MỘT THOÁNG CỎ HOA

tưởng tự nhiên cỏ xanh rì
say rồi mới biết cỏ vì gót ai
giẫm lên tôi giẫm lai rai
biết đâu đâu biết thương hoài cố nhân

giẫm lên tôi cả toàn phần
ngậm ngùi hoa cỏ thanh tân bốn mùa
cúi đầu dưới phất phơ mưa
trái tim lửa ấm âm thừa ngón trao

tôi van nắng cuối giang đầu
xin đừng nhuộm hết đau màu sông thương
mai này chiếc lá vô thường
cười lên cho cửa thiên đường rung rinh

tưởng tâm duy nhất tấm tình
say rồi mới biết thập thành can qua
thập phần nắng lụa ngõ xa
riêng phần một thoáng cỏ hoa bên người

TRƯƠNG ĐÌNH TUẤN

ĂN MÌNH

Như ngọn nến ăn mình để cháy
Tôi ăn mình hết thời yêu em
Vẫn thấy cô đơn ngọ nguậy trong hồn
Và con mắt buồn thiu …đến lạ !

Đi suốt đời vẫn là chiếc ná
Gương cung sầu người nhắm đích tai ương
Tự ăn mình …mỏi mòn đêm khách lạ
Thơ nát nhàu , kỷ niệm gói mù sương !

Tôi ăn tôi hiu hắt những cung đường
Mùa cứ níu nhớ thương vào xưa cũ
Như ngọn nến ăn mình…lạc thú
Phục sinh em một cõi yêu, thù…

Không cách gì lành lặn diễm thư
Tôi cố bay qua thác ghềnh số phận
Đời nhiễu nhương , làm sao biết được
Miệng cười nào Bồ Tát đây em ?

Suốt đời này tôi mở cửa trái tim
Để bơ vơ nhận về lầm lỗi
Thương, để thành tội đồ phút cuối
Thánh Đường nào còn chỗ nữa đâu em ?

Như ngọn nến, tự cháy một mình
Que diêm đốt mồi rồi nên vô vị
Tự ăn mình hết thời mộng mị
Để hôn hoàng vó ngựa giục sầu lên…

Trần Dzạ Lữ

TÔI NẰM XUỐNG CỎ ĐỒI XANH

Tôi nằm xuống cỏ đồi xanh
Cùng hoa nắng thắp cùng cành gió ru
Tôi nằm mặt đất hoang vu
Cỏ mênh mang cỏ xanh bờ tử sinh!
Đi đâu rồi cũng loanh quanh
Ngày vui bay mất tóc xanh không còn!
Tôi ôm vũ trụ càn khôn
Kiểng chân vào tận đỉnh hồn nhân gian
Trăm năm – khoảnh khắc vô ngần
Nầy xương máu hỡi của trần gian vui
Mai xa mép cỏ ngậm ngùi
Mùa xuân hương sắc chôn vùi lãng quên!

TRẦN THOẠI NGUYÊN

MƯA BAY NGÀY TẾT

O tròn như quả trứng gà. Không, o không tròn, o mỏng người ốm nhom. Ô thời đội mũ ơ thì thêm râu. O không có râu, dĩ nhiên. O không có mũ, o chỉ đội chiếc nón lá cũ chẳng đọc rõ bài thơ dấu che. O cắp cái bị lát lỏng lẻo, thứ hành trang nhẹ hẫng dù trước đó o run tay nhét vội vào hai bộ áo quần Mạ may cho.

O đi ba bước ra vuông sân ngập nắng, nghĩ sao o quay lui, lạc hồn như để quên bên hiên nhà một vật hệ trọng. O quì gối cho ngang tầm đứng nghệch mặt của thằng người gỗ. Chị đi hí, em ở nhà mạnh giỏi. Mắt o đỏ, lấy tay áo lau vội bên ngoài con ngươi sầu muộn. O có chiếc khăn tay thêu chỉ hồng một cánh én đang bay ở góc, nhưng nó lỡ thế cái bóp để cuốn chặt những tờ giấy bạc Việt Nam Cộng Hoà in hình Lê Văn Duyệt, Quang Trung. O nhét đồng tiền liền khúc ruột ở lưng quần, sợi giây thun luồn vào làm thắt lưng có hơi chặt chịa khiến da quanh bụng o phải chịu hằn dấu, y như có con rết nhiều chân ửng đỏ bám chặt, không rời. O ôm lấy thân tôi phỗng đá dại khờ. Ngực o rung động, chễnh mảng để lộ phần da thịt làm tôn tạo vẻ đẹp nơi sợi giây chuyền bằng vàng có luồn vào miếng ngọc Phật bà Quan Âm mà Mạ tôi dùng làm món quà trao trước phút tiễn biệt. Em đừng buồn nghe. Miếng ngọc xanh lên nước, giọng o cũng úng nước khiến mắt tôi ướt át. Một khúc củi mục vướng mắc bên con nước chảy xiết, xuôi đổ về hạ lưu.

