Kí ức tan nát

                
Như đã thôi giận hờn, trách cứ anh. Trong linh cảm mơ hồ, Như biết ở thế giới bên kia anh vẫn còn trăn trở, đau đớn. Anh có lỗi gì đâu ? Cuộc sống phủ đầy gai góc, anh quanh quẩn trong nỗi bất hạnh càng lâu thì sức hảm hại của nó càng khủng khiếp. Nỗi bất hạnh của anh bắt đầu từ những ảo ảnh tinh khôi của bình minh thanh xuân và những hoang mang đau đớn dữ dội của núi rừng khắc nghiệt nhưng có lẽ đau đớn nhất vẫn là những khốc liệt tráo trở của lòng người…Cuộc sống như một thùng nước bùn bị quấy đảo bởi nước trong, rác rến và bùn lầy. Nhưng rồi cũng phải lắng lại, bùn lầy, rác bẩn sẽ nằm dưới đáy cho nước trong nổi lên trên cùng. Bây giờ nghĩ về anh, Như chỉ còn giữ lại một mảng trời trong veo.
Như nhớ ngôi nhà gỗ có cây trúc vàng  trước ngõ mà anh vẫn thường ngồi với cây đàn guitar chờ đợi cô đi học về, tiếng đàn dìu dặt những âm điệu buồn man mác. Ánh mắt anh nhìn cô quyến luyến trong lặng thinh. Nguyên, cô em họ của anh nói với Như:
Ông anh của em bị chị Như hớp hồn rồi.
Cho đến sau ngày 29 tháng 3 năm 1975, Như mới biết anh mồ côi cha. Mẹ anh đã đưa anh từ một vùng quê nghèo khó đến gởi anh ở với người cậu ruột, vừa dạy kèm cho các em, vừa đi học. Những ngày hè năm 1975, bọn trẻ con bu quanh bởi tiếng đàn và nụ cười của anh. Như lơ ngơ chẳng biết mình là thiếu nữ hay trẻ con khi ở độ tuổi giữa 14 và 15. Cầm giấy sinh hoạt hè của trường về sinh hoạt thanh niên địa phương, Như bị đuổi xuống sinh hoạt với thiếu niên, lộc ngộc giữa một bầy con nít. Anh phì cười dỗ dành cô:
Thôi, cùng anh chơi đùa với bọn con nít cho khoẻ nha !
Chẳng khoẻ gì, công việc phụ trách đội thiếu niên tiền phong ngày đó mệt bở hơi tai với những phong trào kế hoạch nhỏ, vệ sinh đường phố, hát hò múa may… Như đi theo anh, lò dò trong những hang cùng ngõ hẻm suốt những ngày hè.  Cho đến ngày tựu trường, cô cầm giấy sinh hoạt của địa phương về trường nhập học. Và ngày đó cũng là ngày anh lên đường.
Em ở lại học giỏi nha, học thêm phần của anh nữa đó !
Như chới với hốt hoảng :
Anh đi đâu, sao không học tiếp.
Anh đi lên rừng giúp bà con xây dựng vùng kinh tế mới.
Sao phải làm vậy? Anh đang học dở dang…
Anh cúi mặt nhìn xuống bờ cỏ úa vàng trong nắng thu:
Cậu anh đi học cải tạo, một mình mợ không đủ sức nuôi các em… Thầy giáo của anh nói về một thành phố mới trong tương lai mà bọn anh sẽ là những người đầu tiên đặt nền móng xây dựng nên, rồi sau đó sẽ đón những người dân nghèo lên đó sinh sống.
Vậy thầy giáo sẽ cùng đi với bọn anh ?
Không em, thầy chỉ động viên bọn anh đi, thầy ở lại để dạy.
Như thấy nghẹn lời, lần đầu tiên cô biết có một ngày khai trường buồn. Thời con gái của Như có màu sắc ảm đạm của đói nghèo, thiếu rách. Những chiếc áo dài lụa trắng được xếp lại cất kĩ trong ngăn kéo, chỉ còn lại những sắc màu tối tăm, buồn bã. Không hiểu vì sao như vậy?!… Có lẽ những gam màu đó phù hợp với những buổi lao động, trồng sắn ở núi rừng Ba Viên, hốt bùn rác ở công viên 29 tháng 3. Học và lao động, chẳng còn thời gian đâu để mơ mộng. Vậy mà Như vẫn thường ngóng chờ thư anh.
“Anh viết cho Như trong buổi chiều muộn từ nông trường. Hoàng hôn ở núi rừng xuống thật nhanh không như hoàng hôn ở biển quê mình. Trung đội của anh hơn 30 người, hầu hết là những thanh niên ở Huế. Vùng núi bạt ngàn tre lồ ô, bọn anh phải phát những rừng tre để làm nhà ở cho dân. Nhiều lúc chân tay rả rời, mắt hoa lên vì đói. Anh cứ ngỡ nếu mình ngã trên những đám tre lồ ô vừa phát thì sẽ bị nó đâm xóc qua thân mình. Những con đường hằng ngày anh đi qua heo hút, chon von, trơn trợt vắt ngang qua dốc núi sừng sững. Sương mù dày đặc che phủ cả những tán rừng trùng điệp, càng lên cao càng thở mạnh và cố lầm lũi bám theo dấu chân nhau. Những đôi chân rã rời vẫn cố sải bước thật nhanh. Lũ sên vắt đánh đu trên từng ngọn lá cành cây. Các cô gái mặt mày xanh mét như màu lá, nước mắt lưng tròng, thỉnh thoảng có cô hét thất thanh “Mạ ơi”. Thế là bọn anh đặt cho cái dốc rừng kinh sợ đó là dốc ” Mạ ơi”.
Anh chỉ thật sự cảm thấy thanh nhàn vào những buổi tối ngồi bên đống lửa bập bùng để đọc thư Như. Có một chuyện thật buồn cười mà anh phải xin lỗi em. Trung đội trưởng của anh nhìn thấy đêm nào anh cũng đọc thư em nên tò mò :”Cậu đọc thư ai mà đọc hoài không chán thế ? Anh cười nói với anh ấy: ” Thư của cô em gái “. Vậy là anh ấy đã năn nỉ cho anh ấy đọc ké. Như ơi, tất cả bọn anh đều phải bỏ dỡ việc học hành. Những dòng chữ của em kể về thành phố, về mái trường, về những buồn vui của tuổi học trò gợi nhớ thật nhiều. Trung đội trưởng của anh đỏ hoe mắt khi đọc thư em. Thì ra anh ấy cũng nhớ trường, nhớ phố…”
Mùa hè của năm cuối cùng làm học trò, Như lao vào ôn tập cho kì thi vào đại học thì anh về phép. Người anh đầy khói bụi, anh lạc lỏng giữa thành phố với những giò phong lan đem về từ rừng núi. Đứng trước cổng nhà đợi Như đi học về nụ cười luống cuống:
Anh có đem về cho em mật ong và cặp sừng nai rất đẹp, nhưng xe chật chội quá, tài xế bắt bỏ ba lô  trên trần, khi lấy xuống thì chỉ còn lại những giò phong lan. Như cười an ủi anh:
Anh về thăm em là vui rồi, cần gì quà lích kích cho nặng. Những ngày phép của anh là những ngày Như bận bù đầu với bài vở. Anh đến nhà ngồi lặng yên ở phòng khách nhìn cô học rồi buồn buồn đi về:
Em học đi, đừng lo cho anh!
Rồi anh vác ba lô về lại với núi rừng. Thư từ giữa Như và anh thưa thớt dần và mất hẳn.
Ngày Như lên xe hoa, anh trở về ngồi lặng trong góc tối trước sân nhà, cho đến khi mẹ cô lịch sự đuổi khéo:
Thôi con về nghĩ, để em nó chuẩn bị cho ngày mai.
Anh ngượng ngùng đứng dậy chào mẹ và nói với Như:
Anh về nhé Như, lúc nào anh cũng mong em hạnh phúc và bình yên !
Như nhìn theo dáng anh lẩn khuất nhạt nhoà trong đêm, vầng trăng 20 mong manh, mờ nhạt không đủ ánh sáng soi rọi đường về, Như cảm thấy có gì như tội tình như trắc ẩn…
Cuộc đời đã cuốn Như đi theo dòng chảy.  Gia đình, công việc…Cô chẳng còn thời gian nào để sống cho kí ức. Mà kí ức cũng xám xịt u buồn, chỉ thỉnh thoảng trong giấc mơ tiếng đàn, ngôi nhà gỗ với cây trúc vàng và nụ cười hiền của anh cũng thấp thoáng ẩn hiện.
Thời tiết chuyển mùa, sáng nắng chiều mưa. Như mệt mõi với công việc ở công ty và gia đình. Cơn bịnh cảm cúm dường như đến bao vây trong gia đình cô. Như vật vã với cơm cháo, thuốc men cho chồng con. Tất bật đầu bù tóc rối. Một số điện thoại lạ nào đó cứ vang lên, cô phớt lờ không nghe, chuông cứ đổ dài rồi tắt rồi gọi lại. Cuối cùng cô chịu thua:
Anh Thoại đây Như ơi.
Tiếng anh vọng lại thật xa xôi. Trái tim cô run rẩy đập loạn nhịp:
Anh đang ở đâu ?
Anh đang ở rất gần nơi em ở.
Anh về khi nào ?
Mấy ngày nay, liên lạc với em thật khó.
Ờ… Mấy ngày nay em lu bu quá, em xin lỗi !
Tối nay em ăn cơm tối cùng anh được không ?
Dạ, để em sắp xếp việc nhà rồi báo anh sau nhé.
Có gì xôn xao trong cô như vầng trăng trăng mong manh trong bóng tối huyền ảo, ẩn giấu một điều kì lạ. Tiếng đàn, ngôi nhà gỗ, cây trúc vàng và nụ cười buồn của anh lại trở về chập chờn qua một làn sương. Chồng cô khó tính, lạnh lùng, cơm nước không vừa ý, nhà cửa không ngăn nắp, con cái học hành điểm không cao… Chàng lặng im không nói, một sự im lặng đáng sợ. Như nghĩ đến chị Mây, bạn làm cùng cơ quan, chị hiền và thương yêu cô như ruột thịt. Hay là nhờ chị ấy đến nhà rủ mình cùng đi ăn cơm tối với anh.
Như và chị Mây  bước vào nhà hàng khi anh đã ngồi đó tự bao giờ. Anh gầy gò xanh xao như người bịnh mới ra viện, nhưng nụ cười vẫn hiền như muôn thưở. Anh lúng túng vụng về trước chị Mây đến tội nghiệp. Nhưng chị thì vốn hồn hậu nên chào hỏi và trò chuyện tự nhiên như đã quen anh từ lâu lắm. Chị chọn những món ăn ngon để đãi khách. Như bao giờ cũng cảm thấy yên lòng khi có chị nên không ngần ngại kể cho chị nghe về kí ức của cô và anh. Chị thấu hiểu tất cả : ” Đó là kí ức tinh khôi của thời con gái, em hãy giữ lại để thấy cuộc đời của mình có ý nghĩa thi vị, nó sẽ giúp em mềm mại hơn trong cuộc sống cằn cỗi nhọc nhằn, những con số khô khan của công việc hằng ngày này sẽ làm chúng ta cạn kiệt cảm xúc. Hãy đón tiếp anh ấy như người bạn thân thiết ở xa về. Đừng nghĩ gì thêm, đã có chị bên cạnh, em không có gì phải lo âu…” . Thật vậy chị thật khéo léo và tinh tế để anh dễ dàng vượt qua những ngần ngại và trò chuyện rôm rả. Anh kể về cuộc sống hiện nay của anh. Về công việc hướng dẫn du lịch,  Về đứa con trai đang du học ở Châu Âu, về người vợ đã rời bỏ rơi cha con anh…anh kể về những thăng trầm anh đã đi qua… Cuối cùng anh mở ví đưa tấm ảnh Như năm 18 tuổi và nói rằng nó luôn luôn đi theo anh. Như nghe cay cay ở mắt và lảng tránh ánh nhìn từ mắt anh. Chị đưa tay lau nước mắt. Chị rất nhạy cảm và dễ khóc. Chị nói với anh:
Thế hệ chúng phải chịu nhiều thua thiệt so với thế hệ đi trước và sau chúng ta. Chúng ta phải gánh trên vai bi kịch của lịch sử đói nghèo, ly tan… Em và Như bây giờ như một dòng sông chảy về hai hướng nhưng cuối cùng thì cũng tìm về với biển thôi. Em hiểu cho Như, nó là phụ nữ với những ràng buột nhất định. Vậy nên khi nào về đây em hãy liên lạc với chị, đừng gọi cho Như. Chị sẽ sắp xếp để ba chị em cùng ngồi với nhau, cùng ăn với nhau bữa cơm, cùng uống  cà phê, cùng nghe nhạc… Rồi trở về với gia đình, công việc. Như vậy là chúng ta đã may mắn hơn biết bao người đau khổ trên cuộc đời này.
Sau cuộc gặp gỡ anh, Như quay về nhà và biết rằng cuộc sống của cô đã xáo trộn tất cả. Kí ức và hiện tại cứ như thùng nước với đủ thứ bị quấy đảo. Như nhờ chị gặp gỡ và trò chuyện với anh. Và cô lao vào công việc, chăm sóc chồng con như để xoá tan hình ảnh của anh. Vậy mà trong giấc ngủ cô vẫn thấy chập chờn về hình ảnh nhà gỗ, bụi trúc vàng, nụ cười buồn và những dòng chữ trong bức thư cũ cứ như mờ ảo qua một làn khói mỏng…
Chị Mây gọi điện gọi Như đến một một quán cà phê bên kia sông. Trời đã vào đông, không gian xám ngắt, khoảng cách trời và đất thu ngắn lại thấp lè tè, gió se sắt lạnh, dòng sông đục ngầu với những đám lục bình trôi nổi. Chị trầm ngâm bên tách cà phê một lúc thật lâu rồi chậm rãi nói:
Như à, chị biết em sẽ rất buồn khi chị kể với em những gì đã xảy ra.
Chị sống một mình, không có gì để ràng buột chị như em, và chị đã thương em như đứa em ruột rà của chị. Chính vì vậy mà lúc nào chị cũng muốn che chắn bảo vệ em. Tình cảm của em dành cho anh ấy rất trong sáng, em biết lại những khoảng cách nhất định để không làm đau lòng người. Đó là điều chị rất quí em. Nhưng em à, bây giờ thì chị biết anh ấy không xứng đáng với điều đó nữa. Cuộc đời đã cuốn con người vào một vòng xoáy và họ đã quay tròn đến chóng mặt và không còn thể giữ lại những gì vốn đẹp đẽ trong họ. Chị không trách, không giận nhưng chị tiếc về kí ức đẹp mà em giữ gìn.
Như có cảm giác như cô đang lầm lụi đi trong bóng đêm lạnh lẽo. Những gì chị Mây kể cứ như chuyện lừa đảo thường xuyên xảy ra trên internet mà hai chị em vẫn thường kể cho nhau nghe để cảnh giác. Những chuyện lừa mua cart điện thoại, mua hàng online, mượn tiền gởi trả qua thẻ…. Anh ấy đã nhờ chị Vân mua một số hàng hoá với một số tiền lớn, hứa sẽ chuyển khoản vì không có tiền mặt nhiều, chị Vân đã tin và làm công việc đó rất nhiệt tình vì muốn giúp Như không phải lo lắng vướng víu. Vậy mà sau đó, tiền không gởi vào tài khoản chị, rồi điện thoại bị cắt, không thể nào liên lạc được với anh ấy nữa.
Trời ơi, kí ức tan nát. Ngôi nhà gỗ, bụi trúc vàng,  tiếng đàn, nụ cười buồn và những bức thư anh viết về từ núi rừng heo hút…đã được đánh đổi bằng số tiền lừa đảo chị Vân sao? Điều gì đã làm anh thay đổi ?
Như lảo đảo đứng dậy, chị Mây nhìn Như với ánh mắt đầy thương cảm: ” Nếu muốn khóc thì em hãy ngồi lại khóc  với chị cho trôi hêt nước mắt đi rồi hãy về. Em còn có chị, có gia đình, công việc, anh ấy cũng giống như bọt bèo… trôi đi thôi em à.”
Như lại lao vào những con số thống kê khô khốc, lao vào những việc không tên của gia đình với tất cả sự tỉ mỉ, chỉn chu. Vì thế những báo cáo thống kê của Như ít sai sót hơn. Nhà cửa sạch sẽ, cơm nước tinh tươm, dạy con học chu tất…Hình như chàng cũng ngạc nhiên vì bệnh lãng đãng của vợ mình đã hết, không còn quên trước quên sau, không khí gia đình thật êm ấm. Thỉnh thoảng chị Mây rủ Như đi bù khú ở quán xá hoặc ngắm nghía, săm soi áo váy…Hai chị em lại cười ngặt nghẽo bên nhau.
Những ngày cuối năm, đất trời mênh mang dịu dàng đến lạ, lòng Như lại nôn nao, đôi chân muốn bước ra đường mua sắm, gặp gỡ, trò chuyện. Như gọi chị Vân, chị cười nói sao chị cũng có cảm giác giống y chang em. Vậy là hai chị em lại lang thang phố chợ, mua thì ít mà ngắm thiên hạ thì nhiều. Có tiếng người gọi :
Chị Như, chị Như ơi…
Cô gái mặc áo len màu đỏ có nét nhìn thật quen, Như cố lục trí nhớ mà không thể nào nhớ nỗi.
Em là Nguyên, em gái anh Thoại ở gần nhà chị ngày xưa chị quên em rồi sao?
Như lặng người một lát rồi mới bình tĩnh hỏi Nguyên:
Lâu nay em có gặp anh Thoại không ?
Anh ấy mất cách đây một tháng rồi chị không biết sao?
Mất ? Vì sao ?
Anh ấy bịnh ung thư từ một năm nay rồi, cũng đau đớn ghê lắm chị.
Vợ con anh ấy có về không?
Nguyên tròn mắt nhìn Thư:
Anh ấy làm gì có vợ con mà về hở chị ?
Lần này thì đến lượt Như trố mắt nhìn Nguyên:
Thật sao em?
Thật đó chị. Tội lắm chị. Anh đi thanh niên xung phong về, thất nghiệp không xin được việc làm, anh chỉ làm những việc làng nhàng đủ sống và chăm sóc mẹ  già, rồi mẹ anh ấy mất. Anh ấy đau ốm liên miên cả năm trời không tiền chữa bệnh nên tìm về lại vùng kinh tế mới và mất ở đó.
Như ngơ ngẩn không còn nghe gì thêm được nữa, đầu óc nặng trĩu, chỉ nghe tiếng chị Mây loáng thoáng hỏi Nguyên địa chỉ nghĩa trang nơi anh nằm xuống.
Trời bổng dưng tối đen, gió đổi chiều se sắt lạnh và mưa trút xuống ào ạt xối xả. Nguyên vội lên xe máy chạy đi. Chị Mây nắm tay Như chạy vào góc phố núp mưa. Như úp mặt trên vai chị oà khóc:
Chị ơi, vì sao anh ấy phải nói dối ?
Vì mặc cảm em à, đáng thương là nó  được đặt trong cảnh khốn cùng, bế tắt… Có hàng trăm, hàng triệu thanh niên lao động ở vùng kinh tế mới trở về phải chịu thiệt thòi như vậy chứ không phải một mình Thoại đâu em. Những thế hệ thanh niên miền nam, họ xung phong lên đường với bao niềm háo hức về một lí tưởng đẹp. Họ mơ đến những cánh rừng, những thác nước. Họ nghĩ đến một tương lai tươi sáng cho quê hương, cho gia đình và chính bản thân họ. Nhưng thật ra họ trải qua rất nhiều cay đắng, khổ nhọc… Rồi chị sẽ đưa em đến nơi đó để thắp hương cho anh ấy, cầu xin cho linh hồn anh  thanh thản ở thế giới bên kia.
Như và chị Mây tìm đến vùng đất nơi anh đã từng đến. Một góc nhọn của dải đất hình tam giác được khép góc bởi hai con sông, mảnh đất giáp ranh với núi rừng bạt ngàn. Một con dốc vắt ngang sườn ngọn núi cao, um tùm những cánh rừng nguyên sinh, thỉnh thoảng xa xa trong cái hoang vu lạnh người ấy lại vang lên những tiếng gầm gào của thác nước. Tiếng người bạn của anh trầm buồn: “Thoại đã có mặt ở đây từ những ngày đầu tiên xây dựng vùng kinh tế mới này. Bọn anh là thanh niên sinh ra, lớn lên ở thành phố, nên đứa nào cũng bỡ ngỡ, lúng túng khi giáp mặt với núi rừng. Ngay cả việc dựng tạm một cái lều trú qua đêm cũng rất khó khăn. Đêm đầu tiên, bọn anh đã đụng độ với cơn mưa rừng của cao nguyên, ào ạt như thác đổ, quăng quật hết cái thứ lều trại bát nháo. Hàng trăm thanh niên, đứa nào đứa nấy ướt lướt thướt, nước dưới chân như dòng xoáy cứ muốn cuốn mình đi. Những cô gái ôm lấy nhau khóc tấm tức. Vừa ướt lạnh, vừa sợ hãi khiến bọn anh gần như thức trắng đêm. Nhưng sáng ra, trời còn mờ mịt sương mù, đã phải tập họp, điểm danh, lên đường đi tiếp…Thoại đã sống rất tình nghĩa với anh em. Cậu ấy gầy yếu nhưng lúc nào cũng gánh vác những việc nặng thay anh em. Mười năm, hai mươi năm trôi qua tưởng chừng như dài vô tận thì vùng đất này mới bắt đầu định hình ổn định. Một số anh em không muốn quay về thành phố, ở lại sinh cơ lập nghiệp. Riêng Thoại thì về lại quê nhà để chăm sóc mẹ già đang ốm nặng. Và hình như cậu ấy cũng đã nhận ra sức khoẻ có vấn đề bất ổn. Tội nghiệp gần hai mươi năm với núi rừng chỉ mang về bịnh tật, chẳng có một chút ưu đãi nào. Rồi không hiểu sao cậu ấy trở lại. Thì ra bệnh đã vào giai đoạn cuối. Cậu ấy muốn nằm xuống bên cạnh những anh em đồng đội. Cậu ấy đã nhờ anh gởi cho Như bức thư cuối cùng. Ngày xưa anh và Thoại vẫn thường đọc chung thư em, nên bây giờ gặp em, anh vẫn thấy ở em như thân quen từ lâu lắm.
Sao anh không về lại thành phố ?
Anh nghĩ tuổi trẻ đã qua, cơ hội không còn nữa, nên anh ở lại đây sinh cơ lập nghiệp. Nhưng cuộc sống ở đây cũng bấp bênh lắm, em nhìn thấy đó, hoa màu trồng không bán được. Hoa ly, lay ơn, cúc… có năm để héo úa chất từng đống. Người dân ở đây bắt đầu đón bỏ những nương rẫy trồng tiêu, trồng điều trở lại trồng tre lồ ô bán cho thủ công mỹ nghệ và vườn nhà. Nghĩ buồn cười, coi như quay trở lại với núi rừng tre lồ ô như thưở ban đầu.
Nghĩa trang núi rừng hoang sơ và cô tịch. Ngôi mộ cỏ có tấm bia được bạn bè khắc tên anh. Tây nguyên đang vào mùa khô hạn, cỏ héo tàn cằn cỗi, đàn bò tơ non nớt phải nhấm nhẳn từng ngọn cỏ cháy đắng chát. Anh đã đến nơi đây và ở lại bởi vì anh đâu còn có chốn nào để quay về.
Trần thị Trúc Hạ
Advertisement

