NGÀY LỄ FATHER’S DAY

trandunganh

Có một bài hát hồi nhỏ tôi vẫn nghêu ngao :… Ba thương con vì con giống Mẹ , Mẹ thương con vì con giống Ba…Một lần Ba đang ngồi nhậu với chú Lê Vũ, vẫy tôi lại , ôm tôi vào lòng :” Không phải vậy đâu, Ba Mẹ thương con chỉ vì con là con của Ba Mẹ.” Tôi không bằng lòng chút nào lời ba nói. Tôi muốn giống Ba, giống Mẹ thật nhiều kìa… Tôi rất giận khi Mẹ Đức , Bố Tâm ở cạnh nhà cứ ngắm tôi rồi nói : “Tu Hú đâu phải con Mẹ Dung.Tu Hú lai Mỹ nè , tóc nâu , da trắng , mũi cao , môi đỏ.”
Tôi còn nhớ , cứ mỗi chiều chạng vạng là bà nội cứ quẹt lên trán tôi một vết lọ nồi làm phép khi tôi thơ thẩn lang thang quanh nhà.(Như ngày xưa ,bà cố quẹt lọ nghẹ lên trán Mẹ.)
Tôi rất sợ khi có ai nói rằng tôi không phải là con của Mẹ…những khi nghe vậy tôi cuống cuồng hốt hoảng chạy đi tìm Mẹ, kéo tóc Mẹ đến gần tóc tôi để so màu, kéo Mẹ đến soi gương cùng tôi…Ba lại ôm tôi vào lòng , thương xót : ” Nghe này cưng, nhìn thật kỹ đi . Con rất giống Mẹ, con có hai con mắt nâu nâu như mẹ, một cái mũi hỉnh hỉnh như Mẹ, một cái mỏ chu chu như Mẹ, một cái cằm tròn tròn như Mẹ. Nhưng con đẹp hơn Mẹ nhiều nhờ cái lúm đồng tiền… Con đúng là con của…Ba.” Mẹ bật cười vì câu kết luận lãng nhách lãng nhơ nhưng tôi thì rất yên lòng.
…Lớn một chút , ai cũng khen tôi xinh đẹp, Tôi không nghĩ mình xinh đẹp mà chỉ muốn học giỏi và làm lớp trưởng… Năm nào bị làm lớp phó tôi đau khổ lắm. Nhớ năm lớp Sáu , một lần tôi đứng đọc thông báo thi học kỳ ở phòng Hiệu Trưởng thì bị thằng lớp trưởng lớp Tám vuốt má. Tôi tức quá chạy tìm cô Hiệu Phó Thiếu Anh mét. Vậy là nó bị lôi lên Văn Phòng …làm việc . Không biết cô Thiếu Anh nói gì mà từ đó cứ gặp tôi là nó kinh hoàng tránh xa.
Sau đó , Ba không cho tôi đạp xe đi học nữa mà luôn dành làm tài xế đón đưa…Ngày nào Ba về trễ thì chú Thành đi đón. Nhìn 2 cánh tay xăm trổ của chú bọn con trai trong trường né hết !
Ba nói với tôi nhiều lần như một người bạn : ” Tu Hú, Bề ngoài con có vẻ yếu đuối nhưng con sống đầy lý trí và tâm hồn mạnh mẽ. Con không giống Mẹ và em : tâm hồn vô cùng yếu đuuối mà cứ ngụy tạo cho mình những cái gai nhím rất dã man…”
Tôi hỏi : ” Ba hồi đó sao ba lấy Mẹ , một đứa con nít so với Ba ?
Ba cười : ” Thấy nhỏ xíu, ốm yếu tội nghiệp như con mèo nên lấy !”
( Mẹ chưa biết điều đó vì mẹ luôn có ảo tưởng là vì mình thùy mị, nết na, xinh đẹp… Tôi không nói vì sợ Mẹ giận lây, … con vật Mẹ ghét nhất trên đời là con mèo .)
Trước khi được gây mê đẩy vào phòng mổ , Ba nói với tôi :” Tu Hú, Con nhớ là con phải vững vàng nếu như Ba không còn nữa.Con để ý Mẹ và em...” Ba không biết là tôi đang run như cầy sấy và trái tim đang tan ra từng mảnh hay sao ?
Tôi không khéo tay bằng Mẹ và em . Mẹ học chích thuốc cho Ba trong 30′ gọn gàng nhanh nhẹn hơn cả các sinh viên thực tập. Em không học gì cả, chỉ nhìn y tá thao tác vài lần là biết sử dụng các thiết bị y tế cần thiết trong phòng bệnh. Khi Bác Sĩ hỏi em có phải là một chuyên viên kỹ thuật gì đó của ngành Y không , em lắc đầu , khoe 10 cái hoa tay bé nhỏ trên đầu 10 ngón. Nhưng Ba luôn tin tưởng tôi hơn cả vì biết tôi luôn dang tay ôm cả hai vào lòng mà không cần Ba dặn.
Bây giờ Ba đã khỏe mạnh và vui vẻ, Ba lại đưa vai ra gánh vác để tôi nhẹ gánh…lấy chồng.
Tôi nhớ có lần Nhatrang bị xả đập , trời mưa nhỏ mà nước dâng nhanh quá ngập cao những vùng ngoại ô, chỉ mấy tiếng đồng hồ mà đã phải di chuyển bằng ghe. Tôi xin về sớm, đã thấy Ba đứng trong nước lụt chờ để cõng tôi vào vì ghe chỉ neo ở cổng không vào được sân nhà. Ba biết tôi sợ nước dơ . Cậu tôi biết được . la:” Không thấy ai cưng con như anh , Anh có cõng nỗi nó suốt đời không ?”
Tôi biết, sẽ có lúc Ba không còn cõng tôi được nữa ( giờ phút ấy đã và đang tới ) nhưng suốt đời Ba vẫn nắm tay tôi rất chặc.
Khi tôi hỏi ý kiến Ba Mẹ về người tôi muốn đính hôn , Ba nói :” Con hãy hỏi con 2 điều : – Con có thể hy sinh tất cả cho người ấy ? -Con sẵn sàng lấy niềm vui của người ấy làm niềm vui của mình ?”. Còn mẹ , văn chương chữ nghĩa thật là trớt quớt, nhuốm màu vật chất: “Nó dễ thương, con nhà đàng hoàng , học hành tử tế, cao lớn khỏe manh… Nó sẽ… cõng Ba vô nhà thương nếu Ba còn bệnh như lần trước… Mẹ con mình đỡ khổ !” . Ba nhìn Mẹ, mỉm cười độ lượng và đượm chút màu khi dễ :” Dạy con cái kiểu gì lạ vậy không biết nữa???”
Mẹ là vậy , muốn khác cũng không khác được bao nhiêu…Luôn làm cho người đối thoại bật cười, có Mẹ , cuộc đời rất vui…mà cũng quá nhiều khi có Mẹ , cuộc đời rất mất vui… ( Ồ , chắc chắn Mẹ sẽ nói : ” đâu cần sỉ nhục tui dữ vậy !”

