Trà Sư, thánh địa của loài chim.

 

 elenapucillo

  

 

Sự yên lặng gần như thiêng liêng chào đón chúng tôi trong lúc thả dọc theo bờ kênh trên một chiếc xuồng nhỏ. Tiếng mái chèo khua trong dòng nước xanh thẫm làm kinh động mấy con rắn nằm nép mình giữa những xác lá khô rớt dọc hai bên bờ.

Một cảm giác yên bình lấp đầy trái tim tôi khi ánh mắt nhìn thấy những tán lá xanh của những rừng cây  cao vượt qua khỏi đầu những cụm lau tóc bạc.

Chiếc xuồng nhỏ và nhẹ trôi đi, mái chèo hình như cũng nhịp nhàng khuấy nước theo cùng nhịp đập của trái tim tôi.

Đây là một chuyến đi dài của tôi xuống An Giang thuộc mìền Nam Việt Nam nhưng chỉ khi tạm dừng chân để  thực hiện một chuyến đi bằng xuồng trong khu rừng ngập nước ở Trà Sư[1] mới ban tặng cho tôi những cảm xúc mạnh mẽ và đồng thời cho tôi cái cảm giác bình yên mà tôi đang tìm kiếm.

Chạy, luôn luôn chạy để khỏi phải suy nghĩ, chôn giữ trong lòng bao nhiêu bực tức mà không biết làm sao giải tỏa. Dường như chỉ có sự yên tĩnh nới đây mới cho phép tôi lắng nghe nhịp đập của trái tim mình, để hiểu được tầm quan trọng của sự hiện hữu và có thể sống những phút giây không thể nào lập lại.

Bầu trời về chiều lúc đầu có nhiều mây nhưng giờ đây đã sáng hơn và khu rừng lúc này  phủ một màu xanh rực rỡ, đây đó điểm một vài chiếc lá vàng hay đỏ úa như đang chuẩn bị lìa cành. Tôi nhìn thấy vài chiếc lá nổi trên mặt nước, trôi theo dòng kênh như đang muốn đồng hành với chiếc xuồng. Có vài chú cá nghe xao động nên cũng tò mò trồi lên mặt nước nhìn theo.

 

Chiếc xuồng trôi chậm lại và cuối cùng dừng bên một đầm nước có những cánh sen trắng và hồng đang đong đưa trên cuống.

Rồi, đột nhiên, có một  cái gì đó phá tan yên lặng.

Từ khu rừng rậm rạp một đàn cò không biết từ đâu đang vỗ cánh bay lên, những đôi cánh trắng nổi bật lên trên nền màu xanh thẫm của lá cây. Chúng bay đồng loạt, có lúc xoay tròn, nhanh chóng chuyển hướng như thể được điều khiển bởi một nhạc trưởng và hòa trong vũ điệu đẹp mắt đó là tiếng kêu ríu rít vang động giữa lưng chừng trời.

Thiên nhiên sôi động này đã bất ngờ làm trái tim tôi tràn ngập một niềm vui khó tả. Có lẽ do mệt mỏi và sự yên tĩnh lúc đầu đã làm tôi ngây ngất rồi giờ đây, sự cuồng nhiệt từ tiếng đập cánh đồng loạt của đàn cò đã rung lắc tôi bằng một sức mạnh đến bàng hoàng.

Lúc này thì trời sáng hơn và tôi bắt đầu nhìn thấy những cây tràm có hoa và vỏ trắng hiện lên giữa những tán lá xanh. Vừa ngỡ ngàng vừa thích thú tôi nhận ra bao điều kỳ diệu của thiên nhiên mà cây rừng đang gìn giữ trong sắc lá và hương tràm ngào ngạt. Thiên nhiên hình như đã ban tặng cho con người một kho tàng vô giá thông qua loài cây đơn giản và khiêm tốn này. Từ những chiếc lá người ta ép rồi chưng cất để chiết lấy tinh dầu, một loại dầu tràm có tính năng tuyệt diệu: kháng khuẩn, phòng ngừa cảm lạnh, trị nhức đầu, đau bụng, phòng gió và tránh ho..

Khi người chèo xuồng nói là dầu tràm còn có tác dụng xua đuổi, chống và trị muỗi thì tôi vô cùng thích thú vì loài côn trùng đáng ghét này thường hay chích, đốt và hút lấy máu của tôi.

Mặt trời lúc này sắp tắt nhưng phong cảnh đẹp hình như chỉ vừa mới bắt đầu.Từ một cụm rừng xa tôi nhìn thấy một đàn vạc và le le có đến hàng ngàn con đang bay về tổ, những đôi cánh của chúng phần phật, xoãi rộng rợp kín bầu trời.

Trong không gian, tiếng chim ríu rít trầm bỗng trong một bản hòa tấu không ngừng. Tưởng như tất cả các loài cùng đồng thanh hát bài hát ca ngợi thiên nhiên tươi đẹp, ca ngợi cuộc sống yên bình bằng những giai điệu nồng nàn, làm cho khách phương xa là tôi cũng tự dưng thấy mình thật gần gũi với khung cảnh hoang dã nơi đây.

Nhưng phút xuất thần không kéo dài được lâu, trời sẫm tối và sau một chuyến phiêu lưu đầy thích thú và bất ngờ chiếc xuồng cũng phải quay về.

Trong lúc xuồng quay đầu, rẽ nước.. trong mắt tôi vẫn còn đọng lại những hình ảnh của một thiên nhiên tinh khiết chưa từng bị ô nhiễm. Còn trong đôi tai như vẫn còn vang lên giai điệu du dương của những loài chim như một lời tạm biệt và hẹn ngày tái ngộ.

Elena Pucillo Truong

 

Sài gòn 10-2016

(Trương văn Dân dịch từ nguyên tác tiếng Ý “ Il santuario deli uccelli nella foresta di Tra Su” )

[1] Rừng tràm Trà Sư nằm trên địa bàn xã Văn Giáo, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang

cuồng điên vì nhớ

nguyenminhphuc

 

lòng cuồng điên vì nhớ…( Hoài cảm- Cung Tiến}

tiếng chân người rất khẽ
sao vọng động hồn tôi ?
mùa thu qua rất nhẹ
sao vàng lá lưng trời?

người về mang thương nhớ
đau một chiều nắng phai
bờ môi ngày hội ngộ
mưa chìm khuất sông dài

có phải tình dong ruổi
trong tim giờ phai phôi
hay chỉ là hạt bụi
rơi xuống cánh tay người

tôi cũng xin là gió
trải xuống đầy đôi môi
nghe trong từng hơi thở
buồn im tiếng ngậm ngùi

người có về đây nữa
mang cho đời chút ơn
mùa thu nào qua cửa
tôi ngồi chờ hoàng hôn

lòng cuồng điên vì nhớ
trong tôi – ngày quạnh hiu
nghe khối tình vụn vỡ
trôi giữa hắt hiu chiều…

Nguyễn Minh Phúc
lập đông- 2016

Có nên đập phá một tượng thần?

