TỰ DO KIỂU TRUNG QUỐC

Mấy năm trước, một tay kỳ cựu trong giới công nghệ nói với tôi: Có lẽ thế hệ sau 90, 95 sẽ không còn biết Google là cái gì. Khi ấy tôi nghĩ đây là chuyện hài hước nhất trên đời. Google, công cụ tìm kiếm hữu ích và mạnh mẽ nhất trên Internet, thế hệ người TQ mới, những người sống không thể thiếu Internet, làm sao có thể không biết đến Google?

Nhưng đến hôm nay, tôi buộc phải nín cười. Bởi vì cái điều tôi tin rằng không bao giờ có thể xảy ra ấy, dần trở thành sự thật.

Không còn ai ở TQ quan tâm đến Google nữa, người ta bằng lòng với cái gọi là baidu.com. Không có nó cũng chẳng chết ai. Mọi người vẫn vui vẻ lướt Weibo, Wechat, nghe nhạc, xem chương trình giải trí. Đối với những người chưa bao giờ sử dụng Google, thiếu công cụ tìm kiếm này cũng chẳng ảnh hưởng gì đến cuộc sống của họ.

Nhiều năm trước, ở TQ chúng ta vẫn có thể đăng nhập Facebook. Thực ra Facebook cũng nhàm chán như mạng xã hội xiaonei.com của chúng ta vậy. Nhưng ở đó, chúng ta biết được cuộc sống của người nước ngoài ra sao, có thể dễ dàng thăm hỏi bạn bè ở cách xa hàng vạn km. Có thể đọc rất nhiều trang mạng thú vị mà nếu lên Xiaonei bạn hầu như không bao giờ đọc được. Bạn viết bình luận bằng tiếng Trung, những người comment ngay dưới dòng comment của bạn có thể là một anh chàng người Đài, hoặc người HongKong lạ hoắc nào đó. Bạn viết bình luận bằng tiếng Anh, chưa biết chừng một anh chàng người Bắc Âu, tiếng Anh dở tệ nào đó sẽ nhảy vào bắt chuyện với bạn. Bạn có cảm giác thế giới rộng lớn bỗng nhiên thu nhỏ lại, thành cái làng mà bạn đang sống, bạn chưa kịp thò chân ra khỏi cửa, thì hàng xóm đã đẩy cửa bước vào nhà bạn.

Rồi, ở TQ không còn Facebook nữa. Lúc đầu, sự mất tích của mạng xã hội này khiến vô số người bất bình. Nhưng sau đó, tiếng nói bất bình phẫn nộ dần tan biến.

Nhiều năm trước, người TQ cũng có thể đăng nhập Twitter. Thực ra Twitter cũng na ná Weibo của chúng ta, nơi mà những dòng tin tức chảy trôi không ngừng, ngồi cả ngày chưa chắc đọc được tin tức gì hay ho hữu dụng. Nhưng chí ít ngay lập tức bạn có thể có được tin tức nóng hổi mà bạn muốn biết. Bạn nhanh chóng biết được điều gì đang “hot” trên thế giới, mà không cần thao tác mấy thứ phức tạp như: copy nội dung, dịch nghĩa, forward, chia đoạn, lấy ý chính, loạn hết cả. Bạn sẽ được biết sự thật, sự thật 100%, chưa qua “gia công” tô hồng bôi đen một cách hoặc vô tình hoặc cố ý như trên Weibo.

Sau đó, Twitter không còn nữa. Đầu tiên là phiên bản chính, rồi đến các phiên bản mô phỏng, rồi mô phỏng của mô phỏng. Bây giờ chỉ còn lại cái bắt chước của cái bắt chước của cái bắt chước, chính là cái mà giờ đây, mỗi ngày bạn chỉ toàn nhìn thấy vô số quảng cáo trên đó.

Nhiều năm trước, chúng ta cũng có thể lên Youtube. Có người cho rằng Youtube là Youku quy mô lớn. Năm ấy, có người mạnh miệng tuyên bố: Không có Youtube cũng không sao, TQ sẽ nhanh chóng phát triển Youku vượt xa Youtube. Thế mà bao năm trôi qua, mạng Youku vẫn lag dữ dội như vậy, nội dung vẫn rác rưởi như vậy, bản quyền bị ăn cắp, nhạc bị đạo, video clip vẫn nghèo nàn tẻ nhạt đáng thương như vậy. Trên youtube bạn sẽ được xem những nghệ sỹ tài hoa nhất thế giới trình diễn, những clip hài hước nhất, những sáng tạo đỉnh cao, những bản nhạc lay động, những khoảnh khắc tuyệt vời. Còn trên Youku, bạn muốn xem 1 phút clip thì trước tiên phải xem nửa phút quảng cáo.

Và, đúng rồi, còn Instagram. Nhiều người cho rằng Instagram na ná QQ. Nhưng ở đó, tôi follow hơn 600 nghệ sỹ nhiếp ảnh, họ đều là những nhà nhiếp ảnh, ký giả xuất sắc nhất thế giới. Mỗi ngày chiêm ngưỡng tác phẩm của họ, mỗi ngày tôi cảm thấy hạnh phúc vô bờ. Cảm giác hạnh phúc lâng lâng của người được đi du lịch tại chỗ. Ở đó tôi kết bạn với một anh chàng người Nhật điển trai rất thích selfie, một bác người Hàn hay uống rượu, một ông cụ người Mỹ 10 năm trước từng đến Trung Quốc và nhiệt tình bấm like, viết comment trên mỗi bức ảnh chụp Tử Cấm Thành mà tôi post trên Instagram, một cô bạn người Nga xinh đẹp tuyệt trần. Tôi hầu như không trao đổi nhiều được với họ, vì những trở ngại về ngôn ngữ. Nhưng chỉ cần một vài câu chữ đơn giản, chúng tôi hiểu được thiện ý của nhau, thiện cảm dành cho nhau. Cảm giác ấy, đôi khi còn hưng phấn hơn cả niềm vui gặp mặt những người bạn lâu năm. Bởi vì đó là quá trình giao lưu hoàn toàn tự do của con người thuộc các dân tộc khác nhau trên toàn thế giới. Quá trình ấy thật sự thần kỳ, vô cùng kỳ diệu.

Nhưng giờ đây, nó không còn nữa bởi vì, bạn gõ một từ đặc biệt nào đó trong một thời điểm đặc biệt nào đó, bạn sẽ chỉ tìm thấy những bức ảnh mặc định. Mặc dù những người tìm kiếm kiểu này không nhiều, mặc dù dẫu có nhận ra điều gì khác lạ nhưng nhiều người chẳng bận tâm, họ không như tôi, cảm thấy trời đất tối sầm, rồi chợt lóe sáng, rồi trời sập. Chúng đã thật sự biến mất.

Instagram đã biến mất như thế, Google đã biến mất như thế, Twitter cũng biến mất như thế, Facebook cũng vậy. Không biết người nào, ở đâu, đã nói gì, và ra nghị quyết thế nào, khiến cho hàng tỷ người giống tôi đây lâm vào tình cảnh hệt như “Gotham trên đảo hoang”, chứng kiến từng cây cầu bị bom phá, bị bom phá, lại bị bom phá. Sau rốt, không còn gì nữa cả.

Tôi thường cảm thấy rất bi ai, vô cùng bi ai. Một người tôi không quen, không biết, có thể là một nhóm nào đó đang không ngừng tước đoạt mọi thứ xung quanh tôi, mà tôi thì hoàn toàn bất lực. Tôi oán trách, nhưng họ không nghe thấy, không ai nghe thấy. Tôi tức tối gào lên, phần lớn những người xung quanh tôi đều nhìn tôi như nhìn một kẻ điên. Tôi đau đớn thét lên, tiếng thét của tôi bị chắn bởi bức tường dày cộm, đen đúa. Tiếng kêu thét của tôi trở nên yếu ớt, chẳng truyền đi được bao xa, rồi nó biến mất hệt như những thứ mà tôi bị tước đoạt, bị đánh cắp. Tôi không thấy nó nữa, như thể nó chưa từng tồn tại.

Ai thèm quan tâm đến những thứ vốn chưa từng tồn tại? Những kẻ hậu sinh làm sao thấu hiểu nỗi bi ai của những người từng có được, rồi bị tước đoạt trắng trợn. Tôi từng có tất cả, tôi từng có cả thế giới. Tôi từng được hít hà bầu không khí tự do và uống dòng nước tự do mát lành trên mảnh đất này. Nhưng rồi trong dòng đời dằng dặc bất tận, sinh mệnh tự do của tôi bị giết chết từng chút một, bị khai tử một cách bất thình lình. Nhưng tôi vẫn có cảm giác chúng đang thoi thóp, như thể chúng đang chết dần chết mòn.
Rồi thì cuối cùng chúng cũng chết thật. Và, cùng với cái chết của chúng, ngày càng nhiều chuyện xảy ra, chậm rãi thôi, lặng lẽ thôi, hầu như không ai phát giác ra. Nhưng đúng là chúng đang diễn ra.
Không có Google thì dùng Baidu, có sao đâu? Nhưng một vài kết quả tìm kiếm càng ngày càng bị đẩy lùi về những trang sau, càng ngày càng lùi về sau, và rồi biến mất. Như thể kết quả đó vốn dĩ không hề được tìm thấy vậy.

Không có Facebook thì dùng Xiaonei, có sao đâu? Nhưng những bài viết mà bạn chỉ có thể post trên Facebook sẽ nhanh chóng biến mất trên Xiaonei. Tiếp theo đó, trang xiaonei.com biến thành trang renren.com, chủ đề trên trang này trở thành những chủ đề đại chúng. Mọi người tranh nhau xem bói, tìm hiểu đời tư của người nổi tiếng, chuyện phiếm, nghe nhạc. Không ai bận tâm thứ gì đó đã biến mất, bởi dù sao thì sự tồn tại của thứ đó vốn dĩ rất mờ nhạt.

Không có Youtube thì dùng Youku, có sao đâu? Nhưng lên Youku, bạn thường “được” xem những clip đạo rẻ tiền, và người ăn cắp thì dương dương tự đắc, tự cho mình là tài ba, như thể cái ý tưởng ấy vốn dĩ là của anh ta vậy. Bạn xem và bạn không khỏi giật mình kinh ngạc, sao anh ta có thể làm được như thế nhỉ! Ăn cắp sáng tạo quá! Nhưng bạn đâu biết rằng, bạn có suy nghĩ như thế là vì bạn không hề biết trên đời còn có một trang mạng tên Youtube.

