Đánh đổi

nguyenminhphuc

…Xin đánh đổi cuộc đời nầy lận đận
Bằng phút giây cầm được tay người…
(NTN)

Ừ thì tôi đánh đổi tôi
Vào trong mắt biếc một trời thơ ngây
Hay là tôi đổi vạn ngày
Có em trong giấc mơ đầy trăm năm

Tôi xin đổi hết trăng rằm
Vào đôi tay nhỏ xa xăm ngại ngần
Và dành cả một trời xuân
Đổi cho nhan sắc tôi từng tương tư

Hay là tôi gói lời ru
Đổi đôi môi của mùa thu mang về
Tình còn mộng kín sơn khê
Chỉ xin đánh đổi môi kề bên môi

Cho tôi dành cả cuộc đời
Chỉ xin tôi đổi một thời yêu em
Còn trong tôi một trái tim
Thôi tôi xin lấy nổi chìm đời nhau

Mốt mai em bước qua cầu
Còn đâu tôi đổi chiều sầu bóng tôi…

Nguyễn Minh Phúc

… TRÊN ĐƯỜNG CÔNG LÝ

buichivinh

Chào đón Obama đến Sài Gòn
Trẻ con trong xóm vui như Tết
Nghe tiếng còi hụ ngoài đường là đám nhóc thay phiên nhau hò hét
Obama, hoan hô Tổng thống Obama !

Ôi những đứa trẻ con không hề phân biệt quốc tịch với màu da
Chào đón Obama như đón người thân thuộc
Rừng cờ Mỹ 41 năm không bay ở Việt Nam, bây giờ bay như đám rước
Suốt con đường Công Lý ngày xưa giờ rợp một màu cờ

41 năm đồng minh Hoa Kỳ tự chối bỏ đồng minh một cách ngây thơ
Bây giờ mở mắt thì bao nhiêu người đã chết
Người chết lềnh bềnh trên đại dương, người chết trong ngục tù bao la, người sức mòn lực kiệt
Cái giá phải trả của thời gian tàn bạo đến chừng nào

Dân miền Nam bụng không chứa gươm đao
Ghét thì quay lưng, không ưa thì nói thẳng
Không ưa cộng sản Tàu nhưng với nước Mỹ văn minh nhân quyền thì gừng cay muối mặn
41 năm đói tự do nên biết quý yêu phẩm giá con người

Chào đón Obama đến Sài Gòn, cả nước rộn niềm vui
Bọn bán nước tay sai, bọn liếm gót Bắc Kinh tái mặt ư ? Thây kệ
Những đứa trẻ hồn nhiên đang dạy chúng bài học vỡ lòng về tử tế
Chọn đúng bạn mà chơi, chớ chọn giặc mà thờ !

4g chiều ngày 24/5/2016
BÙI CHÍ VINH

VIẾT VỀ TÂN ĐỊNH.

