Đêm chợ Đệm chỉ còn nghe tiếng gió
Gió rì rào đeo đuổi suốt đời ta
Cuộc hành trình qua bao lần đơn độc
Lòng còn vương sợi khói trắng quê nhà.
Đêm thao thức cùng ta thêm chút nữa
Cột đèn vàng mờ ảo suốt cung đường
Như chia sớt cùng ta – người vô định
Đi một đời cũng chỉ thấy mù sương.
Ta trở lại dòng sông mùa nước nổi
Đục phù sa nhớ những chuyến phà đêm
Đã lâu lắm không còn người đưa tiễn
Nên đôi bờ sông Hậu chở buồn thêm.
Em có giữ tình yêu thời tuổi trẻ
Thuở hoa niên thương mãi cánh dầu bay
Ta xa xứ xin làm người có lỗi
Dẫu ăn năn nào níu được bờ vai.
Đêm sắp tàn nán lòng cùng ta nhé
Để ngày mai nắng sớm lại ùa về
Ta mê mãi tìm trong mùa xưa cũ
Có một người còn nặng chút tình quê.
Nguyễn An Bình
KHÙNG –Tập truyện của Nguyễn Trí gồm 11 truyện ngắn: Báo thù, Bi kịch giữa đời thường, Chuyện cô gái nhảy cầu, Rừng nổi giận, Trăng rừng, Cái chết của Tâm Huế, Khùng, Gì cũng có số, Bẽ, Nỗi buồn của Tư Tấn, Những hành trình đơn độc.
Nguyễn Trí sẽ còn viết nhiều, nhưng với những gì đã công bố, truyện ngắn rõ ràng là một thế mạnh của ông. Mạnh ở đời sống, ở cốt truyện, và nhất là ở ngôn ngữ thể hiện. Ngôn ngữ trong các truyện ngắn của Nguyễn Trí là một thứ ngôn ngữ bụi, được sử dụng một cách tự nhiên, vừa đủ, rất hợp với các nội dung cần chuyển tải. Chúng ta thử hình dung cũng những cốt truyện ấy, nếu tác giả thể hiện bằng một thứ ngôn ngữ “xa lông”, liệu chúng có dậy mùi được không? Chắc chắn không. Lúc ấy thay vì đọc ông, người ta sẽ đọc các trang báo, nhất là báo về pháp luật và an ninh. Nhưng theo Lê Minh Khuê, người đọc đọc Nguyễn Trí vì truyện của ông “…có vô số thông tin và ông đã biến những thông tin đó thành thế giới tưởng tượng của riêng mình để truyện nào cũng có nhân vật rõ tới sờ thấy được. Và tình huống truyện rất kỳ lạ, cái quan trọng là cảm xúc nhân văn tràn đầy ở người viết biến những cái thông thường thành cảm xúc chung lớn lao!”. Ở người làm nghề văn, đây là một năng lực trời cho. Nếu để mất nó, bất cứ người viết nào cũng sẽ lẫn trong muôn vàn khuôn mặt văn chương khác (Ngô Xuân Hội).
Sách dày 176 trang khổ 13,5 x 20,5 cm, được in ấn mỹ thuật trên giấy Ford trắng định lượng 100 g/m2, với tranh bìa là ký họa chân dung Nguyễn Trí do họa sĩ Trần Đạt vẽ. Giá bìa 100.000 đ.
Sách do NXB Hội Nhà Văn (Chi nhánh Tây Nam bộ – Vũ Hồng) tổ chức bản thảo và cấp phép, được thực hiện và phát hành tại Văn Tuyển Sài Gòn.
Bạn văn có thể liên lạc với tác giả qua điện thoại số 01225649529 hoặc Fb Nguyễn Trí.
