NGƯỜI CÙNG XÓM ĐÌNH

Chị Hẹ cầm tay tôi, nài nỉ :

– Em tới đó, gặp riêng anh Tấn…

Chị nhìn quanh quất rồi ghé sát tai tôi, nói nhỏ :

– …nói với anh Tấn là ra chỗ cũ, chị muốn gặp.

Thấy tôi còn ngần ngừ chưa hiểu, chị dặn thêm :

– Thì cứ nói ra chỗ cũ là anh biết liền. Nói chừng nớ thôi nghe. Mà nhớ đừng có cho ai biết là chị nhắn.

Tôi nhìn chị, thắc mắc :

– Nhưng mà anh Tấn là ai, em có biết đâu !

Chị Hẹ ngẩn người một thoáng rồi nhìn tôi cười :

– Ừ hỉ ?. Chị quên. Là anh Bòi Anh đó. Em biết rõ quá mà !

Tôi không giấu nổi vẻ ngạc nhiên :

– Ủa, anh Bòi Anh là anh Tấn đó hả ? Tên chi mà lạ hoắc, ai biết.

– Thì tên trong giấy tờ khai sanh đó. Mai mốt anh “ ra ràng” rồi, bộ cứ gọi tên cũ hoài, dị chết. Như chị đây cũng rứa. Chị…mà thôi, em đi đi. Trăng lên cao rồi, sợ khuya. Nhớ là đừng nói với ai nghe, giú kín cho chị.

Rồi thấy tôi còn đứng tần ngần, chị hiểu ý, dỗ dành :

– Mai ra quán, chị để dành cho hai tán đường.

Tôi kèo nài :

– Bữa trước hai tán, bây chừ phải thêm một nữa là ba. Mà đường đen hay đường vàng đây chị ?

Chị Hẹ “xì” một tiếng nhẹ, đẩy vai tôi, hối thúc :

– Cái thằng ni ! Thôi, đi đi cho mau. Ba bốn chi cũng được. Đường vàng đó, chịu chưa ?

Tôi cười, gật đầu rồi chạy vòng qua đầu con dốc.

Trăng sáng vằng vặc, trải ánh vàng trên con đường xóm nhỏ. Cảnh vật thanh vắng, nghe rõ tiếng dế kêu trăng hai bên đường. Tôi nhắm hướng có ánh đèn manchon từ xóm dưới. Anh Bòi Anh ( í quên, anh Tấn) đang sinh hoạt thanh niên thanh nữ ở đó. Cả tuần nay, mấy anh mấy chị lo tập dượt văn nghệ ráo riết để chuẩn bị tổ chức buổi lễ đưa tiễn đám thanh niên trong xóm lên đường thi hành Quân dịch. Làng trên xóm dưới, đi đâu cũng nghe bàn tán chuyện tòng quân, nhất là mấy anh thanh niên vào độ tuổi. Vừa rồi chị Hẹ nói anh Bòi Anh ( í, lại quên nữa, anh Tấn) “ra ràng” là vậy đó. Tại vì Ba của chị chuyên nuôi bồ câu. Ông có tới bốn cái chuồng cao nghệu đặt ở bốn góc nhà. Chuồng nào cũng được sơn phết màu mè sặc sở. Bồ cầu bay lượn từng đàn tấp nập suốt ngày. Ông thích thú và tự hào có đàn bồ câu mà theo Ông thường nói là đông đảo không chỗ nào sánh bằng. Một số đông người trong Xóm cũng lấy làm thích thú lắm. Nhưng mà không đủ can đảm để tự hào vì lẽ rình bắn bồ câu ăn thịt thì tự hào cái nỗi gì !

Chị Hẹ bắt chước Cha, nói gì cũng nhớ tới mấy con bồ câu. Nhiều chữ chị nói nghe lạ tai nhưng mà cũng có lý.

Chim đủ lông đủ cánh rời khỏi tổ tự kiếm ăn gọi là ra ràng.

Anh Tấn bây giờ cũng đã đủ sức lớn khôn để rời bỏ cái xóm nhỏ mà đi thì cũng giống như con chim bồ câu ra ràng chớ khác gì!

Anh vốn không phải là người trong Xóm. Trước sau anh cũng chỉ là người ăn nhờ ở đậu. Tôi nghe những người lớn kể lại, anh được chú Hai Mộc đem về nhà khi anh còn rất nhỏ, đâu khoảng một hai tháng tuổi gì đó. Chú giải thích với mọi người là lượm được anh bên cạnh đường khi chú trở về sau một chuyến làm ăn xa. Chú không đành tâm đi thẳng nên đem anh về nhà. Lời giải thích còn có nhiều nghi vấn, nhất là đối với thím Hai, người vợ đanh đá chua ngoa của chú. Trong một khoảng thời gian khá lâu, thím làm hành làm tỏi chú đủ điều. Chú chịu không nổi nên có ý định đem thằng bé gởi cho Bà Sơ nuôi nấng giùm. Một buổi sáng, chú bọc thằng nhỏ trong chiếc áo len, quày quả ra đi. Vừa đi vừa khóc. Lên tới

ngọn đồi nơi có ngôi nhà thờ lớn thì thím Hai rượt theo níu lại. Hai vợ chồng giằng co thằng bé một đỗi lâu. Cuối cùng chú đành để cho thím đem nó về. Từ đó, chuyện xưa thím không hề nhắc tới.

Anh Tấn ở với chú thím cho đến mười lăm tuổi thì chú, rồi sau đó tới thím, lần lượt qua đời. Anh trở thành đứa con chung của Xóm. Nay nhà này, mai nhà kia quanh năm suốt tháng. Miếng cơm đổi lấy từ những công việc nặng nhọc của một người ở mướn làm thuê. Như loài cỏ hoang trên đồi Trọc rừng Ngo, tự định đoạt lấy đời sống của mình.. Tính tình anh vui vẻ hoạt bát. Hình dong coi cũng ưa nhìn. Chị Hẹ ngó bộ ưa nhìn anh nhất. Không chừng anh chị có tình ý với nhau cũng tựa như con chim bồ câu trống với con chim bồ câu mái “gù” nhau. Tôi bật cười với sự so sánh ngộ nghĩnh này, suýt nữa táng đầu vô cái cổng Đình.

Anh Tấn đang bận sắm vai diễn trong một vở kịch, tôi phải đứng chờ. Vở diễn cảnh người con trai lên đường thi hành Quân dịch, người con gái bịn rịn tiễn bước chân đi. Vai nữ là chị Bưởi. Hai người đang diễn cảnh bịn rịn cầm tay nhau mà thề non hẹn biển. Có anh Trai đứng phía sau nhắc tuồng. Những câu hẹn thề mùi mẫn với lại cái cảnh cầm tay nhau thân mật, tôi thấy nó …động trời quá ! Chuyện trai gái của hai người sao lại đem bêu riếu cho mọi người cùng biết ?.

Chị Bưởi lại lớn hơn anh Tấn 5, 6 tuổi, đã có chồng con. Chồng chị là anh Thuận thợ mộc. Lấy nhau do hẹn ước của hai gia đình từ khi anh chị còn nhỏ. Lời thề hẹn đá vàng không được thốt ra từ tình yêu trai gái mà từ tách trà chung rượu bằng hữu chi giao. Chị ngồi xuống nơi cha mẹ chỉ với tấm lòng hiếu thảo chớ thiệt tình trái tim chị chưa một lần biết rung động trước tình yêu. Thời con gái chưa một lần e lệ cúi đầu che dấu nỗi thẹn thùng từ một ánh nhìn của người khác phái. Rồi những đứa con ra đời như là chất keo gắn chặt thêm tình nghĩa theo năm tháng dần qua, kéo theo tuổi đời an phận.

Chị tham gia đoàn văn nghệ do lời tha thiết yêu cầu của anh Trai. Điểm chính là không có cô gái nào trong xóm chịu đóng vai nữ trong vở kịch nòng cốt cho buổi lễ sắp được tổ chức nay mai. Vở diễn do anh Trai, trưởng đoàn thanh niên thanh nữ, tự soạn và tự đặt lời. Công khó của anh đã thức liền mấy đêm đỏ lừ con mắt để “nặn” cho ra chữ, sắp xếp lớp lang cho thiệt mùi mẫn với lời thề non hẹn biển hợp với cảnh tiễn đưa. Nhất định là phải có chiếc khăn tay vẫy vẫy, có lệ rơi, có cầm tay bịn rịn không rời…

Vậy mà, không có ai chịu nhập vai hết. Mấy chị thanh nữ vừa mới nghe anh Trai diễn tả sơ qua đã đỏ mặt ngượng ngùng, lắc đầu le lưỡi. Miệng đâu mà nói những lời ngọt ngào tình tứ như vậy. Lại còn cái cảnh nắm tay bịn rịn thì thiệt là muốn chọc cho thiên hạ đàm tiếu, dị nghị. Đến như đã là vợ chồng rồi mà khi ra đường cứ việc chồng đi trước, vợ theo sau. Đi như kiểu nhà binh, hàng một. Đừng nói chi tới mấy bà trong Xóm, chụp được cơ hội này thì đố có tha. Đầu trên xóm dưới, tụm năm tụm bảy nói cho mà nhức óc. Cho nên mấy chị, mặc dầu trong bụng cũng ưng, nhưng mà đẩy không nổi bức tường thành kiên cố của thói cũ lề xưa…

Anh Trai bực mình lắm nhưng anh quyết định không chịu thua.. Là người đã từng có một thời gian lưu lạc kiếm sống qua những vùng đất xa lạ, tầm nhìn của anh vượt quá lũy tre làng. Khi mệt mỏi trở về, anh đã đem về bao nhiêu điều mới lạ. Điều mới lạ trước tiên là mái tóc anh lúc nào cũng láng mướt, chải tém đít vịt gọn gàng. Cái lược nhựa lúc nào cũng giắt ở túi áo trước. Chỉ chừng đó thôi mà ai cũng nhìn anh lạ lẫm. Lời khen tiếng chê dồn đống, anh vẫn tỉnh bơ. Riết rồi thấy hay hay, đám thanh niên lần hồi bắt chước. Mấy cái đầu trọc, đầu húi hai phân lần hồi biến dạng thành đầu tóc đen dài, láng coóng, tém đít vịt y theo một kiểu. Chiều chiều, thấy “ mấy con vịt” lạc đàn, đi lên đi xuống con đường chính của xóm nhỏ, mắt dáo dác nhìn quanh…

Nói tóm lại, anh Trai là người của thị thành. Chị Bưởi là người phụ nữ, tuy là hương-đồng-cỏ-nội, nhưng có đầu óc cách tân. Thêm anh Tấn là người thường khi trở chứng ngang tàng bướng bỉnh, không chịu trói buộc bởi lề thói khắt khe ngàn đời không thay đổi. Ba người gặp nhau thiệt là tâm đắc. Có anh Trai nhắc tuồng, chị Bưởi và anh Tấn nhập vai mùi mẫn như thiệt. Thiệt đến nỗi mà tôi cứ đứng nhìn mê mẩn. Cho đến lúc anh Tấn làm điệu bộ bước lên xe (chiếc xe tưởng tượng). Chị Bưởi đưa chiếc khăn tay lên vẫy vẫy tôi mới giật mình hoảng hốt. Cứ tưởng anh sẽ đi, tôi vội vàng chạy đến nắm tay anh giật giật :

– Khoan, khoan đi đã anh ơi !

Anh Tấn khựng người, ngạc nhiên nhìn tôi trong khi chị Bưởi với anh Trai phá lên cười ngặt ngoẻo. Tôi ngượng ngùng đỏ mặt. Anh Tấn cũng cười, đẩy nhẹ tôi một cái :

– Cái thằng này ! Ở đâu mà xuất hiện kịp thời vậy ?

Rồi anh ghé sát tai tôi, thì thầm :

– Sao ?. Có người nhắn nhe gì phải không ?

Tôi nhớ mấy tán đường. Tôi nhớ lời chị Hẹ dặn phải giữ kín cho chị. Kéo anh ra góc sân, tôi nói nhỏ :

– Là chị Hẹ nhắn anh ra chỗ cũ, chị muốn gặp.

Thấy anh ngần ngừ rồi lầm bầm :” Lại làm hành làm tỏi gì nữa đây, trời !…”.Tôi níu tay anh, giục :

– Anh phải ra đó nghe. Nếu như anh không ra là em mất ba tán đường !…

Anh Tấn im lặng. Không nói gì.

Đêm đó, anh và anh Trai đưa chị Bưởi về dưới đường trăng thanh vắng. Tôi lẽo đẽo theo sau. Khi chia tay hai người ở hai con dốc, anh quày quả một mình trở về nhà. Vậy là anh không đến nơi chị Hẹ nhắn. Tôi ngồi sụp xuống vạt cỏ ướt sương đêm, ngẩn ngơ tiếc nuối ba tán đường đã vuột khỏi tầm tay. Và tôi khóc, ngon lành…

Sân đình đêm nay như ngày vô hội kỳ yên. Bà con làng trên xóm dưới lũ lượt kéo về tụ tập trước cái sân khấu lộ thiên. Tiếng trống giòn giả làm nôn nao cả lòng người. Đêm văn nghệ tiễn đưa đám thanh niên hai xóm Đa Cát và Đa Trung lên đường thi hành Quân dịch vinh dự đón tiếp các vị chức sắc từ trên Thị xã xuống. Đoàn văn nghệ của xóm Đa Trung ( là xóm trên) cùng với xóm Đa Cát (là xóm dưới) đang bận bịu tới tấp ở hậu trường. Tiếng là văn nghệ giúp vui nhưng bên trong vẫn có sự ngấm ngầm ganh đua quyết liệt. Xóm nào cũng muốn cho đội văn nghệ của mình vượt trội. Bởi vậy, dưới hàng khán giả, vô hình trung đã có sự phân chia hai nhóm rõ rệt. Tiếng la ó, vỗ tay ủng hộ “gà nhà” vang trời dậy đất. Khí thế sôi nổi làm cho mấy diễn viên trong hai đội văn nghệ lên tinh thần. Thấy anh Trai lúc nào cũng cười nói, đi lên đi xuống, chạy qua chạy lại dặn dò phân công từng tiết mục cho từng người. Anh rất tin tưởng vào vở kịch nòng cốt của chương trình. Nhất định sẽ làm cho khán giả rơi lệ. Sẽ làm cho mấy anh con trai tới độ tuổi tự hào vì được là người lên đường. Sẽ làm cho mấy cô có người yêu (hay không có người yêu, cũng vậy) cảm thấy mình được chia phần vinh dự có người yêu bỏ cày bỏ cuốc, đáp lời sông núi, mà xông pha giữa lằn tên mũi đạn sa trường. Dám không chừng mấy tay trốn Quân dịch cũng phải hết sức hối hận vì đã lỡ dại dột làm cái chuyện đáng ra không nên làm.

Chú Vạy trưởng Xóm, người to lớn dềnh dàng, chống cây ba toong đi lên đi xuống cười nói hễ hả. Gặp anh Trai, chú cười hết cỡ, nói “Très bien”…”Très bien”…

Sau màn vũ khúc “Giã Gạo Đêm Trăng”, tiếng trống bất ngờ nổi lên dồn dập. Anh Trai lẹ làng nhảy lên sân khấu, điệu bộ màu mè chụp lấy cái micro giới thiệu vở kịch then chốt của đêm văn nghệ. Vì đã có sự dặn dò xếp đặt trước nên tiếng vỗ tay nổi lên đồng loạt, tiếng la hét muốn khản cổ của đám khán giả gà nhà làm rung động cả một góc trời. Đèn sân khấu được mấy tay chạy màn cố tình che lại cho trở nên mờ mờ ảo ảo. Có tiếng hát cũng cố tình ghìm giọng như từ xa vọng lại nghe như người nghẹt mũi : “Vài hàng gởi anh trìu mến. Vừa rồi Làng có truyền tin. Nói rằng nước non đang mong. Đi Quân dịch là thương nòi giống…”.