thuyvi

( sẽ in trong VI, VIẾT VỤN )
Chúng ta, ai cũng có vùng ký ức thời tuổi nhỏ rất riêng của mình. Hôm qua, đọc một bài viết về khu Tân Định của ông Trần Đình Phước, tôi như được gặp lại người bạn thân thiết lâu ngày. Giống như mọi tình cảm chìm trong quá khứ lâu nay, bây giờ, được vỡ trào tung toé.
Những dòng chữ của ông Phước còn dẫn tôi lội sâu vào vùng trẻ thơ – tuy có lúc rõ nét, có khi mơ hồ, và, xúi tôi ngồi lại ghi xuống những kỷ niệm trong trí nhớ thật mỏng manh nhỏ nhoi của mình.
Lúc đó tôi còn bé lắm, học ở nội trú và mỗi cuối tuần được đón về nhà ngoại. Nhà của ngoại là một nếp nhà cũ kỹ, mái ngói, bệ vệ, nằm ngay chính giữa một con ngõ cụt rộng rãi trên đường Nguyễn Đình Chiểu như lọt thỏm trong những ngôi nhà cao tầng hiện đại chung quanh.
Ngay đầu đường trong này đi ra là nhà của ông Họa sĩ Đinh Cường. Lúc đó ông chưa nổi tiếng và có chút liên hệ họ hàng gì đó, vì ông gọi ngoại tôi là Chú. Tôi còn nhớ cách nhà ông Cường vài căn là một tiệm phở, tuy hoàn toàn không nhớ tên, nhưng tôi lại nhớ nơi đó trang trí nhiều chậu dừa kiểng – họ đặt tràn ra ngoài hành lang sát mí với Sài Gòn Ấn Quán.
Đứng trước nhà ông Đinh Cường, ngó xéo về hướng chợ Tân Định, bên kia đường là trường Tiểu học Đồ Chiểu với cánh cổng nặng nề thường xuyên đóng kín mít. Tôi chỉ học ở nơi này vài năm, lại nữa trí nhớ một đứa con nít thường là chắp vá, nhưng không hiểu sao tôi lại đặc biệt nhớ ngôi trường này, cho nên mỗi lần nhớ lại, tôi dường như vẫn còn ngửi được mùi lá nồng nàn của hàng Điệp già cỗi phủ um bóng mát dọc theo lối đi trong khoảng sân rộng trước những cửa lớp. Và, hình như mười đầu ngón tay tôi có được cảm giác như đang sờ vết nham nhám của những băng ghế bằng xi măng đặt rải rác trước hành lang.
Cổng phụ của trường nằm ngay góc, chỗ đó là con ngõ nhỏ rải rác những ngôi nhà còn nguyên khoảng sân yên tĩnh với vòm cây bông giấy dầy đặc những chùm hoa bung ra những cánh nhỏ lá thuôn màu hồng ngát.
Tan học, nếu đi con đường Hai Bà Trưng để về nhà, tôi sẽ đi ngang rạp chiếu bóng thường trực Kinh Thành giăng đầy những áp phích film ca múa Ấn Độ với đầu mấy con rắn đang phùng mang bên các cô đẹp mê hồn giông giống như khuôn mặt Phật bà Quan Âm. Nếu dừng lại, nhìn vào, sẽ thấy hai bên cửa rạp là dãy vách dán đầy quảng cáo, nơi đó có hàng song sắt láng bóng thấp lè tè là chỗ tôi đu tòn ten trong lúc chờ ông cậu mua vé hay đang quẩn quanh tán gẫu với bạn bè.
Từ rạp Kinh Thanh đi bộ thêm một đổi, gần đến chỗ ngã ba bị uốn cong góc nhà đèn, đường Bà Lê Chân cắt ngang Hai Bà Trưng đổ vào Nguyễn Đình Chiểu, nơi đó ngày xưa có trạm xe ô-tô-buýt cắm trước mặt vài tiệm trồng răng của người Hoa có trưng mấy tấm hình hàm răng to ưỡn. Kế đó, tôi còn nhớ một tiệm bán cơm thố với món thịt ba rọi kho mắm ruốc ( ? ) sóng sánh màu tím. Vừa băng qua đường, cũng dọc theo đường Hai Bà Trưng là dãy tiệm bán cà phê như nhà văn Trương Đạm Thủy tả : ” Mặc dù sách phong thủy Tàu thường khuyên không nên cất nhà ở ngã ba, ngã tư đường vì dễ bị nạn xui xẻo nhưng các chú Xường, chú Hía, A Hoành, A Koón… thì đều chọn các nơi nầy làm chỗ kinh doanh. Tuy Sàigòn, Chợlớn, Gia Định, Phú Nhuận, Đa Kao có hàng trăm tiệm cà phê, hủ tíu Tàu nhưng nhìn chung chúng đều có một “mô – típ – made in China” khá giống nhau, tức là quán nào ở phía trước cửa cũng có một xe nấu hủ tíu được làm bằng gỗ thiết kế một cách cầu kỳ. Phần trên của xe được trang trí bằng những tấm kính tráng thủy vẽ những nhân vật Quan Công, Lưu Bị, Triệu Tử Long, Trương Phi trong truyện Tam Quốc Chí khá vui mắt.
Bên trong quán hoặc xếp bàn tròn hoặc vuông. Khách vừa vào trong gọi “cá phé”, song mấy tay phổ ky vẫn bưng ra một mâm nào bánh bao, xíu mại, há cảo, dà chá quải đặt trên bàn. Khách dùng hay không cũng chẳng sao “pà – con – mà!”
Hồi đó không có nhiều tiệm cà phê fin kiểu “cái nồi ngồi trên cái cốc” như bây giờ mà chỉ có cà phê Tàu. Vì thế uống cà phê Tàu phải có một phong cách riêng
Cà phê được mang ra dân ‘sành điệu” hồi đó ngồi chân dưới chân trên, sau khi khuấy nhẹ cho tan đường bèn đổ ly cà phê ra cái đĩa đặt phía dưới. Chưa uống vội, khách chậm rãi mồi điếu thuốc rít vài hơi để chờ cà phê nguội xong rồi nhón lấy cái dĩa đưa lên miệng vừa thổi vừa húp…”…..(ngưng trích).
Sáng nào được ông ngoại dẫn ra quán café, dù chỉ là con nhóc, tôi cũng bày đặt giống ông ngoại, đòi, đổ café sữa ra dĩa cũng húp xì xụp bắt chước y chang.
Đi lang thang lên một chút là gặp tiệm thuốc bắc Kim Tân (hình như có trưng hình ông lực sĩ thật lớn giơ bắp tay cuồn cuộn?) Tiếp đó là những tiệm tạp hoá, tiệm thuốc bán na ná nhau… Dọc lên một đỗi sẽ gặp nhà thờ Tân Định với kiến trúc cầu kỳ đầy nghệ thuật như những mũi tên bay vút lên bầu trời.
Một trong những bài viết về Tân Định, ông Trần Đình Phước có nhắc đến tiệm chụp hình Luyến khiến tôi nhớ lúc còn ở nhà ngoại, có lần cậu đưa tôi ra Luyến chụp hình, tấm con bé làm duyên chống tay nơi cằm được chủ tiệm dành làm hình mẫu. Sau này khi tôi lớn hơn một chút, trở về thăm lại Tân Định, ghé vào đây chụp thêm tấm nữa, cũng không ngờ tấm hình đó lại may mắn được chủ tiệm đặt tại một chỗ, mà bất cứ khách bộ hành nào nhìn vào cũng thấy con bé mặc áo sơ mi sọc, tay ôm cây vợt đánh vũ cầu cười duyên suốt nhiều năm dài. Kế bên Luyến là phòng làm răng, mà, chị Liên con cô Năm tôi có thời làm đây – Chị thấy tôi có cái răng lòi sỉ mà cứ bị chọc quê, nên hào hứng áp giải tôi đến đây để nhờ ông Nha sĩ bứng gốc.
Ngay góc chợ Tân Định, đầu đường Trần văn Thạch, buổi chiều là khu bán nước Sâm Bổ Lượng, đối diện có mấy gian hàng chả quế thơm nứt mũi, đi một khoảng còn gặp thêm một rạp chiếu bóng Mô Đẹc chuyên chiếu những phim Âu Mỹ. Sẵn đà, nếu sử dụng xe gắn máy, phóng tay ga là ra tới ngã ba, quẹo tay mặt trên đường Trần Quang Khải, phóng vút một hồi, đụng Đa Kao, quẹo mặt cái, là gặp ngay tiệm bán chè đậu xanh, thạch Hiển Khánh cũng nằm phía tay mặt.
Tắp vô Hiển Khánh, dắt xe lên lề, ngó mắt qua tiệm kế bên là thấy ngay hình cô ca sĩ Thanh Thúy có mái tóc dài và bàn tay đẹp đậm đuột. Ngoáy cổ qua bên kia đường là tiệm guốc cao gót Đa Kao. Và nếu nhón lên một chút là vào con đường Nguyễn Phi Khanh hẹp té, hầu như toàn dân Bắc Kỳ di cư chuyên làm ô mai bán cho lũ học trò con gái.
Viết bài này không nhắc tới những buổi tối được ở nhà, sau khi học bài xong, thế nào ông cậu cũng chở tôi trên chiếc xe đạp đua bằng nhôm thật hách vừa huýt gió điệu nhạc Cerisier Rose Et Pommier Blanc réo rắc vui nhộn, vừa đạp chiếc xe phóng vun vút một vòng từ nhà ra Hai Bà Trưng, rẽ qua Đinh Tiên Hoàng ghé tiệm bánh mua Paté Chaud (lúc đó góc bưu điện SàiGòn chưa bán loại bánh này) rồi trực chỉ bến tàu vừa hóng gió vừa nhâm nhi tận tình cho hết mấy cái bánh rồi tà tà đạp về.
Khi Cậu có chút tiền còm, hào sảng hơn thì chở con bé ra Chợ Cũ ăn cháo cá, uống Bireleys rồi đạp chậm một vòng chợ Bến Thành để con bé nhìn nghiêng nhìn ngữa, chỉ trỏ cười nói lung tung một hồi rồi chiếc xe vun vút về với điệu nhạc trong miệng cùng màn đêm mát rượi êm ả của một thuở thanh bình.
Bây giờ, cậu tôi – mất rồi. Ông ngoại dĩ nhiên không còn. Tôi cũng đang rơi vào tuổi đủ già. Ngẫm lại, một vòng cuộc đời, như chớp mắt, có khi còn nhanh hơn chớp mắt. Nhiều lúc một mình, lòng ngổn ngang xúc cảm với những kỷ niệm đứt đoạn, lan man…
…Tuy còn nhỏ, nhưng lúc đó tôi còn nhớ vào khoảng năm 1963-64, gì đó, trong nhà tôi đột nhiên u ám, khi ông Ngoại buồn hẳn đi. Sau ít tháng, một quyết định của ông Ngoại làm cả nhà rụng rời khi dời bỏ chổ yên ấm, chuyển luôn cái sạp bán vải Đức Lộc đông khách trong chợ Tân Định danh giá xuống Mộc Hoá – một tỉnh lỵ heo hút buồn ngắt ven biên giới!
Để rồi cho đến hôm nay, khi tôi đã trải nghiệm qua bao thăng trầm. Chứng kiến bao cảnh bể dâu. Là nhân chứng của bao nhiêu trò đen trắng. Cũng không ít lần phẫn uất trước những kẻ muối mặt, thời cơ, biển lận, láo khoét. Tôi mới hiểu sự lựa chọn của ông Ngoại, khi Ngoại thể hiện lẫm liệt một nhân cách can đảm quay lưng, giả ngơ, làm điếc trước những kẻ theo đóm ăn tàn, trước những trò xâu xé bẩn thỉu của các đồng sự của mình!!…
Có người nói, kỷ niệm như những bọt sà bông tuy đầy màu sắc lóng lánh nhưng dễ vỡ. Và, tất cả rồi sẽ xoá nhoà đi không còn lưu lại một dấu vết nào.
Tôi đang cố không tin điều này.

thụyvi

( * ) Người viết lúc đó còn bé quá, trong trí nhớ chắc chắn có lẫn lộn vài chi tiết. Mong thứ lỗi.
( * ) vùng Tân Định xưa.( thấy khu nhà của Ngoại và trường Đồ Chiểu )
( * ) trong tấm hình số 3, chợ Tân Định có thấy bảng hiệu vải của bà Ngoại.

