vì có mấy bài hát… trữ tình, bởi cấm ẻo lả trong tình yêu, cấm rên rĩ thất tình, trữ tình cũng phải hùng hồn, hoành tráng. Học tập chỉ độ một tháng thôi nhưng về thì đâu còn biết làm ăn gì, ai học nhạc mà dạy nhạc, phòng trà cũng cấm tiệt lấy đâu ông lả lướt. Ông phải mò cua bắt ốc, chài lưới kiếm sống nuôi mấy đứa con nhỏ. Một bữa ông dạt tới bến cá có mấy cái nhà sàn de ra chỗ cửa sông, trời nhá nhem tối nhưng ông và đứa con lớn ráng mò thêm chút nữa thì chợt tưởng mưa tuông, đang thầm nghĩ mưa nghịch mùa chăng, hóa ra chẳng phải, một đám con trai tuổi choai choai đứng bên lan can mà đái xuống đầu hai cha con còn cười hô hố. Đám choai choai có hai du kích bảo vệ chợ rồi rủ thêm bạn bè tụ tập uống rượu và bày trò. Người con trai giận tím gan, lượm cục đá định nhào lên ăn thua đủ, ông nhạc sĩ ào theo ôm lại được. May lúc đang giằng co, cuộc ẩu đả chưa xảy ra, có người thanh niên lớn tuổi nhứt cùng nhậu nhưng không tham gia nhận ra ông từng dạy nhạc ở trường ở lớp mình, anh ta cản lại và bắt xin lổi, dĩ nhiên những lời xin lỗi cho có trên những khuôn mặt hung hăng. Về sau anh thanh niên này trèo lên tới chủ tịch phường, biết ông nhạc sĩ có cái cần câu máy rất đẹp là thú tiêu khiển của ông ngày trước, anh ta hù dọa coi chừng bị tịch thu vậy là ông buộc lòng phải bán với giá rẻ mạt. Thú tiêu khiển đổi chủ, về tay anh chủ tịch trẻ.
Bù lại những nỗi niềm, ở nhà bác thợ may Cu Sô khoái nghe tiếng đập đập của thước cây vào tấm vải để làm mờ bớt đường phấn màu kẻ đậm, và nhìn bụi phấn bốc lên trông giống làn mây màu mỏng. Lạ lùng tiếng đập nghe vui tai, có lẽ ảnh hưởng từ màu bụi phấn và bởi phấn màu là điều xa xỉ đối với nó. Rồi nhìn những áo quần đẹp đẽ được may xong, người thử vừa ý vui mừng lắm lắm, bác thợ may vui mừng lắm lắm làm nó vui mừng theo. Lâu thiệt là lâu bác may cái áo veston, thực ra chỉ là một nửa, một nửa bên ngoài là veston, một nửa bên trong không đủ vải, không đủ phụ liệu, đành cho dỡ dang, và cái áo dài. Áo dài với Veston dù một nửa cũng đủ tuyệt mỹ, chỉ dành cho đám cưới mà những người may còn khá giả, còn chất phong lưu và giữ nét truyền thống mới có màu này. Với Cu Sô không chỉ đồ may mới mà những áo quần bác vá bác mạng cũng rất đẹp. Quần áo quá cũ rách thì ở nhà chắp vá bằng kim tay xài thôi, còn mới chút thì nhờ tới bác. Thường rách ở sau mông, đầu gối, rách một bên đắp vải vá mạng lại cả hai bên, bác làm khéo léo giống như những áo quần của chàng cao bồi cỡi ngựa ở trời Mỹ, trời Tây gì đó rất xa xôi. Những câu chuyện về những chàng cao bồi này trên phim ảnh cũng rất hấp dẫn, có đầy đủ hết kẻ ác kẻ tà và người tốt.
Màu quần áo đẹp đôi khi bị lấn át bởi màu quần áo quy định lúc bấy giờ trong mắt cu Sô vì quá nhiều. Quần áo là phải vừa vặn, suông đuộc từ trên xuống. Không được bó mà cũng không được loe, không eo iếc, không được phủ. Những thanh niên còn ăn mặc theo mốt, hơi hướng ảnh hưởng của thời trang hip py, bị cán bộ bắt gặp là mệt, áo dài quá mông bị lấy kéo thủ sẵn trong cặp ra hớt ngay, quần ống loe bị xẻ, ống bó cũng vậy. Nhưng đi học thì bỏ đồng phục, mặc tá lả màu lẫn lộn. Con gái lung tung hơn, mặc quần bà ba đen, trắng, quần tây, có đứa vận luôn bộ đồ bộ. Quần tây hiếm dây kéo, may gài nút là chính. Áo blu dông lên ngôi nhưng không phải loại áo của bịnh viện. Áo như áo sơ mi, phía dưới cùng ngang lưng có cái đai lớn bao quanh chứ không phải chỉ là cái lai. Con gái cưối người xuống là thấy nguyên mảng lưng. Ấy vậy lại được khuyến khích rất nhiều, đâu đâu cũng blu dông, blu dông… Cái kiểu ăn vận này cho tuốt luốt hết, đi họp hội, đi đám tang, đi chơi, đi học…

Sợi dây da treo thòng xuống trên vách trong tiệm hớt tóc nhẵn thín một đoạn giữa, đoạn giữa sợi dây bị lưỡi dao cạo lạch xạch quẹt lên quẹt xuống từ bàn tay rất dẻo cổ tay và điêu luyện của bác hớt tóc, thêm sức nóng của lưỡi bị nung nóng trên cây đèn cầy để khử trùng nên không còn chút xù xì. Cu Sô hay đếm tiếng lạch xạch, áng chừng thành thói quen của bác, cỡ chục lần lên xuống là lưỡi dao bén ngót, cạo râu, cạo tóc con rọt rọt rộn tai.
Những ngày trước, hớt một đầu tóc rất lâu bởi nhiều kiểu nhiều ý, và bác kỹ tánh nên gọt tỉa tới lui đến khi đúng chuẩn, vừa ý mới thôi. Nhiều người khó tánh ngó thẳng ngó nghiêng, nghía đi nghía lại, yêu cầu thế này thế nọ, thậm chí phải có cái gương phía sau để nhìn sau ót. Nghe nhiều chuyện về lương tâm từ người lớn, Cu Sô có sự so sánh lạ lùng, hớt tóc, tóc tai giống với lương tâm. Lương tâm có một lằng ranh giới hạn vô hình, vượt qua giớt hạn sẽ thành bất lương. Cho dù vô hình, lương tâm vẫn đo đếm được. Lương tâm có lúc xù xì, mọc ra vượt khuôn khổ, cũng cần phải thường xuyên cắt gọt, tỉa tót cho đẹp như tóc. Màu chuẩn mực của xã hội là cây kéo, tông đơ, cái gương vô hình để làm điều này với lương tâm.
Cái gương bấy giờ gần như không còn tác dụng, tóc tai không còn nhiều kiểu nữa. Cấm để tóc dài phủ tai phủ ót, một kiểu duy nhất, sạch sẽ ót, sạch sẽ mai, hớt lên càng trắng càng cao càng tốt, mái phía trước chắn cạch cạch hai đường nhọn như cái mũi bàn ủi trên trán là xong. Nhưng không được cạo trọc, cạo trọc lóc trêu ngươi, thách thức đây là cái chuông, tiếng chuông vô thanh hay sao(?) Hớt tóc, bác hớt tóc không còn mất nhiều thời gian.
Những cô gái rũ bỏ mái tóc dài, hớt kiểu tóc đờ mi từa tựa con trai, dĩ nhiên không cao trắng ót trắng mai rất được khuyến khích. Khuyến khích sự mạnh mẽ theo những khẩu hiệu tuyên truyền bình đẳng nam nữ. Nhưng trong dân gian không đồng tình lắm, nhiều dèm pha là sự nổi loạn.
Thời gian của bác hớt tóc bây giờ phát thêm tiếng cộc cộc. Tiếng những quân cờ ngang dọc, ngược xuôi gõ trên bàn cờ và quân cờ gõ trên chính quân cờ. Tất cả được làm bằng gỗ lõi nên tiếng giòn tan. Tiếng quân cờ chiến thắng giòn tan hả hê đè bẹp trên mình đối thủ thua cuộc. Tiệm hớt tóc là nơi hả hê cho nhiều người. Tới mượn tiếng gõ, gõ mạnh để trút sự bực dọc, trút sự lo âu bị đè nén không thể xổ ra ở đâu. Mượn suy tư trên bàn cờ quên đi nỗi suy tư cuộc sống chừng chực trong đầu. Nhưng đó cũng chỉ là tình thế, những suy tư, những bức bối không thể thoát ra khỏi trong bối cảnh không thay đổi. Rồi như hớt tóc, không còn được chăm chút gọt tỉa, mài dũa, lương tâm đã xù xì ra. Lương tâm tỉ lệ thuận với xấu hổ, xấu hổ xù xì che lấp lương tâm. Mầm mống xấu không còn xấu hổ, đã bung dần ra. Bắt đầu từ to tiếng tới cãi vả, leo dần dần tới hành động. Màu tục tằng thô lỗ, màu bạo lực cũng như giọt nước nhỏ xuống lan truyền, lan truyền ngày càng rộng. Trong mắt Cu Sô chứa đầy màu u buồn, người lớn không còn được con nít tôn trọng nữa, âu cũng một phần từ tấm gương gai góc của người lớn, và không có thời gian cho người lớn suy nghĩ dạy bảo ở trường đời ngoài trường học.

