Có một ngày trong ngăn sách cũ

dotrungquan

có một chiều như thế trong đời
trên vai tôi nàng khóc
có một chiều mưa của khắp thế gian
lặng trong một giọt nước mắt

có một chiều như thế trong đời
muối của mọi đại dương
trên lưỡi tôi
khô đắng

có một chiều như thế
mọi màu tím của hoàng hôn
tím như không thể tím hơn được nữa
run rẩy
chùm hoa nhỏ
tay nàng

có một ngày cộng tất cả ly tan
thành lặng im thảng thốt
có một chiều trong ngăn sách cũ
tình cờ
còn nguyên vẹn một điều gì
đã mất

Đỗ Trung Quân

LẨN TRONG MƯA HUẾ

nguyenlamthang

Ngày rục rã ăn thành xưa quách cũ
Mưa tha hương xé mây xám tơi bời
Thơ phải chết mấy ngàn lần mới đủ
Cho nhân gian được nói tiếng con người?

Trời u ám giết tàn cây dĩ vãng
Gió quất roi trên nóc Quan Tượng đài
Một ông lão tay kéo quần rách háng
Rúc đầu vô thùng rác lượm ve chai

Phố rả rích những hột mưa dai nhách
Gánh rau chiều úng nát, cố đô ơi!
Ngự hà hỡi! Sen đã tàn trơ xác
Lục bình xoay một kiếp, bao giờ trôi?

Chiều chưa cạn, mà hoàng hôn đã vỡ
Hồn khói bay hiu hắt nhánh ngô đồng
Ta khựng lại, ngó mùa đông ngợp thở
Dội nỗi buồn vào họng súng thần công.

(Đại Nội, 16/12/15)
nguyễn lãm thắng

Giấc mơ trôi về đâu…

tranthitrucha

Hắn là đồng nghiệp của tôi ngay từ khi tôi mới ra trường, hơn tôi 4 tuổi, nhưng tôi lỡ dại ” hổn” nên “mi tau chí tớ” .
Thật ra cũng tại hắn hiền ( nhưng không lành đâu nhé), lại hay rủ tôi la cà cùng hắn. Rồi hắn dạy cho tôi ” thọt ” bi da và gạ tôi cho mượn tiền để đánh số đề.
Tôi cười muốn đau ruột khi hắn dạy cho tôi tư thế tuyệt chiêu “chó đái” của bi da, tôi tập hoài không được bèn bảo hắn:
Thôi chiêu “chó đái” để cho mi , dạy cho ta chiêu dễ dễ thôi .
Hắn ngoan ngoãn vâng lời, không ép tôi học chiêu khó nữa.
Rồi hắn lại tiếp tục xoay ra mượn tiền của tôi để đánh số đề, tôi hỏi hắn :
Sao mi mê số đề dữ vậy ?
Tại hôm qua tao mơ thấy …
Mệt mi quá, đêm nào mi chả mơ.
Thật vậy, hắn đánh đề theo giấc mơ của hắn không trúng, chuyển sang đánh vào giấc mơ của tôi.
Mới bảnh mắt, hắn đã chộp cổ tôi ngay ở sân trường tra tấn :
Đêm qua mi mơ thấy gì ?
Tôi cũng thật thà khai báo với hắn, khi thì tôi thấy mình lang thang ngoài bãi biển, khi thì tôi lạc vào một vườn hoa, khi tôi bị rắn cắn, khi thì nhà tôi bị trộm đột nhập, tôi nhìn thấy mà miệng cứng không kêu lên được, khi thì tôi được ngồi trước một mâm thức ăn thật ngon, bụng đói cồn cào chưa kịp ăn bị đánh thức dậy vì mặt trời đã nhe cười… Nhưng có hôm tôi nổi cáu với hắn:
Mệt quá, giấc mơ đêm qua không thể kể cho mi nghe được.
Hắn năn nỉ thảm thiết :
Kể đi mà, mơ cái gì ta cũng đoán ra số được.
Tôi đành thú thật với hắn:
Đêm qua… Ta mơ thấy ta… Ị trong quần…..
Tôi tưởng đâu hắn chịu thua với giấc mơ này vậy mà hắn tỉnh bơ:
Tốt lắm ! Số 91 …
Trời đất ! Cũng có số hở cha ?
Chứ sao !
Vậy là tôi lại phải cho hắn mượn tiền để đánh con số 91.

Ôi số đề !
Bây giờ tôi mới hiểu khi người ta chới với trong nghèo túng thì số đề cũng là cứu cánh cho mơ ước hão huyền mà hắn đã nương nhờ để tồn tại .
Vậy mà tôi với hắn chẳng còn gặp nhau nữa.
Cuộc đời đã đẩy tôi và hắn đi về hai hướng…

Ngày đó, hắn còm nhom, trước sau như một, bạn bè thấy tôi đánh đôi với hắn cũng phì cười:
Hoàng tử “Đép lít” của mi thật “chung Thuỷ” ?
Tôi thản nhiên gật đầu, làm bạn với hắn vô hại.
Hắn chẳng bao giờ tán tỉnh tôi, cũng không bao giờ nói xấu, ganh tị, cần giúp gì hắn giúp đỡ tận tình, đến nơi đến chốn.
Nhưng hắn có quá nhiều bịnh, tội nghiệp! Thời tiết thay đổi, mặt hắn nhăn như khỉ ăn ớt, hắn bị viêm dạ dày, ăn thì ít mà hút thuốc thì nhiều, đã thế hắn còn có thêm bệnh “hoa hậu”. Tôi hỏi hắn bịnh đó như thế nào , hắn cáu :
Không biết thì thôi, hỏi gì hỏi lắm .
Tôi vẫn biết, sau những giờ lên lớp, hắn tranh thủ đi xe đạp thồ, đó là nguyên làm bệnh của hắn càng ngày càng nặng.
Những lần bệnh nặng hắn nhập viện là tôi phải dạy thay cho hắn, mệt bở hơi tai. Vào bệnh viện thăm hắn tôi nhăn nhó:
Đau gì đau hoài, dạy thay mệt quá.
Hắn cười gượng gạo như biết lỗi:
Tại đau quá, không ngồi được, làm sao lên lớp dạy.
Mà đau chỗ nào? Đau làm sao ?
Thì… Mi cứ tưởng tượng nó như cái volum máy radio casette vậy…nó nở ra như cái hoa nên người ta gọi là …hoa hậu.
Ta chịu! không tư duy trừu tượng được phải có trực quan ta mới hiểu.
Trời đất ta làm sao cho mi xem được, mệt mi quá, thôi mi về đi, mai ta lết đi dạy.
Thấy hắn chùng bùng cái mặt thật buồn cười, tôi đành dỗ hắn :
Thôi ta không muốn xem cái hoa hậu của mi nữa đâu, mi lo chữa bệnh cho hết rồi về đi dạy lại.

Rồi tôi chuyển về trường khác , hắn ở lại buồn xo !
Hắn đưa tôi đến trường mới trình quyết định và dặn dò :
Ta ngồi ở quán cà phê cóc đằng kia chờ mi, cứ mạnh dạn, tự tin lên không sợ gì hết.

Tôi về dạy ở ngôi trường mới khang trang gần trung tâm thành phố, nhưng lúc nào cũng thấy buồn buồn vì không còn có hắn bên cạnh. Chẳng còn ai quan tâm đến giấc mơ của tôi mỗi ngày, chẳng còn ai để ta bà quanh những ngóc nghách phố phường tìm những quán bi da im vắng…
Tôi nhớ trường cũ, nhớ hắn nên tìm về.
Khuôn mặt hắn rạng rỡ hẳn khi kể cho tôi nghe về những điều may mắn.
Hắn đã đánh liều cầm đơn đến nhà cụ Bá xin đất làm nhà.
Cụ Bá hay thật, chẳng biết đất ở đâu mà hễ thấy thương ai là cụ cho.
Chắc nhìn thấy bộ dạng còm nhom của hắn, thêm đôi mắt nâu ướt rượt lúc nào cũng như sắp khóc và miệng cũng mím chặt như sắp mếu … Cụ không đành lòng mà từ chối hắn.
Lâu nay vợ chồng con cái hắn vẫn trú tạm sau lưng một ngôi chùa, ngôi nhà gỗ tạm bợ bập bềnh trên mặt hồ đầy lục bình tím ngát.
Có đất làm nhà, vợ hắn mở quán cà phê cóc buôn bán. Hắn đổi đời rồi, tôi mừng cho hắn lắm nhưng vẫn không quên hỏi dò la:
Vậy còn mê đánh đề và bi da không ?
Còn chứ, sao bỏ được . Mỗi sáng ta giả vờ bưng bê thu tiền giúp con “dợ” để tranh thủ chôm chút đỉnh đánh đề và “thọt”. Không có mi, đâu có ai cho ta mượn tiền.
Bó tay !…

Cuộc đời của hắn càng ngày càng phát triển theo chiều hướng đi lên.
Lần sau về trường cũ, hắn lôi tôi đến ghế đá dưới gốc bàng thầm thì về kế hoạch, dự án, mô hình…mà hắn sắp thi để làm cán bộ cao cấp. Hắn chán dạy rồi, muốn làm lãnh đạo.
Ôi mẹ ơi, thằng bạn thân chí cốt mê đánh đề và bida của tôi.
Tôi lửng thửng dắt xe ra khỏi trường cũ trong cái nắng nóng như thiêu như đốt, cảm thấy bức bối nghẹt thở.
Và đó cũng là lần cuối cùng tôi quay về trường cũ.
Giấc mơ của hắn đã thành hiện thực.
Hắn có tài biến hoá thế nào thì tôi không không biết nhưng nhìn bộ dạng cố tỏ vẻ trịnh trọng của hắn thì thật buồn cười. Hắn vẫn gầy nhom, đôi mắt nâu đen vẫn hiền, miệng hắn cố mím chặt hơn, hình như hắn sợ tôi chọc ghẹo làm hắn phì cười. Hắn đọc thơ tặng tôi nữa mới ghê chứ:
” xênh xang áo mão công hầu
Mà không quên được những ngày lông bông…”
Không hiểu sao lúc đó tôi nổi cơn khùng bất tử, hoàn toàn không có cảm giác ghen tị mà chỉ thấy tiếc thằng bạn. Hắn đã đi con đường của hắn, còn thời gian đâu nữa mà lông bông cùng tôi. Không kìm nén được nên tôi đã xả “hổn”:
Áo Mão công hầu…con khỉ mốc … Chẳng qua…nước lụt…
Hắn trợn mắt nhìn tôi một lát, rồi lặng lẽ quay lưng đi thẳng
Tôi ứa nước mắt, tôi biết rằng đã mất hắn.
Bãi biển đã biến thành nương dâu…
Giấc mơ của tôi
Giấc mơ của hắn
Bây giờ đã trôi về đâu ?!….

