MƯA THÁNG SÁU

tranthoainguyen

Mưa Sài gòn như cô gái làm duyên
Anh xao xuyến hứng giọt mưa tháng sáu
Em bây giờ ở đâu hỡi em yêu dấu
Cơn mưa đầu mùa giăng nỗi nhớ ngoài hiên
Anh thấy trong từng hạt mưa lấp lánh khuôn mặt em
Anh hôn gió bờ môi em hồng ngọt mật
Trái tim anh đặt trên kẻ tay vạn vật
Dâng tặng em yêu theo từng hạt mưa bay
Cơn mưa đầu mùa mát lòng dạ mê say
Thơ anh ngân khúc cho em mưa tháng sáu!
Ô. Mưa trong nắng Sài gòn tóc em bay huyền ảo
Anh suốt đời là thi sĩ của hồn em!

Mưa Sài gòn như cô gái làm duyên
Mưa bất chợt mưa bóng mây mưa trong nắng
Em đến bên anh chăng mà nôn nao phố vắng
Cây lá lung linh đường xao xác hơi may?
Người yêu ơi! Lòng anh đẹp tựa cung điện lầu đài
Đón em về xanh lời thề mưa tháng sáu!
Hãy về bên anh hỡi em yêu dấu
Cơn mưa đầu mùa mát da thịt thơm tho
Giọt hạnh phúc lăn tròn trên gò má ngây thơ
Anh xin dâng trọn hồn vui mưa tháng sáu!
Ô. Mưa trong nắng Sài gòn tóc em bay huyền ảo
Anh suốt đời là thi sĩ của hồn em!

Mưa Sài gòn như cô gái làm duyên
Mưa nũng nịu! Ơi mưa giọt dài giọt vắn!
Mặt đất anh hoang tàn từ độ em xa vắng
Đời anh buồn như cây lá héo vàng khô
Em về bên anh gầy dựng lại giấc mơ
Tắm gội linh hồn cùng mưa tháng sáu!
Vườn Tình Yêu mãi xanh phép mầu,hỡi em yêu dấu!
Khoảnh khắc- Vĩnh hằng trong từng hạt mưa bay
Cơn mưa đầu mùa xin tay nắm chặt bàn tay
Anh dìu em vào mộng cùng mưa tháng sáu!
Ô. Mưa trong nắng Sài gòn tóc em bay huyền ảo
Anh suốt đời là thi sĩ của hồn em!

TRẦN THOẠI NGUYÊN

MIMOZA – MÙA HOA CŨ.

vuhytrieu
một thời để nhớ…

lâu lắm không về thăm chốn xưa
màu hoa vàng lạnh lúc giao mùa
những ngày chủ nhật xưa ra phố
nắm bàn tay ấm dưới hiên mưa

lâu lắm đường xưa lạc lối về
lạc mùa trăng cũ đẫm cơn mê
lạc con dốc nhỏ vàng hoa nhớ
lạc cả đời nhau chuyện hẹn thề

lâu lắm đâu rồi bản tình ca?
áo em vàng mật mimoza
những chiều thứ bẩy em không đến
nỗi nhớ cũng vàng theo màu hoa

lâu lắm dường như đã thiên thu
những đồi thông ẩm ướt sương mù
những đêm khuya lạnh mòn con mắt
dấu bóng hình em dưới bóng thù
mimoza…mimoza… mùa hoa cũ
lạnh buốt đời ta tận thiên thu…

VŨ HY TRIỆU

THUYỀN…( tranh Ann Phong)

11403366_10153476572899456_4819038747940412432_n

Một bức tranh đẹp rơi nước mắt .
Họa sĩ Ann Phong dành tặng Chương Trình HIỂU MÀ THƯƠNG của ban Vận Động Trùng Tu Di Tích thuộc VĂN KHỐ THUYỀN NHÂN VIỆT NAM.
Tôi không hiểu gì lắm về hội họa , nhìn bức tranh , tôi chỉ thấy tan tác đau buồn .Tại sao ???
Bức Tranh sẽ được bán đấu giá gây quỹ với giá khởi đầu là $ 300
Xin các bạn ủng hộ.

…Trong loạt tranh về biển của Ann Phong, những người từng vượt biên bằng thuyền có cái tên chung “thuyền nhân”, có thể nhìn lại chính mình trên bọt sóng đầy ám ảnh trong tranh của bà. Thuyền nhân cũng sẽ thấy trên những con thuyền vụn gãy là kỷ niệm không thể phai nhạt của chính họ. Thuyền nhân cũng khó thể quay đi che giọt nước mắt mà sau 40 năm vẫn còn lăn dài trong nỗi đau chia cắt trên đường vượt biển. Tất cả những câu chuyện viết lại bằng màu sắc của họa sĩ được rút ra từ chính chuyện thật đời mình. Bà vẽ như một cách kể chuyện, câu chuyện của người sống, kẻ chết. Bà dạo chơi trên biển ký ức của mình và sóng gió nổi lên trên canvas...(Trích từ phỏng vấn của MẶC LÂM -RFA , Đài Á Châu Tự Do.)

Dẫu lìa ngó ý…

huongthuy

Dẫu lìa ngó ý còn vuơng tơ lòng
(Truyện Kiều – Nguyễn Du)