Hôm nay, tôi hỏi : ” Ba ơi, mai là lễ Father’s Day, tụi con muốn tặng Ba một món quà , Ba thích gì nhất hả Ba ?”
Ba đáp không ngần ngại :” Tụi con hãy tặng Ba một đứa cháu ngoại xinh thật xinh như con hồi nhỏ vậy !”
Trời đất , tôi nghĩ thầm : Ba chưa chán cái đứa con nít đã làm phiền làm phức Ba suốt cả cuộc đời đó sao ? Con đã mua cho Ba Mẹ một chuyến đi Cruise , còn chuyện cháu ngoại Ba ráng chờ sang năm Ba nhé.
Con yêu thương Ba nhất trên đời.

Trần Dung Anh

Tiếng cười dòn (Pablo Neruda)

nguyetthuho

Pablo Neruda ( 1904-1973) là một nhà thơ khuynh tả người Chi Lê ,  từng được mệnh danh  “nhà thơ vĩ đại nhất của thế kỷ 20 của mọi ngôn ngữ. ”

Ông cũng nhận được nhiều giải thưởng có hạng , trong đó đáng kể là giải thưởng Hòa bình Quốc Tế vào năm 1950  và giải thưởng Nobel Văn học năm 1971. Ông chết 2 năm sau đó  vì ung thư tiền liệt tuyến .

(Cho những cô bạn thân thuơng của tôi .Hãy luôn cười vang các bạn nhé.)

Đừng cho anh ăn nếu em muốn .
Đừng cho anh thở khi em hờn.
Nhưng xin em,
đừng lấy mất đi tiếng cười dòn .

Đừng lấy mất đi đóa hồng tươi thắm ,
và cúc dại vàng em thuờng hái ngoài hiên
cùng nguồn nước, đột nhiên
tuôn bắn ra bởi niềm vui bất chợt ,
thêm ngàn sóng bạc nảy sinh đột ngột
rực sáng lúc em cười .

Trở về từ chông gai khắc nghiệt
Ánh mắt anh mệt mỏi lừ đừ,
những khi nhận thấy
trái đất này không chút đổi thay.
Nhưng khi tiếng cười em len tận đáy lòng,
chợt cao vút lên bầu trời xanh thẵm
tìm kiếm anh
và mở toang muôn cửa đón mời cuộc sống

Em yêu ,
hỡi tiếng cười ngạo nghễ
trong những giờ tăm tối.
Nếu tình cờ đêm nào em chợt thấy
từng phiến gạch buồn trên đường phố vắng tanh
nhuộm đỏ bằng máu lan nhanh
bởi giọng em cười sắc như thanh kiếm mới
tăng sức cho tay anh trong trận chiến.

Vào mùa thu khi em thăm miền biển ,
tiếng cười vang , dậy bọt sóng triều cao.
Và em yêu,
vào mùa xuân ngàn lá lao xao
tiếng cười em đơm ngàn nụ ước ao
như những nu xanh,nu hồng anh hằng trông ngóng,
từng cánh nở mừng khoe sắc khắp mọi nơi.

