CHIỀU NHÌN MƯA BÊN HÈ PHỐ

nguyenngocnghia

Tay vin cành gió rũ
Em hái trái mưa xa
Nụ hôn ngân ngấn lệ
Thấm lọn tóc chiều tà

Chừng như chiều đã muộn
Chừng như ta mênh mông
Em thấp thoáng bụi hồng
Tan trong trời gió nổi

Uống một ngụm tà huy
Lẫn màu mưa hiu hắt
Kí ức bỗng xanh rì
Giữa sắc chiều phiêu dạt

Cớ chi lòng sũng nước
Bên hiên đời hanh hao
Cớ chi sầu buốt ngực
Giữa phố người lao xao

Huơ chân thềm gạch cũ
Ừ. ngày trôi. mùa trôi
Ta cũng trôi âm ỉ
Một đời đăm đắm…
… trôi.

NGUYỄN NGỌC NGHĨA

Trịnh Cung: Treo mình trên giá vẽ

dangphuphong

10182435_hinh 6

(Sơn dầu trên canvas-80 x 99cm. 1989).

Năm 1962 Trịnh Cung dù chỉ là một cậu thanh niên tỉnh lẻ 23 tuổi, vừa tốt nghiệp trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Huế đã xuất hiện như là một họa sĩ tài danh do được giải bằng Danh Dự trong cuộc Triển lãm Mỹ Thuật Quốc Tế lầ thứ nhất (1 st National Fine Art Exhibition), nhất là nhờ bài viết của Họa sĩ Thái Tuấn khen tặng anh trên tờ Bách Khoa. Lúc này anh chưa lấy họa danh là Trịnh Cung, vẫn cái tên khai sinh là Nguyễn Văn Liễu được giới hội họa đàn anh như Duy Thanh, Ngọc Dũng khen tặng nhiệt tình.
Chỉ trước thời gian này chừng 5, 6 năm, Nguyễn Văn Liễu, chất ngất một niềm đam mê thơ văn đầy lãng mạn, luôn mong ước trở thành một thi sĩ nổi tiếng. Họ Nguyễn đi học vẽ chỉ vì không có trường dạy làm thơ viết văn, với hành trang: “ Thơ là họa vô hình, họa là thơ hữu hình”. Cứ vậy, song song với việc làm quen với màu sắc, nét cọ, chàng vẫn sáng tác những bài thơ với cách dùng từ mới. ý, tứ lạ, lung linh tỏa sáng cho đến bây giờ. Cũng nên nhắc đến bài thơ “Cuối cùng cho một tình yêu” Trịnh Công Sơn phổ nhạc là một bài hát hay được rất nhiều người ưa thích. Nhưng họ Nguyễn đã từ giã thi ca. Vì, hội họa đã chọn Trịnh Cung!
Từ đó, xuyên suốt một con đường dài 53 năm, trong cuộc chơi màu sắc Trịnh Cung nổi bật lên như một ngôi sao sáng; trong lý luận về hội họa Trịnh Cung xuất hiện như một kiện tướng. Qua những bài báo, trả lời phỏng vấn, viết sách với những khám phá, nghiên cứu bằng những lý luận vững chắc, cũng như được thỉnh giảng mỹ thuật, đọc tham luận tại một số đại học ở Mỹ,viện bảo tàng mỹ thuật ở Singapore, Trịnh Cung đã gây được ảnh hưởng đến đương thời và cả tương lai cho mỹ thuật tạo hình VN. Để nói về những việc ngoài khung vải của Trịnh Cung, tôi đồ rằng phải viết cả cuốn sách, ngoài phạm vi cũng như ý định của bài viết này. Ở đây, người viết chỉ cố gắng đưa ra những cảm nhận về một số tranh tiêu biểu, một cái nhìn rất sơ lược, khái quát trong hành trình hội họa dày cộm của người họa sĩ tài ba này.
Tính cách tìm kiếm cái mới lạ trong văn học nghệ thuật của Trịnh Cung đã phát sinh từ thời anh còn học trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Huế. Chỉ vì anh dám vẽ theo lối Hiện Đại (Modern Art), một trường phái không có dạy trong trường nên anh đã bị vị Giám đốc là họa sĩ Tôn Thất Đào đuổi học. Thời bấy giờ nghệ thuật phương Tây du nhập vào miền Nam chỉ qua ngả sách báo, các họa sĩ chỉ được tiếp cận như vậy nhưng vì quá say mê nghệ thuật, anh đọc sách, tự tìm hiểu nên lãnh hội được nhiều. Tên tuổi của những họa sĩ tài ba trên thế giới như Henri Matisse, Picasso,Wassily Kandanski, Amedeo Modigliany đã ảnh hưởng rất mạnh mẽ lên nhiều họa sĩ miền Nam, trong đó có Trịnh Cung. Nhưng Trịnh Cung đã nghiêng về trường phái Biểu Hiện (Expressionism).
Chủ nghĩa biểu hiện xuất hiện khoảng cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 ở châu Âu do những thái độ hoài nghi, bất đồng, lo ngại đối với xã hội, có đặc điểm nhấn mạnh, thậm xưng cảm tính – xúc cảm trong sự thể hiện trên khung vải của người họa sĩ. Chủ nghĩa này còn được thể hiện trong văn chương và các loại nghệ thuật khác. Có sự trùng lập nào chăng nếu đem so sánh việc ra đời của Chủ Nghĩa Biểu Hiện ở châu Âu trong khoảng tiền Thế chiến thứ nhất và sự tham gia Chủ nghĩa Biểu Hiện của những họa sĩ Việt Nam trước năm chiến tranh Nam Bắc bùng phát phát dữ dội 1965? Tính chất của Trịnh Cung rất hợp với những quan điểm của Trường phái Biểu Hiện nên anh đã ở với nghệ thuật Biểu Hiện khá lâu dài, từ 1962 cho đến thập niên 90 sau đó anh bước sang Biểu Hiện Trừu Tượng (Abstract Expressionism). Khoảng 10 năm trở lại đây anh đã đi hẳn vào Trừu Tượng nhưng thỉnh thoảng anh cũng vẽ những bức tranh hình tượng (figuration) như bức tranh “Đôi chúng” là một thí dụ.
Tôi muốn dùng sợi chỉ xuyên suốt qua những tác phẩm “đình đám” khá tiêu biểu của Trịnh Cung trong một hành trình dài hơn 50 năm có đầy hoài nghi, bi quan, thương tích, âu lo, gây hấn, trầm tích muộn phiền trong đời sống của anh “ nổi trôi theo vận nước”, bị trấn lột bỡi xã hội bất công. Những cảm nhận, thọ. chịu đó hầu như thể hiện toàn bộ trong tranh của anh. Nói cách khác tranh Trịnh Cung đã bày tỏ, hiển lộ căn cước của tác giả – một con người chung thân bất mãn. Với cá tính mạnh mẽ, nhuần nhuyễn lý thuyết hội họa, luận giải, phê phán về nhiều vấn đề hội họa, cả luôn bộ môn văn học đều rất logic, vững chắc, rất bảo lưu ý kiến, và, anh cũng lại một người rất nhạy cảm cho nên Trịnh Cung không tránh khỏi người yêu kẻ ghét.
Trở lại từ năm 1962 với “Mùa thu tuổi nhỏ”, bức tranh đoạt bằng Danh dự Triển lãm Quốc tế Sài gòn lần thứ nhất, đã đưa tên tuổi của anh chói sáng. Mặc dù bức tranh nói về niềm vui của tuổi thơ, đi rước lồng đèn Trung thu, nhưng hầu như toàn bộ bề mặt tranh phủ lên một màu đen tối. Cái đen tối không phải của đêm đen mà là sự tăm tối trong bối cảnh xã hôi của những em nhỏ nghèo hèn này. Phần trắng sáng ở giữa cũng không phải là cái ánh sáng hiền lành, tươi mát của ánh trăng mà chính là sự đối chọi, phản diện của những cuộc đời khốn khó. Bức tranh nói lên niềm ao ước hơn là sự vui chơi của trẻ thơ. Niềm ao ước đó thật quyết liệt qua những cây gậy mà chúng mang theo. Đây là hình ảnh tuổi thơ cơ cực củaTrịnh Cung ở một vùng quê nghèo khó; nó đã được nung nấu trong tâm thức cho đến khi có cơ hội bộc phát bằng một bức tranh Biểu Hiện thật tài tình. Bức tranh báo hiệu cho một Trịnh Cung dấn thân mang tính phẩn nộ trong tâm thức sâu sắc của một họa sĩ tài ba.