nguyendangthuong

Nhân dịp sinh nhựt lần thứ 80 của Gabriel García Márquez, cựu tổng thống Bill Clinton đã ca tụng nhà văn Mỹ Latinh này như sau: “Tôi tin rằng ông ấy là nhà văn viết truyện hư cấu quan trọng nhứt của bất cứ ngôn ngữ nào kể từ sau William Faulkner”. Ông có cho biết thêm, thời sinh viên ông đọc một mạch “Trăm năm cô đơn”, không để cuốn truyện rời khỏi tay dù trong giờ học. Vậy xin hỏi hôm đó ông tới lớp làm gì? Hay là ông đọc nhưng không xem, như ông hút cần sa không nuốt khói, vân vân. Tuy nhiên, dẫu sao thì những lời tâm tình chưn thiệt đó đã chứng tỏ với thế giới rằng cựu tổng thống Mỹ không chỉ mê gái, mê golf, mê chính trị chính em và mê kiều nữ Monica mà thôi. Tất nhiên người viết bài này rất khâm phục các vị yêu văn chương (García Márquez) và biết tôn trọng sự thật.
Nhà văn Gabriel García Márquez đã và đang được độc giả thế giới mến mộ. Trong số độc giả to tát ấy (cứ giả sử như vậy đi) tất nhiên cũng có ta. Nhứt là miền Bắc. Độc giả ta sùng bái Márquez (miền Nam đã có “Trăm năm cô quạnh” từ đầu thập niên 70), trước tiên, vì cuốn truyện nổi tiếng nhứt của ông ta đã vang danh thế giới, một phần (nếu không muốn nói là phần lớn), có thể do cái tựa cải lương, bắt mắt. Ở Hà Nội, García Márquez còn được thêm hào quang của một tác giả thiên về cánh tả và bạn thân lâu năm của Fidel Castro, cộng thêm cảm tình dành riêng cho một quý khách đã bỏ ít thì giờ hiếm quý làm một chuyến viễn du vời vợi tới kính cẩn nghiêng mình trước lăng Bác. Sau cùng, vì Gabriel García Márquez đoạt giải Nobel văn chương, mà độc giả ta thì luôn luôn nể kính các nhà văn Nobel. Viện sĩ hàn lâm không thể sai lầm khi lựa chọn hộ ta: cái gì họ thấy hay thì ta có bổn phận đọc và cảm thấy tuyệt vời… gấp bội gấp ba!
Riêng tôi, tôi chẳng rõ do đâu mà nhà văn García Márquez lại chống Mỹ tơi bời như vậy, ngoài đời cũng như trong tác phẩm. Nếu gạt qua một bên các vấn đề liên hệ để chỉ chú trọng đến sáng tạo văn học nghệ thuật thuần túy, thì, không có Faulkner tất nhiên sẽ không có García Márquez. Không có “Absalom, Absalom!” chẳng có “Trăm năm cô đơn”. Không có Yoknapatawpha chẳng có Macondo. Không có “ông đại tá” Sutpen chẳng có “ngài” đại tá Auréliano Bueldia. Tới một vùng đất mới khẩn hoang lập nghiệp, hoài bão khai sinh một họ tộc sẽ vang danh; sự loạn luân đưa đến sự tuyệt diệt của dòng họ đó qua vài thế hệ, bởi giọt máu cuối cùng là một đứa cháu bẩm sinh ngu đần; sáng chế và sử dụng kỹ thuật lắp ráp phần mảnh, kể chuyện từ nhiều góc cạnh và tầm nhìn khác nhau qua nhiều tiếng nói như một tấu khúc thiếu hòa âm; hài hước châm biếm định mệnh ác độc trớ trêu, từ cửa miệng người nghe cũng như người kể; thảy đều có trong/ đã đến từ “Absalom, Absalom!” và vài tác phẩm khác của Faulkner.
Hơn nữa, “trăm năm cô đơn” có thấm thía gì đối với sự “lẻ loi muôn đời” của con người, ngay từ thuở tạo thiên lập địa. Cô đơn và hoảng sợ trong cảnh hoang sơ, con người đã dần dà chế tạo Thánh thần và Thượng đế, hầu giải thích những hiện tượng mà nó không thể hiểu, để có những quyền lực cao siêu vô hình giúp đỡ và che chở nó chống chọi thiên nhiên, muông thú. Nhưng, mặt khác, con người đã bị Thượng đế (nếu ta tin có Thượng đế) lưu đày xuống dương gian sống trong khắc khoải cô đơn đau khổ tột cùng nhiều hơn hạnh phúc, không biết với mục đích gì (phi lý), và nhân loại phải chờ đợi mãi mãi một vị cứu tinh (Godot) không bao giờ tới, mặc dù đã có sự giáng thế của Đức Phật Thích Ca và của Chúa Giê-su. Beckett đã diễn tả/ biểu hiện tấn bi kịch về sự cô đơn và nỗi thống khổ ngàn đời của con người trong một vở kịch hai hồi, giản dị tới trơ trụi, hài hước đến cười ra nước mắt, trong đó một chiếc giày cũ mòn đế, lê lết mãi và trĩu nặng như phiến đá định mệnh cột dính vào chân khó rứt ra, đã mang vẻ đẹp biểu trưng siêu hình cao độ, bất ngờ. Nó khiến người xem nghĩ tới đôi guốc mộc lấm bùn đất của nông dân Hà Lan, và chiếc giày da há miệng cô đơn, như cuộc đời nghệ sĩ, đặt trên ghế, trong tranh Van Gogh.
Trên phương diện đạo đức, ta có nên chỉ trích một nhà văn lạm dụng tiếng tăm để phục vụ một lý tưởng cách mạng cao quý đã lệch đường, hoặc đã chuyển hướng khi có quyền bính trong tay? Có nên diễn dịch (hay không cần thiết vì đã lộ liễu) sự lựa chọn thời gian (sinh nhựt của mình) tới đảo những người khốn khổ hôn má Castro như một hành động khiêu khích hầu gây chú ý và tiếng vang cho chế độ trong những ngày tàn của con khủng long, mà cái chết sẽ khiến toàn dân Cuba trong và ngoài nước, túa ra đường, hoặc để vỗ tay reo hò chiến thắng, hoặc để đấm ngực bứt tóc khóc la như khi Mao chết (mà chỉ cần vài năm sau sẽ tự cởi trói vui vẻ bước lên xa lộ tư bản đế quốc, như Trung Quốc, như Việt Nam?) Nhảy bài tango cuối cùng với El Lider trước khi chìm xuồng xã hội chủ nghĩa?
Gabriel García Márquez đã nhiều lần yến tiệc tưng bừng thâu đêm với “lãnh tụ vĩ đại” và các vị khách quý của “ngài”, đã kiên nhẫn lắng nghe các diễn từ tự tôn, chống Mỹ dài bốn, năm tiếng đồng hồ của Phi Đen, trong khi các đồng nghiệp Cuba giãy chết. Xin kể một thí dụ: Reinaldo Arenas. Ông này là một nhà văn Cuba kiêm nhà thơ đồng tính, tài hoa, nhưng đã bị chế độ Castro giam cầm rất dã man, trước khi ông tìm đường tẩu thoát bằng cách “thí mạng gay”, cùng với khoảng 10.000 người Cuba “thí mạng cùi” chen lấn xô đẩy nhau chạy vô tòa đại sứ Mỹ xin tị nạn chính trị năm 1980, khi Castro hé rào ốc đảo vài giờ (định chơi khôn mà hóa dại). Độc giả có thể đọc bài “Cuba & các nhà văn đồng tính luyến ái” của Reinaldo Arenas do tôi chuyển ngữ, trên website Tiền Vệ. Đăng “Mấy cô điếm buồn” trên talawas chủ nhật tất nhiên là một việc làm hữu ích đáng được ca ngợi, chí ít là vì độc giả cần được tiếp cận tác phẩm.
Tôi đã đọc hết chương một của “Trăm năm cô đơn” (qua bản tiếng Pháp) rồi không muốn tiếp tục vì nghĩ, nếu mọi việc có thể xảy ra ngon lành như vậy nhờ ngòi bút thần kỳ thì bận tâm làm chi; có có, không không, cũng vậy thôi mà). Nếu tư bản Mỹ bóc lột công nhân đồn điền chuối ở Macondo đến mức khốn cùng, thì thay vì mưa hoa vàng và lũ nước bùn, sao hiện thực thần kỳ không cho họ một trận mưa gà quay và một cơn lụt rượu nho để nhậu lai rai chơi? Thử hỏi, cái đẹp để làm gì, và để cho ai, nếu không để cho con người? Nếu, theo lời một nhà phê bình nọ, hình tượng người đẹp thăng thiên là để làm ẩn dụ cho cái đẹp không thể tồn tại ở chốn dương gian nhơ nhớp, thì đẹp để làm gì? Vĩnh biệt cuốn tiểu thuyết trường giang, tôi đọc thêm một truyện ngắn không nhớ tên (về một cái lồng chim), trong đó kẻ giàu thì tim đá, người nghèo thì tim đập vân vân, thú vị rất lớn, và có xem “Tường trình về một cái chết được báo trước”.
