ÔN CỐ TRI TÂN


Hàng đứng: Nhà văn Lâm Chương, nhà thơ Đức Phổ.
Ngồi: Nhà văn Phạm Ngũ Yên, Hồ Đình Nghiêm, nhà thơ Triều Hoa Đại, nhà văn Nguyễn Vĩnh Long.

Người về già thường hay mang tật nhìn lui, vọng tưởng. Có thể để tiếc nuối.

Năm cùng tháng tận, giữa bàn giao chuyển dịch cũ sang mới, ta thường mượn đến bốn chữ “rêu bám” này: Ôn cố tri tân. Cố là quá khứ, tân là hiện tiền. Nhắc chuyện cũ để hiểu thêm chuyện mới. Lâu nay chưa có chữ nào thay thế? Đành lạm dụng cho giản tiện. Ôi, hán với nôm! Nói rêu bám là bởi thế.

Vì sao gọi “ông cố nội”? Cớ sao bảo “kẻ quá cố”? Tựu trung nó thay thế cho một thứ gì được xếp vào hàng cổ vật. Xưa rồi diễm là cụm từ rất đỗi tầm bậy. Năm con Heo xuất hành đúng lối hoàng đạo, thiên thời địa lợi nhân hoà nên cưa đổ được em tên Diễm tuổi tròn trăng, đang cầm tay nhau đôi uyên ương nọ hẵng phật lòng, bất bình khi nghe được. Cái gì xưa, cha nội? Diễm rạng ngời như đoá tường vi vừa bung nở trong đêm giao thừa đấy thôi, sương ướt át còn đọng, mới tinh khôi. Không cứ là tình nhân, Trịnh Công Sơn khi đón nhận, trong dạ cũng chẳng mấy vui. Bá tánh thật lắm chuyện!

Ôn cố, thường phải nương nhờ vào bộ phận mơ hồ gọi là chất xám. Người lớn tuổi ắt trí nhớ phải bị thần thời gian bào mòn đi, lu mờ dần. Nếu nó vẫn bén nhạy, linh hoạt, sung sức, thì một cha nội tuổi 80, giả dụ thế, khi buồn miệng nhắc lại, kể ra thì “mua vui cũng được một tuần”, chí ít. Đêm giao thừa ngồi bên nồi lớn dung tích chứa 80 lít nước dùng luộc bánh tét bánh chưng, đít nồi đen thui hứng đỡ ba thanh củi to đang reo vui do thần hoả kích hoạt. Rét đậm dùng dằng chịu đứng ngoài rào chớ không mon men vào được, sự ấm cúng quây quần kia đã chận đứng “âm mưu hiểm độc” của thần gió muốn bà con phải cảm hàn. Bà con vui xuân không quên nhiệm vụ bánh trái mứt món dâng cúng ông bà đã khuất, để khỏi ngủ gật, bà con vòi vĩnh tới ông cố nội: Kể chiện đi mờ, từ hồi thoát chết vụ cải cách ruộng đất đến bi chừ, ông cố thiếu cha gì biến cố đã kinh qua. Tản cư, chạy giặc, di tản… ui mười ngón tay không đủ để xoè ra đếm những kỷ niệm xám đen máu lửa.

Lửa tí tách reo phà ra làn khói nồng ấm dù đôi phần cay mắt, nước sôi trong nồi kêu lục bục. Má dặn hồi nào ba thanh củi to cháy hết bề dài còn lại than hồng thì xem như bánh vừa chín. Bánh chín mà chuyện ông cố nội vẫn còn râm rang. Thôi mày, tao hổng kể nữa đâu nhen. Đời tao toàn cả chuyện buồn, năm mới năm me nặn óc nhớ lại chuyện nào vui thì hổng có. Xui chi xui vô hậu!

Hoạt cảnh trên xảy ra “vào thuở xa xưa trên đất Thần kinh”. Giờ này chẳng biết có tồn tại? Đó là nói riêng tới dân tình ở trong nước. Chạy ra ngoài này thì mọi sự cầm bằng như nước cuốn hoa trôi, đã xôi hỏng bỏng không, chín bỏ làm mười, vắng ngắt hơn cả chùa bà Đanh ghẻ lạnh. Thốn tim, run lòng. Có phải do lẽ nọ mà mỗi độ nghe ra chữ Tết như gió thoảng qua tai thì đầu óc tự động… ôn cố tri tân. Người yếu bóng vía thì hát thầm “nhạc sến”: Mẹ ơi xuân này con vắng nhà… Mới thấy sến luôn chứa giá trị của sến. “Nếu hoa mai không nở con đâu biết xuân về hay chưa?”. Ui, nức nở thiếu đường chảy nước mắt! Bạn vin vào đâu để luận tới chữ sến? Hà cớ gì để chân đi quàng xiên? Bạn đã làm ra thức gì khiến cho thiên hạ phải “nửa hồn thương đau” tựa thế? Mình xin gọi bạn là Tám. Mình nhỏ nhẹ: Bỏ đi Tám.

Mình vào đội tuyển U-60 nhưng luôn ngồi ghế dự bị. Làm hậu vệ thì yếu việc cản phá bóng, làm trung phong thì chuyền banh chẳng ai nhận, đến khi đôn lên chân tiền đạo thì cứ sút bóng ra khung thành hoặc phạm lỗi trong vùng cấm địa. Nếu bạn chẳng am tường bộ môn túc cầu thì nói như này: Mình loay hoay xoay trở trên chiếu văn chương nhiều trận cứ mãi bị phơi áo, luôn thua lỗ mà chẳng có khi được mở tỉ số làm bàn. Đầu óc bạn “chạy” có ngon lành không chứ bộ nhớ mình rất tệ, phôi pha gần hết bao hình ảnh thơ mộng tuổi đầu xanh. Tình cờ bạn học đệ Lục đệ Ngũ xưa quắc cần câu hổm kìa hôm kia nhìn nhận ra mình, nhắc nhớ bao tuồng tích cũ mà mình cứ đực mặt ra lòng nhăn nhàu hoài nghi. Ai đứng đó lạ lùng như mới gặp, sao dang tay ôm gọi thân ái ngày xưa? Trời không nắng mây chẳng đổ mưa, hãy trách mắng về thịnh tình khô hạn. Khi “ôn cố” mà nghèo nàn kiểu đó thì không rõ “tri tân” có đậm đà?

Bữa tê bữa nhiếp mình nhìn ra tên hai người quen năm cũ, vừa gửi bài đăng trên Sáng Tạo: Nhà thơ Đức Phổ và nhà văn Nguyễn Vĩnh Long. Tự nhiên trí nhớ hao mòn vùng dậy để rục rịch làm một màn ôn cố. Cố sự là vầy, năm 2000 nhà thơ Phan Xuân Sinh ở Boston xuất bản tập thơ “Đứng Dưới Trời Đổ Nát” bèn tổ chức ngay buổi ra mắt sách, hóng được tin hành lang sẽ có lắm thân hữu bốn phương lành lặn chịu đưa đầu trần về đứng chung dưới “bầu trời” bất toàn nọ nên địa phương quân Mộng Lệ An gồm nhà thơ Luân Hoán, nhà văn Song Thao, nhà thơ Hoàng Xuân Sơn cùng mình không hẹn mà làm cuộc vượt biên mất có hơn bốn tiếng gầm rú trên xe ngốn lấy đoạn đường “an toàn xa lộ” (làm bà xã hài lòng).

Đi buổi trưa đứng bóng, tới buổi chiều còn sáng nắng hoàng hôn. Khi ghé tới nhà anh Trần Trung Đạo làm trạm trung chuyển chưa thật sự đông đủ mặt quần hào, ở đó phút đầu mình gặp Nguyễn Vĩnh Long cùng một nửa rạng ngời mặt ngọc của nhà văn. Dạo nọ Nguyễn Vĩnh Long định cư ở Carolina (?) thường gửi sáng tác đăng ở báo Văn của anh Nguyễn Xuân Hoàng. Nho nhã, hiền từ, thong dong, dáng điệu như một cậu sinh viên chưa giã từ trường ốc. Có thể Vĩnh Long là bút hiệu? Người được sinh đẻ ở thành phố Vĩnh Long nên muốn mang ơn vùng đất từng dinh dưỡng mình? Phút sơ ngộ nên chẳng tâm sự được gì nhiều, dù gì thì cả hai đã nhìn ngó ra nhau thầm lặng tỏ bày hàng tháng trên các trang giấy do Văn magazine thu giữ.

Sau chuyến đi “thực tế” ở Boston, Nguyễn Vĩnh Long có ghi lại đôi điều cảm nhận gửi đăng báo Văn, thứ tuỳ bút chất đủ một trải lòng đáng mến có nơi nhà văn tâm lành ấy. Có thể số báo nọ đã nằm trong hai thùng giấy lớn mình vui vẻ trao tặng cho người trẻ tuổi sanh sau đẻ muộn mãi mến chuộng thơ văn hải ngoại: Nguyễn Trường Trung Huy (Huy Vespa) hiện ở Sài Gòn ngăn cách (bốn phương vô sản đều là bạn văn). Nếu còn giữ hẵng mình đã giở lục nhằm chép lại, đưa lên để nhớ một kỷ niệm chừng đã “đổ nát”, phôi pha.

Bóng tối dồn về, hối thúc mọi người đến nơi sum vầy có ở một hội trường lớn. Hoạ sĩ Nguyễn Trọng Khôi làm người điều khiển chương trình, nhà văn Trần Doãn Nho lên nói về thi tập của nhân vật chính Phan Xuân Sinh. Mình ngồi ở bàn xôm tụ, nơi chật ghế chen vai thích cánh toàn những khuôn mặt “hào kiệt”: Nhà văn Lâm Chương, nhà thơ Triều Hoa Đại, nhà thơ Đức Phổ, nhà thơ Hoàng Lộc, nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng, nhà văn Nguyễn Vĩnh Long, nhà văn Lương Thư Trung (Hai Trầu)… Ai đó đã điểm danh mang tật kiểm kê vùng miền: Riêng xứ Huế đếm ra được hai chàng, HĐN và Đức Phổ.