Khoảng năm 1958, Trịnh Cung bắt đầu chơi thân với Đinh Cường và Trịnh Công Sơn. Đây là một bộ ba tuyệt đẹp trong văn nghệ. Một Đinh Cường hiền hòa, lãng mạn. Một Trịnh Công Sơn thống thiết trong nỗi đau thân phận con người, tình yêu. Một Trịnh Cung thẳng thắn bộc trực, đầy lửa. Cả ba đều tài hoa và bổ sung cho nhau. Họ đã tự tạo nên những trên tuổi lớn trên vòm trời văn học nghệ thuật của Miền Nam.
Bức tranh thứ hai tôi muốn giới thiệu đến là “Đứa trẻ du ca” vẽ 1969. Từ năm 1966, phong trào Du ca nổi lên rầm rộ, khắp nơi trong miền Nam , thanh thiếu niên thi nhau hát những bài thanh niên ca, thiếu nhi ca, , sử ca, dân ca, đồng (dao) ca… tôi cho rằng bức tranh này đã được vẽ khi vang vọng bên tai anh những bài hát đồng dao ấy. Hình ảnh của một thằng bé mặc chiếc áo đầm lam lổ, bẩn thỉu (tác giả giải thích chiếc áo từ viện trợ nhân đạo nên được gì mặc nấy, không kể gái trai) trên cổ mang lá bùa hộ mệnh (cũng theo tác giả) đang gảy đàn Mandolin đàng sau là một xóm nghèo rách nát. Nói về cây đàn,Trịnh Cung, với giọng xa xôi trầm lắng, anh kể về cái quá khứ tăm tối, với chiếc đàn cũ kỹ, sứt mẻ anh từng hát nghêu giữa cánh đồng mông quạnh mà mơ ước những điều tốt đẹp đến cho quê hương như cậu bé trong tranh đang hát một khúc hát mong mỏi hòa bình trong trận chiến bạo liệt đang xảy ra trên đất nước. Con chim, biểu tượng hòa bình, đậu trên đầu đứa bé, tuy thật gần mà cũng rất xa vì nó ở ngoài tầm mắt. Toàn thể bức tranh đều được xử dụng màu xám ảm đạm, một chút xanh của bầu trời không thể cứu vãng được cả không gian buồn lạnh lẽo. Đây là một bức tranh gợi cảm, âm vang của bài hát không nằm trong phạm vi bức tranh, nó vang vọng ra ngoài đi vào lòng khách xem tranh.

Năm 1974, Trịnh Cung cảm thấy hoàn toàn thất vọng trước tình hình đất nước; miền Nam sắp sửa sụp đổ. Anh thể hiện suy tư này qua bức tranh “ Cuộc đầu hàng của gia đình tôi”. Toàn bộ bức tranh phủ bằng màu vàng thổ-màu của bi quan. Thế giới đã không còn gì ngoài một màu đất chết. Bốn người trong gia đình anh (vợ, chồng và hai đứa con nhỏ) đã trở thành 4 thân cây chết, trơ mấy nhánh khẳng khiu, gầy guộc. Màu sắc và bố cục của bức tranh làm người xem có cảm tưởng đang đứng trong sa mạc với mấy nhánh xương rồng cháy đen vì nắng hạn, cuộc sống tươi đẹp với hoa cỏ xanh tươi đã mất hút tự phương nào. Tâm thái của tác giả cũng là tâm thái của những người hiểu biết tình hình chính trị, quân sự của miền Nam bấy giờ.