SÓNG VỖ

phamngoclu

từ khi mưa nắng đổi thay
đất trời dị biệt gió mây bất đồng
người bờ Tây – ta bờ đông
ngồi nghe sóng vỗ bạc lòng ngày đêm
giờ này phương ấy nắng lên
ở đây ta đốt ngọn đèn soi ta
giờ này phương ấy nắng tà
ở đây thao thức tiếng gà tàn canh
nằm mơ biển ngọt dỗ dành
tỉnh ra tâm sự kết thành muối khô
từ khi Tý Ngọ khác giờ
đêm không đồng mộng đành mơ… mộng ngày
lòng ta uống gió mà say
tan ra cồn khói đảo mây chập chờn
biển sâu? ly biệt sâu hơn
muôn đời sóng vỗ mỏi mòn bến không
mỏi mòn tiếng sóng nghe chung
bờ Tây tóc rụng… bờ Đông bạc đầu!

Phạm Ngọc Lư

GIÁNG SINH .

nguyentancu

Đừng chạm môi vào những ngày u ám
Hãy uống cạn nỗi buồn
Nuốt vào trong lòng mùa đông buôt giá
Những cái chết chỉ là khởi đầu
Giáng sinh cũng chỉ là khởi đầu.

Đất đai mùa màng và những cây thông
Khởi đầu cho một đêm hoan lạc
Các thiên thần thánh ca
Những con quỉ mỉm cười
Những con tuần lộc phi nhanh về phương bắc
Xe kéo đầy quà…

Đừng chạm môi vào những phiền muộn
Hãy uống cạn chén đắng
Đêm nay là đêm Giáng sinh
Sẽ có người sinh ra
Se có người gánh chịu
Phúc phận cho những kẻ nào khổ đau
Đã có ta gánh hết.

Phúc phận cho những kẻ đóng đinh
Những kẻ phụ tình và những tên đao phủ
Phúc phận cho bọn vua quan
Những kẻ sát nhân – những người lương thiện
Không có ai mà ta không mang theo cùng.

Đừng chạm môi vào những vết thương
Có gì đâu mà khổ đau nhức nhối
Hãy tụng ca cùng chuông nhã nhạc
Đêm nay… đêm Giáng Sinh
Đêm Thánh rất…Vô cùng !

NGUYỄN TẤN CỨ

CƠN GIÓ MANG HỒN TUỔI THƠ (TT)

ledachoanghuu

Nửa tháng sau ngày đăng ký nghĩa vụ quân sự tiếp theo là có giấy gọi nhập ngũ, tòng quân. Sáng sớm ở xã đã bắt cái loa kẽm bà con thường kêu cái ô bặc lưa phát những bài nhạc hùng tráng, cờ xí giăng rợp trời. Có khoảng sáu chục thanh niên lên đường. Hết ông chủ tịch, ông xã đội trưởng rồi tới đại diện huyện đội phát biểu không ngừng, mỗi ông đứng đọc cả buổi trời, đại diện thanh niên mặt buồn thiu lên tuyên thệ theo giấy đã ghi sẵn, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì Tổ Quốc, vì non sông. Những thanh niên lên hai chiếc xe ca lớn chở đi trong tiếng nức nở của người nhà, bà con và cả người yêu đưa tiễn, họ chỉ cầu mong có ngày trở về.
Những thanh niên có giấy nhập ngũ mà không tới, bị gọi là trốn tránh nghĩa vụ quân sự, ngay đêm hôm đó và về sau bị xã đội và du kích truy lùng gắt gao, người thì bị bắt, người bỏ trốn thăm thẳm trong rừng sâu, có người bỏ đi biệt tung biệt tích. Lúc này mấy anh kiểm soát quân sự áo đeo băng đỏ oai phong lẫm liệt, thanh niên trai tráng ra đường không tờ giấy lận lưng mà gặp không núp kín thì cũng “cúp đuôi chạy có cờ”.
Một buổi sáng sớm chú Tám Thạnh ở xóm trong đi ngang nhà nó. Ba nó hỏi:
“Ủa, anh Tám đi đâu sớm vậy?”.
“Lên xã anh Hai ơi”.
“Ký giấy tờ gì hả anh?”.
Chú Tám lắc đầu”.
“Đâu có ký gì, xã mời tui bữa giờ hơn cả tuần rồi anh ơi”.
Ba nó hỏi tiếp:
“Ủa, mời gì làm gì lâu vậy?”.
Chú Tám thở dài:
“Thằng con tui đó anh, nó trốn nghĩa vụ biệt tăm ở đâu tui đâu có biết, xã bắt tui lên hỏi riết, ý tui dấu nó ở đâu kêu nó về mà đi, mà thiệt tình tui có biết nó ở đâu, hết hỏi thì sáng họ bắt chiều họ bắt ra nhổ cỏ, rầu quá anh Hai chẳng làm ăm gì được hết”.
Ba nó nói giỡn cho bớt căng thẳng:
“Chắc uống trà mấy bữa thì cho qua chớ gì anh”.
Chú Tám lắc đầu nữa:
“Anh Bảy Ngà chịu không xiết lôi thằng con về giao, còn tui không biết thằng con ở đâu đành chịu chớ mỏi mệt quá rồi, ở trển còn nói chừng nào chưa bắt được thì tui ngồi thay nhổ cỏ miệt mài” – Chú Tám lộ vẻ chán chường quay đi: “Thôi tui đi anh Hai”.
“Chú đi” – Ba nó nhìn theo bóng chú Tám xa dần thở cũng thở dài theo.
Chuyện này còn tiếp diễn năm sáu năm về sau. Người đi người trốn. Hiếm có người về, lâu lâu có người trở về thì thành thương phế binh, họa hoằn lắm mới có người còn nguyên vẹn hình hài. Có người đào ngũ đi biệt tăm, có người đào ngũ trở về bị bắt trở lại, nghe nói tội này nặng lắm và lại phải trở lại chiến trường. Ra chiến trường thì gần như bặt tin tức, chỉ biết qua những người cùng đi được về phép hay trở về. Sống chết có khi xác nhận là đúng có khi mơ hồ, nghe nói qua lại, nhưng hỏi xã thì không bao giờ có tin, sẽ nhận được câu trả lời đang ở chiến trường chiến đấu chống giặc, không một tờ giấy báo tử nào được đưa về gia đình, mặc dù những chàng trai ra đi vĩnh viễn là gần như chắc chắn. Những gia đình có người đào ngũ khổ sở chẳng kém có người trốn, nửa đêm nửa hôm bị bố ráp truy lùng liên miên, cha mẹ không thể đi đâu được, lên xuống xã, “uống trà” nhổ cỏ đều đều. Mà lúc này đi lại cũng rất khó khăn, muốn đi phải có giấy thông hành, có lý do chính đáng mới được, ký xét như ký lý lịch, đầu tiên là xác nhận của ông xóm trưởng rồi lên đội, xong đội lên hợp tác xã, hết hợp tác xã mới tới xã, có khi muốn ký cái giấy phải mất cả tháng trời, nay ông này vắng nhà, mai ông kia bận họp cả tuần.