Nhà thơ ngụ ngôn người Pháp La Fontaine đã nói một câu rất hay về tình bạn: “Tình yêu thật sự đã hiếm; tình bạn thật sự còn hiếm hơn ”.
Cát Đằng, tên một loài hoa leo có màu xanh pha tím, mỏng mảnh. Bạn tôi cũng dịu dàng, mềm mại, quý phái như hoa.
Chúng tôi thân nhau từ thuở nhỏ, lúc còn học trường tiểu học Đoàn Thị Điểm trong Thành Nội. Hai đứa cứ thế lớn dần lên, lần lượt qua bên kia sông Hương học Đồng Khánh rồi Văn Khoa…
Nhà Cát Đằng nằm ở một góc nhỏ trên đường Mai Thúc Loan. Căn nhà cổ xưa như cuộc sống quan cách của gia đình. Ba Cát Đằng làm công chức cao cấp của Ty Ngân khố Thành phố. Ông đặt cho con những cái tên thật đẹp của các loài hoa : Cát Đằng, Đỗ Quyên, Hoàng Lan…Mấy chị em sống khép kín như những con ốc trong bốn bức tường rêu.
Tôi, tên bình thường : An Nhiên, gia cảnh cũng “thường thường bậc trung”, tóc cắt kiểu Demi Garcon, tính tình đôi lúc ương bướng. Vậy mà chúng tôi thương nhau vô cùng. Chỉ có tôi dám bước qua hai cánh cổng sắt luôn khép kín trong tiếng sủa của con Berger để rủ Cát Đằng đi học. Cũng chỉ có tôi chiếm được lòng tin của ba mạ Cát Đằng. Hai bác nghiêm nghị nhưng coi tôi như con. Hình như hai bác xem tôi là một lá chắn bảo vệ cho cô con gái yếu ớt của mình.
Chúng tôi đã có một thời thơ ấu thật đẹp và hồn nhiên. Những chiều mùa hạ dắt nhau vô con đường bên hông Đại Nội gần cà phê mụ Tôn, nhặt bông phượng đỏ về làm bướm. Những sáng mùa đông sương mù lạnh buốt chở nhau qua cầu Phú Xuân, gió hung hăng như muốn quật hai đứa xuống sông. Những đêm cùng học bài thi, em gái Đỗ Quyên đem vào phòng cho hai chị chén chè hạt sen long nhãn mát rượi. Mạ Cát Đằng thường cười bảo tôi “Phải chi An Nhiên là con trai, bác gả Cát Đằng cho cháu.”
Tuổi dậy thì hồn nhiên và mơ mộng. Cát Đằng đẹp, nhiều người tán. Tan học về bao nhiêu cái đuôi theo, mãi cho đến cửa Hiển Nhơn mới chịu lui gót. Tôi như garde corps cho bạn. Những chàng sinh viên mê Cát Đằng, nhờ tôi làm chim xanh kèm theo nhiều món quà hậu hĩnh, trong số có cả con của một ông Trưởng Ty đang theo học trường Y. Nhưng tôi từ chối. Không ai hiểu bạn hơn tôi. Cát Đằng tâm sự : “Sao mình thấy ông nào cũng nhẵn nhụi như Mã Giám Sinh. Ngó phát ớn!”. Người hùng trong tâm tưởng Cát Đằng phải bụi bụi như tài tử Charles Bronson, đêu đểu với bộ ria giống nụ cười của Clark Gable hoặc chí ít cũng phải lãng tử như Gregogy Peck trên chiếc Vespa cổ chở nàng công chúa Audrey Hepburn chạy khắp thành Rome trong Vacances Romaines… Thâm tâm tôi thấy bạn mình quá lãng mạn. Biết tìm đâu ra người lý tưởng trong môi trường phố thị này?
Ấy thế mà một hôm thật bất ngờ, “người hùng” của bạn đã xuất hiện. Đó là một buổi sáng “đầy sương thu và gió lạnh” như trong văn Thanh Tịnh, đoàn Sinh Viên Sỹ Quan trường VBQGVN về Huế vào Đại Học Văn Khoa tuyển quân. Phải công nhận sự có mặt của họ như một hiện tượng trong sân trường xưa nay toàn áo dài, chemise , quần tây. Trong trang phục worsted thật đẹp, thật hào hùng mặt anh nào cũng sáng láng thông minh. Họ trình bày thật ấn tượng về ngôi trường quân sự ở Đà Lạt ngang ngửa với Saint Cyr của Pháp, West Point của Mỹ. Đứng bên những chàng trai Văn Khoa “trói gà không chặt”, trông các anh cao to và đường đường khí thế. Nhìn qua cạnh mình, tôi thấy Cát Đằng như trên mây. Nàng say sưa dán mắt vào anh SVSQ đang giới thiệu chương trình đào tạo. Anh nói giọng Bắc pha chút Huế. Khi chàng ta đi từng bàn phát những tờ ảnh về ngôi trường cho sinh viên nam, Cát Đằng cũng nhoài người qua xin một tờ. Một thoáng ngạc nhiên nhưng người SVSQ vẫn lịch sự trao tận tay nàng. Mắt hai người gặp nhau. Một cái gì đó thật lạ lần đầu tiên tôi thấy xuất hiện ở cô bạn mình. Má nàng ửng hồng , ánh mắt long lanh, môi mọng ướt mềm…Chuông reo giờ ra chơi, hai người còn trao đổi với nhau suốt cả mười lăm phút bên hành lang Morin.
Ra về, tôi bảo Cát Đằng “ Mình thấy hình như có Coup de Foudre”. Nàng yên lặng do dự một chút rồi bảo tôi : -“An Nhiên ơi, bạn có thương mình không?”. Tôi ngạc nhiên : – “Tui không thương bạn thì thương ai?” – “Vậy thì chiều ni bạn xin mạ cho tui qua chơi nhà bạn hí! ” “- Được thôi mà”
Buổi chiều , tôi ngồi chờ bạn trên chiếc xích đu dưới giàn bông giấy. Nàng xuất hiện trong chiếc áo mousseline màu xanh trứng sáo, quần tây đen. Trông Cát Đằng xinh xắn làm sao. Hèn gì con ông Trưởng Ty mê nàng như điếu đổ. Ngồi nói chuyện với tôi mà mắt nàng nhìn ra cổng như ngóng trông ai…Và bốn giờ chiều. Một bóng người xuất hiện trước cửa. Anh chàng Sinh viên Võ bị hồi sáng…Cô nàng thông minh thật, lấy địa chỉ nhà tôi làm nơi gặp gỡ.
Tôi không tin lắm vào duyên tiền định. Xưa nay, ba mạ vẫn hay nói tôi là kẻ cứng lòng. Nhưng với cô bạn thân Cát Đằng thì tôi nghĩ đó là một mối nhân duyên mà tôi là người góp phần dung túng, ủng hộ. Cô bạn tôi không phải là type người “ yêu cuồng sống vội”. Xưa nay nàng chưa hề cười với ai một nụ. Con nhà gia thế, kín cổng cao tường. Điều gì đã làm cho nàng dám vượt qua khuôn phép gia đình và xứ Huế vốn dễ tiếng tăm?
Chàng sinh viên sỹ quan ấy tên H. đang theo học năm thứ ba trường Võ bị. Anh gốc Bắc, di cư vào Nam năm 54, chọn Huế làm quê hương thứ hai. Anh sống cùng mẹ và chị gái bên Bến Ngự. Anh hơn chúng tôi năm tuổi, trước đây từng học MPC rồi mới quyết định tòng quân. Đợt tuyển quân này là một cơ hội cho anh về thăm mẹ và số phận đưa đẩy để hai người gặp nhau.
Anh H. hiền, tính điềm đạm. Tôi chắc bạn tôi không chọn nhầm. Hai người có một tuần để hiểu nhau. Tôi nhiều lần qua nhà Cát Đằng xin cho bạn đi học nhóm , đi thảo luận… để rồi sau đó chở nàng lên đồi Thiên An, chùa Từ Hiếu hẹn hò. Trong khi hai người trò chuyện, tôi lặng lẽ đi dạo dưới những hàng thông hoặc ngồi đọc sách bên hồ Thủy Tiên để rồi sung sướng ngắm nhìn bạn sáng ngời trong hạnh phúc. Tình yêu làm người ta đẹp ra. Anh H. đưa chúng tôi về thăm gia đình. Căn nhà nhỏ nép mình trong một khu vườn sum suê cây trái.Tiếng chim sâu kêu lách chách. Bà mẹ hiền lành mừng rỡ đón bạn của con; người chị gái tên Hương thương em vô hạn, chăm anh từng ly từng tý. Tôi mừng cho Cát Đằng.
Anh H. trở về Đà Lạt tiếp tục khóa huấn luyện. Nhà tôi trở thành địa chỉ cho hai người trao đổi thư từ. Những bức thư đều đặn hàng tuần. Cát Đằng có một cái hộp bánh CHOCOLATE hình chữ nhật .Đọc xong thư bạn cất vào đó và nhờ tôi giữ hộ. Cuộc tình vẫn nằm trong bí mật với gia đình và bạn bè. Không ai biết ngoài tôi.
Gần cuối năm 1971, sau khi đọc xong lá thư có cái insigne rồng vàng ôm kiếm thiêng, Cát Đằng có vẻ suy tư. Bạn ngồi trầm ngâm trên chiếc xích đu trắng nhìn mông lung. Tôi mở lời : “Răng đó? Giận nhau hả?”. –“Không, có chi mô”. Lần này, bạn cầm lá thư về chắc để đêm nghiền ngẩm.
Con đường đến giảng đường sáng hôm sau như dài ra với sự yên lặng của Cát Đằng. Giờ English Grammar bạn dường như không nghe lời thầy John Schaffer giảng. Lúc ra chơi, đứng ở khung cửa sổ nhìn xuống đường Lê Lợi, Cát Đằng đưa bức thư cho tôi : “An Nhiên đọc đi !”.Tôi liếc nhanh qua bức thư với những lời yêu thương nồng thắm nhớ nhung chất ngất, hơi đỏ mặt vì thấy mình xâm phạm chuyện riêng tư của bạn. A, đây rồi. Cái lý do làm bạn tôi trăn trở hai ngày nay. Anh H. muốn bạn tôi có mặt trong đêm Lễ trao nhẫn truyền thống của SVSQ năm 3 trường Võ Bị. Là răng? Cát Đằng đi Đà Lạt ư ? Tôi không thể hình dung được chuyện này. Không được. Chuyện quá nghiêm trọng với con gái Huế, nhất là với bạn tôi, một người chưa hề bước chân qua đèo Hải Vân.
Ánh mắt của Cát Đằng tha thiết: “ An Nhiên giúp mình đi. Năn nỉ mà. Cam đoan không có chi xảy ra. Mình đi ba ngày. Chỉ bạn mới có thể giúp mình…”. Điều gì khiến một người con gái dịu dàng như Cát Đằng nẫy ra quyết định liều lĩnh thế ? Cái này gọi là sức mạnh của tình yêu đấy ư ? Xưa nay tôi vốn dị ứng với thứ tiểu thuyết lãng mạn của Quỳnh Dao và hoàn toàn không tin vào nhan đề một cuốn truyện của Lệ Hằng “ Chết cho tình yêu”. Không , không đựơc.
Hai đứa không nói chuyện với nhau suốt ba ngày. Nhưng cái vẻ ủ dột của Cát Đằng làm tôi thương xót. Anh H. cũng gởi cho tôi một bức thư ngắn. Anh bảo chính vì xem Cát Đằng là người trăm năm nên anh muốn nàng có mặt trong buổi lễ trang trọng và ý nghĩa này. Anh chịu trách nhiệm về chuyến đi. Lòng tôi mềm ra. Tình yêu xét cho cùng cũng có cái lý của nó. Tôi trở thành kẻ đồng lõa trong cuộc hành trình của bạn.
Vậy là tôi sang nhà xin ba mạ Cát Đằng cho hai đứa vào Đà Nẵng ăn cưới bà chị họ. Mạ bạn tỏ ra e ngại như tất cả những bà mẹ người Huế. Nhưng ba bạn thoáng hơn, hình như ông đang vui vì mới trúng một cú affaire. Hơn nữa, chơi với Cát Đằng hơn mười mấy năm, gia đình bạn tin tưởng tôi tuyệt đối.
Ba của bạn đích thân chở chúng tôi ra bến xe. Ông không thể ngờ rằng khi tới Đà Nẵng, việc đầu tiên của chúng tôi là đến ngay Air Việt Nam trên đường Độc Lập. Và chuyến bay DC six đưa Cát Đằng lên thành phố cao nguyên lúc hai giờ chiều để tôi ở lại với cõi lòng như lửa đốt.
Ba đêm tôi ăn không ngon , ngủ không yên ở nhà bà chị. Tôi chắp hai tay cầu nguyện Chúa, Phật và tất cả các đấng siêu nhiên cho chuyến đi thuận buồm xuôi gió. Tôi hơi ân hận vì đã lạc lòng trước những giọt nước mắt của bạn. Có chuyện gì xảy ra với Cát Đằng chắc tôi không sống nổi…
Và chiều thứ hai tôi đã oà khóc tức tưởi khi thấy bạn bước ra từ chiếc Bus của Hàng không Việt Nam.
Nhưng quả thật, chưa bao giờ tôi thấy bạn xinh như vậy. Mặt Cát Đằng hớn hở như trăng rằm, môi cười rất tươi. Nàng ôm choàng lấy tôi , hôn lên má : – “Cám ơn An Nhiên. Chúng mình cám ơn bạn vô cùng”. Những giận hờn trong tôi đều tan biến.
Trên chuyến xe ra Huế, Cát Đằng tíu tít kể cho tôi bao nhiêu chuyện . Thành phố hoa, những con dốc mù sương, chuyến xe ngựa vòng quanh bờ hồ Xuân Hương và một tấm ảnh đầy ấn tượng. Dưới ánh đèn huy hoàng có hàng chữ Lễ trao nhẫn với hai cái dấu như hai vương miện, bên một cái nhẫn to được trang trí cách điệu lộng lẫy, bạn tôi âu yếm lồng vào tay anh H. chiếc nhẫn Võ Bị. Họ như đôi tân lang và tân nương trong ngày cưới. Mãi mãi đây là một bí mật chỉ riêng ba người biết…
Thi thoảng chúng tôi qua Bến Ngự thăm nhà anh H. Mẹ anh coi Cát Đằng như con dâu tương lai. Bà kể về tuổi thơ vất vả của anh từ khi di cư vào Nam, về lúc cha anh mất , về người con trai cả tên Hùng phải lưu lạc vào Bình Dương kiếm sống. Có những đoạn xúc động, bà rươm rướm nước mắt. Cát Đằng ngồi kế bên bóp nhẹ tay bà. Một hình ảnh dễ thương làm sao. Bà còn dạy cho bạn tôi cách chế biến những món ăn mà con trai thích như canh cua rau đay, bún chả…
Cuối năm 1972 anh H. ra trường. Anh có mười ngày phép trước khi về trình diện tại Sư đoàn 9 Bộ binh có biệt danh “ Mũi tên thép”, Bộ Tư Lệnh Sư đoàn đóng ở Vĩnh Long,Tư lệnh là Chuẩn Tướng Trần Bá Di. Chiến trường miền Trung đang sôi động với chiến dịch tái chiếm Cổ thành Quảng Trị. Đêm đêm tiếng đại bác ì ầm từ phía Bắc vọng về. Thành phố Huế tràn ngập màu áo lính rằn ri .Cát Đằng có vẻ yên tâm với sự chọn lựa này dù hai người có xa nhau về không gian. Mười ngày, tôi phải ra sức bao biện cho bạn để họ có những giây phút hạnh phúc.
Rồi cũng đến lúc chia ly. Chúng tôi tiễn anh vào Nam. Hình ảnh cuối cùng trong mắt tôi là cảnh chàng thiếu úy trẻ trai cầm chặt tay người yêu nói những lời từ biệt : “Em cười đi. Cát Đằng cười đi cho anh yên tâm. Anh sẽ về với em và sẽ thưa chuyện với ba mẹ”. Bạn tôi cười mà nước mắt hoen mi.
Như muốn làm Cát Đằng yên tâm, thư anh H. gởi về liên tục. Anh đóng quân ở Cao Lãnh. Anh làm Đại đội trưởng một đại đội trực thuộc Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 14. Anh nói về một vùng đất trù phú, những người dân miền Nam hồn nhiên, những đồng ruộng bạt ngàn, những cánh đồng chó ngáp… Anh ít kể chuyện chiến trường, chắc để người yêu bớt lo.
Nhà ông Trưởng Ty muốn dạm ngỏ Cát Đằng trước khi con trai đi du học. Cô bạn tôi nói với ba mạ “Con chưa muốn lấy chồng” nhưng sau đó cô gặp riêng chàng trai và bảo “Tôi có người yêu rồi. Anh đừng mất công” .Tội nghiệp anh chàng cứ đứng ngẩn tò te.
Cứ thế, những lá thư nối hai niềm vui. Cát Đằng mơ màng dự trù với tôi về tương lai. Một ngôi nhà với ngọn lửa ấm và những đứa con ngoan sẽ ra đời. Ước mơ trong tầm tay với. Tôi chia sẻ hạnh phúc với bạn bằng nụ cười bao dung.
Buổi chiều hai đứa ngồi trước sân hóng gió thì một cánh chim sâu sa xuống trước mặt. Bạn tôi nâng nó lên, âu yếm vuốt ve “Tội nghiệp mày chưa. Chị nuôi em nhé!”. Mạ Cát Đằng đi từ nhà sau lên hốt hoảng: “Chim sa cá nhảy. Ăn nói bậy bạ”. Rồi bà lấy một nắm gạo muối tung ra sân. Bạn tôi le lưỡi “Mạ sao mê tín dị đoan. Thả con chim thấy tội bắt chết!”