Hãy cười ngạo ngày ,đêm và trăng sáng
Cười ngạo cả đường ngoằn ngoèo trên đảo vắng
Cười ngạo luôn cậu bé vụng về này
hằng yêu mến cô bạn tóc thơm mùi nắng
Những khi mắt mở rồi khi mắt nhắm
Những bước chân đi rồi những bước quay về
Anh chẳng thiết gì khi mất đi ánh sáng
lẫn gạo cơm , khí thở cùng mùa xuân
nhưng nếu mất đi tiếng cười dòn tan ấy
anh sẽ chết liền trong đau uất … em ơi

Nguyệt-Thu Hồ

Take bread away from me, if you wish,
take air away, but
do not take from me your laughter.

Do not take away the rose,
the lance flower that you pluck,
the water that suddenly
bursts forth in joy,
the sudden wave
of silver born in you.

My struggle is harsh and I come back
with eyes tired
at times from having seen
the unchanging earth,
but when your laughter enters
it rises to the sky seeking me
and it opens for me all
the doors of life.

My love, in the darkest
hour your laughter
opens, and if suddenly
you see my blood staining
the stones of the street,
laugh, because your laughter
will be for my hands
like a fresh sword.

Next to the sea in the autumn,
your laughter must raise
its foamy cascade,
and in the spring, love,
I want your laughter like
the flower I was waiting for,
the blue flower, the rose
of my echoing country.

Laugh at the night,
at the day, at the moon,
laugh at the twisted
streets of the island,
laugh at this clumsy
boy who loves you,
but when I open
my eyes and close them,
when my steps go,
when my steps return,
deny me bread, air,
light, spring,
but never your laughter
for I would die.

Pablo Neruda

NGƯỜI YÊU

huytuong

1.
Đá rựng tà dương
Máu biếc xanh trên vai người em nhỏ
Trườn cánh chim
Ôi còn mãi miết chiều phai

Mãi miết chiều phai em có hai bàn tay đầm đìa hối tiếc
Tôi hôn em môi cực cùng ly biệt
Không đậy kín hồn dĩ vãng quỵ dưới trăng ngàn
Lòng đẹp dã man.

2.
Tử hình tôi trong ngực tối
Chờ đợi gì ngoài nguyệt lạnh
Nhân loại còn ai
Kẻ lãng mạn cuối cùng cô xiết đá xanh
Rũ trăng
Rũ máu
Rũ cánh rừng vùng vẫy tà dương
Hỡi em
Còn đợi chờ gì bóng người ngực tối
Loáng ngời khuya
Đẫm suốt hư không
Máu biếc xanh trên vai người em nhỏ
Ôi đời đời nhức nhối yêu nhau…

HUY TƯỞNG

11041830_824896110915254_3745655873776346654_n

Tán gẫu cùng nhà thơ Nguyễn Tấn Cứ: “Tự do và chuồng trại”

tuankhanh

“Những người anh em xử nhau đến đổ máu”, nhà thơ Nguyễn Tấn Cứ đã cười lớn và nói như vậy về chuyện Hội Nhà Văn Nhà nước VN ra tay gạch tên các hội viên của mình. Bức tranh trí thức bầy đàn giờ đây dường như đã nhuốm màu gươm đao và bôi mặt vì mệnh lệnh

1.Lâu nay, là một người làm văn nghệ và hít thở bằng văn nghệ, vì sao anh không xin tham gia vào Hội Nhà Văn, nhất là nơi đó cũng có không ít bạn bè văn nghệ của anh?

Hội Nhà Văn với tôi là một vùng đất xa lạ vì đơn giản “căn cước” của tôi không thuộc về nơi ấy. Tôi là một con người Văn Chương Tự Do theo đúng nghĩa đen đủi của nó. Nên việc phải xin xỏ để được vào ngồi chung với âm binh “tù ngục” là một điều không tưởng vì tôi hiểu mình thuộc về ai. Nếu có chăng thì đó là trên bàn nhậu quán xá của cuộc đời, nơi ấy bạn bè văn chương thân thiết tôi cũng nhiều và kẻ thù cũng không ít. Nói một cách rõ ràng hơn, tôi không ưa thích cái gì thuộc về nhà nước và đảng lãnh đạo. Tôi chỉ muốn là chính mình với văn chương của mình không bị ai dòm ngó chỉ đạo…

2.Có người thích hội hè, có người thích tự do, chuyện đó cũng bình thường – như như anh mô tả thì xã hội văn nghệ Việt Nam đang tập hợp những trí thức và tài năng cho văn học nghệ thuật cho đất nước, hay chỉ là trò mèo, một cách tạo nên một giai cấp khác biệt trong giới trí thức về quyền lợi, về tư duy chính trị…?

Trong một khu rừng thì chắc sẽ có những con thú cô đơn và cũng sẽ có những con vật sống theo quần thể bầy đàn. Nhưng ở trong “Xã Hội Văn Nghệ Việt Nam” hiện tại mà bạn nói thì nó không phải là bầy đàn thuần tính nữa mà nói chính xác hơn là một loại chuồng “Trại Sáng Tác” cao cấp, được điều khiển bởi một hệ thống tư tưởng triết học Mác-Lê Nin đã chết. Nó được trang bị bằng một thứ vũ khí là “Phương pháp hiện thực XHCN” – nền tảng lý luận không thể thay đổi. Cho nên việc “tập hợp những trí thức và tài năng cho văn học nghệ thuật của… đảng” [không thể cho đất nước được] cũng chính là tạo nên một thứ tư duy chính trị về một kiểu “giai cấp mới trong văn chương.” Ở đó sự trung thành của một Osin với chủ nhà cũng chính là sự “khác biệt” tuyệt đối của nó so với những người “sống và viết Văn Chương Tự Do.”