Mạ tôi từng nói: Hắn còn dại ngỗ lắm, tiếng là 16 rồi nhưng thậm thụt có biết chi mô, rứa chơ cũng bày đặt đi lấy chồng như thiên hạ. Ở ngoài làng tình hình loạn lạc bom đạn tơi bời, nói dại miệng điệu ni chẳng chừng hết còn ngó ra nhau. Làng quê o ở xa, o thủ thỉ bên tai tôi: Chị đi đò nửa ngày quá giang rồi lên bờ bắt xe đi tới chạng vạng mới đụng đầu luỹ tre xanh. Tâm tình nhỏ xíu rứa mà Mạ tôi nghe được: Cái con ăn nói mới lạ, ưa nhảy lò cò bỏ băng, mi phải đội nắng đi qua một cánh đồng cát trắng nổ con ngươi, băng ngang một đồi sim, hết một bãi tha ma còi cọc mới đặt chân vô làng. Luỹ tre xanh mọc ở chỗ mô? Được trớn, Mạ tôi vây khốn: Rứa mi đã thấy mặt hắn chưa? Vẫn nắm lấy đôi bàn tay tôi, o ấp úng: Dạ chưa, mặt ngang mặt dọc ra răng con chưa từng chộ qua. Nghe ba con nói anh là địa phương quân, củ mỉ cù mì thiệt thà như đếm, ít ăn ít nói sáng tối chỉ biết súng là vợ đạn là con. Mạ tôi phán: Cả gan! O thưa: Dạ nhờ trời.

O sẽ lấy chồng, o sắp bỏ tôi đi mất biệt. Tôi ghét những chữ như người ở đợ, đầy tớ, con sen, vú nuôi… Trước sau o vẫn là người chị thân thuộc sớm tối kề cận tôi, van lơn tôi ăn cơm lạy lục tôi đi tắm. O biết dấu những món ngon dưới đáy chén cơm để tôi oà vỡ tiếng cười hiếm muộn. O thức canh khuya để kể chuyện đời xưa, o sẵn sàng dẹp hết mọi công chuyện để lấy kim chỉ may vá áo quần tôi lỡ gây tai nạn toạc rách. Và o độ lượng chẳng la hét khi tôi bất chợt ngó ra cảnh o thay đổi xiêm y lụa là da thịt ngời sáng. Sao người o luôn biết thu cất một bí mật để biến nó thành một hấp lực khôn nguôi. Căn bản, đó là những khác biệt rạng rỡ mà con trai tuyệt không sở hữu được. Và tôi đang hụt hẫng ngó dáng o mờ xa. Tôi khóc mà o không nhìn nhận. Tôi buồn chạnh lòng mà chẳng ai hay.

Có dạo anh tôi, người đóng vai gia sư quyền huynh thế phụ đã khiển trách khi nhìn ra bài luận văn “đầy sai lạc” của tôi với bút mực đỏ mà cô giáo khó tính phê: Lạc đề. “Hãy tả một người em thương yêu và trình bày những cảm nhận của em về người đó”. Có buồn cười không khi tôi đã sa đà đem hình bóng o ra để thêu dệt mộng mơ? Dạ thưa cô, dạ thưa anh, rứa em bị lạc đề ở chỗ mô? Một người từng kề cận mình, ăn cùng mâm ngủ cùng chiếu, bất kể người đó đóng vai vế gì, không khiến lòng dạ mình đâm quyến luyến sao? Thương yêu có năm bảy đường và đường nào cũng đáng trân trọng nếu người ta còn biết mang tâm tưởng để nói ra đôi lời ngợi ca chân tình.

Dần dà theo năm tháng lớn khôn tôi đã bội bạc quên bẵng o. Trí nhớ như một bến nước cứ mãi bị phù sa lấp đầy, biến dạng. Sự phủ lấp chẳng cưỡng lại được khiến mỗi hồi ức tựa công dã tràng khi muốn gợn đục khơi trong. Mù mờ một nhân ảnh, một bờ vai gầy, một đầu tóc rối, một đôi vú nhỏ, một tượng ngọc xanh biết nhảy múa, một giọng nói thiết tha, một vỗ về đêm hôm trái gió trở trời, một… cơn gió thoảng. Lau sậy ven sông xao động, xác xơ, ngớ ngẫng trông theo dòng nước đục trôi băng, nhấn chìm một khoảng trời xanh đầy an lành thuở niên thiếu.