***
Huế tháng chín. Mùa thu. Những trái thanh trà da đã rám vàng. Tôi chở Cát Đằng lên Nguyệt Biều chọn những trái thật ngon về cúng Rằm tháng Tám. Bạn không quên lựa một cặp thật đẹp để biếu mẹ anh H. chưng bàn thờ. Hai đứa ngồi thòng chân xuống dòng nước sông Hương trên bến đò Giã Viên. Trời thật đẹp. Nắng vàng như mật . Gió hiu hiu. Cát Đằng thở dài “Phải chi có anh H ”. Tôi nguẩy vai “Rồi sẽ có ”.
Rẽ vào căn nhà dốc Bến Ngự. Cô bạn nhanh nhẹn nhảy chân sáo trên lối đi quen thuộc. Nhà vắng ngắt. Mùi hương trầm thoang thoảng trên bàn thờ . Chị Hương ngồi lặng trên ghế, nước mắt chảy quanh. Bạn tôi hốt hoảng: “Có chuyện chi rứa chị ? Mẹ mô rồi? ”. Chị Hương òa khóc: “ Mẹ với anh Hùng đi Vĩnh Long. Em ơi, thằng H.”…. Cát Đằng quỵ xuống đất.Tôi và chị Hương đỡ vội lên. Mặt bạn tái xanh, hơi thở ngắn như không còn sức sống. Tôi rót cho bạn một ly nước lọc rồi hỏi han chi tiết. Chị Hương kể cho tôi nghe trong tiếng sụt sịt. Anh Hùng từ Bình Dương gọi ra báo tin anh H. bị thương nặng trong cuộc hành quân vào mật khu ở quận Mỹ An, vùng Đồng Tháp Mười . Mẹ chị đang trên đường vào, chưa biết chi thêm.Trong bóng chiều chạng vạng, ba chị em ngồi yên lặng. Không ai đủ sức đưa tay bật ngọn đèn điện. Chao ôi! Tuần trước tôi vừa đưa thư cho bạn. Anh đang đóng quân ở Đồng Tháp. Anh kể cho bạn nghe về Gò Công – quê hương của bà Từ Dũ mẹ vua Tự Đức; về cam Cái Bè; về mận Trung Lương …Thượng đế ác nghiệt vậy sao? Anh vừa tròn 24 tuổi, ra trường mới chín tháng…
Không biết bằng cách nào tôi đã đưa Cát Đằng về đến nhà. Bạn ngồi sau tôi xiêu vẹo như một cái xác không hồn. Tôi nói với bác gái bạn bị trúng gió rồi đưa bạn vào phòng. Chân tay bạn lạnh ngắt. Đêm ấy tôi xin ở lại, thi thoảng lắng nghe tiếng rên rỉ đau đớn của Cát Đằng. Mọi ngôn ngữ trong giây phút này đều bất lực!
Nhưng nỗi bất hạnh không chỉ ngang chừng đó.Trong khi Cát Đằng định thưa thật với ba mạ để xin phép vào Vĩnh Long thì mươi hôm sau, mẹ anh H. nhắn ra anh H. không chỉ bị thương nặng mà còn mất tích. Cầm bằng như anh đã chết.Thôi còn mong chi nữa. Lần này thì bạn tôi quỵ ngã hoàn toàn. Nỗi đau ẩn giấu tận trong tim biến bạn thành một bóng ma câm lặng. Bác gái cứ căn vặn tôi hai đứa có chuyện chi không. Làm sao tôi dám trả lời. Thôi cứ đế bác tối tối thắp nhang ngoài cổng ngõ cầu cho con gái yêu đừng mắc “bệnh đàng dưới ”.
Phải sau ba tháng mẹ anh H. mới ra Huế. Bà sút gần bốn kí và hốc hác hẳn đi. Bà ôm lấy Cát Đằng khóc nghẹn “Con ơi! Bác không có duyên làm mẹ con rồi !”. Cát Đằng òa lên nức nở. Thôi cứ để bạn khóc cho nhẹ lòng.Tôi thật đau xót khi thấy đêm đêm bạn lôi tấm ảnh hai người trao nhẫn ra ngắm nghía.
Không hiểu sao nhà anh H. không lập bàn thờ. Có lẽ niềm tin của người mẹ cho rằng con mình chưa chết. Vâng, mất tích chưa hẳn là chết. Mắt anh sáng, tai anh to vậy mà. Chắc bác vẫn hy vọng một phép mầu nào đó chăng? Căn nhà đóng kín cửa. Mẹ anh H. vắng nhà luôn. Chị Hương bảo bà vào Bình Dương chơi với cháu nội cho đỡ buồn. Khu vườn rộng thui thủi một mình chị. Mỗi lần ghé thăm, nhìn Cát Đằng, chị lại bệu bạo “ Số em sao khổ thế H. ơi !”
Những đợt trao trả tù binh hai bên ở Lộc Ninh, Quảng Trị làm cho Cát Đằng hi vọng. Biết đâu anh sẽ trở về. Anh chỉ bị thương thôi mà. Bạn chăm chú theo dõi trên những tờ báo Tiền Tuyến, Sóng Thần… Nhưng tháng ngày qua. Niềm hi vọng hầu như đã thành tuyệt vọng. Bất chấp hiệp định Paris, chiến sự ngày càng ác liệt. Máy bay cứu thương liên tục hạ xuống bệnh viện Mang Cá trong Thành Nội…
Rồi Huế nháo nhác, tan tác…Rồi đất nước tang thương…
Ba Cát Đằng đi “cải tạo” vì bị xếp vào loại “ Ngụy quyền”. Bạn tôi bước xuống cuộc đời.
Trải một tấm nilon ở góc chân cầu Trường Tiền, Cát Đằng đi bán chợ trời. Cô tiểu thư con nhà quyền quý ấy bây giờ phải bươn chải với gánh nặng áo cơm của cả gia đình. Bạn bán từng cái áo nhà binh cho người đi lao động, vài cái loon Guigoz tiện cho người đi thăm nuôi, những chiếc áo dài cũ của vợ các sỹ quan một thuở huy hoàng, gói thuốc lá Tam Đảo nặng mùi khét lẹt cho đến cái chén kiểu, ly tách sang trọng một thời vang bóng…Nhìn bạn đếm từng hào tiền Bắc sau buổi chợ , tôi chảy nước mắt. Nhưng một nửa đất nước đều như thế, biết làm sao.
Thi thoảng nhờ em gái Hoàng Lan coi hàng, chúng tôi lên Thiên An quét lá thông về làm chất đốt. Củi cũng phải mua bằng tem phiếu mà gia đình chúng tôi làm gì có đặc quyền đặc lợi ấy. Sau khi nhét đầy lá vào hai bao tải, chúng tôi ngồi dựa gốc cây nghỉ mệt. Cát Đằng âu sầu đưa mắt nhìn chung quanh.Tôi biết trong đầu bạn đang nghĩ về những kỷ niệm xưa. Cũng nơi này, ngày ấy có một cặp tình nhân thật đẹp đang nắm tay nhau đi dưới rặng thông. Cảnh đấy người đây nhưng một người đà khuất bóng. Tôi không dám gợi lên điều gì với bạn. Mọi chuyện cứ như là một giấc mơ nhưng mỗi sáng mai thức dậy lại phải đối mặt với sự thật kinh hoàng.
Thành phố tăm tối hẳn đi. Mới 8 giờ tối điện đã cúp. Những chiếc Honda đổi chỗ cho giai cấp cán bộ. Huế xuất hiện xe đạp thồ. Những khuôn mặt đau khổ nhếch nhác. Những câu ca dao hiện đại được thầm thì chuyền miệng. Những bài hát được chế biến bi hài. Người ta nhắc lại câu nói mười bốn chữ bất hủ của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. “Rồi cứ thế ni mãi răng???” Mạ tôi ngữa mặt than trời rồi chặt hết những cây mai vàng thay vào mấy luống khoai lang cứu đói!
Bốn năm sau, ba Cát Đằng chết trong tù vì sức tàn lực kiệt. Mạ bạn khô nước mắt đi thăm mộ chồng ngoài Thanh Hóa. Một mô đất trơ trọi trong rừng được đánh dấu bằng viên đá xanh lớn. Còn đâu người đàn ông khả kính trụ cột gia đình . Tóc bà bạc trắng. Cái lúm đồng tiền xưa kia đã trở thành ngoặc đơn rồi ngoặc kép.
Từ nước ngoài người con trai yêu Cát Đằng ngày đó xuất hiện như một vị cứu tinh. Anh ta gởi về giúp gia đình bạn những xấp vải, những gói thuốc tây, những đồng đô la được khéo léo nhét trong hộp sữa… Tất cả chỉ nhằm một mục đích chinh phục tình yêu của người con gái Huế mà anh ta say đắm. Mạ bạn tha thiết khẩn nài “Con ơi! Thằng đó nó tốt, lại hiền lành, con nhà trí thức. Lấy hắn con cũng sướng mà các em cũng đỡ khổ. Với lý lịch này thì nhà mình không ngóc đầu lên được . Con chỉ có nước lấy anh xe thồ hoặc ông nông dân mà thôi” . Bạn tôi gục mặt vào hai bàn tay khóc nghẹn. Phải chăng bạn đang nghĩ đến một Thúy Kiều hiện đại?
Tôi khuyên Cát Đằng : Mọi chuyện đã trở thành quá khứ. Anh H. mất rồi. Đã gần 7 năm. Bạn đâu phải là kẻ phụ tình. Trong hoàn cảnh này đôi khi phải thực tế. Bạn yên lặng gật đầu.
Mọi chuyện được thu xếp nhanh chóng. Bà mẹ chú rể từ nước ngoài trở về. Một vài lễ nghi cần thiết trong buổi giao thời. Và xúc tiến giấy tờ bảo lãnh.
Tôi đưa Cát Đằng lên thăm chị Hương lần cuối. May sao lại gặp mẹ anh H. từ Bình Dương trở về. Bác bảo có thể bác sẽ vào trong đó ở hẳn. Bác ôm vai bạn tôi: “Bác mừng cho con. Biết tin này ở đâu đó chắc H. vui lắm”. Trên bàn thờ vẫn chưa có ảnh của anh. Ghê gớm thay lòng tin của người mẹ. Bạn tôi xin phép được lạy trước bàn thờ ba lạy và nhét vào túi mẹ anh H. chút vốn liếng còm cỏi. Nước mắt người mẹ ứa ra tràn trề. Bà khẽ kêu “ H. ơi! ”.
Trước khi xuất cảnh, Cát Đằng đến nhà tôi ngủ lại một đêm. Bạn đem theo cái hộp bánh CHOCOLATE chứa những bức thư của hai người, tấm ảnh trao nhẫn được đặt lên trên. Cát Đằng bảo tôi “An Nhiên là một chứng nhân quan trọng trong mối tình lớn của mình. Mình không thể mang theo kỉ vật quý giá này. Bạn giữ giúp mình cho đến lúc nào còn có thể ”. Tôi cất vào tủ sách, lòng ngậm ngùi thương bạn.
Thời gian qua, Cát Đằng đã có một gia đình êm ấm. Ông chồng thành đạt, hai con một trai một gái xinh xắn. Cả hai đang định cư ở thành phố Denver, tiểu bang Colorado. Tôi mừng cho bạn. Cuối cùng, một cô gái ngoan hiền như bạn tôi nhất định phải được sung sướng. Qua những cuộc trò chuyện từ nước ngoài, tôi tránh gợi chuyện ngày xưa.
Tôi cũng đã có gia đình. Một ông chồng do bàn tay số mệnh sắp đặt. Một ông chồng yêu vợ thương con nhưng vô tâm. Tôi cũng chẳng bao giờ hé môi về chuyện bạn mình…

