TÓC MAI SỢI VẮN…

1.

Lòng ta như một trang kinh
Ẩn trong lời Phật chữ tình rưng rưng
Lòng ta lá nhỏ trên rừng
Lao chao rớt xuống mấy từng chiêm bao
(thơ Hoàng Du Thụy)

Bài thơ đó do một người bạn văn từ Canada, gửi tặng.

Chị nói với tôi chị đang tìm nguồn vui trong thiền và lòng không còn vướng bận những nhánh đời nhân quả. Mỗi đêm về nhà, lái xe qua những hàng sơn táo, qua những vạt cỏ màu vàng như ủ bằng mật ong người đàn bà đó nghe mùa xuân trở mình và tiếng gió rít ngoài kiếng xe, lòng lãng quên hết mọi tranh chấp, muộn phiền…

Những buồn vui ngày trước từng làm tròn trịa một tình yêu cũng không còn? Như một cơn mưa bóng mây bay rớt trên góc tường hạnh ngộ, làm thiếu thốn phía bên này và khao khát phía bên kia.

Biết bao bóng thuyền muộn màng không về được bến vì giông bão giữa dòng, nhưng đàng sau những cơn bão lòng là trái tim lành lặn.

Trên điện thư trả lời, tôi cầu mong chị tìm thấy sự an tịnh thật tình và hy vọng thành phố Montreal có thêm một người đàn bà biết ủ đóa vô ưu trong lòng để giẫm lên những mù lòa dâu bể. Mọi giấc mơ đều cũ xa, đều bỡ ngỡ.

Nhưng thâm tâm tôi không tin nhiều về điều chị nói. Những câu thơ vẫn còn đó sự trăn trở rất đời. Vẫn còn bao la một nhánh sông muộn phiền lấp lánh. Hơi thở tình yêu hình như vẫn còn tươm mật trên môi run ngày nào…

Người đàn bà từ bỏ một đoạn đường và không muốn nhìn lại sau lưng, không có nghĩa là quá khứ đã đoạn lìa. Dù vẫn còn đó vạt mưa làm trắng màu thiền trên vai áo, trong khi tiếng đời vừa xao động lá sen khô.

Bài thơ bất chợt chị gởi tôi từ một đêm như vậy, trong khi tiếng gió quét mùa hạ đi qua ngôi nhà đường Heatherglen. Tôi nhớ vô cùng ngôi nhà cũ của gia đình tôi nằm dưới chân Núi Lớn Vũng Tàu. Biển thổi giạt nỗi nhớ mênh mang về hai đầu ngọn núi. Nhiều đêm tôi chong đèn ngồi học thi lúc bên ngoài trời mưa. Và những câu thơ của một mùa không ngủ được viết xuống bằng mực tím học trò. Những ngọn cỏ khát gọi mưa đêm nên nảy mầm thành lục bát.

Bao nhiêu năm rồi, tiếng mưa có khả năng làm thành cung phách bản đàn xưa và cơn mơ vội vàng như một âm thừa sót lại.

Khi người ta già, người ta sẽ nhìn lui lại bước chân mình. Những người đàn bà giống như sương mỏng, như sông xanh. Họ thà ủ hơi thở sửng sốt của mình trên vai người khác hơn là đậu xuống những trang giấy tình hồn nhiên. Những cuống lá mùa thu không biết nói lời hò hẹn, nên đêm Vũng Tàu có một người úp mặt vào đôi tay, thao thức.

Thành phố ven biển của tôi cũng giống như mọi thành phố miền Nam. Có hai mùa mưa nắng rõ rệt. Những cửa biển xưa mờ cạn nước. Những gã con trai cùng rong chơi với nhau suốt một mùa hè, trên bãi cát khô cạn mực thủy triều. Nên chúng tôi đều hiểu tánh tình của nhau tường tận. Hiểu luôn những thói quen của nhau. Như những con còng gió hiểu rõ hang động của mình.

Mười sáu, mười bảy tuổi chúng tôi không dám có người yêu. Mãi đến khi gần đi lính mới nói lên lời tỏ tình thì cổng trường đã ở sau lưng. Cái thời nông nổi nhưng nóng cháy môi hôn kia đã khép lại.

Những đứa con trai tình si và các cô gái e ấp đã đi riêng một đoạn đường, dưới những cây bàng già phai màu đỏ lá. Những nhịp thời gian như những nhịp cầu nối đôi bờ cách trở. Còn sự cách ngăn của hai người yêu nhau thì đến bao giờ?

Một vài đứa bạn dạn dĩ hơn dám nắm tay người yêu đi ngoài phố. Mặc cho những lời đàm tiếu có dịp lan xa như sóng trùng dương. Vũng Tàu quá nhỏ để che kín một dấu vết, hay một tiếng lòng hổn hển bên vai.

Mỗi ngày đi học tôi đi ngang qua con đường Lê Lợi có hàng me chụm đầu vào nhau. Tôi biết Hoàng Hoa từ thời đó. Lá me rắc trên vai áo ai làm rộn rã lòng tôi. Nhưng tôi biết nàng dửng dưng như nắng sớm.

Người con gái mang cái tên của Hoàng tộc và chứa đựng một màu hoa đã từng không biết có một đứa con trai ngưỡng mộ nhan sắc đi sau nàng.

Khi tôi bước xuống cuộc đời, tôi vẫn chưa biết rõ về nàng, ngoại trừ cái tên nghe gần gũi với một người bạn học của tôi là Hoàng Lực.

Hoàng Hoa là một cô gái có đôi mắt đẹp nhất mà tôi từng thấy trong trường Trung Học Vũng Tàu những năm sáu mươi. Một đôi mắt làm nguồn cảm hứng cho lời thơ Ðinh Hùng/ mắt em là bóng dừa hoang dại, âu yếm nhìn tôi không nói năng/(mộng dưới hoa) Nó cũng là nguồn cảm hứng cho những bài thơ của tôi sau này, khi khôn lớn.

Nhà nàng nằm một góc ngã tư đường Lê Lợi và đường Duy Tân. Một phía nhìn ra hàng me và phía kia nhìn ra biển. Có thời gian ngôi nhà khang trang đó dùng làm nhà bảo sanh Hữu Phước. Từ một góc phố chạy dài từ cơ sở sản xuất Mắm Ruốc của bà Giáo Thảo, đến nhà nàng, có một vài ngôi nhà khang trang nằm lùi sâu vô trong, được những khu vườn màu sắc che chắn bên ngoài, như bối cảnh trong tranh của Renoir, nên khi nàng quẹo khuất vào đó tôi có cảm tưởng nàng đã đi vào một thế giới khác, mông lung và mơ hồ. Một thế giới của nàng tiên trong các truyện cổ tích.

Tan trường về, tôi tìm cách đi sau nàng. Thời đó, học sinh học hai buổi một ngày. Buổi trưa về nhà ăn cơm, có thể ngủ một giấc để buổi chiều đi học tiếp. Tôi dùng khoảng thì giờ ít oi đó để làm thơ tình gởi đăng báo hoạc đọc truyện chưởng Kim Dung. Tôi thích nhân vật Ðoàn Dự trong Lục Mạch Thần Kiếm và thấy mình si tình Hoàng Hoa giống như Ðoàn Dự si tình Vương Ngọc Yến.