Bạn học cùng tôi dạo ấy đa số đều chóng trưởng thành, chúng chai mặt lì lợm đi ve gái, chúng biết nhín tiền quà sáng để mua thuốc hút sành điệu thổi khói vòng tròn xuống mặt bàn thành hình tim vỡ, chúng ưa ngồi ở quán cà phê mặt đăm chiêu suốt buổi. Chúng hát theo bản nhạc phổ thơ Nguyễn Tất Nhiên vừa trổi lên:..”thi hỏng tú tài ta đợi ngày đi…”. Chúng lập ngôn một câu nghe chẳng mấy thuyết phục: Học tài thi phận. Và đứa nào cũng rất tin chuyện dị đoan, chúng nhất quyết ngó lơ quán bún bò mụ Rớt để đổ xuôi tìm tới quán mụ Đỏ chuyên trị bánh bèo bánh bột lọc bánh nậm. Chúng không ăn chè nhãn bọc hạt sen, chè bắp mà lựa toàn chè có dính tới chữ đậu. Đậu xanh đậu đỏ đậu ván đậu ngự. Mười thằng như chục sợ thi hỏng tú tài, sợ vào quân trường sợ xa kiếp sách đèn và sợ xa người yêu “đau lòng ta muốn khóc”. Trong mười thằng, có thằng mết tôi nhất để rồi hắn không ngớt nhồi nhét vào đầu tôi một thứ lập luận rất đỗi phản động: Hai đứa mình phải để dành tiền để làm cuộc cách mạng bản thân. Mi biết không, đi chơi đĩ là một cách xả xui linh nghiệm nhất. Sắp tới ngày thi rồi, gạo bài hoài cũng phờ râu, đợi một đêm trăng thanh gió mát tau dắt mi chui vô động hoa, chuẩn bị tinh thần là vừa đó mi. Đôi ba bữa sau, cóp nhặt nguồn tin thất thiệt nào về, hắn to nhỏ: Mi phải mở con mắt ra dòm chừng, con gái mà chỗ chết người kia không có mọc tóc thì liệu kiếm cớ bai bãi khước từ, dính vô là xui tận mạng đó nghe mi. Bao nhiêu kinh sách bài vở mãi tụng tự nhiên mất sạch sành sanh, đã thuộc nhừ như cháo bỗng trở chứng biến thành miếng cơm cháy cạy hoài không ra, thi hỏng là cái chắc, không lôi thôi trời ơi đất hỡi than thân trách phận gì ráo trọi. Hắn không cảnh báo an toàn bệnh tật chấn thương giang mai hoa liễu mà một hai cứ vẽ vời chuyện râu ria trắng da dài tóc.

Đêm nọ, trời chẳng trăng thanh gió mát, nực nội và đen tối là đằng khác, hắn tới trước cổng chỏ mỏ vào hú lên tiếng ám hiệu nghe như mèo gào khẩn thiết. Cơm nước chi chưa, thời cơ đã tới, leo lên yên tau đèo đi. Hắn nói, tau vừa giải một phương trình toán học và kết quả cho ra, đúng ngày tháng này sẽ rất thuận lợi nếu muốn hoán chuyển dạng thức từ con trai ra đàn ông. Đừng lo, chắc chắn tụi mình sẽ thi đậu, cho dù chỉ vừa đủ điểm để đậu vớt. Tuy là xe đạp nhưng vận tốc có thể sánh ngang với xe gắn máy, điều này xác quyết chuyện hệ trọng: hắn phấn chấn đặt để niềm tin vào việc xả xui, sớm mong thoát xác. Hắn quên chuyện hệ trọng khác: dồn hết năng lượng vào cặp giò để đạp toé khói, liệu kẻ đó có bủn rủn tay chân? Trong khi tìm tới động hoa, “sụm bà chè” là chữ tuyệt đố kỵ, chưa đánh đã vội nghe mỏi gối chồn chân e đành kíp cởi giáp quy hàng. Hắn thở hổn hển, giờ ni có hơi sớm, nhưng phàm làm việc vụng trộm chớ nên đợi giờ cao điểm. Đông đúc chộn rộn vốn không thích hợp cho bọn mình.

Xe chui vô động hoa, hắn run tay khoá chiếc xe đạp đang muốn trật cóc sút dây sên bên giàn hoa thiên lý. Khung cửa hắt ra sân đất một hình khối xanh lét ánh điện néon. Tuy được đèo chở chẳng nhọc sức nhưng tôi nghe rõ vía mình đang yếu, hoang mang lo ngại. Mùi hoa thiên lý nồng nàn quá chừng, sao xông hương mùi ma quái liêu trai? Rụt rè bước qua khỏi ngạch cửa thì đụng đầu một người đàn bà, chắc đúng là bà Tám chủ động như lời thằng bạn sớm thông tin. Đứa vẽ đường cho hươu chạy thì thầm trình bày lý do sự hiện diện và tôi hoàn toàn xuội lơ giao trứng cho ác. Đã trót leo lên lưng cọp thì việc duy nhất cần tuân thủ là ngồi im re chớ vọng động. Hãy nhủ thầm, qua khỏi cánh rừng hoang dại cọp sẽ vất ta xuống, chẳng đoái hoài xơi mạng con cáy đang niệm thầm tội lỗi tội lỗi.

Sau cùng thì nghe giọng bà Tám trầm bổng: Có hai em ni dáng người thanh cảnh tuổi đời chưa trải e hợp tạng với hai cậu nho sinh. Bước vô mà chẳng hùng hổ bặm trợn thì tui cũng biết lựa ra đối tượng nhu mì đặng vui vầy cho êm thắm canh khuya. Phàm việc đời bất luận nói tới việc mua sắm thì nên đặt tiêu chí tiền trao cháo múc để sau đó được thuận buồm xuôi gió. Học trò học bè tiền bạc không có mấy hột, tui quyết công bằng chẳng đành tâm chặt chém. Con Mộng con Tiên mô rồi, đi ra cho hai cậu coi mặt. Tấm màn vải được vén lên, giống như trên sân khấu từ cánh gà bất thần vụt hiện hai nhân vật chính chuẩn bị diễn tuồng. Thằng bạn dạn dĩ nắm tay lôi đi cô gái vóc vạc đẫy đà, kẻ còn lại mình hạc xương mai ít thịt thà đưa mắt ngó chăm tôi. Đôi mắt buồn, đôi mắt của kẻ luôn chịu thiệt thòi, đôi mắt của kẻ đầu hàng số phận. Đôi mắt biết nói thầm: Cha mẹ sanh em trời bắt xấu. Đôi mắt không biết nhắm trong phút giây, cô mãi nhìn tôi như thể kiếm xem trên dung mạo kia ẩn chứa chút gì quen thuộc. Cô cười với tôi, không cứ là môi, hai mắt cũng biết cười. Đã tới đây sao còn làm bộ làm tịch, vô trong này đi, có ai ăn thịt anh đâu mà phải điếng hồn. Coi cái mặt kìa. Lần đầu tiên hả? Không biết là Mộng hay Tiên? Tiên hay Mộng đã nắm tay dìu tôi vào một địa phận của trần gian tù mù, và chật hẹp. Chỉ có chiếc giường nhỏ nằm cô quạnh, duy mình nó bị vây khốn giữa bốn bức vách gỗ, ngạt thở.