*
Ngày mai, gia đình tôi sẽ vào Nam lập nghiệp. Mở tủ sách, tôi cầm cái hộp bánh cũ. Những bức thư nhuốm màu thời gian nhưng tấm ảnh vẫn còn rất rõ. Ôi! Nụ cười hạnh phúc của cả hai người.
Tôi không thể đem chúng theo. Đốt thì tôi không nỡ. Suy đi tính lại, tôi quyết định đem lên nhà chị Hương, nhờ chị đặt trên bàn thờ anh H. Không còn gì để hy vọng về anh nữa rồi.
Căn nhà vẫn như xưa dù thời gian có làm nó già và cũ kỹ hơn. Tiếng chim sâu vẫn kêu lách chách trên những vòm cây xanh. Tôi dựng chiếc xe vào gốc ngọc lan, lòng bùi ngùi. Kỷ niệm ngày xưa ùa về trong ký ức. Một chiếc xe lăn trên hàng hiên. Tôi trách mình đã lâu không thăm mẹ anh. Cuộc sống bận rộn với cơm áo, gạo tiền làm mình trở thành người có lỗi.
Tôi tự nhiên đẩy cửa vào phòng khách khép hờ. Một người đàn ông nằm trên ghế sofa, tay cầm cuốn sách, chiếc chăn mỏng đắp ngang thân, phía bên dưới là một… khoảng trống. Anh ngước nhìn lên. Có phải tôi đang mơ? Đôi mắt ấy , gương mặt ấy… Đúng là anh H. Anh cất tiếng “An Nhiên đấy ư em? ”. Tôi bàng hoàng , ngơ ngẩn.
Vâng, anh H. Anh bị thương nặng nhưng không chết. Trong cuộc hành quân của Tiếu đoàn vào mật khu Đồng Tháp Mười, đại đội của anh sa vào ổ phục kích. Môt mảnh B40 đã bay vào lưng anh, chạm ngay cột sống. Anh được đưa về quân y viện Phan Thanh Giản, Cần Thơ. Bác sỹ cho biết mảnh đạn đã làm đứt dây thần kinh tủy sống dẫn đến khả năng bại liệt suốt đời. Trong cái đau đớn tận cùng của thể xác, anh vẫn nghĩ đến Cát Đằng. Không thể gắn số phận bất hạnh của mình đối với người yêu, anh cắn chặt răng bảo mẹ báo tin với Cát Đằng là mình bị mất tích. Và người mẹ đã làm theo lời anh…
Từ Cần Thơ, anh được chuyển vể Tổng y viện Cộng Hòa. Các bác sỹ và y tá tận tâm chăm sóc anh. Vết thương bên ngoài tạm ổn, anh sang Trung tâm phục hồi chức năng. Mẹ già theo sát anh từng bước. Đó là lý do khiến bà bảo với Cát Đằng mình vào Nam sống với người anh cả.
Sau ngày 30 tháng 4, tất cả thương binh nặng nhẹ đều bị tống ra đường. Anh về Bình Dương nương tựa nhà anh Hùng. Vết thương không còn được quân y viện chăm sóc, lâu ngày bị hoại tử và hai chân anh bị tháo khớp tới háng. Mẹ già mất, Cát Đằng đã đi xa, anh quyết định về Huế sống phần đời còn lại bên người chị gái thương yêu. Gần mười mấy năm nay anh sống nhờ vào sự cưu mang, đùm bọc của các khóa Võ Bị ở nước ngoài, những chiến hữu cùng đơn vị và một số anh em còn kẹt lại ở quê nhà… Cao quý thay tình nghĩa đồng môn của những chàng trai cùng trường Mẹ! Anh cũng tự ôn kiến thức để dịch thuật, để luyện thi cho các học sinh nghèo vào Đại học. Cụôc sống không đến nỗi thấy mình là người vô dụng.
Cầm xấp thư và tấm hình, anh H. trầm ngâm bảo tôi: “Anh cám ơn An Nhiên. Cố vật đã tìm về cố chủ. Cứ để cho Cát Đằng nghĩ rằng anh đã chết. Đó chính là tình yêu của anh giành cho cô ấy”.
Anh nâng chiếc nhẫn có viên hồng ngọc trên ngón tay áp út, âu yếm hôn vào nó. Chiếc nhẫn năm xưa, Cát Đằng đã lồng vào tay anh trong đêm Lễ trao nhẫn trước phạn xá trường VBQGVN.
Một cơn gió lạnh thoảng qua. Mùa Đông đã về trên thành phố.

HƯƠNG THỦY

truongdinhphuong

Và tôi
và gió
và mưa
và năm
và tháng
và thưa
và dày
và trưa
và tối
và ngày
và sông
và biển
và đầy
và vơi !
Chiêm bao một giấc cõi đời
Tỉnh ra  sao chỉ  một trời cỏ hoang ?

Trương Đình Phượng

Xóa Một Bài Thơ Rồi Viết Lại

tranvanle

Xóa một bài thơ tự thấy buồn
Lỗi mình không cặn kẽ nhiều hơn!
Hỏi thăm chuyện một người xa lắm
Nghe nói nhiều điều rất dễ thương…

Nghe nói hình như có ít điều
Chắc rằng có chút dệt hay thêu
Người ta tô vẽ cho thêm chuyện
Để thấy lòng mình có thật yêu?