Màu nắng phủ mái hiên, bóng nắng chạm khẽ mặt đất lướt từ hàng ba qua ngạch cửa vào nền nhà, lướt dịu êm không gây tiếng động dù nhỏ như tiếng cây kim gió đồng hồ đeo tay, kê sát rạt vào lỗ tai và lắng nghe lắm trong không khí yên tĩnh mới biết nó có phát ra tiếng xạch xạch. Tuy vậy bóng nắng báo giờ cho Cu Sô đi học chẳng sai lệch bao nhiêu. Từng dấu khắc dài ngắn trên nền đất mát lạnh là từng số giờ số phút theo ký hiệu riêng của nó. Con đường tới trường vài cây số đường làng nhiều hơn đường lộ. Cùng bạn học, có những đoạn la cà với hoa trái, bươm bướm chuồn chuồn, có những đoạn tung tăng chân sáo để bù lại, có những ngày hứng chí phi ngựa chạy đua, hứng chí một hai ba tù xì làm vua hay làm giặc, vua ngự ngai vàng bằng lưng kẻ giặc, giặc cõng vua rã rời bởi là kẻ thua cuộc.
Quần áo đi học và cả tới nón dép của nó cũng như bạn học hầu hết trở thành cái nền được tạo mache từ mực. Mực từ cái bình nhựa, bình thủy tinh bỏ trong túi áo túi quần hay bề nắp loang từng vệt màu xanh màu tím, cây viết hiệu Hồng Hà vắt túi, vắt ở lỗ hột nút trên tà áo không những bề nắp, sút nắp thường xuyên mà còn sút ruột bơm đựng mực cũng chảy thấm loang lỗ. Và những giọt mực từ nho nhỏ li ti tới cỡ hột tiêu là từ trò nghịch ngợm, rảy mực từ cây viết vào nhau. Những vết mực dính vào da thì xóa dễ, in hằn vô quần áo khó phai mờ. Những đường kẻ ngang thì lại dễ phai mờ của cuốn tập chỉ có kẻ ngang, không có kẻ ô và ô ly. Những quyển tập với trang giấy màu ngà ngà cho tới vàng khè và đen xỉn, nhiều trang còn lợn cợn xác bã, viết loang mực vằn vện. Những quyển tập không đóng lại, còn rời từng cặp giấy, bự gấp đôi tập vở bình thường, nó phải dùng con dao phay chặt làm đôi thành hai quyển, đục lỗ khâu đóng lại bằng chỉ may đồ hay sợi nhợ, sợi cước mới bỏ vừa cái cặp.
Xuất hiện một cái nghề khá nhẹ nhàng nhưng cũng có được chút tiền, tiền cá tiền mắm theo như cha cu Sô nói, nghề bơm mực viết bic, một thuở gọi là viết nguyên tử, về sau này chữ bi được thay cho chữ bic. Cây viết tiện lợi hơn nhiều cây viết mực, nhưng ngay từ nhỏ đã viết cây viết này thì lớn lên viết chữ không thể đẹp bằng tập tễnh từ ngòi viết mực lá tre hay viết chì.
Nhiều bài học cũng khó phai mờ. Khó phai mờ cho sự lạ lùng trong suy nghĩ của nó. Những bài học mang đầy màu tươi đẹp, màu giàu sang, màu oai hùng, màu tự hào chiến thắng, hơn tất cả là màu súng ống bạo lực, giết chóc để có những màu này. Màu loang như những vệt mực nhưng mang màu đỏ máu, màu thuốc súng, màu khói ngạ quỷ chiến trường. Những bài học nó không thấy màu thực tại, và có cả hư cấu. Những bài học bị bắt nhét vào đầu, buộc thuộc lòng từng chi tiết dù nhỏ. Không được hỏi, không được thắc mắc của những đứa học trò mụ mị chỉ được phép nhận đây là sự khai sáng từ thầy cô và sách vở quyền uy. Những bài học không chú tâm mấy tới nhân cách, đạo đức, chuẩn mực xã hội nữa. Chuẩn mực gần như là sự tự hào hoành tráng.
“Của thầy cô mà xa xôi?” Đó là câu hỏi vì sao Cu Sô ví thầy cô khi nó nằm ngửa mặt đếm những vì tinh tú xa xăm trong bầu trời đêm tối.
“Ừ, của thầy cô.” Một lúc nào đó ta sẽ tấu khúc nhạc vui nhộn nhưng có xen nhiều dấu lặng, sẽ gặp nó ở điều này. Và đây là câu trả lời của ta khi đó, như lời hứa ta đang chấm những dấu lặng xen kẽ nốt nhạc rộn ràng trên con đường đi học của nó. Sự xa xôi đã được giải mã. Và thêm nữa góp phần của trường học làm bản ngã ngạ quỷ lấn át và đã thắng bản ngã thánh thiện trong xã hội.