***

Một mùa mưa nữa lại đến.
Bà con được chia hai toán, toán đàn ông thanh niên trai tráng lo ruộng lúa, toán còn lại thì làm đất vườn, kêu là đất làm hoa màu, hợp tác xã giao giống về trồng, và cây trồng là… bo bo chớ không phải bắp, khoai lang…Chỉ có đất rẫy trong rừng là trồng bắp.
Dì Bảy Thệ thấy lạ hỏi:
“Ủa sao lại trồng cái thứ gì lạ hoắc vậy mấy ông, lần đầu tiên tui mới nghe nói?”.
Chú Tư râu phẩy tay:
“Đàn bà con gái biết gì mà nói, đã nói để nhà nước lo mà, nhà nước thấy cái gì hay mới làm chớ, bà con làm đi, cuốc lỗ tỉa như tỉa bắp nhưng dày hơn”.
“Ừ, làm thì làm, nhà nước kêu sao làm vậy”.
Trong toán người có tiếng xì xào: “Xí cây bo bo này người ta trồng cho gia súc ăn mấy ông bà ơi”. “Ờ, thì trồng chia nhau về nuôi heo, nuôi gà”. “Nhà nước nói hay cha Tư này nói hông biết nữa”.
Trồng tỉa cũng chẳng khác mấy bữa dãy cỏ. Hột giống, phân cứ vung vương vãi, thoải mái khi không có ai, muốn cho mau hết sớm đặng mà nghỉ. Lúa có giống mới, giống 3A cao sản ngắn ngày, chỉ ba tháng là thu hoạch, chú Tư râu cười khà khà:
“Giống như vậy mới là giống chớ, cho sản lượng cao lại làm được hai vụ, tha hồ có dư dả”.
Hai anh em nó thay phiên nhau buổi đứa này học thì đứa kia dắt bò ra ruộng và ngược lại để cày. Thằng Hào giao cặp bò cho anh Ba Lễ, Ba lễ ngậm điếu thuốc lá Hoa Mai, mặt vểnh vểnh, nhìn trời coi bằng cái nắp vung:
“Mẹ, mày chăn bò kiểu gì mà ốm nhom vậy mậy, làm sao bò cày nổi”.
Thằng Hào có tánh ngang tàng, tụi nó đặt là Hào lỳ mà, nó đâu chịu thua, hất hàm hỏi lại:
“Ông chỉ chỗ nào có cỏ cho tui coi, nắng cỏ chỉ còn lên hông nổi lấy cái gì cho bò ăn”.
Ba Lễ chẳng thèm nhìn thằng Hào:
“Mấy tụi bây làm biếng thấy mẹ”.
Thằng Hào ghét cay ghét đắng anh Ba Lễ, anh Ba Lễ có bà con gì đó với ông chủ tịch xã nên trong danh sách đăng ký nghĩa vụ không bao giờ có tên, vài người nữa cũng vậy, cháu ông này con ông kia, bà con cô bác biết hết mấy vụ này nhưng không nói được, họ tức cho cái chỗ không công bằng nên nhiều lúc không muốn cho con mình đi, xúi đi trốn, chấp nhận ngày ngày lên xã. Thằng Hào trả treo :
“Ông làm biếng thì có, ở đây giỏi nói dóc sao không ngon đi bộ đội như anh tui, nhát như nhái, sợ chết còn bày đặt”.
Ba Lễ hằn học ra mặt cầm cây roi sóng rắn* (*rễ cây sóng rắn) sấn sấn lại trước mặt thằng Hào:
“Mày nói cái gì, mày nói ai nhát?”.
Thằng Hào đốp chát:
“Ông hông nghe hà, chắc ông bị điếc” – Nói xong cũng là lúc móc xong bò vào ách cày, vừa móc nó vừa nói tiếp: “Lớn còn ỷ cầm roi, giỏi ăn hiếp con nít”.
Ba Lễ miệng lẩm bẩm:
“Có ngày biết tay tao”.
Ba Lễ hụi bò đi, bò đi ba chớp ba nháng, dòm lại ba Lễ hét lên:
“Ê thằng chó kia, tao cày quanh tá mày móc bò quanh ví là sao hả mậy?”.
Thằng Hào cười xấc:
“Ông có nói hông tui biết, ông tự mà móc lại đi, nhớ lần sau cày kiểu nào phải nói trước kiểu đó nghen, kêu tui chó có ngày tui xua mấy con bạn tui nó cắn đừng trách ”.
Nó cười ha ha bỏ đi, Ba Lễ mặt hầm hầm tức tối nhưng không làm gì được.
Cày quanh tá là đường cày úp phải, úp vô bên trong ruộng, cày bên trong cày dần ra ngoài, bò đi quanh phải. Quanh ví thì ngược lại úp ra ngoài bờ, bò đi quanh trái, cày từ ngoài vô trong. Hai kiểu phải móc bò khác nhau, con nào thuận bên nào cày theo kiểu bên đó thì con này làm chủ dây mũi như dây cương ngựa. Bò đi thì hụi hụi, đi đi, muốn đứng thì kêu dò dọ, muốn qua phải cũng kêu tá tá, ví ví qua trái.
Những cơn mưa đầu mùa cỏ hức mọc lên ào ào. Bò cày cả ngày nên nó tranh thủ cho bò ăn thêm đến tối mịt, nó sợ “ông trời con” Ba Lễ làm khó dễ, nó không lỳ như thằng Hào, với lại thằng Hào có anh đi bộ đội nên nó chẳng sợ gì. Trời chập choạng tối đang cho bò ăn dọc bờ ruộng nó thấy thím Ba Mạnh cầm cái thúng giê đi băng băng, gặp nó thím hỏi:
“Má có nhà hông con?”.
Nó gật đầu:
“Dạ có, má con trong nhà”.
Nó cỡi bò về luôn. Thím ba mạnh đi vô nhà ở cửa sau, gặp má nó nói nho nhỏ:
“Chị Hai làm ơn cho em nượn ít khoai lang khô được hông chị Hai?”.
Má nó gật đầu:
“Được chớ, ngồi uống ly nước cái đã”.
Má nó rót ly nước cho thím Ba Mạnh, vừa uống nước thím vừa nói:
“Khổ quá chị ơi, nhà hết sạch rồi, mấy năm còn làm cho chị chớ năm nay thì…”
Má nó múc đầy thúng giê khoai lang khô hỏi:
“Mà còn gạo hông?”.
Thím Ba lắc đầu:
“Dạ, cũng hết trơn, cảm ơn chị nhiều nghen” – Thím Ba dợm đứng dậy đi về, má nó ngăn lại:
“Thủng thẳng chút đi làm gì gấp gáp quá vậy, để tui lấy cho ít gạo”.
Thím Ba huơ huơ tay:
“Thôi, thôi chị, chị cho mượn khoai là quý lắm rồi”.
Má nó ấn thím ba ngồi xuống:
“Có gì đâu, xóm giềng tối lửa tắt đèn có nhau, lấy ít gạo về nấu cho sắp nhỏ”.
Má nó lấy cái thúng lớn múc nửa thúng khoai lang, lấy cái thúng dê đổ trở lại rồi xúc đầy thúng dê gạo chồng vô cái thúng lớn:
“Khoai tui còn nhiều, bữa nào rãnh lấy cái gánh qua gánh về một gánh”.
Thím Ba rưng rưng:
“Dạ, nhưng chi mà nhiều gạo quá vậy chị, hông có chị tui hông biết chạy đâu, biết cảm ơn chị sao đây”.
Má nó lắc đầu:
“Ơn nghĩa gì hổng biết, thím về trời tối cẩn thận”.
Khoai lang khô bấy lâu nay hầm buổi sáng ăn dậm hay ngào đường ăn chơi giờ trở thành nón chính của rất nhiều nhà, ba bữa đều có hiện diện của khoai lang, sáng hầm không, trưa chiều độn với cơm, hết sáu bảy phần khoai, ăn nồng lỗ mũi, ngán đến nỗi chỉ cầu mong sao có được chén cơm trắng, chỉ cơm trắng chan với nước mắm, nước mắm kho mặn chát chứ chẳng cần nước mắm ngon, nước mắm nhỉ hay gì khác, chẳng cần thịt cá cũng là đã quá đủ. Sau này có người còn không dám nhìn lát khoai lang, có người còn lấy hình tượng lát khoai để nói đó là khoảng thời gian “lăn bánh xe lịch sử”.