Hội ngộ Tương tri 2016 ĐÀ NẴNG

tranthitrucha

12669608_782465905191386_144912062117886295_n

Chúng tôi lại về ngồi bên nhau như hai năm trước đây.
Ngày đó 23 tháng chạp năm 2013 chúng tôi chỉ có 6 người, bập bềnh như chiếc lá trên sông Hàn ở Memory trong rét buốt đến tê tái. Nhưng khi anh Tạ Chí Thân đến, cầm trên tay tập Tương tri mùa xuân thì dường như rét buốt cũng tan đi.
Đêm nay 25 tháng chạp năm 2016 chúng tôi bao gồm vừa tác giả vừa độc giả là 32 người. Thời tiết Đà Nẵng trong những ngày cuối năm se se và êm dịu lạ thường. Chúng tôi ngồi bên nhau trong căn phòng nhỏ ở khu Đảo xanh, tiếc một không gian đẹp mà khi mọi người đến đông đủ trời đã chập choạng tối không nhìn ngắm được.

Anh Tạ Chí Thân từ Qui Nhơn đến Đà Nẵng gần 5 giờ chiều, một ngày ê ẩm trên xe, vậy mà nhìn anh chị vẫn tươi . Anh nhanh nhẹn treo tấm băng rôn “Hội ngộ tuongtri.com 2016 ” và chủ trì buổi họp mặt. Nhìn thấy mọi người đến đông đủ anh cười phấn khởi: “Mừng lắm, Trúc Hạ thật mát tay”. Thật sự thì tôi có làm được gì đâu. Đó là duyên kì ngộ đấy thôi !

Nhà văn Trương văn Dân đến cùng người vợ Ý Elena, tiến sĩ ngôn ngữ và văn học nước ngoài với nụ cười dễ mến hoà đồng trò chuyện cùng mọi người bằng âm điệu Tiếng Việt lơ lớ. Bà lẩm nhẩm hát theo làn điệu dân ca cùng nhạc sĩ Đình Thậm. Chấp nhận rời xa quê mình để lặn lội về quê chồng, sát cánh bên chồng trong cả niềm vui lẫn nỗi buồn như bà, phải chăng đó là tình yêu đích thực tuyệt vời đã tạo nguồn cảm xúc để họ cùng nhau viết ” Bàn tay nhỏ dưới mưa”.

Anh Nguyễn Tấn Sỹ, một nhà thơ cộng tác với Tương tri đã đến sớm nhất cùng với những người bạn rất “đặc biệt” . Cám ơn anh Sỹ thật nhiều, anh và những người bạn tài hoa của anh đã làm cho đêm hội ngộ Tương tri thêm ấm nồng. Những bài thơ của Anh Sỹ, anh Ngân Vịnh, anh Nguyễn cảnh Thìn cùng với tiếng hát của nhạc sĩ Đình Thậm…dường như đã xoá tan đi khoảng cách xa lạ, chúng ta thật gần nhau trong tình yêu văn chương nghệ thuật, chúng ta viết về tình yêu, cuộc sống, đất nước… bằng sự trong sáng tinh khôi của tiếng mẹ đẻ để nuôi dưỡng bền vững muôn đời dòng máu Việt.

Chị Dao Lam thật đáng yêu! Chị rất nhiệt tình cùng tôi chuẩn bị cho buổi họp mặt chu đáo, chọn những chai rượi ngon đem đến và đưa xe đi đón bạn bè… Nhưng tuyệt vời hơn cả là bài thơ chị đọc cho mọi người nghe. Giong Huế ngọt lịm và dịu dàng quá đỗi !

Chị Phùng Kim Hương với bài hát ” Đôi mắt người Sơn Tây”, quê ở Sơn Tây nhưng di cư vào Huế rồi vào Đà Nẵng nhưng nói tiếng Huế nhẹ như bấc . Chị đã cầm bút từ năm 12 tuổi và bây giờ muốn cầm bút trở lại, đã có truyện ngắn đăng ở Tương tri.

Chị Liên Hương, người yêu của anh Tạ Chí Thân tiếp nối Phùng Kim Hương bài hát “Tình ca” của Phạm Duy thật ngọt ngào, tha thiết:
Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời, người ơi
Mẹ hiền ru những câu xa vời
À à ơi ! Tiếng ru muôn đời
Tiếng nước tôi ! Bốn ngàn năm ròng rã buồn vui
Khóc cười theo mệnh nước nổi trôi, nước ơi
….
Những người tên Hương sao hát hay vậy ta ?!…

Anh Bùi Thanh Xuân đến thật lặng lẽ, anh đọc một bài thơ viết cho mẹ, buồn buồn như chiều cuối năm… Thôi năm cũ đang đi qua… Tất cả chúng ta xin hãy khép lại những ưu phiền, hãy cố nhìn vào những điều tốt đẹp của mỗi người để yêu thương …

Trần Thiên Thị đang phiêu lãng ở Qui Nhơn không về kịp.
Mai Thanh Vinh bị tai nạn, tay còn yếu không chạy xe được, đứng đón xe buýt cả buổi , những chuyến xe cuối năm đầy nhóc người và hàng hoá. Chỉ gọi điện báo tin tiếc nuối, thương bà chị lận đận và tiếc những bài thơ cùng giọng ngâm thơ não lòng người của chị lắm !

Và người từ Quảng Trị cũng kịp đáp chuyến xe cuối vào tới Đà Nẵng để hội ngộ, Phạm Ty Lan, chị có nụ cười thật hiền, thật duyên, chắc mấy anh võ sĩ Bình Định chết mê nụ cười này thôi. Và sáng nay thật buồn khi nghe tin chị mất túi xách, giấy tờ tiền bạc không cánh mà bay. Ôi , Đà Nẵng quê tôi, thành phố đáng sống, một mét vuông mười thằng ăn cắp. Ăn cắp được sinh ra ở thành phố này và từ tứ xứ đến… Cười ra nước mắt !… Chạy đến ôm chị và dỗ dành: ” Thôi kệ, của đi thay người chị ạ “. Chị đành e thẹn cầm mấy trăm nghìn của anh Tạ Chí Thân leo lên xe trở lại Quảng Trị với nụ cười vẫn nở trên môi.

Và rất nhiều độc giả hâm mộ những cây bút tương tri đã đến ! Chân tình xin lỗi các bạn vì không nhớ hết tên để viết về các bạn nhưng vô cùng cảm ơn các bạn đã đến hội ngộ cùng chúng tôi. Các bạn đã tạo ra sự hưng phấn cho nguồn cảm xúc bất tận. Chúng tôi viết vì còn có các bạn đọc.

Và cuối cùng Tương tri ơi hẹn gặp lại !
Dù đi đâu, ở đâu, rồi chúng ta vẫn tìm về ngồi lại với nhau
Vì chúng ta là Tương tri.

Trần thị Trúc Hạ

Ôi Khỉ đột!…

tranthitrucha

Tôi ghét hắn như nhà nông ghét cỏ.
Bởi vì lúc nào hắn cũng cà khịa, sửa lưng tôi.
Tôi nói trái thì hắn nói phải, tôi nói đông thì hắn nói Tây, tôi nói nam thì hắn nói Bắc…
Hình như không cãi lại tôi thì hắn ăn không ngon ngủ không yên.
Chúa ơi!
Kiếp trước con có nợ nần gì hắn không?
Vậy mà có người nói với tôi rằng hắn thương tôi mà không dám nói nên nhờ nói lại dùm.
Haiza!… Tôi có cớ để trấn áp hắn rồi.
Phen này thì chết nghe con.

Nè, ông kia!
Gì?
Ông nói gì với người ta nhờ nhắn gởi lại cho tôi?
Nói gì là nói gì? Mà ai nói?
Thì bạn của ông nói là ông nhờ nhắn gởi . Ông có đủ dũng cảm thì nói trực tiếp với tôi, không thì nín nha, không có nhắn gởi lung tung.
Mà nói gì mới được chứ?
Thì… Ông nói ông thương tôi.
Ha… Ha… ha…
Ông cười gì mà cười lắm thế, qua núi Sơn Trà mà cười với mấy con khỉ đột.
Hắn vẫn gập người ôm bụng, đỏ mặt đỏ tai vì cười.
Quý nương ơi là quý nương! sao mà nàng dễ tin người đến vậy? Tôi hết người thương rồi hay sao mà lại đi thương nàng.
Tức như bò đá!
Nhưng tôi cũng cố lườm hắn một nhát
Tôi cấm ông từ rày không được đem tôi ra để làm trò đùa. Một lần nữa ông biết tay tôi.
Đa tạ quý nương! Tôi hứa từ rày về sau tôi sẽ né quý nương!

Mùa thu thời tiết thất thường, đỏng đảnh y chang… Tôi. Buổi sáng trời đang vời vợi ngát xanh bổng dưng chiều xuống thấp lè tè một màu mây xám xịt.
Tôi đau!
Vừa sụt sịt cảm sốt do thời tiết, vừa uất ức vì thua hắn một ván đậm.
Tưởng đâu nắm chắc phần thắng trong tay, hắn sẽ cúi đầu nhận tội, ai dè …
Tôi nằm ở nhà không đến lớp.
Hắn là lớp trưởng và là một tên phát xít chính thống.
Kệ hắn, cóc sợ!