Dấu lặng tròn, dấu lặng có trường độ dài nhứt lại cứ xuất hiện.
Trên con đường đi học và về Cu Sô gặp hoài ông già say.
Nhà ông ở giữa đoạn đường. Ông thường ra khỏi nhà vào buổi sáng với dáng người ốm tong teo, đầu tóc dài bạc trắng gợn bồng bềnh với bộ đồ bà ba cũng trắng. Ông già say nên ông được miễn nghe tiếng lạch xạch của cái kéo cái tông đơ, chắc chắn rằng ông đã miễn nhiễm với xã hội. Cu Sô nhận ra cái hay của bộ đồ bà ba là không thấy rộng thùng thình lượm thượm ngay cả khi có gió thổi phất phơ tà áo và ống quần. Dáng ông lảo đảo đều đặn bước những bước chân vẽ hình sin, khi gặp ông cùng đường hay ngược chiều thì ông vẽ trên trục hoành, gặp ông từ nhà ra, vuông góc với nó thì nó cho ông vẽ trên trục tung, đôi lúc ngả nghiêng làm hình sin dợn sóng rộng hơn, đôi lúc ông chúi chúi về phía trước rồi lựng khựng giữ được thăng bằng. Nó đọc được trong sách nên biết đôi chút về hình sin, hiểu đơn giản giống hình dợn sóng biển, cũng qua mô tả chứ có tận mắt con sóng bao giờ, vẽ trên trục tung là tự mình sáng ý ra chứ chưa thấy biểu đồ nào chạy thẳng đứng như vậy. Hình tượng gần gũi hơn, đã thấy nhiều lần là con rắn bò, cong oằn mình trườn đi, nhưng rắn trườn rất mau lẹ và con rắn đầy nọc độc dữ tợn nên nó không thích dành hình vẽ này cho ông.
“Ông già say, ông già say, ông loay hoay, ông sậy cây, ông tàu bay, tàu bay giấy, bay bay bay, ông già say…” Đám con nít gặp ông là lưng tưng chạy nhảy chọc ghẹo với bài hát đồng dao lặp đi lặp lại, lộn tới lộn lui hát sao cũng được mà chẳng biết ai đặt. Dáng ốm tong teo của ông ví cây sậy quá đúng rồi, còn tàu bay nhiều người chưa rõ nghĩ rằng ông dễ bị thổi bay mất hút như chiếc tàu bay xếp giấy bởi những cơn gió. Thực tình thì không phải, một thời ông từng là phi công dân dụng, phi công thì khỏi phải nói, oai phong lẫm liệt và lịch lãm phải biết! Cu Sô chỉ duy nhứt một lần hùa theo chọc ghẹo. Và mặc cho những lời chọc ghẹo của con nít, ông cứ lầm lũi đi tới.
Ông già say xuất hiện còn rất phong độ ở làng kề làng nó không say chút nào. Lúc ai nấy vui mừng vô hạn. Lúc màu ánh dương đã dập tắt mùi khét lẹt của thuốc súng, màu ánh dương đã xóa tan bầu không khí ảm đạm toàn khói đen bao trùm của chiến trường, màu ánh dương san lấp những hố bom, rừng thôi bị cày xới của đạn mìn, cây đã đâm chồi xanh trở lại trên những cánh rừng và đồi núi giăng giăng trùng điệp. Bao nhiêu thổn thức phập phòng trong lòng ngực mọi người nay đã vỡ òa, “Hòa bình, hòa bình và hòa bình.” Không còn phe ta phe nó, phe ta phe địch, phe theo Tây phe theo Tàu, không còn chính dân tộc mình kề súng kề gươm hạ thủ chính dân tộc mình…
Giống như gia đình Cu Sô và một số nữa, ông trở về với ruộng vườn. Có khác là trang trại của ông rộng lớn, là niềm ao ước của bao nhiêu người. Vườn cây trái nhà ông xum xuê đi vào dễ chừng lạc không thấy lối ra. Cánh đồng lúa một phần của ông góp hình thành nên cánh đồng thoai thoải. Nhưng đẹp phải nói là vườn cây kiểng xung quanh nhà. Có hẳn một chú chỉ mỗi việc chăm sóc các loại cây này. Trái lại với những ngôi nhà bề thế im ỉm kín cổng cao tường, cánh cổng nhà ông luôn rộng mở. Ngôi nhà của ông thoạt nhìn rất dân dã, nhưng mục kích sở thị tận nơi mới nhận thấy được toàn bộ vẻ đẹp, vẻ đẹp của cô gái có nét mặn mà quý phái ẩn sâu chứ không sắc sảo lồ lộ, khuyếch trương hết ra bên ngoài. Cánh cổng rộng mở nhứt vào những lúc chiều tàn. Cánh đàn ông và cả thanh niên trai tráng thoải mái bước qua cánh cổng tụ tập trước sân nhà nhâm nhi vài ly rượu cùng chuyện trò. Thường chuẩn bị xong thì ánh nắng cũng nhường chỗ cho màn đêm thì các cây đèn măng sông bơm dầu hôi (dâu lửa) sụt sịt cũng được châm lửa vào sợi tim bừng sáng rực. Chuyện kể của ông phần nhiều, chuyện dĩ nhiên xoay quanh các sân bay, chiếc máy bay, những thành phố có sân bay là nhiều nhứt. Chuyện ở trời Đông trời Tây gây hứng thú lạ lẫm. Và cũng phần nhiều là những câu chuyện hóm hỉnh, lâu lắm mới có câu chuyện được gọi là sọc dưa, có nghĩa là chuyện kỳ cục, trái khoáy. Chuyện hóm hỉnh càng thu hút bằng cái duyên hóm hỉnh của ông. Người như ông không hóm hỉnh mới là lạ. Sự hóm hỉnh tưởng chừng như lây lan qua các loài cây kiểng, ngoài sự uống nắn của chú làm vườn, chúng tự mọc uốn éo, cong quẹo, u nần thêm, tạo những hình thù lạ đời nhưng đẹp mắt, thích thú lắm lắm cho người thưởng ngoạn.
Cu Sô và đám nhóc leng keng hay tới nhà ông hóng hớt. Được ông phát cho mỗi đứa lúc cục kẹo the the, cay cay, mát mát cổ họng, thông lên mũi, lúc cái bánh quy, lúc thỏi kẹo mềm mềm, cắn vào nhai nhẹ đã tan chảy trong miệng ngọt lịm, sau vài lần có đứa mới biết tên kẹo socola.
Rồi cũng không biết từ đâu tụi nó có được bài đồng dao nghêu ngao: “Ông già Socola, lái máy bay đầm già, bay xa bay xa, xa lắc xa lơ, bay lên giấc mơ, ông già phi cơ…”
Cu Sô không hiểu màu nâu của socola từ đâu mà có. Đơn giản với nó, màu xanh da trời từ bầu trời xanh chứ đâu, màu xanh lá từ cây lá chứ không thể khác, hay hai màu đen trắng chắc chắn đến từ đêm tối và ánh dương mà thôi. Nó lần mò thì biết thêm có màu pha trộn, màu này trộn lẫn màu kia cho ra màu khác. Màu socola la nó suy ra từ màu hòa trộn của màu vàng đất và màu nâu sẫm của những tán đường sánh nước xanh xanh xen kẽ. Nên Cu Sô càng khoái đất vàng cùng những cánh đồng mía. Những cánh đồng mía ở làng ông già socola cũng nhiều hơn nhiều ở làng nó. Khoái chí bao nhiêu thì về sau nó càng buồn thương bấy nhiêu. Cánh đồng mía ngày càng còi cọc, chỉ thấy lá ngả màu mái rạ bạc thếch khô khốc. Những con bò chẳng còn buồn bước vào tìm kiếm chút lá xanh còn xót bởi quá ít. Cái lò nấu đường đứng giữa cánh đồng để tiện bề sản xuất, khỏi cất công chở mía về tận làng mất thêm công sức đìu hiu như cái lò rèn của bác thợ rèn cùng thời. Những cục gạch xây lò rơi rớt nằm ngổn ngang. Cái che ép mía đứng yên gỉ sét. Những cái chảo đựng nước mía nấu thành đường bự hơn sải tay tụi nó đo bằng đường kính còn tệ hại hơn, chẳng những gỉ sét mà còn chỏng gọng, lăn quay trên cái lò bể vụn. Mái lò đường mục nát tả tơi, vài chỗ bay mất trống hoác. Mái tả tơi trống hoác do gió trời, mưa nắng, không người chăm sóc, thay thế những chỗ hư hao. Lò gạch thì bị chính những người đã từng xây nên, sự bực tức vượt ngưỡng đã đập phá tan tành. Chỉ còn cái ống khói bự cũng xây bằng gạch thì đứng vững. Trên cao chẳng ai cất công lên đập dù có tức giận cách mấy, đập dưới chân ngã đổ nguy hiểm biết chừng nào. Ống khói một thuở ngày đêm nhả khói cuồn cuộn nay đứng trơ gan tuyệt vọng cùng tuế nguyệt. Màu của lò đường đứng giữa cánh đồng mía trơ trụi chẳng khác là mấy với màu phế tích chiến tranh điêu tàn.
Những khi ngậm cục kẹo the hay thỏi socola, Cu Sô thường ngả ngửa người trên đống rơm hoặc bãi cỏ tươi mát. Nó tưởng tượng mình là chiếc phi cơ, bình thường nhìn phi cơ thấy bay vút trên trời cao, nhưng ngồi trong chiếc phi cơ rộng lớn cảm giác đứng yên, chỉ có không gian vùn vụt lao qua trên mặt nó. Từng không gian qua lời kể của ông già socola, từng không gian rộng lớn nên dù có vùn vụt lướt đi cũng đủ lưu lại hình ảnh trong mắt chứ không mất đi. Không gian biển xanh thẳm, dập dìu hàng hàng con tàu đánh cá, về đêm tàu biển lên đèn như bầu trời sao lấp lánh. Không gian bầu trời bao la với những áng mây bồng bềnh, lâu lâu xuất hiện chim chóc, đôi lúc mây đem kịt và vần vũ của mưa bão, chiếc phi cơ phải tìm đường tránh như những cánh chim di trú. Không gian phố xá, nhà cao từng, người xe nhộn nhịp, phố xá lên đèn sáng trưng, lung linh nhấp nháy, phố xá những ngày tết nhứt, lễ hội càng lung linh hơn với những tia pháo bông đủ màu sắc rực rỡ được bắn lên nổ bay tung tóe… Và lẽ đương nhiên không thể thiếu không gian xanh của rừng, của làng quê như làng quê của nó. Rồi Cu Sô úp mình lại, dang hai tay rộng ra, ngóc đầu lên, đích thị lúc này là chiếc phi cơ đang bay, nó thì thầm: “Ờ kia tháp điều khiển, ờ kia sân bay, ờ kia đường băng…” Nó cho nghiêng nghiêng chiếc phi cơ và đảo mấy vòng trên bầu trời quanh sân bay, xong nói tiếp: “Đáp xuống thôi.” Chiếc phi cơ hạ thấp, bung bánh chạm đường băng chạy băng băng, giảm tốc tộ chậm dần rồi ngừng lại. Cu Sô vui lắm lắm, toàn cảnh đẹp trong mắt nó không mà!
Ông bạn ông già Socola kể về những người lính nhảy dù từ máy bay, nó mê tít thò lò. Ngay cạnh bìa rừng có một gốc cây rất lớn ngã trốc gốc đã lâu, cây thuộc gỗ xấu nên chẳng ai lấy về. Rễ cây dài nâng gốc và thân cây lên rất cao. Cu Sô tưởng tượng đây là chiếc máy bay, nó rủ cả đám leo lên trên chạy dọc theo thân rồi nhảy đùng đùng xuống như nhảy dù. Tụi nó khoái chí nhảy suốt cho tới khi một đứa bị chồi cây bị phạt ngang, cháy khô nằm bằng mặt đất khó thấy, nhảy ầm xuống quá mạnh lún đất chồi cây lú lên đâm xuyên qua lòng bàn chân. Chuyện nghe hết hồn khíp vía nhưng không đến nỗi đối với tụi nó, đứa này cắn răn rên rỉ khi cả đám đứa lăng xăng nặn máu cho khỏi đọng máu bầm, đứa tìm lá rừng nhai nhuyễn, đứa kiếm vải xé băng lại, cà nhắc năm ba bữa sau chân lên mủ, nặn ra tiếp thì bớt, độ một tuần là kéo da non, cà khắc nhẹ hơn tuần nữa là lành, tuần nữa là lành lặn tiếp tục chạy nhảy. Rất nhiều trò nghịch ngợm, đu cành cây, đu xe bò té nhào đầu, ngồi trên lưng bò bị đứa đứng dưới phá đốt đít bò, bò hốt hoảng tung chân bay như vó ngựa té lùi đụi cũng vậy, hiếm khi bị nặng, trật khớp tay chân nhẹ thì tự giựt tự nắn, nặng mới tới nhờ ông thầy thuốc Nam sửa lại và bó chút thuốc, cũng mau chóng qua khỏi. Truyền miệng trong dân gian là được bà đỡ cho đám quậy Trời Thần đất lửa chứ không thì chẳng biết ra sao.
Nhưng niềm vui này của Cu Sô không được bao lâu. Khoảng chừng hơn một năm từ ngày trở về làng, ông già Socola bị bắt dẫn giải đi đâu biền biệt không biết, ngay cả người trong gia đình cũng mù tịt tin tức. Loáng thoáng nghe ông được khoát lên mình mỹ từ, “Người di học tập cải tạo” thực sự thì bị bắt đi cải tạo, cải tạo tư tưởng bằng học tập và lao động ở tận đâu nơi rừng thiên nước độc sâu thẳm. Ngôi nhà của ông bị tịch biên. Vợ và mấy người con được giữ lại khoảnh đất chừng hai sào (2000 mét vuông) ở cuối vườn, căn nhà bếp được dỡ ra đây cất thành căn nhà chính. Căn nhà chính từ từ bệ rạt, lá khô và cả cỏ rác bay phủ đầy mái nhà, xung quanh lá ủ mục ngập ngụa khỏi nói. Vườn cây cũng dần dần xơ xác, vườn đã là của công nhưng không người túc trực cai quản nên người trộm vặt là điều tất yếu xảy ra, nhứt là đám chăn bò, lùa cả bò vào cho dù chẳng mấy cọng cỏ dưới bóng râm của tàn cây. Khi có sinh hoạt cộng đồng gì đó người ta mới tới quét sơ ở sân căn nhà chính, sinh hoạt dưới ánh sáng mờ mờ của cây đèn dầu leo lét, vài lúc gió lớn thổi tắt ngúm phải lò mò thắp lại. Hai cái đèn măng sông treo trước hiên nhà đã bị tháo gỡ đem đi mất đâu không rõ. Cửa căn nhà đóng im ỉm như ngôi nhà ma, chẳng ai buồn mở ra quét dọn bên trong.
Khoảng bốn năm năm sau ông già Socola trở về. Ngày mới tới làng, lứa tuổi ông có hai người bạn tâm giao. Ông đi cải tạo thì một ông bỏ đi biệt tích, ông còn lại uống rượu khang như nước lã rồi xuống mồ khi chưa đầy một năm với thân tàn ma dại trong cơ thể da bọc xương. Ông trở về dẫm vào bước chân đổ của ông này. Ban đầu còn rượu ở nhà, ông uống sạch. Rồi ông lảo đảo đi xuống chợ dấu giếm mua chai rượu hai xị (nửa lít) đem về mới uống từ từ. Dần dà rượu đã thành con ma men trong người, không kìm chế nổi cơn ghiền ông ngửa cổ nốc một hơi khá nhiều, gần nửa xị ngay tại chỗ rồi lảo đảo trở về. Kế nữa ông nốc lên nửa xị, không cần về tới nhà uống tiếp, dọc đường cầm chai tu ừng ực. Điều không tránh khỏi, trở về chừng một phần ba đoạn đường là bước đi chúi nhũi, chân sau đá chân trước từ lạng quạng cho tới té nhào. Ông trở thành ông già say từ đó. Ngay cả nó cũng quên bén ông già Socola ngày nào bởi những âm thanh này cứ dội vào tai, tiêm nhiễm vào óc.
Đám con nít vừa sợ, vừa thích chọc ghẹo mỗi khi ông say. Say rượu, sự chán chường, sự nhục nhã, nỗi đau đớn, ký ức tổn thương biến một con người hóm hỉnh, thông thái và chuẩn mực trở nên cuồng dại. Cặp mắt ông lòng xọc long lên đỏ ngầu, ông cố rướn mình rượt bắt đám nhóc dần cho một trận, nhưng càng rướn người càng chúi nhũi, những bước chân tệ hơn của đứa bé chập chững, càng dễ té lộn nhào hơn nữa. Tránh được điều này chỉ khi gặp người lớn can thiệp, la chửi đám con nít lắm trò. Rượu say thấm ông tự bị té ngã nằm dài bên lề đường, không gượng dậy nổi, đôi khi lăn lộn nhào xuống mương nước mương sình. Nằm dài ông gào thét nhưng không ra hơi, chỉ bay ra được tiếng thều thào khào khào khục khạc. Có lúc con cái tới đưa ông về, có lúc người quen, có bữa ông nằm cả buổi giữa trời nắng cháy, mưa dầm với con đường vắng hoe bóng người.
Một lần ông không say khướt, ngồi bên vệ đường mỉm cười với tất cả đứa nào trêu ghẹo ông. Cu Sô liều mình lấy chiếc xe bạc đạn (vòng bi) tới mời ông lên xe đưa ông về, tụi nó không thể dìu ông được. Nói là chiếc xe cho oai chứ đó chỉ là những cái bạc đạn hư tụi nó xin được chế chiếc xe bên trên ba cái bánh chỉ là tấm ván, vận hành đơn giản của trò chơi, một đứa ngồi trước lái bằng chân, vài ba đứa đẩy lưng đứa này, xe có trớn thì nhảy lên ngồi hoặc đu đưa, bạn đạn có trớn lớn cùng với chân tiếp đất chống đẩy, xe cứ vậy mà băng băng. Và ông đã biến mình thành trẻ thơ, ông lên ngồi sau “tài xế”, nghe tiếng bạc đạn kêu re re ông khoái chí, đôi khi dang hai tay như cánh chim, cười ha ha làm tụi nó vô cùng bất ngờ.
Trong mắt Cu Sô ông cuồng dại nhứt, đúng hơn là điên loạn khi gặp cây trụ có gắn cái ô bặc lưa bên trên đang phát ra tiếng the thé. Đây là cái loa kẽm, loa truyền thanh cứ vài trăm mét là bắt gặp trên con đường lộ chính, bà con kêu là vậy hay là ô bặc lơ. Ông thường ôm cây trụ rung lắc nhưng chỉ thấy người ông nghiêng ngả vô vọng còn cây trụ vô tri đứng yên càng như trêu ngươi, hết sức ông bị khụy người xuống bệt nằm dài mà hai tay vẫn ôm lấy gốc cột, có lúc còn đứng được nhưng mỏi mệt ông tựa người ôm cây trụ, nếu không nghe những lời gào thét thì thào khào khào khục khạc dễ tưởng ông với cây cột là bạn tâm giao. Nó chẳng hiểu sao ông điên tiết lên, điều này vượt quá sức hiểu biết của nó. Nghe ngóng thì, người nói ông nhớ tiếng nói của mình phát đi trong máy bay tới hành khách, người thì nói ông cay đắng bởi nghe tới buốt óc ở trong trại cải tạo đến nổi chỉ còn biết đó chỉ là những âm thanh chạy trong đầu chứ không rõ nội dung gì, người thì nói ông nhục nhã vì thua cuộc, không lý giải được thua cuộc với ai khi là một phi công dân dụng, chả liên quan gì tới tiếng súng, không liên quan gì tới chính trị chính trường. Chuyện rất giống với ông Thầy, người truyền đạt cho lớp nhỏ những kiến thức khoa học, kiến thức văn hóa của dân tộc, sự đối nhân xử thế ở đời sao cho nhân bản, sao cho có tôn ti trật tự, sự khai phóng cho bộ não, con tim giúp cho cuộc đời tốt đẹp hơn. Những lời đàm tiếu cũng như với ông Thầy từ những người mới tới chẳng biết đầu cua tai nheo là gì, từ một số người bỗng quay ngoắc một trăm tám mươi độ, một thuở ca tụng thì nay a dua, vu khống, cho rằng ngày xưa ông đã phạm tội tày đình, nợ máu với nhân dân. Ừ, mà các ông có tội tày đình đó chứ, các ông buộc phải tìm ra một tội tày đình để ghi vào các bản tường trình, lương các ông cao ngất ngưỡng không phải sống trên đầu trên cổ thiên hạ sao(?) vậy là, “Tôi mang trọng tội, trọng tội bóc lột hành khách, bóc lột đồng bào tận xương tủy…”
Có điều lạ, bước trùng bước chân đổ của ông bạn tâm giao nhưng ông cứ ngoắc ngoải chứ không ngã hẳn theo ông bạn. Rồi một ngày, hai ngày, ba ngày, tới tuần lễ không thấy ông ra khỏi nhà xuống chợ, có lẽ ông đã quỵ ngã nằm dài? không, ông vẫn uống rượu nhưng đã giảm dần, con cái ông len lén mua cho. Vài tháng sau, nước da xám ngoét nổi đầy gân xanh đã bị đẩy lùi bớt, có phần hồng hồng ưng ửng, trong bộ đồ ves chỉ một nửa ves dù chưa lấy lại hết phong độ lịch lãm cũng đủ lịch sự, bên mâm cơm đơn giản ông rớt nước mắt chia tay những người tri kỷ, tri ân. Lần đầu tiên Cu Sô thấy ông rơi nước mắt. Các con ông rơm rớm an ủi, “Thôi đi ba, hy vọng sẽ có ngày trở về.” Nhưng làm sao không rơi nước mắt, làm sao không lưu luyến mảnh đất quê hương, tình người quê hương biết bao giờ trả được. Làm sao không tan nát tâm can khi không sống được trên quê hương đẹp đẽ này, phải lưu vong nơi xứ người xa lạ. Ông được bảo lãnh tới phương trời xa xôi, mù tít cách cả nửa vòng trái đất.
Ông lịch sự trong bộ nửa vest ra đi không còn nghe lời rêu rao bêu xấu, nhiều con mắt, cái vẫy tay chào thiện cảm trở lại nhưng lại để lại lời đàm tiếu, người gánh lời đàm tiếu là bác thợ may. Bác tặng cho ông bộ nửa ves để làm gì? tốt lành dữ vậy sao nếu không mưu cầu giúp đỡ sau này? không phải là bản hợp đồng tạm ứng trước chứ là cái chi? Họ nói bác là con người quỷ quyệt, biết bỏ con tép bắt con tôm, nhìn xa tới tận phương trời cách nửa vòng trái đất đó là phương trời giàu có, ông già say sẽ không giàu sụ sao? và có khi còn đưa bác sang nữa đó chứ. Người ta quên hoặc giả quên ngày ông bạn say tâm giao của ông già say khuất bóng, bác cũng lặng lẽ đem đến bộ ves như vầy để ông mặc ra đi được chút an ủi cuối cùng. Bác mong được trả ơn gì ở thế giới bên kia chăng? không nực cười nào hơn nữa nếu có suy diễn như vậy. Trớ trêu của cuộc đời mang hơi hướm nhiễu loạn đã manh nha xuất hiện.