Ít khi Hoàng Hoa đội nón. Nhờ đó từ phía sau tôi nhìn thấy mái tóc trên vai nàng chuyển động như đôi cánh một loài chim đêm. Có những ngày tháng người ta sẽ quên luôn vì thời gian chồng chất trên vai, nhưng có những ngày tháng ngừng lại vĩnh viễn. Thời gian học đệ tam là thời gian đẹp nhất của tôi trước khi tôi vào lính. Tôi muốn được yêu thầm và được đi sau lưng nàng suốt đời, mặc cho những biến động của đời sống và bom đạn chiến tranh mỗi ngày vang vọng ngoài kia. Dưới bước chân êm đềm và quanh quẩn bên tà áo dài khép nép của Hoàng Hoa, tình yêu đã che lấp mọi dấu vết tan hoang. Che lấp mọi hướng đi về tương lai. Dù tương lai của những gã học trò sinh trong thời binh lửa vàng úa ngỡ ngàng

Mối tình một chiều như vậy tưởng chừng sẽ kéo dài để cho những trang nhựt ký có cơ hội tăng trang từng ngày. Cùng những bài thơ viết từ tấm lòng thơ dại sẽ có dịp hóa thân thành cánh bướm trang điểm cho đời. Nhưng tôi lầm. Một hôm nàng bỏ trường bỏ lớp không một lời từ giã. Chúng tôi- những thằng con trai khờ khạo trước tình yêu nhưng lại dạn dĩ với bất trắc bỗng thấy vắng đi một bóng mát êm đềm. Biển trở nên cuồng nộ chói chang từ ngày đó. Những trái bàng già rụng xuống tháng giêng dọc đường ra Bãi Trước, giống như những mơ ước chưa kịp đơm bông.

(Nhiều năm sau nầy, khi gặp lại Hoàng Hoa, lúc miền Nam sụp đổ, tôi thấy nàng vẫn còn đẹp dù có già hơn chút đỉnh. Chồng của nàng là đại úy Trần Bình Lâm, hình như không phải là dân Vũng Tàu? Vừa rời khỏi một nhà tù nào đó trở về).

Biết bao nhiêu bể dâu làm khô kiệt mọi nhựa sống trên những nhánh cây đời? Những thanh niên thiếu nữ ngày xưa bây giờ đã trở thành cha thành mẹ. Có người trở thành ông nội bà ngoại nếu lập gia đình sớm hơn. Có ai một lần đi lại con đường cũ ngày xưa để cảm giác được ngậm ngùi? Có ai còn buổi chiều ngồi trên bờ đê nhìn ra mặt nước xanh để ước mơ cuộc sống bên kia bờ đại dương như tôi đã từng mơ ước? Và nơi góc sân vận động ngày nào có còn những đôi chân vẽ vời của bạn tôi, của Võ Như Lăng, của Huỳnh Văn Chừng, của Huỳnh Quốc Hải, Trần Minh Trí, Phan Phi Hùng, Huỳnh Kim Sơn? Của Trung đen, Trung trắng?… Còn những ai đã nướng cháy tương lai mình như những khoang thuyền đang cháy nắng mặt trời?. Suốt mùa ra khơi không tìm ra một mẻ lưới vinh quang trĩu đầy tôm cá?

2.

Trên bãi biển đời người có nhiều dấu vết để lại. Có những dấu vết hằn sâu còn đọng lại một vài phiến lá kỷ niệm. Có những dấu vết hời hợt bị xóa lấp khi sóng biển tràn dâng. Tình yêu cũng vậy. Khi tôi rớt Tú Tài năm Ðệ Nhị, tôi xin vào lính. Mái tóc bồng bềnh của tôi được người ta cắt ngắn còn ba phân và mỗi ngày tôi bơi trong bộ quân trang rộng thùng thình mới lãnh từ kho Quân Nhu. Tôi làm một người lính mang tấm lòng yêu nước pha trộn với sự chua xót để đến mỗi khi chiều xuống, ngồi một mình trên chiếc giường gỗ ở khu tạm cư, lòng tôi cứ chùng xuống vì nhớ nhà.

Dưới những góc cây bã đậu buổi sáng đầu ngày, tôi khom lưng chà láng từng đụn cát, theo lệnh thượng cấp, như đang chà láng mọi ước mơ của mình. Người ta nói: “thao trường đổ mồ hôi – chiến trường bớt đổ máu”. Nhưng với tôi, mồ hôi chảy ra mỗi ngày không đủ sức vá lành rách rưới của trái tim. Mà chỉ có khả năng làm tràn thêm những giọt lệ.
Khóa học quân sự đầu tiên khi vào lính của tôi là Khóa 39 Hạ Sĩ Quan Trừ Bị- (Rớt Tú Tài anh đi Trung sĩ)- Khóa học thuộc quân trường Quang Trung, nằm trong khu vực Hóc Môn, Gò Vấp.

Từ Trung Tâm 3 Tuyển Mộ Nhập Ngũ chúng tôi chuyển về Quang Trung, trại Nguyễn Huệ. Buổi chiều đứng trong trại nhìn ra ngoài con lộ chính chạy về Sài Gòn, những chuyến xe đò, xe lam xuôi ngược kéo theo đàng sau nó những bụi bặm hối hả như hoa phấn cuộc đời. Lòng người tân binh cũng vàng vọt theo vạt nắng. Cách nhau một con đường, bên ngoài là tự do phiêu bồng và muôn ngàn niềm vui đô thị. Bên trong là đời sống gò bó theo khuôn khổ và tập quen với nắng lửa mưa dầu. Người lính lúc nào cũng căng lòng ra chịu đựng mọi thử thách và cố đè nén chuyện riêng tư. Và trong một lúc nào đó, nếu họ để tình cảm vượt lên trên lý trí (không tìm thấy chính nghĩa trong cuộc chiến tranh Quốc- Cộng mất còn) sẽ dễ bị nản lòng. Tôi trưởng thành nhờ những ngày tháng quân trường không ồn ào nhưng sôi động mỗi bài học sống. Tâm hồn tôi không chờ đợi để ướt át cơn mưa đầu mùa. Vì tự trái tim đã thẩm thấu nhớ nhung và chín muồi gian khổ. Những lá thư tôi nhận từ bên ngoài, từ những địa chỉ hoa, như một niềm phục sinh đủ để làm hành trang chờ ngày ra trường. Trên chiếc giường ngủ cá nhân hoặc trên ba lô khi dừng chân ngoài bãi tập, những lời thơ tôi khôn lớn chững chạc hơn những lời thơ ngày trước, những ngày biết Hoàng Hoa. Từ khóa học này tôi gặp Dzũng Chinh- Nguyễn Bá Chính.

3.

Anh là tác giả bản nhạc bất hủ “Những Ðồi Hoa Sim”. Dzũng Chinh là bút hiệu khi đặt nhạc. Nguyễn Bá Chính là tên thật của chàng tân binh khóa 39 HSQ Trừ Bị của Quang Trung vào thời điểm Tháng 9 năm 1965. Vài năm, sau khi ra trường, có lẽ mặc cảm với cấp bực trung sĩ, anh xin học khóa Sĩ quan đặc biệt, và khi tôi đổi về làm việc tại Trung Tâm Truyền Tin Ðà Lạt, nghe tin Dzũng Chinh vừa chết tại Qui Nhơn. Lời ca: … “mấy lúc xông pha ngoài trận tuyến không hẹn được ngày về, và đường về… thênh thang… màu hoa tím loang dài trong bóng tối…” đã giống như định mệnh của người nhạc sĩ tài hoa không may mắn với đời. Trên những đồi cát chập chùng nắng gió Qui Nhơn, màu hoa sim của Hữu Loan miền Bắc đã thấm vào tấm lòng đôn hậu của người nhạc sĩ Dzũng Chinh miền Nam. Để làm nên bài hát từng một thời mê hoặc người yêu nhạc Sàigòn.

Khi người ta yêu, cũng giống như khi người ta chết, có một thời họ ủ đau thương trên những dòng mực làm bằng máu lệ của mình.