Tiếng hát nhỏ dần, nhỏ dần rồi lịm tắt. Đèn lóe sáng. Từ hậu trường có chàng thanh niên xách chiếc va li thiếc bước ra. Đám con nít tức thì la ré lên :” Anh Bòi anh. Anh Bòi anh đó, bây ơi !…”.Tiếng cười bỗng rộ lên đồng loạt làm anh Tấn (là anh Bòi anh đó) khựng lại, hơi bối rối. Cố giữ dáng điệu, anh bước ra vài bước, nhìn ngó bầu trời rồi làm vẻ mặt buồn ngoái lại phía sau. Ý là biểu lộ sự bịn rịn không rời nơi làng quê xóm cũ khi phải lên đường tòng quân.

Vừa lúc đó, cũng từ phía hậu trường bên phải, một người thiếu nữ bước ra. Đám con nít cùng ré lên : “Chị Bưởi. Chị Bưởi đó…” Không có tiếng cười, nhưng có tiếng anh Trai nhắc tuồng nghe rõ mồn một “ Chạy lên. Chạy lên. Kêu tên. Kêu tên “. Tức thì chị Bưởi sửa dáng, lấy đà lúp xúp chạy về phía người thanh niên đang ở tư thế dợm bước. Chị kêu lên : “Anh Tấn! Anh Tấn!”. Úi trời. Tiếng kêu cố tình hụt hơi đứt đoạn nghe thiệt khá não nùng. Có tiếng xì xầm ở dưới hàng khán giả rồi một khoảng thinh lặng kéo dài đờ đẫn khi hai người trao đổi với nhau những lời thề nguyền lâm ly bi đát. Ngay cả đám con nít cũng nín thở, trố mắt nhìn một màn diễn quá bất ngờ táo bạo chưa từng thấy. Không khí bỗng trầm lặng hẳn. Chỉ còn nghe tiếng, khi thì nức nở bi thương, khi thì dịu dàng âu yếm của cặp trai gái trước giờ phút chia ly. Rõ ràng anh Tấn và chị Bưởi đã nhập vai thiệt là xuất thần.

Anh Trai ngồi chùm hum giấu người ở góc hậu trường, ngạc nhiên đến độ ngẩn ngơ quên cả nhiệm vụ nhắc tuồng của mình. Đám thiếu nữ không còn giữ gìn e lệ, cứ nhăn mặt nhíu mày lòng dạ trải dài xót xa quặn thắt theo từng cảnh diễn, từng lời nói của đôi nam nữ.

Đám thanh niên thì hả lòng hả dạ. Trời ơi là trời! Những lời nói yêu thương nhắn nhủ như rót mật vô lòng. Giá như bom đạn có cày bừa nát ngướu tấm thân cũng thấy không có gì là tiếc nuối.

Sân đình trở nên thinh lặng. Bao cặp mắt đổ dồn, theo dõi từng diễn tiến. Tôi đứng gần sân khấu, thấy chị Bưởi nước mắt đầm đìa. Chị khóc thiệt tình làm cho vai diễn càng thêm sống động. Tự nhiên, tôi cũng cảm thấy nghèn nghẹn. Nếu như hai người thương nhau mà phải xa nhau, họ sẽ nói những lời buồn nẫu cả người như vậy hay sao ?. Nếu vậy thì xa nhau làm gì ! Thương nhau làm gì ! Mà chị Bưởi có thương anh Tấn thiệt không đó. Sao thấy chị khóc ngon khóc lành vậy chớ ! Không có ai trả lời giùm tôi. Mọi người đang say mê theo dõi.

Trên sân khấu, anh Tấn quay người định bước lên xe(chiếc xe tượng trưng là chiếc ghế dài che phủ lá cây). Chị Bưởi vội chạy theo nắm lấy tay anh Tấn. Đoạn này mùi mẫn nhất. Hai người nắm lấy tay nhau. Anh nhìn chị. Chị nhìn anh. Đắm đuối…Đắm đuối…

Bỗng nhiên, mọi người nghe một tiếng thét xé trời. Từ dưới sân đình, một bóng người nhảy chồm lên sân khấu, tay cầm khúc mía chạy ào tới chỗ anh Tấn và chị Bưởi. Tôi giật bắn người, kịp nhận ra là chị Hẹ. Vừa khi khúc mía nhắm ngay đầu anh Tấn vụt tới. Rất may là anh Tấn, khi nghe tiếng hét, giật mình làm chiếc ghế lật nghiêng hất anh ngã xuống. Cú đánh như trời giáng trượt qua đầu khi anh vừa ngã ngửa về phía sau. Chị Hẹ cũng mất đà ngã nhào theo. Hậu trường nhốn nháo, tiếng la hét ồn ào. Rồi thấy anh Tấn vụt chạy bương qua hàng rào nhà ông Thưởng. Đuổi bén gót theo sau là chị Hẹ. Khúc mía đưa cao nhấp nhô theo đà nhún nhảy rồi mất mất hút vào khoảng tối mịt mù phía trước…

Sự việc xảy ra bất ngờ làm bà con bán tín bán nghi. Không lẽ vở diễn kết thúc như vậy sao ? Thấy chú Vạy chống cây ba toong chạy lên tìm anh Trai. Chú giận tím mặt, la lối om sòm :” Cái thằng trời đánh !.Kết cục như rứa là ý nghĩa gì đây ! Trời ơi mi giết tau rồi, Trai ơi!”. Anh Trai, cũng đang giận sôi lên, nói xẵng : ” Trai gái với lại cục hòn chi đây chú! Cái con giặc cái đó tự nhiên ở đâu nhảy lên làm bể dĩa hết trơn “. Rồi anh day sang phía anh Rớt đang trố mắt nhìn, nạt lớn :” Nhìn cái gì nữa. Kéo màn. Kéo màn”.

Chỉ có mình tôi là hiểu thấu sự tình. Ăn đường của chị Hẹ nhiều lần quá mà, làm sao tôi không hiểu thấu cho được !

Rốt cục rồi mọi người cũng vỡ lẽ. Thì ra, nói theo kiểu chị Hẹ, là anh Tấn với chị “gù” nhau .

Chuyện xảy ra từ cái đêm văn nghệ đó là đề tài bàn tán xôn xao làng trên xóm dưới. Búa rìu dư luận theo nề nếp cổ xưa, đuổi xô chị Hẹ về phía cô đơn….

Anh Tấn đã “ra ràng” rồi! Chỉ còn chị vẫn còn náu lại trong cái xóm nhỏ tựa cái chuồng bồ câu dần bạc màu sắc theo thời gian. Tội nghiệp. Mỗi lần ra đường, mọi người đều nhìn chị với ánh mắt khác lạ. Nhất là mấy bà ngồi lê đôi mách, họ thêu dệt về chị theo đà câu chuyện để mua vui trong giờ rảnh rỗi. Đám trai làng e dè ra mặt. Chỉ còn có tôi. Nói cho đúng nghĩa hơn là những-tán-đường-của-chị còn có tôi. Rồi cũng phải nói thêm cho thật lòng, dù ăn miếng đường ngọt ngào thanh cảnh của chị nhưng sao tôi vẫn cảm thấy không gần gụi chị được như ngày nào. Cú đánh trời giáng của chị đã gây ấn tượng mạnh trong tôi. Nó chì chiết trầy trụa tình cảm của tôi về chị đến nỗi tôi đã mất dần cảm giác thèm vị ngọt ngào như tôi vẫn thèm. Và rồi, tôi dần xa chị hồi nào không hay. Mỗi lần có việc qua quán nhà chị, tôi cố tình rão bước. Đôi lần bắt gặp ánh nhìn của chị, tôi cúi đầu lảng tránh.

Thời gian cứ lần lựa trôi qua. Hết hạn ba năm, chẳng thấy anh Tấn trở về như những chàng trai cùng xóm. Rồi đáo hạn kỳ lần nữa, thêm lần nữa, anh Tấn cũng biền biệt phương trời. Chị Hẹ vẫn ngồi nơi quán nhỏ mà lòng trải rộng cả phương trời. Chị gầy ốm, teo tóp rồi lạc tuổi thanh xuân. Nghe đâu trong thời gian qua cũng đã có nhiều đám gần xa mai mối, nhưng chị vẫn không chịu “ra ràng”. Chị như con chim vẫn ngày ngày giam mình trong cái chuồng chim bạc màu son để nhìn ngắm khoảng trời xanh vô tận, tìm kiếm một bóng chim quen.

Con chim lẻ bạn chắc là buồn. Chị Hẹ lẻ loi tình anh Tấn, chắc chị buồn thấm tận tim gan…

Chị Hẹ ơi ! Giờ đây em không còn trách chị như ngày xưa còn bé.

Sự đời vốn nhiều đa đoan. Sự tình cũng có nhiều cớ sự. Khi người ta yêu nhau thì chỉ thấy có mỗi người mình yêu. Và dễ thương (hay dễ ghét) hơn nữa, chỉ muốn người mình thương là của riêng mình.

Em cũng hiểu khúc mía chị dành riêng cho anh Tấn nó đầy đặn ngọt ngào tình yêu thương chớ đâu có phải hận thù. Giá như khúc mía được chia đôi cắn nửa thì tình tự biết bao nhiêu. Nhưng ác thay khúc mía lại làm nên cú đánh như trời giáng để cho anh Tấn hồn bất phụ thể mà lú lẫn cả đường về !. Khi yêu nhau người ta vẫn làm những điều khôn, điều dại cũng chỉ vì người mình thương.

Em cũng hiểu thấu nỗi buồn da diết qua tháng năm chị chờ đợi anh Tấn trở về…

Lý lẽ này tôi tìm kiếm được là lúc tôi lớn khôn. Biết soi gương làm dáng. Biết trái tim có hai dòng đập. Một cho nhịp sống đời thường. Và một cho nhịp slow, tango, bebop hay cha cha cha tùy thuộc hoàn toàn theo đối tượng mình thương…

Chiếc Honda vượt khỏi con đường đất đỏ hai bên là rừng cao su bạt ngàn, dừng lại ở đường quốc lộ. Anh Hường, phụ huynh của học trò tôi, vừa dựng xe vừa nói :

– Thôi, Thầy về ăn Tết vui vẻ nghe. Thầy quyết định về quê ăn Tết tụi tui cũng thấy mừng. Ở đây buồn lắm Thầy ơi !

Buồn hay vui, không phải là nguyên do để tôi đột ngột quyết định phải về nhà ăn Tết. Chỉ vì nhớ.

Tình cờ, sáng nay, khi vừa thức dậy nghe tiếng hát từ chiếc radio ở nhà bên cạnh :

“…Đàn trẻ thơ ngây chờ mong anh trai. Sẽ mang về cho quần áo mới. Ba ngày Xuân đi khoe xóm làng…”. (*)

Lời hát làm cho tôi nhớ đến xót xa những ngày Tết quê nhà. Tôi nhớ những đêm cùng các em thức canh nồi bánh Tết, lòng nôn nao nghe tiếng pháo vọng xa trong màn đêm tĩnh mịch. Những ngày Tết rộn ràng xôn xao câu chúc tụng trên con đường xóm nhỏ dập dìu người qua kẻ lại. Tôi nhớ không khí ấm nồng của những ngày Xuân chan hòa tình làng nghĩa xóm.

Và tôi quyết định phải về, dù hôm nay đã là ngày 30 Tết.

Tốt nghiệp ra trường rồi thuyên chuyển về vùng đất mưa bùn nắng bụi, heo hút bạt ngàn rừng núi này. Đây cũng là cái Tết đầu tiên xa nhà. Tôi muốn trải nếm cảm giác của lòng người xa xứ. Vậy mà, cuối cùng, vẫn không chịu được. Mới hay là nơi chôn-nhao-cắt-rún mãi mãi là nơi chốn phải quay về.

Có chuyến xe hàng ở đầu con dốc. Anh Hường mau mắn đưa tay vẫy chặn. Trong xe thưa thớt chỉ vài người khách, có lẽ cũng về quê ăn Tết muộn như tôi. Bác tài vừa sang số xe, vừa nói :

– Xe về tới Dục Mỹ thôi, thầy Hai. Tới đó, Thầy liệu đường mà bương tiếp…

Tôi không nói gì. Định bụng là đến Dục Mỹ sẽ đón xe về tới ngã ba Thành. Từ đó, đón tiếp xe lên Đàlạt. Chậm lắm là khoảng 11 giờ đêm sẽ có mặt tại thành phố sương mù. Hy vọng còn kịp giờ đón Giao thừa.

Bắt đầu qua dèo M’Drăk, xe ngừng lại đón thêm một người khách. Anh ta vứt cái bao đồ khá lớn ở cuối xe rồi nhìn quanh tìm chỗ ngồi. Trong xe cũng còn quá nhiều chỗ trống.

Anh đứng tần ngần một thoáng rồi đến ngồi bên cạnh tôi :

– Chào anh. Ngồi đây cho có bạn chuyện trò đường xa.

Tôi cười gật đầu chào xả giao

– Vâng, chào anh. Anh cũng về Dục Mỹ à ?

– Không, tôi chỉ đến Khánh Dương.

Rồi anh che tay, ngáp, ngon lành. Tôi lén nhìn anh, quan sát. Bộ râu quai nón rậm rì

lốm đốm nhiều sợi bạc. Mái tóc lâu ngày không cắt tỉa phủ xuống quá gáy. Da mặt sạm đen vì nắng gió. Nhìn vẻ dáng thật phong trần. Tôi cứ ngờ ngợ như là đã gặp anh đâu đó một đôi lần. Tôi đem ý nghĩ này nói với anh. Anh cười, hàng răng trắng đều giữa hàm râu rậm :

– Vậy hả ?. Cũng có thể là đã gặp đâu đó. Tôi vẫn qua lại vùng này thường lắm

Qua lại thường ở vùng này thì chắc thế nào anh cũng đến Phước An, nơi tôi làm việc. Có thể là gặp anh một đôi lần nơi đó. Tôi hỏi :

– Nhưng có khi nào anh đến Phước An ?

– Có chứ, một đôi lần. Nhưng hơn năm nay, tôi không ghé. Chẳng có gì phải ghé.

Tôi ngạc nhiên :

– Có gì là có gì, anh ?

Anh lại cười :

– Thì đại khái là kim loại, đồng, thau, vàng, bạc, các loại đồ cổ. Mua bán có, trao đổi có. Nhưng tôi thường đến các buôn bản Thượng. Họ có những món đồ cổ, quý hiếm. Thuận thì trao vừa thì đổi, chẳng ai ép ai. Người Thượng họ thật thà chất phác, gần gụi họ mình cảm thấy cuộc đời phẳng lặng hơn. Anh thấy tôi đầu tóc râu ria giống họ không ? Cố tình đó.

Rồi anh huyên thuyên kể chuyện vui về việc mua bán trao đổi với người Thượng từ các buôn bản xa xôi hẻo lánh. Anh có lối kể chuyện thu hút người nghe và đặc biệt là không ngừng nghỉ. Một mẫu người vui tính và dễ thân thiện, tôi thầm nhận xét.

Kể lể một thôi một hồi, bỗng anh khựng người nhìn tôi, cười :

– Thiệt là vô tâm. Nãy giờ ham chuyện quên hỏi chú em. Í, mà gọi chú em được chớ?.

Ngó bộ dạng trẻ quá mà. Sao? Về quê ăn Tết hay là đang đi kiếm ăn đây ?

– Kiếm chác gì đâu anh ! Tôi làm việc ở vùng này. Về quê ăn Tết đó.

Anh cười, phụ họa :

– Thiệt là bươn chải đường xa, tới ba ngày Tết cũng kiếm đường về. Mà về đâu đây, chú em ?

Tôi đáp gọn :

– Đàlạt

Anh “Hả” lên một tiếng, gương mặt có vẻ ngạc nhiên. Tôi vẫn vô tình :

– Anh lưu lạc nhiều nơi, chắc cũng có dịp về qua Đàlạt.

Gương mặt anh trở nên tư lự. Anh khẽ thở dài :

– Ghé qua sao được. Có thời gian anh ở đó rồi. Mà không lâu.

Tôi cười vui vẻ :

– Vậy là gặp người cùng quê rồi. Anh ở vùng nào vậy ?

Anh im lặng, nhìn ra cửa xe, như đang suy nghĩ điều gì. Rồi anh thở dài :

– Ở không lâu mà đi xa cũng nhớ mới kỳ. Hồi đó anh ở vùng Trại Mát.