Cái ô bặc lưa đôi khi phát ra tiếng nhạc rộn ràng, vui nhộn như tiếng ta vẫn đang tấu khoảng thời gian này cho Cu Sô. Và nó có điều đối nghịch trong mình, vừa thích thú vừa khó hiểu ở cái ô bặc lưa này.

Đám con nít nhảy cẩng lên khi nghe tiếng ô bặc lưa phát ra vang vọng những buổi xế chiều. Vang vọng bởi nó phát ra lớn hơn và di động chứ không đứng yên như cái được đóng đinh trên cây trụ. Sau buổi xế phát tiếng loa đi thông báo các nơi tới tối là có đoàn chiếu phim hoặc đoàn ca kịch về biểu diễn. Chiếu phim thường hai buổi tối liên tục, không chỉ đám con nít khoái chí, những thanh niên cũng mừng rơn. Đoàn ca kịch biểu diễn lâu hơn, chừng bốn bữa, và có thêm những người lớn tuổi chờ đợi, thường là phụ nữ, đàn ông thì thở dài, còn mệt mỏi với lo âu phía trước. Chiếu phim chừng hai tháng về một lần, ca kịch lâu hơn, ba bốn tháng có khi tới nửa năm.
Màn ảnh, sân khấu đựng bên trong sân vận động của xã. Xung quanh sân đã rào chắn kỹ lưỡng, còn giắt tòng tèng những bóng đèn tròn cách nhau khoảng ba chục thước cùng những người đi gác tới lui canh chừng chui rào lậu vé. Dân lậu vé cũng canh chừng trở lại, canh chừng sự lơ đễnh của người canh và trước sau gì những bóng đèn cũng chập chờn, luôn luôn thủ thế, nghe tiếng máy nổ xuống ga xịch xịch là chuẩn bị phóng lên ào ào trèo rào vào, điện sẽ yếu ngay sau đó. Có những lúc vừa phóng chụp được hàng rào thì máy rú ga lớn liền trở lại, bị chụp giò chụp cẳng giựt rớt xuống té nhào đầu lụi đụi. Lậu vé không chỉ leo rào, đục lỗ chui rào mà nghĩ ra trăm phương ngàn kế. Màu này khó trách trong mắt cu Sô, cái nghèo vật chất mang bên người tới tận cùng, nghèo về văn hóa văn nghệ cũng đâu có kém gì. Bên trong sân, chiếu phim ít người hơn còn có trật tự, ca kịch hiếm có bao giờ. Mở màn ca kịch độ chừng một phần ba buổi là chen lấn rối loạn, chen tràn tới sân khấu, nhiều người muốn leo lên luôn làm buổi diễn phải tạm dừng để vãn hồi nhiều lần rồi đâu lại vào đó. Vì người quá đông một phần nhưng cu Sô còn phát hiện một điều là vì từ những thanh niên trai tráng, lợi dụng để cọ xát thân thể. Nó đã từng nóng bừng người, một cảm giác lâng lâng rất lạ nó chẳng biết là gì, một cảm giác khó tả khi bị ép sát vào một cô bé kề bên và các chàng ta thường hay khoe chiến tích chạm vào người cô nàng này, cô nàng kia đa đã rụng rời con tim. “Lựu đạn, có lựu đạn…” nỗi ám ảnh chiến tranh vẫn còn đó, nghe la lên như vậy ai mà không run sợ, không vùng chạy, xô đẩy vùng chạy nháo nhào, tội nghiệp nhứt là những tiếng hét, tiếng khóc của trẻ thơ lạc tay cha mẹ, anh chị và bị dẫm đạp bầm dập. Ban đầu đó chỉ là sự vô tình, không thấy rõ đó là chỉ là con cóc nhảy lưng tưng hay một vật gì đó rớt xuống. Về sau là sự lợi dụng cố tình của một số người, bực tức với cuộc đời không biết trả thù ở đâu, đem trút đổ xuống đầu mọi người hoặc lấy đó làm niềm vui. Nhưng làm sao hỉ xả được, chỉ có vận vào người thêm sự hèn hạ mà thôi, sự trả thù nào nhắm vào bà con cô bác đều là sự trả thù hèn hạ. Sự hèn hạ nó cũng như giọt nước nhỏ xuống lan truyền. Án ảnh với chiến tranh nhưng phim ảnh, ca kịch chủ yếu về đề tài chiến tranh lại mang về niềm vui, hân hoan chiến thắng. Những bộ phim lời thoại xí xô xí xào có khác nhau chăng nữa cũng thường được quy về của một mối, phim Liên Xô hoặc vài bộ của phe cùng khối, Tiệp Khắc, Rumani… Những hồng quân Liên Xô phe ta luôn anh dũng chiên thắng và chẳng mấy khi chết trận. Những khúc khải hoàn hoan ca bất tận như những bài học tự hào mà nó đã kinh qua.
Sự lạ lùng dường như dễ sanh sôi, sự bạo lực dường như cũng vậy. Đi coi phim thì tất cả hầu hết hồ hỡi phe ta thắng thế. Thực tế thì lại sanh ra chia rẽ giữa các làng, các xóm. Dân làng Bàu Sương thơ mộng kình với làng Bưng, làng Bưng kênh kiệu làng Bàu Đôi, làng Bàu Đôi là đối thủ của xóm Chùa, xóm Chùa không đội trời chung cùng xóm Đạo, xóm Miễu chẳng thể ở ngoài cuộc những cuộc đối đầu này… Cũng may còn dừng lại chủ yếu ở những thằng con nít và các chàng mới lớn. Đi chơi, đi coi phim phải kéo đi kéo về cả nhóm cùng thủ roi, gậy gộc chớ đi một mình dễ bị sanh sự, bị uýnh cho mập mình. Dễ bị kiếm chuyện nhứt là các chàng đi tán gái ở làng khác.
Cu Sô khoái mon men gần với chỗ máy chiếu. Nó thích nghe tiếng chạy xè xè của máy, thích coi những động tác cho cuộn phim vào máy rồi thoăn thoắt rút thước phim lần cuốn vào các bánh xe và tiếng thuyết minh nhẹ nhàng ấm áp của chú chiếu phim. Nhứt là vào một ngày trời trăng tuyệt đẹp, một ngày thật hiếm màn ảnh xuất hiện bộ phim tình cảm, tình cảm lứa đôi lãng mạn mặc cho nhiều người cứ thích bắn nhau và hoan ca chứ chi mà rề rà rủ rỉ, quá lạ lẫm cho những nụ hôn đôi lứa đem trưng ra, phơi bày ra kỳ cục(!)
Tình cảm nảy sinh giữa khán giả và diễn viên ca kịch, nảy sinh đam mê nghề diễn gây rắc rối cho nhiều gia đình. Những anh chàng trai tơ lén lút bỏ nhà theo đoàn làm chân chạy vặt, khuân vác và kéo màn mút mùa Lệ Thủy. Tệ hơn là những cô nàng nông nổi nhẹ dạ lang thang theo đây đó khắp nơi rồi buộc phải quay trở về với cái bụng mang dạ chửa đứa con vô thừa nhận, mang một nỗi ê chề về với xóm làng. Mang nỗi ê chề chui rúc xó bếp, gia đình liên lụy không dám ngẩn mặt đi ngoài đường nói chi là bản thân mình. Dễ gì có miếng mồi nào ngon hơn được, vồ mồi là các bà các chị lẻo miệng, rảnh rỗi ngồi lê đôi mách, xỏ xiên và đặt điều bay tới tận mây xanh.