Một lần, nơi Trung Tâm 3 Tuyển Mộ Nhập Ngũ, chúng tôi- những tân binh vừa mới rời mái ấm gia đình để tham dự vào một trò chơi mang ít nhiều nguy hiểm là chiến tranh- ngồi vây quanh nghe Dzũng Chinh đàn cho một người khác hát. Tôi không còn nhớ tên người hát, nhưng tiếng hát của anh ta thật ấm lòng. Anh hát liên tiếp hai bài. Bài đầu tiên là Những Ðồi Hoa Sim và bài sau là Phố Vắng Em Rồi (của Mạnh Phát). Giữa bóng tối nhá nhem buổi chiều vừa xuống, dưới tàn nhánh già nua của cây bả đậu, mùa thu đang thở hơi sương trên các rào kẽm, giọng ca của người ca sĩ bềnh bồng, cuốn hút.

Không biết người ca sĩ đó có phải là đệ tử của nàng Phù Dung hay không, nhưng lời ca quả tình mang hơi hám của khói và nhựa. Nó có khả năng lôi kéo người nghe bay lên ngang tầm với khổ đau và lạc thú cùng lúc… Nó cũng làm cho trái tim dù bầm giập cũng biết rung động và biết cười khóc với đời.

Mãi khi ra hải ngoại, tôi nghe giọng hát Tuấn Vũ, tôi biết quả có điều đó. Tất cả đều im bặt và nín thở nghe anh hát. Những lời ca tưởng chừng bật ra khỏi một thanh quản rướm máu hay cuộc đời vừa rướm máu? Tôi không thể lý giải được. Chỉ biết rằng từ đôi môi khô ráp vì khói thuốc và đôi mắt nhìn xuống hai kẻ ngón tay vàng ám, nơi điếu thuốc đang cháy dở dang, tình yêu đã nở hoa như cánh bướm màu hạnh phúc…

4.

Cuộc đời đang vàng phai theo những gió mùa, hôm nay ngồi ôn lại những bước tình đầu ái ngại của mấy chục năm về trước. Tình yêu và mộng ước cũng tan theo dòng đời. Lòng tôi không còn tươi mới để rượt đuổi theo bóng sắc mượt mà. Nhưng lửa tro than vẫn còn âm ỉ.

Ba mươi mấy năm sau, bất chợt gặp lại những người con gái cũ của trường xưa. Họ vẫn phơi phóng một tấm lòng của biển. Ðường phố Bolsa có đông vui nhưng lòng ai đã quạnh hiu một góc chợ chiều. Thời gian không dừng lại. Bên ly cà phê báo hiệu một đêm mất ngủ, vài mẫu chuyện gợi lại một khung trời hương mật và màu xanh của sóng đang lao xao trong mắt.

Một lần ngồi ở Starbuck’s (góc đường Brookhurst- Edinger) nhìn ra giao lộ đèn đỏ trùng điệp những đời xe mới toanh, nghe từ cuối một hành lang vọng lên bài hát. Quán cà phê Mỹ nhưng có nhiều người Việt Nam ngồi. Tiếng nhạc từ chiếc bàn kế cận không quen thuộc, nhưng dấy động một nỗi buồn:

Ngày xưa anh đón em
Nơi gác chuông chùa nọ
Anh bây giờ qua đó
Còn thấy chữ trong chuông
Em khoác áo nâu sồng
Anh một đời biền biệt
Tên em giờ tha thiết
Theo tiếng chuông chiều đưa…
(Phạm Thiên Thư/ Dấu Chân Chim)

Người con gái có tên Hoàng Hoa một thời tôi theo đuổi tại Vũng Tàu bây giờ đã đi tu. Tôi không biết duyên cớ nào làm nàng từ bỏ cuộc đời dung tục này để nương thân vào cửa Phật? Câu chuyện nghe có vẻ đượm mùi cải lương mang dấu ấn của Lan và Ðiệp. Nhưng tôi biết nàng vẫn từng hạnh phúc sau khi không còn đến trường. Tôi biết người chồng đẹp trai của nàng là Ðại uý Trần Bình Lâm. Sau 30 tháng 4 năm 75, nàng bươn chải bán thuốc tây ngoài chợ trời để nuôi chồng ở tù và nuôi mấy đứa con còn nhỏ. Ðôi lần tôi gặp Hoàng Hoa dắt xe đạp từ chỗ gởi xe, gần chợ chiều Vũng Tàu. Bên kia đường là biệt thự cũ bây giờ dùng làm trụ sở Phường Châu Thành. Nàng không có vẻ gì nhìn thấy tôi. Hay nhìn thấy tôi mà làm như không biết. Chiếc áo bà ba thay cho chiếc áo dài ngày thơ dại. Và đôi mắt đẹp buồn não nùng.

Mỗi cuộc đời đều giống như một dòng sông. Có khi sông vặn mình chảy xiết qua những ghềnh thác cheo leo. Có khi sông âm thầm nép kín sau những khúc quành. Sông ủ đời sông theo những ngày tháng lạnh của mưa và trong veo của nắng. Nhưng sông không bao giờ quay đầu trở lại thượng nguồn, mà chảy luôn về biển.

Mối tình một chiều của tôi, với Hoàng Hoa, giống như dòng sông vậy.

Ðêm đêm, lời kinh của nàng có làm sầu muộn thêm những đóa hoa sứ trong vườn Bồ Ðề? Ðêm đêm, tiếng gõ mõ của nàng có làm kinh động những cánh bướm mòn mõi giang hồ?

Tôi nghe người bạn học chung lớp của nàng từ Việt Nam trở qua kể lại. Hoàng Hoa giam mình trong một chiếc am nằm trên đường ra Ô Quắn (Au de Vent). Mỗi tuần, Trần Bình Lâm chạy Honda đem thức ăn chay cho nàng. Nàng hạnh phúc trong câu kinh tiếng mõ. Chờ đợi ngày hóa thân.

Nhớ xưa em rất dịu dàng
Hồn vang tiếng guốc mơ màng Hoàng Hoa
Em từ cõi Huế đi ra
Hương Giang bỗng mặn phù sa Vũng Tàu
Bây giờ em rất thanh cao
Áo xanh nay đổi áo bào Quan Âm
Đêm qua một đóa u trầm
Rớt trên kinh Phật tưởng lầm môi ai?

Tôi làm bài thơ ngắn có mấy câu coi như tạ lỗi hàng me đường Lê Lợi. Từ nơi đây tôi thơ dại và cũng từ nơi đây tôi khôn lớn với đời. Một đôi mắt đẹp đã sâu hút từ đêm Vũng Tàu vàng ấm mùa thi.

5.

Nơi căn phòng nhỏ nhìn ra sân mưa bên ngoài chiều nay đang ngổn ngang cành khô mà sáng ngày mai xe đổ rác sẽ đến dọn, tôi vừa biết thêm một cảm giác vội vàng khi tháng năm lao đi vùn vụt. Đâu rồi tia nhìn của lửa làm cháy bỏng đời nhau và sợi tóc còn vương lại trên chăn nệm? Những tình yêu phờ phạc cuốn hút cơn đau tuyệt vời và sau đó lìa nhau vĩnh viễn.

Có những giấc mơ chết non và bất hạnh ghim xuống lòng như một vết mực lầm lỡ. Một vài con chim đậu trên hàng dây điện như những nốt nhạc màu đen trên quá khứ buồn-(ý của nhà thơ Nguyễn Xuân Thiệp)- Người đàn bà có con mắt màu nâu và vành môi cong vút màu tulip vừa rời khỏi đời tôi hôm qua để bay theo những phù hoa. Bay theo biển dâu và nắng gió chói chang bên ngoài. Nàng đến không ồn ào và đi cũng không tiếng động.

