Đà Lạt, Phiêu Lãng Giáng Sinh Xưa

 

1.

Tôi biết bản “Bài thánh ca buồn” của nhạc sĩ Nguyễn Vũ đâu hồi mới 15 tuổi, thời học đệ tam C trường Pétrus Ký. Ông nhạc sĩ tài hoa đã kể thuở còn một cậu bé 14 tuổi sống trên Đà Lạt, ngày ngày đi lễ ở nhà thờ Con Gà thì tình cờ gặp một cô gái rất xinh. Mở lời làm quen thì biết cô ấy lớn hơn mình 2 tuổi nhưng trái tim vụng dại của cậu con trai mới lớn vẫn đập loạn nhịp trước bóng dáng thiếu nữ có mái tóc dài buông thả, đẹp như mộng ảo giữa cảnh sắc đồi thông Đà Lạt sương mù.

Tôi mê mẩn trước lời kể của nhạc sĩ Nguyễn Vũ, rằng có một lần tan lễ Giáng sinh thì trời đổ mưa, cô gái nép vội vào mái hiên ngôi nhà nọ gần nhà thờ, ông cũng đứng trú bên cạnh. Những kỷ niệm và xúc cảm thiết tha lần ấy chính là nguồn cảm hứng để ông viết nên bản “Bài thánh ca buồn” sau này.

Năm tôi ngồi lớp đệ nhị C là 1965, tôi lại càng thích bản “Bài thánh ca buồn” bởi bắt đầu quen Huyền ở Sài Gòn, bởi ngẫu nhiên Huyền cũng là người gốc Đà Lạt, cũng lớn hơn tôi 2 tuổi, cũng duyên dáng, cũng tóc dài, nghĩa là có khá nhiều điểm giống cô gái trong chuyện tình dịu ngọt thời thơ dại của nhạc sĩ Nguyễn Vũ …

Cuối tháng 12 năm ấy chợt có kỳ trại đặc biệt được Bộ Giáo dục thời đó tổ chức vào dịp Giáng sinh, ưu ái dành cho ban đại diện học sinh và các lớp trưởng khối đệ nhị cấp của riêng bốn trường lớn nhất Sài Gòn là Pétrus Ký, Chu Văn An, Gia Long và Trưng Vương được đi chơi Đà Lạt 5 ngày. Tôi là lớp trưởng nên được dự kỳ trại có tên gọi thật đẹp là trại Anh Đào này.

Vậy là tôi đã có cơ hội lần đầu tiên lên Đà Lạt, lại trúng ngay mùa Noel, mùa đẹp nhất để du khách viếng thành phố ngàn hoa. Tôi nghĩ ngay đến Huyền, bởi khi đó tôi chỉ có Huyền là người quen/bạn duy nhất có nhà ở Đà Lạt.

2.

Đỗ tú tài nhất xong, Huyền từ biệt bố mẹ xuống Sài Gòn học sư phạm mẫu giáo. Do người bà con giới thiệu, cô gái đến ở trọ trong trường Mạnh Mẫu, một trường mẫu giáo nổi tiếng ở khu Tân Định, nơi em gái út của tôi đang theo học. Một lần nọ, vào giờ tan học buổi chiều, anh tài xế ở nhà lái xe đi rước con bé, tôi rảnh nên cũng theo chơi. Đang thơ thẩn ngồi chờ trước sân chơi xích đu, cầu tuột, tôi thấy một cô gái thật trẻ ra phụ các cô giáo trông chừng bọn học sinh lí lắc hay leo trèo, nhảy nhót quá đáng. Gương mặt cô gái không trang điểm nhưng vẫn thùy mị dịu dàng, mái tóc huyền xỏa ngang vai, giọng khuyên bảo bọn trẻ nghe ngọt như mật …, Huyền thu hút tôi ngay từ cái nhìn đầu tiên. Rồi thư viết cho nhau đã nhiểu nhưng ngồi bên nhau trong khuôn viên nhà trường thì còn ít bởi để giữ gìn cho các thiếu nữ ở trọ, qui định về khách thăm viếng ở đây kia rất nghiêm nhặt.

Huyền nhận lời hẹn gặp và cho tôi địa chỉ ở Đà Lạt. Tôi sung sướng đến muốn bay bổng lên trời xanh. Thế là đến tuổi 16 tôi mới được thỏa mơ ước cháy bõng từ thời thiếu niên là được lên Đà Lạt, đặt chân đến Thành Phố Của Ngàn Hoa, Thành Phố Sương Mù… như văn chương, âm nhạc thường ngợi ca. Càng sung sướng hơn là trong chuyến du lịch miễn phí diệu kỳ này, tôi sẽ có dịp gần gũi hơn với cô bạn xinh đẹp vào đúng dịp Giáng sinh, nghĩa là gần như tôi sẽ được thể nhập trọn vẹn – chứ không phải ngồi tưởng tượng nữa – vào khung trời lãng mạn tuyệt vời của bản “Bài thánh ca buồn”.

3.

Trời mới rạng đông, trại viên trại Anh Đào được đưa ra phi trường TSN, ngồi máy bay quân sự C123 lên Đà Lạt. Mờ sáng đã đến phi trường Liên Khàng, thời tiết thật tuyệt diệu, không quá lạnh như tôi tưởng tượng.  Có chuyện hơi buồn cười là suốt 5 ngày trại, toàn thể bọn trại viên con trai được cho về ở chỗ… con gái –  trường nữ trung học Bùi Thị Xuân. Ổn định chỗ ở xong, bọn tôi được tự do ra phố vài tiếng, chỉ cần 11 giờ 30 phải về lại trường để đi ăn cơm trưa.

Theo một nhóm bạn xuống đến bờ hồ Xuân Hương thì tôi tách ra, nói với tụi nó là cần đi tìm, thăm nhà bà con. Tôi đứng bên lề đường, dáo dác kiếm taxi. Ở Sài Gòn thời ấy có một tập quán hay hay về việc sử dụng xe taxi ngoài đường phố, đó là bạn có thể quắt bất cứ chiếc taxi chạy ngang đang chở khách nhưng vẫn còn ghế trống, thường là xe sẽ dừng lại để tài xế hỏi bạn đi đâu. Nếu lộ trình bạn cần đi thuận chiều với lộ trình của khách đã ngồi trước trên xe thì tài xế sẽ đồng ý chở bạn đi chung, ai xuống trước cứ trả phần tiền xe của mình… Tôi vừa quắt trúng chiếc taxi đã có hai sinh viên sĩ quan trường Võ Bị Đà Lạt ngồi ghế sau. Cửa xe vừa đóng là tôi vội vàng nói ngay, cố ý cho cả ba người trên xe cùng nghe:

-Chào các anh, làm ơn chỉ dùm và cho tôi đến địa chỉ này, số 23 đường Biệt Thự, bờ hồ Xuân Hương. Tôi ở Sài Gòn, đây là lần đầu tiên lên Đà Lạt, muốn ghé thăm người bà con…

Một anh SVSQ ngồi phía sau vui vẻ trả lời ngay:

-Hên cho anh rồi, đường Biệt Thự ở ngay phía bờ mờ mờ bên kia, đây vòng qua đó chừng 10 – 12 phút thôi, phải không bác tài?