Thực ra tôi thức khuya để xem phim kể trên (miễn phí trên ti vi), vì tò mò muốn biết mặt con trai Alain Delon. Không nhớ chuyện phim, không nhớ khuôn mặt Anthony. Chỉ nhớ phim khá dài, tôi buồn ngủ ngáp lên ngáp xuống, trong phim có một cha cố áo thâm cuối cùng đã vội vã bước lên tàu làm vài cử chỉ ban phúc lành để được nhanh gót rời hòn đảo nhỏ, nơi đã xảy ra cái án mạng được thông báo trước, nhớ Anthony Delon dù khá đẹp trai nhưng vẫn thua bố. Đúng ra, thực chất của vấn đề không phải là văn chương Márquez (ai thích thì đọc), mà sự tâng bốc và đúc tượng. Giải pháp tốt nhứt cho tôi là tôi nên đọc lại Márquez một lần nữa, rồi một lần nữa, và sẽ thích tơi bời (không hoa lá) với lần thứ tư, như Faulkner khuyên các độc giả (sẽ không nghe lời) đã than phiền họ không hiểu cuốn truyện “Âm thanh và cuồng nộ” của ông.
Có nên diễn dịch tượng thần García Márquez và hiện thực thần kỳ như một ý đồ kỳ thị, gây chia rẽ Nam Mỹ-Bắc Mỹ, tạo tác một nền văn học tiếng Tây Ban Nha đối chọi nền văn học tiếng Anh (của Mỹ), cung ứng một thể loại văn chương mới cho các quốc gia thuộc “Thế giới thứ ba”, chống cảm nghĩ (đại tự sự) suy đồi tiểu tư sản (nhưng đại tỷ phú), như từng xảy ra với hiện thực xã hội chủ nghĩa? Fidel Castro và García Márquez, hai chiến sĩ tiền vệ, kiêm lãnh tụ vĩ đại Mỹ Latinh, của xã hội cách mạng và văn học cách mạng? Tượng Thần, tượng Phật, tượng Chúa, tượng Người, đều do con người nhào nặn. Chúng có thiêng hay không cũng do con người. Nhiều pho tượng đã bị đập phá, hay bị quên lãng, nhiều pho tượng khác đang được nặn đúc.
Do vậy, miếu đền chỉ tấp nập khi còn nhang khói. Trong cao trào hiện thực xã hội chủ nghĩa, Truyện Kiều và các tác phẩm cổ điển (phong kiến), thơ văn lãng mạn (tiểu tư sản) từng bị truất phế, được “sáng suốt” phủ nhận bởi chính các tác giả của chúng, khi họ chọn theo con đường cách mạng vô sản. Tượng thần Nguyễn Trãi của thời “chống Mỹ cứu nước” đã dời đi đâu rồi? Hiện thực xã hội chủ nghĩa nay đã là hoang địa, ngổn ngang những mảnh tượng vỡ: Gorki, Ehrenburg, Mayakowski, Ostrovski, Simonov, Fadeev… Các tác phẩm kinh điển, những “Người mẹ” (Gorki), những “Cô lính trẻ” (Fadeev), những “Bão táp” (Ehrenburg), những “Thép đã tôi thế đấy” (Ostrovski), của một, hai thế hệ thanh niên nam nữ Hà Nội nay đã được thay thế bằng những “Harry Potter”, những “Mật mã Da Vinci”, những “Mối thù tơ lụa”, những “Mùa thu lá bay”, những “Bảo bối Thượng Hải”…
Mặt khác, Nguyễn Du đã có một pho tượng ở Hà Tĩnh, một trường dạy văn ở Hà Nội, tên đường phố công trường ở nhiều nơi khác. Vậy mà hình như vẫn chưa đủ. Có cần chép trọn tác phẩm Kiều vào một dải lụa mấy trăm thước, trong lúc trẻ con bụi đời ở cái thành phố được “giải phóng” và mang tên “đẹp nhứt” vẫn còn dốt nát? Khi cả nước đang là cái chợ trời sex có thể chóng trở thành môi sinh lý tưởng cho trùng si-đa? Khi có những “show trial” (xử án làm gương và thị uy) tệ lậu hơn dưới thời Stalin? Nếu có người thực tình nghĩ chép thơ như vậy là trân trọng thiên tài Nguyễn Du, là về nguồn sữa lục bát, là yêu mến văn chương nước Việt, là thấu hiểu thông điệp Kiều, thì cũng nên hoan hô hip hip hooray ba lần. Dư nước mắt như Thúy Kiều khóc người đời xưa bên Tàu (chưa chắc đã có thật), thì cũng thế gian thường tình thôi.
Đẹp đẽ gì, có phải thế không ạ, những cảnh đời (thật) dở khóc dở cười ở ta và ở ngay trước mặt, mà các cuộc thi hoa hậu nhốn nháo, các buổi trình diễn thời trang lộng lẫy, các lễ hội tấp nập tưng bừng, chỉ thể hiện phơi bày được một phần mỏng như lớp kem trên mặt bánh vẽ? Bước kế tiếp của nhà nghệ sĩ dân gian viết hoa tự Kiều vào lụa chắc là sẽ hoạ khắc một tác phẩm vĩ đại khác vào tường cẩm thạch, trên vách Trường Sơn, hay chiếu lên không trung cho toàn thể nhân loại chiêm ngưỡng? Chờ xem! Thao thao bất tuyệt về “rừng phong thu đã nhuốm màu quan san”, một cảnh trí chỉ dê rô phần trăm ta, chẳng hóa ra trong quán trọ Kiều, lữ khách đã để lại quá nhiều hành trang ư? Ảnh hưởng Kiều? Một câu lục bát có âm hưởng (dư hương) Kiều chỉ là một cái rắm có chút mùi… sầu riêng?
Thời sự:
Trăm năm trong cõi lưu manh
Chữ tiền chữ mạnh đúng là khoái nhau
Trải qua một cuộc choảng dao
Những điều trông thấy mà chau đôi mày
Lạ gì cái đảng thịt cầy
Hun tây hít mĩ bi giờ thở ta
Dồi chó ba khúc bày ra
Kính dâng tổng thống gọi là tri ân
Cảo thơm vội giở dần dần
Phong tình lậu mũ ghẻ tầu si-đa
Rằng năm con Khỉ triều Gà
Ba miền lẳng lặng nhà nhà nín thinh
Có thằng bán mít tên Minh
Đông ăn gầu nạm sớm sinh con ruồi
Đặt tên là Hồ Trí… Cuội!
Trữ tình:
Ngảnh trông biển rộng trời cao
Rừng dừa hạ đã nhuốm màu thời gian
Màu thời gian tê tê
Màu thời gian tái tái
Hương thời gian mắm rồng
Hương thời gian tanh tanh…
Để rộng đường dư luận, sau đây là bản dịch một bài nhận định tuy ngắn nhưng hàm súc, của Jonathan Bate về nhà văn Gabriel García Márquez trong mục “Millenium Reputations” (tạm dịch: “Những tiếng tăm của thiên niên kỷ”) để trả lời câu hỏi: “Tác giả, hay cuốn sách nào, của 1000 năm vừa qua, đã được đánh giá quá cao?”, đăng trên tờ Sunday Telegraph ra ngày 19 tháng 9 năm 1999. Tựa đề do tôi đặt. Tác giả Jonathan Bate, sinh năm 1958, là một chuyên gia về Shakespeare. Từ năm 1991 đến năm 2003 ông giảng dạy văn chương Anh tại Đại học Liverpool (Tȏ Cách Lan). Ông đang giảng dạy Shakespeare và văn chương trung đại tại Đại học Warwich (Anh), và cũng kiêm thêm chức vụ Governor (ủy viên hội đồng quản trị) của kịch đoàn Royal Shakespeare Company (Luân Đôn).
*
Jonathan Bate
Trăm năm nắn nót
Tờ New York Times đã mô tả cuốn truyện “Trăm năm cô đơn” (1967) của Gabriel García Márquez như “tác phẩm văn chương đầu tiên kể từ sau “Sáng thế ký” mà toàn thể nhân loại cần phải đọc qua. Đây là trò tán tụng lố bịch nhứt mà tôi đã gặp. Cần phải đọc à? Cuốn truyện tự ve vuốt sự khéo léo của nó đến mức không đọc nổi.
Đại khái, nó vẫn được đánh giá như tác phẩm đã khai trương thể loại “hiện thực thần kỳ” pha trộn lối tự sự thực tế hiển nhiên của tiểu thuyết tả chân truyền thống với những cái vô lý dị kỳ như thăng thiên và “thuật giả kim” (alchemy).
García Márquez đã ở tư thế điển hình nhứt của ông khi một phụ nữ đương phơi đồ bỗng dưng bay bổng lên không trung.
Các hợp chất khác của hiện thực thần kỳ là những người bô-hê-miên, những gái điếm có quả tim vàng, những người lùn, những kẻ bịp bợm, và vô số nhân vật lẫn lộn nhau rất khó phân biệt đến mức bạn cần có một bảng gia hệ nếu muốn theo dõi cốt chuyện. García Márquez và các đệ tử của ông là bọn trí thức đô thành giả vờ khâm phục cái khôn ngoan giản dị của giai cấp nông dân. Các huyền thoại, chuyện thần tiên, chuyện dân gian là những thức tự chúng đã tuyệt diệu rồi. Thế nhưng, sẽ là một điều ngớ ngẩn vô cùng nếu ta nghĩ rằng pha trộn chúng với những mẩu chuyện vặt vãnh trong gia đình sẽ làm tiêu tan lòng tự mãn của giới trung lưu ở thời đại chúng ta.
Cứ hy vọng rằng “Trăm năm cô đơn” sẽ không đẻ ra trăm năm tiểu thuyết nắn nót, lê thê, được đánh giá quá cao. Quá đủ rồi, vì nó đã gợi hứng cho những cuốn truyện đầy những lõm lồi thái quá như Nights at the Circus của Angela Carter, và Midnight’s Children của Salman Rushdie.