Một Bài Thơ Nhức Lòng

tranvanle

Bốn mươi năm hơn rồi Đất Nước đi về đâu?
– Đi về Thời Khai Sinh hộ lại là những Sử Gia không biết?
– Đi về những bãi bờ người ta nói Biển Dâu?

Những con cá chết nằm phơi thây trắng phếu
Giống như những người Lính một thời rã rệu
Nằm dưới chân đồi, trên đồng lúa,
trên những bãi chiến trường xưa…

Đất nước đi về đâu? Một câu hỏi của triệu triệu kẻ dại khờ
Trong tay có một hộp diêm mà chưa ai muốn bật!
Dân thì ngu mà luôn luôn vỗ ngực cho ta là nhất
Nhất cái gì? Vẫn nhất sự ngu si!
Anh đã làm chi? Tôi đã làm chi?
Bác đưa một nước qua nô lệ
Tôi dẫn năm châu tới đại đồng
Con còng không cần biết, chạy trốn trong biển lớn
Dân tộc An Nam, Tản Đà nói ngu-như-con-lợn
Nước bốn ngàn năm toàn con nít giung giăng…

Đến nổi Trần Thị Lam, cô giáo Trần Thị Lam
Ném viên phấn đứng ngẩn người bật khóc
Làm một bài thơ ngay trong lớp học:
“Mình làm cô giáo mà dạy ai đây?
Những đứa trẻ thơ ngây?
Hay những con người đần độn?
Những đứa học trò “chuyên” mãi mãi không là người lớn
Bởi trong đầu có câu hỏi long lanh
“Đất nước mình ngộ quá phải không anh?”

Thương quá tuổi xanh! Ai ai cũng tuổi còn xanh
…mà mắt trắng, trắng như trời mây trắng
Nhớ câu thơ Thôi Hiệu và cầm khăn lên thấm:
“Bạch Vân Thiên Tải Không Du Du!”

Trần Vấn Lệ

PHONG LINH TRẮNG

phuonguy

tìm về phía bờ tuyệt vọng
để thấy thân còn là mình
em bên kia màu áo mỏng
lẻ loi một tiếng phong linh

Tìm về phía là ảo ảnh
loạn ngôn trong những lần điên
người đi là đi biền biệt
chờ chi giọt nắng rơi thềm?

tìm những hoạ hình bóng nước
nghe lộng về những u buồn
trở trăn chi tàu lá lật
để đêm ngằn ngặt đêm tuôn

tìm về môi hôn đã cũ
có còn dội những cơn đau?
dấu thánh của ngày chúa nhật
vẽ được không, những nhiệm màu?

PHƯƠNG UY

MÙA TAM DIỆP THẢO

tonnuthudung

Tặng Lưu thị Hồng Loan, cô bạn bé nhỏ ngày nào nay đã là một Mẹ Bề Trên đáng kính.

Cả ngày hôm ấy, Hoài không chịu ăn bất cứ một thứ gì Melisa đút cho cô. Cô ngậm và phun ra hoặc cô mím môi câm lặng. Melisa tìm tôi than thở: Em chán lắm, thương thì thương nhưng đành chịu.Tôi đang vội dọn dẹp để về, xe hư, tôi sợ nhất bị chờ ở trạm xe bus ban đêm, lạnh, buồn và nguy hiểm. Tôi nói: để mai đi.
Vậy mà về nhà vẫn nghĩ hoài để thao thức cả đêm. Tôi có cái tật cứ ôm tất cả những bất hạnh của người khác để đầu độc tâm hồn mình khi thấy mình không làm gì được trước các nỗi đau. Cả nhà không ai muốn cho tôi làm việc trong nursing home, nhưng hơn ai hết, tôi biết rất rõ Chúa đã cho tôi đôi tay biết cách xoa dịu vết thương, vì thế tôi chọn công việc này giữa vài công việc khác mà tôi có thể. Tôi không muốn nói với ai về những điều mình nghĩ, sẽ gây nhiều hiểu lầm, tôi biết, tôi đang ở trong vài tầm ngắm… khi lỡ lời nói một điều gì đó, sẽ có những viên đá ném tới không chút đắn đo và không cần suy nghĩ từ vài người tôi đã từng cho rằng họ là bạn… bởi thế tôi lặng lẽ làm trước khi có ai lên tiếng hỏi.
Công việc hơi nhọc nhằn, đôi khi dơ bẩn nhưng đem lại cho tôi số tiền (đủ sống) và niềm vui (to lớn) lẫn nhiều nỗi buồn (khó cưỡng). Tôi luôn nhớ lời Soeur Hiệu Trưởng: Làm được điều gì cho ai là phải làm ngay đừng chần chừ ngần ngại…
Giờ ăn trưa tôi tới cạnh bàn ăn của Hoài, cô vẫn ngậm miệng và phun cho kỳ hết khi Melisa lừa lừa đút được chút gì . Melisa chán nản lau miệng cho cô và dọa: Nếu cô không chịu ăn, bác sĩ sẽ chuyền thức ăn bằng ống, rất đau! Hoài òa lên khóc, tôi biết, Hoài không hiểu, không nhớ gì cả nhưng cái giọng dọa nạt của Melisa làm cô tủi thân. Không trách được Melisa, cô còn quá trẻ và thiếu kiên nhẫn để làm những công việc như thế này… Cô có quá nhiều nỗi lo khi phải một thân một mình trên đất Mỹ… Cô đang lo sợ đủ thứ: Sợ chiều nay kẹt xe lại đi học trễ, sợ thẻ xanh hết hạn trước khi tốt nghiệp nếu không qua nỗi các đợt thực tập, kể cả cô cần phải về để tắm táp trước khi đến lớp chiều nay để tránh cái ý nghĩ bọn bạn học con nhà giàu khịt khịt mũi khi cô đi ngang, cô đã làm thêm việc vào ban đêm và tới giờ này thì cô vô cùng mỏi mệt, nhiều lần tôi nghe cô khóc nức nở trong phòng tắm… Bởi thế , tôi vừa dỗ Hoài vừa phải trấn an cô… tôi vỗ nhè nhẹ lên tay Hoài và nói với Melisa : Thôi về đi, để đó! Hoài nhìn tôi bằng đôi mắt bé thơ buồn rầu, sao lòng tôi cứ đau đớn bởi những điều người khác rất thản nhiên?