Trịnh Cung trở về sau gần ba năm lao tù, anh không còn tâm trí sáng tác được. Vẽ chỉ để kiếm tiền cho cơm áo. Chỉ đôi bức anh sáng tác sau những năm tháng dài bi quan và cô độc. Điển hình là bức tranh “ Hòa tấu trong sa mạc” mà nhà phê bình hội họa Corinne de Ménonville cho rằng “cái tựa nói lên tất cả” (the title says it all ).
Khoảng 1996 cho đến khi chính thức định cư tại Mỹ 2014, Trịnh Cung có dịp ra hải ngoại nhiều lần , khi thì được mời thỉnh giảng ở các đại học tại Mỹ , Singapore…. Đây là thời gian anh có được nhiều thì giờ tiếp xúc trực tiếp với nền hội họa Âu Mỹ, đi tìm tòi, học hỏi ở các viện bảo tàng danh tiếng nhất thế giới. Nhiều bài viết nhận định sâu sắc về hội họa của anh ra đời. Anh đã có một cuộc triển lãm gây nhiều tranh cãi tại thành phố Garden Grove, Mỹ lấy tên “Âm vang của đất” (Echo of the Land) và một tuyển tập nghệ thuật cùng tên. Trong thời kỳ này Trịnh Cung đã tưởng mình không khỏi thoát cái chết vì căn bệnh cancer tụy tạng. Nhưng anh đã tái sinh trong một tình huống lạ kỳ mà y khoa không thể giải thích.
Năm 1989 bức tranh “Treo mình trên giá vẽ” (tên tiếng Anh: Self-crucsifixtion) ra đời. Đây là kết quả nhiều năm trời suy tư của Trịnh Cung về hội họa. Bức tranh nâng hội họa thành tôn giáo, nhưng tín đồ đã sùng bái đạo không có tham vọng cứu rỗi nhân sinh mà chỉ để tử vì đạo một cách thật cô đơn. Đây là bi kịch của đời họa sĩ. Chúng ta liên tưởng đến cuộc đời khổ. khó, rồi chết trong đau thương tăm tối của các danh họa như Vincent van Gogh (1853-1890), Amedeo Modigliani (1884-1920)… Màu xám ngăn ngắt là màu chủ đạo cho bức tranh, những dòng máu đỏ bầm chảy lan ra trở thành những áng mây huyết dụ. Lạnh lùng. Quỷ ám. Tôi cho rằng góc này của bức tranh là một biểu tượng tuyệt vời của nghệt thuật. Đàng sau cái giá vẽ đang treo mình người họa sĩ là đồi núi chập chùng. Trên đỉnh đồi, người chơi dương cầm (được tác giả cho biết là cô con gái đầu lòng) như dùng âm thanh của chiếc đàn như tiếng chuông gọi hồn, chia xẻ nỗi lòng của người tử đạo.

Qua những bức tranh Trịnh Cung vẽ theo trường phái Biểu hiện, trừ một số ít anh rập khuôn theo đường lối là chú trọng đến những mảng và khối màu dày không bằng phẳng, nhiều màu sắc, tô đậm các đường viền đậm nét, dùng hình thức phóng đại, sử dụng những nét mờ tạo cảm giác chuyển động v.v. còn lại là những bức tranh anh vẽ theo phong cách dùng màu mỏng hơn, không dùng nhiều màu. Đây là phong cách riêng của anh trong tranh Biểu Hiện.
Từ khi được tái sinh, gặp mối tình tuyệt vời của một nhà thơ nhỏ hơn anh hơn 40 tuổi, rồi lấy nhau, Trịnh Cung lần hồi nhẹ đi những bi quan cũng như những cá tính mạnh mẽ. Anh tin vào một điều mà theo cách anh gọi là “số mệnh có điều kiện”. Và, anh chú tâm vào lối vẽ Trừu Tượng. Anh muốn đưa đến người xem những cảm xúc về mỹ thuật nhiều hơn là cảm xúc về nội dung. Màu sắc lãng mạn, trử tình mang hơi hướm phương Đông, tranh Trừu Tượng của Trịnh Cung rất được nhiều người ngưỡng mộ.
Anh thường nói: “Tôi chọn cách xuất hiện bằng số ít hơn là số nhiều mà chẳng là con số thật sự.”. Chẳng phải vậy mà nhà thơ Du Tử Lê đã gọi. chỉ. đích danh Trịnh Cung, Con sói đơn độc(?).

Đặng Phú Phong
(Trích” Bên kia chữ nghĩa & nghệ thuật”
Chương Văn sẽ xuất bản cuối tháng 12/2015)

THẾ GIỚI NÀY NÀO CỦA RIÊNG AI ?

quanduong

Khu chung cư căn phòng ẩm chật
Gã đàn ông đến từ Việt Nam
Có con gián là dân bản gốc
Có ban ngày và có ban đêm

Hắn mỗi sáng nấu tô mì gói
Ðun cà phê trên ngọn lửa buồn
Múc muổng đường pha bằng ký ức
Quậy tháng ngày tiếng muổng loong coong

Nâng tách hớp cô đơn từng ngụm
Uống nỗi nhà tăm cá bóng chim
Ðôi đủa gắp cọng mì đất nước
Nhai điểm tâm trợn trạo nỗi buồn

Con gián chia cọng mì rơi vãi
Như một phần thân thể Việt Nam
Hai cọng râu nhíu mày chụm lại
Cuộc sinh tồn như một phản năng

Hắn mỗi tối trùm chăn kín mít
Chiếc nệm giường cọt kẹt kêu đau
Uống không cạn, uống hoài nước mắt
Tháng ngày qua lặng lẽ bạc đầu

Con gián đứng nhìn từ kẹt cửa
Lắng im chia những tiếng thở dài
Phòng ẩm chật ngăn hai thế giới
Thế giới nào là của riêng ai?

Thế giới nào là của riêng tôi?
Xuân khều động vết thương mưng mủ
Cục bông gòn nhúng lên lịch sử
Vết bầy nhầy không kéo da non

Quê nhà tôi bên kia đại dương
Cách bên này một bờ biển động
Vành biển máu một thời tang trắng
Phủ lãng quên trên những oan hồn

Những cuộc tình mỏng như khói sương
Là khói mây tụ về hậu kiếp?
Mò chai rượu nửa khuya bật nút
Nhớ đen thui con mắt hạt huyền

Ðêm xuân này đứng ở khoảng không
Không gia cư cũng không tổ quốc
Ðứng tứ trụ hai chân bám chặt
Ðội trên đầu nửa mảng trời xa

Ðêm dật dờ như một thây ma
Hả họng hú tiếng gào thăm thẳm
Vào vũ trụ. Vọng lời im lặng
Có còn ai nghe một lời gào?