Không có Twitter thì dùng Weibo, có sao đâu? Nhưng khi bạn muốn biết chuyện gì đang xảy ra gần đây, bạn miệt mài tìm kiếm, nhưng càng tìm thì kết quả sau đây hiện ra càng rõ nét: “Theo quy định của pháp luật, kết quả tìm kiếm không được phép hiển thị”. Lâu dần, bạn nghĩ, dù sao biết được tin tức ấy cũng chẳng để làm gì, thôi thì chẳng tìm nữa, chẳng cần nữa.

Và thế là, từng cánh cửa cứ lần lượt bị đóng sập lại. Hôm nay, ở Trung Quốc bạn mở trang http://www.worldjournal.com, bạn không thấy nó đâu. Ngày mai, trang web mà kiến trúc sư số một thế giới chia sẻ với bạn đọc cũng biến mất. Đầu tiên là tốc độ load rất chậm, rất rùa, sau đó thì hoàn toàn mất hút. Vài hôm nữa, trang tin tức mà trước đó bạn vẫn vào đọc một số bài viết đều đặn mỗi ngày bỗng mất tăm. Những trang viết độc đáo, xuất sắc đó chỉ hiển thị mấy dòng chữ: Không thể hiển thị. Vài tháng nữa, mạng đại học bị đóng cửa, website nhiếp ảnh bị đóng cửa, thậm chí trang tìm kiếm bằng tiếng Nhật của Baidu cũng không còn.

Tiếp đó, trang truyện tranh biến mất, tiếp đó, trang phim hoạt hình không còn. Tiếp đó, trang phim Mỹ đóng cửa, ngay cả trang download phim Mỹ cũng cũng cũng cũng… hoàn toàn biến mất. Tôn trọng bản gốc, bảo vệ bản quyền ư. Thôi được, vậy thì vì sao, ngay cả trang web chia sẻ sub cũng không còn ???

Từng ngọn đèn bị dập tắt. Nguồn sáng chiếu rọi từ bốn phương biến mất. Thế giới đa sắc màu, tươi đẹp rực rỡ của chúng ta bỗng chốc biến thành một màu đen thê thảm.

Trời tối rồi à, thế thì đi ngủ thôi. Cầu cho cơn say này kéo dài mãi mãi, khỏi phải tỉnh lại.

“Vương triều từ đây vững chắc
Giang sơn từ đây thái bình.”

.

© Dịch từ một bài viết của một tác giả nickname là Tiểu Hải, người Trung Quốc. Bạn không tìm thấy bài viết này ở bất cứ trang mạng nào ở Trung Quốc nữa vì nó đã bị gỡ bỏ triệt để, chỉ tồn tại thấp thoáng trong một vài diễn đàn.

Advertisements

Những lá thư chết

hinh-anh-chuc-mung-noel-2

Cách đây ít năm, một thành phố nước Anh có thanh niên tên là Fred Armstrong. Chàng làm ở bưu điện và người ta gọi chàng là trưởng ban thư chết vì chàng có nhiệm vụ giải quyết những lá thư đề sai địa chỉ hoặc thiếu sót hay khó đọc. Chàng sống trong một ngôi nhà cũ với cô vợ nhỏ nhắn. Một đứa con gái nhỏ và một cậu con trai còn bú sữa. Sau cơm tối, chàng thích phì phèo tẩu xì gà rồi kể cho cả nhà nghe những kỹ thuật mới nhất trong việc khám phá địa chỉ của những cánh thư lạc. Chàng tự coi mình như một người thám tử. Trong khung trời hiền hòa của chàng chẳng có gợn mây mù nào.

Cho đến một sáng kia, cậu con trai của chàng ngã bệnh. Thoạt nhìn thấy đứa bé, bác sĩ có vẻ suy tư. Và chỉ trong vòng bốn mươi tám tiếng đồng hồ là cục cưng của chàng không còn nữa.

Fred Armstrong buồn bã, tâm hồn chàng tan nát điếng nghẹn. Bà mẹ và cô bé Maria cũng khổ sầu không kém, nhưng họ quyết tự kiềm chế và vui sống với những gì còn lại. Nhưng ông bố thì không vậy. Cuộc đời của chàng bây giờ quả là một cánh thư chết không định hướng. Mỗi sáng đi làm việc như một người mộng du, ai hỏi chàng mới nói, mà nói rất ít. Chàng làm việc trong yên lặng, ăn một mình, ngồi như tượng đá ở bàn cơm, và đi ngủ thật sớm. Nhưng người vợ biết là chàng thức gần trắng đêm, mắt mở thao láo ngó lên trần nhà. Ngày lại ngày, tháng năm qua, tháng chạp đến, chàng càng tỏ ra thờ ơ suy nhược hơn nữa.

Bà vợ cố gắng thuyết phục chồng. Nàng bảo: “Tuyệt vọng như vậy là bất công đối với kẻ chết cũng như với người sống.” Nàng sợ thái độ lầm lì đó sẽ đưa chàng tới bệnh viện tâm thần.

Giáng Sinh đã gần tới. Một buổi chiều xám ngắt. Fred đang phân loại thư từ thì thấy có một lá thư dứt khoát là không thể chuyển được. Địa chỉ của người nhận nguệch ngoạc bằng bút chì như sau:

“Kính gởi Ông già Noel Bắc Cực.”

Armstrong định xé vất nó vào sọt rác nhưng có một thúc đẩy nào đó khiến chàng mở thư và đọc:

“Ông già Noel thân mến,

Năm nay nhà cháu buồn lắm. Vậy ông khỏi mang quà tới cho cháu nữa. Mùa xuân vừa rồi, thằng cu nhà cháu về trời. Cháu chỉ xin mỗi điều là khi ông tới nhà cháu, ông mang dùm đồ chơi về trời cho em cháu. Cháu để đồ chơi của nó ở gần lò sưởi góc bếp: con ngựa gỗ, cỗ xe lửa và hết mọi thứ khác. Em cháu thích phi ngựa ghê lắm, ông mang hết về cho nó và đừng để gì cho cháu cả, Nhưng xin ông cho ba cháu cái gì để ba cháu giống như hồi trước. Xin ông làm cho ba cháu lại hút xì gà và tiếp tục kể chuyện cho cháu. Cháu nghe ba nói với má là chỉ có “đời đời” mới làm cho ba cháu lành được thôi. Vậy xin ông gởi cho ba cháu một ít cái “đời đời” nhé. Cháu hứa sẽ rất ngoan ngoãn.

Ký tên
Marian.”

Tối hôm đó, trên những con đường phố sáng rực đèn. Fred Armstrong rảo bước thoăn thoắt. Vào đến sân nhà chàng bật quẹt châm xì gà. Khi vừa mở cửa, chàng xả một hơi thuốc dài. Làn khói giống như một vòng hào quang quanh đầu hai mẹ con Marian đang trố mắt ngạc nhiên. Chàng lại tươi cười như trước.

***

Cuộc sống của mỗi người chúng ta đều phải trải qua những thăng trầm không thể tránh khỏi. Có những tháng ngày xem ra vô vọng không còn thiết sống. Có những lúc mây mù bao phủ khiến chúng ta không còn thấy đâu là lối thoát. Đôi khi qúa tuyệt vọng, chúng ta tự hỏi: tại sao Thiên Chúa để xảy ra nhiều đau khổ và bất công như thế ? Thực ra, Thiên Chúa không tạo ra đau khổ, cũng không gây ra bất công, bởi vì Ngài là tình yêu thương và là sự công bằng vô biên.

Nhiều khi chúng ta có cảm tưởng Thiên Chúa không nhận lời mình cầu xin. Nhưng chúng ta quên rằng cầu nguyện không phải là xin Thiên Chúa làm theo ý chúng ta, mà là tự đặt mình trong tư thế sẵn sàng thực thi ý Chúa. Chương trình của Ngài vượt quá trí hiểu hẹp hòi và cái nhìn thiển cận của chúng ta.

Kitô giáo có một nghịch lý rất lớn, đó là kêu gọi con người nhìn vào Thập giá như biểu tượng của hy vọng, nhìn vào đau khổ và cái chết như khởi đầu của ơn phúc. Chắc chắn, Chúa Giêsu không phải là người rao giảng sự chết chóc.

Kitô giáo không phải là đạo của khổ đau. Đức Kitô cũng không tự mình đi tìm cái chết; mãi mãi cái chết ấy vẫn là một bản án bất công của con người dành cho Thiên Chúa. Ngài cũng không đòi chúng ta phải đi tìm thập giá, Ngài chỉ khuyến khích: “Hãy vác lấy thập giá mình mỗi ngày.”

Mà kỳ thực, có cuộc sống nào mà không có đau khổ. Có ai thóat khỏi khổ đau? Từ khi Ngôi Hai giáng sinh và cứu chuộc, thập giá đã biến thành nguồn ơn cứu rỗi, cái chết đã trở thành Tin Mừng. Tin Mừng chính là Thiên Chúa luôn yêu thương dìu dắt con người trong mọi nghịch cảnh của cuộc sống.

Từ đây, thất vọng đã bừng sáng lên niềm hy vọng. Những đau khổ của chúng ta sẽ không đi vào quên lãng, nhưng mang lại cho chúng ta niềm hạnh phúc mai sau.

C. Delavigne đã nói: “Sống là chiến đấu mà phần thưởng ở trên trời”. Cervatès còn xác quyết: “Ở đâu có đời sống thì ở đó có niềm hy vọng.” Chính trong niềm hy vọng mà chúng ta nhìn thấy hoa trái của hạt giống mình đã gieo vãi. Bên kia những vất vả, mất mát, thử thách đau khổ, người Kitô hữu luôn được mời gọi để nhìn thấy những ánh sao của niềm hy vọng, như Ba Vua tìm lại ánh sao sau khi lạc mất.

***

Lạy Chúa Hài Đồng, Chúa đã Giáng Sinh để chia sẻ những khổ đau của nhân loại chúng con. Xin cho con đừng bao giờ thất vọng, ngã lòng vì những đau khổ thử thách, nhưng cho con luôn cảm nghiệm được tình Chúa yêu thương và được lớn lên trong niềm tin tưởng phó thác. Xin ban thêm cho con niềm hy vọng và nâng đỡ con trong cuộc sống. Xin củng cố trong con niềm tin tưởng, lạc quan, để mỗi khi tiếp xúc với con, mọi người sẽ thấy bừng sáng lên niềm hy vọng vào cuộc sống. Amen!