NGUYỄN ĐĂNG THƯỜNG

ngày về

npphan

ngày về lớp lớp tàn phai
chỉ còn lại một dấu hài trong mơ
giọt nào rụng xuống hiên mưa
chút ơn cay đắng cũng vừa quạnh hiu

vai gầy thấm đẫm hoang liêu
quỳnh hoa một đóa ít nhiều đa mang
giật mình, ngỡ cơn mưa tan
là trăm năm đã ngỡ ngàng khói sương

thì thôi hí cuộc vô thường
dấu chân miên viễn, nỗi buồn kiêu sa
hỡi ôi, con dế hiên nhà
bỗng nhiên cất giọng la đà gọi ai

NP phan

KÝ ỨC CÀ PHÊ DIỄM XƯA

nguyendangtrinh

ngả tư quang trung – võ tánh
những chiều cà phê diễm xưa
đông bắc gió mùa lành lạnh
ngồi đưa nhít về dưới mưa!…

khói capstan thơm lừng lựng
tự nhiên lạ lạ sao sao
vẽ loằng ngoằng bay lứng ngứng
lơ ngơ từng sợi ca dao!…

nắng tháng cuối năm vàng ợt
càng beo bủng sau gót nai
tiếng hát khánh ly đơn đớt
lạc tông dưới sóng áo dài!…

bài thơ ngoi ra miệng túi
hớp lia như sắp đứt hơi
chào đời chưa may đã rủi
rèm mi giọt ngấn giọt rơi!…

khoắng tách cà phê nguội ngắt
ngoài chiều gam phố chuyển màu
thổ mộ cuối ngày lọc cọc
mặt đường hắt lại chuỗi đau!…