Không ai tắm hai lần ở một dòng sông. Cũng như không ai học biết đủ một bài học. Tình yêu cũng vậy. Khi tình yêu đi qua ranh giới của thù hận và đắng cay, tình yêu tự nó sẽ chết.

Nơi căn phòng cũ trong ngôi nhà đường Heatherglen, trên chiếc bàn gỗ bên ngoài Patio đang thánh thót mưa thu, tôi vừa biết thêm một bài thơ hay của một người bạn ở Tennessee. Lời thơ không cần bia bọt hay cà phê nhưng vẫn làm ấm áp, dù thơ anh như muối xát trong lòng:

cây hồn anh, thôi lá rách cành hư
năm bảy trái tình chưa xanh đã rụng
qua thời đất chai tới mùa nước úng
tiếng chim hoài im lặng một đời cây
năm ngón thon dài hiền dịu bàn tay
ngón út cho anh đợi ngày vuốt mắt
những ngón ngoan kia lỡ cho người khác
(ôi tay em, chỉ một ngón đang buồn…)
(Hoàng Lộc)

Có chuyến xe lửa nào vừa từ một nơi chốn lạ về ngang qua công viên sau nhà. Những toa tàu kín bưng nhốt bao nhiêu tâm hồn thao thức một thềm ga?

Tôi luôn yêu mến và kính trọng những cuộc tình không tìm ra trạm xuống. Đó là những cuộc tình đẹp tay ba dù nó luôn ủ bằng nước mắt và tuyệt vọng. Từ những đôi tình nhân dù biết rằng phải lạc mất nhau nhưng không biết phải hóa giải bằng cách nào, họ vẫn cầm tay nhau đi với sự can đảm pha lẫn buồn rầu, trong khi sương mù mịt mùng phía trước…


Phạm Ngũ Yên

BUỒN TÊNH MƠ HỒ… .

mơ hồ nhớ
mơ hồ quên
mơ hồ mình
quán chênh vênh giữa trời
chênh vênh dốc quán giữa đời
bốn mùa mây trắng tơi bời phù hư

bốn mùa mây trắng tương tư
nỗi đau lả tả trút như phai vàng
như khi cõi mất thiên đàng
cái hôm sương khói cuối ngàn bỏ đi

cái hôm sương khói hàng mi
rưng rưng mắt ướt mưa chi mưa hoài
nghiêng đông trút nước nghiêng đoài
trút sông biển cách ngăn dài trần gian

ngăn hơi thở áp miên man
ngăn cung đàn tiếng mênh mang nguyệt cầm
thương mênh mang rưới môi trầm
yêu mênh mang rưới nhau đầm đìa trăng

đầm đìa gió buốt ăn năn
lùa cơn mộng vỡ tình lăn lũng rầu
tình lăn mấy độ đủ sầu
tình xa mấy độ thắm màu nhớ quên

mơ hồ ai khẽ gọi tên
phải người không
giọng buồn tênh
mơ hồ…

Hiền Mây

một hôm…

một hôm
ngồi trú quán mưa
một hôm
buồn chợt
như chưa có lần

một hôm
tình nhớ bâng khuâng
mà xa lơ lắc
đường trần dạo đi

một hôm
ngóng tiếng hoạ mi
hay đời đã mất
những gì thiệt hơn

mưa rơi rơi
cung giận hờn
mái rêu khói sóng
thức hồn
miếu hoang

áo hồng bay
gió bạt ngàn
tự tâm thấm mệt
ngày tàn lụn trôi

em về đi
cuộc tình rồi
trăm năm mưa có
thấm môi
cũng đành…

con chim lẻ bạn
đầu cành
hót lời ai oán
thất thanh bay ngoài

một hôm
ngồi
nhớ
mới hay
trong ta vừa mất
một ngày cộng thêm

chiếc lá thu
gieo chân thềm
hài xưa còn vọng
êm đềm
ngõ sau

hẹn em
hẹn
một thuở nào
như mưa đâu hẹn
âm chào
thiên hư…

Phạm Quang Trung

“GIANG HỒ VẶT” THỜI TUỔI NHỎ

Giang hồ ta chỉ giang hồ vặt,
Nghe tiếng cơm sôi cũng nhớ nhà.

*Phạm Hữu Quang

1.
Hồi tôi 11 – 12 tuổi, tức khoảng các năm1960 – 61, ba mẹ tôi ngụ ở quãng giữa đường Trần Quang Khải, khu Tân Định, thời đó vẫn thuộc quận Nhứt, đô thành Sài Gòn. Hằng ngày, ngoài việc đi học ở trường Les Lauriers bên đường Đinh Công Tráng, thỉnh thoảng tôi hay rong chơi loanh quanh các khu phố gần nhà. Tôi thường đi với vài đứa hàng xóm, có khi có cả Dũng, đứa em trai kế của tôi.
Tất nhiên, ở lứa tuổi thiếu niên của bất cứ thời đại nào, dù đi một mình hay đi với người cùng lứa, đứa trẻ nào cũng thường thích rong chơi theo ý riêng của mình hay do gợi ý của anh em, bè bạn, mà điều này thì khộng phải lúc nào cũng được cha mẹ tán thành và cho phép. Trường hợp quá đáng, trẻ sẽ bị khép vào lỗi hoang đàng, ham rong chơi. Riêng mẹ tôi, gốc người Nha Trang thì nói giọng địa phương là “quang”, thay vì “hoang”. Có lần bà nói:“Thằng con bà Ba quang lắm, dám một mình đạp xe ra tới xa lộ Biên Hòa…”. Mẹ tôi có biết đâu, tôi – thằng con lớn của mẹ, dù khi ấy chưa được ba mẹ sắm cho xe đạp, đi chơi theo ý riêng thì toàn lết bộ nhưng tôi cũng đã một lần lén đi bộ cả hơn 2 cây số mới ra đến cầu Phan Thanh Giản, Dakao, tức đầu xa lộ Biên Hòa, lúc nghe tin cái đại lộ lớn nhất Sài Gòn thời đó khánh thành (năm 1961).
Thật ưu ái cho bọn trẻ ham rong chơi bọn tôi, thời đó khu Tân Định – Dakao ngẫu nhiên có rất nhiều địa điểm đến chơi thì rất thú vị.
Đầu tiên là các rạp chiếu bóng, như bên Tân Định có rạp Kinh Thành ở đường Hai Bà Trưng, rạp Moderne ở đường Trần Văn Thạch (hồi đó rạp Văn Hoa chưa cất xong bên đường Trần Quang Khải); còn dưới Dakao có rạp Casino Dakao và rạp Asam cùng ở đường Đinh Tiên Hoàng. Không có tiền mua vé vào xem phim hay gặp phim xem rồi thì bọn tôi lân la ngắm ảnh các ngôi sao màn bạc treo trên tường hay các tấm pa-nô, bích chương quảng cáo các phim đang chiếu, sắp chiếu. Cũng có khi, gặp ngay lúc xuất chiếu sắp vãng, nhân viên rạp thường chịu chơi vén hoác màn sang bên cho ai nấy tha hồ chạy vô xem chùa đọan kết phim…
Cũng rất gây tò mò là các ngôi đình, cảnh chùa. Sát bên nhà tôi là đình Nghĩa Hòa, đặc biệt trong đình có gánh hát bội Công Thành Ban ăn tập tại chỗ và y trang nghèo nàn nhưng diễn tuồng Hồ Quảng rất hay; kế là đình Sơn Trà ở đường Nguyễn Phi Khanh, và đình Nam Chơn cùng ở đường Trần Quang Khải, đình Hòa Mỹ ở đường Trương Hán Siêu (cắt ngang chợ Dakao), đền Đức Thánh Trần Hưng Đạo (đúng hơn phải gọi là Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn) ở đường Hiền Vương và chùa Ngọc Hoàng ở đường Phạm Đăng Hưng.
Đã là con nít, tụi tôi rủ nhau đến các đền, chùa tôn nghiêm tất nhiên không phải để thắp nhang lạy Phật, lạy thần gì cả mà chỉ nhằm, hể gặp dịp lễ vía thì được coi ké hát bội và cảnh tế “học trò lễ”, còn ngày thường thì rờ rẩm các tượng Ông Cọp, Ông Thiện, Ông Ác…, riêng ở chùa Ngọc Hoàng thì tìm cách cho mấy con rùa nuôi ở hồ nước ăn lá cây hay hoa sứ.
Sau cùng, tụi tôi cũng thích mò vào khu Đất Thánh Tây và khu Đất Thánh Chà nằm đối diện nhau ở quãng đầu đường Hiền Vương. Cảnh trí mồ mã ở hai nơi này nhất định là vắng vẻ, tịch mịch, buồn hơn cả sân chùa, nhưng cứ coi như đây là những công viên cây xanh gần nhà bọn tôi nhất, nơi sẵn sàng cung cấp thật nhiều bóng râm và những mặt đá cẩm thạch mát rượi để nằm chơi, ngó mông lung lên trời xanh.
Ngày đó, có thể gọi tụi nhỏ rong chơi này là bọn vô-sản-chân-chính, bởi trong hầu hết các buổi rong chơi, chẳng đứa nào có đồng bạc nào trong túi, có khát nước khô cả họng thì cũng chẳng tiền đâu mà mua nước mía, nước sâm, nên cả bọn tìm cách giải khát miễn phí là ghé miệng vào các vòi nước công cộng trong các chợ hay ở phông-tên nước công cộng duy nhất thời đó đặt ở gần ngã tư Trần Quang Khải – Đinh Tiên Hoàng cho người dân gánh nước xài. Còn các mâm trà tiếp khách trong các đình, chùa thì tụi “khách” thiếu niên không hề dám hỗn mà rớ vào. Họa hiếm là khi đứa nào cũng có được vài đồng thì tụi tôi kéo nhau đi nhấm nháp những món đồ lạnh, đổ chua cay thật khoái khẩu ở hãng kem Vi Bổn gần chợ Dakao, tiệm thạch chè Hiển Khánh sát bên rạp xi nê Casino Dakao hay xe gỏi đu đủ – thịt bò khô gần cổng trường tôi học ở ngã ba Đinh Công Tráng – Lý Trần Quán.