Đức Phổ tửu lượng cao, anh uống “tì tì” cho tàn năm canh cũng “ba say chưa chai”. Những ai tiếp cận lần đầu với vị sĩ quan Hải Quân ngày cũ này đều có chung một nhận định: Hiền từ. Thích cười hơn nói. Có nghĩa là nghe bạn vung vít nhặng xị, nhà thơ Đức Phổ chẳng lấy đó làm điều, chỉ bày vành môi cười không tròn nụ. Thơ anh làm cũng vậy, một biểu tỏ thường đằm thắm, nhỏ nhẹ, nói ít hiểu nhiều. Một chắt lọc đầy sâu lắng. Ít ra thì mình quá vui khi được ngồi bên Huế mềnh, thứ lầu son gác tía nay thành “nền cũ lâu đài bóng tịch dương”. Ngồi bên nhau buổi ấy, có thể mình vô tâm không hay biết nhà Sông Thu đã xuất bản cho anh thi tập “Một Chỗ Về”. Hai năm sau, (2002) được biết tạp chí Văn ở Cali đứng tên xuất bản tác phẩm thứ nhì mang tên “Mùa Tình, Xin Kịp Gặt”.

Giống như thành phố mang tên Vĩnh Long, Đức Phổ là một huyện thuộc tỉnh Quảng Ngãi. Vậy thì danh từ riêng Đức Phổ khoác thân nơi nhà thơ hiền lành ít ăn ít nói chánh quán người Huế này e có ẩn chứa một sự tình khác lạ chăng? Mới đây nhà thơ nhắc lại đôi lần anh từ Atlanta thuộc bang Georgia sang thăm Montréal gặp gỡ quàng vai nhau đi uống cà phê sau những cuộc rượu, mới giật mình hay ra mới đó mà dòng chảy cuộc sống tha phương đã mười mấy năm chìm trôi trong tịch lặng. Đôi lúc chạnh lòng phải mượn lời Trịnh Công Sơn ra để hát thầm “Này nhân gian có nghe đời nghiêng”. Mình xin lấy tạm một bài thơ trong muôn ngàn bài (từng có thơ đăng báo ở Sài Gòn thập niên 1970) của anh Đức Phổ, bài” Gửi Tình Theo Quê” mà mình từng mặn nồng, sau đây:

Sáng nay giống sáng hôm qua
thức dậy. ngồi ngóng xa xa quê tình.
ngóng tin em đến đầu đình
hẹn trăng ngàn núi. hẹn anh phương trời.

mắt buồn theo ngọn lá rơi
thương người xuống vực. lên đồi vẫn thương.
nói chi đời. cuộc vô thường
tử sinh. còn mất. tròn vuông… cũng đành.

em đâu hiểu được ngọn ngành
cuộc ly tan ấy đã thành di căn.
mốt mai dù mãn căn phần
tình thiên thu. vẫn ngàn năm không rời.

sáng nay ngồi ngắm mưa rơi
nguồn cơn nào đã khiến xui bọt bèo.
mây ngang đầu ải lưng đèo
có hay tình đã về theo quê tình.

Đức Phổ

Sáng nay ôn cố tri tân, mình nghe tiếng động lần khân vọng về. Vĩnh Long hề, Đức Phổ hề! Hai nơi kia đã tứ bề mây che. Còn chăng nước chảy lũng khe, hai nhân diện cũ vừa le lói bày. Người xưa dấu mặt độ rày, tri tân năm mới đến vầy cuộc chơi.

Mong sức khoẻ đến với bạn văn, tha thứ nếu trí nhớ mình đã chịu qua định luật nước chảy đá mòn. Chúng ta nay đã tựa nắng quái bên đèo cho nên còn trao được chữ tình với tha nhân là chuyện đáng xiển dương. Hy vọng được đón đọc tiếp các sáng tác của nhị vị. Và như vậy, mai hậu thật dễ cho mình khi muốn vọng động “ôn cố tri tân”. Xa xưa cho đến tận giờ, mình vẫn mang ơn Bùi Giáng:

Giờ đứng lại là bây giờ rất lạ
Là bao giờ từ buổi lạc tin hoa
Nhầm bóng nguyệt là sầu đau khôn tả
Phút trùng lai là ngó vội nhau và…

Hồ Đình Nghiêm

Advertisements

MƯA BAY NGÀY TẾT

O tròn như quả trứng gà. Không, o không tròn, o mỏng người ốm nhom. Ô thời đội mũ ơ thì thêm râu. O không có râu, dĩ nhiên. O không có mũ, o chỉ đội chiếc nón lá cũ chẳng đọc rõ bài thơ dấu che. O cắp cái bị lát lỏng lẻo, thứ hành trang nhẹ hẫng dù trước đó o run tay nhét vội vào hai bộ áo quần Mạ may cho.

O đi ba bước ra vuông sân ngập nắng, nghĩ sao o quay lui, lạc hồn như để quên bên hiên nhà một vật hệ trọng. O quì gối cho ngang tầm đứng nghệch mặt của thằng người gỗ. Chị đi hí, em ở nhà mạnh giỏi. Mắt o đỏ, lấy tay áo lau vội bên ngoài con ngươi sầu muộn. O có chiếc khăn tay thêu chỉ hồng một cánh én đang bay ở góc, nhưng nó lỡ thế cái bóp để cuốn chặt những tờ giấy bạc Việt Nam Cộng Hoà in hình Lê Văn Duyệt, Quang Trung. O nhét đồng tiền liền khúc ruột ở lưng quần, sợi giây thun luồn vào làm thắt lưng có hơi chặt chịa khiến da quanh bụng o phải chịu hằn dấu, y như có con rết nhiều chân ửng đỏ bám chặt, không rời. O ôm lấy thân tôi phỗng đá dại khờ. Ngực o rung động, chễnh mảng để lộ phần da thịt làm tôn tạo vẻ đẹp nơi sợi giây chuyền bằng vàng có luồn vào miếng ngọc Phật bà Quan Âm mà Mạ tôi dùng làm món quà trao trước phút tiễn biệt. Em đừng buồn nghe. Miếng ngọc xanh lên nước, giọng o cũng úng nước khiến mắt tôi ướt át. Một khúc củi mục vướng mắc bên con nước chảy xiết, xuôi đổ về hạ lưu.

Mạ tôi từng nói: Hắn còn dại ngỗ lắm, tiếng là 16 rồi nhưng thậm thụt có biết chi mô, rứa chơ cũng bày đặt đi lấy chồng như thiên hạ. Ở ngoài làng tình hình loạn lạc bom đạn tơi bời, nói dại miệng điệu ni chẳng chừng hết còn ngó ra nhau. Làng quê o ở xa, o thủ thỉ bên tai tôi: Chị đi đò nửa ngày quá giang rồi lên bờ bắt xe đi tới chạng vạng mới đụng đầu luỹ tre xanh. Tâm tình nhỏ xíu rứa mà Mạ tôi nghe được: Cái con ăn nói mới lạ, ưa nhảy lò cò bỏ băng, mi phải đội nắng đi qua một cánh đồng cát trắng nổ con ngươi, băng ngang một đồi sim, hết một bãi tha ma còi cọc mới đặt chân vô làng. Luỹ tre xanh mọc ở chỗ mô? Được trớn, Mạ tôi vây khốn: Rứa mi đã thấy mặt hắn chưa? Vẫn nắm lấy đôi bàn tay tôi, o ấp úng: Dạ chưa, mặt ngang mặt dọc ra răng con chưa từng chộ qua. Nghe ba con nói anh là địa phương quân, củ mỉ cù mì thiệt thà như đếm, ít ăn ít nói sáng tối chỉ biết súng là vợ đạn là con. Mạ tôi phán: Cả gan! O thưa: Dạ nhờ trời.

O sẽ lấy chồng, o sắp bỏ tôi đi mất biệt. Tôi ghét những chữ như người ở đợ, đầy tớ, con sen, vú nuôi… Trước sau o vẫn là người chị thân thuộc sớm tối kề cận tôi, van lơn tôi ăn cơm lạy lục tôi đi tắm. O biết dấu những món ngon dưới đáy chén cơm để tôi oà vỡ tiếng cười hiếm muộn. O thức canh khuya để kể chuyện đời xưa, o sẵn sàng dẹp hết mọi công chuyện để lấy kim chỉ may vá áo quần tôi lỡ gây tai nạn toạc rách. Và o độ lượng chẳng la hét khi tôi bất chợt ngó ra cảnh o thay đổi xiêm y lụa là da thịt ngời sáng. Sao người o luôn biết thu cất một bí mật để biến nó thành một hấp lực khôn nguôi. Căn bản, đó là những khác biệt rạng rỡ mà con trai tuyệt không sở hữu được. Và tôi đang hụt hẫng ngó dáng o mờ xa. Tôi khóc mà o không nhìn nhận. Tôi buồn chạnh lòng mà chẳng ai hay.

Có dạo anh tôi, người đóng vai gia sư quyền huynh thế phụ đã khiển trách khi nhìn ra bài luận văn “đầy sai lạc” của tôi với bút mực đỏ mà cô giáo khó tính phê: Lạc đề. “Hãy tả một người em thương yêu và trình bày những cảm nhận của em về người đó”. Có buồn cười không khi tôi đã sa đà đem hình bóng o ra để thêu dệt mộng mơ? Dạ thưa cô, dạ thưa anh, rứa em bị lạc đề ở chỗ mô? Một người từng kề cận mình, ăn cùng mâm ngủ cùng chiếu, bất kể người đó đóng vai vế gì, không khiến lòng dạ mình đâm quyến luyến sao? Thương yêu có năm bảy đường và đường nào cũng đáng trân trọng nếu người ta còn biết mang tâm tưởng để nói ra đôi lời ngợi ca chân tình.

Dần dà theo năm tháng lớn khôn tôi đã bội bạc quên bẵng o. Trí nhớ như một bến nước cứ mãi bị phù sa lấp đầy, biến dạng. Sự phủ lấp chẳng cưỡng lại được khiến mỗi hồi ức tựa công dã tràng khi muốn gợn đục khơi trong. Mù mờ một nhân ảnh, một bờ vai gầy, một đầu tóc rối, một đôi vú nhỏ, một tượng ngọc xanh biết nhảy múa, một giọng nói thiết tha, một vỗ về đêm hôm trái gió trở trời, một… cơn gió thoảng. Lau sậy ven sông xao động, xác xơ, ngớ ngẫng trông theo dòng nước đục trôi băng, nhấn chìm một khoảng trời xanh đầy an lành thuở niên thiếu.

