CHIỀU
Chiều Tiễn Đưa
BÍ ẨN VỀ CUỘC ĐỜI DANH TƯỚNG TÂY SƠN VŨ VĂN DŨNG
Chiêu Viễn Đại tướng quân Vũ Văn Dũng là danh tướng của triều Tây Sơn, cũng như nhiều danh tướng Tây Sơn khác, hiện nay quê hương gốc tích của ông ở đâu còn là vấn đề tranh cãi. Người thì cho rằng quê ông ở Bình Định, người lại nói quê ông ở Hải Dương. Vậy rốt cuộc quê ông ở đâu? Bài viết này chỉ mong đóng góp một phần nhỏ trong việc tìm hiểu quê hương gốc tích của Vũ Văn Dũng.
1. Vũ Văn Dũng quê ở Hải Dương.
Tài liệu quan trọng cho biết rõ quê Vũ Văn Dũng ở Hải Dương, đó là gia phả họ Vũ do Vũ Vĩnh Thứ, cháu ba đời của Vũ Văn Dũng soạn vào năm Tự Đức thứ 22 (1870), trong đó đoạn chép: “Vào ngày Rằm tháng 4 năm Quang Trung thứ 4 (1791) , nhà vua có phái người đi từ Phượng Hoàng trung đô ở Nghệ An đem sắc lệnh sau đây ra cho Đại Đô đốc Vũ Quốc công đang nghỉ giả hạn ở nhà: “
Sắc sai Chiêu Viễn Đại Đô đốc Đại tướng quân Dực vận công thần Vũ quốc công Vũ Văn Dũng được tiến phong làm chức Chánh sứ đi qua Tàu, kiêm toàn quyền trong việc tâu thưa xin lại hai tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây để dò ý và cầu hôn một vị công chúa để chọc giận. Cẩn thận đấy! Hình thể dụng binh đều do nơi chuyến đi này cả.. Một ngày kia người đi tiên phong chính là khanh đó. Kính thay lời sắc sai này.
Ngày Rằm tháng 4, năm Quang Trung thứ 4 (1791)
Tài liệu này được Hoa Bằng dẫn lại trong cuốn sách nghiên cứu về Quang Trung của ông, cuốn Quang Trung anh hung dân tộc (Hoa Tiên tái bản, Sài Gòn 1974). Sau này nhiều người cũng trích dẫn tài liệu này và cho rằng, đây là căn cứ duy nhất nói rằng Vũ Văn Dũng quê ở Hải Dương. Trong cuốn sách Nguyễn Huệ- Phú Xuân (Nhiều tác giả, Nxb Thuận Hóa, 1986) tác giả Phan Thuận An, sau khi trích dẫn tài liệu này cũng cho rằng “Trên đây là nguồn tài liệu thứ nhất và cũng là tư liệu duy nhất cho rằng, Vũ Văn Dũng là người tỉnh Hải Dương” (Sdd, tr.153)
Trước hết, theo chúng tôi, đây là một tài liệu rất quý (nhưng không phải là duy nhất) cho ta biết gốc tích của Vũ Văn Dũng. Điều đặc biệt là, tư liệu này rất phù hợp với những nội dung ghi chép của Hoàng Lê nhất thống chí (HLNTC), về sự kiện VVD được cử làm chánh sứ qua Tàu: “Lại nói, vua Quang Trung sau khi quyết định việc đánh Trung Quốc, bèn sai bề tôi là Chiêu Viễn Vũ Văn Dũng sang nhà Thanh, dâng biểu cầu hôn và đòi lại đất hai tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây. Điều đó không phải là bản tâm của vua Quang Trung , chẳng qua muốn thử xem ý nhà Thanh ra sao mà thôi. Nhưng vừa lúc ấy thì vua Quang Trung mất, việc cầu hôn và việc đòi đất không thấu đến triều đình Trung Quốc, nên vua Thanh cũng không biết” (HLNTC)