Cô bạn thân ôm cặp bước vào:
Đau ốm gì không đi học nhỏ?
Cảm sốt .
Cảm gì, cảm mạo thương chàng hở?
Thương con khỉ đột .
Hi…hi… khỉ đột hỏi thăm nhỏ đó?
Hỏi gì?
Hỏi đau ốm ra sao? Có cần hắn tới chăm sóc hông?

A! Nghĩ ra rồi, phen này sẽ không thua nữa nghe con.
Nhỏ nè, ta nhờ nhỏ một chút nha !
Nhờ gì?
Bạn bè ta nói thật, ta ốm tương tư con khỉ đột đó. Nhỏ giúp ta đưa cho khỉ đột một bức tâm thư. Nhỏ thương ta, giúp ta thì mới hết bịnh mà đi học, nếu không ta buồn, héo hắt mà chết mất..
Thật không đó? Ta nghi lắm, nhỏ với hắn như chó với mèo , làm sao mà nhỏ “si” hắn đến vậy ?
Không biết. Chắc kiếp trước ta mượn tiền hắn rồi xù không trả nên kiếp này hắn theo ám ta.
Thôi được, ta nhận lời, thư đâu đưa đây ?
Chờ ta năm phút nha!
Thư tình gì mà mỏng tang vậy trời?
Ý ít tình nhiều mà! Nhỏ phải nói với con khỉ đột thật lâm li bi đát nha, nói ta ốm nặng lắm, chắc không qua khỏi.

Vẫn còn choáng váng trong sốt nhưng cũng cố lết tới trường xem vở bi hài kịch hạ màn như thế nào. Giờ ra chơi, tôi núp ở góc nhà xe chờ hắn đi ra. Hắn thường trốn ra đây hút thuốc mà.
A!…Hắn kia rồi .
Có vẻ vội vã và căng thẳng. Nhỏ bạn chắc chắn hát bài ca con cá hay.
Đúng y chang như dự đoán của đạo diễn.
Hắn cẩn thận xé phong bì thơ.
Tờ giấy pơ luya xanh rơi ra mỏng như chiếc lá.
Lật qua
Lật lại …
Mặt hắn đỏ như mặt trời …
Bức thư chỉ có bốn chữ, trang bên này có hai chữ “lật qua”, trang bên kia có hai chữ “lật lại”
Ha…ha…ha…
Bức thư tình hay nhất thế giới phải không ông?
Hắn giận tím mặt.
Rảnh dữ ha? Quí nương bịnh mà chết thì chỉ có xuống địa ngục thôi, không lên thiên đường nổi đâu.
Ôi, thiên đường dành cho ông đó, tôi ở trên đó xuống đây, buồn hiu hà.

Mùa đông trở về thật u ám, hắt hiu như khuôn mặt của hắn.
Hắn chẳng cười, chẳng trò chuyện cùng ai, chỉ nghe giọng hắn dõng dạc ra lệnh những thông tin thông báo của trường, của khoa.
Tôi vẫn ngồi bên cửa sổ của hội trường lơ đểnh nghe lời giảng của thầy và thỉnh thoảng len lén nhìn hắn. Hắn chăm chú ghi chép, sinh viên gương mẫu mà. Thầy cô tin tưởng hắn, bạn bè quí mến hắn… Nghe loáng thoáng hình như hắn được giữ lại để làm giảng viên. Năm cuối rồi, ai cũng lo lắng cho con đường phía trước.
Các bạn nghe thông báo của khoa. Tuần sau lớp chúng ta sẽ thi phần văn học Nga, sau đó các bạn được nghỉ ba ngày để về nhà chuẩn bị cho đợt lao động một tháng ở nông trường dứa.
Ôi mẹ ơi, nông trường dứa trong mùa đông này ! chắc con chết mất !
Mưa gió, rét buốt của nông trường trên đỉnh núi heo hút đó và những vết cắt của gai dứa từ năm ngoái đến năm nay vẫn chưa lành sẹo.
Tôi ghét hắn, ghét những tin tức mà hắn thông báo. Nhưng biết làm gì ?!…

Hắn cuốc đất giỏi như nông dân, những luống đất hắn đánh vồng đẹp, thẳng tắp không méo mó xiên xẹo như những chàng công tử thành phố. Tôi theo sau hắn, áo mưa bê bết bùn nước, lầm lụi cúi mặt trồng những cây dứa cho đúng khoảng cách cự ly. Lạnh, đói, mệt… Phải chi người ta đừng ăn dứa! Đã thế thỉnh thoảng hắn còn quay lại nạt nộ:
Nhanh lên, làm gì mà như rùa bò, chưa đúng cự ly kìa, nhổ lên trồng lại đi.
Mệt lắm, ổng giỏi thì trồng đi!
Nước mắt hoà trong nước mưa thật thảm hại. Hắn dịu giọng:
Thôi nghỉ đi, để đó trồng cho.
Vậy thì nghỉ, hắn vừa cuốc đất vừa trồng, sao hắn làm gì cũng giỏi hơn người khác vậy hở trời? Thấy hắn tội tội làm sao !

Mùa xuân sương trắng long lanh trên cây lá khu vườn trường, những cơn gió heo may se sắt đi qua mơn man những mầm non nhú lên từ cành bàng trơ trụi. Khu nội trú xôn xao, náo nức lạ thường.
Tiếng đàn tiếng trống vang vang một góc hội trường của ban văn nghệ đang tập tành múa hát chuẩn hội diễn mùa xuân.
Hắn cùng tôi và hai tướng viết chữ đẹp phụ trách báo tập. Hắn chịu trách nhiệm vẽ trang trí bìa, ghi nhan đề, hai ông tướng kia viết bài, còn tôi chịu trách nhiệm đọc, chọn, chỉnh sửa và viết lời ngỏ…
Những bài viết của sinh viên khoa văn thì ôi thôi quá đa dạng, thật sự tôi không dám thò tay vào sửa bài của các “tướng”, đụng vào ổ kiến lửa sợ lắm. Tôi đọc bài của hắn… Hắn viết về ngôi nhà nhỏ dựa lưng vào vách núi, ở đó có một người mẹ ốm nặng không đi lại được, một người bố nhọc nhằn cày bừa trên mảnh đất đầy đá sỏi, đứa em trai vừa học vừa thay anh chăm sóc mẹ… Hắn đã ra đi từ đó, từ những chiều tắt nắng đứng sau nương rẫy chống cuốc chờ đoàn tàu đi qua, mơ ước một lần trèo lên con tàu để đi về thành phố, được ngồi vào giảng đường đại học… Rồi khi đạt được điều mơ ước hắn lại trăn trở thương ba vất vả gánh gồng, thương mẹ bịnh tật đớn đau, thương em thiệt thòi ở quê nhà…

Tôi lặng lẽ bước ra ghế đá ngồi bó gối, nước mắt ứa ra.
Tự nhiên ra đây ngồi khóc, ai đánh mà khóc?
Không ai đánh hết
Vậy sao khóc?
Không biết. Tại đọc bài ông viết.

Ông nhớ nhà lắm hở?
Hắn chớp mắt nói nhỏ:
Nhớ!
Lâu nay tôi trêu đùa chọc ghẹo ông có ghét tôi hông?
Hỏi lãng xẹt. Thôi vào làm cho xong tập báo. Đúng là ngớ ngẩn!

Mùa hè nóng rát với màu đỏ chói chang đến nhức mắt của phượng vỹ và tiếng râm ran muốn điếc tai điếc óc của lũ ve sầu.
Tôi ở ngoại trú phải chạy đi chạy về đoạn đường từ nhà đến trường nên da nâu đen như thỏi kẹo chocola. Vào thư viện tìm tư liệu rồi tìm thầy hướng dẫn, tất bật với luận văn tốt nghiệp. Hắn bảo:
Quí nương chịu khó vào ở nội trú đi, các bạn ở được thì mình ở được, có gì tôi còn hổ trợ.
Lần đầu tiên tôi ngoan ngoãn nghe theo lời hắn.
Chúi đầu vào luận văn tôi chẳng để ý đến lời xầm xì của bọn con gái .
Anh như con chó, em như con mèo hai con cắn nhau
Xì… Cắn đâu mà cắn …đang hít nhau như nam châm kìa.
Hắn phớt ăng lê. Tôi cũng vậy.
Ngày bảo vệ tốt nghiệp kết quả đẹp như mơ. Thầy chủ nhiệm khoa nhìn tôi và hắn cười:
Cô cậu giỏi lắm !
Văn phòng khoa những ngày này sinh viên ra vào tấp nập. Khuôn mặt ai cũng căng thẳng đầy lo âu, không biết rồi số phận mỗi người sẽ đi đâu về đâu?!
Tôi thản nhiên. Về đâu cũng được! miễn ra trường đi dạy là vui rồi. Hắn nhìn tôi tủm tỉm cười khó hiểu.
Ngày công bố quyết định bổ nhiệm đứa cười, đứa khóc.
Mỗi người đi về mỗi ngã.
Kẻ lên núi, người về quê, đứa may mắn về những thị trấn ven ngoại ô thành phố… Hắn về lại quê nhà của hắn. Chỉ có tôi … về trường chuyên thành phố. Tôi ngỡ ngàng không tin vào mắt mình, chạy đi tìm hắn hỏi có phải người ta đưa nhầm quyết định bổ nhiệm. Hắn cốc đầu tôi mắng:
Ngố ạ! Quí nương về trường chuyên là đúng rồi, nhầm cái gì.
Chẳng có liên hoan, chẳng có tiễn đưa, chẳng còn ai có tâm trạng mà vui đùa, cuộc chia tay diễn ra trong lặng lẽ, không có tiếng cười, chỉ có những giọt nước.
Tôi đưa hắn ra sân ga, tiếng còi tàu não ruột. Hắn leo lên con tàu và đuổi tôi như đuổi tà.
Về đi, đứng đây làm gì cho nắng nôi.
Tôi lửng thửng đi về trong cái nắng chênh chao tháng bảy.

Thời gian đi qua như một con người vô cảm thờ ơ.
Tôi trở về trong ngày hội Thành lập trường với nỗi ao ước mong manh được gặp lại hắn.
Bạn bè lớp tôi mỗi đứa mỗi nơi trở về lác đác.
Thầy chủ nhiệm khoa hỏi :
Em có liên lạc với lớp trưởng không?
Dạ, Thưa thầy không !… Ra trường rồi như lạc mất nhau luôn. Công việc, gia đình … Cứ như cuốn mình đi.
Thầy chép miệng lắc đầu:
Có một điều thầy đã hứa với hắn là sẽ không bao giờ kể lại cho em nghe. Nhưng bây giờ thì tất cả đã được số phận sắp xếp đâu vào đấy rồi, thầy không muốn giấu em làm gì.
Chuyện gì nghiêm trọng lắm hở thầy?
Ngày đó, chỉ có một chỉ tiêu duy nhất được về trường chuyên thành phố dành cho thủ khoa. Đó là hắn chứ không phải em. Điểm luận văn tốt nghiệp của em đứng sau hắn, hơn nữa hắn là lớp trưởng năng nổ nhiệt tình, có nhiều đóng góp cho lớp cho khoa. Hội đồng sư phạm khoa đã quyết định chọn hắn. Vậy mà hắn đã gặp thầy để trình bày nguyện vọng muốn về quê vì lí do gia đình neo đơn, ba mẹ già yếu, em trai chuẩn bị vào đại học nhà không có ai bên cạnh cha mẹ… Và hắn đã năn nỉ thầy hãy dành tiêu chuẩn đó cho em. Hắn đã thuyết phục thầy bằng cách đưa ra nhiều ưu điểm của em , hắn nói một cô giáo như em sẽ đào tạo được nhiều học sinh giỏi ở trường chuyên…
Tôi nghe mắt mình cay xè.
Thầy ơi, từ ngày đó đến bây giờ lớp trưởng có về lại trường không?
Hè năm nào hắn cũng về thăm thầy, lần cuối cùng hắn buồn lắm khi biết em sắp lập gia đình. Rồi không thấy về nữa.
Trời ơi!
Sao hắn cứ nói dùm cho người khác mà chẳng bao giờ đủ can đảm để nói cho chính hắn?
Hắn muốn biến tôi thành kẻ vô tâm vô tình.
Hắn muốn tôi phải nợ hắn đời đời kiếp kiếp?!…

Trần thị Trúc Hạ

Khi ngồi một mình bên bãi biển…

tranthitrucha

Trời còn mờ mờ một màu lam đen, chàng đã đưa nàng đến biển, để nàng ngồi lại một mình với áo phao, kính bơi và mũ trùm tóc, rồi vội vã đi thật nhanh về hướng núi Sơn Trà. Nàng nhắm mắt lại và bắt đầu thiền… hít vào thật sâu và thở ra thật chậm, xua tan mọi tị hiềm oán trách… Vậy mà sao mắt nàng vẫn mở ra nhìn đăm đăm về phía chàng. Đôi chân dài miên man và bộ bikino màu đỏ thấp thoáng như trêu chọc nàng… Không thể nào thiền trong trạng thái hờn ghen, nàng nhảy ào xuống biển và bơi thật nhanh ra khơi.
– Á!… Đau quá!…
Nàng hét lên đau đớn, nước mắt ứa ra, nàng bị vọp bẻ, căn bệnh thường xuyên đến với nàng trong giấc ngủ giữa khuya. Những lúc đó chàng thường cầm bàn chân nàng xoa nhẹ và dỗ dành cho cơn đau tan đi và nàng trôi vào giấc ngủ trở lại. Còn bây giờ chàng đang đi về hướng núi. Có tiếng của người đàn ông bơi bên cạnh nàng :
Cô bình tỉnh thả nổi người, rồi đẩy thẳng hai chân mạnh ra, uốn mười ngón chân ngược lên phía mặt, đập mạnh hai gót xuống nước.
Bổng dưng nàng thấy yên lòng và làm theo cách chỉ dẫn, thật diệu kì, cơn đau tan nhanh trong làn nước mát. Nàng nổi bồng bềnh trên mặt nước và ngước mắt nhìn trời. Mây trắng vẫn còn gối đầu bên nhau ngủ im lìm, vầng trăng chỉ còn một nửa mong manh cô quạnh. Không biết chàng đã quay lại và đang bơi ở hướng nào, Chàng có biết là nàng vừa trải qua một cơn đau thật nguy hiểm trên biển. Nếu không có người đàn ông xa lạ này nàng sẽ ra sao ? Mà người đàn ông này cũng lạ, hình như ông ta lúc này loanh quanh bên nàng. Khi nàng ngồi trên biển một mình ông ngồi xa nàng một khoảng cách vừa phải im lặng nhìn nàng với đôi mắt thật lạ. Khi nàng một mình bơi ra khơi ông lặng lẽ bơi theo và vẫn giữ một khoảng cách. Nàng rất ngại, chàng rất nóng tính. Vậy mà bây giờ ông ta trở thành ân nhân của nàng. Ông ta cười thật hiền :
Bây giờ thì cô bơi vào bờ chầm chậm thôi, tôi sẽ bơi theo sau cô.