Bạn học cùng tôi dạo ấy đa số đều chóng trưởng thành, chúng chai mặt lì lợm đi ve gái, chúng biết nhín tiền quà sáng để mua thuốc hút sành điệu thổi khói vòng tròn xuống mặt bàn thành hình tim vỡ, chúng ưa ngồi ở quán cà phê mặt đăm chiêu suốt buổi. Chúng hát theo bản nhạc phổ thơ Nguyễn Tất Nhiên vừa trổi lên:..”thi hỏng tú tài ta đợi ngày đi…”. Chúng lập ngôn một câu nghe chẳng mấy thuyết phục: Học tài thi phận. Và đứa nào cũng rất tin chuyện dị đoan, chúng nhất quyết ngó lơ quán bún bò mụ Rớt để đổ xuôi tìm tới quán mụ Đỏ chuyên trị bánh bèo bánh bột lọc bánh nậm. Chúng không ăn chè nhãn bọc hạt sen, chè bắp mà lựa toàn chè có dính tới chữ đậu. Đậu xanh đậu đỏ đậu ván đậu ngự. Mười thằng như chục sợ thi hỏng tú tài, sợ vào quân trường sợ xa kiếp sách đèn và sợ xa người yêu “đau lòng ta muốn khóc”. Trong mười thằng, có thằng mết tôi nhất để rồi hắn không ngớt nhồi nhét vào đầu tôi một thứ lập luận rất đỗi phản động: Hai đứa mình phải để dành tiền để làm cuộc cách mạng bản thân. Mi biết không, đi chơi đĩ là một cách xả xui linh nghiệm nhất. Sắp tới ngày thi rồi, gạo bài hoài cũng phờ râu, đợi một đêm trăng thanh gió mát tau dắt mi chui vô động hoa, chuẩn bị tinh thần là vừa đó mi. Đôi ba bữa sau, cóp nhặt nguồn tin thất thiệt nào về, hắn to nhỏ: Mi phải mở con mắt ra dòm chừng, con gái mà chỗ chết người kia không có mọc tóc thì liệu kiếm cớ bai bãi khước từ, dính vô là xui tận mạng đó nghe mi. Bao nhiêu kinh sách bài vở mãi tụng tự nhiên mất sạch sành sanh, đã thuộc nhừ như cháo bỗng trở chứng biến thành miếng cơm cháy cạy hoài không ra, thi hỏng là cái chắc, không lôi thôi trời ơi đất hỡi than thân trách phận gì ráo trọi. Hắn không cảnh báo an toàn bệnh tật chấn thương giang mai hoa liễu mà một hai cứ vẽ vời chuyện râu ria trắng da dài tóc.

Đêm nọ, trời chẳng trăng thanh gió mát, nực nội và đen tối là đằng khác, hắn tới trước cổng chỏ mỏ vào hú lên tiếng ám hiệu nghe như mèo gào khẩn thiết. Cơm nước chi chưa, thời cơ đã tới, leo lên yên tau đèo đi. Hắn nói, tau vừa giải một phương trình toán học và kết quả cho ra, đúng ngày tháng này sẽ rất thuận lợi nếu muốn hoán chuyển dạng thức từ con trai ra đàn ông. Đừng lo, chắc chắn tụi mình sẽ thi đậu, cho dù chỉ vừa đủ điểm để đậu vớt. Tuy là xe đạp nhưng vận tốc có thể sánh ngang với xe gắn máy, điều này xác quyết chuyện hệ trọng: hắn phấn chấn đặt để niềm tin vào việc xả xui, sớm mong thoát xác. Hắn quên chuyện hệ trọng khác: dồn hết năng lượng vào cặp giò để đạp toé khói, liệu kẻ đó có bủn rủn tay chân? Trong khi tìm tới động hoa, “sụm bà chè” là chữ tuyệt đố kỵ, chưa đánh đã vội nghe mỏi gối chồn chân e đành kíp cởi giáp quy hàng. Hắn thở hổn hển, giờ ni có hơi sớm, nhưng phàm làm việc vụng trộm chớ nên đợi giờ cao điểm. Đông đúc chộn rộn vốn không thích hợp cho bọn mình.

Xe chui vô động hoa, hắn run tay khoá chiếc xe đạp đang muốn trật cóc sút dây sên bên giàn hoa thiên lý. Khung cửa hắt ra sân đất một hình khối xanh lét ánh điện néon. Tuy được đèo chở chẳng nhọc sức nhưng tôi nghe rõ vía mình đang yếu, hoang mang lo ngại. Mùi hoa thiên lý nồng nàn quá chừng, sao xông hương mùi ma quái liêu trai? Rụt rè bước qua khỏi ngạch cửa thì đụng đầu một người đàn bà, chắc đúng là bà Tám chủ động như lời thằng bạn sớm thông tin. Đứa vẽ đường cho hươu chạy thì thầm trình bày lý do sự hiện diện và tôi hoàn toàn xuội lơ giao trứng cho ác. Đã trót leo lên lưng cọp thì việc duy nhất cần tuân thủ là ngồi im re chớ vọng động. Hãy nhủ thầm, qua khỏi cánh rừng hoang dại cọp sẽ vất ta xuống, chẳng đoái hoài xơi mạng con cáy đang niệm thầm tội lỗi tội lỗi.

Sau cùng thì nghe giọng bà Tám trầm bổng: Có hai em ni dáng người thanh cảnh tuổi đời chưa trải e hợp tạng với hai cậu nho sinh. Bước vô mà chẳng hùng hổ bặm trợn thì tui cũng biết lựa ra đối tượng nhu mì đặng vui vầy cho êm thắm canh khuya. Phàm việc đời bất luận nói tới việc mua sắm thì nên đặt tiêu chí tiền trao cháo múc để sau đó được thuận buồm xuôi gió. Học trò học bè tiền bạc không có mấy hột, tui quyết công bằng chẳng đành tâm chặt chém. Con Mộng con Tiên mô rồi, đi ra cho hai cậu coi mặt. Tấm màn vải được vén lên, giống như trên sân khấu từ cánh gà bất thần vụt hiện hai nhân vật chính chuẩn bị diễn tuồng. Thằng bạn dạn dĩ nắm tay lôi đi cô gái vóc vạc đẫy đà, kẻ còn lại mình hạc xương mai ít thịt thà đưa mắt ngó chăm tôi. Đôi mắt buồn, đôi mắt của kẻ luôn chịu thiệt thòi, đôi mắt của kẻ đầu hàng số phận. Đôi mắt biết nói thầm: Cha mẹ sanh em trời bắt xấu. Đôi mắt không biết nhắm trong phút giây, cô mãi nhìn tôi như thể kiếm xem trên dung mạo kia ẩn chứa chút gì quen thuộc. Cô cười với tôi, không cứ là môi, hai mắt cũng biết cười. Đã tới đây sao còn làm bộ làm tịch, vô trong này đi, có ai ăn thịt anh đâu mà phải điếng hồn. Coi cái mặt kìa. Lần đầu tiên hả? Không biết là Mộng hay Tiên? Tiên hay Mộng đã nắm tay dìu tôi vào một địa phận của trần gian tù mù, và chật hẹp. Chỉ có chiếc giường nhỏ nằm cô quạnh, duy mình nó bị vây khốn giữa bốn bức vách gỗ, ngạt thở.

Như một người luôn thực thi đúng với châm ngôn “thời giờ là vàng bạc”, chẳng nói chẳng rằng cô trút bỏ toàn bộ áo quần chỉ trong một sát na. Sát na sau là Tiên là Mộng nằm xuống giường với một chân duỗi một chân co. Không cứ là môi là mắt, toàn thân trần của cô dường cũng biết cười vào sự lúng túng vây bọc lấy tôi. Thôi được rồi, để em giúp cho một tay, anh cởi áo em phụ cởi quần. Vạn sự khởi đầu nan, nếu đã ăn quen bén mùi thì vận sự lại đổi khác, chẳng chừng chính tay anh lột truồng em ra bất kể van lơn. Nói rứa nghe có lọt lỗ tai không? Người chi mà hiền lành, thương hết biết! Đêm hè nhưng tôi nghe lạnh, mát mẻ thì đúng hơn. Như mang vào người thứ võ công cái thế, thoắt cái, cô ảo thuật gia đã thổi biến y phục tôi bay đi. Cô dìu tôi nằm xuống. Thuỷ chung tôi vẫn là hiệp sĩ mù, nhớ lời thằng bạn từng ra thông cáo quan trọng: Hãy tập trung nhãn tuyến vào chỗ ấy, nếu nó không có tóc thì nghỉ chơi. Tôi mở lớn đồng tử, như quang khẩu có trên máy chụp hình, tự điều chỉnh khoảng cách trông sao cho rõ mười mươi vật thể được nhắm tới. Tôi thấy rõ nét vật chẳng muốn thấy: Sợi dây chuyền vàng có móc tượng Phật ngọc đong đưa tòn ten giữa trũng ngực. Quen thuộc quá. Lạ lùng quá. Đúng rồi, là của o. O, giờ này o ở đâu? Tôi nói: Tui hỏi chuyện ni chút? Người bán hoa đáp: Nếu anh ngại, em sẽ cho anh cái áo mưa. Tôi thưa: Tui muốn biết vì răng mà cô có được sợi dây chuyền ni? Cô gái áng chừng nhỏ thua tôi năm bảy tuổi nói giọng đàn chị: Cắc cớ, lộn xộn, nhiều chuyện, không lo nhúc nhích cho sướng thân mà đè chuyện tào lao ra hỏi. Nếu tui muốn mua thì cô tính răng? Tầm bậy, nó vô giá, không đủ tiền mua đâu. Vật gia bảo à? Ừ, của mạ tui cho, đã thoả mãn chưa?

Tôi ngó sâu vào mặt đứa con o để mong thấy lại o ngày cũ. Tôi dùng tay vuốt lại những sợi tóc rối vướng che và với tất cả những động thái nhằm biểu lộ lòng thương yêu, tôi kể cho cô ấy nghe chuyện ngày cũ, về xuất xứ sợi dây chuyền, về nguyên cớ o bỏ căn nhà tôi ở để về làng lập thân. Mạ em chết như rứa là đã bốn năm rồi, nhà cửa sa sút lắm… Tôi ngó giọt nước mắt chẳng tượng hình nằm lấp ló bên khoé, chẳng cầm lòng tôi ôm siết lấy thân cô.