Cái ô bặc lưa đóng đinh trên cây cột ngày ba buổi sáng trưa chiều, tuần bốn bữa ngày thứ chẳn và chủ nhựt phát âm thanh rền rã. Nhiều người sợ lắm, sợ tới ngày thứ chẳn nghe rền rã nhưng tới ngày thứ lẻ bỗng thấy văng vắng, thiêu thiếu.
Âm thanh người nói giọng của nam và nữ. Chủ yếu nói về tin tức, tin tức đó đây trong nước và thế giới. Toàn điều tốt đẹp ở đây đó, sản xuất mọi mặt, nông nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thủy hải sản… luôn luôn vượt bật, vượt chỉ tiêu, quý sau cao hơn quý trước, năm sau qua mặt năm trước dù có khó khăn trăm bề, công nghiệp hóa hiện đại hóa bề bề khắp chốn, các công trường rộn rịp, các nhà máy đồ sộ ngày đêm nhả khói và tăng ca sản xuất, đặc biệt nhứt là ngành thủy lợi thành công viên mãn, không chỉ điều tiết nước nôi như ý chẳng còn sợ bị phụ thuộc vào ông Trời mà còn cho những dòng điện sáng trưng, đâu có gì gọi là tự mãn khi nói đã trị được ông Trời, cái ông tính khí bất thường, chuyên gây thiên tai hậu họa, đó là sự tự hào như những bài học tự hào chắc chắn lưu hành muôn thuở. Những điều tốt đẹp như vậy ở tin tức thế giới dành cho khối cùng phe, khối xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Ngược lại là lên án thậm tệ sự tồi tệ về mọi mặt của các nước phương Tây, nước Mỹ, các nước tư bản chủ nghĩa và sự chống lại, chống lại hơn cả thành công những luận điệu tuyên truyền của khối các nước này, một dự báo sẽ không bao lâu nữa toàn khối quỷ quyệt đây sẽ sụp đổ tan tành. Cu Sô lại liên tưởng đến sự rụm sụp xuống của tàn lửa thành tàn tro của những đóng cỏ rác bị đốt cháy, những dòng khói đen ngạ quỷ cuồn cuộn tháo chạy thoát thân. Những tin tức về thể thao, văn hóa ăn nghệ cũng không thể khác, của ta, của khối phe ta lúc nào cũng hơn hẳn. Thành công, thành công, thắng, chiến thắng của phe ta về mọi lĩnh vực.
Bên cạnh tin tức, âm thanh phát ra những bài ca ca ngợi những gương anh hùng trong lao động xản xuất, trong chiếu đấu. Những tấm gương nhiều lắm lắm, những tấm gương ngời ngời lý tưởng như anh Paven trong Thép đã tôi thế đấy. Hơn nữa những bài ca ca ngợi là ca ngợi nhiều hơn lắm lắm, ca ngợi những vị lãnh tụ vĩ đại, vĩ đại hơn cả thần thánh.
Mở đầu cho những buổi phát thanh và xen kẽ với âm thanh nói là những bản nhạc. Những bản nhạc không lời và có lời vô cùng hùng hồn.
Ta hòa âm cho bản nhạc tuổi thơ của cu Sô mang nhiều tiếng trong trẻo lấn át âm thanh trầm. Tương tự như vậy, những bản nhạc hòa âm âm thanh bỗng, vút cao phủ bóng âm thanh trầm phát trên ô bặc lưa hầu như chỉ còn nghe âm thanh trép (treble) chứ không còn âm thanh bát (bass) nếu không muốn nói là the thé. Ta hòa âm cho sự hồn nhiên thì những bản nhạc ở đây mang âm hưởng của sự cao siêu, của thính phòng giao hưởng. Những bản nhạc có lời là những khúc ca âm hưởng của opera, hơ hớ, he hé, gằn và ngân nga trong cổ họng kéo dài. Như bao người, nó nghe không rõ hết, nghe tiếng được tiếng mất, vừa suy đoán suy ngẫm mới ra vài đoạn, nhớ mỗi bài một đoạn rõ ràng nhứt, “Vùng lên hỡi các nô lệ…” “Tiếng về Sài Gòn ta quét sạch giặc thù…”… Nhiều người cũng ngân nga được vài ba đoạn, trái lại những bản nhạc vàng thì thuộc lào lào mà chẳng cần tới cái ô bặc lưa nào cả, “Nhà nàng ở cạnh nhà tôi, cách nhau cái dậu mồng tơi xanh rờn…” “Nhà em có hoa vàng trước ngõ, tường thật là cao, có dây leo kín rào…” “Mùa mưa lần trước anh về đây đón thăm em…”… ca nhạc vàng phải ngó trước ngó sau, canh chừng có cán bộ hay không chứ bị mời ngay về học tập tư tưởng phiền phức. Những bản nhạc dù chỉ nói về tình yêu đôi lứa da diết nhưng vẫn bị quy là tình cảm sướt mướt, bi lụy, cùng chung số phận là sản phẩm văn hóa đồi trụy.
Cu Sô đi ngang trụ cột ô bặc lưa luôn luôn đi chầm chậm lại, nghiêng đầu vểnh tai nghe ngóng, nghe hết tất cả dù có thích hay không. Song, nó trở về ngang tầm mắt và cuối xuống mặt đất quan sát. Kẻ một đường thẳng chia đôi không gian âm thanh phát trên cao và mặt đất nó có đường kẻ mang màu đường tâm đối xứng, phân chia điều đối lập ở hai nơi này.
Mấy chiếc xe máy cày nằm ù lì một đống qua năm tháng, qua mưa nắng, gió sương bên vệ đường, người ta không buồn chạy hay kéo tới xã hoặc hợp tác xã, máy cày trở thành đứa con hoang vô thừa nhận. Con bò ù lì rồi cũng phải ra đồng cày bừa dưới bàn tay điều khiển của con người. Máy cày coi như con bò bất trị phải vào lò mổ xẻ thịt. Nhưng thịt của nó chẳng biết làm gì nên mãi nằm đó thử thách với thời gian ôxy hóa. Những giàn cày giàn bừa, những bánh xe, phần thân dưới xe ngập lấp ló trong cỏ xanh tươi mùa mưa và khô rát mùa nắng. Cái ông khói trước capo còn cái nắp đeo tòng teng bấu víu chực rớt buồn hiu, những ngày còn phô trương sức mạnh, cái nắp dở lên ụp xuống để làn khói bay ra phụt phụt vui vui tai. Kiếng chắn gió bể nát, vài mảnh còn dính cùng sợi ron đứt gãy, ánh nắng chiếu vào phản chiếu yếu ớt trên những miếng kiếng nhỏ như những tín hiệu cầu cứu vô vọng. Những chiếc xe hai bánh gắn máy, Mobylette, Honda 67, Honda Dame, Vespa… cùng chung số phận, mất công năng của mình. May mắn hơn một chút, không phải phơi mình bởi còn được treo ở dàn khói bếp. Những chiếc xe này không bị gom chung về làm của công. Người ta còn hy vọng một ngày nào đó nó được trở lại.
Rồi màu nắng cháy nó đã thấy mà nào có thấy một dòng nước một dòng điện nhỏ nhoi chảy về cánh đồng nức nẻ, làng quê khô héo.
Ra đồng bằng sức lao động của chính con người từ già tới trẻ và sức của những con bò, con trâu. “Vùng lên hỡi các nô lệ” tự do rồi lấy chính sức mình làm nô lệ cho cái lưng khom, cho bàn tay chai sần nhấc cuốc bổ xuống chan chát của chính mình để tồn tại?
Cu Sô nghĩ rất ư là quái đảng. Nó nhớ lời một người hỏi:
“Vác cuốc ra đồng na anh?”
Và được câu trả lời chua chát:
“Đồng với áng còn là cái chi chi, tui đi giết lúa ở đồng hoang và đào huyệt mộ cho tôi từ từ nơi đó.”
Ruộng đồng nương rẫy tàn hoang như những cánh đồng hoang dại, cỏ chen lấn mọc đầy tràn nên muốn diệt cỏ khó mà không giết lúa. Và phản phất sự hoang mang, hoang mang về tương lai đến cực độ.
Cu Sô không khỏi bật cười khi nghe ô bặc lưa phát thông báo của hợp tác xã yêu cầu bà con đúng ngày giờ quy định đi đóng phân bắc và phân xanh. Nó nhớ lại một bữa thấy một bà gánh đi đóng thì một bà khác bịt mũi hỏi:
“Gì mà thúi rùm vậy bà.”
Gánh phân đã đậy hai ba lớp lá chuối vẫn còn bị bay mùi. Bà cười hặc hặc:
“Dạ, hông thúi sao được chị, nó có kịp oi đâu. Chị mới nghe mùi đã phát ớn tui phải tự tay moi móc nó ra đó. Chị thấy hông, nhà có ba người, ba tui già cả có chịu nuốt miếng nào đâu mà ị ra, thằng nhỏ cục nhỏ xíu chớ, chỉ còn tui. Biết là hông thể oi mà hổm họp nói để trễ nộp vài bữa, mấy ông cán bộ có chịu đâu, còn cự nự… ơ… có ngày giờ quy định nghiêm chỉnh, bộ rảnh lắm hả đòi bày ra nữa.”
Bà kia vỗ đùi cái bét:
“Nghiêm chỉnh, nghiêm chỉnh… nghỉnh cái con của mấy ổng á.”
Nó chẳng hiều cái con gì chỉ thấy hai bà cười rần. Rồi bà quầy gánh đi nói với lại:
“Đóng thì đóng, thúi ai cho biết.”
Phân bắc từ cái hố xí hai ngăn mỗi nhà phải làm một cái bằng cốt tre, lấy đất ở lớp đất dẻo, nhồi nước với rơm phủ lên cốt. Còn phân xanh thì đào cái hố rồi tấp cỏ rác xuống cho oi. Phân xanh là mần móng cho cỏ bởi hột bông cỏ không mục được, bón xuống ruộng là nảy mần ngóc đầu vượt lên. Đốt cỏ rác, phương thức người ta đã làm vừa diệt được bông cỏ vừa có tro tốt đất nay không còn áp dụng.

Một điều mâu thuẫn, mang sự hoang mang người ta không nhìn thấy phía đối xứng, không hỏi phía đối xứng sao lạ vậy, mà ngửa mặt ngóng tuốt nơi xa lắc, nơi xa lắc có ông Trời để hỏi. Hỏi mang tội tình gì, gây ra tội tình gì? hỏi tạo sao bị vận vào kiếp khổ nạn, thống khổ? Nơi xa bất tận còn có thể có tận cùng, nơi đây xa đến mơ hồ nên lời đáp là thinh không.
Đi mãi đi mãi nên con đường. Phía đối xứng phát mãi phát mãi âm thanh, lập đi lập lại mãi thành thói quen rồi tự biến những điều tưởng tượng thành sự thật hồi nào không hay biết, ngựa quen đường cũ, thói quen sẽ tiếp nối thói quen. Nhiều người hấp thụ mãi âm thanh nên nghiễm nhiên điều đó cũng trở thành sự thật, nhiều người miễn nhiễm thì thành vô tâm, không còn bận tâm rồi quên bẵng. Những hạt giống gieo xuống nảy mầm lên sự dối trá mà rất nhiều người nghĩ là mầm sự thật(!)