Như một người luôn thực thi đúng với châm ngôn “thời giờ là vàng bạc”, chẳng nói chẳng rằng cô trút bỏ toàn bộ áo quần chỉ trong một sát na. Sát na sau là Tiên là Mộng nằm xuống giường với một chân duỗi một chân co. Không cứ là môi là mắt, toàn thân trần của cô dường cũng biết cười vào sự lúng túng vây bọc lấy tôi. Thôi được rồi, để em giúp cho một tay, anh cởi áo em phụ cởi quần. Vạn sự khởi đầu nan, nếu đã ăn quen bén mùi thì vận sự lại đổi khác, chẳng chừng chính tay anh lột truồng em ra bất kể van lơn. Nói rứa nghe có lọt lỗ tai không? Người chi mà hiền lành, thương hết biết! Đêm hè nhưng tôi nghe lạnh, mát mẻ thì đúng hơn. Như mang vào người thứ võ công cái thế, thoắt cái, cô ảo thuật gia đã thổi biến y phục tôi bay đi. Cô dìu tôi nằm xuống. Thuỷ chung tôi vẫn là hiệp sĩ mù, nhớ lời thằng bạn từng ra thông cáo quan trọng: Hãy tập trung nhãn tuyến vào chỗ ấy, nếu nó không có tóc thì nghỉ chơi. Tôi mở lớn đồng tử, như quang khẩu có trên máy chụp hình, tự điều chỉnh khoảng cách trông sao cho rõ mười mươi vật thể được nhắm tới. Tôi thấy rõ nét vật chẳng muốn thấy: Sợi dây chuyền vàng có móc tượng Phật ngọc đong đưa tòn ten giữa trũng ngực. Quen thuộc quá. Lạ lùng quá. Đúng rồi, là của o. O, giờ này o ở đâu? Tôi nói: Tui hỏi chuyện ni chút? Người bán hoa đáp: Nếu anh ngại, em sẽ cho anh cái áo mưa. Tôi thưa: Tui muốn biết vì răng mà cô có được sợi dây chuyền ni? Cô gái áng chừng nhỏ thua tôi năm bảy tuổi nói giọng đàn chị: Cắc cớ, lộn xộn, nhiều chuyện, không lo nhúc nhích cho sướng thân mà đè chuyện tào lao ra hỏi. Nếu tui muốn mua thì cô tính răng? Tầm bậy, nó vô giá, không đủ tiền mua đâu. Vật gia bảo à? Ừ, của mạ tui cho, đã thoả mãn chưa?

Tôi ngó sâu vào mặt đứa con o để mong thấy lại o ngày cũ. Tôi dùng tay vuốt lại những sợi tóc rối vướng che và với tất cả những động thái nhằm biểu lộ lòng thương yêu, tôi kể cho cô ấy nghe chuyện ngày cũ, về xuất xứ sợi dây chuyền, về nguyên cớ o bỏ căn nhà tôi ở để về làng lập thân. Mạ em chết như rứa là đã bốn năm rồi, nhà cửa sa sút lắm… Tôi ngó giọt nước mắt chẳng tượng hình nằm lấp ló bên khoé, chẳng cầm lòng tôi ôm siết lấy thân cô.

Năm đó, cả hai đứa chúng tôi đều thi đậu, dò thấy tên họ in trên tờ giấy niêm yết trước cổng trường có lắm đứa chen chân. Phải đi ăn mừng, hắn nói. Đã qua truông lọt thì thôi kiêng cử, tà tà tấp vô quán mụ Rớt quất hai tô bún bò danh trấn giang hồ, nhớ bỏ ớt cho nhiều vào, cay thấu trời cho nước mắt trào đi bao dòng lệ cảm xúc. Tôi nói cho hắn nghe, chỉ với một hậu ý, những gì người ta thêu dệt đều xằng bậy cả: Nguyễn thị Tiên, chỗ ấy không mọc tóc. Sau khi nghe hết ngọn ngành, hắn đi tới kết luận: Do đâu mà mi thi đậu? Ấy là do bởi linh hồn O nớ đã về gần, phù hộ độ trì cho mi đó thôi. Ở cuộc đời khó hiểu này, mi nên tin tới một thứ gì siêu nhiên xa ngái chẳng thể giải thích được để an lòng khi gặp vấn nạn. Nhưng mà hiện tại, thi đậu rồi chừ mi tính đơm mộng ước ngày mai ra sao? Tôi nói, tôi chỉ có duy một cơn mộng rồ dại, là làm thế nào có thật nhiều tiền để làm thay đổi cuộc sống của Tiên, mang Tiên ra khỏi vòng vây của chiếu giường. Chỉ ngần ấy thôi. Nói tôi yêu Tiên thì nghe có điên không?