Mọi việc đều diễn ra suôn sẻ, tôi vừa hí hửng vừa nôn nao đầy lòng. Chiếc taxi dừng lại cạnh một bãi cỏ thật xanh bên đường, tôi hỏi bác tài tiền xe bao nhiêu thì bác ta lại quay nhìn hai người khách phía ghế sau. Cũng cái anh SVSQ vui tính lại nhanh miệng nói:

-Có bao nhiêu đâu anh bạn. Đúng ra ở Đà Lạt rất ít người đi chung xe taxi như kiểu ở Sài Gòn nên hiếm có ai quắt xe đã có khách như anh vừa rồi. Thôi, rất vui nghe anh học ở Sài Gòn, lên dự trại thăm Đà Lạt. Để tụi tôi tính cho, coi như cho anh quá giang. Lo đi tìm nhà người bà con đi.

Tôi không ngờ ngày đầu tiên ở Đà Lạt mình đã may mắn gặp được người tử tế như vậy nên xăng xái bắt tay cám ơn hai anh SVSQ, cám ơn cả bác tài. Họ cười, chúc tôi vui vẻ trọn những ngày ở Đà Lạt.

Từ lề đường nhìn lên chỉ thấy dốc đồi thoai thoải, lối đi ngoằn nghèo chạy giữa những bãi cỏ xanh rờn cùng những mái nhà thưa thớt, ẩn mình giữa những cây thông cao vút nên ở đâu cũng đầy bóng râm. Nhà số 23 nằm khuất ở một sườn đồi cách đường lộ bên dưới khá xa nên có vẻ đìu hiu, vắng lặng. Gõ cửa rất lâu Huyền mới ra mở cửa với nụ cười thật phấn khích, vẻ bất ngờ vươn đầy ánh mắt…

Huyền mời tôi vào nhà, rót tách trà actixô bảo tôi uống liền cho ấm. Nhà đang chỉ có mỗi mình Huyền. Ngồi chốc lát là tôi đã khẽ đề nghị cô bạn hãy cùng tôi ra ngoài, ngồi chơi ở bãi cỏ trên sườn đồi thoai thoải phía trước cổng nhà.

Có thể coi đây là một trường đoạn phim trữ tình, thơ mộng nhất mà cậu con trai tuổi 16 đã khổ công vẽ vời sẵn từ những đêm cậu mình bỏ ngủ, nằm tưởng tưởng đủ điều trước ngày đi trại Anh Đào.

Ở lần gặp trước gần đây nhất, tôi đã vừa hỏi Huyền xin địa chỉ ở Đà Lạt vừa hỏi nàng có về nhà nghỉ mùa Giáng sinh không. May mắn là Huyền sẽ về nhà trước cả ngày trại Anh Đào khai mạc và tận sau Tết dương lịch mới trở xuống Sài Gòn. Tuy nhiên, khi ấy tôi chỉ nói là sẽ cố gắng, sắp xếp thời gian trong kỳ trại để tìm đến nhà Huyền, gọi là gặp nhau ở nhà nàng, quê hương nàng cho thân thương hơn. Do đó khi thấy tôi ở cửa, Huyền nói ngay bất ngờ quá đi!  Giờ ngồi trên bãi cỏ, Huyền giải thích thêm rằng dù có đồng ý cái hẹn “để trống ngày giờ” nhưng trong thâm tâm nàng lại cảm thấy biết đâu sẽ có trở ngại này khác khiến tôi không thể sắp xếp, thực hiện được chuyện hai đứa gặp nhau được trên Đà Lạt, nhất là vào dịp đặc biệt là Giáng sinh này.

Giờ đây tôi đang ngồi với cô bạn gái trên bãi cỏ ngập lá vàng khô. Hoàn toàn chỉ có hai đứa, không có con mắt dòm ngó nào của thiên hạ xung quanh.

Huyền vẫn thùy mị, dễ yêu, mái tóc buông dài ma mị. Đặc biệt là khi trở về với khí hậu Đà Lạt, đôi má của Huyền trở nên hồng hào thật quyến rũ, không còn màu trắng, xanh nhàn nhạt bình thường như lúc ở Sài Gòn.

Thỉnh thoảng bờ vai hai đứa chạm khẽ vào nhau. Đã nói mới là “bạn” thôi thì dễ gì có cái cớ hợp tình hợp lý nào đó để được nắm tay? Thú thật tôi còn mong, thèm nhiều hơn nữa, như ôm Huyền vào lòng và tất nhiên, được hôn nàng thì chắc còn hơn trúng số độc đắc nữa…

Huyền, trong thực tế là cô bạn gái lớn hơn tôi 2 tuổi, học cũng trên lớp, nhưng trong “kịch bản” của tôi, nàng đã mơ hồ hóa thành người yêu bé bỏng. Tôi thêu dệt, lý tưởng hóa kịch bản này đến nổi theo thực tế hôm đó, do gặp nhau đột ngột, cô gái có sửa soạn gì đâu mà chỉ mặc bộ đồ bộ bình thường ở nhà, gương mặt không trang điểm phấn son gì nhưng tôi vẫn thấy Huyền thật đẹp và quyến rũ.

Được ngồi sát bên Huyền, tôi đã hết sức sung sướng bởi hai lẽ, một là được gần gũi Huyền với mối cảm xúc ngất ngây hình-như-là-tình-yêu đang lên ngôi dù tôi chưa hề tỏ tình, hai là được thưởng thức cảnh tượng lãng mạn do chính mình tô vẽ từ trước giờ đã thành hiện thực.

Tôi kể Huyền nghe hiện tôi đang “tạm trú” ở một nơi khá đặc biệt, đó là trường con gái. Mỗi tổ nam sinh được đưa vào một lớp học để tự động ghép bàn làm chỗ ngủ, ba-lô túi xách cứ để bừa trên ghế, nhà vệ sinh chung thì ở cuối dãy… Cô bạn cười ha ha, trêu tôi là hãy biết mang ơn ban tổ chức trại, hãy ráng tìm trong các hộc bàn coi có cái kẹp tóc, gói muối ớt cùng miếng ổi xanh nào không, hay lãng mạn hơn thì một sợi tóc dài thiệt dài nào đó rồi ráng mà tưởng tượng đó là của một cô bé dân Đà Lạt thiệt xinh… Tôi trêu lại nàng, hỏi khẽ “Xinh như Huyền phải không? Có Huyền đây rồi thì mình còn phải đi tìm cô nào khác nữa?”. Cô bạn gái, hốt nhiên hóa thành nửa-bạn-nửa-người-yêu, thẹn thùng đỏ hồng đôi má hơn nữa và cúi mặt cười tủm tỉm, cũng để tránh cái nhìn ma đạo của tên bạn trai. Rồi hai đứa im lặng thật lâu. Có cảm xúc gì đó chợt thật ngọt ngào êm ái thấm sâu vào tâm tưởng…

Nhờ tôi có cẩn thận bảo trước với Huyền rằng cần tập trung về cái trường con gái ấy trước 11 giờ 30 nên dù hai đứa mê mãi thủ thỉ chuyện trò, cô bạn vẫn kịp nhắc tôi. Huyền đưa tôi xuống đến lề đường, hai đứa đều có vẻ bâng khuâng, bàng hoàng như vừa tỉnh một cơn mộng huyền ảo giữa ban ngày. Tôi âu yếm bắt tay Huyền, nàng để yên cho tôi xiết nhẹ bàn tay mình. Hình như tôi cố tìm thêm hơi ấm từ người con gái, nhưng khi nói lời từ biệt thì tôi lại không thể nói hẹn gặp lại lần nữa tại Đà Lạt này, bởi tôi chạnh nghĩ mình chỉ còn bốn ngày trại với chương trình đặc kín sáng chiều về các nơi thăm viếng…

4.