Nguyễn Liên Châu
chỉ là bất chợt trổ mầm
ngoài kia đông vẫn âm thầm cắt da
như ban sơ tiếng khóc ta
bước vào đời đón thật thà dối gian
chỉ là hợp để rồi tan
bến tình đậu tạm tóc mang ngọn buồn
mỗi lần tay cột sợi suôn
là thêm lần ngón đau tuôn giọt sầu
chỉ là đất đã chìm sâu
trời lên cao tít bể dâu lưng chừng
nên yêu lạc mãi giữa rừng
ngăn niềm hạnh ngộ rưng rưng trùng phùng
Chiều rụng rồi chăng, lòng đã tối
Không tình nhân thắp lửa trên môi
Giường đau, phòng trọ, mưa hiu hắt
Bạn hữu vào ra mấy cánh dơi
Vẫn thấy đời ta như cánh cửa
Im lìm đóng lại trước mùa vui
Tương lai sầu cứ đùn như mối
Say cứ như là đưa tiễn ai
Mưa tạnh. Vườn hoang. Đêm ở góa
Lòng run theo nến khuya xa nhà
Ngồi lên rót rượu chờ trăng lại
Không chắc ai người thương nhớ ta
Tình đã khâu cho kín miệng cười
Còn ta, đời cứ bốc thành hơi
Ta say, bệnh cũng say, ừ nhỉ !
Buồn cũng say luôn giữa chiếu ngồi
Sầu lụn, rượu mờ, đêm ngất ngưỡng
Gần ba mươi tuổi trí hoang mang
Lòng ta mọc một vầng trăng đỏ
Đầu gối vào tay ngủ với trăng.
19.3.1971
TẦN HOÀI DẠ VŨ
(Bài đã đăng trên Tạp chí Văn ở Sài Gòn,
tháng 4.1971)
ngồi trong bóng râm
nhìn lui bóng nắng
như lão thổ dân da đỏ
thừ người nhìn thời gian
đẩy lịch sử lùi dần vào cổ tích
da diết nhớ bóng nắng nhiệt đới
tiếng chim hót gánh hàng rong
dăm con ruồi vo ve mùi bò nướng lá lốp
ở vỉa hè con lộ vô cảm
em và tôi nhâm nhi một hạnh phúc muộn mằn
mà cả hai chúng ta cùng thỏa thuận
giữa mức giá chừng mực
của thị trường đô thị mới
tôi an phận với 10 chai bia saigon đang rợp mồ hôi
em vui vẻ với ly chè đậu vô tội
khuya hôm đó chúng ta tán gẫu
rất nhiều
sự khác biệt giữa cộng hòa và cộng sản
mình cùng gặp nhau ở chỗ
điên và ngu đột xuất, và
đó là điều tôi muốn nói, mà mãi
đến sau này em mới thấm thía được, tại sao
ở trong bóng nắng này, nơi chúng ta
tạm cư, như một định mệnh
và tôi đặt tên cho nó là
lối mòn của thổ dân
mà em đôi lần đã giẫm chân lên, và thốt
chông chênh thật, vâng
tôi lại thích nó
và nó đã khiến tôi
luôn khập khễnh.
HHiếu





Hoa úa rồi nụ hôn cũng khô khốc trên đôi môi
Thanh âm trái tim giờ đã chết
Vuốt mặt anh cũng không còn kịp
Vết thương hoại tử lâu rồi
Chiếc váy hồng cuốn vội câu thơ
Sương khói mù mù theo từng bước chân anh lên Sài Gòn đầy nắng
Trời cao lồng lộng
Gió rắc kín nụ cười chẳng thể nào trong trẻo thêm
Nằm xuống đây đi em
Đừng tiếc gì cho nhau lần cuối
Đừng xót xa một mình khi anh thui thủi
Đêm qua giấc mơ hạnh phúc vô cùng
Đêm qua mơ giấc mơ vĩnh hằng
Em nắm lấy bàn tay thô ráp của anh áp vào má mình em chợt khóc
Tiếng thở dài lăn xuống đáy vực
Vầng trăng ứa máu bạc tình
Cú mèo khuya khoắc gọi tên
Rờn rợn chảy nước mắt
Đêm qua giấc mơ hạnh phúc
Da thịt chia lìa va dập áo cơm
Xơ xác mảnh đời gian nan
Khép mắt nổi chìm hơi thở
Khép mắt ngủ đi ” anh ơi ” mà nói lời tha thứ
Con bướm ma xập xòe đôi cánh ly tan
Mười ngón rưng rưng thắp nén nhang thơm
Đêm qua lúc 1 giờ 45 phút – giấu giấc mơ giữa ngực
Anh nhớ em-thương em hôm nào nắm bàn tay anh thô ráp – run rẩy từng nhịp đập
Ngồi uống ly cà phê đá và mua những tờ vé số hên xui
Lan man phố chợ ngậm ngùi
Sài Gòn tiễn biệt con chim ẩn mình chờ ngày hóa kiếp
Đêm qua vô cùng hạnh phúc
Anh vẽ bóng mình bên bờ sinh-tử cô đơn.