Mình biết người ta không phải xấu
Thương mình nên mới nói mênh mông
Dĩ nhiên ai đó là sông biển
Mình chỉ là mây qua biển sông!

Mình nhớ ai nên mình kiếm tìm
Nhiều khi mình ngó mãi theo chim
Nhiều khi mình hỏi hoa dò cỏ
Mong tiếng vọng về một tiếng Em!

Mình nhớ người xa ôi quá xa
Hỏi thăm bè bạn thấy chan hòa
Dẫu nghe bạn nói “tôi không rõ”
Thì biết chút nào cũng thiết tha!

Bạn nói nữa đi hay hết nói
Người xa mình nhớ quá, làm sao?
Gió trăng có sẵn mà ăn được
Thì nhớ bao nhiêu cũng ngọt ngào!

Làm một bài thơ…không chính xác
Xóa rồi không trách bạn gì đâu
Người xa, mình biết thừa khiêm tốn
Mình nhủ lòng “thà thiếu một câu”!

Một câu “thà thiếu” là ân hận
Để một mai chiều thơ thật hay
Người ở rất xa khi đón nhận
Thấy lòng mình hiện ở bàn tay…

Bàn tay năm ngón, bàn tay ngọc
Em của anh ơi, nhớ lạ lùng!
Nếu được là chim bay tới đó
Tha về em cả ánh trăng trong…

Trần Vấn Lệ

MỘT BÔNG HỒNG CHO CHA

DSC00443

Trong thời hồng hoang của lịch sử, con người chỉ biết có mẹ. Khỏi cần tìm hiểu đâu xa, cứ nhìn các con vật thì biết: gần gủi và hiền lành là con chó, con gà, xa xôi và hung bạo như con beo, con cọp. Sinh ra và lớn lên chỉ biết có mẹ, lúc thúc quanh mẹ. Bởi một lẽ đơn giản: khi biết mình mang thai, con cái thường sống cách ly con đực, thậm chí còn cắn đuổi con đực không cho lại gần.
Con người sau này thì không. Cha săn sóc mẹ khi mẹ mang thai, cha đỡ đần mẹ, cha giúp tay mẹ pha bình sữa, giặt giũ tã lót khi cha mẹ cùng nghèo. Khi cúng đầy tháng, cha châm hương đốt đèn thành kính cầu xin Mụ Bà và tham lam cầu khắp thần linh phù hộ cho con mau ăn, chóng lớn. Có lẽ đó là lần đầu tiên, lần trọng đại nhất trong đời mà cha trọn lòng nghĩ đến những vị thần linh. Vì con mà tin, mà khấn, mà cầu… cho dẫu mang tiếng mê tín cũng xin sẵn sàng vui nhận.
Con lên hai tháng, ba tháng, nằm ngửa huơ tay huơ chân, mở to đôi mắt ngơ ngác, xoay đầu nhìn vu vơ sang trái sang phải. Rồi con biết hé miệng cười, cái cười vô nghĩa nhưng đủ cho cả nhà mừng rỡ reo vui. Rõ ràng là nụ cười của con làm nở những nụ cười xung quanh, làm rạng rở những khuôn mặt, xóa mờ những nếp nhăn nơi trán. Lần lượt biết lật, biết bò… rồi con ngồi vững, rồi vịn tay đứng được, rồi bước những bước rụt rè. Tiếng reo vui, tiếng khuyến khích vang lên rộn ràng đầm ấm, trong đó có lẫn tiếng của cha.
Cha được phân công ngồi bón cho con những muỗng cơm đầu tiên, cha phải la: “Ùi ùi! Coi chừng con chuột kìa. Ăn mau chớ nó ăn hết,” rồi thừa lúc con đưa mắt tìm, cha đút nhanh muỗng cơm vô miệng. Hỡi ơi, từ ngày có con, cha trở thành nhảm nhí đáng thương. Con mới mở miệng ngáp, đôi mắt mới khép hờ mà cha đã vội vàng ru, ru cái kiểu nửa ngâm, nửa hát vụng về và chọn những câu nhảm nhí phù hợp với trạng thái tâm hồn của cha lúc đó.
À ơi, con gà cục tác lá chanh…
Có thể cha giỏi nhạc, cha hát hay nhưng cha ngượng không dám nghiêm trang cất giọng sợ người khác nghe biết cha đang tràn trề niềm vui, no nê hạnh phúc. Vả chăng mặt con ngây ngô thế đó thì cha biểu diễn nghệ thuật để làm chi? Cha phải ngây ngô theo, con duỗi chân thì cha nói: “Chà! Bộ định về thăm ngoại hả?” Rờ cái đít nung núc thịt, cha bế chạy vừa nói nựng: “À, con heo ú đây? Ai ra mua!” Quả là những giây phút hân hoan cực độ. Nhưng phải chợt dừng lại. Sợ người khác nghe. Phải che giấu hạnh phúc để tỏ rằng mình không tầm thường. Khi có học, cha thường phải tạo vẻ mặt nghiêm trang. Dưới thời Nho giáo, cha được gọi là nghiêm đường. Hai mươi tuổi đậu cử nhân, đậu tiến sĩ thì phải mang bộ mặt lạnh lùng của một ông quan. Chỉ có người cha quê mùa mới thong dong cõng con bốn, năm tuổi đi chơi nghêu ngao khắp xóm, bứt lá chuối quấn kèn. Lớn lên cha con cùng làm lụng cạnh nhau trên sân lúa, giữa rẫy khoai. Xã hội hôm nay trí thức hơn, văn minh hơn, trong cuộc sống cha một nghề, con một nghề, ai lo phần nấy, rốt cuộc tình thương cha con trở nên lợt lạt. Tình quấn quýt cha con chỉ thể hiện khi con còn nhỏ: quá bậc tiểu học, con bắt đầu lớn, bắt đầu chọn bạn là bắt đầu xa cha. Từ đó cha chỉ đóng vai nguồn cung cấp tiền cho con ăn học, may sắm, nguồn kinh nghiệm khôn dại đưa lời chỉ bảo khuyên răn. Tất cả đều là lý trí lạnh lùng.
Chớ mẹ thì không. Nghĩ đến mẹ là một chuỗi hình ảnh êm ái hiện ra: mẹ mang nặng đẻ đau, vạch vú cho bú, mẹ bồng ru ngủ, mẹ ôm hôn nựng, mẹ tập đứng tập đi. Khỏi cần lý luận, khỏi nhìn đâu xa, cứ nghĩ đến mẹ là như thấy rõ hồi nhỏ mình nằm như thế nào trong vòng tay mẹ, ỉa đái tự do trên mình mẹ và me lo giặt, lo thay, quen thuộc với mùi khai, mùi thúi. Với cha thì phải suy nghĩ mới thấy, bởi mọi sự thương yêu chỉ hiện rõ khi mình còn nhỏ. Bây giờ nếu may mà biết được là nhờ ngẫu nhiên thấy một người cha nào đó đang thương yêu săn sóc đứa con nhỏ của họ.
Tìm trong văn chương thì thường chỉ gặp loại:
Công cha như núi Thái Sơn
Núi này nhất định là phải lớn lắm, và công cha cũng lớn như vậy. Không thấy ghi một nét cảm động về người cha mà chỉ phác qua một hình ảnh uy nghi, nhưng xa cách, gợi sự tôn sùng. Mọi người đều thuộc, đều đọc làu làu, nhưng mà thản nhiên như đọc khẩu hiệu.
Người cha quen thuộc, cha của Mẫn Tử Khiên, thì được vẽ là một người biết làm bổn phận: bổn phận cưới vợ kế khi vợ cả chết và bổn phận đuổi kế thiếp vì Mẫn Tử Khiên bị ngược đãi. Mà cũng ngẫu nhiên mới biết được con khổ khi thấy con mặc áo rách run rẩy đẩy xe cho mình.
Người cha trong cuốn Luân Lý giáo khoa thư dễ thương hơn. Truyện kể: Mẹ đi chợ mua về cho con trái cam. Con nghĩ đến cha làm lụng nắng nôi, liền cầm trái cam chay ra đồng tặng cha. Cha nghĩ đến mẹ đầu tắt mặt tối ở nhà, liền cầm trái cam đem về tặng mẹ. Trái cam đi một vòng, dài và rộng hơn sợi dây tình cả con thương cha, rộng gấp ba lần vì thêm tình mẹ thương con, tình chồng thương vợ.
Cổ văn thường nặng nghĩa lớn, nhẹ tình riêng. Phạm Trọng Yểm, tể tướng đời Tống, sai con là Thuần Nhân chở năm trăm thùng thóc về quê. Ðến Ðan Dương, Nhân gặp Thạch Man Khanh là bạn cũ của cha đang khốn quẫn vì bị ba cái tang dồn dập. Nhân đem tặng hết năm trăm thùng thóc. Lại nghe hai cô gái đến tuổi mà đang ế chồng, liền tặng luôn cái thuyền. Về kể lại chuyện cho cha nghe. Nghe tới chỗ hai cô gái của bạn ế chồng. Phạm liền ngắt lời hỏi: “Sao con không cho luôn cái thuyền?”
Cuộc sống bắt cha hướng mắt ra ngoài đời, nhìn đời, lăn lộn với đời. Mẹ thì nhìn vào trong nhà, nhìn vuông sân chái bếp, con gà con chó, cây ổi, cây xoài và bầy con của mẹ. Cha lặng lẽ đi làm kiếm tiền, con đâu biết bao nhiêu gian lao cực nhọc, lo toan đối phó làm mệt mỏi gân cốt và trí óc cha. Về đến nhà tìm sự yên nghỉ, nhiều khi mang cái bực bội, cái cáu gắt từ ngoài xã hội về theo. Con phải len lén bỏ ra sau nhà, im lặng, càng xa càng tốt, gần như muốn xóa bỏ cái hiện hữu của mỉnh. Sự cách xa giữa cha con thường bắt đầu nhẹ nhàng như vậy. Càng thêm xa cách bởi sao cạnh mẹ con thấy êm đềm. Ai làm ra tiền không cần biết, chỉ muốn nhai viên kẹo, muốn cắn trái ổi là chỉ cần thỏ thẻ với mẹ. Mua cây viết mới, sắm đôi dép mới… thảy thảy mẹ đóng vai bà tiên. Tội thân cha, cạnh bà tiên hiền, cha thành Thiên Lôi; bà tiên càng hiền, cha càng thành La Sát.
Không, cha không muốn vậy. Cha thương con nhưng cuộc sống phân công mỗi người mỗi việc. Mẹ như cọng mảnh, nhánh thấp cành gần để trái non xúm xít bâu quanh. Cha như thân vững chắc, bám rễ thật chặt, hút nhựa nuôi lá, nuôi hoa, nuôi trái. Thân chĩa từng cành lớn đâm ngang, thân vươn những nhánh cao phủ trên đầu che mưa che nắng. Cha cân nhắc lời nói, chỉ nói khi cần, con lờn mẹ thì cha cần phải nghiêm. Mẹ là tình cảm, cha là lý trí, mẹ lạt lòng, cha phải giữ kỷ cương. Mẹ chín bỏ làm mười, cha phải cầm cân nảy mực. Ði vào bước trưởng thành từ mười ba, mười bốn tuổi, con càng ngày càng ngại cha, tránh cha rồi xa cha là vậy.
Nhưng đừng đơn giản bất công, quên cái thời ta lên năm, lên mười, kẻo thành bội bạc. Hãy nhìn những đứa ba tuổi làm nũng với cha. Bắt cha bế chạy nhong nhong. Bắt phải dắt ra cổng đứng nhìn xe cộ. Bắt phải có cha nằm cạnh quạt cho mới ngủ. Lên tám, lên chín thì hay chạy tới nơi cha làm việc để đón cha cùng về. Trên đường đi phải nắm tay cha, thỉnh thoảng nhìn lên mặt cha, dẫu là khuôn mặt tầm thường hay xấu xí.
Tuổi già chiếc bóng, mẹ dễ sống theo con, dâu, rể. Lúc thúc sớm hôm, chăm chút tỉ mỉ, mẹ uốn mình theo nếp sống, mềm mỏng ung dung như nước. Thường cha thì không, cha ít cam khuất phục rể dâu. Chịu sống hắt hiu, thiếu thốn, cố tránh trước cái giả bộ nặng tai của dâu, cái im lặng cố ý của rể. Mẹ biết ý nên khi nhắm mắt vĩnh biệt, mẹ thường thổn thức dặn dò: “Anh ở lại nuôi con. Gắng kiếm một người hiền lành giúp đỡ. Chớ đàn ông không chịu khổ được lâu.”
Phải, tuổi càng cao, khổ càng chồng chất, dâu rể không ăn hiếp thì có con muỗi, con kiến ăn hiếp thay. Cứ cắn, cứ chích, nạn nhân nghe đau đâu đập đấy, chớ mắt mờ đâu còn thấy rõ. Nhìn lên bầu trời đâu còn thấy chòm Bắc Ðẩu mà mới ngày nào lững thững dắt con đi trong sân cha chỉ cho con nhìn.
Con nay đang tuổi trung niên, bận theo quyền lực, vui với vợ con, bè bạn, việc báo hiếu cho cha thường tỏ ra bủn xỉn. Nếu có ai trách hững hờ chểnh mảng thì thiếu chi lý lẽ dẫn ra: “Ðược vậy còn đòi gì nữa?… Trời ơi, thì giờ đâu!”
Phải thì giờ đâu? Người xưa hay nhắc phận con kíp lo báo hiếu bởi “tử dục dưỡng nhi thân bất đãi” con muốn nuôi mà cha mẹ không chờ.
Khi con ở tuổi trung niên thì cha vào giai đoạn già yếu. Bề ngoài ngó dẫu phương cương nhưng nội tạng thường rệu rã. Dễ hiểu thôi mà: một đồ vật dùng đã sáu chục năm rồi thì dẫu lạc quan đến đâu cũng chỉ có thể tạm nói: “Cũng còn khá.” Cha thỉnh thoảng cảm thấy hơi đau nơi này, chợt nghe có cái nhéo nơi kia. Ðôi hồi bỗng mệt vô cớ. Nhưng cha thường im lặng không nói. Những câu nói không còn cần thiết, êm ái cho con nữa như khi con còn nhỏ. Bây giờ, những câu nói đều quấy rầy con. Ðành âm thầm nghĩ đến câu Vạn vật vô thường.
Sách xưa dạy: “Hôn định thần tỉnh,” ta dịch: “Tối viếng sớm thăm,” lạt lẽo nghèo nàn nếu không có người giảng cụ thể rằng cha mẹ già thường cần đôi mắt và bàn tay con, trước và sau giấc ngủ. Ðã nằm trong mùng thì lười đứng dậy để khép bớt cánh cửa, để lấy cái mền, để tìm lọ dầu. Ngủ một đêm sáng dậy, trong mình có gì thay đổi, đó là lúc con cần hỏi han mẹ cha mới dám giãi bày.
Gần như mọi người con, cuối cùng đều âm thầm tự trách, lặng lẽ xót xa. Cha biết trước tâm trạng đó, phòng xa ngày nào mình từ trần con mới chợt ân hận muộn màng, nên trong mỗi bức thư gửi con, cha đều kết thúc bằng sự bằng lòng, rằng con đã học hành thành đạt và cha mãn nguyện, cha vui. Lòng vị tha, lòng hy sinh cho con kéo dài mãi sau khi nhắm mắt.
Báo hiếu đâu chỉ món quà, mà có thể đôi tháng gởi một bức thư. Nội dung đâu đòi hỏi cao siêu, chỉ cần mươi dòng lược kể một chuyện đã nghe, một điều vừa thấy. Thì cũng như bè bạn gặp nhau, chào nhau một câu rất nhảm mà vẫn rất cần: “Ði đâu đó? Mạnh giỏi?” Sinh nhật cha, tặng một cành hoa. Nếu ở thành phố xa, hai ba đứa con gởi về hai, ba bức điện chúc mừng, tốn không bao nhiêu mà tạo được sự rộn ràng tới tấp. Niềm vui tinh thần đâu thua bữa tiệc cao lương?
Ngày Vu Lan, nhiều chùa tổ chức lễ hội Bông hồng cài áo. Hoa hồng tượng trưng cho mẹ. Ðể tỏ lòng thương nghĩ đến cha, nhiều nơi buộc thêm dải nơ tượng trưng cho cha. Cha còn: nơ xanh. Cha mất: nơ trắng. Lễ đường xếp thành bốn dãy, dãy cha me song toàn: hoa hồng nơ xanh. Mẹ còn, cha mất: hoa hồng, nơ trắng. Mẹ mất, cha còn: hoa trắng, nơ xanh. Mẹ cha đều mất: hoa trắng, nơ trắng. Người dự lễ đứng theo hoàn cảnh của mình.
Có lần, một em nhỏ tuổi chừng lên tám đứng trong hàng hoa trắng nơ trắng. Em nhìn quanh, tủi thân khóc òa và cả lễ đường cùng khóc òa theo.
Cha cũng như mẹ, rồi một ngày: “Ðỉnh hoa biểu từ khơi bóng hạc” (Cha mẹ mãn phần) nên mỗi người con đều phải vội vàng. Trả hiếu không bao giờ đủ, không được coi là dư bởi tình cha thương con là “cho” chớ không phải “cho vay” để có thể gọi là trả đủ.