Một, hai năm sau, tình bạn của tôi và Huyền vẫn cứ thế, không tiến triển thành tình yêu. Huyền vẫn khoan hòa, tế nhị như có ý chờ đợi tôi, còn tôi vẫn thấy không ổn, vẫn ngại tỏ tình với người con gái lớn hơn hai tuổi và còn vào đời, trưởng thành sớm hơn mình nữa.

Nói chung, ngày đó tôi vẫn tiếp tục là một tên con trai nhát gái, vẫn hay mộng tưởng với loại tình yêu “duy tâm”, chỉ được cái là về viết thư tình, tôi có thêm kinh nghiệm để viết hay hơn – theo nghĩa lâm ly hơn, tạo ấn tượng hơn để con gái chịu bóc xem các lá thư kế tiếp…

Có lần tôi đem chuyện lên Đà Lạt gặp Huyển kể cho một thằng bạn học lớn hơn tôi cũng 2 tuổi, từng trải nhiều mối tình và thuộc hạng hơi Casanova Sở Khanh một chút. Nghe xong chuyện, hắn không thèm hỏi lại câu nào mà chỉ cười nhếch mép, phân tích chỉ dạy cho tôi hai khía cạnh hay và dở đối lập nhau của vấn đề. Một là, vào các dịp Noel thì bọn con trai luôn ước mơ có được có đủ những thứ quí giá, như có xe máy mới, được mời dự dạ vũ cùng tiệc réveillon và quí hơn hết là có đào xinh xắn, là bạn gái hay người yêu đều được, để cùng đi chơi Noel – điều này thì vào dịp Noel năm đó, cái hay của tôi là dù còn khờ, tôi vẫn may mắn có đào tuy phải mò lên đến tận xứ sở sương mù. Hai là, cái dở của tôi là lúc đó đúng là tôi khờ quá, còn con nít quá, không biết lợi dụng ngay hoàn cảnh chỉ có một mình cô gái ở nhà, chỉ biết rủ nhau ra ngồi bãi cõ, tựa vai nhau nói chuyện chay thì hiền quá!

Tất nhiên, có bị đàn anh về chuyện bồ bịch, yêu đương kia chê là “con nít”, “khờ” gì thì cũng ráng mà chịu nhưng tôi đã rây lọc, chỉ tiếp thu ý kiến nào nghe đứng đắn, lương thiện từ thằng bạn nổi tiếng là Casanova bạc tình kia.

Dù sao, tôi đã nhận ra là vào mùa Giáng sinh phiêu lãng trên Đà Lạt năm nào,  tâm hồn tôi đã thầm lặng mãn nguyện. Không biết có bị ảnh hưởng bởi tiểu thuyết, phim ảnh trữ tình nào đó không, cậu con trai 16 tuổi ấy đã tưởng tượng trước cái cảnh tượng vô cùng ngọt ngào là mình và cô bạn gái ngồi kề vai bên nhau, thủ thỉ chuyện trò trên đồi thông đầy lá rụng giữa sương mù Đà Lạt. Đây là hình ảnh hẹn hò tình yêu lãng mạn nhất mà cậu con trai mới lớn đã phóng rọi và thăng hoa cho một tình bạn thắm thiết với một thiếu nữ nết na, mà dù sau này không bay bổng thành tình yêu đi nữa thì cũng vẫn luôn là một tình bạn thật thuần khiết, trong sáng đến muôn đời…

 

PHẠM NGA

(Cận Giáng sinh 2017)

THƠ RỜI VIẾT TRONG MÙA GIÁNG SINH

 

3.

Se se lòng phố
Chút lạnh đầu mùa
Lắng nghe tiếng thở
Ngực chiều. xanh xưa

Tay tìm tay chưa
Truyền nhau hơi ấm
Nói mấy cũng thừa
Chiều ơi. chầm chậm

Chân ơi chầm chậm
Kẻo hụt đời nhau
Bước thấp bước cao
Vai tìm vai trú

Dưới hiên đời rộng
Gió rủ tình về
Áo choàng khăn ấm
Chung vạt nghiêng che

Như ơn phước thánh
Rót xuống đời nhau
Câu ca lóng ngóng
Lạc nụ hôn đầu

Gửi lời kinh nhỏ
Bên máng cỏ Người
Giáng Sinh hạnh ngộ
…..chiều ơi
…..tình ơi

Nguyễn Ngọc Nghĩa

BẤT TUYỆT

bất tuyệt áo khuynh thành tở mở
cầu chưa qua sao ngóng mãi sông dài
nhúm nhen nắng chín chiều nổi khói
ngọn sao trời thắp nốt cánh hoa bay
ngọn hương trầm ngậm xó rừng say
thượng lưu nào nhánh buồn muông thú
ngựa ngã bóng ngày cỏ cây lữ thứ
ngõ hôn hoàng về khép mở kinh thư
bất tuyệt nụ tầm xuân lỡ hẹn
dốc hoang sơ đau mấy ngón tay cầm
nguyên thủy nhánh sầu đông da diết
vô ngôn nào đâu nghĩa vô tâm
mượn lẽ lời nghìn năm hoài đá núi
đợi hoang vu lên phím gõ tơ trời
từ hố thẳm nào lên tiếng gọi
nguyên sơ còn không đồng bằng ơi
TRƯƠNG ĐÌNH TUẤN

Gió mồ côi

 

Anh đánh rớt mùi tình trong chén rượu
Em đánh rơi vào bóng sắc phù du
Anh ngu quá chịu riêng mình túng thiếu
Trời cao xanh che khuất lớp mây mù !

Tất cả ạ sẽ tan vào hư huyễn
Sẽ xanh xao và sẽ rất hư hao
Trái tim ấy biết bao giờ miễn nhiễm
Với tan tành khi biết nhận và trao

Anh đánh rớt giấc mơ thời trẻ dại
Em đánh rơi khỏi ngực tóc mây buồn
Và anh biết dù một người từng trải
Vẫn nhói lòng khi đã nhạt mùi hương

Xa vắng ạ anh không về được nữa
Bước thiên di lệch mất khúc mưa rồi
Anh vẫn thế ra hiên ngồi tựa cửa
Hạt sương buồn ngồi đợi gió mồ côi

Nguyễn Hàn Chung
Đồi cỏ tàn đông Texas

MONG ĐƯỢC MỘT LẦN!

 

 

Chị ơi, em viết những dòng này khi chỉ còn một tuổi nữa là đã 80, và chắc chị cũng đã không còn trên cõi đời này nữa.

Năm ấy, chị trên 30, một góa phụ trẻ, sống với hai con, một trai một gái. Chị đi làm ngày hai buổi, một mình, dù nắng hay mưa chị đều cuốc bộ. Buổi sáng, khi chị rời khỏi nhà, tháp chuông trên nhà thờ đá giục giã đổ hồi. Buổi chiều, chuông cũng ngân nga khi chị bước ra khỏi sở. Chiếc đồng hồ bốn mặt trên tháp cao vẫn cứ âm thầm đếm bước thời gian. Không biết có khi nào chị đếm những bước chân lẻ loi của chính mình.

Cuộc đời chị nhỏ nhoi quá, lặng lẽ quá. Có thêm một nụ cười cũng chẳng ai biết, thêm một giọt lệ cũng chẳng ai hay.

Cho đến khi có bé Tr.