Còn. Còn đây con gián lêu bêu
Trố ngạc nhiên vào lời hắn hét
Ôi! Chữ nghĩa hiển nhiên rất thật
Nhưng được gì? Hỡi những lời thơ?

Thời gian trôi trở lại bao giờ?
Thời gian không trở lại bao giờ…

QUAN DƯƠNG

vang & chạm

khalycham

ta dọn thơ đổi lấy rượu giang hồ
bạn bè say ngủ vùi theo màu nắng
giá có được trong tay vòng lục lạc
tiếng khua vang chạm vỡ bốn phương trời

cười hiền lành, Phật hỏi ai đang chơi
sao lại dám phất cờ rồi nói phướng?
xin thưa ngài: ta là con gà trống
hóa kiếp làm người cao hứng gáy thơ

chữ nghĩa cuồng tâm khuấy động bến bờ
ngộ hay mê đến bao giờ tỉnh giấc
nếu đá cuội trong nắm tay hóa ngọc
ta an nhiên mài dũa để siêu phàm

đường nào về lửa chạy theo dung nham
đem thơ trả nhập vào hồn dế chó
nào ai hiểu âm buồn từ cánh gió
hồn ta run giữa ma trận đen ngòm

ngày đảo điên rình trộm mõ chùa thiêng
ngồi giữa chợ gõ nhịp tìm ngạ quỷ
nhìn bồ tát choàng áo vàng mỹ nữ
thơ một dòng huyết lạnh chảy về đâu?

Khaly Cham

Đã đến lúc, dù không đúng lúc, ông tôi chết!

khuatdau
Ông tôi đã chết!

Chết ở tuổi 99 nên sự tiếc thương được mọi người dành cho ông chỉ là: Uổng quá há, còn năm nữa thôi, sao không ráng sống cho đủ trăm? Làm như thể “đủ trăm” thì ông mọc được cánh mà bay lên giời! Dĩ nhiên, vì chưa đủ trăm nên đến tận cuối đời, ông vẫn cứ phải nằm trên chiếc giường mà dù có thay chăn chiếu từng ngày, thì cái mùi của người già, một cái mùi ngai ngái, khăm khẳm vẫn khiến cho những cái mũi trẻ trung của khách đến thăm phải khó chịu. Họ kính cẩn (hay giả vờ kính cẩn) đặt quà lên bàn, run rẩy đưa cả hai bàn tay úm lấy tay ông. Bàn tay ông thì xương xẩu lạnh lẽo. Bàn tay họ thì mum múp ấm áp. Chưa khi nào mà sự tương phản của tuổi trẻ và tuổi già lại rõ rệt đến thế.

Ông chết ngày 15 tháng 8. Lại tiếc!

Phải chi ráng thêm 4 ngày nữa thì trọn vẹn làm sao, vì đó là ngày cách mạng thành công! Một ngày mà ông sung sướng, hãnh diện, luôn nhắc tới, luôn nhớ tới. Ông thường nói, mẹ cha chỉ sinh ra mỗi cái xác, chính cách mạng mới sinh ra ông cái phần hồn. Không có cái ngày ấy thì ông cũng u mê tăm tối như bao thế hệ trước mà thôi.

Ngày ấy ông 26 tuổi. Từ một anh chân quê, quanh năm bận bịu với cái cày cây cuốc, ỗng bỗng dưng được mặc đồ đại cán, đi dép cho dù là dép râu, đội mũ nan bọc vải, mang xách cốt bằng da bò và cứ thế đi xuống xã chạy lên huyện vun vút như con thoi. Có trời mới biết được ông làm đến chức gì. Ngay như bà tôi, là người có một thời tâm phúc ruột rà với ông, mà cũng chỉ biết ông có mỗi một việc là hết đi lại về. Chuyện nhà cửa ruộng vườn, chuyện con cái ốm đau, chuyện tết nhứt giỗ chạp… ông mặc nhiên trút cái gánh hết sức nặng nề đó lên đôi vai mỏng mảnh của bà. Công tác, lúc nào cũng công tác, bà nói. Mà có đưa về được đồng xu cắc bạc nào đâu. Toàn là lấy của nhà. Nhưng nhà đâu có của nả gì. Cũng chỉ toàn là mồ hôi, nước mắt của vợ con thôi. Hỏi thì bảo cấm hỏi, làm cách mạng là phải hy sinh. Đến xương máu còn chưa tiếc, huống hồ là bạc tiền.

Vậy đó, bà nói, ông mày làm cách mạng như thể được mời đi ăn cỗ. Chỉ có mỗi một việc là bỏ dép, phủi chân cho sạch bụi lên ngồi xếp bằng trên phản. Trước mặt là cỗ bàn ê hề. Hết chả lụa đến chả giò. Hết tim cật xào lăn đến canh cá ám. Hết bún Song Thần đến bún Bồng Sơn. Mời mọc nhau, mà thực ra là rình rập nhau, lựa riêng miếng nạc cho mình mà đẩy miếng xương cho kẻ khác. Thi nhau nói, thi nhau cười, vẫn không quên thi nhau gắp, thi nhau múc, thi nhau chan, thi nhau húp, thi nhau lua… xì xoạp đến hả hê. No nê xong lại bày ra bài bạc, đàn hát. Trong khi đám đàn bà con gái dưới bếp thức dậy từ khuya, hết mổ gà lại cắt tiết vịt, hết chiên lại xào, hết đưa những cái tô đầy ụ lên lại đem những cái đĩa nhẵn bóng xuống, hết rượu đến trà, để rồi khi cỗ tàn thì chỉ còn lại trong nồi chút nước có váng mỡ, chan húp đại một chén cơm hay đĩa khoai rồi lại phải mướt mồ hôi mà dọn rửa chén bát, kỳ cọ chảo nồi cho đến tận nửa đêm… Ai là dân, ai là quan? Ai sướng, ai khổ? Cháu biết rồi đấy, không cần phải nói!