LÊ ĐẮC HOÀNG HỰU

HOA SỨ NGÀY XƯA

hochibuu

Chẳng biết bây giờ em ở đâu ?
Mà sao hoa sứ rụng chân cầu
Làm sao níu lại thời thơ ấu
Tôi giữ riêng mình một nỗi đau

Thuở ấy tan trường tay nắm tay
Đường về hoa sứ rụng trên vai
Cài lên tóc rối màu hoa sứ
Tôi thương mà em đâu có hay (*)

Thư viết nhưng mà không dám trao
Yêu em nhưng không nói câu nào
Và rồi thư cứ nằm trong vở
Chỉ có mơ thầm trong chiêm bao

Cuộc sống xoay dần – tôi yêu tôi
Em bay xa tít tận phương trời
Cali mùa tuyết rơi trên tóc
Biết có khi nào em nhớ tôi ?

Biết có khi nào em nhớ tôi
Chiều xưa hoa sứ rụng tơi bời
Cali một sớm buồn hiu quạnh
Em có đứng nhìn hoa sứ rơi ?

HỒ CHÍ BỬU

(*) thơ Quang Dũng

RỒI NGÀY CŨNG GĨA BIỆT ĐÊM

buidiep

Về T.

Rồi ngày cũng giã biệt đêm
Trăng sao về ngụ giữa miền trăng sao
Trên tay cầm hạt máu đào
Em gieo vào đất tình nào tịnh âm

Tiếng người uyên ảo trăm năm
Ai về đãi cát gom đằm thắm chơi
Khói vườn úa ngọn mồng tơi
Tím tim muốn khóc mấy trời tha hương

Kệ em mắt thẫm môi hường
Khổ chi chái bếp góc vườn nhà quê
Đừng bắt em gánh lời thề
Đời em thôi đã bộn bề mưu sinh

Để em còn đếm ngón tình
Ngón duyên chờ chiếc nhẫn xinh ơi người
Quê nào thì cũng quê thôi
Con chim mót thóc xa xôi cũng gần

Phố người mấy nẻo phù vân
Nẻo nào trở lại cánh đồng ấu thơ
Mùa này mùa sắp vàng chưa
Mà bù nhìn đứng canh hờ lúa khoai.

Phanrang, XII.2016
BÙI DIỆP

chuyện tình Lolita

lephuhai

Hồi đó tôi học lớp 9. Và dĩ nhiên chuyện tình Lolita này không phải của tôi mà là của ông anh họ. Anh Hồng nhỏ hơn tôi một tuổi, bà con cũng đời thứ ba rồi nhưng khá thân thiết vì suốt giai đoạn chiến tranh anh thường xuyên ở với gia đình tôi; thậm chí má tôi lo cho anh ăn học từ những ngày mẫu giáo.
Lúc này anh đã nghỉ học vài năm vì trầy trật miết cũng không qua được tiểu học. Đi học quá mệt – anh ta thường nói với tôi như vậy – ở nhà chơi rồi chiều chiều đi tắm biển khoái hơn. Và hầu như trưa chiều nào tôi và anh Hồng cùng vài đứa bé con trong xóm đều có mặt tại Bãi Dương hoặc Hòn Chồng. Dang nắng nhiều đến nỗi lưng và hai cánh tay tôi lúc nào cũng lột da, hết lớp này đến lớp khác.
Một hôm anh Hồng nghiêm nghị nói với tôi: “Có chuyện này quan trọng lắm”. “Chuyện gì?” tôi hỏi. Mà mày không được nói lại cho chú thím biết. Được, tôi hứa. Tao vừa mới làm quen với một con nhỏ kia.
Tự nhiên tôi thấy phấn khởi: Chà, hay quá ta, con nào vậy? Tui có biết hông? Mày không biết đâu, con Nga, bán bánh mì chỗ đầu đường lộ đi xuống Hòn Chồng. Tôi la lên: Có khi biết mặt à nghen, mấy bữa trước tui hay ra quốc lộ mua bánh mì. Không, tao hỏi rồi, hỏi nó có biết mày không nó nói không biết. Vậy bây giờ tính sao? tôi hỏi. Thì bồ bịch chớ tính gì nữa…
Một lát tôi băn khoăn hỏi: Mà có thiệt là nó thích ông không? Sao tui nghi quá. Có mà, mới hôm qua tao tới mua ổ bánh mì mà nó không lấy tiền, nói để cho nó tặng. Tôi nhìn lại ông anh họ. Trời, xấu trai thấy gớm, chỉ được cái khỏe mạnh… Sáng hôm sau đi lễ nhà thờ về, ngang qua chỗ xe bánh mì tôi đi chậm lại. Bên này đường nhìn qua tôi thấy một con bé nhong nhỏng cao đang lanh lợi xẻ bánh nhét thịt bán cho mấy người đi đường. Chắc đây là con Nga. Về nhà nghe tôi tả lại anh Hồng nói đúng là nó rồi đó. Tôi hỏi: Nhà con Nga không có ai sao mà nó phải bán bánh mì ? Nó chỉ bán một xíu buổi sáng thôi, lát má nó ra bán. Nó còn đi học buổi chiều mà. Vậy à? Nó học lớp mấy? Lớp bảy.
Vài ngày sau anh Hồng buồn bã nói với tôi: Có một chuyện mà tao làm không được, phải nhờ mày giúp. Tôi nói: Chuyện gì mà ghê dữ vậy ta. Viết dùm tao cái thơ cho con Nga. Trời, chuyện tình cảm của ông tui biết gì đâu mà viết thơ. Anh Hồng năn nỉ: Kệ, mày giúp dùm tao đi mà. Mày biết rồi đó, chữ tao như mèo quào, nó coi thơ thấy được thì mắc cở lắm. Nhưng tui đâu có biết viết gì. Thì mày cứ tưởng tượng ra, giả bộ như nó là người yêu của mày, mày kể lể nhớ thương gì đó cho thiệt mùi. Kẹt ghê nghen, cái vụ này khó à. Hay là có gì ông ghé lại xe bánh mì nói cho lẹ, cần gì thơ từ cho phiền phức. Ghé xe bánh mì chỉ nói vài câu sơ sơ, chỗ mua bán mà nói năng gì được chớ, rồi sợ má nó thấy…
Cuối cùng tôi cũng mủi lòng, nhận lời làm “chim xanh chim đỏ” cho anh Hồng. Lá thơ đầu hơi khó viết, mấy lá thơ sau tôi ca cải lương nghe chắc là khá mùi mẫn nên trong thơ hồi âm con Nga tỏ ra phục anh Hồng sát đất vì cái tài văn vẻ dồi dào. Nhiệm vụ của tôi là sau khi viết thơ xong, đọc lại cho anh Hồng nghe rồi gấp làm tư bỏ vào túi quần. Sáng hôm sau đi lễ về ngang qua chỗ xe bánh mì tôi làm bộ chàng ràng rồi chờ khi vắng khách ghé lại nhét cái thơ vào tay con Nga. Thơ hồi âm tôi không biết anh Hồng nhận lại bằng cách nào vì tôi còn phải lo đi học. Chỉ biết trưa về là anh Hồng đưa lá thư cho tôi đọc để biết nội dung rồi tính liệu trả lời sao cho càng sướt mướt càng tốt. Cứ vậy thơ qua thơ lại cả tuần lễ…
Tối thứ Bảy, anh Hồng thầm thì với tôi: Chiều mai tụi tao hen gặp nhau. Ồ, hay quá, hẹn gặp ở đâu? Trên núi Sạn. Chết cha rồi – tôi kêu lên – ai đời hẹn hò trên núi cha nội! Đứng dưới này nhìn lên ai cũng thấy. Mặt anh Hồng lộ vẻ băn khoăn: Chà, tao lỡ hẹn với nó 4 giờ chiều mai rồi, làm sao đây ta? Tôi nói: Ông phải gặp nó chuyển địa điểm khác, hẹn trên núi là không kín đáo. Sao không ra Hòn Chồng? Ở đó có nhiều hóc đá mát mẽ và yên tĩnh.
Hồi đó nhà tôi ở dưới chân núi Sạn. Hòn núi này cao chỉ trung bình, phần lớn là lùm bụi và cây thấp. Có một con đường mòn dẫn lên lưng chừng núi. Có lẽ con đường này là của những người thợ chẻ đá. Thỉnh thoảng một năm vài ba lần, núi Sạn được làm nơi tập trận cho các khóa sinh và sinh viên sĩ quan của trường Hạ sĩ quan Đồng Đế. Cuộc tập trận chỉ bắn bằng đạn giả nhưng chúng tôi không được lại gần, chỉ đứng dưới chân núi nhìn lên… Trong mấy năm tôi ở đây, có hai lần “Việt Cộng” treo cờ “Mặt trận giải phóng” gần chóp núi vào ban đêm. Lá cờ có hai màu xanh đỏ, ở giữa là ngôi sao vàng. Báo hại mấy ông lính sáng hôm sau phải lần mò từng bước một, leo lên để lấy xuống. Họ cẩn thận quan sát từng bụi rậm chung quanh, có lẽ vì sợ bị gài mìn hay lựu đạn. May mắn là cả hai lần đều không tìm thấy loại vũ khí gì. Mấy ông lính vui vẻ đi xuống nói cười rôm rả, mặc kệ bộ mặt thất vọng của mấy đứa con nít tụi tôi núp sau lưng mấy cục đá tảng ló ra nhìn…
Ngày chủ nhựt hôm sau tôi đi cắm trại cả ngày với đoàn Hùng Tâm Dũng Chí của giáo xứ Vĩnh Phước, chiều tối mới về tới nhà. Anh Hồng đang nằm quay mặt vô vách tôn, tôi hỏi gì cũng ậm ừ không nói. Qua lời kể lại của mấy đứa em, tôi được biết anh Hồng đã không gặp được con Nga để thay đổi địa điểm hẹn hò nên phải y hẹn cũ. Bốn giờ chiều, có hai bóng người một trai một gái lầm lủi leo lên núi Sạn với khoảng cách hơn chục mét. “Bi kịch” là ở chỗ phía sau gần trăm mét, hàng đoàn trẻ con đi theo hò reo inh ỏi khiến ai ở dưới chân núi cũng phải ngước lên nhìn. Dĩ nhiên anh chàng và chị chàng mắc cở quay xuống. Không có mặt nhưng tôi cũng có thể hiểu được cái tẻn tò của hai người lúc đó…
Chưa kịp “sửa sai” thì xảy ra một sự cố. Bác tôi – ba anh Hồng – là lính lái xe vận tải. Ông vừa để thất thoát một số lượng lớn gạo ở trong kho. Suýt bị ở tù, bác tôi phải chịu kỷ luật thuyên chuyển về một đơn vị lính Biệt Động Quân ở Bình Định. Ông tới nói với ba má tôi để ông dẫn anh Hồng đi theo về đơn vị mới. Có cha có con cho đở buồn – ông nói. Bác gái tôi và mấy đứa con nhỏ vẫn ở lại Nha Trang… Rồi từ đó cho tới gần ngày “giải phóng” tôi mới gặp lại anh Hồng. Lúc này bác tôi đã chết mất xác trong một trận đánh trên cao nguyên. Anh Hồng lần mò tìm về lại Nha Trang, vẫn còn trên mình bộ đồ rằn ri của lính biệt động…

Chuyện qua đã lâu rồi. Và ông anh họ của tôi cũng còn đó, chuẩn bị bước qua tuổi sáu mươi. Không biết có phải số phận không mà cái đường vợ con của anh Hồng hơi bị tốn kém. Anh đã trải qua nhiều mối tình (có nhãn hiệu cầu chứng) từ Bãi Điều đến Sơn Phước, từ Trại Lết về Đất Sét… Nghe địa danh có thể hình dung được dặm dài…
Nhớ lại tự nhiên thấy thương cô bé tên Nga năm nào. Không biết bây giờ nàng Lolita bé nhỏ ấy đã lưu lạc về đâu?