Biển sau cơn mưa đêm bổng nổi sóng dữ dội, chàng vẫn đi nhanh về hướng núi. Đôi chân chàng vẫn dẻo dai nhanh nhẹn, đôi chân nàng đã rệu rã, nàng không thể bước kịp theo chàng. Nàng đành phải ngồi lại và thiền… Hít vào thật sâu vị mặn của biển mà sao như vị mặn của nước mắt , thở ra những ưu phiền và tiếc nhớ về một vùng kí ức. Nàng đi bên chàng, bộ bikini màu vàng như nắng, chàng chẳng bao giờ rời xa nàng, bạn thân của chàng có lần đã bộc lộ sỗ sàng:
Tao muốn đuổi hết mọi người lên bờ, để dành riêng biển cho nàng .
Chàng giận bạn và tránh né bạn từ đó. Chàng không muốn nàng trò chuyện với bất kì người đàn ông nào trên biển.
Nhưng bây giờ chàng thích nhìn phụ nữ đẹp. Phụ nữ đẹp ai mà không thích nhìn?!…
Nàng đã qua thời xuân sắc, chàng không bỏ rơi nàng nhưng chàng thích đi theo và nhìn những người phụ nữ đẹp, chàng có lỗi gì đâu, Chiếc áo mặc lâu ngày cũng cũ kĩ lỗi thời mà .
Sao cô không bơi ?
Người đàn ông đã ngồi bên cạnh nàng từ lúc nào.
Sóng lớn quá!
Nếu vượt qua những đợt sóng ven bờ thì ngoài xa biển sẽ yên hơn.
Sao ông hiểu về biển rõ vậy?
Với tôi biển là nhà. Tôi là Thuỷ thủ tàu viễn dương từ năm hai mươi tuổi và lênh đênh trên đại dương hơn hai mươi năm .
Và bây giờ ngày nào ông cũng đến với biển cho đỡ nhớ?
Đúng rồi, một năm tôi đi biển 365 ngày trừ những ngày bão dông dữ dội.
Cô khởi động thật nóng người rồi hãy bơi, như thế cô sẽ không bị vọp bẻ. Cô thiền không đủ để nóng người đâu, mà cô thiền nhưng tâm cô bất an thì không hiệu quả.
Nàng đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên từ người đàn ông xa lạ này
Sao ông biết tâm tôi bất an?
Đôi mắt cô nói tất cả, cô có đôi mắt biết nói và nói rất thật thà.
Nàng lúng túng:
Thôi ông bơi đi, hôm nay tôi không bơi. Tôi sợ bơi ra sóng lớn không bơi vào nổi.
Cô bơi bên cạnh một Thuỷ thủ như tôi mà vẫn không yên lòng sao?
Khi gặp sóng lớn ông lo cho tính mạng ông trước chứ làm sao cứu tôi
Không sao đâu mà, cô không nhìn thấy ca nô cứu hộ sao, có gì tôi hét lên cho nhân viên cứu hộ vớt cô lên kéo vào bờ. Cũng phải tạo công ăn việc làm cho họ chứ.
Thôi được rồi, tôi sẽ bơi theo sau ông, sống chết do số trời định.
Giỏi! Hãy tin tôi!

Nàng lại ngồi trên bãi cát, vầng trăng mong manh như vành móng tay, chàng vẫn đi về phía núi. Bên cạnh nàng có đôi vợ chồng mặc áo cặp hạnh phúc, màu áo và hình vẽ trên áo giống nhau, mỗi ngày mỗi màu và luôn luôn là áo cặp, lúc nào họ cũng dính như sam, khi bơi dưới biển , khi ngồi trên bãi cát và cả khi tắm họ cũng dội nước ngọt cho nhau gội đầu… Chẳng biết họ có thật sự hạnh phúc hay không ? Cuộc sống thật khó tin những điều mình nhìn thấy và những sự thật bên trong. Người bạn gái thân nhất của nàng cũng vừa ly hôn, tình yêu của bạn đẹp, họ phải vượt qua những rào cản của gia đình thật khó khăn để đến với nhau. Bây giờ họ có tất cả con cái , nhà cửa, tiền tài… Vậy mà họ không thể cùng nhau đi cho hết đoạn cuối con đường. Cuộc sống trên đất liền cũng mênh mang và bí ẩn như đại dương, làm sao biết được dưới làn nước trong như ngọc bích kia ẩn chứa những điều gì ?!…
Cô lại bất an rồi phải không ?
Người đàn ông ngồi bên cạnh từ lúc nào nàng không hề hay biết.
Sao ông biết tôi đang bất an ?
Cô đang ngồi trên bãi cát nhưng lại nghĩ về đại dương.
Sao ông cứ như một nhà ngoại cảm vậy, thật đáng sợ!
Người đàn ông bật cười, tiếng cười vang vang như sóng.
Bởi vì cô biết không… Khi tôi lênh đênh trên đại dương lúc nào tôi cũng mơ về một bãi cát và bây giờ trở về ngồi trên bãi cát tôi lại nhớ đại dương. Cô đã nhìn ra khơi xa và ánh mắt cô như chới với…

Biển thật êm, vầng trăng mong manh đã tan chỉ còn những vì sao đổi ngôi nhấp nháy, ánh dương e ấp trong mây tỏa những ánh hồng dịu nhẹ. Chàng không đi về phía núi. Chàng trở về vị trí của chàng và nhăn nhó:
Thằng cha nào mà lúc nào cũng kè kè bên cạnh em vậy?
Một người bình thường như mọi người thấy em ngồi một minh thì đến nói chuyện thôi mà.
Chuyện gì mà nói, nhiều chuyện! Em đi đến đâu lộn xộn đến đó.
Trời đất!…
Từ bây giờ anh đi đâu phải đi theo anh, không ngồi một minh nữa.
Nhưng làm sao em đi theo kịp anh với đôi chân đau.
Thì anh không đi nữa, anh bơi cùng em.
Vậy thì được!
Nàng mỉm cười và nhìn thấy nụ cười của người đàn ông thấp thoáng xa xa…

Cô cười đẹp lắm. Từ bây giờ chàng sẽ không dám bỏ rơi cô ngồi một mình trên biển nữa đâu. Cô hãy nói lại với chàng: Bất cứ lúc nào tôi còn ngồi nhìn thấy cô ngồi khóc thì tôi sẽ ngồi xuống bên cạnh cô đó.
Nàng nhớ ngày xưa khi chấm tử vi cho nàng, mẹ nàng nói rằng số nàng có quí nhân phò trợ.
Phải chăng người đàn ông đó là quí nhân?!

Trần Thị Trúc Hạ

Giấc mơ trôi về đâu…

tranthitrucha

Hắn là đồng nghiệp của tôi ngay từ khi tôi mới ra trường, hơn tôi 4 tuổi, nhưng tôi lỡ dại ” hổn” nên “mi tau chí tớ” .
Thật ra cũng tại hắn hiền ( nhưng không lành đâu nhé), lại hay rủ tôi la cà cùng hắn. Rồi hắn dạy cho tôi ” thọt ” bi da và gạ tôi cho mượn tiền để đánh số đề.
Tôi cười muốn đau ruột khi hắn dạy cho tôi tư thế tuyệt chiêu “chó đái” của bi da, tôi tập hoài không được bèn bảo hắn:
Thôi chiêu “chó đái” để cho mi , dạy cho ta chiêu dễ dễ thôi .
Hắn ngoan ngoãn vâng lời, không ép tôi học chiêu khó nữa.
Rồi hắn lại tiếp tục xoay ra mượn tiền của tôi để đánh số đề, tôi hỏi hắn :
Sao mi mê số đề dữ vậy ?
Tại hôm qua tao mơ thấy …
Mệt mi quá, đêm nào mi chả mơ.
Thật vậy, hắn đánh đề theo giấc mơ của hắn không trúng, chuyển sang đánh vào giấc mơ của tôi.
Mới bảnh mắt, hắn đã chộp cổ tôi ngay ở sân trường tra tấn :
Đêm qua mi mơ thấy gì ?
Tôi cũng thật thà khai báo với hắn, khi thì tôi thấy mình lang thang ngoài bãi biển, khi thì tôi lạc vào một vườn hoa, khi tôi bị rắn cắn, khi thì nhà tôi bị trộm đột nhập, tôi nhìn thấy mà miệng cứng không kêu lên được, khi thì tôi được ngồi trước một mâm thức ăn thật ngon, bụng đói cồn cào chưa kịp ăn bị đánh thức dậy vì mặt trời đã nhe cười… Nhưng có hôm tôi nổi cáu với hắn:
Mệt quá, giấc mơ đêm qua không thể kể cho mi nghe được.
Hắn năn nỉ thảm thiết :
Kể đi mà, mơ cái gì ta cũng đoán ra số được.
Tôi đành thú thật với hắn:
Đêm qua… Ta mơ thấy ta… Ị trong quần…..
Tôi tưởng đâu hắn chịu thua với giấc mơ này vậy mà hắn tỉnh bơ:
Tốt lắm ! Số 91 …
Trời đất ! Cũng có số hở cha ?
Chứ sao !
Vậy là tôi lại phải cho hắn mượn tiền để đánh con số 91.

Ôi số đề !
Bây giờ tôi mới hiểu khi người ta chới với trong nghèo túng thì số đề cũng là cứu cánh cho mơ ước hão huyền mà hắn đã nương nhờ để tồn tại .
Vậy mà tôi với hắn chẳng còn gặp nhau nữa.
Cuộc đời đã đẩy tôi và hắn đi về hai hướng…

Ngày đó, hắn còm nhom, trước sau như một, bạn bè thấy tôi đánh đôi với hắn cũng phì cười:
Hoàng tử “Đép lít” của mi thật “chung Thuỷ” ?
Tôi thản nhiên gật đầu, làm bạn với hắn vô hại.
Hắn chẳng bao giờ tán tỉnh tôi, cũng không bao giờ nói xấu, ganh tị, cần giúp gì hắn giúp đỡ tận tình, đến nơi đến chốn.
Nhưng hắn có quá nhiều bịnh, tội nghiệp! Thời tiết thay đổi, mặt hắn nhăn như khỉ ăn ớt, hắn bị viêm dạ dày, ăn thì ít mà hút thuốc thì nhiều, đã thế hắn còn có thêm bệnh “hoa hậu”. Tôi hỏi hắn bịnh đó như thế nào , hắn cáu :
Không biết thì thôi, hỏi gì hỏi lắm .
Tôi vẫn biết, sau những giờ lên lớp, hắn tranh thủ đi xe đạp thồ, đó là nguyên làm bệnh của hắn càng ngày càng nặng.
Những lần bệnh nặng hắn nhập viện là tôi phải dạy thay cho hắn, mệt bở hơi tai. Vào bệnh viện thăm hắn tôi nhăn nhó:
Đau gì đau hoài, dạy thay mệt quá.
Hắn cười gượng gạo như biết lỗi:
Tại đau quá, không ngồi được, làm sao lên lớp dạy.
Mà đau chỗ nào? Đau làm sao ?
Thì… Mi cứ tưởng tượng nó như cái volum máy radio casette vậy…nó nở ra như cái hoa nên người ta gọi là …hoa hậu.
Ta chịu! không tư duy trừu tượng được phải có trực quan ta mới hiểu.
Trời đất ta làm sao cho mi xem được, mệt mi quá, thôi mi về đi, mai ta lết đi dạy.
Thấy hắn chùng bùng cái mặt thật buồn cười, tôi đành dỗ hắn :
Thôi ta không muốn xem cái hoa hậu của mi nữa đâu, mi lo chữa bệnh cho hết rồi về đi dạy lại.

Rồi tôi chuyển về trường khác , hắn ở lại buồn xo !
Hắn đưa tôi đến trường mới trình quyết định và dặn dò :
Ta ngồi ở quán cà phê cóc đằng kia chờ mi, cứ mạnh dạn, tự tin lên không sợ gì hết.

Tôi về dạy ở ngôi trường mới khang trang gần trung tâm thành phố, nhưng lúc nào cũng thấy buồn buồn vì không còn có hắn bên cạnh. Chẳng còn ai quan tâm đến giấc mơ của tôi mỗi ngày, chẳng còn ai để ta bà quanh những ngóc nghách phố phường tìm những quán bi da im vắng…
Tôi nhớ trường cũ, nhớ hắn nên tìm về.
Khuôn mặt hắn rạng rỡ hẳn khi kể cho tôi nghe về những điều may mắn.
Hắn đã đánh liều cầm đơn đến nhà cụ Bá xin đất làm nhà.
Cụ Bá hay thật, chẳng biết đất ở đâu mà hễ thấy thương ai là cụ cho.
Chắc nhìn thấy bộ dạng còm nhom của hắn, thêm đôi mắt nâu ướt rượt lúc nào cũng như sắp khóc và miệng cũng mím chặt như sắp mếu … Cụ không đành lòng mà từ chối hắn.
Lâu nay vợ chồng con cái hắn vẫn trú tạm sau lưng một ngôi chùa, ngôi nhà gỗ tạm bợ bập bềnh trên mặt hồ đầy lục bình tím ngát.
Có đất làm nhà, vợ hắn mở quán cà phê cóc buôn bán. Hắn đổi đời rồi, tôi mừng cho hắn lắm nhưng vẫn không quên hỏi dò la:
Vậy còn mê đánh đề và bi da không ?
Còn chứ, sao bỏ được . Mỗi sáng ta giả vờ bưng bê thu tiền giúp con “dợ” để tranh thủ chôm chút đỉnh đánh đề và “thọt”. Không có mi, đâu có ai cho ta mượn tiền.
Bó tay !…

Cuộc đời của hắn càng ngày càng phát triển theo chiều hướng đi lên.
Lần sau về trường cũ, hắn lôi tôi đến ghế đá dưới gốc bàng thầm thì về kế hoạch, dự án, mô hình…mà hắn sắp thi để làm cán bộ cao cấp. Hắn chán dạy rồi, muốn làm lãnh đạo.
Ôi mẹ ơi, thằng bạn thân chí cốt mê đánh đề và bida của tôi.
Tôi lửng thửng dắt xe ra khỏi trường cũ trong cái nắng nóng như thiêu như đốt, cảm thấy bức bối nghẹt thở.
Và đó cũng là lần cuối cùng tôi quay về trường cũ.
Giấc mơ của hắn đã thành hiện thực.
Hắn có tài biến hoá thế nào thì tôi không không biết nhưng nhìn bộ dạng cố tỏ vẻ trịnh trọng của hắn thì thật buồn cười. Hắn vẫn gầy nhom, đôi mắt nâu đen vẫn hiền, miệng hắn cố mím chặt hơn, hình như hắn sợ tôi chọc ghẹo làm hắn phì cười. Hắn đọc thơ tặng tôi nữa mới ghê chứ:
” xênh xang áo mão công hầu
Mà không quên được những ngày lông bông…”
Không hiểu sao lúc đó tôi nổi cơn khùng bất tử, hoàn toàn không có cảm giác ghen tị mà chỉ thấy tiếc thằng bạn. Hắn đã đi con đường của hắn, còn thời gian đâu nữa mà lông bông cùng tôi. Không kìm nén được nên tôi đã xả “hổn”:
Áo Mão công hầu…con khỉ mốc … Chẳng qua…nước lụt…
Hắn trợn mắt nhìn tôi một lát, rồi lặng lẽ quay lưng đi thẳng
Tôi ứa nước mắt, tôi biết rằng đã mất hắn.
Bãi biển đã biến thành nương dâu…
Giấc mơ của tôi
Giấc mơ của hắn
Bây giờ đã trôi về đâu ?!….

Chiều Sông Lau

tranthitrucha

Dòng sông trắng xoá hoa lau lay động trong gió chiều. Làng dừa, tháp chuông, mây trời…in trên mặt sông như bức tranh chấm phá lung linh. Gió tinh nghịch xoá nhoà tất cả và đẩy sông trôi về biển. Rồi như tiếc nuối vấn vương, gió quay trở lại vẽ tiếp vì thế mà làng dừa, tháp chuông, mây trời mãi mãi vẫn còn ở lại với sông. Cát ngồi giữa hai chàng trai tên Khoa, chẳng biết Cát đã ngồi ở quán Bên Sông với hai chàng trai cùng tên này tự bao giờ, bao nhiêu chiều nàng không nhớ hết. Chỉ biết rằng lúc nào họ cũng ngồi im lặng bên nhau mà dường như thấu hiểu tất cả những suy nghĩ vui buồn của nhau.

Ngày đó, trên con đường đi học về Cát bị bọn học trò chạy theo ném đá
-Ma lai! Ma hời tụi bây ơi…Nó đẹp vậy nhưng đêm khuya sẽ rút đầu ra khỏi cổ đi hút máu người đó.
Cát ngôi thu mình dưới bóng dừa xanh thẩm, khuôn mặt nhoè nhoẹt trong nước mắt. Đôi mắt ai oán của dân tộc bị diệt vong đẹp não nùng khiến hai chàng trai cùng tên Khoa xông vào bất kể đám đông thô bạo. Kết thúc trận chiến là bọn trẻ bỏ chạy để lại một chàng áo rách tươm, một chàng bầm tím một bên má và một cô gái yếu đuối co rúm người bên vệ đường.
-Nhà em ở đâu, bọn anh sẽ đưa em về ?
-Ở cuối dòng sông Cái… Làng chài…
-Bọn anh biết rồi.
-Về nhà em sẽ vá áo cho anh và cha em đắp thuốc tan máu bầm trên mắt anh.
Con đường đất chạy dài theo dòng sông quanh co dẫn đến làng chài cuối sông đầu biển. Nhà Cát xiêu vẹo với lưới chài giăng quanh nhà. Người đàn ông có làn da pha màu ráng chiều của biển và đôi mắt đau đáu u hoài như Cát. Hai chàng trai ngại ngùng dừng lại bên hàng rào phơi đầy cá biển. Cát thầm thì điều gì với cha, ông gật gù và vào trong cầm chai nước có mầu nâu thoa nhẹ vào vết bầm trên má chàng trai. Đau rát nhưng dễ chịu. Biển trưa thật im vắng, Cát ngồi bên thềm nắng dịu dàng với kim chỉ khâu lại chiếc áo rách.
Người đàn ông bê từ bếp ra một om đầy ghẹ xanh, nói gọn :
-Ăn đi, ghẹ mới đi lưới sáng nay.
Hai chàng trai không một chút e ngại, chén sạch om ghẹ xanh, rồi một chàng mặc chiếc áo Cát vừa vá thật khéo, cả hai cúi chào người đàn ông và ra về.