Việc ghi chép thống nhất giữa hai nguồn tư liệu như thế, cho phép chúng ta tin rằng, gia phả họ Vũ ở Hải Dương do Vũ Vinh Thứ chép là đáng tin cậy. Tuy nhiên, đây không phải là “căn cứ duy nhất” như một số nhà nghiên cứu nhận định. Còn một số sử sách đương thời ghi chép về gốc tích VVD , và đều cho rằng ông quê ở Hải Dương. Trong tác phẩm Lê Triều dã sử (Khuyết danh, do Nguyễn Huy Thức và Lê Văn Bảy dịch, Nxb Văn hóa- Thông tin, 2006) cũng có một đoạn ghi về sự kiện đi sứ này , và cũng nói rõ, VVD quê ở Thanh Miện, Hải Dương. Sách viết: “Trước đó, Quang Trung sai Dũng Phái Chiêu Viễn Đại Tướng quân người làng Thanh Miện sang sứ Càn Long , trong đó trình bày ba việc: Một là cầu hôn công chúa, hai là đòi trả lại đất Lưỡng Quang, ba là xin thả Chiêu Thống về nước. (Sdd, tr.121)
Trong tác phẩm Lịch triều tạp kỷ của Ngô Cao Lãng (tập 3, Nxb Khoa học Xã hội, 1995) có ghi: “Bọn lưu giữ Thăng Long là Phan Văn Lân và Nguyễn Văn Danh vâng lệnh chọn cử bọn võ quan trong thành là Chiêu Viễn Đại tướng quân Vũ Hữu Dũng, người Hải Dương, văn quan là Ngự sử Phan Huy Ích lên cửa quan Lạng Sơn chờ nghênh tiếp các Đại viên công quán của Thiên triều” (sdd, tr.628). Ở đây sách ghi là Vũ Hữu Dũng chứ không phải Vũ Văn Dũng , nhưng với tước danh và chức vụ Chiêu Viễn Đại tướng quân, thì người được nhắc đến ở đây là Vũ Văn Dũng chứ không phải ai khác.
Nhưng có lẽ tư liệu sau đây mới là đáng tin cậy nhất. Đó là tác phẩm Lê quý kỷ sự của Nguyễn Thu (do Hoa Bằng dịch, Nxb Khoa học Xã hội, 1974). Sách viết: “Nguyễn Huệ sai Chiêu Viễn Đại tướng quân tên là Dũng ở lại đóng quân ở Bố Chính ngoại châu, còn Huệ kéo quân qua sông về Nam. Dũng người Hải Dương, ngày trước theo Đại tướng quân Quận Tạo (tức Phạm Ngô Cầu) vào lưu thủ ở Thuận Hóa. Quận Tạo sai Dũng đi Quy Nhơn để dụ Nguyễn Hữu Chỉnh quay về với cố quốc nhưng Dũng lại tiết lộ tình hình quân sự với giặc. Việc bị phát giác, Dũng bị quận Tạo bỏ tù. Khi thành Phú Xuân bị phá, Huệ thả Dũng ra khỏi nhà lao, dung làm Chiêu Viễn Đại tướng quân. Đến đây, Huệ sai Dũng ở lại Bố Chính ngoại châu, trưng mộ quân lính trong châu, đóng đồn ở Phổ Ngõa, còn Huệ, kéo hết quân qua La Hà về Nam” (Sdd, tr.53). Đây là tài liệu rõ rang nhất, cụ thể nhất cho ta biết gốc tích của Vũ Văn Dũng cũng như giải thích lý do vì sao ông là tướng nhà Lê Trịnh mà lại theo nhà Tây Sơn. Tài liệu này cũng giải thích cho ta biết vì sao ông lại có tước danh Chiêu Viễn (Mời gọi từ xa) mà Nguyễn Huệ phong tặng cho ông. Tài liệu này cũng cho ta biết cụ thể thời điểm mà VVD theo nhà Tây Sơn, đó là khi Nguyễn Huệ giải phóng thành Phú Xuân (5.1786) .