– Tôi thì ở cây số 4, là Xóm đình Đa Cát đó. Trại Mát nơi anh ở họ trồng rau nhiều lắm. Đặc biệt, anh biết có gì không ? Đá gà. Nhứt là mùa Tết, cá độ gà đá dữ dằn lắm. Để coi, ở Xóm tôi cũng có nhiều tay mê đá gà nặng. Sống bằng nghề đó luôn. Có Ôn Tôn Lạc, có chú Cử, chú Phú xe Lam nè. Lớp sau này có anh Trai, anh Đát con rể của ôn Cai Hoành…

Tôi đang ngập ngừng cố nhớ thêm vài tay mê đá gà nữa thì nghe anh nói, giọng có vẻ hốt hoảng :

– Ái chà, thôi chú em ngồi nghe. Anh xuống coi cái bao đồ không chừng mấy tay lơ xe moi móc…

Rồi không chờ tôi trả lời, anh hối hả đứng lên đi thẳng. Tôi mất hứng ngồi yên.

Khá lâu không thấy anh trở lại. Tôi ngoái nhìn, thấy anh ngồi khuất ở băng ghế cuối, đang loay hoay làm gì đó.

Xe chạy một đoạn dài, tôi vẫn có ý chờ anh trở lại để tiếp câu chuyện đang còn hứng thú. Vừa lúc đó nghe tiếng bác tài xế rổn rảng :

– Khánh Dương. Khánh Dương. Ai Khánh Dương chuẩn bị xuống nghe.

Xe bắt đầu hãm thắng, chậm dần. Tôi quay lại, cũng vừa lúc anh vội vàng đi lên. Bàn tay anh bóp mạnh lấy vai tôi, đau nhói. Tôi nghe anh nói, giọng có vẻ xúc động :

– Nhớ tìm anh nghe.

Rồi anh lẹ làng nhét một mảnh giấy nhỏ vào túi áo trên của tôi, quay người đi vội xuống cửa sau, chụp bao đồ nhảy xuống khi xe chưa ngừng hẳn. Tôi nhoài người ra cửa

hông, thấy anh đứng bên lề đường đưa tay vẫy vẫy.

Xe qua khỏi Khánh Dương một đoạn, tôi chợt nhớ tờ giấy anh nhét vào túi áo. Đó là tờ giấy bao vỏ thuốc Capstan, trên có ghi địa chỉ nhà anh và ở dưới có dòng chữ viết vội :

“ Chú Trọng

Về quê ăn Tết vui vẻ nghe. Biết chú không có thì giờ thôi thì để ra Giêng tìm tới anh. Có nhiều chuyện muốn hỏi chú.

Anh, Tấn

Người cùng Xóm Đình “

viết dưới hiên trăng

TRẦN HUY SAO

(* ) nhạc phẩm Xuân Này Con Không Về – Trịnh Lâm Ngân

Advertisements

TẾT QUÊ NHÀ

Gởi người Xóm đình Đa Cát ( Cây số 4 Đàlạt )

Đã có từng cơn gió chướng tràn về từ hướng núi. Trời trở lạnh và khô. Hoa Quỳ hương nở rộ hai bên đường, vàng óng.
Bác Hai Mộc đã…qui cố hương . Thím Ba Hồng cũng…hồi cố quận . Anh Tư Quân cũng… xếp tàn y về nơi cố thổ. Đó là cách nói thời thượng mang nặng tính võ hiệp giang hồ của anh Kiệt, nghe riết cũng thấy hay hay lại có văn vẻ cho nên ai cũng cố tình bắt chước. Sức học anh thì chưa tính được bao nhiêu nhưng sức đọc của anh thì tính tới bao, bồ mà đựng. Anh đọc truyện tới nỗi quên ăn quên ngủ. Tòan là chuyện kiếm hiệp. Đọc đến nỗi nhập tâm. Có Bác Hai Luân bị “dị ứng” về lối nói năng nặng mùi kiếm hiệp của anh Kiệt. Bác cứ lầm bầm “ Qui cố hương, hồi cố quận hay có về nơi cố thổ thì cứ nói rẹt một tiếng về cho nó gọn. Bày đặt…”.
Mà cũng bày đặt thiệt !
Tết thì về quê ăn Tết chớ bày đặt chuyện qui, hồi cố hương cố quận cố thổ chọc giận nhau làm chi !
Hàng Mai già dọc đường dốc đất bên cạnh Chùa Linh Quang đã kết nụ rồi, sắp nở rồi. Bụi Quỳ hương ở hục Bà Sơ sau lưng chợ Chiều chỉ còn thưa thớt mấy cái bông vàng rực . Vàng rực hết sức để chờ tàn, chờ rụng . Bởi, khi hoa Quỳ hương tàn rụng là lót đường cho mùa Xuân mạnh đường đi tới. Tiếng heo kêu ở nhà thím Hiếu làm nôn nao mấy củ hành ngâm giấm đã trở màu hồng đậm trong hủ thủy tinh. Trở màu là đã “ chín muồi ” vị ngọt chua, thanh cảnh .Gắp ra dĩa, để ghém với miếng thịt heo được rồi ! Mà tiếng heo kêu giờ này nghe tràn đầy nội lực chớ không eo éo như thường ngày vẫn kêu . Như vậy là đã đúng lứa, sắp vô nồi ! Mà nồi chung chớ không phải nồi riêng của gia đình nào.
Chuyện nuôi heo ăn Tết thì hầu như ở Xóm nghèo quê tôi đã quen thành lệ. Cứ năm ba gia đình chung vốn mua heo rồi giao trọng trách cho một người mát tay nhất trong nhóm nuôi vỗ chờ Tết ngả thịt, chia đều. Tính tóan, thỏa thuận rất sòng phẳng để không ai phải bị thiệt thòi.
Thuận buồm xuôi gió thì mùa Tết có thịt để mà rộn ràng bận rộn với nồi niêu xoong chảo . Bằng như…nửa đường đứt gánh thì coi như phủi tay, coi như là chỉ ăn Tết có một nửa, mất vui.
Còn về chuyện thịt gà ! Tuy là không chung vốn mà phải tự lo liệu nhưng cũng phải chuẩn bị kỹ càng. Tháng Tư ta là lo đem gà trống còn non tơ ra chợ tìm ông thợ thiến gà. Lo đóng chuồng. Vật liệu sơ sài cũng được nhưng phải bảo đảm là mỗi chú gà một chuồng riêng vừa đủ đứng, nằm chớ không có khoảng rộng để đi tới đi lui.
Nếu …thuận buồm xuôi gió, thì khoảng tháng mười-hai-ta, lứa gà thiến thịt thà đã nặng chình chịch, lông lá đã trổ màu sắc rực rỡ. Mỗi chú trọng lượng cũng cỡ chừng bốn tới năm ký. Nhà nuôi chừng hai, ba con thì tha hồ mà ăn Tết.
Nhưng mà cũng khó lắm. Bắt đầu từ tháng-mười-chưa-cười-đã-tối cho tới đầu tháng mười-hai-rét-ngọt thì cái nạn dịch gà khó cản. Qua được cửa ải này thì nồi niêu mới có dịp khua ran để mà ăn Tết. Thường thì khó vượt qua…
Còn cái khoản thịt bò thì quá đỗi xa vời, không cách gì với tới. Chỉ có trong dịp hội Làng. Mà nhắc tới Làng Nước thì bao la quá. Nhất là miếng thịt của Làng thì cũng quá là nhiêu khê! Chi bằng trở về lại một mái nhà với miếng thịt tự cung tự cầu, mà cũng… tự nhiên hơn, để hưởng ba ngày Tết.
Chỉ có thịt heo, thịt gà là gần gụi với tầm tay. Và cũng chỉ có chú Quý là người gần gụi và thân tình với bà con hơn hết, nhất là thời gian cận kề Tết. Bởi chú là tay đồ tể, nếu nói theo cách nói của anh Kiệt, là vào bậc thượng thừa. Tôi còn nhớ như in hình ảnh của chú. To lớn dềnh dàng, dáng đi khật khưởng. Gương mặt to ngang với đôi mắt xếch và cặp lông mày rậm đen. Nhìn chú thì thấy dữ dằn nhưng chú hiền lắm, lúc nào cũng cười. Ai nói gì cũng cười, nụ cười tươi vui, đôn hậu trái hẳn với vẻ hung hãn, dữ dằn của chú.
Cũng không biết do từ đâu mà ai gặp cũng gọi chú là Tiết Nhơn Quý, một nhân vật trong truyện Tàu, riết rồi chết tên luôn.
Chắc tại vì tướng tá to lớn dềnh dàng với lại sẵn chú tên Quý. Hay cũng từ anh Kiệt…
Thường ngày, chú rất chậm chạp trong công việc nhưng khi nhập vai đồ tể, chú nhanh nhẹn vô cùng. Từ lúc lùa heo ra cửa chuồng cho tới lúc xả thịt chia chác đồng đều cho các sướng (chớ không phải khổ) chủ, mọi động tác đều chính xác, gọn gàng. Ai nấy nhận phần thảy đều vui lòng hễ hả. Với đôi tay thiện nghệ và dưới mắt nhìn ước lượng cân đo của chú, xác suất trọng lượng phần thịt chia chỉ nhỉnh hơn chút đỉnh. Ngày Tết mà! Giành nhau tiếng cười vui chớ giành nhau chi thêm mấy miếng thịt chưa đủ giắt răng. Thảo nào anh Kiệt nói chú là tay đồ tể thượng thừa kể cũng không ngoa. Dễ chi kiếm được người thứ hai.
Công cán thì chú chỉ nhận đúng nửa ký thịt đùi và một lít rượu, vậy thôi. Thêm cũng không chịu. Bớt cũng không chịu. Ngang bằng sòng phẳng. Rồi chú qua nhà khác cho kịp giờ.
Mùa Tết là mùa làm ăn sung mãn của chú. Mùa Tết cũng là mùa chạy marathon của lũ trẻ chúng tôi. Cứ nghe tiếng heo kêu dậy trời dậy đất là tụi tôi tranh nhau rượt chạy cho kịp thời coi ông Tiết Nhơn Quý sát trư. Có khi một ngày chạy hai ba lần…
Sau này, có thêm chú Thứ nhà gần Hục Bà Sơ nhưng tay nghề không so kịp bằng chú Quý.

Mùa Tết cũng là mùa hoa. Ba ngày Tết mà trong nhà không có màu sắc của hoa thì còn có ý nghĩa gì!
Nhà nào cũng có một cành Mai hồng thắm. Mà đâu phải bỏ tiền mua. Chỉ cần bỏ công nửa ngày, vào rừng. Xóm với rừng gần nhau, đi thì chỉ khoảng nửa tiếng đồng hồ, nhưng phải bỏ công nửa ngày là để chọn lựa một cành Mai ưng ý.
Mai mọc bạt rừng, bạt núi thậm chí tràn vô tới Xóm. Hầu như nhà nào cũng có trồng một cây Mai trước ngõ.
Tháng mười-hai, Mai nhà đã nụ hồng. Có nhà thì hoa đã rộ nở.
Tôi còn nhớ, con đường mà tôi thích nhất là con đường hẻm dài một hàng Mai tươi tốt, từ nhà bác Nghi qua nhà ôn mệ Lào, rồi chấm dứt ở nhà ôn Cai Tư. Một khoảng đường rất ngắn nhưng giữ mãi trong tôi êm đềm cái cảm giác râm mát bóng cây của tháng Hè và nôn nao những bông Mai hồng thắm của ngày Xuân. Tôi thường đi, về trên con đường đất gập ghềnh này trong suốt thời gian học ở trường Tiểu học Bạch Đằng, nằm cheo leo trên ngọn đồi Cao Thắng. Con đường hẻm đất đá có hàng Mai rợp bóng là một trong những kỷ niệm tôi giữ hòai về chốn quê. Nhất là những ngày Xuân, nhìn hoa Mai rộ nở, lòng cứ nôn nao hòa nhập trong những nôn nao có quần áo mới, có tiền lì xì, có pháo đốt thả giàn, có những trò vui chơi trong ngày Hội Làng…Cho đến bây giờ, vẫn cứ còn giữ mãi độ ấm nồng ngầy ngật mỗi độ Xuân về. Ấm nồng ngầy ngật bởi lẽ, duyên nợ trăm năm đã gắn bó đời tôi với tà áo tiểu thư ở một trong những ngôi nhà trên khoảng đường rất ngắn, của ngày xưa, đó…
Những ngày cuối Chạp, đứng ở Xóm mà nhìn về hướng núi là cả một thảm hoa hồng thắm chạy dài từ Cam Ly Hạ ngược lên Dốc Trời ngút ngàn vô sâu tận Rừng Dẻ. Tầm nhìn tuổi thơ chỉ chừng giới hạn nhưng trí tưởng tượng thì dặm dài xa ngất. Tôi nghĩ rừng Mai chắc vô cùng tận, không chỉ ngừng ở Rừng Dẻ vốn đã là quá xa, chắc còn sâu còn xa hơn nữa. Ở chỗ núi mờ xanh thẳm mịt mùng…
Mấy anh trai Xóm thì nghĩ ngợi gần hơn.
Đâu cần phải xanh thẳm mịt mùng làm chi cho mệt. Chỉ cần vào khu rừng Mai Cam Ly Hạ mà đem hương sắc mùa Xuân về trang hòang nhà cửa.
Buổi sớm mai dằn mấy chén cơm cho chắc bụng rồi sẵn sàng dao, rựa rủ nhau đông đảo tới rừng Mai. Khi chọn cành Mai ưng ý là đã đắn đo ước lượng khoảnh rộng hẹp của phòng khách, nơi sẽ được chưng bày cành Mai giữ hương sắc mùa Xuân, cũng chính là nơi làm rạng nét nhà. Phòng khách rộng mà cành Mai nhỏ thì bất xứng, lại bị thầm chê là hòan tòan không có khiếu về mỹ thuật. Cành Mai to đùng mà chưng ở phòng khách quá nhỏ thì có vẻ như là khoe khoang, giựt nổi. Rồi cũng phải tính tóan khít khao làm sao hoa sẽ nở rộ vào đúng những ngày Tết. Nụ nhiều quá thì không tốt mà nở sớm quá thì cũng không tốt luôn.
Đến chúc Tết nhà, việc đầu tiên là liếc thầm một cái về phía cành Mai được trang hòang trong phòng khách, để đánh giá và so sánh. Đánh giá trình độ nghệ thuật của chủ nhà và sẵn đó, so sánh cành Mai của nhà chủ với nhà mình. Chủ và khách, rất nhanh, bắt gặp ánh mắt nhau ở cái liếc thầm này trước khi bắt tay nhau. Sự ganh đua, so sánh không hề to tiếng, chỉ lén thầm nhưng đã thành ước lệ. Thầm nhận biết mình thua hay tự hào mình hơn cũng chỉ là cảm giác buồn, vui nhỏ như tiếng pháo chuột so với tiếng pháo cối, vậy thôi. Nhưng mà cũng phải liếc chớ, thiếu đâu có được!.
Vô hình trung, đã thành một tục lệ âm thầm, ở Xóm quê tôi. Cho nên nhiệm vụ của mấy anh đi chặt cành Mai chưng bày đón Tết là đi mang sứ mạng trong người, có phải chơi đâu…
Ngòai cành Mai là tiêu biểu lớn, còn có hoa Vạn Thọ, hoa Cúc và cao sang quyền quý yểu điệu thục nữ quân tử háo cầu là hoa Lan.
HoaVạn Thọ, Cúc đơn, Cúc đại đóa thì hầu như, ít nhiều, nhà nào cũng rộ. Trồng trong chậu để cầu kỳ dành riêng cho ba ngày Tết . Trồng trước sân nhà làm cây cảnh tự nhiên.
Riêng về cái khoảng hoa Lan thì khó cầu nên chi rất hiếm. Cũng muốn có một chậu Lan để khi người đến chúc Tết , cố theo dõi cái liếc thầm của khách, mà thấy sướng vui trong bụng.
Nhưng mà đâu có dễ bởi vì hoa Lan thiệt như là con cầu tự, khó nuôi khó dưỡng. Nắng thì bất ưng lạnh thì bất ổn. Phải dành một khu đất riêng có giàn rào che chắn gió, có mái chống nắng tránh mưa. Công sức và tiền của bỏ vô đó cũng bộn bề. Chưa nói tới chuyện phải tìm tòi học hỏi trao đổi về kỹ thuật qua sách vở, qua thực tế kinh nghiệm. Phải đong đo cân đếm khí hậu thời tiết thay đổi từng mùa mà liệu chừng tìm phương cách cưng chiều chăm chút thúc ép cho hoa nở đúng thời. Nở sớm quá thì mất duyên. Nở trễ quá thì…hết Tết rồi, nở làm gì nữa !
Miếng bỏ bụng đói no ngày tháng còn chưa lo tới được nói chi chuyện chăm lo cho đời sống cao sang của lòai hoa vương giả. Và, nói cho cuối cùng, cũng chỉ nhằm để thỏa mãn, đắc ý cho một cái liếc thầm của khách. Cao xa quá! Nhiêu khê quá! Làm sao mà liếc cho tới đây ! Thôi thì cứ liếc thầm một cành Mai chưng Tết, đủ rồi !
Tết cũng là dịp để vui chơi sau một năm dài cực khổ trong việc mưu sinh. Cũng là dịp để gia đình đòan tụ. Đồng tiền chắt bóp, dành dụm được trong năm đổ dồn cho ba ngày Tết. Mang công mắc nợ ai thì lo thanh tóan sòng phẳng trước khi bước qua năm mới. Cố dọn dẹp thu vén cho lòng dạ nhẹ nhàng không còn cứ đeo nặng những rủi, buồn năm cũ để chuẩn bị sẵn sàng tống-cựu-nghinh-tân. Đón năm mới với tấm lòng bao dung hương trầm, ngọt ngào dẻo thơm miếng mứt. Và, tận hưởng ba ngày Tết cho giòn dã như pháo…
Tiếng là nói vui chơi ba ngày Tết nhưng có chừng mực như vậy đâu!. Có nơi vui chơi từ mồng-một cho tới mồng-mười. Qua ngày mười-một tháng Giêng thì không nghe ai nói mà cũng không có tự điển nào ghi là mồng-mười-một. Như vậy, có nghĩa là, hết mồng, hết chơi !
Có nơi vui chơi thả giàn tới cuối tháng Giêng.
Nói chung, Tết là không có ai làm mà chỉ chơi. Cũng không có ai buồn mà chỉ vui. Nhưng mà có gì để chơi cho vui đây?.