Năm đó, cả hai đứa chúng tôi đều thi đậu, dò thấy tên họ in trên tờ giấy niêm yết trước cổng trường có lắm đứa chen chân. Phải đi ăn mừng, hắn nói. Đã qua truông lọt thì thôi kiêng cử, tà tà tấp vô quán mụ Rớt quất hai tô bún bò danh trấn giang hồ, nhớ bỏ ớt cho nhiều vào, cay thấu trời cho nước mắt trào đi bao dòng lệ cảm xúc. Tôi nói cho hắn nghe, chỉ với một hậu ý, những gì người ta thêu dệt đều xằng bậy cả: Nguyễn thị Tiên, chỗ ấy không mọc tóc. Sau khi nghe hết ngọn ngành, hắn đi tới kết luận: Do đâu mà mi thi đậu? Ấy là do bởi linh hồn O nớ đã về gần, phù hộ độ trì cho mi đó thôi. Ở cuộc đời khó hiểu này, mi nên tin tới một thứ gì siêu nhiên xa ngái chẳng thể giải thích được để an lòng khi gặp vấn nạn. Nhưng mà hiện tại, thi đậu rồi chừ mi tính đơm mộng ước ngày mai ra sao? Tôi nói, tôi chỉ có duy một cơn mộng rồ dại, là làm thế nào có thật nhiều tiền để làm thay đổi cuộc sống của Tiên, mang Tiên ra khỏi vòng vây của chiếu giường. Chỉ ngần ấy thôi. Nói tôi yêu Tiên thì nghe có điên không?

Thằng bạn nhìn tôi trân tráo, có phải là hắn đang đối mặt với kẻ sống ngoài hành tinh? Cận kề, thân thiết mà cũng quá đỗi xa ngái khó hiểu. Hắn hỏi: Ăn xong mi làm chi? Tôi nhai một trái ớt hiểm, rau ráu: Tau tới động mụ Tám, tau có trình bày lý do và được mụ ấy đồng ý cho phép Tiên dắt tau đi thăm mộ O. Chỉ nhổ cỏ chỉ thắp nhang chỉ khấn vái sơ sài vậy thôi, mai hậu mới tính chuyện cúng kiến hậu tạ tri ân tưởng nhớ. Ừ, nói cũng đúng, sẵn, thưa với mụ ấy: Học trò học bè tiền bạc mô có mấy hột mà sớm tối nướng thân vào động hoa. Cái chi cũng rứa cả, tập đều đặn thì luôn tốt cho sức khoẻ: Cơm ba bát thuốc ba thang, ngày làm đêm nghỉ thầy lang khỏi mời.

Tôi vẫn nuôi mộng cuồng cho tới mùa xuân năm ấy, Tiên đổ bệnh, mời thầy lang nhưng ổng lắc đầu. Phút giây bàn giao cho tử thần, Tiên trao vào tay tôi sợi dây chuyền, Phật bà Quan Âm xanh mét màu ngọc. Ngọc mát, chừng như đá quý biết rịn nước. Tiên muốn được tôi hôn cô lần cuối, được tôi vuốt mắt cô, được chính tay tôi lấy khăn đắp mặt. Tôi ngoan dại nghe lời, mừng thầm là Tiên ra đi nhẹ nhàng, thoát khỏi cái thế giới ám chướng trì nặng. Tôi cũng nhẹ người, thoát khỏi ám ảnh đội đá vá trời quyết giúp Tiên hoàn lương.

Tết run sụt sùi, mưa suốt trên thành phố xám đục. Hai hàng cây dẫn về nghĩa trang câm lặng gục đầu rơi rụng những cánh hoa tím, nhỏ li ti. Mưa rải đều hạt xuống ngày tháng chẳng còn vẹn toàn, ngày ngắn lại đêm dài hơn hoặc đêm ngày đồng loã hoá thân thành mũi tên, cắm sâu từ O, xuyên thâu lút cán tới Tiên, đứa con gái bị đày ải xuống trần gian vắn số. Trời buồn, trời khóc? Tôi ướt nghe ngói, rùng mình.

Hồ Đình Nghiêm

ĐƯỜNG SỐ MƯỜI BẢY

(Gửi hai nhà thơ Trần Vấn Lệ Đà Lạt Cali, Nguyễn Hàn Chung Đà Nẵng Houston- nhờ nhà thơ Tôn Nữ Thu Dung Nha Trang Mỹ chuyển giúp)

“em mười sáu tuổi tôi mơ
em mười bảy tuổi hai bờ sông xanh”.

Thơ ai vậy? Dạ, của Trần Vấn Lệ. Những câu chữ như một bài kệ. Dạ, tình yêu vốn đong đầy hợp tan, phải câu nệ. Yêu ai như thể mình đang tụng chú, sân si hoặc sám hối đôi lúc là một cái thú. Thú thương đau, vô duyên chẳng ôm mâm trầu cau. Đời vốn lẫn lộn những vàng, thau. Người đi lối khác, nhạt phai mau?

Thử làm một phép tính trừ giản đơn, mười bảy nằm trên mười sáu, kết quả đẻ ra một. Không chắc đã tròn 365 ngày đêm dại khờ. Bị sao vậy? Dạ, tự dưng hai bờ sông xanh hiện tới, chia lìa. Chuyện chi rứa? Dạ, mười bảy tuổi người nớ lên đò, sang ngang.

Mười Bảy. Có sớm quá chăng? Dạ, hình như luật pháp quy định phải đủ tuổi 18 mới có quyền “xác pháo vướng gót chân”? Không biết được, đôi khi chúng ta phải đối mặt với hai chữ trái ngang hy hữu. Lại bày thêm một công thức toán (lớp đệ Ngũ đệ Tam trong tưởng tượng). Hy hữu @ Buồn + Thở Than = Nhà Thơ. Xin rộng lòng bỏ lỗi nếu đứa dốt toán bày ra thứ phương trình tầm bậy, ưa quậy. Tầm bạ, lang chạ.

Nhà thơ có lần giải thích: “Nếu mình lấy-nhau-đặng thì tôi đâu có làm thơ!” Rồi cũng có lần tự vấn: “Phải chi hồi đó tụi mình đừng nhỏ… như bây giờ, không biết đã ra sao?”. Và hồi đó, quá khứ cho tới hiện tại vẫn khẳng định: “Ai sinh em vậy làm con gái cho cõi đời này hết Mỹ Nhân?”

Lại của Trần Vấn Lệ? Dạ, nghe dễ thương cách gì! Tác giả của thi tập mới (một hai năm trước) mang cái tên cũng ngộ “Ở Chi Xa, Xa Mút Chỉ Chân Trời”. Ở tận bên Mỹ mà ngó về Đà Lạt biểu sao chân trời chẳng mút chỉ? Ở Canada cũng rứa, xêm xêm. Mờ mịt thức mây, ngó không êm. Nỗi nhớ hơn cả trái gió trở trời thấy mình rêm. Nghìn trùng chất thương yêu thêm.

Mình từng ở Đà Lạt, có mối tình đầu dại khờ ở tuổi 17. Thành ra thích mượn thơ Trần Vấn Lệ, thế tấm gương soi về tháng ngày cũ. Có chút trùng lẫn giữa mình và hình ảnh chất chứa trong dòng thơ mang mang tâm sự kia. Nếu hồi đó, biết làm thơ, đứng trước ngõ nhà nàng ở đường Phan Đình Phùng để ký gửi nỗi niềm thì có lẽ hai đứa đã lấy-nhau-đặng-thương-hoài-muôn-năm. Chữ “nếu” ngàn đời vẫn hăm he gây nhiễu sự. “Nếu” luôn còn đó để tạo dựng ra cớ: Một nửa tiếc uổng, một nửa hối hận. Ba phần ganh tị bảy phần phân trần. Nếu hồi đó mình cầm tay Hiệp (tên người như tên rạp chiếu bóng Ngọc Hiệp nằm dưới dốc Minh Mạng đầu đường Phan Đình Phùng) nói lời thề nguyền “bao giờ thác Cam Ly cạn, nước hồ Than Thở khô hạn, anh mới thôi làm bạn cùng em”. Nếu hồi đó tình hình không lem nhem, anh bình thân như vại mong làm mộc đóng con tem. Ra cầu ông Đạo lên khu Hoà Bình chỉ em xem, thông đồi Cù cứ đứng giữa trời mà reo, nào cheo leo. Hai trái tim vàng đâu thể đói meo. Nếu này nối nếu kia theo để mười bảy tuổi sớm nhận cơn gió heo may dồn về.

Thấy tóc dài đi hớt. Thợ hỏi: hớt làm sao? Trả lời: hớt thế nào mà đầu vẫn còn tóc. Chao ơi, nếu mình là thợ ắt phải mang cảm tình với ông khách lạ đời. Hiệp nói: Chăm học đi, kẻo thi hỏng tú tài phải rời cao nguyên xuống Đồng Đế Dục Mỹ làm Trung sĩ. Mình trả lời: Học yêu chưa thành thì làm sao toại chuyện khoa bảng? Gió bên đường Hai Bà Trưng làm đồng minh thổi qua, lạnh run. Hiệp cởi chiếc áo laine màu xanh bleu ủ nhiệt cho thân người tình mãi xớn xác. Mai hẳn trả. Bài thơ chưa tượng hình thốt lời đáng yêu, nếu anh cưỡng đoạt báu vật ấy liệu em có than kêu? Áo đan bằng tay nhốt giữ tất thảy những hương hoa được trồng trên hoàng triều cương thổ. Có mùi thơm nào sánh được mùi trinh nữ chăng? Ngây ngất, biết cách gì để khiến Hiệp dậm cẳng: Vật đi thay người? Đêm về ôm ấp tấm áo ngự hàn không ngủ được, hôn hít trở trăn không cách gì tả xiết. Bao sách giáo khoa lưu trữ trong bộ nhớ đều đổ biển trôi sông. Khuy nút cài lại sao nách, cổ, ngực thảy đều vừa kích, sít sao hơn quần áo đặt may ở hiệu Văn Gừng. Vô tình Hiệp cấy vào người mình một rung động: Bưng chén cơm lên mà đũa rớt hồi mô chẳng hay. Ai nói mười bảy bẻ gãy sừng trâu? Người ấy đáng bị đánh đòn. Thật dại khờ thay!

Chưa mở mắt khôn lanh được chút nào thì vân cẩu bay nát nhừ bầu trời Đà Lạt. Có thể gia đình Hiệp trốn về Sài Gòn mong tìm được lối thoát thân. Sao mình vẫn lần khân? Răng cứ thúc thủ trói chân? Yêu người lậm khiến dạ phân vân? Đi qua đa-nhim tôi kêu hồ nước mắt. Mình cải chính: Dạ, Hồ Thuỷ Lệ chính là tui đây. Gạt lệ thua buồn mình xuống núi hàng lại hàng ngó mờ mịt cảnh bể dâu. Đi xe qua cầu Đà Rằng cúi trông xuống dưới cát bồi khe khô. Điệu hò người dân Tuy Hoà nghe nẫu ruột:

Chứ bây giờ mà em ở kìa nơi đâu?
Để cho anh, anh trông đứng nửa trông ngầu, rầu canh khuya.
Chứ bây giờ em không ngó nữa em không ngàn
Lấy chồng nghèo nó cực khổ mà gian nan nó cơ hàn.