Nếu Hoài là một bệnh nhân không chịu ăn thì Thomas là một bệnh nhân không chịu ngủ. Thomas là một họa sĩ. Cậu ấy bị một tai nạn xe hơi nghiêm trọng khi: Em đang nhìn những đốm nắng chấp chới trên cánh một con bướm xanh khi nó bay rất chậm qua một thung lũng vàng rợp Tam Diệp Thảo… và cậu đã bị tổn thương cột sống, từ đó cậu vẽ tranh bằng cách ngậm chiếc cọ trong miệng… Không biết cậu ấy có thi vị hóa nguyên nhân tai nạn của mình hay không, nhưng nếu thật vậy thì quả là hạnh phúc. Trong những câu chuyện cổ tích tôi đọc hồi nhỏ có một truyền thuyết như sau : Ai được nhìn thấy một cánh bướm xanh chập chờn lượn qua một cánh đồng Tam Diệp Thảo thì linh hồn người đó sẽ trở thành bất tử… Nhưng tôi vẫn luôn tự hỏi trong những lúc chăm sóc cậu: Linh hồn bất tử để làm gì khi thân xác em bị giam cầm trên một chiếc xe lăn?
Màu Tam Diệp Thảo cứ rực rỡ và nao nức đến đau lòng khi tôi nhìn thấy nó rợp trong vườn xanh cỏ. Tôi hái một bó và cặm vào chiếc ly thủy tinh bé nhỏ cho Thomas vào mỗi sáng… nó rực rỡ lung linh trong vài giờ rồi rũ xuống héo tàn buồn thảm…Tôi vỗ nhẹ vào vai Thomas khi thấy đôi mắt cậu cứ đọng hoài trên bàn ngủ : sáng mai chị sẽ hái nữa cho em. Thomas cười, nụ cười của một bé thơ vừa nghe lời hứa về một món quà yêu thích. Tôi nói : Giờ thì em ngủ đi, chị sẽ kể cho em nghe câu chuyện về Tam Diệp Thảo…

cỏ ba lá chính là cây me đất, thỉnh thoảng có người vẫn tìm được trong đám cỏ ba lá đó, có một cây bốn lá. Vì nó rất hiếm nên người ta thường quan niệm rằng ai tìm được cây cỏ bốn lá đó là sẽ có được Hạnh Phúc hoặc May Mắn.

Câu chuyện kể rằng nếu đứa bé trên thế gian can đảm bước vào rừng sâu, đi mãi đi mãi qua bao thác ghềnh với một trái tim dũng cảm sẽ tìm được loại cỏ bốn lá (four-leaf clover) – loại cỏ sẽ mang lại nụ cười hạnh phúc mãi mãi – nụ cười hạnh phúc của trẻ thơ. Khi tìm được ngọn cỏ bốn lá, đứa trẻ sẽ đứng trong gió, đặt ngọn cỏ vào trái tim nồng ấm và hát khúc ca đồng dao. Mỗi lá trên ngọn cỏ tượng trưng cho một thứ quý giá nhất của cuộc sống.
Lá thứ nhất đứa bé thì thầm: đó là hy vọng
Lá thứ hai đứa bé mỉm cười: là niềm tin
Lá thứ ba: là tình yêu
Và lá cuối cùng: là sự may mắn
Bốn món quà thượng đế ban tặng cho mỗi đứa trẻ khi chúng mới ra đời nhưng để tìm được chúng đứa trẻ ấy phải mãi đi tìm, tìm trong rừng sâu của cuộc đời với trái tim dũng cảm… Truyền thuyết vẫn tiếp tục đến ngày hôm nay, và truyền thuyết mãi là truyền thuyết vì mỗi đứa trẻ sinh ra lớn lên mãi đi tìm công danh và sự nghiệp nên chúng lãng quên con đường tìm đến với ngọn cỏ bốn lá mà thượng đế trao cho. Đến khi chúng vấp ngã, chúng mới nhớ đến khúc đồng dao của ngày xưa. Chúng thẫn thờ và than thở.
Nhưng đứa trẻ đâu biết thượng đế trên cao đang mỉm cười:
Khi đứa trẻ đau vì vấp ngã, đó là tình yêu
Khi đứa trẻ tin rằng mình không cô độc khi vấp ngã, đó là niềm tin
Khi đứa trẻ nhìn thấy những đứa trẻ khác còn đau khổ hơn mình, đó là sự may mắn
Và khi đứa trẻ nghĩ rằng mình phải đứng dậy là đi tiếp, đó là niềm hi vọng..
Câu chuyện tưởng chừng như vô nghĩa nhưng lại giúp ta hiểu được một chân lí:
Có những điều thật giản đơn nhưng đủ làm ta mỉm cười và có những con người dù lặng lẽ – nhưng lại khiến trái tim ta bừng lên hạnh phúc…

Chiếc giường ngủ đầy những thiết bị y khoa của Thomas như cầm tù thân xác cậu mà linh hồn cậu thì đang lững thững ở một chốn hoang vu nào đó, giấc ngủ đến với cậu thật thanh thản bình yên… Và tôi đau đáu với nỗi niềm: đêm mai, tôi sẽ có câu chuyện nào tuyệt vời hơn truyền thuyết Tam Diệp Thảo để dỗ cậu vào giấc ngủ?

Nếu với Thomas, tôi chỉ biết về cậu qua những câu chuyện kể thì với Hoài, cô là một phần tuổi trẻ của tôi. Khi tôi nhận việc, anh Lâm, người hướng dẫn đã nói: Dân NhaTrang ha? Bàn giao cho cô case này… đồng hương!
Tôi không còn nhận ra Hoài nữa… Đầu tháng 3/75. Hoài 16 tuổi, thị trấn thất thủ,Hoài theo các chị chạy loạn… Từ trại mồ côi, Soeur Bernard cho mỗi đứa một tay nãi gồm gạo sấy, mì gói, đường, kim chỉ may, vài bộ áo quần và một ít tiền. Soeur căn dặn không được rời nhau và làm dấu thánh cho từng đứa. Soeur ở lại vì còn một số bé bại liệt không di chuyển được. Cả bọn vừa đi vừa lần chuỗi đọc kinh.Hoài được gởi vào trường mồ côi của các Soeurs từ năm 3 tuổi, mẹ cô không một lần trở lại thăm chắc vì áp lực gia đình hoặc xã hội khi sinh một đứa con khuyết tật… Cô lớn lên nơi đây, đơn giản, xinh đẹp, thánh thiện như một thiên thần câm lặng, chỉ có nụ cười sáng rực là làm ấm áp hồn người.Trên con đường chạy loạn dần dần thất lạc lẫn nhau, chỉ có bé Lim là Hoài khư khư ôm chặt, cô cột nó bằng chiếc võng mây riết sát quanh mình, con bé độ chừng vài tuổi… Về tới Suối Dầu, Soeur Bề Trên bật khóc khi thấy hai chị em tơi tả và những vòng dây siết bầm tím quanh thân… Hoài sợ con bé rơi mất trong biển người hỗn loạn. Không còn nỗi sợ hãi nào nữa khi được về cạnh các Soeurs, nép mình vào những đôi tay từ ái…Tình yêu thương của các soeurs xóa dần những nỗi đau thương ám ảnh… chỉ có Lim, nó cứ hét gào khi không thấy mặt Hoài và quanh quẩn theo cô như một chiếc đuôi!