***

Bobo, lúa lớn lên cũng được bón phân dãy cỏ, vun gốc như thường lệ, ấy vậy mà hổng hiểu làm cách gì mà nhiều chỗ bo bo, lúa lên tới đâu là cỏ lên theo gần như tới đó, bón phân ra sao mà chỗ thì lên cao ngùn ngụt, chỗ vàng hoe thấp lè tè lên không nổi để cả cỏ vượt qua. Rồi lại thêm xuất hiện đâu đám cỏ ống, củ gần giống củ gừng ăn sâu và đâm rễ giống rễ tranh lan chằng chịt dưới đất, ngóc đầu lên là lớn nhanh ào ào, cỏ ống sống dai dễ sợ, củ đào phơi nắng chang chang cả mùa vậy mà chỉ cần một cơn mưa xuống là nó sống dậy, nức ngọn phóng tới như phi lao. Loại cỏ này lan đầy đất trồng bo bo nhà nó và mấy miếng ruộng với một số nhà nữa, không ai biết nó từ đâu ra.
Nghỉ hè nó cỡi cặp bò vào rẫy bắp giữ chung với chú Ba Mạnh, vừa có chỗ cỏ nhiều cho bò vừa phụ giữ rẫy. Ba nó chặt cây tre lớn hơn bắp vế làm thành cái bọ cạp, cây tre lớn chẻ làm đôi, một nửa ở dưới cố định, nửa ở trên một đầu chốt giữ phía dưới, đầu trên cột sợ dây dài vô trong chòi, kéo sợi dây đầu trên đi theo thả ra nó đập xuống miếng dưới, do cây tre bọng ruột nên tạo ra tiếng kêu rất lớn để đuổi chim chóc thú rừng. Phá nhứt là mấy con khỉ, kéo từng đàn vô quậy, bẻ cây bứt lá chơi, có con còn khè khè trêu chọc cả với người, còn những người đã từng làm rẫy nói lại tới mùa bắp chín không khéo giữ, hù dọa cả đêm bằng bò cạp, hay rào không kỹ dễ làm mồi cho cả bầy heo rừng, heo rừng mà càn qua chỉ một đêm coi chừng cả rẫy đi tong. Ba nó và chú Ba mạnh vài ba bữa là lại vào chặt thêm chà gai tre tấp vào hàng rào, bắp đã lớn trổ cờ rồi, đất rẫy mới làm có một hai mùa nên còn tốt, cỏ cũng ít nên bắp xanh rì.
Nó vòng* (*cột) cặp bò trước cửa rẫy để đi một vòng xung quanh coi có chuyện gì xảy ra không. Khi trở lại thì chỉ còn mỗi con Đạm, còn con Pháo đâu mất tiêu chỉ còn sợi đây cột mũi. Nó quýnh quáng chạy lung tung đi tìm một hồi chẳng thấy đâu, quay trở lại thì nghe xào xạc bên trong rẫy, chạy vào trong con Pháo đang đứng gặm cây bắp ngon ơ, nó vừa ăn vừa dẫm đạp hết một mảng lớn. Người nó run lên bần bật, mếu máo nhào vô chụp mũi bò vừa bẩm bẩm: “Chết chắc tao rồi, mày giết tao rồi”. Con Pháo ngang bướng chớ không như con Đạm hiền lành, thấy nó lúc lắc đầu với cặp sừng nhọn hoắc tung chạy ra ngoài rồi phóng như bay theo đường về nhà. Nó báng sống báng chết lao theo bất chấp cỏ le cao phủ cả người, nhiều loại gai góc tủa ra trên đường đi, không cần biết tránh né gì, mặc chúng cào xé. Nó cứ để con Đạm ở đó rồi tính sau, chớ con Pháo không thấy nó đuổi theo dọc đường về gặm sạch lúa thì đâu còn gì nói nữa. Con Pháo chạy mệt đủng đỉnh chạy chậm lại, nó vừa tới gần lại phóng như bay tiếp, cứ vậy chạy thẳng về nhà…
hai đứa con gái chằn lửa. Tới đây thì bó tay, nó không dám vào để xin bò, chỉ còn cách bấm bụng về nhà quỳ xuống mà kể lại câu chuyện. Ba má nó nghe xong cũng điếng hồn, chạy ngay vô xin lại bò. Hai đứa chằn lửa hả hê ra mặt:
“Bộ dễ ăn cướp lắm hả, bò nó đâu có ngu”.
Ba hai đứa ra la lớn:
“Hai đứa bây hỗn hào quá nghen, đi vô nhà, chỗ người lớn nói chuyện”.
Ba nó năn nỉ”
“Anh Sáu thông cảm thằng nhỏ nhà tui nó lơ đễnh, nó chăn bò hông tốt, anh Sáu tha cho lần này”
Chú Sáu Tình hỏ nhẹ:
“Không có gì đâu anh, con này nó hung lắm tui biết mà, nó sút mũi hoài chớ gì, thôi anh cho cháu dắt về đi”.
Trở lại rẫy con Đạm vẫn còn gặm cỏ, nó mừng húm, coi kỹ lại dây cộ hết, trong khi chờ đợi nó chặt và vót sẵn cây roi tre, chuẩn bị cho trận đòn mà tưởng tượng chắc chắn không hề nhẹ.
Trưa ba nó và chú Tư râu cùng ông Sáu Hoàng ôm cặp táp thêm chú du kích đeo súng nữa vô tới rẫy. Nó bần thần hết cả người. Chú Tư râu đi kiểm tra hết rồi quay lại chỗ bị bò ăn, chú nói lớn:
“Chỉ bị chỗ này mà cũng nhiều quá, phải chi ít ít tui bỏ qua, anh Sáu lập biên bản đi, đếm bao nhiêu gốc rồi tối hợp bà con lại xử lý, còn anh Hai phải coi rẫy cho kỹ chớ, dặn tụi nhỏ làm ăn đàng hoàng, làm ăn như vậy đâu có được”.
Lập biên bản xong ba người ra về. Tiễn ba người ra về ba nó ngồi ngay cổng rẫy chống cằm nhìn xa xăm không nói tiếng nào làm nó càng thêm sợ, phải chi la mắng nó tới tấp, kêu lấy roi oánh cho một trận còn dễ chịu hơn, đợi một hồi lâu chẳng thấy động tĩnh gì, nó làm liều đem cây roi lại kề bên, ba nó cầm cây roi nhịp nhịp, rồi kêu:
“Con ngồi xuống đi”.
Nó thấy lạ mon men lại ngồi xuống kề bên:
Ba nó vừa xoa xoa đầu tóc nó và nói nhè nhẹ:
“Con còn nhỏ chưa hiểu hết chuyện đời, kệ họ nói gì thì nói nghe, cái nào đúng thì mới nghe, con đâu có tội tình gì, nhưng từ nay về sau làm cái gì cũng phải cẩn thận nghe con”.
Nó ứa nước mắt, nãy giờ nó sợ ba nó không tin, nó lý nhí:
“Dạ”.
Hai cha con ngồi như vậy khá lâu, mặt trời qua xế chiều ba nó mới ra về. Nó ngồi một mình nhìn những đàn chim lục tục kéo nhau bay về tổ, chim chóc vừa bay vừa hót líu lo trên bầu trời chuyển dần màu vàng vàng, màu rất đẹp nhưng sao thấy man mác nỗi buồn.
Không chờ tiếng kẻng, vừa lua vội cho xong chén cơm ba nó đi tới nhà ông Sáu Hoàng chờ hợp liền. Nó len lén chạy theo sau. Chập sau chú Tư râu mới tới rồi oánh kẻng.
Bà con tập hợp đông đủ, chú Tư râu thông báo lý do có cuộc họp đột xuất ngày hôm nay, chuyện bò nhà nó giữ không kỹ càng ăn đễ sổng đi ăn bắp. Sau khi chú Tư râu nêu lý do xong nói tiếp:
“Bây giờ anh Hai tự kiểm điểm đi và cho hình thức kỷ luật luôn”.
Ba nó đứng dậy:
“Dạ thưa đại diện hợp tác xã, chú Tư anh Sáu và bà con, tui thiệt tình có lỗi lớn đã để xảy ra sự cố đáng tiếc này, đây cũng là bài học lớn cho tui… – nó thấy chú Tư ngồi gật gật đầu, ra điều vậy là tốt biết ăn năn hối cải – Ba nó tiếp: Tui tự ra hình thức kỷ luật như vầy, bò tui giữ lỡ ăn mất hai trăm gốc bắp, một là tới mùa tui sẽ đền lại đúng số trái, hai là trừ đi công điểm chăn bò”.
Chú Tư râu hỏi:
“Bà con ý kiến sao? tui thấy đền cho gọn”.
Chú Sáu Tình đứng lên:
“Vậy thiệt cho anh Hai lắm, bây giờ bà con còn có hai sào đất, mần được bao nhiêu, tui đề nghị trừ một tháng công điểm”.
Chú Ba Mạnh đưa tay lên:
“Tui đồng ý”
Chú Ba bừa cũng giơ tay:
“Tui theo anh Sáu Tình và chú Ba Mạnh”.
Bà con cũng râm ran theo: “Vậy đi, được đó”. “Đền bắp chắc đói nhăn răng quá!”.
Chú Tư râu phải chiều theo ý bà con nhưng chú tỏ ra không vui. Ba nó nói tiếp:
“Cảm ơn bà con, còn chuyện này nữa, tui nhận thấy mình hông làm tròn trọng trách đội và hợp tác xã giao nên xin giao lại cặp bò, trả về chủ cũ là đúng nhứt”.
Chú Tư gật gật đầu:
“Vậy cũng được, bà con thống nhứt chớ”.
Chú Sáu Tình nhìn ba nó, chú không ngờ ba nó lại làm như vậy. Bà con thì im lặng, không ai nói gì cũng không có ai phản đối. Chú Tư tiếp:
“Thôi vậy đi, kết thúc cuộc hợp”.
Nó là đứa vui nhứt, đã không bị trận đòn còn chỉ bị trừ điểm một tháng chăn bò thôi.
Sáng hôm sau dắt cặp bò qua nhà ông Sáu Hoàng, hai chị em chằn lửa đã có mặt nhưng tươi cười chớ không gầm gè thấy ghét, chú Sáu Tình quàng vai ba nó vỗ vỗ:
“Tui hông có trách gì anh Hai đâu nghen, tụi nhỏ nó chưa hiểu biết nên đôi khi nói bậy bạ, anh Hai có gì bỏ quá cho”.
Ba nó cười:
“Tui cực chẳng đã mới nhận, bây giờ được gởi lại cho chú tui mừng lắm rồi, ủa mà sắp nhỏ nó nói gì… ơi mà tụi con nít với nhau chấp nê gì anh”.
Đưa sợi dây mũi bò cho hai nhỏ chằn lửa, hai đứa cầm lẹ rồi phóng tót lên lưng bò như sợ bị giựt lại, sợ rời khỏi tay lần nữa, hai đứa thúc giò vô hông kình kịch cho nó đi nhanh, chợt nơi sống mũi nó cay cay, mới mấy tháng với cặp bò mà thấy bịn rịn, không muốn rời xa và chợt hiểu ra, hai con nhỏ chằn lửa bực tức là phải, bao nhiêu năm chăm sóc cặp bò từ nhỏ xíu cho tới bây giờ. Mái nhà, ruộng rẫy vườn tượt của bà con cũng vậy, gắn liền với công sức, với tấm lòng chất phát, chân thật của bà con nông dân vô cùng.