Từ đó điểm gặp gỡ để đến trường của hai chàng trai tên Khoa và Cát là bến sông và điểm chia tay ra về sau giờ tan học cũng là bến sông. Cát đi giữa hai chàng vệ sĩ học hơn mình hai lớp, chẳng còn đứa trẻ nào léng phéng chạy theo chọc ghẹo, ném đá. Con “ma lai” càng ngày càng xinh đẹp ở độ tuổi xuân thì. Họ đã đi qua con đường từ bến sông đến ngôi trường không biết bao mùa mưa nắng, để đến một ngày họ chợt nhận ra rằng họ đã lớn và phải đi xa hơn.
Hai chàng trai đã chọn cho mình một trường đại học ở hai hướng ngược nhau. Một chàng đi về phương nam đầy nắng ấm, một chàng đi ngược về miền trung với cuộc sống khắc nghiệt đầy bão lũ. Họ để lại cô gái Chăm có đôi mắt u uẩn ngóng chờ.
Không còn hai chàng trai vệ sĩ đi bên cạnh cũng chẳng có ai làm phiền nàng nữa. Hình như bọn trẻ đã lớn lên và chán ngán trò đem nàng ra để chọc ghẹo. Nàng đi miên man dọc con đường từ cuối sông về biển để đến ngôi trường. Con đường bổng thênh thang, quạnh quẽ.

Rồi một ngày Cát cũng bỏ luôn con đường đến trường. Cha nàng ốm nặng, không thể ra khơi, gia đình lâm vào túng bấn, bao nhiêu tiền vàng dành dụm được đổ hết vào thuốc thang cho cha. Vậy mà bịnh vẫn không hề thuyên giảm. Cha nói :
-Cát à, đừng lo cho cha nữa ! Cha về với mẹ, chỉ thương con ở lại một mình…
Trong cơn đau cha nghiến răng chịu đựng không một tiếng rên la. Nhưng trong những cơn mê vô thức tiếng cha kêu lên bức bối như bị trói: ” Thả tôi ra! Thả tôi ra ”
-Cha ơi, con đây.
Cha mở bừng mắt, cả người đầm đìa mồ hôi trong tiết thời se lạnh của tháng 10.
-Ai làm gì cha hở cha ?
-Ừ !… Họ trói cha … bằng lưới…mắt cá … đầy oán hận! Cát à! Cha mất rồi, con bán thuyền, bán nhà xuôi về phố mà sinh sống nghe con.
Cát chỉ còn biết nghẹn ngào: “Cha ơi !…”

Ngày cha mất cả hai chàng trai tên Khoa đều trở về, họ đứng bên cạnh Cát và quán xuyến tất cả nghi lễ tang chay.
Những lúc Cát gục ngã, cả hai cùng dìu Cát đứng dậy.
Ngôi mộ cỏ nằm trong nghĩa trang làng chài đầy xương rồng và lau lách.
Rồi cả hai phải quay về trường học tiếp. Cát xuôi về phố, xin vào bán hàng cho một cửa hàng lưu niệm ngay trên phố biển, đôi mắt hoang dại của nàng thu hút nhiều khách du lịch nước ngoài.
Cát không quan tâm, nàng mong chờ mùa xuân và mùa hạ. Đó là những ngày mà hai chàng tên Khoa quay về ngồi cùng nàng bên bến sông lau. Họ cứ ngồi bên nhau, cả hai chàng trai đều muốn nói một điều gì thật sâu kín … Nhưng rồi cuối cùng không nói. Sợi dây vô hình ràng buột họ thật bền chặt nhưng cũng thật mong manh… Họ không muốn mất nhau… Và họ đã giữ lại !

Cho đến ngày tốt nghiệp đại học ra trường, hai chàng trai cùng quay về phố biển cũng là lúc Cát quyết định ra đi…
Andy Moxham, chàng trai đến từ bên kia bờ đại dương, mắt xanh biếc như biển , tóc vàng óng như nắng, chàng mê đắm vùng đất phương đông huyền bí như trẻ con mê thế giới cổ tích và đã chọn khoa Đông Phương học để nghiên cứu. Chàng mang ba lô lang thang khắp lăng tẩm chùa chiền ở kinh thành Huế, rồi ở lại hàng tháng trời ở thánh địa Mỹ Sơn Quảng Nam, tỉ mỉ soi rọi từng đường nét, hoa văn, phù điêu chạm khắc hình vũ nữ nhảy múa, tượng thần Shilva, Ganesa bằng đá, tượng nữ thần Uma, thần Bhama bằng đồng… Chàng như bị hút hồn vào những tháp Chàm đổ nát rêu phong ở Ninh Thuận, Phan Rang, Phan Rí… Đến khi dừng chân ở xứ sở Trầm Hương nhìn thấy Cát đứng trong quầy bán quà lưu niệm, chàng chếnh choáng ngỡ ngàng nhìn không chớp mắt, tưởng chừng như nàng Ápsara thiên thần bước ra từ thế giới ngàn năm của đá. Mái tóc đen tuyền, sóng mũi thẳng tắp, vành môi rõ nét, ngón tay dài mềm mại, vóc dáng hình hài phiêu lãng và đôi mắt thăm thẳm…
Andy như một cứu cánh giúp Cát thoát ra khỏi kí ức bế tắc ở thành phố biển này và nàng quyết định đi theo Andy Moxham thật vội vàng như trốn chạy.

Buổi chiều mưa nhạt nhoà trên sông Lau, gió lạnh lùng đi qua những ghế bàn im vắng, Cát không dám nhìn thẳng vào mắt của hai chàng trai, cô cúi đầu nói thật nhỏ:
-Ngày mai em rời xa nơi đây rồi.
Chàng trai tên Khoa trở về từ phía nam hỏi nàng:
-Sao em quyết định nhanh vậy hở Cát? Bọn anh lo cho em lắm !
-Không sao đâu anh, Andy rất quí em, anh ấy là giảng viên của trường đại học Melbourne thuộc bang Victoria, Andy nói mỗi năm đều về Việt Nam để giảng dạy theo chương trình đào tạo liên kết, anh ấy sẽ đưa em về. Em sẽ có dịp về đây thăm hai anh mà.
Chàng trai trở về từ miền trung vẫn đau đáu âu lo:
-Cát nè, bọn anh vẫn luôn luôn cầu mong cho em bình yên, hạnh phúc, nhưng nếu như có điều gì đó…bất an, trắc trở, em phải trở về, ở đây còn có bọn anh lo cho em.
Cát cười nhưng nước mắt ứa trên mi.
-Em biết mà, em chỉ còn có hai anh là người thân duy nhất của em trên cõi đời này.

Cát ra đi, thành phố vốn đã trầm lặng nay lại càng thêm cô tịch.
Mỗi chiều hai chàng trai vẫn ngồi bên bến sông, một chiếc ghế trống được đặt giữa. Họ vẫn nói rất ít và dường như là im lặng.
Cuộc sống vẫn trôi đi…
Rồi họ cũng có gia đình, vợ hiền và những đứa con ngoan. Chốn về của họ thật bình yên, họ là những người đàn ông thành đạt trong công việc và chuẩn mực trong gia đình. Nhưng họ chẳng bao giờ rời bỏ bến sông, có lẽ ở đây họ đã có chung một kí ức. Thỉnh thoảng họ cùng đọc chung thư của Cát gởi về.
” … Hằng ngày, Andy lái xe đến trường đại học, em quanh quẩn trong ngôi nhà nằm giữa thung lũng xanh ngát dưới chân núi, những đàn bò hiền lành gặm cỏ, thỉnh thoảng một vài chú Kangaroo phóng qua thật nhanh, loài chim khướu có bộ cánh nâu hạt dẻ như màu áo của người phụ nữ nông dân quê mình phát ra những thanh âm lạ lùng gần giống như tiếng người í ới gọi nhau. Trên đỉnh núi Alp từ New South Wales đến Victoria vào độ tháng sáu đến tháng chín tuyết phủ trắng xoá. Andy cũng nhiều lần lái xe đưa em lên núi vào mùa này để trượt tuyết. Em run cầm cập trong tuyết và nhớ nắng quê nhà… Em ước gì lúc đó có hai anh bên cạnh, minh sẽ đắp những quả núi tuyết, và có thể hai anh sẽ xây cho em cả tháp Ponagar bằng tuyết …Andy rất dịu dàng với em, anh ấy làm tất cả những việc nặng nhọc trong nhà, chỉ cho em làm những việc thật nhẹ nhàng… Nhưng em thấy buồn lắm hai anh à, em muốn có thật nhiều con, em muốn được chăm sóc trẻ, thích nhìn bọn nhóc chạy nhảy vui đùa trên cỏ… Andy thì không thích… Sau tết dương lịch Andy sẽ đưa em về vì anh có chương trình giảng dạy liên kết giữa hai trường đại học. Em mong ngày về để gặp lại hai anh trai của em lắm, nhớ chờ em ở bến sông Lau nhé !…”

Vậy mà Cát vĩnh viễn không về nữa.
Chiếc máy bay định mệnh đã mất hút trong lòng đại dương, Cát và Andy sẽ không bao giờ còn trở lại thành phố biển.
Hai người đàn ông tên Khoa vẫn ngồi bên dòng sông Lau vào mỗi chiều, tóc họ bây giờ đã bạc trắng như hoa lau. Gió vẫn tiếp tục vẽ những bức tranh trên mặt sông, vẫn những đường nét lung linh của làng dừa, tháp chuông, mây trời trôi đi theo vấn vương tiếc nuối… Họ vẫn im lặng ngồi bên nhau, chiếc ghế trống vẫn tồn tại giữa họ từ bao giờ. Cát đã theo gió bay đi nhưng dường như nàng vẫn mãi mãi ngồi bên họ, cho đến khi bóng tối nhạt nhoà tím thẩm trên sông họ mới chia tay nhau để quay về.

Trần thị Trúc Hạ

Quê hương ơi Đừng khóc nữa !…

tranthitrucha

Hình như mắt tôi cay nồng khi đặt chân lên đất Mũi Cà Mau !
Bạn bè đồng nghiệp cười nói xôn xao khi được nhìn thấy một vùng đất lạ lẫm với sông nước vây quanh. Hai tiếng đồng hồ trên tàu cao tốc, đi qua những ngôi nhà mái lá lụp xụp ẩn mình trong bóng cây trôi nổi bồng bềnh, những đứa trẻ gầy gò lặng yên nhìn theo bóng dáng những con thuyền đi qua, không cười nói , không chạy nhảy , nô đùa như những đứa trẻ được sống trên mặt đất bằng phẳng. Các em nghĩ gì , mơ gì trong những đôi mắt thơ dại ?!…
Ôm cột mốc mũi Cà Mau ở vĩ độ bắc 8 . 37. 30, kinh độ đông 104. 43 và mơ đến một ngày nào đó đặt chân lên Ải Nam Quan. Số phận của dân tộc tôi như cuộc đời của người phụ nữ đa đoan trong nghèo khó. Dân tộc tôi có quá nhiều anh hùng sao cũng lắm nỗi bi thương?!
Nỗi đau từ trong cuộc chiến và hậu chiến mà những người thân của tôi gánh chịu, chẳng có nỗi đau nào giống nỗi đau nào nhưng đã làm cho cuộc đời của họ trở nên lầm lụi và tan nát.

Mẹ chồng tôi trước khi nhắm mắt đã trăn trối : ” Các con cố tìm mộ ba con đem về bên mẹ “. Bà không biết chữ nhưng thông minh lạ thường, lao động lam lũ đến nổi đến nổi sinh rớt đứa con đầu lòng trong luống rau khoai khi gánh nước tưới rau. Đứa bé nằm trong bọc, khi gọi được bà mụ đến cắt rốn thì bị ngạt, ba ngày sau là mất.
Sáu tháng sau, ba chồng tôi quyết định bỏ bà ở lại và lên đường mà không hề biết rằng bà đã mang thai sau đêm chia tay, bào thai đó là chồng tôi , giọt máu duy nhất của ông để lại trên cõi đời này. Bà bỏ lại mảnh ruộng hương hoả của nhà chồng chia phần, về phố buôn gánh bán bưng nuôi con ăn học.

Sau năm 1975, bà chờ đợi ngóng trông…
Người ta lần lượt quay về đoàn tụ nhưng ông không về. Đồng đội đi cùng ông cũng không ai quay về báo tin. Bà lặn lội đi tìm.
Người thì bảo ông vào Bồng Sơn. Người thì bảo ông chết ở núi rừng A Lưới vì đói và sốt rét…
Nản quá bà quay về tiếp tục buôn gánh bán bưng và bảo con trai: ” Thôi cố học kiếm ít chữ mà sống, không đi lính tráng cho ai nữa hết.” Vậy mà đến khi nhắm mắt bà vẫn còn trăn trở !

Một buổi chiều tôi đến chơi nhà người bạn thân, gặp mẹ chồng cô ấy ở quê lên thăm con cháu.
Như duyên kì ngộ ! Bà là một chiến binh trở về và là người đi cùng đoàn với ba chồng tôi. Bà chậm rãi nói trong hồi tưởng:
…Đoàn người đi trong mùa mưa rừng khắc nghiệt, vừa đói lả vừa rét lạnh. Những buôn làng dân tộc vùng A Lưới không cho vào trú ngụ, phải cắm trại ngoài lán rừng để ngủ, có người không chịu nổi đã trốn và quay về đồng bằng. Ông ấy bị sốt rét rừng, không có thuốc mà phải ăn sắn… Ông ấy không qua khỏi, đồng đội còn lại khoảng mười người đã đào huyệt bằng tay, đất núi lổm chổm sỏi đá, chỉ đào được cài huyệt nông chèn vừa người ông nằm, không có quan tài chỉ có tấm vải dù cùng những tư trang ông ấy mang theo.
Chồng tôi mắt đỏ hoe hỏi trong nghẹn ngào :
– Có ai còn sống sót cùng bà trong đoàn đó không hở bà ?
Bà nhớ có một ông hiện nay đang sống ở Hải phòng, tên là …
-Bà có còn nhớ đặc điểm nơi chôn ba con không ?
Trí nhớ của bà bây giờ rất tệ , bà chỉ nhớ nó nằm bên một con suối, có cây cổ thụ và một tảng đá rất lớn. Có lẽ con nên tìm ông ở Hải Phòng hỏi thêm. Nhưng bà nói thật, không còn gì đâu con à , mưa lũ qua bao nhiêu năm đã cuốn trôi xuống suối xuống sông rồi.

Chuyến đi lên A Lưới để tìm cha đã được chuẩn bị thật kĩ càng với bao hy vọng.
Chàng cùng những người bạn thân ba lô, gậy gộc , dao xẻng cùng người đồng đội của ba mình ở Hải Phòng mà chàng đã ra công tìm kiếm và năn nỉ thảm thiết , ông cũng đã già nên sợ những chuyến đi gập ghềnh về núi rừng. Ông già say xe nghiêng ngã cho đến khi xe dừng lại ở thị trấn A lưới . Ông xuống xe đi quanh một vòng rồi ngao ngán lắc đầu:
Không còn lại dấu tích gì của A Lưới ngày xưa.
Con suối hiền hoà nước trong vắt không phải là dòng suối đục ngầu trong mùa mưa lũ, có bao nhiêu gốc cây cổ thụ, có bao nhiêu tảng đá … Buôn làng có những người phụ nữ váy áo mang sắc màu của thành phố, thanh niên chạy xe máy ào ào qua những con đường hai bên vách núi cheo leo.
Chàng ngồi thẩn thờ trên phiến đá bên suối, cạnh người đồng đội của cha mình thất vọng đến rệu rã.