Thiên Phúc

LỊCH SỬ NGÀY HALLOWEEN

wrg-1541007-1

Cứ vào ngày 31/10 hàng năm, hàng nghìn trẻ em Bắc Mỹ và Anh quốc đổ ra đường trong các bộ lễ phục hóa trang, chơi trò lừa nhau, đục khoét bí ngô, đớp táo và gõ cửa các nhà để xin bánh kẹo. Vậy, phong tục độc đáo này bắt nguồn từ đâu?

Từ “Halloween” bắt nguồn từ nhà thờ Thiên chúa giáo, là dấu vết còn lại của lễ hội All Hallow Eve (lễ thánh). Ngày 1/11 là ngày lễ của người Thiên chúa bày tỏ lòng thành trước thánh thần. Nhưng vào thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên, ở xứ Celtic (Ireland) mùa màng kết thúc vào ngày 31/10 và ngày hội Halloween được gọi là ngày lễ Samhain (gieo trồng). Ngày này cũng chính thức bắt đầu một năm mới của người Celtic.

Người Celtic tổ chức kỷ niệm năm mới với lễ hội Samhain. Vào thời gian này vị thần của mùa xuân và mùa hè không còn ngự trị và nhường chỗ cho thần Chết. Lễ hội bắt đầu vào ngày 1/11, khi linh hồn của người chết quay trở lại nhà người thân để xin thức ăn và nước uống. Trong suốt đêm lễ thánh Hallow’s Eve, diễn ra vào đầu mùa đông – thời điểm kết thúc một năm, các xác chết đi lại tự do.

Người xưa kể lại, vào ngày lễ Samhain linh hồn của người chết trong năm trước sẽ tìm đến một thể xác khác để bắt đầu cuộc sống mới trong năm tiếp theo. Tuy nhiên, người sống không muốn linh hồn người chết nhập vào mình, vì thế vào ngày 31/10 dân làng dập tắt lửa trong nhà để làm cho nhà cửa lạnh lẽo và tẻ ngắt. Sau đó họ hoá trang thành ma cà rồng và lặng lẽ đi vòng quanh nhà hàng xóm vẻ hăm doạ để xua đuổi những hồn ma tìm thể xác.

Theo giải thích khác thì người ta cho rằng vào đêm Samhain, người Celtic dập tắt lửa không phải để xua đuổi những linh hồn mà để sau đó họ cùng nhau đi lấy lửa tại nguồn sáng gọi là Druidic, liên tục cháy ở Usinach thuộc miền trung Ireland.
Sau này, người La Mã đã biến những tục lệ trên của người Celtic thành tục lệ của mình. Tuy nhiên, vào thế kỷ thứ nhất trước công nguyên, họ bỏ tục lệ hiến người sống và thay vào đó là hiến hình nộm. Theo thời gian, do người ta không còn tin vào linh hồn nữa, nên tục lệ hoá trang thành ma quỷ hay phù thuỷ chỉ còn là hình thức.
Cùng với phong trào di cư để tránh nạn thiếu khoai tây của người Ireland sang Mỹ những năm 1840, lễ hội Halloween được du nhập vào Mỹ cùng trò như lật ngược nhà vệ sinh và tháo cổng ra vào.
Tuy nhiên, ngày hội “lừa phỉnh” được cho là bắt nguồn từ một phong tục gọi là tục “cầu hồn” của người Châu Âu ở thế kỷ thứ 9. Ngày 2/11 hàng năm, người Thiên chúa giáo đi từ làng này sang làng khác xin “bánh cầu hồn”. Đây là những chiếc bánh hình vuông làm từ bánh mỳ và nho Hy Lạp. Người đi xin nhận được càng nhiều bánh thì họ càng cầu được cho nhiều linh hồn người thân của gia chủ siêu thoát.
Ở Anh trước đây, đêm Halloween từng được gọi là Nutcrack Night hay Snap Apple Night tức là một đêm dành cho gia đình ngồi bên đống lửa hồng để nghe kể chuyện, ăn trái cây. Những người nghèo đi ăn xin (a-souling) thường được cho một thứ bánh gọi là bánh linh-hồn (soulcakes) với điều kiện họ phải cầu nguyện cho người chết.
Ngày nay, nhiều nhà thờ tổ chức tiệc Halloween hoặc tổ chức khắc đèn lồng cho trẻ em. Mọi người cùng nhau đấu tranh vì một thế giới không còn tội lỗi.

Trò Trick or treat
: Trong suốt lễ hội Samhain, vị thần Druids cho rằng người chết sẽ tìm đến lừa, gây hoang mang, lo sợ và phá hoại con người. Những hồn ma đi lại ăn xin và đến nhà nào, gia chủ phải cung cấp thức ăn cho chúng. Chính vì thế, trong tuần lễ Halloween, trẻ em phương Tây rất hứng thú với trò “gõ cửa xin ăn” này. Chúng mặc trang phục hóa trang và đeo mặt nạ rồi đi từ nhà này qua nhà khác, gõ cửa để gặp chủ nhà và nói câu “trick-or-treat”. Câu này có nghĩa là: “Nếu muốn chúng tôi không chơi xấu thì hãy đãi chúng tôi cái gì đi”. Để tránh bị phiền toái, chủ nhà đãi chúng kẹo, bánh trái, và cả cho tiền nữa.

hinh-nen-halloween-mat-trang-cuc-ngo-nghinh-287x300

Trò “Đớp táo”: Khi người Celtic bị người La Mã đánh chiếm, nhiều phong tục của người La Mã theo đó cũng du nhập vào đất Celtic, trong đó có lễ hội thờ nữ thần mùa màng Ponoma. Vị thần này thường “ẩn náu” trong giỏ hoa quả. Quả táo là một thứ hoa quả linh thiêng dùng để thờ cúng thần linh, do đó nhiều trò chơi có liên quan đến loại quả này xuất hiện trong lễ hội Samhain.

Lễ hội đèn lồng (đèn bí ngô Jack-O’-Lantern): Lễ hội đèn lồng bắt nguồn từ tập quán của người Ireland. Theo truyền thuyết kể lại, Jack là người nổi tiếng vì nghiện rượu và tư chất thông minh. Anh đã lừa con quỷ Satan trèo lên ngọn cây, sau đó khắc hình một chữ thập lên gốc cây và trói con quỷ trên đó. Jack thoả thuận với con quỷ nếu nó không trêu chọc anh nữa thì anh sẽ thả nó xuống. Do phạm nhiều tội lỗi cho nên khi chết, ông không được lên thiên đàng hay xuống địa ngục. Do vậy, ông phải đi lang thang nhiều nơi tìm kiếm một chỗ trú chân. Hơi ấm duy nhất sưởi ấm cho ông trong giá lạnh là ngọn nến leo lét trong củ khoai tây thối.
Trẻ em ở Ireland thường chơi trò đục khoét củ khoai tây và bí đao trong lễ hội Halloween. Nhưng khi di cư sang Mỹ, người ta phát hiện quả bí ngô sáng hơn bí đao nên sau này đèn lồng ở Mỹ được trang trí bằng quả bí ngô có cục than hồng bên trong.

hinh-nen-halloween-vui-ve-cung-bi-ngo-267x300

Do truyền thống Halloween được coi là bắt nguồn từ những người ngoại đạo, nên ngày này nhiều người theo đạo Thiên chúa giáo không tổ chức lễ kỷ niệm. Một số người ở các giáo phái khác tổ chức kỷ niệm nhưng coi đây là lễ hội mùa màng, lễ hội xá tội hay đêm thánh Halleluja và họ tổ chức lễ tại nhà thờ của giáo phái mình. Lễ hội mang đến cho trẻ em nhiều trò chơi lý thú.
Tối hôm trước của ngày lễ Halloween, tức là 30/10, được gọi là “đêm ma-quỉ”, thường các thanh thiếu niên hay phá phách, gây thiệt hại đến tài sản, thậm chí tính mạng của người dân. Bởi thế lực lượng cảnh sát phải tăng cường giữ trật tự trong đêm này, còn các bậc phụ huynh cũng coi chừng con em mình.

Biện pháp an toàn cho trẻ em và người lớn trong đêm Halloween. Đã có rất nhiều tai nạn xảy ra trong Tết Halloween. Chính vì thế, trẻ em đi chơi trò Trick or treat nên:
– Đeo băng phản chiếu ánh sáng lên quần áo để báo hiệu cho xe cộ khỏi đâm vào.
– Mặc đồ hóa trang ngắn gọn và khó bén lửa để tránh vấp ngã và khỏi bị cháy. Để tránh bị lạnh khi đi “lang thang gõ cửa các nhà” nên mặc quần áo thật ấm ở bên trong đồ hóa trang.
– Vẽ mặt thay vì đeo mặt nạ để tránh bị che mất tầm quan sát trên đường. Nếu đeo mặt-nạ trong khi đi thì nên đẩy mặt nạ lên trán để dễ nhìn.
– Chỉ đi vào nhà người ta bằng cửa trước và tránh dùng cửa hậu hay cửa bên để tránh các bất trắc.
– Mang theo tiền và giấy tờ có ghi địa chỉ, số điện thoại, và tên cha mẹ để phòng khi trẻ lạc thì có người giúp đưa về.
– Không nên ăn bất cứ thứ gì người ta cho mà phải đợi đến khi về nhà để cha mẹ xem xét kỹ trước khi ăn. Nếu có muốn ăn kẹo bánh người ta cho trong lúc đi đường, chỉ ăn những kẹo bánh còn nguyên trong gói để tránh ngộ độc.
– Phụ huynh phải biết rõ lộ trình các con định đi chơi trò Trick or treat để theo dõi khi cần.

Halloween là lễ hội thường niên diễn ra vào cuối tháng 10 đầu tháng 11, nhưng đó là lễ hội để tưởng niệm cái gì? Tại sao người ta phải hoá trang và ăn mặc ghớm ghiếc đến thế? Phải chăng đó là nghi lễ thờ quỷ dữ hay đó là tàn tích của những lễ nghi tà giáo từ thời xa xưa?
Bản thân từ “Halloween” có xuất xứ từ Thiên Chúa Giáo, đó là từ kết hợp của hai từ Hallows Eve (ngày lễ thánh hóa hay còn gọi là ngày lễ các thánh) diễn ra vào ngày đầu tiên của tháng 11, tháng cầu cho các linh hồn đã qua đời. Nhưng cũng có tài liệu cho rằng ngay từ thế kỷ 5 trước công nguyên người Celtic ở Ai-len đã kỷ niệm ngày này vào ngày 31 tháng 10, tức là ngày cuối cùng của mùa hè như là một nghi lễ mừng năm mới.