Thì có Hội Làng Mùa Xuân đó !
Hội Làng Mùa Xuân, nói gọn nhẹ là Hội Tết, ở quê tôi Làng nào mà không có.
Tuổi thơ tôi rưng rức những kỷ niệm mang vẻ dáng mộc mạc chân quê, đầy đặn sắc thái và đặc thù tính dân tộc của Hội Làng Tết. Ngầy ngật cho tới cả bây giờ.
Tiếng chiêng trống vang lừng và tiếng pháo nổ dòn tan báo giờ khai Hội của một buổi sáng Mồng Một Tết năm nào, và cả nhiều năm sau đó trong tuổi thơ, còn đọng lại đâu đây. Bà con lũ lượt về hướng sân Đình chờ giờ mở Hội khai Xuân.
Tôi thấy cả một bức tranh quê sống động.
Thấy chú Tiết Nhơn Quý ôm chai rượu đi ngang giữa đường Làng, gặp ai chú cũng cười. Một tiếng cười là thêm một ngụm rượu. Ba ngày Tết chú cứ đi ngang, không thèm đi thẳng.
Thấy mọi người mặc quần áo mới, nói cười hễ hả. Gặp nhau và chúc tụng nhau.
Thấy Ba tôi, ôn Cai Hòanh, khăn đóng áo dài đang giục giã ba hồi trống lệnh. Bên kia, bác Ba Cận, tiếp chiêu với ba hồi chiêng vang lừng.
Thấy anh Bé, trưởng tràng nhóm Lễ sinh, hai tay trịnh trọng nâng cây đèn sáp đi từng bước theo nhịp trống. Những bước chân bài bản, nhấc cao lên rồi hạ xuống, vững chắc nhịp nhàng. Anh dừng lại trước tràng pháo dài được treo từ cây nêu cao ngất. Tiếng trống, từ nhịp khoan thai, trở điệu liên hồi gióng giả hòa với tiếng chiêng nghe rộn cả lòng. Ngọn lửa được châm vào ngòi pháo báo giờ khai Hội ngày Xuân. Anh lạng người chạy lẹ, tránh pháo. Đám trẻ tụi tôi thì tranh nhau nhào tới để giành giựt những chiếc pháo xì. Bà con xoa tay hớn hở, tìm chỗ vui Xuân.
Đầu tiên là phải tới thăm đám bầu-cua-cá-cọp hay mấy tay tráo bài ba lá. Văn nhân thì khai bút đầu năm. Thường nhân thì đâu có tài nhả ngọc phun châu, bút mực đâu mà khai! Khai bạc đầu năm để thử thời vận cũng tốt. Có người thì chừng mực. Có người thì quyết đấu!. Nếu thử thời vận thì chỉ một hai ván cho biết chừng số đỏ, số đen đầu năm rồi lo kiếm đường qua trò chơi khác. Ăn bạc thì mừng rơn vì tin là năm tới mình sẽ phát tài. Thua bạc thì buồn trong bụng vì nghĩ là năm tới số mình đen vận. Nhưng dẫu sao cũng cố vớt vát được vì sực nhớ còn có câu “đen bạc đỏ tình”. Câu nói thiệt như là lời an ủi cho vận hạn rủi may. Năm mới không có bạc nhưng có tình thì cũng coi như là, không đỏ, mà hồng. Hồng tất nhiên là phải tốt hơn đen.
Rồi nghĩ cho cùng, cũng thấy kẹt. Với mấy tay còn độc thân vui ( hay khó ) tính mà được tình thì coi như buồn ngủ gặp chiếu manh, như mèo thấy mỡ. Mấy tay vợ con đùm đề mà được tình thì chắc là lụy.
Còn tính chuyện quyết đấu thì chẳng khác gì đem đồng tiền làm lụng cả năm trời mà lì xì mừng Tết cho mấy sòng bầu-cua-cá-cọp hay mấy đám bài ba lá.
Không tin ngó anh Cu Lập, con thím Nghi, ngồi ở góc sân nhà chú Thưởng uống rượu tì tì. Ai cũng lấy làm lạ, bởi hồi nào tới giờ anh có uống rượu đâu! Uống trà đậm còn say mà! Hỏi ra mới biết tại vì anh thua tới cháy túi vì sòng bầu-cua-cá-cọp nên uống rượu tiêu sầu ! Sầu thì không (hay chưa) tiêu mà chỉ thấy khiêng anh về nhà nằm rẹp thẳng cẳng, chẳng thèm dậy ăn Tết.
Rồi còn chú Tư Lãm đi lên đi xuống ở đường Làng, mặt mày ngơ ngác dáo dác tìm quanh. Ngày Xuân mà gặp ai chú cũng không có lời chúc Tết mà như có ai chúc Tết, chú cũng cứ bỏ ngơ. Hỏi ra mới biết chú vừa bị mấy đám bài…ba láp nó …táp hết tiền rồi!
Đi lên đi xuống dáo dác nhìn quanh là đi tìm lại tiền đó mà! Chắc là thua đậm mới lậm hồn vía tới tầm cỡ đó !.
Khai bạc đầu năm chi mà quá bất nhẩn vậy trời !