Hoài trở lại với công việc của mình, chăm sóc các bé mồ côi và khuyết tật cùng các soeurs,cô không biết hát, không biết kể chuyện, không biết vỗ về… nhưng cô biết nựng ru bằng những tiếng âm ư và đôi tay ấm áp… khi cô ôm một bé thơ đang la khóc, đôi mắt và vòng tay cô làm bé dịu đi và lim dim ngủ… Những ngày ấy , tôi vẫn thường mang đến Dòng những thuốc men, quần áo mà bạn bè và người thân ở nước ngoài gởi về tiếp tế để Soeur lo cho các bé. Tôi gặp Hoài thường xuyên , cô bày tôi nói chuyện bằng ngôn ngữ thể hình, cô luôn dễ thương, duyên dáng, nhẹ nhàng, thanh khiết như một thiên thần… chỉ có bọn chúng tôi lăn sớm ra đời kiếm sống là bị nhiễm độc trần gian để tập khôn ngoan, tập lọc lừa, tập gian trá, thật sự chúng tôi tập hoài không được vì lúc nào cũng sợ những cái nhìn nghiêm khắc của các soeurs. Mỗi lần đến gặp Hoài , ngồi nói chuyện vớ vẩn với cô hay cả khi chẳng nói gì chỉ gặp nhau cười và ra dấu từ xa…lúc ra về tôi như có thêm chút năng lượng sống và cảm thấy mình được rửa sạch chút bụi bặm phố phường.
Thuở ấy, thỉnh thoảng các tổ chức từ thiện quốc tế đến thăm Dòng, phát thuốc, khám bệnh, nhổ răng, tặng quà… những em bé cứ khóc thét lên nếu không có Hoài bên cạnh mặc cho tôi có mỏi miệng ru hời ru hỡi… Vẻ xinh đẹp đằm thắm dịu dàng của Hoài đã lọt vào mắt xanh một chàng bác sĩ. Tình yêu không biết có tác động thế nào đến Hoài không, chúng tôi , bọn nhóc tuổi tác tương đương đương nhau, chưa đứa nào biết tình yêu là gì có hơi ganh tị dù rất mừng cho Hoài.
Tôi hỏi soeur: Hoài có yêu Mike không?
Soeur nghiêm trang: Hoài ngoan, con bé làm mọi điều theo ý Chúa!
Tôi vờ than vãn: Sao Soeur không giới thiệu Mike cho con. Con cũng rất ngoan mà. Mike vừa đẹp trai, vừa giàu có, vừa mang quốc tịch Mỹ, đỡ tốn công tốn của con đi vượt biển hoài không lọt.
Soeur cốc đâu tôi bằng chiếc nhẫn sắt như ngày tôi còn nhỏ: Hòai được yêu vì nó mang cái đẹp của sự yên lặng, tĩnh tại. Con không có được điều đó, con lách chách cả ngày như một con khướu… làm người ta vừa yêu vừa ái ngại…Con thông minh nhưng thiếu sự khôn ngoan!
Chưa có nhận định nào chính xác làm tôi vui dường ấy…Tôi tò mò lắm…vẫn là những buổi trưa trong giờ các bé ngủ, Hoài ngồi yên lặng trên hiên nhà nhìn ra những vạt Tam Diệp Thảo đong đưa hoa vàng, nhiều khi tôi và nó cùng ngớ ngẩn đi tìm cho bằng được những cọng cỏ bốn lá dù biết rằng hiếm hoi không tưởng. Tôi hỏi nó: Nếu tìm thấy một ngọn cỏ bốn lá Hoài sẽ mơ được điều gì?
Mẹ , nó trả lời bằng hai bàn tay chéo nhau trên ngực. Tôi lặng người đau nhói. hỏi tiếp: Yêu Mike không? Hoài cười, mắt nó hiền như mắt bò với hai hàng mi rợp bóng, dịu dàng xinh đẹp. Bằng cách nào đó, họ cưới nhau và đem cả Lim ra đi. Lim vẫn luôn là một cái đuôi quấn quýt với Hoài từ nhỏ. Nghe Soeur nói họ làm việc ở Ethyopie, ở Sudan …những nước Châu Phi nghèo khổ… Hoài vẫn luôn là một cô bé ngoan, tìm cách giúp đỡ cho nhà Dòng bằng mọi cách.
Rồi Soeur Bề Trên mất, rồi tôi đi xa, rồi Dòng bị giải tán dời đi nơi khác. Thỉnh thoảng mới có một vài Email liên lạc rủ nhau quyên góp cho Dòng.Rồi thất lạc nhau trong đời, dù vẫn biết khi cần, chỉ lên tiếng thôi thì cạnh mình sẽ vẫn đông đủ bạn bè.
Tôi không biết gì về cuộc sống tiếp theo của Hoài… chắc rằng nó luôn vui vẻ, an phận, hạnh phúc vì được dấn thân và cống hiến như lời răn dạy của Soeur bên cạnh những người mình yêu thương. Tôi luôn nghĩ vậy về nó khi nhớ lại một cô thiên thần bé nhỏ của ngày nào xa xưa…
Cho đến khi tôi nhận việc nơi này – FOREST PARK CARE CENTER- thì Hoài đã ở đây 14 năm , trước đó nó ở đâu đó mà trong hồ sơ không ghi nhận…Thời gian làm tôi bật khóc, Hoài đã cô đơn bất hạnh trong bao nhiêu năm kể từ khi nó lên đường??? Nó nhảy lầu tự tử vì trầm cảm. Trong hồ sơ là địa chỉ liên lạc và số điện thoại của vợ chồng người em gái: Mike và Lim! Tôi mương tượng điều đã xảy ra, anh Lâm nói : Lâu lắm rồi Mike và Lim không tới, mỗi lần họ tới Hoài lại bị những cơn động kinh khủng khiếp!
Tôi không nói với anh Lâm những gì mình biết. những trưa ngồi im lặng bên nhau…không biết Hoài nghĩ gì mà cứ chảy nước mắt, tôi ôm đầu nó tựa vào vai mình, đong đưa đong đưa…ngoài cửa sổ cũng là một vườn Tam Diệp Thảo xanh mượt mà với những hoa vàng lay lay trong gió…Tôi ước gì được trở lại những ngày cũ của ký ức êm ả xưa kia…
Tôi không giận Mike và Lim… Tôi nhắn tụi nó số điện thoại mình. Qua thời gian, tôi hiểu Tình Yêu đôi khi còn là khổ nạn! Một đêm, tôi nghe giọng Mike nghẹn ngào gọi đến từ một vùng băng giá xa xôi : Dee, tôi không phải là một người độc ác… nhưng Tình Yêu đâu phải đơn thuần là một lễ vật chỉ để hiến dâng! Tình Yêu là một sự tương tác, Bạn có hiểu…
Tôi hiểu, dù đã quá muộn màng.
Sống, phải luôn mở lòng yêu thương khi có thể… và cũng không nên oán trách cuộc đời khi bất hạnh như một chiếc thánh giá mà ta phải tự mang vác đến hết phận người!

Tôn Nữ Thu Dung

KHÚC EM MÙA HẠ

hoangvancham

Em chuyền nỗi nhớ từ mùa xuân qua mùa hạ
Cánh phượng hồng mấy bận níu vội giấc mơ
Nghiêng với phố xa hẹn lòng chân mau bước
Em lại về bên sông chiều thôi chơ vơ.

Thấu suốt lòng em giữ nguyên ngày cũ
Tóc gió thoáng xưa như còn đó ban sơ
Hương đồng nội bay về thơm bờ mắt
Mềm chút môi cay chia hết đường tơ….

Em chuyền nỗi nhớ từ ngút xa tít tắp
Đếm thời gian đem lòng nhớ khuất xa
Mùa hạ trắng gọi nỗi buồn như xuống thấp
Vô tình như thuyền trôi em mặc vội áo hoa.

Ta chuyền nỗi nhớ từ ngọt bùi hương cũ
Bể dâu làm tình đau vùi lấp ngọn ngành
Nặng vai trần gian em quên đời gió cuốn
Xô nhau đường về tiếc chi giữa mong manh.!!!