Từ đó chàng bắt đầu đi tìm những nhà ngoại cảm.
Nghe nói ở đâu có nhà ngoại cảm tìm được mộ của người thân là chàng lao đi, bất kể xa xôi, bất kể ngày đêm.
Một đêm chàng về rất khuya và bảo tôi đi theo chàng đến nhà một người bạn.
Ở đó có rất đông người đang chờ đợi nhà ngoại cảm BH từ Hà nội vào.
Thoạt nhìn tôi đã ngờ ngợ vì nhà ngoại cảm này không giống cô BH mà tôi đã xem trên phim ảnh, báo đài, cô cao lớn hơn, khuôn mặt cô thô hơn, không thanh tú như cô BH. Tôi nói nhỏ điều này với chàng nhưng cô gái đi theo phục vụ cô BH lừ mắt bảo im. Tất cả ai muốn được cô BH giúp đều qua sự sắp xếp của cô này.
Cô ấy nói rằng cô BH không nhận tiền, chỉ làm việc thiện nguyện nhưng vì đường xa phải lo vé máy bay, khách sạn nghĩ ngơi, ăn uống và thuốc men để giữ sức cho cô nên tuỳ lòng hảo tâm của gia chủ. Chàng náo nức tìm cha nên chẳng tiếc gì tiền bạc. Cô ấy bảo chúng tôi về soạn hoa quả cúng và thắp hương khấn xin trước sau đó cô BH sẽ vào nhà.
Cô BH đang thắp hương khấn vái lầm thầm bỗng dưng mặt cô đỏ bừng, nước mắt ràn rụa ôm lấy chàng nức nở :
-Con ơi ! ba về đây, ba khổ lắm, rét, lạnh , nhớ con.
Cô gái đi theo nhắc nhở:
-Hỏi nhanh đi ! ba ở đâu cho con biết con đi tìm.
-Nghĩa trang Bồng Sơn, bên phải , dãy 3, số 5 .
Đến đó con sẽ thấy có một người đàn ông lưng gù mắt kém, hãy cám ơn bác ấy vì bác là người chăm sóc hương khói cho ba.
Tôi vội vàng ghi vào sổ tay trong khi chàng gục đầu khóc nức nở.

Cuộc hành trình đi tìm cha lần thứ hai có phần nhẹ nhàng đỡ vất vả hơn.
Chúng tôi đến nghĩa trang vào lúc trời xế trưa nắng nóng, bụng đói cồn cào nhưng chàng như vội vã lao đi, tôi năn nỉ :
-Anh à, mình vào quán cơm này ăn trưa rồi mua thêm ít hương đèn bánh trái cúng đi anh.
Người đàn ông chủ quán có khuôn mặt thật phúc hậu hỏi :
-Anh chị đến đây tìm mộ người thân phải không?
-Sao anh biết ?
-Gần đây tự dưng có rất nhiều người ở xa đến đây tìm mộ người thân.
-Vậy hở anh ? Nghĩa trang này được xây dựng từ năm nào anh biết không ?
-Từ năm 1979, trước đây nằm trên ngọn đồi cao kia kìa. chính quyền di dời về đây nên rơi rớt nhiều lắm…
Chúng tôi nhìn theo hướng tay của người đàn ông chỉ, đó là ngọn đồi cao đầy hoa lau trắng. Giọng người đàn ông vẫn đều đều bộc bạch:
-Đây là vùng đất bom đạn ác liệt nhất, dân gánh gồng bỏ chạy đi tha hương tứ xứ, họ mới quay về sau năm 1975. Nhưng chẳng làm ăn gì được nhiều, ruộng đất khô cằn nhưng vẫn còn nhiều bom mìn chưa gỡ hết, thỉnh thoảng vẫn có người tan xác vì cuốc nhằm bom mìn. Anh chị đã đến đây rồi thì hãy thắp hương cho tất cả những người đã nằm xuống, dù đó có là người thân của anh chị hay là không phải thì cũng là người dân Việt mình. Họ chết đau đớn lắm ! Có nắm mộ hơn chục người không biết ai là ai, có nấm mộ của những thanh niên mới mười chín đôi mươi… Vậy mà vẫn còn những kẻ nhẫn tâm lợi dụng cái chết thương tâm để buôn thần bán thánh…
Lúc đó tôi không hiểu lời người đàn ông địa phương nói gì, sau này chiêm nghiệm lại tôi mới hiểu.
Nghĩa trang nằm trên ngọn đồi thấp, đi lên bằng những bậc tam cấp, người đàn ông đi ra từ căn phòng nhỏ như một trạm gác bước ra. Tôi hồi hộp nhìn cái lưng gù và đôi kính đen trên mắt ông, chàng đưa giấy tờ cho ông xem và trình bày ý nguyện tìm mộ cha theo nhà ngoại cảm dự đoán. Ông gật gù im lặng trải tấm sơ đồ nghĩa trang, chỉ vào dãy 3 bên phải đi vào, ngôi mộ thứ 5 là ngôi mộ vô danh. Tôi thấy lòng nhẹ nhỏm. Lặn lội đường sá xa xôi tới đây nhỡ như mộ ở vị trí này có tên của người khác thì thật hụt hẩng.
Tôi bày bánh trái hoa quả lên mộ, tay chàng luống cuống bật hoài diêm ga không đỏ, tôi bình tĩnh hơn phụ giúp chàng.
Chàng quì trước mộ khóc :
Ba ơi, con đi tìm ba theo ý nguyện của mẹ , nếu thật sự là ba thì hãy cho con một niềm tin…
Chàng cắm chiếc đũa trên mộ rồi run tay đặt quả trứng đứng thẳng trên chiếc đũa.
Thật lạ lùng chẳng khác nào ảo thuật !
Và chúng tôi đã tin, vì cô BH căn dặn như vậy.
Khi cô nói điều đó tôi nghĩ làm sao thực hiện được, vậy mà với đôi tay run rẩy, luống cuống chàng vẫn đặt được quả trứng đứng thẳng trên chiếc đũa vững vàng.
Chúng tôi cứ để nguyên như vậy suốt buổi chiều.
Những đứa trẻ tóc hoe vàng vì nắng, mặt nhọ nhem gầy gò như những cành cây khô lấp ló ở bìa thành chờ đợi, tôi cầm những bao kẹo ra phát cho chúng, tội nghiệp! chúng rụt rè nhận và chạy vụt đi gọi những đứa trẻ khác đến.

Ngồi lặng trong gió chiều, tôi nghe rưng rức buồn.
Sao có quá nhiều nấm mộ vô danh?
Những người nằm trong huyệt mộ kia là anh hùng sao?
Họ nghĩ gì khi bỏ lại sau lưng gia đình, vợ con, ruộng nương, nhà cửa…?
Những người thân của họ cũng đau đớn, khắc khoải chờ đợi trong hoài vọng, nhớ nhung… để rồi họ nằm đây giữa núi đồi hoang hoải.
Không biết ở thế giới đó họ buồn vui thế nào ?
Tôi nghe văng vẳng một bài ca cũ xao xác trong tiếng gió.
Mờ trong bóng chiều
Một đoàn quân thấp thoáng

Ra biên cương trong một chiều sương âm u
Âm thầm chen khói mù
Bao oan khiên đang về đây hú với gió.

Chiến sĩ vô danh, anh hùng vô danh !
Còn những ngôn từ nào đẹp hơn để có thể bù đắp cho những sự mất mát đau đớn của họ? Những người phụ nữ cô độc chờ đợi chồng trong vô vọng, những đứa trẻ thiếu vắng tình thương của cha phải ngơ ngác, lạc loài trong suốt thời thơ bé cho đến tận bây giờ như chàng. Họ đã mong đợi điều gì khi ra đi và khi nằm xuống, những người còn sống trở về và thế hệ kế tiếp đã làm gì với hậu chiến ?!

Bổng dưng tôi thấy lạnh người, một miền kí ức đau buồn và khốc liệt hiện về.
Buổi chiều cuối tháng 3, nắng vẫn ngọt ngào trong tiếng súng vang rền vọng về từ rừng dương liễu. Mẹ tôi đeo những chiếc ruột tượng quanh bụng các con dặn dò :
-Phòng khi chạy lạc, thì các con hãy lấy tiền trong này ra để mua thức ăn…
Tôi núp trong hầm cùng với các em, ba mẹ tôi chạy lên chạy xuống băng bó cho những người dân bị thương, ba mẹ tôi làm nghề y, nhà tôi là một bệnh xá tư. Hai anh trai lớn đã được gởi cho người bạn lên tàu trốn ra biển. Ai cũng sợ một cuộc ác chiến đẩm máu xảy ra.
Vậy mà chỉ khoảng một giờ trưa, tiếng súng im bặt một cách bất thường. Những dân quân du kích địa phương áp tải một đoàn lính thất trận bê bết máu vào bệnh xá của gia đình tôi băng bó. Ba me phải huy động tất cả y tá và người giúp việc cũng phục vụ không xuể. Một người lính ngồi ủ rũ bên thềm nhà với cây đàn guitar trên vai. Cánh tay anh bê bết máu. Tôi nhìn sững anh, anh giống anh trai tôi quá, chỉ khác là khuôn mặt anh cương nghị, rắn rỏi già dặn hơn. Bổng dưng tôi nghĩ đến anh tôi không biết đang lênh đênh trên mặt biển không biết sống chết thế nào. Tôi cầm chai thuốc sát trùng và cuộn băng ngồi xuống băng bó vết thương cho anh thật nhẹ nhàng. Anh nhìn tôi mắt đỏ hoe.
-Cám ơn bé nhiều lắm … Bé cho anh gởi lại cây đàn… Hãy giữ dùm anh !
Rồi anh lặng lẽ nhập vào đoàn quân thất trận thất thểu bước đi dưới sự áp tải của những dân quân du kích…

Cuộc sống trở lại bình yên.
Tôi trở lại trường học, bạn bè lơ thơ dăm ba đứa, phải dồn ba lớp lại mới ngồi đầy một lớp học, bàn ghế xộc xệch, sân trường đầy rác bẩn, rơi rớt vương lại vài tấm vải lều rách nát của người dân tị nạn, hồ sơ học bạ bị đốt sạch … Chúng tôi học trong tiếng ve sầu héo hắt, có những người thầy, người bạn tôi đã ra đi, có những nằm lại với biển trong cuộc trốn chạy tao loạn và cũng có những người quay trở lại với dáng điệu rã rời và ánh mắt cam phận.
Trong những người quay trở về có thầy tôi !
Người thầy mà tôi ngưỡng mộ kính yêu, những giờ văn của thầy cuốn tôi vào một thế giới lung linh của chân thiện mỹ, tôi yêu văn chương từ lời dạy của thầy.
Thầy cũng thất thểu trở về với bầu đoàn thê tử, Thầy đến trường để trình diện và xin dạy lại nhưng không được chấp nhận mà phải chịu sự quản lí của địa phương.
Một ngày u ám, ngôi nhà bị khám xét, Thầy bị bắt đưa đi học cải tạo vì là sĩ quan biệt phái.
Vợ thầy là người phụ nữ có nét đẹp yếu đuối, dịu dàng, cô ngơ ngác với bầy con nheo nhóc sáu đứa, những đồ đạc còn lại trong nhà lần lượt ra đi để đổi lấy miếng ăn. Hết đồ đạc để đổi cô đổi lấy thân… làm sao đành lòng nhìn con đói rách gầy gò vì thiếu ăn, mặc cho hàng xóm xì xầm dè bỉu. Ngày mồng năm tháng năm, nhà người ta có bánh trái xôi chè ngập bàn, nhà cô lạnh ngắt, tôi hái những trái xoài chín trong vườn nhà mẹ đem đến cho các em, cô ứa mắt :
-Các em nói với cô,ngày mồng năm má nấu cho bọn con nồi cơm không độn và nồi canh chua thật ngon ăn một bữa cho đã thèm đi má…
Năm năm sau thầy trở về, không còn bóng dáng hào hoa, uy nghi của thầy tôi nữa. Đó là người đàn ông tóc đã bạc mầu, nước da vàng như nghệ, đôi mắt muộn phiền cam chịu. Thầy sửa soạn lại chiếc xe đạp cũ và làm nghề xe đạp thồ. Những người hàng xóm nhiều chuyện xầm xì to nhỏ về cô , thầy lắc đầu lảng tránh. Không thấy thầy giận hờn trách cứ gì cô mà chỉ thấy Thầy càng yêu thương chăm sóc cô nhiều hơn.

Những ngày tháng đầy cơ cực và thiếu đói, tôi vẫn thường về quê thăm ba mẹ và để kiếm thêm lương thực .Buổi chiều nghe tiếng nhốn nháo của đám đông ngoài ngõ, vội vàng chạy ra nhìn thấy người đàn ông nằm trên đám cỏ gai la hét chưởi bới, mắt vằn lên những vệt máu đỏ, mặc kệ cho đám cỏ gai cào rách da thịt. Mọi người im lặng như nhìn một màn ảo thuật quen mắt, trên gương mặt họ thật thờ ơ vô cảm…
Mẹ nói với tôi:
-Thằng đó bắn nhiều người quá nên bây giờ những oan hồn nhập vào hành hạ nó.
-Bắn ai hở me ?
-Những người lính thất trận … Tội nghiệp họ có tội gì đâu … Có đứa non nớt như mới vừa rời sách vở bị bắt đi lính… chẳng khác gì con mình…

Me tôi ứa nước mắt
Kí ức về người lính đã gởi lại cây đàn hiện về.
-Có phải trong những người lính đó có cả người con đã băng bó và gởi lại cây đàn guitar ?
-Ừ ! Đêm đó nó lùa hết vào trường học sau nhà mình, đem bánh trái nước ngọt cho ăn … rồi sắp hàng bắn…. chôn chung trong một huyệt … ác quá !
Trời ơi, vậy mà tôi vẫn giữ cây đàn guitar mong ngày anh quay lại.

Tôi về lại thành phố nghe tin thầy tôi đã mất vì lao phổi. Cô lặng lẽ khóc, nước mắt của người đàn bà đẹp thật nao lòng ! Các con của thầy chưa đủ lớn để mưu sinh nhưng tất cả đều nghỉ học để tự kiếm lấy miếng ăn, những đứa con trai sắm chiếc xiên bằng sắt xuống bến đón những chuyến thuyền cá vào sáng sớm, những đứa con gái theo mẹ ra chợ mua đi bán lại những bộ quần áo cũ.
Nỗi đau buồn như nối tiếp đau buồn!
Cũng trong những ngày đó tôi nghe tiếng khóc ai oán của gia đình người hàng xóm đối diện nhà mình. Bình đã mất ở chiến trường biên giới phía Nam. Chàng trai vẫn lẽo đẽo theo tôi đi học về mỗi ngày, đôi mắt rụt rè hiền từ nhìn tôi như muốn nói bao điều mà chưa dám nói , chỉ đêm đêm thả vào sân nhà tôi những bức thư tình dịu dàng ướp nồng mùi hoa thiên lí. Hoà bình rồi kia mà sao Bình lại phải ra đi và nằm xuống ở vùng đất xa xôi không phải là quê hương mình. Mẹ Bình mất trí, bà không tin là con trai mình đã chết , cứ chiều chiều ra ngõ ngóng con trai , gặp ai cũng hỏi : ” Có thấy thằng Bình tôi ở đâu không ? Sao nó đi lâu quá không về ?”