LÊ ĐẮC HOÀNG HỰU

EM, MƯA, ĐÀLẠT

phamnguyen

Chút hương thời gian
Cho đời thắp lửa
Với em là mưa,
Chiều xanh nhánh cỏ
Nghe lòng chiêm bao

Bây giờ trên áo
Thơm mùi hương ai
Em về nắng mỏng
Mưa bay tình ngoài
Buổi chiều gió động
Thổi lòng măng mai
Đóa hồng cuống quit

Đêm qua Hàm Nghi
Giáo đường trống trải
Chè Phan Đình Phùng
Ngọt ngào con gái

Ngói đỏ Couvent
Dấu giầy Cẩm Cúc
Hoa quỳ vàng rực
Giữa bàn tay em

Giữa bàn tay ta
Dòng mưa đầu mùa
Em về đường xưa
Trại Hầm dâu chín
Qua cầu câm nín
Tiếng cười mạc lan

Buổi sáng lang thang
Qua nhà Thủy tạ
Ly cà phê đá
Ngập ngừng trên môi
Vẫn đầy chưa uống

Giữa em và mưa
Ta còn Đà Lạt…

PHẠM NGŨ YÊN

LỬA MUỘN

nguyenlienchau

Gởi Nguyễn Vân Thiên

Tay bật diêm ngọn lửa cháy xòe
Ánh sáng bùng lên khởi nguồn bao bóng tối
Điếu thuốc ngún dần những hao hơi lầm lỗi
Ngọn nến ngắn dần những hoang tưởng đảo điên

Nhập nhằng cõi người bao ngộ nhận chung riêng
Lửa trong thơ hắt lằn ranh thực mộng
Ánh sáng ảo ở bên này sức sống
Trở thành nguồn tối ám phía không thơ

Chúng ta ngồi nhóm lửa nhớ ngày xưa
Chú dế ốc tiêu phùng mang trợn má
Thuở hồn nhiên nhờ thở hương rơm rạ
Chẳng biết nề hà giữa nhận và cho

Chúng ta làm thơ khêu lại tàn tro
Ngọn lửa tim buồn âm âm le lói
Que diêm ẩm từ khi không phục tùng bóng tối
Ước ao sáng lên dù chỉ một lần thôi.

Chúng ta ngồi đốt thuốc gọi mù khơi
Khao khát lửa ấm đều cho năm tháng
Đời quen thói hổ ngươi bao hạn hán
Cho lòng riêng mưa gió đến bão bùng

Chúng ta bật diêm như một thói quen chung
Lửa bùng lên… lửa lụi dần… lửa tắt
Chân chôn cứng ở bên này sự thật
Đốt thuốc cuồng điên cho ngắn lại hoang mang

Đốt thuốc ngồi mong những giấc mộng hóa vàng
Chỉ thấy phản quang ánh sáng đèn điện tử
Cháy về đâu ngọn nến thơ ảo dụ
Điếu thuốc buồn tiếc nuối những que diêm

Cháy đời ta những vây bủa im lìm
Ngọn lửa muộn trong chân tìm nẻo sớm
Ngọn lửa muộn trong tay run cạn vốn
Nến thơ ta nhựa sáp nhão lâu rồi…

NGUYỄN LIÊN CHÂU

CẢNH CỬU VÀ SỰ CÔ ĐƠN ĐẾN TẬN CÙNG

nguyenleuyen

“Tôi yêu anh yêu biết nhường nào
như quê hương yêu anh yêu mê mệt
mà anh dửng dưng, nguội lạnh.
Tôi buồn như những đám dương vùng Đại Lãnh.
Tôi khóc như mưa chiều về với núi Vọng Phu”
.
(Cảnh Cửu)

Trước đây, nhiều người vẫn nghĩ rằng, Cảnh Cửu chỉ có một truyện ngắn duy nhất là Thư từ Tuy Hòa, đăng trên tạp chí Văn số 45 chủ đề Françoise Sagan ra ngày 1.11.1965. Nhưng thật ra không phải vậy. Hơn một năm sau, truyện ngắn thứ hai Vòng đai học vấn (1) xuất hiện trên Văn số 72, ngày 1.11.1966; rồi 5 tháng sau là truyện Khởi hành vào mùa xuân tương lai (1) Văn số 79, ngày 1.4.1967; đây cũng chính là truyện cuối cùng ký tên Cảnh Cửu.
Như vậy, trước sau Cảnh Cửu có 3 truyện đều được đăng tải từ tạp chí Văn, một tạp chí văn chương nổi tiếng của miền Nam. Đây có thể coi là một trong số những truyện ngắn độc đáo trong dòng văn học nghệ thuật miền Nam (1954-1975).
Chỉ riêng việc Cảnh Cửu đến với văn chương không ồn ào, rồi lặng lẽ rút lui (không viết thêm một truyện nào khác trên bất kỳ tạp chí văn chương nào khác) đã khiến nhiều người đặt dấu hỏi tại sao, và Cảnh Cửu là ai?
Cảnh Cửu là ai? Không hề có một thông tin nhỏ nào. Ngay cả khi còn là thư ký tòa soạn Văn, chính ông Trần Phong Giao, lúc cho đăng truyện Thư Từ Tuy Hoà mà “không cần qua Ban tuyển đọc tác phẩm, chỉ vì truyện khá hay, lại là truyện ngắn đầu tay” – lời TPG. Ông viết thư khuyến khích Cảnh Cửu, gửi nhuận bút cho tác giả với hy vọng của một người luôn nặng lòng với văn chương, luôn để mắt khám phá những cây bút trẻ tài năng, sẽ có thêm một Cảnh Cửu chói sáng như một số nhà văn trẻ trước đó. Nhưng rồi hy vọng đã không thành và những gì ông nói về Cảnh Cửu trong những buổi “trà dư tửu hậu” chỉ là những từ “hình như” nối liền nhau: Lúc truyện ngắn đầu tiên được chọn đăng, hình như Cảnh Cửu đang theo học ngành Nông Lâm Súc tại Sài Gòn. Trước đó, hình như Cảnh Cửu theo gia đình di cư vào Nam năm 1954, nơi đến đầu tiên là Tuy Hòa, vùng đất nghèo nàn, khô cháy ở duyên hải miền Trung. Hình như Cảnh Cửu cũng học bậc trung học ở đấy (trường Nguyễn Huệ, Tuy Hòa – dẫn của người viết).
Mà đúng vậy. Ngoại trừ truyện Vòng đai học vấn, còn hai truyện kia, Cảnh Cửu đều lấy bối cảnh là Tuy Hòa – Nha Trang – Qui Nhơn, thông qua những lần lui tới trên những chuyến tàu lửa “hậm hực phun những tàn lửa và thét inh ỏi, vang động núi rừng”. Điều này chứng tỏ rằng, Cảnh Cửu đã từng sống, từng qua lại ba thành phố này nhiều lần và hiểu biết khá cặn kẽ miền đất ca dao duyên hải nam Trung bộ “anh về Bình Định thăm cha, Phú Yên thăm mẹ, Khánh Hoà thăm em” hay “Bình Định tốt nhà, Phú Yên tốt lúa, Khánh Hòa tốt trâu”!
Với sự hiểu biết về nơi tạm cư như một khám phá mới mẻ cá nhân, ngay ở cửa ngõ ra vào Tuy Hòa, Cảnh Cửu giới thiệu: “Con sông Đà Rằng chảy qua cây cầu một ngàn hai mươi thước đó làm anh mê à. Mùa mưa nước lênh láng bao la thật. Cũng mùa mưa nước đổ dầm dề gió bấc cắt da chỉ còn con sông Đà và chỏm núi Nhạn là tương phùng như trong chuyện Sơn Tinh Thủy Tinh. Cá ở ngoài biển dám chèo vào với bánh tráng trong thành phố đó…” (TTTH).
Còn Nha Trang thì: “Con đường Gia-Long với hai hàng me thẳng tắp trước cổng nhà thờ. Tôi không thể nói gì nhắn gì. Hàng me thì những lá nhỏ. Nhà thờ thì tháp chuông cao” (KHVMXTL) và: “Hương khói mùa xuân còn nghi ngút ở Tháp Bà. Tôi đứng trên những bậc cấp nhìn xuống Cầu Xóm Bóng cong cong, nước dưới cầu lặng lờ” (KHVMXTL).
Với Qui Nhơn: “Tàu chạy ngày càng sâu trên đất Bình Định. Tôi chỉ cho anh vài tên vùng đi qua: Vân Canh nhiều thượng. Diêu Trì ngã ba. Cầu Đôi nước đứng. Tháp Chàm gạch đỏ và núi Qui Nhơn lở lói. Nhưng chắc anh không thấy gì… Thành phố những miền này như thế cả. Nó chắp nối, vay mượn không ra cái thể thống gì. Chiến tranh giày vò, dẫm đạp nó quá nhiều làm sao nó giữ được một truyền thống. Nhưng Qui Nhơn còn hơn Tuy Hoà tôi nhiều” (TTTH).
Cái cách Cảnh Cửu miêu tả, nhận xét những cảnh vật, con người mà mình từng có dịp tận mắt nhìn thấy và từng sống với trong khoảng thời gian ít ỏi, tuy không óng ả, trau chuốt, đôi lúc có vẻ mộc mạc, thô kệch đến trần trụi… nhưng lại làm cho đoạn văn bỗng trở nên sáng đẹp và lộng lẫy như chút ráng chiều hửng lên những quầng sáng sặc sỡ phía đằng tây: “Anh có thấy Tuy Hòa là bãi cát mênh mông những gai lưỡi long và cỏ may lẫn lộn. Nắng nóng làm cát bỏng dưới chân. Gió nam quét mạnh làm bụi cát bay tứ tung. Những con đường phố, những đầu tàu, những mái nhà, những phu xe, những con người nghèo khó áo đen nón lá và cát bụi vò trộn quay cuồng thảm hại. Hãy tưởng tượng đến một thôn làng: Nhìn ngoài có vẻ phong phú dừa xanh lúa tốt. Nhưng bên trong, mùa gió cát bay như mây… Những đồi cao ngất lần lần tràn xuống xóm làng làm sự sống nhỏ nhoi vô nghĩa. Mà thật vậy sỏi cát đã chiếm hết những thỏi đất màu mỡ, cây cao lên không nổi, lá mỗi ngày một lụn tàn. Sự nghèo khó đến gõ cửa thường xuyên, cơm thì gạo ít mà ngô khoai nhiều. Đậu mè, đậu phụng trộn với muối rang là món ăn đắt giá. Chắc khi đọc thư này anh có ăn cục cơm và miếng thịt gà tôi gửi theo thì dù cho cơm đã thiu thiu, thịt gà đã dai nhách cắn không bể nhưng chắc cũng đỡ hơn cái sống ở đây nhiều. Nó là cái tinh hoa của xứ sở tôi đãi du khách đấy” (TTTH).
Đúng là, có sống ở Tuy Hòa lâu ngày, trong thập niên 50, 60 mới có thể nhìn thấu suốt cảnh sắc ở đây để miêu tả một cách chính xác đến như vậy. (Và hẳn nhiên, những con người từng sinh ra và lớn lên bên dòng sông Ba, ở độ tuổi trên dưới 70, khi đọc những dòng miêu tả trên kia, tôi chắc họ sẽ rất đỗi tự hào với chút ngậm ngùi khi hoài nhớ về xứ sở họ, với cả tấm lòng gửi đến nhà văn, vì chí ít, những đoạn miêu tả đó sẽ như tấm ảnh cũ nát để ta tưởng vọng về chốn xưa!).