Linh Phương
Tàn năm thưa Mẹ-Xứ người
Mã phu vẫn áo cơm rời rạc xưa…
Câu thơ lỗi hẹn đến giờ
Nước Hương Giang ấy có chờ đợi đâu?
Thương ngày, nhớ tháng nao nao
Câu ca dao Mẹ thấm vào giấc mơ
Từ ly hai chữ không ngờ
Con xâm trên ngực bây giờ còn đau…
Tay che mắt nhắm qua cầu
Khi nghe tin Mẹ lặn vào thiên thu !
Xứ người học lấy chữ nhu
Cũng không kịp nữa …trời thu mà về!
Tàn năm thưa Mẹ-Con nghe
Tiếng còi tàu xé trời khuya tầng tầng…
Hận tình…con thả phù vân
Mà sao nghĩa mẹ chưa lần “ trùng lai”?
Đêm nay chầu chực chùa ai
Chỉ mong nhặt được nụ cười vô ưu…
Trần Dzạ Lữ
Bài viết ngắn này không nhằm “tranh luận” với PGS TS Bùi Hiền về đề nghị “cải tiến chữ Việt” của ông cho bằng, nhân cơ hội này, chúng ta ôn lại với nhau những điểm căn bản của chữ Quốc Ngữ, là thứ chữ dùng mẫu tự La-tinh để ký âm tiếng Việt.
Bài viết rất ngắn này cũng không phải là một công trình nghiên cứu để đem ra thảo luận với các nhà ngữ học và ngôn ngữ học về tiếng Việt.
Gọi là căn bản, điều này có nghĩa là đụng chạm tới những điểm này, thay đổi hay xoá bỏ những điểm này thì chữ Quốc Ngữ không còn là chữ Quốc Ngữ nữa, mà là một thứ chữ gì khác rồi, nói rõ hơn là giết chết chữ Quốc Ngữ rồi. Cũng giống như một cái cây, người ta có thể hái hoa, hái quả, thậm chí cắt bớt cành, cái cây vẫn là cái cây; nhưng khi người ta đốn gốc, đào rễ thì cái cây không còn là cái cây nữa. Nó chết. Căn bản có nghĩa là rễ (căn), gốc (bản). Bởi vậy người ta mới nói kẻ mất gốc là “vong bản.”
Đây là những điểm căn bản của chữ Quốc Ngữ:
1. Chữ Quốc Ngữ là một hệ thống ký âm: âm phát ra như thế nào thì dùng những chữ cái (mẫu tự, ký tự) a, b, c, d, đ v.v… để ghi lại âm đó lên trên giấy. Cũng giống như người ta dùng những nốt nhạc do, re, mi, fa, sol, la, si để ghi lại trên giấy âm thanh của một khúc nhạc, một bản nhạc. Điểm này cho thấy chữ Quốc Ngữ và chữ Hoa (chữ Tàu) đặt trên hai nền tảng hoàn toàn khác nhau: chữ Hoa đặt trên nền tảng hình vẽ, hình tượng thế nào thì vẽ ra như thế, đơn giản nét đi rồi cho vào một ô vuông tưởng tượng mà thành ra chữ.