Thằng bạn nhìn tôi trân tráo, có phải là hắn đang đối mặt với kẻ sống ngoài hành tinh? Cận kề, thân thiết mà cũng quá đỗi xa ngái khó hiểu. Hắn hỏi: Ăn xong mi làm chi? Tôi nhai một trái ớt hiểm, rau ráu: Tau tới động mụ Tám, tau có trình bày lý do và được mụ ấy đồng ý cho phép Tiên dắt tau đi thăm mộ O. Chỉ nhổ cỏ chỉ thắp nhang chỉ khấn vái sơ sài vậy thôi, mai hậu mới tính chuyện cúng kiến hậu tạ tri ân tưởng nhớ. Ừ, nói cũng đúng, sẵn, thưa với mụ ấy: Học trò học bè tiền bạc mô có mấy hột mà sớm tối nướng thân vào động hoa. Cái chi cũng rứa cả, tập đều đặn thì luôn tốt cho sức khoẻ: Cơm ba bát thuốc ba thang, ngày làm đêm nghỉ thầy lang khỏi mời.

Tôi vẫn nuôi mộng cuồng cho tới mùa xuân năm ấy, Tiên đổ bệnh, mời thầy lang nhưng ổng lắc đầu. Phút giây bàn giao cho tử thần, Tiên trao vào tay tôi sợi dây chuyền, Phật bà Quan Âm xanh mét màu ngọc. Ngọc mát, chừng như đá quý biết rịn nước. Tiên muốn được tôi hôn cô lần cuối, được tôi vuốt mắt cô, được chính tay tôi lấy khăn đắp mặt. Tôi ngoan dại nghe lời, mừng thầm là Tiên ra đi nhẹ nhàng, thoát khỏi cái thế giới ám chướng trì nặng. Tôi cũng nhẹ người, thoát khỏi ám ảnh đội đá vá trời quyết giúp Tiên hoàn lương.

Tết run sụt sùi, mưa suốt trên thành phố xám đục. Hai hàng cây dẫn về nghĩa trang câm lặng gục đầu rơi rụng những cánh hoa tím, nhỏ li ti. Mưa rải đều hạt xuống ngày tháng chẳng còn vẹn toàn, ngày ngắn lại đêm dài hơn hoặc đêm ngày đồng loã hoá thân thành mũi tên, cắm sâu từ O, xuyên thâu lút cán tới Tiên, đứa con gái bị đày ải xuống trần gian vắn số. Trời buồn, trời khóc? Tôi ướt nghe ngói, rùng mình.

Hồ Đình Nghiêm

DẠO KHÚC 46

con dế nhỏ- chiếc đàn và những vì sao
hoa thơm ngát hồn thơ ấu
ngày nào
lối về bằn bặt khép
còn gì để nói nữa đâu…

tôi kể rằng tôi đã theo sau đám tang
một con dế nhỏ
không gian vỡ đổ tiếng đàn
nghìn sao mắt lệ
êm đềm hoa rụng chẳng lời than.

tôi kể rằng tôi đã đứng rất lâu dưới trời cao rộng
đợi hồi chuông mở lối tới vô cùng
này bàn tay đã cho đời tháng năm nằm mộng
còn gì tôi nói nữa không?

Nguyễn Quang Tấn

BUỒN MÂY…

trời làm nên nỗi xa xôi
để buồn
mây
mãi vào đôi mắt nằm
để tim buốt nhức vết dằm
để nhung nhớ rất đỗi đằm thắm sông

**
nhớ nhung rất đỗi màu đông
cái màu hiu hắt ngàn thông reo chờ
buồn
mây
cũng thế thẫn thờ
theo bên người ngẩn ngơ bờ chiều tây

**
bên người nghe gió mùa vây
nghe tà huy buổi về gầy hư hao
nghe hoàng hôn phiến lao xao
buồn
mây
lá rụng tự bao giờ dòng

**
buồn
mây
bóng nước mê ròng
vàng phơi mấy độ cho lòng sầu giăng
khuya đêm lạnh quá tàn trăng
soi chi nữa lệ cát đằng khóe mưa

**
cát đằng lệ khóc gì thưa
buồn
mây
viễn xứ tóc xưa trắng đầu
sợi thơm thiên lý hương rầu
lên tay ngón thắp khói sầu đời trôi

**
khói sầu sợi lặng lẽ môi
phù vân lỡ hẹn mộng rồi
buồn
mây…

Phạm Hiền Mây

Một Bữa Tao Phùng

Bạn bè lâu mới gặp, tay bắt và mặt mừng…rồi khói thuốc thơm lừng, rồi cà phê thơm ngát, rồi những chuyện xà bát…nội dung là Có, Không…Chừ mới thấy Tây Đông chỉ là vòng số phận…chỉ là cái vệt phấn vẽ trên tấm bảng đen / có chỗ đi mon men, có chỗ đi ào ạt…Chuyện gì cũng xà bát! Trôi giạt là…đại dương!