Thanh bình!
Tên của bạn tôi là Thanh Bình, đó là khát vọng muôn đời của một dân tộc đã chịu quá nhiều nỗi đau buồn của chiến tranh. Vậy mà sao đến bây giờ nước mắt vẫn cứ rơi hoài ?!…
Chồng tôi rơi vào trạng thái trầm cảm không cười, không nói từ khi phát hiện ra bị nhà ngoại cảm lừa dối trong việc đi tìm kiếm mộ cha. Thầy tôi lao lực quá sức trong mưu sinh và nỗi đau tinh thần đeo bám mà sinh bịnh tật qua đời. Mẹ của bạn tôi vẫn mỏi mòn ngóng con trong điên loạn…
Nỗi đau của hậu chiến, người nằm xuống và người ở lại, ai buồn hơn ai ?!…Biết đến bao giờ nước mắt sẽ thôi rơi ?
Cây đàn guitar của người lính để lại vào những đêm có gió lao xao một khúc nhạc lạnh lòng. Mẹ tôi đem cây đàn ra đốt, những sợi khói mong manh cuốn bay về trời…

Trần Thị Trúc Hạ

NGƯỜI ĐỐT SÁCH

tranthitrucha

Thuyên cố leo lên các bậc cấp ở tháp canh thứ năm của Vạn Lý Trường Thành, trời se lạnh nhưng mồ hôi cô túa ra như tắm. Những người đi cùng tour với Thuyên đã dừng lại ở tháp canh thứ ba và đi xuống, chỉ còn lại anh hướng dẫn viên, Thuyên và một ông lão. Ông lão vừa đi vừa tâm sự với Thuyên :
“Bất đáo trường thành phi hảo hán, con à! Ông phải đi để biết sức mình tới đâu. Con là con gái mà cũng giỏi nhỉ?”
“Dạ, con cũng nghĩ như ông, phải ráng đi cho biết.”
Ông lão cười khà khà:
“Ông già vậy chứ chưa bao giờ đau ốm con à. Mỗi bữa ông ăn ba bát cơm đầy, ngủ một giấc đến sáng rồi ra đồng. Cả đời ông chưa đi đâu xa, đây là lần đầu, cũng nhờ thằng con làm ăn khấm khá cho ông được đi.”
Lên tới tháp, hai ông cháu không còn sức để nói nữa, chỉ nhìn nhau thở dốc và cười ngầm ý như muốn đầu hàng. Xuống tới mặt đất, mọi người đang đứng chờ, những người bạn của Thuyên cười toe toét:
“Thuyên cố trèo lên cho cao mà thua bọn này, bọn này đã có huy chương công nhận là anh hùng chinh phục Vạn Lý Trường Thành nè.”
Cô bạn của Thuyên đưa ra chiếc mề đay nhỏ xíu kèm theo giấy chứng nhận bằng chữ Trung Quốc, rồi cả bọn rũ ra cười trước con mắt ngơ ngác của Thuyên và ông lão nông dân:
“Muốn có huy chương chứng nhận là anh hùng chinh phục Vạn Lí Trường Thành phải tốn hai trăm tệ đó bạn ạ, thích thì lại đằng kia mà mua về loè thiên hạ.”
Ông lão lắc đầu ngầy ngậy:
“Ông cháu ta không cần con ạ, đừng để nó lừa lấy tiền của mình…”
“Dạ, con cũng nghĩ như ông. Dù sao đi nữa ông cháu ta vẫn là người chinh phục được Vạn Lí Trường Thành cao nhất trong đoàn này ông ha?”
Ông lão cười khà khà, thật sảng khoái. Mọi người chuẩn bị lên xe để đi đến địa điểm mới. Bỗng chuông điện thoại của Thuyên rung lên, tiếng anh Hàn như nghẹn lại:
“Thuyên ơi! Đăng mất rồi!… Em đang ở đâu?”
Tự dưng Thuyên không thấy buồn mà thấy thật chán nản. Cảm xúc đau buồn của mình đã chai cứng rồi sao? Mình nhẫn tâm vậy sao?! Anh Đăng có phải là người thân của mình không?!…Con người ấy đã gắn bó với mình cả một thời thơ ấu nghèo khổ, vậy mà giờ đây đã trở thành xa lạ với mình đến vậy. Kí ức chông chênh, hụt hẫng lại trở về với Thuyên.

Ngày đó, bom đạn chiến tranh đã tàn phá khốc liệt quê hương Thuyên. Chẳng có đêm nào anh em Thuyên được trọn vẹn một giấc ngủ. Mỗi đêm khi chìm trong giấc mơ ngọt ngào cũng lúc ba me Thuyên đánh thức mấy anh em và đưa xuống hầm ẩn nấp. Sáng thức dậy mắt vẫn cay xè vì giấc ngủ không tròn. Sân trường im vắng, thầy cô không đến, vài đứa học trò chân đất ngồi trong hiên trường dõi mắt ngóng trông, tiếng chiêm chiếp của bầy chim sẻ rời rạc, u buồn.

Cuối cùng, ba me đành mua một ngôi nhà nhỏ ở thị xã cho anh em Thuyên ra đó ăn ở học hành, còn ba me vẫn ở lại quê. Anh Hàn là con trai lớn trở thành quyền huynh thế phụ. Tất cả em út răm rắp nghe lệnh anh như lệnh lính. Công việc bếp núc có người dì bà con xa với me lo.
Mỗi tuần, cứ chiều thứ bảy ba lại chở me trên chiếc xe Honda dame 50 ra thành phố thăm con với lương thực và tiền bạc.
Anh em Thuyên đã có đôi mắt biết đợi chờ, mong ngóng từ ngày đó. Ánh mắt ấm áp của cha, bàn tay dịu dàng của mẹ và những món quà đơn sơ như bát đường đen, đậu đỏ, con gà , con vịt, trái bí , bó rau… được ba me thu hoạch được từ ngôi vườn cũ quê nhà là nỗi khao khát của anh em Thuyên.

Vậy mà anh Hàn lại dắt về hai anh em người bạn, cùng ăn, cùng ở với anh em Thuyên trong những ngày thiếu thốn đó. Anh Hàn chỉ giải thích với ba me: “Đăng học cùng lớp với con, nhà Đăng ở xóm nhà chồ ngoài biển, đã bị bão lũ cuốn sạch. Ba me Đăng đã về lại quê. Hai anh em Đăng không thể bỏ học dở chừng…”. Me chép miệng lắc đầu: “Anh em con đã đông rồi, ba me lại không thể ở gần các con…Thôi thì khéo ăn no, khéo co ấm, biết làm sao bây giờ…”

Tuổi thơ của anh em Thuyên là những chiều buồn thức dậy sau giấc ngủ trưa, them thuồng những món quà vặt mà trẻ con hàng xóm chán chê. Sự thiếu thốn làm những đứa em trai của Thuyên ủ rũ trong góc nhà, ít cười ít nói.
Mấy anh em chỉ còn tìm kiếm niềm vui trong những cuốn sách. Thói quen đọc sách đến đam mê này được thừa hưởng từ ba. Tủ sách khổng lồ của ba được chuyển từ vùng quê bom đạn về ngôi nhà nhỏ ở thành phố. Ba đọc sách và giữ sách rất kĩ. Ông luôn uốn nắn con cái từ tư thế ngồi đọc, cách đọc đến cách chọn sách để đọc… Riêng những cuốn sách tiếng Pháp ố vàng được ông giữ gìn cẩn thận là anh em Thuyên không được đụng đến (đụng đến cũng thua vì đứa nào cũng dốt đặc tiếng Pháp, trong khi ba nói tiếng Pháp như…Tây). Trong khi mấy anh trai ngày đêm nghiền ngẫm Tam Quốc Chí, Thuỷ Hử thì Thuyên thì đắm mình trong sách Tự Lực Văn Đoàn với những Khái Hưng, Nhất Linh… Quà sáng ít ỏi được anh em Thuyên chắt chiu dành dụm để mua sách. Hạnh phúc nhất là lúc chờ đợi ở nhà sách vào những ngày cuối tuần, giữa tháng, cuối tháng để cầm trên tay tờ tuần báo hoặc bán nguyệt san còn thơm nồng mùi giấy mực in. Hình vẽ của ViVi, Đinh Tiến Luyện… rạng ngời ở trang bìa làm Thuyên nhìn như bị thôi miên. Thuyên sống trong thế giới lung linh của thơ văn và bắt đầu mơ mộng, tập sáng tác… Thế giới của sách đã giúp anh em Thuyên quên đi những thiếu thốn cuộc sống tình cảm và vật chất, giúp Thuyên vơi đi nỗi buồn nhớ quê nhà, làm nên tiếng cười rúc rich của bầy em khi chúi mũi vào các tập truyện tranh Thạch Bích Sơn, Tintin, Chú Thoòng.

Trước ngày kết thúc chiến tranh, anh Đăng biệt tích.
Cái xóm nhỏ của Thuyên đã hoàn toàn thay đổi, những người giàu có chức quyền bỏ nhà cửa, tài sản chạy và trở về với mất mát buồn phiền, những người nghèo khó ở lại thì bỗng dưng giàu có, hớn hở… Cuộc đời đã thay đổi… nhưng trong ngôi nhà của Thuyên vẫn thế… vẫn u buồn, cô độc và thiếu vắng…
Và chuyện buồn hơn là người chồng của dì từ Bắc trở về sau hai mươi năm xa cách. Ngày đầu tiên khi ông xuất hiện với bộ đồ bộ đội bạc màu, chiếc ba lô xộc xệch thảm hại, nước da xanh tái, không một chút oai hùng của người chiến thắng, dì khóc nức nở… Đêm đó, đứa em trai áp út (vốn được dì cưng chiều nhất và thường ngủ với dì như mẹ) khóc vì không có dì bên cạnh. Nó nhìn gườm gườm ông ấy như nhìn kẻ thù.
Ông ấy với dì một tháng rồi ra Bắc. Đứa em trai của Thuyên thở ra nhẹ nhõm…Tội nghiệp nó, ba tháng sau ông ấy trở lại, không phải một mình mà với một bầu đoàn thê tử. Một cô vợ trẻ măng như con gái ông ấy và bốn đứa con lóc nhóc, ba trai một gái… Nhà Thuyên chật ních người, ba đứa con trai chen nhau ngủ với anh em Thuyên, còn cô vợ trẻ và cô con gái ở chung trong căn phòng nhỏ của Thuyên. Cô ta không ngủ, cứ ngồi bên bàn học của Thuyên và khóc suốt đêm. Lần đầu tiên Thuyên cảm nhận về nỗi đau của người đàn bà lâm vào cảnh lấy chồng chung. Không khí trong nhà như ngạt thở. Có hai người mắt lúc nào cũng đỏ hoe là em trai của Thuyên và cô vợ trẻ. Rồi bầu đoàn thê tử kéo nhau đi, kéo luôn cả dì…
Dì rất khó tính thường hay bắt ne bắt nẹt Thuyên vì tội không chịu phụ với dì trong việc bếp núc, vậy mà ngày cuối cùng dì cầm tay Thuyên khóc: “Dì đi rồi, Thuyên đi học về chịu khó cơm nước cho mấy anh em, Thuyên sẽ vất vả đó! Nhưng con gái lớn rồi phải quán xuyến việc nhà nghe con!”
Đứa em trai của Thuyên khóc ri rỉ bỏ ăn bỏ uống gầy rộc người.

Vậy là hết những buổi chiều mơ màng với sách, bài vở chồng chất, cơm phải nấu, nhà phải quét, chén bát phải rửa, áo quần phải giặt… Lúc đó Thuyên mới thấy nhớ và thương dì. Anh em trai Thuyên chẳng ai giúp được gì cho Thuyên, chỉ có người em trai của anh Đăng phụ giúp với Thuyên công việc nhà, chẳng những thế hắn còn giúp Thuyên làm bài, vẽ bản đồ địa lí, giải những bài toán khó… Hắn học hơn Thuyên hai lớp, học không giỏi nhưng chịu khó. Những quyển sách cũ của Thuyên hắn tỉ mỉ ngồi đóng gáy lại rất đẹp. những bộ tập san Tuổi Hoa, Tuổi Ngọc, Thằng Bờm… hắn ngồi xếp lại theo số thứ tự và đóng thành bộ.
Thuyên bắt đầu vào tuổi dậy thì con gái, những buổi trưa ngủ dậy, má tự nhiên ửng hồng, môi mọng đỏ và mắt trong veo… bọn con trai liệng thư vào sân nhà như lá rơi, sợ anh trai la mắng Thuyên nên sáng nào hắn cũng dậy sớm nhặt vội vàng đem vào cho Thuyên. Hắn trung thành và tận tuỵ, Thuyên nhờ gì cũng làm tới nơi tới chốn. Thấy Thuyên cười là mặt hắn rạng ngời.
Một ngày chủ nhật, Thuyên về quê thăm ba me và xin tiền, lương thực cho tuần tới. Ba me bận nên đã hai tuần không ra thăm con cái, nhà hết veo gạo và tiền chợ. Thời đó, từ thị xã về quê có hai chục cây số mà đi rất vất vả, Thuyên phải đi bộ gần năm cây số ra bến xe, chen lấn để trèo lên được chiếc xe lam hoặc xe buýt. Tuy vậy, niềm vui được trở lại quê nhà làm tan biến bao nhiêu nhọc nhằn. Rồi chuyến trở về thị xã thì càng nhọc nhằn hơn với gạo khoai sắn rau bí lỉnh kỉnh cộng thêm tâm trạng buồn bã tiếc nuối khi rời xa ba me.
Khi Thuyên về đến nhà, trời đã nhá nhem. Trong bóng tối của hoàng hôn, Thuyên nhìn thấy hắn đang ngồi gục mặt bên hiên nhà với những bao tải đầy giấy vụn. Hắn nhìn Thuyên với đôi mắt sợ hãi:
“Thuyên ơi, anh Đăng…”
Thuyên xáo tung những bao tải đựng cả một tủ sách được gia đình tích góp từ lâu đời giờ đã tan nát thành giấy vụn, rồi oà khóc tức tưởi. Hắn ngồi im như thóc nhìn Thuyên, khổ sở như chính hắn là người gây ra.
“Thuyên à, anh Đăng nói đây là văn hoá đồi truỵ, phải đốt đi! Ngày mai ảnh sẽ đem đến cho Thuyên những quyển sách có nội dung lành mạnh, trong sáng.”
Thuyên không kìm lòng được nữa, hét lên:
“Anh em nhà ông biến hết đi, tôi không cần nữa gì hết! ”
Những ngày sau đó thật buồn, Thuyên lặng lẽ làm công việc nhà sau giờ những giờ đi học về. Em trai Đăng len lén nhìn Thuyên với đôi mắt buồn rầu e ngại.
Rồi một ngày hắn bỏ hết sách vở , áo quần vào ba lô dọn đến ở nhờ nhà một người bạn chờ kết quả thi đại học.

Nhưng ngôi nhà của anh em Thuyên vẫn là nơi hò hẹn của Đăng và cô bạn gái, con của một ông tướng, từ Hà Nội vào. Cô gái đó có đôi mắt to trô trố và giọng nói lảnh lót như sáo, chưa bước tới ngõ đã nghe tiếng cười. Họ hẹn hò, trò chuyện, tự tình trong ngôi nhà chỉ toàn trẻ con rất thoả mái tự nhiên như nhà của họ. Không những thế thỉnh thoảng cô gái ấy còn dắt về một nhóm bạn gái có giọng nói ríu rít y chang cô ta, rồi gán ghép một cô trong nhóm ấy cho anh trai của Thuyên. Ông anh Thuyên từ nhỏ học trong ngôi trường chỉ toàn con trai, con gái chỉ thấy từ xa, lỡ thích một bóng dáng áo dài trắng nào ở trường nữ, chỉ biết lặng lẽ lẽo đẽo theo saunhững buổi tan trường mà chẳng dám nói một lời. Bây giờ lại có một cô gái dạn dĩ bên cạnh, anh trai Thuyên như trúng mũi tên của nàng bắn ra rất nhanh, nàng gia nhập vào cuộc sống của gia đình như một thành viên chính thức…
Nhưng rồi một ngày nàng cuốn tất cả những bộ áo quần còn mới của Thuyên và tiền chợ một tháng của mấy anh em cất trong tủ nhỏ và biến mất…Thuyên lại thêm một lần khóc tức tưởi. Đứa con gái nào lớn lên trong thời buổi khó khăn, áo quần, vải vóc thật khan hiếm thì mới hiểu được tâm trạng Thuyên lúc đó. Rồi tiền chợ cho cả một tháng của mấy anh em biết giải quyết làm sao?! Anh trai của Thuyên buồn bã an ủi: “Thôi em, đừng tiếc làm gì, quên cô ấy đi!”

Cuộc sống trôi qua thật nhanh trong khốn khó!
Anh em Thuyên cũng lần lượt lập gia đình và rời xa ngôi nhà của thời thơ ấu.
Nhưng đã thành thói quen cứ chiều 30 tết là tự tìm về ngôi nhà để quây quần bên nhau. Không biết có điều gì níu kéo mà lúc nào có mặt Đăng, dù bây giờ anh ấy đã thành nhân vật quan trọng có chức quyền.
Bao giờ Thuyên cũng cố ý ngồi ở góc khuất và tránh mặt Đăng.
Có lần Đăng cầm ly rượu đến bên Thuyên cười nói :
“Anh mời Thuyên để anh em mình xoá bỏ giận hờn cũ.”
Thuyên lạnh lùng:
“Tôi không có gì để giận hờn với anh.”
“Thôi bỏ qua chuyện cũ đi em, Nga Mỹ còn bắt tay nhau, vậy mà anh em mình cứ chiến tranh hoài.”
“Tôi đã cố quên nhưng không quên được. Điều duy nhất mà tôi nhớ là trên thế giới này có hai kẻ đốt sách, đó là Tần Thuỷ Hoàng và anh!”
Đăng tái mặt , lặng lẽ đi ra hiên nhà ngồi hút thuốc.
Kể từ đó không bao giờ anh quay về ngôi nhà của anh em Thuyên.
Thuyên được biết qua bạn bè, anh được đề bạt một chức vụ cao trong nghành thông tin văn hoá ở Sài Gòn và đưa vợ con vào đó sinh sống.