Đồng tiền được lì xì đầu năm mới thì thể nào tôi cũng mua một con gà đất của một ông nào lạ hoắc, không phải dân miền tôi ở. Tiếng nói ông lơ lớ, da màu nâu sẫm, tóc hơi xoắn. Tôi “ngửi” ông có mùi biển mặn. Chắc là ông từ miệt Tháp Chàm, Phan Rang, Phan Rí. Gà được bày hàng trên chiếc chiếu lớn. Đám con nít bu quanh tranh nhau lì xì tiền cho ông. Có qua có lại , ông cũng lì xì gà đất không hở tay. Mỗi ngày ông bán hết một vuông chiếu lớn gà rồi ngày sau gà lại nở ra thêm một vuông chiếu lớn nữa. Gà đất mà đắt như tôm tươi bởi đám nhỏ tụi tôi mê mệt con gà đất này quá sức. Nó thiệt ngộ nghĩnh về hình dáng, màu sắc mà còn biết gáy nữa. Đầu với đuôi được nối bằng lớp giấy rất dày. Hai tay cầm đầu cầm đuôi rồi đẩy tới đẩy lui, nó gáy nghe rất lạ. Nếu không muốn cầm mà đẩy thì ở cuối đuôi có khoét một lỗ nhỏ, tròn. Kê miệng vô mà thổi, lực hơi đẩy mạnh cái đầu nó nhỏm tới, nó cũng gáy nghe rất khoái. Nó được làm bằng đất nung. Chắc chắn là được đúc khuôn rời từng mảnh rồi gắn với nhau bằng lớp keo dính vì thấy đầu đuôi cũng y dạng. Toàn thân sơn màu đất đỏ rồi được phết sơ sài chiếu lệ một lớp dầu bóng. Mấy nét vẽ vội vàng chủ yếu là phân biệt đầu với đuôi. Đầu thì có hai con mắt với lại mấy nét vẽ phết xuống tượng hình là lông gà. Đuôi thì ngòai cái lỗ nhỏ khoét sẵn, thêm vài nét vẽ phết ngược lên tượng hình là cái đuôi. Lớp giấy dày nối đầu và đuôi làm thân gà thì không vẽ vời lông lá gì cả mà loang vết dầu chắc là có dụng ý giữ cho giấy có độ dai để chịu đựng lực kéo. Nhìn chung thì nó cũng chỉ phảng phất hình dáng con gà. Tiếng gáy thì cũng chỉ nghe “ót, ót” chớ đâu có trầm bổng gì đâu. Mấy nét vẽ sơ sài trên phần đầu tròn vo với phần đuôi cũng tròn vo y dạng không phân biệt được gà mái hay gà cồ. Thật ra, cũng chỉ tự lòng ham thích đồ chơi lạ và trí tưởng tượng phong phú mà nó đã là con gà đất hằn dấu trong kỷ niệm ấu thơ để mà giữ mãi trong đời. Còn chuyện gà trống hay gà mái thì có gì mà bận tâm. Gà trống cũng được. Gà mái cũng được. Miễn là có con gà đất biết gáy để chơi ba ngày Tết là cũng được quá rồi!
Lại có thêm một ông nữa, bán heo đất. Đất nung và cũng được đúc khuôn rời hai mảnh rồi gắn lại với nhau bằng lớp keo dính. Hình dáng khá rõ ràng là một chú heo mập ú. Có đôi mắt được vẽ xếch ngược lên, nhìn như đang cười. Có cả hai cái tai nhỏ xíu . Có chùm lông đuôi đen nhánh ở cuối cái đuôi được đúc nổi cộm. Có bốn cái chân ngắn củn, mập tròn. Điểm chính yếu và quan trọng nhất để nó trở thành con heo đất là một rảnh nhỏ, dài đủ để bỏ tiền lọt vô trong cái bụng to bành. Tiền giấy thì xếp làm tư, nhét xuống. Tiền cắc thì cứ thả vô tự nhiên. Heo đất giữ lâu hơn, có thể giáp năm, để giữ tiền dành dụm. Nó cũng cất giữ cho tôi nỗi buồn vui. Cất giữ luôn tiếng khóc tiếng cười. Và, cũng giữ cho tôi quá nhiều kỷ niệm…
Con heo đất được cất giữ ở một nơi kín đáo thường là dưới gậm giường ở chỗ tối nhất. Mỗi lần có tiền để bỏ vô bụng heo mặc dù không có ai nhưng cứ nhìn quanh dáo dác. Tiền cắc bỏ vô nghe cái “rẻng”, sướng rêm. Tiền giấy xếp tư nhét xuống nghe tiếng giấy cạ vào thành lỗ “rẹt,rẹt” lại càng sướng hung. Lâu lâu, lại dáo dác nhìn quanh, lấy con heo đất ra cầm trên tay ướm chừng độ nặng, nhẹ. Thể nào cũng phải lắc lắc vài cái để nghe tiền cắc đánh nhau trong đó rổn rảng, tiền giấy đẩy nhau trong đó sột soạt. Thời điểm để khui heo đất là dịp cuối năm.
Nói là khui heo đất, thật ra, thì không đúng. Phải nói là đập heo đất nghe đúng nghĩa hơn. Cầm con heo đất mà xáng xuống nền nhà nghe một tiếng ”bộp”. Cầm cái búa hay cục đá, hòn gạch đập mạnh vào con heo đất nghe một tiếng “bụp”. Dù cho “bộp” hay “bụp” thì cũng cảm thấy sướng tay. Cảm giác sau đó là “đã” con mắt khi thấy tiền lâu ngày kìm hãm được dịp túa ra. Tiền giấy ôm tiền cắc sõng sòai la liệt. Cảm giác cuối cùng sau khi đã sướng tay mãn nhãn là nỗi buồn vui lẫn lộn. Vui là vì cứ nghĩ là lâu nay mình bỏ tiền vô ít mà bây giờ sao mà ùa té ra nhiều dữ vậy! Buồn là vì cứ đinh ninh mình bỏ tiền vô nhiều mà sao giờ nhảy ra có chút đỉnh ! Buồn với vui cũng chỉ là cảm giác bất chợt rồi qua đi như tiếng “bộp” hay tiếng “bụp” thôi! Điều đáng nói lâu dài là có mớ bạc giắt lưng để rong chơi ba ngày Tết.
Khi đã có mớ tiền rủng rỉnh thì cũng tính chuyện tiêu pha nhưng phải nhớ là mua một con heo đất khác để cuối năm còn có dịp mà “bộp” hay “bụp” một cái cho buồn vui lẫn lộn.
Cũng đừng quên là có gian hàng mới lạ, mang vẻ dáng văn minh thành phố mà lâu nay làng quê chợ xóm không thể nào có được.
Đó là gian hàng nước đá nhận xi rô.
Không kể đám con nít tụi tôi mà cả nam phụ lão đều đứng đông nghẹt để chờ nắm cho được cục nước đá có màu xi rô xanh, đỏ,tím,vàng mà mút chùn chụt.
Đám con nít tụi tôi cầm cục đá nhận xi rô mà mút kiểu đó thì là chuyện bình thường, có khi còn thấy dễ thương. Tầm cỡ như bô lão, phụ lão, thanh niên, thiếu nữ mà mút, cũng chỉ là kiểu đó thôi, thì coi đã không bình thường mà thiệt là dễ nực.
Có mấy ông, chắc cũng tại vì răng cỏ lung lay chịu không siết hơi đá lạnh, nhịp mút không được sung. Nước đá quyện với nước xi rô chảy dính râu tèm nhẹp. Có mấy chị, chắc vì khóai khẩu mùi vị thơm ngọt của nước xi rô lại thêm hơi mát lạnh của cục đá nhận, cứ ngẩng đầu lên mút cố mạng. Vừa đi vừa mút đụng ai nấy chịu.
Mà cũng đúng thôi!
Thuở nào tới giờ ở Xóm quê làm gì có cục nước đá mát lạnh! Đã vậy lại còn có cả nước xi rô, tìm ở đâu cho ra mà hưởng! Nay, vừa có đá lạnh vừa có nước xi rô thì bu đông đen tìm của lạ là đúng ! Còn mút cỡ nào miễn tận hưởng cho tới bến là được rồi.
Buôn một lời năm, mười chớ đâu phải chơi đâu! Cục nước đá được bào nhuyễn rớt xuống cái ly đầy vun. Nghĩ thì đầy vun hào sảng vậy đó chớ khi nén xuống, nó chỉ còn có tới gần nửa ly thôi. Có thêm tiết mục hỏi khách hàng ưng ý xi rô màu gì?. Xanh đỏ tím vàng tùy theo ý thích, mà nếu ưng có nửa màu này nửa màu kia cho lạ mắt thì cũng được, không phiền hà gì. Cầm chai xi rô xịt vô rồi lật ngược cái ly thổ nhẹ. Cục đá tẩm màu rớt ra, cứng ngắt. Một tay đưa cho khách một tay lấy tiền bỏ hộc. Tòan tay trần năm ngón, không có ly dĩa giấy lót rườm rà. Cái thú của món đá nhận xi rô là cầm vừa mát tay mút vừa mát miệng lại mát cả lòng.
Trước sau cũng chỉ tòan là nước, vậy mà bà con cứ đứng xếp hàng đóng tiền vui vẻ, thoải mái.
Tôi rõ chuyện này lắm vì ông chủ gian hàng bán nước đá nhận xi rô có phải ai đâu xa lạ, là ông chú họ của tôi mà. Chú Thành đó.
Chú đứng tên xin Ban Hương Chức Làng một lô đất để bán nước giải khát . Làng thì không thắc mắc miễn có xin phép, có đóng tiền mua lô, có đóng thêm một vài khỏan tiền qui định là được.
Nhưng mà Thím tôi thì thắc mắc, cứ gặn hỏi chú hoài. Khi biết được cái tên nước giải khát gì mà lạ, trước giờ chưa nghe, thì thím ngồi buồn xo như chiều ba-mươi-tết. Thím làm mình làm mẩy không chịu gói bánh, không thèm làm mứt. Thím đình công luôn cái vụ mặc áo đẹp, nhồi phấn thoa son cho chú nhìn ngắm ba ngày Tết.
Lý do mà thím giận thím hờn cũng thiệt là đúng. Ai đời cái xóm đèn dầu quanh năm suốt tháng, nhà nào sang cả lắm thì cũng chỉ một cây đèn manchon, cũng được bơm và thắp sáng bằng dầu, mà tính chi tới chuyện xa vời khó tưởng. Nước suối nước sông thì có chớ nước đá, tìm đâu! Rồi còn cái nước xi rô xi ra đỏ tím xanh vàng chi đó, là cái nước chi?. Chắc là ông qua bên Tây, bên Mỹ ông kiếm đưa về. Thím trách chú là mộng tưởng xa vời, ngồi thắp cây đèn dầu mà đòi uống nước đá “giận” với “xi rồ”( chắc là ý của Thím muốn nói khéo là thím giận chú điên rồ!).
Chú giải thích, phân tích mấy thím cũng không nghe. Năn nỉ quá chừng, cuối cùng, thím chịu theo chú tới gặp Ba tôi để bàn chuyện phải trái nên hư. Nghe qua lời Thím phân trần, cuối cùng, Ba tôi phán :”Thím yên tâm về gói bánh, làm thêm mứt món ăn mừng. Chuyện này để chú nó lo”. Thím liếc Ba tôi một cái, nhưng mà không dám bén, như khi liếc một cái cho chú. Bởi vì, Ba tôi là kẻ lớn trong Họ, lời nói phải nặng cỡ bao tạ. Thím là vai em, là dâu về gởi Họ, khó cãi lời. Về thôi !
Ba tôi mạnh miệng là vì ông biết quá rành về chú . Chú đã từng theo học nghề của Ba tôi mấy năm mà chậm lụt không ra gì, cuối cùng thì có ý lơ là bỏ cuộc. Bù lại, chú có đầu óc kinh doanh, nắm bắt thời cơ rất nhạy. Dám đi buôn bò ở tận miệt Gia Lai xa tít cả năm mười ngày rồi lùa bò về. Lặn lội lên tới miệt Suối Vàng vô các làng Thượng trao đổi heo, gà, đồ đồng, đồ cổ các loại. Bươn chải tới miệt Phan Rang, Phan Rí buôn vịt con, chum, vại, đồ đất, đồ đồng…Nói chung,việc gì nhắm có ra hơi tiền là chú nhào vô kiếm chác. Không có lần nào thua hết. Thiệt đúng như lời anh Kiệt nói là “độc cô cầu bại”. Nay vợ chồng cùng tìm tới vấn kế làm ăn thì phán một câu như vậy là đúng sách. Tay này thì đâu có phải vừa, trước khi tới thì đã có vạch sẵn kế hoạch làm ăn, tính tóan lỗ lời rồi. Chẳng qua tới để tìm đồng minh đó thôi !
Phần chú, được lời của Ba tôi, chú làm liền. Nước đá thì đâu có khó khăn gì. Hợp đồng( giá hợp đồng nhẹ hơn nhiều lần so với giá mua lẻ) với hãng nước đá ngòai phố. Chỉ cần nhân sự và xe đạp thồ về. Có đá là phải nghĩ tới biện pháp giữ cho lâu tan, cũng không khó. Trước tiên là đóng một cái thùng gỗ thật lớn trét dầu bên trong cho kín hơi. Sau là tìm trấu và mạt cưa để ủ đá trong thùng giữ độ lạnh. Tòan đồ phế thải vừa bán vừa cho cũng không thèm đau lòng. Trấu thì phải xuống tận vùng Đức Trọng tốn chút tiền xe chuyên chở. Mạt cưa thì xuống trại cưa Ngọc Dung gần phố, thồ về. Việc quan trọng, cuối cùng, là đặt làm một cái bàn bào nước đá. Bàn bào bằng gỗ thì đã có bác Hai Mộc vừa…qui cố hương đó, chỉ hì hục vài tiếng đồng hồ là xong. Lưỡi bào bằng thép thì tới chú Tùng thợ rèn, hì hục lắm thì cũng mau hơn hay lâu hơn bác Hai Mộc vài phút, cũng là xong.
Tính tới giai đoạn hai là nước xi rô xanh đỏ tím vàng. Đi qua Tây qua Mỹ làm chi, chỉ cần đích thân chú tôi nhảy lên xe đò Minh Tâm về gặp mấy chú ba ở Chợ Lớn. Ở đó thì xanh đỏ tím vàng đủ hạng. Hạng nhứt . Hạng nhì . Hạng ba . Muốn bao nhiêu cũng có. Mua nhiều thì tính giá sỉ, xoa bụng cười hề hề, tặng thêm một chai níu khách.
Tính ra, chịu khó bôn ba xoay trở rồi bỏ ít vốn vô đó mà lời khẳm ghe. Nói theo lời anh Kiệt, chú quả là tay hảo thủ, bất ngờ trở cú tuyệt chiêu hoàn tòan mới lạ để bà con tranh nhau đóng tiền cho chú thả được một cặp heo vô chuồng, gầy thêm hai cặp gà, mua tặng cho thím một chai nước hoa Bông Hồng, hai cái lược ngà ( một cái răng sưa để chải tóc, một cái răng sít để chải chí), một chai dầu gội đầu Bồ Kết, một đôi guốc gỗ sơn bóng có in chìm hoa Sen. Quan trọng nhứt là một gói giấy cho thím bỏ lẹ vô tủ khóa cẩn thận. Tới lúc này thì thím cười. Chú giả bộ hỏi thím còn chê đá “giận” với “ xi rồ” không?. Thím háy chú một cái rồi giả lơ làm như là không nghe. Thiệt là !. Đàn bà là chúa giả lơ. Đàn ông là vua giả bộ.
Tôi thì không giả lơ mà cũng không thèm giả bộ, cứ giả thiệt đứng xớ rớ chờ ở gian hàng của chú. Cứ đứng chình ình trước mặt chú thì chú không thể nào giả bộ không thấy được cho nên chú phải nhận cho một cục nước đá đậm màu xi rô đưa tận tay. Giả bộ cười vui và cũng giả bộ quên lấy tiền bỏ vô hộc. Bề nào cũng phải nể tình Ba tôi, người đã nói một câu nói lót đường cho chú hốt bạc. Tính ra một ngày tôi giả thiệt cũng tới bốn năm lần. Lần nào chú cũng “tiếp chiêu” gọn, đẹp. Thiệt, đúng là tay hảo thủ!
Vừa mút đá nhận, vừa coi đá gà. Hết một độ gà thì lại vội vàng chạy qua gian hàng chú mà giả thiệt đứng sớ rớ. Khi chú giả bộ cười vui đưa cục nước đá nhận là vòng ngược lại qua sân gà cho kịp độ mới.
Sôi động, hào hứng nhất Hội Làng là sân đá gà. Anh hùng tứ chiếng khắp mọi miền nườm nượp kéo về, tay ôm con gà dị tướng, lông lá trụi lủi mà da dẻ thì đỏ ngầu. Ở xa tít dưới vùng Trạm Hành, Đơn Dương, Đức Trọng cũng lặn lội tìm lên. Ở mút tận Lạc Dương, Suối Vàng cũng tìm xuống. Bà con bu đông như kiến, la ó cãi vã nhau om sòm. Mấy tay chuyên nghề cá độ thì coi như ăn ở tại chỗ, bám sân từ sáng cho cho tới giờ mản cuộc. Quần áo xốc xếch, tóc tai bờm xờm thiệt chẳng giống ai.
Ở Xóm nghèo quê tôi, nuôi gà đá truyền đời là phải kể tới ôn Tôn Lạc. Sống gần như nghề độ nhật là chú Sáu Cử, chú Phú. Sau này, lớp hậu duệ, có dượng Đát là tay nuôi gà đá bài bản, có nghiên cứu sách vở. Đã từng chiếm giải nhiều độ gà suốt mấy Hội Làng Xuân. Lớp đàn em nữa, có ông bạn Cu Lu ( là tên thường quen gọi ở Xóm chớ ra khỏi lằn ranh Xóm nhỏ là Hồ Ngọc Sơn chớ không có lu, vại gì nữa). Có chú em Tôn Thất Thuận (con của ôn Tôn Lạc, rể của võ sư Sáu Trọng). Gà của chú thì tôi chưa coi được trận nào nhưng có nhiều lần đi coi chú thượng đài tỉ võ nhiều trận ở sân vận động Thị xã.
Cũng còn mấy tay nữa nhưng mà thuộc loại nuôi gà tài tử.
Hội Làng Xuân mà không có sân đá gà thì đâu có ý nghĩa gì!. Tôi cũng góp mặt cho vui vậy thôi chớ không đành lòng nhìn cảnh bại vong của mấy con gà xoải cánh, quỵ chân, lê lếch, máu me nhầy nhụa…Thắng thua hào hứng là từ những đồng tiền cá độ của những tay chuyên nghề và cả những tay ăn theo. Tôi có đứng đó chẳng qua là vì sân gà gần kế bên gian hàng đá nhận xi rô. Chạy qua , chạy lại cho tới lúc mút đá đã thèm là tìm đường đi qua gian hàng khác…
Hội Làng chỉ đúng ba ngày rồi im ắng nhưng vẫn còn giữ mãi hình ảnh vui nhộn cho hết tháng Giêng.
Đến bây giờ, tôi cũng không nhớ vào khoảng thời gian nào, không khí sôi nổi rộn ràng của Hội Làng Xuân chìm khuất và mất dấu trong những ngày Tết.
Có lẽ là từ ngày cuộc sống làng quê đã dần thay đổi theo đà văn minh tiến bộ. Những con đường đất gập ghềnh đã được san bằng, trải nhựa. Ánh điện đã tràn tới đuổi xua những ngọn đèn dầu leo lét. Cục đá nhận xi rô đã đi vào quên lảng. Đã có nước đá cục trong những chiếc ly thủy tinh khi uống beer nhãn hiệu con Cọp hay nước ngọt hiệu Vina, Phương Tòan. Trống chiêng cũng thưa thớt dần không đủ sức kéo ùa theo không khí Tết. Chú Tiết Nhơn Quý đã đổi “gu” màu rượu trắng ra màu nâu đậm của các vị thuốc Bắc phương. Bộ quần áo bà ba đen bạc cũng mất dấu để nhường cho cho bộ quần áo mang dáng vẻ Tây phương.
Con gà đất đâu rồi trên vuông chiếu lớn!
Con heo đất cũng lần hồi biến dạng. Dáng vẻ tân kỳ, màu mè sặc sỡ hơn, trơn láng hơn, to nhỏ đủ hạng . Cuối cùng rồi cũng bỏ đi đâu, tìm không ra!
Tôi cũng đi, không về Xóm nhỏ. Hàng xóm láng giềng lớp còn ở lại, lớp bỏ ra đi. Đi về đâu không biết trong cuộc bể dâu…
Hàng năm, những ngày Tết, tôi chỉ còn lại trên vuông chiếu đời của một thời thơ ấu, những hình ảnh gìn giữ cả một trời quê quyện ngát hương trầm và mùi pháo Tết.
Tháng Giêng, Hai ở đây thì quê nhà đã là cuối Chạp, chuẩn bị sẵn sàng để tống cựu nghinh tân.
Rừng Mai hồng giữ vẻ dáng mùa Xuân níu kéo những cái liếc thầm mang ước lệ của Xóm quê xưa, nay đã không còn…
Nhưng vẫn còn trong tôi, vẫn còn, trong lòng những người cùng chung Xóm cũ hình ảnh rộn rịp đông vui khi tiếng pháo khai hội ngày Xuân nổ giòn níu kéo thân tình cho nhau suốt ba ngày Tết.

Những người xưa cũ nay đâu ! Có còn giữ lại mùa Xuân như tôi đang giữ hay là như con heo đất nghe “bộp” hay “bụp” một tiếng thiệt quá đã mà không thấy đồng tiền nào túa ra…Bởi có dành dụm gì đâu ! Hay có dành dụm nhưng cứ móc dần ra tiêu pha ngày tháng mất rồi !

Cuối cùng, chỉ là trống vắng…

Hiên Trăng, những ngày Tết quê xa
TRẦN HUY SAO
(tuyển tập Thơ Văn Viết dưới Hiên Trăng, 2018)

ĐÀ LẠT CHỈ CÒN TRONG HOÀI NIỆM

Tôi sinh ra và lớn lên ở Đàlạt. Tự hào là dân Đàlạt.

Tôi quen thuộc ( tới nỗi, bây giờ vẫn còn nhớ, như in) những con đường, những góc phố, từng viên gạch rong rêu đóng bám, từng vết lở chân chim trên cầu thang Chợ Mới. Cây Phượng Tím ở quán cà phê Hạnh Tâm trên đường từ bờ hồ Xuân Hương vào bùng binh Chợ. Hàng Mai Anh Đào dọc dường dốc Thành Thái. Quán Phở Ngọc Lan danh bất hư truyền (tái ngầu nạm thêm một chén mỡ hành trần béo ngậy nóng sốt) ở bên cạnh ấp Ánh Sáng khi còn có một khoảng rộng làm bến xe Đàlạt liên tỉnh ( hầu như độc quyền là hãng xe Minh Tâm). Quán mì quảng đặc biệt tô “xe lửa” ( to chưa từng thấy to so với những quán mì Quảng Đàlạt) chiêu khách thêm là những lát chả lụa xắt mỏng và một hủ ( cũng quá chừng to) củ hành ngâm giấm. Khách hàng cứ thoải mái gắp bỏ vô tô bao nhiêu cũng được, không giới hạn, không nói lời hành tỏi và không hề, dù chỉ một giây phút, dòm ngó canh chừng). Quán nằm ở trước bến xe Lam, sau lưng nhà thuốc tây Hoàng Hy Tuần ( nghe nói mà cũng chính xác, là thân phụ của nhà thơ Hoàng Anh Tuấn), ngó qua bên phải là cà phê Tùng..