nguyễn đăng trình

GHẺ

Hovietkhue

Bao giờ sau mùa sò cũng đến…mùa ghẻ.
Tay, chân đám trẻ sống ở các làng ven biển thường chơi vọc đất cát là mảnh đất màu mỡ cho cái ghẻ sanh con đẻ cháu.
Trong làng, từng đống vỏ sò vỏ ốc như những cái mộ lúp xúp phơi mưa nắng là nơi tụ tập của ruồi nhặng. Gió mang chúng với những cái cánh đầy vi trùng len lỏi vào từng ngóc ngách trong mỗi gia đình.
Thọat đầu chỉ là mụn nhỏ ngứa ngáy, rồi gãi, rồi trầy trụa, rồi sinh ghẻ và lây lan khắp chân tay. Rồi đứa trẻ này lây cho đứa trẻ khác. Có mùa ghẻ phát triển rầm rộ đến nỗi ngành y tế từ tỉnh đến làng xã phải phát động chiến dịch chống ghẻ.
Cô bé Thanh Triều bị ghẻ. Các bạn hàng xóm của Thanh Triều cũng bị ghẻ. Chúng cãi nhau, đứa này đổ cho đứa kia lây ghẻ cho mình.
-Con Triều bị ghẻ trước. Ghẻ mọc đầy kẽ tay nó.
-Trong lớp, tao thấy thằng Tín đút tay trong hộc bàn gãi đã quá trời!
-Thằng Bổn không thuộc bài mà còn đứng “đờn” nên cô giáo cho về nhà…lập ban nhạc luôn.
Không đứa nào chịu đã giới thiệu ghẻ cho bạn mình.
Ba Thanh triều lắng nghe chúng cãi nhau. Ông phì cười, đưa tay rờ mấy sợi râu cằm. Chợt ông nghe ngứa ran. Ông đưa tay lên nhìn: ở kẽ tay ông đã nổi lên mấy cái ghẻ từ lúc nào.
*
Thằng bé gãi lia lịa. Tay này gãi tay kia. Hai tay gãi khắp mình mẩy. Nó đứng sau các tấm bình phong che các bàn với nhau, giương mắt thao láo nhìn mẹ nó. Nó đói bụng. Nó cố kiễng chân nhìn các thức ăn trên bàn. Nó mới năm tuổi. Nó không dám kêu mẹ xin ăn vì mẹ nó cấm vào nơi này nhưng nó đói quá. Hồi chiều, nó mải chơi rồi ngủ quên, chưa ăn cơm.
Bia ôm cũng là một thứ dịch như…dịch ghẻ. Nó lây lan từ thành phố đến làng quê. Nó đến thị xã miền biển này hồi nào chẳng ai hay. Nó hiện diện trong nhà hàng quốc doanh biển đõ chữ vàng đến quán lá xập xệ mang tên cúng cơm của cô chủ.
Cái quán bia mà ba Thanh Triều đang nhậu thuộc lọai quán bình dân, chỉ có bia chai “Sài Gòn” và bia “lên cơn”* sản xuất tại thị xã. Nhiều quán còn đại-bình-dân hơn, chỉ cần vài xị rượu cũng…chễm chệ ôm như ai. Dạo này ba Thanh Triều ghiền cái khỏan uống bia có chỗ “gác tay” lắm. Nhờ làm ở cơ quan mà dân buôn bán thường phải quan hệ nên ba Thanh Triều được chiêu đãi luôn.
Ba Thanh Triều đang úp mặt vào bộ ngực của cô tiếp viên thì thằng bé vụt kêu:
-Má!
Cô tiếp viên hốt hỏang xô ba Thanh Triều ra, ba thanh Triều kịp nhìn thấy đôi mắt thằng bé tròn xoe nhìn ông.
Thằng bé lắp bắp:
-Con đói.
Cô tiếp viên nắm tay thằng bé lôi đi. Khi cô trở lại, ba Thanh Triều hỏi:
-Em đưa con tới quán chi vậy?
-Nhà không có ai. Em đã dặn nó chơi ở ngòai sau.
Cô tiếp viên trả lời, giọng buồn buồn nhưng rồi cô nhỏen cười và hôn cái chụt vào má ông, ghì riết đầu ông vào ngực cô.
Ánh mắt của thằng bé làm ba Thanh Triều cụt hứng. Ông xin phép các bạn về sớm mặc họ nài nỉ, không quên “boa” cho cô tiếp viên gấp đôi thường lệ.
*
Khi ba Thanh Triều thoa thuốc trị ghẻ cho em, cô bé khóc lóc cứ giấu hai bàn tay ra sau mông. Dù ba Thanh Triều dỗ ngon ngọt thế nào cô bé vẫn khóc thét, giãy nãy.
Sáng Chủ nhật, ba Thanh Triều chở em và Tín, đứa bé hàng xóm dạo chơi về miệt đồng bằng xe máy. Dạo này ruộng lúa bị rầy nâu phá dữ lắm. Trên đường đi, thỉnh thỏang ba Thanh Triều dừng xe, chỉ cho hai đứa xem những bóng người mang bình, huơ vòi dài xịt thuốc trong các ruộng lúa.
Ba Thanh Triều xin phép chủ ruộng nhổ một bụi lúa bị rầy cho hai đứa săm soi và giảng giải:
-Hai con xem thân lúa bị rầy nâu bám đầy ví như cánh tay hai con bị ghẻ vậy. Nếu không xịt thuốc bảo vệ thực vật, rầy sẽ “ăn” chết lúa. Hai con không thoa thuốc trị ghẻ, ghẻ sẽ “ăn” khắp tay chân, mình mẩy hai con, da hai con sẽ sần sùi đầy sẹo lở dơ dáy lắm. Hai con ngồi ở đâu sẽ kéo theo ruồi nhặng tới đó, gây hôi thối khiến mọi người xa lánh.
Sau buổi dạo chơi về, Thanh triều ngoan ngõan để cho ba thoa thuốc trị ghẻ. Cả các bạn Tín, Bổn, Bi cũng được ba Thanh Triều trị ghẻ cho. Mỗi khi thoa thuốc, để các em đỡ đau rát, ba Thanh Triều dạy chúng đồng ca:
“Cái ghẻ mày ngủ cho ngoan
Nếu không tao sẽ khảy đờn lung tung
Cái ghẻ mày chớ nổi khùng
Coi tao thoa thuốc sát trùng mày đây!”.
Trông các cô cậu vừa hát vừa chảy nước mắt nước mũi thật tức cười.
Ba Thanh Triều chợt nhớ tới thằng bé trong quán bia ôm. Không hiểu má nó có thoa thuốc trị ghẻ cho nó hay không? Đêm đêm má nó có còn mang nó tới nơi làm việc? Từ đêm đó ba Thanh Triều chưa trở lại cái quán bia đó. Mãi đến giờ, ánh mắt của thằng bé cứ như còn nhìn xóay vào ông.
Có tiếng còi xe cúp trước cổng. Người bạn cùng sở làm với ba Thanh Triều cười toe tóet, ra dấu bảo ông đi chơi. Nó đến giờ này là có “độ” rồi. Người bạn không chờ ông kịp leo lên xe, hí hửng:
-Quán mới! Có mấy em đã lắm.
Người bạn rồ ga nhưng ba Thanh Triều lại quay vào nhà. Ông lấy chai thuốc trị ghẻ cho vào túi quần. Ông muốn trở lại quán cũ.
-Đến quán số 9 đi!
Người bạn ngạc nhiên nhưng cũng chiều ý ba Thanh Triều.
Ba Thanh Triều muốn tặng chai thuốc trị ghẻ để cô tiếp viên thoa cho thằng bé và cho cô. Lần đó cầm tay cô, ba Thanh Triều phát hiện trong kẽ tay cô nổi những chấm đỏ như mình. Thuốc trị ghẻ này hay lắm, ba Thanh Triều thoa có ba lần đã hết trơn…