3.Trong những phát biểu của mình, anh hay nhắc về một kiểu nhà văn công chính – uy vũ bất năng khuất – ý anh có muốn nói cụ thể về ai, và vì sao?

Văn chương tự thân nó là một thứ được “đề kháng” miễn nhiễm [khi buộc phải tiếp nhận] bởi những uế tạp của xã hội. Nó chính là sức mạnh vô hình nên những kẻ mạnh, hữu hình, những kẻ bạo quyền “độc tài chuyên chính” luôn phải tự ty căm ghét kinh sợ. Vì nó luôn bị rượt đuổi truy bức nên một ngày nào đó-ở đâu đó – trên đất nước khốn khổ này, khi vẫn còn những kẻ cầm bút hèn hạ chống lại “chính mình,” thì sẽ vẫn còn những những nhà thơ, nhà văn công chính cất lên tiếng nói của chính mình để nói thay cho chính nỗi đau của nhân dân cùng khổ … “Uy vũ bất năng khuất” là như vậy không có nghĩa là văn chương đối chống lại bạo quyền – Nó chỉ nói lên sự thật “không bị khuất phục” và sự cô đơn của nó cũng nói lên sự thất bại của những ai đang mưu toan dùng sức mạnh đen tối để đè bẹp, bóp họng, bóp hàm tiếng nói bất khuất con người… văn chương bằng những mồi nhử hội hè, đình đám mà đoàn, đảng đang hàng ngày nhá nhem câu nhử mời gọi nó.

4.Anh có thể lý giải vì sao trong một xã hội bình thường, nhà văn-nhà thơ-nghệ sĩ… lại phải có một đức tính quyết liệt như một người tranh đấu “uy vũ bất năng khuất.” Lẽ nào đời sống tồn tại văn chương ở VN nhiều năm qua là một đấu trường của danh dự và tự trọng?

Bởi vì đó là một xã hội “không bình thường” nên càng cần phải có những đức tính quyết liệt của một người tranh đấu. Vì nếu một ai đó tranh đấu cho quyền được sống của con người thì mới chỉ một thôi, đó là cần phải có lòng dũng cảm. Thì với văn chương cần đến gấp mười lần như vậy mới có được thái độ “uy vũ bất năng khuất.” Ở đó nó cũng bật cháy lên lòng tự trọng và danh dự và thái độ sống còn của tác phẩm văn chương. Nó hướng đạo cho con người biết đâu là chính tà. Nó cho bạn đọc biết ở đâu là “đúng sai” khi mà ai, bất cứ cuộc cách mạng nào – chế độ nào – cũng sẵn sàng trương lên khẩu hiệu “tranh đấu độc lập tự do” cho những người cần lao cùng khổ. Ðó mới chính là “đấu trường” và văn chương chỉ làm một nhiệm vụ duy nhất là mô tả lại – vẻ lại một cách trung thực – bằng văn chương – bức tranh tồi tệ nhất của thời đại mà họ đang sống và chỉ như vậy thôi là “gươm đao đã kề tận cổ / Súng đã kề bên tai và đạn đã lên nòng.” Ðó cũng chính là “danh dự và lòng tự trọng” mà không dễ ai kiếm được trong một chế độ “xin cho” và sẽ càng tệ hơn so với hơn 1,000 hội viên Hội Nhà Văn đang được đảng “định hướng chỉ đường” như một đàn cừu được chăn dắt bởi một tay sát thủ lột da thuần thục.

5.Trong giới văn chương xã hội chủ nghĩa vẫn có những lời bán tán về chuyện chạy chọt vào Hội Nhà Văn VN, để có tên, để được tham dự hội họp… thậm chí có người đã phải bỏ ra rất nhiều tiền để được vào hội – theo anh chuyện này có thật không? Và vì sao Hội Nhà Văn lại có một vị thế tựa như cơ quan công quyền vậy?

Nên nhớ Hội Nhà Văn là một tổ chức chính trị của đảng, là một cơ quan quản lý hành chính không hơn không kém như những hội-đoàn thể thanh niên phụ nữ chính trị khác trong hệ thống cai trị của chính quyền chuyên chính Cộng Sản. Cho nên vào hội hay vào đoàn-đảng cũng là một nấc thang “chính danh” để có thể leo lên cao hơn, sâu hơn trong bộ máy này. Hội Nhà Văn Việt Nam cũng chỉ là một trong những thành tố đó – nhưng nó lại có tính “đặc thù” hơn – Vì nó là “văn chương tư tưởng,” nên để có thể đứng vào “hàng ngũ tiên phong của đảng” thì chức danh “Hội Viên HNVVN” lại càng béo bở vì rằng nó “vừa có tiếng lại vừa có miếng” và cao hơn nó nhận được sự “kính trọng” của các giai tầng chính trị trong xã hội. Nên việc “chạy chọt” để vào được vào trong hội là một điều có vẻ như không “khả thi.” Nhưng cũng không khó nếu biết kết thân với một ai đó có quyền và dĩ nhiên chuyện “tiền bạc” là không thể thiếu nếu không muốn nói là then chốt. Sau đó mới đến “tiêu chí” tác phẩm để dễ dàng trót lọt. Nên không có gì lạ khi điểm mặt hơn 1,000 hội viên thì có hơn 900 nhà văn nhà thơ – trong đó có cả cán bộ – doanh nhân nuôi chó mèo và quan chức, chủ quán nhậu, giám đốc công ty. Công chúng không biết họ là ai và tác phẩm của họ là cái gì trong nền văn chương đó. Có chăng là một cái “Thẻ Hội Viên Hội Nhà Văn Việt Nam” oai hách mà họ được Ông chủ tịch hội – đại diện cho đảng nhà nước phát phong cho. Dĩ nhiên là họ sẽ được thu lợi nhiều hơn khi được “bảo kê” trong cái danh hiệu hão huyền đó. Quan trọng hơn khi cần phải cho một ai đó biết rằng “tôi là ai và đang làm cái giống gì” trong cánh đồng hợp tác xã văn chương vô đái này.