Thưa rằng, sở dĩ bà có giọng cay đắng phản cách mạng như thế là vì sau 9 năm, tức hơn 3000 ngày đi đi về về không một chút nào ngơi, ông tôi bỏ bà ở lại trong tay giặc để đi tập kết! Đi một mình thì nói làm chi, đằng này lại được Đảng ưu ái cho đem hai bác tôi theo, một người lúc đó lên 10, một người lên 8. Còn ông thì cũng không quên ưu ái tặng thêm cho vợ một cái bụng bầu, để rồi sau đó phải gạt nước mắt mà sinh con trong tù.

Cứ tưởng ông và các con đi 14 tháng lại về, không ngờ đến những hơn 20 năm. Đó là quãng đời dài cơ cực nhất của bà. Vì là vợ của cán bộ nên bà bị chính quyền mới hành tới hành lui, kêu lên kêu xuống hạch hỏi đủ điều. Cái ô nhục của một người đàn bà có chồng cán bộ không kể sao cho xiết. Bọn nghĩa quân, bọn dân vệ đứa nào cũng tự cho mình có cái quyền được chọc ghẹo, gạ gẫm, sờ mó, tán tỉnh bất kể là ngày hay đêm. Có đứa đáng tuổi em út cũng lên giọng cớt nhả: bỏ quách thằng cán bộ già đó đi, về với anh, em Hai ơi!

Ruộng đồng bị bom đạn hai bên thi nhau cày xới, bà phải bồng con lên chui rúc ở chợ súc vật Bình Định. Mùi phân heo gà, mùi nước đái trâu bò nồng nặc trong suốt hai chục năm, khiến cho cái đầu của cha mày trở nên khai ngấy, tối đen, học mãi cũng không đậu nổi cái tú tài, đành phải đi trung sĩ, bà nói một cách chán nản.

Đến tuổi lính thì phải đi thôi, không đi mà yên thân với nó à? Nhưng ông mày lại nổi xung lên, cho đó là nỗi nhục! Ở Bắc về, cha tôi kể thêm, câu đầu tiên ông mày hỏi bà là, sao không đưa nó lên núi theo cách mạng?

Nghe hỏi thế, bà hứ một cái cốc, theo làm gì, theo chi ba cái thứ mà ai cũng ghét!

Ông gầm lên, bà dám ăn dám nói như vậy hả? Nó theo ai, bà để nó theo giặc à?

Ừ, bà ngẩng đầu lên, cái đầu giờ đã lốm đốm bạc, thách thức, thì theo giặc đó, sao ha? Còn thằng Hùng và thằng Cường theo ông thì giờ ở đâu, sao không thấy về?

Ông nói lấp mấp, tụi nó đang công tác.

Công tác gì, bà hỏi dồn, hòa bình thống nhất rồi thì cũng phải về thăm mẹ chứ.

Rồi như linh cảm bởi cái sợi dây thiêng liêng giữa mẹ và con, bà gào lên, con tôi đâu, con tôi đâu? Trả lại con cho tôi!

Đến lúc này, ông mày mới rón rén bước lại bên bà, nói nhỏ đủ để bà nghe, hai đứa hy sinh hết rồi!

Hy sinh là sao? Bà khóc nức nở. Ai bắt chúng nó hy sinh? Ông hả? Hay là cái Đảng chết tiệt của ông?

Tôi cấm bà nói thế, ông lại gầm lên.

Cấm mà được à, mất con mà không cho tôi nói sao? Tôi sẽ đi ăn xin, sẽ gối đất nằm sương ra tận cái Trung ương Đảng của ông để đòi lại con.

Để tôi nói cho bà nghe, ông trở nên nhũn nhặn, tụi nó lần lượt hy sinh là hết sức vẻ vang cho gia đình mình đó. Một đứa trên đường Chín Nam Lào, một đứa tại Quy Nhơn trong Tết Mậu Thân, nghe đâu tại kho xăng ông Tề.

Vậy là các con tôi chết cả rồi, bà khóc quều quào, con ơi là con ơi! Con chết bờ chết bụi, chết tức chết tối, chết đói chết khát mà người ta bảo là vẻ vang, vẻ vang cái nỗi gì hả trời! Đi, ngay bây giờ đây tôi đi ra Bắc đòi con, ông có dám đi với tôi không?

Ai cho phép bà làm cái việc phản động đó, ông hốt hoảng, tụi CIA xúi giục à, hay là cái thằng con theo giặc trời đánh của bà? Phải chi không có nó thì bà đã được phong tặng bà mẹ anh hùng rồi.

Ối trời ơi, anh hùng cái nỗi gì! Bà lại gào lên, con chết mà mẹ lại anh hùng! Có người mẹ nào lại khốn nạn như thế?

Cái buổi chiều đoàn viên không có tiếng cười ấy, tưởng chừng sẽ chia cắt hai người mãi mãi, nhưng không hiểu sao họ vẫn cứ sống chung một nhà. Có lẽ ngoài những điều khác biệt như tối và sáng, ông tôi và bà tôi may ra hãy còn có một điểm chung. Đó là, trong suốt 20 năm ở miền Bắc, ông không dối Đảng để lấy vợ khác, còn bà, tuy chẳng tin gì ở ông nhưng cũng không chịu lấy ai.

Sống chung dưới một mái nhà, nhưng bao nhiêu uất hận đã được tuôn ra như một cái đập vỡ, nên bà chẳng hề mở miệng với ông một lần nào nữa. Ngay lúc lâm chung, ông ú ớ muốn giăng dối điều gì, bà cũng lặng câm như chưa từng biết nói. Bà đi chùa gần như mọi ngày. Ở đó bà lầm rầm cầu xin đức Phật giải oan cho các con. Bà cũng khóc mà xin các con tha tội cho mẹ, vì đã sinh ra các con nhưng lại thua một con gà mái, không dám xù lông ra trước con diều để bảo vệ chúng.

Ông thì ngược lại, ngày nào cũng đến câu lạc bộ hưu trí, đọc báo Nhân dân, đánh cờ và chê bai lớp cán bộ trẻ, nhất là những kẻ a dua, đầu đội nón cối nhưng bụng thì đầy bơ sữa của Mỹ Ngụy. Cha tôi, dù cố tránh mặt ông, nhưng vẫn bị ông càm ràm bực bội. Ông bảo, trong nhà có mùi của thằng giặc nên ăn không thấy ngon, ngủ không yên giấc!