2.
Đến tuổi trưởng thành, tôi mới biết cái kiểu bọn trẻ tụi tôi đi chơi rong gần gần nhà, kiểu muốn đi là đi, cảm thấy thích là rủ nhau đi, không cần chuẩn bị gì trước… nhiều người – nhất là giới văn nghệ, viết lách – có thể gọi vui là “giang hồ vặt”, có điều là “giang hồ vặt” đúng nghĩa thì mức độ tùy hứng cao hơn nhiều, cũng như đã là người trưởng thành mà có máu thích “giang hồ vặt’ thì thì hiếm ai ngại những chuyến đi đi dài ngày và đi xa nhà, cũng chẳng sợ phải lên non xuống biển, lặn lội chốn đất khách, quê người.
Tuy nhiên, hồi đó dù chỉ là bọn trẻ ham vui, tập sự “giang hồ vặt”, rong chơi gần gần nhà với điều kiện phòng thân sơ sài, bọn tôi đã từng gặp phải chuyện không hay ngoài đường phố, tất nhiên lúc đó không có cha mẹ, người lớn nào bên cạnh.
Như có một buổi chiều, tôi và em Dũng mò vô đất Thánh Tây chơi, lúc quay về đến đường Hiền Vương thì trời đổ mưa lớn bèn chạy vào đục ở mái hiên trường mẫu giáo Michelet. Hai anh em ướt sủng và lạnh run, em Dũng còn bị trượt chân ở một bậc xi măng ngã nhoài đến chợt da bàn chân, đổ máu nên khóc mếu máo. Mưa lớn, sấm chớp đùng đùng, trời tối rất nhanh, anh em tôi bối rối cùng cực, nhưng cái đáng sợ nhất lại chính là … nỗi sợ hãi đủ thứ chuyện, sợ đến quên cả chuyện hai đứa đang vừa đói vừa khát. Một là sợ bị ba mẹ phạt cái tội đi không kịp về nhà trước sẩm tối, hai là sợ phải đến tạnh mưa mới có thể chạy được về nhà thì như thế cũng sẽ rất trễ, chắc chắn sẽ bị đòn nhiều hơn, và ba thì chắc là nặng tội hơn hết: vết thương chảy máu ở chân em Dũng, chắc chắn sẽ khiến thằng anh là tôi mắc thêm tôi dắt em đi hoang, để nó té…
Mãi đến ngày nay, tuổi đã “thất thập cổ lai hi”, trí nhớ mỏi mòn nhưng tôi vẫn nhớ như in nỗi sợ kinh khủng của mình thời niên thiếu ấy.
Trong cơn mưa tai kiếp ngày ấy, cậu nhỏ 12 tuổi tôi đây đã khổ sở cảm nhận sao cuộc sống quá khó sống đến thế. Tôi đã quá chán nãn, tự nhũ một là sẽ không bao giờ đi chơi đâu nữa, hay ít ra có đi cũng không dắt thằng em theo, phiền quá; hai là tôi đã chợt thấy nhà mình ở quả là một nơi chốn quý giá hết sức, vì ở đó bình an nhất, vừa ấm áp vừa khô ráo, không có mưa gió lạnh lẽo, ướt át, không có tại nạn té ngã đổ máu. Cái đầu óc thơ ngây của tôi còn nghiệm ra một điều nữa đã khiến cái nhà mình ở bao giờ cũng có ý nghĩa quan trọng hàng đầu trong cuộc sống, đúng là nơi chốn tốt đẹp nhất trên đời – đó là: nhà mình ở luôn là nơi bảo đảm cho mình được ăn được uống, khỏi bị những cơn đói khát hành hạ. Thì ở cái tuổi đang lớn háo ăn khi ấy, cứ chiều xuống là tôi luôn đói bụng rất sớm trước giờ ăn tối.