Bé Tr. đến với chị như một nụ hồng ân sủng. Tiếc thay hoa hồng nào mà chẳng có gai. Trong khi chị nâng niu bé Tr. thì trái tim chị rướm máu. Bên hiên nhà, khi ánh trăng lọt qua kẽ lá rải những đốm sáng như những nụ hoa vàng, chị khóc và kể cho em nghe mối tình oan nghiệt của chị.

Người đàn ông ấy, có một thưở là thư ký riêng của vua Bảo Đại, rất mực hào hoa và cũng rất mực đa tình. Chị bảo, ông ta có lạ gì những người trẻ và đẹp khắp bốn phương, cuộc đời tình cảm của một viên chức cao cấp đâu chỉ có mỗi một bà vợ cho dù rất đẹp, mà còn có những mối tình thoáng qua với phấn son ngào ngạt. Những người đẹp dễ dãi ấy qua tay ông nhạt nhòa như nhấp thêm một ly rượu, hút thêm một điếu thuốc.

Ông chẳng yêu ai cả.

Cho đến khi gặp chị.

Một nữ nhân viên chỉ hơn một nữ lao công, thầm lặng không phấn son, đơn giản với chiếc áo dài màu tím và guốc mộc.

Chỉ vậy thôi mà ông điên đảo.

Cũng có thể là ông điên thật, nên nhiều đêm ông một mình lái xe qua đèo Hải Vân chìm trong mây mù, vào thành nội âm u chỉ để lặng lẽ đứng yên bên khung cửa sổ đã đóng kín.

Ông nghe tiếng chị thở, tiếng chị trở mình, thương tấm thân mỏng manh bé nhỏ của chị co ro trong chiếu chăn lạnh lẽo. Rồi ông trở về để kịp sáng ra có mặt trước vợ con đề huề, ăn sáng như thường lệ, xong đến sở ngồi đĩnh đạc trên chiếc ghế giám đốc dành riêng cho ông.

Không chỉ một đêm mà nhiều đêm.

Không chỉ những đêm đầy sao mà cả những đêm mưa.

Ông đứng như trời trồng, trong khi những cơn mưa mùa đông của xứ Huế cứ rỉ rả kéo dài lê thê.

Ông đứng đó cho đến khi chị bất ngờ mở cửa sổ, thấy ông toàn thân ướt sũng.

Thế là ông đã biết yêu và cõi lòng lạnh lẽo của một góa phụ cũng đã bắt lửa, để rồi kết trái là  bé Tr.

Có bé Tr. chị bỗng nhiên sống trong lo sợ. Không sợ chiến tranh mà sợ bà chị  có thể vào bắt cháu để cắt đứt một cuộc tình hoang dại.

Em đến nhà chị cũng vì vậy, đến để có thêm một người đàn ông cho rậm cửa rậm nhà chứ không chỉ để dạy kèm hai con nhỏ đang còn học tiểu học.

Rồi mọi sự cũng qua đi. Không một người đàn bà nào có thể cấm cản được một người đàn ông đang yêu. Bé Tr. cứ phơi phới lớn lên, mặc cho đàm tiếu, mặc cho bom đạn, mặc cho những kẻ không mời mà đến cướp mất nhà em, đẩy mẹ con em xuống thuyền vượt biên chỉ với hai ổ bánh mì và một lon sữa.

Thuyền ra khơi cứ như đi picnic. Đến ngày thứ ba thì hết cả đồ ăn và nước uống. Ai cũng đi vội nên chẳng mang theo được gì nhiều.

Khát!

Phải uống nước tiểu của nhau. Mà nước tiểu cũng cạn dần. Chỉ còn mỗi một cách là lạy trời mưa xuống! Nhưng trời cũng rất không độ lượng, chỉ có mây đen nghìn nghịt vần vũ mà ngóng mãi cũng chẳng có giọt mưa nào rơi xuống.

Nước không có, tàu các nước qua lại như mắc cửi nhưng chẳng tàu nào chịu dừng. Sau mười bảy ngày đêm lênh đênh trên biển, đành phải quay vào bờ.

Thuyền tấp dưới chân đèo Cả, có công an biên phòng chờ sẵn. Đàn ông đi tù một lũ, đàn bà con nít được đưa vào nhà thương rồi được tha.

Chưa bao giờ chị trải qua những ngày giờ kinh hãi đến thế. Sợ nhất là bé Tr. cứ muốn lao xuống biển vì khát.

Mặc dù vậy nhưng sau đó ít năm Tr. muốn thử đi lần nữa. Tr đi một mình. Và thoát.

Em đến được Pháp, được gặp bố dù đã rất già, được học nghề rồi đi làm với lương đủ sống thoải mái. Hình em chụp gửi về, mặc áo pull đỏ ngồi trên lan can trông khỏe mạnh và rất xinh.

Rồi em biết yêu và được yêu. Chàng là một thanh niên Pháp, rất đẹp trai. Cả hai đều rất trẻ trung, gần như là một cặp đôi hoàn hảo. Chàng đưa em đi thăm thú khắp nơi rồi đưa về nhà chào bố mẹ. Ông bố đã có một thời ở Việt Nam, khen Nha Trang thanh bình và đẹp. Ông cũng rất quý em, thầm khen con trai đã tìm được một ý trung nhân phương đông xinh đẹp.

Rồi một buổi chiều, trong khi tiếng chuông nhà thờ Đức Bà ngân nga, chàng quỳ gối xin cầu hôn và em đã chìa tay ra cho chàng trao nhẫn. Cả hai ôm nhau hôn thắm thiết rồi bay về phương nam đầy nắng ấm để ăn mừng.

Đẹp quá phải không chị và lòng người mẹ bấy lâu buồn lo bỗng sáng bừng lên niềm vui chờ đợi. Chị vội vã lo mọi thủ tục để sang dự lễ cưới của con.

Thế nhưng, một hôm cả hai rủ nhau về một miền quê. Trên ngọn đồi xinh có một nhà tu kín. Em bỗng muốn xin vào thăm và được Mẹ bề trên vui vẻ mời vào.

Em chơi ở đó suốt ngày, được Mẹ dẫn đi thăm mọi chỗ, được mời ăn trưa, và khi chiều đến em bỗng dưng không muốn về!

Thế là em được ân phước của Chúa, như Mẹ nói, và em đã nguyện dâng mình cho Chúa suốt đời.

Trước khi bước vào cánh cửa đóng kín, em được phép gặp mẹ một lần. Và chỉ một lần rồi thôi.

Chị tất tả đi qua Pháp để gặp con. Chị chỉ nghe em nói, bonjour maman rồi xách giỏ theo các bạn đồng tu đi xuống đồi hái nho. Đã tự bao đời, các nữ tu quần quật chặt cây khiêng đá biến ngọn đồi đầy đá sỏi thành những vườn nho. Rồi họ làm rượu không phải để uống mà để bán, tự mưu sinh chứ không có một nguồn trợ cấp nào khác.

Em rồi cũng sẽ như vậy, ăn ngủ thức đều theo giờ giấc nghiêm ngặt, làm việc bằng chân tay chứ không có máy móc nào trợ giúp. Và tối đến, sau giờ đọc kinh chỉ được ngã lưng trên bệ xi măng cứng lạnh.

Chị khóc và âm thầm quay về. Từ đó, chị coi như mình đã đánh mất cả cuộc đời.

Tr. nay cũng đã lớn, không hiểu khi bỏ cả người chồng sắp cưới, bỏ cả người mẹ khổ đau để dâng mình cho Chúa thì đã được những gì. Nước Chúa ư? Xa xôi quá nếu không muốn nói là rất ảo tưởng, và có phải là thiên phước chăng khi chung quanh chỉ có một bầy chiên ngoan đang quỳ dưới chân Chúa?!