Bạn bè gặp ít thương / mà tại sao nhiều nhớ? Có người xưa không ngó, nay ngó thấy…không ngờ. Tất cả chỉ là mơ / như gió đùa ngọn cỏ / kìa, góc rào, con thỏ…hiện ra mấy nụ hoa / giữa đất trời bao la / chúng ta từng giữa gió / chúng ta từng đây, đó…chúng ta từng giữa mưa / chúng ta có ai ngờ: tại sao mình còn sống? Ly cà phê còn nóng, uống đi mấy ông trời…

Ôi ha hả tiếng cười…
Ôi ngậm ngùi câu nói…
Quá khứ là dĩa gỏi
Cầm đũa hất nó đi…

*
Không ai nhắc ngày về…mà về đâu? Mai? Mốt? Đã qua thời hoảng hốt…bây giờ, thời ngẩn ngơ! Nghĩ đến cái bình tro, nghĩ mình là tro bụi, nghĩ đến câu “nên nỗi” / mở đầu Chinh Phụ Ngâm / gió mát và đêm trăng / ù ù hồn tử sĩ…Mới mà hai Thế Kỷ…và ba Thế Hệ rồi…

Gặp nhau là hạnh phúc / dù một thoáng ngả tư / dù một thoáng trong thơ. Tôi làm bài thơ mới, biết không ai mong mỏi, cũng không còn báo đăng, in thành tập…đem quăng / vào biết bao thùng rác!

Thuốc ngon mấy cũng nhạt…Ngày vui mấy cũng tàn…Để lại đó cái bàn, chia tay vin thành ghế…

Trần Vấn Lệ

SÀI GÒN MÙA NOEL, TỪ KHU PHỐ GIÀU ĐẾN CON HẺM NGHÈO

1.
Hằng năm, cứ khi khí trời chợt se lạnh, vào sáng sớm vài khi còn có những làn sương mỏng lãng đãng ngoài đường phố, nguời dân Sài Gòn không khỏi chợt nhớ “Noel đến rồi!”. Nhiều ngõ ngách, phố phường ‘Hòn ngọc Viễn Đông’- như mỹ danh thật xưa mà người Pháp đã trìu mến đặt cho thủ đô cũ của Việt Nam – bắt đầu có vẻ đổi khác, sinh động hẳn lên bởi việc chuẩn bị đón mừng mùa Giáng sinh, cũng là đón năm dương lịch mới.
Hướng về lễ Giáng sinh sớm nhất vẫn là giới kinh doanh, buôn bán. Mới khoảng tháng 11, từ vùng Sài Gòn đến vùng Chợ Lớn đã đồng loạt đỏ thắm sắc màu của thiệp mừng và đồ trang trí Noel 2018 cùng Năm Mới 2019. Riêng những khu phố xá giàu có như trung tâm Quận 1, dù năm nay nhà thờ Đức Bà tạm đóng cửa để sửa chữa nhưng đường Đồng Khởi (Tự Do cũ), như các năm qua, lại cũng lối trang trí đèn L.E.A.D sáng nhấp nháy giăng lên khắp những hàng cây trên vỉa hè, tạo nên một khung cảnh đẹp huyền ảo vào ban đêm. Các mặt tiền, cả những ô cửa sổ trên lầu một số khách sạn, nhà hàng được thiết kế thành những bức ảnh động của các chú người tuyết mang trên tay những thông điệp mừng Giáng sinh. Riêng những đại sảnh của các trung tâm thương mại, khách sạn lớn, như: Vincom Center Đồng Khởi, Oscar, Sheraton Saigon, Caravelle, … thì mùa Noel/Tết Tây nào cũng được trang trí vô cùng lộng lẫy, tráng lệ.
Sài Gòn còn có một địa điểm vui chơi nữa cũng rất náo nhiệt, được nhiều người chấm là địa điểm đẹp nhất Sài Gòn để chụp ảnh vào mùa Noel – đó là khu mặt tiền cao ốc Diamond Plaza, kéo dài đến góc ngã tư Lê Duẩn – Phạm Ngọc Thạch (Q.1). Năm nào ở đây cũng có tượng Ông già Noel khá lớn cùng cỗ xe tuần lộc thật rộng rãi cho trẻ em lên ngồi chơi cùng các mô hình trang trí độc đáo, sắc màu rực rỡ, như những hộp quà khổng lồ màu vàng nhũ, những cây kẹo ba-ton 2 màu đỏ/trắng, các chú lính chì và bong bóng màu đỏ, vài bãi tuyết trắng tinh…
Để đón mừng ngày Chúa giáng sinh, giới kinh doanh, mại bản ở Sài Gòn đã sớm chưng dọn cơ ngơi một cách hào nhoáng, có qui mô rình rang, tốn kém đến thế, còn các ‘nhà của Chúa’ tức các nhà thờ thì sao? Từ các tháng cận Noel, những nghệ nhân và thợ tô làm việc ở các tiệm chuyên tô đắp tượng Chúa và các thánh ở khu Chợ Ga (phường 9 Phú Nhuận) đã phải tăng tốc, thậm chí làm cả ban đêm, để kịp hoàn thành những pho tượng mới hay chỉnh trang cho xong số tượng cũ mà một số nhà thờ đã đặt làm và muốn khánh thành tượng mới hay dựng tượng trở lại chỗ cũ nhất định phải vào trước ngày 24 -12. Một số nhà thờ khác, như nhà thờ Gò Vấp (ở phường 4), nhà thờ Bác Ái (gần chợ Cây Quéo, quận Bình Thạnh)…, còn nhờ các anh em thợ tô tượng đem đồ nghề đến để làm mới lại toàn bộ số tượng bày trong thánh đường và khuôn viên.
Ở Quận 1, nổi tiếng lớn nhất, đẹp nhất vốn có hai nhà thờ cùng một kiểu mẫu thì năm nay nhà thờ Đức Bà đã tạm đóng cửa, còn lại nhà thờ Tân Định. Thánh đường khánh thành năm 1876 (tức là công trình kiến trúc Thiên Chúa giáo được xây dựng sớm nhất ở Sài Gòn) này năm nào cũng hoàn tất việc giăng đèn, sao và bày hang đá Bê-lem rất sớm.Với màu hồng đặc trưng (nhà thờ được sơn lại hết bên ngoài, bên trong hồi năm 2000) và tháp chuông cao vút, nhà thờ Tân Định luôn nổi bật trên nền trời xanh thẳm, trông càng đẹp mắt hơn vào mùa Noel. Hơn thế, khi còn hơn 1 tháng nữa là tới lễ Giáng Sinh, phố Tân Định đã nhộn nhịp hẳn lên với các cửa hiệu chuyên buôn bán hàng hàng trí Noel nằm dọc theo đường Hai Bà Trưng và đường Võ Thị Sáu.