Điều chắc chắn là cả 4 tài liệu trên đây đều ghi rất chính xác cả chức vụ và tước danh của ông : Chiêu Viễn Đại tướng quân. Đó là chức vụ và tước danh của Vũ Văn Dũng chứ không phải của ai khác.. Tác giả Tạ Chí Đại Trường trong tác phẩm Việt Nam thời Tây Sơn, lịch sử cuộc nội chiến (Nxb Công an Nhân dân, 2007) có đưa ra nhận định tương đối chính xác : “Lại cũng là chuyện bình thường của thời thế, nhóm quan quân đầu hang, tù binh kia của Trịnh đi qua phía Nguyễn Ánh , vẫn còn một bộ phận ở lại phía Tây Sơn, trong đó hẳn có Vũ Văn Dũng” (sdd, tr.474). Gần đúng như thế. Chỉ có điều Vũ Văn Dũng không phải là tù binh mà ông đã tự nguyện cộng tác với nhà Tây Sơn từ những ngày Tây Sơn còn giữ quan hệ “ngoại giao” với triều đình Lê- Trịnh.(Chính Nguyễn Nhạc đã từng nhận chức tước của triều đình Lê- Trịnh làm Tráng Tiết tướng quân Tây Sơn trưởng hiệu và đã nhiều lần cử sứ giả đến Phú Xuân giao thiệp với Hoàng Ngũ Phúc, Phạm Ngô Cầu (Theo Đại Việt sử ký tục biên)
2.Võ Văn Dũng quê ở Bình Định
Có một điều cần nhấn mạnh trước là, những tài liệu nói Võ Văn Dũng quê ở Bình Định đều ghi ông họ Võ (Võ, chứ không phải Vũ, mặc dù Võ hay Vũ cách viết chữ Hán cũng như nhau)
Có một số nguồn tài liệu nói rằng, Võ Văn Dũng quê ở Bình Định, cụ thể là ở thôn Phú Mỹ, xã Bình Phú, huyện Bình Khê. Trong Tây Sơn – Nguyễn Huệ, kỷ yếu Hội nghị nghiên cứu phong trào Tây Sơn và anh hùng Nguyễn Huệ (Ty VHTT Nghĩa Bình, 1978) cho biết: Dòng họ Võ còn nhà thờ ở thôn Phú Mỹ với bức biển “Võ từ đường” khảm trai và bài vị Võ Văn Dũng. Gia phả họ Võ mới biên soạn gần đây trên cơ sở giấy tờ cũ, ghi rõ các thế hệ, trong đó Võ Văn Dũng đời thứ 4 (sdd, tr.53)
Trong tác phẩm Nhà Tây Sơn (Quách Tấn, Quách Giao, Sở VHTT Nghĩa Bình, 1988) cũng cho biết Võ Văn Dũng quê ở Bình Định. Là người cùng quê với anh em Tây Sơn, nên ông tham gia phong trào ngay từ đầu, là một trong “Tây Sơn thất hổ tướng (Bảy hổ tướng nhà Tây Sơn: Võ Văn Dũng, Võ Đình Tú, Trần Quang Diệu, Lý Văn Bưu, Nguyễn Văn Tuyết, Lê Văn Hưng, Nguyễn Văn Lộc).Đặc biệt, tác phẩm này còn cho ta biết, Võ Văn Dũng không chết dưới lưỡi gươm trả thù của vua Gia Long mà sau khi bị bắt, ông đã trốn được về quê nhà, rồi lên Núi Xanh ở ẩn, đổi tên là Võ Văn Độ. Ông sống trên 90 tuổi và mất dưới đời vua Thiệu Trị. Mãi đến năm Đồng Khánh, Thành Thái (1885- 1907), con cháu mới đem hài cốt của ông về quê nhà!
Về các tài liệu nói Võ Văn Dũng quê ở Bình Định, chúng tôi nhận thấy:
Một là, đây là những tài liệu mới được ghi chép gần đây. Gia phả họ Võ cũng mới được biên soạn trên cơ sở “giấy tờ cũ”. Giấy tờ cũ ở đây là giấy tờ gì, tài liệu không cho biết. Như vậy, mức độ tin cậy của cuốn gia phả đó là rất thấp.