Nghèo! Tháp Nhạn cũng vắng thưa chim bay én lượn. Gặp lại người thầy cũ thiếu đường chắp tay bẩm đạo sĩ. Dép mòn vẹt xách bị lát người gầy khô như cây xương rồng bị vặt sạch gai nhọn. Căn nguyên lưu lạc thổ lộ bên đường tựa giọng cảm hoài của Cao Bá Quát: “Mười năm xuôi ngược dọ hỏi cốt tìm thanh gươm cũ. Một đời cúi đầu chỉ vái lạy trước hoa mai”. Thầy khuyên mình nên ra Đà Nẵng ở nếu còn thân nhân ngoải. Bây chừ thì thôi còn đất lành để chim đậu, tan nát những cánh hoa thời hậu loạn, nhưng chốn ấy nghiệm ra vẫn hơn chốn đây, tin thầy đi. Để xác quyết, đạo sĩ bất đắc dĩ dặm pha thêm lời “vàng ngọc” cơ hồ sao chép từ Charles Bukowski: Này, chỉ tính riêng giấc ngủ của thầy thôi, cũng đủ dài hơn quãng đời mà mi từng trải qua.

Cũng là đà, bỏ Đà Rằng, nhưng không Đà Lạt mà Đà Nẵng. Lại đâm nhớ em má đỏ môi hồng mặc áo laine xanh, sửa đổi ca dao:

Hỡi người ôm sách khoá sinh
Vợ con chưa có nên chưa thành thất gia
Ngộ tình cờ bướm mới gặp hoa
Anh mà lại gặp Hiệp hoạ là trời xây.

Vô duyên với Hiệp thì gặp Hoa. Chợ Cồn, cầu Vồng, Hùng Vương ra tuốt Bạch Đằng thì châu về hiệp phố. Mênh mông chi xứ mà chẳng dè có sợi dây vướng cẳng khiến bổ nhào cảm ơn ông Địa. Nhủ thầm lần ni chắc hẳn hoà hợp. Chánh quán cô hàng cà phê bụi thì ở tuốt trong Điện Bàn. Em mô có tự hồ người thành thị, ở trong quê đúa cơm rách ố mới lần mò roa lồm eng chỗ ni. Reng em biết được lòng doạ anh, có nên trao lời thề thốt giữa hươi đứa mình? Thì cứ thong thoả nhìn mẹt mà bắt hình dong, mình nói, lòng anh ngay thẳng ghét dối gian, y như cái lốp xe đạp thì kêu là cái láp xe độp, không thay đổi mảy may. Hoa cười: Chửi choa không bèng phoa tiếng, đừng có ở đó mà cạnh khoé khó nghe. Mình cúi đầu: Mô có, thiệt hàm oan. Hoa không biết đó thôi, ông nội bà ngoại của anh đều được sinh ra ở Cẩm Lệ quận Hoà Vang làm ăn ở Hoà Khánh. In tuồng như mình cùng xứ, chu choa ơi mình phải tự hồ được đẻ ở đất Ngũ Phụng Tề Phi đó con bạn mình ơi!

Không dưng xúi nhớ bài “Nhìn Em” của thi nhân Bùi Giáng:

Nhìn em nhìn thấy một muôn nơi
Ngó em ngó thấy một muôn trời
Nghe em thỉnh thoảng vô ngần lúc
Ngóng đất đôi phen tuyệt đối đời
Cũng thể em là tiên rất mực
Cầm bằng anh chỉ đứa điên thôi
Trùng lai thái thậm Thiên Đường cũ
Tương kiến tung hoành lệ máu rơi.

Qua êm màn phỏng vấn với tự giới thiệu lý lịch. Bà chủ rất mực rộng lòng thâu nhận nhân viên mới. Mình phụ Hoa pha cà phê chặt nước đá rửa ly tách thu dọn bàn ghế đóng khoá cửa nẻo và kiêm luôn chức vệ sĩ bảo toàn khối tài sản biết di động. Được tin tưởng giao cho giữ chìa khoá chiếc xe gắn máy để sẵn sàng chở tiên cô đi mua nhu yếu phẩm trà đường chanh thuốc lá bột cà phê hoặc mánh mung chuyện tối mật gì đó. Đất Quảng Đà chưa mưa đã thấm, hợp phong thổ nên chỉ hơn tháng mà cây si bén rễ cành lá ra rậm rạp tựa lá bồ đề. Nắm tay xong nắm chân, mới cởi áo chưa cởi quần thì giông bão ập về, gió giật liên hồi kỳ trận để cuốn phăng bao dự tính chõng cọng dơ que. Một bộ phận không nhỏ đã xông vào quán nước làm tan đàn sẩy nghé. Họ bắt Hoa đi với tội danh: Mở hàng bán cà phê chỉ nhằm làm bình phong che đậy, thực chất đây là tụ điểm nhằm liên lạc móc nối tổ chức người vượt biển. May mà họ chẳng sờ gáy mình, sẵn có xe gắn máy của Hoa mình chơi một màn tẩu vi thượng sách. Ôi, ông Bùi Giáng ơi: “Khóc em duy nhất tình đầu, đã đầy đủ quá sức người của anh”.

Hoa có trách móc mình không? Vướng vào vòng lao lý, ở trong tù chắc Hoa sẽ đối mặt với toà án lương tâm: Có nên quy kết tội danh hắn bằng bốn chữ “quất ngựa truy phong”? Cũng oan cho hắn quá, bởi thân này còn nguyên vẹn chưa bị hoen ố xẻ ra làm đôi. Nếu hén thiệt bụng thương yêu, thế nồ hén cũng đợi chờ ngày mình thoát cũi sổ lồng, nửa in gối chiếc nửa chì chiết trong ruột gan. Cho dù không mất đi sự tỉnh táo, hắn mô có tiền của để chạy chọt tìm đường dây mà gỡ rối, bị Bùi Giáng từng cảnh báo: “Trái mít ra quả sớm chiều, Đại Ca Chủ Tịch còn nhiều bận tâm”.

Có một chuyện Hoa không lường được, chính mình cũng ngỡ nằm mơ, do số phận run rủi, một đêm tối trời bên quận 3 mình đu bám được theo nhóm người lên ghe vượt biển. Kỳ lạ thay, ngày mình làm đứa phản bội tổ quốc, tờ lịch in con số 17. Sang tới Hồng Kông mất chỉ năm ngày, lịch chỉ số 22. Từ đây tôi mất Hiệp Hoa, trước thân đơn chiếc mơ hoà hợp sau.

Đà Lạt, Đà Nẵng là hai địa danh. Riêng chữ đà còn mang nghĩa là màu nâu. Người miền Trung thường nói áo lam, áo đà nhằm chỉ tới những vị tu hành khoác áo xám, nâu sòng khổ hạnh. Hoa thấy tóc dài nên đi hớt. Hỏi: Hớt làm sao? Trả lời: Hớt thế nào mà đầu trơ trụi chẳng còn tóc. Cô này nhiều chuyện quá! Sao không bảo là cạo trọc cho dễ hiểu? Khi mình sang định cư ở tệ tam quốc gia, tình cờ có một chị trước ở đường Hoàng Diệu gần Ngã Năm cho hay: Hoa ở tù đúng một năm, sau đó xuống tóc quy y cửa Phật, trú thân trong chùa nhỏ gần bãi biển Thanh Bình, mang tên mới ni cô Lãng Nghiêm.

Ở xứ người, hàng năm mình thử len lỏi đi chung vui ở những đêm liên hoan gặp gỡ các cựu học sinh Đà Lạt. Dọ hỏi cùng khắp, chẳng một ai hay cô bạn đầu đời dấu yêu: Hiệp. Khi viết ra bài hồi ức này, mình hy vọng mong manh có ngày cả Hiệp lẫn Hoa đọc thấy, chỉ để gửi theo một lòng ăn năn và xin được thứ tha. Tuổi 17 có người sang ngang vui duyên mới, có đứa vượt qua biển rộng mà lòng mang nặng một kiếp dại khờ. Cho mình cúi đầu: A di đà Phật. Tội lỗi… Hoa ngừng gõ mõ, gióng tiếp cho một tiếng chuông từ bi.

“Bây giờ sự đã tam bành
Cũng chi một chút cho đành chút chi”.
(B.G)

Hồ Đình Nghiêm
Sau lễ Tạ Ơn

CHẤU CẮN

Hình như Rilke, một nhà thơ người Tiệp, từng nói lời cực đoan: “Tôi van bạn chớ làm thơ, ngoại trừ trường hợp thiếu nó, bạn sẽ chết”. Cũng chính ông người “lạc hậu” kia viết ra câu: “Ở đâu có nguy hiểm, ở đó có cứu rỗi”.

Trước, tôi có làm dăm ba bài thơ. Nay, tôi bị đẩy lên sống ở vùng kinh tế mới. Tôi van bạn đừng dại lên đây, ngoại trừ ở thành phố người ta sắp giết bạn. Kinh tế mới là gì? Đó là cụm chữ tôi không tài nào hiểu được! Một sườn đồi tiếp giáp với Trường Sơn, bên dưới là bình nguyên lắm cây cỏ hoang dại mọc dài theo con suối thỉnh thoảng có bóng người Thượng chẳng biết từ đâu tới gánh nước, gùi con sau lưng xuống tắm hoặc giặt giũ chăn màn. Với phương tiện thô sơ, hơn hai trăm mạng người sẽ “cải tạo” cái gai góc kia, biến nó thành bình địa để bắt đầu xây nhà dựng cửa khai hoang lập ấp. Tôi là một trong sĩ số hai trăm đứa cần cù lao động, đặt dấu chân người đầu tiên ở chốn đèo heo hút gió, cách thành phố cũ 40 cây số đường chim bay. Mệt chết bỏ, thở không ra hơi. Thơ thẩn cũng bỏ tôi, đi mất biệt. Thật là chim kêu vượn hú biết nhà má đâu!