2. Chữ Quốc Ngữ là thứ chữ ghi tiếng nói của cả nước chứ không phải ghi tiếng nói của một miền, một vùng, một thành phố, cho dù thành phố đó là Hà Nội. Khi các nhà truyền giáo sáng tạo chữ Quốc Ngữ, các ông này đã đi khắp tất cả mọi nơi trên đất nước ta: Đàng Trong, Đàng Ngoài, miền Bắc, miền Trung, miền Nam, thu thập các cách phát âm, tổng hợp lại mà ra các âm (thể hiện bằng những chữ cái) và các thanh độ (thể hiện bằng các dấu sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng.) Khi chỉ dựa vào cách phát âm của một miền, một vùng, một thành phố để làm thành bộ chữ thì thứ chữ ấy không thể được gọi là chữ Quốc Ngữ nữa. Ấy là chưa kể người của một vùng có thể thay đổi cách phát âm, lý do là có sự thay đổi người sinh sống ở vùng ấy. Người Hà Nội trước đây và người Hà Nội bây giờ trong cách phát âm có nhiều điểm không giống nhau.
3. Chữ Quốc Ngữ là thứ chữ có thể nói là duy nhất tại Á châu nằm trong khối chữ viết dùng hệ thống mẫu tự La-tinh. Những thứ chữ khác tại Á châu cũng dùng bảng mẫu tự La-tinh đều chỉ có tính cách thử nghiệm hoặc sử dụng trong phạm vi hạn hẹp, hầu như chỉ có tính cách phiên âm mà thôi. Đã gọi là nằm trong một hệ thống thì cách phát âm qua ký hiệu là các chữ cái phải giống nhau hoặc tương tự. Thí dụ: âm [thờ] được ký âm bằng hai chữ cái T và H: TH. Nhìn ký tự TH, người ta phát âm được là [thờ]. Nếu đổi đi, dùng ký tự W để ghi âm [thờ] thì tự mình tách ra khỏi hệ thống chung, gây rắc rối, khó hiểu chứ không phải là “hội nhập” thế giới. Người dạy tiếng Việt ở nước ngoài, khi dạy thường phải dùng phương pháp đối chiếu các ngôn ngữ: tiếng Việt với tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Tây-ban-nha. Học viên cảm thấy chữ Việt cũng có cách viết tương tự như ngôn ngữ của họ khiến họ cảm thấy dễ học, dễ viết. Đổi TH thành W để ghi âm [thờ] thì học viên chỉ có nước… chết!
4. Bảng mẫu tự tiếng Việt vốn có (từ thời Alexandre de Rhodes) (1) dựa vào nguyên tắc “đơn giản tối đa” để dễ học, dễ nhớ. Thí dụ: đã có ký tự P và ký tự H, ghép lại thành PH để ký âm [phờ] thì không cần F phải có mặt trong bảng mẫu tự nữa. Vì thế mà trong bảng mẫu tự tiếng Việt không có những chữ cái F, J, W, Z.
5. Tuy đơn giản, bảng mẫu tự này lại rất tinh tế. Cùng là âm [cờ] mà bình thường được ghi bằng ký tự C, lại được ghi bằng ký tự K khi âm [cờ] này đứng trước những âm I, E, Ê vì đây là 3 âm đầu lưỡi, và được ghi bằng ký tự Q(u) khi đứng trước một số âm/vần bắt đầu bằng U (và O.) (2) Bỏ mất điểm tinh tế này đi, chữ Quốc Ngữ mất đi phần nào nét đặc biệt của nó. Vả lại, nếu đồng hoá, chỉ dùng K cho tất cả các âm [cờ] thì sẽ ra tình trạng hai chữ CỦA và QUẢ được viết giống nhau: KỦA.
6. Chữ Quốc Ngữ có đặc điểm là âm nào phát ra được cũng ghi (viết) được và chỉ có một cách viết đúng mà thôi. Thí dụ: phát âm là [chuyện] với phụ âm [chờ] đứng đầu thì phải viết là CHUYỆN; mà phát âm là [truyện] với phụ âm [trờ] đứng đầu thì phải viết là TRUYỆN. Người Hà Nội có thể phát âm hai âm [chuyện] và [truyện] giống nhau, đều là [chuyện] mà thôi, nhưng tại rất nhiều vùng trên toàn đất nước, đồng bào mình phát âm rất rõ hai âm [chuyện] và [truyện]. Không nên làm nghèo cách phát âm phong phú của người mình.