Chị ơi, em viết những dòng trên đây như một nén hương thắp cho linh hồn tội nghiệp của chị. Nếu có một cõi khác, em cầu mong chị được một lần gặp lại con.

Khuất Đẩu

Noel 2017

con sóng

 

bởi là sóng nên suốt đời vỗ mãi
trôi một mình xa tít giữa trùng khơi
đợi chiều xuống nơi đầu ghềnh cuối bãi
ôm vũng sầu rụng xuống đáy chơi vơi

là sóng nên trôi hoài không vượt biển
hụt hơi tìm nơi trú ngụ bình yên
không thấy bến không thấy bờ – miên viễn
ngàn năm sau nên cứ mãi đi tìm

liêu xiêu ngã giữa thác ghềnh bội bạc
ngày thênh thang con sóng nhớ sông hồ
rồi chìm sâu với bão cuồng tan tác
tan trong chiều sương khói ngập hư vô

con sóng ấy có một lần đuối cát
sầu nghiêng vai gục chết giữa đôi bờ
đêm thao thiết một vầng trăng ngào ngạt
tôi thấy mình
là con sóng
em ơi…

nguyễn minh phúc

 

 

HÔM KIA EM GỞI GIÓ VỀ

 

Hôm kia em gởi
gió về
Cho anh nhúm tóc 
hẹn thề ngày xưa
Vạt nắng chiều
có chút mưa
Lẫn trong nước mắt
có mùa ngâu xa
Phải chăng
giờ đã nhạt nhòa
Bởi em không phải
không là
của anh
Thì thôi
cũng chịu cũng đành
Cắn răng
vá lại mảnh tình
tả tơi.

Linh Phương

Ngày trở lại B’Lao

 

Phố rộng hay lòng ta quá chật
Mà ngu ngơ lạc giữa sương mù
Ngày tháng theo áo cơm chìm khuất
Cơ hồ khua gót động thiên thu

Đâu đó thân ngựa già viễn xứ
Hiu hắt bên hồ soi bóng xanh xưa
Bận lòng chi? màn mưa phố cũ
Mà trăm năm rụng xuống hiên mùa

Chiều vẫn thế, ngực căng gió lạnh
Nhốt nỗi buồn đầy túi, lang thang
Ta với gió bao năm bè bạn
Quen mặt nhau quen cả thói ngang tàng

Những con dốc một đời trẻ mãi
Thương ngựa già bải hoải phố khuya
Xưa ơi cứ đùn lên như mối
Thuở chân bon quên dấu đường về

Về thăm Đambri mùa nước lớn
Ầm ào thác gọi buốt tâm không
Trần gian đổ xuống tung bọt trắng
Sá chi ta hạt bụi long đong

Về thăm đồi xanh mờ sương phủ
Đâu rồi? bóng sơn nữ ngẩn ngơ
Hương trà ngây ngất hồn du tử
Buốt cả chiều – ánh mắt giăng mưa

Nguyễn Ngọc Nghĩa

NHỮNG ĐÓA MẪU ĐƠN

 

Nắng xế mùa thu khiến bóng của hàng dâm bụt cao quá đầu người làm tối đi gương mặt nhăn nheo của ông Nghè Trì đang rảo bước vào cổng. Ông xô nhẹ cánh cửa cũ kĩ, xiêu vẹo đóng không kín của nhà ngõ. Tiếng kêu của cánh cửa làm con Mực đang thiêm thiếp ở hàng ba, vụt dậy, phóng chạy ra, cất tiếng sủa nhưng nhận ra người quen, nó gừ gừ mấy tiếng rồi quẫy đuôi dẫn khách vào nhà. Bà Huân cũng vừa gánh đôi thúng gạo bước ra khỏi cửa dưới, vội vã để gánh xuống vái trả cái vái chào của ông Nghè nói:
– Chào chú Nghè, ông nhà đang đợi chú, mời chú vào. Tôi phải đi giao gao cho họ bây giờ kẻo không kịp về tối chú ạ.
– Dạ, em xin phép chị.

Nghè Trì bước qua hàng ba, chợt dừng lại để lắng nghe tiếng ngâm thơ của ông Huân đang khe khẽ vang lên:
Đội gạo những buồn cơn nắng xế
Mài gươm thêm thẹn bóng trăng tà.

Chờ cho giọng buồn buồn ấy rơi hút vào cái tĩnh mịch của căn nhà lá mái đã mục nát, Nghè Trì mới xô nhẹ cửa bước vào. Ông Huân đang ngồi xếp gối, rung đùi nhè nhẹ trên bộ ván gõ đen láng bóng. Trước mặt ông là chiếc khay trà. Ông ngửa chén, vừa rót trà vừa bảo:
– Chú ngồi xuống uống trà. Bà ấy bán buôn khổ cực cũng không nuôi nổi nhà. Anh em mình đem thân phò nước cũng chẳng ra làm sao cả. Thẹn quá đi chú!

Ông Nghè tháo đôi giày hạ, ngồi đối diện anh, im lặng nâng chung trà thấm giọng. Ông nhìn kỹ ông anh mình. Chỉ lớn hơn ông một tuổi và với tướng mạo khôi ngô, trán cao miệng rộng, nên từ nhỏ đến lớn, ngay trong thời gian tám chín năm trốn tránh trong rừng sau khi khởi nghĩa thất bại, ông Huân lúc nào cũng trông trẻ hơn ông. Nhưng từ hồi chú em Nguyễn Thúc Mân mất rồi kế đến thân phụ của hai ông qua đời, ông Huân bỗng già mau lên một cách dễ sợ.

Cụ Tú Nguyễn Khuê có bốn người con theo thứ tự là Nguyễn Bá Huân, Nguyễn Trọng Trì, Nguyễn Thúc Mân và Nguyễn Quý Luân. Cả năm người đều tài cao học rộng, giới sĩ phu hâm mộ thường sánh họ với họ Tô thời Tống. Nghè Trì rất kính phục ông anh, cả thơ văn lẫn cách sống. Năm mười lăm tuổi Bá Huân làu thông Ngũ Kinh Tứ  Truyện, thành thạo các thể thi, phú, văn sách, kinh nghĩa… Vốn không màng danh lơị, nhưng vì nể gia đình, ông đã vác lều chõng đi thi ba kỳ và đều hỏng cả ba khoa, chán, định bỏ hẳn. Nhưng lại bị mọi người ép ông phải đi thi lần nữa. Nhưng ông không mang lều chiếu, chỉ xách theo một bầu rượu, đi thẳng vào Thập đạo, lãnh giấy bút, làm bài một hơi thì xong, rồi rót rượu vừa uống vừa đọc lại. Càng đọc càng cao hứng, vỗ đùi đôm đốp, bảo rằng “Văn hay như thế này mà để quan trường khuyên thì uổng quá” Nói xong liền hạ bút khuyên. Đọc một câu, thưởng một chén, khuyên một khuyên. Quyển bị khuyên đầy thì người cũng say mèm và… hỏng thi. Nghè Trì thường bảo với mọi người “Cái cuồng ngông của anh ta không dễ ai có thể cuồng được. Cái cuồng ấy sánh với Sở cuồng Tiếp Dư.” Tự thấy cách sống của mình thua hẳn Bá Huân về sự thẳng thắn, khẳng khái nên Trọng Trì luôn luôn kính cẩn trước lời anh “Không nói thì thôi, đã nói thì nói cho có biển có nguồn”. Vợ Trọng Trì không có con, gia đình khuyến dụ cưới vợ bé. Bà không chịu, Trì cũng muốn nghe theo, gia đình cố ép, bà đứng ra cưới cho ông một người con gái xinh đẹp và có học. Thế là Trọng Trì đâm ra mê mệt với bà hai. Bà cả nổi ghen bắt phải bỏ, Trọng Trì bấm bụng nghe theo. Nhưng việc này chưa làm Nghè Trì áy náy xấu hổ với Bá Huân bằng việc lặng thinh trước cái chết của Quản trấn Trần Tân.