HOÀNG CHẨM

Tiều phu

nguyenducbatngan

nằm với đất làm sao ta dám nói
nắng mưa nhiều còn phủ nặng quanh thân
lòng quay quắt khi hôn thầm bóng tối
tuổi chưa già mà ngỡ đã nghìn năm

bầy thú chạy hót mừng ta cô quạnh
sớm lên rừng ta với núi rưng rưng
cành khô gãy đâm ngang ngày giá lạnh
một lời đưa không hoá được kinh mừng

tình lầm lỡ theo trong lần thơ dại
rồi em theo người mắt ướt vàng hoe
ta thảng thốt giữa tim mình huỷ hoại
đứng phương này hoài vọng với trăng loe

ngồi tưởng nhớ em một mình lủi thủi
chảy bên người thầm lặng nước sông trôi
chiều xuống chợ trên vai này gánh củi
còn chi không từ tóc bạc da mồi.

Nguyễn Đức Bạt Ngàn

Cô giáo Trinh

nguyentri

Đủ mười bẩy điểm. Trong đó hai điểm ưu ái người thiểu số và một điểm cho mã vùng sâu xa Trinh vào đại học sư phạm. Cô chọn khoa tiểu học cho hành trình chinh phục tương lai.
Ông dượng của Trinh – ông nầy nông dân nên dùi đục lắm – bàn rằng:
– Sao không trung mà tiểu học? Thời nầy lương lậu giáo chức vẫn còn dứt cháo, theo trung học chuyên toán lý hoá sinh ngữ để thêm bớt mà dạy còn kiếm chút cháo chớ tiểu học thì có mà đoi sắc sớm. Mày không thấy mấy ông thầy bà cô ở đây à? Tay ga nhà tô nóc thái là dạy thêm mà có đó con ơi.
– Con không dạy thêm đâu. Con thề đó.
– Thề sao? Sao mà thề?
Cô Trinh kể chuyện học thêm nghe mà tội nghiệp. Bà má và bà bác của cô đi làm thuê muốn hộc xì dầu ở mấy cái nông trang trồng rau củ quả. Lương lậu hẻo lắm và lại làm thời vụ, nghĩa là có việc thì người ta kêu, hết thì xù. Mẹ goá con mồ côi, bà bác không chồng, nhà ở thì như cái tổ đĩa. Vậy mà lòng dạ nào để thêm bớt cái vụ học? Bà má tội nghiệp thương con lắm, bà bác còn thương hơn. Họ quyết cho Trinh ra ngô ra khoai, không thể để dốt nát làm cùn mằn con cháu như họ được. Trinh học cũng khá nhưng hai bà già muốn con cháu mình phải giỏi. Có giỏi mới vô được đại học. Và giỏi à? Vậy thì phải học thêm.
Trinh mồ côi cha nên nhạy cảm lắm với mồ hôi và ánh mắt của hai bà mẹ. Ở năm lớp tám Trinh nhận ra sự bất thường. Bạn cùng lớp, cùng khối lớp công khai nói về sự không hay trong thêm bớt. Rằng nhỏ đó thêm nên bài kiểm tra tuần nầy nó điểm cao vì biết trước, nghĩa là cô đó, thầy đó lấy bài dạy thêm cho làm kiểm tra ở lớp. Bạn cùng lớp học như bị buộc và Trinh nhận ra cách đối phó của bạn. Chỉ cần học thêm thì cái chuẩn lên lớp ăn chắc không cần thi lại. Thậm chí tiên tiến cũng không chi lạ. Tất nhiên muốn thêm phải có tiền. Nhiều tiền. Nghèo như nhà Trinh để thêm bốn môn toán lý hoá sinh ngữ thì thật sự nhiêu khê. May quá. Mẹ và bà bác ráng được. Mắt của mẹ có tối một chút cũng không sao. Tay bà bác có chai thêm một tí cũng không sao. Cả hai bảo vậy. Nhưng Trinh không thấy vậy.
Trinh thấy mình là gánh rất nặng.
Ở nửa năm lớp tám Trinh đã manh nha ý định đi làm. Đơn giản là anh chị em bà con cô bác trong xóm nhỏ nơi Trinh cư ngụ xong lớp chín là chia tay trường lớp để mưu sinh. Chưa đủ tuổi lao động để trở thành công nhân thì họ làm thời vụ. Cũng có anh chị xong đại học nhưng vẫn bế tắc chuyện công việc. Nhìn họ bà bác nói:
– Con Trinh cố cho xong mười hai rồi vô trung cấp kế toán, học thêm tiếng Hoa đi làm cho mấy công ty Đài Loan là nhứt hạng. Con Hồng con bà Thắm lương bây giờ là tám triệu một tháng lại làm trong phòng máy lạnh, sướng như tiên.
Chao ôi! Niềm mơ ước của bà bác rất chi lớn với gia cảnh hiện tại. Mơ ước và sự lam lũ của hai người thân khiến Trinh chạnh lòng. Nó làm cho cô gái bắt đầu dậy thì những nghĩ suy vẫn vơ. Nhiều vơ vẫn tụ lại cũng hoá lơn lớn. Chính nó khiến sự học của Trinh chững lại. May mà các môn thuộc tự nhiên Trinh không bị mất gốc nên bình yên, riêng vụ anh văn cô đã làm mất lòng cô giáo bộ môn. Không riêng Trinh mà hầu hết tuy lớp tám nhưng thì hiện tại đơn giản dùng để diễn tả cái chi thì chỉ vài ngoe biết được. Và cái sự biết nầy được gia đình gửi thêm bớt từ lúc còn tiểu học. Trinh thì một câu hoàn chỉnh viết còn không xong lấy đâu để nói? Các cô thầy của bộ môn nầy còn bó tay nói chi trò. Hơn một lần khách nước ngoài đến tham quan Trinh đã thấy cô giáo nói chuyện với họ bằng tay và giấy bút. Làm sao người ta có thể nói tiếng Anh khi xung quanh toàn người Việt? Cô nói không xong thì trò viết không thành cũng có chi lạ đâu. Vậy mà cô giáo mắng Trinh ngay giữa lớp là lười biếng là dốt nát vân vân:
– Mày không học thêm là không yên với bả đâu. – Bạn cùng lớp nói với Trinh.
– Tao không học đâu.
– Bả đì mày cho coi…
– Đì thì đì… mất gốc như tao học thêm cũng ngu thôi. Sao tao thù cái vụ học thêm nầy quá. Tao thề nếu chẳng may thành giáo viên sẽ không bao giờ dạy thêm.
– Không thêm thì ăn cháo.
– Cháo thì cháo…
Nhưng đời lắm cái thật buồn cười, chả ai định trước được cho mình cái chi sất. Tương lai muôn đời là bí ẩn. Hai bà mẹ kiên trì đưa Trinh qua cái ải cấp ba một cách xuất sắc nhưng cái mơ ước trung cấp kế toán đi làm cho công ty của bà bác bị ông dượng dùi đục chắm mắm cáy đập tan tành:
– Có làm thuê thì thuê cho bảnh. Cố cho có đại học thì thuê mướn vẫn cứ ngon lành hơn.
Và chỉ có sư phạm miễn học phí đào tạo nên Trinh thi. Khi cô chọn khoa tiểu học ông dùi dục mắm cáy bàn rằng tiểu học mệt lắm lại không thêm bớt chi được. Thời nầy không dạy thêm thì đói con ơi…
Ông không biết Trinh ghét vụ thêm bớt nầy.
***
Ở ký túc xá nhưng bốn năm sáu tháng mà Trinh khắc kỷ như một nữ tu vậy. May mà bạn cùng phòng cũng xuất phát điểm từ ruộng đồng nương rẫy. Ai cũng khó nên không dám màng đến cái phồn hoa của thị thành. Cả yêu đương cũng không. Các cậu trai đành bó tay chấm o rờ gờ khi nghe Trinh và bạn cùng phòng nêu quan điểm phải làm chủ đời mình trước khi chọn một ai đó để nhờ cái bờ vai. Trinh xinh xắn dễ thương lắm lắm nhưng ám ảnh bởi sự cằn cỗi của hai bà mẹ nên quyết khoan cái vụ yêu. Lắm anh con nhà sẵn sàng cho cô một bước lên xe hơi.
Sau bốn năm sáu tháng cô ra trường với cái bằng tốt nghiệp loại khá.
Chừng ấy thời gian hai bà mẹ dồn hết tâm và lực của mình để cho cô gái xong sự nghiệp là một nổ lực to lớn. Nhưng tấm ảnh cô Trinh mũ áo tân khoa tay cầm bằng tốt nghiệp không đánh tan niềm âu lo trong mắt hai bà mẹ tội nghiệp, ngay cả Trinh cũng không vui. Xong đại học thất nghiệp là thường ngày ở huyện, xong sư phạm như cô không có nơi để dạy cũng hết sức thường. Cả ba chung một hiu quạnh khi nghe rằng trong nghiệp nầy, vào thời nầy, không chung chi thì không thể có một suất trên bục giảng. Nghe đâu phải năm bẩy mươi triệu, dính líu với tiêu cực không có cò là bằng không. Cứ cầm chắc trăm triệu là đâu vào đấy. Và – trời ạ – chung chừng ấy để có lương vài triệu một tháng thôi ư? Và nếu hai bà mẹ có ngần ấy tiền thì họ dư sức để làm một cái chi đó ung dung nhàn nhã hơn để sống chả cần chi nhiều vô chữ nghĩa. Thực là khó.