Tóm lại,
Bảng mẫu tự tiếng Việt, nếu là bảng tiêu chuẩn, có 23 chữ cái:
A B C D Đ E G H I K L M N O P Q R S T U V X Y
Bảng mẫu tự tiếng Việt, nếu là bảng đầy đủ, có 29 chữ cái:
A Ă Â B C D Đ E Ê G H I K L M N O Ô Ơ P Q R S T U Ư V X Y
Chúng tôi thấy đây là hai bảng mẫu tự rất đơn giản và đầy đủ, không cần phải cải cách, thêm bớt gì cả.
Còn việc phiên âm những tiếng nước ngoài, trong đó có các ký tự F, J, W, Z lại là một vấn đề khác, chúng tôi không bàn tới ở đây.
Sự “cải tiến” như PGS TS Bùi Hiền đề nghị đã làm méo mó chữ Quốc Ngữ, nếu không muốn nói là ám sát nó, rất nguy hại. Nó khiến người ta hoang mang, tốn thì giờ, tốn công sức. Và nếu vô phúc nó được đem ra áp dụng thì tiết kiệm đâu không thấy, chỉ thấy nó tiêu phí rất nhiều năng lực, thì giờ và tiền bạc.
Để tránh sự nguy hại này, chúng tôi đề nghị chúng ta không tiếp tay phổ biến nó, cho dù chỉ là phổ biến để làm trò cười với nhau. Càng làm cho nhau cười, thứ chữ “cải tiến” này càng lan rộng. Các em trẻ tuổi vốn thích nghịch ngợm đã “chế tác” ra đủ các loại chữ viết “bí hiểm” để “chít chát” với nhau, nay gặp được thứ đồ chơi này sẽ đem ra dùng… cho biết. Dùng hoài hoá thiệt. Rốt cuộc, người ta không còn biết đâu là đúng đâu là sai nữa. Bây giờ đã thấy xuất hiện một bộ “Cuyển dổi Tiếq Việt” rồi đó. (3)
QUYÊN DI
(1) Alexandre de Rhodes không phải là ông tổ của chữ Quốc Ngữ. Khi đến đất Việt để truyền đạo, ông phải học tiếng Việt qua các sách (chép tay) của các giáo sĩ Bồ-đào-nha đã đến miền đất này trước ông. Nhưng Alexandre de Rhodes đã có công lớn nhất trong việc hình thành và phát triển chữ Quốc Ngữ. Ông là tác giả hai tác phẩm chữ Quốc Ngữ đầu tiên, ấn hành tại Rome năm 1651: “Tự Điển Việt-Bồ-La” và “Phép Giảng Tám Ngày.”
(2) Sự thật QUÝ là QU + UÝ, khi viết chúng ta giản lược một chữ U, thành ra QUÝ; QUẢ là QU + OẢ, khi viết chúng ta giản lược chữ O, thành ra QUẢ. Hiện tượng này cũng tương tự như GIÊNG là GI + IÊNG, khi viết chúng ta giản lược một chữ I thành ra GIÊNG. Có thể một số vị không đồng ý với cách giải thích này.
(3) Chúng tôi không mất thì giờ ghi lại tất cả những thay đổi, thêm bớt vào bảng mẫu tự tiếng Việt của PGS TS Bùi Hiền mà ông gọi là “cải tiến”. Tiếp tay phổ biến chúng làm gì! Chúng tôi cũng không tiếp tục thảo luận về vấn đề “cải tiến chữ Việt” trên trang Facebook này. Không ích gì! Ngoại giả, không ai cấm vấn đề “cải tiến chữ Việt” được trình bày và thảo luận trong các cuộc hội thảo ngôn ngữ.


QUYÊN DI