Chuyện kể lại rằng, vào ngày đó những người đã chết sẽ quay về nhân gian tìm một cơ thể và nhập vào để được đầu thai vào năm sau. Đó là cách duy nhất để các linh hồn đó có thể được tái sinh. Người Celtic tin rằng ngày đó chính là ngày âm dương giao hòa, kẻ chết và người sống có thể tiếp xúc với nhau. Dĩ nhiên người sống không bao giờ muốn cơ thể của mình bị các linh hồn “cướp” mất, vì thế vào tối 30 tháng 10 tất cả các làng mạc đều dập tắt lửa và mặc những trang phục cực kỳ ghê tởm và diễu hành ầm ĩ khắp xóm để xua đuổi các linh hồn đến tìm kiếm thân xác để nhập vào.

Có một tài liệu khác cho rằng sở dĩ người Celtic dập tắt lửa nhà mình là để đến hôm sau tất cả cư dân cùng thắp sáng nhà mình bằng cùng một ngọn lửa được lấy từ trung tâm vùng Ai-len. Và cơ thể những người bị các linh hồn nhập vào sẽ bị trói vào cọc và đốt để cảnh cáo và cũng là để xua đuổi các linh hồn muốn tái sinh. Nhưng càng về sau này người ta càng tin rằng đó chỉ là những truyền thuyết mà thôi.

Ngày lễ Halloween sau đó đã du nhập sang rất nhiều nước khác nhau, nhưng mỗi nước đều biến tấu nó đi để ngày lễ Halloween là của mình. Đầu tiên phải kể đến người Roman, ngay từ những thế kỷ đầu tiên sau công nguyên, người Ý xa xưa đã dùng ngày cuối tháng 10 này để tưởng nhớ nữ thần Pomona, nữ thần trái cây của họ. Biểu tượng của nữ thần Pomona là trái táo, điều này giải thích cho trò đớp những trái táo trong ngày Halloween hiện nay.

Người Châu Âu thì cho rằng những bộ trang phục kỳ quái trong ngày Halloween không phải có xuất xứ từ người Celtic mà có xuất xứ từ chính những người Châu Âu. Vào thế kỷ thứ 9, ngày 2 tháng 11 hàng năm và cũng là ngày cầu cho các linh hồn, những giáo dân thường ăn mặc giống như những kẻ ăn mày rồi đi từ làng này sang làng kia để xin những mẫu bánh vụn tượng trưng cho thức ăn nuôi dưỡng linh hồn. Những người này tin rằng họ càng xin được nhiều mẩu bánh thì linh hồn của những người thân của họ sẽ nhận được càng nhiều những lời cầu nguyện. Các giáo dân tin rằng những lời cầu nguyện này sẽ giúp cho những linh hồn người thân của họ còn mắc kẹt ở đâu đó sẽ được lên thiên đàng.

Theo một câu chuyện dân gian thì có một anh chàng tên Jack sau khi chết đã từ chối lên Thiên đàng vì mặc cảm tội lỗi, nhưng anh ta cũng không muốn xuống địa ngục, vì vậy Đức Chúa đã tạo ra một nơi tối tăm lạnh lẽo để anh ta ở đó mà ăn năn hối cải. Nhưng để đi đến được nơi đó anh ta cần phải đi theo ánh sánh dẫn đường của đám than hồn được để trong một trái củ cải rỗng ruột. Sau này những người Ai-len di cư sang Mỹ đã thay những trái củ cải thành những trái bí ngô.

Ngày lễ Halloween được du nhập vào Mỹ từ năm 1840 theo chân những người Ai-len di cư sang Mỹ. Đầu tiên nó chỉ diễn ở các nông trang, nhưng ngày nay cũng giống như nhiều quốc gia khác Halloween đã trở thành một ngày lễ chung cho tất cả mọi người, nhất là đối với giới trẻ.

Nguồn Internet

Cuộc sống cô đơn buồn tủi của Donald Trump


David Brooks( New York Times).

14570354_1085194384929040_8391658753998922752_n

Mục đích của những cuộc tranh luận kiểu gặp gỡ hỏi đáp (town hall) là để cử tri thông thường cũng có thể đặt câu hỏi cho các ứng viên. Trong số các cuộc tranh luận kiểu này mà tôi từng theo dõi, ứng viên thường hướng về phía cử tri, chăm chú lắng nghe và giải đáp (dù chỉ một phần) cho người đặt câu hỏi.

Sở dĩ họ làm thế là bởi hành động ấy lịch sự, bởi hình ảnh trao đổi nghiêm túc với người khác là một hình ảnh đẹp và bởi theo bản năng, phần lớn chúng ta đều muốn kết nối với người mà mình đang trò chuyện.

Chưa phải một hình mẫu thân thiện nhưng Hillary Clinton cư xử khá ổn trong đêm Chủ nhật vừa qua. Donald Trump thì không. Ông ta coi người đặt câu hỏi như thể những cỗ máy tự động, không can hệ tới mình và buông những câu trả lời vào khoảng không, kể cả khi ông ta có cơ hội để bày tỏ sự đồng cảm với người phụ nữ Hồi giáo trẻ tuổi.

Điều đó làm nổi bật vẻ cô độc của Trump.

Chính trị là một nỗ lực để kết nối con người, nhưng có vẻ Trump không có khả năng đó. Cơ bản, ông ta không có bạn, bên cạnh cũng không có ai tâm phúc. Nhìn một cách lạc quan thì đội ngũ vận động tranh cử của ông ta gồm toàn những kẻ làm thuê lạnh lùng, còn nếu xét tới trường hợp tồi tệ nhất thì tất cả những gì Trump có là Roger Ailes (ông chủ của Fox News).

Đảng Cộng hòa coi Trump không khác nào vết nhơ mà mình không tẩy nổi.

Phần lớn quãng đời của mình, Trump sợ bẩn và tránh tiếp xúc với người khác. Tôi có thể tưởng tượng ra hình ảnh ông ta một mình lọ mọ giữa đêm khuya, hậm hực tweet những dòng bình luận.

Trump đã tự phá vỡ kỷ lục của chính mình khi tuần nào cũng khiến ai nấy đều phát hoảng, nhưng khi chiến dịch tranh cử của ông ta tụt hết dốc này đến dốc khác, tôi cảm thấy một sự đáng thương, một nỗi buồn sâu sắc.

Hãy tưởng tượng như thể một ngày qua đi mà bạn không thể chia sẻ một khoảnh khắc tử tế nhỏ nhoi nào với ai, người thân cũng như người lạ.

Hãy tưởng tượng như thể bạn phải sống trong một thế giới đầy thù hận suốt một tuần lễ, vây xung quanh là những kẻ thù tự tạo, những đối tượng để ghê sợ và nhạo báng.

Bạn cũng sẽ thay đổi, sẽ biến chất và có lẽ sẽ nổi đóa, tìm cách trả thù thế giới này một cách thật tàn nhẫn. Thế mà cuộc đời Trump lại chỉ rặt toàn những điều như vậy.

Trump liên tục cho thấy những dấu hiệu của hội chứng mất cảm nhận, mất khả năng hiểu hoặc bộc lộ cảm xúc của bản thân. Chính vì không hiểu, những người mắc chứng này không thể tìm được mối liên hệ hoặc gắn bó với người khác.

Để chứng minh sự tồn tại của mình, họ thèm khát sự chú ý không ngừng của người khác. Thiếu đi thước đo giá trị của bản thân, họ phụ thuộc vào bên ngoài, ngoại trừ những tiêu chuẩn không bền vững như sức khỏe, sắc đẹp, sự nổi tiếng và sự phục tùng của kẻ khác.

Dường như Trump không có được tất cả những vui thú thường thấy ở tình bạn và sự hợp tác. Phụ nữ là để yêu thương nhưng trong trạng thái rối loạn của mình, ông ta chỉ biết ghét bỏ và bôi xấu họ. Vẻ làm thân của Trump giả tạo kinh khủng và ông ta tấn công phụ nữ như thể họ chỉ là bị thịt.

Hầu hết chúng ta đều cảm thấy ấm lòng khi cuộc sống của mình song hành cùng những giá trị cơ bản. Nhưng Trump sống trong một hành tinh vô luân kiểu Howard Stern, nơi ông ta không thể tận hưởng sự ngọt ngào mà lòng vị tha và việc hỗ trợ cộng đồng mang lại.

Những kẻ bắt nạt chỉ có cảm giác bình yên khi họ trở nên tàn nhẫn. Huyết áp của họ tụt ngay khi đánh đập trẻ con giữa sân chơi.

Hãy tưởng tượng bạn là Trump. Bạn đang lừa bịp để chèo kéo qua cuộc tranh luận. Bạn đang ứng cử vào một vị trí mà bản thân không hề đủ tiêu chuẩn. Bạn đang đeo đuổi một tia hy vọng mong manh ngày càng mờ nhạt.

Bạn chỉ thấy yên lòng mỗi khi xúc phạm người khác, khi bạn đe dọa tống đối thủ của mình vào tù, khi bạn lù lù phía sau bà ấy một cách đầy hăm dọa như một tên mafia chuẩn bị ra tay, khi bạn gào lên rằng bà ấy “đầy thù hận trong tim” mà ai cũng thấy rõ là bạn chỉ đang nói lên tiếng lòng của mình.

Bản chất dễ xúc động của Trump cho thấy ông ta chỉ có thể bày ra vài trạng thái: tức giận và công kích. Theo một cách nào đó, màn tranh luận của ông ta trông như kiểu giống linh trưởng đang phô trương ưu thế – đấm ngực bình bịch và gầm gừ đầy đe dọa. Nhưng ít nhất linh trưởng còn có bầy, Trump thì chỉ có một mình. Ông ta có làm gì thì cũng không ai quan tâm.

Thật quá thảm.

Sau hôm tranh luận, một trong số những người có quan điểm chỉ trích Trump, Erick Erickson, đã đăng một bài xã luận cảm động có tựa “Nếu tôi chết trước khi bạn thức giấc…”. Erickson trở thành mục tiêu tấn công của người ủng hộ Trump.

Thực ra, Erickson và vợ ông đều mang bệnh. Họ có thể sẽ qua đời trước khi con cái kịp trưởng thành. Nhưng đúng như được nói trong bài xã luận, họ đang sống cuộc đời đầy yêu thương, tin tưởng và hết mình, tận tụy. Cả hai đều thực tâm đặt niềm tin vào sự tốt đẹp của tạo hóa.