3.
Thời đó, có vài dịp khác nữa giúp tôi sớm hiểu ý nghĩa của mái ấm gia đình. Như hồi mùa Tết tôi được 12 tuổi, vào sáng mùng 2 , như thường lệ mẹ tôi cho phép chị nấu bếp được nghỉ để về nhà ăn tết và quay lại làm việc vào mùng 4 hay mùng 6 tùy năm. Trước Tết chị bếp có kể sơ cho ba mẹ và anh em tôi nghe về căn nhà của gia đình chị nằm ở một con đường rất đông người Hoa trong vùng Chợ Lớn,. Chị mô tả ngày Tết chỗ này rất vui vì có múa lân xập xình cả ngày và các hàng đồ ăn uống, bánh trái – nhất là xe hủ tíu – cùng các sòng bầu cua cá cọp hoạt động tới khuya luôn. Riêng ở nhà chị thì anh chị em, bà con về nhà chơi Tết, mừng tuổi ba má chị rất đông. Chị bếp đã cười, nói với tôi “Nè, cậu hai có muốn theo về nhà chị cho biết tết trong Chợ Lớn của người Tàu vui cỡ nào hôn? Một bữa thôi mà. Cậu ngủ lại đêm mùng 2 rồi sáng mùng ba chị đón xe cho cậu về nhà thì vẫn còn Tết chớ. Nếu chịu thì xin phép ông bà chủ đi, chị dẫn câu đi”. Kết quả là mẹ tôi chuyển ý kiến từ “không”sang “có” khi nghe nhận xét phóng khoáng của bố tôi, rằng “Đúng là từ trước tới nay vợ chồng mình chưa hề dẫn các con vô cho biết Chợ Lớn lần nào. Thôi thằng Hòa cũng hơi lớn rồi, cho nó lần này đi chơi Tết một mình, xa nhà 1 ngày 1 đêm xem sao. Để nó đi một đàng học một sàng khôn mà em!”. Mẹ tôi cho tôi thêm một ít tiền để “muốn ăn gì ăn” đồng thời dặn tôi rất kỹ rằng phải lễ phép chào hỏi người lớn, khi ai đó cho lì xì thì nói “cám ơn” thôi, không được nhận và không được đem tiền đánh bầu cua.
Vậy là mùa Tết năm 12 tuổi, do quá tò mò đối với vùng Chợ Lớn, tôi đã làm chuyến rong chơi, gần như giang hồ vặt đầu tiên đời mình, dám tìm đến một nơi chốn hoàn toàn xa lạ với mình. Khoảng 9 giờ sáng mùng 2, xe xích lô máy vừa chạy đến gần khu phố nhà chị bếp thì đã nghe vang lên tiếng trống và thanh la múa lân chụp chụp cheng cheng rộn rang, đường phố thì đang rất đông người dạo chơi, buôn bán, ăn uống, xả rác. Bước vào nhà, chào hỏi người lớn vừa xong là tôi bị người này người nọ gợi ý, thậm chí là ép ăn, uống đủ thứ món ngày Tết. Sau một đỗi ngồi nhìn gia đình nhà này gầy một sòng bài nhỏ, ồn ào chơi bài cào, bài phé gì đó, tôi xin phép bước ra đường dạo chơi một lát. Tôi được đi một mình, do chị bếp muốn dẫn tôi đi nhưng vừa lúc có mấy đứa em của chị đến chúc Tết. Chị phải ngồi lại để tiếp khách nhưng cố gắng dặn tôi không nên quá xa khu phố trước mặt nhà, đồng thời hễ đói (?) thì đã có sẵn mâm cơm cùng bánh trái ở nhà dưới, cứ một mình thoải mái giở lồng bàn ra lấy ăn thoải mái, còn hể buồn ngủ thì đã có cái ghế bố trải ra sẵn ở gian phòng sau.
Đường phố Chợ Lớn ngày Tết thật vui vẻ, náo nhiệt. Nhiều nhà người ta chỉ mở hé cửa do vẫn còn nghỉ buôn bán, làm ăn nhưng ngoài đường thì đông nghẹt người và xe cộ, đồng thời trong nhà gia đình chị bếp cũng đang rất vui nhộn vì đông người và nhiều trò vui chơi. Nhưng tôi lại cảm thấy rõ ràng là dù ngoại cảnh xung quanh mình vui nhộn như thế và dù mình đang có tiền đầy trong túi, muốn ăn uống thứ gì cũng có, mình vẫn đang không hạnh phúc, trái lại còn bị rơi vào một nỗi cô đơn, cô độc rất to tát và sâu đậm.
Buồn quá, tôi tưởng tưởng giờ này ba mẹ ở nhà đang dọn ra bữa cơm mùng 2 Tết vô cùng thịnh soạn, đặc biệt có hai món tôi vô cùng ưa thích, vào ngày thường chỉ có trong các đám giỗ, đó là giò heo hầm măng khô và thịt đông ăn với dưa cải chua, và hể ngồi vào bàn là y như rằng mẹ tôi sẽ âu yếm múc ngay vào chén tôi cái móng heo nhiều gân sụn, cũng vốn là món hảo lâu nay của tôi. Hình ảnh bữa cơm gia đình ngon lành, ngọt ngào thương yêu như tôi mới tưởng tượng đã giục tôi sớm lên tiếng báo với chị bếp là muốn được quay về nhà ngay sau bữa cơm trưa.
Vừa ngạc nhiên vừa thất vọng về kết quả ít ỏi, nghèo nàn của cái gọi là “Tết người Tàu trong Chợ Lớn” đối với cậu nhóc mà mới hôm qua đã tỏ ra rất háo hức được “vô Chợ Lớn”, chị bếp đành gọi một chú xích lô máy quen, hàng xóm của gia đình. Người phụ nữ tốt bụng đã dặn chú xích lô máy rất kỹ càng, chi tiết về vị trí nhà ba má tôi trên đường Trần Quang Khải, quận 1, cũng như khẳng định tiền xe do chị trả sau, chú chạy xe khỏi nhận từ ba má tôi.
Vâng, nếu chuyện “giang hồ vặt” thường được người ta quyết định thật nhanh chóng, tùy hứng – cảm thấy thích là lao vào, không thích nữa là dạt ra, không chút do dự, cân nhắc gì – thì vào năm 12 tuổi, tôi đã rất hồn nhiên, thơ ngây, nặng trỉu cảm tính khi bắt đầu và kết thúc đều thật chóng vánh chuyến đi có thể tạm gọi là “giang hồ vặt” đầu tiên của đời mình.

PHAM NGA
Tháng 5-2018

NGỦ GỤC ĐẦU NĂM

Ngồi mơ một khúc đoạn trường
Tỉnh ra thấy khói pha sương nẻo về
Bước đời chập choạng u mê
Một tôi ớn lạnh nhớ quê sặc sừ

Đêm đầu năm mới tối hù
Câu kinh tiếng kệ lu bu vọng hoài
Cũng bon chen một hình hài
Và vô độ muốn kéo dài dương gian

Tìm gì ở cõi hỗn mang
Thấy trong đám bụi xà quần tôi bay

VĂN CÔNG MỸ

Đêm Âm Hồn

(Kính dâng hương hồn nhà thơ Đinh Hùng,
bởi Người là ánh sáng của bài thơ này.)

Đêm thả tóc tai sầu hoang vu
Thưa em, có đôi mắt sa mù
Trái tim có đủ trăm tình nhớ
Có đủ nghìn đời điệu hát ru.

Buổi tối em nằm giỡn với trăng
Che tay bộ ngực đẫm tình xuân
Tôi mê man ngủ trên mồ lạnh
Những sợi tóc dài treo hỗn mang.

Gõ cửa đời em – trời đớn đau
Đêm chong đèn nói chuyện tình sầu
Thưa em, con gái đầy hương sắc
Bạc mệnh lâu đời dưới đất sâu.

Tôi khóc cho vầng trăng vỡ đôi
Áo xiêm mỏng dánh – tình lả lơi
Lỡ em còn nhớ ngày xưa đó
Một chuyến tàu đi xa cuộc đời.

Tôi cắn lên môi, em giật mình
Ngực em gợn sóng cõi u minh
Khi trăng vừa tắt bên mồ lạnh
Thì lệ trên trời chảy lung linh.

Em xõa tóc dài lên nhánh cây
Hồn ma trở lại kiếp lưu đày…


PHẠM HỒNG ÂN

ĐÀ LẠT CHỈ CÒN TRONG HOÀI NIỆM

Tôi sinh ra và lớn lên ở Đàlạt. Tự hào là dân Đàlạt.