6.Nghe nói vào Hội Nhà Văn cũng là một cách để nhàn nhã kiếm ra tiền từ các dự án sáng tác phục vụ chính trị cho tỉnh, cho trung ương… theo các dự báo hoạt động tư tưởng, theo anh thì lời bàn về những điều đó có thật không?

Không riêng gì Hội Nhà Văn mà với Hội Mỹ Thuật Kiến Trúc Xây Dựng, Hội Âm Nhạc,… Tất cả đều có thể kiếm ra tiền từ những “Dự án sáng tác phục vụ chính trị” theo mùa, theo từng thời kỳ, lễ lạt kỷ niệm ngày sinh của “Bác,” của đảng, hay đại hội thường niên. Mỗi năm nhà nước đều có dự trù kinh phí cho mỗi hội chuyên ngành – nếu chia đều ra mỗi một Hội TW cũng được vài chục tỉ đồng. Các hội văn nghệ địa phương 64 tỉnh thành cũng hết mấy chục tỷ. Ðó là con số tài chánh công khai được rót từ kinh phí nhà nước mà trách nhiệm của các hội là “phải giải ngân cho hết” nếu không muốn tài khóa năm sau sẽ bị cắt bớt hạn chế lại. Nên việc phải “đẻ ra chuyện” để tiêu pha là chuyện không thể không làm vì đó là “nhiệm vụ chính trị” không thể lơ là. Nó là niềm vinh quang cho các “lãnh đạo hội” nên mỗi kỳ đại hội là mỗi lần “bầu bán” leo trèo chạy chọt rất dữ để có thể có được tấm vé máy bay ra Hà Nội [của hội viên các tỉnh phía Nam] cho nên việc “cắt bỏ” không thương xót một ai đó – Không cho đi “phó hội” – là một đòn đau đánh vào chính sĩ diện khi mà họ đã cố công phục vụ – và nếu đó là những “cây đa cây đề” được chính chế độ “gieo trồng nuôi nấng lớn khôn” cho hưởng tem phiếu bổng lộc xưa nay – cho họ bay lên cao rồi lại chính tay mình bắn hạ rớt xuống lặt lìa – Với những người này thì rằng Hội Nhà Văn chính là nỗi đau buồn của một thời – mà họ chính là những tay chơi đã một đời làm trò làm hề trong gánh xiếc rong của chế độ.

7.Văn chương theo lệnh, theo chỉ đạo… theo anh, có khả năng biến một nhà văn hiền lành trở thành một ngòi bút tàn nhẫn không? Và vì sao nhiều trí thức Việt Nam lại chấp nhận vào một hội đoàn mà nhân cách và tính cách mình bị biến đổi như vậy?

Văn chương theo lệnh, theo chỉ đạo sẽ không bao giờ có thể “tàn nhẫn” theo nghĩa của văn chương nhưng nó sẽ tàn bạo lưu manh theo nghĩa của “giang hồ.” Vì đơn giản một khi nó được băng đảng hóa chính cuộc đời thì “ngòi bút” của nó chính là gươm đao được dùng để “thanh toán” nhiều hơn là “viết lên” một cái gì đó cho con người… Vào hội đoàn theo một cách nào đó thì anh chỉ là một đám “lâu la,” không là chính mình nữa, vì lúc đó cái “thẻ hội viên” chính là “nhân cách” được minh họa sắc nét và tác phẩm chân chính đơn độc chính là “kẻ thù,” liệu có nên gọi đó là “hiền lành” hay không?

8.Trong một nhận xét, anh có nói rằng không ít người vì “giận dỗi” rút ra khỏi hội, chứ thật lòng họ vẫn mong muốn có một chân đứng trong danh hiệu đó, ý anh là sao?

Vì thật ra họ đã xây dựng lên nó với rất nhiều hoài bão tâm huyết và cả “hy sinh đổ máu” vì nó nữa thì tại sao họ lại bị những người anh em đồng chí của chế độ “đối xử” tàn nhẫn như vậy. Ở đây tôi nói “giận dỗi” là còn “thương cảm.” Tôi nghĩ bây giờ họ rất “cay đắng thù hận một cách tội nghiệp như tự tay cào cấu mặt mình đến rướm máu” vì nó đã “phản bội” lại họ … Vì như nhà thơ số một của chế độ đã phải đấm ngực rên lên “Cả một thời đểu cáng đã lên ngôi” (Bùi Minh Quốc), nó khốn nạn vậy đó!