Bạn có thể chia sẻ niềm tin ấy, có thể không, nhưng Erickson đang sống một cách gắn kết – về cảm xúc, về tinh thần, về đạo đức và đầy tính cộng đồng.

Ngược lại, đời Trump nhìn ngoài thì có vẻ thành công nhưng sâu thẳm thì khốn khổ vô cùng. Không ai trong chúng ta muốn sống trong cõi hoang vu điêu tàn cô độc ấy, dù xung quanh có được dát vàng.

Ngày 9/11, ngày mà Trump thua cuộc, sẽ chẳng còn sự cô độc, cũng không còn những tiếng gầm oán hận. Ai nấy đều sẽ bỏ đi.

Thi Anh

Lịch sử ngày độc lập nước Mỹ

ve-may-bay-gia-re-di-my-du-quoc-khanh-4-72

Tại Hoa Kỳ, Ngày Độc Lập, còn gọi là 4 tháng 7 (the 4th of July), là một ngày lễ liên bang để kỷ niệm Tuyên ngôn Độc lập được ký năm 1776.
Ngày lễ này thường được đi kèm với những cuộc diễu hành, liên hoan ngoài trời, và nhiều buổi lễ công cộng. Từ năm 1777, pháo hoa đã được đốt để đón mừng ngày lễ. Ngày Độc lập được chào đón với những biểu hiện yêu nước. Nhiều nhà chính trị thường đọc diễn văn ca ngợi các di sản và người dân của Hoa Kỳ. Các gia đình thường làm cuộc liên hoan ngoài trời, thường tụ họp với những người bà con ở xa, vì được nghỉ nhiều ngày cuối tuần hơn. Các cuộc diễu hành được diễn ra sáng ngày 4, vào buổi tối thường có pháo hoa ngoạn mục. Trong dịp lễ thì nhiều gia đình treo cờ Hoa Kỳ ở trước nhà để mừng.

Ngày 4 tháng 7 năm 1777 là ngày Hoa kỳ giành độc lập và trở thành một quốc gia. Tính chất thiêng liêng của ngày này được thể hiện qua câu văn trong báo Virginia ra ngày 18/07/1777: “Ngày 4 tháng 7 là ngày vinh quang và đáng nhớ nhất, từ rày về sau sẽ được tổ chức cho toàn nước Mỹ từ năm này đến năm khác cho đến khi nào thời gian không còn nữa. Amen và Amen”
Hai nơi làm lễ lớn nhất là Philadelphia (Pennsylvania) và Boston (Massachusetts). Năm 1777, người dân Phidalelphia tưởng nhớ ngày 4 tháng 7: chuông ngân, súng nổ, đèn cầy thắp sáng, pháo đốt, nhưng chính thật ngày 4 tháng 7 năm 1777 là một ngày rất giản dị bình thường. Ngày nay, người dân Philadelphia làm lễ trong Independence Hall, nơi những hoạt cảnh lịch sử đã được dựng lại và bản Tuyên ngôn Độc lập được đọc.

Khi chiến tranh chấm dứt năm 1783, ngày 4 tháng 7 trở thành ngày nghỉ trong vài nơi. Tại Boston, ngày lễ Độc lập đã thay thế ngày 5 tháng 3, ngày thảm sát cuả Boston (Boston Massacre), và được xem như ngày lễ tổ quốc chính. Có diễn văn, sự kiện quân sự, diễn hành và pháo bông. Năm 1941, quốc hội Mỹ tuyên bố ngày 4 tháng 7 là ngày lễ chính thức của USA

Lịch sử

Christopher Columbus khám phá ra châu Mỹ vào năm 1492. Nhiều dân thuộc địa đến Mỹ để tìm tự do tín ngưỡng: Espagne, Portugal, Anh, Pháp, Hòa Lan đến thuộc địa xứ này . Dân hành hương (pilgrims) là nhóm dân tị nạn đầu tiên tại Mỹ: nhóm Puritans đến cư ngụ tại Massachusetts, nhóm Quakers đến vùng Pennsylvania và người Công Giáo định cư tại Maryland.

Dân thuộc địa Hoà Lan và Pháp đến Mỹ để mua bán. Dân Pháp định cư tại Canada, dân Espagne đến Florida, dân Hòa Lan đến New York
Năm 1763 Anh Quốc thắng quân Pháp và chiếm Canada.

13 tiểu bang đầu tiên của Hoa kỳ: Connecticut, New Hampshire, New York, New Jersey, Massachusetts, Pennsylvania, Delaware , Virginia, North Carolina, South Carolina, Georgia, Rhode Island, Maryland

Lúc ký kết, Hoa Kỳ gồm 13 thuộc địa dưới quyền cai trị của vua George III (1738-1820, Windsor). Lúc bấy giờ các thuộc địa Anh ở Mỹ phải trả thuế cho mẫu quốc quá cao nhưng lại không có đại biểu trong Quốc Hội Anh (Taxation without Representation), nên nổi dậy đòi quyền tự do và độc lập.

Năm 1774 đại biểu của 13 thuộc địa họp lần đầu tiên tại Philadelphia, Pennsylvania. Cuộc họp này gọi là Quốc Hội Lục Ðịa (Continental Congress) và do Tướng George Washington thống lãnh quân đội chống lại Anh Quốc.

Các thuộc địa này sau này trở thành 13 Tiểu bang đầu tiên của Mỹ khi Mỹ trở thành độc lập với Anh Quốc.

Tiến trình độc lập

1774: 13 thuộc địa gởi đại diện đến Philadelphia, Pennsylnania để thành lập Quốc Hội Lục địa thứ Nhất (First Continental Congress). Họ nôn nóng chuẩn bị nhưng vẫn còn lâu mới tuyên chìến.

4/1775: Quân đội của vua George tiến về Concord, Massachusetts. Tiếp theo là trận chiến tại Concord, là tiếng súng (tại đây) vang vọng đến khắp thế giới, đánh dấu bước đầu cuộc cách mạng Mỹ

5/1776: Sau gần một năm cố gắng giải quyết sự khác biệt với mẫu quốc Anh, các thuộc địa gởi một lần nữa các đại diện cho Quốc Hội Lục địa thứ Nhì.

6/1776: Sự quyết tâm được khởi đầu bởi Richard Henry Lee , Virginia. Nhận thấy rằng những cố gắng của họ vô vọng, một ủy ban được thành lập để soạn thảo bản Tuyên Ngôn Độc Lập công khai. Đứng đầu là Thomas Jefferson, ủy ban còn có John Adams, Ben Benjamin Franklin, Philip Livingston và Roger Sherman.

6/7/1776: Pennsylvania Evening Post là tờ báo đầu tiên đăng bản Tuyên Ngôn Độc Lập.

8/7/1776: Lần đầu tiên bản tuyên ngôn được đọc trước công chúng tại Independence Square của Philadelphia. Cái chuông trong Independence Hall được biết dưới tên “Province Bell” sau này được đổi tên là Liberty Bell.

8/1776: Việc ký Bản Tuyên Ngôn Độc Lập bắt đầu ngày 4 tháng 7 nhưng phải đến tháng 8 mới hoàn tất. Và ngày 4 tháng bảy được chấp nhận như ngày kỷ niệm chính thức cho sự độc lập Hoa Kỳ khỏi nước Anh

4/7/1777: Lễ Independence Day được cử hành lần đầu tiên.

Bản Tuyên Ngôn Độc Lập

Bản Tuyên Ngôn độc Lâp trở thành một tài liệu chính trị được ca tụng nhất và thời nào cũng được chép ra. Thomas Jefferson soạn ra bản Tuyên Ngôn Ðộc Lập là sau ngày được bầu làm Tổng Thống thứ 3 của Hoa Kỳ. Bản Tuyên ngôn Độc Lập được xét duyệt bởi John Adams, Benjamen Franklin và Jefferson, rồi được 56 hội viên ký tên và xác nhận không còn là thuộc địa của Anh Quốc nữa.

John Hancock, chủ tịch Second Continental Congress (Đại hội Lục Địa lần II), là người đầu tiên ký bản Tuyên Ngôn. Viết hoa, chữ ký của ông nổi bật trải rộng trên tài liệu này. Từ đó khi nào người ta hỏi bạn “John Hancock” tức là người ta có ý muốn bạn ký tên đó. Cuối cùng có tất cả 56 người ký bản Tuyên Ngôn, chứng tỏ sự anh hùng của họ vì tuyên bố đòi độc lập với Anh Quốc là một hành động phản bội, có thể bị tội tử hình. Họ can đảm hy sinh mọi thứ bởi họ phải bỏ nhà và ẩn náu nơi khác.

Bản tuyên Ngôn Độc Lập là bằng chứng của Cách Mạng Hoa Kỳ, nói lên những bất bình với vua George III. Đó cũng là một bài tuyên bố về lãnh thổ và triết lý, chiếu theo những bài viết của các triết gia John Locke và Jean Jacques Rousseau. Nó khẳng định rằng mọi người đều do Thượng Đế tạo ra, từ thiên nhiên mà ra, vậy phải có những quyền lợi tự nhiên nào đó, không được xâm phạm quyền tự do của họ.

Từ đó, Bản Tuyên Ngôn và Cách Mạng Hoa Kỳ là cảm hứng cho mọi người tìm tự do trên khắp thế giới.