Là dân Đàlạt hay là chỉ ghé lên đổi gió ( nói là đổi gió cũng chỉ là cách nói quen, thật ra là lên để hưởng cái lạnh se và ngắm nhìn sương mù lung linh huyền ảo núi đồi phố xá và, đặc biệt, có dịp được mặc chiếc áo laine) ai mà không có một lần ghé tới cà phê Tùng. Nhất là mấy anh sinh viên sĩ quan Võ Bị Đàlạt ( với mấy chàng trai này thì phải gọi là cà phê Tuần [thay vì cà phê Tùng] vì lẽ chỉ cuối tuần, ra phép, mới ghé vào ). Đi tới một khoảng là vừa nhà hàng vừa quán cà phê Chic Shangai. Đi tới nữa, vượt qua đầu dốc Minh Mạng là lò bánh mì Wĩnh Chấn, ngược xuống dốc Duy Tân một đoạn rất ngắn, rẽ trái, là khu Đoàn thị Điểm chuyên bán chè ngọt. Ai đó, đã có một thời, có dắt người mình yêu tới quán chè Kê Bánh Tráng Mè của mệ Xứng không ?. Rồi, ngày mưa, ghé qua đường Tăng Bạt Hổ mà ngồi chờ cái bánh Xèo giòn rụm ghém rau cải non (mới đúng điệu chớ rau sà-lách của Tây bỏ giống lại thì chưa thiệt là bánh Xèo Đalạt quê tôi). Rồi, có qua quán Mai Hường múc muỗng nhỏ (nhỏ thôi, muỗng to là phủi lòng Đàlạt ) chén chè bông cau. Rồi, có lên đầu dốc Minh Mạng uống ly (cũng ly nhỏ thôi, ly vừa thì cũng coi là tạm được, nhưng ly lớn thì e là làm khó cho Đàlạt mắc cở chuyện lấy hương lấy hoa) trà Sâm ngọt ngào thanh cảnh. Rồi, có xuống khu Ngọc Hiệp (vì có rạp hát Ngọc Hiệp nên gọi thành quen) ghé vô xe mì sợi của ông Tàu Ngọc Hiệp ( tô lớn cũng không, tô nhỏ cũng không, chỉ tô vừa vừa). Để sau này, khi dời xa, cũng vừa vừa thương vừa vừa nhớ cái ngọt dịu đầm thấm của hương vị “nước lèo” trong như nước lã mà ngọt dịu, đậm đà không tìm nơi nào có được. Nhớ ghé quán phở Ngọc Hiệp, mà phải chịu khó chờ để giành cho bằng được chỗ ngồi kế bên lò lửa, vừa xít xoa vừa xoa tay xua không khí rét lạnh trời đêm để đón nhận cái nóng ấm của lò than rực hồng đang làm sôi nồi nước phở. Ngồi ăn tô phở nóng bên lò than rực hồng giữa trời rét lạnh, thiệt không có thú nào bằng. Ngó xéo qua bên phải, ngày xưa khi tôi còn là chú học sinh lớp Đệ Lục trường Trung học công lập Trần Hưng Đạo, có dịp được đi ăn cháo và xôi vịt ở quán Như Tĩnh. Bên hông quán có con đường hẻm dẫn vào quán Mì Quảng Tân Bình một thời nổi tiếng. Tô mì , nhỏ thôi, nhưng hương vị đặc biệt khó đâu sánh bằng. Mỗi lần ghé lại, hầu như khách hàng ai cũng “làm tới” hai tô, mới đã đời !.

Sau này, tiệm cháo vịt không còn nhưng quán mì Quảng thì cứ vẫn còn bám trụ. Tôi có lần ghé và “làm tới” hai tô trước lúc rời xa quê hương Đàlạt. Nghe nói, bây giờ, quán vẫn còn…

Đó là (chỉ nói sơ qua ) nên còn thiếu sót rất nhiều nơi chốn, phồn hoa đô hội. Còn chỗ thôn quê dân dã thì tôi từng ghé qua không biết bao nhiêu lần. Đặc biệt, ở Xóm tôi có quán phở Vịt một thời vang dội tiếng tăm cây-số-Bốn. Hai ngày cuối tuần, hàng xe nối dài dọc góc đường Hai Bà Trưng&La Sơn Phu Tử chỉ để chờ tới phiên được ngồi trước tô phở vịt. Tô phở bình dân chỉ với nước trong, vài miếng thịt vịt, nhúm hành ngò nhưng khi nếm vào mới thấm đậm hương vị khó mà diễn tả. Chỉ một lần thưởng thức là ghiền…tới trăm năm !

Tiếng gọi là quán nhưng chỉ che tấm vải bạt che nắng và khoảng trên mười chiếc ghế đẩu. Mỗi lượt người ăn xong đứng lên là đợt người sau nhích tới…Chủ quán , dù là người cùng Phường cùng Xóm, nhưng mọi người không biết tên ông nên chỉ gọi thành quen là ông Ba Vịt. Sau này lang bạt kỳ hồ, dù rất cố công tìm kiếm nhưng không nơi chốn nào tôi tìm thấy tô phở vịt. Vậy là phở vịt, duy nhất, chỉ có ở Xóm quê tôi. Ai đã từng ăn qua tô phở vịt chắc là không quên một thời đã chờ chực tới phiên mình được ngồi trước tô phở vịt giá rất bình dân, nóng hổi thơm lừng, ở cây số Bốn thành phố Đàlạt.

Món phở vịt giờ đã thất truyền từ ngày bác Ba Vịt nằm xuống. Không biết chị Vi có được Ba của chị truyền nghề lại không !

Rồi còn trái bắp nướng thoa mỡ hành béo ngậy rải rác bày bán ở các ngả tư đường trong mùa rét lạnh. Tụ tập đông vui nhất là ở trước rạp chiếu bóng Ngọc Hiệp cuối dốc Minh Mạng.

Gói đậu phụng mặn ngọt nóng hổi của ông Tàu dáng người dong dỏng luôn mặc bộ quần áo trắng, đầu cũng đội chiếc mủ trắng, dắt chiếc xe đạp, phía sau có hai thùng đậu phụng rang nóng dòn, đi lên đi xuống ở dốc đường Minh Mạng. Gói đậu phụng đã , một thời, làm thêm duyên dáng mặn mà cho những cặp tình nhân, cũng, dưới tiết trời se lạnh về đêm Đàlạt.

Đàlạt, những tháng ngày xưa có biết bao thi vị viết hoài không hết .Cho dù đi xa góc biển chân trời vẫn cứ giữ gìn nỗi nhớ khôn nguôi.

Vậy mà bây giờ đã đổi thay, xóa dấu đến phụ phàng !…

TRẦN HUY SAO

CHƯA CÓ MÙA XUÂN

 

Năm nay trời thật lạ. Vừa cúng đưa Ông Táo về trời, Ông Trời lại làm mặt giận. Đang nắng đó bỗng rồi vần vũ mây đen, mưa hạt đều từ buổi sáng kéo dài tới trưa. Điệu này còn có thể kéo dài thêm tới chiều, tới tối và cả ngày mai.
Sáng sớm, dì Ba Thanh Hồng của tôi lo điểm phấn tô son. Dì tô đôi môi đỏ chót, kẻ đôi mắt xanh lè. Tiếng nói cuả Dì không còn chua như giấm, đổi tông, ngọt lịm như đường phèn. Nhưng khi đứng ở cửa sổ nhìn ra bầu trời vần vũ mây đen, nghe tiếng mưa bắt đầu nặng hạt trên mái, Dì không nén được, xỉa xói Ông Trời một thôi một đỗi. Phút giây đó, cái nét dịu dàng của người đàn bà biến mất, lại hiện nguyên hình “con hồ ly tinh”, ‘bà chằn lửa”. Đó là những biệt danh mà dì Tư Thanh Cẩm thường gọi dì Ba Thanh Hồng chứ tôi thì làm gì mà dám. Có cho ăn kẹo chocolat hay là xí-muội-muối-đường ( là những món mà tôi rất thích ) tôi cũng chẳng ham. Dì mà nghe được thì chỉ có mà trốn biệt. Dì sẽ ngắt, sẽ véo đau thấu trời xanh. Nhìn mấy móng tay đỏ chói, nhọn hoắt của Dì, tôi muốn phát sốt gây cả người.
Ông bà Ngoại tôi có ba người con gái. Người nào cũng sắc nước hương trời, thiệt là mỗi người mỗi vẻ. Mẹ tôi là chị đầu, mọi người thường gọi là Cô Hai. Cô Hai từ ngày lấy chồng , xuống hạng là Cô Năm, vì Ba tôi là thứ bậc Năm trong gia đình bên Nội. Nhưng mà chỉ xuống hạng thôi chớ mọi thứ đều “có hạng” cả. Vừa đẹp người lại đẹp nết. Hồi nhỏ lễ phép với hết làng, hết xóm. Lớn lên, phong cách sống rất được lòng mọi người. Ăn nói có chừng mực, biết phẩy, biết chấm. Có nghĩa là biết khi nào ngừng, lúc nào phải nói để không phải mếch lòng ai. Đi đứng khoan hòa không vấp phải đá, không quàng phải dây hồi nào. Nói chung, là một người con gái hiền ngoan, sau này cũng vẫn là một người đàn bà đoan trang chừng mực. Nồi nào úp vung đó. Gặp Ba tôi, cũng coi như là xứng đôi vừa lứa. Có điều tính Ông thì nói hơi nhiều, lại ưa pha trò đùa cợt. Ông nhìn cuộc đời với con mắt lạc quan và tấm lòng độ lượng, không muốn vướng bận những lụy phiền. Ông người miền Nam, lưu lạc và sống nhiều năm tại Sàigòn. Ở cái xóm hẻo lánh miền cao này, ai gặp Ông cũng gọi là ông Năm Sàigòn. Lại ngược đời, gọi Mẹ tôi là Bà Năm Huế!. Nghề chính của Ông từ ngày chưa về ở rể nhà Ông bà Ngoại tôi là đi buôn thuốc Tây. Đủ loại thuốc. Từ nhức đầu sổ mũi cho tới thương hàn nhập lý, sốt rét vàng da, nhác ăn biếng ngủ, cường dương tráng thận v..v..Nửa tháng Ông ghé một lần, giao thuốc, bán thuốc rồi nhận lời ủy thác của mấy gia đình có bệnh nhân nằm chờ thuốc quanh năm suốt tháng. Ông giành giựt thiệt sôi nổi hào hứng với ông Thầy Tàu thường ghé qua bán rao thuốc Bắc, với cả mấy tay giang hồ mãi võ lâu lâu ghé lại chiêng trống ầm trời, nội ngoại công phu đạt tới mức…thượng thừa!. Nhưng mà Ông chẳng mất lòng, chẳng gây hận thù vì chuyện làm ăn với đồng nghiệp. Tại vì Ông hiền lắm lại giống Mẹ tôi ở chỗ biết phẩy biết chấm. Lúc nào cần lấn tới, lúc nào phải nhượng bộ. Mà tính Ông hiền thiệt. Củ khoai mà nói củ sắn Ông cũng cười giả lả, không tranh cãi, không đôi co. Nhưng mà nếu tờ giấy bạc mà nói là tờ giấy trơn thì nhất định Ông không chịu, thậm chí còn có phản ứng. Chẳng phải vì Ông mê tiền nhưng chắc là vì thói quen nghề nghiệp. Vả lại, vốn lăn lộn từ hồi nhỏ, cực khổ trăm đường để kiếm sống. Đồng tiền kiếm ra có mồ hôi nước mắt pha chung, nỡ nào mà nói là tờ giấy trơn cho được !…
Từ ngày gặp Mẹ tôi, Ông về ở rể rồi bỏ luôn nghề buôn thuốc, nhận công việc mới Ông bà Ngoại tôi giao. Đó là chăm sóc một vườn hoa Hồng và trông coi một hồ cá rô Phi. Công việc nhàn hạ lại trói buộc bước chân giang hồ có làm cho Ông buồn bực, ít nói hơn, lại không có dịp pha trò đùa cợt cho vui với ai ngoài mấy con cá cứ lượn lờ chờ ăn suốt ngày. Rõ ràng, đôi mắt giai nhân đã lụy bước anh hùng.Con chim đã vô lồng, con cá đã vào rọ. Mẹ tôi không có lòng chật hẹp, đâu muốn kềm hãm bước chân ai mà tại vì Ông tình nguyện đó thôi!…

Rồi nói tới Dì Tư Thanh Cẩm (còn chuyện dài dì Ba Thanh Hồng xin tạm gác, nói sau).
Chuyện về dì Tư Thanh Cẩm là thể loại chuyện ngắn không phải là chuyện đăng từng kỳ, tràng giang đại hải. Bởi vì cuộc đời của Dì Tư đơn giản, đóng khung lộng kính treo tường ngắm nghía cho qua. Có nghĩa là cuộc đời của Dì không có chi sôi nổi. Điệu này, cũng chỉ rơi vào cái lịch trình soạn sẵn cho một người con gái bình thường. Sinh ra, lớn lên, đi học, biết yêu, lấy chồng, sinh con đẻ cái, già xụ rồi nhắm mắt xuôi tay. Kể ra thì cũng đẹp, cũng là ước mơ chung của người phụ nữ. Nhưng mà, phẳng lặng và bình thản quá cũng… buồn.
Dì ước mơ sau này sẽ là một cô giáo cho nên đang ngồi năm thứ hai Sư Phạm. Mỗi năm về thăm nhà hai lần. Một vào lúc nghỉ Hè và một vào dịp Tết. Tính Dì không giống Mẹ tôi lại càng không giống dì Ba Thanh Hồng. Ai nói sao cũng được, Dì không tranh cãi đôi co. Tròn thì cứ cho nó tròn. Méo thì cứ cho nó méo. Có mất mát gì đâu!. Tròn hay méo thì chính tự nó cũng đã có sự thể hiện rồi, tranh cãi làm gì..
Nhưng có một điều hết sức đi ngược với tính tình của Dì.
Ra ngoài thì sao tôi không biết nhưng về tới nhà là giữa Dì Ba và Dì Tư luôn có sự bất đồng. Hai Dì cứ cãi vã nhau từ những chuyện không đâu ra đâu. Nhất là chuyện tình yêu đôi lứa thì như là lửa nước gặp nhau. Một bên thì muốn được hiền hòa phẳng lặng như nước hồ Thu. Một bên thì cứ muốn dậy sóng ba đào, như biển động sông tràn. Mẹ tôi là người ở giữa, cũng đã hết lời can gián, răn đe. Nhưng mà tình yêu thì làm sao mà giải cho ra. Con tim có tiếng nói và có lý lẽ riêng. Tiếng nói của Mẹ tôi cũng chỉ là tiếng kêu đò bến vắng. Mà có tới mười hai bến nước trong nhờ đục chịu chớ có phải ít đâu!. Dì Hai( hay là cô Năm Huế ) có nói chi cũng chỉ hoài công, lại mang tiếng khắt khe đa sự….
Được cái dì Tư Thanh Cẩm của tôi rất tốt bụng. Dì ưa giúp đỡ mọi người, thích làm việc xã hội. Vậy mà trong quá khứ có hai lần ốm tương tư phải uống thuốc trợ tim với lại thuốc ngủ. Cũng chẳng phải phẳng lặng như nước hồ Thu đâu!. Dậy sóng lắm chớ. Những đợt sóng thầm lặng chết người!. Cả hai lần Dì đều bị dì Ba Thanh Hồng tôi sỉ vả đủ điều. Dì Tư cúi đầu lặng thinh không nói một lời. Dì khóc. Càng khóc thì lại càng bị sỉ vả dữ dằn hơn. Rồi cũng xong, cả hai lần đều không vật ngã được Dì. Dì lại đứng lên, tươi cười, ráo hoảnh. Mẹ tôi khen, không phải khen Dì Tư mà là khen dì Ba Thanh Hồng : “Cái con nớ mà hay, hắn dựng đứng mi dậy thiệt là gọn. Ôi chao là tình, phát sợ !”.