9.Anh thử lý giải vì sao một người hết lòng với chế độ như kiểu một ông quan nhà văn, ngay trước khi về hưu vẫn cho ra tập hồi ký, và đi khoe rằng mình “từng ở tù Cộng Sản” với các chi tiết được in ra trong sách? Nhà văn Nguyễn Viện cũng có lời giải thích về chuyện này, còn suy nghĩ của anh thì sao?

Ðây là một trò chơi “tự huyễn hoặc” của đa phần các con tin sau khi đã sống chết ăn dầm nằm dề với kẻ “bắt cóc” thượng thừa là chế độ sau bao nhiêu năm. Họ luôn luôn cho mình là những “con đèn cù – nạn nhân” ngây thơ của chủ thuyết Cộng Sản mà điển hình là những “lãnh tụ CS” mà họ đã hết lòng cúc cung phục vụ. Ông quan nhà văn này chỉ mê văn chương đến nỗi ông ta không nhớ là mình đã hốt giết nhốt bao nhiêu người để cho có một ngày được “cầm bút” và viết ngược lại là mình đã từng “ở tù Cộng Sản.” Nó cho thấy cái Hội Nhà Văn này nó quyến rũ đến mức một ông tướng công an cũng tự nguyện hài hước “thay hình đổi dạng” như điệp viên không không thấy là vậy đó trời ạ.

10.Theo anh, tại sao có nhiều nhà văn miền Nam trước năm 1975, vẫn từ chối tham gia hội đoàn văn nghệ của nhà nước, ngay khi họ được cho biết rằng sẽ được tạo điều kiện sáng tác và in ấn?

Không có gì ngạc nhiên vì sao các nhà văn miền Nam trước 1975 từ chối tham gia hội đoàn văn nghệ nhà nước. Nói cho đúng hơn thì họ không bao giờ có đủ cơ hội “bần cố nông” để đứng chung trong hàng ngũ của những người làm văn nghệ CS vì sau khi Việt Cộng tiếp quản Sài Gòn, đa số họ đã là “kẻ thù nguy hiểm của chế độ,” họ là “những tên biệt kích trong văn chương” của chế độ Sài Gòn xưa và họ là những đối tượng cần phải đưa đi “tập trung cải tạo” mút mùa lệ thủy. Và nếu có sống sót khi trở về thì họ lại tiếp tục tìm cách vượt biển tìm tự do. Một số chết trên biển. Một số được định cư tại Mỹ không về. Một hai người còn ở lại mày mò sáng tác và sống trong lo âu như nhà văn Cung Tích Biền, Dương Nghiễm Mậu, Trịnh Cung… Một vài người phải thay tên đổi họ để được yên thân… thì làm quái gì họ có quyền gì được cho in ấn hay sáng tác – dĩ nhiên trừ khi họ là “hội viên HNVVN,” nhưng điều này là “bất khả thi” ông bạn ơi…

NGUYỄN TUẤN KHANH
https://nhacsituankhanh.wordpress.com/2015/05/22/tan-gau-cung-nha-tho-nguyen-tan-cu-tu-do-va-chuong-trai/

CHIỀU HOANG

daolam

nhớ núi ta tìm về với núi
mùa sương mờ cánh võng dốc mưa
tháng bảy ta về nghe tình gọi
trên cao Hạ Trắng mới như vừa

tiếng gió lao xao ngoài thung vắng
ngày đi qua ngọt lịm môi cười
tháng bảy ta về trời thiếu nắng
bên thềm Hạ Trắng nhớ khôn nguôi

ngày giấu trong vòng tay chín đỏ
những môi hôn cuồng nộ thác nguồn
đêm ôm chặt giấc mơ tình lỡ
nước mắt nào mặn đắng môi hôn

thắp chiêm bao thả vào ngày tháng
nhốt tình chung nuôi nỗi buồn riêng
tháng bảy ta về mơ Hạ Trắng
ngơ ngẩn niềm đau chở muộn phiền

phố của trăm năm tình luôn mới
cho dầu ngày tháng cứ trôi đi
Ha Trắng bên đời nhau vời vợi
tiễn mùa…hay dựng cuộc chia ly

XA RỒI,NGÀN DẶM THIÊN DI
CHIỀU HOANG TÍM BIẾC XUÂN THÌ RỤNG RƠI!

DaoLam

MÊ CUNG EM HÁT LỜI TÌNH RU GIÓ

 linhphuong

Tháng sáu nhiệt đới nắng ròng ròng mồ hôi
Anh lạc vào thánh địa-mê cung em hát lời tình ru gió
Con ve-chùm phượng vĩ – ngày mới lớn cứ mong-cứ nhớ
Tuổi học trò mất biệt lúc cầm súng giữ quê hương

 Khi “ sém già “ anh thương quá đỗi là thương
Thời thanh xuân chết dần theo bốn mươi năm phiêu bạt
Không hẹn hò-không nguyện thề -không hôn ước
Người đàn bà đợi anh ngơ ngác giữa phố chưa chồng