Nguồn Internet

Memorial Day ( tác giả: Phu Tho Nguyen)

11351124_783694588412356_4637500700545705783_n (1)

Cuối tuần này ở Mỹ là ngày lễ , một ngày lễ lớn, cả nước chính thức được nghỉ. Ý nghĩa chính của ngày lễ Memorial là tưởng niệm những người đã ngã xuống cho đất nước. Khái niệm anh hùng của người Mỹ đơn giản và vị tha. Những người hy sinh để bảo vệ đất nước, bảo vệ chính nghĩa, bảo vệ người khác, hoặc vì mệnh lệnh tổ quốc mà hy sinh, đều được coi là anh hùng.
Nước Mỹ trải qua nhiều đời tổng thống, nhiều cuộc chiến, dân chúng đồng tình cũng có, phản đối cũng có, nhưng người ngã xuống đều được trân trọng, vì họ đã hy sinh cho đất nước.
Người Mỹ có Civil War, cuộc nội chiến huynh đệ tương tàn. Họ vẫn nhắc nhở về cuộc chiến này, tri ân những người đã hy sinh, giảng dạy kinh nghiệm, nhưng họ không tự hào về cuộc chiến Bắc Nam đó. Ngược lại, họ dùng cuộc nội chiến để nhắc nhở những kinh nghiệm qúy giá, và kêu gọi sự đoàn kết đất nước để tránh chia rẽ .
United We Stand – Đoàn kết chúng ta tồn tại ! Một đất nước non trẻ như Mỹ, không hề có bề dày lịch sử ngàn năm văn hiến như các nước phương Đông hoặc châu Âu, lại hiểu ra và thực hiện cái nguyên tắc bó đũa hay như vậy. Do vậy, đất nước họ mạnh.
Nghĩ lại, đất nước Việt Nam có bốn ngàn năm văn hiến nhưng chưa có một ngày Memorial Day chung cho cả dân tộc. Bao nhiêu anh hùng liệt sĩ Việt nam đã ngã xuống, anh dũng hy sinh vì quê hương đất nước. Nhưng cái nhìn của người VN có khác, mỗi chế độ có ngày liệt sĩ riêng để tưởng niệm cho chính thể của mình.
Đất nước thì trường tồn, còn chế độ thay đổi theo thời gian . Tính ra, từ thời các vua Hùng dựng nước, trãi qua bao giai đọan lịch sử … chống Tàu, chống Pháp, chống Mỹ … từ Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê … rồi Quốc gia, Cộng sản… Đất nước Việt Nam thì vẫn còn đó, nhưng bao nhiêu triều đại đã đổi thay.
Bao nhiêu cuôc nội chiến đã xảy ra … triều Trịnh thì xử Lê, Nguyễn thì xử Trịnh, Gia Long thì xử Nguyễn Huệ ….cứ chế độ sau thì phải xử chế độ trước, thậm chí còn không đội trời chung !!!
Có lẽ vì sự thù hận và những ngộ nhận giữa thể chế chính trị và quốc gia, mà người ta không chấp nhận sự hy sinh của người khác cũng là vì tổ quốc chăng? Có nhiều quan niệm cho rằng yêu chế độ, yêu đảng cầm quyền, mới là điều kiện cần và đủ để yêu nước.
Thậm chí nhiều người còn đồng hoá giữa việc yêu tổ quốc và đồng quan điểm chính trị. Ví dụ như chỉ có ông Nguyễn Huệ yêu nước thôi, còn ông Hàm Nghi thì không, vì ông Hàm Nghi là con cháu ông Gia Long? Đại loại như thế rồi cùng nhau cãi cho qua ngày tháng !
Thiết nghĩ, tất cả những người con của đất nước Việt Nam đã hy sinh cho tổ quốc từ thời dựng nước đến nay đều xứng đáng được chúng ta tri ân.
Nhiều nước trên thế giới, các đảng phái có quan niệm chính trị khác nhau, tranh cãi rất mãnh liệt, nhưng khi đụng đến quyền lợi tổ quốc họ lại chung tay nhau. (Đảng cọng hoà & dân chủ của Mỹ là một ví dụ, và cũng có hàng triệu người đã hy sinh đóng góp cho đất nước Mỹ mà chẳng theo đảng phái nào cả.)
Thời đại ngày nay, thế giới văn minh và dân trí cao. Hầu hết, ai cũng phân biệt được đâu là cái chung, đâu là cái riêng. Nước mất thì nhà tan ! Một quốc gia mạnh là quốc gia luôn đặt quyền lợi của tổ quốc và nguyện vọng người dân trên cao nhất. Có vậy mới tạo được sức mạnh đại cuộc. Mình nghĩ vậy.

PHU THO NGUYEN

10981511_783777455070736_1503159941267841214_n

Một cựu chiến binh trong chiến tranh Iraq, (người đã yêu cầu giấu tên) ngồi và uống một ly bia bên cạnh các ngôi mộ của những người bạn đơn vị cũ của mình. Trung sĩ Eric Snell và Pfc Michael Pittman, cả hai đều là sư đoàn 1 bộ binh, tại nghĩa trangArlington West Memorial vào ngày Memorial Day tại Santa Monica, California vào ngày 30 tháng 5 năm 2011. ( Hình ảnh của Getty Images)

20 câu nói không thể quên của Martin Luther King

20-cau-noi-khong-the-quen-cua-martin-luther-king

1. Tự do không bao giờ được ban phát từ những kẻ cai trị, nó phải được đòi hỏi bởi những người bị cai trị.

2. Bạn không thể điều khiển hướng gió, chỉ có thể điều khiển cánh buồm. Bạn không cần phải thấy hết các bậc thang mà chỉ cần đi bước đầu tiên với một niềm tin.

3. Bóng tối không thể xua đi bóng tối, chỉ có ánh sáng mới làm được điều đó. Hận thù không thể xua đi hận thù, chỉ có tình yêu mới có thể làm được điều đó.

4. Sự khác biệt giữa một người mơ mộng và một người có tầm nhìn là người mơ tưởng luôn nhắm mắt còn người có tầm nhìn thì luôn mở mắt.

5. Thử thách lớn nhất của một người không phải khi anh ta đang ở trong sự thoải mái và tiện nghi, mà là khi anh ta đang ở trong sự thách thức và tranh cãi.

6. Không ai biết tại sao họ lại sống cho đến khi họ biết được họ sẽ chết vì điều gì.

7. Tôi đã chọn tình yêu. Hận thù là một gánh nặng quá lớn.

8. Niềm tin là bước chân đầu tiên, cho dù bạn không thể nhìn thấy hết cả cầu thang.

9. Một quốc gia hay nền văn minh tiếp tục sinh ra những người đàn ông nhu nhược đang tự sinh ra cho mình một cái chết tinh thần trong tương lai.

10. Trong giây phút cuối cùng, chúng ta sẽ không nhớ lời nói của địch thủ, mà là sự im lặng của bạn bè.

11. Chúng ta phải biết sống chung với nhau như anh em hoặc tiêu tan cùng nhau như những kẻ ngốc.

12. Chúng ta phải nhớ rằng trí thông minh thôi thì chưa đủ. Trí thông minh cộng với đức tính – đó mới là mục đích của nền giáo dục thật sự.
Sự giáo dục hoàn chỉnh không chỉ cho con người sức mạnh của sự tập trung, mà phải có những mục đích chính đáng để tập trung nữa.

13. Đừng quên rằng những gì Hitler đã làm ở nước Đức đều hợp pháp.

14. Tha thứ không phải là một hành động thỉnh thoảng. Đó là một thái độ vĩnh viễn.

15. Sự thay đổi không đến một cách tự nhiên, mà nó đến từ sự phấn đấu không ngừng.

16. Tình yêu là thể lực duy nhất có thể biến một địch thủ thành một người bạn.

17. Sẽ có một ngày nào đó một cá nhân phải đứng về một phía, không nhất thiết là an toàn, cũng không phải là chính trị, hoặc phổ biến, mà anh ta phải đứng về phía đó vì lương tâm anh ta cho rằng đó là điều đúng.

18. Thời điểm luôn đúng để làm một việc đúng.

19. Câu hỏi liên tục và khẩn cấp nhất trong cuộc đời là: “Bạn đang làm gì cho người khác?”.

20. Một người luôn có một trách nhiệm đạo đức để phản đối những luật bất công.

images (10)

10 SỰ THẬT THÚ VỊ VỀ NGÀY GIÁNG SINH

anh giang sinh dep 01

Lễ Giáng sinh là dịp để mọi người quây quần, trao quà và thể hiện tình yêu thương. Mặc dù ngày càng phổ biến ở nhiều quốc gia, nhưng không phải ai cũng biết tất cả về ngày lễ đặc biệt này. Dưới đây là 10 sự thật thú vị về ngày Giáng sinh.

1. Không phải lúc nào cũng là ngày 25/12
images (3)

Mặc dù Lễ Giáng sinh là ngày kỷ niệm thời khắc Chúa Jesus ra đời, nhưng ngày 25/12 chưa từng được đề cập đến trong Kinh Thánh. Hầu hết các sử gia đều tin rằng Chúa Jesus sinh vào mùa xuân. Mãi đến thế kỷ thứ 3, ngày này mới được chọn làm ngày lễ chính thức. Nhiều nghiên cứu cho rằng nó được chọn vì trùng với lễ hội của Saturnalia – ngày lễ thần nông Saturn, với những buổi tiệc kéo dài và mọi người thường tặng quà cho nhau.
Hầu hết các sử gia đều tin rằng Chúa Jesus sinh vào mùa xuân.

2. Sự ra đời của cây Giáng sinh
images (6)

Một truyền thống khác cũng bắt nguồn từ lễ hội Saturnalia là cây Giáng sinh. Trong ngày Đông chí, những cành cây được phân phát như một lời nhắc nhở về mùa xuân, và đó chính là nguồn gốc đầu tiên của cây Giáng sinh. Người Đức là những người đầu tiên mang cây xanh vào nhà và trang trí cho chúng. Những năm 1830, chúng bắt đầu du nhập vào Hoa Kỳ, nhưng phải đến năm 1848, khi Hoàng tử nước Đức Albert tự trang trí một cây thông cho các con và vợ của ông – Nữ hoàng Anh Victoria – thì việc trang trí cây Giáng sinh mới thực sự trở thành một nghi thức truyền thống.
Hoàng tử nước Đức Albert, Nữ hoàng Anh Victoria và các con hân hoan bên cây Giáng sinh rực rỡ.

3. Ông già Noel là ai?
mallsanta_9838

Chắc không nhiều người biết rằng ông già Noel được xây dựng dựa trên hình tượng của St. Nicholas – một giám mục Thiên chúa giáo sống trong thế kỷ thứ tư. Thánh Nicholas đã sử dụng toàn bộ tài sản thừa kế của mình để giúp đỡ người nghèo. Ông cũng là người đứng ra giải cứu những người phụ nữ thoát khỏi kiếp hành nghề mại dâm. Truyền thuyết về ông ngày càng lan rộng, ông được biết đến với cái tên Sinter Klaas tại Hà Lan và dần bị biến thể thành Santa Claus. Ngày nay, ông già Noel bụng bự đã trở thành biểu tượng của người bảo vệ trẻ em, một người hiền lành, nhân hậu và luôn phân phát niềm vui (những món quà) cho những đứa trẻ ngoan.
Ông già Noel được xây dựng dựa trên hình tượng của St. Nicholas – một giám mục Thiên chúa giáo sống trong thế kỷ thứ tư.