Lê Phú Hải

TÔI

truongdinhphuong

Tôi là tôi, giữa cuộc chơi
Tôi là tôi, giữa cuồng khơi chợ trần
Tôi là tôi, có đôi lần
Nằm trên thác gió, nghe phần phật đau
Tôi là tôi, kẻ đến sau
Nép vào một góc nát nhàu, và mơ!
Đêm qua, mưa, gió, mịt mờ
Hình như, sóng bỏ bến bờ, ra đi…

TRƯƠNG ĐÌNH PHƯỢNG

CỚ GÌ?

trantuan

Hẳn gió đã tường cơn dị mộng
Nên đêm nay lệ ấy khô rồi
Mành trăng huyễn vỡ chìm sau núi
Cớ gì ta mãi ngóng xa khơi?

Ừ gió ngủ thật say đi nhé
Ta từng mong một sát na yên
Để mai còn ngắm bình minh nắng
Bằng ánh nhìn chưa vết tật nguyền.

Trần Tuấn

BUỔI TỐI TRÊN CỒN CÁT

nguyenleuyen

Buổi Tối

-A lô, anh ăn tối chưa?

-Cảm ơn em. Rồi. Mọi chuyện đều ổn. Còn em?

-Dạ, cũng vừa xong bữa. Mà… không phải với mì tôm nữa đó chứ?

-Hẳn nhiên. Chiều nay anh tự nấu món canh chua cá lóc, sườn ram và rau muống xào tỏi theo cách vào bếp trên Google.

-Ồ, vậy thì ngon quá.

-Rất ngon, nhưng chỉ một nửa, nửa kia là dở, thậm dở.

-Anh nói sao?

-Một nửa ngon và một nửa dở.

-Em hiểu rồi. Anh đang thiếu sự chia sẻ. Nhớ ai đó đã nói “yêu một tác phẩm nghệ thuật ta muốn chia cái đẹp ấy cho nhiều người…”.  Nấu nướng cũng là nghệ thuật mà anh. Chị Diệu nói chừng nào về?

-Còn mệnh đề thứ hai sao em không nói hết? “Còn khi yêu một người ta chỉ muốn giữ người đó cho riêng mình”.

-Thôi đi. Em hỏi chị Diệu chừng nào về?

-Anh đâu rõ, khoảng trên dưới một tháng nữa, là anh đoán vậy, không hỏi. Cứ để bà ấy thoải mái. Hỏi chỉ tổ làm bồn chồn.

-Nhưng gì đi nữa, trong lúc chị đi vắng thì anh cũng phải cố gắng ăn uống tử tế, đừng có suốt tuần mì tôm với cơm hộp với bia rượu. Em chỉ nhắc chừng vậy, anh biết phải làm gì mà, phải không? Bữa lên nhà, em liếc thấy trong giỏ rác toàn vỏ mì, trong khi đồ ăn trong tủ thì chất đầy. Tự dưng em cảm thấy buồn buồn. Đàn ông các anh mười người thì có đến mười một người y như nhau khi vợ đi vắng dài ngày: Trường kỳ kháng chiến với mì tôm, lại ôm bia rượu làm bằng hữu chi giao nữa. Chẳng bổ béo gì mà thêm bệnh.

-Anh biết, đâu phải con nít. Anh chưa bỏ bữa ngày nào. Cuối tuần còn được vợ chồng cô em đánh xe lên tận nơi, chở xuống bồi dưỡng như ông hoàng ấy chứ. Em đừng lo lắng vẩn vơ, mệt trí. Anh nghĩ, em để đầu óc thanh thản sẽ tốt hơn ba cái vụ ăn uống quăn queo này.

-Xem ra anh thừa thông minh, nhưng rất kém hiểu biết về y học phổ thông trong vấn đề dinh dưỡng!

-Phải, cái gì cũng biết hết thì đi giành với thiên hạ làm thiên tài sao. Anh thấy thời đại bây giờ chẳng cần phải  biết một thứ gì, hiểu một tí gì nhưng khi được đặt lên ghế thì mọi chuyện đều trơn tru.

-Lại xiên xẹo.

-Thôi, đừng có lo lắng vớ vẩn nữa, được không?

-Không. Không lo cho ai cả, nhưng vẫn phải dòm chừng.

-Là em nói ra đó nhé, không tin thì chạy xe lên kiểm tra ngay coi anh nói có đúng không?

-Đừng giỡn anh, tới vào giờ này để thiên hạ xé xác em sao?

-Anh không xé em thì ai dám vào xé cơ chứ?

-Đừng đùa dai, mà bạn anh tới chơi nhà hay sao nghe nói chuyện như bắp nổ vậy?

-Mấy người ngồi trên truyền hình nói chuyện gì đó, anh không rõ, đâu có nghe họ nói gì!

-Thôi, anh xem TV đi, em đi tắm đây.

-Bonne nuit!

-Au revoir!

Màn hình điện thoại sáng lên màu mây trắng, trôi bềnh bồng vài giây rồi tắt ngấm. Anh bỏ máy xuống bàn, ngẩn ngơ về cuộc nói chuyện vừa chấm dứt, có vẻ như một màn kịch ngắn đang tới hồi cao trào thì bị sự cố mất điện. Và, rồi trong đầu anh lập tức vòng vèo tưởng tượng dài ngắn: Bắt đầu là cô em mở nụ cười đắc thắng, đủng đỉnh bước vào phòng tắm, cửa khóa trái, tiếng nước chảy ào ào, mát mẻ. Anh tự cười với bản mặt hụt trân của mình. Đúng rồi, nước sẽ xoa mềm và xối trôi tất cả, anh tự nhủ thầm khi quay ra, bỏ mặc kệ đám người bé xíu đang lao xao trên màn hình, vác ghế ra sân ngồi nhìn vườn cây nhập nhoạng trong ánh điện, cao thấp, vung vẩy cành lá theo cơn gió nhẹ mỗi khi tràn tới. Bóng tối và ánh sáng trộn lẫn khiến những lùm bụi như những hình nhân đang chạy nhảy lẫn cẫn, duỗi dài trên mặt đất.

Điện thoại lại reo. Chùng chình một lúc mới đứng dậy, bước lên bậc cấp, bụng dạ hoang mang. Anh không mong Phương đã tắm xong và lại nhớ tới chuyện mì tôm, bia rượu để tra gạn lần cuối trước khi ngồi vào bàn trang điểm.

Đúng. Không phải cô em mà là Diệu.

-Anh nghe đây.

-Anh ăn tối chưa?

-Xong tám hoánh rồi. Em khỏe không? Chuyến đi vui vẻ chứ?

-Rất vui và rất khỏe. Chuyến đi thú vị lắm, về em kể cho nghe. Ủa đang nhậu hay sao mà em nghe tiếng ồn?

-Khổ. Một đám trên TV xí xô xí xào gì đó. Nhậu nhẹt gì đâu.

-Anh dùng hết thực phẩm trong tủ chưa? Để em gọi Nhi nó mua mang về.

-Cũng sắp hết, đừng gọi. Để coi thích món gì anh bảo nó mua. Có những món anh không biết phải nấu thế nào. Mà đoàn của em lên chùa gì đó trên núi Tà Cú chưa?

-Chưa anh. Đang ở khách sạn. Mấy bà bạn đang dạo phố, dòm coi sông Cà Ty có đẹp như trong thơ anh Hoài Khanh không. Em định bụng qua thắp nhang cho anh Tư Đình.

-Phải đấy. Gọi xe sang thắp cho anh ấy cây nhang. Dẫu gì cũng chỗ bạn bè thân thiết một thời.

– Dạ, em đi ngay. Mà này, đoàn sẽ đi miền Tây khoảng một tuần. Lượt về Sài Gòn, em ghé nhà các con chơi với chúng chừng nửa tháng, sau đó ra Vũng Tàu với con Trang bạn em. Anh biết nó mà, Trang dạy Vạn Vật ở Đồng Sơn đấy. Dễ chừng gần hai chục năm không gặp nhau. Chắc cũng mất một tuần nữa nó mới thả ra, rồi quay về Mỹ Tho thăm nhà, coi phụ với mấy anh làm mộ cho ba má. Hồi sáng Út Hiền kêu chị Năm phải lên nhà nó chơi một tháng, chị em ruột thịt gì mà ba bốn năm trời không thấy mặt nhau… Anh thấy đó, không đi thì thôi, hễ bước chân ra khỏi nhà thì chỗ này ới, chỗ kia gọi, sao bỏ được, anh!

-Ừ, em cứ thoái mái đi. Nhưng đừng có kiểu: “… Nghe tiếng cơm sôi chợt nhớ nhà” đó nghe. Anh nhắc lại, cứ rong chơi thoải mái, đừng bận tâm về anh.

-Nhưng em lo.

-Lo với lắng, anh đâu phải trẻ con để trông chừng vấp ngã.

-Anh sẽ vấp cái khác. Mà mấy tuần nay Phương có lên không. Em gửi anh cho nó nhắc chừng chuyện sinh hoạt đó.

-Cảm ơn bà vợ tốt bụng. Anh đi tắm đây.

Anh tự động tắt máy. Quanh đi quẩn lại cũng ngần ấy chuyện. Đúng là đàn bà – anh lẩm bẩm và ngồi phịch xuống ghế đẩu và chợt nhớ đến mấy câu thơ của Sơn khùng: Đàn bà người nào cũng như người nấy/ Nên dặn lòng thôi hãy cố quên Em/ Nhưng đàn bà đâu phải người nào cũng như người nấy/ Nên suốt đười cứ nhớ nhớ quên quên. Diệu đã đi hết một quãng đường dài sướng khổ với anh. Rồi bây giờ lại Phương. Hai người hai thế hệ. Nhưng xem ra họ rất giống nhau. Bởi cả hai đều là đàn bà!