Hai là, trong gia phả họ Võ cũng như trong tác phẩm Nhà Tây Sơn của Quách Tấn, Quách Giao các tác giả không hề ghi được tước danh của Võ Văn Dũng là Chiêu Viễn, một điều rất quan trọng để chứng tỏ ông là Vũ Văn Dũng chứ không phải là một người nào khác trùng tên.
Ba là, Vũ Văn Dũng là một nhân vật quan trọng số hai sau Trần Quang Diệu. Hẳn là việc giam giữ và dẫn giải đối với người tù này sẽ được áp dụng với một chế độ đặc biệt. Trong hoàn cảnh đó, làm sao VVD có thể vượt ngục và trốn thoát được? Và nếu ông trốn thoát được thì sẽ bị truy nã đến cùng (để đề phòng hậu họa). Vì vậy nói rằng ông trốn thoát được rồi lên núi sống đến 90 tuổi là không thể tin được.
Mặt khác, việc VVD bị bắt ở Thanh Hóa và bị nhà Nguyễn “xử trị hết phép” trong lễ “Hiến phù” diễn ra vào thang11 (1802) đã được sử nhà Nguyễn ghi chép lại đầy đủ: “Còn bọn đồ đảng là Trần Quang Diệu và Vũ Văn Dũng đều bị xử trị hết phép, bêu đầu cho mọi người đều biết” . Trong chiếu Bố cáo thiên hạ về việc này cũng nói rất cụ thể: “Ngày mồng 6 tháng này (tức tháng 11) tế cáo trời đất. Ngày mồng 7 yết tế Thái miếu, làm lễ Hiến phù, bọn Nguyễn Quang Toản và ngụy Thái tể Quang Duy, Nguyên súy Quang Thiệu, Đốc trấn Quang Bàn, Thiếu phó Trần Quang Diệu, Tư đồ Vũ Văn Dũng , Tư mã Nguyễn Văn Tứ, Đổng lý Nguyễn Văn Thận, Đô ngu Nguyễn Văn Giáp, Thống tướng Lê Văn Hưng cùng với bè lũ đầu sỏ đều đã bắt giam, đều đem giết cả, bêu đầu bảo cho dân chúng” (Đại Nam thực lục, Nxb Giáo dục, tập 1, tr.532, 533)
Xem thế thì thấy rằng, chuyện VVD bị bắt rồi vượt ngục, trốn lên núi Xanh, sống đến ngoài 90 tuổi chỉ là chuyện hoang đường.Nhưng sự kiện có một tướng Tây Sơn tên là Võ Văn Dũng (Độ), trốn thoát rồi lên núi Xanh sống ẩn dật lại có thể là có thật. (vì có chuyện con cháu chuyển hài cốt). Chúng tôi cho rằng có một ông Võ Văn Dũng trùng tên quê ở Bình Định. Vì cùng quê với anh em Tây Sơn nên ông tham gia phong trào từ rất sớm. Tuy nhiên, vai trò của ông đối với nhà Tây Sơn không lớn lắm. Sau khi nhà Tây Sơn mất, vì là tướng nhỏ, không có vai trò gì đặc biệt vua quan nhà Nguyễn không chú tâm lắm nên ông đã trốn thoát được và sống cho đến già trên núi Xanh, như tài liệu của các ông Quách Tấn, Quách Giao đã cho biết. Còn danh tướng Tây Sơn Chiêu Viễn Vũ Văn Dũng thì đã bị bắt, bị hành hình vào tháng11 năm 1802. Ông quê ở Thanh Miện, Hải Dương như nhiều tài liệu, sử sách cùng thời, đáng tin cậy đã cho biết.