Nhưng ông dùi đục bàn như vầy:
– Mày cứ nộp các cái lên phòng giáo dục, cứ đi thi công chức đâu ra đó cho đàng hoàng. Trong khi chờ đợi thì đi xin dạy hợp đồng ở ba cái cơ sở tư thục xem sao. Đừng có nghe nói… hề hề hề… tao cũng có nghe và cũng có biết sơ sơ vụ chung chi trong cái ngành cao quý nầy. Nhưng… hề hề hề… cái bằng của mày là dạng khá mà, với lại tiểu học ở xứ mình đang hiếm. Cứ làm như tao rồi hạ hồi phân giải. Trong mười cái tiêu phải có ba cái tích. Không ai dám tiêu sạch sành sanh đâu. Mày sẽ là một trong ba cái tích tao vừa nói nếu mày thật sự khá.
Hè thì hè tư thục vẫn hoạt động như thường. Hồ sơ của cô chả có chi phải bàn. Được đứng lớp hai bà mẹ mừng chi xiết kể. Các cái trong tầm chuyên môn nên không có chi khó với cô giáo trẻ. Hai triệu tám trăm nghìn cho tháng lương đầu đời Trinh đưa nguyên phong bì cho mẹ, bà mẹ mặt tươi như hoa khi con gái duy nhất đã tự kiếm ra được tiền, nhưng ông dùi đục cười:
– Tao lớp năm trường làng. Theo phụ hồ được năm tháng là lên thợ, lương ngày ba trăm, một tuần cầm chắc triệu tám, ưng làm, không ưng ở nhà nhậu. Bà mẹ nó – mười hai năm phổ thông thêm năm năm đại học được ba triệu bạc. Kỳ cục thiệt.
Kỳ cục chỉ là chuyện nhỏ. Dùi đục nói tiếp:
– Tao đây bộ áo quần lao động bảy chục ngàn bạc là hết phép. Mày giáo viên phải luôn luôn đẹp. Ba triệu thì làm sao hả con? Hồi đó tao đã nói theo cái trung học dạy thêm mới đặng vậy mà mày không nghe… Mà thôi liệu cơm gắp mắm. Tư thục chỉ tạm thời thôi. Lo nộp hồ sơ lên phòng nếu may mắn được đứng chính quy trong ngành thì mới tồn tại lâu dài. Tư thục là lệ thuộc dữ lắm, ưng nó hợp đồng không ưng nó cho nghỉ là vong mạng liền.
Trinh đi thi công chức và có vị thứ chín trong tổng số bốn mươi thí sinh dự thi. Quả là lời bàn của thiên hạ vô cùng bá láp. Ngay cả ông dùi đục cũng thay đổi suy nghĩ khi Trinh được phòng giáo dục điều về một trường tiểu học cách nhà năm cây số để tham gia giảng dạy. Ban giám hiệu trường cũng như toàn thể giáo viên đón Trinh như đón người thân. Cô nói với ông dùi đục sau một tuần đứng lớp:
– Con tưởng tốn như người ta nói.
– Chẳng qua cái bằng của mày nằm dạng khá. Thi công chức trong tóp mười. Quan trọng nhất đại học tiểu học đang là hàng hiệu ở xa xôi như xứ mình. Vậy là tạm gọi yên bề. Nhưng bây giờ cũng chỉ nằm trong dạng thực tập thôi con. Phải giảng dạy cho giỏi là một, hai là quan hệ với đồng nghiệp và lãnh đạo phải thiệt tốt thì mới có cơ hội vô biên chế. Hiểu không?
– …
– Trong cái quan hệ với đời sống của dượng mày đây cũng nghệ thuật lắm đa con. Phải biết mềm như mây và dẽo như nước. Thằng thợ hồ như tao cũng tự cho mình là nhứt huống chi kẻ chữ nghĩa và quyền thế trong tay. Nói nhỏ mày nghe ông phật nói Thiên thượng hạ địa duy ngã độc tôn, nghĩa là trên trời dưới đất chỉ có cái tôi của ta là tổ chảng. Mày hiểu không? Chớ có tự hào, tự mãn. Đừng tưởng mình quan trọng mới mong mà sống được trên trần ai nầy.
Trinh nghe thì nghe vậy chứ cô gái hai mươi lăm tuổi làm sao hiểu được thế nào để mềm như mây dẽo như nước. Trinh sống và hành động theo kiểu của cô. Cái kiểu sống của một con người luôn luôn phải dấu cảm xúc thật của mình bởi sự túng hụt. Tập sự nên cô phải nhờ vã người đi trước hơn là có ai đó nhờ cô. Đại học của cô chả có gì cao giá so với những người đã đừng lớp từ vài ba cho đến cả chục năm. Trinh chả có chi để tự mình khen mình nói chi hào hay mãn. Và – quan trọng bậc nhất – lương tập sự của Trinh chỉ hai triệu năm trăm nghìn một tháng. Nó thua anh tư thục những năm trăm nghìn.
Nhưng ông dượng dùi đục chắm mắm cáy không có thời gian để nói câu thợ hồ như tao bảnh hơn mầy gấp hai lần rưởi.
Ông tròn xoe mắt ra mà kinh ngạc.
***
Thợ hồ là em rể của bà bác là anh rể của mẹ Trinh. Vợ chồng ông nầy nghèo mà ham vui nên những bốn đứa con. Tổ sư thực dụng nói:
– Trên đời nầy thằng ngu nào cũng muốn con cái mình ăn học đến nơi đến chốn. Nhưng không điều kiện thì – a lê hấp – nhứt nghệ tinh nhứt thân vinh. Ruộng bề bề không bằng một nghề trong tay…
Con cái ông dùi đục xong lớp chín là học nghề ráo. Thằng theo cha làm thợ hồ, đứa bào đục ăn lương trong trại đóng hòm, hai đứa con gái làm công nhân. Nói chung chả giầu có gì nhưng cũng rượu sớm trà khuya. Dùi đục vô cùng kinh ngạc khi bà chị nói:
– Dượng kêu thằng Huy – Con trai của dùi đục – đóng cho con Trinh hai chục bộ bàn ghế.
– Chi vậy?
– Con Trinh thuê nhà dạy thêm.
– Dạy thêm?
– Ừ.
Để giải phóng bất ngờ bà chị vợ kể rằng ở cái trường Trinh đang công tác cô thầy nào cũng thêm hết. Lớp của ai người ấy tự thêm. Trinh được đồng nghiệp giới thiệu thuê một căn nhà làm nơi mở lớp. Bây giờ là đóng cho ra hai chục bộ bàn liền ghế dành cho bốn mươi học sinh.
– Bốn mươi đứa học thêm hết luôn?- Dùi đục cực ngạc nhiên.
– Ừ.
– Cả trường ai cũng thêm sao không mượn phòng ốc của trường cho tiện?
Cô Trinh nói với thợ hồ rằng ban giám hiệu trường vờ nhắm mắt cho giáo viên thêm thắt. Cũng chẳng quan trọng chi vì thêm bớt đang nằm trên bàn tranh luận, và trong khi tranh ta cứ thêm, nhưng không nên để dư luận xì xào. Vậy là ai muốn thêm thì tự thân vận động. Trinh hiền diệu, dễ thương. Tốt nghiệp đại học dạng khá nhưng khiêm tốn cực kỳ. Đồng nghiệp yêu lắm nên nói cô thêm đi để cải thiện. Rõ ràng là lương Trinh nhận suốt một học kỳ đã cho cô cặn kẻ thế nào là thanh bạch của nghề giáo.
May quá – thiệt là may – nơi Trinh dạy đang đô thị hoá để đạt chuẩn nông thôn mới. Bốn mươi học sinh lớp Trinh dạy hầu hết cha mẹ đang làm việc tại những công ty. Buổi sáng đưa con cháu đến trường trưa chúng về với ông bà nội ngoại. Chiều chúng làm chi có trời biết. Vậy cho chúng học thêm với cô thầy đương nhiệm còn chi tốt hơn. Cái mà cô Trinh từng thề không bao giờ thêm bớt nếu mình trở thành giáo viên nhanh chóng phá sãn bởi lương chính quy và phụ huynh khẩn khoản. Có là thánh cũng không cản được sức cám dỗ của phù hoa và lời đường tiếng mật nói chi cô Trinh.
Bốn mươi học sinh học thêm một tuần sáu buổi chiều phụ huynh trả cho Trinh ba trăm nghìn một tháng. Bốn mươi nhân ba trăm. Ông thợ hồ kinh ngạc:
– Mười hai triệu?
Nhưng chuyện không ngừng ở đó. Dạy thêm chỉ là chuyện nhỏ, rất nhỏ. Quà tặng cho thầy cô ngày hai mươi tháng mười một cũng bé tí hin. Thợ hồ lại ra tay cơi nới phần sân nơi dạy học để bà chị và cô em vợ làm thêm công tác hậu cần cho học trò cô Trinh. Phần sân là nơi giảng dạy. Bên trong nơi mẹ và bà bác phục vụ bữa ăn và nghỉ trưa cho bốn mươi học sinh của cô.
Thợ hồ dùi đục trầm ngâm khi khui móng xây nhà cho bà chị vợ:
– Bà mẹ nó – tui cũng cố cho thằng cháu nội đến nơi đến chốn. Muốn không muốn cũng buộc nó theo đại học tiểu học.
Nguyễn Trí