Năm Ất Dậu, quân Pháp chiếm kinh thành Huế, vua Hàm Nghi bỏ chạy ra Quảng Trị, xuống hịch Cần Vương. Hường Lô Đào Doãn Địch phụng chiếu về Bình Định khởi nghĩa. Bá Huân, Trọng Trì và Quý Luân tham gia ngay. Chỉ ít lâu sau Đào Doãn Địch bị bệnh nặng, giao binh quyền lại cho Mai Xuân Thưởng rồi mất. Mai xuân Thưởng cử Nguyễn Trọng Trì chức Hiệp Trấn cùng trấn thủ thứ Hương Sơn với hai người là Tham Trấn Vũ Phong Mậu và Quản Trấn Trần Tân. Thứ Hương Sơn là một nút chặn đường tiến quân của Pháp ở hướng Bắc của căn cứ, tương đối yên ổn hơn mặt Nam. Việc canh phòng lại thuộc phần Quản Trấn Trần Tân, Trọng Trì và Phong Mậu rảnh rỗi nhiều nên cứ rủ nhau uống rượu đánh cờ. Năm Bính Tuất quân Pháp kéo quân tấn công căn cứ theo mạn Nam, giết chết tướng phòng thủ nơi đó. Quản Trấn Tân đang đi tuần hay tin vội vã về dinh. Đến nơi thấy Trọng Trì và Phong Mậu đang uống rượu đánh cờ. Giận quá ông lớn tiếng và xách cờ, rượu của hai ông ném quách. Tham Mậu hô quân vây bắt, Quản Tân đánh với bọn lính đông đảo nên không chống lại. Tham trấn Mậu buộc tội Quản Trấn Tân là phản loạn truyền đem chôn sống. Hiệp trấn Nguyễn trọng Trì im lặng để cho Tham Mậu tùy ý hành động không nói một lời. Đến Khi Mai Xuân Thưởng hay tin, cho người phi ngựa tới đào lên, Quản Trấn Tân đã ra người thiên cổ. Khi Bá Huân biết chuyện nầy giận lắm không thèm nhìn mặt Trọng Trì liền mấy tháng.

*

Hai anh em bước ra khỏi cổng với y phục tuy đã sờn cũ nhưng thật chỉnh tề. Người nào cũng giày hạ, quần trắng, áo the đen, đội khăn xếp, vác dù và quấn quanh cổ chiếc khăn lông dài. Bá Huân nhìn mặt trời rồi nói:
– Trời hôm nay tốt quá, ta cứ thong dong vẫn đến kịp giờ hẹn với Đào công chú ạ.
– Anh ạ, cho đến giờ phút nầy em vẫn còn hồ nghi trong dạ. Liệu Đào công có thực bụng hoan hỉ mà viết thiếp mời anh em mình đến xem hoa mẫu đơn nở hay là… Đào Công muốn chơi khăm một vố gì đây để trả thù những lời mắng của em lúc hay tin ông ta từ chối tham gia vào phong trào Văn Thân. Nếu không thì giữa anh em mình và ông ta chưa một lần gặp gỡ sao lại mời mọc như bậc thượng khách trong khi từ vai vế đến tuổi tác anh em mình chỉ là kẻ nhỏ mọn và hậu sanh?
– Chú nghĩ vậy coi bộ không phải. Ta với chú đã từng bình những bài thơ của Mai tăng và vô cùng khâm phục tài hoa của ông phổ lên từng câu từng chữ. Bài thơ nào cũng toát lên cái đẹp của một đóa hoa thanh khiết, cái dũng của một đấng anh hùng. Một người đã làm cặp đối chữ như thế nầy thì không thể có cái tiểu tâm được. Ông Huân dừng chân, quay người nhìn Nghè Trì rồi cất giọng ngâm nga:
Tùy xứ khôi hài, Mạ Thiên Tiên bản sắc
Phùng trường tác hý, Hoan Hỷ Phật tiền thân.

Ngâm xong ông tiếp tục bước, hắng giọng rồi nói tiếp:
– Hơn nữa, cái tuồng Hộ Sanh Đàn đã làm ta và chú khóc, cười, ái, nộ theo từng hồi. Nó là một bổn tuồng kiệt tác từ văn chương đến tư tưởng.
Nghè Trì sửa cái khăn lông cho khỏi chật cổ rồi tiếp lời:
– Anh nhắc đến Hộ Sanh Đàn làm em nhớ hôm nọ em giảng giải với mấy đứa học trò, em xin thuật lại cho anh nghe. Hộ Sanh Đàn không phải là “đàn đỡ đẻ”. Chính là cái đàn vô hình mà Hộ Sanh Sứ Giả bước lên để nhận lệnh đi giúp đỡ Lan Anh đang chuyển bụng. Vì sao phải nhọc sức thần linh như vậy? Chính vì đứa bé trong bụng kia là quí tử do cha trung dũng, mẹ tiết nghĩa sanh ra. Đào công xây dựng nhân vật Tiết Cương và Lan Anh có đủ đức trung nghĩa tiết dũng để gián tiếp bảo rằng: “Đứa bé sanh ra sẽ là một anh tài của đất nước, một hy vọng của tương lai”. Dụng ý của Đào công rất sâu: Không phải Tiết Cương cứu nguy được nhà Đường, mà chính Tiết Quì. Cha mẹ gieo nhân, đời con hái quả. Ông muốn nói với chúng ta: “Thế hệ này chưa lấy lại được nước non Hồng Lạc, hy vọng ở đám hậu sinh”. Do vậy Đào công nhấn mạnh ở việc sanh đẻ và lấy ba chữ Hộ Sanh Đàn đặt tên cho tuồng. Tuồng này nếu hát ở vùng Nghệ thì Tiết Nghĩa là hình ảnh của Cao Ngọc Lễ, tên phản sư phản quốc. Nếu đem hát ở vùng Quảng Nam, Bình Định thì Tiết Nghĩa sẽ là hiện thân của tên Nguyễn Thân khốn kiếp.
Nghè Trì bật cười khi chợt nhớ hôm đi coi tuồng Hộ Sanh Đàn, ông đã đánh cái trống chầu suýt bể khi và cười ha hả khi nghe câu hát:
“Bảo cho, nễ khả, thằng thân hạ mã, thúc thủ lai hàng”
và:
“Như ngươi chừ: Hết cậy thế xông đồ phá trận. Biểu cho: Phải cam lòng hạ mã thằng thân cho rồi”.
Ông lẩm bẩm:
“Hay quá, đã quá.Thằng thân hạ mã, chữ nho là trói mình xuống ngựa và nói nôm là thằng Thân xuống ngựa đầu hàng đi”. Bá Huân không hiểu cái cười của em nên đưa mắt hỏi. Nghè Trì chợt thấy mình còn vẻ trẻ con trước mặt anh nên vội nín cười và nói thác đi:
– Mình rảo bước một chút đi anh kẻo trễ.