2.
Tất nhiên, Sài Gòn không chỉ toàn là phố xá sang trọng, giàu có như quang cảnh sinh hoạt của riêng những khu kinh doanh, thương mại bề thế, hoành tráng tọa lạc tập trung nơi các quận trung tâm thành phố là quận 1, quận 3 hay quận 5, cũng như bộ mặt lễ hội Giáng sinh hằng năm của Sài Gòn không phải chỉ được biểu trưng bởi muôn đèn, sao lộng lẫy, những cây thông nhũ bạc cao ngất, những hang đá đồ sộ… được đem trang trí riêng cho những tòa cao ốc, trung tâm thương mại, khách sạn, nhà hàng hay các nhà thờ lớn. Ở những quận ven hay vùng ngoại ô, trong những xóm dân lao động, khu phố đông người nghèo và người nhập cư cơ khổ, bằng những cách khiêm tốn hơn rất nhiều, người Sài Gòn lớp nghèo hoặc ít khá giã vẫn đón mừng ngày Chúa ra đời.
Càng gần đến Noel, tại nhà các gia đình giáo dân càng bận rộn việc chuẩn bị đón Giáng sinh, kể cả một số gia đình theo đạo khác cũng tham gia ‘chơi Noel’ cho vui nhà, vui cửa. Ở nhiều gia đình, để tiết kiệm tiền mua đồ mới, những hang đá, dây đèn L.E.A.D, ngôi sao, cây thông nhựa, bộ trái châu, dây kim tuyến.v.v…, đã được chủ nhà dọn cất sau mùa Noel năm ngoái lại được lấy ra, đem phủi bụi, lau rửa, uốn chỉnh…, nghĩa là ‘tân trang’ lại cho thẳng thớm, đẹp đẽ để bày ra phòng khách.
Như ở gần nơi những người thợ tô tượng sinh sống, làm ăn ở phường 9 Phú Nhuận là khu chợ Ga, có một con hẽm nhỏ hẹp gọi là ‘hẽm 112 đường Hồ Văn Huê’ mà từ xa xưa, về sống tại hẽm có những gia đình theo đạo, họp thành giáo họ Phê rô (thuộc giáo xứ Phát Diệm). Với gốc gác chung là người Bắc di cư lớp nghèo, vào năm 1971 ban điều hành giáo họ đã cố gắng kêu gọi mỗi nhà anh chị em hùn góp chút công, chút của và dần hồi xây được một đài Đức Mẹ Fatima giản dị, mộc mạc ở một quãng trống giữa con hẽm. Đến năm 2001, đài được trùng tu cho khang trang hơn. Không bỏ sót mùa Giáng sinh năm nào, cứ vào khoảng các ngày 10 – 15 tháng 12, mỗi nhà lại hùn chút ít và công cán cũng do người trong giáo họ góp vào để cùng sửa sang, quét sơn mới, trang trí cho đài Đức Mẹ. Giáo họ còn làm thêm một hang đá nho nhỏ, có đầy đủ Chúa hài đồng, Đức Mẹ, thánh Giuse, ba vua, dê, cừu… dưới chân đài, và giăng đèn dọc theo con hẽm ra đến đường Hồ Văn Huê. Tối đến, khi các dây đèn trên đài Đức Mẹ, trong hang đá và dọc dài theo hẽm được mở sáng đồng loạt, cửa nẻo nhà nhà đều rộng mở, mọi người trò chuyện rôm rả, tách trà, chén nước mời nhau trong tiếng cười, tiếng nói…
Sự đồng tâm nhất trí để cùng làm chút công đức hướng về ngày Chúa ra đời của một cộng đồng giáo dân ‘ngỏ hẽm’ kiểu giáo họ Phê rô nói trên cũng được tìm thấy trong con hẽm số 48 đường Lê Lợi, quận Gò Vấp. Một đài Đức Mẹ Mân Côi đã được dựng lên thật trang trọng, tươi tắn như một vườn hoa nhỏ ở một khúc quanh trong hẽm là do anh chị em thuộc giáo xứ Sao Mai (hiện nay gọi là giáo xứ Gò Vầp) góp công sức mà thành. Ngoài việc thường xuyên quét tước, thay hoa tươi và dọn tro bát hương thờ Đức Mẹ, cứ vào mùa Giáng sinh là giáo dân ngụ trong hẽm 48 lại cùng nhau làm hang đá, giăng đèn và treo các ngôi sao cỡ lớn để trang hoàng cho đài Đức Mẹ thật đẹp đẽ. Năm nay, đến cận ngày 24, có người nêu ý kiến là dưới chân bệ tượng, tấm đồng khắc dòng chữ “Ave Maria” đã bị ố vàng bởi mưa nắng thì bà con tán thành thay luôn bằng một tấm bảng mới sáng choang…