HỒ VIỆT KHUÊ

TỔ QUỐC

tonnuthudung

Tôi được sinh ra từ một nước Việt buồn
Nơi ấy tôi tự hào ghi vào tim mình hai tiếng thiêng liêng: Tổ Quốc
Tuổi thanh xuân bắt đầu vào những ngày chiến tranh chấm dứt
Chưa thấy hòa bình đâu mà chỉ là những cuộc chiến đấu không ngừng
Chiến đấu với những cơn sốt rét kinh hoàng
Mà giấc mơ là một con thuyền lênh đênh sóng nước
Chiến đấu với những cơn đói run người trên từng bước đường xuôi ngược
Mà giấc mơ là những ngọn nến chập chờn trên chiếc bánh sinh nhật ngày xưa
Chiến đấu với những kiểu con người độc ác ranh ma
Mà giấc mơ là chiếc áo chùng khói lam từ một ngôi nhà nguyện
Tiếng Thánh Ca vang trong từng chiều xao xuyến
Giọt nước mắt nào
Thôi
Chảy ngược về tim
Tuổi trẻ chúng tôi
Từ Ấy
Đi tìm…

Bên kia Thái Bình Dương ngọn gió Lào khô quắt
Quất điên cuồng vào từng cuộc mưu sinh
Kiêu hãnh đấu tranh để ngẩng mặt đứng lên
Dù rơi xuống bao nhiêu máu và nước mắt
Tổ Quốc thân yêu xót đau từng vết cắt
Nghẹn ngào
Bỏ cuộc
Thiên di…

Bên này Thái Bình Dương mưa
Đỉnh Big Bear ngập một màu trắng tuyết
Từng ngày qua…từng khôn cùng nuối tiếc
Thẩn thờ tôi gọi Chúa Ơi!
Bên cạnh tôi, một bé thơ cuống quýt reo cười:
Con cũng người Việt Nam, tên con là Hoài Phố.
Tôi cúi xuống, mái tóc đen… bé nhỏ
Nép vào tôi như một cọng rong buồn
Những đôi mắt Việt Nam chung cội chung nguồn
Gặp nhau trên một đỉnh trời cao vút
Tôi biết bé thơ đã được dạy và hiểu về Tổ Quốc
Nhưng liệu rồi bé có còn tự hào về hai tiếng Việt Nam?
Tôi ngày xưa, nước mắt cứ rơi theo những trang sử oai hùng
Những ranh giới từ Ải Nam Quan đến Mũi Cà Mau nguyên vẹn
Tôi bây giờ, xa xăm như mây nguồn chớp biển
Ngậm ngùi thương quá quê hương
Tôi được sinh ra từ một nước Việt buồn…

TÔN NỮ THU DUNG

MỘT NĂM

tranvannghia

Bước qua ngưỡng cửa mùa xuân
Xanh trời nguyên đán thềm sân nắng vàng
Tiếng cười thơ dại giòn tan
Đón hương ngày mới xênh xang Tết về

Bước qua ngưỡng cửa mùa hè
Nhớ mênh mang quá tiếng ve quê nhà
Áo ngày xưa trắng lối xa
Mái trường thắm đỏ màu hoa tạ từ

Bước qua ngưỡng cửa mùa thu
Dốc mưa phố chợ nghiêng mù lá bay
Phải lòng quỳnh thức chờ ai
Mà bông nở trắng đêm dài nhớ mong

Bước qua ngưỡng cửa mùa đông
Đời khô cây đứng mênh mông bóng chiều
Sông buồn chở tím cô liêu
Mây ưu tư quá giang theo trở về

TRẦN VĂN NGHĨA

BUỒN ĐEM XƯƠNG THỊT PHƠI BÀY

nguyenlamthang

Ta về, khe suối chết khô
Đồi xưa trọc lóc nấm mồ xuân xanh
Còn đây lau lách lạnh tanh
Cứa bàn tay, máu chảy quanh ngón buồn.

Tiếng lòng cuộn giọt cô đơn
Cho rưng nước mắt mặn hơn biển đời
Lạc loài làm hạt mưa rơi
Tan bao nhiêu kiếp cho trời hả hê?

Rằng: – Từ bỏ xóm làng đi
Bụi tre cũ rích còn y chỗ này
Bàn chân xưa, giẫm phải gai
Máu tha hương, đỏ hình hài bể dâu.

Lục tìm trong thế kỷ sau
Niềm yêu hóa thạch, nỗi đau hóa bùn
Máu đông đặc phía đầu nguồn
Ngữ ngôn run rẫy, ngượng ngùng đóng băng.

Ngậm ngùi duỗi cẳng ra sân
Cơn mưa rả rích thấm dần vào xương
Nhạt nhòa hình bóng quê hương
Máu khuya rụng giọt tang thương bên trời.

Còn đây dăm bảy nụ cười
Cuốn trong cơn bão ngậm ngùi thế gian
Đường về cây cỏ hoang mang
Mù sương rớt hột đến ngàn năm sau.

Cỏ xanh lõa thể chân cầu
Sông xanh ngả ngớn một màu khỏa thân
Gió mây giao hợp mấy lần
Buổi chiều nắng xế vừa gần vừa xa.

Từ trong trí não bước ra
Đâu là khóc nấc, đâu là cười vang ?
Đâu lửng thửng, đâu vội vàng
Mỉm môi nhìn chiếc áo quan chật khừ.

Ngồi đây nhắp giọt sa mù
Mùa xuân kỹ nữ lu bù mốt mai
Lọc sàng được mớ đắng cay
Suốt đêm cà giựt, suốt ngày cà tưng.

Nửa đêm chuột quậy đùng đùng
Cơn mê vội vã trong mùng chui ra
Khói nhang thâm thấp là đà
Nhập vào giấc ngủ rồi ra bàn thờ.

Ta chừ chẳng biết về mô
Lòng như tàu lá chuối khô ngoài vườn
Phất phơ trước gió âm dương
Hát câu tuyệt xứ mở đường vô ngôn.

Hỏi thăm Văn Thánh có còn
Hàng bia tiến sĩ đã mòn tuổi tên
Hỏi em còn nhớ hay quên
Mắt xưa rớt giọt đọng trên lưng rùa.

Cúi đầu gấp lại trang xưa
Mộ khuya mở huyệt chào thưa cuộc đời
Nhe răng ném một nụ cười
Tùy duyên nở rộ trên mười ngón tay.

Buồn đem xương thịt phơi bày
Nghe cơn mưa đã héo gầy dặm xa
Một thân cõng mấy bóng ma
Lêu bêu trôi giữa bê tha kiếp này.

Chẳng có gì, ngoài mây bay
Thềm xưa lổ đổ cỏ cây cháy vàng
Máu hồng hóa cục gạch hoang
Gió đùn lau lách lên ngang mặt người.