ĐẤT NƯỚC SAU MÙA LÊN ĐỒNG

dami

Không còn chút tĩnh lặng nào dưới trời xanh
anh chỉ còn cách nhốt mình trong căn phòng màu trắng

Sau mùa màng hoan ca bài khải hoàn em giết anh mẹ mất con
đã đến những mùa màng cướp hiếp giết tình tù tội

Và mùa thênh thang những nhà tài trợ đã đến kỳ gặt hái
ta gặt về này biển này đảo này tài nguyên sâu tận dưới trùng trùng đất bazan
ta gặt cây xanh trên đường
ta gặt trường học nhà thương đổi thành cao ốc siêu thị
giang sơn không phải thu về một mối
giang sơn đã thu về một nhúm
(tái định nghĩa nhiều lần chủ thuyết)
lịch sử không có anh hùng
lịch sử được viết bằng chữ của nhà tài trợ
quên máu đi
quên đau đi
quên chữ đi
chỉ duy sự vĩ đại hàm ân một đời nhà tài trợ vàng tài trợ bạc hay nhà đồng trợ

Đã đến mùa của những cơn đột tử hôn ám
chính trị thần quyền

Đã đến mùa gái đẹp cứu rỗi
những con lợn lòng
bất kể doanh hay dâm nhân, chính hay phụ khách
(đẻ con gái phải dao kéo từ trong bụng)

Đã đến mùa rượu chảy như suối thịt đầy như núi
hoa chất như mộ
chôn rất sâu thấu đáy chín chục phần trăm thân phận da vàng

Đã đến mùa chuyển khoản
kho đụn đầy lên những monaco thụy sĩ hun hút loài người

Sau mùa lên đồng
số đông còn lại chi chít mặt trâu đằm
còng lung cho hạnh nhẫn nhục nở hoa và lòng từ bi nở hương và chờ ngày giác ngộ

Đã đến mùa sâu đục thân quyền lực đục lỗ chỗ tài nguyên
người đục lỗ chỗ vào lòng tốt của người
hôn ám hết những con mắt trơ tráo nhìn nhau
cuộc trò chuyện nào cũng nhang nhác đầu đường xó chợ…

Đã đến mùa của những kỷ lục dài và to và rộng và cao và sâu nhất nhất thế giới
những thức dài cao rộng sâu không cho thêm nhân loại một chút dấu cộng dấu trừ nào về hạnh phúc ấm no
đã đến mùa người nghèo phải chết
để tái sinh lần sau mà mong thoát kiếp con nhà nghèo

Đã đến mùa lời nói thật đáng được chưng trong lồng kiếng mang đi triển lãm lưu động cho con cho cháu cười vào cái được kêu là sự thật
đâu cũng vàng mã
dối trá là đỉnh cao trí tuệ

Đã đến mùa tấm giấy bồi phết màu ngụy thuyết

anh và em và mù màu
nghi ngờ sợ hãi cả nhau
sống sinh sôi bằng trăm nghin ngụy thuyết
Đã đến mùa huyền sử tạp giao cùng chính sử

Đã đến mùa bóp nặn hầu bao người thấp cổ bé họng
số đông ông bà chủ còng lưng trả nợ cho nhúm nhỏ đây tớ của mình

Tôi yêu đất nước này lầm than (*)

ĐA MI
(Chữ của Trần Vàng Sao)