Có một điều đáng lưu ý là : Trong tác phẩm Nhà Tây Sơn, hai ông Quách Tấn, Quách Giao đã đề cập đến rất nhiều vị tướng lĩnh tài ba, nổi tiếng, có vai trò rất quan trọng đối với nhà Tây Sơn như Võ Đình Tú, Đặng Xuân Phong, Lê Sỹ Hoàng, Đặng Cần Chánh, Nguyễn Quang Huy… chúng tôi đã tìm nhiều tài liệu ghi chép cùng thời nhưng không tìm thấy tên tuổi của những vị tướng này. Có lẽ đây là những nhân vật sưu tầm được trong dân gian ở một địa phương, được dân gian vùng Bình Định đồn thổi lên , có thể không có thật hoặc có một phần nhỏ sự thật. Trường hợp tướng Võ Văn Dũng (Độ) đề cập trong cuốn sách này cũng nằm trong số đó.
Có một điều thú vị là, ngày trước mỗi một vị tướng đều sở trường về một loại vũ khí. Theo các tác giả Nhà Tây Sơn cho biết thì tướng Võ Văn Dũng (Độ) sở trường về trường kiếm và đoản đao.. Tuy nhiên theo tập Hồi ký Biên niên sự vụ do Nguyễn Đức Xuyên, tướng nhà Nguyễn, đã từng gặp gỡ và đấu võ với tướng Vũ Văn Dũng cho biết thì ông lại sở trường về CÔN. (Theo Nghiên cứu Huế, tập 1-5, Trung tâm nghiên cứu Huế 1998 – 2003, do Trần Đại Vinh dịch và chú giải). Điều đó cho ta củng cố them nhận định, đây là hai nhân vật khác nhau.
Phan Duy Kha
(Bài đã đăng trên Tạp chí Huế Xưa và Nay, số 84/2007)
HOÀI NIỆM HOA NẮNG NGÀY XANH
Đời chảy về đâu sông tháng năm
Mùa xưa con nước đẹp trăng rằm
Ngày xanh hoa nắng xanh màu tóc
Em liếc nhìn tôi mắt lá răm.
Tôi vẽ trái tim xuyên mũi tên
Em thêu áo gối phượng vầy uyên
Hồn tôi mơ mộng trăng sao thức
Lưu bút ngày xanh thắp mộng huyền
Lòng thơm như lụa nõn vàng tơ
Hoa bướm trinh nguyên lay cánh thơ
Tôi tặng em mùa xuân thứ nhất
Vần thơ tình theo gió thiên thu!
Tôi bây giờ lặng lẽ mình tôi
Sóng vỗ thời gian chiếc lá trôi
Mây trắng còn bay chiều nắng tắt
Hoa xưa hư ảo mộng đời thôi!
TRẦN THOẠI NGUYÊN
Ðịnh Nghĩa Khiêm Cung Ðời Lính Chiến
Tặng Hoài Ziang Duy-Còn không chốn quay về
cũng chẳng buồn và cũng chẳng vui
bước đi so lẽ bước chân lùi
ồ không ,thế kỷ thay màu áo
nhịp võng đời quay mặc cứ quay
muốn hỏi một người không thể hỏi
trời cao ,tay với đã bao lần
vết cắt vẫn làm đau thể trạng
hồ như ung nhọt nở trong tim
ma quái chiều nay gây tắt thở
cơn say dật dưỡng,loạn tiền đình
phút ấy bên kia rừng đạn nổ
một người ngã xuống, bao người lên
im lặng, tưởng chừng như tuyệt tích
hôm nay ai réo gọi hồn về?
định nghĩa khiêm cung đời lính chiến
mất, còn: sáng nắng, tối mưa khuya
mang nặng bao năm vai đá tảng
dật dờ thân xác nát thân tâm
có buổi ngồi ôm cây độc lập
súng quên đành mượn mấy dây đàn
những tưởng ngao du miệt Kiến Tường
lạc đường An Lộc ngắm hoàng hôn
nón sắt ủ ê đời trận mạc
mai về Sa Ðéc, mai còn không?