 

Ngó qua phía hòn non bộ, anh giật thót người khi thấy đôi đũa gát ngang miệng tô còn nằm trơ khấc trên thành bể khiến anh suýt nẩy bật lên kiểu điện giật, vì chứng cứ nói dối ngọt lừ vừa rồi vẫn đang phơi ì ra đấy, trần truồng. Xét về mối quan hệ thì giữa tô mì đã sạch nhẵn, thêm đôi đũa gát ngang vẻ thỏa mãn, đắc chí một cách đáng ghét… là hiện thực chua lòm so với canh chua cá lóc, sườn ram, rau xào do những bày đặt từ ngóc ngách sâu hoắm của sự tưởng tượng “phong phú”… Giữa chúng, hình như không họ hàng thân thích gì với nhau trong đời sống, chí ít là trước và sau khi có cú điện thoại tra vấn của cô em, nhưng rồi cái không tồn tại vẫn thắng cái đang “ngồi” thù lù ở thành bể kia, mà từ một khoảng cách xa, không có sự kiểm chứng thì nó giống như tên tội phạm đã thoát khỏi lưới luật pháp. Nó lại còn ngang nhiên có mặt trong lời thoại như sự che giấu cho tội phạm một cách quang minh. Cuộc nói dối trơn chùi đã làm cho Phương và ngay đến Diệu cũng tin rằng anh là người rất thật thà, ngay thẳng

Trên cồn cát

Quán Romance nằm cuối con đường dẫn từ đầu thành phố xuống giáp biển, trên một cồn cát cao, dân địa phương vẫn quen gọi quán Cồn Cát thay cho Romance. Phía trước mặt là một rừng dương xanh ngút, chắn những đụn cát cao chỉ chực có cơ hội là sóng biển xô bổ vào.

Anh và Diệu và Phương thích ngồi ở cái quán này, không phải thức ăn rẻ và ngon gì cho cam. Đơn giản là quán có những phòng ăn nhỏ vừa cho sáu người trên tầng ba. Mọi người vừa ăn vừa có thể nhìn ra màu biển xanh mênh mông ở dưới kia. Diệu chỉ thỉnh thoảng tham gia. Nhưng với Phương thì thường hơn. Bởi cô em cũng tâm trạng, cũng thích ngắm biển xanh và yên lặng lắng nghe tiếng lá dương reo vi vu hòa với sóng đập lao xao lên kè đá.

Tôi đề nghị:

-Tối nay mình đi ăn ở Cồn Cát, em nhé. 7 giờ được không?

-Sớm một chút, 6 giờ đi.

-D`accord! Em sửa soạn, anh tới trước. Nhớ mặc áo màu lá cây. Anh thích.

-Còn nhiều chiếc đẹp hơn.

-Anh thích chiếc này, chiếc lai cua màu lá cây ấy. Nó để lộ vẻ thanh thoát của em từ viền cổ, từ cánh tay trần. Nó sang trọng một cách dân dã như thể em đang ngồi quay tơ vậy. Cánh tay trắng muốt, chiếc cổ trắng muốt, những búp tay thon nổi lên giữa cuộn tơ vàng óng và, chiếc áo xanh làm nền. Nếu em biến chiếc áo ấy như một chiếc yếm thì em sẽ đẹp gấp bội trong mắt anh.

-Khéo tưởng tượng… Bày vẽ.

Quán thưa khách. Còn nhiều dãy bàn trống. Khi dượm chân bước lên cầu thang, chủ quán từ bếp lên chào và nói bữa nay có món cua lột. Tôi nói vâng cua lột. Ba người ăn chứ, chủ quán hỏi. Không, hai. Nhưng để người ta tới đã, coi có thích không. Chủ quán gục gật chiếc mũ trắng trên đầu cùng với câu nói, chúc vui vẻ, ngon miệng. Tôi nói cảm ơn và giơ tay vẫy vẫy.

Căn phòng chúng tôi thích ngồi, may chưa có người. Tôi mở toang các cửa lớn nhỏ. Phụ bàn giúp bật đèn và mở quạt rồi quay sang đặt quyển thực đơn dày cộp lên bàn. Chú đi một mình, phụ bàn hỏi. Không, hai, tôi trả lời, cháu chờ chút xíu nhé, chú sẽ gọi khi bạn đến. Cô bé dạ và quay ra.

Gió từ biển thổi vào, mát rười rợi. Tôi đứng lên tắt quạt và nhìn ra phía biển bắt đầu thẫm lại. Sóng vỗ rì rào và lá dương reo. Có vẻ như Phương có lý khi đưa ra nhận xét, rằng ngồi ở căn phòng này giống như ngồi trên ô riêng, ở nhà hát lớn, dành cho các quý ông quý bà nghe hòa nhạc giao hưởng. Cô nàng thêm, có những lúc em nghe như đó là bản giao hưởng số 5 cung Đô thứ Định Mệnh, đôi khi lại là khúc số 7 cung La trưởng Niềm vui hay các khúc Sonata. Em cảm ơn ông Beethoven thiên tài. Tôi hỏi, có khi nào em nghe giống như khúc Appasionata không? Nàng cười, để lộ chiếc răng khểnh cao ngạo giữa hai hàm răng trắng đều.

Phương bước vào. Nàng đúng là cô Tấm đã tìm thấy chiếc giày. Tôi đứng lên ôm nàng trong giây lát thay lời chào. Phương áp chặt. Cơ hồ như tôi nghe các thớ thịt, mạch máu, chân lông đều nhổm lên chực chảy ra ngoài.

Phương đẩy tôi ra và ngồi xuống, đẩy lọ hoa hồng ra đầu bàn.

-Mình ăn gì, em? – Tôi nói và đẩy quyển thực đơn về phía nàng – Ông chủ kêu có ghẹ, cua lột gì đó, quảng cáo rất ngon.

Phương xoáy vào mắt tôi.

-Anh quên hôm nay là ngày gì rồi sao. Rằm tháng bảy, lễ Vu Lan.

-A, xin lỗi – Tôi kêu lên – Vậy thì rau củ quả cho nó chay tịnh. Nhưng em phải cho anh một ly rượu. Vang Đà Lạt thôi. Đúng một ly.

-Được, một ly thôi nghe.

Khi cô bé phụ bàn bước ra, tôi cầm tay nàng nói bữa nay em đẹp quá. Nàng ngó cành hồng vàng nói, nịnh. Thiệt mà, tôi nói khẽ..

Chúng tôi nhẩn nha ngồi ăn, nói những chuyện không ăn nhập vào đâu, bởi ai cũng chăm chăm về hướng biển, như thể nơi đó đang lưu giữ những riêng tư của mỗi người. Thực tế lúc này. biển sẫm đen. Những cột đèn dọc bãi cát không đủ sáng để nhìn rõ mép nước và bờ cát. Tít tận ngoài xa những ánh đèn câu, giăng kín một khoảng không gian rộng. Hình như mọi chiếc thuyền đều đứng nguyên tại chỗ. Ánh đèn đứng nguyên tại chỗ.

-Em có bao giờ ngồi thuyền ra biển chưa?

-Chưa, em sợ say sóng.

-Em chỉ yêu mỗi dư âm của sóng biển, phải không?

-Cứ mỗi lần ngồi đây, nghe tiếng sóng, tiếng lá dương reo trong khoảng nhập nhoạng sáng tối là em nghĩ ngay đến những khúc giao hưởng cổ điển dành cho dương cầm. Ước gì giũ bỏ hết mọi phiền lụy trần gian và đến một nơi nào đó thật khuất vắng, thanh tịnh…

-Ước mơ bao giờ cũng đẹp và thực tế thì xù xì. Ta chỉ nên tận hưởng mỗi khi có dịp…

-Dạ, thực tế xù xì… – Nàng nói với nụ cười thật buồn bã, với đôi mắt u uẩn xa xăm khiến tôi nhớ ngay mấy câu của Bùi Giáng:

Em có nụ cười buồn buồn môi mọng

Em có làn mi khép lá cây rung

Em có đôi mắt như sầu xanh soi bóng

Hồ gương ơi! Sao sóng lạc vô chừng.

Tiếng lá dương, tiếng sóng trộn lẫn mơ hồ vọng lại. Chúng tôi yên lặng tiếp tục nhìn ra biển. Những quầng sáng nổi bật lên giữa màu đen thẫm. Tất cả đều đứng nguyên, không chuyển động. Đột ngột Phương quay sang tôi.

-Anh biết không, em yêu chị Diệu vô cùng, bởi chị đối xử với em như ruột thịt. Khi nào em bằng tuổi chị ấy, chắc chắn em sẽ đi theo con đường chị đang đi. Em thấy chị thanh thản, cởi bỏ. Ước chi lúc này em được phần mười của chị.

Tôi loay hoay, lúng túng không biết phải trả lời sao. Nhưng thực tế, chí ít là trong khoảng thời gian dài, cả ba chúng tôi đã gắn chặt vào nhau như kiếp tiền định. Những khi chúng tôi ngồi chung bàn ở căn phòng này, hình như ai cũng đọc được những ý nghĩ của người kia, bởi chúng tôi đều có những bất hạnh riêng. Cả ba đều hiểu nhau và cùng chia sẻ… Tận đáy lòng họ cũng run rẩy leng keng niềm hy vọng, lục cục nỗi thất vọng ê hề của số phận…

Trong ánh mắt của Diệu khi nhìn tôi và Phương, nàng như muốn nói: Anh đau khổ và mệt mỏi quá nhiều bởi những kỳ vọng dành cho thằng út đã sụp đổ, cộng với xã hội bên ngoài làm anh ray rức, tuyệt vọng. Em là vợ, nhưng không giúp được gì cho anh, bởi cả em và anh cùng bất lực, cùng đau đớn đến tột cùng về một niềm tin duy nhất bị đánh mất. Em biết ơn anh đã hiểu em, cho em đến với kinh pháp và đã được gội rửa. Còn anh, cả đời bi lụy vì chữ nghĩa, anh bay bổng với những giấc mơ đẹp, rồi bị xô đẩy, rơi đùng xuống đáy vực. Và rồi Phương là chiếc phao, là chiếc thang dây đã kéo anh lên khỏi vũng tối. Em cảm ơn Phương đã thay em làm được điều em không thể, dù cố gắng biết bao. Em tin anh. Đừng làm gì cho Phương buồn, bởi em nó cũng đang mang nỗi đau không kém cựa gì ai…

Phương thì, anh và chị Diệu đã xoa dịu vết nứt trong em như bàn tay êm ái của một bà mẹ yêu thương con hết mực, đồng cảm và chia sẻ cùng em, vực em đứng lên…

Còn tôi khi nhìn vào đáy mắt hai người, những người phụ nữ bao dung, mở lòng… tôi nghĩ nếu có kiếp khác, tôi cũng sẽ đi cùng trời cuối đất để tìm cho ra Diệu, và trái tim tôi sẽ vẫn dành một ngăn lớn cho Phương dẫu biết rằng “tôi không còn trẻ để cầm tay em nữa…”.

-Thôi về anh. Em về coi chừng mấy nhóc học bài.

Tôi đứng lên. Chúng tôi cùng nhìn về phía biển một lúc rồi hôn nhau. Nụ hôn mang theo mùi rau củ quả trong bữa ăn. Nó ngọt ngào và chay tịnh đến vô cùng vô tận.

NGUYỄN LỆ UYÊN