Sen hồ nguyệt trong veo ủ mùi em trinh bạch-da thịt trắng ngó sen thơm
Cu cườm gáy mùa hạ trời xanh nét mi cong-đường cong rủ rê anh bày biện
Ba vòng xuân sắc đòi yêu-bất cần thị phi tai tiếng
Gõ nhẹ trái tim đọc câu thần chú : “ vừng ơi…vừng ơi…vừng ơi ! “

 Mê cung vạt cỏ em lao xao mờ
Như kinh kha cầm trủy thủ qua sông hành thích tần vương
Người đàn ông qua cửa thiên thai vung gươm chém ngọt ngào trái cấm
Em quẫy đạp-em bồng bềnh bay lên chín tầng mây

Người đàn bà vùi mặt mình xuống chiếc gối nghe con mắt cay cay
Sớm mai anh về với dòng sông giáp biển
Nặng lòng em- cái nắm tay kinh kỳ đưa tiễn
Bóng người đàn ông lủi thủi khuất cuối ngã đường

Ngủ đi em – người đàn bà thương nhất xứ của anh
Đừng lạc nhé ! Giữa dòng đời xuôi ngược
Đừng lỡ lầm nếu em hững hờ đánh mất
Người đàn ông yêu mà chẳng biết lọc lừa

LINH PHƯƠNG

nói về những giấc mơ

tranbangkhue

Giống như một cỗ máy. Tôi chạy theo những cái đuôi đến mệt nhoài cả tinh thần lẫn xác thân. Quả thực, lúc ấy tôi không tài nào phân định nỗi trắng – đen. Nóng – lạnh thì lại trở nên bất thường. Thật ra, đó chỉ là một giấc mơ tôi vừa phải trải qua, vừa phải nhấm nháp ngay khi đang tỉnh táo, chứ không hề nhắm mắt ngủ.

Tôi vác lên vai một cây thập gía quá nặng của quá khứ và tương lai. Con đường dưới bàn chân tôi luôn luôn bỏng rực màu lửa đỏ. Trong kí ức, tôi chưa hề đắn đo nuối tiếc điều gì đó của năm tháng tuổi thơ. Tôi chỉ muốn nó đi qua, đi nhanh, và vèo trôi như thể chưa bao giờ có những vết sẹo thừa thãi trên từng bộ phận của cơ thể mình vậy. Tôi rủ rê bàn chân, tiến về phía trước. Lửa vẫn đỏ. Nước đôi khi ngập ngụa bất ngờ quá nửa thân mình. Đây cũng chỉ là một giấc mơ, có gì đâu mà tôi phải lên tiếng rền rĩ nhỉ?

Chẳng có gì là vui thú. Chẳng có gì là bình an. Chẳng có gì đáng phải nở nụ cười thật tươi, thật rạng rỡ, trừ những lúc bất chợt. Mà, khoảnh khắc đó thì lại khá hiếm hoi. Đôi khi, tôi mơ một giấc mơ duy nhất là được cười. Kể lại cho họ nghe, thì nhiều người bĩu môi nói rằng điều đó là bình thường chứ có cao sang lắm đâu. Tôi cố tỏ vẻ ngạc nhiên xem như cái gì đó hết sức lạ lẫm lắm, để biểu thị sự khao khát đến tột độ phi lí của mình. Nhưng, chả ai thèm để ý.

Thật ra, bạn biết đấy, tôi nghĩ rằng: một vài kẻ cho đến phút cuối tồn tại trên cõi đời này, mơ ước của họ cũng giống như tôi lúc này vậy. Thay vì, đợi đến khi không thể toác miệng ra cười, tôi muốn hết thảy những điều bình thường, dĩ nhiên này xảy ra sớm hơn. Vậy mà, xót xa quá, trong giấc mộng đêm qua: tôi đã mơ mình cười thật to, thật rộn rã, thật hồn nhiên trước một cái thác nước đang xối xả đổ xuống chân núi. Tỉnh dậy, nước mắt tôi lưng tròng, ấm ức, tựa như vừa bị cướp mất điều gì đó quý gía nhất. Hoặc đơn giản là hơi cay cú vì bị ai đó đá đít.

Rồi, đến thời gian sau này, tôi không mơ về những nụ cười nữa. Tôi mơ về những cái đuôi. Chúng biết cách điều khiển trí não và cảm xúc của loài người. Những cái đuôi vô hình, nhưng có uy lực đến khủng khiếp, khiến ai đã bị nó thôi miên sẽ trở nên mù mờ tăm tối. Con đường đi của tôi cũng vậy. Lửa vẫn cháy dưới chân. Nước vẫn phun tới tấp vào mặt tôi hàng ngày hàng giờ đến ngập ngụa cả xác thân. Lửa không phải là thứ óng ánh lung linh sưởi ấm mỗi lần trời trở lạnh nữa. Mà bây giờ, lửa đang đốt cháy cả một mùa đông. Nước không còn là những giọt long lanh như sương đọng trên lá mỗi sớm ban mai, hiền hòa yên lành. Nước dìm chết tất thảy vạn vật từ đầu đến chân.