đêm nghe kiến nhỏ đeo tường vách
lê những đường cong rất gập ghềnh
bố khỉ, cuối cùng đo miệng cốc
ngỡ mình lạc bước đến trần gian
trần gian khuyết sử nằm tung tóe
trăm vạn hùng binh vạch thẳng hàng
chỉ một quân cờ đi lộn nước
bao người chít vội chiếc khăn tang
người đứng như cây bàng núi Két
(núi Sam là chỗ để em ngồi)
những mái chùa cong reo mở hội
(về thôi,đâu đó cũng về thôi)
bản đồ tâm trí chia muôn nhánh
tìm mãi không ra dấu địa hình
chỉ thấy hoang vu chiều gọi gió
một mình đay nghiến nỗi cô đơn
chuyến xe dĩ vãng như đinh nhọn
xuyên suốt lộ trình không đến nơi
dấu hỏi phơi bày nguyên dấu chấm
đường xuôi Mỹ Ðức nắng còn tươi?
trang sách bừng lên sáng góc đời
hãy vui con chữ họa hình vui
có ai trên lối mòn Châu Phú?
nhặt lại thời gian,nhặt tiếng cười…
Lâm Hảo Dũng
NẾU CÒN NHỚ
nếu còn nhớ chút gì xưa cũ
sát na kia xin cảm tạ ơn người
có loài hoa sau cơn gió cuốn
diệu kỳ sao vẫn ban phát nụ cười
khi tôi viết có tiếng dế mèn lên tiếng
ôi hoa thơm cỏ dại đến muôn đời
gõ trên phím lời du dương bất diệt
cỏ cây tôi muốn nói đến muôn lời
đâu biết là có lời vĩnh quyết
{những dối gian đã quá thường tình}
lắng tiếng chim sau nhánh tai ương
có bao giờ người thấy một bình minh
nếu còn nhớ chút gì xưa cũ
tôi xanh rêu bất tận mãi dưới chân đền đài
khi tôi viết có con chuồn chuồn đậu lại
đâu biết là nó bay từ tay ai
TRƯƠNG ĐÌNH TUẤN
Đồi Gió Đời Gió Đổi Giờ
Đọc thơ Chu Thụy Nguyên khóc nhà thơ Bùi Diệp (*)…ban đầu mắt mới liếc, tôi cứ tưởng Đổi Giờ…
Tôi không đang nằm mơ, ngày chỉ vừa mới tối, hai giờ khuya mới đổi, tôi thật không vội vàng!
Nhưng có chút mơ màng, tôi nghĩ về đồi gió, ba mốt năm ở đó, Đà Lạt của tôi ơi!
Tôi lớn lên làm người xóm rừng và phố núi, xưa, tôi không lầm lũi…vì có ấm có no…
Chỉ sau cái-tháng-tư…tôi đổi đời thật sự: ngày làm trên đồi gió, chiều về ngủ xi măng
…và như thế nhiều năm, tôi thành con-người-khác, tự dưng tôi thành giặc / và tôi buồn Thiên Thu…
Đồi Gió gió vi vu. Nhiều bài thơ ướt mắt, tôi làm gió bay mất, tôi không buồn giữ chi!
Chu Thụy Nguyên thật kỳ, làm bài thơ Đời Gió, ai nhìn mà không ngỡ / Đồi Gió, nếu đọc nhầm?
…rồi hôm nay mùa Đông / ngày cuối cùng của gió, ngày đầu mùa hoa nở / bắt đầu sáng ngày mai…
Đổi Giờ nhiều người hay / không riêng mình tôi biết! Bài thơ Đời Gió thiệt / đã làm tôi lỡ làng…
Mở cửa tìm ánh trăng / chỉ thấy mưa nhỏ giọt, tự hỏi đời-homeless / sáng mai mừng hay buồn?