Ngày 19 tháng Tám, ngày 30 tháng Tư, ngày 19 tháng Năm, ngày 2 tháng Chín và bao nhiêu ngày lễ khác nữa, ông sung sướng tự hào được khoác áo đại cán, có dịp đeo huân chương đầy ngực, hãnh diện được ngồi ở hàng ghế của cán bộ lão thành. Huân chương của ông nhiều đến nỗi, nếu đeo hết phải tràn ra cả sau lưng và chen nhau xuống tận rốn, lúc nào cũng được ông chăm chút lau chùi trịnh trọng.

Ông có thể ngồi kể suốt ngày cho con cháu nghe (mà có đứa nào chịu nghe đâu) lịch sử từng cái một, chiến công gì, thành tích ra sao, được trao ngày tháng nào, và ai trao, có bao nhiêu cái được chính tay Bác ký, bao nhiêu lần được gặp Bác, ôi thôi, cả một trời những chuyện có thật và những chuyện tưởng như có thật.

Đã có lần ông muốn viết hồi ký bằng cách kể lại cho tôi ghi. Ông cũng tập tễnh làm thơ ca ngợi Đảng và Bác. Thơ ông được in trên nội san của tỉnh ủy và đã có lần được ngâm đọc trên đài phát thanh. Như mọi người cộng sản chân chính, ông không hề biết khiêm nhường là gì, cứ đem cái vinh quang trong thời bình ấy ra kể mãi.

Ông cũng không hề xót xa mà ngược lại cảm thấy sung sướng khi ruộng đồng được san lấp để từ đó chạy dài những con đường thẳng tắp, mọc lên những ngân hàng nhà nước, cục thuế, đồn công an to đùng. Ông bảo, như thế mà không tiến bộ à, đúng như Bác nói, giờ to đẹp gấp mười lần xưa.

Vì là người cộng sản, nên ông cũng là một trong những người lạc quan nhất nước. Sợ gì Pôn Pốt, Đặng Tiểu Bình! Ông nói, mặc kệ cái lý thuyết mèo trắng mèo đen ngu xuẩn và cái giấc mộng bá bành đáng ghét của nó, mọi việc đã có Đảng lo. Vậy nên, so với bà lúc nào cũng ưu tư rầu rĩ, ông sống rất hồn nhiên, vô tư. Ông như đứa bé còn nằm trong nôi được Đảng đút từng muổng sữa, thay từng chiếc tã. Chỉ có mỗi một việc là nằm mút tay rồi ngủ, chưa cần biết tới những gì xảy ra ở bên ngoài.

Bà thường chua xót nói, ông mày chỉ biết ghét tao và căm thù thằng cha mày chứ biết yêu ai. Nói vậy là bà có hơi thiếu công bằng với ông. Đâu chỉ có ghét và căm thù không thôi, ông yêu nhiều lắm chớ, yêu XHCN, yêu các nước anh em, nhất là nước Lào anh dũng liền núi liền sông.

Có một phóng sự trên truyền hình khiến ông rất xúc động. Phóng sự kể rằng, có hai đứa bé Lào lạc mất cha mẹ đã được tình nguyện quân ViệtNamđem về nuôi. Đến nay hai đứa bé ấy đã thành người già. May mắn làm sao, cả gia đình nhà họ đã được đoàn tụ.

Chính cái lúc bốn mái đầu đã bạc chụm lại nhau trong ánh hoàng hôn trên sông Mê Kông khiến ông xuýt xoa kêu lên: tình đoàn kết Việt-Lào đẹp quá, vĩ đại quá! Và có lẽ vì quá đẹp, quá vĩ đại nên những mạch máu già nua trong não của ông không chịu nỗi, vỡ ra, khiến ông lịm dần rồi nằm im một chỗ.

Đúng như ông nói, mọi việc đã có Đảng lo. Từ ngày ông bị đột quỵ đến nay đã mười bốn năm. Mười bốn năm ông được Đảng đưa từ viện này đến viện nọ, từ Tây y đến Đông y. Đảng lo cho ông từng viên thuốc, ống kim tiêm (qua bảo hiểm y tế), nhiều lần đút cho ông ăn, lau rửa cho ông khi đái ỉa (qua hộ lý). Giờ ông chết, Đảng cũng lo hòm xiểng, tẩm liệm, lo cáo phó trên truyền thanh truyền hình, lo cả điếu văn… Và nhờ vậy con cháu mới biết được ông đã kinh qua rất nhiều chức vụ.Từ quân sự đến chính trị, từ văn hóa đến cả khoa học, nhiệm vụ nào ông cũng hoàn thành, khó khăn nào ông cũng vượt qua.

Nói chung, một người có đến 70 năm tuổi Đảng như ông, tức là được Đảng dạy dỗ trở thành người yêu nước yêu dân mẫu mực (nhưng không yêu vợ con) thì những chức vụ kia, những huân chương nọ là rất xứng đáng. Chỉ có một điều ai cũng lấy làm ngờ nhưng không dám nói ra, ấy là cái chức Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh X. bỗng dưng như từ trên trời rơi xuống tỏa ánh hào quang rực rỡ suốt một cõi (gần đủ) trăm năm của ông.

Nếu bảo rằng cái tin ông chết không khiến ai bất ngờ là thiếu kính trọng. Mà bảo rằng ai cũng thấy nhẹ người là thiếu nhân ái mà thừa tàn nhẫn. Còn bảo rằng rất đỗi vui mừng là quá hỗn. Tiếc rằng đó là sự thật.

Còn như khi đọc cái truyện thiếu văn hóa này mà có người mơ mộng: ước gì cái Đảng mà ông tôi và nhiều người đã lỡ tin tưởng ngây ngô, cái Đảng đã làm cho triệu người vui nhưng cũng rất, rất nhiều triệu người buồn này, cái Đảng đó cũng già nua, ngờ nghệch đang đột quỵ như ông tôi từ bao nhiêu năm nay, thì cũng nên chết quách cho rồi! Ước như vậy thì cái tựa đề có thể sửa đôi chút mà làm câu kết. Rằng: Đã đến lúc, dù không đúng lúc, Đảng chết.