VÕ HỒNG

CHÉM

aminh

Khu công trình xây đến tầng mười một. Sẽ còn phải xây cao nữa. Thêm hàng tầng, để khu công trình trở thành cao ốc chọc trời, hải đăng của toàn thị trấn. Cuối mỗi tuần, những ông chủ họp bàn. Họ nói rằng cần phải chặt bỏ Xà Cừ. Bốn ông chủ, đều nhất trí với nhau. Đám trợ tá cũng gật theo ông chủ mình. Số người làm, bao gồm cả dân thị trấn biểu quyết 50/50.
Xà Cừ mọc sừng sững, án ngữ ngay trước tòa kiến trúc. Xà cừ cao trên hai mươi mét, sừng sững như cái cột chống trời. Phần thân của xà cừ rộng hơn vòng tay của mười người lớn. Lớp vỏ rắn như bọc thép. Cành Xà Cừ to, nhìn gân guốc và cơ bắp. Các tán cây mọc đan xen, lá cành xum xuê, xòe như cái ô khổng lồ. Không một ai ở thị trấn biết niên tuổi của cây. Chỉ mang máng, nhiều thế hệ đã sinh ra dưới tán cây Xà Cừ. Những bé trai, bé gái trưởng thành theo tháng năm, kết hôn, sinh nở rồi già chết. Xà Cừ vẫn đứng đấy, tại mô đất hoang giờ là khu công trình. Xà Cừ đổ bóng xuống khu công trình và che mát cho những ai đi lại dưới cây. Thị trấn này, chỉ có một cây xà cừ. Cây nảy mầm, bám rễ vào đất mẹ và uống mưa gió để ngày một vạm vỡ. Từng có những cành Xà Cừ vươn dài, và đổ bóng che cho những cây con đứng lẻ loi khỏi nắng mặt trời. Số cây nhỏ, lớn lên, vươn cao rồi già, chết khô. Mùa mưa, rồi bão nhiều cành Xà Cừ bị táp gãy. Những đợt bão quá mạnh, và dai dẳng từng ngày làm nhiều cây cao bị bật rễ hoặc gẫy đổ. Xà Cừ cũng nghiêng ngả trong bão, phần lớn cành gãy lìa, lá cây đổ rạp, bay tứ tung trong trận gió. Từng có trận mưa bão đủ lớn để một phần rễ Xà Cừ bị bật lên. Nhưng rồi, cây vẫn đứng vững. Phần cành lá bị gẫy trụi được tái sinh sau nhiều tháng, năm. Phần rễ bị bật được người thị trấn xén đi vừa đủ khi thấy phần rễ mới mọc và bắt đầu ăn xuống đất. Xà Cừ, là người già nhất trong cái thị trấn. Cao niên hơn mọi cây cối, mọi bia mộ phủ rêu xanh và còn trai tráng hơn mọi trai tráng tuổi mười bảy. Giờ đây, Xà Cừ đứng chắn trước khu công trình. Đấy sẽ là một trở ngại, đối với một những dự án vốn đã được kí. Tại đây, trong khu công trình đồ sộ nhiều tầng, nhiều phòng ban, nhiều hàng hóa và hệ thống máy móc…Phần lớn người thị trấn đã có việc làm và thừa thãi về chi tiêu. Bốn ông thầu, ở bốn phương hùn vốn để xây khu công trình này. Số máy móc, vật tư và chẳng gì mong đợi hơn việc thị trấn heo hút này sẽ sáng mãi ánh điện thành phố. Cây Xà Cừ, sừng sững như cái cột chống và cao hơn mười một tầng nhà xây dở. Cây, chẳng phải mối đe dọa về việc cành lá sẽ vươn dài, đâm hỏng cửa kính hay chui vào một phòng ban, hoặc, cũng khó để lo ngại một cái cành quá lớn chợt rơi và gây thiệt hại. Nơi Xà Cừ đứng cách khu công trình năm mươi mét. Nhiều cành xà cừ đã từng rơi gẫy nhưng chưa ai bị thương. Theo như lời bốn ông chủ thì đã án ngữ nơi cửa ngõ chính. Phần đất từ khu công trình đến Xà Cừ thừa đủ để xây thêm công trình, nhà để xe hay đài phun nước hình rồng.
Các ông chủ đã quyết chặt bỏ cây. Họ sẵn sàng rút khỏi thị trấn nếu cây còn, và làm ngáng trở việc hoàn thiện khu công trình. Mấy người sống lâu nhất ở thị trấn, lắc. Còn con, cháu họ thì gật. Những người đấy đã quen dần với hơi máy điều hòa, nhà cửa kính ba tầng, thang máy, bia lạnh và tương tư những chuyến du lịch dài ngay. Xà Cừ vẫn đứng đấy, bóng cây tỏa rộng cả một vùng lớn thị trấn. Bộ rễ lớn ngày một gồ ghề. Phần bệ xây đã bị bộ rễ sinh sau đập nứt. Bốn ông chủ ngày ngày đứng ở cửa sổ khu công trình. Họ nhìn Xà Cừ, rồi cau mày. Cái cây hẳn sẽ còn sinh trưởng, cao lớn nữa. Theo lời bốn người, thì “Cửa chính, nơi hướng gió không thể có vật cản.” Cũng theo lời ho, một lần nữa “Già, hoặc chết hoặc là thành tinh.” Thế rồi, Xà Cừ đã vào dự án chặt bỏ. Nhiều thợ được mời đến.
Vỏ Xà Cừ rắn hơn mọi cưa máy. Năm, sáu cái cưa chém vào nhưng chỉ làm nứt vỏ. Phần thân vẫn được bảo vệ. Người thị trấn đứng xem. Số ít, tặc lưỡi tiếc. Số ít nữa, nghĩ ngợi về một công trình hoàn thiện. Một số ít khác thì can mấy người thợ, bằng lời. Cả buổi, cũng không cưa sâu được vào lớp vỏ. Lúc có gió, những tán cây vỗ ào ào tưởng như là trời mưa. Bốn ông chủ, tạm gián đoạn mọi công việc để thị sát việc chặt cây. Tiếng cưa, rồi rìu, búa đục ầm ầm cả ngày. Số cành lớn, từng che mát cho người thị trấn được chặt bỏ. Xà Cừ quá cao, nên phải dùng đến xe cần cẩu. Nhưng ngay cả loại cần cẩu lớn nhất, cũng không thể vươn lên trên ngọn Xà Cừ. Cần thiết phải húc đổ Xà Cừ. Tấm bảng với hàng chữ “Vì khu công trình vĩ mô của toàn thị trấn” đã giải nghĩa mọi thắc mắc của người trong trấn.
Họ chặt bỏ những cành lá ở gần. Một xe cành, rồi lá Xà Cừ. Rồi lại thêm một xe, cành và lá Xà Cừ. Nắng mặt trời đổ, nướng cháy từng cái mũ bảo hiểm. Người thị trấn chỉ đứng ngoài. Bốn ông chủ, vẫn đứng trên khu công trình. Người đứng, người ngồi ghế, có người hút thuốc, nhờ trợ lý đấm lưng.
Những cành lớn, xòe rộng như đuôi công bị vặt trụi, cứa đứt và thành dĩ vãng. Lá rơi xanh rì cả con đường nối vào khu công trình. Mặt gỗ Xà Cừ vẫn rất rắn. Những bộ cưa máy gãy lưỡi, vỡ thép. Cây rìu bổ vào Xà Cừ gãy cả cán. Phần thân bên trong vẫn chưa bị cắt vào. Lớp vỏ đen, sần sùi như da cóc nhưng rắn như vỏ xe tăng. Ngày đầu tiên, phần lớn cành Xà Cừ bị ngắt cụt. Những cành, nhiều nhánh với lá xanh xum xuê mọc vắt nhau vốn tạo thành cây nấm giờ đã loang lổ, hoang tàn như mùa Đông tàn bạo nhất đang thống trị. Hết ngày, người thị trấn về nhà ngủ, bằng lòng với tiền lương ứng trước.
Mấy hôm sau. Người thị trấn lo lắng hơn vì khu công trình chưa hoạt động lại. Nhiều người ngồi nhà, la cà quán rượu hoặc ngủ một mạch đến sáng. Xà Cừ còn đấy. Mất hết cành, lá nên một trận nắng to là khiến cả thị trấn sáng rực. Khu công trình mười một tầng dang dở cao ngút. Xà Cừ sừng sững hơn mười một tầng nhà. Trước khu công trình, là Xà Cừ và trước Xà Cừ là khu công trình. Từ tảng sáng, toàn thị trấn đã ồn ào bởi tiếng máy khoan. Vị trí từ khu công trình. Một máy khoan lớn, ba người khiêng đang ấn mũi nhọn vào thân Xà Cừ. Đầu khoan dài, nhọn quay vun vút nhằm đâm thủng vỏ Xà Cừ. Mấy người thợ vã mồ hôi. Mũi khoan vẫn đâm vào một điểm, rồi xoáy vun vút. Đến trưa, thì một đoạn nhỏ của máy khoan đã xuyên được vào thân cây. Tiếng vỏ cây vỡ rôm rốp như xương sọ. Từ phần vỏ bị xuyên thủng, một dòng nước rỉ ra và bắn toé. Thứ nước màu trắng, hẳn là nhựa cây. Một mùi thoang thoảng toát ra từ thứ nhựa màu trong vắt. Toán thợ rút đầu mũi khoan ra. Dòng nhựa xối mạnh. Thứ mùi hương nhẹ, không quá đậm đà và chẳng phớt nhẹ như hương hoa bám trong gió. Chẳng mang vị ngọt của đường, mật ong cũng không chua như quả mận cắn đôi. Chẳng giống mùi rơm cháy, mùi mưa phùn phả xuống mặt gỗ. Chỉ một lượng hương vừa đủ ngái, và đám người ngây ngây. Dòng nước trắng rỉ từ vết đâm trên thân Xà Cừ và chảy xuống gốc. Mùi của nhựa vẫn toát ra, và dậy lên đều đều. Đám thợ, rồi những người dân đứng quanh đó bước lại gần Xà Cừ. Ai ở quá xa cũng vì ngửi thấy mùi hương mà chạy đến. Hít ngửi bằng mũi, rồi chợt chép miệng. Người bạo dạn nhất đã quệt ngón tay vào nhựa. Chẳng dính. Thậm chí, thứ nước trắng còn chảy vuột đi rất mau. Cũng ngón tay dính nhựa, người đấy ngậm lên miệng. Ngón tay ở mãi trong miệng, và tiếng mút chùn chụt kéo liên hồi. Mấy người khác cũng nếm thứ nước của Xà Cừ. Họ hứng bằng ngón tay, rồi ngậm trong miệng và mút. Một giọt nước mắt rỉ ra, chỉ một bên mắt. Đám thợ quỳ xuống, hứng nhựa Xà Cừ và xoa lên mặt. Có người hứng vào lòng bàn tay và cũng vuốt lên mặt, lên tai, chà lên tóc và khắp thân mình cho đến khi nước cây ngấm biến. Cái cưa máy bị bỏ xó. Một ông già đã về nhà, lấy một tấm lụa vàng và căng ra, cuốn quanh vết thương Xà Cừ.