4. Bộ đồ đỏ của ông già Noel và Coca Cola
10-su-that-thu-vi-ve-giang-sinh-3-490x301

Santa Claus từng mặc những bộ đồ có màu sắc khác nhau trong nhiều năm, bao gồm đỏ, xanh dương, trắng và xanh lá. Nhưng hình ảnh của ông già huyền thoại chỉ trở nên phổ biến khi ông mặc bộ đồ màu đỏ trong quảng cáo của Coca Cola những năm 1930

5. Câu chuyện đáng yêu của những chiếc tất
images (5)
Những chiếc tất treo bên cạnh lò sưởi là hình ảnh không thể thiếu trong ngày lễ Giáng sinh, và chúng xuất hiện đầu tiên ở Hà Lan. Trong ngày lễ thánh Nicholas (được tổ chức vào ngày 6/12), những đứa trẻ thường treo tất của mình trước khi đi ngủ và sẽ tìm thấy những món quà nhỏ từ thánh Nicholas vào sáng hôm sau. Việc treo tất này bắt nguồn từ một câu chuyện rất đáng yêu: Có một người đàn ông nghèo không thể sắm của hồi môn khi 3 cô con gái đi lấy chồng. Thánh Nicholas muốn gây bất ngờ nên đã thả một túi vàng xuống ống khói của gia đình, nhưng nó lại rơi vào một chiếc tất đang được hong khô bên lò sưởi. Và đó là một món quà tràn đầy tình yêu thương!
Những chiếc tất treo bên cạnh lò sưởi là hình ảnh không thể thiếu trong ngày lễ Giáng sinh, và đằng sau chúng là một câu chuyện về tình yêu thương.

6. Jingle Bells là bài hát của lễ Tạ ơn
10-su-that-thu-vi-ve-giang-sinh-10-490x634

Lames Lord Pierpont, một người chơi đàn organ đến từ Savannah, Georgia, lần đầu tiên trình diễn bài hát do anh sáng tác “The One Horse Open Sleigh” tại buổi hòa nhạc của lễ Tạ ơn ở nhà thờ. Bài hát được tái bản vào năm 1857 và có tên là Jingle Bells. Đây cũng là bài hát đầu tiên được phát trong không gian bởi phi hành đoàn Gemini 6 vào ngày 16/12/1965.
Bài hát Jingle Bells lần đầu tiên được biểu diễn trong một buổi hòa nhạc của lễ Tạ ơn

7. Washington Irving là người tạo ra cỗ xe ngọt ngào của Santa
santaclaus1
Washington Irving là nhà văn Mỹ đầu thế kỷ 19. Ông nổi tiếng với tác phẩm The Legend of Sleepy Hollow, và cũng là người có ý tưởng về cỗ xe trượt tuyết biết bay của ông già Noel. Trong The Sketch Book of Geoffrey Crayon tập hợp 1.819 truyện ngắn, Irving kể lại giấc mơ nhìn thấy Thánh Nicholas bay ngang bầu trời trong một toa xe. Câu chuyện của ông trở nên phổ biến ở Mỹ và Anh, đến mức ngay cả Charles Dickens cũng thừa nhận lấy cảm hứng từ Irving khi tạo nên tác phẩm kinh điển A Christmas Carol.
Nhà văn Washington Irving là người đầu tiên mô tả hình ảnh cỗ xe bay của Santa.

8. Ông già Noel có mã bưu điện riêng
565f9e5b-7ab8487a8f

Hàng năm, thư gửi cho Santa Claus chất cao như núi ở các bưu điện trên khắp thế giới. Một số nhân viên bưu điện người Canada thậm chí còn cố gắng trả lời, nhưng ngày càng có nhiều thư chuyển tới. Họ đã tạo nên một mã thư tín riêng cho ông già Noel như một phần của “Chương trình viết thư cho Santa” – một chương trình xóa mù chữ cho trẻ em. Mã thư tín của Santa là: H0H 0H0.

9. Vì sao “Xmas” là từ viết tắt của “Christmas”
images (4)

Theo cuốn sách “From Adam’s Apple to Xmas: An Essential Vocabulary Guide for the Politicaly Correct”, từ “Christianity” được phát âm như “Xianity” trong khoảng năm 1100. Chữ “X”, hay “Chi”, trong tiếng Hy Lạp là chữ cái đầu tiên của “Christ” và được xem như một biểu tượng độc lập. Trong năm 1551, ngày lễ là “Xtemmas” nhưng cuối cùng được rút ngắn thành “Xmas”.
Từ lâu, “Xmas” được xem là từ viết tắt của “Christmas”

10. Thịt xông khói được yêu thích hơn cả gà Tây
images (7)

Mặc dù gà Tây là món ăn truyền thống trong các dịp lễ cuối năm, nhưng thịt xông khói lại là lựa chọn phổ biến hơn cả. Trong năm 2013, người Mỹ mua khoảng 318 triệu pound thịt xông khói trong tháng 11 và tháng 12, bằng một nửa lượng tiêu thụ của họ trong cả năm.
Mặc dù gà Tây là món ăn truyền thống trong các dịp lễ cuối năm, nhưng thịt xông khói lại là lựa chọn phổ biến hơn cả.

Tương Tri ST

Cô bé bán diêm

ngonnenlogo2

Đêm giáng sinh năm ấy trời thật lạnh. Đã mấy ngày liền tuyết rơi liên miên, như hối hả điểm trang cho thành phố vẻ thánh khiết để đón mừng ngày kỷ niệm Chúa Cứu Thế ra đời… Em bé tay ôm bao giấy đầy những hộp diêm, vừa đi vừa cất giọng rao mời. Lạnh thế mà bé phải lê đôi chân trần trên hè phố. Đôi dép cũ rích của bé sáng nay bị lũ nhóc ngoài phố nghịch ngợm dấu đi mất. Trời lạnh như cắt. Hai bàn chân của bé sưng tím cả lên. Bé cố lê từng bước sát dưới mái hiên cho đỡ lạnh, thỉnh thoảng đôi mắt ngây thơ ngước nhìn đám đông hờ hững qua lại, nửa van xin, nửa ngại ngùng. Không hiểu sao bé chỉ bán có một xu một hộp diêm như mọi ngày mà đêm nay không ai thèm hỏi đến.
Càng về đêm, trời càng lạnh. Tuyết vẫn cứ rơi đều trên hè phố. Bé bán diêm thấy người mệt lả. Đôi bàn chân bây giờ tê cứng, không còn chút cảm giác. Bé thèm được về nhà nằm cuộn mình trên chiếc giường tồi tàn trong góc để ngủ một giấc cho quên đói, quên lạnh. Nhưng nghĩ đến những lời đay nghiến, những lằn roi vun vút của người mẹ ghẻ, bé rùng mình hối hả bước mau. Được một lát, bé bắt đầu dán mắt vào những ngôi nhà hai bên đường. Nhà nào cũng vui vẻ, ấm cúng và trang hoàng rực rỡ. Chỗ thì đèn màu nhấp nháy, chỗ có cây giáng sinh với những quà bánh đầy mầu. Có nhà dọn lên bàn gà tây, rượu, bánh trái trông thật ngon lành. Bất giác bé nuốt nước miếng, mắt hoa lên, tay chân run bần bật, bé thấy mình lạnh và đói hơn bao giờ hết. Đưa tay lên ôm mặt, bé thất thểu bước đi trong tiếng nhạc giáng sinh văng vẳng khắp nơi và mọi người thản nhiên, vui vẻ, sung sướng mừng Chúa ra đời…

Suốt ngày em chẳng bán được gì cả và chẳng ai bố thí cho em chút đỉnh. Em bé đáng thương, vừa đói vừa lạnh, vẫn lang thang trên đường. Bông tuyết bám đầy trên mái tóc dài xõa thành từng búp trên lưng em, em cũng không để ý.
Cửa sổ mọi nhà đều sáng rực ánh đèn và trong phố sực nức mùi ngỗng quay. Chả là đêm giao thừa mà! Em tưởng nhớ lại năm xưa, khi bà nội của em còn sống, em cũng được đón giao thừa ở nhà. Nhưng thần chết đã đến cướp bà em đi mất, gia sản tiêu tán và gia đình em đã phải lìa ngôi nhà xinh xắn có dây trường xuân leo quanh, nơi em đã sống những ngày đầm ấm, để đến chui rúc trong một xó tối tăm, luôn luôn nghe những lời mắc nhiếc, chửi rủa.
Em ngồi nép trong một góc tường, giữa hai ngôi nhà, một cái xây lùi lại một chút.
Em thu đôi chân vào người, nhưng mỗi lúc em càng thấy rét buốt hơn.
Tuy nhiên em không thể nào về nhà nếu không bán được ít bao diêm, hay không ai bố thí cho một đồng xu nào đem về; nhất định là cha em sẽ đánh em. Vả lại ở nhà cũng rét thế thôi. Cha con em ở trên gác, sát mái nhà và, mặc dầu đã nhét giẻ rách vào các kẽ hở trên vách, gió vẫn thổi rít vào trong nhà. Lúc này đôi bàn tay em đã cứng đờ ra.
Chà! Giá quẹt một que diêm lên mà sưởi cho đỡ rét một chút nhỉ? Giá em có thể rút một que diêm ra quẹt vào tường mà hơ ngón tay nhỉ? Cuối cùng em đánh liều quẹt một que diêm. Diêm bén lửa thật là nhạy. Ngọn lửa lúc đầu xanh lam, dần dần biếc đi, trắng ra, rực hồng lên quanh que gỗ, sáng chói trông đến vui mắt.
Em hơ đôi tay trên que diêm sáng rực như than hồng. Chà! Ánh sáng kỳ diệu làm sao! Em tưởng chừng như đang ngồi trước một lò sưởi bằng sắt có những hình nổi bằng đồng bóng nhoáng. Trong lò, lửa cháy nom đến vui mắt và tỏa ra hơi nóng dịu dàng. Thật là dễ chịu!
Đôi bàn tay em hơ trên ngọn lửa; bên tay cầm diêm, cái ngón cái nóng bỏng lên. Chà! Khi tuyết phủ kín mặt đất, gió bấc thổi vun vút mà được ngồi hàng giờ như thế, trong đêm đông rét buốt, trước một lò sưởi, thì khoái biết bao!
Em vừa duỗi chân ra sưởi thì lửa vụt tắt, lò sưởi biến mất. Em ngồi đó, tay cầm que diêm đã tàn hẳn. Em bần thần cả người và chợt nghĩ ra rằng cha em đã giao cho em đi bán diêm; đêm nay, về nhà thế nào cũng bị cha mắng.
Em quẹt que diêm thứ hai, diêm cháy và sáng rực lên. Bức tường như biến thành một tấm rèm bằng vải màn. Em nhìn thấu tận trong nhà. Bàn ăn đã dọn, khăn trải trắng tinh, trên bàn bày toàn bát đĩa bằng sứ quý giá, và có cả một con ngỗng quay. Nhưng điều kỳ diệu nhất là ngỗng ta nhảy ra khỏi dĩa và mang cả dao, nĩa… cắm trên lưng, tiến về phía em bé.