Ôi chao là tình, phát sợ!. Đó là nói với ai kia, chớ với dì Ba Thanh Hồng của tôi thì thiệt là vô nghĩa. Có chăng là con mắt đa tình của Dì, phát sợ thì có!.
Tôi nhớ, hồi đó có chú Quốc Việt năng lui tới nhà. Chú đẹp trai, ăn nói có duyên lại con nhà dư dả. Chú đến nhà để học cách ghép Hồng với Ba tôi. Nhưng đó chỉ là cái cớ. Mục đích chính là chú thiết tha mong muốn được ghép đời chú vào đời của dì Ba Thanh Hồng. Hồng nào thì cũng là hồng. Đẹp mà lại có gai nữa. Chú biết vậy mà chú không sợ, một phần ỷ lại vào tài ăn nói có duyên và gia đình bạc tiền rủng rỉnh.. Chú siêng học hỏi lắm tới nổi Ba tôi phát phiền, phát bực. Đi học ghép cây ngồi lê ngồi lết dưới vườn suốt buổi vậy mà chú ăn mặc bảnh bao lại còn xức dầu thơm lựng. Không chịu chăm chú vào mấy cây Hồng mà con mắt cứ láo liêng. Có lần, Ba tôi giận quá, Ông cằn nhằn : “ Chú mầy sao mà tối dạ quá chừng vậy?. Qua đã chỉ tới cả chục lần là vạt mặt chậu cho khít khao mối ghép mà làm hoài không xong!. Chú ý nè, qua dạy một lần nữa nghen. Làm không xong thì đi luôn đừng ghé nữa. Mắc công quá mà!”. Sau lần đó, Ba tôi có ý phàn nàn với Mẹ tôi. Bà cười ngất rồi nhỏ to với Ông điều gì đó. Ông khựng người một thoáng rồi cũng cười theo: “Thiệt vậy sao?. Chuyện này nghe cũng ngộ. Thôi, để tui giúp nó một tay. Tui không giận nó nữa. Biết lòng dạ nó rồi, ai mà nỡ!”.Nhưng dì Ba Thanh Hồng của tôi không nghĩ vậy. Biết lòng dạ chú Việt rồi mà Dì cứ hành hạ đủ điều. Đụng mặt nhau bất ngờ, mặt Dì lạnh tanh, phớt tỉnh. Dì bắn tiếng, chê chú không hết lời. Thậm chí mỗi lần phải đi ngang qua chỗ chú làm, Dì ngúng ngoảy, vùng vằng khó chịu. Mỗi lần như vậy, chú Việt buồn lắm, ngồi thừ một chỗ không nói, không cười. Ba tôi phải dỗ dành chú như đứa con nít. Dì xé nát trái tim chú ra làm trăm mảnh vá khâu không kịp. Đến nỗi chú phát bịnh, xin phép Ba tôi nghỉ dài hạn, không hẹn ngày “đáo lai nhiệm sở”!. Ba tôi buồn, hụt hẫng, ngẩn ngơ. Mẹ tôi buồn, tiếc. Chỉ mấy ngày chú vắng mặt, vườn Hồng xụi lơ, vắng tanh vắng ngắt. Cho tới một lần, tôi ngỡ ngàng hết sức khi nhìn thấy cảnh dì Ba Thanh Hồng ngồi bệt dưới thảm cỏ, khóc muồi mẫn. Mẹ tôi, có vẻ giận, ánh nhìn nghiêm khắc, nói với Dì : “ Như vậy chẳng khác gì mi đuổi hắn đi. Mà thiệt, hắn đi rồi đó. Bây chừ có khóc lóc thì giữ được cái chi. Sao hồi nớ mi đanh đá, chanh chua, dữ dằn rứa?. Sao không rớt một giọt nước mắt cho mượt mà tươi mát lòng hắn. Để hắn khô héo mỏi mòn. Hắn sợ, hắn bỏ đi là đúng. Thương người ta kiểu nớ là thương ác, chớ thương chi mà thương, cái con chằn lửa”. Rồi nhận thấy mình hơi quá đáng, Mẹ tôi dỗ dành Dì : “ Thôi, nín đi rồi tính liệu trì kéo hắn về. Tình cảm con người cũng rắc rối lắm. Chắc là phải nhờ anh Hai bắn tiếng cho hắn tới. Lần ni, nếu mà hắn có tới thì em phải bấu cho chặt vô đó!. Con chằn…” Mẹ tôi ngưng kịp ở chữ cuối. Tôi biết là bà giận lắm nhưng không nỡ nói nặng lời. Chằn lửa hay chằn tinh chi rồi cũng phải lụy tình. Trái tim vẫn còn trần tục. Con mắt vẫn cứ liếc tình. Dì Ba ơi là Dì Ba!.
Bẵng đi một thời gian không thấy chú Quốc Việt tới lui chi nữa. Chú đi rồi, mang mối tình thiên thu mà bỏ đi trước khi Ba tôi tới ngỏ lời. Nghe đâu chú bỏ vô Sàigòn chữa cơn bịnh trầm kha rồi mất biệt từ đó. Dương gian chừng quá rộng, mắt lệ giai nhân không níu được bước chân người. Lại là người mang bệnh tình si. Con chim một lần đau sợ ná. Con cá một lần mắc câu, sợ điếng cái dây. Chắc là chú Việt sợ rằng, nếu một lần trở lại, gặp tính nết trái gió trở trời của Dì tôi lại lậm thêm một lần đau, chắc khó thoát nẻo hồng trần!.
Dì Ba tôi thời gian biếng lười son phấn. Biếng nói biếng cười. Ngồi đâu ngồi lì như cục đất. Đứng đâu đứng sững như trời trồng. Nanh vuốt chằn tinh, chằn lửa chi đó hết muốn vồ chụp tới ai. Trạng thái Dì như người bị nhồi máu cơ tim, nhói đau từng chập. Dì rã rời thân xác một thời gian không lâu như mọi người (hay nói cho đúng, như tôi) nghĩ. Lại bắt đầu vươn mình sau giấc ngủ tình si. Giọng nói bắt đầu đổi tông, chanh chua đanh đá. Tiếng cười đã cao cung, rộn rã. Dì lại tươi tắn như hoa. Lại mặn mòi như trách cá bống kho tiêu. Thiệt lạ!.

Tôi nhớ, có chú Chung, là sinh viên Văn Khoa, hát hay đờn giỏi. Có tài làm Thơ nên lấy bút hiệu là Quế Sơn. Quế Sơn là một địa danh ở quê chú. Nhưng mà muốn nghĩ là cây quế ở trên núi (hay rừng) như tôi thường hỏi chú, cũng được. Tính chú trầm lặng, có chiều sâu.
Dịp Hè năm đó, chú theo Đoàn Thanh Niên Chí Nguyện về xây dựng trường lớp ở Thôn tôi. Đoàn chia làm năm nhóm, được phân về ở các nhà trong xóm. Các cô, chú làm việc không có lương bổng, chỉ có một tấm lòng. Ban ngày quần quật ngoài sân trường. Ban đêm lại tổ chức văn nghệ giúp vui bà con trong xóm. Cây đàn ghi ta cũ mèm và giọng hát truyền cảm của chú Chung đã chinh phục được lòng người. Giấc chiều, cả xóm lao xao. Không ai dặn ai, đều lo cơm nước sớm để kịp ra sân trường coi văn nghệ. Sân khấu lộ thiên trời là mái, đất là sàn. Dàn nhạc chỉ độc một cây đàn của chú Chung. Hai cái muỗng nhôm gõ nhịp theo điệu nhạc của chú Tiến. Hai cái nắp nồi cũ mèm móp méo lấy từ hai cái nồi của Dì Tư cho mượn để Đoàn nấu cơm kho cá hàng ngày. Cái thôn xóm vốn hẻo lánh buồn hiu quanh năm suốt tháng trên miệt rẻo cao đã được đánh thức bởi không khí sinh động của những đêm văn nghệ. Có nhiều lý do để bà con tìm tới. Lý do rõ nhất là không biết làm gì trong khoảng thời gian từ khi mặt trời khuất núi cho tới lúc leo lên giường, phủi cẳng, đánh một giấc đầy đặn để lấy sức ngày mai ra vườn, ra ruộng, ra ao cá, ra đồi trà. Đám thanh niên thanh nữ thì nhất định không chịu bỏ qua giờ phút bằng vàng. Có cô lại thầm son phấn chút đỉnh. Có anh lén chải đầu láng mướt. Đi tìm tình yêu mà!. Đâu có thể hời hợt, qua loa được.
Phải công nhận là chú Chung có nhiều tài. Chú hát hay, đàn giỏi, ngâm thơ rất truyền cảm lại ăn nói có duyên. Trong chú, hình như có hai con người trái ngược. Ban ngày, chú thầm lặng ít nói ít cười chỉ lo công việc. Nhưng khi màn đêm buông xuống và khi bước lên sân khấu phục vụ giúp vui bà con, chú hóa thân thành một con người khác. Linh hoạt, nói năng lưu loát, trơn lu như da cá trê. Dưới ánh đèn sân khấu và trong ánh mắt ngưỡng mộ của bà con, chú vươn lên, biến dạng thành một…siêu sao. Tiết mục nào cũng được bà con tán thưởng, vỗ tay la hét om sòm. Và rồi đâm ghiền cái không khí văn nghệ hằng đêm đó!. Đến như Ông bà Ngoại tôi sau giờ cơm nước buổi chiều cũng níu tay nhau ra sân trường, sợ trễ. Chỉ có dì Ba Thanh Hồng tôi là vẫn bình thản. Dì lại chê chú Chung đủ điều làm tôi thầm bất mãn. Dì ví chú như một tên hề hạng bét, nói năng chọc cười thiên hạ thiệt vô duyên. Người ta cười là cười cái vô duyên đó chớ có phải cười tán thưởng đâu. Giọng hát chú ngọt ngào như có chất đường mía lau, thanh tao như múi bưởi Thanh Trà vậy mà Dì nỡ chê bai là như vịt đực kêu bầy, chó tru ngựa hí. Dì còn chê chú nhiều điểm nữa và tất nhiên không bao giờ tới sân trường. Mỗi đêm cả nhà chuẩn bị đi coi văn nghệ, Dì rút vô phòng. Có lần Mẹ tôi rủ Dì đi xem thử cho biết, Dì trề môi ngúng nguẩy, lại thốt lời chê bai. Tôi đâm giận và tự nhiên ghét Dì hết sức!.
Rồi cũng tới lúc công việc xây dựng trường lớp hoàn tất. Chuyện chia ly đã tới cận kề. Đêm cuối cùng trình diễn văn nghệ để ngày mai Đoàn lên đường về lại Sàigòn, bà con nườm nượp kéo tới sân trường đông như ngày hội. Hai tiếng chia ly đã là một động lực vô hình để mọi người cùng xích lại gần nhau. Đêm đó, chú Chung đã để lại trong lòng bà con một niềm cảm xúc dạt dào. Tiếng đàn như nức nở nghẹn ngào. Tiếng hát như có một âm điệu ray rức xốn xang. Tôi buồn lắm.
Đêm văn nghệ đã chấm dứt một đỗi lâu, bà con lục đục kéo nhau ra về, tôi vẫn còn ngẩn ngơ đứng lại. Tự nhiên tôi muốn gặp chú Chung. Muốn nói với chú một lời dẫu ngắn để mai chú về lại Sàigòn xa tít tắp, chú còn giữ lại chút gì để nhớ đến tôi, thằng bé đầu trần chân đất trong cái xóm hẻo lánh miệt cao này. Vậy là tôi quyết định một mình đến nơi chú ở trọ.
Qua khỏi đồi trà của Ông bà Ngoại bắt đầu rẽ vào con đường nhỏ um tùm những bụi sim dại, tôi bỗng nghe tiếng nói thầm thì, rồi có tiếng khóc. Động tính hiếu kỳ, tôi khom người len lén đi về hướng có những lùm bụi um tùm nhất. Dưới ánh trăng mờ nhạt, tôi giật thót người khi thấy chú Chung. Đúng là chú Chung. Chú đang ngồi yên lặng trầm ngâm, tay chú cầm cuốn sách, tay kia chú vòng qua ôm vai một người con gái, đang gục đầu vào vai chú. Tim tôi đập thình thịch, cố rúm người cho nhỏ hơn, hai mắt nhìn chăm chăm vào người con gái đang gục đầu trên vai chú. Tiếng khóc đè nén như tiếng người nấc cục, rồi tôi nghe tiếng nói : “ Mai anh về lo xong việc nhớ trở lại thăm em. Đừng bắt em chờ, em …..”. Tôi giật bắn người, ngã ngửa về phía sau. Mồ hôi tự nhiên toát ra, nóng ran cả người. Không còn kịp suy nghĩ, tôi cố sức ngồi bật dậy rồi vọt thẳng ra con đường lớn phía trước. Tiếng nói đó cứ đuổi quấn chân tôi, loạng choạng theo những bước chạy ngả nghiêng xiêu vẹo. Không, tôi không thể nghe lầm được. Chắc chắn là tôi không nghe lầm. Đó chính là giọng nói của Dì Ba. Dì Ba Thanh Hồng của tôi đó….
Buổi sáng Đoàn lên đường thật sớm. Xế chiều, anh Tư Sa chuyên nghề đi buôn trà chuyến trở về, vô tình thuật lại một chuyện rất thương tâm. Có chiếc xe đò xuống đèo Chuối, do vì bánh trước nổ bất ngờ, tài xế mất bình tỉnh không kềm được tay lái nên chiếc xe đã lao xuống vực sâu. Trên xe có một số hành khách và Đoàn Thanh Niên Chí Nguyện vừa xong công tác trở về. Bà con ngơ ngác, xôn xao bàn tán. Tin tức loan truyền nhanh từ đầu trên xóm dưới. Tôi nghe choáng váng. Dì Ba Thanh Hồng thì ngả người, bất tỉnh.
Dì hoảng loạn tinh thần, rũ buồn, ngơ ngác. Mặt phấn môi son trở màu xanh lét. Ông bà Ngoại tôi lo lắng, thuốc thang chạy chữa cho Dì. Nhưng chỉ có mình tôi biết chắc là chẳng có thuốc nào mà chạy chữa cho được căn bệnh trầm kha đó. Chỉ còn nước chờ thời gian.
Mà thiệt. Chỉ một thời gian cũng không lâu lắm, Dì lấy lại được tiếng cười. Như loài gấu ngủ đông trở mình thức giấc khi mùa Xuân ấm áp trở về, Dì trở lại hồng hào tươi tắn. Lại tô son nhồi phấn. Lại vẫn cứ là dì Ba Thanh Hồng!