Tôi quen thuộc ( tới nỗi, bây giờ vẫn còn nhớ, như in) những con đường, những góc phố, từng viên gạch rong rêu đóng bám, từng vết lở chân chim trên cầu thang Chợ Mới. Cây Phượng Tím ở quán cà phê Hạnh Tâm trên đường từ bờ hồ Xuân Hương vào bùng binh Chợ. Hàng Mai Anh Đào dọc dường dốc Thành Thái. Quán Phở Ngọc Lan danh bất hư truyền (tái ngầu nạm thêm một chén mỡ hành trần béo ngậy nóng sốt) ở bên cạnh ấp Ánh Sáng khi còn có một khoảng rộng làm bến xe Đàlạt liên tỉnh ( hầu như độc quyền là hãng xe Minh Tâm). Quán mì quảng đặc biệt tô “xe lửa” ( to chưa từng thấy to so với những quán mì Quảng Đàlạt) chiêu khách thêm là những lát chả lụa xắt mỏng và một hủ ( cũng quá chừng to) củ hành ngâm giấm. Khách hàng cứ thoải mái gắp bỏ vô tô bao nhiêu cũng được, không giới hạn, không nói lời hành tỏi và không hề, dù chỉ một giây phút, dòm ngó canh chừng). Quán nằm ở trước bến xe Lam, sau lưng nhà thuốc tây Hoàng Hy Tuần ( nghe nói mà cũng chính xác, là thân phụ của nhà thơ Hoàng Anh Tuấn), ngó qua bên phải là cà phê Tùng..

Là dân Đàlạt hay là chỉ ghé lên đổi gió ( nói là đổi gió cũng chỉ là cách nói quen, thật ra là lên để hưởng cái lạnh se và ngắm nhìn sương mù lung linh huyền ảo núi đồi phố xá và, đặc biệt, có dịp được mặc chiếc áo laine) ai mà không có một lần ghé tới cà phê Tùng. Nhất là mấy anh sinh viên sĩ quan Võ Bị Đàlạt ( với mấy chàng trai này thì phải gọi là cà phê Tuần [thay vì cà phê Tùng] vì lẽ chỉ cuối tuần, ra phép, mới ghé vào ). Đi tới một khoảng là vừa nhà hàng vừa quán cà phê Chic Shangai. Đi tới nữa, vượt qua đầu dốc Minh Mạng là lò bánh mì Wĩnh Chấn, ngược xuống dốc Duy Tân một đoạn rất ngắn, rẽ trái, là khu Đoàn thị Điểm chuyên bán chè ngọt. Ai đó, đã có một thời, có dắt người mình yêu tới quán chè Kê Bánh Tráng Mè của mệ Xứng không ?. Rồi, ngày mưa, ghé qua đường Tăng Bạt Hổ mà ngồi chờ cái bánh Xèo giòn rụm ghém rau cải non (mới đúng điệu chớ rau sà-lách của Tây bỏ giống lại thì chưa thiệt là bánh Xèo Đalạt quê tôi). Rồi, có qua quán Mai Hường múc muỗng nhỏ (nhỏ thôi, muỗng to là phủi lòng Đàlạt ) chén chè bông cau. Rồi, có lên đầu dốc Minh Mạng uống ly (cũng ly nhỏ thôi, ly vừa thì cũng coi là tạm được, nhưng ly lớn thì e là làm khó cho Đàlạt mắc cở chuyện lấy hương lấy hoa) trà Sâm ngọt ngào thanh cảnh. Rồi, có xuống khu Ngọc Hiệp (vì có rạp hát Ngọc Hiệp nên gọi thành quen) ghé vô xe mì sợi của ông Tàu Ngọc Hiệp ( tô lớn cũng không, tô nhỏ cũng không, chỉ tô vừa vừa). Để sau này, khi dời xa, cũng vừa vừa thương vừa vừa nhớ cái ngọt dịu đầm thấm của hương vị “nước lèo” trong như nước lã mà ngọt dịu, đậm đà không tìm nơi nào có được. Nhớ ghé quán phở Ngọc Hiệp, mà phải chịu khó chờ để giành cho bằng được chỗ ngồi kế bên lò lửa, vừa xít xoa vừa xoa tay xua không khí rét lạnh trời đêm để đón nhận cái nóng ấm của lò than rực hồng đang làm sôi nồi nước phở. Ngồi ăn tô phở nóng bên lò than rực hồng giữa trời rét lạnh, thiệt không có thú nào bằng. Ngó xéo qua bên phải, ngày xưa khi tôi còn là chú học sinh lớp Đệ Lục trường Trung học công lập Trần Hưng Đạo, có dịp được đi ăn cháo và xôi vịt ở quán Như Tĩnh. Bên hông quán có con đường hẻm dẫn vào quán Mì Quảng Tân Bình một thời nổi tiếng. Tô mì , nhỏ thôi, nhưng hương vị đặc biệt khó đâu sánh bằng. Mỗi lần ghé lại, hầu như khách hàng ai cũng “làm tới” hai tô, mới đã đời !.

Sau này, tiệm cháo vịt không còn nhưng quán mì Quảng thì cứ vẫn còn bám trụ. Tôi có lần ghé và “làm tới” hai tô trước lúc rời xa quê hương Đàlạt. Nghe nói, bây giờ, quán vẫn còn…

Đó là (chỉ nói sơ qua ) nên còn thiếu sót rất nhiều nơi chốn, phồn hoa đô hội. Còn chỗ thôn quê dân dã thì tôi từng ghé qua không biết bao nhiêu lần. Đặc biệt, ở Xóm tôi có quán phở Vịt một thời vang dội tiếng tăm cây-số-Bốn. Hai ngày cuối tuần, hàng xe nối dài dọc góc đường Hai Bà Trưng&La Sơn Phu Tử chỉ để chờ tới phiên được ngồi trước tô phở vịt. Tô phở bình dân chỉ với nước trong, vài miếng thịt vịt, nhúm hành ngò nhưng khi nếm vào mới thấm đậm hương vị khó mà diễn tả. Chỉ một lần thưởng thức là ghiền…tới trăm năm !

Tiếng gọi là quán nhưng chỉ che tấm vải bạt che nắng và khoảng trên mười chiếc ghế đẩu. Mỗi lượt người ăn xong đứng lên là đợt người sau nhích tới…Chủ quán , dù là người cùng Phường cùng Xóm, nhưng mọi người không biết tên ông nên chỉ gọi thành quen là ông Ba Vịt. Sau này lang bạt kỳ hồ, dù rất cố công tìm kiếm nhưng không nơi chốn nào tôi tìm thấy tô phở vịt. Vậy là phở vịt, duy nhất, chỉ có ở Xóm quê tôi. Ai đã từng ăn qua tô phở vịt chắc là không quên một thời đã chờ chực tới phiên mình được ngồi trước tô phở vịt giá rất bình dân, nóng hổi thơm lừng, ở cây số Bốn thành phố Đàlạt.

Món phở vịt giờ đã thất truyền từ ngày bác Ba Vịt nằm xuống. Không biết chị Vi có được Ba của chị truyền nghề lại không !

Rồi còn trái bắp nướng thoa mỡ hành béo ngậy rải rác bày bán ở các ngả tư đường trong mùa rét lạnh. Tụ tập đông vui nhất là ở trước rạp chiếu bóng Ngọc Hiệp cuối dốc Minh Mạng.

Gói đậu phụng mặn ngọt nóng hổi của ông Tàu dáng người dong dỏng luôn mặc bộ quần áo trắng, đầu cũng đội chiếc mủ trắng, dắt chiếc xe đạp, phía sau có hai thùng đậu phụng rang nóng dòn, đi lên đi xuống ở dốc đường Minh Mạng. Gói đậu phụng đã , một thời, làm thêm duyên dáng mặn mà cho những cặp tình nhân, cũng, dưới tiết trời se lạnh về đêm Đàlạt.

Đàlạt, những tháng ngày xưa có biết bao thi vị viết hoài không hết .Cho dù đi xa góc biển chân trời vẫn cứ giữ gìn nỗi nhớ khôn nguôi.