Điều đáng lưu ý: truyện Thư từ Tuy Hòa được Văn ghi bên dưới là đoản tác của Cảnh Cửu đăng ngay trong số đặc biệt Françoise Sagan, một nhà văn nữ của Pháp (thuộc lớp nhà văn hiện sinh nổi tiếng được độc giả miền Nam ưa chuộng, bên cạnh A. Camus, J.P. Sartre… trong thập niên 60).

Thư từ Tuy Hòa là một truyện ngắn độc đáo, bởi kết cấu của loại truyện không phải truyện; nội dung chỉ dồn về một phía nhân vật, như một truyện kể mà lại không phải lời kể lể; như một xâu chuỗi độc thoại rối nùi giữa quá khứ và hiện tại, giữa sau và trước, để phơi bày nội tâm của một cô gái đang hoang mang trong mớ tình cảm lùng nhùng, bởi đối tượng cô nhắm tới luôn ở trạng thái tĩnh, luôn cách xa lạnh lùng, dửng dưng đến nỗi ngay cả lúc yêu đương sôi nổi, cái sự lạnh lùng dửng dưng kia vẫn cứ sừng sững đeo bám bên người (!), khiến cho những cảm xúc, đôi khi như chen giữa hai nhân vật đối mặt nhau để thầm thì nhỏ to, rồi lại ẩn náu nơi góc khuất nào đó có vẻ hững hờ chừng mực, nồng nàn chừng mực, như một lời than trách. Tất cả được nguỵ trang dưới một bức thư.
Nhân vật “anh” luôn vắng mặt, nhưng cũng luôn hiện hữu trong tâm cảm cô gái là một “anh” nào đó, một đại từ danh xưng ngôi thứ hai. Nhân vật này được Cảnh Cửu tạo ra như cái vẫy cánh của con chim hải âu ngoài khơi. Nó thật gần trong tầm tay nhưng không thể nắm bắt được trong tay, rồi lại chấp chới đâu đó tít đường chân trời mà cũng thật gần trong từng cử chỉ, hơi thở lúc cô hồi tưởng, nhớ nhung… Đó là Hắn (tên gọi từ sự sắp đặt của tác giả). Nhưng hắn đã chết trước khi cầm trong tay nỗi khao khát, thương nhớ! “Hắn chết được vài ba hôm thì có một bức thư gửi cho hắn… mãi hăm mốt ngày sau mới được xé ra”. Và, cuối truyện: “Lá thư sau đó được đem đốt thành tro, những cánh tro mỏng manh men theo gió bay đi dọc con đường ngắn, không có gì nguy hiểm cả”. Lối viết theo cách mở và đóng này, trong thập niên 60 kể như là một lối hành văn mới lạ so với dòng văn chương lãng mạn của những năm 30 còn sót lại, đã gợi sự tò mò, đã lôi cuốn và không kém hấp dẫn đối với người đọc.
Nhưng cốt lõi vẫn là nội dung lá thư kia, trong đó ta được biết cô gái là một cô giáo quê ở Tuy Hòa, và “anh” gốc Qui Nhơn đã rời quê khá lâu, biết về nơi chôn nhau cắt rún khá lờ mờ, hời hợt.
Kết cấu của truyện là những hình ảnh, những lần gặp gỡ “lấn cấn”, những tình cảm dậy lên giữa quá khứ và hiện tại trộn lẫn với nhau, nhằm giãi bày tâm trạng, tình cảm của cô gái, khi thì hưng phấn nồng cháy, lúc chìm vào vùng xơ xác bất toàn. Những chuyến tàu xuôi ngược đưa hai người gần nhau trong giây lát rồi lại tách đôi giống như “hai khoảng đường ray tránh nhau rung lên hối hấp” (HTVMXTL). Cũng có thể ví “anh” là con chim thiên di quên lối về, đã biệt xứ; con chim đến rồi đi rất đỗi bất ngờ, trong khi cô gái thì như một con chim cắt đơn độc luôn dõi theo săn lùng, với tham vọng muốn mở banh lồng ngực của “anh” bằng bất cứ giá nào để coi trái tim “anh” đập theo nhịp ngân rung của bao nhiêu trường canh, bao nhiêu đoạn khúc của nhịp sênh phách? Đấy là khoảnh khắc hai người gặp nhau trên chuyến tàu lửa và tình cảm của cô gái vụt trỗi dậy một cách ồn ào (chỉ có một mình cô ta cảm nhận được): “Tôi biết anh cũng muốn vào nhưng muộn rồi. Tôi đứng chận đây. Đầu đằng kia là cuối con tàu. Anh chạy đằng trời nào. Tôi khoanh tay ra sau tì lưng vào thành tàu ưỡn người. Ngực tôi lồ lộ. Gió tung vạt áo trước tôi đi xa thấy rõ hàng nút xẻ dọc trên quần. Gió càng mạnh làm vải ở hai bên đùi tôi mỏng thêm và chiếc xì-líp dày cộm kinh khủng. Tôi biết nhưng cũng chẳng buồn sửa lại” (TTTH).
Đây là dấu hiệu khởi đầu cho sự khiêu khích thị dục. Sự khiêu khích đối phương trổi dậy từ bản năng gốc của cô gái, bởi từ những cảm xúc có thật, đã nảy sinh một thứ tình yêu chưa được xác định mức độ, rồi chuyển sang ước muốn đụng chạm lững lờ bên ngoài da thịt mang ít nhiều nhục cảm, không tiến xa hơn, nhưng vẫn để ngỏ: “Tôi biết nhưng cũng chẳng buồn sửa lại”. Những ham muốn luôn bị ức chế, dồn nén bởi ý thức không rõ ràng giữa một giống cái và một cô giáo buộc phải đạo mạo, đôi lúc chuyển thành liều lĩnh đến cẩu thả trong nhân cách? May mà nó chỉ tồn tại trong ý nghĩ, không được thể hiện bằng những hành động chính xác “đè bẹp… ngạt thở chết…”. Tất cả những hình ảnh được ghi lại chỉ có chi tiết “Tôi khoanh tay ra sau tì lưng vào thành tàu ưỡn người” là động tác có thật. Còn lại, tất cả những gì hiển lộ trên thân thể cô gái như “ngực tôi lồ lộ, vải ở hai bên đùi tôi mỏng thêm và chiếc xì-líp dày cộm kinh khủng…” chỉ là những cái cảm thấy từ một phía; chắc chi “anh” thấy ngực lồ lộ, vải mỏng trên đùi và chiếc xì-líp dày cộm như cô vừa cảm, đã thấy?
Đây cũng chỉ là dạng rung động dục tính, là sự rung động cô đơn từ một thân xác có sự kiểm soát chặt chẽ của lý trí, giống như một đốm sáng chợt lóe trong đêm và thong thả tắt, như một đe dọa ngọt ngào: “Tôi đâm ra chưng hửng khi đứng trước căn nhà ấy. Phải chi một căn nhà nào khác khó kiếm tôi sẽ chui anh vào một phòng ngủ nào đó đè bẹp anh ngạt thở chết cho rồi.” (TTTH)
Trong khi đó, nhân vật “anh” của Cảnh Cửu thì có vẻ như mang dáng dấp của một kẻ mộng du, luôn lầm lẫn về những sự vật đang tồn tại trước mắt anh ta. Đó là lúc tàu vào Qui Nhơn, là lúc hai người bước ra khỏi sân ga nhưng “anh” không có một chủ đích nào, thậm chí không có một khái niệm rõ ràng về không gian: “Tôi hỏi anh đi đâu. Anh nói vào ga chứ đi đâu nữa. Vào ga sao lại đi tuốt đằng này. Anh chỉ cái nhà cao có đèn nê-ông xanh đỏ: Không phải ga đó sao. Tôi rụng rời: Rạp xi-nê KK. Anh không thấy chữ đó sao. Anh nói tưởng đó là chữ quảng cáo li nhi quá. Tôi lại buồn nhà ga thì thấp hơn con tàu, tối om làm anh không biết đâu mà đến. Còn rạp xi-nê thì diêm dúa màu mè, cái điểm chính không hiện rõ làm người ta phải lầm tưởng” (TTTH). “Anh” lầm lũi bước đi để tự lẫn lộn, ngay cả không hề để ý đến cô gái đi bên cạnh. Và điều này khiến cô gái càng cảm thấy cô đơn hơn bao giờ, mủi lòng hơn bao giờ: “Tối đó đáng lẽ tôi thây kệ anh, mình về nhà tắm rửa, ngủ một giấc cho khỏe. Nhưng thấy anh lầm lũi tôi thương quá”.
Tiếp theo: “Anh đi bên tôi như một tín đồ ngoan đạo. Thành phố Qui Nhơn không có gì làm anh kinh ngạc. Tôi ức nghẹn cổ. Chốc lát con phố Gia Long đã cụt. Những phố khác không đèn. Biết đi đâu bây giờ. Tôi thương tiếc tôi. Tôi thương tiếc cái thành phố này. Chỉ còn cách dẫn anh xuống bến tàu trấn nước cho ngộp thở bõ ghét chứ đi đâu nữa.” (TTTH).
Có lẽ đây là đoạn văn cao trào nhất trong truyện khi cái nín lặng, lầm lũi của “anh” trở thành bức tường rêu ám lạnh lẽo ngăn cách tình cảm bắt đầu dậy men, ồn ào trong lòng cô gái. Cô lại thấy mình hoàn toàn cô độc đến nỗi muốn dẫn anh xuống bến tàu trấn nước cho ngộp thở bõ ghét chứ đi đâu nữa? Phải chăng đây là nỗi cô đơn song trùng trong buổi chiều trên tàu cô nhìn thấy: “Đám người đó khiêng một thây người trên cái võng máu me loang lổ trên áo trên mặt trên thân hình. Ruột thì lòng thòng thật dị hợm”?
Tàu lật ở Phan Thiết, một thây người máu me, ruột lòng thòng ở vùng Ninh Hòa – Vạn Giã, bị mắc lừa ở nhà ga Qui Nhơn và bóng người đi bên cạnh lầm lũi… hình như đã khơi gợi trong lòng cô sự xót xa mất mát, mất mát bên ngoài và mất mát cả trong tâm hồn cô? Những với chụp của cô luôn bị hẫng hụt đã trở thành nỗi khao khát mãnh liệt, lẻ loi tận cùng, khiến cô phải kêu lên: “Tôi ước ao có anh đến để anh hôn tôi dưới bóng cây này hay mình vào xi-nê hôn nhau trong bóng tối. Tôi thích như vậy… Sân ga vắng tanh. Đèn phố có chỗ không. Tôi cô đơn quá. Tôi khóc một mình”. Và: “Tôi yêu anh yêu biết nhường nào như quê hương yêu anh yêu mê mệt mà anh dửng dưng, nguội lạnh. Tôi buồn như những đám dương vùng Đại Lãnh. Tôi khóc như mưa chiều về với núi Vọng Phu”.
Liệu rằng những lời kêu than nức nở kia có cứu vãn những giây phút ngọt ngào khi “anh” bất ngờ lao tới, bất ngờ lôi cô ra khỏi nhà trong buổi sáng sớm. Hai người đưa nhau ra Ghềnh Ráng. Chỉ có hai người trong nắng sớm và biển xanh ngắt sâu thẳm dưới chân núi? Với một khoảng không gian bao la như vậy, đã khiến cô phải thú nhận: “Ý thức tôi mơ hồ về thời gian không gian”. Và cô gái phải cảm ơn về sự mơ hồ ấy từ ý thức bắt đầu lao ra khỏi thế giới đang mất dần trọng lực: “Và anh giằng hôn tôi dưới nắng chói chang. Tôi kinh ngạc. Tôi đâu dễ dàng để anh hành động như vậy. Tôi xô đẩy anh và bỏ chạy”.
Cuộc dạo chơi tình cảm đẩy lên thành cuộc đuổi bắt tình cảm, để cuối cùng cô trở thành những cuộn mây “đâm vào núi cao như con chim mù đâm vào ghềnh đá”. Đây cũng chính là sự chống chế cố hữu của tất cả mọi giống cái. “Tôi biết kêu ai” hóa thành sự thắng thế luôn âm ỉ nỗi khát khao đến khờ dại trước kia và ngay cả lúc này, trong người cô? Và hệ quả của mối tương tác kia là: “Tôi bủn rủn chân tay. Tôi sụm xuống sụm xuống cho đến khi mềm nhũn trong tay anh. Anh đã hôn tôi không sót một khoảng thịt da. Buổi sớm tôi còn mặc thêm một áo lót mà sao cái hôn anh vẫn thấu suốt. Chiều hôm qua tôi trông gió nâng vạt áo thật xa, thật cao và vải quần được ép thật sát vào da. Lằn chiếc xì-líp nổi kinh khủng mà tôi vẫn chưa thấy hài lòng. Sao bây giờ những thứ nghi trang của tôi tan biến đi đâu mất”.
Lá khi rụng thì rơi xuống mặt đất. Nước luôn tích tụ ở vùng trũng và chảy xuôi ra biển, không bao giờ trở ngược lên núi cao. Tất cả mọi vật trong vũ trụ đều bị lực hút của trái đất. Chúng rơi xuống và rơi theo chiều thẳng đứng. Cái định luật này cũng đã và đang xảy ra với hai người, “anh” và cô gái, trong trạng thái hưng phấn của hai mảnh ghép để cô kịp nhận thấy những thứ nghi trang đã biến mất là thuận chiều: “Anh đam mê buổi sáng. Tôi đam mê buổi chiều. Mỗi người đam mê ở một lúc khác nhau, phải chi nó trùng lại một thì đỡ khổ biết mấy”.
Giống cái luôn biết cách phòng thủ, và cô cũng đã mang ra niềm đam mê, hoan lạc để phòng thủ cho chút hạnh phúc như con chim mù đâm vào ghềnh đá. Cô, lúc này chính là những cuộn mây và con chim mù đó: “Tôi thấy ấm êm lạ thường. Anh siết chặt tôi đến nghẹt thở muốn gãy xương. Anh ôm giữ tôi chờ mặt trời lặn. Nhưng rồi mặt trời đã lặn và anh cũng không được gì. Tôi biết, tôi hiểu và tôi thương anh. Nhưng tôi cũng thương tôi chớ. Đó là cái quyền có ở mỗi con người”.
Với cô, niềm hạnh phúc êm ái luôn đến sát gần trong trạng thái gãy vụn, tan nát. Nó bất ngờ lao tới ôm siết cô và bất ngờ rời xa khiến cô càng lúc càng trở thành con chim nhỏ ướt mưa, run rẩy đến tội nghiệp. Cô luôn là kẻ đi chụp bắt cái bóng nhỏ ngọt ngào thật mong manh. Nhưng cuối cùng, nó chỉ là cái bóng của chính cô rớt xuống nền đất lạnh. Cô luôn bị đặt trong trạng thái đơn độc: “Tôi ước ao có anh đến để anh hôn tôi dưới bóng cây này hay mình vào xi-nê hôn nhau trong bóng tối. Tôi thích như vậy. Những chiếc phi cơ lên xuống ở phi trường đèn đỏ chớp chớp nhoè nhoè như những con bướm lửa. Bầu trời mênh mông và một màu đen khảm kín. Sân ga vắng tanh. Đèn phố có chỗ không. Tôi cô đơn quá. Tôi khóc một mình”.
Cuối cùng, cô gái vẫn rơi vào tình thế bị động, là kẻ không thể “tham dự vào một phần đời của anh” là một sự thất-bại-tình-cảm dẫn đến tình thế gần như tuyệt vọng và càng cô đơn hơn bao giờ, khác với buổi ban đầu, hai người, hoặc cách nhau một lối đi, hoặc xa trong tầm mắt đợi chờ, trông ngóng. Cô lại bắt đầu quay lại với khoảng trống mênh mông: “Tôi thì yêu anh mà sao không được dự vào một phần đời sống anh. Tại sao chúng ta bị đưa đẩy vào những nghịch lý như vậy để rồi đơn độc trong những cuộc hành trình không mấy chi đẹp đẽ: Quê hương đang đi dần vào cái đói khổ, điêu tàn. Tôi đang đi dần vào cái già nua, nhục nhã. Còn anh, anh đang đi dần vào cái gì? Tôi nghĩ là anh đang đến thăm tôi”.