Một người có kinh nghiệm đi rừng truyền đạt “lời hay lẽ phải”: Bạn bị rắn cắn nơi nào, gần nơi đó luôn có thứ lá cây để sơ cứu chận độc. Ông ta kết luận: Trời hay ở chỗ ấy! Sinh cái này phải đẻ thêm thứ kia. Tôi nhìn ông ta, lời ông nào khác gì lời “ấm ớ” của Rilke. Và một ngày, ông trời đã không có mắt, tôi sơ ý bị rắn cắn ở dưới bắp chân, cây cỏ um tùm biết tìm đâu ra thảo dược. Buộc chặt một sợi dây vào đùi, ngăn máu chảy về tim, mặt xanh lè được hai người tốt bụng khiêng ra khỏi hiện trường, báo cáo mấy vị có thẩm quyền xin được chở xuống trạm xá nằm ngoài quốc lộ. Ở đó có hai người y tá, một bác sĩ chuyên chữa những bệnh kiết lỵ sốt rét hoặc gãy tay cụt giò. Tôi được một cô gái đích thân nặn máu độc ra, bôi thuốc khử trùng và cho uống hai viên thuốc, hy vọng không phải là Xuyên Tâm Liên. Cô dìu tôi nằm xuống cái giường tre ọp ẹp: Chừng nào thấy chóng mặt, hoa mắt hoặc nghe tim đau thì nhớ gọi tôi. Cô đắp cho trán tôi một vuông vải ướt, mát; rồi quay lưng đi mài một con dao nhỏ, xoèn xoẹt chẳng biết để làm gì. Tôi van cô chớ giải phẫu chân tôi, ngoại trừ thiếu vết dao cắt, tôi sẽ chết vì rắn.

Tôi không đau tim, may phước chẳng ấm đầu chóng mặt nhưng “bồi dưỡng” thức gì vào cũng nhợn nôn. Nhác ăn nhác chơi. Chỗ rắn cắn tím bầm, sưng tấy. Cô y tá nhìn, xem chừng muốn buồn tay động dao động kéo. Ngày mai mới có bác sĩ chuyên khoa từ bệnh viện đến thăm, không ấy tôi cho anh thử dùng phương thuốc Nam. Lần này thay vì mài dao cô ra sau nhà chổng mông ngồi thổi lửa. Một cái nồi đất bắt lên, lởm chởm những cọng lá sắc đâm tua tủa ngâm thân chờ héo úa. Hẳn là nó rất đắng, tôi đồ vậy. Thuốc đắng đả tật. Tôi thử nhẫm tính xem đã mấy hôm rồi tôi thiếu vắng cà phê. Lòng tương tư vô hạn hình ảnh cái nồi ngồi trên cái cốc. Lý lịch tôi mang thân phận tiểu tư sản, một đứa như thế vẫn thèm khát vu vơ những thứ xa rời hiện thực. Những bài thơ viết chùng vụng cũng chở đầy thứ tâm cảm được voi đòi tiên, đứng núi nầy trông núi nọ để chung cuộc là tiếng thở dài đánh sượt, dài miên man. Nếu vắng nỗi buồn, tôi van bạn chớ làm thơ!

Dẫu sao tôi nên cảm ơn con rắn vằn vện đã cho tôi “biết thế nào là lễ độ” khi vô cớ tới làm động hang ổ nó. Từ nơi hoang vu giờ đây được dưỡng thương bên quốc lộ nghe tiếng xe đò quen thuộc gầm rú lừ đừ đi ngang qua cùng khói xanh vương vấn nơi khung cửa. Nói dị đoan rằng vì tôi tuổi Tỵ nên đồng loại không nở ra tay ác độc. Tao cắn mày để cho mày có cơ hội được chây lười lao động, và nghĩ mà xem cô y tá ấy chẳng phải thuộc loại mát tay. Tha hồ cho mày câu giờ kiếm cớ gạ chuyện với cô. Bệnh nhân đa phần đều ông già bà lão, đa số đều không ngớt rên la. Tiếp xúc với họ thêm oải, đời mất vui. Mấy khi bệnh xá mới có con bệnh lạ kỳ như mày “nhập viện”. Thanh niên trai tráng đã đành, hắn còn biết pha trò nữa cơ. Có duyên tệ! Hay han hỏi, hay động viên tinh thần và thi thoảng hắn biết giả bộ nắm tay, xem chừng tình trong như đã mặt ngoài còn e. Mong bác sĩ chưa vội tới, ngày mai trời vẫn tối, chiếc giường vừa buông mùng ngăn muỗi rừng và không biết ca trực của mình có nên kéo dài vượt khỏi mức quy định. Tờ giấy hồ sơ bệnh lý của hắn ghi tên Tâm, mình cũng đã hé lộ tôi tên Đoan. Trao đổi thêm mới hay hắn từng làm thợ nề, thợ mộc, chạy xe ôm và một thứ nghề không chính đáng: Biết làm thơ. Eo ôi, giời ạ! Chảnh đến thế thì thôi! Tâm bảo: Thế nào cũng có lúc mang tặng Đoan một bài thơ, người đã ra tay tế độ vực tôi kinh qua cánh cổng của thần chết. Háo hức lắm cơ, nghe thế bảo sao không làm ngày chẳng đủ tranh thủ làm đêm. Ngẫm kỹ đi mà xem, tất cả những vần thơ đăng báo đều xưng tụng anh hùng, ca ngợi thủ trưởng, đề cao những bà mẹ liệt sĩ chớ nào có ai để tâm “phải lòng” tới hạng người y tá đâu nhỉ? Mà y tá vô danh ở chốn sơn cùng thuỷ tận!

Hạnh phúc thường mong manh. Không ai bị rắn độc cắn mà phải nằm viện ba ngày cả, ngoại trừ bị chằn ăn trăn quấn. Bác sĩ vừa lộ hình vừa tuyên bố. Ông rảy một ít bột trắng lên vết thương mưng mủ, viết một tờ giấy trao tay tôi, ký nhận rằng nạn nhân được phép nghỉ lao động nặng ít hôm, gói hai viên thuốc vào ô giấy báo vừa xé nhỏ: Chừng nào sốt hẳn uống. Ông xua tay như đuổi ruồi, yên tâm đi nhé, hồi nào có xe vào lấy củi thì quá giang họ cho đỡ nhọc thân. Đoan kiếm đâu ra một thân cây tre gầy guộc: Này, nắm lấy nó mà vượt suối băng ngàn. Tôi cầm tay Đoan: Để tôi vào lại chỗ cũ chọc cho rắn cắn và như thế đôi ta lại gặp nhau. Sưng tấy cả hai chân cũng cố lết ra đường lộ. Đoan la: Đồ quỉ nà, bộ hết cách chơi rồi sao? Giả bộ ngộ độc thực phẩm để ra xin thuốc không được sao?

Hút vừa xong điếu thuốc thì xe củi trờ tới. Đoan không mặn mà săn chắc như kiểu sơn nữ, hơi thô thiển hơi quê mùa nhưng trong tôi thấp thoáng ló ra một đôi câu thơ. Kinh tế mới và lung lay thứ tình cảm đầy gió chướng giữa đồng không mông quạnh. Đời này vốn thiếu hụt lắm thứ, hãy thử kiếm ra một chút vui vầy đặng kinh qua. Tôi được gã tài xế ra dấu cho lên ngồi ghế cạnh ông ta. Người ông có dáng vẻ một cây xương rồng không bao giờ được tưới nước. Gai góc, đen đúa, khô đét, nhiều góc cạnh. Trời sinh ông ra để bầu bạn với đường trường, với nắng nôi, với gió bụi, với chiếc xe mãi gầm rú ho hen. Chú em đã từng thấy qua cây quế chưa? Đi quàng xiên trong ấy thế nào cũng có khi bắt gặp trầm. Hai thứ đó chú em nhớ để dành, thu ém riêng một chỗ khuất, có bao nhiêu tôi thầu bấy nhiêu và rồi đời chú em sẽ đổi khác. Một đứa vô sản không có quyền ăn nói, nhưng khi chú em chất đầy túi…hề hề rời khỏi núi để đi mua tiên mấy hồi! Tôi thưa thật là vừa bị rắn cắn, không biết mặt ngang mặt dọc hình thù chiếc lá trị nọc rắn để đắp vào dấu răng. Một tay ngang dưới phố lên, lạc vào rừng bạt ngàn cổ thụ làm sao biết ngậm ngãi tìm trầm! Bác tài nhấn chân ga vượt qua con dốc đầy sỏi đá: Khỏi lo, tôi có sẵn cuốn bí kíp võ công đây. Ông moi túi áo ra tờ giấy gấp làm bốn có vẽ hình thù và những đặc điểm để nhận diện. Thứ bí kíp ấy như được xé rời từ một cuốn sách dạy cách tồn vong khi bạn lạc vào rừng sâu, thứ này ngon chứa nhiều chất kháng sinh, thứ kia độc ăn vào sẽ mắt trợn môi trề. Tôi đón nhận, cất trong ví đựng giấy tờ tuỳ thân và gửi tới ông nụ cười thật tươi để thế một thoả thuận ngầm. Tôi van bạn nên mạo hiểm, ngoại trừ trường hợp bạn muốn chết không chiếu bó thây.

Cạp nong hay hổ mang gì đó quả có vị tình, vết cắn thôi sưng kiểu dị hình dị tướng, da thịt chỉ còn lưu lại một khoanh màu vàng bọc lấy hai vết đỏ cầu chứng. Điều này có nghĩa là tôi chuẩn bị đeo đồ nghề đi phạt cỏ đốn cây. Chưa gì đã có bọn người lập ra đội xây dựng kiến trúc đòi vẽ hoạ đồ. Họ đào móng đóng cọc khu A khu B khu C các thứ. Khu D nằm sát bờ suối tạm thời dùng làm nhà bếp tập thể. Vì ham nghe lời xúi giục của bác tài nên tôi chăm lao động giấn liều đi xa mà quên bài giả bộ ngộ độc để chính đáng ra bệnh xá mân mê tay Đoan nói trăng nói cuội. Trăng bên bờ suối đẹp kiểu hư ảo, giá mà có Đoan đứng tắm thì tôi sẽ làm được bài thơ vẽ cảnh đào nguyên. Thiên thai có hai ông cọp ngồi nhai thịt người lai rai. Chừa lỗ tai để ngày mai khoan thai nhử con nai. Này gái chiếc này trai đơn hãy mau khai. Chớ lạc sai. Nhớ dòm chừng ông cai.