KHUẤT ĐẨU

Trong nắng chiều phai

tranthoainguyen

Nắng chiều thoi thóp vàng nghiêng bãi
Tôi một mình tôi bóng đổ dài.
Thương nhớ người ơi thương nhớ hão,
Đời buồn theo những nhánh thu phai!

Tôi đi về mây trắng hai tay
Gió gọi thầm tôi trăng viễn khơi.
Có ai hò hẹn ngoài vộ tận
Lòng khắc khoải chờ trong nắng phai!

Ôi! Những chiều nắng úa tàn xiêu
Trên đỉnh hồn tôi quá hoang liêu
Chim ngậm thơ buồn phun lả chả
Những dòng tinh huyết nhuộm cành yêu!

Lối em về sương tím chiều buông
Tôi một mình tôi mỏi mắt trông.
Ôi một thuở yêu người ảo mộng
Ôi một thuở dương gian bạc lòng!

Nắng chiều lả ngọn sầu chót vót
Tôi lặng mình tôi phơi đỉnh hồn.
Cây lá cô đơn màu nắng quái,
Em có về khoác áo hoáng hôn?!

TRẦN THOẠI NGUYÊN

PHÂN ƯU

12039515_1033513883335790_7396955425592080965_n

Nhận được tin buồn thân mẫu anh Nguyễn Vân Thiên đã qua đời.
TUONGTRI.COM và các thân hữu xin được chia sẻ cùng anh nỗi mất mác lớn lao này.
Cầu chúc linh hồn Bác thanh thản trong hồng ân Thiên Chúa.

HẸN VỀ VỚI HUẾ.

tanhoaidavu

Em có sầu thương không hở em
Xa nhau rồi mắt có buồn thêm
Tên anh có viết đầy trang vở
Có gọi thầm nhau trong những đêm?

Trời chắc còn sương trong tóc em
Nắng vàng hanh đẫm nét môi mềm
Hương cau còn thoảng trong vườn vắng
Áo lụa em còn phơi trước hiên?

Và những chiều mưa em có trông?
Khi hoàng hôn rụng kín con đường
Bàn tay lạnh những ngày xa cách
Còn biết tay nào tay nhớ thương?

Anh sẽ về một sáng mùa thu
Sông Hương còn trắng những sương mù
Áo em trắng nhịp cầu thương nhớ
Bóng ngả lòng anh câu hát ru

Anh sẽ giong thuyền trên nước xanh
Chở trăng Gia Hội vào Nội thành
Soi nghiêng mái tóc thề Tôn nữ
Thiếp giữa một vùng hương mỏng manh

Anh sẽ hôn lên vầng trán em
Tuổi ngây thơ ngủ đó êm đềm
Môi em anh gọi là hoa đỏ
Sẽ nở trong lòng sau mỗi đêm

Chờ anh về thăm nhé, Huế ơi!
Đường xa nhưng không thể sai lời
Chiều nay nắng trở trong lòng mắt
Con nước linh hồn không muốn trôi.

TẦN HOÀI DẠ VŨ

Cảm Ơn Em Học Trò Yêu Quý

tranvanle

“Không ai nghèo đến nỗi không có gì để cho. Không ai giàu đến nỗi không cần gì được tặng!”. Câu nói đó là mặt trời chiếu sáng / trái tim người hơn vạn vạn pho Kinh!

Tôi đọc bài luận của em, tôi thật sự giật mình; tôi không tin…em thông minh như vậy! Em nhìn thấy…cái gì ai cũng thấy / nhưng xưa nay chưa ai thốt nên lời!

Dĩ nhiên chúng ta chung một mặt trời. Dĩ nhiên chúng ta chung một vầng minh nguyệt. Người ta không nói không phải vì người ta không biết, chỉ “cảm thông” thôi nên thế giới im thinh!

Mỗi buổi sáng, người ta đón bình minh, mỗi buổi chiều đinh ninh ngày chạng vạng. Sống là sống, tự nhiên và bình thản…nếu “vô thường” là tại Tham, Sân, Si!

…cho nên mới có chữ Từ Bi! Cho nên người ta mới kêu gọi đến lòng Bác Ái! Tấm huy chương nào cũng có bề trái, cầm săm soi… nó là tấm huy chương!

Con người ở thế gian / giàu nghèo không phân biệt / ai có lòng tha thiết / đến cõi đời, người đó đáng tôn vinh!

Tôi cảm ơn em yêu quý của tôi – không biết lời nào tỏ bày trọn vẹn. Em chỉ cho tôi thấy trên đời có điểm hẹn: Chỗ Loài Người Sống Để Yêu Thương!

Có nhà tỷ phú sinh đầu lòng đứa con, vợ chồng cho thiên hạ chín mươi chín phần trăm gia tài, giữ lại một – ông bà sợ mai mốt con mình nghèo, dốt, nó cũng có gì để kiếm cách sinh nhai…

Em là đứa học trò có một-không-hai, em phát biểu câu chưa ai nói! Em không kêu không gọi, tiếng trái tim em trời đất chắc đã nghe!

Tôi cảm ơn, tôi còn có một quê, tôi sẽ trở về nhìn em cấy lúa. Tôi sẽ nhìn theo bước chân em hoa nở, thế gian này đầy ắp Niềm Vui!

Trần Vấn Lệ

TRÒ CHƠI

nguyendinhbon

Ở Sài Gòn, anh rất ngại đi đám cưới tại các nhà hàng. Với anh đó là nơi trưng bày thô thiển nhất về sự phù phiếm, thô tục, ồn ào và mất thời gian. Chính vì vậy, một khi có thể từ chối hay trốn tránh là anh làm ngay. Hoặc là anh “nhường” cho vợ, dù anh biết nàng đôi khi cũng rất miễn cưỡng.

Hôm nay là một buổi tối như vậy. Thế nhưng đứa con gái bé nhỏ của anh không thể đi theo mẹ vì còn quá bé. Nó vừa qua sinh nhật lần thứ ba. Và nó cũng không chịu ở nhà một khi mẹ ra đi. Vậy là anh đành chọn giải pháp đưa con đi chơi trong lúc nàng một thân một mình đi đến “cái chốn phù phiếm và thô tục” đó.