Rồi… que diêm vụt tắt; trước mặt em chỉ còn là những bức tường dầy đặc và lạnh lẽo. Chẳng có bàn ăn thịnh soạn nào cả, mà chỉ có phố xá vắng teo, lạnh buốt, tuyết phủ trắng xoá, gió bấc vi vu và những người khách qua đường quần áo ấm áp vội vã đi đến những nơi hẹn hò, hoàn toàn lãnh đạm với cảnh nghèo khổ của em bé bán diêm. Em quẹt que diêm thứ ba. Bỗng em thấy hiện ra một cây thông Noel. Cây này lớn và trang trí lộng lẫy hơn cây mà em đã được thấy năm ngoái qua cửa kính một nhà buôn giàu có. Hàng ngàn ngọn nến sáng rực, lấp lánh trên cành lá xanh tươi và rất nhiều bức tranh màu sắc rực rỡ như những bức bày trong các cửa hàng hiện ra trước mắt em bé. Em với đôi tay về phía cây… nhưng diêm tắt. Tất cả những ngọn nến bay lên, bay lên mãi rồi biến thành những ngôi sao trên trời.
– Chắc hẳn có ai vừa chết, em bé tự nhủ, vì bà em, người hiền hậu độc nhất đối với em, đã chết từ lâu, trước đây thường nói rằng: “Khi có một vì sao đổi ngôi là có một linh hồn bay lên trời với thượng đế”. Em quẹt một que diêm nữa vào tường, một ánh sáng xanh tỏa ra xung quanh và em bé nhìn thấy rõ ràng là bà em đang mỉm cười với em.
– Bà ơi ! Em bé reo lên, cho cháu đi với ! Cháu biết rằng diêm tắt thì bà cũng biến đi mất như lò sưởi, ngỗng quay và cây Noel ban nãy, nhưng xin bà đừng bỏ cháu ở nơi này; trước kia, khi bà chưa về với thượng đế chí nhân, bà cháu ta đã từng sung sướng biết bao! Dạo ấy bà đã từng nhủ cháu rằng nếu cháu ngoan ngoãn cháu sẽ được gặp lại bà; bà ơi! cháu van bà, bà xin với Thượng Đế chí nhân cho cháu về với bà. Chắc Người không từ chối đâu.
Que diêm tắt phụt và ảo ảnh rực sáng trên khuôn mặt em bé cũng biết mất.
Thế là em quẹt tất cả những que diêm còn lại trong bao. Em muốn níu bà em lại! Diêm nối nhau chiếu sáng như giữa ban ngày. Chưa bao giờ em thấy bà em to lớn và đẹp lão như thế này. Bà cụ cầm lấy tay em, rồi hai bà cháu bay vụt lên cao, cao mãi, chẳng còn đói rét, đau buồn nào đe dọa họ nữa. Họ đã về với Thuợng đế.
Sáng hôm sau, tuyết vẫn phủ kín mặt đất, nhưng mặt trời lên, trong sáng, chói chang trên bầu trời xanh nhợt. Mọi người vui vẻ ra khỏi nhà.
Trong buổi sáng lạnh lẽo ấy, ở một xó tường người ta thấy một em gái có đôi má hồng và đôi môi đang mỉm cười. Em đã chết vì giá rét trong đêm giáng sinh… em bé ngồi giữa những bao diêm, trong đó có một bao đã đốt hết. Mọi người bảo nhau: “Chắc nó muốn sưởi cho ấm!” Nhưng chẳng ai biết những điều kỳ diệu em đã trông thấy trước khi em hóa thân thành một thiên thần bé bỏng.

Hans Christian Andersen (1805-1875)

Black Friday…

BlackFriday-2015-op

Sau Lễ Tạ Ơn là Black Friday, Black Friday được biết đến như ngày hội mua sắm lớn nhất ở nền kinh tế lớn nhất thế giới. Song nó còn chứa đựng rất nhiều bí mật thú vị.

Ra đời vì kẹt xe
Thật khó tin, ngày Black Friday có xuất xứ từ tình trạng kẹt xe xảy ra vào ngày thứ sáu sau Lễ Tạ Ơn năm 1965 ở Philadelphia, khi hàng trăm nghìn người Mỹ chen chúc đen kịt các con phố, vỉa hè đi mua sắm để sửa soạn cho Lễ Noel sắp đến. Ngay lập tức, giới kinh doanh Hoa Kỳ cho quảng cáo rầm rộ trên các phương tiện thông tin đại chúng về ngày này và đồng loạt khuyến mãi, giảm giá để thu hút khách hàng.

Những bí mật “đen tối” về ngày Black Friday:
Hiện nay, Black Friday không còn là một ngày mua sắm điên cuồng đơn thuần mà đã được biến tấu thành một dịp thu hút khách du lịch. Sức hút của nó còn khủng khiếp đến mức có rất nhiều doanh nghiệp, mặt hàng tại các nước khác cũng ăn theo nhân sự kiện này.

Mua sắm trước khi rỗng túi:
Black Friday trở thành ngày mua sắm lớn nhất năm từ 2001. Phải đến năm này, Ngày thứ 6 đen tối mới thực sự trở thành dịp mua sắm mạnh nhất của người Mỹ.
Đó là bởi văn hóa xứ cờ hoa có những điểm độc đáo riêng, họ không yêu sự giảm giá mà yêu sự “chần chừ” – tức là vào thứ 7 trước giáng sinh mới là thời điểm những chiếc ví rỗng nhất-

Giảm giá đến 90%:
Tất nhiên sức hút của ngày này chỉ có 1 lý do duy nhất là vì giá sale khủng. Các cửa hàng trên toàn quốc giảm giá đậm đến không ngờ. Hầu như tất cả các mặt hàng đều giảm giá trung bình từ 10% – 30% và nhiều cửa hàng đồng loạt hạ giá bán xuống vài chục phần trăm.
Thật tuyệt vời nếu bạn có mặt tại siêu thị khổng lồ của Hoa Kỳ, là Premium Outlet Mall tại thiên đường mua sắm Las Vegas. Vào mùa sales 50% giá tag là “đúng giá”, 70% giá tag mới là sale nhẹ và 90% giá tag mới thật sự là sale. Trong thế giới shopping bao la này, bạn sẽ tìm thấy vô khối đồ thời trang hàng hiệu cực hot như Adidas, Nike.

my-2-nguoi-phu-nu-au-da-vi-tranh-gianh-1-con-bup-be-ngay-black-friday

Hàng tỷ đô la đội nón ra đi chỉ trong 2 ngày
Năm ngoái, có 225.000.000 người mua sắm trong ngày Black Friday và tổng chi tiêu lên tới 11,4 tỷ USD. Có người còn phải chờ từ 4h sáng để mong có thể “tậu” cho mình một món đồ giá rẻ như cho không.
Giữa những chốn phồn hoa trên đất Mỹ, không ai tưởng tượng được lại có cảnh xếp hàng dài dằng dặc rồi trùm chăn ngủ ngay trên lòng đường trước một siêu thị, hay khung cảnh chen lấn, giành giật hàng hóa trong các trung tâm mua sắm.


1/3 dân số Mỹ đổ ra đường vì Black Friday

Theo một nghiên cứu mới từ các Hiệp hội người tiêu dùng điện tử , cứ ba người thì có một người Mỹ (37%) sẽ ra ngoài để mua sắm trong ngày Black Friday. Năm 2011, với sự kiện tranh cướp hàng hóa dẫn đến hàng chục người bị thương, một người bị bắn và cướp sạch hàng hóa khi ra chỗ đỗ xe, Black Friday đã có hơi hướng đúng với nghĩa mặt chữ là “Ngày thứ sáu đen”.

Hầu như người tiêu dùng đều bị lừa
Nghiên cứu mới công bố bởi website NerdWalle While cho thấy có tới 93% các cửa hàng bán lẻ tại Mỹ được khảo sát đang mời chào khách hàng của họ bằng những sản phẩm cũ với cùng mức giá giảm như năm ngoái.

Hậu Black Friday
Ngay sau ngày Black Friday sẽ là Cyber Monday (tạm dịch: Ngày Thứ Hai điện tử) là ngày thứ hai đầu tiên ngay sau Black Friday. Đây là ngày thứ 2 Shopping hoành tráng trong năm để thỏa mãn cơn khát mua sắm của người dân ngay sau Black Friday vì vẫn còn rất nhiều người Mỹ chưa tìm được gì trong dòng người “ngày thứ 6 đen”.

 

black-friday

Tẩy chay Black Friday
Thu hút là vậy, nhưng không phải tất cả những người Mỹ đều thích thú với “ngày thứ 6 đen”. Lý do là bởi những người này đều không thích sự chen lấn xô đẩy và thay vì việc lao vào những siêu thị, cửa hàng để mua đồ giảm giá, họ ngồi ở nhà và xem ti vi.
Thậm chí, có người còn cho rằng tình trạng chen lấn nhau để mua hàng làm xấu đi hình ảnh nước Mỹ và họ kêu gọi lập nên “No Shopping Day”, tức là ngày không mua sắm để tẩy chay “Black Friday”.

Ngày thứ 6 đen tối sẽ biến mất ?!
Ngày thứ 6 đen tối sắp biến mất. Đây là một điều bất ngờ song lại rất có cơ sở. Đó là khi các hãng đã bắt đầu bán hàng ngay từ đêm thứ 5 – vào ngày lễ Tạ Ơn. Khởi đầu là Walmart năm 2011 và sau đó các cửa hàng khác cũng học theo nhanh chóng.
Theo thống kê, 33 triệu người Mỹ cũng cho biết, họ đã lên kế hoạch mua sắm ngay sau khi thưởng thức món gà tây. Nghĩa là rất có thể trong thời gian tới, người ta sẽ sử dụng thuật ngữ “Ngày thứ 5 xám xịt” (Grey Thursday) thay cho “Ngày thứ 6 đen tối”.

Nguồn Internet