Truyện ngắn thứ hai: Vòng đai học vấn không có gì đặc biệt. Đó là nỗi thất vọng, sự mất phương hướng của tuổi trẻ miền Nam trong bối cảnh chiến tranh bắt đầu nhìn thấy rõ ràng ngay trong thành phố được xem là bình yên nhất: “Bạt thức dậy khi chiếc máy bay phản lực đang rồ máy trên nóc nhà”. Sự học gần như bắt đầu lâm vào ngõ cụt: “Con đường đại học còn hun hút. Tôi chưa thay đổi xê dịch gì”. Những thông tin xấu về thời cuộc là nỗi ám ảnh đối với bọn họ. Những buổi hội thảo của sinh viên như phương cách mở ra những hướng đi mới cho tuổi trẻ, nhưng hóa ra là nó đi ngược lại, như buổi sáng đó có buổi hội thảo bên trường Dược. Không nghe thấy buổi hội thảo này đang đề cập, thảo luận những vấn đề gì, mà chỉ có hậu quả: “Đám đông ùa chạy dạt ra sân trường. Hai đám đuổi đánh nhau thì rõ rệt nhất. Đám chạy trước vượt qua trường được thì chạy biến. Đám kia đuổi theo rồi cũng mất. Còn lại mấy người bị thương được bao quanh săn sóc…”. Bạt loanh quanh trong thành phố rồi bỏ ra Vũng Tàu với những người bạn làm việc ở tòa hành chính để chứng kiến những chiếc xe Jeep lùn, một anh lính Mỹ chở một cô gái chạy vụt đi… Truyện được viết với tâm trạng rã rời, mệt mỏi. Các nhân vật và khung cảnh xuất hiện lộn xộn, rối rắm mà không nói lên được điều gì mới mẻ, chí ít là thái độ, sự lựa chọn của những người trẻ tuổi như Bạt, đang ở vào thời kỳ khốc liệt của chiến tranh Nam-Bắc như nhiều nhà văn trẻ cùng thời đã biểu tỏ? Tôi nghĩ, truyện này của Cảnh Cửu đã bộc lộ những lúng túng của tác giả trước ngòi bút khi đặt ra vấn đề không lấy gì làm to tát, nhưng không thể giải quyết được vấn đề ấy. Đây cũng chính là bi kịch cho không ít nhà văn có nhiều tham vọng!