– Con muốn đi đâu? Anh hỏi con bé khi đã đặt nó lên phía trước của yên xe máy.
– Con thích đi thú nhún, với lại đi câu cá nữa!

Xe chạy ra khỏi hẻm hòa vào con đường lớn, hòa vào tiếng động đinh tai nhức óc của muôn loại kèn xe, thế nhưng con bé lại rất phấn khích. Nó bi bô hát, có lẽ vui mừng vì được ba đưa đi chơi, một điều khá hiếm hoi. Cách nhà anh khoảng hơn cây số có một khu vui chơi và anh chạy xe đến đó. Đó là một công viên nhỏ, được chính quyền “trưng dụng” để cho người ta thuê làm dịch vụ phục vụ trẻ em bằng các trò chơi đơn giản, rẻ tiền. Khu vui chơi khá đông đúc, ồn ào. Một quầy bán vé hình lục giác nằm trên lối đi. Anh tấp xe vào bên hông, cạnh một chiếc ghế đá trống, khóa xe và vào mua cho con hai vé thú nhún và một vé “câu cá”. Đặt con bé vào con thú có hình con công, cho “đồng tiền” vào máy, bấm nút, “con công” sẽ trồi lên, tụt xuống, lắc qua lắc lại…. Anh vừa canh chừng con vừa canh chừng xe và sau khi đi hết hai vòng “thú nhún” anh dắt con qua chỗ câu cá cũng gần đó. Trò chơi này khá đơn giản với một cái hồ bằng nhựa tròn, đường kính khoảng 1m5, trong chứa đầy nước và những con cá, tôm, cua… bằng nhựa. Mỗi đứa bé tham gia trò chơi sẽ được phát một cần câu cũng bằng nhựa, cuối dây câu có một thỏi nam châm và một cái rỗ. Khi quăng dây cây xuống nước, các thỏi nam châm này sẽ hút vào các thỏi nam châm gắn trên miệng cá và các bé sẽ nhấc nó lên, gỡ cá bỏ vào rỗ. Chỉ vậy thôi nhưng các cô cậu bé cỡ tuổi con anh, hoặc lớn hơn chút cũng rất hào hứng với cuộc chơi.

Thấy con đã an toàn ngồi chắc trên ghế câu, anh yên tâm bước lại gần ghế đá, lơ đãng ngắm nhìn xung quanh. Không xa chỗ anh là các trò chơi khác cũng khá nhộn nhịp. Một vòng đu quay, một vòng đua ngựa gỗ và xa hơn chút là trò xe lửa chạy trên đường ray sắt. Anh nhìn thấy khá đông những người “đồng cảnh ngộ” như mình. Trên một “toa tàu”, một người cha trẻ mặc áo màu sáng ngồi với một cậu con trai, phía sau là một thiếu phụ mặc áo khoác sẫm màu cùng với cô con gái. Bỗng anh nghe những tiếng sầm sập như tiếng chân chạy vội và nhìn ra xa hơn. Gần sát mép đường, ngoài khuôn viên của công viên nhỏ các người buôn bán bất hợp pháp trên lề đường đang gom hàng giấu vào đằng sau các bức tường thấp. Có lẽ họ vừa nhận tín hiệu sẽ có lực lượng công an trật tự sắp đến. Cả một lề đường dài bị lấn chiếm bán mũ bảo hiểm và các loại giấy kiếng dán xe, dán điện thoại di động… đã nhanh chóng được dọn sạch…

Ngay lúc đó có một cô gái mặc áo công nhân màu xanh từ bên ngoài đi vào chăm chú nhìn anh. Hơi ngạc nhiên, anh ngước nhìn thì cô lãng đi. Cô gái còn khá trẻ, cỡ chừng 22, 23 tuổi, thân hình khá đầy đặn. Cô đến cách anh chừng 3m và ngồi xuống trên bậc thềm của bồn hoa. Một lát anh thấy cô lấy ra một chiếc điện thoại cũ và bắt đầu nhắn tin. Anh mỉm cười vì nghĩ chắc cô đang hẹn hò và đang nhắn cho bạn trai của mình. Cô ngồi quay lưng lại phía anh, mắt nhìn ra đường trông đợi…

Mấy phút sau điện thoại cô gái có tín hiệu tin nhắn mà âm thanh tút tút lớn đến nỗi anh nghe rất rõ. Cô gái đọc tin và nhoay nhoáy trả lới. Anh lại mỉm cười. Bỗng dưng anh nhớ đến một thời rất xa của mình, thời anh trên dưới 20 tuổi. Hồi đó làm gì có điện thoại di động khi mà điện thoại bàn cũng là của hiếm. Đôi khi muốn gặp nhau phải hẹn hò, chờ đợi khá là vất vả. Thế nhưng nó lãng mạn. Nhưng đã là tình yêu thì thời nào mà không lãng mạn? Cô công nhân trước mặt anh đang náo nức chờ một chàng trai đến đón, hẹn hò với chiếc điện thoại di động trên tay cũng lãng mạn có kém chi thế hệ anh thuở xưa?

Một người đàn ông trạc tuổi anh chạy một chiếc tay ga từ ngoài vào, mắt dáo dát tìm. Ông ta đi một mình, có lẽ ông ta đến đón vợ con đang chơi ở đây? Người đàn ông ấy dừng lại gần quầy vé và đưa tay vào túi quần móc ra chiếc điện thoại di động đời mới và bấm máy. Mấy giây sau anh nhìn thấy cô công nhân trẻ đang cầm máy của mình nhìn chăm chăm vào người đàn ông và tiến lại gần ông ta. Cô gái hỏi nhỏ, nhưng anh vẫn nghe:
– Anh là anh Thịnh?
– OK, em là Vy?

Cô gái khẽ khàng gật đầu. Người đàn ông đưa tay lấy chiếc mũ bảo hiểm cài sẵn trên móc xe, đưa cô gái. Ông ta hỏi, không cần thấp giọng:
– Em đi chơi được bao lâu?

Anh nghe tiếng cô gái loáng thoáng: “Một giờ. Anh trả em nhiêu?”

Nguyễn Đình Bổn
(Trong tập KIỀU- NXB Sống Hoa Kỳ)