Sau hơn tháng vật lộn bắt sỏi đá phải thành cơm, khu kinh tế mới bắt đầu khởi sắc. Mái tranh vách đất, nhà gỗ nhà sàn tuỳ tiện chen vai, đồi sắn nương khoai cứ thế mà đào bới tự túc tự cường. Chỉ thị ở trên ban xuống: Bắt trời làm mưa, biểu đất làm lúa. Xin bà con hãy vô tư. Tôi van bạn đừng hiểu, ngoại trừ bạn muốn tắt thở vì sự nhạy cảm. Cứ trơ như đá và hồn nhiên như hòn cuội nằm dưới suối mặc cho nước chảy đá mòn. Những từ ngữ mà lãnh đạo thốt ra đều chung một bài bản sáo mòn, thấp kém hơn chữ dùng của thường dân và trong cuốn từ điển dồi dào mang đầy tính sáng tạo ấy tôi yêu hai chữ: Trúng mánh. Cuộc hành quân đầu tiên đã mang tới thắng lợi vẻ vang thần thánh. Tôi “giao lưu” với bác tài xế xe củi, môi hở răng lạnh và bác ấy thanh thoả hợp đồng theo phong cách đậm đà của tình đồng chí. Ở đâu có đói khát, ở đó có lòng tham. Ở đâu có rừng vàng ở đó có lâm tặc.

Không thể kiếm cớ chạy về thành phố mua tiên, tôi tìm cơ hội để đổ thân ra quốc lộ tìm gặp Đoan. Tôi trao tay món quà thủ công “tự biên tự diễn”, chiếc kẹp tóc làm bằng loại gỗ thơm, và cũng chính tay tôi đính nó vào đầu tóc chẳng mượt mà của người y tá chây lười việc điểm trang. Đoan cảm động khi nghe tôi bảo, thay vì ngồi nhớ Đoan để dệt vần điệu thơ ca tôi ra công trong tuần lễ để hoàn tất tác phẩm này. Hèn gì lâu nay ra tựa cửa chẳng trông thấy một người bị ngộ độc thực phẩm quờ quạng bước vào. Người Đoan run lên khi tôi ôm cô vào lòng, mắt Đoan nhắm lại để hé môi chờ đợi một nụ hôn. Ngộ độc thực phẩm là chuyện nhỏ, sao sánh được ngộ độc vì nhớ thương. Phía sau bệnh xá, chỗ khuất lấp có trồng hai bụi môn. Trong bệnh xá có người nằm rên vì chứng đau bao tử vì vậy y tá bỏ mặc mọi thứ, nắm tay tôi dại khờ tìm nơi vắng vẻ. Nếu Đoan là Nguyệt Nga thì tôi hơn Vân Tiên vạn lần. Cỏ ngứa, muỗi cắn hoặc ruồi bu kiến đậu, hoặc những âm mưu thâm độc khác đều không gây trở ngại cho hai kẻ đang thích chơi trò lấn đất dành dân, ưa mở rộng địa đạo hối chú du kích vào phục sẵn chờ phút khai hoả. Những nước theo xã hội chủ nghĩa thường có đông dân số, giản dị vì họ không có thứ gì để giải trí cả. Niềm vui duy nhất là nam nữ cứ bu như sam, nhưng nói cho ngay vì Đoan là y tá nên cô có sẵn cả tủ thuốc ngừa thai. Đoan không dại nằm thắp sáng cái sướng trong phút giây để rồi ngồi nguyền rủa nỗi đau theo tháng ngày. Em nói thật đấy, cơ quan mà biết được thì họ khai trừ em, họ bêu rếu em, họ bắt em làm bản kiểm điểm, đày đoạ em, mắng nhiếc em nào là có chuyên mà không có hồng, nhân thân xấu, chẳng xứng đáng làm con người mới để thích nghi với chế độ ưu việt. Tôi nhìn giọt nước mắt ứa ra trên khuôn mặt mờ tối của Đoan. Sao Đoan khóc? Vì em đang hạnh phúc, chưa bao giờ em hưởng được thứ bồi dưỡng lạ lùng như phút giây qua. Em ghi cho anh một cái lịch nhé, những giờ giấc thuận tiện để chúng ta cùng ăn nằm bên nhau. Tâm có thương em không? Còn phải hỏi, Đoan là con rắn đáng yêu nhất mà anh gặp phải, anh tự nguyện giao mạng cho Đoan cắn, như vừa cắn vết dịu dàng. Thôi đi ông tướng, vừa làm rắn bò đi lung tung còn đổ thừa cho người ta.

Trước khi chia tay, tôi vụng trộm ngó Đoan ngồi bên lu nước múc từng gáo tự sơ cứu làm hạ nhiệt. Tôi trao cho Đoan một xấp tiền. Cái gì đây? Bồi thường thiệt hại, hồi nãy lỡ làm hỏng cái quần lót của Đoan. Có thích em làm vệ sinh cho anh không? Không, anh vào tắm suối. Đoan hôn tôi đắm đuối, hụt hơi. Và tôi chẳng ngờ được, đó là trang cuối cùng của chuyện tình vắn số của chúng tôi. Vĩnh viễn tôi không còn nhìn thấy Đoan. Cũng như chiếc xe chở củi chở gỗ về thành phố người ta đã thay ông tài xế khác.

Tôi bị bắt vì tội phá hại tài sản của nhà nước. Cán bộ đã vào lán tôi ở, moi được bọc tiền làm tang chứng vật chứng chuyện móc ngoặc với thành phần bất hảo, bán và tiêu thụ trầm, quế. Họ cũng tìm đọc những bài thơ tôi giấu dưới chiếu, quy chụp rằng lời lẽ quá sức phản động, dựng chuyện lầm than đói khổ để nói xấu chế độ. “Đau khổ chi bằng mất tự do, đến buồn đi ỉa cũng không cho”. Đấy, mày nàm thơ kiểu đấy thì phải chóng nhập kho thôi con ạ! Thưa các cán bộ, tài sức tôi đâu đủ để viết được lời bi thảm đó. Thơ ấy là của Hồ chủ tịch đấy ạ! Một đứa hùng hổ đến sát bên tôi. Láo lếu! Tay hắn nắm dùi cui, nháng một cái tôi chẳng còn trông thấy gì cả. Đất trời đều sập tối. Tôi van bạn đừng làm thơ vẽ cảnh hiện thực, và tránh xa việc trích dẫn những “lời hay ý đẹp” của lãnh tụ. Bạn sẽ chết chắc ngoại trừ bạn là đàn em của Phù Đổng Thiên Vương thanh thản cỡi ngựa sắt về trời vui thú điền viên.

Hồ Đình Nghiêm

BỮA ĐIỂM TÂM CỦA TRÂN SA

 