Truyện sau cùng trên Văn, Khởi hành vào mùa xuân tương lai, cũng chỉ có nhân vật chính là cô gái đang lâm vào ngõ cụt của cuộc tình-yêu-kiếm-tìm, tiếp tục giãi bày những hy vọng và thất vọng, thắp lên ngọn đèn “leo lét” giữa hạnh phúc và đau khổ. Truyện này là sự lặp lại nội dung của Thư từ Tuy Hòa, ở đó Cảnh Cửu lại viết tiếp những hy vọng, thất vọng, đợi chờ, nắm chụp và mất đi và cô đơn mà Thư từ Tuy Hòa đã nói hết, viết hết? Khởi hành vào mùa xuân tương lai chỉ là cái bóng, là đứa em sinh đôi với Thư từ Tuy Hòa!
Ở hai truyện này, có nhiều đoạn, nhiều suy nghĩ, cảnh sắc được mô tả gần giống như nhau: “Tôi buồn như những đám dương vùng Đại Lãnh. Tôi khóc như mưa chiều về với núi Vọng Phu” (TTTH). Và: “Anh hãy cúi nhìn lại tôi đi – mướt xanh như những đám dương vùng Đại Lãnh… Tôi phát khóc như mưa chiều về với núi Vọng Phu” (KHVMXTL) cùng nhiều đoạn rải rác nữa trong hai truyện vừa dẫn.
Nhân vật chính cũng diễn lại một thứ tình cảm nảy lên từ một phía, từ những chuyến tàu, một chuyến đi và sự gặp gỡ không hẹn trước. Độc giả chỉ được Cảnh Cửu cho phép được nhìn từ một chiều về những suy nghĩ, tình cảm của cô gái như một con ốc tự thu mình vào chiếc vỏ dày. Cô khao khát rồi tự ngăn chặn chính mình, tự làm khổ chính mình. Đôi khi nhẩm đọc, ta có cảm tưởng như cô là nhân vật nữ trong dòng văn chương Tự Lực văn đoàn còn sót lại trong thập niên 60?: “Nhưng tôi thật ngạc nhiên thấy anh cũng xuống Nha-Trang. Suýt nữa tôi buông tay đánh rơi chiếc giỏ của chị. Nỗi hốt hoảng nào đã làm mình khốn đốn. Anh xuống đây hay anh đi đâu đó chỉ là phần việc của anh. Mỗi người khỏa mình trong một cử động. Cử động của anh khác cử động của tôi nào có liên hệ gì. Tôi cố trấn tĩnh đừng cho tình cảm thành hời hợt. Nhưng thật chưa lúc nào tôi lúng túng bằng: anh đã áp tới nhét vào tay tôi mảnh giấy con. May là chị tôi không để ý. Còn muốn nói gì nữa. Như thế tôi đã quá nhọc nhằn anh chưa hả sao. Anh còn có ý viết giấy đưa tận tay tôi giằng giật nữa cho hả. Tôi không muốn phải chịu đựng thêm một cái gì. Hai mươi mấy tuổi – hai mươi mấy năm – bây giờ tôi không muốn chịu thêm một cái gì nữa cả”.
Một cách khác, thì cô thật giống với hình ảnh con kiến bò quanh miệng chén với hai chiếc râu nhỏ bé luôn hướng về phía con mồi, trong khi những chiếc chân thì luôn hành động điều ngược lại, để cuối cùng phải tự dằn vặt, đau khổ, than oán: “Nhưng hai con mắt chỉ dõi trong và khô cứng như đôi mắt đã hóa đá như người mẹ bồng con đứng choi loi giữa Vũng, năm tháng nhìn ra biển khơi chờ đợi mỏi mòn mà không biết thời gian đi nhanh trên vai trên tóc… Sao anh không đọc hết niềm yêu thương trong ánh mắt tôi. Tôi yêu anh yêu biết nhường nào như quê hương yêu mê mệt mà anh lừng khừng ngớ ngẩn. Nơi ruộng lúa bao la miền Nam nào đó đã làm anh quên đi đập đồng khô cằn ở đây chăng”.
Cô giáo trong Thư từ Tuy Hòa và cô gái trong Khởi hành vào mùa xuân tương lai chung quy cũng chỉ là biểu tượng của sự thất bại ê chề trong thứ tình yêu bất hợp và bất toại. Ba thành phố liền kề nhau Nha Trang – Tuy Hoà – Qui Nhơn và những chuyến tàu lửa đeo mang một chuyện tình không lối ra. Những địa danh Cầu Đá, Hòn Chồng, Cầu Đà Rằng, Ghềnh Ráng, Tháp Bà… có mặt trong truyện như là những nhân chứng cho sự dãy dụa tình cảm của cô gái không hơn kém. Nếu dùng từ ngữ theo giáo sư Nguyễn Văn Trung thì cũng có thể coi sự dãy dụa tình cảm này như một bằng chứng vong thân khốc liệt nhất trong đời thiếu nữ 21 tuổi khi gặp “anh” luôn mải mê “trên bước đường phiêu bạt” , còn “em” thì “man dã trong tuổi đời ngơ ngác”.
Kết cục, dẫu cho cuộc tình phút chốc kia có được ghi lại, rồi có đốt thành tro hay kêu lên “nhục nhã” từ trong ý nghĩ, thì nó (cuộc tình) vẫn luôn sưng tấy lên mặc cảm phạm tội của người thua cuộc, tự nhận đang chìm trong “tuyệt vọng”. Con tàu, một phương tiện dịch chuyển nhưng lúc thì mang đến những háo hức đắm đuối trong ánh mắt, khi thì hất tung cô gái ra khỏi miền đam mê. Xem ra, con tàu cũng tích cực dự phần vào ngõ ngách tình cảm được mất của cô.
Về tình yêu, về nỗi cô đơn, giận hờn… luôn được các nhà văn xây dựng với những cách nhìn, thể hiện khác nhau: Nàng Janine (2) của A. Camus chỉ ý thức được mình cô đơn khi lặng lẽ rời khỏi giường Marcel, chồng nàng, và bỏ ra ngoài phòng khách sạn ở một thị trấn nhỏ trong sa mạc, bước qua những bậc cầu thang hẹp tối om trước khi đứng trên sân thượng, nhìn bầu trời đầy sao trong đêm tối sa mạc mênh mông! Còn người nữ của Cảnh Cửu thì luôn miệng kêu lên ầm ĩ: “Tôi cô đơn quá” trong sự chuyển động ầm ầm của những hồi còi thét dài, bánh sắt nghiến trên đường ray: “Con tàu cứ miệt mài mang tôi xa nữa. Từng bước rung rinh hì hục mang sự ngồi im của tôi bay vào sự tuyệt vọng… Tôi gục mặt để khỏi thấy ga Tuy-Hòa như một điều nhục nhã không thể tránh”.

Một dấu hỏi khác cũng được đặt ra: Cảnh Cửu là nhà văn nam hay nữ? Chẳng ai hay biết! Nhưng dẫu cho là gì đi nữa, thì những hiểu biết khá tường tận về tâm sinh lý người phụ nữ đã là sự thành công, khi Cảnh Cửu để cho các nhân vật nhập vai ở truyện đầu và truyện cuối, phải thừa nhận là rất hoàn hảo. Có lẽ, khi viết, Cảnh Cửu đã thả hết hồn mình vào tính cách, tâm lý nhân vật giống cái chính xác đến từng li mét. Ngay cả sự ham muốn tính dục và sự kềm nén thì cũng chỉ có một số ít nhà văn nữ, như Nguyễn Thị Thụy Vũ hay Trần Thị NgH. mới đạt được sự tinh tế trong ngôn ngữ miêu tả ở những thời khắc tế nhị nhất và cũng “trân tráo” nhất.
Cho tới lúc này, các tác giả nghiên cứu văn học miền Nam, các độc giả yêu mến hai truyện ngắn trên chưa một ai biết rõ về Cảnh Cửu. Còn hay mất? Đang ở đâu? Làm gì? Chỉ hy vọng những dòng chữ này đến được tay Cảnh Cửu hay người thân của Cảnh Cửu, để có thể giúp làm sáng tỏ những tồn nghi mà tác giả đã để lại trong một quãng lặng khá dài trong dòng văn học miền Nam.

(khởi đầu mùa gió Nam non 5/2013)
Nguyễn Lệ Uyên
________________________________________
(1) Truyện ngắn thứ hai do bạn của anh Trần Hoài Thư sao lục ở thư viện Hoa Kỳ, chụp ảnh, đánh máy gửi về.
(2) Nhân vật trong truyện La femme adutère trong tập l’Exil et le Royome của A. Camus.

không đề

npphan

níu một giọt sương trong
bước tới bờ tâm thức
lắng một tiếng vô cùng
xôn xao miền ký ức

chạm vào cõi an nhiên
lửng lơ vầng nguyệt bạch
cây trút lá ưu phiền
trên đường về xa lắc

điểm một nét bi hài
vở kịch đời vay mượn
mơ hồ chút tỉnh say
tạ ơn tâm vô lượng

NP phan