PHẠM NGA

CHO HẾT THỜI LÃNG MẠN

CHO HẾT THỜI LÃNG MẠN,

Ta lãng mạn cho hết thời lãng mạn
Vẽ chân dung mình lên những củ khoai
Ta lãng mạn cho hết đời bĩ vận
Thơ về đâu quang gánh ở phương đoài

Ta cháy hết một thời đốt sách
Về U minh thương ngập đất da phèn
Những đời sông chảy về nơi tận ngạch
Ngó lục bình thêm lạ mà như quen

Thơ muốn viết trăm lần lên lãng mạn
Bởi nghiên sầu mực cạn buổi tan binh
Tô trăm nét cũng có lần ngộ nhận
Vẽ tự do lên da thịt thanh bình

Như biển cạn đá hát lời từ tạ
Đường chim bay nông nổi những cánh buồm
Đường mây bay thong thả những cánh chuồn
Em chỉ đẹp tóc em thề thắt bín

Ta ngờ rằng về thương lại hôm qua
Ta ngờ rằng cho hết thời lãng mạn!

TA VỀ..

Ta về tắm giặt sau mưa bão
Gió chướng treo lên những ngọn bần
Lẩn trong ao nước mùi phèn cũ
Có trên miếng vá chỉ cơ hàn

Ta về trên chiếc xuồng lẻ loi
Rê trong con nước dầy lục bình
Ở xa chút nắng ngang tàu lá
Bìm bịp râm ran nghe nát lòng

Ta về nghe con sông vắng lặng
Mới hay tháng chạp lạnh đang về
Ta về trong đáy ly rượu cặn
Uống hết thời từ buổi sơn khê

Ta về nghe hồng đào rơi rụng
Bầy trảo kêu quanh quất ổi xiêm
Quài chuối sau hè gà ai nhặt
Những buồng cau già trầu ai têm

Ta về kể chuyện đời nguyên thủy
Với bo bo độn, chén gáo dừa
Uống nước sông vo trong chum bể
Tối nằm không sót chuyện thời xưa

Chuyện đời có gì đâu để kể
Ta về tựa những nhát dao thâm
Dung tâm trầm mình sau thân thế
Màu da vàng tì vết thương hăm

Ta về nghe chút buồn xơ xác..
Hàng mía cuối năm đã trổ cờ
Quanh đi quẩn lại còn gì khác
Ta về niệm lại với xác xơ.

Hoa Nguyên

CHÚT TÌNH RIÊNG

NGỘ và KHÔNG…

Hai thằng – mấy chục năm mới gặp lại
Già khú rồi mà vẫn gọi mầy, tao
Mầy vẫn vậy – cái nhếch môi cố hữu
Nụ cười điêu khinh khỉnh của năm nào

Nghèo kiết xác mà tưởng mình cao thủ
Nhìn vòng đời như một bóng huyền không
Đầu triết học – tối, ngày chơi với rượu
Cầm phất trần làm một đạo sĩ ngông

Ta hoảng loạn tìm thảo am trú ẩn
Ngộ một điều là sắc tức thị không
Người hành giả của một đời lận đận
Rủ áo đứng nhìn – rúng động hư không

Ta với ngươi chẳng qua là quái vật
Cuộc viễn chinh nên mới được làm người
Rồi mai mốt đất cũng về với đất
Kết thúc hành trình một cuộc rong chơi…


CHÚT TÌNH RIÊNG…

Ồ…không – Ta vẫn trên đồi gió
Chỉ xuống Sa giang mà hẹn thề
Người chưa về để nghe đầu gió
Hương của hoa quỳnh bay lê thê..

Ồ…không – Chén rượu ta vừa rót
Nhỏ xuống thành thơ để hẹn thề
Người chưa về được – Trên đồi gió
Ta đã say rồi trong cơn mê….


HÌNH NHƯ MÙA ĐÔNG VỀ…

Người chưa về để cơn hồng thủy
Cuốn hết tình sầu ra biển khơi
Ta đã phơi tình trên bến cũ
Nghìn năm còn vọng tiếng mưa rơi

Đời không trang điểm khi buồn đến
Đời vốn phong trần cho nhớ nhau
Ta vẫn bên ta – bầu rượu nhỏ
Say mà, quên hết những cơn đau

Mùa đông – ừ nhỉ – mùa đông lạnh
Ta cuộn ta vào giấc ngủ sâu
Tỉnh ra mới thấy đời hiu quạnh
Người ở phương nào – ai biết đâu?

HỒ CHÍ BỬU