Em chừ ngu muội với đời
Đắng cay bọc những nụ cười nhẹ tênh
Nói thầm hay cứ lặng thinh
Nỗi đau toạt máu đa tình, càng đau!

Mưa rơi trở lại giọt đầu
Nắng phơi trường mộng trên cầu phù sinh
Máu xương biến cải tình hình
Vô thường điểm chỉ quá trình nhân gian.

Tóc em mềm khói nghĩa trang
Mắt sâu huyệt mộ, môi hoang hoải chiều
Phấn son hạ khoán tình yêu
Vô thường khấn nguyện ba chiều sát na.

Từ em lộ diện nõn nà
Đời đau trong ánh mắt xa xót nhìn
Lặng câm suối tóc u minh
Chảy vào nguyên thủy mấy nhành nguyên sơ.

Lao xao cỏ khóc dưới mồ
Khói nhang đứt khúc bên bờ đá xanh
Chiều êm, nước mắt phiêu hành
Tan thành sương trắng ướt nhành tầm ma.

Có khi nghĩ mãi cũng ra
Bon chen trong cõi người ta là vì
Cuộc đời là một chuyến đi
Về nơi huyệt mộ, có chi mô nờ!

Biệt ly nào có hẹn giờ
Tuổi xin khép lại một tờ siêu âm
Ghé chơi trong chốn bụi trần
Buồn vui hội ngộ một lần rồi đi.

Nằm nghe cơn gió chửi thề
Búng môi thở một hơi nghe lạnh hồn
Sờ lên não bộ nỗi buồn
Bứt từng sợi tóc đêm chôn vào lời!

Cỏ xưa mọc chỗ ta ngồi
Khói nhang nhòe lấp bóng người lướt qua
Bụi hồng vừa mới nở hoa
Tiếng kinh thắp đỏ vân hà cõi không.

Người không về. ta vẫn mong
Đêm nay Huế rét, dòng sông cựa mình
Vun từng sợi tóc phiêu linh
Ngồi nghe nỗi nhớ biểu tình trong đêm.

Nguyễn Lãm Thắng

Tôi vẫn tự hỏi ‘Tổ quốc là gì?’

tuankhanh

Tổ quốc là gì, mà trước khi chết, Frederic Chopin, nhà soạn nhạc lừng danh của Ba Lan (1810 – 1849) cứ khắc khoải dặn dò trong lúc đau yếu, rằng hãy mang trái tim của ông về chôn cất ở quê nhà?
Tôi vẫn tự hỏi ‘Tổ quốc là gì?’