Tôi bắt đầu muốn quay lại với những điều ước. Giống như câu chuyện cổ tích, tôi chỉ cần xin vài điều ước nhỏ nhoi như thế này thôi: đêm không còn mơ về lửa với nước, ngày không còn rệu rã bước từng bước một như dò đường giữa ánh sáng mặt trời chói chang. Tự nhủ vậy, như một sự hoang tưởng. Mặc kệ, tôi vẫn cứ ước đại đi vậy, biết đâu, sự hoang tưởng lại mở ra một cánh cửa khác cho tôi bước qua. Chỉ là giấc mơ, nhưng lần này giấc mơ đã và đang tiệm tiến dần dần thành một cái đuôi dài dằng dặc như một mắt xích không thể nào gỡ ra được. Bỗng dưng, tôi sợ nó nhân đôi, nhân ba, nhân n lần mắt xích đó tạo thành một tấm lưới khổng lồ, chắc chắn lúc ấy tôi sẽ hết đường thoát. Ngay cả giấc mơ cũng chỉ là một sự hoang tưởng nặng ở thế giới này.

Hôm sau, tôi lại nhìn thấy mình đang đi trên một sợi dây mỏng manh bắc cheo leo, chênh vênh qua một đỉnh núi, cao vời vợi. Phía dưới là những hố sâu hun hút, thăm thẳm như lỗ chết, như địa ngục. Bọn quỷ dữ, chỉ chực chờ tôi rơi xuống và ngoạm lấy nhai ngấu nghiến cho tan nát xác thịt trong cái hàm đầy máu của nó. Gía như, tỉnh giấc ngay bây giờ. Ngoài kia, mặt trời rực đỏ đốt cháy mặt đất, đốt cháy biển đông. Tôi lại nằm đây, nuốt một nắm thuốc an thần và đợi những giấc mơ.

Cái đuôi chập chờn mộng mị, cười khềnh khệch cố lôi kéo tôi theo nó. Tôi đã tỉnh, tôi muốn tỉnh. Tiện có con dao trước mặt, tôi cầm lên và chém phạt một phát không thương tiếc. Vừa chém, tôi vừa quát: “Này thì đuôi, này thì bám riết, này thì điều khiển. Đừng bao giờ nghĩ rằng: mày đủ sức buộc tất cả trí não khối óc và xác thịt của thiên hạ theo sự định hướng nào đó. Đừng hòng thôi miên tao bằng những giấc mơ nhé.”

Cái đuôi láo xược, mờ ảo và ma quái. Sự lập trình sẵn có thể lừa đảo người ta thông qua một con chíp trong phút chốc nào đó. Nhưng, không thể là mãi mãi. Thế giới đã bước qua một cánh cổng khác. Loài người đã bước qua một cánh cổng khác. Họ có thể chặt đứt cái đuôi nào đó nếu họ thực sự căm ghét và không muốn nó tồn tại trước mặt mình.

Sáng mai, tôi hứa sẽ trở dậy vào lúc sớm nhất, để ngắm một mặt trời dịu dàng đang từ từ hé rạng ở phía biển đông. Kẻ nào không biết tôn vinh và trân trọng cái đẹp bằng cách lặng yên nghe tiếng sóng thì kẻ đó sẽ bị biển sâu cuốn trôi và chôn vùi.

Trần Băng Khuê

ĐEM ĐỐT VU VƠ…

trantuan

Chán phố thị
ta tìm về dòng sông cũ
Thấy ngổn ngang trăm cọc nhọn Bạch Đằng
Hồn giặc khóc, vật vờ trong sương khói
Chợt thấy mình có lỗi với tiền nhân.

Ta ân hận, quay đầu lên núi
Kìa ba quân đang mài kiếm dưới trăng
Nghe Nguyễn Trãi đọc Bình Ngô Đại Cáo
Giọng vang vang, khí phách thật kiêu hùng…

…..
Ta xấu hổ, lật từng trang lịch sử
Bốn ngàn năm không một phút đớn hèn
Lũ giặc cướp vào đây là chết
Mảnh đất này vùi xác chúng nhiều phen..

Và bất chợt ta nghe lòng bối rối
Vội vã gom những èo uột, thất tình…
đem đốt hết. Kẻo mai con cháu…
ngờ nghệch, vĩ cuồng tạc bia đá…
Ô danh !

Trần Tuấn

Nắng mùa thu

truongdinhtuan

Hương khuynh diệp ấy là em
Thơm lừng sắc lá xanh mềm tuổi thơ
Vì đâu mà gió lơ ngơ
Bước chim run rẩy trên bờ nắng phơi

Cỏ sân trường ấy là tôi
Hình như mới chớm thốt lời đón đưa
Một bên nắng một bên mưa
Mùa thu ở giữa nên chưa biết buồn

Để hôm xa lạ phố phường
Tìm nhau ta lạc con đường tuổi hoa
Lòng như nắng mới hôm qua
Vàng phai quấn quít bay tà tiểu thư

trương đình tuấn

PHÙ HƯ

vancongmy

Tôi, góc sông này những tháng năm
Không chằng buộc vướng bởi xa xăm
Mà sao tiếc nhớ như mây trắng
Đợi nắng chiều loang ráo chỗ nằm

Bận bịu gì đâu những nhánh rong
Chút phù hư nắm níu đeo mong
Dẫu xa rồi cũng ngày tới bến
May rủi trần ai con nước trong

(Cho dẫu ngầu đục bờ bến ấy
Ừ thôi, kiếp nạn đã xoay vòng)

Văn Công Mỹ