Buổi trưa im vắng bên đồi cỏ khô cháy, trời xanh đến nhói buốt, một đàn bò gầy gò gặm ngon lành từng vạt nắng, Thuyên và hắn lặng ngồi bên nấm mộ của Đăng mới đắp còn nồng mùi hương khói. Giọng hắn buồn buồn kể lể:
“Anh Đăng đã nhờ anh đưa đi chợ sách cũ để tìm lại những quyển sách ngày xưa anh ấy đốt của Thuyên, chưa thực hiện được điều đó thì anh mất, mỗi lần nhắc đến Thuyên anh ấy buồn và ân hận lắm, Thuyên à!”
Mắt Thuyên cay xè
“Sao anh ấy mất đột ngột vậy?”
“Anh ấy chẳng sung sướng gì đâu, tự vẽ bùa cho mình đeo và chiếc bùa ấy đã thành nỗi bi kịch cho chính anh.”
“Vì sao? Anh ấy cưới được cô gái anh ấy yêu và có địa vị, giàu sang kia mà?”
“Cô ấy và lý tưởng mà anh ấy theo đuổi là nỗi đau khổ dằn vặt anh ấy cho đến phút cuối cùng. Cô ấy và những người bạn hành hạ anh ấy đến điêu đứng vì thói học làm sang, đua đòi rượu ngoại, nhà hàng, vũ trường… Anh ấy không phải chìu một cô vợ mà chìu luôn năm cô như vậy, nếu không về nhà khó mà sống yên. Ngày cuối cùng anh Đăng đi công tác xa, cô ấy cũng giận dỗi làm mình làm mẩy. Trên đường đi anh ấy ngạt thở vì suy tim, tài xế đưa vào một bệnh xá địa phương gần nhất và gọi điện cho cô ấy bằng máy của anh Đăng, cô ấy giận dỗi không thèm bắt máy. Anh ấy tái tím và tắt thở ngay ở đó không kịp cứu chữa, tài xế phải gọi cho con trai anh ấy. Khi con trai khóc: “Mẹ ơi , ba mất rồi!” . Cô ấy vẫn tưởng anh doạ nên hét lên: “Ba mày làm sao mà chết được, ổng phải sống mà trả nợ cho tao!”

Thuyên bật khóc.
Nước mắt thật nhiệm mầu, nó cuốn trôi tất cả giận hờn, oán trách.
Thế hệ chúng ta đã sinh ra trong một thời điểm đáng thương nên trái tim chúng ta có quá nhiều mảnh vá, phải chăng vì vậy mà chúng ta biết bao dung trong đau đớn?!…

Trần thị Trúc Hạ

ĐI VỀ ĐÂU ?

tranthitrucha

Khi sinh đứa con đầu lòng, chàng không còn chìu chuộng nàng như trước nữa.
Có lẽ công việc làm chàng mệt mỏi, cũng có thể nàng bây giờđã hoàn toàn thuộc về chàng rồi, gia đình, pháp luật công nhận, mất đi đâu mà sợ.
Và nàng cảm thấy uất ức !
Nỗi uất ức cứ mỗi ngày một trào dâng…
Vậy là nàng quyết định ôm con về nhà mẹ.
Một tuần lễ ở nhà với mẹ thật là sung sướng, nàng có cảm giác như mình nhỏ lại như thời con gái son rỗi. Cơm nước có mẹ lo mà còn được bồi bổ những món ngon, con nhỏ có ba ẳm bồng nâng niu…
Nhưng đến ngày cuối tuần mẹ nhẹ nhàng đuổi khéo ” Con à, có lẽ nghỉ ngơi vậy đủ rồi, con đưa em về cơm nước cho ba nó, tội nghiệp !… đàn ông con trai bếp núc vụng về… không biết mấy ngày nay ăn uống ra sao?!… ”
Nàng ứa nước mắt “Vậy là mẹ đuổi con về”.
Mẹ tủm tỉm cười “Ừ thì mẹ đuổi con đó, con gái con đứa có chồng rồi phải biết nhẫn chịu con à, giận một chút là bồng con về nhà mẹ thì làm sao yên ấm nhà cửa được hở con?”.
Vậy là đành phải trở về!

Đến khi sinh đứa con thứ hai, lại giận hờn, lại bực bội, chàng cứ mặc kệ… không năn nỉ , không dỗ dành… Nàng nghĩ đến ngôi nhà của mẹ với sự nghỉ ngơi thư giãn…
Và xếp áo quần vào valy, nói với con gái đầu lòng: “Con ở nhà với ba, me đưa em về ở với ngoại”
Con gái mếu máo thật thảm “Me ơi! Cho con đi với me, đừng bỏ con ở lại”
“Vậy me để em ở lại với ba, con đi với me về ngoại ở”
Con gái vội vàng chạy đi lấy áo quần nhét vào valy, nhìn em một lúc, rồi mếu máo “Me ơi, cho em về ngoại với, đừng bỏem lại tội em”
“Ừ thôi ba mẹ con mình về ngoại ở luôn”
Con gái đứng tần ngần một lúc lại năn nỉ: “Me ơi, cho ba đi với, bỏ ba ở lại tội ba…”
Nàng bực quá hét lên “Trời ơi !…”
Chàng đứng ngoài cửa phòng im lặng chứng kiến, nhẹ nhàng bước ra khoá trái cửa cổng bằng dây xích loảng xoảng rồi thủng thẳng đi vào nói với ba mẹ con “Không đi đâu hết, ở nhà với ba”
Vậy là cuộc đào tẩu thất bại!

Mùa hè nóng bức, bà ngoại đưa cháu về quê nghỉ hè cho mát mẻ.
Đó cũng là dịp con cháu về quây quần bên ông bà.
Tha hồ cho bọn nhỏ chạy nhảy trong vườn rợp bóng cây xanh.
Và nàng cũng được nghỉ ngơi thư giãn…
Nhưng chàng và nàng lại giận nhau vì những lí do không đâu vào đâu.
Cuối cùng chàng hét lên “Em bướng lắm ! Anh không chịu nổi em nữa, em muốn làm gì thì làm!”
Vậy là nàng lại xếp áo quần vào valy và ra đi…
Lần này chàng im lặng nhìn theo.
Đẩy valy ra khỏi cổng nhà rồi mà nàng cũng không biết đi đâu.
Về với mẹ là không dám rồi, mẹ sẽ mắng và đuổi hết cả mẹlẫn con như lần trước.
Nàng nhớ tới cô bạn thân !
Cô bạn ngày xưa học cùng lớp hiền như bụt.
Lúc nào cũng cận kề nàng như chị gái chăm sóc em, nhường nhịn chẳng thèm hơn thua với nàng, vì thế cả hai chơi với nhau suốt thời con gái mà không một lần hờn giận. Phải chi chàng giống tính cô bạn của nàng thì nàng hạnh phúc biết bao !
Ngày đám cưới nàng cô bạn thân mắt đỏ hoe, một năm sau cô bạn cũng lên xe hoa về nhà chồng ở ngoại ô thành phố. Tuy khoảng cách xa xôi và ít gặp nhau nhưng nàng vẫn luôn nhớbạn.
Vừa nhìn thấy bạn, nàng oà lên khóc tức tưởi.
Cô bạn hoảng hốt ôm chầm lấy nàng vỗ về như đứa trẻ.
“Nín đi mà , nín đi mà! Có mình đây , đừng khóc!”
Nàng tức tưởi “Cho mình ở luôn được không?”
Cô bạn trố mắt ngạc nhiên “Có chuyện gì vậy?”
” Bạn có cho mình ở không thì nói, đừng hỏi lí do vì sao!”
Cô bạn hoảng hồn “Cho mà, cho mà, ở mấy cũng được, nhưng đừng khóc nữa nghe.”
Nàng gật đầu, cô bạn lấy khăn lau nước mắt cho nàng.
Thế là nàng ở lại nhà bạn.
Bạn không hỏi gì đến lí do.
Và cứ tíu tít kể chuyện ngày xưa rồi cười rúc rích.
Nỗi buồn trôi đi nhẹ tênh!
Nhưng bạn cứ tất bật thật tội, miệng nói tay làm không ngừng nghỉ…
Buổi sáng bạn thức dậy thật sớm, nàng còn mơ màng trong giấc ngủ đã nghe tiếng gàu múc nước va nhẹ vào thành giếng, nàng bước ra với bạn ngáp dài như còn ngái ngủ, bạn cười:
” Ngủ thêm đi, dậy làm gì? Có xôi đậu ngự muối mè mình nấu trên bếp còn nóng đó, ăn đi !”
Nhìn thấy đống áo quần bẩn chồng chất, nàng ngao ngán cho bạn :
“Áo quần đâu mà dữ vậy?”
“Mấy hôm trước bị cảm không giặt được, nên ứ lại!”
“Trời đất! Bịnh mà ông xã không phụ giặt dùm sao?”
“Hi hi… mình thấy áo quần bẩn nhiều quá, mang ra giặt ổng la… Còn cảm mà giặt áo quần lặm nước đó… để khi nào hết cảm thì giặt…Và kết quả bây giờ là thế đó!”
Nàng nghĩ thầm, chàng của mình cũng không đến nỗi nào !
Phơi xong đống áo quần trên dây treo, bạn quét dọn nhà cửa, rồi cho gà, lợn ăn… Sau đó mới gọi chồng con dậy ăn sáng và đưa con đi học, bạn nói với nàng:
“Ở nhà đọc sách , nghỉ ngơi nha, mình đưa bọn nhỏ đi học,tranh thủ đưa trứng cho bạn hàng và đi chợ luôn thể.”
Nhìn bạn đứa trước đứa sau còn cồng kềnh giỏ trứng tòn ten trong khi anh chồng áo quần tươm tất thong dong chạy xe một mình nàng thấy tức ứa gan cho bạn
Sao bạn mình lại ôm hết việc vào người như trâu cày vậy hởtrời?
Buổi trưa bạn lại cơm nước, rồi lại đón con, rồi lại gà lợn…
Buổi chiều tiếp tục như vậy.
Buổi tối khi các con đã ngủ, bạn ôm nàng thì thầm:
“Ổng đi nhậu rồi, chắc khuya mới về, kệ ổng, có dịp cho hai đứa mình trò chuyện”
” Nhậu thường xuyên hay lâu lâu mới nhậu?”
“Thường xuyên, nản lắm!”
Khi nàng chập chờn trong giấc ngủ thì nghe tiếng gọi cửa. Bạn nhẹ nhàng ngồi dậy nhưng nàng vẫn nghe tiếng lè nhè “Em ơi!Nước, khát nước”, rồi sau đó ói mửa chua nồng…
Bạn nàng lặng lẽ thu dọn.
Chàng của nàng không bao giờ như vậy, chàng thỉnh thoảng vui cùng bè bạn nhưng chàng luôn biết lượng sức mình đểnàng không phải chịu đựng khổ sở .
Sáng hôm sau thức dậy , nàng xếp áo quần vào valy và nói với bạn:
“Thôi mình về đây!”
Bạn tủm tỉm cười “Vậy mà nói ở luôn với người ta, nhớchàng rồi hở?”
Nàng gật đầu cười với bạn và thấy thương bạn đến nao lòng.

Bây giờ thì nàng không còn sức để hờn giận và ra đi nữa .
Bởi vì cũng chẳng biết đi về đâu ?!…

TRẦN THỊ TRÚC HẠ

Ngày Valentine

tranthitrucha

Ngày 14/2 năm đó, chàng chở tôi và cô con gái cưng ngồi vắt trước thùng xăng trên chiếc xe 67, chiếc xe mà mẹ chàng đã cắc ca cắc củm mua cho con trai khi chàng đậu tú tài còn mới căng, nguyên thùng.
Ngôi nhà thời thơ ấu mấy anh em chung sống đã có thêm hai bà chị dâu, một ông rễ là chàng và một bầy con nít lau nhau…Là con gái, tôi biết thân biết phận nên lo…biến trước. Vậy là phải tìm mua một căn nhà nhỏ, bao nhiêu vòng vàng nhẩn cưới bán sạch vẫn không đủ nên đành phải bán chiếc xe.
Chàng đã rất buồn!…có lẽ đó là vật kỉ niệm đã gắn liền với tình yêu của mẹ chàng.
Bây giờ thấy ai đi chiếc xe 67 trên phố chàng cứ nhìn chăm chăm vào bảng số xe và lẩm bẩm: ” không biết chiếc xe của mình đã trôi dạt về đâu?”.
Lan man về chiếc xe tôi quên mất chuyện ngày Valentine đang kể cho các bạn nghe, thời gian này sao tôi bị bệnh lãng đãng giống y chang mẹ tôi.

Trời buổi chiều trong tháng giêng âm lịch thật dịu dàng, sương mênh mang trắng mờ bờ sông Hàn, những đôi trai gái đang tự tình bên nhau trong ngày lễ tình nhân trong gió xuân se sắt. Tự nhiên sao tôi lại nhớ thời con gái của mình da diết…Tôi nói nhỏ với chàng:
Anh à, mua cho em một bông hồng vàng được không?
Hôm nay hoa hồng chắc đắt lắm em….Thôi để tiền mai anh chở hai mẹ con đi ăn bún bò.

Trớt qướt!…Tôi nhớ lúc đó hình như tôi đã rất buồn chàng, người gì đâu mà khô như …rơm. Nhưng bây giờ nghĩ lại tôi thấy buồn cười. Thời bao cấp khó khăn, thức ăn trên mâm cơm nhà tôi chỉ có rau muống và cá nục, có khi chỉ có nước mắm, rau muống vừa luộc vừa xào, vừa làm canh, con gái tôi sinh thiếu tháng, thiếu sữa gầy như que kem. Thức ăn buổi sáng của chúng tôi là cơm nguội, khoai sắn, sang lắm là bún nước mắm ớt tỏi có chút dầu phụng khử hành…Những chiếc áo dài thời con gái, tôi tự cắt ra, chắp vá đủ kiểu thành những bộ áo đầm xinh xắn cho con gái bằng kim may tay…Ngoài giờ lên lớp, tôi nhận len về đan thuê kiếm thêm tiền, thấy người ta nuôi heo tôi cũng bắt chước nuôi heo bằng hai miếng tôn cong ngăn lại , tạm bợ, trời mưa lạnh heo kêu eng éc suốt đêm, tôi sợ khủng khiếp, không phải sợ …heo, mà sợ làm phiền hàng xóm mất ngủ.

Điều tôi sợ nhất thời đó là xếp hàng mua tem phiếu, tôi không biết mình bị bệnh gì mà cứ tới chỗ đông người chen lấn là không thở được và…ngất. Có lần trong lúc biết mình sắp ngất tôi giao hết tem phiếu cho một chị phụ nữ đứng gần và nói với chị ” Chị ơi, chị mua dùm em nghe, em không thở được, em ra ngoài kia ngồi chờ chị”. Và tôi ra một gốc cây ngồi gục mặt trên đầu gối chờ cho cơn khó thở đi qua…
Đến khi ngẩng mặt lên thì chị ấy đã biến đâu mất biệt…

Tôi lủi thủi đi về, vừa buồn vừa sợ chàng nên khóc lóc, kể lể thảm thiết, chờ chàng mắng cho một trận vì cái tội …ngu. Nhưng chàng chẳng trách móc gì, chỉ nói một câu gọn lỏn :
Thôi kệ, tháng này chấp nhận ăn rau muống …

Vậy đó…mà tôi đòi mua hoa hồng trong ngày valentine…thay vì hoa hồng là bún bò cho con gái tôi đỡ ăn cơm nguội một buổi sáng. Chàng đúng hay sai?!..Và Tôi lãng mạn hay hay lãng xẹt? !…..

Trần thị Trúc Hạ