Lưu lạc ở Pháp và Anh suốt trong 20 năm, nhưng Chopin luôn ngóng về đất mẹ, kể từ cuộc nổi dậy của người Ba Lan trước ách xâm lược của đế quốc Nga (1831).
Khi nghe tin cuộc cách mạng thất bại, dẫn đến việc hàng ngàn người Ba Lan phải ra đi lánh nạn, Chopin đã khóc và viết bản Etude cung Đô thứ (Op. 10, No. 12), còn gọi là bản etude Cách mạng, để ghi lại như một dữ liệu âm nhạc cho lịch sử đau thương của tổ quốc mình.
Tổ quốc là gì? Tôi vẫn tự hỏi
Với một nghệ sĩ cello tài danh, được cả thế giới chào đón như Mstislav Rostropovich (1927 – 2007), nơi nào cũng có thể là nhà, nhưng năm 1978 khi bị chính quyền Liên Xô cũ tước quyền công dân Nga, không cho trở về quê hương vì thái độ bất đồng chính kiến, ông đã đau khổ nói rằng “Nước Nga mãi trong trái tim tôi. Vậy mà tôi đã không thể quay lại để nhìn thấy tổ quốc và bạn bè của mình”.
Nhưng sau đó, năm 1991, khi Liên Xô tan rã, Rostropovich vội vã tìm cách bay trở lại Nga, xin một khẩu súng để được chiến đấu cho quê hương mình không còn chịu ách độc tài nữa. Lúc đó ông 54 tuổi, và đang được nhiều quốc gia như Anh, Canada, Nhật, Mỹ… sẵn lòng mời ông làm công dân danh dự của nước mình.
Tổ quốc, trong mỗi con người, ắt hẳn đều có những lý lẽ riêng cho sự ràng buộc lạ kỳ đó. Có thể đó là những lý lẽ dài dòng, hoặc chỉ là những cảm giác mơ hồ nhưng khó thể chối bỏ. Tổ quốc có thể gợi nhớ bằng hạnh phúc hay đau thương nhưng ký ức đó thì sẽ mang theo đến tận cuối đời như một món nợ trong tâm thức về nơi chốn.
Năm 2008, trong một bài nói chuyện về lòng ái quốc tại bang Missouri, Tổng thống Mỹ Barack Obama đã nói với những người rất trẻ về tổ quốc và một tình yêu cho nó “khi đối diện với mất mát và hy sinh, con người trong một đất nước không bỏ chạy, không né tránh mà lại càng gắn kết với nhau hơn để đứng dậy, đó là tình yêu cho tổ quốc”.
Nước Mỹ là một quốc gia phải nói nhiều về tình yêu tổ quốc và giáo dục kiên trì ý tưởng đó, bởi đó là quốc gia của những người nhập cư, bao gồm nhập cư từ chính các nước có tư tưởng thù địch với họ. “Hãy bắt đầu bằng những ký ức đẹp đẽ nhất mà bạn đã sống trên đất nước này, gìn giữ nó bằng cảm giác đơn sơ nhất, thậm chí có thể bỏ ngoài tai các lời tuyên bố hay tranh cãi của các chính trị gia”, ông Obama nói.
Tổ quốc – đất mẹ
Thật bí ẩn khi đem vào tâm trạng của con người nỗi buồn ngập đến lúc ra đi, khi thấy mình bất lực. Nhà thơ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu (1888 – 1939) lúc say, đã giắt tấm bản đồ nước Việt rách ở lưng quần, lang thang ca hát nghêu ngao “Dù như sông cạn đá mòn. Còn non, còn nước, hãy còn thề xưa” (Thề non nước).
Đất mẹ dưới ách thực dân, quan tham dẫy đầy, quân dữ lao nhao, người Việt không còn thương nhau, tổ quốc điêu linh, người trí thức nếu không viết xuống bằng thơ văn, thì biết phải làm sao?”
Tổ quốc là gì mà đời mình phải nhớ, đời sau phải giữ? Nguyễn Phi Khanh (1335 – 1428) khi kháng chiến chống quân Minh xâm lược nước Việt bị bắt, giải qua biên giới chịu tội đã quay lại dặn Nguyễn Trãi (1380 – 1442) rằng hãy quay về tìm cách diệt giặc cứu giang sơn. Trong Hận Nam Quan của nhà thơ Hoàng Cầm có hát lại lời xưa: Về ngay đi, ghi nhớ hận Nam Quan./ Bến Kim Lăng cho đến ngày nhắm mắt,/ Cha nguyện cầu con lấy lại giang san…
Với những người ghi danh trong lịch sử thì đã vậy, còn với từng con người Việt bình thường, tổ quốc là gì trong trái tim họ? Cô bạn có hơn 20 năm sống ở nước ngoài nói mỗi khi gần Tết Việt, nghe một khúc nhạc quê, nghe mùi hương trầm lại dậy lên nỗi nhớ nhà kinh khủng. Tổ quốc như một vết cắt trong tim, tưởng đã lành với nhiều người đi xa, nhưng không ngờ cứ nhói lên khi nghĩ đến.
Trong các cộng đồng người Việt xa quê, ngày Tết là ngày không thể quên. Nhiều khi Tết chỉ nằm trong trí tưởng tượng, Tết là ngày phiền toái vì phải trữ trong nhà những món ăn dài ngày không đúng theo luật vệ sinh của phương Tây, phải giải thích thật dài dòng cho lũ trẻ về một đất nước với nhiều huyền thoại mà ngày thường chúng không quen.
“Làm sao Việt Nam lại có những câu chuyện kỳ quái như một đôi vợ chồng lại đẻ ra trứng?” – “Nó là huyền thoại để ghi nhớ, để tìm hiểu về một quê hương có thật – mà dù lạ lùng đến thế nào chúng ta sẽ chấp nhận, phải giữ gìn, vì đó là nơi ông cha chúng ta sinh ra”, tôi nghe người cha trong gia đình giải thích cho đứa con sắp vào đại học, nói tiếng Việt đã ngọng nghịu.
Những câu chuyện về Nguyễn Trãi, Lê Lợi, Quang Trung, Nguyễn Ánh… là gia sản lớn nhất mà các bậc phụ huynh có thể tự hào nói với con cái mình – ở những vùng đất mà trẻ con hội nhập cuộc sống mới luôn nhanh và giỏi hơn, thậm chí dạy lại cho cha mẹ.
Quả là từng người Việt vẫn giữ gìn cho mình những điều không giải thích được về đất mẹ, dù khó lý giải được tận cùng các ý nghĩa. Cũng như mỗi người dù đi đâu, nơi nào, vẫn mang trong tim một gánh nặng yêu thương bí ẩn về quê hương, không dễ từ bỏ.
Lễ, Tết trong đời sống Việt xa quê, chỉ là dịp để gặp lại, để nhớ, để kết nối trong trí nhớ những ràng buộc mơ hồ về quê hương – mà đôi khi phải cố quên, nhưng thật dễ bùng lên thương nhớ. Một người bạn đã sống hơn 30 năm ở Mỹ kể rằng những năm 1970, số người Việt cứ báo bệnh, đồng loạt nghỉ vào ngày Tết âm lịch khiến nhiều công ty, hãng xưởng hoang mang, báo cho các cơ quan y tế về một bệnh dịch bí ẩn.
Sau này khi hiểu ra, nhiều nơi cũng châm chước vì đó là ngày không thể thiếu với cộng đồng Việt Nam. “Đôi khi, nghỉ cũng chẳng làm gì. Về nhà pha một ấm trà, ăn một cái bánh chưng và mất một ngày lương nhưng lại thấy vui, vì đó là phong tục xứ mình, phải giữ”, anh bạn Việt kiều kể lại.
Trong lịch sử hơn 2.000 năm không tổ quốc của người Do Thái. Tổ quốc – đất mẹ, là sự khắc khoải, là giấc mơ tìm về không ngừng nghỉ của nhiều thế hệ. Từ những năm 60 trước Công nguyên, bị đế quốc La Mã xâm lược và xoá tên khỏi bản đồ thế giới, người Do Thái đã lưu lạc khắp nơi, và dù thành đạt ở đâu, đã quần tụ nơi nào… họ vẫn khát khao dựng lại quê nhà.
Trong Bài học Israel của nhà văn hoá Nguyễn Hiến Lê, điều mà mỗi người Do Thái cầu nguyện trước bữa ăn hay chào nhau, đều là “năm sau về Jerusalem”. Con cháu của những kẻ mất quê hương đó luôn được nghe và dạy nói như vậy, để biết và nhớ rằng mình có một tổ quốc.
Thật tuyệt vọng và viển vông với những người Do Thái góp tiền mua lại đất đai ở Palestine, dọn về xây dựng từ khô cằn và hoang mạc. Từ thế kỷ 19 đến sau đệ nhị Thế chiến, đến năm 1948 người Do Thái mới có cơ hội reo mừng dựng cờ trên đất mẹ, dù chung quanh đầy những quốc gia với tình trạng thù địch. Hôm nay, câu chào “năm sau về Jerusalem” vẫn được nhắc lại như một ký ức kiêu hãnh độc tôn của một dân tộc không từ bỏ tổ quốc của mình, dù trải qua ngàn năm quay quắt mong đợi.
Năm sau đến Hoàng Sa
Tôi có một người bạn ở Hà Nội, mà cứ thỉnh thoảng lại thấy ông treo hàng chữ “Năm sau đến Hoàng Sa”. Đó là một người sống cả đời vẫn chưa bao giờ có dịp ra biển đến gần Trường Sa hay Hoàng Sa. Nhưng sự âm vang trong lời hẹn của ông lại là sự khắc khoải kỳ quái đến mức suy nghĩ luôn luẩn quẩn về hai chữ Tổ quốc.
“Năm sau đến Hoàng Sa”, khẩu hiệu ấy đủ sức làm những ai nhìn thấy phải bật nhớ đến biển, đến mộ gió, đến những cái chết oan khiên của ngư dân và thanh niên người Việt được trao trách nhiệm gìn giữ quê hương mình. Đúng là chúng ta đã mất mát quá nhiều, nên đã đến lúc chúng ta cần đứng lại, cùng nhau, trên quê hương này.
Năm nay, tôi lại thấy người bạn đó treo cao câu “Năm sau đến Hoàng Sa”. Thật thú vị, tôi cũng thấy thêm một vài người treo khẩu hiệu đó. Hoá ra những người khắc khoải về quê hương không cô độc, dù là số ít. “Đến Hoàng Sa” chỉ là một khái niệm. “Đến Hoàng Sa” là con đường rất dài – có thể dài hơn con đường đến Jerusalem, có thể dài hơn cả 2.000 năm của người Do Thái, nhưng đó là con đường của những người yêu tổ quốc mình.
Nhiều năm, tôi vẫn không thể nào giải thích được trọn vẹn về ý nghĩa “tổ quốc”. Nhưng trong trí tưởng tượng của mình, tôi nhìn thấy đó là một ngôi nhà chung của bà mẹ Việt đã sinh ra rất nhiều đứa con.
Như trong câu hát Mẹ năm 2000 của nhạc sĩ Phạm Duy, có đứa đã là bạo chúa, có đứa là kẻ hèn, có đứa tham lam muốn bán đứng chính ngôi nhà của mẹ mình… nhưng dẫu thế, những đứa con còn lại rồi sẽ chung tay dựng lại, làm lại từ đầu, dù là tro tàn. Ngôi nhà đó – đất mẹ – và anh chị em tôi, tôi gọi tên, là Tổ Quốc.

Tuấn Khanh