Vậy mà bây giờ đã đổi thay, xóa dấu đến phụ phàng !…

TRẦN HUY SAO

Thơ PHƯƠNG UY

CHIỀU NHỮNG NGÀY KHÔNG EM

khi em mang giấc mơ ra đi trong ngày an nhiên nắng
Anh đã đánh mất đứa trẻ trong mình từ thuở xưa xa
Góc phố lặng lờ thả trôi một giai điệu vô trùng
Chuyến bus chiều không ai đón đợi
cuốn theo gió phù hoa.
Em mang giấc mơ ra đi trên con đường không hoài niệm
Anh lơ ngơ nghe mùa rớt trên tay
bàn tay trống
Buổi chiều giận hờn không thèm trò chuyện
lê thê trôi và rớt xuống khoảng ngày.
Anh đã không kịp chuẩn bị mình cho những ngày không em ấy
Tháng năm tươi nguyên cho một sự phí hoài
cái nhìn cuối không lời kí thác
Lật nỗi nhớ lặng thầm nghe thoái hóa hư hoai.
Buổi chiềunhững ngày em ra đi
Mây xộc xệch bầu trời phố
Trăng nhợt nhạt mọc sớm không màu
mang nỗi hư hao.
Tiếng thở dài ngắt hụt
lẩn lút sau lời kinh nhật tụng
Anh rót niềm vô nghĩa ngàyxuống rêu khan cổ họng
Những gân lá thều thào
kêu gào bằng tiếng radio cũ
mang mùi hương của quá khứ lãng quên.
Chiều những ngày không em….

KHÚC VÔ NGÔN THÁNG TÁM

Mùa lặng lẽ theo mùa
rơi qua âm u tháng Tám
Bỏ lại anh lạc lõng phía câu ca không lời
Dẫu hồn nhiên đứng lơ ngơ giữa ngã tư, ngã năm , hay ngã bảy
Vẫn nghe lòng lưa thưa vắngmột mình thôi.
Mùa đang bão rớt
Hiếm hoi ngày chút nắng xanh xao
mặt trời ngủ quên
mặt trời không hát.
Chút ấm áp bên em giờ cũng hư hao
.Anh lạc giữa muôn phương ngã tư đường tấp nập
Lạc điệu trên tay bài thơ cũ vô ngôn
Nghe chữ nghĩa biến thiên theo mùa gió rớt
Anh lao đao.đi nốt những đoạn buồn.
Anh đã sáng lóa tình yêu bằng muôn trùng ảo tưởng
Như lũ ve gào mùa bất lực đẫm mồ hôi
Để một ngày thảng thốt nhớ ra
mình chỉ là làn khói xưa đi lạc
Rồi đã biến tan như chưa từng đến bên người.(*)
Đêm hạ huyền nghe sương rũ trên nhánh trăng liềm khép mắt
Anh lẫn lộn giữa nỗi buồn và nỗi nhớ em
Nghe trên mái nhà cơn gió cô đơn của mùa áp thấp
Thổi lặng câm cơn độc thoại cũ mèm
P/s: (*) Hà Mây – Cuộc tình ấy, tự vẫn hôm qua.

ÂM VỰC ĐÊM
Anh không tìm ra được căn nhà của anh
Trong giấc mơ đêm qua
Tâm sự trùng trùng
anh quên mất lối?
hay thời gian vụng về ăn mất ngày xa?
Đêm qua
Có cơn mưa rất nhẹ
Anh treo mình giữa lơ lững thâm căn
Gấp giấc ngủ vùi trốn trong khoảng tối
Bộ nhớ báo đầy không chứa nổi một vành trăng.
Tháng Bảy khăn gói ra đi
Theo bậc thềm rêu xanh
trơn tuột
Không một lời kí thác
Bằng sự lãng quên
Không đính chính
Bằng tờ lịch úa vàng
Gấp trong chồng sách cũ
Khúc thiên di…
Anh vẫn chạy lòng vòng trong giấc mơ
tìm căn nhà của anh
những con đường rậm rạp kí ức ám thị
Tiếng vĩ cầm khe khẽ vang lên từ thánh đường rất gần
Luênh loang âm vực xanh
Trong những tế bào thần kinh ẩm mục
sự đứt gãy
phiến môi già nua
Ngấm mùi hương vãng phai
Đêm di cư về sáng
Tiếng động cơ và tiếng chuông điện thoại
giật giọng làm nứt toạc giấc mơ…

NGÀY HÔM QUA

Những đứa trẻ trong anh đã lớn quá nhanh
Và dễ dàng đánh mất những ngày phía trước
Anh không thể biết trước ngày mai có gì
Và cũng không cách nào trốn tránh
Chỉ biết rằng ngày mai sẽ không có em
Không kịp một nụ hôn chuẩn bị cho ngày cất cánh.
Anh vẫn mò mẫm mỗi ngày đi về phía trước
Con đường ngoằn ngoèo, ngoắt ngoéo
Dưới nắng ban mai và dưới mưa chiều xa
Rập rùng hàng ngàn bầy dấu chân lạ
Anh không biết rằng đã hết ngày hôm qua.
Anh để rơi dọc đường những ánh mắt trẻ thơ thảng thốt
Rồi ánh mắt đau đến dại khờ ngày em biệt ly
Ánh mắt mỏi mòn trong ngày qua chậmkhông thấy em về
Mà anh thì vẫn xa em như thế
.Để mây nhuộm đen mút một góc trời
Trời không nắng phía em phơi.
Anh đi qua tháng Bảy
trên những con phố lộng lẫy
tạp âm buồn
Em phơi lãng quên ngày mưa tuôn
nên ngày sũng nước
Hóa giọt buồn xiêu lạc
Đẫm nụ hôn đau…

Phương Uy

Dạo Khúc 40

Tôi sẽ không nói với ai về nỗi buồn này
Cho dù đêm nay trầm hương đã cháy
Và linh hồn ướt đẫm rượu say…

Tôi sẽ không nói với ai
Về những gì tôi đã nhìn thấy
Sau chuyến viễn du dài
Tới miền xa khơi
Mắt xưa vời vợi
Không lời…

Tôi không để cho ai nhặt được
Bông hoa úa tàn
Kẻ nào để lại
Trong lòng dĩ vãng
Dĩ vãng nào cũng đẹp như vàng…

Tôi sẽ không kể cho ai nghe chuyện tình dị kỳ
Công chúa Bạch Vân và tài hoa thi sĩ
Dù biết rằng bầy ma và lũ quỉ
Chẳng bao giờ lấy được mối tình đi

Tôi không cho ai nghe tiếng khóc lạc loài
Của con nai rất nhỏ – rất thơ ngây
Đêm qua lạc mẹ
Xa bầy…
Rừng thiên thai lửa cháy ngập trời…

Đêm nay trầm hương tan nát khói
Chén rượu này tôi uống chỉ mình tôi

Nguyễn Quang Tấn

Hình Hài Chiều Lá Bay,

Ta về từ gió bão
Tuổi trẻ nào qua đi

Như mới từ hôm qua
Về đây cây đã già
Nghe đời xanh hóa vội
Đường về gần cõi xa

Ra đi từ bôn ba
Rong đời qua dâu bể
Về ngang cây bóng xế
Thấy chiều như bóng ma

Đi quá ngày xót xa
Bình minh ngày đã tàn
Nghe chiều lên hấp hối
Chút tự tình phôi pha

Có qua đây giông tố
Như xoáy nào cuốn lên
Mây gió thành cuồng nộ
Bay muôn trùng mũi tên

Lòng ta hay cơn gió
Có như là mây bay
Những đường bay bé nhỏ
Chết bên trời có hay..!

Dấu điêu tàn chưa phai
Còn chút yêu dấu này
Chết nơi ngày viên tịch
Hình hài chiều lá bay

Hoa Nguyen