Bốn ông chủ, đã xuống đến tầng một. Không một gương mặt nào tỏ vẻ dễ gần. Từng người hô hoán, rồi nhéo tai toán thợ. Có người bị tát tai và nằm còng queo dưới gốc Xà Cừ. Người thị trấn đến ngày một đông. Họ cố nói, để việc chặt bỏ cây gián đoạn vĩnh viễn. Tiếng “Không” từ bốn cái miệng phát ra, lặp lại và tiếp tục lặp lại không tạo thành tấm gỗ lớn để chặn dòng lũ xiết chảy. Một trong bốn người rút ra một khẩu súng và bắn chỉ thiên. Tiếng đạn nổ như bàn tay thép bít chặt tiếng nói của đám người. Ba người còn lại bảo rằng “Cây đã vào dự án, và tất cả các người đều đồng ý, dù chưa chính thức.” Nòng súng còn tỏa khói. Họng súng chỉ vào ai, người đấy liền run rẩy. Tay ủy ban của thị trấn chạy lại phía bốn ông chủ. Tên cầm súng bóp cò. Ba người còn lại sờ tay vào túi quần, túi áo vét và sờ soạng. Hẳn họ cũng có súng. Chẳng một ai rút súng, chỉ mò mẫm, sục sạo tay vào túi. Tấm lụa vàng bị xé đôi. Dòng nhựa còn đấy. Tên chủ cầm súng bắn vào phần thân đục. Nhựa xối ra. Ông ta cũng nếm nhựa, và nhổ phì vào chính thân Xà Cừ.
“Đừng hạ mình bằng con bọ hung háu cứt.”
Tiếng súng nổ, chỉ thiên.
“Muốn ánh sáng, phải giết bóng tối. Cách mạng đẻ ra văn minh.”
Tiếng súng nổ liên tục, rồi cò súng lách cách, hết đạn. Thân Xà Cừ nứt toác, nhựa chảy ộc ra.
Toán thợ bật lại máy khoan. Người thị trấn đứng lùi ra. Không một tiếng nói. Chỉ tiếng mũi khoan đâm vào thân Xà Cừ. Bốn ông chủ vẫn đứng đấy. Người cầm súng đang lau nòng, và thay ổ đạn mới. Thế rồi, cũng hết chiều và trời tối đi. Đến hôm sau, cũng tinh mơ, hai xe tải chạy vào thị trấn. Trong xe, một toán thợ khác bước ra. Người ta thấy cả mấy ông trung niên, diện vét. Nghe đâu người trên thành phố, và cũng là người quen của khu công trình. Vết thủng trên thân Xà Cừ đã sâu hoắm. Toán thợ mới, gồm mười bốn người được trang bị áo quần bảo hộ và mặt nạ chống độc. Trông họ chẳng to khỏe hơn mấy người thợ cũ nhưng động tác dứt khoát và chuyên nghiệp hơn. Những cái máy cưa cắt vào Xà Cừ, bắt đầu từ vị trí lỗ thủng. Mặt gỗ vẫn còn rất chắc nên phải cưa cắt lâu dài. Bốn người chủ, đã rút lên tầng trên, và vẫn giám sát mọi công đoạn. Đến trưa, toán thợ lấy xẻng đào quanh gốc Xà Cừ. Mấy người ở thị trấn đều có mặt, và đứng ngoài. Đã có một hàng rào sắt bao quanh Xà Cừ, với lí do để cách li người dân khi cây đổ. Độ vài tiếng, một số cán bộ trên ủy ban thị trấn đi xuống và đứng trước làn hàng rào. Mấy cụ già, bảo về việc dừng chặt Xà Cừ.
“Xà Cừ là nền tảng thị trấn này, hãy để yên.”
“Già thì phải chết, già quá thì sẽ thành ma, thành quỷ. Cứ chặt.”
“Đập bỏ cái cũ, khai sáng văn minh.”
Tiếng hô hoán, hò reo. Những biểu ngữ, băng rông giăng chằng chịt, bo quanh nơi chặt Xà Cừ.
Tiếng xẻng đào. Từng ngày, từng ngày. Người ta nói đừng đào gốc. Thợ vẫn đào. Bốn ông chủ theo dõi bằng ống nhòm. Rồi, toán thợ đào tiếp. Một hố lớn, như nấm mộ người khổng lồ. Phần rễ lớn của Xà Cừ lộ ra. Cái bộ rễ vẫn còn tươi mùi đất. Phân nhánh rễ mọc dài, chùm bao quát như bộ râu vĩ đại bốn nghìn tuổi. Toán thợ xách ra một cái can, rồi mở nắp. Một mùi nồng nặc khiến những ai không mang mặt nạ chống độc phải ói mửa. Người thị trấn dù đứng ở xa, vẫn thấy rát họng. Không ai đứng vững, ôm cổ, rồi nôn khan. Mấy cán bộ thị trấn bịt mũi, vẫn ói mửa. Thứ mùi trong can như cái miệng không ngừng ngoác rộng, táp hết mùi Xà Cừ. Chẳng có gió, và mùi trong can mạnh hơn cả trận bão. Lúc can dốc ra, thứ nước cũng màu trắng nhưng đặc sệt đổ xuống. Có khói bốc lên từ hố lớn. Rồi, một lúc lâu, từ dưới rễ Xà Cừ dâng lên một mùi cũng nồng nặc không kém. Thứ mùi tanh, sền sệt như hắc ín. Hai loại mùi trộn vào nhau, cùng cắn xé và đẻ rớt thành thứ mùi hỗn độn, tạo thành khí đỏ, đặc, cuồn cuộn như ngọn lửa xé xác nhà thờ.
Ngày qua ngày, toán thợ đổ thứ hóa chất xuống rễ cây. Khí đỏ dày đặc, tỏa cả trong gió và phủ quanh thị trấn như sương mù. Ba ngày, mùi nhạt đi, rồi tan. Vị tanh vẫn bao trùm. Từng người nhìn tay, chân, và sờ tay, chân, đầu. Tất cả đều nguyên vẹn. Họ sờ lên miệng, và lau, và chẳng thấy gì. Cưa máy tiếp tục. Lưỡi thép bổ sâu vào thân. Phần vỏ đen như khuôn mặt người già nổ toác. Không còn nhựa trắng. Bốn ông chủ còn trên khu công trình. Người thị trấn tập trung ở góc nhỏ bên lề. Họ chỉ còn góc đường này. Phần đất đứng rộng hơn được phong tỏa bởi những công an, trật tự ủy ban trấn. Một lớp hàng rào sắt, rồi bàn, ghế được dựng chắn. Người già khấn vái, đốt hương và buộc khăn trắng. Một số khác tự tách ra, vào trong khu công trình, cầm biểu ngữ và phất cao. Máy cưa phá gỗ rầm rầm. Mười cái mặt nạ chống độc vẫn bấu chặt đầu mười bốn người thợ. Người cưa ở dưới, người trên cần cẩu, đều đeo mặt nạ. Nhìn họ như bầy châu chấu đột biến hình người.
“Cây đổ! Tránh ra.” – Tiếng hô lớn. Người người đứng rạt.
“Đổ rồi!” – Tiếng hô to hơn. Bốn ông chủ vươn cao người khỏi lan can và ngó bốn đầu xuống.
“Khu công trình sẽ cao hơn, cao hơn, hơn nữa…” – Tiếng rổn rảng.
Xà Cừ nghiêng ngả. Chưa hoàn toàn đổ. Toán thợ đạp lên thân. Rồi một toán người khác, cũng đạp, đẩy tay để cây nhanh đổ. Tiếng hò dô ta. Tiếng súng nổ, chỉ thiên. Tiếng hò dô ta tiếp tục. Người bên ngoài chưa thể vào khu công trình. Hàng rào thép còn đó. Các cán bộ, công an ủy ban đứng ưỡn người, và che hết tầm nhìn. Người xông vào, người ngăn lại. Bàn ghế đổ nhào, hàng rào sắt ngả chệnh một bên. Tiếng toét còi. Tiếng dùi cui bổ xương. Một cuộc xô xát cuốn bụi mù. Lại tiếng súng bắn, chỉ cây. Súng nã từng viên. Một người trong đám, không rõ phe nào chợt ngã dính xuống đất. Dường như đạn lạc.
Xà Cừ bật gốc. Bóng cây, giờ chỉ theo đường thẳng như ngọn tháp đổ, chém ngược xuống khu công trình mười một tầng dang dở…