Hồ Đình Nghiêm
Thi phẩm của Trân Sa
đời ta đâu phải là cây mục
trôi với rong và rã với rêu
đời ta đâu phải là ga xép
đứng chờ đỗ lại một tàu xiêu.
Bài trên có tựa là “Tĩnh”. Còn dưới đây, thơ mang tên “Động”. Sắp chung một trang, được viết vào năm 1983.
đôi khi gió bão qua ngang núi
chim bay cuồng nơi ẩn trú đâu
đôi khi cỏ dại gai đầy lối
ngựa ngửng đầu ngơ ngác ngó quanh.
Biên giới giữa Tĩnh và Động, cái sự lọt vào, thứ trạng thái nhập nhằng ấy dường như không hiện diện trong thơ Trân Sa. Cô mềm lòng khi đứng bên này đường và cô cứng rắn khi đặt chân sang tới lề bên kia. Con người Trân Sa chẳng chấp nhận cái nửa vời. Nắng chan hoà trên từng câu thơ, đôi khi chữ chết chìm dưới một bầu trời sũng nước. Tôi đọc, không nhìn ra cái ui ui của thứ thời tiết tức giông nắng trốn. Ra ngô ra khoai, chẳng ỡm ờ!
Từ chỗ tôi ở đến thành phố Trân Sa trú ngụ cách nhau 6 giờ lái xe. Mưa ở Montréal mà nắng vàng ngập phố Toronto. Cách trở bao nhiêu cây số mà trái khoáy vậy? Tôi mua vé xe lửa (không tàu xiêu) và lần khác thì leo lên xe đò băng đồng vượt suối. Chúng tôi gặp nhau đúng ba lần (sự bất quá tam). Vậy thì cuộc hội ngộ còn lại là do “người về từ Toronto” tạo nên. Ba lần, trải dài qua tháng năm của thời điểm 1989 và 1990. Ôi, mới đó mà đã sang một thế kỷ rồi ư?
Trân Sa hơi gầy, hình như ngày cũ ở Nha Trang. Trân Sa nói giọng Huế chưa phai nhạt nước sông Hương, trầm, hơi khản tiếng; thứ chất giọng mà tôi nghĩ những người hát nhạc Jazz đều sở hữu. Tóc cắt ngắn, thật ngắn. Mang gương cận thị. Thích uống cà phê đen đậm đặc và ngồi bên nhau chừng hơn nửa giờ, hai đứa đã đốt khói bay 20 điếu thuốc trong chiều tà. Nhìn Trân Sa, tôi dấu ý nghĩ là cô đã vô tình chở trí nhớ tôi về lại Huế năm xưa, hồi tôi gặp nhà văn Trùng Dương theo nhật báo Sóng Thần đi viết bài tận vùng địa đầu giới tuyến. Ngồi với anh Đinh Cường trong Đại Nội có thể đón nhận cơn địa chấn lan về do hoả tiễn lẫn đại pháo chăm trút xuống cổ thành Quảng Trị. Có chút gì đọng trên gương mặt Trân Sa làm gợi tới Trùng Dương? Cái kính to trên gương mặt gầy tóc ngắn? Những cọng khói ẻo lả từ tay bay lên? Và văn chương. Và lên đường. Và nhập cuộc. (Có thời Trân Sa làm chủ biên tờ Trăm Con, đăng tải thơ văn nhiều bài đặc sắc nhưng chẳng thọ lâu do bởi những ngộ nhận, ngay tại Toronto).
Chúng tôi ngó phố phường, miệng mồm thì bận cà phê thuốc lá, nói chung là vụng về không biết tìm cách trao đổi lời qua tiếng lại. Mà nghĩ cũng chẳng cần thiết bởi vì cả Trân Sa và tôi dạo đó đều viết rất hăng. Mê muội gửi bài tới các tạp chí văn học. Đã đọc của nhau và vai đâu vai như giờ này cũng do chữ nghĩa tác thành để làm nên cuộc xúi dại, hơi ngây ngô, hơi khờ khạo. Ngoài thơ, những truyện ngắn của Trân Sa tựu trung đều là những hạt cát quý, lấp lánh (chẳng rành Hán Nôm nhưng tôi vẫn diễn dịch tên Trân Sa ra thế). Ý tưởng lạ, cách dựng truyện và không khí trong đó luôn để lại một thứ gì gần với xót xa. Một dụng công cố sắp xếp lại những đổ vỡ. Hạnh phúc vốn từ đau đớn mà phát sinh. Truyện ngắn “Giữa Những Hàng Ghế Trống” là một ví dụ. “Về Già Tôi Sẽ Đi Tu” là một chứng minh khác.
Tôi nghĩ, ngồi bên nhau mà người ta ít nói, gần như câm lặng, cũng nên được xem là họ đã hiểu lòng nhau. Nếu cho đó là nguỵ biện, thì có thể thưa rằng, e chúng đang bận suy tưởng, mỗi người tự truy đuổi riêng một nỗi niềm để về nhà dựng được một áng văn ghi dấu, đãi đằng nhau.
Chỉ ba lần, nhìn sâu vào mắt nói trong vô ngôn, rồi Trân Sa thầm lặng bỏ đi, biền biệt, mất dấu. Hỏi thăm bạn bè ở dưới đó, không một ai hay. Chưa già, chắc chắn là Trân Sa chẳng “Tôi sẽ đi tu”. Chợt nhớ lại bài thơ “Bơ Vơ” của người đang lẩn trốn vào bóng tối:
Phật ở bên tay trái
Chúa ở bên tay phải
Đối diện: một rừng người
Phía sau lưng: vực thẳm
Ngó xuống: toàn hư vô
Bàn chân tôi đứng lại
Giữa vô cùng bơ vơ
Xác thân chỉ tồn tại
Những nhịp sầu rất thơ.
Nhớ luôn cả bài “Bạn Xưa”:
trong giấc mơ người ám ảnh tôi
sáng hôm nay trời đất buồn rầu
tôi thay áo bước vào đời sống
quá khứ nặng bàn chân thế sao
tôi ở đây hồn ở đâu đâu
một cánh hoa lạc loài trong đầu
đem gửi tặng người qua trí tưởng
thấy môi ai cười khô héo thôi.
Tới ngang đây, tôi đành “nhớ” thêm các bài thơ khác của Trân Sa. Tôi mượn Trân Sa để gửi theo chút tâm tình mà mình chẳng đủ lời để thổ lộ. Tôi vẫn tự nhận tôi mãi kém thua bạn tôi. Và về già có thể tôi sẽ đi tu, tại gia. Ngồi diện bích, hồi tưởng: Chúng tôi đã có một thời như thế. Hồn nhiên trong sự già cỗi. Dấn thân trong hoạn nạn. Mê muội trong phụ rẫy. Tàn hơi trong lãng công. Chỉ còn nỗi nhớ trong thất lạc. Và chỉ còn thơ văn làm bồi đắp thứ tình bạn không tuổi tác. Một buổi điểm tâm Xanh.
Tuy chênh lệch đôi ba tuổi, nhưng Trân Sa tìm đến thơ văn trước tôi một chặng đường dài. Có bài làm năm 1973, 1975, lai rai về sau… Nhưng tôi yêu thơ Trân Sa ở thời điểm mà tôi vừa đến góp chung một tiếng nói. Chẳng hạn như bài “Đối Thoại Trong Một Cuốn Tiểu Thuyết” được viết vào tháng 11, năm 1988:
Họ nói về những bầy chim gẫy cánh giữa trời
về những con người chôn mặt mình trong đất
về cuộc đời giữa những còn và mất
về tương lai trống không và hiện tại chôn vùi
Họ nói về một vầng trăng chết đuối ngoài khơi
về một tình yêu không còn trong trí nhớ
về cái chết và về niềm hãi sợ
về hoang đảo cô liêu chỉ có một người
Họ quên nói với nhau về những tiếng cười
về những ban đêm không thể còn bóng tối
về không-một-trái-tim-nào-có-tội
về không-ai-là-dã-nhân khi còn biết thương đời
Họ bận rộn nhỏ lên nhau giọt lệ ngậm ngùi
nên quên nói với nhau những lời hy vọng
Họ mải miết với quá nhiều phủ nhận
nên không còn gì ở giữa những đôi môi.
MỘT
tâm hoa nở rộ khắp mùa
thương em búp nhỏ bao giờ ra bông
tay ai khuấy nước trên sông
thương em gợn sóng tan vào hư vô
a ha địa ngục tang bồng
ta quăng cực lạc nhập vòng tử sinh
bước chân lạc lõng u minh
môi cười bình lặng tỉnh điên cũng là
bao giờ em hiểu ra ta
ý thân nhất thể ta là chính em.
(4/88)
LẠNH
tôi đã đi rồi tôi đến đâu
không về. nhất định chẳng về đâu
trời ơi. sao đất vô cùng lạnh
dưới một dòng sông gãy nhịp cầu.
(1987)
NHỚ
đã ra đi
đã qua đường
tình xưa
còn động
vết thương ngọt ngào
đã quay lưng
đã tay chào
hôm nay
còn nhớ
hôm nào,
rưng rưng.
(6/86)
NGƯỜI
đêm
nâng ly café
thấy Nét Đẹp Em Người Da Đen
buổi sáng
châm điếu thuốc
hồng Lửa Ấm Anh Người Da Đỏ
trưa
một ly sữa nhỏ
mát rượi Diễm Phúc Người Da Trắng
chiều
tĩnh lặng
Tôi Người Da Vàng trực nhận mối tương quan
đầy thân ái
nhân loại bao la
dưỡng sinh và huỷ phá
Tôi xin yêu Người
   Da Đen Da Đỏ Da Trắng Da Vàng
Tôi xin vô cùng yêu Anh yêu Em yêu Tôi
Dù sao.
(1984)
NỖI NHỚ
yêu từ cái thuở
trăng còn Rằm
thuở Hoa
đơm nụ mới
đầu năm
bao nhiêu
Thu rụng
Đông tàn úa
Xuân Hạ
còn nguyên
nỗi nhớ
Xanh.
TÂM TRẠNG
có khi rớt xuống huyệt
có khi bay lên trời
có khi đùa mải miết
có khi sầu không nguôi
có khi tôi yêu người
có khi lòng lạnh nhạt
có khi hát yêu đời
có khi gần tự sát
có khi ngồi nghĩ mãi
điều vô lý đời mình
có khi chợt kinh hãi
lặng lẽ kiếp nhân sinh.
BAO DUNG
lặng im mà ngó
mưa về
ngó trời đất
sụp
gần kề hai chân
lặng im
rơi lệ xuống
thầm
trái tim nhẫn nhục
ôm chầm bão giông
từ đêm
địa chấn tới gần
lặng im nghe
tiếng chim gầm mái hiên
lặng im nghe
tiếng khóc phiền
lặng im nhìn
những sắc hình
rụng phơi
lặng im
môi hé
nửa vời
tiếng bao dung
thoảng
giữa trời bụi che.
MEN MÙA HẠ
chiều mang tiếng nói đi theo gió
mang theo ngọn nắng khuất về tây
có chi trong nắng mà tôi nhớ?
một giọng cười hay sợi tóc bay?
có chi trong tiếng mà tôi nhớ?
một chút ân cần một chút vui?
có chi như mật trên môi đó
ngọt với muôn người hay chỉ tôi?
có chi như thể trong vườn lạ
nở một nhành ôi đẹp bất thường
có chi xanh mượt như cây lá
vẽ lại trần gian vốn thật buồn
có chi như thể hương mùa hạ
tiễn một mùa đông đã quá dài
ô hay cứ tưởng tim thành đá
lại đập hồn nhiên mấy nhịp sai
cứ đến rồi đi rồi trở lại
cứ cho tôi nhớ hết đêm này
ngày mai cứ nắng đừng mưa nhé
cứ vẫn ngọt ngào như bữa nay
chiều mang tiếng nói đi theo gió
mang theo ngọn nắng khuất về tây
có chi trong nhớ mà tôi ngỡ
men nồng chưa chuốc vội vàng say…
Những bài thơ hiển thị ở trên, tôi nhặt ra từ hai thi tập “nàng thơ” ký tặng năm xưa (đã qua thế kỷ rồi sao?): “Thơ Trân Sa” (Tập Họp xuất bản năm 1989) và “Điểm Tâm Cho Người Tình” (Tân Thư xuất bản năm 1990). Cả hai thi tập đều không ghi đôi dòng tiểu sử tác giả và những trang thơ giờ này thảy đều úa màu. Thứ sắc màu vàng vọt có trong thơ Nguyễn Tất Nhiên:
“Nắng bờ sông như màu trang vở cũ
Thuở học trò em làm khổ ai chưa?”
Tôi từng khổ và tôi đang hối hận. Giá mà ngày ấy thực hiện được một buổi chuyện trò cùng bạn, để tìm hiểu do đâu, ngọn nắng nào đã soi rọi vào, tác thành nên những hạt cát lấp lánh có tên gọi Trân Sa. Bởi chăng chúng ta đều bị cuốn vào thứ đời sống hối hả chuyện mưu sinh. Không thể cưỡng chống, chẳng thể nghe theo lời Bùi Giáng:
“Áo cơm bỏ lại bên đời
Bỏ tan lìa mộng bên lời tử sinh”.
Bạn còn đâu đó ở Toronto? Hay “khi về già tôi sẽ trở lại chốn xưa”? Sài Gòn, Phan Thiết, Đà Lạt hay Nha Trang? Thành phố mà nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng từng gọi: “Hang động của tuổi thơ”. Có lẽ bạn chẳng hay biết “chuyện nhỏ” về tai ương mà tôi từng hứng trong mùa Đông khắc nghiệt chốn này. Khi ấy, tôi gượng cơn đau, nhớ thơ bạn vụt hiện:
“đi ngang bãi tuyết
thấy đời dễ thương
ngã trong đám tuyết
ôi lạnh khôn cùng”.
Mùa đông lại sắp về, tôi chống gậy đi tới quán cà phê cũ kỹ mà chúng ta từng ngồi hun khói. Tôi nhớ lại nhân dáng bạn, khuôn mặt bạn, đang ngồi ghế đối diện. Ừ, nỗi nhớ hiện ra “giữa những hàng ghế trống”. Tôi chép lại thơ bạn, một cách thiếu sót, cũng là một cách làm ấm lại. Chúng ta, chẳng ai có cảm tình về một khoảng trống cả. Phương ấy, bạn còn khổ tâm chêm đầy vơi những câu thơ? Và quan trọng hơn, bây chừ lòng bạn đang Tĩnh hay đang Động?
Chỉ một chút
thoáng động
trên
ngọn cỏ ướt mưa
ngoài ngắt xanh biển rộng
con cá nằm
ngủ trưa.
HỒ ĐÌNH NGHIÊM 
song thập, 2017