*
Bùi Diệp vào nghĩa trang, Phan Rang nhiều người tiễn. Đọc thơ anh, tôi mến / tiếc là không quen anh…
Trước mặt tôi long lanh / ôi bài thơ Đời Gió / Chu Thoại Nguyên cài mộ / cho anh đó…Quán Không! (*)
Trần Vấn Lệ
(*) Bùi Diệp là một nhà thơ ở Phan Rang, sống trong nước, vừa có tác phẩm in xong “Về Ngang Quán Không” thì cũng vừa từ trần, 7 tháng 3 năm 2018, hưởng dương chưa hưởng thọ. Bài Đời Gió, Chu Thụy Nguyên nhớ anh mà có, đăng trên tuongtri.com 9 tháng 3 năm 2018, tôi đọc nhầm ra Đồi Gió, sực biết hôm nay nước Mỹ đổi giờ…nên lại đọc nhầm Đổi Giờ! Tôi xin lỗi anh Bùi Diệp và thi sĩ Chu Thụy Nguyên!
PHÚT CUỐI… .
phút giây cuối sẽ nói gì
cười chân chim khóe mắt
đi để về
ừ thì đi
khói hương tề
theo sau tiễn một đoạn kề đớn đau
đoạn kề buốt hạt mưa mau
những ngày yêu đã lệ nhau trót nhiều
những ngày yêu nắng nhạt chiều
anh buồn
con nước rưng triều
xót xa
nỗi buồn anh
cõi người ta
sáo bay lá nhớ áo hoa úa vàng
tuổi trăng mười sáu rỡ ràng
thương làm chi
trắng lỡ làng sầu đông
vương làm chi
cuộc tay không
nửa đêm mộng rớt mênh mông lạc loài
tình treo đầu gió mệt nhoài
vết thương xé đỏ ngực
hoài thiên thu
mộ bia tự cổ hoang vu
mừng đôi ba giọt khóc ru thiệt thà
nhỏ lên huyệt lạnh dương tà
dẫu vô thường
cũng xem là
tương tri
khuất ngàn mây lối thiên di
ôm lần cuối
vết răng ghì
dấu vai… .
Phạm Hiền Mây
NGƯỜI GÓC NÚI
“ngày em bối tóc vu quy
dặn tôi ở vậy, đôi khi em về” thơ Hạ Quốc Huy
Ngày trao khăn lụa chia ly
Chặm trên mắt ướt, nhớ chi hẹn hò
Níu tay không muốn xa bờ
Sợ đời tách bến, sợ đò sông ngang
Ngày em
pháo đỏ thuyền sang
Dặn đừng nhẹ dạ, má hồng dắt đi
Ngày em
điểm phấn gài mi
Dặn tôi đứng đợi, rủi khi em về
Tôi người góc núi, miền quê
Học kinh thư cũ: đã thề. Phải ghi.
Ngày em
bối tóc vu quy
Dặn tôi ở vậy, đôi khi em về…
Có người thảo dã, lòng quê
Có đời cuồng khấu hận thề trăm năm
Lên non thiền gốc sơn trầm
Tìm cây thiết mộc âm thầm khóc riêng
Đục rừng hỏi đá đảo điên
Dầm sương gánh tặng, nợ nghiêng núi chiều
Tìm em. Không thấy. Đổ liều
Phóng tay nổi lửa
hỏa thiêu trùng trùng
Lửa tàn. Ngồi khóc rưng rưng
Em quên không dặn
than
đừng
cháy em.
HẠ QUỐC HUY
chiếc bóng xuân thì
ngày rất lạ trượt qua từng ngọn gió
đêm long đong mộng mị sẽ về đâu
này sông suối, này chút hương hờ hững
khúc tiễn đưa, ai hát dưới chân cầu
đã nhạt nhoà một hoàng hôn lộng lẫy
chút nắng ngoài kia chưa nhập cuộc phai tàn
mùa rất vội mà bạt ngàn nông nổi
chút duyên tình cho khăn áo xênh xang
em hãy thắp lên những mùa mong đợi
ở phía chân trời, một bóng chim di
một chiếc lá xanh thầm thì mộng tưởng:
ai đón ai đưa chiếc bóng xuân thì