Á Minh

bụi – của giấc mơ

phuonguy

Giấc mơ tôi đày đọa tôi trong những âm hưởng của sự tuyệt đối. tuyệt đối yêu tuyệt đối ghét tuyệt đối vui buồn. những sự tuyệt đối leo thang trong nấc tình cảm đau đáu nỗi niềm. là oan khiên hay là chung thân vĩnh viễn?
giấc mơ tôi xét nét tôi trong mỗi đêm vừa đến. đêm oan nghiệt những đợi chờ lúc nắng lên, lúc đêm tan dù ngày là mỏi mệt. giấc mơ đánh tráo bằng những tang thương thành hình trong cơn hoang tưởng âm u.
giấc mơ tôi bày những đốm sáng trên bàn tiệc cuộc đời. nhữ lộng tôi trong sự hợp nhất trá hình của đau khổ. đánh mất tôi sau những liên kết chứng thực bằng văn tự. buộc tôi đánh mất chính tôi trong trong sự lầm lạc mang tên gọi bao dung
giấc mơ tôi giục tôi lao đao trong trầm luân của ý nghĩa yêu thương. sự ích kỷ được khoác tấm áo liệm là từ hi sinh huyền thoại. lẫy động tôi, dụ dỗ tôi bằng ảo tưởng . giam tôi suốt đời bằng hố thẳm thâm căn
giấc mơ tôi buộc ràng tôi bằng những ăn năn. sau tất cả những vượt thoát chỉ biểu dương bằng hối lỗi, ai bỏ thân ngục trần ai ai chịu khổ nạn bằng thập giá? sau rốt cũng chính là tôi tự le lói sáng cho mình trong lúc di quan

HOÀNG PHƯƠNG UY

NGỤ NGÔN CỦA LÁ

daolam

người đàn bà
nằm sấp ngó vầng trăng
mặt phố
rầu rầu ganh tị
chiếc lá hồn nhiên
lay rất khẽ
thương mõi mòn
phía khuyết bên kia
người đàn bà
úp mặt vào nửa khuya
ngoài kia phố giật mình
trăn trở
chiếc lá lạnh se
mùa thu trốn gió
chờ mưa qua
khao khát nắng rưng mềm
người đàn bà
ngó chằm chằm
vào thăm thẳm đêm
cuối hiên thưa
trăng trần truồng xõa tóc
chiếc lá thờ ơ
vỗ về hạnh phúc
mùa thu
ướt sũng dung nhan
người đàn bà
ngồi đợi mùa hoa đăng
trôi từ miền chiêm bao
về đánh thức
chiếc lá mồ côi
cuộn tròn ký ức
mùa chóng quên
lời hò hẹn chóng qua
người đàn bà
thiêm thiếp giấc mơ hoa
kéo vành trăng
về ngang khung cửa sổ
chiếc lá sắp bay đi
về miền lộng gió
vỗ về
khúc mộng du đêm
người đàn bà khắc khoải
ngủ quên
ngoài kia trời rựng sáng
chiếc lá trầm mình
thở dài than vắn,
ngày bắt đầu
từ nỗi nhớ hôm qua
CÒN CÓ AI
ĐÁNH THỨC NGƯỜI ĐÀN BÀ
NGOÀI LỜI TÌNH
NGỤ NGÔN CỦA LÁ

DaoLam