Và Dì Ba của tôi cứ chơi vơi trong những cuộc tình lãng đãng không biết cho tới lúc nào!.
Sáng nay, Dì đi ra, đi vô, đứng lên, ngồi xuống. Mưa ngoài trời hạt đều, trắng xóa đồi trà, ướt đẫm mấy cụm cúc đơn đang nụ trước sân nhà. Tôi ngồi thu người trong góc sofa, cầm cuốn sách hình chăm chú. Nhưng thật ra, tôi có thấy gì đâu!. Tôi đang lén theo dõi từng cử động của Dì. Dì đi quanh phòng dễ cũng mấy mươi lượt. Những bước chân khi thì nhẹ nhàng, êm ái. Khi thì cuồng nộ hung hăng như muốn chụp vồ, băm vằm xé vụn ai đó, nếu mà vô phúc Dì chụp được. Những lúc đó, tôi nín thở, cố thu người cho thiệt nhỏ lại. Rõ ràng là Dì có vụt đi qua trước mặt tôi rất nhiều lần, như bão như dông, nhưng mà Dì không biết, không thấy, không nghe. Khuôn mặt Dì diễn tả hết tình cảm hỉ, nộ, ái, ố qua từng bước chân mau, chậm, nhẹ nhàng. Cuối cùng, Dì ra đứng bên cửa sổ, mơ màng nhìn ra màn mưa. Những giọt mưa trái mùa đan chéo như chừng muốn kéo ngược thời gian trở lại mùa mưa dai dẳng thảm sầu vừa mới qua đi. Qua từ khi con én gọi bầy. Mùa Xuân đã dợm bước xuống dương gian đem sức sống tràn đầy cho cỏ cây hoa lá và cho cả con người. Vậy mà cơn mưa trái trời chi mà ác, để tội Dì Ba tôi đi đứng không yên, bồn chồn ray rức. Tôi biết Dì đang đợi một người : chú Đông. Trọng Đông. Người-tình-trăm-năm của Dì. Đó là lời Mẹ tôi thường nói đùa mỗi khi nhắc tới chú Đông trước mặt Dì và khi Dì đang vui. Cuộc đời tình ái của Dì đúng như lời ông thầy bói mù thường ghé qua xóm, tiên đoán là gian truân khổ nạn. Dì nhứt định không tin điều đó và ghét cay ghét đắng ông thầy bói mù. Tôi biết, đó chẳng qua chỉ là một sự phản kháng che lấp sự tin tưởng của mình. Sau cái vụ chú Chung, tưởng là trái tim nóng bỏng của Dì trúng nước, lạnh lẽo để rồi nằm yên thoi thóp cầm chừng. Nhưng không, vẫn âm ỉ nóng ran, vẫn giữ đều nhịp đập theo những cuộc tình, thiệt đúng như lời ông thầy bói mù tiên đoán, đầy khổ nạn. Tôi nhớ tới chú Hành, chú Nam rồi chú Tính. Mỗi người một vẻ dáng riêng, đi vào đời Dì mà không hề ngừng lại. Ở mỗi người, Dì đã rớt nhiều nước mắt và gởi lại nhiều thương đau. Dì quỵ xuống nhiều lần thê thảm rồi lại đứng lên nhiều lần để tiếp tục những bước đi cho trọn đời con gái. Ở mỗi bước đi còn giữ lại nhiều nếp nhăn hằn sâu cằn cỗi. Cho tới lúc Dì Tư Thanh Cẩm của tôi đã có chồng con thì Dì Ba tôi cảm thấy mình quá chậm. Như con rùa, thua chị thua em. Thầm kín trong lòng người con gái nào chẳng mong ước có một bến nước, cho dù là trong đục. Bây giờ, rõ ràng Dì không còn hơi sức đâu mà cãi tay đôi với dì Ba Thanh Cẩm tôi về chuyện tình yêu nữa!. Chắc là mệt mỏi và đuối lắm rồi!. Và, Dì chọn chú Đông. Ông bà Ngoại tôi có ý không ưng, chê chú làm nghề thợ may suốt đời ngồi ăn vải. Con mắt suốt ngày nhìn đường kim mũi chỉ, e lòng dạ cũng nhỏ nhoi vậy thôi!. Nhưng mà Dì đã chọn chú Đông rồi, có đưa chú Xuân hay chú Hạ, chú Thu thì Dì cũng bĩu môi.
Mà cũng tại vì cơn mưa trái trời mà chú Đông bị Dì tôi rủa tơi bời!. Tới khi Dì quyết định không đi tới đi lui đi qua đi lại nữa, ngúng ngoảy xuống bếp xắn tay phụ với Mẹ tôi và dì Tư Thanh Cẩm làm mứt món, thì ông Trời đổi sắc. Tiếng mưa thưa dần rồi ngưng đành đoạn. Nắng hửng lên, bất ngờ, như là trò ảo thuật. Nắng trải thảm, vàng hoe dọc cả đồi trà. Mây đen rã đám trôi giạt về hướng núi. Trời ráo hoảnh, trong xanh. Dì vừa cầm con dao định băm vằm mấy củ cải làm dưa món cho hả cơn nóng giận, bỗng khựng lại, lắng nghe. Rồi Dì nghiêng người nhìn qua cửa sổ, gương mặt rạng rỡ nụ cười. Bỏ vội con dao lăn lóc tội nghiệp trên bàn, Dì vội vã đi lên phòng khách. Nỗi háo hức, chờ mong không che dấu của Dì làm cho tôi thấy thương cảm thật lòng. Tôi biết, sâu lắng trong lòng, Dì không dấu được những đợt sóng tình cuồn cuộng và háo hức một nơi chốn tìm về bến đổ. Dì đâu còn trẻ nữa!. Đâu còn sức chịu đựng những nghiệt ngã của định mệnh cứ dồn dập ập lên đời Dì. Đã bắt đầu quơ quào bắt với một điểm nương tựa cho yên thân đời con gái. Và Dì túm được chú Đông. Có mà Trời gầm, cũng không nhả!.
Con én lượn vòng gọi Xuân dưới trời nắng ráo, Dì khe khẽ hát. Có tiếng con chim sẻ nhảy chuyền líu lo phụ họa. Mùa Xuân đã về rồi, giữa đất trời bao la và trong cả lòng Dì. Dì chăm chú sửa lại bình hoa trên bàn, cao hứng hát thêm một đoạn nhạc Xuân. Vẫn không quay người lại, Dì nói, như đang nói vơí mấy đóa hoa hồng :
– Thôi, đủ rồi nghe con! Đứng lên rồi đi đâu đó giùm một chút. Biết lát nữa Dì có khách không?. Cứ ngồi đó dòm ngó hoài không biết dị
Tôi giật nẩy người, vội đứng lên, chuồn lẹ xuống bếp.
Cả nhà đang quây quần lo nấu nướng chuẩn bị tất niên. Năm nào cũng vậy, cứ sau khi đưa Ông Táo về Trời, Ông bà Ngoại tôi vẫn cúng tất niên sớm hơn mọi nhà. Không khí Xuân làm rộn ràng lòng người. Cả nhà đều hội về đông đủ, tiếng nói cười, đùa giỡn náo nhiệt hẳn lên. Thiếu tiếng cười của Dì Ba Thanh Hồng. Nhưng tôi biết, lát nữa đây khi chú Trọng Đông tới, tiếng cười của Dì rồi sẽ át cả tiếng cười của mọi người.
Rõ ràng, chú Đông là mùa Xuân của Dì.
Trời gần xế chiều, khi cà nhà đã chuẩn bị xong mọi việc, Dì Ba tôi bắt đầu mất bình tĩnh. Tiếng hát ngưng ngang. Cả nhà biết ý, cố đi đứng nhẹ nhàng, nói thì thầm, cười nén tiếng. Đám con nít bị xua ra vườn sau.
Bỗng dưng có tiếng rộn ràng ngoài cổng. Mọi người nhìn ra thấy anh Tân, người làm công cho ông bà Ngoại tôi, mặt mày hớt hãi chạy tuốt vô sân nhà. Dì Ba tôi vội vàng mở cửa phòng khách vụt ùa ra. Hai người trao đổi với nhau điều gì đó, rồi tôi thấy Dì Ba chạy ra cổng. Dì vấp ngả nhiều lần, cố gượng đứng lên, loang choạng chạy tiếp.
Cả nhà vội xúm quanh anh Tân, rụng rời khi biết chú Đông vừa được đưa vào bệnh viện cấp cứu. Do trời mưa đường trơn trợt, chiếc Honda khi xuống dốc bị đưa ngang quăng chú ngả dập đầu xuống đường, bất tĩnh.

Từ ngày chú Đông xuất viện, chú trở nên ngơ ngẩn, thất thần khi tỉnh khi mơ. Dì tôi tình nguyện rước chú về nhà để chăm sóc. Dì tự coi đó là trách nhiệm và bổn phận. Cuộc sống của Dì cũng đột nhiên thay đổi hoàn toàn. Dì trở nên nghiêm trang và thầm lặng như một cái bóng. Biếng nói, biếng cười và chẳng màng se sua chải chuốt. Dì đã tự nguyện đem cuộc đời mình vào nếp sống khổ hạnh. Lo làm việc xã hội và thường giúp đỡ mọi người. Trái tim Dì đã không còn háo hức, vồ vập cho riêng mình những đam mê khát vọng mà dàn trải cho hết thảy mọi người. Dì vẫn còn nét đẹp để còn có nhiều Chú phải lụy tình, nhưng Dì đâu còn đoái hoài và tơ tưởng gì nữa!. Mỗi năm, Dì có năm ngày để cúng giỗ, không hề xao lãng. Mỗi lần như vậy, Dì ngồi thầm lặng một mình trong khói hương lảng đãng, lặng lẽ để cho những giọt nước mắt tha hồ rơi ướt đằm những cuộc tình và những khuôn mặt người tình bất hạnh đã từng ngừng lại, đi qua trong đời Dì…. Sau đó, Dì dành nhiều thì giờ để chăm sóc chú Đông, coi như là một niềm vui trong cuộc sống. Chú suốt ngày đi thơ thẩn trong vườn, nói năng lảm nhảm.
Có một điều rất lạ là Chú thường thừa lúc Dì bận rộn công chuyện, lén bỏ nhà đi dọc theo con đường cũ. Chú vừa đi vừa mếu máo như đứa con nít. Mắt láo liêng tìm kiếm hai bên đường, chẳng thèm để ý đến xe cộ hay người qua kẻ lại. Mỗi lần đi tìm Chú, đem Chú về thiệt là khổ. Chú trì kéo không chịu về, mắt cứ nhìn quanh, tay chỉ trỏ lung tung, miệng lảm nhảm những điều gì đó, không ai nghe rõ.
Anh Tân, có lần sực nhớ, nói với Dì tôi : “ Cô Ba, như vậy là Cậu đi tìm bó hoa Hồng đó!. Tui nhớ, lúc đó có một bó hoa Hồng lớn lắm. Nó nằm bên lề đường, cạnh chiếc Honda. Chắc là Cậu mua bó hoa đó để dành tặng cô Ba ..”. Câu nói vô tình của anh Tân làm Dì Ba tôi bật khóc mùi mẫn.

Mùa Xuân năm đó, trước khi gia đình tôi rời xóm nhỏ. Cũng vào những ngày giáp Tết, mấy người đi bán hàng chợ sớm trở về thấy chú Đông nằm bên lề đường. ngay nơi xảy ra tai nạn năm nào. Chú nằm yên như ngủ….

Trần Huy Sao

BUỔI ĐI DẮT THEO BUỔI NHỚ

 

chiều xưa lên đồi Trọc thả Diều
bếp nhà xóm quê tản mạn khói
diều gió đang no réo bụng đói
mùi cá Cơm rang chờ nồi cơm

đồi nương gió mát buổi chiều hôm
khói bếp nhà ai chơi chi nghiệt
ngó nhau không nói mà tình thiệt
là thiệt tình bụng đói réo cơm

chuyện xưa giờ tự nhiên nhắc nhớ
ở một nơi xa rất đỗi gần
Diều xưa nương gió bay cao ngất
chỉ còn hai đứa vời trông theo

nhắc nhẹ nhàng thôi là nhắc khéo
mẻ cá Cơm rang làng xóm xưa
em có mặn mòi thêm chi nữa
để tôi còn kịp bỏ trong Thơ

cám cảnh mùa thả Diều ngày đó
chiều quê kỷ niệm rải nhớ hoài
giờ muộn dòng trôi đời thương hải
nhắc lại cho vơi bớt nhớ nhà

bao chuyện xóm quê nhiều không ngạ
Diều căng đứt chỉ phủ chiều đời
may còn mang được hồn sương khói
sương khói gì đâu!. Chỉ thơ văn….

muốn viết thêm mà thôi đủ ngấn
không chừng viết nữa lại buồn lan….

viết dưới hiên trăng

Trần Huy Sao

Dẫu Một Đời Phiêu Bạt

gởi bạn bè dưới mái trường Trung học

tôi đã về đây. Đừng làm mặt lạ.
giữa ngã tư đường Y Yút-Quang Trung
mắt lơ láo nhìn người qua kẻ lại
lòng nôn nao chờ mãi tiếng reo mừng

chả mấy lúc ghé về thăm chốn cũ
kể từ khi rời bỏ mái trường quen
gởi lại sau lưng mưa bùn nắng bụi
và tháng năm, phải nói, rất êm đềm

những người bạn một thời chia kỷ niệm
nay vào đời chia dâu bể nhiễu nhương
chim vỗ cánh lạc phương trời xa biệt
suối ra sông đau nỗi nhớ cội nguồn

giữa phố đông mình tôi đứng lặng thầm
tội nghiệp quá nỗi lòng người trở lại !
đường xa ngái dõi tìm về cố quận
ôm nỗi sầu ngơ ngẩn ngó trời mây !

Banmêthuột của một thời, mất dấu
lạ trong tôi từ mỗi ngã tư đường
bạn bè hỡi, dẫu một đời phiêu bạt
trời quê xưa vẫn đợi người viễn phương…

tôi đứng đây, gió ngược về trường cũ
mây đuổi nhau lạc hướng Thác Nhà Đèn
tay che nắng, mắt nheo nhìn cho rõ
nào thấy ai, chỉ thấy, mỗi-mình-tôi !…

Trần Huy Sao

GIANG HỒ

 

buổi sáng uống cà phê ở Huế
ngó trời Vỹ Dạ mưa bay bay
lát nữa e chừng bỏ lại đây
Huế với cơn mưa buồn thấm đất

 

giang hồ ta nửa đời phiêu bạt
có hề chi nỗi mất nỗi còn !

 

buổi chiều đi nhậu kiểu sài gòn
bàn ghế lấn tràn ra hè phố
quán lộ thiên bập bùng lửa đỏ
chiều nghiêng soi vạt nắng bửa đầu
cơn mưa Huế chiên giòn mất dấu
ly cà phê sáng Huế nguội rồi
ta lại bỏ quên trong thành Nội
chút tình riêng O gói bới theo
chút tình riêng O dặn dẻo keo
e khó tránh ghé về lại Huế
giang hồ ta đã từng trăm nẻo
mà có nơi mô ghé lối về
O nói chi nghe lạ rứa tề
mai mốt không về ai bắt lỗi !

 

ly cà phê sáng Huế nguội rồi
O cứ ngồi với Huế buồn mưa !

 

ta về tới sài gòn giữa trưa
chiều về tới ly beer bàn nhậu
bàn trống hoảnh ly beer đóng chấu
bụi sàigòn đậm đặc cô đơn
có buồn nào rồi sẽ buồn hơn
khi có bạn rồi không có bạn
khi ở chốn đông vui náo loạn
một mình ta dị hợm ngồi trơn
một mình thôi đâu có gì hơn
ly beer cũng một mình cạn trớn
điếu thuốc cũng một mình nhíu ngọn
khói bay trơ nhập bụi sài gòn
bụi sài gòn đậm đặc cô đơn
mấy thằng bạn ngóng hoài không thấy !

 

giang hồ sao giống mơ hồ vậy !
ngồi giữa quê mà thấy lạc loài…

 TRẦN HUY SAO

MƯA HUẾ

gởi chị Ng.
 
chị khóc chị cười suốt mấy buổi em về
hèn chi Huế cứ mưa rồi lại nắng
mai em đi rứt lòng chi cho đặng
chị gượng cười cho mưa Huế buồn thêm
buổi em về phong thổ chưa quen
chị tưởng em buồn khi về với Huế
có phải vậy đâu. Được về quê Mẹ
là niềm vui chơ sao lại nỗi buồn !
ngặt lối về khi Huế gió mưa tuôn
trời ảm đạm khiến lòng người sầu thảm
mưa xứ Huế có điều chi sâu lắng
có điều chi nín nghẹn chẳng nên lời
hay tại dòng đời hưng phế nổi trôi
Huế vẫn giữ dáng trầm tư ngày cũ
tháp cổ rêu phong đền đài cung phủ
vẫn như còn nguyên nếp thời gian
khi em về thấy mưa giăng Vỹ Dạ
ngó bên tê Cồn Hến lòng ngẩn ngơ
nước sông Hương tràn mé đôi bờ
thương mấy nhịp Trường Tiền sóng nước
mấy mươi năm rồi bữa ni về được
lặng nhìn mưa mà thương Huế xót xa
hồi nớ Mạ ở đây nì ! Vỹ Dạ
chừ em về Vỹ Dạ, chị chờ em !
chị nhủ em là đi nhớ đừng quên
mai mốt nhớ ghé về đây thăm chị
hai chữ nhớ khiến lòng em ủy mị
khóc lặng thầm xa Huế, Huế mưa ơi !

 TRẦN HUY SAO

DIỀU GIẠT GIÓ ĐƯA …

 

gió mười phương tìm ghé tạm phương này
thoáng se lạnh lây buồn lan chút nhớ
phía cuối ngàn xa có bầy chim nhỏ
nhìn nhá nhem cứ ngỡ là cánh Diều

cuộc bể dâu xiêu giạt gió trăm chiều
cứ bâng khuâng nhớ cánh Diều ngày đó
xa lắm rồi sao cứ hoài thương nhớ
cánh Diều bay trên đồi Trọc mổi chiều

đồi đã mỏn đời theo năm tháng buồn hiu
tựa cánh Diều bay căng dây đứt chỉ
lảo đảo lộn nhào theo dòng trôi hệ lụy
bỏ mùa xưa lưu lạc thời ấu thơ

thời dán giấy thêm đuôi cho Diều ngon trớn
chỉnh lại dây lèo cho đằm cơn gió ngược
cuộn chỉ nhà nghèo nơi trầy nơi xước
gió căng dây Diều đứt chỉ lộn nhào

đồi Trọc xóm xưa Diều bay thấp bay cao
quà tặng tuổi thơ rong ruổi dặm đường đời
ngỡ mất dấu những cánh Diều ngày đó
sao chiều nay gió ngược ngàn về đây

về chi đây nơi xa xăm làm vậy
không ghé về chiều đồi Trọc xóm xưa
hay xóm làng giờ đã không còn nữa
mới tìm người xưa gởi bớt ngậm ngùi

tôi giờ chốn dặm ngàn ngăn gió núi
cuộn chỉ đời phiêu giạt đã phong rêu
nhắn vói mùa xa đồi Trọc mổi chiều
cứ giú thầm nhau đời nhau hoài niệm

chiều phương xa gió trượt ngàn tìm kiếm
cứ thúc hối tôi quày ngó lại hồi xưa
trễ muộn lắm rồi nhớ quên chi nữa
thôi cứ dòng đời …diều giạt gió đưa….

viết dưới hiên trăng
TRẦN HUY SAO