Đến Hương Thảo Thất trời đã chạng vạng tối, hai anh em sửa soạn y phục cho tề chỉnh rồi mới gọi cổng. Cửa nhà ngõ xịch mở, người nô bộc khom mình bái chào. Chưa kịp đáp lễ, hai anh em đã thoáng thấy Đào Tấn xuất hiện. Dáng khoan thai, chững chạc, vừa vuốt chòm râu trắng xóa vừa cười khà khà nói:
– Nhị vị huynh đệ thật đúng hẹn, xin rước nhị vị vào tệ thất.
Đào Tấn lách người một bên, đưa tay ra dấu mời.
– Ấy chết, Đào công xin đừng làm thế, huynh đệ chúng tôi chỉ xin được nối gót ngài.

Bá Huân vội vã lên tiếng rồi bước ra sau Đào công chờ đợi. Ông không ngờ đích thân Đào công ra tận cổng đón hai anh em ông. Dù đã về hưu nhưng Đào Tấn đã là quan Thượng Thư và hai anh em ông, dưới mắt triều đình chỉ là những kẻ phản loạn.– Cùng là kẻ sĩ với nhau chấp gì chút lễ nghi chật chội. Xin mời huynh đệ đánh một vòng nhìn nước ao sen mùa thu, xem mấy gốc mai cằn, rồi ta sẽ vào nhà hàn huyên cho phỉ tình mong đợi.

Nói xong Đào Tấn ung dung từng bước hướng dẫn anh em họ Nguyễn. Hai bên tả hữu của cổng chính đều là ao sen. Tuy đã vào thu nhưng hoa sen vẫn chưa tàn hết, thấp thoáng trong đám lá sen già những bông sen vụt cao lên, trắng xóa trong cái tối nhờ nhờ, để sáng ngày mai khai hoa nở nhụy. Mùi hương sen thật nhẹ, thật thoang thoảng, nhưng mọi người đều ngửi được, nên lồng ngực cứ muốn căng ra hít cái mùi hương huyền dịu quý giá ấy.

Trong ao, người nô bộc đang nhẹ nhàng, cẩn trọng vạch từng lá sen để chèo một chiếc thúng, chốc chốc lại dừng bên những búp sen vừa chớm hé. Ông ta dùng một ngón tay khe khẽ thò vào chỗ hé của búp sen từ từ xoay vòng tròn cho miệng sen há to đủ cho ông bỏ nhúm trà mộc vào rồi cũng thật khẽ khàng lấy sợi dây bằng bẹ chuối khô thắt gút lại. Tinh mơ sáng hôm sau ông ta lại cũng thật nhẹ nhàng, cẩn trọng chèo thúng đến từng cái hoa, cũng rất khẽ khàng mở dây buộc, lấy từng nhúm trà ấy cho Đào công pha với nước sương đọng trên lá sen, tinh hoa của trời đất đêm qua. Tất cả việc buổi tối bỏ trà, buổi sáng lấy trà trong hoa sen, ông đều làm hết sức cẩn thận, vì Đào công luôn luôn nhắc nhở: “Hưởng được hương vị hoa sen là hưởng được ân sủng của trời đất, nên không thể làm hư cái sự nở của hoa là làm hư sự thăng hoa của tạo hóa. Ông phải luôn luôn dè chừng không làm hư thứ tự sắp xếp của cánh hoa, để ngày mai hoa sẽ còn góp mặt với đời.”

Đào Tấn nhìn Nghè Trì, giọng vui vui:
– Tiếc là trời hôm nay thiếu gió, nếu không mình sẽ cùng thấy mặt Nhan Uyên.
Trong lòng Nghè Trì nhoi lên một niềm vui. Thì ra Đào công chú ý tìm hiểu về ông khá nhiều. Lúc ra Huế chờ nhận chức, ông có dịp quen với Tôn Thất Đạm và Tôn Thất Thiệp. Một hôm Đạm đọc cho ông nghe vế đối của vua Tự Đức mà quần thần chưa ai đối được:
“Thủy trích bích tường sanh Khổng Tử.” (Nước nhỏ xuống chân tường sinh ra những giọt nước cử động. Khổng Tử vừa là tên ông Khổng Tử vừa có nghĩa là giọt nước không đứng yên một chỗ).

Đang tìm câu đối, bỗng nhìn thấy gió thổi lá sen để lộ mặt hồ nước trước nhà trọ, ông liền đối:
“Phong xuy hà diệp kiến Nhan Uyên” (Gió thổi lá sen nhìn thấy mặt hồ. Nhan Uyên vừa là tên ông Nhan Uyên, học trò của Khổng Tử vừa có nghĩa là mặt hồ.)

Cả ba bắt đầu dạo quanh vườn mai. Mai trồng thành từng ô vuông khắn khít với nhau bằng những cành khẳng khiu như củi mục nhưng tiềm chứa sức mạnh chống chọi với thời gian bằng vô số chiếc lá xanh lục khiến anh em họ Nguyễn như lạc vào chốn rêu xanh cổ tích. Trọng Trì kêu lên, giọng sôi nổi:
– Anh ạ, cái cành kia đẹp quá cái thế của nó tựa như một con rồng đang vùng vẫy, em nghĩ xuân về, những bông hoa mai nở viền quanh sẽ điểm cho nó cái thần khí để bay vút lên mây.
–  Ông Nghè giàu tưởng tượng hỉ. Thôi đã tối trời, chúng ta vào nhà dùng chén rượu tẩy trần.

Cửa chính mở rộng, chiếc đèn tọa đăng tỏa sáng khắp nhà, soi rõ bức hoành phi treo trên gian giữa ba chữ Hương Thảo Thất bay lượn nhẹ nhàng như hương thơm của cỏ dịu dàng len giữa không gian. Bên trái của bức hoành là hàng chữ đứng: Thành Thái Ất Vị Xuân, góc mặt là hai chữ Mai Tăng nhỏ bé, khiêm nhường.

Chủ khách vừa ngồi xuống ghế, lập tức người nô bộc bưng khay rượu ra, trên là một bình Mai Quế Lộ. Tự tay Đào Tấn rót rượu ra chén ân cần mời khách:
– Vân Sơn nổi tiếng một nhà năm người tài hoa sánh với gia đình họ Tô thời Tống. Hôm nay được gặp gỡ hàn huyên cùng nhị huynh đệ lão rất vui mừng. Chúng ta cạn vài chung rượu rồi dùng cơm đạm bạc, sau đó sẽ đến tiết mục chính của bữa tao ngộ hôm nay.
Bá Huân một tay nâng chén rượu, tay kia vin tay áo the đen, tỏ vẻ cung kính nói:
– Dạ, Đào công quá khen chứ bốn anh em chúng tôi mắt không nhìn tới nổi ngọn Linh Phong, tài chưa bén cổng làng Vinh Thạnh. Vừøa mới mãn tang gia phụ năm ngoái, mà lòng vẫn không hết thẹn với cha già là chưa làm tròn những điều gia huấn. Còn nỗi niềm đất nước cứ canh cánh bên lòng khiến huynh đệ chúng tôi sống như ở trên dầu sôi lửa bỏng. Riêng Huân này, sở học ít oi, thô thiển nên không tiếc việc hỏng thi. Lòng chỉ muốn hòa nhập vào mây trời lãng đãng mà nhàn du với cỏ nội hạc ngàn. Tiếc thay nước nhà gặp cơn bỉ, đành đem thân mà trải, những mong trả nghĩa lộc trời, nhưng rồi chẳng cưỡng nổi mệnh thiên, nên vô cùng tâm đắc với hai câu Nam ở cuối tuồng Diễn Võ Đình qua nhân vật Triệu Khánh Sanh mà Đào công đã phóng bút:
Tấm thân liều gửi cung dâu
Đố con tuấn mã biết đâu là nhà.
Huân này mạo muội nghĩ rằng Đào công cũng đã từng trở trăn thống thiết như Huân vậy. Bao lâu nay đã nghe nức tiếng Tiểu Linh Phong Mai Tăng, cũng như thưởng thức hàng hàng cẩm tú của Mộng Mai Tiên sinh, hôm nay lại được đối ẩm với ngài quả là muôn vàn hân hạnh.
Nghè Trì cũng đứng dậy nghiêng mình thi lễ tiếp lời anh:
– Thưa Đào Công, tiểu đệ từ ngày bỏ được rừng xanh, về nhà có thì giờ, sính đọc những áng văn chương trác tuyệt của ngài, nhất là hôm đi coi tuồng Hộ Sanh Đàn. Văn chương cũng như bố cục đều thật là cao siêu, từng câu từng chữ của vở tuồng thấm tận đáy lòng của tiểu sinh. Khiến lòng này không khỏi thẹn khi nhớ lại chuyện ngày xưa vì quá nông nổi, chưa biết phân chia hư thực. Lòng dặn lòng có dịp thì xin được tạ tội thất lễ với Đào công. Sau lần đọc xong bổn tuồng Thái Thạch Cơ, tiểu sinh vô cùng xúc động nên có làm hai bài tứ tuyệt, tiện đây xin dâng tặng Đào công nhàn lãm:

Quốc loạn anh hùng bất tác thi
Tùng quân ngự địch lập công thì
Thiên an khởi thị thư sinh nguyện
Hoàn ngã hà sơn khả định kỳ.

Thái Thạch Cơ biên nô lãng hào
Thôn Ngưu hùng khí vạn tầng cao
Viên môn dạ lập quan Kim trận
Vũ tuyết phân phân mã chiến bào.

Đào Tấn nghe hai bài tứ tuyệt xong, tấm tắc khen:
–   Văn quả là người. Tài hoa, khí tiết, có cả uất khí xông tận trời cao. Trả lại núi sông cho ta có thể hẹn kỳ là trung nghĩa. Và, đêm đứng nhìn trận giặc Kim, tuyết rơi bời bời trên áo giáp, thực quả là thanh lệ vô cùng. Chao ôi, thơ của ông Nghè thực là Thốn tâm thiên cổ.

Đến giờ thưởng hoa, chiếc bàn ăn được dọn đi, thế vào là một cái đôn thấp bằng sứ Bát Tràng và cái án thư để bày bộ trà. Hai người tráng đinh khiêng một chậu hoa to, khá nặng đặt trên cái cáng đan bằng tre, khệ nệ bước qua hè nhà rộng, rồi rất cẩn thận đặt lên   chiếc đôn bóng láng.

Chiếc chậu sứ da rạn chạy chữ triện quanh miệng trông rất mỹ thuật. Cây Mẫu Đơn khá lâu năm, cao gần thước tây, cành lá sum suê. Điều làm anh em họ Nguyễn vô cùng thích thú là hoa. Hoa thật nhiều, thật tràn trề, trên cùng khắp các nhánh. Đa số đều nở. Màu trắng thật tinh khiết, thật đôn hậu. Những cánh hoa dày, chắc chắn, giống như những cánh Trà Mi, xếp tròn thành nhiều tầng chung quanh chùm nhụy vàng phơn phớt sang cả. Mùi thơm của hoa Mẫu Đơn thật nhẹ nhàng quyến rũ, thoang thoảng của mùi hoa lài lẫn chút đậm đà của nàng hoa bưởi. Không gian im hơi, cả ba thinh lặng, tất cả như bị đắm chìm trong cái không khí nửa huyền hoặc nửa thăng hoa toát ra từ cây Mẫu Đơn tuyệt mỹ. Cả Bá Huân và Trọng Trì đồng thanh buột miệng: “Vương giả chi hoa” rồi sau một thoáng nhìn nhau, cả hai lại cùng rơi vào im lặng. Hương đã gây mùi nhớ, trà giục khan giọng tình. Giọng Bá Huân trầm trầm cất lên như vang từ chốn mê cung xa vắng:
– Nhớ xưa nàng Dương Quí Phi là một trong Tứ Đại Giai Nhân của Trung Hoa được Đường Minh Hoàng vô cùng yêu quý, tận tay hái một bông hoa Mẫu Đơn cài vào tóc nàng. Người đương thời cho rằng hoa Mẫu Đơn xứng đáng được kề cận với Quí Phi. Giờ tận mặt thấy hoa bèn trộm nghĩ rằng, nên nói ngược lại là Dương Quí Phi xứng đáng được mang hoa Mẫu Đơn trên tóc.
Để tạ chút lòng Đào công đoái tưởng xin được múa rìu trước cửa Lỗ Ban, xin cho một mảnh hoa tiên để được trổ chút tài hèn mọn.

Bá Huân tiếp giấy bút từ người nô bộc, cúi gập người xuống án thư, lấy ngọn bút lông chấm xuống nghiên mực do người lão bộc vừa mài. Tay ông thoăn thoắt, đá, phảy, đưa lên, ngoặc xuống, trong thoáng chốc đã thành một bài tứ tuyệt:

Hý khúc ngô châu trứ giả đa
Tranh hồng đấu tử tổng nhàn hoa
Mẫu đơn nhất đóa quần phương chủ
Khả tỷ Đào công đại bái gia.

Đào Tấn kê mảnh hoa tiên sát bên ánh tạ đăng, nheo mắt đọc. Vừa xong, ông vuốt râu, thảng thốt kêu mấy lượt “Hay a, Hay a”. Ông lấy giấy ra phóng bút họa ngay một bài:

Văn tinh tụ chiếu ngã châu đa
Từ uyển hân chiêm mỹ lệ hoa
Hồng hạnh bích đào giai tuyệt sắc
Quần phương các hữu tại chư gia.

Viết xong ông đưa cho Bá Huân và nói:
– Xin đa tạ nhã ý của ông, văn hay chữ tốt, nhưng lão thật tình không dám được ví như hoa Mẫu đơn là chúa các loài hoa, mà thiết nghĩ rằng hoa hạnh, hoa đào đều là tuyệt diệu và mọi loài đều có trong mỗi nhà soạn tuồng. Hơn nữa, cái tiết tháo của Mẫu đơn đã bao trùm thiên hạ, dám quay lưng ngoảnh mặt trước lời phán bảo của Võ Tắc Thiên. Điều đó lão luôn để trên đầu, sánh lão với hoa Mẫu đơn chỉ làm lão muôn phần hổ thẹn thôi ông Huân ạ.

Đã gần đến nửa khuya, anh em họ Nguyễn đứng dậy xin kiếu từ. Đào Tấn hết sức cầm ngủ lại, hai ông hết sức chối từ. Nguyễn huynh đệ dắt nhau về dưới sương khuya. Ra khỏi khu vườn thuộc Hương Thảo Thất chợt Bá Huân dừng lại bảo với em:
– Chú Trì ạ, tôi rất đồng ý với chú hồi chiều, khi chú nói cái dụng ý sâu xa của Đào Công qua bổn tuồng Hộ Sanh Đàn. Thế hệ mình chưa thể lấy lại non nước, chỉ hy vọng vào đám hậu sinh, chú ạ.

Đặng Phú Phong